BẢN TIN SỐ 27 - NGÀY 15-10-KỶ HỢI - 2019
LỄ HẠ NGUƠN và KỶ NIỆM NGÀY KHAI ĐẠO Đ.Đ.T.K.P.Đ.

 

Số
Đặc Biệt

LỄ KHÁNH THÀNH
ĐIỆN THỜ PHẬT MẪU NEW SOUTH WALES NGÀY 11-11-2019

     

Điện Thờ Phật Mẫu New South Wales
84 Wattle Ave, Carramar NSW 2163 AUSTRALIA

 

MỤC LỤC

 


 )
 )(
 __)_(__
 __(_____)__
(((_________)))
 )    ׀    (

 

 

 

 

 

 


 )
 )(
 __)_(__
 __(_____)__
(((_________)))
 )    ׀    (

 

 

 

 

 

 


 )
 )(
 __)_(__
 __(_____)__
(((_________)))
 )    ׀    (

 

 

 

 

 

 

 

 


 )
 )(
 __)_(__
 __(_____)__
(((_________)))
 )    ׀    (

 

 

 

 

 

 

 

 


 )
 )(
 __)_(__
 __(_____)__
(((_________)))
 )    ׀    (

 

 

 

 

 

 


 )
 )(
 __)_(__
 __(_____)__
(((_________)))
 )    ׀    (

 

 

 

 

 

 

 

 


 )
 )(
 __)_(__
 __(_____)__
(((_________)))
 )    ׀    (

 

 

 

 

 

 

của Đức Hộ Pháp 


Báo Ân Từ, ngày mồng 1 tháng 2 năm Ðinh Hợi (1947).

THỜ ĐỨC PHẬT MẪU TẠI BÁO ÂN TỪ

Từ đây chúng ta rất hân hạnh thờ Phật Mẫu tại Báo Ân Từ. Buổi mới mở Ðạo Bần Ðạo biết công nghiệp của Phật Mẫu thế nào, Ngài và Cửu Vị Nữ Phật dìu dắt con cái của Ðức Chí Tôn từ ban sơ đến ngày đem chúng ta giao lại cho Thầy.

Ngày mở Ðạo, vì cái tình cảm ấy, các vị Ðại Thiên Phong buổi nọ xin thờ Phật Mẫu ở Ðền Thánh, thì Phật Mẫu cho biết rằng: Quyền Chí Tôn là Chúa còn Phật Mẫu là tôi, mà tôi thì làm sao ngang hàng với Chúa, chúng ta thấy Phật Mẫu cung kính Chí Tôn đến dường ấy không gì lường được.

Cả cơ quan tạo đoan hữu tướng, thảy đều do Phật Mẫu tạo thành. Khi ta đến cõi trần mang mảnh thi hài, cái chơn linh khi đến, khi về cũng do nơi tay Phật Mẫu mà sản xuất. Phật Mẫu là mẹ của linh hồn, nếu chúng ta biết ơn nặng ấy, thì ta càng cảm mến cái công đức hóa dục sản xuất của Ngài vô cùng.

Chúng ta ngày nay trên đường tu tiến, đắc Ðạo hay không cũng do bà Mẹ Thiêng Liêng ấy nâng đỡ ấp yêu, vì không có ai cưng con hơn là Phật Mẫu. Nếu chúng ta biết đặng cơ quan Tạo Hóa Càn Khôn sản xuất hữu hình của Phật Mẫu, thì chúng ta sẽ có tình cảm kính trọng yêu thương Phật Mẫu đến ngần nào. Con cái của Ngài xin đem vào thờ ở Ðền Thánh, thì Ngài lại từ chối mới biết cái cung kính của Phật Mẫu đối với Ðức Chí Tôn ở thế gian nầy được đáo để đến dường ấy.

Còn Nữ phái nên coi tánh đức của Mẹ mà làm gương tu tỉnh, lạ gì những tánh thường tình thế gian, đàn bà ăn hiếp chồng, thất kính với chồng, bỏ con trẻ bơ vơ, chẳng qua là họ không thọ bẩm cái tình thương yêu nồng nàn của Mẹ vậy.

Bây giờ nói về tại sao có Phật Mẫu, trước khi có Ðức Chí Tôn là đấng không mà có,(*1) nếu nói có tất cả là không, ấy là đấng vô hình, vô ảnh ở trong cảnh vô tướng, Ðức Chí Tôn vì mộng tưởng chẳng khác kẻ phàm, sanh ra lớn lên lại muốn tạo nghiệp, muốn tưởng Ðức Chí Tôn là nguồn cội cả Bí Pháp nên gọi là Phật. Trong Bí Pháp buổi ban sơ phân tách ra âm dương, phần âm là Phật Mẫu sản xuất cả cơ hữu vi của vũ trụ. Bởi thế nên quyền năng của Phật Mẫu là Mẹ khí thể của ta, nên ta có ba hình thể là Tam Bửu đó vậy.

Tam Bửu là ba khí chất tạo nên hình hài xác thịt, cái xác là con kỵ vật, thiên hạ lầm tưởng hễ xác chết là mất, vậy thì thử hỏi Trời Ðất vạn vật một khi đã hoại thì tan nát không còn sanh hóa nữa hay sao?

Bởi mang xác thịt mắt phàm không thể thấy, chớ nếu có huệ nhãn thì thấy trong cái xác của người có ba thể: Thể thứ nhứt là xác hài, thuộc vật chất khí biến sanh; thể thứ nhì là chơn thần do tinh ba của vật chất khí mà sản xuất, từ phẩm Ðịa Thần đến Thiên Thần; thể thứ ba là ngươn khí do chơn linh mà có, từ bực Thánh đổ lên.

Chúng ta đạt pháp do chúng ta có ba thể tương liên đừng tưởng chúng ta không đạt được. Chúng ta hễ đi được thì đi hoài, đâu cũng có đường hết thảy. Song muốn đạt được pháp thì phải luyện. Ban sơ mới khai Ðạo chúng ta phải thi hành thể pháp nếu sau nầy không đạt được chơn pháp thì cũng như con người có quần mà không có áo vậy.

Từ khi cơ quan hữu tướng của Mẹ đã tạo thành, thì Ðức Chí Tôn không cho Mẹ thấy nữa. Phật Mẫu thì biết tôn sùng và sợ sệt chớ không thấy Ðức Chí Tôn được, nên bây giờ Mẹ thì vui cùng con cái, an ủi nhờ con cái. Lạ gì tình thương của đàn bà, có mặt chồng thì ít thương con, ít ấp yêu, còn đến khi vắng mặt chồng thì mới biết thương yêu con cái vậy.

Phật Mẫu khi thấy con cái đến ngày qui liễu, bỏ cái áo xác thịt nầy về với Ngài, Ngài rất vui lòng tiếp rước con cái, như người đàn bà gặp được đứa con yêu dấu cách biệt từ lâu.

Ðền thờ nầy là nơi lễ bái Ðức Phật Mẫu trong buổi nhơn đạo mãn sang hồi cựu vị.

 

(*1) Nơi đọan thứ 6: Nguyên bản: Bây giờ nói về tại sao có Phật Mẫu trước khi có Ðức Chí Tôn là đấng không mà có, nếu nói có tất cả là không,...

Phụ ghi: Ngày âl. 01-02-Đinh Hợi nhằm ngày (dl. 21-02-1947).

Trích từ Q.1 bài 15: Thờ Ðức Phật Mẫu tại Báo Ân Từ.◙

 

 

 


 

 


 

Chư Hiền thân kính,

Bản Tin Hòa Hiệp "Mừng ngày Khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ" cũng là ngày Mừng Lễ Khánh Thành Điện Thờ Phật Mẫu NSW, sau 19 năm Lễ Khánh Thành Thánh Thất NSW vào năm 2000. Tín Đồ Cao Đài New South Wales, Úc Châu, vùng Nam Bán Cầu chính thức có hai Ngôi Thờ hai Đấng Phụ Mẫu Thiêng Liêng, với mẫu mã hàm súc nhiều nét kiến trúc mang các nghĩa lý Đạo, theo Hội Thánh chỉ dạy. Có thể đó là niềm hoài vọng khiêm nhường của mọi Tín Đồ Cao Đài tạm dung nơi đất khách, nói chung và đồng đạo NSW, nói riêng. Từ nay, đồng đạo không phải băn khoăn mỗi Rằm tháng Tám rằng: "Vía Đức Phật Mẫu năm nay thiết lễ thế nào?". Có Thánh Thất, có Điện Thờ; có Dương có Âm. Âm Dưong tương hiệp. Hy vọng, tới đây chúng ta cố gắng tạo điều kiện lập công theo đúng vai trò Hành Chánh và Phước Thiện trong việc hành đạo, yêu thương giáo hóa, cứu khổ giúp vùa, hầu đền đáp thâm ân của Đức Phật Mẫu: "Ngồi trông con đặng phi thường, Mẹ đem con đến tận đường hằng sanh".

Nội dung Bản Tin HH lần nầy cũng nhằm "ôn cố nhi tri tân". Ban Biên Tập cố gắng lược ghi các sự kiện Đạo sử. Theo đó, chư Hiền lần lượt theo dõi từ "Vai trò độ hồn của Cửu Vị Tiên Nương", đến từng bước Chư Tiền Khai được sự khải ngộ của các Đấng Thiêng Liêng ân cần dẫn dắt, giáo hóa, cứu độ chúng sanh trong thời Tam Kỳ Phổ Độ. Từ việc Xây Bàn, phò Ngọc Cơ, tổ chức Hội Yền Diêu Trì Cung tại Thế, vọng Thiên cầu Đạo, Thầy thâu các Môn Đệ nồng cốt, lập Tờ Khai Đạo, Thầy ban Tịch Đạo Nam, Nữ, cho đến việc long trọng tổ chức Đại Lễ Khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ tại Chùa Gò Kén. Nối tiếp lập Pháp Chánh Truyền và tạo Ngôi thờ phượng: Tổ Đình Tòa Thánh Tây Ninh và các cơ sở khác.

Cùng đọc "Bên dòng Sử Đạo", chúng ta mới thấy được sự sắp xếp nhiệm mầu, huyền diệu của Ơn Trên trợ duyên cho các Thiên Mạng viết nên trang sử Đạo, dẫu phải trải qua nhiều gian nan thử thách, mà vẫn kiên gan, trì chí hoàn thành nhiệm vụ trong thời Tiền Khai: "Trường Đời đem thử gan Anh Tuấn, Cửa Đạo mới ra mặt Thánh Hiền".

Đọc qua bài Diễn Văn của Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung, Anh Cả của cả Nhơn Sanh, người mà Đức Phạm Hộ Pháp đã hết lời ca ngợi và tôn vinh xứng đáng là "một vị mà Đức Chí Tôn chọn lựa, một vị Đại Tiên đến mở cơ quan cứu thế cho đời". Ngài lại nói: "Bần Đạo ngó qua bên Vatican, cái ngai của Đức Giáo Hoàng Saint Pièrre thế nào thì Bần Đạo có lẽ nói và mơ ước rằng: Cái Ngôi của Thượng Trung Nhựt lưu lại nơi thế nầy nó sẽ trở nên thế ấy".

Ngoài ra, đoàn hậu tấn không thể quên đại công của Đức Cao Thượng Phẩm, từng là một công chức đã vì đức tin mãnh liệt nơi Đức Chí Tôn và Chư Thiêng Liêng, mà chịu nằm gai nếm mật, khai hoang phá rừng để tạo dựng ngôi thờ tạm, đầu tiên. Trong khi Đức Tôn Sư Phạm Hộ Pháp, trong vai trò Thượng Tôn Quản Thế, cùng Thập Nhị Thời Quân, đã từng khéo léo chèo chống đưa con thuyền Đạo qua bao cơn sóng gió để đến được bến bờ bỉ ngạn.

Chư Hiền tiếp tục chia sẻ với BBT về "Lược sử thành lập cơ sở Phước Thiện Sydney, NSW"; với cảm nghĩ của Mộc Lan về "Con đường Phước Thiện"; với sưu tầm của Nguyên Chương về "Đức Khổng Tử và Luận Ngữ"; cùng lời dạy của Đức Hộ Pháp về "Đức Phật Mẫu tại Báo Ân Từ", và nhiều tiết mục khác về sinh hoạt Đạo Sự, về Bài Diễn Văn Khai Mạc Lễ Khánh Thành Điện Thờ Phật Mẫu NSW nhân ngày Khai Đạo thứ 95, v.v…

Kính chư Hiền, Ban Biên Tập không thể tránh những thiếu sót ngoài ý muốn, xin được bao dung và chỉ giáo. Đồng thời, thiết tha mong mỏi có sự giúp tay của chư Hiền trong ước vọng góp phần lập ngôn nho nhỏ.

Nam Mô Nhứt Nguyện Đại Đạo Hoằng Khai, Nhì Nguyện Phổ Độ Chúng Sanh.

TM. Ban Biên Tập

 

 


 

 


 

Phước Linh Tự, 15-09-Bính Dần
Dimanche 24 Octobre 1926

THÍCH CA MÂU NI PHẬT TÁ DANH
CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT
GIÁO ÐẠO NAM PHƯƠNG

Vì Tân Luật chưa ra nên Thầy phải giải:

Ðã có Thánh Tượng Thầy, thì là cốt Ngọc Hoàng con để lại chẳng nghĩa chi hết. Thầy nói cho các con rõ: Vì cớ nào trước từ Nhứt Tổ chí Lục Tổ thì thờ Thầy ngồi trước, vì trước là lớn phải vậy.

Khai Thiên Ðịa vốn Thầy, sanh Tiên, Phật cũng Thầy; Thầy đã nói một Chơn Thần mà biến Càn Khôn Thế Giái và cả nhơn loại. Thầy là chư Phật, chư Phật là Thầy.

Các con là chư Phật, chư Phật là các con.

Có Thầy mới có các con, có các con rồi mới có chư Thần, Thánh, Tiên, Phật.

Thầy khai Bát Quái mà tác thành Càn Khôn Thế Giái, nên mới gọi là Pháp; Pháp có mới sanh ra Càn Khôn Vạn Vật rồi mới có người, nên gọi là Tăng.

Thầy là Phật chủ cả Pháp và Tăng, lập thành các đạo mà phục hồi các con hiệp một cùng Thầy.

Thầy lập Phật giáo vừa khi khai Thiên, lập Ðịa, nên Phật giáo là trước, kế Tiên giáo, rồi mới tới Nho giáo. Nay là hạ nguơn hầu mãn, phải phục lại như buổi đầu, nên phải phản tiền vi hậu.

Tỉ như Tam Giáo qui nhứt thì:

Nho là trước,
Lão là giữa,
Thích là chót.

Nên Thầy phải ngồi sau chư Phật, Tiên, Thánh, Thần, mà đưa chúng nó lại vô vi chi khí, chính là Niết Bàn đó vậy.

Còn cổ lễ cúng thì:

Rượu là Khí,
Bông là Tinh,
Trà là Thần.

 

Phụ ghi: 15-09-Bính Dần Dimanche 24 Octobre 1926 nhằm ngày Chúa nhựt, 24-10-1926 (âl. 18-09-Bính Dần).

Trích từ Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Q.1 bài 38: Thánh giáo dạy rằng Thầy là chư Phật, chư Phật là Thầy .v.v... và lễ cúng như Tam Bửu thì: Rượu là Khí, Bông là Tinh, Trà là Thần.◙

 


 

 

của Thượng Ðầu Sư

VỀ LỄ KỶ NIỆM NGÀY KHAI ÐẠO


 

Tòa Thánh, ngày 14 tháng 10 năm Kỷ Tỵ (1929)

Chư Ðạo Hữu lưỡng phái,

Trung Nguơn vừa mãn, Hạ Nguơn vừa qua. Hôm Trung Nguơn tôi đã có nhắc ngày Ðấng CHÍ TÔN hoằng khai Ðại Ðạo Tam Kỳ gieo truyền Chánh Giáo là ngày 15 tháng 10 giờ Tý năm Bính Dần (1926).

Chúng ta biết noi gương hiền triết, cổ nhơn, vầy cùng nhau phủi bụi phồn hoa, đặng tùng theo Tam Giáo là kể từ ngày 15 tháng 10 năm Bính Dần, nên lấy ngày Lễ Hạ Nguơn đây làm lễ kỷ niệm ngày Ðấng CHÍ TÔN hạ trần tại vùng Nam ta đặng hoằng khai Chánh Giáo để gieo truyền hậu thế.

Xuân qua, hè lại, thu mãn, đông tàn, cuộc tuần hoàn kim cổ, cổ kim, nhơn sanh chung hưởng Thiên ân biết bao.

Hại thay! Ít người hiểu riêng rằng có Thiên lực trợ thế, nên ngày nay cõi dinh hoàn đặng tấn hóa nguy nga, văn minh đồ sộ; hiềm một nỗi nữa là tánh phàm lòng tham không đáy, nên đường đời sanh trăm mối tơ vò, ách nạn không xiết kể.

Từ Hiên Viên Huỳnh Ðế chí dĩ Hạ Nguơn, biết bao nhiêu cuộc tuần hoàn thạnh suy bỉ thới. Xem lắm nghiệp bá đồ vương dựng nền Võ trụ mà rốt cuộc lòng tham tràn nhẫy, tánh bạo ngược lẫy lừng, làm cho nhơn sanh đồ thán. Ðấng Chí Tôn (Hóa công) đòi phen đổ lụy phải lập cuộc tang thương trừng trị, vì câu: "Thiện ác đáo đầu chung hữu báo". Xét cho kỹ Tần Thỉ Hoàng tìm thuốc trường sanh lòng muốn giữ chặt ngôi muôn thuở; ngăn Hồ Lỗ, lập Vạn Lý Trường Thành công sanh mồ hôi giọt nhỏ. Cảnh Ðế Thiên Ðế Thích to tát biết bao, vạn quốc nhận vào cơ xảo tuyệt thế. Gian hùng mưu sâu quyệt kế ai bằng Lữ Bất Vi mà rốt cuộc rồi vi cũng vơ vi.

Hào kiệt sức năng cử đảnh, ít sánh Sở Bá Vương sau cũng dâng thủ cấp cho Ô Giang Ðình Trưởng. Nào Vạn Lý Trường Thành, Ðế Thiên Ðế Thích bền chặt cổ kim ít có, mà cũng hóa ra cuộc thành xiêu vách ngã, cỏ loáng rêu phong; Lữ Bất Vi cùng Sở Bá Vương lịch sử ngàn năm đều nêu danh ác.

Người trong vòng Trời Ðất chẳng nên cãi quá lòng Trời, vì Tạo Hóa rất công, lòng Trời vô tận.

Tôi xin nhắc lại lời Thánh Giáo của một vị Langsa hồi thế kỷ 18e Siècle, Malherbe a dit: "Vouloir ce que Dieu veut c'est la seule science qui nous mettre en repos".

Theo ý Trời muốn là phương châm hay cho làm cho chúng ta êm tịnh. Lời ông hiền triết nầy cũng như lời Thánh trong sách Nho: "Thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong".

Một kiếp con người tựa như giấc Huỳnh lương, thì giờ ngắn ngủi, phải tùy theo phận sự trả nợ cho Ðấng Hóa Công, phải tùng chánh lý, từ côn trùng thảo mộc tới bực nhơn sanh các tư kỳ phận, bởi có câu: "Nhứt toán họa phước lập phân".

Hại thay cuộc chen lấn ở cõi trần thường giục lẫn người thây phàm hay tự bạo tự kiêu, ít suy, ít nghĩ; còn nơi vinh hoa phú quý thường ngăn cản đường tu, cân đai lòe loẹt hay buộc chặt xác phàm.

Bởi vậy bốn năm dư chuông Thánh truy hồn, thuyền Bát Nhã đổ bến mê tân chờ rước khách trần, hầu tế độ kẻ vô phần không phước, phần nhiều vì mắt thịt với trí phàm xa không thấu đáo Ðại Ðạo Tam Kỳ mà chưa trọn hiểu, tánh vẫn còn mờ hồ kết thêm tội lỗi, vào đường tu mà chưa cổi tánh phàm, còn tranh tranh lấn lấn chức quyền mọn trong Ðạo. Ít người khắc kỷ tu thân, vùi lấp cho chúng sanh mà còn lấn người trong nền Ðạo, mến chỗ cao sang quyền thế như hồi trần thế. Ðã lánh chốn phồn hoa đem gót ngọc dựa cửa thiền, phải rán ngăn ngừa tục lự, mắt ngơ tai điếc, diệt tận phàm tâm trau giồi hạnh đức, cầu khẩn Ðức Từ Bi rưới giọt nhành dương, giục tắt lửa lòng, hằng ngày lo tụng kinh cầu sám chuộc tội tiền khiên nên danh hiền triết.

Mong thay! Mong thay!

THƯỢNG TRUNG NHỰT

 

Trích từ Tiểu Sử Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt Do Ban Đạo Sử ấn hành lần thứ nhứt năm Quí Sửu (1973).◙

Hiệu đính theo chánh tả hiện hành: Việt Nam Tự Điển của Lê Văn Đức, Lê Ngọc Trụ do nhà sách Khai Trí xuất bản tháng 4 năm 1970.◙

 

NHẮN BẠN QUYỀN GIÁO TÔNG

 

Hồ lô ai để ở nơi đâu?
Ái quốc Việt Nam nhét bể bầu.
Cứu thế hồng ân chưa rải khắp,
Nâng thuyền lòng nước vốn còn sâu.
Nhơn tài nảy nở tuy trăm bụng,
Dân trí biến sanh bởi một đầu.
Ví nhướng mắt Tiên xem rõ trận,
Cuộc cờ thắng bại tận phao câu.

11. 9. Bính Tuất (1946)
PHẠM HỘ PHÁP

 

ÐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG
Giáng cơ họa vận bài thi của ÐỨC HỘ PHÁP

 

Tách trần tính lại đã là đâu,
Thế giới vân du chỉnh một bầu.
Nguồn Ðạo bấy chừ bao sức lớn,
Tinh thần từ trước đã gần sâu.
Nhơn tâm gầy khối đều nên mặt,
Tình thế trau nên kiểu vở đầu.
Lừa lọc nên hư do phép tạo,
Hưng suy chỉ định bởi đôi câu.

15. 9. Bính Tuất (1946)

 

 


 

 

của Đức Hộ Pháp 


 

Ðền Thánh, thời Tý rằm tháng 10 năm Ðinh Hợi (1947).

CỨU KHỔ VỀ TINH THẦN

Hôm qua Bần Ðạo đã giảng về phương pháp cứu khổ của Chí Tôn đem đến cho con cái của Ngài về hình thể tức nhiên về xác thịt.

Hôm nay Bần Ðạo tiếp, giảng phương pháp cứu khổ của Chí Tôn về tinh thần, tức nhiên về tâm hồn.

Cái khổ tâm hồn của loài người nó thống thiết nặng nề, nguy hiểm nhiệt liệt hơn cái khổ xác thịt muôn phần. Cái khổ tâm hồn ta thấy nhiều người chịu không nổi phải chịu quyên sinh, họ tưởng đau thảm của họ hễ diệt tiêu thi hài là hết, nguyên do quyên sinh là vậy. Họ lầm! Sự thống khổ tinh thần hay tâm hồn, dầu xác thịt nầy hủy hoại, cũng không an ủi được tâm hồn vẫn đau thảm như thường. Quyên sinh họ tưởng khỏi việc đau khổ phần xác, trái lại sự đau khổ tinh thần ấy vẫn sống mãi nơi Hư Linh lại còn dữ dội ghê tợn hơn nữa.

Ấy vậy, sự đau thảm nơi thế nầy bao nhiêu, nếu không đặng an ủi, nó sẽ còn khổ não thêm gia bội lúc ở cõi trần. Tại sao có sự khổ não tâm hồn? Loài người, chúng ta lấy hết khối óc tinh anh xét căn nguyên, do đâu mà xuất hiện? Ta thấy tuồng đời, các bậc nhơn sanh vô ngằn đẳng cấp, nếu làm thống kê định phẩm giá thì con số vốn vô cùng tận, bao nhiêu người, bao nhiêu tâm lý, khác hẳn cùng nhau, tại sao? Nếu ta biết rõ chơn lý của Ðạo thì do địa vị tấn hóa các chơn hồn, định phẩm hình thể mình chẳng phải sản xuất do quyết định của mình mà do tiến triển phẩm vị tinh thần trí não nơi Chí Tôn định vị. Ðiều ấy không cần luận vì biết phần tâm lý, trí não mà hành tàng, sanh hoạt, mọi sự đều biệt phân, nên vì cớ mà Ðạo pháp Chí Tôn đã giải rõ: Toàn cơ quan thống khổ cốt để làm bài học hay, đặng tinh thần giục tiến tới nơi cao trọng cuối cùng là làm Chí Tôn trong vật loại. Chúng ta không cần luận.

Phần xác ta thấy gì? Thấy dường như trường bất công hiển nhiên trước mắt, nếu không biết Ðạo thì chỉ trích cơ Tạo đoan bất công là phải. Tại sao chúng ta thấy dưới thế nầy, ai cũng là người như ai, sao có kẻ tài, người dở, kẻ trí, người ngu, kẻ hiền, người dữ. Cả thảy sự phân cách đặc biệt tâm lý cá nhân, ta thấy trường tranh đấu sanh hoạt tương liên, tỉ như học trò đến trường cùng đồng bạn với nhau, thấy mình sao tối tăm ngu muội, còn bạn mình sao sáng láng thông minh, ngu đến nỗi phải bỏ trường không học đặng nữa về làm tên dân hèn, bạn mình khôn ngoan hơn, lập phẩm vị cao trọng, làm quan quyền cầm vận mạng dân sanh, sửa trị phong hóa, làm lãnh đạo cho đời, sao có sự phân biệt lạ lùng như thế ấy? Học trò nào cũng quyết tâm rán học, mà học không nổi là do tại nơi đâu? Rán tranh, tranh không lại phải khổ tâm hồn. Ðó là một lý.

Còn lớn lên rồi trường đời chán mắt, nghề hay nghiệp giỏi tài tình đủ bảo thủ gia đình, với nghề hay khéo, kẻ khác kia thâu sự đắc lợi sanh sống hạnh phúc, muốn học làm theo mà học không nổi bắt chước lại hư, là tại mình ngu muội hơn mới vậy. Tức mình hổ thẹn, phải đau khổ tâm hồn, người ta làm được sao mình lại không, người lập danh vị đời đủ mực quyền hành, ta cả đời hiểu biết, có lẽ cũng như người, mà vẫn làm tôi tớ cho người ra thân mai một. Uất ức tinh thần, người ta sao được thế mà mình như vầy? Thấy hiển nhiên trường đời bất công, tức mình, đó là khổ não tinh thần, tức là khổ não tâm hồn đó vậy.

Lại nữa, kẻ đi buôn kia cũng buôn như ai, với phương pháp như họ, sao họ lại được nhiều lời, lập lầu các nguy nga, vợ con đầy đủ sang trọng vinh hoa, còn mình dấn thân làm con buôn lỗ lã thất bại tiêu tan, tức mình quá sức tức nhiên phải thống khổ tâm hồn.

Mấy lẽ bất công ấy thiên hạ tìm phương thuốc, có người theo huyền vi tìm mãi, kiếm mãi, chờ có người đủ phương cứu khổ tâm hồn mà cũng tìm chưa gặp đặng. Mang xác thịt phải chịu một phen thống khổ, đầu óc tính toán, tại sao mình tài tình hoạt động có hơn thiên hạ, mà làm thì thất bại, tục gọi không thời buồn bực tức tối đủ thứ, rồi đành an ủi lấy mình bằng câu: "Tài mạng tương đố" mà thật ra không biết quyền năng do đâu mình phải chịu thống khổ như thế.

Các sự thống khổ, Bần Ðạo luận từ nãy đến giờ, thiên hạ tìm thuốc cứu khổ, chạy mãi không tìm đặng cho nên không một người nào sống ở đời được thỏa mãn. Kẻ hèn, người sang, kẻ trí, người ngu, thất công tìm phương an ủi. Như hai vợ chồng anh nhà nghèo kia, thấy thiên hạ giàu mình nghèo, mảnh áo chưa lành, ăn buổi mơi lo buổi chiều, đau khổ, không hiểu duyên cớ nào người ta sang trọng, hết sức khóc than rồi cũng tự mình an ủi lấy nhau, ngồi ngâm nga hát ru tâm hồn:

"Người ta giàu cái quần cũng đũi, cái áo cũng đũi,

Ðôi đứa mình nghèo đốn củi, đốt than.

Nghèo hèn xin bậu chớ than,

Rảnh đồng công mối nợ, anh mua lụa hàng may cho".

Hát như vậy rồi có lẽ vợ bớt khóc, mà anh ta cũng buồn cười.

Còn trí như Khổng Minh, hồi đốt Tư Mã Ý đặng bảo thủ nghiệp Lưu, sợ có ngày sẽ vào tay Tư Mã Ý. Ðốt nửa chừng trời mưa tắt cứu Tư Mã Ý khỏi chết, tức quá không biết an ủi làm sao ngước mặt lên trời than: "Mưu sự tại nhơn, thành sự tại thiên. Thiên lý vị nhiên, vị nhiên" nếu không an ủi như vậy, ắt ông phải điên mà chớ.

Ông Hồ Ðịch thấy Nhạc Phi bị Tần Cối giết một cách tàn nhẫn vì tại ngu trung, nghe Phiên đem binh phạt Tống, ngồi xem kết quả bên nào ăn thua, nhứt là đợi cho quả báo nhà Tống, nhưng Trời định Tống không thua, Phiên phải thối binh về nước, tức mình than rằng: "Thiên Ðịa hữu tư, thần minh bất công" đó là an ủi một cách hung bạo.

Ngày giờ nào nhơn sanh tìm phương an ủi cho bớt thống khổ phương an ủi tìm cũng đáo để như tìm gió theo mây, chạy đến gõ cửa Khổng Phu Tử: "Ông có thuốc gì an ủi nỗi thống khổ tâm hồn của tôi chăng?". Thì Khổng trả lời: "Phương chuyển thế không cùng, dầu đạt được Bí Pháp lấy Trung Dung cũng chưa thỏa mãn". Sang gõ cửa Phật Thích Ca: "Phật có thuốc gì chữa nỗi thống khổ tâm hồn tôi chăng?". Phật đem chơn lý Tứ khổ trước mắt là: Sanh, lão, bịnh, tử, ấy là chơn lý. Người mới tự xét, tôi không muốn sanh, mà ai sanh tôi ra chi để tôi chịu khổ thế nầy. Sống tôi không muốn sống, vì sống là gốc sản xuất Tứ khổ. Cái khổ ấy chẳng phải của tôi mà ai làm cho tôi khổ, cũng không thỏa mãn tâm hồn. Tìm nơi Phật không thấy đặng gì, đến gõ cửa Lão Tử: "Bạch Ngài, có món thuốc gì an ủi tâm hồn tôi chăng?". Bảo cứ giữ đạo đức làm căn bản, thoát mình ra khỏi thúc phược thế tình lên non phủi kiếp oan khiên nơi tịch mịch an nhàn thân tự tại. Nếu không thế ấy thì đừng mơ mộng gì thoát khổ được.

Nghe lời lên núi ở mà ngặt nỗi hễ mỗi lần đem gạo lên ăn thì khó nhọc trần ai khổ nhộng. Ðói tuột xuống, thất chí nữa, thành phương an ủi cũng ra ăn trớt. Rồi đến gõ cửa Jésus de Nazareth hỏi: "Ðấng Cứu Thế có phương thuốc nào trị thống khổ tâm hồn tôi chăng?". Trả lời: "Nếu các ngươi quả quyết nhìn nhận mình là con cái Ðức Chúa Trời, tức là Ðức Chí Tôn, làm như Người làm, mới mong an ủi tâm hồn được". Trong khuôn khổ phương pháp làm con cái của Chí Tôn thì lắm kẻ nói được mà làm không được, cũng như tuồng hát viết hay mà không có kép tài đặng hát.

Cả thảy không chối: Cũng có kẻ an ủi được nhờ đức tin vững vàng, còn phần nhiều ngược dòng đi ngã khác, không ở trong lòng Chí Tôn chút nào tất cả. Thất chí nữa hết thế tìm ai.

Bây giờ Chí Tôn làm phương nào trong thế kỷ 20 nầy đặng an ủi tâm hồn nhơn loại, Ngài đến cùng con cái của Ngài, quả quyết rằng: Nếu các con cái của Ngài tức là Thánh Thể của Ngài mà lập Ðạo không thành, thì Ngài phải tái kiếp. Trọng hệ gì dữ vậy? Ngài đến thế lập Ðạo, từ tạo thiên lập địa không cơ quan nào rời khỏi tay Ngài. Ngự Mã Quân của Ngài sợ sệt kinh khủng, vì mỗi lần Ngài tái kiếp thì phải chịu mọi điều thống khổ xác thịt lẫn tâm hồn.

Mỗi phen đến, đặc biệt Ngài muốn thế nào sự đau khổ của Ngài đó sẽ làm cơ quan giải thoát cho toàn thiên hạ. Sợ Chí Tôn phải khổ, nên Ngự Mã Quân tái kiếp lập Ðạo thay thế cho Ngài. Tại sao vậy? Nói thật, không ai có quyền năng nào hơn mẹ ru con, không ai có quyền năng bằng cha yêu ái, khi con đau đớn, con đương khóc mẹ bồng thì liền nín, còn cha hôn một cái, hết thảm hết buồn.

Chí Tôn sai các vị Giáo Chủ đại diện Ngài đến lập Ðạo do danh thể của Ngài, vâng mạng lịnh nơi Ngài, đến thay thế giáo hóa con cái của Ngài. Chưa vị nào an ủi được sự đau thảm cho trọn vẹn cái khổ của đời. Khối đau thảm ấy từ buổi có loài người chất chồng vô số kể.

Ngài đến bồng nhơn loại trong tay, ru rằng: Khối đau khổ tâm hồn của các con là tại các con đào tạo chớ không phải của Thầy, khổ là do quả kiếp mỗi đứa dục khổ cho nhau. Muốn giải khổ không gì khác hơn đập đổ các đẳng cấp tâm hồn, thống nhứt nhơn loại, nhìn nhau là anh em đồng máu thịt, cũng một căn bản cội nguồn, hầu chia vui sớt nhọc, biết tôn ti nhau, kẻ trên không áp chế người dưới, trí không hiếp ngu, hèn sang không phân biệt, mực thước tâm hồn nhơn loại phải đồng phẩm giá, đồng quyền năng.

Ngày giờ nào, nhơn loại biết tôn trọng nhau, dầu sang hèn nhìn nhau là anh em cốt nhục, ngày ấy phương giải khổ không khó. Các con nghe Thầy mà làm y lời Thầy thì khổ ấy tự tiêu diệt. Nếu các con còn đau thảm, thì đấm ngực nói: "Khổ nầy do các con tạo, không phải do Thầy định tội đa nghe".

Thầy đến chỉnh đốn tâm lý loài người, tránh tranh đấu, tiêu diệt lẫn nhau thì không còn hổn loạn với nhau, thì tức nhiên diệt khổ chớ có chi đâu lạ.

Cơ quan giải khổ tâm hồn của Ngài là đó.

 

Phụ ghi: Ngày âl. 15-10-Đinh Hợi nhằm ngày (dl. 27-11-1947).

Trích từ Q.1 bài 44: Cứu khổ về tinh thần / Ngày âl. 15-10-Đinh Hợi nhằm ngày (dl. 27-11-1947).◙

 

Nắm chặt dây roi chẳng lìa thân,
Ngại y chạy sổng vào bụi trần.
Chăm chăm chăn dữ thuần hòa dã,
Dây mũi buông rồi vẫn theo gần.

Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/
(Thập mục ngưu đồ)

 

 


 

 


Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt

 

Tóm Lược TIỂU SỬ ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG THƯỢNG TRUNG NHỰT

 

   
 
   

• Đức Quyền Giáo Tông THƯỢNG TRUNG NHỰT, danh tính là LÊ VĂN TRUNG, Ngài sinh năm 1875 tại làng Phước Lâm, tổng Phước Điền Trung, hạt Chợ Lớn. Con Ông LÊ VĂN THANH và Bà VĂN THỊ XUÂN. Mồ côi cha lúc mới hai tháng. Nhờ thân mẫu nuôi dưỡng cho ăn học.

• Năm 18 tuổi đỗ bằng Thành Chung.

• 14-7-1863 vào ngạch Thư ký Soái Phủ Nam Kỳ.

• 1906 đắc cử vào Hội Đồng Quản Hạt. Tại Nghị Trường lần nầy Ngài cùng mấy người bạn đồng chí kịch liệt phản đối bản luật đánh thuế "Lục Hạng Điền" của Chánh Phủ Thuộc Địa. Vì số Nghị Viên người Pháp quá đông nên sụ việc tranh đấu bất thành. Ngài và các bạn đồng chí cùng đệ đơn từ chức.

• Kỳ bầu cử Hội Đồng Quản Hạt khóa hai Ngài và các bạn từ chức lần trước cùng ra ứng cử, và cùng được tái đắc cử.

• 1911 Ngài khởi xướng và phối hợp cùng mấy vị có thiện chí vận động thiết lập trường Nữ Trung Học đầu tiên tại nước nhà - đó là trường Áo Tím.

• 6-10-1925 gởi đơn từ chức Thượng Nghị.

• 28-1-1926 được Chí Tôn thâu nhận và dạy phải xả thân hành Đạo.

• 29-9-1926 Ngài chung đứng tên cùng 28 vị thay mặt cho đạo hữu dâng tờ lên Chánh Phủ xin Khai Đạo.

• 19-11-1926 (đêm 14 rạng 15-10-Bính Dần) thiêt lễ Khai Đại Đạo tại Từ Lâm Tự Tây Ninh.

• 1930 (3-10-Canh Dần) được thăng Quyền Giáo Tông.

• 7-1-Giáp Tuất (1934) bị nạn ba ngày nơi khám đường Tây Ninh vì một lý do vu vơ do những người muốn khuấy phá Ngài.

• Sau khi được trả tự do vì thấy Ngài vô tội, Ngài gởi trả huy chương Bắc Đẩu Bội Tinh cho Chánh Phủ. Toàn Quyền Robin xin Ngài giữ lại song Ngài một mực từ chối.

• 13-10 Giáp Tuất (1934) Ngài đăng Tiên, hưởng thọ 59 tuổi. Để lại cho hàng triệu tín đồ Cao Đài vô vàng thương tiếc. Lễ an táng của Ngài cử hành rất trọng thể, cúng tế ngót mười ngày. Bửu Tháp của Ngài nay vẫn còn đặt nơi mặt hậu Tổ Đình.

oOo

Ngoài đời Ngài là một đại ân nhân của toàn dân Việt Nam. Còn trong cửa Đạo Ngài là một vì Anh Cả được lòng mến yêu của tất cả mọi người Tín Đồ Đại Đạo.

Thật sáng chói thay! Thật tôn kính thay!

B.B.T.

 

Tài liệu tham khảo: Trích từ Đặc San Khai Đại Đạo, do Cơ Quan Phát Thanh Phổ Thông Giáo Lý - Tòa Thánh Tây Ninh ấn hành ngày 25-12-1968 (trang 20).◙

 

 

… … …

Tôi muốn nói về việc lập Nữ Học Ðường.

Ðương giữa buổi mà sự giáo dục của con trai, đàn ông, còn hãy phôi thai, cậu nào đậu được bằng cấp Thành chung là đã tự thánh, tự thần, xách đi cùng Lục tỉnh đặng kiếm vợ giàu; đương giữa buổi mà những anh chàng du học đem về được cái bằng cấp Tú tài, thì đã hô lớn lên một cách rất vinh diệu, tự đắc rằng mình quên hết tiếng Annam; đương giữa buổi mà khắp cả cha mẹ trong nước đều công nhận rằng: Cho con gái có nhiều ít học thức là một mối hại lớn cho gia đình, cho xã hội; đương giữa buổi như thế mà đứng ra đề xướng nữ học, xin lập trường Nữ học để dạy bên gái bằng như bên trai, có phải là một việc quá bạo gan chăng? Những người đề xướng có phải là những bực tiên kiến chăng?

Bạo gan thật, tiên kiến thật, vì Chánh phủ lúc bấy giờ, như tuồng cũng cho việc ấy là một việc chưa hợp thời, lại trái với phong tục cũ kỹ của Annam, nên chi tuy là không ngăn cấm, song cũng chẳng chịu xuất công nho ra làm chi phí, mà chỉ để cho những người xướng xuất mở cuộc lạc quyên, góp của công chúng, cất lên được mấy tòa nhà đồ sộ mà chúng ta còn thấy ở đường Le Grand de la Liraye; tòa nhà ấy đã đào tạo ra biết bao nhiêu nhơn tài trong nữ giới.

…. … …

Ðoạn sau, thuộc về đời hành đạo, đời tu niệm của Ông, từ 28 Janvier 1926 cho đến 19 Novembre 1934.

Bước đường ở ngoài thế gian trong khoản 32 năm được hanh thông chừng nào, thì 9 năm trong Ðạo lại càng mắc phải nhiều khổ hạnh chừng nấy.

Sau khi nhập Ðạo chưa đầy một năm, Ông với các Ðạo hữu đi thuyết đạo khắp cùng Lục Tỉnh và nội trong mấy tháng mà số người theo Ðạo Cao Ðài tính hơn một triệu, thì ông cùng bà Lâm Hương Thanh, Chánh Phối Sư, với 247 người Ðạo hữu đứng vào một lá đơn trình với Chánh phủ xin phép khai Ðạo.

Lá đơn ấy đề ngày 29 Septembre 1926. Nó là tấm Giấy Khai Sanh của Ðạo vậy.

Lúc bấy giờ, Ðàn cầu cơ đã có khắp cả mọi nơi, Cầu Kho, Chợlớn, Tân Kim, Lộc Giang, Tân Ðịnh, Thủ Ðức, mỗi chỗ đều có người chủ trương riêng. Vì Ðạo Cao Ðài là do ở Cơ bút phát sanh; điều đó ai cũng biết.

Tuy nhiên, chí kinh dinh kiến tạo của Ông ở ngoài đời Ông vẫn đem nó theo để làm cho đạt một mục đích khác.

Vì Ông nóng lòng về sự lo cho nền Ðạo được thống nhứt, nên nội trong năm đó, ngày 19 Novembre, đêm 14 rạng mặt Rằm tháng Mười năm Bính Dần, thì làm lễ Khánh Thành Thánh Thất ở Từ Lâm Tự và lễ chánh thức Khai Ðạo.

Tính từng ngày một, từ 19 Novembre 1926, ngày Khai Ðạo cho đến 19 Novembre 1934, ngày ông mất, cộng là 8 năm, không thiếu, không dư một bữa.

Trong điều đó có chi huyền diệu chăng?... … …

 

Tiểu sử Ðức Qu. Giáo Tông (Do Diệp Văn Kỳ viết).
Trích từ Tiểu Sử Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt Do Ban Đạo Sử ấn hành lần thứ nhứt năm Quí Sửu (1973).◙

 

 

 


 

 


Thời kỳ Khai Đạo: Ất Sửu-Bính Dần-Đinh Mão (1925-1926-1927)

 

 

Năm Ất Sửu (1925)

TÓM TẮT các sự kiện quan trọng
trong 7 tháng, từ tháng 6 đến tháng 12 năm Ất Sửu:

• Xây Bàn & Phò Ngọc cơ.

• Hội Yến Diêu Trì Cung tại thế.

• Vọng Thiên Cầu Đạo.

• Thầy thâu các môn đệ nồng cốt.

 

 

5-6-Ất Sửu (dl. 25-07-1925):

Khởi sự xây bàn tại nhà Ngài Sang, kết quả không đạt.

6-6-Ất Sửu (dl. 26-07-1925):

Xây bàn lần thứ 2, kết quả tốt đẹp: Cao Quỳnh Lượng giáng bàn và mời Ngài Cao Quỳnh Tuân đến.

10-6-Ất Sửu (dl. 30-07-1925):

Cô Đoàn Ngọc Quế giáng bàn cho thi Tự Thuật.

12-6-Ất Sửu (dl. 01-08-1925):

Xây bàn tại nhà Ngài Cư, 3 ông Cư, Tắc, Sang kết nghĩa với Cô Vương Thị Lễ.

10-7-Ất Sửu (dl. 28-08-1925):

Đấng A Ă Â giáng cho 4 câu thi rất lạ.

14-7-Ất Sửu (dl. 01-09-1925):

Lục Nương giáng, làm thi với 3 ông: Cô làm 2 câu đầu, 3 ông nối theo 6 câu: tất cả 8 câu thi trọn bài.

5-8-Ất Sửu (dl. 22-09-1925):

Thất Nương dạy ba ông cầu các Đấng bằng Ngọc Cơ.

8-8-Ất Sửu (dl. 25-09-1925):

Đấng AĂÂ dạy 3 ông làm tiệc chay đãi Đức Diêu Trì Nương Nương và Cửu vị Tiên Nương đêm Trung thu.

15-8-Ất Sửu (dl. 02-10-1925):

Khởi đầu phò Ngọc cơ để cầu các Đấng.

Ngài Cư thiết Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung tại tư gia của ông. Hai ông Cư Tắc cầu Đức Cửu Thiên Nương Nương, và Cửu vị Tiên Nương bằng Ngọc cơ, mỗi vị cho một bài thi 4 câu để kỷ niệm ngày Hội Yến nầy.

2-9-Ất Sửu (dl. 19-10-1925):

Đấng A Ă Â thử ba ông có thương A Ă Â không?

26-9-Ất Sửu (dl. 12-11-1925):

Đấng A Ă Â thâu phục ông Nguyễn Trung Hậu, Trương Hữu Đức, Lê Thế Vĩnh và Phạm Minh Kiên.

27-10-Ất Sửu (dl. 12-12-1925):

Bà Cửu Thiên Huyền Nữ bảo Vọng Thiên Cầu Đạo.

30-10-Ất Sửu (dl. 15-12-1925):

Đấng A Ă Â dạy cách Vọng Thiên Cầu Đạo.

1-11-Ất Sửu (dl. 16-12-1925):

Ba ông quì giữa trời Vọng Thiên Cầu Đạo.

4-11-Ất Sửu (dl. 19-12-1925):

Thượng Đế chấp nhận lời Vọng Thiên Cầu Đạo của 3 ông, sẽ mở ra Đạo Cao Đài để cứu độ nhơn sanh. Đấng A Ă Â xưng là Thầy, thâu 3 ông làm môn đệ.

10-11-Ất Sửu (Noel) (dl. 25-12-1925):

Đấng A Ă Â xưng danh là Cao Đài Thượng Đế.

16-11-Ất Sửu (dl. 31-12-1925):

Đấng A Ă Â cho biết: A Ă Â là Thầy, là Thượng Đế.

18-11-Ất Sửu (dl. 02-01-1926):

Thầy khởi sự dạy Đạo cho ba ông: Cư, Tắc, Sang.

22-11-Ất Sửu (dl. 06-01-1926):

Thầy dạy hai ông Cư Tắc xuống Vĩnh Nguyên Tự đem Ngọc cơ theo để Thầy độ ông Lê Văn Lịch.

5-12-Ất Sửu (dl. 18-01-1926):

Thầy dạy hai ông Cư, Tắc đến nhà ông Lê Văn Trung lập đàn để Thầy giáng cơ độ ông Trung.

7-12-Ất Sửu (dl. 20-01-1926):

Thầy dạy quí ông: Trung, Cư, Tắc, Sang phải hiệp với Ngài Ngô Văn Chiêu mà lo mở Đạo.

Ngài Chiêu hướng dẫn quí vị mới đến vẽ Thiên Nhãn để thờ Đức Chí Tôn và cách sắp đặt trên bàn thờ. Sau đó Ngài Ngô Văn Chiêu đưa cho quí ông các bài Kinh để tụng khi cúng Thầy trước Thiên Bàn.

14-12-Ất Sửu (dl. 27-01-1926):

Khai đàn nơi nhà Ngài Cao Quỳnh Cư.

Đêm 16-12-Ất Sửu (dl. 29-1-1926):

Ông Vương Quan Kỳ hướng dẫn quí Ngài Trung, Cư, Tắc, Sang đến viếng và nhân dịp thỉnh Kinh của chi Minh Lý.

18-12-Ất Sửu (dl. 31-01-1926):

Khai đàn nhà Ngài Trung và nhà Vương Quan Kỳ.

Thờ Tam Trấn. (... Trung ! Con thờ Thầy trên hết là phải, con đem tượng Quan Vân Trường qua bên tay trái Thầy, còn Quan Âm bên tay mặt, còn thờ Lý Thái Bạch dưới Thầy...).

30-12-Ất Sửu (dl. 12-2-1926):

Cuối năm Ất Sửu, đêm 30-12-Ất Sửu, trước giờ Giao thừa, Thầy viếng nhà các môn đệ.

 

***

Ngài Ngô Văn Chiêu là môn đệ đầu tiên của Đức Chí Tôn, được Đức Chí Tôn độ vào năm 1921 khi Ngài Chiêu làm Quận Trưởng Quận Phú Quốc tỉnh Hà Tiên. Đức Chí Tôn dạy pháp môn cho Ngài Chiêu tu luyện được 3 năm.

Tháng 3 Tân Dậu (dl. 04-1921) sau khi thấy Thiên Nhãn xuất hiện lần thứ hai, Ngài Chiêu đến Quan Âm Tự cầu Tiên Ông. Tiên Ông dạy Ngài Ngô Văn Chiêu vẽ Thiên Nhãn y như đã thấy để thờ. Trong buổi đàn nầy, Tiên Ông dạy Ngài Ngô Văn Chiêu gọi Tiên Ông là Thầy, và cho biết danh hiệu của Tiên Ông là: Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.

Đến giữa năm Giáp Tý (1924), Đức Chí Tôn chuyển để nhà cầm quyền Pháp đổi Ngài Chiêu về làm việc tại Sài Gòn.

Giữa năm Ất Sửu (1925), Đức Chí Tôn dùng huyền diệu thiêng liêng thúc giục và xui khiến 3 Ngài: Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc và Cao Hoài Sang muốn tìm hiểu thế giới vô hình. Ba ông nhứt trí với nhau thử thí nghiệm xây bàn theo lối Thần linh học Tây phương để tiếp xúc với người khuất mặt.

Đức Chí Tôn lại khiến chư vị Thần Thánh Tiên Phật giáng bàn, dùng văn chương thi phú dẫn dụ 3 ông vào đường đạo đức và tạo đức tin cho 3 ông về sự hiện hữu của các Đấng thiêng liêng trong cõi vô hình. Cửu vị Tiên Nương Diêu Trì Cung thường giáng bàn hơn hết. Đức Chí Tôn cũng giáng bàn với tên mượn (tá danh) là A Ă Â.

Thất Nương Diêu Trì Cung nhận thấy 3 ông dùng cách xây bàn tiếp nhận được một bài Thánh giáo thì lâu quá, nên Thất Nương bảo 3 ông dùng Ngọc cơ và chỉ dẫn 3 ông cách cầu bằng Ngọc cơ theo lối Cầu cơ thỉnh Tiên của Tiên giáo ở Trung Hoa.

Đêm rằm Trung thu năm Ất Sửu, do lịnh của Đấng A Ă Â, 3 ông tổ chức Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung tại nhà Ngài Cao Quỳnh Cư để làm tiệc đãi Đức Phật Mẫu và 9 vị Tiên Nương, 3 ông dùng Ngọc cơ lần đầu tiên để cầu Đức Phật Mẫu và 9 vị Tiên Nương, được mỗi vị ban cho một bài thi kỷ niệm. Kể từ ngày nầy về sau, quí ông thường dùng Ngọc cơ để cầu các Đấng.

Nhận thấy 3 ông đã có đủ đức tin nên Đức Phật Mẫu ban lịnh cho 3 ông Vọng Thiên Cầu Đạo.

Đấng A Ă Â dạy 3 ông, quì giữa trời, mỗi ông cầm 9 cây nhang vào đêm 1-11-Ất Sửu, nguyện vái Đấng Cao Đài Thượng Đế ban cho một mối Đạo để cứu độ nhơn sanh.

Sau đó, Đấng A Ă Â giáng cơ cho biết: Đấng Cao Đài Thượng Đế chấp nhận lời Vọng Thiên Cầu Đạo của 3 ông, sẽ ban cho một mối Đạo gọi là Đạo Cao Đài để cứu độ nhơn sanh.

Đêm Noel 1925, Thất Nương cho biết: A Ă Â là Thầy, là Đấng Thượng Đế Chủ Tể càn khôn vũ trụ và vạn vật.

Đức Chí Tôn thâu các môn đệ nồng cốt: Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang, Nguyễn Trung Hậu, Trương Hữu Đức, Lê Văn Trung, Lê Văn Lịch, và dạy quí vị nầy phải hiệp với Ngô Văn Chiêu mà lo mở Đạo.

 

 

 

Năm Bính Dần (1926)

TÓM TẮT các sự kiện quan trọng:

• Thầy ban lịnh các môn đệ khởi đi truyền Đạo.

• Thầy thâu phục các môn đệ nồng cốt.

• Lập Tờ Khai Đạo.

• Thầy ban Tịch Đạo nam và nữ phái.

• Đức Lý Thái Bạch kiêm nhiệm Giáo Tông.

• Đại Lễ Khai Đạo.

• Lập Pháp Chánh Truyền Cửu Trùng Đài nam phái.

 

Hình Quả Càn Khôn, Tượng Ngũ Chi và 7 cái Ngai làm trước hồi tháng 9 Bính Dần, qua đến tháng 10 mới có chở về Chùa Gò Kén cho kịp ngày Thầy khai Đại Hội Rằm tháng 10 Bính Dần (dl. 18-11-1926).

1-1-Bính Dần (dl. 13-02-1926):

Thầy dạy các môn đệ khởi sự đi truyền Đạo.

9-1-Bính Dần (dl. 21-2-1926):

Bài thi kỷ niệm những môn đệ đầu tiên:

CHIÊU KỲ TRUNG độ dẫn HOÀI sanh,

BẢN đạo khai SANG QUÍ GIẢNG thành.

HẬU ĐỨC TẮC CƯ Thiên địa cảnh,

Huờn Minh Mân đáo thủ đài danh.

11-1-Bính Dần (dl. 23-2-1926):

Đức Chí Tôn độ ông Trần Duy Nghĩa.

13-1-Bính Dần (dl. 25-2-1926):

Thầy dạy cách lạy tại nhà Ngài Cao Quỳnh Cư.

Đêm 14-1-Bính Dần (dl. 26-2-1926):

Thầy độ Ngài Thái Lão Sư Trần Đạo Quang.

15-1-Bính Dần (dl. 27-2-1926):

Đức Chí Tôn độ ông Phủ Tương, ông Tươi, ông Đãi.

20-1-Bính Dần (dl. 04-03-1926):

Đức Chí Tôn độ Ngài Lê Văn Lịch.

21-2-Bính Dần (dl. 03-04-1926):

Đức Chí Tôn độ Ngài Ca Minh Chương.

7-3-Bính Dần (dl. 18-04-1926):

Thầy bảo Ngài Ngô Văn Chiêu sắm Thiên phục Giáo Tông. (*Ghi chú: Đạo Sử 1-2 của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu không ghi rõ ngày chỉ ghi: Avril 1926).

8-3-Bính Dần (dl. 19-04-1926):

Đức Chí Tôn tiếp tục dạy Bà Hiếu may Thiên phục Giáo Tông.

11-3-Bính Dần (dl. 22-4-1926):

Đức Chí Tôn dạy sắp đặt cuộc Thiên phong.

13-3-Bính Dần (dl. 24-04-1926):

Thầy dạy Ngũ Chi Đại Đạo. (*Ghi chú: Đạo Sử 1-2 của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu).

13-3-Bính Dần (dl. 24-04-1926):

Ngài Ngô Văn Chiêu tách riêng khỏi nhóm phổ độ, về sau đi Cần Thơ lập Chi phái Chiếu Minh Vô Vi. (*Ghi chú: Ðại Ðạo Căn Nguyên, Tác giả: Nguyễn Trung Hậu tự Thuần Ðức).

14-3-Bính Dần (dl. 25-4-1926):

Đức Chí Tôn dạy sắp đặt cuộc Thiên phong.

15-3-Bính Dần (dl. 26-04-1926):

Giờ Tý. Thầy phong Thánh lần thứ nhứt.

6-6-Bính Dần (dl. 15-07-1926):

Đức Chí Tôn độ ông bà Nguyễn Ngọc Thơ - Lâm Ngọc Thanh.

Cuối tháng 6 âm lịch năm Bính Dần.

Thầy thâu ông Lê Thiện Phước làm môn đệ.

1-7-Bính Dần (dl. 08-08-1926)

tại Vĩnh Nguyên Tự. Thầy ban Tịch Đạo cho Chức sắc Cửu Trùng Đài nam phái, phong Thánh lần thứ 2.

3-7-Bính Dần (dl. 10-.8-1926)

tại nhà Ngài Trung. Thầy phong ông Lê Bá Trang làm Ngọc Phối Sư.

12-7-Bính Dần (dl. 19-08-1926):

Thầy chấp thuận cho Ngài Thái Thơ Thanh ấn tống Kinh Nhựt Tụng và Thánh Tượng Thiên Nhãn.

24-7-Bính Dần (dl. 31-08-1926):

Thầy phong Ngài Nguyễn Văn Tương: Thượng Chưởng Pháp.

29-7-Bính Dần (dl. 05-09-1926):

Thầy phong Hòa Thượng. Như Nhãn: Thái Chưởng Pháp. Thầy quyết định dùng tiếng Việt Nam làm chánh tự để truyền bá Đạo Cao Đài.

11-8-Bính Dần (dl. 17-09-1926):

- Thầy dạy ông Nguyễn Văn Kiệt làm 7 cái ngai và dạy ông Lâm Quang Bính làm Trái Càn Khôn.

- Thầy dạy sắp đặt việc thờ phượng nơi Thánh Thất.

12-8-Bính Dần (dl. 18-09-1926):

Thầy tạo Thánh Thất, Tân Luật, Lễ nghi Tế Tự, lập thành Quốc Đạo cho dân tộc Việt Nam.

23-8-Bính Dần (dl. 29-09-1926):

247 môn đệ họp đại hội tại nhà Nguyễn Văn Tường dự thảo Tờ Khai Đạo gởi chánh quyền Pháp.

28-8-Bính Dần (dl. 04-10-1926):

Thầy nhứt định số lượng Chức sắc Cửu Trùng Đài nam phái: Nhứt Phật, Tam Tiên, Tam thập lục Thánh, Thất thập nhị Hiền, Tam thiên đồ đệ.

1-9-Bính Dần (dl. 07-10-1926):

Thầy dạy Ngài Trung: nội trong buổi sáng nầy đem Tờ Khai Đạo nạp cho Thống Đốc Nam Kỳ Le Fol.

7-9-Bính Dần (dl. 13-10-1926):

Ngài Cao Quỳnh Cư dâng “Phổ Cáo Chúng Sanh” lên Thầy duyệt xét.

23-9-Bính Dần (dl. 29-10-1926):

Thầy giao Đức Lý Thái Bạch, Nhứt Trấn Oai Nghiêm cầm quyền Giáo Tông Đại Đạo.

12-10-Bính Dần (dl. 16-11-1926):

- Thầy dạy lập Lễ tại Thánh Thất, phân chia phận sự mỗi vị.

- Thầy phong 3 Chánh Phối Sư: Thái Thơ Thanh, Thượng Tương Thanh, Ngọc Trang Thanh.

13-10-Bính Dần (dl. 17-11-1926):

Thầy phong Hòa Thượng Thiện Minh làm Đầu Sư Thái Minh Tinh, Thầy dạy lập Lễ tại Thánh Thất tiếp.

14-10-Bính Dần (dl. 18-11-1926):

- Bắt đầu Đại Lễ Khai Đạo tại Thánh Thất Gò Kén. Thầy lập Tịch Đạo Cửu Trùng Đài nữ phái.

- Quỉ nhập đàn phá khuấy.

15-10-Bính Dần (dl.19-11-1926):

Chánh Lễ Khai Đạo tại Thánh Thất Gò Kén, Tây Ninh. Thầy phong chức cho một số môn đệ phẩm Giáo Sư, Giáo Hữu,…

16-10-Bính Dần (dl. 20-11-1926):

Thầy lập Pháp Chánh Truyền Cửu Trùng Đài nam phái.

2-11-Bính Dần (dl. 06-12-1926):

Thầy dạy lập Tân Luật.

5-11-Bính Dần (dl. 09-12-1926):

Ngài Thượng Chưởng Pháp Tương đăng Tiên.

9-11-Bính Dần (dl. 13-12-1926):

Đức Lý dạy thêu bùa chữ KHÍ đặt sau ngôi Hộ Pháp.

15-11-Bính Dần (dl. 19-12-1926):

Thầy dạy: Con người khi chết đi đâu ?

21-11-Bính Dần (dl. 25-12-1926):

Đức Lý Giáo Tông phong ông Latapie là Thượng Giáo Sư.

1-12-Bính Dần (dl. 04-01-1927):

Hòa Thượng Như Nhãn theo Đạo Cao Đài và hiến chùa Gò Kén làm Thánh Thất, nay đổi ý, không theo Đạo Cao Đài nữa và đòi chùa lại.

12-12-Bính Dần (dl. 15-01-1927):

Thầy phong: Ngài Trần Đạo Quang: Quyền Thượng Chưởng Pháp. Ngài Dương Văn Nương: Đầu Sư Thái Nương Tinh.

13-12-Bính Dần (dl. 16-01-1927):

Đức Lý Giáo Tông dạy cách dâng Tân Luật.

15-12-Bính Dần (dl. 18-01-1927):

Thần Hoàng Bổn Cảnh làng Mỹ Lộc nói về Tận Thế, Hội Long Hoa, nhơn vật 10 phần hao hết 9.

 

 

 

Năm Đinh Mão (1927)

TÓM TẮT các sự kiện quan trọng:

• Lập Pháp Chánh Truyền nữ phái Cửu Trùng Đài.

• Lập Pháp Chánh Truyền Hiệp Thiên Đài.

• Chọn mua đất làm Thánh địa, cất Tòa Thánh.

• Ngưng Cơ bút phổ độ: Cuối tháng 6 Đinh Mão.

• Mở đạo tại Kim Biên lập Hội Thánh Ngoại Giáo.

 

Chư Chức Sắc Thiên Phong Hiệp Thiên và Cửu Trùng chụp kỷ niệm nơi mặt tiền Thánh Thất tạm hồi còn bằng tranh, do Đức Cao Thượng Phẩm tạo lập.

1-1-Đinh Mão (dl. 02-02-1927):

Đức Lý Giáo Tông lập Pháp Chánh Truyền nữ phái Cửu Trùng Đài.

Thầy tổng kết 1 năm truyền đạo: độ được hơn 4 vạn môn đệ. Thầy ban phép lành cho tất cả môn đệ. Ngài Thượng Chưởng Pháp Tương giáng cơ.

4-1-Đinh Mão (dl. 05-02-1927):

Đức Lý tiên tri: 6 thành phố lớn ở VN bị nạn thảm.

12-1-Đinh Mão (dl. 13-02-1927):

Thầy lập Pháp Chánh Truyền Hiệp Thiên Đài, phong Thập nhị Thời Quân.

14-1-Đinh Mão (dl. 15-02-1927):

Thầy phong Chức sắc nữ phái tại Thánh Thất Gò Kén.

15-1-Đinh Mão (dl. 16-02-1927):

Đức Lý Giáo Tông dạy ban hành Tân Luật gấp.

18-1-Đinh Mão (dl. 19-02-1927):

Đức Lý dạy làm 3 ấn cho 3 vị Chưởng Pháp và 3 ấn cho 3 vị Đầu Sư.

19-1-Đinh Mão (dl. 20-02-1927):

Thầy nhứt định chọn Tây Ninh làm Thánh địa.

20-1-Đinh Mão (dl. 21-02-1927):

Đức Lý dạy Hội Thánh đi kiếm mua đất và tìm thấy cuộc đất tốt ở làng Long Thành.

23-1-Đinh Mão (dl. 24-02-1927):

Đức Lý nói: Cuộc đất ấy đúng là Thánh địa vì có Lục Long Phò Ấn.

24-1-Đinh Mão (dl. 25-02-1927):

Đức Lý dạy làm bài vị cho Noln Dinh vào Thần vị.

27-1-Đinh Mão (dl. 28-02-1927):

Đức Lý dạy vị trí và kích thước cất Tòa Thánh.

5-2-Đinh Mão (dl. 08-03-1927):

Thầy và Đức Lý dạy về việc cất Tòa Thánh.

20-2-Đinh Mão (dl. 23-03-1927):

Giao trả chùa Gò Kén cho Hòa Thượng Như Nhãn.

4-3-Đinh Mão (dl. 05-04-1927):

Giáo Hữu phải học đạo và thuyết đạo.

10-4-Đinh Mão (dl. 10-05-1927):

Thầy dạy: Thánh Ngôn ban hành phải có ấn ký của Thượng Đầu Sư.

12-4-Đinh Mão (dl. 12-05-1927):

Thầy phong ông Nguyễn Văn Ca làm Thái Phối Sư.

2-5-Đinh Mão (dl. 01-06-1927):

Thầy ra lịnh: Cuối tháng 6 ngưng Cơ bút phổ độ.

14-5-Đinh Mão (dl. 13-06-1927):

Ngài Ngọc Chưởng Pháp Trần Văn Thụ đăng Tiên. Ngài đắc quả: Thiết Quang Chơn Nhơn.

29-6-Đinh Mão (dl. 27-07-1927):

Đức Hộ Pháp mở đạo tại Nam Vang. Thầy phong Chức sắc và lập Hội Thánh Ngoại Giáo.

22-8-Đinh Mão (dl. 17-09-1927):

Chức sắc vì áo mão hơn đạo đức thì tội chất bằng hai.

15-12-Đinh Mão (dl. 07-01-1928):

Đức Lý dạy may đạo phục cho Bảo Sanh Quân Lê Văn Hoạch.

Cuối năm Đinh Mão (đầu năm 1928):

Thầy dạy: Cơ bút không do Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh, Thập nhị Thời Quân Hiệp Thiên Đài cầu thì không phải là lời của Thầy.

 

_________________

Các chi tiết "Thời kỳ Khai Đạo: Ất Sửu-Đinh Mão (1925-1927)" trích trong:

• Đại Đạo Căn Nguyên của Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu biên soạn năm 1930.

• Đại Đạo Truy Nguyên của Huệ Chương.

• Đạo Mạch Tri Nguyên của Huệ Chương do Ngài Bảo Văn Pháp Quân Cao Quỳnh Diêu biên soạn 1929.

• Đạo Sử 1-2 của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu.

• Thánh Ngôn Chép Tay của Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu.

• Thánh Ngôn Chép Tay của Ngài Đầu Sư Thái Thơ Thanh.

• Tài liệu sưu tầm riêng của soạn giả.

 

Tài liệu tham khảo:
Trích lược từ: ĐẠO SỬ NHỰT KÝ Quyển 1: Thời kỳ Khai Đạo và Đức Quyền Giáo Tông cầm quyền nền Đạo - (Ất Sửu – Giáp Tuất) (1925 – 1934) Biên soạn: Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng 2004.◙

 

 

 

VẤN ĐỀ NGÀI NGÔ VĂN CHIÊU KHÔNG NHẬN LÃNH CHỨC GIÁO TÔNG:

Trích lược một số tài liệu "SỬ ĐẠO" liên quan đến vấn đề:

   
 

LỊCH SỬ QUAN PHỦ NGÔ VĂN CHIÊU.

“... ... ... Quan Phủ Ngô Văn Chiêu biết bấy giờ Ngài đã xong nhiệm vụ trong việc xây dựng nền tảng Cơ Phổ Độ của Cao Đài Đại Đạo.

“... ... ... Vả lại Ngài còn phải đảm đương một sứ mạng khác, rất quan trọng, của Đức Chí Tôn giao phó, là phần việc lập thành và điều khiển Cơ Tuyển Độ 'Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi'." [Lịch Sử Quan Phủ Ngô Văn Chiêu (1878-1932) Chiếu Minh Tam Thanh - In lại theo Ấn Bản TLBT 1996 Bản in PDF trang 47-48].

 

ĐẠI ĐẠO CĂN NGUYÊN - Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu.

“ÔNG NGÔ VĂN CHIÊU TÁCH RIÊNG

“Ông Trung vẫn vâng Thánh ý lo thiết đàn giảng Ðạo. Ông Chiêu lại ở nhà lo bề tự giác. Ý ông không muốn truyền bá mối Ðạo ra cho nhiều người. Ông vẫn lấy câu: "Ngô thân bất độ hà thân độ?" mà làm tôn chỉ. Vì vậy mà ông tách riêng ra kể từ ngày 14 tháng ba, năm Bính Dần (24 Avril 1926). Ðồng một ý kiến ấy thì có mấy ông: Nguyễn Văn Hoài, Võ Văn Sang, Lý Trọng Quí.

“Từ đây, tuy đôi bên chủ nghĩa khác nhau vì một đàng (ông Lê Văn Trung) thì lo phổ thông mối Ðạo, một đàng (ông Ngô Văn Chiêu) lại chuyên bề tự giác, nhưng về phương diện tín ngưỡng, thì cũng đồng thờ kỉnh Ðức Cao Ðài Thượng Ðế.” [Ðại Ðạo Căn Nguyên (1930) Tác giả: Nguyễn Trung Hậu tự Thuần Ðức].

 

ĐẠI ĐẠO TRUY NGUYÊN Tác giả: HUỆ CHƯƠNG

“… … … Mấy ổng vưng chịu, và xin Ngài chỉ bảo cách thức, đặng thờ Ngài. Ngài lại dạy mấy ổng phải đến ông Phủ Chiêu, là người có thờ Ngài đã lâu rồi; lại dặn mấy ổng, chừng nào đi phải đem theo Ngọc-Cơ, đặng Ngài giáng, mà chỉ dạy thêm trong cách thờ phượng.

“Mấy vị vưng mạng lịnh, tìm đến hiệp với ông Phủ Chiêu. Nhưng nghe rằng, ít tháng sau, vì không khứng nạp dụng những Đạo-hữu tới lui rần-rộ, trái tôn-chỉ Đạo của ông, là phải tịnh-dưỡng mà thôi, nên ông Phủ Chiêu thối bước từ buổi ấy.” [Đại Đạo Truy Nguyên & Phu Thê Yếu Luận. Tác giả: Huệ Chương (In tại nhà in Võ Văn Vân 201-211 Kitchener 201-211 - SAIGON – 1953)].

 

Bài phát biểu về ĐẠO SỬ của Ngài Khai Đạo, Trưởng Ban Đạo Sử, ngày 1-2-Ất Mão (dl. 13-3-1975).

“… … …Vì các lực lượng bạo động đó mà chánh quyền để ý dòm ngó ngăn ngừa, còn có những người khác có tính háo kỳ về tín ngưỡng, nghe đâu có lập đàn cầu Tiên thì đến xem coi cách cầu Tiên phải lập đàn thế nào đặng cầu được Tiên, Tiên xuống phàm hay là chuyện gì? Có thể hỏi Tiên về việc nước được chăng? Vì tiếng đồn với nhau nên thiên hạ đến xem cầu Tiên càng ngày càng đông.

“Trái lại, khi đó quan Phủ Ngô Văn Chiêu lại muốn êm tịnh đặng có thì giờ tham thiền nhập định, không khứng đi phổ độ vì dân chúng ồn ào như thế. Ông thường nói: “Ngô thân bất độ hà thân độ” : Mình độ lấy mình biết trọn vẹn không, huống gì đi độ ai! Nếu ai muốn tu Tiên thì phải từ từ đến nhà tư của ông, ông sẽ chỉ cho cách thờ phượng để tâm tu niệm. Hơn nữa, ông cho biết, nếu lập đàn cầu Tiên mà người tụ họp đông quá thì mất vẻ tôn nghiêm tất là khiếm lễ. Nếu khiếm lễ vì đông người thì các Đấng thiêng liêng và Tiên Ông không giáng. Chí hướng của ông Ngô Văn Chiêu thì không muốn hội họp đông người khi lập đàn, vì sợ mất sự an ninh trong Đô Thành. Quan Phủ Chiêu muốn giữ an ninh vì sợ đám chính trị gia trà trộn vào quấy phá và vì ông là một công chức của chánh phủ nên muốn như vậy là lẽ phải của ông đó, nên ông từ chối, không chịu hợp tác với quí vị Chức sắc Đại Thiên phong đầu tiên cùng nhau đi phổ độ chúng sanh theo lời Đức Chí Tôn đã dạy…. … …” [ĐẠO SỬ NHỰT KÝ Quyển 1: Thời kỳ Khai Đạo và Đức Quyền Giáo Tông cầm quyền nền Đạo (Ất Sửu – Giáp Tuất) (1925 – 1934) Biên soạn: Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng 2004].

 

NHÌN LẠI 50 NĂM LỊCH SỬ ÐẠO CAO ĐÀI Hiền Tài Nguyễn Long Thành, viết nhân lễ kỷ niệm Khai Đạo lần thứ 50. 15 tháng 10 Giáp Dần 1974.

"... ... ... Thượng Đế vô vi nhi dịch sử quần linh thì sinh hoạt của bậc chơn tu giác tánh cũng đồng lý ấy nhưng nhỏ bé hơn và thấp thỏi hơn trong quyền pháp mà thôi. Xét trên quan điểm lợi ích thiết thực cho cá nhân, so sánh hai trạng thái nội tâm thì đường lối tu hành tịnh luyện thiền định của Ngài Ngô Văn Chiêu trong giai đoạn tiền khai Đạo được sự nâng đỡ của Đức Chí Tôn đã đem lại cho Ngài sự bằng an thánh thiện hơn là đảm nhiệm vai trò làm Giáo Tông Đạo Cao Đài sẽ có nhiều phiền não trước mắt khó tránh được.

"Con đường phổ độ với những phiền não về nhơn tâm và khó khăn về an ninh cá nhân đã làm mất đi sự bằng an trong tâm của Ngài, khiến Ngài mất đức tin nơi Thánh giáo của nhóm đồng tử Phạm Công Tắc, Cao Quỳnh Cư thông công, đang thúc đẩy Ngài đến chỗ sẽ gặp nhiều phiền não khó khăn. Ngài chọn giải pháp tạ từ ngôi Giáo Tông, từ chối lãnh trách nhiệm anh cả của toàn thể khối tín đồ Cao Đài đã hình thành một tôn giáo và sống một cách chân thành với sự hiểu biết của trí não Ngài rằng con đường Ngài đang chọn như thế là đúng đắn nhất. Những ấn chứng nhiệm mầu mà Đức Chí Tôn đã ban bố để nâng đỡ đức tin trong khi Ngài công phu khổ hạnh là bằng chứng hùng hồn để Ngài tin rằng khước từ lời dạy làm Giáo Tông là đi đúng với chơn pháp... ... ...". [Nhìn Lại 50 Năm Lịch Sử Đạo Cao Đài. Nhận định của Nguyễn Long Thành 1974. Do Cơ Quan Truyền Giáo Hải Ngoại in lại năm 2000. Trang 11].

 

LỜI THUYẾT ĐẠO CỦA ĐỨC PHẠM HỘ PHÁP:

Tại Tòa Thánh ngày rằm tháng 10 năm Canh Dần (1950)

“... ... ...

“Một trường bịa đặt ngôn luận đủ mọi điều, không cái gì mà thiên hạ không nói, buổi nọ tình thế ấy, từ giá trị đến đời sống của Ngài đều bị thiên hạ chê bai một cách vô lý không thế gì tả được cái ích kỷ của đời.

Về quyền hành của Đạo, không biết vì cớ gì Đức Chí Tôn đã định cho Ngô Văn Chiêu làm Giáo Tông của Đạo, Đức Chí Tôn biểu may Thiên Phục Giáo Tông và may rồi trong 10 ngày lại thôi, Ngô Văn Chiêu bị biếm vậy. Hại thay! Tước vị ấy để treo lên đó mà thôi, dùng để cho ai hưởng, trái ngược lại Anh cả của chúng ta phải chịu mạng lịnh cầm quyền ấy, làm cho tâm lý giữa Đạo và đời phải điên đảo phân phân bất nhứt, gây thù kết oán với nhau, sanh ra các đảng phái đánh đổ Hội Thánh.

“Hại thay! Ngài phải chịu một trường hợp khó khăn đã chịu một điều oan khúc tình cờ không thế gì tự bào chữa lấy mình cho đặng, đàng sau Anh cả chúng ta buổi nọ, cả Chức Sắc Thiên Phong nam, nữ cả tín đồ đều phân phân bất nhứt, đàng sau Anh cả chúng ta buổi nọ không có cái hậu thuẩn chi hết, cả thảy đều bo bo chết anh, anh chịu, chết em, em chịu, không biết binh vực lẫn nhau, không có một hậu thuẩn biểu sao cường quyền không áp chế bắt cầm tù đặng thị nhục.... ... ...” [Q.3 / 40. Vía Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt].

 

ĐỨC HỘ PHÁP Thuyết đạo tại bao lơn Đền Thánh, nhân dịp Lễ Vía Đức Quyền Giáo Tông ngày 13 tháng 10 năm Giáp Ngọ (DL. 1954)

“... ... ...

“Khi Đức Chí Tôn đến với chúng tôi, Đức Chí Tôn mở Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, chớ không phải mở Đạo Cao Đài, tới chừng Ngài biểu chúng tôi cầm một cây Cơ và một ngọn Bút đi các nơi thâu Môn đệ. Trọng yếu của Ngài là thâu mấy vị Tông Đồ có sứ mạng trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ này đã giáng sanh trước, đặng làm môi giới độ Đạo sau nầy. Đức Chí Tôn biểu chúng tôi Phò Loan, đặng Ngài dùng quyền năng Thiêng Liêng kêu gọi mấy vị Tông Đồ đó. Quả nhiên chẳng bao lâu, có đủ Thập Nhị Thời Quân hiển hiện ra, trong số các vị Thời Quân ấy, có Cao Tiếp Đạo ở tại Kiêm Biên chớ không phải ở Saigon. Đi thâu Thập Nhị Thời Quân rồi Đức Chí Tôn mới mở Đạo. Chừng đó Ngài mới chỉ cho chúng tôi biết rằng: Có một người thờ Ngài rồi là Ông Ngô Văn Chiêu, tức nhiên Đức Chí Tôn muốn thâu Ông làm Giáo Tông đầu tiên đó. Có một điều lạ lùng suy nghĩ không ra nguyên cớ là Đức Chí Tôn biểu Bà Nữ Chánh Phối Sư Hương Hiếu may sắc phục Giáo Tông cho Người, kỳ hẹn trong 10 ngày, Người sẽ được tôn làm Giáo Tông, trong thời gian 10 ngày, chỉ có 10 ngày mà thôi. Chúng tôi không hiểu nguyên cớ nào Ông Ngô Văn Chiêu không hưởng được địa vị ấy.

“Ông Ngô Văn Chiêu là một vị Phủ, Đốc Phủ Sứ buổi nọ, ở tại Hà Tiên do nơi Cơ Bút, Đức Chí Tôn đến với Người và thâu Người làm Môn Đệ đầu tiên hết, là người được Đức Chí Tôn xưng là Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát. Trong khi đó Đức Chí Tôn đến với chúng tôi mở Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Đức Chí Tôn chỉ nhà của Ông Ngô Văn Chiêu cho chúng tôi và nói: Ngô Văn Chiêu thờ Thầy lâu rồi, các con đến đó kết bạn cùng nó, vì cớ cho nên chúng tôi mới biết Ông Ngô Văn Chiêu... ... ...” [Q.6-2 / 19. Vía Đức Quyền Giáo Tông - Lịch sử thành lập Đạo Cao Đài].

 

* Bản chánh Ban Tốc Ký ghi: "Ngô Quang Chiêu".

 

 

 


 

 


 

VĂN-PHÒNG

TRẤN-ĐẠO ÚC-CHÂU

114-118 King Georges Rd,
WILEY PARK, N.S.W.2195, AUSTRALIA

Tel & Fax: (61 2) 9740 5678,
(M) 0404 223 973

Email: nguyencg@yahoo.com

ABN: 48 023 632 519

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Cửu Thập Tứ Niên

TÒA THÁNH  TÂY NINH

-oOo-

 

DIỄN-VĂN KHAI MẠC

Lễ Khánh-Thành ĐTPM New South Wales

 

NAM-MÔ CAO-ĐÀI TIÊN-ÔNG ĐẠI BỒ-TÁT MA-HA-TÁT.

NAM-MÔ DIÊU-TRÌ KIM-MẪU VÔ CỰC THIÊN-TÔN.

NAM-MÔ CỬU-VỊ TIÊN-NƯƠNG.

 

Kính-bạch Hội-Thánh Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ, Tòa-Thánh Tây-Ninh.

Kính thưa quý vị Quan-Khách.

Kính thưa chư Thiện-Nam Tín-Nữ.

 

Thay mặt toàn thể Tín-Đồ Cao-Đài tại Trấn-Đạo Úc-Châu, Thiểu-Phẩm hân-hoan chào mừng toàn thể chư Thiện-Nam Tín-Nữ đã dành thời giờ quý báu đến tham dự buổi Lễ Khánh-Thành ngôi Điện-Thờ Phật-Mẫu New South Wales hôm nay.

Đức Chí-Tôn, Ngọc-Hoàng Thượng-Đế, đã dạy rằng: Khi chưa có Trời Đất, khí Hư-vô sanh có một mình Thầy. Thầy ngự nơi Ngôi Thái-Cực. Thầy phân Thái-Cực ra Lưỡng-Nghi, tức là Ngôi Âm và Ngôi Dương. Thầy giữ Ngôi Dương, để điều hành Càn-Khôn Vũ-Trụ, còn Phật-Mẫu giữ Ngôi Âm, dùng Pháp để hóa-sanh muôn loài vạn vật trong Càn Khôn Thế-Giới.

Trong bài Phật-Mẫu Chơn-Kinh có câu:

Thiên Cung xuất Vạn-linh tùng pháp,

Hiệp Âm Dương hữu hạp biến sanh.

Càn Khôn sản-xuất hữu hình,

Bát hồn vận-chuyển hóa thành chúng-sinh.

và các câu Kinh sau đây trong bài Tán Tụng Công-Đức Diêu-Trì Phật-Mẫu:

Kể-từ hỗn độn sơ khai,

Chí-Tôn hạ chỉ trước đài Linh-Tiêu.

Lưỡng Nghi phân khí Hư-vô,

Diêu-Trì Kim-Mẫu nung lò hóa-sanh.

Ấy vậy, Đức Thượng-Đế và Đức Phật-Mẫu là cha mẹ thiêng-liêng của toàn sanh chúng trong Càn-Khôn Thế-Giới. Cha mẹ phàm trần chỉ là thế quyền của Đấng Tạo-Hóa mà duy trì và phát triển nòi giống trên các mặt Địa-cầu.

Bởi lẽ đó, sau khi xây cất xong Thánh-Thất Cao-Đài New South Wales ở số 114-118, King Georges Rd, Wiley Park, NSW.2195, để thờ Đức Thượng-Đế, Giáo-Hội Cao-Đài New South Wales đã tạo mãi lô đất số 84, Wattle Ave, Carramar, NSW.2163, để xây cất ngôi Điện-Thờ Phật-Mẫu New South Wales.

Từ đây, cùng với ngôi Thánh-Thất Cao-Đài New South Wales và ngôi Điện-Thờ Phật-Mẫu New South Wales sẽ là món quà của Giáo-Hội Cao-Đài Úc-Châu trân trọng hiến dâng cho toàn dân chúng Úc, dùng làm nơi phụng thờ Đức Mẹ Thiêng-Liêng của chúng sanh, nói chung và nhân-loại, nói riêng.

Đến viếng và cầu nguyện Đức Phật-Mẫu và Cửu Vị Tiên-Nương hôm nay, chư Thiện Tín có thể gợi nhớ đến câu chuyện ngày xưa của Hán Vũ Đế bên Tàu, khi người được bái yết Đức Phật-Mẫu tại Hoa-Điện, đầy hoa thơm cỏ lạ. Hán Vũ Đế đã được Đức Phật-Mẫu ban cho quả đào tiên. Thay mặt Giáo Hội Cao-Đài Úc-Châu, Thiểu-Phẩm thành tâm cầu nguyện Đức Phật-Mẫu và Cửu Vị Tiên-Nương cũng ban tặng cho chư Thiện Tín nhiều hồng-ân như vậy.

Nay kính.

Điện-Thờ Phật-Mẫu NSW, ngày 14 tháng 10 năm Kỷ-Hợi
(DL.10.11.2019)

Q. Quản Văn-Phòng Trấn-Đạo Úc-Châu,

 

 

Hiền-Tài Nguyễn Chánh-Giáo, JP, RMC

 

 

Bản sao kính gửi:

 

-Các Tộc-Đạo Melbourne, Perth và Sydney.

-Sở Phuớc-Thiện Sydney và ĐTPM/NSW.

"Để kính tường".

-Hồ-sơ lưu.

 

 


 

 


Chương Trình

Lễ Khánh Thành Điện Thờ Phật Mẫu New South Wales

 

Tại địa chỉ số 84 Wattle Ave,
Carramar, NSW. 2163, AUSTRALIA

 

Ngày Chúa-nhựt, 10/11/2019:

Từ 06.00 AM

Cúng Đức Phật-Mẫu, Mẹo Thời.

Từ 08.30 AM

Đồng-đạo tề tựu về ĐTPM/NSW.

Từ 09.00 AM

Đón tiếp Quan-Khách và Đồng-Đạo khắp nơi.

Từ 10.00 AM

Lễ Cắt băng Khánh Thành & Đãnh lễ Đức Phật-Mẫu, Cửu vị Tiên- Nương & Bạch-Vân Động Chư Thánh. Tham-quan hình-ảnh sinh hoạt & xây dựng ĐTPM/NSW, v.v.

Từ 11.00 AM

Thọ trai.

Từ 11.45 AM

Tiễn-khách.

Từ 12.00 PM

Cúng Đức Phật-Mẫu, Ngọ Thời và Giải lao.

Từ 13.00 PM

Tuyên-dương công-nghiệp của Đạo-Hữu và Đạo-Tâm đã đóng góp công-sức và tài, vật-lực vào công cuộc xây dựng ĐTPM/NSW.

 

Ngày Thứ Hai, 11/11/2019, nhằm Rằm tháng 10 Kỷ-Hợi:

Từ 06.00 AM

Cúng Đức Phật-Mẫu, Mẹo Thời.

Từ 09.00 AM

Đồng-đạo tề tựu về ĐTPM/NSW. Chuẩn-bị cúng Đại-Đàn Đức Phật-Mẫu, Cửu Vị Tiên-Nương & Bạch-Vân Động Chư Thánh vào Thời Ngọ.

Từ 11.00 AM

Thọ trai.

Từ 12.00 PM

Cúng Đại-Đàn Đức Phật-Mẫu, Cửu Vị Tiên-Nương và Bạch-Vân Động Chư Thánh, Ngọ-Thời.

Từ 04.30 PM

Đồng-Đạo tề-tựu về Thánh-Thất NSW. Chuẩn-bị cúng Đại-Lễ Hạ-Ngươn cặp Kỷ-Niệm Ngày Khai Đại-Đạo Tam Kỳ Phổ-Độ.

 

 


 

 


LƯỢC SỬ THÀNH LẬP

CƠ SỞ PHƯỚC THIỆN SYDNEY, NEW SOUTH WALES

 

 

Sở Phước Thiện và Điện Thờ Phật Mẫu New South Wales do Hiền Tỷ Nguyễn Thị Hồng Hoa khởi xướng và thành lập qua Thông Báo, đề ngày 07-08-2003.

Lễ Thượng Thiên Bàn Phật Mẫu được tiến hành vào dịp Kỷ niệm mừng ngày Khai Đạo, Rằm tháng 10 năm Quý Mùi (dl. 08-11-2003) ở số 160 Hector Street, Chester Hill, NSW 2200.

 

Tạo dựng Cơ Sở Phước Thiện và Điện Thờ Phật Mẫu cố định cho New South Wales:

Qua Tờ Tường Trình của Bàn Cai Quản tạm thời Cơ sở Phước Thiện và Điện Thờ Phật Mẫu New South Wales gởi đến Văn Phòng Trấn Đạo Úc Châu và Tộc Đạo Sydney, đề ngày 17-08-2004.

Văn Phòng Trấn Đạo Úc Châu đã đứng ra triệu tập một phiên họp bất thường vào ngày 22-08-2004, tại Thánh Thất New South Wales, để thảo luận việc tạo tác Điện Thờ Phật Mẫu New South Wales, với sự tham dự của hầu hết những vị đã ký tên trên Tờ Tường Trình ngày 17-08-2004, gồm Bàn Cai Quản tạm thời Cơ sở Phước Thiện và Điện Thờ Phật Mẫu New South Wales, cùng với Chức sắc Chức việc và Đạo Hữu thuộc Tộc Đạo Sydney.

Kết quả phiên họp: Bắt đầu cuộc vận động tài chánh tìm mua bất động sản để làm trụ sở cho Cơ Sở Phước Thiện và Điện Thờ Phật Mẫu New South Wales.

 

Điện Thờ Phật Mẫu NSW: 84 Wattle Ave, Carramar, NSW 2163:

Việc mua bất động sản 84 Wattle Ave, Carramar, NSW 2163, hoàn thành nhận chìa khóa (settlement) vào ngày Thứ Sáu, 22-10-2004, lúc 15 giờ chiều.

 

 

Văn Phòng Trấn Đạo Úc Châu đã huy động nhân công, công quả trong Đạo đến sửa chữa gấp bên trong ngôi nhà ở, biến thành nơi thờ tự trang nghiêm.

Qua bao khó khăn, nội khảo, ngoại khảo. Lễ An vị Thiên Bàn Phật Mẫu tại Điện Thờ Phật Mẫu mới, ở số 84 Wattle Ave, Carramar, NSW.2163 tiến hành vào lúc 18 giờ ngày Mùng 1 Tết Ất Dậu (dl. 09-02-2005).

Trót trên 10 năm, đồng đạo đã sửa sang nhiều đợt, nào che thêm mái nhà sau, sửa phòng, tráng nền, làm cổng để có chỗ sinh hoạt, hội họp.

 

Quyết định xây dựng ĐTPM/NSW:

Sau một số lần gây quỹ xây dựng, Bàn Cai Quản PT và ĐTPM/NSW quyết định tiến hành xây dựng. Đồ án được nạp vào Ban Kề Hoạch Phát Triển Thành Phố Fairfield (Fairfield Development Planning) đã được chấp thuận ngày 23-09-2015 và được yêu cầu sửa đổi vài chi tiêt. Cuối cùng đã được Hội Đồng Thành Phố chính thức chấp thuận ngày 21-12-2015.

- Thư Mời họp lập Ban Xây Dựng đề ngày 08-09-Ất Mùi (dl.20-10-2015) và buổi họp công cử Ban Xây Dựng ngày Chủ Nhựt, 08-11-2015. Tuy nhiên, vì vấn đề nhân sự không thể đáp ứng vai trò điều hành, Huynh HT Giáo, dầu đa đoan với sinh hoạt chung của Trấn Đạo Úc Châu, mà phài đảm đang điều động, cộng với sự nhiệt tình hợp tác và cố vấn của nhiều Kỷ Sư, Kiến Trúc Sư và đồng đạo quen tay (handy men) giúp sức. Ngoài ra, không thể thiếu sự nhiệt tình hỗ trợ của các mạnh thường quân hảo tâm hỉ hiến tài lực, vật lực một cách hết lòng.

- Ngày 22-02-2016: Dời thỉnh Thiên Bàn Đức Phật Mẫu và Bàn Thờ Cửu Huyền đến Phòng thờ tạm, sau lô đất.

- Ngày 27+28-02-2016: Tháo giở mái nhà tôle, sau mái nhà chính và sườn sắt.

- Tháng 2 đến giữa tháng 3-2016: Giở toàn bộ căn nhà, để san bằng nền nhà, chuẩn bị đào móng.

 

Lẽ Đặt Viên Đá Đầu Tiên:

 

 

Ngày Rằm tháng Hai Bính Thân (dl.23-03-2016) toàn đạo được mời về Thánh Thất NSW thượng Sớ trình Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu và Chư Thiêng Liêng xin thiết Lễ Đặt Viên Đá Đầu Tiên khởi công xây cất Điện Thờ Phật Mẫu N.S.W. Ba ngày sau, tức ngày 26-3-2016 (âl. 18-02 Bính Thân) Đạo Hữu, Đạo Tâm tề tựu đông đảo trước nền đất đã ủi trống. Thành phần Đại Diện ba thế hệ: Cao niên, Trung niên và Thanh Thiếu niên đã phấn khởi, hân hoan và long trọng nhấc Viên Đá Đầu Tiên đem đặt vào vị trí đã định.

 

Lễ An Vị Long Vị Phật Mẫu:

Phần xây dựng Chánh Điện hoàn thành xong, Lễ An Vị "Long Vị Phật Mẫu" được tổ chức vào ngày Rằm tháng Tám năm Mậu Tuất (Dl. 24-09-2018), để Đồng Đạo và chư Thiện Tín lễ bái.

 

 

Thiết tưởng, cũng nên nhắc lại lời nguyện trong lòng Sớ nhân Lễ Đặt Viên Đá Đầu Tiên xây dựng ĐTPM/NSW có nội dung như sau: "Ngưỡng vọng: Vô Trung Từ Phụ, Đức Đại Từ Mẫu phát hạ Hồng Ân, dĩ đức Từ Bi bố hóa chư Đệ Tử trí não quang minh, tinh thần mẫn huệ, thật hành kiến trúc tinh vi hoàn hảo, thuận tùng Thiên Ý, kiến tạo Điện Thờ Phật Mẫu hiệp đắc nhơn tâm, tương thân hòa ái, huynh đệ đại đồng, phổ hóa tứ phương, nguyện vọng tảo đắc đạt thành, công trình hoàn mãn".

Hiện nay, Điện Thờ Phật Mẫu NSW đã tương đối hoàn tất, dầu còn một ít chi tiết cần thỏa mãn yêu cầu của Hội Đồng Thành Phố Fairfield, để được cấp phép sử dụng chính thức.

Trước mắt, chúng ta sắp thiết lễ Khánh Thành ĐTPM/NSW, thể theo nhu cầu tu tập và phát triển của cơ Đạo, trong khi thế hệ "Tre già, Măng non" tạo duyên chuyển tiếp. Điều quan thiết, thiết tưởng con cái yêu dấu của hai Đấng Phụ Mẫu Thiêng Liêng xin ghi nhớ lời dạy của Đức Chí Tôn hằng nhắc nhở rằng: "Thầy lại hằng gánh vác sự khó khăn, chỉ cậy các con là một lòng yêu thương sanh chúng, gắng công phổ độ". Hoặc Thầy cũng dạy thêm: "Thầy hằng muốn cho các con hiệp chung nhau, mở đường chánh giáo. phải biết tương thân, tương ái chia vui sớt nhọc cho nhau mà dìu dắt chúng sanh. Nếu vì chút phàm tâm mà chia đường phân nẻo, ghét nghịch lẫn nhau, các con sẽ treo gương bất chánh cho kẻ sau, lại nền Đạo cũng vì đó mà khó mau thành đặng. Các con khá để ý đến, ấy là các con hiến cho Thầy một sự thành kính trọng hậu đó".

 

 
 
 
 

 

H.T. Lược ghi lại theo tài liệu: LƯỢC-SỬ THÀNH-LẬP CƠ-SỞ PHƯỚC-THIỆN SYDNEY, NEW SOUTH WALES của Q. Quản Văn-Phòng Trấn-Đạo Úc-Châu, Hiền-Tài Nguyễn Chánh-Giáo, ngày 15 tháng 10 năm Giáp-Thân (DL. 26/11/2005).◙

 

 


 

 


PHÁT BIỂU CẢM TƯỞNG
của Tộc Đạo Sydney nhân
Lễ Đặt Viên Đá Đầu Tiên xây dựng ĐTPM New South Wales

 

TRẤN ĐẠO ÚC CHÂU

CHÂU ĐẠO NEW SOUTH WALES

TỘC ĐẠO SYDNEY

114-118 King Georges Rd,
WILEY PARK, NSW 2195, AUSTRALIA

Tel & Fax: (61 2) 9740 5678,
(M) 0414 583 394

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Cửu Thập Nhứt Niên

TÒA THÁNH  TÂY NINH

-oOo-

THÁNH THẤT NEW SOUTH WALES

Email: thanhnghiep.caodai@yahoo.com.au

 

NAM MÔ CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT

 

Kính Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ,

Kính Chư Thiện Nam, Tín Nữ,

 

Được ưu ái của Ban Tổ Chức và Hiền Huynh Chủ Lễ, Hiền Tài Nguyễn Chánh Giáo, Q. QVP Trấn Đạo Úc Châu cho phép Tiện Đệ thay mặt Tộc Đạo Sydney và Liên Hương Đạo có đôi lời cảm tưởng trong buổi Lễ Đặt Viên Đá Đầu Tiên xây dựng Điện Thờ Phật Mẫu New South Wales hôm nay.

Đây là buổi lễ quan trọng trong việc khởi công xây dựng Ngôi Thờ, sau khi chúng ta cùng hiệp tâm cầu nguyện Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu, các Đấng Thiêng Liêng và Thần Hoàng Bổn Cảnh, Đất Đai Viên Trạch phò trợ cho tấm chân tình sắt đinh của toàn thể Thiện Nam, Tín Nữ quyết lòng xây dựng nơi thờ tự, hầu độ dẫn chúng sanh hồi đầu hướng thiện.

Hồi tưởng lại, 25 năm trước, tại vùng Wiley Park, Tiện Đệ có nhắc lại lời tuyên bố đanh thép của Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung và Chư Vị Tiền Khai thay mặt toàn Đạo đứng tên trong Tờ Khai Đạo với Chánh Phủ thời bấy giờ, như sau: "Chúng tôi thay mặt cho những người Annam mà đã nhìn nhận sở hành của chúng tôi và đã ký tên vào Tờ Tịch Đạo ghim theo đây, đến khai cho Quan Lớn biết rằng: Kể từ ngày nay, chúng tôi đi phổ thông Đại Đạo khắp cả Hoàn Cầu".

Cũng trong ý hướng đó, hôm nay chúng ta tề tựu nơi nầy để khởi công xây dựng Điện Thờ Phật Mẫu dầu khiêm nhường, nhưng đáp ứng cho nhu cầu Tu Tâm, Dưỡng Tánh và Phổ Độ Chúng Sanh. Đã là nơi Tu Dưỡng, thì kể từ giây phút nầy, xin hãy cùng chung tay đổ nền, xây gạch bằng từng mảnh Tâm theo lời vàng ngọc của Đức Đại Từ Mẫu hằng khuyên:

"Gắng sức trau giồi một chữ Tâm,

Đạo đời muôn việc khỏi sai lầm.

Tâm Thành ắt đạt đường tu vững,

Tâm Chánh mới mong mối Đạo cầm.

Tâm Ái nhơn sanh an bốn biển,

Tâm Hòa thiên hạ trị muôn năm.

Đường Tâm nẻo Thánh dầu chưa vẹn,

Có buổi hoài công bước Đạo tầm".

Tâm Thành, Tâm Chánh, Tâm Ái, Tâm Hòa hiệp với Tam Lập: Lập Công, Lập Đức, Lập Ngôn luôn là hành trang cho Chư Thiện Tín mang đến công trường xây dựng nơi tôn nghiêm chung của chúng ta. Có thế mới mong trong ấm ngoài êm, xã hội xóm giềng an ninh, hạnh phúc.

Tiện Đệ xin có mấy lời thô thiển. Chỉ mong toàn thể chúng ta bắt tay vào việc với Tâm An Bình.

Cầu xin Ơn Trên ban bố tràn đầy hồng ân cho chư Thiện Nam, Tín Nữ và gia quyến an lạc trên bước đường hành Thiện, hầu trọn vâng lời khuyên của Mẹ:

"Chờ trông con đặng phi thường,

Mẹ đem con đến tận đường Hằng Sanh".

Trân trọng kính chào chư Thiện Nam, Tín Nữ.

 

NAM MÔ DIÊU TRÌ KIM MẪU VÔ CỰC THIÊN TÔN

Thánh Thất New South Wales, ngày Phục Sinh, 26-03-2016

TM. Tộc Đạo Sydney,

 

 

Hiền Tài Nguyễn Thành Nghiệp

 

 

Hiền Tài Nguyễn Thành Nghiệp Q. Đầu Tộc Đạo Sydney phát biểu cảm tưởng nhân Lễ Đặt Viên Đá Đầu Tiên xây dựng ĐTPM-NSW

 

 


 

 


Hình Ảnh "Xây Dựng" Điện Thờ Phật Mẫu N.S.W.

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 


 

 

Cửu vị Tiên Nương - Cửu vị Nữ Phật.


 

TẠO-HÓA HUYỀN-THIÊN hữu: Quảng-Sanh Phật, Dưỡng-Dục Phật, Chưởng-Hậu Phật, Thủ-Luân Phật, dữ Cữu-vị Nữ Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, tùng lịnh KIM-BÀN PHẬT-MẪU năng tạo, năng hóa VẠN-LINH, năng du ta bà thế-giái dưỡng-dục quần sanh qui nguyên Phật-vị.

(Di-Lạc Chơn-Kinh, KINH THIÊN-ĐẠO VÀ THẾ-ĐẠO)

------------

 

Nhiệm vụ của mỗi Tiên Nương nơi cõi Thiêng liêng như sau:

 

1. Nhứt Nương:

Nhứt Nương cầm bửu pháp là đờn Tỳ bà, cai quản vườn Ngạn Uyển nơi từng Trời thứ nhứt trong Cửu Trùng Thiên, đón tiếp các chơn hồn qui Thiên đi lên Cửu Trùng Thiên, xem xét các nguyên nhân đang còn sống nơi cõi trần hay đã qui liễu. Mỗi đoá hoa trong vườn Ngạn Uyển là một chơn linh. Khi chơn linh tái kiếp xuống trần thì hoa nở, khi qui liễu thì hoa héo tàn, khi chơn linh làm điều đạo đức thì sắc hoa tươi thắm, còn làm điều gian ác thì sắc hoa ủ dột xấu xí.

Trong một kiếp giáng trần ở VN, Nhứt Nương có tên là HOA. Do đó, khi Nhứt Nương giáng cơ cho thi thì có chữ HOA đứng đầu bài thi.

HOA ngào ngạt mùi hương tỏa kín,

Cảm lòng thành điện Thánh nương về.

Khuyên đời mau tỉnh giấc mê,

Lo tu sau khỏi não nề kiếp duyên.

 

2. Nhị Nương:

Nhị Nương cầm bửu pháp Lư hương, cai quản vườn Ðào Tiên của Ðức Phật Mẫu ở từng Trời thứ nhì trong Cửu Trùng Thiên, đón tiếp và hướng dẫn các chơn hồn đi lên từng Trời thứ nhì, vào vườn Ðào Tiên, mở tiệc rót rượu trường sanh đãi các chơn hồn, rồi đưa chơn hồn lên Ngân Kiều, có lằn Kim quang đỡ chơn hồn đi lên từng Trời thứ ba.

Trong một kiếp giáng trần ở Việt Nam, Nhị Nương có tên là CẨM, nên khi giáng cơ cho thi, thường có chữ CẨM đứng đầu bài thi:

CẨM tịch Diêu Cung Tiên vị đắc,

Hạnh phùng vũ lộ sắc Thiên ban.

Ðầy vơi vui hưởng kiếp nhàn,

Ngảnh trần có khác chi tràng mộng xuân.

 

3. Tam Nương:

Tam Nương cầm bửu pháp là quạt Long Tu Phiến, đón tiếp các chơn hồn lên từng Trời thứ ba là Thanh Thiên, dùng thuyền Bát Nhã đưa các chơn hồn đi qua biển khổ sang bờ giác ngộ, qui hồi cựu vị.

Trong một kiếp giáng trần ở Việt Nam, Tam Nương có tên là TUYẾN, nên khi giáng cơ cho thi, thường có chữ TUYẾN đứng đầu bài thi:

TUYẾN nghiệp phàm vô vị,

Ðạo khai dĩ định kỳ.

Hồng ân chan rưới mấy khi,

Bến mê há để lỡ thì độ sanh.

 

4. Tứ Nương:

Tứ Nương cầm bửu pháp Kim Bảng, đón tiếp các chơn hồn lên từng Trời thứ tư là Huỳnh Thiên, làm giám khảo tuyển chọn các văn tài trong mỗi khoa thi, ai hiền đức và tài giỏi thì Tứ Nương hộ trì cho thi đậu, để đem tài năng ra giúp đời.

Trong một kiếp giáng trần ở Việt Nam, Tứ Nương có tên là GẤM, nên khi giáng cơ cho thi, thường có chữ GẤM đứng đầu bài thi:

GẤM thêu hoa càng nhìn càng đẹp,

Ðức thêm tài chẳng hẹp đường tu.

Mặc người lên võng xuống dù,

Lợi danh xạo xự thiên thu lỡ làng.

 

5. Ngũ Nương:

Ngũ Nương cầm bửu pháp là cây Như Ý, tiếp dẫn các chơn hồn lên từng Trời thứ năm là Xích Thiên trong Cửu Trùng Thiên. Nơi đây, chơn hồn được hướng dẫn đến Minh Cảnh Ðài để xem rõ ràng các việc làm tội phước trong kiếp sanh nơi cõi trần, rồi đến cung Ngọc Diệt Hình để mở quyển Kinh Vô Tự, xem quả duyên của mình.

Trong một kiếp giáng trần ở Việt Nam, Ngũ Nương có tên là LIỄU, nên khi giáng cơ cho thi, thường có chữ LIỄU đứng đầu bài thi:

LIỄU chiều gió xung xăng màn hạnh,

Như để lời cửa Thánh nhắn tin.

Ðạo tâm xin gắng vẹn gìn,

Ðọa thăng hai lẽ nơi mình liệu toan.

 

6. Lục Nương:

Lục Nương cầm bửu pháp là Phướn Tiêu diêu hay Phướn Truy hồn, tiếp đón các chơn hồn lên từng Trời thứ sáu là Kim Thiên, hướng dẫn đến cung Vạn Pháp cho chơn hồn xem rõ cựu nghiệp của mình, rồi chơn hồn lãnh Kim sa, được chim Khổng Tước đưa lên Ðài Huệ Hương xông thơm chơn thần, có nhạc Thiên thiều trổi đưa chơn hồn đi lên.

Trong một kiếp giáng trần ở nước Pháp. Lục Nương là Thánh Nữ Jeanne d'Arc (1412-1431), đã đánh đuổi quân xâm lăng Anh quốc để cứu nước Pháp. Sau đó, Lục Nương giáng trần ở Việt Nam, tên là HUỆ, nên khi giáng cơ cho thi, thường có chữ HUỆ đứng đầu bài thi:

HUỆ ân chan khắp toàn nhơn loại,

Vào đường tu phỉ toại kiếp sanh.

Lánh nơi tranh đấu giựt giành,

Nghiệt oan khỏi vướng thân danh vẹn phần.

 

7. Thất Nương:

Thất Nương cầm bửu pháp là Hoa sen, tiếp đón các chơn hồn đến từng Trời Hạo Nhiên Thiên bái kiến Ðức Chuẩn Ðề Bồ Tát và Ðức Phổ Hiền Bồ Tát.

Thất Nương lại để lòng từ bi, tình nguyện lãnh lịnh Ngọc Hư Cung xuống cõi Âm Quang giáo hóa các Nữ tội hồn cho họ sớm thức tỉnh, để được tái kiếp trả xong căn quả và tu hành.

Trong một kiếp giáng trần ở Việt Nam, Thất Nương có tên là VƯƠNG THỊ LỄ, sanh năm 1900 tại Chợ Lớn, là con gái của ông Vương Quan Trân và Bà Ðỗ Thị Sang (con của Tổng Ðốc Ðỗ Hữu Phương). Cô Lễ bị bạo bệnh mất năm Cô 18 tuổi. (Xem chi tiết nơi chữ Thất Nương, vần Th).

Thất Nương thường giáng cơ dạy Ðạo và cho thi. Khi giáng cơ cho thi, Cô thường đặt chữ LỄ đứng đầu bài thi:

LỄ văn đủ định phân khách trí,

Hạnh đức toàn xứng vị Thánh nhân.

Cõi trần là chốn mê tân,

Dìu nhau lánh giả tầm chân tiếc gì.

 

8. Bát Nương:

Bát Nương cầm bửu pháp là Giỏ Hoa Lam, tiếp đón các chơn hồn đến từng Trời Phi Tưởng Thiên, từng thứ tám trong Cửu Trùng Thiên, hướng dẫn chơn hồn đến bái kiến Ðức Từ Hàng Bồ Tát.

Bát Nương rất thường giáng cơ dạy Ðạo và cho thi.

Bài Phật Mẫu Chơn Kinh mà chúng ta thường tụng khi cúng Ðức Phật Mẫu do Bát Nương giáng cơ ban cho tại Báo Ân Ðường Kim Biên, khi Ðức Phạm Hộ Pháp phò cơ tại đó.

Bát Nương giáng trần nơi nước Trung Hoa, vào thời nhà Tây Hán, tên là Bạch Liên (Hoa sen trắng). Bát Nương cũng có giáng trần ở VN vào nhà họ Hồ.

SEN TRẮNG vóc tinh vi đảnh Hớn,

Nêu tiết trong soi sáng tài hoa.

Ðể lời nhủ bạn quần thoa,

Kiên trinh liệt nữ phẩm nhà chớ quên.

 

9. Cửu Nương:

Cửu Nương cầm bửu pháp Ống tiêu, tiếp đón các chơn hồn lên từng Trời Tạo Hóa Thiên để đưa vào bái kiến Ðức Phật Mẫu, được Phật Mẫu ban cho đào hạnh và rượu Tiên.

Trong một kiếp giáng trần ở Việt Nam, tỉnh Bạc Liêu, Cửu Nương tên là Cao Thị Khiết (tên giấy tờ là Kiết), con của ông Ðốc Phủ Cao Minh Thạnh và Bà Tào Thị Xúc. Cô là con gái út thứ 9. (Xem chi tiết nơi chữ: Cửu Nương). Khi giáng cơ cho thi, Cô thường đặt chữ Khiết đứng đầu bài thi:

KHIẾT kỷ tu chơn duyên quả định,

Xả thân vị Ðạo đắc Thiên ân.

Lâng lâng giũ sạch bụi trần,

Cứu nhân độ thế phước phần hậu lai.

 

Tóm lại, Cửu vị Tiên Nương trông nom về Cơ giáo hóa vạn linh. Tất cả nghề hay nghiệp khéo, về Nữ công hoặc Cầm, Kỳ, Thi, Họa hay Văn chương Triết học đều thuộc phần nhiệm của Cửu vị Tiên Nương giáo hóa và un đúc cho thành tài.

 

Trích từ CAO ĐÀI TỪ ĐIỂN Soạn giả: Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng bút hiệu ĐỨC NGUYÊN.◙


 

 


Đời và Đạo

Đạo chúng ta đã hiểu là gì rồi, đây xin định nghĩa chữ Đời.

Đời là cõi thế gian, hiểu rộng ra là tất cả những người sống trong cõi thế gian, tức quần chúng vậy.

Đạo vốn Thiêng Liêng vĩnh cửu.

Đời thì hữu sanh hữu diệt.

Đời và Đạo tuy tương phản nhưng vẫn liên quan như bóng với hình. Đức Chí Tôn đã dạy:

“Buổi lập Chánh Đạo, Thầy đến độ rỗi kẻ có tội lỗi. Nếu đời không có tội lỗi đâu đến nhọc công Thầy”.

Vậy Đạo sở dĩ lập ra là để cứu giúp đời. Nếu không có đời, Đạo lập ra có ích gì?

Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng lại dạy rằng:

“Đời lấn Đạo, Đời xa cội phước,

Đạo dìu Đời, vận nước mới an.

Đức lập quyền, dân được châu toàn,

Quyền xua Đức, nhơn gian thống khổ...”

Đời sanh hoạt thì Đạo giúp đời, sanh hoạt theo lẽ Bảo Sanh, Nhơn Nghĩa, Đại Đồng. Người tu hành mà không thiết đến nhơn quần xã hội là hoài bão một quan niệm sai lầm, cũng như người xã hội không đồng hành theo lẽ Đạo chẳng khác nào con thuyền không lái.

Đạo là vô vi, Đời là hữu hình. Vô vi và hữu hình phải liên đới nhau như hồn với xác.

Như cây đèn: Luôn về ngọn lửa là vật hữu hình, tỷ là Đời. Còn cái ánh sáng dọi ra là vô vi, tỷ là Đạo. Người ta làm cây đèn chớ không làm ánh sáng (vô vi) mà hễ thắp đèn tự nhiên có ánh sáng.

Như cái chén: Làn gốm ngoài là vật hữu hình, tỷ là Đời. Còn cái lòng trống ở trong là vô vi, tỷ là Đạo. Người ta làm cái chén chứ không làm cái lòng ở giữa (vô vi): mà hễ làm cái chén, cái lòng trống ở giữa tự nhiên phải có.

Như cái cửa: Luôn vừa khuôn, vừa cánh cửa là vật hữu hình, tỷ là Đời, còn cái khoảng trống để vô ra là vô vi, tỷ là Đạo. Người ta làm cái cửa chớ không làm cái khoảng trống ấy (vô vi) mà hễ làm cái cửa, cái khoảng trống ấy tự nhiên phải có.

Như một cái bánh xe: luôn về vành tròn và cái hoa cửi là vật hữu hình, tỷ là Đời. Còn cái lỗ để tra cốt vào cho bánh xe quây là vô vi, tỷ là Đạo. Người ta làm cái bánh xe chớ không làm cái lỗ cốt (vô vi) mà hễ làm cái bánh xe cái lỗ cốt ấy tự nhiên phải có.

Cây đèn, cái chén, bánh xe, cái cửa là vật hữu vi. Người ta sở dĩ chỉ tạo mấy vật ấy là để ứng dụng cái chỗ vô vi của nó mà thôi.

Vậy người đời phải có Đạo, nghĩa là phải theo một tôn giáo nào tùy sở thích, vì tôn giáo (gác ra ngoài những lẽ huyền vi mầu nhiệm) vốn là kim chỉ nam cho mọi hành động của con người trong khuôn viên đạo đức, tinh thần.

 

Trích từ Đại Đạo Học Đường tài liệu Huấn luyện Chức sắc phẩm Giáo Hữu khóa Mậu Tuất 1958.◙

 


 

 


Phát Biểu của Tộc Đạo Sydney

nhân Lễ Đặt Bia "Cực Lạc Cao Đài NSW"

 

TRẤN ĐẠO ÚC CHÂU

CHÂU ĐẠO NEW SOUTH WALES

TỘC ĐẠO SYDNEY

114-118 King Georges Rd,
WILEY PARK, NSW 2195, AUSTRALIA

Tel & Fax: (61 2) 9740 5678,
(M) 0414 583 394

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Cửu Thập Tứ Niên

TÒA THÁNH  TÂY NINH

-oOo-

Email: thanhnghiep.caodai@yahoo.com.au

 

Nam Mô Tây Phương Giáo Chủ Cứu Thế Thiên Tôn

 

Kính Hiền Huynh Q. Quản Văn Phòng Trấn Đạo Úc Châu,

Kính Chư Tôn Đức,

Kính Chư Chức Sắc, Chức Việc
và Đạo Hữu Nam, Nữ lưỡng phái, thuộc Tộc Đạo Sydney,

 

Thưa Chư Liệt Vị,

Hôm nay, nhân kiết nhựt lương thần, thay mặt Tộc Đạo Sydney, chúng tôi trân trọng kính chào Chư Hiền hoan hỉ quang lâm đến dự buổi Lễ Đặt Bia "Cực Lạc Cao Đài NSW" tại khuôn viên "Garden of Wisdom" trong khu Bảo Phúc Lăng Viên, thuộc Nghĩa Trang Forest Lawn Memorial Park nầy.

Trước hết, chúng tôi mạn phép sơ lược vài nét về lý do thực hiện tấm bia "Cực Lạc Cao Đài NSW". Theo giáo lý Cao Đài, mục đích của cơ Tận Độ kỳ ba của Đức Cao Đài Ngọc Đế cho cả Chúng sanh qui hồi Cựu Vị, tức thị Chơn Hồn trở về cõi Thiêng Liêng Hằng Sống, sau khi cởi bỏ xác phàm tạm bợ:

- Trong Di Lặc Chơn Kinh, Đức Phật Thích Ca thuyết: "Nhược hữu chúng sanh văn ngã ưng đương thoát nghiệt, niệm Phật, Niệm Pháp, niệm Tăng tùng thị Pháp điều Tam Kỳ Phổ Độ tất đắc giải thoát luân hồi, đắc lộ Đa La Tam Diệu Tam Bồ Đề, thị chi chứng quả Cực Lạc Niết Bàn". . . . và Đức Phật cũng dạy: "Nhược hữu thiện Nam tử, thiện Nữ nhân, tín ngã ưng đương phát nguyện: Nam Mô Chuẩn Đề Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, năng trừ ma chướng quỉ tai, năng cứu khổ ách nghiệt chướng, năng độ chúng sanh qui ư CỰC LẠC tất đắc giải thoát".

- Rồi đến khi sắp trở về CỰC LẠC THẾ GIỚI, "Rắp nhập cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống", Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn và Đức Hộ Pháp cẩn trọng dặn dò các Chơn Linh, qua các bài Kinh Tận Độ, đều đã nhắc đến cõi "TÂY PHƯƠNG" và "CỰC LẠC" như sau:

- Trong "Kinh Cầu Hồn Khi Hấp Hối" có câu:

 

"Tây Phương Tiếp Dẫn Đạo Nhơn,

Phướng Linh khai mở nẻo đường Lôi Âm, . . .

và  

Cửa Địa Ngục khá lánh chơn,

Ngọc Hư Cực Lạc đon đường ruổi dong" . . .

hoặc trong "Kinh khi đã chết rồi" có dạy:

"Cửa Tây Phương khá bay đến chốn,

Diệt trần tình vui hưởng tiêu diêu" . . .

hoặc trong "Kinh Tẩn Liệm" căn dặn rằng:

"Từ từ Cực Lạc an vui,

Lánh nơi trược khí hưởng mùi siêu thăng . . .

hoặc trong "Kinh Đưa Linh Cửu" cho biết:

"Cửa Cực Lạc thinh thinh rộng mở,

Rước vong hồn lui trở ngôi xưa" . . .

Và trong bài Kinh Hạ Huyệt, Đức Thường Cư Nam Hải Quan Âm Như Lai dùng nước Cam Lồ giải oan, chỉ lối và cứu độ, rằng:

"Ngó Cực Lạc theo huờn Xá Lợi,

Cửu Trùng Thiên mở lối qui nguyên.

Rỡ ràng Phật cốt tiền duyên,

Nước Cam Lồ rửa sạch thuyền độ nhân" . . .

Hơn nữa, chính Đức Phật Thích Ca đã dạy Ngài Xá Lợi Phất, trong Kinh A Di Đà rằng:

"Tùng thị Tây Phương quá thập vạn ức Phật độ hữu thế giới, danh viết CỰC LẠC, kỳ độ hữu Phật, hiệu A Di Đà kim hiện tại thuyết Pháp". [Nghĩa là: Từ đây (nơi cõi Ta Bà) đi qua hướng Tây, trải mười muôn Thế Giới Phật, có một Thế Giới tên CỰC LẠC, Đức Giáo Chủ là Phật A Di Đà, đang thuyết Pháp, hiện nay].

Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ vốn có Tôn Chỉ là Quy Tam Giáo, Hiệp Ngũ Chi, Đức Cao Đài Ngọc Đế là Cha Chung của cả Chúng Sanh, thì sự cứu rỗi bao la vô cùng tân. Vả lại, Đức Ngài đã khải thị trong Phổ Cáo Chúng Sanh rằng: "Nhiên Đăng Cổ Phật thị Ngã, Thích Ca Mâu Ni thị Ngã, Thái Thượng Nguơn Thỉ thị Ngã, Gia Tô Giáo Chủ thị Ngã, kiêm viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát". Vậy thì, Cực Lạc là nơi để các Chơn Linh trở về sau khi Công viên, Quả mãn ! là Cõi Vĩnh Hằng ! là Thiêng Đàng ! là Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống ! là Eternal Life ! vân vân…

Tại Tòa Thánh Tây Ninh, Hội Thánh đã lập Cực Lạc cho toàn Môn Sinh Cao Đài từ ngày Khai Đạo với nhiều ý nghĩa thâm sâu, mầu nhiệm không thể kể hết được.

Riêng việc thực hiện Bia Đá khiêm nhường nầy, Tộc Đạo chỉ ước mong và khuyến khích thế hệ con cháu nhà Đạo, ngoài việc thường xuyên lui tới Thánh Thất, Điện Thờ, còn tưởng nghĩ tới các Đồng Môn quá cố, hầu nhìn nhau là con chung của hai Đấng Phụ Mẫu Thiêng Liêng.

Hôm nay, chúng tôi xin long trọng thiết Lễ Đặt Bia Đá "Cực Lạc Cao Đài NSW" của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ tại Nghĩa Trang Forest Lawn Memorial Park, Leppington nầy.

Chúng tôi không quên chân thành cảm ơn Ông Giám Đốc và toàn Ban Bảo Phúc Lăng Viên, Invocare đã hảo tâm hỉ hiến và tạo dựng Bia Đá một cách trang trọng.

Sau cùng, nhân Mùa Trung Nguơn, cầu xin Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu, Tây Phương Giáo Chủ Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn, Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thất Nương Diêu Trì Cung cứu hộ các đẳng Chơn Hồn quá vãng "tùng thị Pháp Điều Tam Kỳ Phổ Độ" lập Công bồi Đức, hầu sớm được giải thoát luân hồi, đắc lộ Đa La Tam Diệu Tam Bồ Đề.

Cầu nguyện Ơn Trên ban bố cho Chư Huynh, Tỷ, Đệ, Muội thân tâm thường An Lạc.

Nay kính,

Thánh Thất New South Wales, ngày 24 tháng 7 năm Kỷ Hợi,
(dl. 24-08-2019)

Q. Đầu Tộc Đạo Sydney,

 

 

Hiền Tài Nguyễn Thành Nghiệp

 

 


 

 


LỄ ĐẶT BIA CỰC LẠC CAO ĐÀI

Tại Nghĩa Trang Forest Lawn Memorial Park
24-07- Kỷ Hợi (24-08-2019)

 

 
   

Buổi lễ đặt bia “ Cực Lạc Cao Đài” tại Nghĩa Trang Forest Lawn Memorial Park, Leppington NSW, Australia, đã được tổ chức trang trọng vào lúc 11am ngày 24-07-Kỷ Hợi (24-08-2019). Với sự hiện diện của H/H Hiền Tài Nguyễn Chánh Giáo, Qu. QVPTĐ/UC; H/H Hiền Tài Nguyễn Thành Nghiệp, Qu. ĐTĐ/Sydney; H/T CTS Lê Thị Hồng Ngọc, Qu. Nữ ĐTĐ/Sydney; H/T Nguyễn Thị Tài, Chủ Trưởng BCQ/PT & ĐTPM/NSW; cùng tất cả Chức Việc thuộc Liên Hương Đạo, Đạo Hữu, Đạo Tâm, Đại Diện Bảo Phúc Lăng Viên Nghĩa Trang, có trên 30 vị tham dự.

Tưởng cũng nên nhắc lại vài nét về quá trình tạo tác khu “Cực Lạc Cao Đài” cho Đồng Đạo tại Nghĩa Trang này.

Trong đời sống có rất nhiều việc xảy ra từ một chữ “Duyên”. Khoảng cuối mùa hạ năm 2016, tôi được phép tháp tùng nhị vị Quyền Đầu Tộc tham dự buổi lễ Đặt Viên Đá Đầu Tiên xây dựng khu nghĩa trang cựu Quân Cán Chính-VNCH. Sau lễ, ban Giám Đốc Nghĩa Trang có gặp và giới thiệu cho Đạo Cao Đài một khu đất khoảng 60 lô kề bên khu đất nầy, dành làm nơi an nghỉ cho Đồng Đạo. Đây là khu đất Lawn burial tức chôn trệt, không có mộ bia. Gần đó, có một khu đất khác chỉ dành để chôn tro cốt, đang trong quá trình xây dựng. Theo dự án của Ban Giám Đốc Nghĩa Trang, khu này được đặt tên “The Garden of Wisdom - Rat”, thuộc Cung Tý, một trong 12 Con Giáp, quanh bờ hồ.

Thuận theo lý Đạo:

“Vạn sự viết vô, nhục thể thổ sanh huờn tại thổ.
Thiên niên tự hữu, linh hồn Thiên tứ phản hồi Thiên”.

Tộc Đạo đã thảo luận, cân nhắc kỹ lưỡng và đi đến quyết định tạo tác, khuyến khích Đồng Đạo mua tại khu vực chôn tro cốt thuộc Cung Tý. (Thiên khai ư Tý, Địa tịch ư Sửu, Nhơn sanh ư Dần).

Cuối tháng 8-2017, Tộc Đạo chính thức phổ biến Thư Mời đồng đạo tham dự một cuộc họp rộng rãi được tổ chức tại Hội Trường T/T NSW. Hiền Huynh Qu. ĐTĐ có cho biết lý do cuộc họp, thể theo nguyện vọng của đồng đạo, nhằm tạo tác một nơi an nghỉ chung cho con cái của Đức Chí Tôn, Phật Mẫu tại NSW. Sau đó, đại diện Invocare Bảo Phúc Lăng Viên thuộc Nghĩa Trang ngỏ ý xin đến trình bày rộng rãi các chi tiết cũng như giá cả về khu mộ “The Garden of Wisdom - Rat”. Cuối buổi họp, đã có khoảng 40 lô chôn tro cốt được đồng đạo thuận ý tạo mãi. Tính đến nay, có khoảng hơn 50 lô và vài lô đã được sử dụng ngay. Như vậy, nơi đây sẽ có trên một trăm đồng đạo an nghỉ về sau, chưa kể vài mươi lô lân cận, nơi an nghỉ của Cố Hiền Tài, Chánh Trị Sự và Đạo Hữu, quanh bờ hồ Pool of Reflection (tạm dịch: Minh Cảnh Hồ). Tộc Đạo có yêu cầu Ban Giám Đốc chấp thuận cho Đạo đặt tấm bia riêng, để ghi dấu tích đặc biệt của Đạo Cao Đài. Đại diện Nghĩa Trang đồng ý.

Tuy nhiên, Việc đặt làm tấm bia “Cực Lạc Cao Đài” tưởng như có chút khó khăn. Tôi cùng nhị vị Quyền ĐTĐ đi khảo giá nơi các công ty làm bia mộ thì được biết các công ty sẽ không được phép vào Nghĩa Trang để xây móng đặt bia, chưa kể giá cả cũng khá cao. May thay, tôi nghĩ việc phải bao giờ cũng được Ơn Trên trợ lực. Ông Giám Đốc Phạm Hoàng Du đã vận động lên Ban Giám Đốc Điều Hành Nghĩa Trang. Sau cùng đã được chấp thuận hỷ hiến và thực hiện khắc chữ cùng Cổ Pháp Tam Giáo, theo mẫu của Tộc Đạo phát thảo. Đồng thời mướn thợ dựng vào vị trí trong khu vực của Đạo, mà không lấy phí tổn nào cả. Thật may thay! Thật vui thay!

Trở lại buổi lễ, Bảng Đạo và bàn Hương Án với cúng phẩm đã được Lễ Vụ chuẩn bị trang nghiêm. Đúng 11 am, tất cả các vị Chức Sắc đồng dâng hương cầu nguyện Đức Chí Tôn, Phật Mẫu, Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thần Hoàng Bổn Cảnh, Thổ Địa Long Thần xin minh chứng, cứu độ, gìn giữ phần tro cốt hình hài của con cái Đức Cao Đài được yên nghỉ nghìn thu nơi đây, Nghĩa Trang Forest Lawn Memorial Park.

Kế đến Ông Phạm Hoàng Du và Cô Quách Minh Châu, đại diện cho Nghĩa Trang và Bảo Phúc Lăng Viên dâng hương cầu nguyện. Sau cùng Chức Việc, Đạo Hữu, Đạo Tâm cùng dâng hương và cầu nguyện.

Buổi lễ đặt bia “Cực Lạc Cao Đài” được thực hiện cũng vào dịp Lễ Trung Ngơn, Đại Khai Ân Xá nên Tộc Đạo cũng đã thực hiện Lễ Cầu Siêu cho tất cả các đẳng chơn hồn quá vãng. Sau phần viếng mộ, Đồng Đạo trở lại khu vực hành lễ, quây quần bên nhau cùng thọ trai và hàn huyên tâm sự.

Buổi lễ kết thúc đúng 12 am, một nhóm đã đến viếng, thắp nhang cho các phần mộ của đồng đạo quá cố, trong số đó có Cố Hiền Tài, cố cựu Chánh Trị Sự, Đạo Hữu v.v…

Tất cả cùng chia tay ra về, trở lại với công việc thường nhật của mỗi người. Riêng tôi có chút cảm xúc bùi ngùi xen lẫn chút vui vì đã góp chút sức mình cho Tộc Đạo thực hiện một công việc có chút ý nghĩa. Mai sau, hy vọng con em nhà Đạo, mỗi năm có dịp gặp nhau nơi đây một đôi lần như vào mùa Thanh Minh hay lễ Báo Hiếu Vu Lan, rồi cùng thắp cho tất cả các bậc Ông Bà, Cha Mẹ đã an nghỉ nơi đây một nén hương. Nghĩ thôi, cũng thấy ấm lòng.

 

Nguyên Chương,
24-08-2019

 

MỘT SỐ HÌNH ẢNH BUỔI LỄ

 

Chức Sắc, Chức Việc chuẩn bị hành lễ.

 

Chức Sắc, Chức Việc chuẩn bị hành lễ.

 

H/H QĐT Nguyễn Thành Nghiệp phát biểu về Ý nghĩa và giá trị việc tạo tác
“Cực Lạc Cao Đài”.

 

H/H QQVP TĐ- UC Nguyễn Chánh Giáo và H/T QNĐT Lê Thị Hồng Ngọc cùng mở tấm vải che bảng CLCĐ.

   
 
   

Đại diện Nghĩa Trang: Ông Phạm Hoàng Du và Cô Quách Minh Châu dâng hương.

   

Quan Khách dâng hương.

   

Đồng Đạo dâng hương
&
Cầu Siêu cho các đẳng chơn hồn.

 
 
 

 

 


 

 


         
 

THẦY ƠI!

   
 

 

Thời gian con sợ quá nhanh,
Nặng bề cơm áo khó thành công phu.
Sợ tâm lơ đễnh ngao du,
Kêu ca ngạo mạn mịt mù nẻo mê.
Sợ con lỗi hẹn câu thề,
Trước ngôi Bửu Điện không về chốn xưa.
Sợ nhiều oan trái dây dưa,
Sợ rời chánh niệm sớm trưa lạc lầm.

 
 

Phương Nam Ngày 14-6-2019

Mộc Lan

   
         
   

TÂM SỰ 

 
   

 

Con về thăm lại Phạm Môn,
Ngân nga tiếng mõ nghe hồn vi vu.
Bao lần lá đổ mùa Thu,
Âm vang nhịp gõ vẫn lưu cõi lòng.
Mẹ ơi! Mẹ có biết không?
Hồng trần nghiệt ngã, trống không cõi đời.
Mượn câu thi khúc trổi lời,
Đường nào diệt ngã? Đường nào bồi tâm?
Riêng thương Kim Mẫu khóc thầm, (*)
Thương cho trẻ lạc, mảnh Tâm đọa trần.

   

Phương Nam Xứ Úc Ngày 21-08-2019

Mộc Lan

 
   

(*) Riêng thương Kim Mẫu khóc thầm,
Kinh Tán Tụng Công Đức Diêu Trì Kim Mẫu. Câu 15, trang 32 – KTĐTĐ ấn hành năm Ất Mão (1975) TTTN. Mộc Lan Cẩn Bút.

         
 

ÂN TÌNH - THUYỀN HUỆ

   
 

 

ƠN NGHĨA NGÀN NĂM!

 

Tiếng gió Xuân nghe buồn thắt dạ,

Nguồn xưa Vân Hạc, chạnh lòng đau!

 

Nghĩa Đạo nguồn xưa.
Đàn đêm khuya run nhịp bến trần ai,
Thuyền đợi khách một ngày nơi cửa Đạo.
Phước Thiện trường thi THẦY dạy bảo,
Mảnh thân cát bụi gởi cho đời.
Gánh ân tình chưa nói cạn lời,
Về nguồn cội cảnh Trời cao huyền diệu.
Giọt Nước đầu nguồn, Chơn Như hòa điệu.
Cảnh Thiên thuyền Huệ, Mẹ đợi Cung Diêu.

Bước đường trần năm tháng chẳng nhiều,
Thu thấy đó! Đông sang chiều khuất bóng!
Tri Kỷ ngàn năm hằng quý trọng,
Đi trong nhiều kiếp mảnh chơn tình.
Hồi ức nào! Chuyển hóa dòng sinh,
Dầu vạn dặm luôn gìn nơi Tâm Ái.
Ngàn nắng Xuân! Hạc đợi Xuân Mai,
Xuân Mai đó! Nào hay Mai Xuân đến!
Khắc khoải! Trời chiều thuyền cập bến,
Khách trần chiếc bóng quạnh dòng sông!
Câu thủy chung khắc tạc nơi lòng,
Dầu Đời Đạo ngời trong vầng nhựt nguyệt.
Thánh chất Chí Linh lưu chuyển thế,
Quả Hiền Di Sản tạo nhà Thiên.
Trả nghĩa ơn! Chơn Đạo là duyên,
Đường Trí Huệ diệu huyền đưa rước khách.
Kiếp sanh vẹn nghĩa ân tình…

 
 

Thanh Tịnh Ái Nhân Môn Tiết Mạnh Xuân.
Ngày 09-09-2019

Ái Nhân

   

 

 

THI XUÂN MAI

Cõi Thiên từ huệ con thuyền,

Khổ Hiền tầm Đạo chơn truyền Chí Linh.

 

Đi nhiều kiếp đường trần duyên Đạo,
Thánh chất gìn nhủ bảo với lòng.
Nguồn Tiên còn đó hoài mong,
Cung Diêu thuở trước vẫn trông đợi Người…

 

Đường Đạo Đức Xuân đời luân chuyển,
Đến bến trần hành thiện qui nguyên.
Thi Mai Xuân cảm rừng Thiền,
Đảnh Thần bút họa con thuyền vĩnh sanh.

 

Mai vàng thuyền Đạo cảnh Trời Xuân,
Thi điểm cành Mai Phạm Nghiệp gần. (1)
Tấn hóa Xuân Mai ngàn kiếp đạt,
Thi tầm Huyền phạm cội nguồn nhân. (2)
Xuân không Mai điểm, Xuân đời nhạt,
Mai vắng Thi Xuân, vắng cảnh Thần.
Xuân với Thi Mai là Giọt Nước,
Ngàn năm Mai hạnh đón Thi Xuân.

Thanh Tịnh Ái Nhân Môn
Tiết Mạnh Xuân Ngày 09-09-2019

Ái Nhân

CHÚ THÍCH

(1) PHẠM NGHIỆP

Phạm: còn đọc là PHẠN: Phật, thanh tịnh. Nghiệp: cơ nghiệp, sự nghiệp.

Phạm nghiệp là cơ nghiệp của nhà Phật.

Đức Hộ Pháp tạo lập Phạm nghiệp vào năm Kỷ Tỵ (1929) trên phần đất tại xóm Trường Đua, xã Hiệp Ninh, Quận Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, nằm trên quốc lộ 22, cách Thị xã Tây Ninh chừng 5 cây số.

Mục đích và sở dụng của Phạm nghiệp được Đức Hộ Pháp gói ghém trong đôi liễn nơi cổng Phạm nghiệp:

PHẠM nghiệp thừa nhàn lợi lộc công danh vô sở dụng,

MÔN quan tích Đạo tinh thần pháp bửu hữu cơ cầu.

Nghĩa là:

Phạm nghiệp lúc nhàn, lợi lộc công danh không chỗ dùng, Cơ quan chứa Đạo, tinh thần và pháp bửu có người sau noi theo.

(Quan: cơ quan. Tích: chứa. Cơ cầu: con cháu nối theo nghề nghiệp của ông cha truyền lại).

Trong đôi liễn nầy chúng ta thấy hai chữ đầu hai câu là PHẠM MÔN, cho nên PHẠM NGHIỆP cũng chính là Phạm môn, mà Phạm môn cũng chính là Phạm nghiệp.

CAO ÐÀI TỪ ÐIỂN Q.2 VẦN P / Bản in PDF, trang 74-75 v.2012 - Soạn Giả: Ðức Nguyên

(2) HUYỀN PHẠM

Huyền: Màu đen, sâu kín, mầu nhiệm. Phạm: cái khuôn phép.

Huyền phạm là cái khuôn phép huyền diệu của Trời.

Huyền phạm quảng đại, Nhứt toán .... (Kinh Ngọc Hoàng Thượng Ðế).

CAO ÐÀI TỪ ÐIỂN Q.1 VẦN H / Bản in PDF, trang.365 v.2012 - Soạn Giả: Ðức Nguyên

TỪ HUỆ

Từ:Thương yêu kẻ dưới. Huệ: lòng nhân ái.

Từ huệ là lòng từ bi và nhân ái.

Chí từ huệ giúp an lê thứ. (Bài Xưng Tụng Công Ðức Phật Tiên Thánh Thần).

CAO ÐÀI TỪ ÐIỂN Q.3 VẦN T / Bản in PDF, trang 631 v.2012 - Soạn Giả: Ðức Nguyên

http://www.caodaiebook.net/CaoDaiTuDien(v2012)/index.html

Ái Nhân
Cẩn bút

 

 


 

 

CON ĐƯỜNG PHƯỚC THIỆN


Mộc Lan

 

Ngày Rằm tháng 10 là ngày kỷ niệm Ngày Khai Đạo Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Ngày Rằm tháng 10 năm nay cũng là một ngày đặc biệt, Lễ Khánh Thành Điện Thờ Phật Mẫu NSW.

Mộc Lan xin được gởi đến chư đồng Đạo lời tâm tình của một người Tín Đồ Cao Đài. Nói về những suy nghĩ trên con đường Tu tạo nghiệp cho chính mình đó là:

CON ĐƯỜNG PHƯỚC THIỆN.

Khi chúng ta đến nơi cõi thế này, ai cũng đều mang nợ. Từ khi mới kết tạo trong bầu thai thì chúng ta đã nợ rồi, mặc dù chưa làm chi nên tội.

Nợ tiền khiên của vòng tấn hóa và khi được sanh ra thì còn thêm nợ của xã hội nhơn quần. Trước là nợ sanh thành dưỡng dục, mớm cơm vú sữa, rồi đến áo cơm ăn học, nợ tình cảm trong gia đình, cha mẹ anh em, thân tộc, rồi đến bạn tác và nợ cộng đồng xã hội.

Bát cơm của chúng ta ăn hằng ngày để nuôi sống thân phàm nầy, là do ơn của bao nhiêu người đã phải khổ cực dầm mưa dãi nắng để tạo ra.

Cái áo của chúng ta mặc, cũng do từ nhà nông kéo ra sợi chỉ, dệt lại thành tấm vải rồi người thợ cắt ráp may lại thành cái áo cho chúng ta ấm thân.

Nợ này gọi là nợ nguyên quả.

Vì thế nghĩ cho cùng đem lẽ Đạo Thiên lương đặng nghiệm suy, thì chúng ta ai cũng mắc nợ xã hội nhơn quần. Cho nên sống trong một xã hội, chúng ta phải sống liên đới chớ không thể vì lòng vị kỷ mà sống riêng biệt cho mình.

Bằng cách, chúng ta hãy đi trên con đường Cứu Nhân Độ Thế. Trong Đạo Cao Đài Con Đường Phước Thiện được rộng mở thành những Cơ Sở Phuớc Thiện, là nơi giúp người hoạn nạn cô thế độ người khổ đau đem mảnh áo tơi che mưa đỡ nắng cho đời và cũng là nơi cho chúng ta trả nguyên quả và nghiệp quả của chính mình.

Vì sao gọi là con đường Cứu Nhân Độ Thế?

Cứu Nhân là cứu cấp những người đương hồi khốn cùng hoạn nạn, ai đói chúng ta cho ăn, ai khát chúng ta cho uống, ai đau chúng ta giúp thuốc, ai lạc nẻo chúng ta chỉ đường, ai buồn rầu chúng ta an ủi, bắt cầu bồi lộ cho hành khách tiện bề qua lại.

Độ Thế là in thí kinh điển, Thiên thơ cho mọi người coi theo hầu cải tà qui chánh đi về đường ngay nẻo phải.

Đó là trọng trách của người lãnh phận sự có trách nhiệm ở tại Sở Phước Thiện. Vì cơ quan Phước Thiện thực hành cơ Cứu Khổ trên con đường tận độ chúng sanh.

Nói chung bao nhiêu điều chúng ta liệu sức mà phụng sự nhơn sanh và phục vụ cho Hội Thánh. Nhưng không chìu theo tư ý, đừng để cho sự giúp đỡ của chúng ta trở thành thái quá. Điều đó có nghĩa là, đụng ai nấy giúp mà không xét suy tận tường người đó đáng được giúp hay chăng!

Vì ở đời lắm người giả dối lợi dụng lòng tốt của người khác, quanh năm chỉ ỷ lại nơi người nhơn thiện mà no cơm ấm áo. Giúp đỡ cho họ nghĩa là chúng ta tiếp tay sự lười biếng tiện thế ở không, tức là chưởng ác cho họ vậy.

Nếu chúng ta chọn cho mình đi trên con đường Phước Thiện thì hãy ghi nhớ một điều.

Đó là hãy liệu sức mình mà làm đừng mưu cầu kiếm tiền từ người khác mà đoạt thành quả cho riêng mình.

Còn nếu chúng ta là người đại diện cho Sở Phước Thiện mà nhận kim tiền từ lòng tin cậy của chư Đạo Hữu để giúp cho nhơn sanh thì nên nhớ hai từ “Thanh Liêm”.

Vì Thanh Liêm mới giữ được lòng chúng ta trong sạch, khi lãnh sứ mạng của Đạo độ đời. Có trong sạch thì chư vị hảo tâm thiện tín mới đặt trọn niềm tin vào người thi hành Chơn Pháp Phước Thiện.

Người Tu Đạo mà vẹn đức thanh liêm, thì lương tâm mới khỏi cắn rứt.

Đừng vì lòng tham lấy của chung mà xài riêng hoặc là thâu đa nạp thiểu, thì mất hẳn đức thanh liêm. Hễ mất đức thanh liêm thì bao nhiêu công lao Tu niệm của chúng ta dựng nên nơi cõi Thiêng Liêng hết thảy đều bị bôi xóa.

Cho nên đừng vì một đốm lửa nhỏ mà đốt cháy cả rừng công đức.

NGUYỆN CÙNG PHỤ MẪU THIÊNG LIÊNG

Con cầu thế giới an bình,

Từ bi cửa Phạm, Tâm linh nhẹ nhàng.

Cùng Tu dưới ánh Từ quang,

Con Đường Phước Thiện địa hoàn độ sanh.

Mùa Đông xứ Úc Ngày 05-08-2019

Mộc Lan
Cẩn bút

 

Nghèo cùng mà chẳng bợn của ai,

Thân cũng yên thân, tánh chẳng nài.

Một mặt trung lương ai cũng rõ,

Nông trang ngày cũng rõ anh tài.

 

Anh tài chưa biết dựa quyền người,

Còn nói chi chi bổn phận ngươi.

Tranh đấu cuộc đời là huyết chiến,

Nhứt nhân chịu khổ, chịu người cười.

 

Trích từ ÐẠO SỬ - Quyển II Từ năm Ất Sửu (1925) đến năm Kỷ Tỵ (1929): Thánh Giáo Ðức Chí Tôn thâu Môn Ðệ ngày 27-11-1926 (âl. 23-10-Bính Dần).◙

 

 


 

 

ĐỨC KHỔNG TỬ VÀ LUẬN NGỮ


Nguyên Chương

 

TIỂU SỬ

Đức Khổng Phu Tử hay Khổng Tử tên Khổng Khâu, tự Trọng Ni, sanh ngày 28-09-551 (TCN- cuối thời Xuân Thu) tại ấp Trâu, thôn Xương Bình, nước Lỗ (nay là huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Hoa) trong một gia đình nghèo (cũng có tài liệu cho rằng cụ tổ mấy đời trước của Ngài thuộc dòng qúy tộc đã sa sút). Cha là Thúc Lương Ngột (Khổng Hột), cháu 13 đời của vua nước Tống, Vi Tử Diễn (anh ruột vua Trụ). Mẹ là Nhan Chinh Tại. Ngài mồ côi cha lúc lên 3 tuổi, cuộc sống vất vả vì phải làm lụng nhiều việc giúp Mẹ mưu sinh, Ngài từng nói: “...lúc nhỏ bị nghèo hèn, ta phải làm nhiều nghề nên biết được nhiều việc nhỏ mọn...”.

Theo truyền thuyết, Khổng Tử là người rất to lớn, tay như hổ, lưng rùa, miệng rộng, môi dày, vai như vai chim uyên, trán phẳng. Đức Khổng Tử là người thông minh, có chí học hỏi, tính tình ôn hoà, khiêm tốn lại trang nghiêm, việc gì cũng rất cẩn thận, luôn đề cao lễ nhạc. Ngài cưới vợ năm 19 tuổi, vợ ngài là con nhà họ Thượng Quan, nước Tống. Năm 21 tuổi, Ngài giữ một chức quan nhỏ trông coi việc sổ sách kho lúa và quản lý nông trường chăn nuôi súc vật dùng trong việc tế tự. Năm 22 tuổi Ngài mở trường dạy học, có thể nói đây là trường tư đầu tiên vì thời ấy tại Trung Hoa chỉ có trường công. Ngài chịu tang Mẹ năm 25 tuổi. Năm 29 tuổi Ngài theo học nhạc với Sư Tương, nước Lỗ. Năm 30 tuổi, Ngài xuất ngoại đến Lạc Dương, kinh đô nhà Châu để nghiên cứu về nghi lễ, nhạc và miếu đường. Tại Lạc Dương, Ngài đã diện kiến Lão Tử để học hỏi nhiều điều bổ ích. Ngài dành thời gian để khảo sát nhà Tôn Miếu, nhà Minh Đường, khảo cứu luật lệ, thư tịch thời cổ. Ngài tham dự, quan sát Giao Đàn, Xã Đàn, nơi nào có việc tế lễ, Ngài đều đến để học hỏi tường tận, nhờ vậy kiến thức ngày một mở rộng.

Trở về nước, Ngài tiếp tục việc dạy học.Từ năm 34 tuổi, trong khoảng gần 20 năm, Ngài cùng học trò đi khắp nơi để truyền bá tư tưởng, thuyết phục vua các nước chư hầu như Vệ, Khuông, Trần, Tống... đem triết lý đạo đức của Ngài để ứng dụng vào việc cai trị hầu đem lại thái bình, an lạc cho dân chúng.

Năm 51 tuổi, năm thứ 9 đời vua Lỗ Định Công, Ngài ra làm quan “Trung Đô Tể” lo việc cai trị ở ấp Trung Đô tức kinh thành. Sau đó giữ chức Tư Không, rồi Đại Tư Khấu (Hình Bộ Thượng Thư), cuối cùng là Nhiếp Tướng Sự (Tướng Quốc) trông coi việc chính trị trong nước. Sau đó, Ngài từ chức vì không can ngăn được vua Lỗ Định Công ham vui hưởng lạc.

Mộ phần của Khổng Tử tại nguyên quán Khúc Phụ. Khổng miếu, mộ Khổng Tử và khu nhà thờ của họ Khổng nay là một di sản thế giới do UNESCO công nhận
[https://vi.wikipedia.org/wiki/Khổng_Tử]

Năm 68 tuổi, sau khi chu du các nước, Ngài trở về nước Lỗ tiếp tục việc dạy học và bắt tay vào công việc soạn sách. Học trò của Ngài rất đông, có lúc trên 3,000 người. Những học trò tâm đắc như Tử Tư, Mạnh Tử, Tuân Tử, Nhan Hồi,... ... đã nối tiếp công nghiệp của Ngài, xây dựng hoàn chỉnh triết lý Đạo Đức cho hậu thế để nền Nho Học trở thành Nho Giáo hay Khổng Giáo.

Đức Khổng Tử quy Tiên ngày 18-02-Nhâm Tuất (11-04-479 TCN) hưởng thọ 73 tuổi. Ngài được an táng bên bờ sông Tứ Thủy, cực bắc nước Lỗ, nay là Khổng Lâm, huyện Khúc Phụ tỉnh Sơn Đông.

LUẬN NGỮ

Luận Ngữ là quyển sách ghi chép lại lời dạy thường ngày của Đức Khổng Tử và của cả những học trò ưu việt của Ngài như Tư Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử, Nhan Hồi,... Luận Ngữ có tính bao quát các sách khác trong bộ Tứ Thư (Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử). Luận Ngữ tập trung vào rèn luyện nhân cách theo một hệ thống đạo đức mẫu mực. Nội dung phổ quát chính của Luận Ngữ là đức tính Quân Tử. Trung dung là nhân sinh quan, Chữ Nhân là phẩm chất, chữ Lễ là chuẩn mực, chữ Nghĩa là đạo đức xử thế, chữ Trí là nền tảng, chữ hiếu là điều kiện tiên quyết, chữ Tín là niềm tin.

Luận Ngữ gồm có 20 thiên (chương), tổng cộng 551 bài hay lời dạy.

Một số lời dạy trong Luận Ngữ của Đức Khổng Tử.

1. Quân tử dụ ư nghĩa, tiểu nhân dụ ư lợi.
(Người quân tử chỉ biết điều nghĩa, kẻ tiểu nhân chỉ biết điều lợi) .

2. Quân tử hòa nhi bất đồng, tiểu nhân đồng nhi bất hòa.
(Quân tử hòa hợp, tiểu nhân a dua).

3. Triêu văn đạo, tịch tử khả hỹ.
(Buổi sáng nghe được đạo, chiều tối chết cũng cam lòng).

4. Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân.
(Việc gì không muốn thì đừng làm cho người khác).

5. Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ.
(Học thì phải luyện tập, chẳng vui lắm sao?).

6. Xảo ngôn, lệnh sắc, tiển hĩ nhân.
(Người hay nói khéo, làm vẻ mặt hiền lành, chưa hẳn là người có lòng nhân).

7. Bất hoạn nhân chi bất kỷ tri, hoạn bất tri nhân dã.
(Không sợ người không hiểu ta, chỉ sợ ta không hiểu người).

8. Hưng ư thi, lập ư lễ, thành ư nhạc.
(Thơ gây hứng thú, lễ giúp lập thân, âm nhạc giúp tu dưỡng nhân cách).

9. Công hồ dị đoan, tư hại dã dĩ.
(Phá bỏ mê tín dị đoan, cái hại sẽ tiêu tan).

10. Ngô thập ngũ nhi chí ư học,
Tam thập nhi lập,
Tứ thập nhi bất hoặc,
Ngũ thập nhi tri thiên mệnh,
Lục thập nhi nhĩ thuận,
Thất thập nhi tòng tâm sở dục bất du củ.

(15 tuổi phải nổ lực học tập, 30 tuổi xác định chí hướng, 40 tuổi hiểu được lý sự, không nhầm lẩn, 50 tuổi hiểu được mệnh trời, 60 tuổi nghe người nói đều thuận tai, 70 tuổi có thể theo lòng mong muốn mà không vượt quá giới hạn).

Kết luận:

Đêm 27 tháng 8 năm Nhâm Thìn (1952) tại Đền Thánh, nhân Đại Lễ Vía Đức Khổng Thánh, Đức Hộ Pháp có lời thuyết Đạo như sau:

"Đêm nay là ngày vía của Đức Khổng Thánh, mỗi năm Bần Đạo có dịp giảng giải kiếp sanh của Ngài và triết lý Đạo của Ngài, chúng ta chỉ để ý một điều trọng hệ này là Đức Chí Tôn đến lấy chơn tướng Nho Tông đặng chuyển thế. Vì cớ cho nên triết lý của Đạo Cao Đài là Nho Tông chuyển thế."

 

Nguyên Chương .
Kỷ niệm lễ vía Đức Khổng Thánh 27-08-Kỷ Hợi (2019).

 

Sưu tầm - 

Nguồn:

• Tủ Sách Đại Đạo [www.daotam.info].

• Phùng Hoài Ngọc [https://www.vietnamvanhien.net/],

• PGS-TS Hà Hoàng Kiệm [http://hahoangkiem.com/],

• Bách Khoa Toàn Thư - Wikipedia. [https://vi.wikipedia.org/wiki/Khổng_Tử].◙

 

 


 

 

VUI TRONG CHỮ NGHĨA


Ái Nhân

 

LỜI CỦA NGƯỜI VIẾT:

Mỗi năm ngày Rằm tháng Mười Âm lịch là Ngày Khai Đạo Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Hiền Huynh Chủ bút tờ báo Bản Tin Hòa Hiệp kêu gọi đồng Đạo viết bài đóng góp cho vườn Văn Học Cao Đài thêm hương sắc.

Mùa Xuân ngày 09-09-2019 một ngày đặc biệt. Xin cảm ơn một người Bạn Đạo chí thân đã gợi ý cho tôi viết về đề tài nét đẹp trong ngôn ngữ, trong tình thương yêu của Đức Chí Tôn đến nơi cõi thế gieo hạt giống lành Thương Yêu cho con cái của THẦY nhân Ngày Khai Đạo.

Tôi luôn đi tìm một hướng đi mới trong cách viết, cách suy nghĩ. Tuy nói rằng mới nhưng vẫn là chuyện cũ ngàn năm nhơn loại xưa như quả đất. Tôi nhìn lịch sử qua một hướng khác, đi vào thế giới Văn chương qua ngôn ngữ.

Vào cái thuở ban sơ Khai Đạo, Đức Chí Tôn đến độ dẫn chư Môn Đệ đầu tiên của THẦY qua những áng Thi văn tuyệt bút. Thầy dùng ngôn ngữ nhà Nam dạy Đạo cho con cái của Thầy. Thầy đưa chư Môn Đệ đi vào thế giới Thi văn một đời sống tinh thần siêu thoát. Rồi Thầy dùng huyền diệu Cơ Bút phổ độ chúng sanh nhập môn cầu Đạo. Thầy ban phẩm tước thành lập Hội Thánh dìu dẫn chúng sanh trên con đường Tu đạt đến phẩm vị cao trọng nơi cõi Thiêng Liêng.

Thế giới ngôn ngữ đó huyền diệu vô cùng như có một dòng điễn quang vô hình cảm hóa các đại Đệ Tử đầu tiên của Thầy lãnh sứ mạng Khai Đạo tận độ chúng sanh nêu cao cây cờ Cứu Khổ cho đời. Một thế giới ngôn ngữ trọn lành mà Thầy luôn gieo vào trí não con cái của Thầy dùng làm hành trang để trở về cựu vị.

Tôi xin yết lại bài viết vào tiết Trọng Đông năm nay với đề tài “VUI TRONG CHỮ NGHĨA”. Trong ý nghĩa thiện lành một chút quà rất nhỏ nhân Ngày Khai Đạo Cao Đài, xin được gởi đến những người Bạn Đạo vui trong chữ nghĩa trên con đường Đạo của THẦY.

Xin mời đọc giả gần xa thưởng thức khai vị đầu ngày bên tách trà Thiền Thi thanh nhã tĩnh lặng.

Xin mở trang giấy cũ!

Thanh Tịnh Ái Nhân Môn.

Tiết Mạnh Xuân ngày 09-09-2019

Ái Nhân
Cẩn bút

 

VUI TRONG CHỮ NGHĨA

 

Văn chương đem trải khúc tình,

Thương Đời thương Đạo gởi mình cửa Chơn.

 

 

Hôm nay là ngày gió Đông mây sầu đêm lạnh!

Thuyền trần neo bến vắng,

Qua mấy mùa nắng mưa!

Ta quay về lối cũ,

Trời đã quá xế trưa.

Thu đời đi cuối nẻo,

Hoài vọng nhớ cảnh xưa.

 

Là cảnh;

Cõi Thiêng Liêng Hằng Sống,

Nguồn Đức Chơn tánh mình.

Quán Trần qua một kiếp,

Dòng luân chuyển hóa sinh.

Gót mòn theo bước Đạo,

Đạo cả vốn vô hình.

 

Đêm Đông;

Một mình nơi u tịch,

Ta đi về bến Tâm.

Đầu nguồn chung Giọt Nước,

Tri Kỷ một thuyền Tâm.

"Đi ra ngoài ngôn ngữ, bỏ thuyền chỉ còn lại là TÂM trở về với Đấng Chí Linh Hằng Sống." Ái Nhân

Nét đẹp của Thơ văn là nét đẹp thanh nhã thoát trần, đầy hương vị Thiền Thi đưa Tâm hồn trở về cảnh trời tĩnh lặng.

Cảnh Đông u tịch đón khách tao nhân nhẹ lau bước tục vui cùng Vạn vật thiên nhiên. Làm vơi đi nỗi niềm buồn lo của một kiếp người nơi sân chơi dâu bể!

Người viết xin mượn bài cổ Thi mở đầu câu chuyện "Vui Trong Chữ Nghĩa". Vì ngôn ngữ trong thế giới Thi nhân giống như hơi thở của một kiếp trần. Là lẽ sống của người Hành Giả khi đến nơi cảnh đời muôn màu muôn sắc của các Chơn Linh, cùng đi trên con đường tấn hóa vô tận và học hành một bài học "Tri Khổ Nghiệp Chướng Đắc Qui Phật Vị".

 

 

Đêm thanh tịch mịch nhìn lại chính mình. Tôi có một tình thương yêu nồng nàn với Thi văn ngay từ thuở còn thơ. Đi từ tình thương đó tôi tìm học những áng thơ văn tuyệt tác của THẦY và những tâm hồn thương Đời lẫn Đạo.

Thế giới trong ngôn ngữ của Thầy là một thế giới ngôn ngữ trọn lành trong tình thương nhơn loại. Tôi say mê trong thế giới ngôn ngữ đó, đi theo đó, vui theo đó và mong học được lòng Đại Từ Đại Bi của Thầy truyền đạt qua ngôn ngữ.

Tình thương yêu thơ văn trong tôi là một tình thương cao tận trời xanh, bao la như bể cả mênh mông.

Vì thơ văn là người bạn Tri âm biết lắng nghe người viết nỉ non vào những đêm khuya tĩnh lặng. Là tình Tri kỷ chia sẻ nỗi niềm buồn vui trên con đường Đạo của Thầy.

Tôi đem Thi văn vào trong thế giới ngôn ngữ chơn thật mà tôi học nơi Thầy. Thi vị hóa tình thương theo bốn mùa luân chuyển của kiếp nhân sinh, với từng mảnh đời trên con đường dâu bể. Thế giới tôi đi trong tĩnh mịch đường chiều nhìn lại chính mình, hiện lần nơi trang kịch bản của một kiếp tái sanh.

Đi trong chữ nghĩa lạ kỳ,

Ra ngoài chữ nghĩa, Huyền Vi Đất Trời…

Ngôn ngữ chỉ là phương tiện để gởi gấm nỗi lòng ái tuất thương sanh. Kinh sách là thuyền đưa khách sang sông bước trên con đường thiên lý, đi tìm Hồn Đạo trong ngôn ngữ Việt.

Mà Văn phong Ý Đạo mới chính là tiếng nói dòng nhạc từ trong trái tim của người khách trần, được diễn đạt qua ngôn ngữ nói và viết. Một thứ ngôn ngữ chơn thật của trái tim nhơn loại. Là sự thương yêu trong khối Thánh chất thương yêu vô tận của THẦY.

Đi ra ngoài ngôn ngữ bỏ thuyền chỉ còn lại là TÂM, trở về với Đấng Chí Linh Hằng Sống.

 

Trời cao thẳm! Tình thương cao thẳm!

Mượn văn chương dạm thấm lòng nhân.

Gởi câu Minh Triết đường trần,

Sống trong cõi thế, vẫn gần Chí Linh.

 

Linh tánh Đức Nguyên về gốc Tâm,

Đại Từ, Đại Ái, mở Chơn Tâm.

Thi văn đem gởi niềm tâm sự,

Đường Đạo luôn gìn trọn Thánh Tâm.

 

Ai người Tri Kỷ Tri Âm…

Thanh Tịnh Ái Nhân Môn.

Tiết Trọng Đông u tịch,15-07-2019

Ái Nhân

TB:

Bài viết nhớ về người Tri Kỷ Một Giọt Nước đầu nguồn ở cảnh Trời Đại Tịnh Thiêng Liêng vị.

Ái Nhân

 

 


 

 


Uyên Trang phụ trách

Bánh Tằm Khoai Mì

Bánh tằm khoai mì có nguồn gốc xuất xứ từ miền Nam. Nó gắn liền với tuổi thơ của nhiều người từ nông thôn cho đến thành thị. Bánh tằm khoai mì có hình dáng như con tằm, bánh thường có nhiều màu sắc khác nhau. Bên ngoài vỏ bánh là những sợi trắng của dừa nạo. Vì vẻ bên ngoài như con tằm nên gọi là bánh tằm. Để tránh phân biệt với bánh tằm bì nên người ta dùng nguyên liệu chủ yếu của bánh là khoai mì bào. Cái tên bánh tằm khoai mì bắt nguồn từ đó.

Đặc điểm bánh tằm khoai mì:

Bánh tằm khoai mì thường có hình dáng thon dài như con tằm. Màu sắc có nhiều màu từ các nguyên liệu thêm vào như màu xanh lá dứa, màu tím lá cẩm, màu trắng tự nhiên của khoai mì.

Bánh tằm khoai mì có vị ngọt bùi của khoai mì. Bên cạnh thêm độ béo của dừa nạo, ăn kèm theo thường có đường, muối và mè rang tạo thêm độ ngon ngọt hơn cho bánh tằm khoai mì.

Nguyên liệu:

 

– Khoai mì bào 500 gr.

– Bột năng: 2 muỗng canh.

– Đường cát: 100 gr.

– Sữa đặc: 1 muỗng canh.

- 1 ống vanilla.

– Nước cốt dừa: 125 ml.

– Dừa bào: 200 gr.

– Muối: 1/2 muỗng cà phê.

– Màu thực phẩm: xanh lá dứa và tím lá cẩm.

– Muối mè: đường, muối, mè rang.

 

Cách làm:

Bước 1 - Trộn đều tất cả hỗn hợp khoai mì cùng bột năng + nước cốt dừa + sữa đặc + đường, + muối trong 1 tô to sau đó chia ra làm 2 – 3 phần tuỳ ý thích bạn có bao nhiêu màu bạn có thể sử dụng như màu lá dứa, lá cẩm…

Bước 2 - Cho mỗi màu vào trong mỗi phần hỗn hợp và trộn đều.

Bước 3 - Lấy khuôn hay dĩa trẹt, thoa một ít dầu ăn lên khuôn hay dĩa, sau đó cho hỗn hợp lên trên, chú ý là mỗi cái bánh dày khoảng 0,5 cm.

Bước 4 - Đem bánh đi hấp cách thuỷ, khi nước sôi cho từng dĩa khoai mì vào hấp khoảng10 phút là bánh chín. Lấy ra để nguội và cứ thế hấp tiếp những phần còn lại.

Bước 5 - Khi bánh nguội các bạn cắt bánh thành từng sợi nhỏ, sau đó cho dừa bào vào và trộn đều cho mỗi sợi bánh đều bám dừa.

- Cuối cùng bỏ bánh ra đĩa và rắc muối mè lên trên.

Chúc các bạn thành công và ngon miệng với cách làm bánh tằm khoai mì hấp dẫn cho cả nhà cùng thưởng thức nhé! ♬♬♬

 

 


 

 

 


Uyên Trang sưu tầm

 

Noi Theo Gương Tốt

Cô giáo lớp 1 dạy học sinh:

- Từ mai trở đi, khi đến lớp mỗi em phải kể cho cô nghe một việc tốt mà các em đã làm trong ngày hoặc ngày hôm trước nhé!

- Thưa cô vâng ạ!

Ngày hôm sau cô giáo hỏi: Em nào có việc tốt kể cho cô nghe.

- Một em đứng lên: Dạ thưa cô, Hôm nay em dẫn một bà già qua đường ạ!

- Tốt, tất cả lớp hãy noi theo guơng của bạn nhé!

Ngày hôm sau cô giáo lại hỏi: Nào, thế hôm nay những ai đã làm việc tốt?

- Cả lớp đứng lên đồng thanh nói: Dạ thưa cô, hôm nay chúng em theo gương bạn hôm qua và đều đã làm chung được một việc tốt.

- Vậy là rất tốt. Thế các em đã làm những việc gì nào?

- Thưa cô, Chúng em cùng dẫn một bà già qua đường ạ.

- Tốt lắm! Nhưng tại sao có một bà già mà cả lớp cùng dẫn qua đường hả?

- Dạ thưa cô, vì bà ấy... cứ nhất định không chịu đi qua đường ạ.

 

Chuyện Thời Đại

Cô bé quàng khăn đỏ đang đi trên đường thì bắt gặp con sói đang núp, cô bé la lên: "A, sói! Mày định ăn thịt ta phải không?". Con sói giật mình bỏ chay.

Cô bé tiếp tục đi ngang qua đường thì lại bắt gặp con sói đang núp sau tảng đá, cô bé lại la lên: "A, sói! Mày núp để định ăn thịt ta đấy à?". Con sói một lần nữa bỏ chạy.

Cô bé lại tiếp tục đi vào rừng, cũng bắt gặp con sói đang núp sau cái cây, cô bé la: "A sói! Mày vẫn còn ý định ăn thịt ta đấy à?". Con sói chịu không nổi nữa la lên "Mày có để yên cho ta rặn không hả!!!"

 

Làm Tôi Tưởng…

Đi ngang qua nghĩa đia lúc trời chạng vạng, bỗng nghe tiếng đuc gõ lốc cốc từ nghĩa địa vang ra, anh chàng hốt hoảng tưởng là có ma nhưng nhìn vào nghĩa địa lại thấy một ông già đang đục khoét gì đó trên một bia mộ.

Anh ta thở phào và nói:

- Lạy chúa, ông làm tôi hết hồn tưởng là có ma chứ! Ông làm gì ở đây giờ này vậy?

Ông già bực tức trả lời:

- Thằng khốn nào nó khắc sai tên tao rồi…

 

 


 

 


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 

Chủ trương của Bản Tin Hòa Hiệp

Bản Tin Hòa Hiệp: Phổ biến tin tức Đạo sự gần xa; liên lạc, trao đổi kinh nghiệm hiểu biết; học hỏi, hợp tác thân hữu với các Tôn Giáo bạn, các Đoàn Thể xã hội, nhằm đáp ứng nhu cầu và mục tiêu hướng thượng, nhằm phục vụ không biên giới cho Đạo lẫn Đời.

Bản Tin Hòa Hiệp: Xin đón nhận mọi ý kiến đóng góp xây dựng, bài vở với bất kỳ thể loại; ưu tiên trong lãnh vực biên khảo, nghiên cứu đạo giáo, triết học, khoa học kỹ thuật, văn học nghệ thuật phục vụ nhân sinh của chư vị thức giả đạo hữu, đạo tâm... miễn nội dung không nhằm mục đích: làm diễn đàn chính trị, bài kích cá nhân, tập thể; kỳ thị dưới mọi hình thức; gây chia rẽ nội bộ; đi ngược lại tôn chỉ, mục đích và đường lối của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tòa Thánh Tây Ninh.

 

CHỦ TRƯƠNG: Tộc Đạo Sydney.
CHỦ BÚT: Quyền Đầu Tộc Đạo Hiền Tài Nguyễn Thành Nghiệp.
BAN BIÊN TẬP: Bạch Sỹ - Thanh Nguyên - Hồng Ngọc - Ái Nhân - Tiểu Hương - Lê Phong - Song Kha - Trần Nguyên Đức - Bình Minh - Uyên Trang - Đức Nhân - Mộc Lan - Nguyên Chương.
TRÌNH BÀY & IN ẤN: Huỳnh Trọng - Trần Đại Thiện - Trần Lê Phong.

 

CAODAI TEMPLE OF NEW SOUTH WALES
HOA HIEP - VIETNAMESE NEWSLETTER
114-118 King Georges Road  WILEY PARK NSW 2195 - AUSTRALIA
Phone & Fax: + 61 2 9740 5678
Email: thanhthatnsw@yahoo.com.au ; thanhnghiep.caodai@yahoo.com.au ; hongngoc.caodai@yahoo.com.au