TỪ NGỮ ĐIỂN CỐ CAO ĐÀI

 

 

Danh mục vần A-Ă-Â

 

A

A

A Ă Â

A Di Đà

A Đẩu

A La Hán

A Nan

A Nậu Đa La Tam Diệu Tam Bồ Đề

A Tỳ

A Tu La

 

Á

Á

Á phiện

 

À

À

 

Ả Chức chàng Ngưu

Ả đào

Ả Hằng

Ả Tố

 

ÁC

Ác

Ác cảm

Ác đạo

Ác hành

Ác ý

Ác khẩu

Ác khí

Ác lặn

Ác lố

Ác lồng

Ác ma

Ác nghiệp

Ác nghiệt

Ác phong

Ác quả

Ác tà

Ác tận hiền vinh

Ác thú

Ác trị

Ác vàng

Ác vàng thỏ bạc

Ác xế

 

ÁCH

Ách

Ách đất

Ách giữa đường

Ách khổ

Ách nạn

Ách nước tai Trời

Ách nước nạn dân

 

AI

Ai

Ai ai

Ai bi

Ai chẳng chịu lộc nhà Châu

Ai điếu

Ai đời

Ai hoài

Ai nấy

Ai oán

Ai tín

 

ÁI

Ái

Ái ân

Ái biệt ly khổ

Ái chủng

Ái dục

Ái hà

Ái kính

Ái mộ

Ái nữ

Ái ngại

Ái ố tham sân

Ái quốc

Ái tuất

Ái tuất thương sanh

 

ẢI

Ải Nhạn

Ải quan

 

AM

Am hiểu

Am mây

Am tự

 

ÁM

Ám

Ám mờ

Ám muội

Ám trợ

 

ẢM

Ảm đạm

 

AN

An

An bài

An bang

An bang tế thế

An bần

An bần lạc đạo

An cư lạc nghiệp

An dân

An định

Angkor

An hưởng

An khang

An khang thịnh vượng

An khương

An lạc

An mạng

An ninh

An ngôi

An nguy

An ngự

An nghỉ ngàn thu

An nhàn

An phận

An phận thủ thường

An táng

An tâm

An tịnh

An Thánh Tượng

An thân

An thần

An trí

An ủi

An vấn

An vị

An vui

 

ÁN

Án lịnh

Án tiết

Án Tử

 

ÁNG

Áng

 

ANH

Anh

Anh dũng

Anh hài

Anh hào

Anh hoa

Anh hùng

Anh lạc

Anh linh

Anh minh

Anh nhi

Anh phong

Anh quân

Anh tài

Anh tuấn

Anh thư

 

ÁNH

Ánh

Ánh sáng

Ánh Chí Linh

Ánh Hồng Quân

Ánh sáng

Ánh thái dương

Ánh xá lợi

 

ẢNH

Ảnh hưởng.

 

AO

Ao

Ao nghiên ruộng giấy

Ao ước

Ao tù

Ao Thất Bửu

 

ÁO

Áo

Áo bả

Áo chầu

Áo chế

Áo dà

Áo dài

Áo gấm về quê

Áo giáp

Áo lụa gởi tình thương

Áo mão

Áo não

Áo ngự hàn

Áo quần

Áo tơi

 

ÀO

Ào

 

ẢO

Ảo mộng

 

ÁP

Áp bức

Áp chế

Áp dụng

Áp út

 

ĂM

Ăm ắp

 

ẴM

Ẵm

Ẵm bồng

 

ĂN

Ăn

Ăn bòn

Ăn cay uống đắng

Ăn chay

Ăn chay làm lành

Ăn chơi

Ăn gian

Ăn học

Ăn kiệm ở cần

Ăn mặc

Ăn mật nằm gai

Ăn năn

Ăn nói

Ăn ngay ở thật

Ăn oán nuốt hờn

Ăn rau chê bệ ngọc

Ăn thãi uống thừa

Ăn thua

Ăn trộm

Ăn trước ngồi trên

Ăn uống

Ăn vụng

 

ẮT

Ắt

 

ẤY

Ấy

 

ÂM

Âm

Âm cảnh

Âm công

Âm cung

Âm cực dương hồi

Âm chất

Âm chất chi điền

Âm dung

Âm dung như tại

Âm Dương

Âm dương biến thiên

Âm dương cách bóng

Âm dương đôi nẻo

Âm dương hiệp đạo

Âm dương lưỡng lộ

Âm đài

Âm đình

Âm đức

Âm hao

Âm hồn

Âm hưởng

Âm khí

Âm phủ

Âm quang

Âm ty

Âm thinh

Âm thinh sắc tướng

Âm thầm

 

ẤM

Ấm

Ấm áp

Ấm cúng

Ấm êm

Ấm lạnh

Ấm no

 

ẨM

Ẩm mã đầu tiền

Ẩm thực tinh khiết

 

ÂN

Ân

Ân ái

Ân cần

Ân điển

Ân đức

Ân đức hoá thâm

Ân hận

Ân hậu

Ân hồng

Ân huệ

Ân nhà

Ân oán

Ân phong

Ân quang phổ chiếu

Ân sâu nghĩa nặng

Ân sinh

Ân tình

Ân tứ

Ân thâm

Ân Thiên

Ân Trời

Ân xá

 

ẤN

Ấn chứng

Ấn hành

Ấn quan

Ấn quyền

Ấn rồng

Ấn Tý

 

ẨN

Ẩn

Ẩn danh

Ẩn dật

Ẩn núp

Ẩn nhẫn

Ẩn sĩ

Ẩn tàng

Ẩn thân

Ẩn trú

 

ẤP

Ấp

Ấp Khảo

Ấp lạnh quạt nồng

Ấp ủ

 

ÂU

Âu

Âu ca

Âu yếm

Âu Lạc

Âu lo

Âu sầu

 

ẤU

Ấu

Ấu thơ

Ấu xuân

 

 

 

 

 

 

 

 

A-Ă-Â

 

A

1.- A là chữ cái đứng đầu của bảng chữ quốc ngữ.

Như: Chữ A viết hoa, chữ a viết thường, vần quốc ngữ có 24 chữ cái là a b c d đ…

Hễ a, b thuộc lảu tới nơi,

Làm vần ngược vần xuôi ráp lại.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- A là tiếng chỉ sự sấn vào, xông vào.

Như: Chạy a vào nhà, cưỡi ngựa không khéo để ngựa a vào buội rậm.

Thà chịu khổ a vào lạy khống,

Cùng nhạc thân mềm mỏng cầu duyên.

(Phương Tu Đại Đạo).

Cuộc trần thế, ôi! là đời người mê muội,

Nẻo chông gai tình tội mà sao cứ lầm lũi a vào?

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

A Ă Â

A, Ă, Â là ba nguyên âm đầu tiên của vần Quốc ngữ Việt Nam.

Trong đạo Cao Đài, trước khi khai Đạo, Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế giáng điển xuống các buổi xây bàn để tiếp xúc và cảm hoá các bậc tiền khai nền Đại Đạo, Ngài tạm mượn danh xưng là A Ă Â trong khoảng thời gian từ tháng 7 năm 1925 đến tháng 12 năm 1925.

Trong thời kỳ còn ẩn danh để cảm hoá và dìu dẫn các bậc Thiên sứ khai nền Đại Đạo, Đức Chí Tôn lấy ba nguyên âm đầu tiên của vần Quốc ngữ làm danh xưng là để gây sự chú ý, dễ truyền đạt khi xây bàn và tạo oai linh đối với các môn đồ của Ngài.

Ngoài ra, A Ă Â còn thể hiện được triết lý Cao Đài là Thượng Đế có ba ngôi: A là ngôi Thái Cực, khởi đầu của Càn khôn Vũ Trụ, Ă là ngôi Dương nắm quyền chưởng quản Dương Quang, Â là ngôi Âm, nắm quyền chưởng quản Âm Quang. Ba ngôi đó gọi là Tam Thiên Vị, cũng là Phật, Pháp và Tăng.

Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp có dạy: Chúng tôi thật không biết Ông A Ă Â là Đức Chí Tôn chút nào hết, bây giờ hiểu lại Ngài xưng là Tam, mà Tam là Càn Khôn Vũ Trụ định thể, ba chấm nói rõ là số 3, số thiêng liêng tạo vạn vật vậy.

Đấng A Ă Â đến với nhóm xây bàn đầu tiên vào hạ tuần tháng 7 năm 1925 gồm ba ông Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc và Cao Hoài Sang và cho bài thi như sau:

Ớt cay cay ớt gẫm mà cay,

Muối mặn ba năm muối mặn dai.

Túng lúi đi chơi nên tấp lại,

Ăn bòn chẳng chịu tấp theo ai.

Bài thi có ý tứ rất lạ, khiến Ngài Cao Quỳnh Cư thắc mắc hỏi tên họ thì Ngài xưng là A Ă Â. Ông Cư lại hỏi bao nhiêu tuổi, Ngài cứ gõ bàn xây cơ hoài, đếm tới mấy trăm mà bàn vẫn gõ không chịu ngưng. Ông Cư cho rằng vị nầy lớn tuổi lắm nên không dám hỏi nữa.

Kể từ đó, Đấng A Ă Â thường nhập bàn giảng dạy cho ba ông những thắc mắc khó giải quyết, khiến mọi người đều kính phục.

Mãi đến đêm Noel ngày 24 tháng 12 năm 1925, Thất Nương Diêu Trì Cung giáng cơ truyền cho ba ông phải chỉnh đàn cho nghiêm để tiếp giá.

Liền đó, Đấng A Ă Â mới giáng cơ xưng danh là “NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ viết CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT giáo đạo Nam phương”.

Và cho bài Thánh giáo như sau:

Muôn kiếp có ta nắm chủ quyền,

Vui lòng tu niệm hưởng ân Thiên.

Ðạo mầu rưới khắp nơi trần thế,

Ngàn tuổi muôn tên giữ trọn biên.

Ðêm nay, 24 Décembre, phải vui mầng vì là ngày của Ta xuống trần dạy Ðạo bên Thái Tây (Europe).

Ta rất vui lòng mà đặng thấy đệ tử kính mến Ta như vậy. Nhà nầy sẽ đầy ơn Ta.

Giờ ngày gần đến, đợi lịnh nơi Ta. Ta sẽ làm cho thấy huyền diệu đặng kính mến Ta hơn nữa.

Nhờ bài Thánh giáo nầy mọi người mới biết Đấng A Ă Â chính là Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế tạm ẩn danh để dìu dắt các vị Tiền khai Đại Đạo.

Dẫn chứng kinh sách:

A Ă Â cứ tạm kêu.

Ngày sau sẽ rõ những điều hay hay…

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

A, Ă, Â là Phật, Pháp, Tăng,

Chí Tôn tá thế với quyền năng.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

A DI ĐÀ

阿 彌 陀

Hay “A Di 阿 彌”.

A Di, bởi chữ “A Di Đà Phật 阿 彌 陀 佛”, là hồng danh của một vị Phật ở Tây Phương, là Giáo chủ của Cực Lạc Thế Giới.

A Di Đà là một trong những vị Phật quan trọng trong Phật giáo Đại thừa. Ngài được thờ trong các ngôi chùa của phái Tịnh Độ Tông tại Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam.

A Di Đà là một vị Phật làm Giáo chủ cõi Tây Phương Cực Lạc. Ngài biểu hiện cho từ bi và trí tuệ. Ngài có phát 48 lời nguyện rộng lớn là cứu độ tất cả chúng sanh, trong đó có lời nguyện sẽ tiếp dẫn vãng sanh về cõi Tịnh độ chúng sanh nào hướng niệm đến Ngài.

Phật A Di Đà tức tự tánh Di Đà, tự tâm thanh tịnh sẵn có, bất sanh bất diệt, nên còn gọi là Vô Lượng Thọ Phật 無 量 壽 佛, và tánh giác hằng sáng suốt, nên cũng còn gọi là Vô Lượng Quang Phật 無 量 光 佛.

Trong các ngôi chùa thường thờ Ngài ngồi chính giữa, Bồ Tát Thế Chí đứng bên phải, và Bồ Tát Quan Âm đứng bên trái.

1.- A Di:

Vào Lôi Âm, kiến A Di,

Bộ Công Di Lạc Tam Kỳ độ sanh.

(Kinh Tận Độ).

Hậu vận vinh huê thiên lý mộng,

Bất như nhàn lạc tụng A Di.

(Đạo Sử).

2.- A Di Đà:

Đầu vọng bái Tây Phương Phật Tổ,

A Di Đà Phật độ chúng dân,

(Kinh Tận Độ).

 

 

A ĐẨU

阿 斗

A Đẩu là tiểu tự của Lưu Thiện, con của vua nước Thục là Lưu Bị, đời Tam Quốc.

Trong trận Đương Dương, tướng Thường Sơn Triệu Tử Long đeo A Đẩu trước ngực, một mình xung đột giữa rừng tên mũi đạn của địch quân để bảo vệ cho A Đẩu được toàn vẹn.

Khi Lưu Bị mất, Lưu Thiện lên nối ngôi, vì tin dùng bọn nịnh thần và hoạn quan, nên không giữ nổi cơ nghiệp nhà Thục.

Về sau, Lưu Thiện phải đầu hàng nước Nguỵ và được phong làm An Lạc Công. Do vậy, người ta dùng chữ “A đẩu” để chỉ hạng người nhu nhược, bất tài.

Nhớ thuở Thường Sơn đeo A Đẩu,

Tưởng hồi Hồ Địch hận Thiên Tào.

(Thơ Vạn Năng).

 

 

A LA HÁN

阿 羅 漢

Hay “A La Hớn”.

A La Hán (Hớn) do từ chữ Phạn là Arahat có nghĩa Ứng cúng, Sát tặc, Vô sinh.

A La Hán còn gọi La Hán, là quả vị Thánh cao nhất trong bốn quả Thánh (Tứ thánh quả) của Phật giáo Nam Tông: Tu Đà phục huờn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm và A La Hán.

Quả vị A La Hán có ba nghĩa:

- Ứng cúng là bậc xứng đáng được cúng dường.

- Sát tặc là bậc đã diệt hết mọi lậu hoặc, phiền não, tham sân si...

- Vô sinh là bậc không còn phải sinh tử luân hồi nữa. nghĩa là vị đã giải thoát rốt ráo, dứt vòng sinh tử.

Theo quan điểm của Phật giáo Đại thừa, bậc A La Hán chỉ mới chứng ngộ được Nhân không, song còn vướng mắc Pháp không.

Chư Đại Bồ Tát, ngũ bá A La Hán, cứu hộ đệ tử..…….. nhứt thân ly khổ nạn.

(Kinh Cứu Khổ).

 

 

A NAN

阿 難

A Nan, còn gọi là “A Nan Đà 阿 難 陀” (Ananda), dịch nghĩa Khánh Hỷ, là một trong mười đại đệ tử của Đức Phật Thích Ca.

Ngài sinh ở Ca Tì La Vệ, em họ sinh cùng ngày nhưng nhỏ tuổi hơn Đức Phật. Năm 20 tuổi, Ngài xuất gia theo Phật, và luôn ở cạnh Đức Phật để làm thị giả, nên Ngài được nghe thuyết giảng nhiều kinh và có trí nhớ rất giỏi, vì vậy, trong các đệ tử, Ngài là bậc đa văn (nghe nhiều) nhất. Chính tôn giả Ca Diếp đã nói về Ngài như sau: “Nước trong biển cả Phật pháp rót hết vào trong tâm A Nan”.

Tên Ngài đôi khi còn được dịch là Vô Nhiễm, vì những khi theo hầu Phật vào Thiên Cung, Long Cung… thuyết pháp, tâm Ngài không hề nhiễm trước nơi sắc cảnh. Nữ giới được Đức Phật chấp nhận cho xuất gia làm ni cũng nhờ Ngài đặc biệt thỉnh cầu. Trong các ni viện Trung Hoa, thường thờ Ngài A Nan tại Tổ đường để tưởng niệm ân đức là vì lẽ đó.

Khi Đức Phật nhập Niết Bàn, và Ngài chứng được quả A La Hán, Đại Ca Diếp Tôn Giả mới đề cử Ngài đứng ra kết tập Bộ Kinh Tạng.

Sau Ngài được Đại Ca Diếp truyền y bát cho làm tổ thứ nhì bên phái Thiền Tông.

Trong Kinh Cứu Khổ có câu: Phật cáo A Nan ngôn, thử kinh Đại Thánh, năng cứu ngục tù, năng cứu trọng bịnh, năng cứu tam tai bá nạn khổ.

Làm thinh tiêu biểu bản tâm,

A Nan, Ca Diếp chọn cầm Pháp môn.

(Báo Ân Từ).

 

 

A NẬU ĐA LA TAM DIỆU TAM BỒ ĐỀ

阿 耨 多 羅 三 藐 三 菩 提

A Nậu Đa La Tam Diệu Tam Bồ Đề, hay còn gọi là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề do Phạn ngữ Anout Tara Samyak Sambodhi, Hán dịch là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác hay sự giác ngộ chân chánh hoàn toàn viên mãn.

A Nậu (Anout) là dịch Vô, Đa La (Tara) dịch là Thượng, Tam Miệu (Samyak) dịch là Chánh Đẳng, Tam Bồ Đề (Sambodhi) dịch là Chánh Giác.

Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác là Quả vị tối cao của Đức Phật Thế Tôn, vì Ngài là người có được chân tâm viên mãn, đã giác ngộ toàn triệt về nhân sinh và vũ trụ, đã đạt đến Vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Dẫn độ Chơn Linh đắc Pháp, đắc Phật, đắc duyên, đắc vị, đắc A Nậu Đa La Tam Diệu Tam Bồ Đề chứng quả nhập Cực Lạc Quốc…

(Di Lạc Chơn Kinh).

 

 

A TỲ

阿 鼻

A Tỳ, tiếng Phạn là Avici, nghĩa là “Vô gián 無 间”, tức không gián đoạn, không ngừng nghỉ.

Vô gián địa ngục là ngục thấp nhất trong tám địa ngục lớn, giam những người phạm tội ngũ nghịch.

Đây là cõi địa ngục chịu tội báo nặng nề nhất, bởi vì các hình khổ nơi đây liên tục triền miên không ngừng.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Thầy lấy làm đau đớn hằng thấy gần trót mười ngàn năm, nhơn loại phải sa vào nơi tội lỗi, mạt kiếp chốn A tỳ.

Thường ngày tuần khắp xét tra,

Phạt người hung ác đoạ sa A tỳ.

(Kinh Sám Hối).

 

 

A TU LA

阿 修 羅

A Tu La là một trong sáu nẻo luân hồi, gọi là Lục đạo: Cõi người, cõi Trời, cõi A Tu La, cõi Địa ngục, cõi Ngạ quỷ, cõi súc sanh.

A Tu La còn là một loài Quỷ, Hán dịch là Phi Thiên, là một loài thần thông phước lực không thua gì chư Thiên, song vì không được thuần thiện, nên gọi là Phi Thiên, nghĩa là không phải là cõi Trời.

Cũng như Kim Quang Sứ là A Tu La, Thánh giáo gọi là Lucifer phản nghịch náo động Thiên cung.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

Á

1.- Á bậc thứ hai, bậc nhì, thường dùng với tiếng khác như á khôi, Á Thánh, á nguyên.

Trong nghi thức tang lễ đạo Cao Đài, khi đăng điện, Lễ sĩ bước đi theo lời thài của đồng nhi để dâng ba tuần rượu tại bàn linh. Lần dâng rượu thứ nhất gọi là “Sơ hiến lễ”, lần thứ nhì gọi là “Á hiến lễ”, lần thứ ba gọi là “Chung hiến lễ”.

Á hiến lễ.

(Nghi Tiết Tang Lễ).

2.- Á là tên gọi tắt Á Châu, một châu trong ngũ đại châu, còn gọi là “Á Tế Á” dịch từ chữ Asia, tức châu Á.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có đoạn dạy: Hoạ Âu tai Á sẽ vì Thiên điều mà phạt kẻ bạo tàn tội lỗi.

Trời Âu biển Á chờ thay sắc,

Sắc trắng mây lành phủ khắp nơi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cõi Á đã gầy thành chủng quốc,

Phương Âu sẽ diệt tận nô lao.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

Á PHIỆN

Á phiện là thuốc phiện, tức một loại cây trồng ở vùng cao, lá mọc so le, khía răng không đều, hoa nhiều màu sắc, thân và quả cho một thứ nhựa dùng để chế morphin, codein hay dùng để hút.

Chất thuốc phiện có tai hại là gây nghiện, làm bạc nhược tinh thần lẫn thể chất của con người, vì vậy, điều thứ hai mươi trong Tân Luật có quy định cấm bán các thứ rượu mạnh và á phiện.

Không được buôn bán các thứ rượu mạnh và á phiện là vật độc làm cho giảm chất con người.

(Tân Luật).

 

 

À

1.- À là từ biểu thị ý hỏi một cách thân mật để rõ thêm về điều gì đó.

Như: Thế à, vậy là tôi đã hiểu lầm, rứa à ngày mai anh ấy sẽ đi liền, làm thế à, tôi hiểu rồi.

Vì thương nhơn loại cực lòng Ta,

Ta hỏi nhơn sanh có biết à?

(Đạo Sử).

Lấy chơn đem giả tô thiên vị,

Thắng bại, phàm tâm liệu thế à?

(Kim Quang Sứ).

2.- À là tiếng thốt ra biểu lộ sự ngạc nhiên hoặc sực nhớ ra điều gì. Như: À đẹp nhỉ, à quên.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Hại thay! Ôm một đứa con đỏ từ vú sữa mớm cơm, nuôi cho nên hình, nên vóc, thật ra không biết bao nhiêu khổ não truân chuyên của cha mẹ, có nhiều khi phải hy sinh cả hạnh phúc của mình, để cả trí não, cả tâm hồn, cả giọt mồ hôi nước mắt để nuôi con, biết bao nhiêu gia đình không phải dở, mà nghèo vì con nên khổ, mấy đứa nhỏ có biết điều đó đâu. À mà có biết chăng là khi nào mấy đứa bây có chồng có vợ, tới chừng bây có con đó mới biết cam khổ nuôi con bây như thế nào, bây mới biết ơn cha mẹ là nặng.

À Ðất Trời kia ai Tạo hoá,

Hoá sanh chung hưởng há quên già.

(Đạo Sử).

 

 

1.- Ả là tiếng dùng để gọi chung những người đàn bà, hoặc những người con gái.

Như: Đầu lòng hai ả tố nga, ả chức chàng ngưu, ả Hằng trên cung nguyệt.

Dầu mình có thiếp hầu trăm ,

Cũng nhớ nơi chòi lá mẹ ru con.

(Phương Tu Đại Đạo).

Ðưa duyên đã lắm cơn may mắn,

Trước cửa khoe tươi cợt hồng.

(Đạo Sử).

2.- Ả còn dùng trong đối thoại để chỉ người con gái nào đó với ý coi thường, không có giá trị.

Như: Nguyễn Du có câu: “Bên thì mấy mày ngài, Bên thì ngồi bốn năm người làng chơi”.

Trai ra phường mấy lầu xanh,

Ngặt một nỗi không đành vong tiếng đực.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

Ả CHỨC CHÀNG NGƯU

Hay “Ả Chức chàng Ngâu”.

Ả: Tiếng gọi chung đàn bà con gái. Chức: Chức nữ. Chàng: Tiếng gọi những người trai trẻ. Ngưu (ngâu): Ngưu Lang.

Ả chức chàng ngưu (ngâu) tức là “Chức nữ Ngưu lang 織 女 牛 郎”, nguyên là hai vì sao ở hai phía nam bắc sông Ngân Hà.

Theo truyền thuyết, Chức nữ và Khiên ngưu bị Thiên đế đày ra ở hai bên sông, mỗi năm chỉ gặp nhau một lần vào đêm thất tịch.

Xem: Ngưu lang Chức nữ.

1.- Ả chức chàng ngưu:

Ả Chức bơ thờ quên nhiệm vụ,

Chàng Ngưu lười biếng lộ hành tung.

(Thơ Thuần Đức).

2.- Ả chức chàng ngâu:

Biếng việc cửi canh vướng khổ sầu,

Đêm buồn ả Chức gặp chàng Ngâu!

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

Ả ĐÀO

Ả: Tiếng gọi chung đàn bà, con gái. Đào: Hoa đào, thường dùng để chỉ phụ nữ.

Ả đào là người đàn bà, con gái làm nghề hát xướng, ca trù trong các nhà hát riêng thời trước.

Thành xưa tuy chẳng so Tây tử,

Nghiệp cũ ghe phen sánh ả đào.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

Ả HẰNG

Ả: Tiếng gọi chung những người đàn bà con gái. Hằng:Hằng Nga 恆 娥”, hay Thường Nga 嫦 娥, theo truyền thuyết là vợ của Hậu nghệ, lén trộm lấy thuốc trường sinh của bà Tây Vương Mẫu ban cho Hậu Nghệ để uống, rồi thành tiên, bay lên cung trăng làm nguyệt tinh.

1.- Ả Hằng dùng để chỉ người con gái đẹp.

Chờ gặp cơn hoa cợt đài trăng,

Bủa lưới bắt ả Hằng đem nhốt rọ.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Ả Hằng còn được dùng để chỉ mặt trăng.

Đừng theo tính nết ả Hằng,

Đêm khuya bán nguyệt trốn chồng cung trăng.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

Ả TỐ

Ả: Tiếng gọi chung những người đàn bà con gái. Tố: Do chữ “Tố nga 素 娥” chỉ nàng con gái đẹp.

Ả Tố, hay ả “Tố nga”, là chỉ người con gái đẹp.

Trong Ấu Học Quỳnh Lâm có câu: Tố nga tức nguyệt chi hiệu 素 娥 即 月 之 號, nghĩa là Tố nga thực danh hiệu của mặt trăng. Vì vậy, Tố nga, như chữ “Hằng nga” còn dùng để chỉ mặt trăng.

Ả Tố đêm nay lời ướm hỏi,

Xuân thu âu cũng dưới đôi mươi.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

ÁC

1.- Ác là con quạ. Như: Ác tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa (tục ngữ).

Ác còn là từ chỉ mặt trời, bởi chữ “Kim ô 金 烏” là ác vàng. Như: Ác xế, thỏ lặn ác tà.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có câu: Càn khôn tiều tuỵ mà bước tục hỡi chần chờ. Nếu chẳng sớm xét mình, để buổi ác xế trăng tà, nước dời cạn bực, thuyền Bát Nhã đã lướt qua, nhành dương liễu hết rơi giọt từ bi thì ăn năn rất muộn.

Ngặt còn bóng trời Nam chiếu sáng,

Vận mạng chờ ác tản sương mơi.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

Hoàng hôn ác lặn xế non tây,

Cách trở xui chi cảnh thảm nầy.

(Thơ Thượng Sanh).

2.- Ác là người hoặc việc gây ra đau khổ, tai hoạ cho người khác, trái với thiện. Như: Làm ác, kẻ ác.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Những tục lệ ấy nếu Ðạo Cao Ðài không xuất hiện đặng chỉnh đốn lại, sợ e cả nhơn loại trên mặt địa cầu nầy sẽ thành ra ác thú.

Khánh chuông tiếng khởi giục nhơn sanh,

Bỏ ác mà đi đến nẻo lành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Sa vào đường tội khó nên hiền,

Cải ác xưa từng chiếm bực Tiên.

(Đạo Sử).

 

 

ÁC CẢM

惡 感

Ác: Hung dữ, không tốt. Cảm: Cảm giác.

Ác cảm là có cảm giác không ưa thích người nào.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Tâm bất chánh ở chỗ xử sự xã giao thì gây ác cảm, chác oán thù, tâm bất chánh loán vào xã hội tạo dây oan nghiệt, đưa đến cảnh tội tù, xô đẩy con người vào vực sâu hang thẳm.

Chúng nó đã gieo ác cảm lừng đến Tam Giáo Ðài, thế thì bước đường sau nầy Thầy khó cứu rỗi được.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

ÁC ĐẠO

惡 道

Ác: Dữ, xấu. Đạo: Con đường.

Ác đạo là con đường xấu, dữ. Đó là con đường dành cho những người làm điều ác độc trong kiếp sanh, sau khi chết phải chịu trả quả.

Trong Lục đạo luân hồi của Phật có ba đường thiện (thiện đạo) là Nhơn đạo, Thần đạo, Tiên đạo và ba đường ác (ác đạo) là Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh.

Bố hồng oai Hội Thánh gội nhuần,

Dắt nhơn loại lánh xa vòng ác đạo.

(Văn Tế Tiểu Tường).

 

 

ÁC HÀNH

惡 行

Ác: Hung dữ, làm hại người, nghịch đạo lý, trái với lành. Hành: Làm.

Ác hành là làm ác, làm hại người khác.

Thánh Ngôn Sưu Tập, Đức Lý Giáo Tông có dạy: Nên nhắc thường rằng: Lão hằng ở bên cạnh chúng nó lo bảo mạng, nhưng tiếc có một điều là phần nhiều tánh tình háo thắng và ác hành.

Điều lành sẽ gặp nhân hiền báo,

Thọ những tai ương bởi ác hành.

(Thơ Thiện Nguyện).

 

 

ÁC Ý

惡 意

Ác: Dữ, không tốt, trái với thiện. Ý: Sự phát ra điều nghĩ của tâm tư.

Ác ý là ý định xấu, muốn gây nhiều điều không hay, ác cho người khác.

Hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh trong quyển Thiên Đạo có đoạn viết: Lại trong giờ rảnh việc, nhứt là ban đêm thanh vắng là lúc tâm hồn tỉnh táo thơ thới, người đạo còn phải di dưỡng tinh thần cùng tưởng Trời tưởng Phật, tức là dùng tư tưởng mà thông cảm với Trời Phật, hầu tiếp điển lành mà tẩm tưới tâm hồn ngày được thanh cao, minh mẫn. Trí thức phải xua đuổi những tà niệm và ác ý cho tư tưởng mình được nhơn lành, trong sạch.

Về mặt Đạo, lời nói chẳng lành, bất công hoặc có ác ý, làm cho mình mang nghiệp quả.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

ÁC KHẨU

惡 口

Ác: Hung dữ, độc ác. Khẩu: Miệng, lời nói.

Ác khẩu là miệng độc địa, hay xúi giục kiện thưa, chửi rủa người, huỷ báng thần thánh hoặc tôn giáo, hoặc nói những lời hung ác.

Cấm ác khẩu, tức là lời nói hung dữ.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

ÁC KHÍ

惡 氣

Ác: Xấu xa. Khí: Hơi.

Ác khí là hơi xấu xa, tức hơi độc. Ác khí còn dùng để chỉ tình huống đen tối, xấu xa.

Diễn văn Đức Quyền Giáo Tông có câu: Từ ngày ác khí nổi lên xông đột, bên bạo tàn trương nanh múa vút, thì bên Thánh Ðức hiền lương có lắm anh hào đem hết trí thức tinh thần ra công giúp Ðạo.

Một làn ác khí bao ràng rịt,

Muôn xác tinh ma nhảy dập dìu.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

ÁC LẶN

Ác: Con quạ, chỉ mặt trời. Lặn: chìm xuống, mất đi, biến đi.

Ác lặn là mặt trời lặn, ý chỉ mặt trời chiều khuất sau núi đồi, tức trời sắp tối.

Rừng chiều ác lặn con trăng lố,

Chậm rãi đường về bước trở thu.

(Đạo Sử).

Ác lặn hiên Đoài già nhắc nhỏm,

Nguyệt trầm non Thái trẻ thon von.

(Thất Nương Giáng Bút).

Đường đi nhắm không dài chẳng vắn,

Nhìn non tây ác lặn đã tà.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

ÁC LỐ

Ác: Con quạ, chỉ mặt trời. Lố: Ló ra, nhô ra, mọc lên.

Ác lố có nghĩa là bóng ác đã nhô ra, tức chỉ mặt trời vừa lên, rựng sáng.

Xuân hé đã hay cơn ác lố,

Đông tàn khá biết lúc Trời chinh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cội Bắc chim về chiều ngả bóng,

Non Nam ác lố ánh tan sương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ác lố rọi tan lằn gió buị,

Nguyệt lờ soi gượng bước công khanh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

ÁC LỒNG

Ác: Con quạ, chỉ mặt trời. Lồng: Lộ ra, hiện lên.

Ác lồng là bóng ác lộ ra, ý chỉ mặt trời vừa mới mọc ra, nhô lên.

Ác lồng nhựt rạng tản sương mơi,

Gặp lối đường quanh khó tách vời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

ÁC MA

惡 魔

Ác: Hung dữ. Ma: Quỷ ma.

Ác ma là loài quỷ ma độc dữ. Ma là ma ba tuần hiện thân của sự tử vong, kẻ xúi dục làm điều ác.

Trong Tôn giáo, ác ma là biểu hiện cho tất cả những gì ngăn cản các thiện căn, cản trở chánh pháp, cũng như các thứ phiền não, nghi hoặc làm nhiễm loạn thân tâm, gây chướng ngại cho việc tu hành.

Mong nhờ lịnh đức Thánh Quan,

Ra oai tiêu diệt cho tàn ác ma.

(Giới Tâm Kinh).

 

 

ÁC NGHIỆP

惡 業

Ác: Hung dữ, làm hại người. Nghiệp: Những việc làm lành hay dữ của tiền kiếp tạo thành sự báo ứng trong kiếp sống hiện tại, gọi là nghiệp. Có hai thứ nghiệp: Thiện nghiệp và ác nghiệp.

Ác nghiệp là nghiệp do kiếp trước làm việc chẳng lành nên hiện kiếp phải nhận sự ác báo.

Toà án lương tâm quy định tội,

Phép tu ác nghiệp khảo trừ công.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

ÁC NGHIỆT

惡 孽

Ác: Dữ, trái với thiện, nghịch đạo lý. Nghiệt: Mầm ác, hung dữ, ác độc.

Ác nghiệt là độc ác và cay nghiệt, tức nói người có mang sẵn mầm hung dữ, ác độc.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Chúng ta được ở ngoài vòng phồn ba náo nhiệt là nhờ ơn riêng của Đức Chí Tôn đem chúng ta để nơi thanh tịnh cảnh, có thể dòm ngó xem coi, còn thiên hạ bị đứng trong vòng ác nghiệt.

Lại có kẻ hung hoang ác nghiệt,

Cướp giựt rồi chém giết mạng người.

(Kinh Sám Hối).

Ngó thử đầu hiên xem thấy dạng,

Hung hăng ác nghiệt kệ người ta.

(Đạo Sử).

Xúm kiện Long Vương rằng ác nghiệt,

Ðều thưa Lôi Chấn ở không ngay.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

ÁC PHONG

握 風

Ác: Còn đọc “Ốc 握”, là cầm giữ. Phong: Gió.

Ác phong, bởi thành ngữ “Ác nguyệt đảm phong 握 月 擔 風”, nghĩa là cầm trăng gánh gió, chỉ người thích việc trăng gió, tức kẻ háo sắc, dâm đãng.

Ác phong nghĩa bóng: Tính ưa hoa nguyệt.

Khách má phấn môi son đậm sắc,

Đặng đem mồi trêu mặt ác phong.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ÁC QUẢ

惡 果

Ác: Xấu xa, hung dữ. Quả: Trái, kết quả.

Ác quả là kết quả hung dữ, ý nói kiếp nầy nhận cái nghiệp quả xấu xa.

Theo luật luân hồi nhân quả, sở dĩ nhận ác quả là bởi vì gieo nhân xấu.

Vun quén thiện căn vui kiếp sống,

Gieo trồng ác quả uổng con người.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

ÁC TÀ

Ác: Con quạ. : Xiên, xế bóng, buổi chiều.

Tương truyền trong mặt trời có con quạ, nên người ta gọi mặt trời là “Kim ô 金 烏”, tức là “Ác vàng” hay “Bóng ác”.

Ác tà là mặt trời xế bóng, tức con quạ (ác) sắp lặn, chỉ trời xế chiều.

Ðường Thi có câu: Nha phi Ðông Hải chí Tây Sơn nhứt nhựt trường. Nghĩa là con chim quạ bay về biển Ðông tới núi Tây thì giáp một ngày. Mượn điển văn ấy mà chỉ rằng: Mặt Trời sớm mai mọc tại hướng Ðông, chiều lặn về hướng Tây thì qua một ngày. Ác tà tức là bóng mặt Trời ngả về Tây.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có câu: Nỗi đau thương bề ấm lạnh, nào tiếng khóc đến câu cười, co duỗi duỗi co, dở bước đến cảnh sầu, thì thấy chẳng lạ chi hơn là mồ hoang cỏ loán, đồng trống sương gieo, thỏ lặn ác tà, khách trần nào ai lánh khỏi.

Qua bao nhiêu bóng ác tà,

Tà gương chí sĩ nợ nhà còn mang.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

Ra về luyến tiếc tâm ngơ ngẩn,

Giục giã phương tây bóng ác tà.

(Thơ Huệ Nghiêm).

 

 

ÁC TẬN HIỀN VINH

惡 盡 賢 榮

Ác tận: Người ác sẽ bị chấm dứt. Hiền vinh: Người hiền sẽ được vinh hiển.

Ác tận hiền vinh dịch nghĩa từ câu “Dữ tận hiền vinh”, là nói người hung dữ thì tiêu hết, người hiền lành thì được vinh hiển.

Đừng vì quyền thế gây nên tội,

Ác tận hiền vinh luật sẵn dành.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

ÁC THÚ

惡 獸

Ác: Độc, hung dữ. Thú: Động vật có xương sống bậc cao, có lông mao, tuyến vú, nuôi con bằng sữa.

Ác thú là loài thú to, hung dữ, có thể làm hại, hoặc ăn thịt con người.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Những tục lệ ấy nếu Ðạo Cao Ðài không xuất hiện đặng chỉnh đốn lại, sợ e cả nhơn loại trên mặt địa cầu nầy sẽ thành ra ác thú.

Cũng như ác thú nhốt hầm,

Ăn nhau cho đã nào cần mệnh nhau.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ÁC TRỊ

惡 治

Ác: Hung dữ, làm việc chẳng lành. Trị: Răn trị, trừng trị, làm cho chừa tội.

Ác trị là hung ác thì bị răn trị.

Như: Lành khen ác trị,

Tam Giáo lành khen cùng ác trị,

Dạy đời biết trọng lấy ân Thiên.

(Đạo Sử).

 

 

ÁC VÀNG

Ác: Con chim quạ. Vàng: Có màu như màu nghệ.

Ác vàng, do chữ “Kim ô 金 烏”, tức con chim quạ vàng. Tương truyền trong mặt trời có con quạ vàng ba chân, nên gọi mặt trời là Kim ô.

Ác vàng tức chỉ mặt trời.

Ác vàng bảng lảng khuất đầu non,

Văng vẳng chuông chùa trỗi tiếng bon.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

ÁC VÀNG THỎ BẠC

Ác vàng: Do chữ “Kim ô 金 烏”, chỉ mặt trời. Thỏ bạc: Dịch từ chữ “Bạch thố 白 兔”, chỉ mặt trăng.

Ác vàng thỏ bạc là mặt trời và mặt trăng, ý chỉ hết mặt trời vàng tới mặt trăng bạc, tức nói hết ngày tới đêm.

Ác vàng, do tương truyền trong mặt trời có con quạ vàng, nên gọi mặt trời là kim ô.

Thỏ bạc, do tục truyền trên mặt trăng có con thỏ trắng giã thuốc, nên còn gọi mặt trăng là bạch thỏ hay ngọc thỏ.

Ác vàng dấu bóng sau sơn đảnh,

Thỏ bạc đưa gương mặt thuỷ triều.

(Thơ Nguyễn Hượt Hải).

 

 

ÁC XẾ

Ác: Chỉ mặt trời. Xế: Nghiêng chếch về một bên.

Ác xế là bóng ác nghiêng một bên, ý nói mặt trời đã về chiều.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Nếu chẳng sớm xét mình, để buổi ác xế trăng tà, nước dời cạn bực, thuyền Bát Nhã đã lướt qua, nhành dương liễu hết rơi giọt từ bi thì ăn năn rất muộn.

Bước rẽ ngùi trông cơn ác xế,

Lời trao buồn nhớ lối trăng thinh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Non chiều ác xế bóng Trời thâu,

Nẻo chánh may nương buổi đáo đầu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Để thảm xuân đường như ác xế,

Gieo thương lữ khách nhóng tin mai.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

ÁCH

Ách là tai hoạ lớn bao trùm nhiều người. Như: Tai ách, Ách giữa đàng mang vào cổ.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Ðạo Trời mở ra cho một nước tất là ách nạn của nước ấy hầu mãn.

Mê luyến hồng trần mang ách khổ,

Cơn vui qua khỏi lệ sầu tuôn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Hồng Lạc giống nòi dầu thoát ách,

Là hai mươi triệu kẻ đồng gan.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

ÁCH ĐẤT

Ách: Cái tai hoạ lớn lao. Đất: Chỉ đất đai.

Ách đất, bởi chữ “Địa ách 地 厄”, là những tai ương, khốn khổ do sự biến đổi của đất đai gây ra như núi lửa, sụp đất, động đất…

Ách đất rắp nhồi trường náo nhiệt,

Cửa Trời kịp mở vớt quần sinh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

ÁCH GIỮA ĐƯỜNG

Hay “Ách giữa đàng”.

Ách: Tai nạn khó khăn. Giữa đường: Ý chỉ thinh không mà chịu lấy.

Ách giữa đường (đàng), do tục ngữ ta có câu: “Ách giữa đàng, mang vào cổ”, ý nói thinh không mà mang lấy tai ách vào mình.

Rửa tai biến lộng câu đầu lưỡi,

Ngậm miệng cho qua ách giữa đường.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

ÁCH KHỔ

阨 苦

Ách: Quẫn bách, khốn cùng. Khổ: Cực nhọc, đau đớn, vất vả.

Ách khổ, do chữ “Khổ ách 苦 阨”, là khổ sở nhiều bề làm cho khốn đốn, quẫn bách.

Trương Quả Lão trong Thánh Ngôn Sưu Tập có câu: Nô lệ mình đã đem buộc cho mình, thì khá vui lòng mà mang ách khổ.

Mê luyến hồng trần mang ách khổ,

Cơn vui qua khỏi lệ sầu tuôn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

ÁCH NẠN

阨 難

Ách: Quẫn bách, khốn cùng. Nạn: Tai nạn.

Ách nạn là tiếng chỉ lúc hoạn nạn, khốn cùng.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh Giáo Đức Chí Tôn có dạy: Ðạo Trời mở ra cho một nước tất là ách nạn của nước ấy hầu mãn.

Ở trong nhà sẵn Thầy đưa khó,

Ách nạn chi chi cũng chảy luôn.

(Đạo Sử).

Ách nạn thiên tai ai tránh khỏi,

Thấy đời thảm khổ chạnh lòng thương.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

ÁCH NƯỚC TAI TRỜI

Ách: Quẫn bách, khốn cùng. Nước: Chất lỏng, không màu, không mùi, tồn tại ở sông và biển.

Ách nước, do chữ “Thuỷ ách 水 厄”, là những thứ tai ương, hoạ hoạn do sông nước mưa lũ gây ra như bão, lũ lụt, sóng thần…

Tai trời, do chữ “Thiên tai 天 災”, tức là tai nạn xảy đến một cách tự nhiên, như bão lụt, sóng thần…

Ách nước tai Trời là tai ách do hiện tượng thiên nhiên tác hại lớn đến đời sống con người.

Đại Thừa Chơn Giáo có câu: Than ôi! Ách nước tai Trời dồn dập, nào là nắng lửa mưa dầu, đó là cái hoạ chung cả nhơn loại.

Khắp nơi bệnh chướng lâm điêu đứng,

Ách nước tai Trời thấy thảm kinh!

(Thơ Thiên Vân).

 

 

ÁCH NƯỚC NẠN DÂN

Ách nước: Tai ách xảy ra trong đất nước. Nạn dân: Nạn tai đến với nhân dân.

Ách nước nạn dân là tai ách xảy đến trong đất nước làm cho dân chúng phải chịu nạn tai.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Phong hoá chánh trị đường lối mà từ Thượng Cổ đến giờ các quốc dân của toàn thể nhơn loại đã chịu biết bao ách nước nạn dân, cũng lắm khi muốn thâu hoạch cho kỳ được nền độc lập ấy.

Bức tranh đời vẫn còn cho chúng ta thấy bao nhiêu cảnh đau đớn chua cay, thì ách nước nạn dân chưa vội chấm dứt đặng.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

AI

1.- Ai là tiếng dùng để chỉ người nào đó, hoặc để hỏi khi chưa biết rõ người nào.

Như: Ai nói gì đấy, nhà nầy ai đứng ra làm chủ, không biết ai đến.

Khai Thiên lập Ðịa, ai là chủ?

Thánh Phật là ai dám đón ngăn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Ai là tiếng nói trống, không chỉ rõ người nào. Như: Ai có thân người ấy lo, không ai vào đây đặng.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Các con nên tìm sự giàu đức tính của Trời. Chỉ có cách đó mới gọi là vĩnh cửu. Của quý ấy không ai ăn cướp đặng cả.

Khổ hạnh dầu ai thìn một kiếp,

Rừng tòng thoát tục sớm đưa chân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Bị đẩy xô hiếp đáp chẳng ai binh,

Chưn nương đất như hình không có đất.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Ai là buồn thương, thương xót, thương tiếc.

Như: Câu chuyện rất ai bi, bài hát nghe thiệt ai oán, mối ai hoài.

Vui là gắng gượng làm vui,

Cái vui cùng trẻ là hồi ai bi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

AI AI

Ai ai là từ thường đứng trước câu, dùng làm chủ ngữ, có nghĩa tất cả mọi người. Như: Ai ai cũng biết điều đó.

Thánh giáo Thầy dạy Ngài Thơ có câu: Con phải khai rộng Thánh Thất cho chúng sanh cầu đạo, đừng phân sang hèn, ai ai đều cũng con Thầy. Con khá khuyên chư nhu đến Thánh Thất cầu đạo nghe!

Phải đủ căn sanh mới thấy Trời,

Ai ai đừng tưởng dễ như chơi.

(Thanh Tâm Tài Nữ).

Vài trai đến gọi nói chi chi,

Vội rước ai ai đến tức thì.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

AI BI

哀 悲

Ai: Sầu đau, than khóc. Bi: Buồn thương.

Ai bi là buồn rầu thảm thiết.

Thuyết về Khổng Phu Tử, Đức Thượng Sanh có đoạn: Ngài mất rồi, học trò ai bi thương khóc, cả thảy để tâm tang ba năm. Có hơn một trăm người làm nhà gần mộ Ngài để giữ mộ cho đến mãn tang. Riêng Thầy Tử Cống ở giữ mộ trọn sáu năm.

Hồ Tiên vội rót tức thì,

Nước Cam Lồ rửa ai bi kiếp người.

(Kinh Tận Độ).

 

 

AI CHẲNG CHỊU LỘC NHÀ CHÂU

Ai chẳng chịu lộc: Người nào không chịu hưởng tài lộc. Nhà Châu (Chu): Một triều đại sau nhà Thương.

Ai chẳng chịu lộc nhà Châu có nghĩa là người nào chẳng chịu thọ tài lộc, và không hưởng bất kỳ một sản vật gì của triều đại nhà Châu.

Điển tích nói về Bá Di, Thúc Tề, hai người con của vua Cô Trúc, vì can ngăn Võ Vương đừng đánh vua Trụ không được. Sau Võ Vương lập nên nhà Châu, hai anh em không ăn cơm gạo nhà Châu, bỏ lên núi Thú Dương hái rau vi mà nuôi sống. Có người gặp, chê rằng: Không ăn thóc nhà Châu, đi ăn rau để sống. Vậy chớ ngọn rau tấc đất không phải của nhà Châu là gì?

Bá Di, Thúc Tề nghe được câu chuyện đó, bèn nhịn đói mà chết.

Xem: Di Tề.

Thương, ai chẳng chịu lộc nhà Châu,

Ăn thể ăn vi chịu thảm sầu.

(Đạo Sử).

 

 

AI ĐIẾU

哀 弔

Ai: Thương xót. Điếu: Viếng người chết.

Ai điếu là viếng thăm người chết để tỏ lòng ngậm ngùi thương tiếc.

Lòng thành ai điếu Bảo văn Quân,

Sanh tử chẳng qua cũng một lần.

(Thơ Hiến Pháp).

 

 

AI ĐỜI

Ai đời có nghĩa là chẳng có ai lại như thế, tức một tổ hợp biểu thị ý nhấn mạnh về điều cho là trái với lẽ thường.

Như: Ai đời chuyện vô lý như vậy mà cũng tin.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Ai đời móc cả cái óc não, cả cái khôn ngoan, cái hay biết ra đặng tìm cái năng lực vô đối tức là nguyên tử lực, rồi còn tò mò kiếm một cái mạnh hơn nguyên tử lực ấy nữa, mấy thứ bom đương nhiên bây giờ nó giết hại nhơn mạng coi như con muỗi, con kiến.

Chõng Trần treo đợi, bụi vương đầy,

Ai trách ai đời sống lất lây.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

AI HOÀI

哀 懷

Ai: Thương xót. Hoài: Nhớ trong lòng.

Ai hoài là nhớ tiếc, hay buồn rầu thương nhớ. Như: Lòng ai hoài kể từ chúng ta ly biệt nhau.

Một kiếp vì đời tua gắng trả,

Cho rồi nợ thế khỏi ai hoài.

(Hộ Pháp Giáng Bút).

Nỗi bi thảm nhơn sanh khôn diễn bằng ngôn ngữ,

Mối ai hoài Chức sắc khó gợi hết thi thơ.

(Điếu Văn Nữ Đầu Sư).

 

 

AI NẤY

Ai: Người nào đó, bất kỳ. Nấy: Ấy, người ấy.

Ai nấy là người nào cũng vậy, chỉ tất cả, không trừ một người nào.

Truyện Kiều của Nguyễn Du có câu: Mặt nhìn ai nấy đều kinh, Nàng rằng: Nầy thật tinh thành chẳng xa.

Xây trái Ðài Thần vừa rúng trở,

Sấp lưng ai nấy cũng đều day.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

AI OÁN

哀 怨

Ai: Buồn thương. Oán: Giận hờn.

Ai oán là buồn thương và oán trách.

Thánh giáo Thầy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có đoạn: Ðường tội phước chẳng biết cân, gương dữ lành không để ý. Triền cao vực thẳm, rừng trước non xưa, cảnh vẫn đợi kẻ tìm về, nhưng giọng ai oán của khách lạc đường chẳng thế vạch Trời xanh soi thấu.

Văng vẳng đâu đây điệu ngũ âm,

Đường tơ ai oán, lệ khôn cầm.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

AI TÍN

哀 信

Ai: Buồn đau, thương xót. Tín: Tin.

Ai tín là tin buồn, tức là được tin người thân thuộc, hay bạn bè chết.

Như: Ai tín đã được đăng lên các nhựt báo.

Ai tín xa đưa phút rụng rời,

Linh Chi thân phụ trút tàn hơi.

(Thơ Vạn Năng).

 

 

ÁI

Ái là yêu mến, thương tiếc. Như: Ái ân, ái mộ, ái quốc, tình ái, tương ái, thân ái, ưu ái.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo của Đức Cao Đài, Đấng Cao Cả giáng cơ bằng Pháp văn được Hội Thánh dịch ra Việt ngữ có câu: Giáo lý ấy đáng lẽ phải đem lại hoà bình và tương ái cho loài người, nhưng trái lại nó gây mầm chia rẽ và chiến tranh.

Giáo hoá nhơn sanh cầu triết lý,

Ðạo truyền thiên hạ ái đồng bào.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tâm ái nhơn sanh an bốn biển,

Tâm hoà thiên hạ trị muôn năm.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

ÁI ÂN

愛 恩

Ái: Thương yêu. Ân: Ơn.

1.- Ái ân có nghĩa là thương yêu và biết ơn lẫn nhau. Chữ này thường dùng để chỉ tình yêu giữa đôi trái gái.

Trong Truyện Kiều Nguyễn Du có câu: Bây giờ trâm gẫy bình tan, Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân.

Chiều vui dưới trướng ngoài màn,

Nhẫng lo ngại nỗi phụ phàng ái ân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Cá kia chung phận hơi quen,

Ái ân đằm thắm bởi bền nghĩa nhân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Ái ân còn dùng để chỉ việc chăn gối của đôi nam nữ hay vợ chồng.

Muốn khuyên giảm bớt ái ân,

Lại e giục kẻ Tấn Tần chia phôi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Đời hằng nói nam trinh nữ tiết,

Cuộc ái ân khí huyết cũng hoà nhau.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ÁI BIỆT LY KHỔ

愛 別 離 苦

Ái: Yêu thương. Biệt ly: Xa cách, chia lìa. Khổ: Đau đớn, khổ sở.

Ái biệt ly khổ là một trong “Bát khổ 八 苦”, tức tám điều khổ của giáo lý Phật giáo. Đó là : Sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, oán tằng hội khổ, ái biệt ly khổ, cầu bất đắc khổ và ngũ uẩn xí thạnh khổ.

Ái biệt ly khổ là cái khổ do xa những gì mà mình yêu thích, như: Cha mẹ, vợ con, của cải quý báu…

Ái biệt ly khổ, nghĩa là sự phải ly biệt những người thân yêu là khổ.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

ÁI CHỦNG

愛 種

Ái: Yêu thương. Chủng: Giống nòi.

Ái chủng là thương yêu nòi giống.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Có điều vua là tượng trưng cho nước, nên trung với vua tức là trung với nước. Mà có trung đặng là vì quyền năng ái chủng, ái quốc nuôi trong tinh thần nhiệt liệt, nên tình ái ấy vi chủ tinh thần, cho nên ta thấy có kẻ vì trung dám hy sinh tánh mạng được là vì vậy.

Câu văn ái chủng gầy dân khí,

Tiếng sấm ưu hương định quốc hồn.

(Bát Nương Giáng Bút).

Ái chủng tìm cơ gầy tộc chủng,

Ưu dân định phép lập tân dân.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

ÁI DỤC

愛 慾

Ái: Yêu thương. Dục: Ham muốn.

Ái dục là lòng khao khát về ngũ dục.

Ái dục là nguyên nhân của đau khổ, là nguồn gốc của sinh tử luân hồi. Tuy con người bị ái dục ràng buộc chặt chẽ, nhưng con người nếu biết tu và có nghị lực vẫn có thể đối trị và thoát ly khỏi ái dục.

Trong Kinh Pháp Cú, bài Kệ số 336 có câu: Ai sống trong đời nầy, Ái dục được hàng phục, Sầu rơi khỏi người ấy, Như giọt nước lá sen.

Ái dục trói lôi gây tội báo,

Não phiền quanh quẩn suốt trăm năm.

(Thơ Thiên Vân)

 

 

ÁI HÀ

愛 河

Ái: Yêu thương. Hà: Con sông.

Ái hà là chữ của nhà Phật, chỉ dòng sông yêu thương, ví tình ái mênh mông như dòng sông.

Bài Kệ Chuỗi Phật Giáo có câu: Ái hà thiên xích lãng, Khổ hải vạn trùng ba. Dục thoát luân hồi khổ, Tảo cấp niệm Di Đà. 愛 河 千 尺 浪, 苦 海 萬 重 波. 欲 脫 輪 迴 苦, 早 急 念 彌 陀, tức là sông yêu ngàn thước sóng, biển khổ rộng bao la, muốn thoát luân hồi khổ, mau sớm niệm Di Đà.

Lương Võ Đế có câu: Đăng trường lạc chi cao sơn, xuất ái hà chi thâm tế 登 長 樂 之 高, 山 出 愛 河 之 深 際, nghĩa là leo lên núi cao trường lạc, ra khỏi sông sâu ái hà.

Duyên lành hạt giống nguồn âm chất,

Đức tốt dường phao cõi ái hà.

(Thơ Huệ Phong).

Ái hà gió tạt trì tâm lướt,

Khổ hải sóng xao gắng chí dò.

(Thơ Thái Đến Thanh).

Đàn em ngưỡng mộ trang hiền đức,

Chỉ lối người tu thoát ái hà.

(Cội Đạo Bốn Mùa).

 

 

ÁI KÍNH

愛 敬

Ái: Yêu mến, thương tiếc. Kính: Có thái độ rất coi trọng đối với người trên.

Ái kính là thương yêu và kính trọng. Như: Học trò tỏ lòng ái kính thầy giáo.

Thầy rất đẹp lòng đặng môn đệ ái kính như các con yêu dấu nơi Thánh địa nầy.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

ÁI MỘ

愛 慕

Ái: Thương yêu, ưa thích. Mộ: Mến chuộng.

Ái mộ là ưa thích, mến chuộng. Như: Tỏ lòng ái mộ.

Thánh giáo Chí Tôn có câu: Sanh đứng làm người, trót đã mang vào mình một vai tuồng đặc biệt, đã chẳng lo bước hành trình cho xong mà đắp bồi nợ mảnh hình hài, ngọn rau tấc đất, lại chác lắm điều phiền não ưu sầu, lấy Thánh đức gọi là chơi, mượn hành tàng vô nghĩa mà làm cho vừa lòng ái mộ bất lương.

Theo Bần Đạo hiểu biết tưởng những người ái mộ Đạo Phật nồng nàn hơn hết.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

ÁI NỮ

愛 女

Ái: Yêu thương, mến tiếc. Nữ: Chỉ phái nữ.

Ái nữ là người con gái yêu thương.

Đây là một từ đặc biệt trong tôn giáo Cao Đài mà Đức Chí Tôn giáng cơ dùng để gọi các tín đồ nữ phái.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có câu: Chư ái nữ ôi! Các con thường để mắt dòm lên, thấy kẻ cao sang thì các con cho rằng các con vô phước, còn nhìn xuống thấy đồng chủng thấp hèn thì các con lại đem lòng khi bạc.

Mai xưa trổ nhụy đã hai lần,

Tại ái nữ không biết giữ thân.

(Đạo Sử).

 

 

ÁI NGẠI

Ái: Thương yêu. Ngại: E, sợ.

Ái ngại là trước tình cảnh thương cảm mà không yên lòng, không đành lòng.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Vậy Thầy lại thấy một bọn môn đồ, khi đến nói đạo với kẻ nào thì thẹn thuồng ái ngại. Phải nghịch chánh lý chăng?

Ái ngại lòng trông mong đến thử,

Coi nền Ðạo mới thiệt linh thiêng.

(Đạo Sử).

Cực thân ấy, trẻ đừng ái ngại,

Muôn việc con Thầy lại sớt chia.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

Thấy ai thảm lòng đau ái ngại,

Nghe kẻ sầu như cháy lòng thương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ÁI Ố THAM SÂN

愛 惡 貪 嗔

Ái: Thương, yêu. Ố: Ghét. Tham: Tham lam. Sân: Nóng giận.

Ái ố tham sân là thương ghét, tham lam và giận hờn. Đây là những thứ tình thường khuấy rối thân tâm của người tu hành.

Bao nhiêu ái, ố, tham, sân,

Bao nhiêu thói xấu rửa lần cho thanh.

(Thánh Giáo Dạy Đạo).

 

 

ÁI QUỐC

愛 國

Ái: Yêu, thương. Quốc: Nước nhà.

Ái quốc là yêu nước.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Vì muốn tôn thờ cái tinh thần vị quốc ái dân đó, Ðức Hộ Pháp mới có sáng kiến xây dựng ngôi Báo Quốc Từ để làm nơi hương hoả phụng tự cho các Ðấng Tiên Vương và các nhà tôn thất có dày công với Tổ Quốc Việt Nam.

Cái sáng kiến của Ðức Hộ Pháp do nơi lòng ái quốc chơn chính của Ðức Ngài, đã làm cho toàn Ðạo vui lòng và mãn nguyện.

Tận tâm ái quốc ưu dân,

Đạo Trời trọn phận, nghĩa nhân vẹn toàn.

(Bài Chúc Đáo Tuế).

Hồ lô ai để ở nơi đâu,

Ái quốc Việt Nam nhét bể bầu.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

ÁI TUẤT

愛 恤

Ái: Yêu, thương. Tuất: Thương xót.

Ái tuất là thương xót.

Thánh giáo Đức Quyền Giáo Tông giáng cơ ngày 2-12-1934 (Âl 26-10-Giáp Tuất) có câu: Tôi đã thấy đặng những nỗi đau đớn của tôi ngày nay cũng để tâm ái tuất mà tỉnh giấc mộng ảo thường tình, tôi chỉn lo có một điều là sự hay của các mặt anh hùng sống tại buổi nầy không biết thừa chí nào tạo thành thời thế.

Thế lực cầu vinh càng hạ tiện,

Tinh thần ái tuất mới cao thâm.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

ÁI TUẤT THƯƠNG SINH

愛 恤 蒼 生

Hay “Ái tuất thương sanh”.

Ái tuất: Thương sót, cứu giúp. Thương sanh: Chỉ dân chúng, thành phần đông đảo trong giới bình dân.

Ái tuất thương sanh là thương yêu và cứu giúp đông đảo quần chúng.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ngài còn vì lòng thương cả toàn thể nhơn loại bị giam hãm trong lẽ bất công của Xã hội nhơn quần, Ngài vì công lý, vì ái tuất thương sanh nên hy sinh trong một kiếp sống đặng thọ lãnh cây Phướn cứu khổ của Đức Chí Tôn.

Thật ra nhơn loại không buổi nào đặng hạnh phúc vì cái tình ái tuất thương sanh Đức Chí Tôn đã đem để vào tâm não của mỗi đứa, đã tiêu huỷ.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

ẢI NHẠN

隘 雁

Ải: Chỗ hẹp, hiểm, hay chỗ giáp giới hai ngọn núi, hoặc hai nước. Nhạn: Núi Nhạn Môn Sơn.

Ải Nhạn là một cái cửa ải trên núi Nhạn Môn Sơn, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc.

Ải này được đặt ở vị trí cao nhất của dải Nhạn Môn Sơn, nhờ thế núi nên ải này rất hiểm trở.

Ải Nhạn, nghĩa bóng: Chỉ chung các cửa ải hiểm yếu.

Chạnh người ải nhạn ôm tỳ đợi,

Vì nước đành chia nghĩa mặn nồng.

(Thơ Huệ Giác).

Ải nhạn thanh gươm xin vẹn chí,

Ngày về mong rạng tiếng chinh phu.

(Thơ Thanh Thuỷ).

Khói mờ ải nhạn, bôm rền tiếng,

Gió thổi rừng phong cảnh ủ màu.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

ẢI QUAN

隘 關

Ải: Chỗ đất hiểm trở nơi biên giới, hoặc trên đường tiến vào một nước hay một cõi. Quan: Cửa.

Ải quan cửa ải nơi biên giới giữa hai nước.

Ải quan nơi cõi Thiêng liêng là chỉ cái cổng đi vào cõi giới đó. Trong bài Kinh Đệ Ngũ Cửu, có một cái “Ải quan” đưa vào từng trời Xích Thiên.

Ánh hồng chiếu đường mây rỡ rỡ,

Cõi Xích Thiên vội mở ải quan.

(Kinh Tận Độ).

 

 

AM HIỂU

諳 曉

Am: Biết rõ. Hiểu: Rõ, tức nhận ra ý nghĩa bằng sự vận dụng trí tuệ.

Am hiểu là hiểu biết tường tận.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Huống chi con người sanh ra nơi cõi nầy, Đức Chí Tôn đã ban cho một cái ân đặc biệt hễ khi nào trong lòng mẹ đã xuất hiện ra thì trong cái tinh thần thiên nhiên của ta nó đã có cái quyền năng đạt được cả cái hiểu biết của nhơn loại, dầu cho Thượng Cổ, Trung Cổ nó cũng tự nhiên am hiểu cho được mới thôi.

Nhiều vị chưa am hiểu tường tận Luật pháp chơn truyền, nên lúc thi hành nhiệm vụ có lắm điều sơ suất đáng tiếc trong việc đối nội cũng như đối ngoại.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

AM MÂY

Am: Cái chùa nhỏ. Mây: Những đám trên không do hơi nước bốc lên tạo thành.

Am mây, bởi chữ “Vân am 雲 庵”, tức là cái am nhỏ, ở nơi tĩnh mịch, cách biệt với người đời.

Am mây chỉ ngôi chùa nhỏ.

Thời gian tôi cách chốn nầy,

Tìm nơi thanh vắng am mây tu trì.

(Thơ Hộ Pháp).

Am mây trống giục lay hồn bướm,

Chùa đá chuông reo tỉnh mộng vàng.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

AM TỰ

庵 寺

Am: Cái chùa nhỏ dùng để thờ Trời, Phật. Tự: Chùa thờ các vị Phật.

Am tự là một cái chùa nhỏ trong có bày trí tượng Phật để thờ phụng.

Còn am tự, còn chùa mây,

Mà chàng đâu vắng, chốn nầy lặng trang.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Am tự đóng chặt gài bước tục,

Nước Cam lồ cho phúc tiêu diêu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ÁM

Ám là thầm giấu, tối tăm, ngầm kín, không dùng một mình. Như: Ám chỉ, ám hại, ám muội, hắc ám.

Thánh giáo Thầy có câu: Con khá hiểu lời Thầy và nên biết rằng, nếu con chẳng dụng quyền lực của Thầy ban cho con mà đương cự, dìu dắt các em thì một ngày kia, nó dẫn đi lần hồi hết, rồi còn một mình như chim lẻ bạn, như phụng lạc bầy, gặp cơn giông tố kia, cũng chẳng sức gì đởm đương cho khỏi sa nơi hắc ám.

Cặp liễn tang còn câu long ám,

Hạc quy hồi lãnh đạm trần ai.

(Nữ Trung Tùng Phận).

U ám mịt mờ màu thảm đạm,

Thúi hôi nhơ nhớp cảnh đìu hiu.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

ÁM MỜ

Ám: Che, giấu,kín, ngầm. Mờ: Không rõ.

Ám mờ, do chữ “Mờ ám” là đen tối, không rõ ràng và có tính cách gian xảo.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Quan Thánh Đế Quân có câu: Than ôi! Trời cao minh soi xét mà người vẫn mê muội ám mờ, đem mảnh trí cỏn con kia chống kình với khuôn linh Tạo hoá.

Ðại Thừa Thánh Ðạo lộ huyền cơ,

Ngọc báu trương ra vẹt ám mờ,

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Kệ kinh gọi món ru hồn,

Tánh hay ngạo báng trí khôn ám mờ.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

ÁM MUỘI

暗 昧

Ám: Che. Muội: Tối tăm.

Ám muội là tối tăm, lén lút, ý muốn nói cử chỉ và hành động không chính đáng, ngay thẳng.

Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy: Thầy đã vì chúng sanh mà lập Ðạo, nhưng kẻ phàm tục còn ám muội, tham danh chác lợi, lấn tước cầu quyền, thì ấy là tự chúng nó gieo mình nơi vực thẳm.

Đời nhiều kẻ khi Thần, thị Thánh,

Ám muội lòng tánh hạnh gổ ganh

(Kinh Sám Hối).

Ám muội thì nhiều mưu trí ít,

Đường Tiên chẳng bước đoạ thì đành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

ÁM TRỢ

暗 助

Ám: Làm mờ tối, thầm giấu, ngầm kín. Trợ: Giúp đỡ.

Ám trợ là giúp đỡ ngầm.

Ám trợ còn dùng để nói các Đấng Thiêng liêng phò trợ hay phụ giúp cho.

Diễn văn Đức Quyền Giáo Tông đọc tại Toà Thánh trong dịp vía Đức Thích Ca có câu: Thí dụ như đi độ rỗi nhơn sanh phải nói Ðạo cho người nghe, như phải lập mấy cuộc để giúp thế đang nguy nan, như nhà trường dạy kẻ cô độc học, nhà thương, nhà dưỡng lão cùng các nghề nghiệp cho đạo hữu có phương làm ăn đặng cơm tẻ ngày hai, có áo quần che thân ấm cật.... thì chúng ta phải lo hết rồi các Ðấng Thiêng Liêng ám trợ cho thành tựu.

Ám trợ xa thơ mau tiến hoá,

Đỡ nâng thuyền huệ khỏi chinh nghiêng.

(Thơ Thông Quang).

Sư đặng hiển linh xin ám trợ,

Đệ nguyền kết chí tạo nên duyên.

(Thơ Thiện Tâm).

 

 

ẢM ĐẠM

Ảm đạm là thiếu ánh sáng và màu sắc, gợi lên sự buồn tẻ, như: Buổi chiều ảm đạm.

Ảm đạm còn có nghĩa là thiếu vẻ tươi vui trên gương mặt, gợi lên cảm giác rất buồn, như: Mặt mày ảm đạm.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Trong dịp nầy, tôi nhận thấy cái tình thương yêu nhau là quý trọng hơn hết. Với sự thương yêu nhau, với sự đồng tâm hiệp trí, chúng ta có thể san bằng tất cả những khó khăn, lướt qua những cơn phong vũ bất kỳ tang thương ảm đạm.

Xuôi ngược thêm buồn hội nước mây,

Trời sương ảm đạm nhạn kêu bầy!

(Thơ Thuần Đức).

Sân Lai ảm đạm lời ca bặt,

Cõi thọ thong dong cánh hạc về.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

AN

1.- An, còn đọc “Yên”, là im lặng, định sẵn, không lo lắng gì nữa. Như: An bài, an phận, an thân, an vui.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có dạy: Chư hiền hữu, chư hiền muội xem trong năm Khai Ðạo, biết bao khổ não truân chuyên. Lão, vì đã thấy rõ, nên không nỡ ngồi an xem cơ thắng bại. Lão nhứt định đứng chung vai đâu cật cùng chư hiền hữu, chư hiền muội, mà chia bớt khổ tâm.

Dầu đoạt vị ở an Thiên cảnh,

Dầu tái sanh mở cảnh siêu phàm.

(Kinh Thế Đạo).

Gành Nam nêu đặng người tên tuổi,

Ðất Bắc mừng an bước lạc loài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- An còn có nghĩa là làm sao, ở đâu.

Như: An tại (ở đâu, ở chốn nào), an tri (biết đâu).

Hạnh phùng bình thuỷ thân an tại,

Nhược ngộ phong ba phận đảo huyền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

AN BÀI

安 排

An: Yên ổn. Bài: Sắp đặt.

1.- An bài là sắp đặt một cách yên ổn. Như: Mọi công việc đã được an bài.

Vùng Nam đất Việt an bài,

Thung dung là phận đợi ngày rạng danh.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

2.- An bài còn có nghĩa sự xếp đặt từ trước, tức chỉ Tạo hoá đã định sẵn.

Theo Mạnh Tử, mạng số con người đã được định đoạt từ trước: Vạn sự bất do nhân kế giảo, nhất sanh đô thị mệnh an bài 萬 事 不 由 人 計 較, 一 生 都 是 命 安 排, nghĩa là muôn việc không phải bởi người so thiệt tính hơn mà nên, một đời người đều là có mạng số đã an bài.

Rủi may cơ tạo đã an bài,

Oan nghiệt đền bồi, dám trách ai?

(Thơ Thuần Đức).

Tiếc nuối khi đây chưa kiến diện,

Trễ tràng thì đó mệnh an bài.

(Thơ Ngọc Cội Thanh).

 

 

AN BANG

安 邦

An: Bình an, yên ổn. Bang: Nước nhà.

An bang là tìm cách làm cho nước nhà trong ngoài được yên ổn gọi là an bang.

Xem: An bang tế thế.

Người trung trực lo âu nợ nước,

Hưởng lộc vua tìm chước an bang.

(Kinh Sám Hối).

Lấy chí Thánh dìu đời giác ngộ,

Dụng bạo tàn đâu phải chỗ an bang.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

AN BANG TẾ THẾ

安 邦 濟 世

An bang: Làm cho nước nhà được yên ổn. Tế thế: Giúp đời.

An bang tế thế là làm cho đất nước được yên ổn, cứu giúp người đời an lạc.

Nhân ngày vía Jésus Christ, Đức Hộ Pháp có Thuyết Đạo: 1948 năm trước, lúc nầy có một vị Chí Tôn giáng trần giáo Ðạo tại Tây Phương, vị Chí Tôn an bang tế thế mang xác phàm lập giáo để một cái nền văn minh vĩ đại cho nhơn loại, tính ra được 1948 năm.

Nếu có kẻ an bang tế thế,

Quỳ mà nghênh lấy lễ trọng người.

(Bát Nương Giáng Bút).

Nấu sôi cái máu anh phong,

An bang tế thế một lòng lo âu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

An bang tế thế ai dù hỏi,

Rằng: Đã nhường cho bậc tướng hầu.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

AN BẦN

安 貧

An: Yên. Bần: Nghèo khó.

An bần là yên với phận nghèo, tức vui sống với cảnh khó khăn, nghèo hèn.

Xem: An bần lạc đạo.

An bần dưỡng tánh tuỳ duyên phận,

Hơn kém thế tình nghĩ chẳng sao.

(Thơ Cao Quỳnh Diêu).

Lương tâm thơ thới chí an bần,

Lạc hứng đạo mầu đặng khoẻ thân.

(Thơ Mai Ngọc Nhiễu).

 

 

AN BẦN LẠC ĐẠO

安 貧 樂 道

An bần: Yên với phận nghèo. Lạc đạo: Vui với đạo đức, hoặc vui với tôn giáo.

An bần lạc đạo là sống yên ổn trong cảnh nghèo nàn, nhưng vui vẻ trong đường đạo đức.

Thà nương cảnh tịnh non mầu,

An bần lạc đạo mặc dầu thong dong.

(Lược Thuật Toà Thánh).

An bần lạc đạo vui ngày tháng,

Mượn nước nhành dương rửa bụi hồng.

(Thơ Chơn Tâm).

An bần lạc đạo quên trần khổ,

Lập đức bồi công ở kiếp tu.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

AN CƯ LẠC NGHIỆP

安 居 樂 業

An cư: Chỗ ở được yên ổn. Lạc nghiệp: Vui sống với nghề nghiệp.

An cư lạc nghiệp là đời sống yên ổn và vui vẻ lo làm ăn, tức là yên nơi vui nghiệp. Ý chỉ cảnh thanh bình.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có đoạn: Ðược như thế thì người cầm quyền đối với dân cũng như cha đối với con. Phải tu thân tích đức, lo cho dân được an cư lạc nghiệp, dạy cho được sáng suốt khôn ngoan y như cha lo cho con. Phải thích cái thích của dân, phải ghét cái ghét của dân mới đáng làm cha mẹ dân.

Từ thuở ta vâng chiếu chỉ đến trấn nhậm nơi đây, ta một tấm lòng lo cho lê thứ đặng an cư lạc nghiệp

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

AN DÂN

安 民

An: Làm cho yên ổn. Dân: Dân chúng.

An dân là nói chính sách cai trị của nhà nước là làm cho dân chúng được yên ổn.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Xin thưa rằng: Trị nước an dân thì có nhà cầm quyền Quốc gia, lèo lái con thuyền Ðạo thì có nhà lãnh đạo tinh thần của Tôn Giáo. Tôn giáo không có thể xoay chuyển vận nước được, cũng như Chánh quyền không thể điều khiển Tôn giáo.

An dân ắt cũng đặng lòng Trời,

Phàm thế chưa người đó hỡi ngươi.

(Đạo Sử).

An nước an dân toan bủa đức,

Sửa cơn nắng tối lại mưa mai.

(Đạo Sử).

An dân buồn thiếu trang hiền sĩ,

Bảo quốc vui nhờ Đức Thánh Nhân.

(Thanh Sơn Đạo Sĩ).

 

 

AN ĐỊNH

安 定

An: An ổn. Định: Yên lặng.

An định là yên ổn, không bị rối loạn. Như: Ngồi an định suốt cả đêm.

Tinh thần an định cơ duyên đạt,

Tâm trí hồn nhiên khổ nạn qua.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

ANGKOR

Angkor là một từ Miên, chỉ hai đền thờ ở Siam tỉnh Reap: Angkor Vat, Angkor Thom, tiếng Việt gọi là Đế Thiên Đế Thích.

Đây là hai đền thờ cổ của xứ Cao Miên được liệt vào một trong những kỳ quan của Thế giới.

Xem: Đế Thiên Đế Thích.

Để bước Angkor viếng Phật Đài,

Tang thương tàn phá bởi thiên tai.

(Tiêu Diêu Đạo Sĩ).

 

 

AN HƯỞNG

安 享

An: Yên ổn. Hưởng: Được nhận một thứ gì.

An hưởng là yên vui nhận hưởng mà không có điều gì ngăn trở.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Có vì chúng sanh mà khổ tâm hành đạo, có khó nhọc, có dãi dầu sương mơi nắng xế, mà quên bậc phẩm vô vị ở cõi trần nầy, có vày vã nẻo gai chông lần theo bước đường hạnh đức, mới có ngày vui vẻ bất tận, mới có buổi an hưởng địa vị thiêng liêng

Đã biết Đạo đừng mong an hưởng,

Cứu sanh linh giúp phướn Truy hồn.

(Nhị Nương Giáng Bút).

Đời đạo tương liên gieo Thánh đức,

Nhơn sanh an hưởng cảnh Thần Tiên.

(Thơ Thân Dân).

 

 

AN KHANG

Hay “An khương”.

An: Yên ổn. Khang (khương): Mạnh khoẻ.

An khang, như chữ “An khương 安 康”, là yên ổn, vui vẻ và mạnh khoẻ.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Nhơn danh Hội Thánh Hiệp Thiên Ðài, tôi xin có lời chúc cho Chức sắc, Chức việc và Ðạo hữu Nam Nữ được an khang, gặp nhiều may mắn, mọi sự hanh thông trên đường phục vụ cho Ðạo và nhơn sanh.

Xem: An khương.

An khang trăm họ vui cùng Địa,

Thịnh vượng xóm làng nhộn với lân.

(Thơ Minh Phát).

 

 

AN KHANG THỊNH VƯỢNG

Hay “An khương thịnh vượng”.

An khang (khang): Yên ổn, mạnh khoẻ. Thịnh vượng: Giàu có phát đạt.

An khang thịnh vượng, như câu “An khương thịnh vượng 安 康 盛 旺”, là câu thành ngữ dùng để chúc yên ổn mạnh khoẻ và giàu sang phát đạt.

Chuẩn bị trong ngoài đôi liễn mới,

An khang thịnh vượng tết tưng bừng.

(Thơ Tử Quy).

 

 

AN KHƯƠNG

安 康

An: Yên ổn. Khương (khang): Mạnh khoẻ.

An khương hay an khang có nghĩa là yên ổn, vui vẻ và mạnh khoẻ, thường dùng trong lời chúc.

Như: An khương thịnh vượng.

Đi an khương, về an khương,

Cõi Thiên, cảnh Tục cũng dường chung nhau.

(Kinh Thế Đạo).

Mến bạn còn chờ ngày hội ngộ,

Vui vầy chốn tịch hưởng an khương.

(Đạo Sử).

 

 

AN LẠC

安 樂

An: Yển ổn. Lạc: Vui vẻ.

An lạc là yên ổn, vui vẻ, tức là yên vui.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bần Đạo chỉ mong có một điều là toàn thể con cái của Ngài nam, nữ mỗi ngày đều tưởng tượng đến công khó nhọc anh em nó, khó nhọc của đồng bào toàn thể nước nhà nòi giống đã tạo dựng nên nghiệp ấy, lấy cả sự nghiệp nầy làm môi giới, giữ đạo đức làm bùa hằng tâm, thương yêu với nhau giữ nghĩa với nhau cho đến bảy trăm ngàn năm (Thất ức niên) theo lời của Đức Chí Tôn đã định, dầu Bần Đạo còn ở đây hay về cõi Hư Linh Cung ấy an lạc đi nữa, cũng nhớ đến đại nghiệp con cái của Ngài và Bần Đạo dám đại ngôn với Ngài rằng: Con cái của Ngài giữ tâm chí hiếu với Ngài và đối với Phật Mẫu cũng vậy.

Nghĩa nhơn giữ vẹn là an lạc,

Đạo đức gìn xong khỏi đoạ trầm.

(Thơ Thái Đến Thanh).

Ngày Nghiêu tháng Thuấn, đời an lạc,

Khỏi bận tranh đua chốn mạt hèn.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

AN MẠNG

Hay “An mệnh”.

An: Yên ổn. Mạng (mệnh): Vận số.

An mạng, như chữ “An mệnh 安 命”, là yên phận với số mạng.

Thành ngữ Việt Hán thường có câu “An mệnh thủ thường 安 命 守 常”, có nghĩa là giữ mực thường để yên với số mạng.

Chi nên an mạng gắng tuỳ thời,

Chẳng cánh buồm trương rán sức hơi.

(Đạo Sử).

Tùng Thiên an mạng rán làm lành,

Ðừng kết oán đời chác lợi danh.

(Đạo Sử).

 

 

AN NINH

安 寧

An: Yên ổn. Ninh: Yên lặng.

An ninh là yên ổn, tức về mặt trật tự xã hội, về mặt chánh trị đều được bình yên.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Năm nay thì thời cuộc bất an ninh, khói lửa lan tràn khắp nơi từ đầu năm Mậu Thân, vùng ngoại ô Thánh Ðịa cũng phải hứng chịu cảnh đau thương tang tóc nên cuộc lễ phải cử hành hết sức đơn giản hầu đỡ phần tốn kém cho nhơn sanh.

Tứ nguyện: Thiên hạ thái bình.

Ngũ nguyện : Thánh thất an ninh.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

Đạm bạc chung vui tỏ thạnh tình,

Ông bà thượng lộ đặng an ninh.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

AN NGÔI

An: Yên ổn. Ngôi: Chỗ ngồi, ngôi vị.

An ngôi là ngồi yên vào ngôi vị của mình.

Trong tôn giáo, “An ngôi” dùng để chỉ chơn linh (linh hồn) trở về an ngự nơi ngôi vị cũ.

Đức Chí Tôn dạy Ngài Lê Văn Trung giao quyền chưởng quản nơi Toà Thánh Tây Ninh cho Ngài Thượng Tương Thanh có câu: Con giao nội phần Chưởng Quản nội Tỉnh ấy cho nó đặng ngày sau nó an ngôi như Thầy đã nói nghe à!

Chàng dầu cung Ngọc an ngôi,

Xin thương thân thiếp nợ đời còn mang.

(Kinh Thế Đạo).

Thiên Tào Thánh ngự an ngôi,

Cầu cho dân chúng khỏi hồi can qua.

(Kinh Thế Đạo).

Đức trước hưởng rồi tua trả đức,

Ngôi sau gìn ắt đặng an ngôi.

(Thượng Phẩm Giáng Bút).

 

 

AN NGUY

安 危

An: Yên ổn. Nguy: Nguy nan, hung hiểm.

An nguy ý chỉ yên ổn và nguy nan.

Quốc gia an nguy là chỉ đất nước được thanh bình hay lúc loạn lạc.

Hiển linh là phước Trời cho,

An nguy vận nước chung lo mối giềng.

(Kinh Cúng Chiến Sĩ).

Thương công ngư phủ dầm khơi,

Đò nhơn rước khách, lập đời an nguy.

(Thất Nương Giang Bút).

 

 

AN NGỰ

安 御

An: Yên ổn. Ngự: Ý nói ngồi lên ngôi vị một cách trang trọng.

An ngự là yên ổn mà ngự lên ngôi vị, ý muốn nói được trở về ngự trên ngôi vị cũ một cách trang trọng.

Toà sen báu vật xin đưa,

Chơn linh an ngự cho vừa quả duyên.

(Kinh Tận Độ).

Ngôi Tiên Ngài đã vui an ngự,

Cõi tục em đây mến tiếc hoài.

(Thượng Cảnh Thanh).

Bồng Lai chị mới về an ngự,

Trần tục anh rày vội thoát ly.

(Thơ Võ Thành Lượng).

 

 

AN NGHỈ NGÀN THU

An nghỉ: Nghỉ ngơi yên giấc, chỉ sự chết. Ngàn thu: Tức ngàn năm, chỉ số nhiều.

An nghỉ ngàn thu nghĩa là vĩnh viễn yên nghỉ nơi mộ phần (Chỉ phần xác), hoặc mãi mãi yên giấc nơi cõi thiêng liêng (Chỉ phần hồn).

Trước linh cữu, các em cùng chị,

Cúi đưa anh an nghỉ giấc ngàn thu.

(Văn Tế Bảo Đạo).

 

 

AN NHÀN

安 閒

An: Yên ổn. Nhàn: thong thả.

An nhàn là thong thả và yên ổn, đời sống không phải khó nhọc, vất vả.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy rất đẹp lòng đặng môn đệ ái kính như các con yêu dấu nơi Thánh địa nầy. Ðường tân khổ lắm vày vò, buổi an nhàn đâu kẻ hưởng, tuồng thế cũng gay go, mà bước trần càng khốn đốn.

An nhàn gió túi với trăng sân,

Ràng buộc cân đai chịu mạng thần.

(Đạo Sử).

Ham mùi chung đỉnh mang oan nghiệt,

Biết phép an nhàn đến cảnh xuân.

(Lục Nương Giáng Bút).

Đời vật chất nảy sanh khói lửa,

Đạo tinh thần thường bữa an nhàn.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

AN PHẬN

安 分

An: Yên ổn. Phận: Số mệnh trời đã định trước.

An phận là sống yên theo số phận, tức là vui lòng với số mệnh mình mà trời đã dành sẵn cho.

Tô Thức có câu: Hồ bất an kỳ phận đản thính vật sở dụ? 胡 不 安 其 分, 但 聽 物 所 誘?, nghĩa là sao chẳng an lấy phận, để ngoại vật dụ lấy mình?

Trong Pháp Chánh Truyền Chú Giải có câu: Thấy lòng bác ái của Thầy bắt động lòng, vì Thầy đã biết rằng Lễ Sanh phải chịu tùng phục dưới quyền người sai khiến, nên phải có hạnh đức, mới biết an phận mình, mà chịu phần lòn cúi, quật hạ đặng.

Nên thì an phận kiếm cung,

Hư thì khổ vợ tội chồng chung nhau.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Muốn toan xu phụ cho an phận,

Chôn lý đạo mầu hết phổ thông.

(Thơ Hộ Pháp).

Hẩm húc muối dưa an phận khó,

Thung dung ngày tháng đắp nền nhân.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

AN PHẬN THỦ THƯỜNG

安 分 守 常

An phận: Yên với số phần. Thủ thường: Giữ theo mức bình thường.

An phận thủ thường là sống yên ổn theo số phận và giữ những việc bình thường.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có nói: Người đã thấy hiểu cái chơn lý ấy vẫn điềm nhiên trước cảnh đua chen náo nức của thiên hạ khi ngày xuân sắp đến, không bắt chước se sua lãng phí, cứ an phận thủ thường, tuỳ hoàn cảnh của mình mà lo liệu ổn thoả việc gia đình.

Hiểu địa vị của mình đến đặc điểm nào, mới an phận thủ thường, mới xử vẹn đời sống của mình đặng.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

AN TÁNG

安 葬

An: Yên ổn. Táng: Chôn cất.

An táng là chôn cất yên ổn.

Khi nói về việc chôn cất Chưởng Pháp Thượng Tương Thanh, Thầy có dạy: Còn việc an táng nó, các con cũng nên lưu ý chung với nhau mà lo bề nhơn đạo của các con cho toàn.

Ông đem an táng bờ ao gần lộ,

Tạc bài thơ trong mộ bia xanh.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

AN TÂM

安 心

An: Yên ổn. Tâm: Lòng, dạ, biểu tượng cho tâm lý tình cảm.

An tâm là yên lòng, an tịnh, tức trong tâm hồn không có sự lo lắng, sợ hãi, không bị xao động của tâm thức.

Theo Phật giáo, Ngài Huệ Khả một hôm đến trước Tổ Bồ Đề Đạt Ma bạch: Tâm con không an, xin Hoà Thượng dạy cho con pháp an tâm. Tổ Đạt Ma bảo: Ngươi đưa tâm đây ta an cho. Ngài Huệ Khả sửng sốt quay lại tìm tâm, tìm mãi mà không thấy tâm đâu cả, bèn bạch: Con tìm tâm không được. Tổ bảo: Vậy ta đã an tâm cho ngươi rồi đó.

Câu chuyện cho ta thấy căn bịnh lo âu truyền kiếp của hầu hết mọi người, mong muốn được an tâm. Khi thực sự biết rõ cội nguồn của tâm là vô tướng, vô tánh thì có gì có thể làm lay động được, tự nhiên tâm an.

Trong Đạo Cao Đài, Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Muốn an tâm tỉnh trí và đè nén lửa lòng, cần phải có một nghị lực vô biên, một tâm trung quảng đại, thì mới khỏi bực tức với những trò đã vì mạng lịnh thiêng liêng phô diễn ở nơi thâm hiểm nặng nề nầy.

Hoà trên thì dưới mới an tâm,

Mình vốn là anh chấp lỗi lầm.

(Đạo Sử).

Hằng ngày đạm bạc mùi dưa muối,

Vui Đạo an tâm với cảnh bần.

(Thơ Diệu Tuyền).

 

 

AN TỊNH

安 淨

Hay “Yên tịnh”.

An: Yên ổn, yên lành. Tịnh: Trong sạch.

An tịnh hay yên tịnh là yên ổn và trong sạch.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy: Sự thương yêu là giềng bảo sanh của Càn khôn Thế giới. Có thương yêu, nhơn loại mới hoà bình, Càn khôn mới an tịnh. Ðặng an tịnh mới không thù nghịch lẫn nhau, mới giữ bền cơ sanh hoá.

Phải giữ cho chơn thần an tịnh, đừng xao xuyến lương tâm.

(Tân Luật).

 

 

AN THÁNH TƯỢNG

安 聖 像

An: Đặt cho yên. Thánh Tượng: Tượng thờ Đức Chí Tôn, còn gọi là Thánh Tượng Thiên Nhãn.

An Thánh Tượng là An vị Tượng thờ Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Thiết đàn lần đầu tiên để an vị ngôi thờ gọi là Thượng Tượng, có dâng sớ lên Chí Tôn; sau đó, mỗi khi có việc dời đổi Thiên Bàn thì gia đình phải mời Ban nghi lễ đến thiết đàn an vị lại, không có dâng sớ.

Kim vì kiết nhựt lương thần, thành lập Thiên Bàn thỉnh an Thánh tượng chi lễ.

(Sớ Văn).

 

 

AN THÂN

安 身

Hay “Yên thân”.

An: Yên ổn, yên lành. Thân: Thân thể.

An (yên) thân là thân thể được yên ổn, an lành.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Ví dụ cờ bạc gây ra cái quả thiếu hụt, nợ nần, vì thiếu hụt phải lường gạt hay trộm cắp; trộm cắp gây ra cái quả lao tù. Bây giờ bỏ dứt sự cờ bạc, lo làm ăn lương thiện thì tất nhiên phải được an thân, khoẻ trí.

Bình an nhà nội mới an thân,

Hữu phước từ gia đã định phần.

(Đạo Sử).

May tiểu thiếp biết hoà biết thuận,

An thân chồng đẹp xứng nợ duyên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Mỗi ngày một bữa ngọ qua,

Không lương không bổng cũng là an thân.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

AN THẦN

安 神

An: Yên, yên ổn. Thần: Phần vô hình thiêng liêng sáng láng ở trong con người.

An thần là yên ổn về tâm thần, không bị sợ sệt, không lo lắng.

An thần có có nghĩa giữ cho thần kinh được yên, không bị kích thích quá độ, thường để cho dễ ngủ.

Hơn thiệt đua tranh thêm nhọc trí,

Thọ trì thanh tịnh dưỡng an thần.

(Thơ Thông Quang).

 

 

AN TRÍ

安 智

An: Yên, yên ổn. Trí: Phần hiểu biết, không ngoan trong tinh thần của con người.

An trí là trí não yên ổn, không lo lắng việc gì hết.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bạch Ngài (Lý Giáo Tông), sự bí mật ấy Ngài có thể cho tôi biết đôi chút đặng tôi mới an tâm, an trí được.

Chúng bạn nhọc tâm cơ chuyển thế,

Riêng ông an trí cảnh Tiên gia.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

AN ỦI

An ủi là làm dịu nỗi đau khổ, buồn phiền.

Huấn từ Đức Thượng Sanh đọc trong buổi lễ Cứu Trợ Việt Kiều Hồi Hương có đoạn: Quý vị nên tự an ủi, nên can đảm chiều theo số phận không may của mình, nếu quý vị hiểu Ðạo tức là hiểu cuộc đời dinh hư tiêu trưởng vẫn là dĩ nhiên do Thiên cơ định liệu. Sản nghiệp, của tiền đều là những món phù du, thoạt còn thoạt mất, cái thân còn tồn tại là điều quý báu, vì còn người tức còn của vậy.

Các đấng ấy rất may mắn gặp những dịp để an ủi tâm hồn chúng sanh, hằng giờ hằng buổi không thiếu tình thương.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

AN VẤN

安 問

An: Bình yên. Vấn: Hỏi thăm.

An vấn, như chữ “Vấn an 問 安”, là đến thăm hỏi người lớn hoặc cha mẹ khi vừa mới thức dậy.

Xem: Vấn an.

Gái nồi cơm bát nước đói no,

Trai thang thuốc ngày lo an vấn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

AN VỊ

安 位

An: Yên. Vị: Ngôi vị.

1.- An vị là ở yên trên ngôi vị của mình, ý muốn nói trở về được với ngôi vị cũ nơi cõi thiêng liêng.

Nên biết trách nhậm rất nặng nề, nếu chẳng kham thì con đường thiêng liêng kia đâu an vị được.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

2.- An vị còn là một từ trong đạo Cao Đài dùng để chỉ một cuộc lễ cúng Đức Chí Tôn, gọi là “Lễ An vị Thánh tượng Thiên Nhãn”.

Lễ An vị Thánh tượng Thiên Nhãn được tổ chức tại tư gia hay Thánh Thất.

Nhà có thờ Thiên Bàn, khi sửa chữa nhà cửa có dời qua một bên, sau đó thiết đặt lại thì phải mời chức việc đến cúng an vị Thánh tượng. Thánh Thất cũng vậy, sau khi tu bổ xong, cũng phải làm lễ An vị Thánh tượng tại chánh điện của Thánh Thất, sau đó, thiết một đàn cúng một cách trọng thể, trang nghiêm.

Tạo thành Thất Thất đặng trang hoàng,

An vị là ngày rất lạc quan.

(Thơ Ngọc Trương Thanh).

Lễ mừng An vị chật trong ngoài,

Thiên Nhãn Thầy cung thỉnh Bửu Ngai.

(Thơ Huệ Phong).

Gia thất đàng hoàng đáng mấy mươi,

Mừng nay An vị được nhờ Trời.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

AN VUI

Hay “Yên vui”.

An (yên): Yên, được ổn định. Vui: Hớn hở.

An vui hay yên vui là yên ổn và vui vẻ.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Dầu cho sang vinh trăm mối, tiền của muôn chung, mấy kẻ đặng tìm đến địa vị an nhàn, xủ áo phồn hoa, để gương soi hậu thế. Một nhà sau gặp gỡ, ngàn trước vẫn an vui. Ấy là nhứt môn hạnh phúc vậy.

Dữ đoạ hiền thăng ấy luật Trời,

Lánh đường tà vạy hưởng an vui.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Mưu được phần mình thì tổn đức,

Của tiền dầu chất há an vui?

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chia ly thống thiết nơi trần khổ,

Quy vị an vui chốn Niết Bàn.

(Thơ Hiến Pháp).

 

 

ÁN LỊNH

Hay “Án lệnh”.

Án: Các bản văn ghi việc kiện tụng đã quyết rồi. Lịnh (Lệnh): Mệnh lệnh.

Án lịnh, như chữ “Án lệnh 案 令”, là lịnh của Toà án đã phán quyết.

Mừng gia tộc được phần công thưởng,

Án lịnh đày ảnh hưởng tội chung.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

ÁN TIẾT

案 節

Án: Các bản văn ghi việc kiện tụng đã quyết rồi. Tiết: Chi tiết, tình tiết.

Án tiết là tình tiết của vụ án.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Giờ phút mà xử đoán cuối cùng nầy, họ phải trả quả kiếp ấy, đặng định phận họ mới đặng. Tuy chúng ta đã ngó thấy, đừng ngó đâu xa, nước Việt Nam chúng ta đây cũng thế, bởi ngày định xử cuối cùng không sót một án tiết nào hết, phải trả mà thôi, trả đặng định phận cho nhơn loại mới được.

Tiếp Đạo là người tiếp cáo trạng án tiết thì phải quan sát trước coi có oan khúc chi chăng, đáng ra binh vực thì phải dâng lại cho Khai Đạo.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

ÁN TỬ

晏 子

Hay “Yến Tử”.

Án Tử tức Án Anh, người nước Tề đời Xuân Thu, tự là Bình Trọng, làm quan Đại phu, siêng năng lo việc nước.

Án Tử là người nổi tiếng tiết kiệm, bữa ăn ông không hai lần ăn thịt, mặc áo hồ cừu trong suốt ba mươi năm.

Án Tử là người nổi danh khắp thiên hạ. Ông có để lại một quyển sách tựa là “Án Tử Xuân Thu 晏 子 春 秋”, do người đời góp nhặt những công việc ông đã làm, cùng những lời can gián hằng ngày của ông.

Ông Yến Tử tuy là Tể Tướng đầu triều, nhưng con người có tánh cách nho nhã, nề nếp nhà quan, không kiêu hãnh, gương mặt khiêm hoà…

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

ÁNG

1.- Áng là đám, vầng. Như: Một áng mây, một áng cỏ hoang, một áng sao trên bầu trời.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Một luồng thanh phong thổi tới, áng mây bị đẩy đi xa, ánh trăng cũng trở lại tỏ rạng khắp bốn phương trời.

Kìa là ánh bình minh chói rạng,

Rửa tâm phàm đón áng hồng vân.

(Cửu Nương Giáng bút).

2.- Áng có nghĩa là chận lại, cản lại, che lại.

Như: Áng chân lại, cội cây đại thụ áng mặt trời không để rọi sáng.

Ngày chờ mây áng ngàn dâu khuất,

Ðêm bặt đèn khuya một bóng nhìn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trời Tây Ninh, mây áng sao mờ,

Vùng Thánh Ðịa, hoa sầu cỏ úa.

(Hiến Đạo, Văn Tế).

3.- Áng còn dùng để chỉ cái nền, cái vẻ đẹp rực rỡ, lộng lẫy. Như: Một áng văn chương, một áng đào nguyên, một áng phong lưu.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có đoạn: Ấy là áng văn đầy chơn lý đi thẳng vào tâm hồn của Bần Ðạo nó có mãnh lực mạnh mẽ lạ thường. Bần Ðạo tưởng, nếu cả thảy đồng thật hành đúng theo lời thuyết văn mới vừa đọc đây thì mối đạo sẽ lan tràn tốt tươi vô đối.

Chinh phụ trước treo nên giá quý,

Áng văn làm nhuệ khí cầu vinh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Ngoài áng Ðào Nguyên sấn bước vào,

Thiên Thai Tiên đảnh trước cao cao.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

ANH

1.- Anh là người con trai cùng một thế hệ trong gia đình, trong họ, nhưng thuộc hàng trên. Như: Anh ruột, anh rễ, anh họ, anh em chú bác.

Thánh giáo Đức Quan Âm Như Lai có đoạn dạy: Còn gia đình chẳng hoà thì cha con mích nhau, chồng vợ lìa tan, anh em ly tán.

Làm anh lớn dạy em nhỏ dại,

Đạo thờ thân phải trái dắt dìu nhau.

(Phương Tu Đại Đạo).

Hễ làm anh phải nhịn phải nhường,

Vì em dại trăm đường còn khiếm khuyết.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Anh còn là từ dùng để chỉ hoặc gọi người đàn ông còn trẻ, hay là dùng để gọi người đàn ông cùng tuổi hoặc vai anh mình. Như: Anh em cùng Đạo, Anh em kết nghĩa.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy nhứt định đến chính mình Thầy độ rỗi các con, chẳng chịu giao Chánh giáo cho tay phàm nữa. Nhưng mà buộc phải lập Chánh thể, có lớn nhỏ đặng dễ thế cho các con dìu dắt lẫn nhau, anh trước em sau mà đến nơi Bồng đảo.

Bạn anh em cho bởi tay Trời,

Chẳng đặng phép trọng người hơn cốt nhục.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Anh là sáng, đẹp, tài trí hơn người, có tiếng. Như: Anh hoa, anh hào, anh hùng, anh thư, anh kiệt.

Dựng nước chẳng ai tài tướng lược,

Liều mình thiếu kẻ đáng hùng anh.

(Đạo Sử).

Trung thành giữ cõi Nam trào,

Hùng anh trước đặng Ngụy Tào khiếp oai.

(Nữ Trung Tùng Phận).

4.- Anh là đứa bé còn nhỏ tuổi, không dùng một mình. Như: Anh hài 嬰 孩 (đứa bé con), anh nhi 嬰 兒 (con bé còn nhỏ tuổi).

Xem chừng coi mảnh anh nhi,

Co tay đếm tuổi bấy chầy không cha.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Xuân mai ba bảy đã mòn,

Cội thu thêm nảy mấy hoàn anh nhi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

5.- Anh là loài chim oanh, tiếng miền Nam thường gọi là anh.

Như: Anh yến (oanh yến), Yến anh (yến oanh), giành én giựt anh.

Xem: Én anh.

Hơn chi giành én giựt anh,

Thước cưu khuất bóng dựa cành chung nhau.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Không lẽ nói mến anh quên én,

Không lẽ rằng trộm nén hương thừa.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ANH DŨNG

英 勇

Anh: Tài trí hơn người. Dũng: Có sức mạnh.

Anh dũng là người có sức mạnh tinh thần khác thường để dám vượt qua khó khăn nguy hiểm, làm những việc cao đẹp.

Anh là kẻ bất tài vô dụng,

Tôi là người anh dũng tài ba.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

ANH HÀI

嬰 孩

Anh: Con nít mới sinh. Hài: Bé nhỏ.

Anh hài là đứa bé còn sơ sinh.

Như: Giáo tử anh hài (dạy con từ thuở còn thơ).

Chúng ta buổi mới sanh ra còn anh hài không đủ trí thức xét đoán, chúng ta đã thấy gì?...

(Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp).

 

 

ANH HÀO

英 豪

Anh: Tài trí hơn người. Hào: Đứng đầu.

Anh hào, do hai từ “Anh hùng” và “Hào kiệt” ghép nên để chỉ kẻ tài giỏi, có sức mạnh hơn người.

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du có viết: Đường đường một đấng anh hào, Côn quyền hơn sức lược thao gồm tài.

Hay là lạc bước nguồn Đào,

Để thương cho mặt anh hào đeo mang.

(Kinh Thế Đạo).

Ngọc ẩn thạch kỳ ngọc tự cao,

Hoàng thiên bất phụ chí anh hào.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

ANH HOA

英 華

Anh: Tài trí hơn người. Hoa: Rực rỡ.

Anh hoa là những gì tốt đẹp biểu lộ ra ngoài. Ý chỉ tốt đẹp rực rỡ.

Nguyễn Du trong Truyện Kiều có câu: Anh hoa phát tiết ra ngoài, Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa.

Bó lòng thảm, dệt tâm đau,

Nâu sồng cậy phép đổi màu anh hoa.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ANH HÙNG

英 雄

Anh: Cái gì tốt đẹp nhứt trong các loài hoa. Hùng: Vật xuất sắc nhứt trong loài thú.

Theo sách Hoài Nam, Anh hùng có bốn bậc: Anh trí quá muôn người. Tuấn tài trí hơn ngàn người. Hào tài trí hơn trăm người. Kiệt tài trí hơn mười người.

Thánh Giáo Thầy có câu: Muôn việc chi khởi đầu đều khó, nhưng cái khó mình lướt qua đặng, mới có công, mới anh hùng, mới chí sĩ, mới đáng đạo sĩ.

Phơi gan xử thế nết anh hùng,

Xấu mặt mà lòng thiệt rất trung.

(Đạo Sử).

Con xem từ trước đến chừ,

Đấng anh hùng gặp anh thư mấy người?

(Nữ Trung Tùng Phận).

Mặt anh hùng ở tại nơi đâu,

Phải kén chọn gieo cầu cho đáng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ANH LẠC

瑛 珞

Anh lạc là xâu chuỗi ngọc, lấy ngọc châu xâu từng chuỗi đeo vào cổ cho đẹp gọi là Anh lạc.

Tục người phụ nữ sang trọng Ấn Độ thường trang sức bằng xâu chuỗi ngọc Anh lạc.

Trong kinh Cứu Khổ, chữ “Anh lạc” chỉ xâu chuỗi thần thông của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát.

Kinh “Quán Vô Lượng Thọ”, nơi phần quán thân tướng Đức Quan Thế Âm, Phật có nói về xâu chuỗi Anh lạc Quan Thế Âm như sau: “Cánh tay của Bồ Tát như sắc hoa sen hồng, có tám mươi ức tia sáng nhiệm mầu dường như chuỗi Anh lạc, trong ấy hiện ra tất cả việc trang nghiêm…”

Trong Kinh Cứu Khổ, Đức Quan Thế Âm Bồ Tát có dạy: Ngài không cần phải lấy xâu chuỗi Anh lạc để giải khổ nạn hay bịnh tật… mà chúng sanh chỉ cần siêng năng tụng niệm ngàn muôn biến kinh, ắt được giải thoát.

Tự ngôn Quan Thế Âm, Anh lạc bất tu giải. Cần độc thiên vạn biến tai nạn tự nhiên đắc giải thoát.

(Kinh Cứu Khổ).

 

 

ANH LINH

英 靈

Anh: Tốt đẹp. Linh: Thiêng liêng.

Anh linh là cái khí anh hoa, đẹp đẽ và linh thiêng tự trời sinh cho chung đúc lại.

Chữ “Anh linh” còn có nghĩa là sự thiêng liêng của anh hồn người đã chết. Như: Nghiêng mình trước anh linh các liệt sĩ.

Hồn định tỉnh đã vừa định tỉnh.

Phách anh linh ắt phải anh linh.

(Kinh Tận Độ).

Nửa mái tóc tơ còn buộc trói,

Ðem mình toan gởi cửa anh linh.

(Đạo Sử).

Muôn kiếp anh linh trang tuấn kiệt,

Ngàn thu hiển hích bậc cao ngôi.

(Thơ Khai Pháp).

 

 

ANH MINH

英 明

Anh: Tài trí hơn người. Minh: Sáng suốt.

Anh minh là tài ba, sáng suốt hơn người. Thường dùng để chỉ nhà vua sáng suốt.

Như: Vị lãnh tụ anh minh, đấng anh minh.

Mưu định quốc anh minh trị nước,

Giúp giống nòi bảo được tự do.

(Kinh Cúng Chiến Sĩ).

Đáng bậc làm người trên cõi thế,

Đạo đời trọn phận mới anh minh.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

ANH NHI

嬰 兒

Anh: Con nít mới sinh. Nhi: Trẻ bé.

Anh nhi là đứa bé mới sinh. Đồng nghĩa với “Anh hài 嬰 孩” hay “Hài nhi 孩 兒”.

Trong quyển Giáo Lý, Ngài Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có câu: Thể hiện được phép thanh tịnh thì Tâm Đức trở về với vô vi, vô danh, mà hễ Tâm Đức đạt đến chỗ trí hư thì dung mạo trở về chỗ mộc mạc hồn nhiên như anh nhi chi vị hài.

Chiếu nhũ lịnh Từ Huyên thọ sắc,

Độ anh nhi nam, bắc, đông, tây.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

Con người đứng phẩm tối linh,

Nửa người nửa Phật nơi mình anh nhi.

(Kinh Tận Độ).

 

 

ANH PHONG

英 風

Anh: Tốt đẹp, cao quý. Phong: Dáng dấp bên ngoài, hoặc phong tục, tức thói quen lâu đời.

1.- Anh phong là dáng dấp, hay phẩm cách cao quý.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Trải thân hữu dụng để phục vụ cho Ðạo và nhân sanh hay lấy chí anh phong để phụng sự quốc gia, giữ gìn biên cương lãnh thổ, khi nợ trần giũ sạch, nhục thể trả lại cho lòng đất thì dù Ðạo hay Ðời, những linh hồn bất diệt cũng đều được hưởng sự ban thưởng Thiêng Liêng, quy hồi cựu vị trong cõi Thần Thánh Tiên Phật.

Hỡi nào kẻ lo lường nghiệp Đạo,

Hỡi những trang nóng máu anh phong.

(Bát Nương Giáng Bút).

Nấu sôi cái máu anh phong,

An bang tế thế một lòng lo âu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Non nước điểm tô hồn chí sĩ,

Cõi bờ đậm vẻ máu anh phong.

(Thơ Tiếp Đạo).

2.- Anh phong còn dùng để chỉ phong tục tập quán tốt đẹp đã có từ lâu đời.

Như: Làng nầy từ xưa có tiếng là anh phong.

Nước nhà ta có tiếng anh phong,

Vẻ đẹp trời Ðông sắc Lạc Hồng.

(Đạo Sử).

Hồn thiêng đất nước trời noi dấu,

Đầy nét anh phong vẻ hữu thần.

(Thơ Hiến Pháp).

Hiệp Thiên rạng giữ lòng chung thỉ,

Tạc dấu anh phong để quán đời.

(Thơ Khai Pháp).

 

 

ANH QUÂN

英 君

Anh: Tài trí hơn người. Quân: Vua.

Anh quân tức là vị vua thông minh, sáng suốt, tài trí hơn người, an trị được thiên hạ.

Anh quân đồng nghĩa với chữ “Minh quân 明 君”.

Mặc dầu nước Việt Nam của chúng ta đang bị hăm doạ bởi nạn xâm lăng, nhưng Đức Cao Hoàng một Đấng anh quân đã dày công gầy dựng san hà…

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

ANH TÀI

英 才

Anh: Tài trí hơn người. Tài: Tài giỏi.

Anh tài nói người tài giỏi xuất sắc.

Nữ anh tài là người đàn bà, con gài tài trí xuất sắc hơn mọi người.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Bát Nương Diêu Trì Cung có câu: Nữ anh tài thì không thiếu, nhưng thiếu kẻ có đức đó thôi.

Hảo tai một gái nữ anh tài,

Mới biết mà tâm Ðạo quá hay.

(Đạo Sử).

Khoe tài phải có nét anh tài,

Dưới thế xem tường chẳng đặng hai.

(Đạo Sử).

Ngẩn bút hoà thi tủi phận ai,

Trời xanh vội lấp nữ anh tài.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

ANH TUẤN

英 俊

Anh: Tài trí. Tuấn: Tài giỏi hơn người.

Anh tuấn là người có dáng đẹp đẽ, thông minh và tài giỏi hơn người.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Quân Đội của các con thành lập đặng cũng do toàn thể trụ cả năng lực trên nền tảng nghĩa nhân, đạo đức, ngọn cờ cứu khổ của các con xuất hiện nơi nào thì nhân sanh nơi ấy đều phải đặng các con bảo vệ, cứu hiểm phò nguy mà làm cho rạng danh anh tuấn của non sông chủng tộc.

Trường đời đem thử gan anh tuấn,

Cửa Đạo mới ra bậc Thánh Hiền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Anh tuấn đất gìn nung khí phách,

Uy linh Trời giữ tạc đài liên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nam khí hưng suy dân khí phát,

Nên trang anh tuấn mặt tài danh.

(Đạo Sử).

 

 

ANH THƯ

英 姐

Anh: người tài trí. Thư: Chữ dùng để gọi người đàn bà, con gái.

Anh thư dùng để chỉ người đàn bà tài giỏi, anh hùng.

Trong lịch sử Việt Nam, hai bà Trưng, bà Triệu được xưng tụng là “Anh thư nữ kiệt 英 姐 女 傑”.

Tuy mang lấy tiếng hồng quần,

Cảnh Tiên còn mến, cõi trần anh thư.

(Bài Thài Nhị Nương).

Con xem từ trước đến chừ,

Đấng anh hùng gặp anh thư mấy người?

(Nữ Trung Tùng Phận).

Nắn nhồi trí huệ thành binh khí,

Rèn chất anh thư đấp lũy đồn.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

ÁNH

Ánh là tia sáng do một vật phát ra hoặc phản chiếu lại. Như: Ánh đèn, ánh trăng, ánh kim loại.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Tu hành vẫn trái với thế tục, mà trái với thế tục mới đặng gần ánh thiêng liêng.

Ánh hồng chiếu đường mây rỡ rỡ,

Cõi Xích Thiên vội mở ải quan.

(Kinh Tận Độ).

Hình Bào lạc cột đồng vòi vọi,

Đốt lửa hồng ánh giọi chói loà.

(Kinh Sám Hối).

Cội Bắc chim về chiều ngả bóng,

Non Nam ác lố ánh tan sương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

ÁNH SÁNG

Ánh: Tia sáng do một vật phát ra. Sáng: Rạng tỏ.

Ánh sáng là cái soi sáng vật chung quanh và giúp cho mình trông thấy mọi vật được.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Thì con người lúc ấy đã mất hẳn ánh sáng thiêng liêng và kiếp sống như thế trở nên nguy hiểm cho xã hội.

Theo bước kịp thì tìm ánh sáng,

Ngừa thuyền ấy lúc lánh dòng sâu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Bóng mặt trời vừa khuất đầu non,

Coi ánh sáng chiều còn tỏ rõ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ÁNH CHÍ LINH

Ánh: Tia sáng do một vật phát ra. Chí Linh 至 靈: Rất linh thiêng, ở đây chỉ Đức Chí Tôn.

Ánh Chí Linh là ánh sáng của Đức Chí Tôn, ý nói những lời dạy bảo, dẫn dắt của Ngài theo con đường chánh đại quang minh.

Xem: Chí Linh.

Để tâm dưới ánh Chí linh,

Soi tường chơn lý chỉ rành chánh văn.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

ÁNH HỒNG QUÂN

Ánh: Tia sáng do một vật phát ra. Hồng Quân 洪 鈞: Khuôn lớn, chỉ Đấng Hoá Công.

Ánh Hồng Quân là ánh sáng của Đức Thượng Đế.

Xem: Hồng Quân.

Kìa Thiên cảnh con đường vọi vọi,

Ánh Hồng Quân đương chói Ngọc Lầu.

(Kinh Tận Độ).

 

 

ÁNH SÁNG

Ánh: Tia sáng do vật phát ra hoặc phản chiếu lại. Sáng: Tỏ có thể nhìn thấy được.

Ánh sáng là cái soi sáng những vật chung quanh và giúp ta trông thấy được.

Ánh sáng còn có nghĩa sự soi sáng, sự hướng dẫn, như: Ánh sáng Thiêng Liêng, Ánh sáng khoa học.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Một lần sa ngã cũng chưa phải hại lớn, ngặt nỗi cái sa ngã này lôi cuốn cái sa ngã khác, thất tình lục dục thay phiên nhau đưa đẩy ta đi đến mức đường cùng; tối tăm ô trược, tức là ta bị đắm đuối giữa vực thẳm hang sâu. Là vì cái sáng suốt thiêng liêng ở nơi mình không khêu lên lại làm cho nó bị lu mờ và bị vùi lấp cho đến chỗ bế tắc. Thì con người lúc ấy đã mất hẳn ánh sáng thiêng liêng và kiếp sống như thế trở nên nguy hiểm cho xã hội.

Theo bước kịp thì tìm ánh sáng,

Ngừa thuyền ấy lúc lánh dòng sâu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Bóng mặt trời vừa khuất đầu non,

Coi ánh sáng chiều còn tỏ rõ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ÁNH THÁI DƯƠNG

Ánh: Tia sáng do một vật phát ra. Thái dương 太 陽: Mặt trời.

Ánh thái dương là ánh sáng mặt trời.

Theo sự phân tích về âm dương, mặt trời được người xưa quan niệm là dương, nên gọi là Thái dương; còn mặt trăng là âm nên gọi là Thái âm.

Ánh Thái dương, ánh sáng mặt trời, là nguồn sống của mọi sinh vật và cũng là nguồn sáng phá tan những bóng tối bao trùm trên quả địa cầu nầy, cũng là Đạo.

Ánh Thái dương mọc ở phương Đông còn được hiểu Đạo đến từ phương Đông (Đạo xuất ư Đông 道 出 於 東), đem giáo pháp tiêu trừ, xoá tan những bóng tối khổ đau và tội lỗi của chúng sanh, và mang đến ánh sáng hạnh phúc cho nhơn loại ở cõi trần gian nầy.

Biển trần khổ vơi vơi Trời nước

Ánh Thái Dương giọi trước phương đông.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

ÁNH XÁ LỢI

Ánh: Ánh sáng. Xá lợi 舍 利: Hạt xá lợi, một loại ngọc khi thiêu xác của bậc đắc Đạo. Ở đây, xá lợi chỉ Chơn thần của người đắc Đạo.

Ánh xá lợi tức là ánh hào quang từ Chơn thần của chư Phật.

Ánh Xá lợi sáng ngời Cực Lạc,

Hiển kim thân Bồ Tát hoá duyên.

(Xưng Tụng Công Đức).

 

 

ẢNH HƯỞNG

影 響

Ảnh: Bóng, cái gì có hình tất có bóng. Hưởng: Tiếng động gió vang ứng lại.

Có hình thì có bóng, có tiếng thì có vang, cho nên sự gì cảm ứng rõ rệt gọi là ảnh hưởng.

Như vậy ảnh hưởng là tác dụng của vật nọ đối với vật kia, làm cho vật thứ hai ít nhiều chịu sự chi phối bởi vật thứ nhứt.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Thầy tỏ thật, cái luật lệ Thầy khiến các con hiệp chung trí mà lập thành đây, nó có ảnh hưởng về đạo đức, Tiên phong Phật sắc của các con, nên Thầy buộc mình cam chịu vậy.

Khá nhớ đạo nhơn luân là trượng,

Phép gia đình có ảnh hưởng đến nhơn quần.

(Phương Tu Đại Đạo).

Cho đời biết lý Ðạo khai,

Linh hồn ảnh hưởng trần ai lẽ nào.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

AO

Ao là chỗ đào sâu xuống đất để giữ nước nuôi cá, thả bèo, trồng rau, sen.

Như: Đào ao nuôi cá, ao rau muống, ao sen.

Thuyết về Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống, Đức Hộ Pháp có câu: Muốn đến Bát-Quái-Đài chúng ta phải qua ao Ô trì chúng ta thấy, Bát-Quái-Đài nó thù lù ở dưới trồi lên trước mặt chúng ta, chúng ta thấy hình nó giống như cây cột có tám cửa vậy.

Ao nước nóng sôi thì sục sục,

Dầm cho người rã rục thịt xương.

(Kinh Sám Hối).

 

 

AO NGHIÊN RUỘNG GIẤY

Ao nghiên: Nghiên của anh đồ ví như cái ao.

Ruộng giấy: Tấm giấy của anh đồ ví như mảnh ruộng.

Đối với người nông dân, ao và ruộng là thứ tạo ra cơm áo để nuôi sống con người.

Riêng đối với người học trò lấy cái nghiên làm ao, lấy giấy hay chữ nghĩa thay ruộng để sau này tạo ra tiền tài có điều kiện để mưu sinh. Vì vậy mới gọi là “Ao nghiên ruộng giấy”.

Ao nghiên ruộng giấy lo cày mãi,

Thuyền huệ lần qua lượn sóng đào.

(Thơ Vạn Năng).

 

 

AO ƯỚC

Ước: Mong mỏi.

Ao ước, hay Ước ao là mơ ước một điều gì đó, hoặc thích những điều gì mình chưa có.

Như: Ao ước mình được đi xa, đứa bé ao ước lớn lên gặp lại mẹ nó.

Thánh giáo Lục Nương Diêu Trì Cung có câu: Hèn lâu, Em ao ước sao đặng hội hiệp cùng mấy chị cho thân mật tâm tình, nhưng không phương chi đặng.

Giải tộ mầng ông lánh cửa hầu,

Phỉ tình ao ước bấy nhiêu lâu.

(Thơ Thuần Đức).

Ngày thỉnh thoảng lòng hằng ao ước,

Hiếu đạo tròn trỗi bước hành tu.

(Thơ NĐS Hương Thanh).

 

 

AO TÙ

Ao: Chỗ đào sâu xuống đất để giữ nước nuôi cá, trồng rau. Tù: Nước bị ứ đọng, không chảy thoát được.

Ao tù là ao đọng nước dơ bẩn, không có chỗ chảy thoát, nghĩa bóng cùng cực, không có lối thoát.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Con người vì mồi danh bả lợi, vì miếng đỉnh chung, vì cảnh xa hoa phù phiếm mà lắm lúc phải đem thân vùi dập dưới vực thẳm ao tù. Ðến lúc hối hận, tỉnh giấc mộng trần thì ôi thôi quá muộn!

Dấn thân vào chốn ao tù,

Để làm nô lệ vinh phù lấy thân.

(Nhị Nương Giáng Bút).

 

 

AO THẤT BỬU

Ao: Chỗ đào sâu xuống đất để giữ nước. Thất bửu 七 寶: Bảy món báu.

Ao Thất Bửu, còn gọi là “Thất Bửu trì 七 寶 池”, tức là cái ao làm bằng bảy món báu vật, như Kim 金, ngân 銀, lưu ly 琉 璃, pha lê 坡 璃, xa cừ 硨 磲, xích châu 赤 珠, mã não 瑪 瑙. Ao này nằm ở cõi Cực Lạc Thế Giới.

Theo Kinh Vô Lượng Thọ, Ao Thất Bửu chính là nơi thai sen nở để những người tu hành đắc quả Phật được sanh vào Cực Lạc, mà cũng là nơi để người cõi Cực Lạc tắm gội trong ấy.

Nước trong ao Thất bửu có đủ tám công đức: Trừng tịnh (lắng trong, tinh khiết), thanh lãnh (trong trẻo, mát lạnh), cam mỹ (ngon ngọt), khinh nhuyễn (nhẹ nhàng, mềm mại), nhuận trạch (tươi tắn, thắm nhuần), an hoà (êm ả, không chảy xiết, kêu gầm), trừ cơ khát (uống hết đói khát), trưởng dưỡng thiện căn (tăng trưởng, nẩy nở căn lành). Do có tám công đức, nước trong cõi Cực Lạc được xưng tụng là Công đức thuỷ.

Vì nước trong ao Thất Bửu có công đức trừng tịnh, trưởng dưỡng thiện căn nên Chơn hồn nào có ân huệ tắm gội nơi ao ấy, uế trược sẽ được tẩy trừ, thiện căn sẽ được tăng trưởng, nẩy nở.

Nơi Châu thành Thánh địa, vào năm 1951, tại Đoạn Trần Kiều, gần bên Trí Huệ Cung, Đức Hộ Pháp cho xây một cái ao, gọi là Ao Thất Bửu để người tu đến đó tắm, hầu gội sạch bợn trần. Đây là một thể pháp của nền Đại Đạo.

Ao Thất Bửu gội mình sạch tục.

Ngôi liên đài quả phúc Dà Lam.

(Kinh Tận Độ).

Kiến Diện Thiên Thai lòng hớn hở,

Tắm ao Thất Bửu gội trong nần.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

ÁO

Áo là đồ mặc che nửa thân trên của con người. Như: Áo đơn, áo kép, áo ấm, áo bông.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Ðạo là tình thương, người đồng Ðạo phải sống trong tình thương vô tận, có khi phải nhường cơm chia áo cho nhau, tức là lá lành chở che lá rách, Ðạo mới được cao siêu, người Ðạo mới thoát tục.

Nhuộm áo nâu sồng về Cực Lạc,

Trau gươm trí huệ phủi đai cân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nâu sồng nhuộm áo pha màu khổ,

Tránh mối oan khiên chớ buộc mình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

ÁO BẢ

Áo: Đồ mặc che nửa thân trên của con người. Bả: Sợi xe bằng tơ gai, dùng để buộc điều, đan lưới.

Áo bả là áo may bằng vải thô sơ.

Thành ngữ có câu “Áo bả hài gài” là nói việc ăn mặc tiện tặn, đơn giản như mặc áo bằng vải thô, mang giày cỏ, ý chỉ việc ăn mặc của người tu hành, ẩn dật.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy nhớ xưa, kẻ mộ Ðạo chịu ngàn cay muôn đắng, biết có người mà chẳng biết nhọc mình, hài gai áo bả, đội nguyệt mang sao, gió trước lọt chòi tranh, mưa sau hư giậu lá, bần hàn chẳng quản, tay trắng dìu người, một mảy không bợn nhơ, mới có thể lập ngôi cho mình đặng.

Chẳng kể già áo bả quần manh,

Để cho trẻ đẹp xinh cùng thế sự.

(Phương Tu Đại Đạo).

Vui say mùi Đạo chán tuồng đời,

Áo bả hài gai chí thảnh thơi.

(Thơ Thái Đến Thanh).

Hài gai đội nguyệt lòng trong sạch,

Áo bả mang sao, dạ trắng ngần.

(Thơ Phạm Mộc Bổn).

 

 

ÁO CHẦU

Áo chầu, như chữ “Triều phục 朝 服”, tức là quần áo của các quan mặc dành để vào cung đình hầu chờ nghe lệnh của vua chúa.

Như: Mỗi khi vào triều, các quan phải mặc áo chầu.

Non sông đượm vẻ màu tươi thắm,

Hồng lạc thay lông đẹp áo chầu.

(Lý Giáo Tông).

 

 

ÁO CHẾ

Áo: Đồ mặc che nửa thân trên của con người. Chế: Tang chế.

Áo chế tức là áo tang. Theo Kinh Lễ, ngày xưa các vị Thánh hiền chế ra các loại quần áo mặc khi có tang để phân biệt cấp bực của tang chế, như áo trảm thôi, áo tư thôi, do đó mà gọi là “Áo chế”.

Xem: Áo Tang.

Quả phụ dầu xa manh áo chế,

Tàn y còn giữ mảnh hương nồng.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

ÁO DÀ

Áo: Đồ mặc để che kín nửa thân hình trên. Dà: Cây nhỡ, vỏ màu nâu đỏ, dùng để nhuộm vải, sợi. Màu dà, tức màu nâu đỏ.

Áo dà là áo màu nâu, còn gọi là “Nâu sồng”, dùng cho các tu sĩ Phật giáo, ý chỉ người tu hành.

Áo dà cũng muốn mặc, giày đạo cũng muốn mang, muốn đứng trước cả nhơn sanh để cho họ biết mình là hướng đạo.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

ÁO DÀI

Áo: Đồ mặc để che kín nửa thân hình trên. Dài: Nói về một chiều so với chiều khác nhiều hơn, trái với ngắn.

Áo dài là loại áo có vạt dài đến giữa ống chân, khuy cài từ cổ xuống nách và một bên hông.

Đạo phục của tôn giáo Cao Đài là quần và áo dài trắng, khăn đóng đen.

Ba ông mặc áo dài khăn đóng,

Sáu mắt nhìn trang trọng uy nghiêm.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

ÁO GẤM VỀ QUÊ

Áo gấm: Áo may bằng gấm. Về quê: Thi đậu được vua ban phẩm tước về làng.

Áo gấm về quê, do câu thành ngữ “Ý cẩm hoàn hương 衣 錦 還 鄉” tức là mặc áo gấm trở về làng.

Thơ Lý Bạch đời nhà Đường có viết: “Công thành ý cẩm hoàn 功 成 衣 錦 還”, nghĩa là khi được thành công, mặc áo gấm về làng.

Áo gấm về quê do tục lệ khi một sĩ tử đi thi, bảng hổ đã đề danh thì được vinh quy bái tổ, tức là nhà vua sẽ ban cho áo gấm để mặc về làng quê làm vinh hiển Tổ tiên.

Nghĩa thường: Khi được vinh hoa phú quý, ăn mặc rạng rỡ để trở về làng quê.

Áo gấm về quê thật rõ ràng,

Đầu Hương mừng bạn nhiệm Từ Quang.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

ÁO GIÁP

Hay “Thiết giáp 鐵 甲”.

Áo: Đồ mặc để che kín nửa thân hình trên. Giáp: Áo bằng da, bằng sắt, mặc khi ra trận.

Áo giáp là loại áo của các vị tướng ngày xưa mặc có kết vảy sắt để đỡ tên đạn, đao kiếm, còn gọi là bộ “Thiết giáp 鐵 甲” hay “Chiến bào 戰 袍” tức áo chiến.

Trong Tôn Giáo Cao Đài, chữ “Thiết Giáp 鐵 甲” được dùng để chỉ đạo đức của con người, như lời Thánh Giáo Đức Chí Tôn đã dạy: Chung quanh các con, dầu xa dầu gần, Thầy đã thả một lũ hổ lang ở lộn với các con. Thầy hằng xúi chúng nó thừa dịp mà cắn xé các con, song trước Thầy đã cho các con mặc một bộ thiết giáp, chúng nó chẳng hề thấy đặng là đạo đức của các con.

Xem: Thiết giáp.

Áo giáp Thầy ban quên giữ lấy,

Thiên điều định tội khó cầu xin.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

ÁO LỤA GỞI TÌNH THƯƠNG

Áo lụa gởi tình thương do câu “Đề bào thuỳ ái 綈 袍 垂 愛” trong sách Ấu Học Quỳnh Lâm.

Do tích trong sách Quốc Ngữ ghi: Phạm Huy tự là Thúc Du, thờ nước Nguỵ, theo ông Tu Cổ đi sứ nước Tề. Vua Tề nghe Huy là người có khẩu biện, cho ông vàng. Ông Tu Cổ nghi ông Huy đem việc riêng nước Nguỵ cho vua Tề biết. Tu Cổ về tố cáo với quan Tướng Quốc là Nguỵ Tề. Nguỵ Tề giận, nọc đánh ông Huy nát thịt. Huy giả chết, xác bị đem bỏ vào nhà xí, được người nước Nguỵ là Trịnh Án Bình cứu thoát.

Ông Huy thay tên đổi họ, cùng với sứ nước Tần là ông Vương Khể trốn qua nước Tần. Ông Khể tiến cử với vua Chiêu Vương, Chiêu Vương dùng Huy làm quan Tướng.

Huy nghe sứ nước Nguỵ là Tu Cổ đến, Huy bèn lén đi một mình, áo rách chân trần, đến khách xá ra mắt Cổ. Ông Tu Cổ kinh dị hỏi: Phạm Thúc! Ta cho rằng nhà ngươi đã chết rồi, nay nhà ngươi còn đây! Có việc gì? Huy thưa: Tôi làm công cho một người. Ông Cổ thương xót Huy mà rằng: Phạm thúc đói lạnh thế này! Bèn lấy áo lụa tặng cho.

Đi sứ sang Tề, nghi hại bạn,

Còn đem áo lụa gởi tình thương.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

ÁO MÃO

Áo: Đồ mặc để che kín nửa thân hình trên. Mão: Mũ đi chầu, nói chung mũ đội đầu.

Áo mão, bởi chữ “Y mạo 衣 帽” là cái áo và chiếc mão, ý chỉ quyền hành và danh vọng.

Áo mão là đồ triều phục, tức là những phẩm phục dành cho các quan hay các chức sắc của Tôn giáo ăn mặc để chầu vua hay triều bái Đức Chí Tôn cùng các Đấng Thần, Thánh, Tiên, Phật.

Thánh Giáo Chí Tôn có dạy: Các con nên nhớ, Thầy lấy từ bi phong tịch, nhưng Chức sắc nếu vì áo mão hơn đạo đức thì tội chất bằng hai.

Lợi danh chưa toại đành buông đứt,

Áo mão lỡ làng biết máng đâu.

(Thơ Hộ Pháp).

Áo mão đầy rừng trơ mặt khỉ,

Cụng đầu tà chánh mới kêu Thiên.

(Thơ Hộ Pháp).

Áo mão bày hàng nơi thị trấn,

Chính đồ triều phục hoá đồ chơi.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

ÁO NÃO

懊 惱

Áo: Bực bội, hờn giận. Não: Phiền muộn.

Áo não là phiền muộn, buồn thảm. Như: Ngồi đợi mà trong lòng áo não.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy nói: Các con, Hội Thánh là vầy các con há? Áo não! Thảm thay!

Nhớ mẹ ngậm ngùi khi vĩnh biệt,

Sầu cha áo não cuộc tồn vong.

(Thơ Cao Hương Cường).

 

 

ÁO NGỰ HÀN

Áo: Đồ mặc để che kín nửa thân hình trên. Ngự: Chống lại. Hàn: Lạnh.

Ngự hàn là chống lại cơn lạnh.

Áo ngự hàn là loại áo lạnh, mặc chống lại cơn lạnh từ bên ngoài để cơ thể được ấm áp.

Đau nhìn thôn dã thương ai đó,

Nghèo đói thân không áo ngự hàn.

(Thơ Huệ Phong).

Trần ai thiếu áo ngự hàn,

Chợ đời thừa cả muôn ngàn cuộn tơ.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

ÁO QUẦN

Áo: Đồ may bằng vải, lụa, mặc từ cổ xuống che lưng, bụng, ngực. Quần: Đồ mặc từ thắt lưng trở xuống, chủ yếu che mông, chân hoặc đùi.

Áo quần, như chữ “Quần áo”, là từ dùng chỉ đồ mặc để che thân người.

Diễn văn Đức Quyền Giáo Tông đọc tại Toà Thánh trong dịp vía Đức Thích Ca có câu: Thí dụ như đi độ rỗi nhơn sanh phải nói Ðạo cho người nghe, như phải lập mấy cuộc để giúp thế đang nguy nan, như nhà trường dạy kẻ cô độc học, nhà thương, nhà dưỡng lão cùng các nghề nghiệp cho đạo hữu có phương làm ăn đặng cơm tẻ ngày hai, có áo quần che thân ấm cật.... thì chúng ta phải lo hết rồi các Ðấng Thiêng Liêng ám trợ cho thành tựu.

Xem: Quần áo.

Vào bếp núc chỗ nhơ không kể,

Phơi áo quần chẳng nể Tam quan.

(Kinh Sám Hối).

Áo quần hàng lụa bóng dờn,

Năm thê bảy thiếp tình nhơn cũng nhiều.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

ÁO TƠI

Áo: Đồ mặc của con người, che lưng ngực và bụng. Tơi: Nói tắt của áo tơi, như: Mang tơi đội nón.

Áo tơi là áo che mưa bằng lá cọ, không có tay.

Ca dao có câu: Trời mưa thì mặc trời mưa, Chồng tôi đi bừa đã có áo tơi.

Cổi thân ra mảnh áo tơi,

Che mưa đỡ nắng cho đời nguy nan.

(Bát Nương Giáng Bút).

Đạp giày cỏ nương cây gậy bá,

Mặc áo tơi nón lá che thân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ÀO

Ào di chuyển một cách nhanh và mạnh, không kể gì trở ngại.

Như: Nước lụt chảy ào vào cánh đồng, gió thổi ào vô cửa sổ, mưa ào tới.

Hương còn bát ngát chốn Nam giao,

Thoạt thấy phong ba vụt thổi ào.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

ẢO MỘNG

Hay “Huyễn mộng”.

Ảo (Huyễn): Không có thực. Mộng: Giấc chiêm bao.

Ảo mộng, như chữ “Huyễn mộng 幻 夢”, là giấc chiêm bao không có thực, dùng để nói những cảnh, những việc trong thế gian không thực, thoạt có thoạt không.

Như: Nuôi ảo mộng, ảo mộng ngông cuồng.

Xem: Huyễn mộng.

Cuộc thế chẳng qua trò ảo mộng,

Ngày về nhắm mắt nắm tay không.

(Đạo Sử).

Đời giả tạm như luồng chớp nhoáng,

Mọi sự đều ảo mộng vô thường.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

ÁP BỨC

壓 逼

Áp: Đè, đè nén, ngăn giữ. Bức: Bắt ép.

Áp bức là đè nén và tước hết mọi quyền tự do.

Thánh giáo Đức Hộ Pháp có câu: Bần đạo nhớ lại lúc ban sơ bị áp bức đủ điều, mà cũng phải cam tâm làm tròn nhiệm vụ. Nếu vì thiếu luyện kỷ thì cũng vì tự ái mà bán đồ nhi phế cũng như ai mà chớ.

Trò áp bức trẻ con quá lẽ,

Quyết vùng lên bứt xé buộc ràng.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

ÁP CHẾ

壓 制

Áp: Đè, đè nén, ngăn giữ. Chế: Trị, ngăn giữ.

Áp chế là ép buộc, ngăn giữ.

Áp chế còn có nghĩa dùng sức mạnh để ép buộc và chế ngự kẻ yếu hơn mình.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có dạy: Các con ôi! Các con đã chịu lắm khổ não nơi biển trần nầy. Từ mười ngàn năm rồi đã ở dưới quyền Tà quái áp chế.

Cửa Sàigòn tính bán áp chế nội hàng,

Gạo bắp chở ngoại bang giành phần xuất cảng.

(Ngụ Đời).

 

 

ÁP DỤNG

押 用

Áp: Đưa đến gần, liền kề, giáp. Dụng: Dùng.

Áp dụng nghĩa là đem dùng trong thực tế điều đã nhận thức được.

Thánh giáo Đức Hộ Pháp tại Giáo Tông Đường, ngày 12 tháng 11 năm Ất Tỵ (Dl. 4-12-1965) có câu: Nay đã đến lúc phải đem vấn đề nầy ra bàn định rõ ràng cho các bạn thấy và hiểu rằng thuyết “chánh danh” bất luận ở thế hệ nào và trường hợp nào cũng áp dụng hữu hiệu, cho nên trong Nho tông cũng có thuyết ấy làm quan hệ cho việc làm, vì danh có chánh thì ngôn mới thuận.

Thực hành chữ Nhân tức là áp dụng Thiên lý vào đời sống thật tế.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

ÁP ÚT

Áp: Giáp, sát bên, liền ngay, ở tình trạng kế cạnh, ngay bên nhau. Út: Sau cùng, hoặc nhỏ tuổi nhất trong hàng các con.

Áp út là chỉ người con hoặc em liền với đứa út.

Như: Cha mẹ sanh ra sáu người con, tôi là đứa áp út.

Ngao ngán không phân lẽ thiệt không,

Thấy thằng áp út quá buồn lòng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

ĂM ẤP

Ắp: Đầy đến mức không còn chứa vào được nữa.

Ăm ắp là tiếng láy của chữ “Ắp”, có nghĩa là đầy không chứa thêm được nữa.

Như: Nước chứa trong lu đầy ăm ấp.

Huệ trí phải lo dưỡng tánh chơn,

Ðừng lo ăm ắp thiệt cùng hơn.

(Đạo Sử).

 

 

ẴM

Ẵm là bế, bồng, ôm bằng hai tay mà nâng lên. Như: Mẹ ẵm con, ẵm nách, tay ẵm tay bồng.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Thầy vì công lý mà khai đạo cho các con, cũng là một phúc hạnh lớn cho các con. Nếu Thầy còn đưa tay bồng ẵm thì các con chẳng còn để ý chịu nhọc vì Ðạo.

Nâng niu lúc ẵm khi bồng,

Phụ thân thế phận cho chồng dạy khuyên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Dầu mình vinh kẻ cúi người lòn,

Cũng nhớ thuở cha ẵm con ngồi đợi mẹ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ẴM BỒNG

Ẵm, bồng đều có nghĩa là bế, tức dùng tay đỡ và giữ sát vào lòng.

Ẵm bồng, như chữ “Bồng ẵm”, là dùng hai tay đỡ và giữ lấy, thường là trẻ sơ sinh, hoặc trẻ nhỏ cho sát vào người khi di chuyển.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Lớn lên chút nữa, hiểu rằng nếu không cha và mẹ thì không có ta và cũng không biết tại sao mà biết ổng là cha, dầu trí khôn chưa đủ, Ông chạy bữa cho mẹ nuôi thì ta hiểu ngay rằng nếu không ổng thì mẹ ta không đẻ ta được. Tự nhiên ta không thấy ổng nuôi nấng ẵm bồng và nhiều khi không ngó tới mà ta vẫn biết ổng là cha ta cũng trọng cũng thương yêu tự nhiên đó là chơn.

Mẹ già thổn thức nào an dạ,

Đổ lụy vì đâu vắng ẵm bồng.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

ĂN

1.- Ăn là tự cho vào miệng những thức ăn để nuôi dưỡng cơ thể. Như: Ăn cơm, ăn bánh, ăn quả mận.

Thánh giáo Thầy có câu: Kinh điển giúp đời siêu phàm nhập Thánh, chẳng khác chi đũa ăn cơm, chẳng có đũa, kẻ có cơm bốc tay ăn cũng đặng.

Cha mẹ giàu để con bồ lúa,

Cha mẹ nghèo để đũa ăn cơm.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Ăn là nói chung về sự ăn uống, sự tiêu pha. Như: Ăn chay, ăn bám, ăn chơi, ăn chực, miếng ăn.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Muốn cứu vãn tình thế Tiên Nho buộc cả nhà vua và Triều chánh dĩ chí toàn dân phải ăn chay, nguyện, tế, gọi là lễ Nam Giao.

Về ai một cái nghiệp nhà tan,

Chẳng chịu làm ăn cứ điếm đàng.

(Đạo Sử).

Hỏi thử ăn chay thì ngán miệng,

Ðeo theo thịt rượu với bôn xu.

(Đạo Sử).

Chẳng lẽ khó, đem con ra đợ,

Một miệng ăn núi lở non mòn.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Ăn là phải nhận lấy, chịu lấy những cái không hay về mình.

Như: Ăn đạn, nó vừa bị ăn đòn, ăn đau nuốt thảm, ăn cay nuốt đắng.

Mở lối vườn xưa ong vắng dạng,

Hại người uống thảm với ăn đau.

(Đạo Sử).

Nào là lúc ăn cay nuốt đắng,

Nào là khen rồi mắng bao phen.

(Nữ Trung Tùng Phận).

4.- Ăn là thu nhận hay tìm cách lấy làm của mình một cách không chính đáng. Như: Ăn đút, ăn hối lộ, ăn trộm, ăn cắp, ăn gian.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Các con nên tìm sự giàu đức tính của Trời. Chỉ có cách đó mới gọi là vĩnh cửu. Của quý ấy không ai ăn cướp đặng cả.

Lại sợ ai ăn trộm ở thầm,

Coi phải phận trao trâm đừng ái ngại.

(Phương Tu Đại Đạo).

5.- Ăn là lấn ra, ruồng vào, lan ra, thấm hay dính vào.

Như: Da ăn nắng, cỏ ăn lan ra, rễ ăn vào đất, giấy không ăn hồ, nọc ăn ruồng vào máu.

Nọc ăn máu nước thúi ruồng,

Khô khan lạc khí hao mòn hồn tinh.

(Ngụ Đời).

6.- Ăn là làm tiêu hao, huỷ hoại dần từng phần.

Như: Ăn mòn, sương muối ăn bạc cả lá cây, sơn ăn mặt, cây ăn mòn lưỡi búa.

Cây ăn lưỡi búa đã mòn,

Rừng cao hết củi nồi còn không cơm.

(Ngụ Đời).

 

 

ĂN BÒN

Ăn: Nói chung về sự ăn uống, tiêu dùng. Bòn: Góp nhặt từng ít một.

Ăn bòn là ăn nhờ, ăn bám, tức sống nhờ vào sự giúp đỡ của người khác.

Ăn bòn còn dùng để chỉ xin, ngỏ ý với ai đó để mong người ấy cho mình được một cái gì.

Túng lúi đi chơi nên tấp lại,

Ăn bòn chẳng chịu tấp theo ai.

(Đạo Sử).

 

 

ĂN CAY UỐNG ĐẮNG

Hay “Ăn cay nuốt đắng”.

Ăn uống (ăn nuốt): Ý chỉ sự nhận chịu. Cay đắng: Bởi chữ “Tân khổ 莘 苦” dùng để chỉ sự gian nan, khổ sở.

Ăn cay uống đắng, hay “Ăn cay nuốt đắng” ý muốn nói chịu mọi nỗi cay đắng, tức là mọi sự đau đớn, khổ cực và vất vả.

1.- Ăn cay uống đắng:

Nào là lúc ăn cay uống đắng,

Nào là khen rồi mắng bao phen.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Ăn cay nuốt đắng:

Xuống trần làm máy luân hồi,

Ăn cay nuốt đắng trả rồi nợ duyên.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Đã vô trong cõi trần hoàn,

Ăn cay nuốt đắng, cơ hàn nuôi thân.

(Tứ Nương Giáng Bút).

 

 

ĂN CHAY

Ăn: Nói chung về việc ăn uống. Chay: Không ăn thịt hoặc không ăn thức ăn có nguồn gốc từ động vật.

Ăn chay, ăn lạt hay ăn tương là ăn những thức ăn trong sạch, nhẹ nhàng, tinh khiết, tức là những thức ăn thuộc loại thảo mộc như hoa quả, rau đậu, tương chao… chứ không ăn thịt những loại động vật như cá thịt, tôm, cua…

Chay dịch từ chữ Trai 齋, có nghĩa là ăn lạt, ăn những thức ăn từ thảo mộc, rau đậu. Trong tôn giáo, có ba hạng ăn chay:

Lục trai 六 齋 là ăn chay sáu ngày trong tháng, theo Âm lịch là Mùng 1, 8, ngày 14, 15, 23 và 30. Nếu tháng thiếu thì ăn vào ngày 29 thế cho ngày 30.

Thập trai 十 齋 là ăn chay mười ngày, quy định mười ngày chay này theo Âm lịch là Mùng 1, 8, ngày 14, 15, 18, 23, 24, 28. 29 và 30.

Nếu tháng thiếu không có ngày 30 thì ăn ngày 29, tức là ba ngày cuối tháng ăn vào ngày 27, 28, 29.

Trường trai 長 齋 là ăn chay quanh năm suốt tháng.

Thuỷ triều vận tải biển đông,

Lòng hằng dường ấy phước đồng ăn chay.

(Kinh Sám Hối).

Khá mau thức tỉnh hồi đầu,

Ăn chay chuộc tội khỏi hầu Phong Đô.

(Thất Nương Giáng bút).

 

 

ĂN CHAY LÀM LÀNH

Ăn chay: Không ăn thịt loài động vật, chi ăn thuần rau quả. Làm lành: Làm những việc thiện.

Ăn chay làm lành là ăn chay lạt, làm việc lành, ý chỉ sự giữ giới và thực hành tu tập của người theo Đạo.

Như: Người tu hành phải ăn chay làm lành.

Nghe lời khuyến thiện rất may,

Nguyện lòng niệm Phật ăn chay làm lành.

(Kinh Sám Hối Ngắn).

 

 

ĂN CHƠI

Ăn: Đưa thức ăn vào miệng, ăn uống. Chơi: Hoạt động chỉ nhằm cho vui mà thôi.

Ăn chơi là thú tiêu khiển, hoặc chỉ các thú vui vật chất, hay các thú chơi bời truỵ lạc.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Chúng ta phải thành tâm cầu nguyện cho những bạn trẻ ấy, ngoài ra nếu có dư giả, nên giúp đỡ những quả phụ cô nhi của tử sĩ đang sống trong cảnh cơ hàn vất vả còn có ý nghĩa hơn là phung phí ăn chơi trong ngày Tết.

Nuôi cả đời nuôi đã mòn hơi,

Còn thêm nỗi ăn chơi gây tội báo.

(Phương Tu Đại Đạo).

Lựa nên hư trong sự ăn chơi,

Tập vợ đặng nên người lịch sự.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĂN GIAN

Ăn: Ăn là thu nhận hay tìm cách lấy làm của mình một cách không chính đáng. Gian: Có ý dối trá, lừa lọc để thực hiện hoặc che giấu việc làm bất lương.

Ăn gian là cố ý tính sai hoặc làm gian dối để có thể thu lợi về mình.

Ăn gian xớt bớt cho mình,

Dầu qua dương pháp, luật hình Diêm vương.

(Kinh Sám Hối).

 

 

ĂN HỌC

Ăn: Nói chung về ăn uống, tiêu dùng. Học: Theo lời thầy hoặc sách dạy mà luyện tập cho quen.

Ăn học là nói chung về việc học tập.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Về bổn phận của mấy cháu học sinh, tôi xin có mấy lời nầy: Mấy cháu còn đương niên thiếu, đó là lúc tốt đẹp nhứt của đời người. Mấy cháu chỉ biết ăn học và chơi giỡn hoàn toàn vô ưu lự của buổi thiếu thời. Nhưng mấy cháu cũng ý thức được phần nào cha mẹ lắm chịu cực khổ lo cho mấy cháu ăn học đặng ngày sau trở nên người xứng đáng.

Dụ ăn học đừng cho làm biếng,

Lập thân danh nên tiếng con nhà.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĂN KIỆM Ở CẦN

Ăn kiệm: Ăn uống tiện tặn. Ở cần: Sống phải siêng năng cần mẫn.

Ăn kiệm ở cần là chỉ những người biết ăn ở siêng năng cần kiệm.

Xem: Cần kiệm.

Dầu giàu sang ăn kiệm ở cần,

Nhịn mớ áo che thân cho kẻ khó.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĂN MẶC

Ăn: Vừa vặn, thích hợp với nhau, tạo nên hài hoà. Mặc: Bận áo quần.

Ăn mặc là mặc quần áo để che thân.

Thánh giáo Thầy có câu: Cư! Nghe dặn. Con biểu Tắc tắm rửa sạch sẽ (xông hương cho nó), biểu nó lựa một bộ quần áo tây cho sạch sẽ, ăn mặc như thường, đội nón.

Nhịn ăn mặc ngừa cơn thiếu thốn,

Làm lụng nhiều nuôi dưỡng sắp con.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ĂN MẬT NẰM GAI

Ăn mật: Hay nếm mật, tức dùng mật đắng để nhắc nhở, chẳng cầu vị ngon lạ. Nằm gai: Nằm trên củi gai, rèn luyện ý chí, không dám nghĩ đến sự yên vui.

Ăn mật nằm gai, bởi câu “Thường đảm ngọa tân 嘗 膽 臥 薪”, là nếm mật nằm gai, ý chỉ tự rèn luyện trong khắc khổ, gắng sức mưu việc lớn.

Do tích: Việt Vương Câu Tiển bị vua Ngô Phù Sai đánh bại, cả hai vợ chồng đều bị bắt đem về nước Ngô cho chăn nuôi mục súc. Sau nhờ kế của Văn Chủng, Câu Tiển nhẫn nhục nếm phẩn để đoán bịnh của vua Phù Sai, nên được tha về nước Việt.

Việt Vương Câu Tiển nuôi chí phục thù, thường ép mình mỗi đêm nằm trên gai nhọn, mỗi ngày nếm mật đắng để đừng quên cái nhục và luôn nghĩ kế khôi phục nước nhà. Về sau, Việt Vương Câu Tiển nhờ Phạm Lãi và Văn Chủng giúp diệt vua Ngô Phù Sai, trả được cái hận mất nước.

Nghĩa bóng: Nằm gai nếm mật dùng để chỉ chịu sự khổ sở vất vả để nuôi chí rửa hận.

Bần đạo hỏi bốn hiền hữu có ai đã mang sao đội nguyệt, ăn mật nằm gai, chịu muôn sự khổ hạnh cõi đời để tạo hạnh phúc cho nhơn sanh chưa?

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

ĂN NĂN

Ăn năn là trong lòng cảm thấy xót xa, ray rứt về những lỗi lầm của mình, tức hối hận những việc đã làm.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển,Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Cửa Bạch Ngọc Kinh ít kẻ, chớ chốn A Tỳ vốn nhiều người. Con liệu mà hành đạo. Thầy thương con chừng nào, ngày sau con càng ăn năn tiếc chừng nấy.

Ăn năn sám hối tội tình,

Xét câu minh thệ gửi mình cõi thăng.

(Kinh Tận Độ).

Quấy rồi phải biết ăn năn,

Ở cho nhân hậu chế răn lòng tà.

(Kinh Sám Hối).

Ăn năn khử ám hồi minh,

Từ bi Trời Phật rộng tình xét cho.

(Kinh Sám Hối).

 

 

ĂN NÓI

Ăn nói là nói năng để bày tỏ ý kiến.

Trong Giáo Lý Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có đoạn viết: Lễ nghi dùng để phân định ngôi thứ: Tôn ty, thượng hạ. Giả tỷ trong đám hội đàm; người lớn cứ sỗ sàng ăn nói, sỗ sàng hành động, kẻ nhỏ thì hổn ẩu không kính nể người lớn. Thế thì làm sao mà hiệp nhau cho được, cho nên nói rằng : thất "Lễ" thì loạn.

Biết con là phận đàn bà,

Biết lời ăn nói thiệt thà hiền lương.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

ĂN NGAY Ở THẬT

Ăn ngay: Ăn ở ngay thẳng. Ở thật: Cư xử thật tình.

Ăn ngay ở thật là ăn ở thật thà, ngay thẳng. tức cư xử với mọi người thực tâm và chánh trực.

Như: Người có đạo phải ăn ngay ở thật.

Ăn ngay ở thật đường tu dưỡng,

Nghĩa trả ơn đền nợ kiếp sinh.

(Thơ Hiến Đạo).

 

 

ĂN OÁN NUỐT HỜN

Ăn oán: Bị oán hận. Nuốt hờn: Ngậm hờn giận.

Ăn oán nuốt hờn ý nói chịu sự hờn oán.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Không vì công lớn mà tỏ vẻ tự đắc, lập thế chuyên quyền làm điều trái đạo cho kẻ ăn oán nuốt hờn, người thở than đau khổ…

Trung Thanh Sơn! Nghĩa Thanh Sơn!

Bởi tại đâu ăn oán nuốt hờn.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

ĂN RAU CHÊ BỆ NGỌC

Bá Di, Thúc Tề, hai người con vua Cô Trúc thà vào núi Thú Dương hái rau ăn mà sống, chứ không thèm nhận ngôi báu.

Ý nói chịu khổ cực để giữ tròn đạo lý.

Bá Di là anh cả, Thúc Tề em út. Vua Cô Trúc yêu Thúc Tề, lập di mệnh cho Thúc Tề nối ngôi, Thúc Tề không chịu, nhường lại cho Bá Di cho phải lẽ. Bá Di cũng không chịu, nhường lại cho Thúc Tề để tuân lệnh cha. Không ai chịu nhận rồi cả hai trốn vào núi ở ẩn.

Khi Võ Vương đánh thắng Trụ, lên làm vua xưng hiệu nhà Châu, thiên hạ đều thần phục, chỉ Bá Di, Thúc Tề cho hành vi của Võ Vương là không đúng, nên không thờ nhà Châu và giữ nghĩa khí, chẳng chịu ăn lúa nhà Châu, lên ở ẩn trên núi Thú Dương, hái rau vi mà nuôi sống.

Xem: Di Tề.

Nhượng vinh huê trong buổi sang giàu,

Khuyên học khách ăn rau chê bệ ngọc.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĂN THÃI UỐNG THỪA

Ăn uống: Ăn và uống. Thừa thãi: Có hơn sự cần thiết rất nhiều.

Ăn thãi uống thừa là ăn uống thừa thãi, ý nói ăn uống quá hơn sự cần thiết rất nhiều.

Quốc dân ăn thãi uống thừa,

Khôn ngăn bán lận, khó ngừa buôn gian.

(Ngụ Đời).

 

 

ĂN THUA

Ăn: Giành về mình phần hơn, phần thắng. Thua: Bại, kém, hỏng.

Ăn thua là tranh phần thắng. Như: Mình chơi để giải trí, không cốt ăn thua với nhau.

Ăn thua còn có nghĩa là đạt được kết quả. Như: Phải cố gắng dữ mới ăn thua.

Ngày giờ nào mà lời lỗ mình không chịu trách nhiệm chỉ sống về nghề nghiệp của mình mà thôi, thì mình ắt không ăn thua chi với ai tất cả.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

ĂN TRỘM

Ăn: Lấy, tìm cách mà lấy làm của mình, Trộm: Lấy đồ vật hay tiền của khi người ta ngủ hay đi vắng.

Ăn trộm là đợi lúc đêm hôm hoặc khi vắng người, vào nhà người một cách lén lút để lấy đồ đạc, tiền của.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Học đặng suy đoán về tình thế tâm lý của đời. Ví dụ: Như người ăn trộm không phải khi không mà phát hiện tâm lý ấy. Nó có tính trước rồi mới làm.

Lại sợ ai ăn trộm ở thầm,

Coi phải phận trao trâm đừng ái ngại.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĂN TRƯỚC NGỒI TRÊN

Ăn trước: Ăn uống trước mọi người. Ngồi trên: Ngồi phía trên mâm cỗ.

Ăn trước ngồi trên, như chữ “Ăn trên ngồi trốc”, ý chỉ người sang trọng, có quyền thế, thuộc tầng lớp thống trị trong xã hội.

Mình dầu sang ăn trước ngồi trên,

Nhờ vợ khéo mới bền thể thống.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĂN UỐNG

Ăn: Cho vào cơ thể thức nuôi sống. Uống: Đưa chất lỏng vào miệng rồi nuốt.

Ăn uống nói chung chỉ về sự ăn và sự uống.

Khi giảng về giới tửu trong Ngũ Giới Cấm, Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Hình chất con người vẫn là thú, phải ăn uống mới nuôi sự sống.

Đến ăn uống cũng mua vật rẻ,

Cho đặng nhiều lại nhẹ đồng tiền.

(Phương Tu Đại Đạo).

Sự ăn uống phát phân từ bữa,

Đến việc chơi cũng lựa cho chơi.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĂN VỤNG

Ăn: Nói chung về sự ăn uống, tiêu dùng. Vụng: Lén lút, không để người khác biết.

Ăn vụng là ăn một cách én lút, tức khi ăn giấu không cho ai biết.

Như: Mèo hay ăn vụng.

Thà cầm đèn thủ tiết tàn canh,

Hơn thụt ló như mèo rình ăn vụng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ẮT

Ắt là hẳn, chắc, từ biểu thị ý khẳng định điều cho là chắc chắn sẽ xảy ra với điều kiện đã nói đến.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có đoạn dạy: Các con đủ hiểu rằng: Chi chi hữu sanh cũng do bởi Chơn Linh Thầy mà ra. Hễ có sống ắt có Thầy. Thầy là Cha của sự sống. Vì vậy mà lòng háo sanh của Thầy không cùng tận.

Ðàng Ðạo càng đi càng vững bước,

Cõi Thiên sau ắt hội cùng nhau.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Gắng công ắt đặng công mà chớ,

Buồn bực rồi sau mới có mừng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

ẤY

1.- Ấy là chỉ cái gì, chỗ nào, lúc nào, người nào, không muốn nói rõ ra, hoặc ở trên đã nói rồi.

Ấy thường đứng sau danh từ hoặc loại từ.

Như: Đưa cái ấy cho tôi, đợi lúc ấy sẽ hay, ai biết người ấy thế nào.

Thánh giáo Thầy có dạy: Chẳng phải Thầy còn buộc theo Cựu luật, song luật ấy rất nên quý báu, không giữ chẳng hề thành Tiên Phật đặng.

Ngu vì đạo đức ấy ngu hiền,

Thành dạ thì toan đến cảnh Tiên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Sum sê trước cửa quế hòe đưa,

Tuổi ấy đi tu gẫm cũng vừa.

(Đạo Sử).

2.- Ấy dùng để thay người, vật hay sự việc, bao giờ cũng đứng đằng trước.

Như: Ấy mới gan, ấy mới tài, ấy là ngu.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu dạy: Thầy vui muốn cho các con thuận hoà cùng nhau hoài, ấy là lễ hiến cho Thầy rất trân trọng.

Nguồn đào lạc lối, ấy duyên may,

Gặp đạo nương theo bước dặm dài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ngồi ngai biết phận, ấy ngồi chông,

Giữa tuyết lạnh đông buộc tưởng nồng.

(Đạo Sử).

Hễ là trí, ấy là ngu,

Càng say âu yếm càng sầu nhớ thương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ÂM

1.- Âm là một trong hai nguyên lý cơ bản của trời đất, từ đó tạo ra muôn vật, đối với Dương.

Như: Âm thịnh Dương suy, Âm Dương hiệp nhứt phát khởi càn khôn.

Thánh giáo Thầy có dạy: Lạy kẻ sống hai lạy là tại sao? Là nguồn cội của nhơn sanh lưỡng hiệp âm dương mà ra.

Âm dương hiệp nhứt phát khởi Càn khôn, sanh sanh hoá hoá, tức là Ðạo.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

2.- Âm , nghĩa rộng dùng để chỉ bóng tối, âm thầm.

Như: Bóng quang âm nhặt thúc, tạo âm chất, âm đức, âm hiểm.

Nhặt thúc quang âm xuân đã lụn,

Liệu qua cho khỏi cuộc tang dâu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Âm là tiếng, giọng. Như: Quốc âm, tri âm, âm dung, âm nhạc, âm điệu.

Thánh giáo Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng có câu: Hiền hữu lúc nầy chuyên về văn chương quốc âm nhiều lắm há? Nhiều đạo hữu khác đã từng được Thánh giáo và học hỏi đã thông.

Mấy ngón tri âm thưa thớt bạn,

Mà trong ngựa bạc cửa sơn vàng.

(Đạo Sử).

 

 

ÂM CẢNH

陰 境

Âm: Cõi Âm. Cảnh: Cõi giới.

Âm cảnh là cảnh giới của người ở cõi Âm, tức cõi người chết.

Âm cảnh đồng nghĩa với những từ: Âm cung, Âm đài, Âm phủ, Âm ty…

Trong Thiên Đạo, Hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có câu: Sự sung sướng và sự đau khổ ấy, tức là phần thưởng phạt thiêng liêng cho hồn người tại Trung giới, tức là miền Âm cảnh mà người ta quen gọi là Địa ngục (Enfer), tiếng Phạn là Kama Loca.

Xem: Âm phủ.

Cứu khổ nàn Thái Ất Thiên Tôn.

Miền Âm cảnh ngục môn khai giải,

(Kinh Tận Độ).

Miền Âm cảnh nhiều thay hình lạ,

Cõi dương trần tội quá dẫy đầy.

(Kinh Sám Hối).

 

 

ÂM CÔNG

陰 功

Âm: Ngầm, kín. Công: Nỗi vất vả làm nên công việc.

Âm công là công đức không hiển hiện ra, tức là mình làm điều phúc đức cho người mà người ta không thấy được, chỉ có Thần linh mới biết, về sau có báo ứng.

Âm công cũng dùng để nói những việc làm phúc đức mà ông cha truyền lại cho con cháu về sau.

Âm công còn dùng để chỉ những công việc lo cho người đã chết.

Trong việc tống chung, không nên xa xí, không nên để lâu ngày, không nên dùng đồ âm công có màu sắc loè lẹt, chỉ dùng toàn đồ trắng.

(Tân Luật).

 

 

ÂM CUNG

陰 宮

Âm: Cõi Âm. Cung: Đền đài, cung điện.

Âm cung là chỉ cung điện, đền đài dưới Âm Phủ của Thập Điện Diêm Vương, nơi ở của người đã chết.

Âm cung đồng nghĩa với những chữ: Âm cảnh, Âm phủ, Âm ty…

Tánh độc ác tội dư tích trữ,

Chốn Âm cung luật xử nặng nề.

(Kinh Sám Hối).

Hành rồi giam lại Âm cung,

Ngày đêm đánh khảo trăng cùm xiềng gông.

(Kinh Sám Hối).

Ôi thôi trời động đất nghiêng!

Chết chàng hồn thiếp chơi miền Âm cung.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ÂM CỰC DƯƠNG HỒI

陰 極 陽 回

Âm cực: Khí âm xuống đến cực điểm. Dương hồi: Khí dương trở lại.

Theo Dịch học, âm dương là hai nguyên lý tác dụng hỗ tương nhau mà sinh ra vạn vật và tạo ra hiện tượng trong trời đất. Âm Dương biến đổi một cách tuần huờn, nhưng thường trái nghịch nhau: Âm cực thì Dương hồi, Dương cực thì Âm hồi.

Âm cực dương hồi là khí Âm đến hồi cực thịnh thì khí Dương đến, ý muốn nói hết hồi suy đến hồi thịnh, hết khổ tới sướng.

Nghĩa rộng: Hết suy đến thịnh, hết khổ đến sướng.

Âm cực dương hồi cơ tạo chuyển,

Còn thân còn phận vẫn còn ngày.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

ÂM CHẤT

陰 騭

Âm: Ngầm, kín. Chất: Định.

Âm chất là những điều cát hung, hoạ phúc do trời định một cách âm thầm.

Người làm âm chất cốt tạo phước đức nơi cõi vô hình để được hưởng quả phúc về sau.

Thánh Giáo Đức Chí Tôn có dạy: Vậy muốn đắc quả thì chỉ có một điều phổ độ chúng sanh mà thôi. Như không làm đặng thế nầy thì tìm cách khác mà làm âm chất, thì cái công tu luyện chẳng bao nhiêu cũng có thể đạt địa vị tối cao.

Theo làm âm chất may bồi đắp,

Thì sẽ trở về chỗ vị xưa.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nhuần gội ơn Trời âm chất vẹn,

Mau chơn ngày tháng đã qua đông.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nhờ âm chất đủ mẹ cha xưa,

Nên hưởng giàu sang cũng đã thừa.

(Đạo Sử).

 

 

ÂM CHẤT CHI ĐIỀN

陰 騭之田

Âm chất: Những điều cát hung, hoạ phúc do trời định một cách âm thầm. Chi: Chưng. Điền: Ruộng.

Âm chất chi điền là mảnh ruộng âm chất.

Người ta thường ví việc làm công quả để tạo âm chất như mảnh ruộng phì nhiêu, bởi vì ruộng đất càng màu mở thì hoa màu càng tươi tốt, càng sinh sôi bông trái; còn con người có nhiều âm chất thì tự thân và con cháu an vui và được hưởng nhiều phước đức. Nếu tâm chẳng dồi mài thì tỷ như ruộng đất bị bỏ hoang, cỏ cây sẽ mọc um tùm.

Mạnh Tử có bảo Cao Tử rằng: Sơn kính chi khê gian, giới nhiên dụng chi nhi thành lộ; vi nhàn bất dụng, tắc mao tắc chi hỹ. Kim mao tắc Tử chi tâm hỹ 山 徑 之 蹊 間, 介 然 用 之 而 成 路; 為 閒 不 用, 則 茅 塞 之 矣.今 茅 塞 子 之 心 矣, nghĩa là đường mòn ở trên núi được người ta đi lại luôn, thì thành ngay đường lớn, bỗng chốc không được dùng để qua lại nữa, thì bị cỏ tranh mọc lấp ngay. Nay cỏ tranh mọc lấp lòng anh rồi đấy.

Trong câu trên, ý Mạnh Tử muốn dạy, lòng đạo lý của con người không thể gián đoạn một phút giây nào được.

Bá thiên vạn hoá,

bồi quế thọ ư âm chất chi điền.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

ÂM DUNG

音 容

Âm: Tiếng nói. Dung: Dáng người.

Âm dung là tiếng nói và dung mạo của người vắng mặt, chúng ta chỉ tưởng tượng hình dung và giọng nói mà thôi, chỉ người chết.

Người xưa thường hay viết câu: “Âm dung như tại 音 容 如 在”, nghĩa là tiếng nói và hình bóng như còn đâu đó để thờ người chết.

Sụt sùi nhìn bức âm dung,

Thần hôn con trẻ lạnh lùng lắm ru.

(Thơ Thái Phong).

 

 

ÂM DUNG NHƯ TẠI

音 容 如 在

Âm dung: Tiếng nói và dung mạo của người chết. Như tại: Dường như còn ở đó.

Âm dung như tại nghĩa là tiếng nói và hình bóng người đã chết dường như còn đâu đó.

Âm dung như tại nhân hà tại,

Trọng nghĩa sự tồn thể sự vong.

(Thơ Thông Quang).

 

 

ÂM DƯƠNG

陰 陽

Âm: Một thứ khí trong trời đất, đối với dương, nghĩa rộng là giống cái, là dưới, là tĩnh, là tối tăm.

Dương: Một khí trong trời đất, trái với âm, nghĩa rộng giống đực, là động, là trên, là sáng sủa.

1.- Theo nguyên lý của Dịch học: Thái Cực sinh ra Lưỡng Nghi, tức là hai khí Âm, khí Dương.

Khí Dương thuộc đàn ông, ánh sáng, động… khí Âm thuộc đàn bà, bóng tối, tĩnh… Hai thứ khí nầy giao nhau và biến hoá thành muôn vật.

Cơ sanh hoá Càn Khôn đào tạo,

Do Âm Dương hiệp đạo biến thiên.

(Kinh Thế Đạo).

Những vạn vật Âm Dương tạo hoá,

Dầu cỏ cây hoa quả biến sanh.

(Kinh Tận Độ).

2.- Âm dương còn dùng để chỉ đất Trời, vợ chồng, Địa phủ và Dương gian.

Âm Dương đôi nẻo như nhau,

Cửu Huyền Thất Tổ giữ câu thọ trì.

(Kinh Thế Đạo).

Âm Dương tuy cách cũng Trời chung,

Thấy trái nên đây mới tỏ cùng.

(Đạo Sử).

Nhớ buổi đưa nhau mấy dặm đàng,

Âm Dương lưỡng lộ biệt đôi phang.

(Thơ Tiếp Pháp).

 

 

ÂM DƯƠNG BIẾN THIÊN

陰 陽 變 遷

Âm dương: Chỉ Trời đất hay vợ chồng. Biến thiên: Sự biến hoá thay đổi.

Âm dương chính là cơ động tịnh mầu nhiệm của Trời đất. Nếu không có Âm dương, muôn vật sẽ không thể hoá sanh. Nhờ có Âm dương tác động lẫn nhau nên mới tạo ra mọi cuộc biến hoá trên đời, Trời đất và vạn vật cũng nhờ đó mà sinh thành. Nếu chỉ có Âm mà không có Dương, hay ngược lại, có Dương mà không có Âm thì cuộc biến hoá cũng không thành hình, một Âm ấy rồi cũng tiêu, một Dương ấy rồi cũng diệt, vì “Cô Dương bất sinh, độc Âm bất trưởng 孤 陽 不 生, 獨 陰 不 長”.

Vậy Âm dương là hai yếu tố đi đôi với nhau, dung hoà nhau, tương phản nhau, bổ túc cho nhau. Chính nhờ sự tương hoà, tương phản nhau như nóng, lạnh, sáng tối, cứng mềm, ngày đêm... mà vạn vật biến chuyển không ngừng. Hệ Từ Thượng viết: Cương nhu tương thôi nhi sinh biến hoá 剛 柔 相 摧, 而 生 變 化, nghĩa là cứng mềm đun đẩy nhau mà sinh ra biến hoá.

Cơ sanh hoá Càn Khôn đào tạo,

Do Âm Dương hiệp đạo biến thiên.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

ÂM DƯƠNG CÁCH BÓNG

Âm Dương: Âm phủ, Dương gian. Cách bóng: Cách nhau hình bóng.

Âm Dương cách bóng ý nói kẻ nơi Âm phủ, người ở Dương gian, hình bóng cách trở nhau, vĩnh viễn không bao giờ thấy mặt nhau được.

Âm Dương cách bóng sớm trưa,

Thon von phận bạc không vừa hiếu thân.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

ÂM DƯƠNG ĐÔI NẺO

Âm Dương: Âm cảnh và Dương gian, là nơi ở của người chết và kẻ còn sống. Đôi nẻo: Hai đường.

Âm dương đôi nẻo là hai con đường Âm cảnh và Dương gian của kẻ chết và người sống cách trở nhau.

Âm dương đôi nẻo đồng nghĩa với chữ “Âm dương lưỡng lộ”.

Xem: Âm dương lưỡng lộ.

Âm dương đôi nẻo chia phân,

Tuý sơn vân mộng mới gần đặng nhau.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

ÂM DƯƠNG HIỆP ĐẠO

陰 陽 合 道

Âm dương: Chỉ Trời đất hay vợ chồng. Hiệp Đạo: Hợp hai con đường làm một.

Âm dương hiệp đạo là hợp Âm dương lại làm một, tức là phối hợp Trời đất hay vợ chồng nhau để có sự biến thiên mà sinh ra Càn khôn vũ trụ hay con người.

Cơ sanh hoá Càn Khôn đào tạo,

Do Âm Dương hiệp đạo biến thiên.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

ÂM DƯƠNG LƯỠNG LỘ

陰 陽 兩 路

Âm Dương: Âm cảnh và Dương gian, là nơi ở của người chết và kẻ còn sống. Lưỡng lộ (đôi nẻo): Hai con đường, hai nẻo đi.

Âm dương lưỡng lộ là hai con đường Âm cảnh và Dương gian của người chết và kẻ còn sống.

Nhớ buổi đưa nhau mấy dặm đàng,

Âm Dương lưỡng lộ biệt đôi phang.

(Thơ Tiếp Pháp).

 

 

ÂM ĐÀI

陰 臺

Âm: Cõi Âm, thuộc về người chết. Đài: Lâu đài.

Âm đài tức là lầu đài dưới Âm phủ. Đồng nghĩa với Âm cung, chỉ cõi Địa ngục.

Xem: Địa ngục.

Âm đài gông tróng sẵn sàng,

Chờ khi thác xuống cổ mang hành hình.

(Kinh Sám Hối).

 

 

ÂM ĐÌNH

陰 廷

Âm: Cõi Âm, thuộc về người chết. Đình: Cung đình dưới Âm phủ.

Âm đình là cung đình dưới Âm phủ, tức chỉ cõi Địa ngục, Diêm đình.

Âm đình đồng nghĩa với Âm cung, Âm đài, Âm ty…

Mình biết ngõ phải tua dẫn ngõ,

Cầm đèn soi khêu tỏ giữa Âm đình,

(Thái Bạch Giáng Bút).

 

 

ÂM ĐỨC

陰 德

Âm: Thuộc về cõi vô hình. Đức: Phước đức.

Âm đức, còn gọi là Âm chất, là những việc làm lành tạo thành phước đức, tuy người ở thế gian không thấy rõ, nhưng quỷ thần đều chứng biết.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Phần thưởng về hữu hình có khi không tương xứng với âm đức và công nghiệp, nhưng ân huệ thiêng liêng thì chắc hẳn là không thể mất mát được.

Người phú túc vun nền âm đức,

Lấy lòng nhơn giúp sức trợ nghèo.

(Kinh Sám Hối).

May mắn đã sanh chồi quế đủ,

Chứa đầy âm đức lũ con nhờ.

(Đạo Sử).

 

 

ÂM HAO

音 耗

Âm: Tiếng, giọng mà tai nghe được. Hao: Tin tức.

Âm hao là chỉ về tin tức.

Như: Từ khi anh ấy qua Mỹ thì thưa thớt âm hao, Không thường trao đổi coi như tuyệt âm hao.

Nương cảnh cũ nép cây đợi thỏ,

Ngọn nguồn ai rõ nỗi âm hao.

(Đạo Sử).

Đất Việt ai vui chung lữ thứ,

Đài Tần kẻ chạnh nỗi âm hao.

(Tiêu Diêu Đạo Sĩ).

 

 

ÂM HỒN

陰 魂

Âm: Chỉ Âm phủ, cõi của người chết. Hồn: Vong hồn, là thể mà tôn giáo cho là độc lập với thể xác, và nhập vào thể xác tạo ra sự sống.

Âm hồn là hồn của người chết nơi cõi Âm phủ. Như: Miếu âm hồn.

Tam Kỳ vận chuyển kim quang hiện,

Sám hối âm hồn xuất u đồ.

(Kệ Chuông).

Trên hầu chúa quỷ người ba mặt,

Dưới quở âm hồn tướng bốn lưng.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

ÂM HƯỞNG

音 響

Âm: Âm thanh. Hưởng: Tiếng dội lại.

Âm thanh và tiếng vang dội lại của âm thanh gọi là “Âm hưởng”.

Như: Âm hưởng của Đại Hồng chung dội lại, âm hưởng của câu thơ.

Hoàng hôn chầm chậm chìm âm hưởng,

Tình lúa hương quê quyện ngút ngàn.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

ÂM KHÍ

陰 氣

Âm: Thuộc về người chết. Khí: Hơi.

Âm khí là hơi âm, tức là hơi từ cõi Âm giới đưa lại, chỉ cõi Âm.

Khi giải về cõi Âm Quang, Bát Nương có nói: Âm quang là khí chất hỗn độn sơ khai khi Chí Tôn chưa tạo hoá. Lằn Âm khí ấy là Diêu Trì Cung chứa để tinh vi vạn vật, tỷ như cái Âm quang của phụ nữ có trứng cho loài người.

Ngoài ra, ở vùng nghĩa địa người ta thường có cảm giác khí lạnh lẽo, nặng nề, đó gọi là âm khí.

Mở nét huỳnh cân tưa sửa thế,

Đóng đường âm khí sắp trao nguyền.

(Thượng Phẩm Giang Cơ).

 

 

ÂM PHỦ

陰 府

Âm: Thuộc về người chết. Phủ: Dinh thự.

Âm phủ là ty phủ dưới âm cảnh, tức là nơi Thập Điện Diêm Vương cùng các phán quan làm việc.

Theo triết lý tôn giáo, những người lúc sanh tiền làm điều ác thì khi chết, linh hồn phải bị đoạ cõi ấy để chịu hình phạt.

Âm phủ có nhiều từ để gọi: Địa ngục, Âm cung, Âm Ty, Âm cảnh, Âm đài, Diêm cung, Diêm đình…

Hiện giờ, cả chúng sanh đang tìm hiểu, vấn để dấu hỏi mãi, hỏi có Âm Phủ hay không?

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

ÂM QUANG

陰 光

Âm: Một trong hai chất khí nguyên thuỷ do Thái cực sinh ra. Quang: Ánh sáng.

1.- Âm quang là một khí do Thái Cực sinh ra, có năng lực sinh hoá, mang tính Âm nên mờ mịt, tối tăm, lạnh lẽo, do Đức Phật Mẫu chưởng quản (Dương quang do Đức Chí Tôn chưởng quản).

Như ta đã biết, thời Hỗn độn là thời kỳ mà Trời đất chưa phân định, tức là còn trong thời kỳ hỗn mang, trong ấy khí Hư vô là khí vô cùng nhẹ nhàng, tinh khiết bàng bạc khắp Càn khôn Vũ trụ, kết tụ muôn đời nhiều kiếp, rồi hoá sinh ngôi Thái Cực, đó là Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế. Thái Cực mới phân hoá Âm Dương, Âm quang thì do Đức Phật Mẫu chưởng quản, Dương quang thì do Chí Tôn làm chủ. Hai khí Âm Dương mới phối hợp nhau, mới hoá sinh Tiên Phật.

Chủ Âm quang thường tùng Thiên mạng,

Độ chơn thần nhứt vãng nhứt lai.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

Lấy Âm quang tạo phách tăng đồ,

Muôn vật cả lo cho sanh chúng.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

2.- Âm Quang còn là tên một cõi giới, nơi đó tối tăm lạnh lẽo mà người xưa gọi là Âm Phủ hay Âm Cảnh.

Thất Nương Diêu Trì Cung có giải thích về cõi Âm Quang như sau: Nơi nào ánh linh quang của Chí Tôn chưa chiếu giám đến thì phải còn tối tăm mịt mờ, chẳng sanh chẳng hoá.

Vậy thì nơi khiếm ánh thiêng liêng là Âm quang, nghĩa là Âm cảnh hay là Ðịa ngục, Diêm đình của chư Thánh lúc xưa đặt hiệu.

Vậy thì chính lời nhiều tôn giáo, nơi ấy là những chốn phạt tù những hồn vô căn vô kiếp, nhơn quả buộc ràng, luân hồi chuyển thế, nên gọi là Âm quang, đặng sửa chữ Phong Ðô Ðịa phủ của mê tín gieo truyền, chớ kỳ thật là nơi để cho các Chơn hồn giải thân định trí (một nơi trung gian giữa Thiên đường và Ðịa ngục hay là mờ mờ mịt mịt).

Ấy là một cái quan ải, các Chơn hồn khi quy Thiên, phải đi ngang qua đó.

Âm Quang nhiệm vụ độ hồn,

Tái sanh nương Đạo Chí Tôn siêu phàm.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

ÂM TY

陰 司

Âm: Thuộc về người chết. Ty: Nơi làm việc của quan.

Âm ty là ty phủ nơi Âm Cảnh, nghĩa là nơi Diêm Vương và các quan chức làm việc, chỉ nơi giam cầm và trừng trị các tội hồn gây nhiều ác nghiệp lúc còn sống nơi thế gian.

Theo Cao Đài, Bà Bát Nương Diêu Trì Cung giảng về cõi Âm quang có nói rằng: “khiếm khuyết ánh sáng thiêng liêng là Âm quang, nghĩa là Âm cảnh hay là Địa ngục, Diêm đình của chư Thánh lúc xưa đặt hiệu.

Vậy thì chính lời nhiều tôn giáo, nơi ấy là những chốn phạt tù những hồn vô căn vô kiếp, nhơn quả buộc ràng, luân hồi chuyển thế, nên gọi là Âm quang, đặng sửa chữ Phong đô, Địa phủ của mê tín gieo truyền, chớ kỳ thật là nơi để các Chơn hồn giải thân định trí”.

Bà Thất Nương lại dạy rằng: “Vậy thì nơi ấy là nơi xét mình. Chớ chi cả nhơn sanh biết xét mình trước khi thoát xác thì tự nhiên tránh khỏi Âm quang”.

Xem: Âm phủ.

Ngày sau đoạ chốn Âm ty,

Gông kềm khảo kẹp ích gì rên la.

(Kinh Sám Hối).

Thấy người hiền đức khinh khi,

Ngày sau đoạ xuống Âm ty cũng đành.

(Thơ Thông Quang).

 

 

ÂM THINH

Hay “Âm thanh”.

Âm: Tiếng. Thinh (Thanh): Giọng, tiếng.

Âm thinh, như chữ “Âm thanh 音 聲” là tiếng động, hoặc tiếng rung của một vật phát ra.

E khi vách có âm thinh,

Để gương lỗi đạo, lỗi tình phu thê.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ÂM THINH SẮC TƯỚNG

Hay “Sắc tướng âm thanh”.

Âm thinh (thanh): Tiếng, giọng, chỉ tiếng tụng kinh, tiếng mõ chuông hay âm nhạc. Sắc tướng: Hình dáng bề ngoài, chỉ Thất Thất, tượng thờ, hình thức lễ nghi.

Âm thinh sắc tướng, như chữ “Âm thanh sắc tướng 音 聲 色 相”, là chỉ chung những thứ âm thanh và hình tướng trong tôn giáo, tức là những hình thức hữu hình như: Chuông, trống, mõ, âm nhạc, nghi lễ cúng tế, hình tượng để thờ phượng…

Trong Đại Thừa Chơn Giáo có đoạn dạy về Âm thinh sắc tướng như sau: Còn Đạo Thầy lại trái hẳn với Tam giáo là bắt đầu truyền Đạo thì dụng hữu hình, lấy sắc tướng, âm thinh mà độ đời một cách lẹ làng, mau chóng. Vã lại Đạo Thầy bắt đầu do chỗ hữu hình mà truyền bá, rồi lần lần mới dẹp hết chỗ hữu hình mà đi đến chỗ vô vi, là cơ siêu phàm nhập thánh. Vậy thà trước dụng cơ hữu hình để phổ hóa cho cơ Đạo dễ lưu thông; rồi cứ đó mà dắt dẫn cho nó tấn-hóa mãi trên đường cao thượng, riết đến chỗ không-hư tức là vô-vi thì Đạo-pháp mới phát minh, cơ diệu-lý huệ-tâm ứng lộ; thế là Đạo Thầy không hư hoại đặng. Mà không hư hoại đặng là nhờ ở chỗ hữu hình đi lên riết đến tận vô vi. Còn Tam giáo xưa lại từ vô vi mà lần lần sa sút xuống hữu hình mới thành đạo bế, rồi sai lầm ra ngoại giáo bàng môn.

Từ thử ai cũng cho âm thinh, sắc tướng là tà mị, mà căn bản của Ðạo Nho là Lễ Nhạc…

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

ÂM THẦM

Âm: Giọng, tiếng. Thầm: Không lộ ra ngoài.

Âm thầm là lặng lẽ trong hoạt động, không tỏ cho người khác biết.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Mấy em nhơn viên nhà thuyền đã ra công phục vụ mà không so hơn thiệt, cứ làm việc âm thầm, không cầu cạnh, không đòi hỏi, lấy chủ nghĩa vị tha làm chủ đích, chính là mấy em dành phúc quả cho mình đó.

Kìa ai đã gọi ân thâm,

Hơn niềm chồng vợ âm thầm giúp nhau.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Âm thầm tự sự ai hay biết,

Lật bật đông phong tối thổi vèo.

(Thơ Huệ Giác).

Âm thầm tạm sống trong cô quạnh,

Vui thú qua ngày: Rượu, sách, thi.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

ẤM

1.- Ấm là nong nóng, tức có nhiệt độ cao hơn mức bình thường một ít.

Như: Khí hậu miền Nam ấm, ly nước còn ấm, mùa xuân nắng ấm.

Mặc ấm ăn cao bằng ý muốn,

Lão khuyên nghe Ðạo một đôi lời.

(Đạo Sử).

Phải phủ che cho ấm tay chơn,

Nơi mỏ ác tốt hơn thường đắp ấm.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Ấm là ổn thoả, êm thắm. Như: Êm ấm, trong ấm ngoài êm.

Trong cửa Ðạo nhơn sanh đã lắm thống khổ, chúng ta hãy quên mình chia sớt cái thống khổ ấy, trong khi chúng ta tận tâm dìu bước Ðạo và trông mong đi đến con đường êm ấm hơn, toàn diện hơn.

Làm cho trong vui ngoài đẹp, cơ Ðạo mới được êm ấm điều hoà, tiến triển vững vàng, nêu cao ngọn cờ cứu khổ.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

3.- Ấm là đầy đủ, dư dật. Như: No cơm ấm áo, no thân ấm cật.

Phủ dụ các tội phạm được ân xá, Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Về đến gia đình, các anh em nên lo làm ăn hằng ngày để nuôi lấy vợ con các anh em được ấm no.

Áo cơm no ấm hằng ngày,

Của người châu cấp ơn dày nghĩa sâu.

(Kinh Sám Hối).

 

 

ẤM ÁP

Ấm: Có nhiệt độ cao hơn mức trung bình một ít.

Ấm áp là ấm, tức không nóng không lạnh, gây cảm giác dễ chịu.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Bát Nương Diêu Trì Cung có dạy: Khi Chí Tôn đem Dương quang ấm áp mà làm cho hoá sanh, thì cái khoảnh Âm quang phải thối trầm làm tinh đẩu, là cơ quan sanh hoá vạn linh.

Nào khi đổ mây mưa đảnh giáp,

Nào khi lo ấm áp cung thiềm.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Cần trong ấm áp ngoài êm thấm,

Địa vị ngày sau có chỗ dùng.

(Hộ Pháp Giáng Bút).

 

 

ẤM CÚNG

Ấm: Không lạnh, hơi nong nóng.

Ấm cúng là không lạnh, có tác dụng gây cảm giác dễ chịu, thân mật.

Như: Gian phòng ấm cúng, cảnh gia đình ấm cúng.

Ấy là không làm mà no, không đắp mà ấm cúng đó.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

ẤM ÊM

Ấm: Ổn thoả, êm thắm. Êm: Yên ổn.

Ấm êm, như chữ “Êm ấm”. là có quam hệ, thường là trong gia đình, tốt đẹp, gây cảm giác thân mật, dễ chịu.

Ca dao ta có câu: Sao cho trong ấm ngoài êm, Như thuyền có bến, như chim có bầy.

Ba sinh gắn bó duyên cầm sắt,

Một cửa ấm êm đạo xướng tuỳ.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

ẤM LẠNH

Ấm: Hơi nong nóng dễ chịu. Lạnh: Lạnh lẽo.

1.- Ấm lạnh là lạnh và ấm.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: nhưng trước cảnh từ biệt kẻ mất người còn, chúng tôi không khỏi ngậm ngùi, mến tiếc khi nhớ đến bạn đồng thuyền đã cùng chúng tôi chia sớt ấm lạnh, mặn nồng và chung lưng đâu cật trót hơn mấy mươi năm để mưu cầu hạnh phúc của nhơn loại.

Ấm lạnh chờ người đưa mảnh áo,

Chùa tranh giữ sẵn Phật bằng vàng.

(Đạo Sử).

Tấn thối mảng lo đời ấm lạnh,

Chập chồng đã trải mấy thương đau.

(Thơ Thượng Sanh).

2.- Ấm lạnh, bởi chữ “Hàn huyên 寒 暄”, để chỉ việc trò chuyện, thăm hỏi nhau.

Người ta gặp nhau thường hay hỏi thăm ấm lạnh thế nào, nên chữ “Ấm lạnh” dùng để chỉ sự trò chuyện, thăm hỏi nhau.

Buổi họp chưa cùng lời ấm lạnh,

Cơn lìa khó nín lụy hoà chan.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Dưới màn ấm lạnh âm hao,

Sớm thăm tối viếng biết bao dám rời.

(Thơ NĐS Hương Thanh).

3.- Ấm lạnh còn dùng để chỉ thói đời hay thay đổi.

Như câu: Tình đời ấm lạnh.

Có bền chí mới đạt phẩm vị thanh cao, có khổ tâm mới rõ tuồng đời ấm lạnh.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

ẤM NO

Ấm: Không nóng không lạnh, có cảm giác dễ chịu. No: Ăn uống đầy đủ, trái với đói.

Ấm no là đầy đủ về mặt vật chất, như đủ ăn, đủ mặc.

Đức Hộ Pháp phủ dụ khách phạm được ân xá có đoạn: Hôm nay là ngày được tự do của các anh em để về với gia đình, các anh em phải hiểu biết bổn phận công dân của mình đối với xứ sở. Về đến gia đình, các anh em nên lo làm ăn hằng ngày để nuôi lấy vợ con các anh em được ấm no.

Giàu sang ấy Ơn Trên giúp sức,

Phước ấm no túc thực túc y.

(Kinh Sám Hối).

Bớt những lẽ giựt giành bái phước,

Lấy Vu Lan đặng được ấm no.

(Lục Nương Giáng Bút).

Phước Thiện nuôi nấng ấm no,

Phước Thiện vào đặng khỏi lo rách lành.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

ẨM MÃ ĐẦU TIỀN

飲 馬 投 錢

Ẩm mã: Cho ngựa uống nước. Đầu tiền: Ném tiền.

Ẩm mã đầu tiền tức là cho ngựa uống dưới dòng nước, ném tiền xuống sông để trả, ý chỉ người có tính thanh liêm trong sạch.

Sách xưa có câu: Hạng Trọng sơn khiết kỷ ẩm mã đầu tiền 項 仲 山 潔 己 飲 馬 投 錢, nghĩa là Hạng Trọng Sơn là người trong sạch đến nỗi cho ngựa uống nước dưới sông cũng ném tiền để trả.

Ẩm mã đầu tiền Hạng Trọng Sơn,

Chung quy hữu phúc hạnh tao phùng.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

Hớn Lưu Khoan trách dân bồ tiên thị nhục,

Hạng Trọng Sơn khiết kỷ ẩm mã đầu tiền.

(Thanh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

ẨM THỰC TINH KHIẾT

飲 食 精 潔

Ẩm thực: Uống và ăn. Tinh khiết: Sạch sẽ, trong sạch.

Ẩm thực tinh khiết là ăn uống trong sạch.

Khi dạy về luyện thân và trí để người tu bước vào đường thứ ba Đại Đạo, Đức Hộ Pháp có dạy ẩm thực tinh khiết, tức là phải ăn chay trường, trong đó thức ăn và thức uống là những thực phẩm nhẹ nhàng, trong sạch, và bổ dưỡng, không dùng những chất kịch thích như bia rượu, cà phê, thuốc lá…

Ẩm thực tinh khiết. Tư tưởng tinh khiết. Tín ngưỡng mạnh mẽ nơi Chí Tôn và Phật Mẫu.

(Đức Hộ Pháp).

 

 

ÂN

1.- Ân là ơn, chỉ cái công đức giúp người hoặc cho người hưởng nhờ.

Như: Ân ban, ân tứ, ân thưởng tội trừng.

Thánh giáo Thất Nương Diêu Trì Cung có câu: Ôi! Tuy vân, hồng ân của Ðại Từ Phụ như thế mà vẫn thấy các chơn hồn sa đoạ hằng hà, mỗi ngày xem chẳng ngớt, là tại thiếu đức tin và lòng trông cậy nơi Thầy. Ðó là mấy đạo hữu tín đồ bị thất thệ.

Ðau khổ rán gìn nhơn nghĩa vẹn,

Tang thương chờ hưởng huệ ân riêng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nay đà gặp lúc Thiên ân rưới,

Gắng bước đường tu hưởng phước đời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Ân là nhiều lắm. Như: Ân cần, ân hận.

Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp có câu: Hại thay, có nhiều chơn hồn ân hận đau khổ khi giải thể mới nhận thấy tranh đấu nhau trên mặt thế nầy là một điều rất vô lý và khổ não đáo để, khi về cõi Hư Linh.

Xem: Ân cần.

Bát Nương thật đấng chí linh,

Cùng chung giáo hoá ân cần lo âu.

(Tán Tụng Công Đức).

Cơn bịnh hoạn ân cần thang thuốc,

Khi rầu buồn dịu ngọt khuyên lơn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ÂN ÁI

恩 愛

Ân: Ơn. Ái: Thương yêu.

Ân ái có nghĩa là biết ơn rồi dẫn đến thương yêu lẫn nhau. Chữ này thường dùng để chỉ sự chăn gối, tình yêu giữa đôi trái gái, hay vợ chồng.

Xem: Ái ân.

Niềm ân ái thân hoà làm một,

Nghĩa sơ giao khắc cốt ghi xương.

(Kinh Thế Đạo).

Ái ân, ân ái là sao?

Đày thân lắm khách má đào gian truân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ÂN CẦN

慇 勤

Ân: Lòng lo lắng. Cần: Siêng năng, chịu khó.

Ân cần là siêng năng lo lắng một cách chu đáo.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Các con ví biết Ðạo là quý thì phải ân cần thận trọng, đợi đến ngày thành tựu, các con mới thấy rõ Thiên cơ, thì chừng ấy các con muốn lập công bằng buổi nầy sao đặng, vì mỗi việc khó khăn trắc trở là lúc sơ khai.

Quan Thế Âm lân mẫn ân cần,

Vớt lê thứ khổ trần đoạ lạc.

(Kinh Tận Độ).

Lừa dịp đình chơn viếng cố nhân,

Cảm tình trông đợi dạ ân cần.

(Thất Nương GiángBút).

 

 

ÂN ĐIỂN

恩 典

Ân: Ơn. Điển: Phép tắc.

Ngày xưa, theo phép tắc đã định sẵn, cứ hễ gặp dịp vui mừng thì nhà vua ban ơn cho bề tôi và dân chúng, đó gọi là “Ân điển”.

Ân điển còn dùng để chỉ ân của Đức Thượng Đế ban cho loài người.

Thánh Giáo Thầy có dạy: Thầy đã cho kẻ thù Thầy đặng hưởng ân điển của Thầy, lẽ nào truất bỏ phần của các con, song tại các con từ chối, đáng thương mà cũng đáng ghét!

Giấc mơ trên bảo thành tâm hứa,

Ân điển nay nhuần triết lý hay.

(Thơ Huệ Phong).

Trước Đền phủ phục cầu ân điển,

Trên Điện phước ban phát Thánh điều.

(Thơ Thanh Hương).

 

 

ÂN ĐỨC

恩 德

Ân: Ơn. Đức: Đức độ.

Ân đức là công ơn và đức độ. Như: Như: ân đức của Trời đất mà con người được che chở.

Thánh giáo Đức Quan Thánh Đế Quân có dạy: Muốn học mùi Ðạo mà lại kèo nài giao kết thì dầu cho bậc phẩm nào đi nữa, cái ân đức từ bi cũng khó chiều theo được.

Vững chí thương đời ân đức bủa,

Thìn lòng tế chúng nghĩa nhơn trau.

(Thơ Hương Cường).

Vì tình nhơn loại kêu Chung sống,

Ân đức Tôn sư rạng Tổ đình.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

ÂN ĐỨC HOÁ THÂM

恩 德 化 深

Ân đức: Đức lành hay làm ơn cho kẻ khác. Hoá thâm: Giáo hoá sâu đậm.

Ân đức hoá thâm là ơn đức giáo hoá sâu đậm.

Trong Đạo Cao Đài, bài Kệ chuông U minh, lời nguyện thứ năm có câu: Ân đức hoá thâm cao thăng Thiên vị 恩 德 化 深 高 升 天 位, nghĩa là ơn đức giáo hoá sâu nặng làm cho phẩm vị được tăng cao.

Ân đức hoá thâm cao thăng Thiên vị.

(Kệ U Minh).

 

 

ÂN HẬN

慇 恨

Ân: Nhiều lắm. Hận: Buồn tức đến day dứt vì đã không làm được như mong muốn.

Ân hận là băn khoăn, day dứt và tự trách mình trước việc không hay đã để xảy ra.

Trong Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Ngày qua thật đáng tiếc, nhất là khi sức đã mòn, tâm trí đã cằn cỗi mà công nghiệp đối với Ðạo và nhơn sanh vẫn còn là một con số không thì dầu có ân hận bao nhiêu cũng chỉ vô ích mà thôi.

Thương ai chớ có hẫng hờ,

Rồi đây ân hận một giờ gió trăng.

(Ngũ Nương Giáng Bút).

Lỗi lầm một phút đà ân hận,

Hành phạt bao lâu mới tận cùng?

(Thơ Thuần Đức).

 

 

ÂN HẬU

恩 厚

Ân: Ơn. Hậu: Sâu dày.

Ân hậu là ơn sâu dày, ơn nặng, đồng nghĩa với chữ “Thâm ân 深 恩”.

Ân hậu còn có nghĩa là nhiều đức độ.

Trong Phương Luyện Kỷ của Đức Hộ Pháp có câu: Phải ân hậu và khoan hồng.

Thi ân hậu bạc ngàn khó sánh,

Rán tập thành sửa tánh từ hoà.

(Kinh Sám Hối).

Nhà ân hậu bực tài danh,

Buồn lúc phong quang chẳng đắc thành.

(Đạo Sử).

 

 

ÂN HỒNG

恩 洪

Ân: Ơn. Hồng: To, lớn.

Ân hồng, như chữ “Hồng ân 洪 恩”, ơn đức to lớn, chỉ ơn đức của Trời, theo đạo Cao Đài là ân đức vô biên của Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế ban cho.

Xem: Hồng ân.

Xin có tưởng ruột rà màu mủ,

Cõi Hư linh bao phủ ân hồng.

(Kinh Thế Đạo).

Cảnh tịnh an nhàn dạ những mong,

Trường Tiên vui hứng giọt ân hồng.

(Cao Tiếp Đạo).

 

 

ÂN HUỆ

恩 惠

Ân: Ơn. Huệ: Cũng có nghĩa là ơn.

Ân huệ là ơn của người trên hoặc ơn các đấng thiêng liêng ban cho.

Thánh giáo Thầy có dạy: Hai con phải biết chỗ nhược của Ðạo nơi đó mà kiếm phương tìm chước, lấy cộng hoà hiệp nhơn ý mà điều đình sửa cải cho chóng, làm sao cho mỗi đạo hữu các con đều ngó về Toà Thánh mà xưng tụng ân huệ của mỗi con có trách nhiệm xứng đáng.

Ân huệ nhuần chan Hồng Lạc hưởng,

Biên cương vững định giữa trời đông.

(Thơ Tiếp Đạo).

Ân huệ rộng ban người hữu đức,

Chưởng quyền trừng trị kẻ vô nhân.

(Thơ Thông Quang).

 

 

ÂN NHÀ

Hay “Ơn nhà”.

Ân (ơn): Chỉ ơn nghĩa. Nhà: Chỉ những người cùng có quan hệ trong gia đình.

Ân nhà là ơn của gia đình, tức ơn của ông bà, cha mẹ, anh em đối với mình, trái với ơn nước.

Nợ nước ơn nhà đôi gánh nặng,

Một lòng son sắt khá cho bền.

(Đạo Sử).

 

 

ÂN OÁN

恩 怨

Ân: Ơn nghĩa. Oán: Thù hận.

Ân oán là ơn nghĩa và oán hận.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có đoạn dạy: Người Hàn Tín xưa, nếu chẳng trở lòng nạp bạn thì chẳng bị thác vô cớ. Còn ngươi Trương Tử Phòng, nếu chẳng Phạm Tăng cải Trời làm lếu thì ân oán đền trả chẳng mấy hồi.

Ghét người nhọc trí chẳng bằng thương,

Ân oán thiệt hư khá liệu lường.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

ÂN PHONG

恩 封

Ân: Ơn. Phong: Vua ban phẩm tước cho bề tôi.

Ân phong là chỉ vua ban phẩm tước cho người có công nghiệp.

Trong Tôn Giáo Cao Đài, ân phong là sự ban ơn của Đức Chí Tôn, Đức Lý Giáo Tông phong phẩm tước chức sắc cho những vị có công nghiệp hành Đạo.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bần Đạo cho biết trước trong kỳ xin ân phong này, có người được tuyển chọn xuất dương mà Giáo Đạo. Ấy đừng nói đó là việc tình cờ.

Trường thiên thảo luận một bài,

Ðể làm kỷ niệm nhơn ngày "ân phong".

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

ÂN QUANG PHỔ CHIẾU

恩 光 普 照

Ân quang: Ân điển như lằn ánh sáng soi chiếu. Phổ chiếu: Chiếu rọi khắp nơi.

Ân quang phổ chiếu là ân điển của Trời, Đức Chí Tôn ban cho toàn chúng sanh như những tia sáng soi chiếu khắp mọi nơi.

Ân quang phổ chiếu toàn nhơn loại,

Sớm biết hồi tâm ngộ chánh truyền.

(Thơ Huệ Phong).

Ân quang phổ chiếu Tam Kỳ độ,

Sứ mệnh lưu tồn thất ức niên.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

ÂN SÂU NGHĨA NẶNG

Ân sâu: Ơn huệ thâm sâu. Nghĩa nặng: Đạo nghĩa, tức việc theo đường lối phải sâu nặng.

Ân sâu nghĩa nặng, dịch từ chữ “Trọng nghĩa thâm ân 重 義 深 恩” là nói ơn nghĩa sâu nặng, ý chỉ ơn sinh thành dưỡng dục.

Ân sâu nghĩa nặng biết sao đây?

Trời nỡ gây chi thảm cảnh nầy!

(Thơ Thuần Đức).

 

 

ÂN SINH

恩 生

Ân: Ơn. Sinh: Sống, sinh ra.

Ân sinh là ơn ban cho sự sống, hoặc có thể hiểu là ơn sinh hoá ra, ý chỉ ơn của Tạo Hoá, tức Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Ân Sinh ở đây là tiếng được dùng để chỉ Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Lạc hứng khấu cung giai miễn lễ,

Thoát tai bá tánh ngưỡng Ân sinh.

(Bài Dâng Rượu).

Nhờ Đức Chí Tôn ban huệ trạch,

Cho tình đồng loại ngưỡng Ân sinh.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

ÂN TÌNH

恩 情

Ân: Ơn. Tình: Sự yêu mến, gắn bó giữa người với người, sự yêu thương giữa nam nữ.

Ân tình là đầy tình thắm thiết, tức do có ơn sâu nặng đối với nhau, nên mối tình cảm càng thêm nồng nàn.

Như: Mang nặng ân tình.

Nếu thiếp trước biết hoà biết thuận,

Nhẫn ghen tương nhịn lẫn ân tình.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Thấy lắm người vì nặng ân tình,

Chẳng hiểu rõ khuôn linh đâu khác mực.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ÂN TỨ

恩 賜

Ân: Ơn. Tứ: Người trên cho người dưới, vua hay Đức Chí Tôn ban cho.

Ân tứ là vua ban cho một vật gì. Ngày xưa, khi vinh quy bái tổ, mỗi ông Nghè được vua ban cho một tấm biển sơn son thếp vàng đề bốn chữ “Ân tứ vinh quy 恩 賜 榮 歸”.

Trong Tôn giáo. chữ “Ân tứ” còn dùng để chỉ Trời Phật ban xuống cho sanh chúng.

Thánh Giáo Chí Tôn có câu: Xưa sanh linh lắm lần hy sinh vì Ðạo, song chẳng đặng ân tứ cho bằng các môn đệ Thầy ngày nay, các con còn chi hơn nữa mà ngán lòng dừng bước.

Thành tâm tu niệm đắc Thiên ân,

Ân tứ hiền nhân dữ thiện nhân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

ÂN THÂM

恩 深

Hay “Ân thâm trọng”.

Ân: Ơn. Thâm: Sâu. Trọng: Nặng.

Ân thâm hay “Ân thâm trọng 恩 深 重”, như chữ “Thâm ân 深 恩”, là ơn nghĩa sâu nặng.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Cái ơn thâm trọng đó là nhờ nơi đức háo sanh của Ðức Phật Mẫu chúng ta mới có hình hài tại thế và nhờ nơi Người ban cho khí Sanh Quang, chúng ta mới có kiếp sống nơi cõi trần nầy để lập thân hành Ðạo hầu diệt tiêu quả nghiệp tiền khiên trở về Thiêng Liêng vị.

Phổ Đà có Phật Quan Âm,

Ra công cứu thế, ân thâm đức dày.

(Xưng Tụng Công Đức).

Kìa ai đã gọi ân thâm,

Hơn niềm chồng vợ âm thầm giúp nhau.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ÂN THIÊN

恩 天

Ân: Ơn nghĩa. Thiên: Trời.

Ân Thiên cũng như “Thiên ân 天 恩”, đều có nghĩa là ơn của Trời, tức ơn Chí Tôn.

Như: Ân Thiên ban bố cho cả chúng sanh.

Muôn kiếp có Ta nắm chủ quyền,

Vui lòng tu niệm hưởng ân Thiên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Vui vớt sanh linh nơi bể khổ,

Vui Trời rưới khắp đủ ân Thiên.

(Đạo Sử).

 

 

ÂN TRỜI

Ân: Ơn, điều làm cho người khác mang lại lợi ích, được người ấy nhận thức như là phải đền đáp. Trời: Chỉ Đấng Tạo Hoá.

Ân Trời, như chữ “Thiên ân”, là chỉ ơn của Đức Chí Tôn, có công sinh thành và dưỡng dục nên con người.

Ân Trời nhuần gội gắng công phu,

Cầu nguyện năm nơi bớt hận thù.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

ÂN XÁ

恩 赦

Ân: Ơn. Xá: Tha.

Ân xá là ban bố ơn tha thứ cho tất cả những người phạm tội lỗi nơi thế gian, không hạn định.

Mỗi thời kỳ Khai Đạo, Đức Chí Tôn đều có Đại ân xá cho toàn thể vạn linh. Khi Đức Chí Tôn giáng cơ truyền mở Đạo Cao Đài thì cũng ban ơn Đại xá cho toàn chúng sanh.

Chính vì vậy, Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ được gọi là “Đại ân xá kỳ ba của Thượng Đế ở Phương Đông”, do Hội Thánh dịch ra Pháp văn là “Troisième Amnistie de Diêu en Orient”.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Theo triết lý ấy, ngày nay là ngày các chơn hồn đặng quyền Chí Tôn ân xá, nếu không nói rằng hưởng được một đặc ân tiến hoá hơn nữa.

Xem: Đại xá.

Lôi thôi buổi trước nhiều ân xá,

Lấp lửng đừng làm tội bữa nay.

(Đạo Sử).

Nay Chí Tôn rộng quyền ân xá,

Chắc phen nầy Mẹ đã gặp con.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

ẤN CHỨNG

印 證

Ấn: Dấu đóng vào giấy để làm tin. Chứng: Làm bằng cứ, biết cho, chứng nhận.

Ấn chứng là dấu in để làm chứng.

Ấn chứng trong Tôn giáo là những dấu hiệu xác nhận kết quả đã đạt đến mức giác ngộ sau một thời gian tu hành hay công phu luyện Đạo.

Thuật ngữ của Thiền tông dùng cho sự chứng nhận của một vị Thầy cho rằng môn đệ của mình đã hoàn tất việc tu tập dưới sự hướng dẫn của mình. Tuy nhiên, việc tu tập Thiền chưa phải là chấm dứt, mà còn phải tiếp tục thêm nhiều nữa.

Nếu như các con còn ăn mặn, luyện đạo rủi có ấn chứng thì làm sao mà giải tán cho đặng.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

ẤN HÀNH

印 行

Ấn: In. Hành: Phát hành, tức đem sách ra lưu hành.

Ấn hành là in ấn kinh sách và phát hành.

Trong Tân Luật, Điều thứ hai mươi về phần Thế luật có câu: Kể từ ngày ban hành luật nầy, người bổn đạo chẳng nên chuyên gì làm cho sát sanh, hại vật; chẳng được làm nghề gì mà tồi phong bại tục; chẳng được soạn hay ấn hành những truyện phong tình huê nguyệt, không được buôn bán các thứ rượu mạnh và á phiện là vật độc làm cho giảm chất con người.

Lánh nên xa mã thị thành,

Noi gương Tiên, Phật ấn hành sử kinh.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

ẤN QUAN

印 官

Ấn: Con dấu. Quan: Người có chức vị, làm việc cho nhà nước.

Ấn quan là cái ấn của các vị quan, tức con dấu để các quan đóng vào chiếu chỉ tấu trình vua, hoặc đóng vào văn thư cho dân chúng thi hành.

Chẳng kể công khanh bỏ ấn quan,

Bồng Lai vui đạo hưởng an nhàn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

ẤN QUYỀN

印 權

Ấn: Con dấu của quan hoặc vua. Quyền: Những điều do địa vị hay chức vụ mà được làm.

Ấn quyền là quyền hành được xác định bởi con dấu của bậc quan, hoặc vua chúa.

Ngày xưa, các quan được vua ban cho ấn quyền để thực thi quyền hành của mình, còn vua muốn được toàn dân nhìn nhận thì phải chấp chưởng ngọc tỷ.

Thăng Long bao thuở nâng hùng khí,

Gia Ðịnh tự nhiên chấp ấn quyền.

(Đạo Sử).

 

 

ẤN RỒNG

Ấn: Con dấu. Rồng: biểu tượng cho vua, chỉ nhà vua.

Ấn rồng, do chữ “Long ấn 龍 印”, tức là con dấu của nhà vua, còn gọi là ngọc tỷ, ý chỉ thể hiện cái quyền hành của một vị vua.

Nay con nắm ấn rồng Thượng Phụ,

Ngậm phù linh đặng giữ lòng con.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

ẤN TÝ

印 子

Ấn: Ấn quyết, một dấu hiệu thể hiện trên bàn tay, có tác dụng huyền diệu. Tý: Chi đứng đầu trong mười hai địa chi. Theo phép tính tuổi, Tý ở vị trí chân ngón tay áp út, Sửu chân ngón tay giữa, Dần chân ngón tay trỏ…

Trong Đạo Cao Đài, khi cúng lạy Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu hay các Đấng Thần, Thánh, Tiên, Phật, người tín đồ, bàn tay trái phải bắt ấn Tý.

Ấn Tý là một cái ấn đặc biệt của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, tức là bấm ngón cái của tay trái vào chi Tý, rồi nắm tay lại. Bàn tay mặt bao bên ngoài cái nắm tay trái tạo thành một khối tròn, ngón cái tay mặt bấm vào chi Dần của tay trái.

Khi bái lễ, hai tay con chấp lại, song phải để tay trái ấn Tý, tay mặt ngửa ra nằm dưới, tay trái chụp lên trên.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

ẨN

Ẩn là giấu kín, lánh mình vào nơi kín đáo cho không bị lộ ra, cho khó thấy.

Như: Hòn đảo ẩn trong sương mù, lánh mình ẩn chốn am mây, máy bay địch khi ẩn khi hiện.

Chọc người ghẹo chúng sợ kinh,

Nương theo mây gió ẩn mình lánh tai.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Tâm ẩn ái giúp Chí Linh,

Biển mê chèo chiếc thuyền tình độ nhân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ẨN DANH

隱 名

Ẩn: Giấu kín. Danh: Tên.

Ẩn danh là giấu tên, ý chỉ những kẻ muốn che giấu tên họ của mình không cho ai biết, người sống ẩn dật.

Thánh giáo Đức Hộ Pháp trong Thánh Ngôn Sưu Tập có câu: Ngày nay nước Việt Nam có nhiều Thánh, Hiền xuất thế, nhưng còn ẩn danh trong các hang thẳm để lo lập nghiệp sau nầy.

Sánh vai Sào Phủ ẩn danh xưa,

Vì nẻo lợi danh cũng đã thừa.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

ẨN DẬT

隱 逸

Ẩn: Giấu, núp. Dật: Rảnh rang.

Ẩn dật tức là người thích nhàn nhã nên ở ẩn, không chịu ra làm quan.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Nếu không gặp thời thì chịu mai một, sống đời ẩn dật, vui thú lâm tuyền bạn với gió trăng, thi gan cùng tuế nguyệt, chớ không màng đến danh lợi đen tối.

Toan cổi lao ẩn dật chốn non xanh,

Thương chủng tộc lao đao vòng tử xích.

(Văn Tế Tiểu Tường).

Ông thì sớm thức thời ẩn dật,

Ông còn ưa mũ ngọc đai vàng.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

ẨN NÚP

Hay “Ẩn nấp”.

Ẩn: Giấu mình vào nơi kín đáo để không lộ ra, cho khó thấy. Núp (nấp): Ẩn, trốn.

Ẩn núp, như chữ “Ẩn nấp”, là giấu mình vào nơi kín đáo hoặc nơi có vật che chở.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Còn như biết khôn thì ẩn núp tại thế mà làm một bậc Nhân Tiên thì kiếp đoạ trần cũng còn chưa mãn.

Tuy nền Đạo mấy lần nghiêng sụp,

Bát nhã còn ẩn núp bến trần.

(Xuân Hương Giáng Bút).

 

 

ẨN NHẪN

隱 忍

Ẩn: Núp, giấu mình không cho ai biết. Nhẫn: Nhẫn nại, bền chí.

Ẩn nhẫn là nhẫn nại giấu mình vào một nơi nào đó, không làm việc gì và không để cho người biết.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy như sau: Thầy ban ân cho các con. T. chi chi cũng ẩn nhẫn đợi lịnh Thầy, nghe con!

Thìn lòng ẩn nhẫn đợi đôi năm,

Con khá từ đây biết kiệm cần.

(Đạo Sử).

Chưa phải thời lai con ẩn nhẫn,

Dầu sao làng xóm cũng ngồi trên.

(Đạo Sử).

Ẩn nhẫn âu đành trong chốc lát,

Thuyền qua rồi cũng chở sang cho.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

ẨN SĨ

隱 士

Ẩn: Núp, giấu mình không cho ai biết. Sĩ: Học trò, người có tài trí.

Ẩn sĩ là người trí thức, tài ba không ra làm quan mà lui về ở ẩn hưởng cảnh nhàn.

Như: Thời nầy còn nhiều ẩn sĩ chưa ra giúp đời.

Khi kẹt đá vài câu hứng chí,

Giải lòng ẩn sĩ một chung chè.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

ẨN TÀNG

隱 藏

Ẩn: Núp, giấu không cho ai biết. Tàng: Che dấu.

Ẩn tàng là che dấu kín không cho ai biết, ý chỉ có tài lỗi lạc không thể hiện ra ngoài.

Như: Ẩn tàng kinh luân.

Cõi thọ là đâu khó độ chừng,

Ẩn tàng lỗi lạc bậc kinh luân.

(Đạo Sử).

Tử Nha ngồi chốn thạch bàn,

Thả câu sông Vị ẩn tàng Thiên cơ.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

ẨN THÂN

隱 身

Ẩn: Giấu kín. Thân: Thân mình.

Ẩn thân là giấu kín thân mình, tức tìm một nơi vắng vẻ mà nương thân, chẳng để lộ ra ngoài.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ông Dalai Lama là Phật vương của xứ Tây tạng, mấy em dễ biết chẳng phải ổng ở xứ Tây Tạng đặng ẩn thân mà thôi, mà ổng còn bảo vệ nuôi dưỡng nữa.

Nên chúng nó ngày đêm mơ tưởng có một điều rất thấp thỏi là vào một chỗ u nhàn mà ẩn thân luyện đạo.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

ẨN TRÚ

隱 住

Ẩn: Núp, giấu không cho ai biết. Trú: Ở, ngụ.

Ẩn trú là giấu mình ở ẩn. Ẩn trú còn có nghĩa là ẩn núp, tức giấu mình nơi kín đáo, hoặc nơi có vật che chở.

Thánh giáo của Thanh Tâm có câu: Ruộng đây là tỷ với Tâm, Tâm không ai dồi trau. Ðạo nơi Tâm, thì Tâm ví như Ðiền, có Ðiền mà chẳng cày bừa đặng đem hột lúa gieo vào cho đặng trổ bông đơm hột thì ruộng tất phải bỏ hoang, bỏ hoang thì sâu bọ rắn rít xen vào ẩn trú.

Kìa những kẻ sơn lâm ẩn trú,

Một chữ nhàn vui thú thanh cao.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

ẤP

1.- Ấp là ôm lấy hoặc áp sát vào trên cả bề mặt. Như: Ôm ấp, ấp yêu, bé ấp đầu vào lòng mẹ.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Chúng ta ngày nay trên đường tu tiến, đắc Ðạo hay không cũng do bà Mẹ Thiêng Liêng ấy nâng đỡ ấp yêu, vì không có ai cưng con hơn là Phật Mẫu.

Khi đầu ấp cùng khi tay gối,

Thân thiết nhau sớm tối quen hơi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Ấp là nói loài chim nằm phủ lên trứng cho ấm để làm nở ra con.

Như: Chim ấp trứng ở tổ, gà mái ấp, vịt ấp trứng nở ra năm con.

Trong Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Thánh giáo Thầy có câu: Chiêu đã hữu căn hữu kiếp; Thầy đã dùng huyền diệu mà thâu phục độ rỗi nó trước các con, biết bao phen Thầy gom các Môn Ðệ lại, Thầy sở cậy nó ấp yêu dùm cho Thầy dường như gà mẹ ấp con, song nó chẳng vâng mạng lịnh Thầy, lại đành lòng cắn mổ xô đuổi dường ấy, thì làm sao cho xứng đáng cái trách nhậm rất lớn của Thầy toan phú thác cho nó.

Trứng gà, nếu có trống khi ấp lại nở ra con, cái sống đó là gì?

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

ẤP KHẢO

Ấp Khảo, hay Bá Ấp Khảo, là con của Tây Bá Hầu Cơ Xương, tức vua Văn Vương.

Văn Vương khi còn là chư hầu của nhà Ân, bị Sùng Hầu Hổ gièm pha, nên vua Trụ bắt giam tại ngục Dũ Lý bảy năm.

Tán Nghi Sanh, một vị đại thần của Cơ Xương đem gái đẹp, ngọc ngà châu báu, sai người con của Cơ Xương là Bá Ấp Khảo dâng cho vua Trụ để xin tha cho Văn Vương. Thấy Bá Ấp Khảo đẹp trai, đàn giỏi, sanh lòng tà, Đát Kỷ tâu vua cho Ấp Khảo dạy nàng đờn. Nhưng bị Ấp Khảo phản đối, Đát Kỷ sàm tấu với vua Trụ, nên Bá Ấp Khảo bị giết, lấy thịt làm nhân bánh bao cho vua Văn Vương ăn để thử tài toán quẻ của vua Văn Vương.

Ả ác phụ vu oan Ấp Khảo,

Bọn gian thần gieo hoạ Văn Vương.

(Vô Danh Cư Sĩ).

 

 

ẤP LẠNH QUẠT NỒNG

Ấp lạnh: Khi trời lạnh ấp chiếu giường cho ấm. Quạt nồng: Lúc trời nóng, quạt cho mát mẻ.

Ấp lạnh quạt nồng là nói việc chăm sóc cha mẹ của người con hiếu thảo: Lúc tiết lạnh, thì ấp chiếu giường cho ấm, khi trời nóng thì quạt đỡ nồng.

Minh tâm hằng dốc báo mười ân,

Ấp lạnh quạt nồng trọn hiếu thân.

(Thơ Thuần Đức).

Ấp lạnh quạt nồng đành bỏ dở,

Dâng trà mời nước phải buông trôi.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

ẤP Ủ

Ấp: Ôm lấy hoặc áp sát vào trên cả bề mặt. Ủ: Phủ kín cho ấm, cho nóng.

Ấp ủ là ôm trong lòng và giữ cho được ấm.

Ấp ủ còn có nghĩa là nuôi giữ trong lòng một cách trân trọng.

Như: Ấp ủ những hy vọng từ lâu.

Lòng con ấp ủ ngôn từ,

Nỗi thương nỗi nhớ dậy như sóng triều.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

ÂU

1.- Âu có nghĩa thà là, có lẽ (như thế chăng).

Như: Âu đành quả kiếp nhân duyên, âu cũng là một dịp hiếm có.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: Thảm thay! mà cũng tiếc thay! Gió khuất thuyền đưa, nhạn về rừng cũ. Con đường đạo hạnh đợi buổi khuất dấu, mờ mệt nét rêu phong, mới sửa soạn lần chơn, âu dễ biết vô phần hay hữu phúc.

Làm lành sau cũng lành vay trả,

Chác dữ âu hay dữ vốn lời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Gồng gánh hai vai nặng nợ trần,

Có thân âu hẳn khổ cho thân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Kế cao âu rõ phép Trời cao,

May đặng đường Tiên cẳng bước vào.

(Đạo Sử).

2.- Âu, do chữ “Ưu ” đọc trại ra, có nghĩa là lo, lo lắng. Như: Âu lo, âu sầu, chuyện người thì mặc người âu.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Càng nghĩ nỗi khó khăn gay cấn mà Hội Thánh phải gánh chịu nơi Trung ương trong giai đoạn hiện tại, Hội Thánh càng thông cảm nỗi lo âu ngần ngại của quý vị nơi chốn xa xôi trong khi thi hành phận sự.

Lục lạc khua ran cả Ngũ châu,

Nương chi vật chất phải âu sầu.

(Lục Nương Giáng Bút).

3.- Âu là tên một châu trong ngũ đại, ở về phía Tây châu Á. Như: Nước Pháp là một nước thuộc châu Âu.

Thánh giáo Thầy có câu: hoạ Âu tai Á sẽ lần lần thay phiên nhau, dụng luật Thiên đình mà diệt phạt người vô đạo. Càn khôn cũng vì đó mà phải điên đảo.

Trời Âu biển Á chờ thay sắc,

Sắc trắng mây lành phủ khắp nơi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nhị kiếp Tây Âu cầm máy tạo,

Hữu duyên Đông Á nắm thiên thơ.

(Giáo Tông Giáng Bút).

 

 

ÂU CA

謳 歌

Âu: Nhiều người cùng hát. Ca: Ca hát.

Âu ca tức là cùng nhau hát để ca tụng công đức một người nào hay một việc gì.

Mạnh Tử có câu: Bất âu ca Nghiêu chi tử, nhi âu ca Thuấn 不 謳 歌 堯 之 子 而 謳 歌 舜, nghĩa là không âu ca con vua Nghiêu mà âu ca Thuấn.

Trách nhiệm thiệt hành cho vẹn phận,

Hồng ân chung hưởng buổi âu ca.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thánh chí biến sanh Nam Quốc vượng,

Thần oai hội hiệp tụng âu ca.

(Đạo Sử).

Khắp cả chúng sanh đồng chung sống,

Lập đời thượng cổ hưởng âu ca.

(Thơ Đức Hộ Pháp).

 

 

ÂU YẾM

Âu yếm là biểu lộ tình thương yêu, trìu mến bằng dáng điệu, cử chỉ hay giọng nói.

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du có viết: Sóng tình dường đã xiêu xiêu, Xem trong âu yếm có chiều lả lơi.

Lừa lọc nỗi thân cùng nỗi nợ,

Tưởng tình âu yếm dạ thêm đau.

(Đạo Sử).

Đảnh ngự chia buồn còn có kẻ,

Bớt lo âu yếm mới an thân.

(Lục Nương Giáng Bút).

Niềm âu yếm ai đâu rõ giá,

Vui trăng hoa dối trá là thường.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ÂU LẠC

甌 貉

Âu Lạc là tên nước Việt Nam ta thời vua Thục Phán vào năm 214 trước công nguyên.

Theo bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư thì vua Thục Phán (thủ lĩnh bộ tộc Âu Việt), thống nhất hai bộ tộc Âu Việt và Lạc Việt với nhau thành nước Ấu Lạc, sau khi đánh bại vị vua Hùng thứ 18 của nước Văn Lang, ông lên ngôi lấy hiệu là An Dương Vương.

Kinh đô của Âu Lạc đặt tại Cổ Loa, ngày nay thuộc huyện Cổ Loa Đông Anh, Hà Nội.

Xem: Trọng Thuỷ Mỵ Châu.

Đất đai Âu Lạc nam liền bắc,

Sông núi Rồng Tiên gấm dệt hoa.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

ÂU LO

Âu: Lo lắng. Lo: E ngại, áy náy trong lòng.

Âu lo, như chữ “Lo âu”, là ở trạng thái áy náy, suy nghĩ nhiều, lo lắng.

Thánh giáo Đức quyền Giáo Tông có câu: Ôi! Đã nặng mang nghĩa vụ với đời thì chất khí sanh phải mong đáp đền tròn nghĩa vụ, vì vậy mà các đấng nguyên nhân, mỗi phen xuống thế là mỗi lần âu lo, nhưng mấy em hiểu rằng: Nếu không xuống cõi trần đây mà thi thố cả tài hùng biện để lập vị thiêng liêng thì mong mỏi gì đoạt phẩm.

Bên mình sầu vướng khá âu lo,

Bước nhọc đường gay gắng chí dò.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thường ngày cay đắng phải âu lo,

Ðộ dẫn nhằm nơi phải gắng dò.

(Đạo Sử).

 

 

ÂU SẦU

Âu: Lo âu, lo lắng. Sầu: Buồn rầu.

Âu sầu là có vẻ lo buồn.

Giải về cách trả quả, Đức Lý Giáo Tông có đoạn: Có hai cách Trả quả: Một là quả báo về tinh thần ở phạm vi tư tưởng, buồn thảm âu sầu. Hai là quả báo về xác thịt, tật bệnh, đói rét, khốn nàn.

Lục lạc khua ran cả Ngũ châu,

Nương chi vật chất phải âu sầu.

(Đạo Sử).

 

 

ẤU

Ấu là con trẻ từ mười tuổi trở lại gọi là Ấu, non nớt, đối với trưởng.

Như: Ấu nhi, ấu học, ấu trĩ, đồng ấu, thơ ấu.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Thưa cùng Hội Thánh, mấy em Nam, Nữ lưỡng phái. Nhứt là đám thanh niên, đồng ấu, những lời của Bần Đạo nói ra đây côt yếu để vào óc các em hơn hết.

Còn con may đặng giữ tình,

Khối chung tình ở nơi mình ấu nhi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ẤU THƠ

Ấu: Trẻ con, ít tuổi. Thơ: Còn nhỏ, còn bé dại.

Ấu thơ, như chữ “Thơ ấu”, đứa bé còn ít tuổi, còn bé dại. Như: Thời thơ ấu, những ngày ấu thơ.

Con người từ buổi ấu thơ đã biết ăn, biết nói thì biết thương cha mẹ anh em.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

ẤU XUÂN

幼 春

Ấu: Trẻ nhỏ, bé nhỏ. Xuân: Thời niên thiếu.

Ấu xuân là thời tuổi trẻ, còn nhỏ bé, còn đi học.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy: Kẻ phàm dầu ly hương thuở ấu xuân đi nữa, lòng hằng hoài vọng. Chí Thánh dầu bị đoạ trần, lòng hỡi còn nhớ hoài nơi Tiên cảnh. Nếu chẳng vậy, ai còn dám ưng thuận hạ thế cứu đời?

Đẹp mình với vẻ cân đai,

Công thầy tô điểm từ ngày ấu xuân.

(Kinh Thế Đạo).

Mắt mờ thêm nỗi lảng tai,

Thất tuần đã quá từ ngày ấu xuân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 


 )
 )(
 __)_(__
 __(_____)__
(((_________)))
 )    ׀    (

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Danh mục vần A-Ă-Â

 

A

A

A Ă Â

A Di Đà

A Đẩu

A La Hán

A Nan

A Nậu Đa La Tam Diệu Tam Bồ Đề

A Tỳ

A Tu La

 

Á

Á

Á phiện

 

À

À

 

Ả Chức chàng Ngưu

Ả đào

Ả Hằng

Ả Tố

 

ÁC

Ác

Ác cảm

Ác đạo

Ác hành

Ác ý

Ác khẩu

Ác khí

Ác lặn

Ác lố

Ác lồng

Ác ma

Ác nghiệp

Ác nghiệt

Ác phong

Ác quả

Ác tà

Ác tận hiền vinh

Ác thú

Ác trị

Ác vàng

Ác vàng thỏ bạc

Ác xế

 

ÁCH

Ách

Ách đất

Ách giữa đường

Ách khổ

Ách nạn

Ách nước tai Trời

Ách nước nạn dân

 

AI

Ai

Ai ai

Ai bi

Ai chẳng chịu lộc nhà Châu

Ai điếu

Ai đời

Ai hoài

Ai nấy

Ai oán

Ai tín

 

ÁI

Ái

Ái ân

Ái biệt ly khổ

Ái chủng

Ái dục

Ái hà

Ái kính

Ái mộ

Ái nữ

Ái ngại

Ái ố tham sân

Ái quốc

Ái tuất

Ái tuất thương sanh

 

ẢI

Ải Nhạn

Ải quan

 

AM

Am hiểu

Am mây

Am tự

 

ÁM

Ám

Ám mờ

Ám muội

Ám trợ

 

ẢM

Ảm đạm

 

AN

An

An bài

An bang

An bang tế thế

An bần

An bần lạc đạo

An cư lạc nghiệp

An dân

An định

Angkor

An hưởng

An khang

An khang thịnh vượng

An khương

An lạc

An mạng

An ninh

An ngôi

An nguy

An ngự

An nghỉ ngàn thu

An nhàn

An phận

An phận thủ thường

An táng

An tâm

An tịnh

An Thánh Tượng

An thân

An thần

An trí

An ủi

An vấn

An vị

An vui

 

ÁN

Án lịnh

Án tiết

Án Tử

 

ÁNG

Áng

 

ANH

Anh

Anh dũng

Anh hài

Anh hào

Anh hoa

Anh hùng

Anh lạc

Anh linh

Anh minh

Anh nhi

Anh phong

Anh quân

Anh tài

Anh tuấn

Anh thư

 

ÁNH

Ánh

Ánh sáng

Ánh Chí Linh

Ánh Hồng Quân

Ánh sáng

Ánh thái dương

Ánh xá lợi

 

ẢNH

Ảnh hưởng.

 

AO

Ao

Ao nghiên ruộng giấy

Ao ước

Ao tù

Ao Thất Bửu

 

ÁO

Áo

Áo bả

Áo chầu

Áo chế

Áo dà

Áo dài

Áo gấm về quê

Áo giáp

Áo lụa gởi tình thương

Áo mão

Áo não

Áo ngự hàn

Áo quần

Áo tơi

 

ÀO

Ào

 

ẢO

Ảo mộng

 

ÁP

Áp bức

Áp chế

Áp dụng

Áp út

 

ĂM

Ăm ắp

 

ẴM

Ẵm

Ẵm bồng

 

ĂN

Ăn

Ăn bòn

Ăn cay uống đắng

Ăn chay

Ăn chay làm lành

Ăn chơi

Ăn gian

Ăn học

Ăn kiệm ở cần

Ăn mặc

Ăn mật nằm gai

Ăn năn

Ăn nói

Ăn ngay ở thật

Ăn oán nuốt hờn

Ăn rau chê bệ ngọc

Ăn thãi uống thừa

Ăn thua

Ăn trộm

Ăn trước ngồi trên

Ăn uống

Ăn vụng

 

ẮT

Ắt

 

ẤY

Ấy

 

ÂM

Âm

Âm cảnh

Âm công

Âm cung

Âm cực dương hồi

Âm chất

Âm chất chi điền

Âm dung

Âm dung như tại

Âm Dương

Âm dương biến thiên

Âm dương cách bóng

Âm dương đôi nẻo

Âm dương hiệp đạo

Âm dương lưỡng lộ

Âm đài

Âm đình

Âm đức

Âm hao

Âm hồn

Âm hưởng

Âm khí

Âm phủ

Âm quang

Âm ty

Âm thinh

Âm thinh sắc tướng

Âm thầm

 

ẤM

Ấm

Ấm áp

Ấm cúng

Ấm êm

Ấm lạnh

Ấm no

 

ẨM

Ẩm mã đầu tiền

Ẩm thực tinh khiết

 

ÂN

Ân

Ân ái

Ân cần

Ân điển

Ân đức

Ân đức hoá thâm

Ân hận

Ân hậu

Ân hồng

Ân huệ

Ân nhà

Ân oán

Ân phong

Ân quang phổ chiếu

Ân sâu nghĩa nặng

Ân sinh

Ân tình

Ân tứ

Ân thâm

Ân Thiên

Ân Trời

Ân xá

 

ẤN

Ấn chứng

Ấn hành

Ấn quan

Ấn quyền

Ấn rồng

Ấn Tý

 

ẨN

Ẩn

Ẩn danh

Ẩn dật

Ẩn núp

Ẩn nhẫn

Ẩn sĩ

Ẩn tàng

Ẩn thân

Ẩn trú

 

ẤP

Ấp

Ấp Khảo

Ấp lạnh quạt nồng

Ấp ủ

 

ÂU

Âu

Âu ca

Âu yếm

Âu Lạc

Âu lo

Âu sầu

 

ẤU

Ấu

Ấu thơ

Ấu xuân

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


A | Á | À | | Ác | Ách | Ai | Ái | Ải |
Am | Ám | Ảm | An | Án | Áng | Anh | Ánh | Ảnh |
Ao | Áo | Ào | Ảo | Áp |

Ăm | Ẵm | Ăn |

Ắt | Ấy | Âm | Ấm | Ẩm | Ân | Ấn | Ẩn | Ấp | Âu | Ấu |


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Cập nhật ngày: 09-06-2020

A | Ă | Â


A | B | C | CH | D | Đ | E | G | H | I-Y | K-KH | L | M | N | NG | NH | O | P | Q | R | S | T | TH | TR | U | V | X


[ MỤC LỤC ]

Ấn bản (v.2018)

TỪ NGỮ ĐIỂN CỐ CAO ĐÀI
Soạn-giả: Hiền Tài Quách Văn Hoà

DOWNLOAD
E-book-PDF