TỪ NGỮ ĐIỂN CỐ CAO ĐÀI

 

 

Danh mục vần B

 

BA

Ba

Ba cung sáu viện

Ba chi

Ba chìm bảy nổi

Ba đào

Ba đông

Ba giềng

Ba kỳ

Ba La Mật

Ba lần dâng dép

Ba lơn

Ba lược sau thao

Ba mối

Ba mươi sáu cõi

Ba nhánh

Ba quân

Ba Sắc Đạo

Ba sanh

Ba sanh hương lửa

Ba tấc hơi

Ba ton

Ba Thần phẩm

Ba thu

Ba Trấn

Ba trợn

Ba vạn sáu ngàn ngày

Ba vòng vô vi

 

Bá Di

Bá Di Thúc Tề

Bá Đào Giác Ai

Bá đạo

Bá huê viên

Bá Lý Hề

Bá nạp

Bá nạp quang

Bá Nha

Bá Nha Chung Tử

Bá Tử

Bá quan

Bá tánh

Bá tòng

Bá tuế nhân

Bá tùng

Bá tước

Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ

Bá trạo

Bá vơ

Bá Vương

Bá xàm

 

Bà chằn

Bà Nguyệt

 

BẢ

Bả

Bả vinh hoa

 

 

BẠ

Bạ

 

BÁC

Bác

Bác ái

Bác lãm

Bác luật

 

BẠC

Bạc

Bạc bẽo

Bạc chứa vàng chôn

Bạc đãi

Bạc đầu

Bạc mệnh

Bạc phần

Bạc phận

Bạc phước

Bác phước vô duyên

Bạc tình

Bạc tình bội nghĩa

Bạc tóc da mồi

Bạc vàng

 

BÁCH

Bách niên

 

BẠCH

Bạch

Bạch Đằng Giang

Bạch đầu

Bạch Khỉ

Bạch khỉ tìm đường sơn khê

Bạch ngọc

Bạch Ngọc chung

Bạch Ngọc Chung Đài

Bạch Ngọc Kinh

Bạch phát

Bạch tuyết thần quang

Bạch thố

Bạch thủ thành gia

Bạch Vân Động

Bạch Vương Đại Hội

 

BÁI

Bái

Bái Công

Bái kỉnh

Bái mạng

Bái phục

 

BÀI

Bài

Bài bác

Bài bạc

Bài trừ

Bài vị

Bài xích

 

BÃI

Bãi

Bãi buôi

Bãi cát

 

BẠI

Bại

Bại hoại

Bại lộ

 

BAY

Bay

Bay bướm

Bay hơi

Bay nhảy

 

BÀY

Bày

Bày biện

Bày đặt

Bày trò

Bày vẽ

 

BẢY

Bảy

Bảy bước

Bảy chiếc ngai

Bảy dây oan nghiệt

Bảy hai địa cầu

Bảy Lão

Bảy năm Dũ Lý

Bảy nổi ba chìm

Bảy thiếp

Bảy ức

 

BÁM

Bám

 

BAN

Ban

Ban bố

Ban Đạo Sử

Ban hành

Ban Kỳ Lão

Ban Kiến Trúc

Ban khen

Ban Nhà Thuyền Bát Nhã

Ban Phép Lành

Ban quyền

Ban sắc

Ban sơ

Ban Tổng Trạo

Ban Thế Đạo

Ban thưởng

 

BÁN

Bán

Bán đồ nhi phế

Bán lận buôn gian

Bán mình

Bán nài

Bán nguyệt mua hoa

Bán tín bán nghi

 

BÀN

Bàn

Bàn bạc

Bàn Cai Quản Phước Thiện

Bàn Cổ

Bàn chông

Bàn đào

Bàn Đào Hội Yến

Bàn hoàn

Bàn Khê

Bàn linh

Bàn luận

Bàn tính

Bàn Trị Sự

Bàn viết

 

BẢN

Bản chân

Bản chất

Bản lĩnh

Bản ngã

Bản thân

Bản xứ

 

BẠN

Bạn

Bạn bè

Bạn hàng

Bạn lữ

Bạn tác

Bạn trăm tuổi

Bạn vàng

 

BÀNG

Bàng Cử

Bàng môn

Bàng quan

Bàng Quyên Tôn Tẫn

 

BẢNG

Bảng

Bảng hổ

Bảng lảng

Bảng ngọc

Bảng Phong thần

Bảng vàng

 

BÁNH

Bánh

Bánh ếch đi, bánh quy lại

Bánh lái

Bánh trái

Bánh vẽ

 

BÀNH

Bành Thành

Bành trướng

 

BẢNH

Bảnh

 

BAO

Bao

Bao biếm

Bao Công chẩn bần

Bao Chửng

Bao dung

Bao đành

Bao đồng

Bao giờ

Bao hàm

Bao Hắc Tử

Bao la

Bao lăm

Bao lâu

Bao lơn

Bao nả

Bao nhiêu

Bao nhiêu công quả bấy nhiêu phần

Bao phen

Bao phủ

Bao quản

Bao quát

Bao Tỷ

Bao tóc

Bao thuở

Bao trùm

 

BÁO

Báo

Báo Ân Từ

Báo bổ

Báo đáp

Báo hiếu

Báo quốc

Báo Quốc Từ

Báo ứng

Báo ứng nhãn tiền

 

BÀO

Bào

Bào ảnh

Bào chữa

Bào huynh

Bào lạc

 

BẢO

Bảo

Bảo an

Bảo bọc

Bảo cô

Bảo dưỡng

Bảo đảm

Bảo Đạo

Bảo Học Quân

Bảo hộ

Bảo lãnh

Bảo Pháp

Bảo quốc

Bảo sanh

Bảo Sanh Quân

Bảo tinh

Bảo toàn

Bảo tồn

Bảo tồn quy cổ

Bảo tồn chúng sanh

Bảo tồn vạn linh

Bảo Thế

Bảo Thể

Bảo thủ

Bảo thủ Chơn Truyền

Bảo trọng

Bảo Văn Pháp Quân

 

BÃO

Bão

Bão bùng

Bão tố

 

BẠO

Bạo

Bạo hành

Bạo ngược

Bạo tàn

Bạo Tần

 

BÁT

Bát

Bát âm

Bát bửu

Bát bửu nang

Bát Cảnh Cung

Bát chánh đạo

Bát Đạo Nghị Định

Bát hồn

Bát hồn nhạc khí

Bát hồn vận chuyển

Bát Nương Diêu Trì Cung

Bát ngát

Bát nhã

Bát quái

Bát Quái Đài

Bát quái đài là hồn

Bát Quái Mạo

Bát Tiên

Bát vu

 

BẠT

Bạt

Bạt tiến

Bạt tuỵ siêu quần

 

BÁU

Báu

Báu vật

 

BÀU

Bàu Cà Na

 

BẮC

Bắc

Bắc cầu

Bắc cầu bồi lộ

Bắc du

Bắc đẩu

Bắc Đẩu Bội Tinh

Bắc Đẩu Nam Tào

Bắc khuyết

Bắc Nam

Bắc Tông

 

BẰM

Bằm

 

BĂN

Băn khoăn

 

BẮN

Bắn

Bắn bình

Bắn sẻ

 

BĂNG

Băng

Băng ngàn

Băng tuyết

Băng thanh

 

BẰNG

Bằng

Bằng chứng

Bằng địa

Bằng hữu

 

BẲNG

Bẳng

 

BẮP

Bắp

 

BẮT

Bắt

Bắt ấn

Bắt bén

Bắt chước

Bắt gió nắn hình

 

BẶT

Bặt

Bặt tăm

Bặt tăm hơi

 

BẬC

Bậc

Bậc phẩm

 

BÂY

Bây giờ

 

BẤY

Bấy

Bấy chầy

Bấy chừ

Bấy lâu

Bấy nay

Bấy nhiêu

 

BẦY

Bầy

Bầy trâu đốt đít

 

BẪY

Bẫy

Bẫy dò

Bẫy vô thường

 

BẬY

Bậy

Bậy bạ

 

BẤM

Bấm

 

BẦM

Bầm gan

 

BẨM

Bẩm

Bẩm tính

 

BẦN

Bần

Bần bạc

Bần cùng

Bần dùng

Bần hàn

Bần khổ

Bần tiện

 

BẨN

Bẩn

Bẩn thỉu

 

BẬN

Bận

Bận bịu

Bận lòng

 

BÂNG

Bâng khuâng

 

BẬP

Bập bẹ

Bập bồng

 

BẤT

Bất

Bất bình

Bất cập

Bất công

Bất chánh

Bất di bất dịch

Bất diệt

Bất định

Bất đồng

Bất đức

Bất giáo nhi thiện

Bất hạnh

Bất hiếu

Bất hiếu hữu tam

Bất hoà

Bất hoặc

Bất hủ

Bất kỳ

Bất luận

Bất lực

Bất lương

Bất mãn

Bát minh

Bất mục

Bất ngôn nhi mặc tuyên đại hoá

Bất nghĩa

Bất nhơn

Bất phân

Bất sanh bất diệt

Bất tài

Bất tài vô dụng

Bất tận

Bất thân

Bất thường

Bất trắc

Bất tri thế sự

Bất trung

Bất Vi

 

BÂU

Bâu

 

BẦU

Bầu

Bầu bạn

Bầu linh

Bầu linh gậy sắt

Bầu nước đai cơm

Bầu Nhan

Bầu nhiệt huyệt

Bầu phong nguyệt

Bầu tiên

 

BẬU

Bậu

 

Bé bỏng

Bé thơ

 

 

BẺ

Bẻ

Bẻ bai

Bẻ gãy chữ đồng

Bẻ liễu

 

BẼ

Bẽ bàng

 

BÉN

Bén

 

BÈN

Bèn

 

BÉO

Béo

 

BÈO

Bèo

Bèo bọt

Bèo tạt

Bèo mây

Bèo nước

Bèo nước tái ngộ

Bèo nước tan hiệp

Bèo trôi

 

BẸO

Bẹo

 

Bê tha

Bê trễ

Bê trễ phận sự

 

BẾ

Bế

Bế địch trợ hoang

Bế ngũ quan

Bế tắc

 

BỀ

Bề

Bề thế

 

BỂ

Bể

Bể ái

Bể bình Lý Uyên

Bể dâu

Bể hẹn

Bể hoạn

Bể khổ

Bể hẹn non thề

Bể Thánh

Bể trần

 

BỄ

Bễ

 

BỆ

Bệ

Bệ ngọc

 

BÊN

Bên

 

BẾN

Bến

Bến giác

Bến khổ

Bến khổ đường mê

Bến mê

Bến nước

Bến Phạm

Bến tục

Bến Tương

Bến Thánh

Bến trần

 

BỀN

Bền

Bền bỉ

Bền công

Bền chặt

Bền chí

Bền dạ

Bền gan

Bền giữ

Bền lòng

Bền sức

Bền tâm

Bền vững

 

BỆNH

Bệnh

Bệnh viện

 

BẾP

Bếp

Bếp núc

 

BÊU

Bêu

 

BI

Bi

Bi đát

Bi hoan

Bi kịch

Bi thương

Bi trí dũng

 

Bí mật

Bí pháp

Bí pháp tâm truyền

Bí tích

 

 

BỈ

Bỉ

Bỉ ngạn

Bỉ ổi

 

Bĩ cực

Bĩ thới

 

BỊ

Bị

Bị đè dưới núi Ngũ Hành

Bị cáo

 

BIA

Bia danh

Bia tạc

 

BÍCH

Bích Cung

Bích Du

 

BIẾM

Biếm

Biếm nhẻ

 

BIÊN

Biên ải

Biên cương

Biên chép

Biên đình

Biên soạn

Biên tái

Biên thành

Biên thuỳ

 

BIẾN

Biến

Biến cố

Biến chuyển

Biến dịch

Biến đổi

Biến hình

Biến hoá

Biến hoá vô cùng

Biến loạn

Biến quyền

Biến sanh

Biến tạo Chơn thần

Biến tướng

Biến thân

Biến thể

Biến thiên

 

BIỀN

Biền

Biền biệt

 

BIỂN

Biển

Biển ái

Biển cạn non mòn

Biển đổi non dời

Biển hao núi lở

Biển hẹn non thề

Biển hoá vườn dâu

Biển hoạn

Biển mê

Biển mê chèo chiếc thuyền tình

Biển Thánh

Biển Thánh rừng Nho

Biển thề non hẹn

Biển Thước

Biển trần

Biển trí non nhân

 

BIỆN

Biện

Biện phân

 

BIẾNG

Biếng

Biếng nhác

 

BIẾT

Biết

Biết bao

Biết đâu

Biết mấy

Biết người biết mặt lòng đâu biết

 

BIỆT

Biệt

Biệt dạng

Biệt điện

Biệt ly

Biệt nghiệp

Biệt phân

Biệt phu

 

BIỂU

Biểu

Biểu dương

Biểu hiệu

Biểu lộ

Biểu tượng

Biểu thị

 

BỊN

Bịn

Bịn rịn

 

BINH

Binh

Binh biến

Binh cách

Binh cô tướng quả

Binh đao

Binh khí

Binh lính

Binh lửa

Binh nhung

Binh thư

Binh vực

 

BÍNH

Bính ngọc Tương Như

 

BÌNH

Bình

Bình an

Bình bát

Bình bồng

Bình đẳng

Bình địa

Bình địa phong ba

Bình yên

Bình minh

Bình Ngô đại cáo

Bình phong

Bình quyền

Bình sanh

Bình tĩnh

Bình thân

Bình thuỷ

Bình thuỷ tương phùng

 

BỈNH

Bỉnh chánh

 

BỊNH

Bịnh

Bịnh chướng

Bịnh hoạn

Bịnh liến

 

BÍT

Bít

Bít chịt

 

BỊT

Bịt

 

BO

Bo bo

 

Bó buộc

Bó đũa

Bó gối

 

Bò lết

 

BỎ

Bỏ

Bỏ con lo cháu

Bỏ dở

Bỏ giả tầm chơn

Bỏ hoang

Bỏ phế

Bỏ thừa

 

BÓC

Bóc

Bóc lột

 

BỌC

Bọc

Bọc thây

 

BÓI

Bói

Bói phượng

 

BOM

Bom đạn

Bom nguyên tử

 

BON

Bon chen

 

BÒN

Bòn

Bòn công chuộc quả

Bòn mót

 

BỌN

Bọn

 

BÓNG

Bóng

Bóng ác

Bóng bọt

Bóng câu

Bóng cu

Bóng chim tăm cá

Bóng dâu

Bóng dờn

Bóng dương

Bóng hình

Bóng hồng

Bóng khuất

Bóng mát cội tòng

Bóng ngà nữ dung

Bóng ngân

Bóng ngọc

Bóng nguyệt

Bóng nhật

Bóng quạ

Bóng quang âm

Bóng quế

Bóng sắc

Bóng tang du

Bóng tối

Bóng tùng

Bóng thiềm

Bóng thiều

Bóng thỏ

 

BÓP

Bóp méo

 

BỌT

Bọt

Bọt bèo

Bọt nước

 

Bô vải

 

BỐ

Bố

Bố cáo

Bố đức

Bố đức thi ân

Bố hoá

Bố kinh

Bố thí

Bố trí

 

BỒ

Bồ

Bồ bặc

Bồ đề

Bồ Đề Dạ

Bồ đoàn

Bồ liễu

Bồ Tát

Bồ tiên

Bồ tiên thị nhục

 

BỔ

Bổ

Bổ báo

Bổ ích

Bổ khuyết

Bổ nhiệm

 

BỘ

Bộ

Bộ công Di Lạc

Bộ dạng

Bộ hạ

Bộ Nhạc

Bộ Pháp Chánh

Bộ tịch

Bộ từ khí

 

BỐC

Bốc

Bốc rời

 

BỘC

Bộc

Bộc dâu

Bộc khởi

Bộc lại

Bộc lộ

Bộc tính

 

BÔI

Bôi

Bôi dơ

Bôi xoá

 

BỐI

Bối

 

BỒI

Bồi

Bồi bổ

Bồi công lập đức

Bồi đắp

Bồi hồi

Bồi tửu

Bồi thường

 

BỔI

Bổi

 

BỘI

Bội

Bội ân

Bội công

Bội nghĩa

Bội nghĩa ân

Bội phản sanh dưỡng giáo hoá

Bội phần

Bội sư

Bội tín

Bội Tinh

 

BÔN

Bôn

Bôn ba

Bôn chôn

Bôn xu

 

BỐN

Bốn

Bốn bể

Bốn biển

Bốn biển năm hồ

Bốn Điều Quy

Bốn đức

Bốn mùa

Bốn mùa tám tiết

Bốn ngàn năm

Bốn Ngọc nữ

Bốn phang

Bốn phương

Bốn vách

 

BỒN

Bồn

Bồn chồn

 

BỔN

Bổn

Bổn đạo

Bổn lai diện mục

Bổn nguyên

Bổn phận

Bổn phận làm dân

Bổn tánh

Bổn tâm Thầy ngự

 

BỘN

Bộn

Bộn bàng

Bộn bề

 

BÔNG

Bông

Bông gòn

 

BỒNG

Bồng

Bồng ẵm

Bồng bế

Bồng bột

Bồng con trông chồng

Bồng Dinh

Bồng Doanh

Bồng Đảo

Bồng Lai

Bồng sơn

 

BỔNG

Bổng trầm

 

Bơ ngơ

Bơ phờ

Bơ thờ

Bơ vơ

 

BỚ

Bớ

 

BỜ

Bờ

Bờ bến

Bờ dương

Bờ dương bóng phụng

Bờ giác

 

BỞ

Bở

 

BỢ

Bợ

Bợ đỡ

Bợ ngợ

 

BỜI

Bời bời

 

BỞI

Bởi

 

BỢM

Bợm

 

BỠN

Bỡn

Bỡn cợt

 

BỢN

Bợn

Bợn nhơ

Bợn sầu

Bợn tục

Bợn thế

Bợn trần

Bợn trược

 

BỚT

Bớt

 

BRAHMA

Brahma

 

BU

Bu

 

 

Bù chì

Bù nhìn

 

BÚA

Búa

Búa Lỗ Ban

Búa rìu

Búa việt

Búa việt cờ mao

 

BÙA

Bùa

 

BỦA

Bủa

Bủa đức

Bủa giăng

 

BÙI

Bùi

Bùi Ái Thoại

Bùi ngùi

 

BỤI

Bụi

Bụi bặm

Bụi hồng

Bụi thế

Bụi trần

 

BÙN

Bùn

Bùn lầy

Bùn than

 

BÚNG

Búng

Búng rảy

 

BÙNG

Bùng

 

BỤNG

Bụng

Bụng trống hạc nội

 

BUỘC

Buộc

Buộc ràng

Buộc trói

 

BUỔI

Buổi

 

BUỒM

Buồm

Buồm hạnh

 

BUÔN

Buôn

Buôn bán

Buôn hương

Buôn hương bán phấn

Buôn tảo bán tần

 

BUỒN

Buồn

Buồn bã

Buồn bực

Buồn cười

Buồn chia thảm sớt

Buồn hiu

Buồn ngủ

Buồn rầu

Buồn tanh

Buồn teo

Buồn tênh

Buồn tình

Buồn tủi

Buồn thảm

 

BUÔNG

Buông

Buông lời

Buông lung

Buông trôi

 

BUỒNG

Buồng

Buồng hương

Buồng the

 

BÚT

Bút

Bút hoa

Bút mực

Bút ngọc

Bút nghiên

Bút pháp

Bút Thánh

Bút Thần

Bút trổ hoa

 

BỪA

Bừa

 

BỮA

Bữa

Bữa cày buông bữa giỗ

 

BỨC

Bức

Bức nghèo

Bức sách

Bức tranh vân cẩu

 

BỰC

Bực

Bực bội

Bực tức

 

BƯNG

Bưng

Bưng biền

 

BỪNG

Bừng

 

BỬNG

Bửng tưng

 

BƯỚC

Bước

Bước đầu

Bước ngoặt

Bước Sa Bà

Bước tục

 

BƯƠI

Bươi

Bươi móc

 

BƯỞI

Bưởi bòng

 

BƯỚM

Bướm

Bướm cũ lìa huê

Bướm hoa

Bướm ong

Bướm ong xao xuyến giỡn

Bướm tối mến đèn

 

BƯƠN

Bươn

Bươn bả

Bươn chải

 

BƯỚNG

Bướng

 

BỨT

Bứt

Bứt rứt

Bứt xé

 

BỬU

Bửu

Bửu ảnh

Bửu bối

Bửu châu

Bửu điện

Bửu đình

Bửu pháp

Bửu toà

Bửu tương

Bửu tháp

 

 

 

 

 

 

 

 

B

 

BA

1.- Ba là tiếng dùng để chỉ số đếm, đứng sau số hai. Như: Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu dạy: Ðạo Trời khai ba lượt, người tục lỗi muôn phần.

Ðò đưa phút chịu vùi ba tấc,

Tay trắng phủi rồi một tuổi xuân.

(Đạo Sử).

Trước Ðiện lai rai ba chú Ðạo,

Sau hiên meo mốc mấy pho Kinh.

(Thơ Thượng Phẩm).

2.- Ba dùng để chỉ về thứ tự. Như: Anh ba, canh ba, hàng thứ ba, kỳ ba, lần ba.

Thánh giáo Thầy dạy về cách lạy có đoạn: Thầy lấy đức háo sanh mở Ðạo lần ba mà vớt kẻ hữu phần, tránh khỏi nơi buộc ràng khổ phạt.

Phước gặp Kỳ ba Trời dẫn độ,

Mau chơn rán lướt tới rừng thiền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nầy lúc Kỳ ba Phổ Ðộ trần,

Mau chơn thoát khỏi chốn mê tân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Ba là sóng, không dùng một mình.

Như: Ba đào sóng dậy, phong ba bão táp, chạy bôn ba khắp xứ.

a.- Ba là sóng to, đào là sóng nhỏ, ba đào dùng để chỉ về sự nguy hiểm.

Thành dạ tu tâm Thầy sửa số,

Ðem qua biển khổ chẳng ba đào.

(Đạo Sử).

b.- Phong ba là sóng và gió, chỉ những sự khó khăn, hiểm nghèo:

Phong ba mấy độ đà qua khỏi,

Ném thử Giáng Ma đóng Cửu tuyền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

c.- Bôn ba dùng hình ảnh sóng nước chảy dập dồn để chỉ người di chuyển từ chỗ nầy đến chỗ nọ một cách khổ sở, vất vả.

Đã ngán bôn ba theo giả cuộc,

Âu đành mai một giữa thâm san.

(Thơ Thuần Đức).

4.- Ba , như chữ “Hoa 花” là bông, chỉ sự tốt đẹp.

Tinh ba (hay tinh hoa) là chỗ thuần tuý tốt đẹp nhất của vật.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Ðức Hộ Pháp khi còn tại thế đã thường nhắc nhở cho Ðạo hữu phải giữ cho nguyên vẹn cái tinh thần tốt đẹp của phong hoá nước nhà, cái tinh ba của nền triết lý trong Ðạo Nhơn luân trót bốn ngàn năm do tổ tiên lưu lại.

Nâng đỡ Càn khôn há gọi già,

Thay quyền Nhựt nguyệt tạo tinh ba.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

BA CUNG SÁU VIỆN

Ba cung sáu viện, bởi chữ “Tam cung lục viện 三 宮 六 院”, dùng để chỉ: Ba cung là ba toà nội cung dành cho Hoàng hậu và các Thứ phi, vợ của vua ở. Còn Lục viện, là nơi các cung nhân hầu hạ vua ở.

Ba cung sáu viện là những toà nhà ở nội cung dành cho vợ và các nàng hầu của vua ở.

Rèm lặng lẽ ba cung sáu viện,

Ánh đèn soi bẽn lẽn qua song.

(Phù Kiều Hận Sử).

 

 

BA CHI

Ba: Tiếng dùng để chỉ số đếm, đứng sau số hai. Chi: Nhánh, ngành.

1.- Ba chi đồng nghĩa với ba nhánh, chỉ về Tam Giáo: Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo.

Xem: Ba nhánh.

Thầy nhập ba chi lại làm một là chủ ý quy tụ các con trong Ðạo Thầy lại một nhà, Thầy làm Cha chưởng quản, hiểu à!

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

2.- Ba chi còn dùng để chỉ ba phái của chức sắc Cửu Trùng Đài nam phái:

- Ngọc, mặc đạo phục màu đỏ, mão đỏ, còn gọi là phái Nho, phái Thánh.

- Thượng, mặc đạo phục mà xanh, mão xanh, còn gọi là phái Lão, phái Tiên.

- Thái, mặc đạo phục màu vàng, mão vàng, còn gọi là phái Thích, phái Phật.

Ba chi tuy khác chớ quyền lực như nhau.

(Pháp Chánh Truyền),

 

 

BA CHÌM BẢY NỔI

Ba bảy: Hai số đếm, chỉ nhiều lần. Chìm nổi: Ở sâu dưới hoặc nổi lên trên mặt nước.

Ba chìm bảy nổi là câu thành ngữ dùng để chỉ hoàn cảnh không may, gặp nhiều chuyện gian truân, vất vả phải chịu cực khổ như vật trôi lênh đênh trên mặt nước, khi chìm khi nổi bao phen.

Xem: Bảy nổi ba chìm.

Ba chìm bảy nổi, câu thành ngữ,

Chín được mười thua, chuyện tối thường.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

BA ĐÀO

波 濤

Ba: Sóng nhỏ. Đào: Sóng lớn.

Ba đào là sóng nhỏ và sóng lớn. Nghĩa bóng: Chỉ cảnh cực khổ, vất vả.

Điếu văn của Ngài Hiến Đạo, Đại diện Hội Thánh Hiệp Thiên Đài đọc trước Liên đài Đức Thượng Sanh có câu: Ðạo gặp phải cơn khảo đảo trầm trọng, khuynh nguy như con thuyền chơi vơi mặt biển, giữa sóng ba đào.

Rõ nỗi nhà thung gìn đức cả,

Nên toan tiếp trẻ khỏi ba đào.

(Đạo Sử).

Thành dạ tu tầm Thầy sửa số,

Ðem qua biển khổ chẳng ba đào.

(Đạo Sử).

 

 

BA ĐÔNG

Ba: Số tiếp theo của số hai trong số đếm. Đông: Mùa cuối cùng trong bốn mùa.

Ba đông là ba mùa đông, ý chỉ ba năm, nghĩa giống như chữ ba xuân, ba thu.

Chín hạ chờ sương khô héo liễu,

Ba đông gội tuyết lạnh lùng mai.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

BA GIỀNG

Ba: Số tiếp theo của số hai trong số đếm. Giềng: Dây cái của lưới buộc phao hoặc chì, chỉ giềng mối.

Ba giềng, bởi chữ “Tam cương 三 綱”, tức ba giềng mối quan hệ của đạo làm người, đó là: Đạo vua tôi, đạo cha con, đạo chồng vợ, gọi là Tam cương (tam cang).

Xem: Tam cương.

Tu tâm sửa tánh ăn năn,

Ba giềng nắm chặt, năm hằng chớ lơi.

(Kinh Sám Hối).

Ba giềng với năm hằng khá đoán,

Hư nên đừng xao lãng chí nam nhi.

(Phương Tu Đại Đạo).

Bủa lưới bao trùm gồm bốn biển,

Giăng câu định hướng nắm ba giềng.

(Thơ Hiến Pháp).

 

 

BA KỲ

1.- Ba: Số đếm, đứng trước bốn và sau hai. Kỳ: Cõi, miền, hay vùng của một nước.

Ba kỳ, như chữ “Tam kỳ”, là ba cõi, ba miền của nước Việt Nam. Đó là Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ.

Ba kỳ con cháu Rồng Tiên ấy,

Nâng đỡ, thương nhau một tấc thành.

(Thơ Thuần Đức).

2.- Ba: Số đếm, đứng trước bốn và sau hai. Kỳ: Hạn, chỉ khoảng thời gian nhứt định nào đó.

Như: Mỗi tháng lãnh lương hai kỳ, Đại Hội Nhơn Sanh mỗi ba năm hội một kỳ.

Rung chuông tỉnh thế ba kỳ thức,

Hồi trống truy hồn bá tánh khôn.

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 

BA LA MẬT

波 羅 密

Ba La Mật, phiên âm từ tiếng Phạn Pãramitã, còn gọi là Ba la mật đa.

Ba La Mật, Hán dịch “Độ 渡” là vượt qua, từ bờ vô minh qua bờ giác ngộ, hoặc “Đáo bỉ ngạn 到 彼 岸” là đi qua bờ bên kia.

Bờ bên kia là bờ Niết Bàn giải thoát, không sinh diệt, còn bờ bên nầy là mê lầm, sanh tử và khổ đau.

Nhiệm mầu diệu pháp, Ba la mật,

Hơn cả muôn vàn ức triệu thoi.

(Thơ Tiếp Đạo).

Tìm câu Bát nhã Ba La Mật,

Ngắm cảnh Vô ưu Tứ Diệu Đề.

(Thơ Vạn Năng).

 

 

BA LẦN DÂNG DÉP

Ba lần: Ba lượt. Dâng dép: Lượm dép dâng lên.

Ba lần dâng dép, ý chỉ Trương Lương ba lần lượm dép rớt xuống cầu Hạ Bì, đem lên dâng cho Hoàng Thạch Công, nên được ông nầy tặng cho bộ Binh pháp.

Sau nhờ đó mà lập nhiều công trận và được Hán Bái Công phong Hầu.

Xem: Trương Lương dâng dép.

Ba lần dâng dép chí không xiêu,

Thao lược Trương Lương nhắm rất nhiều.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

BA LƠN

Ba lơn, như chữ “Bông lơn”, là nói đùa cợt một cách thiếu đứng đắn.

Như: Tính thằng bé hay ba lơn, nói chuyện ba lơn.

Bần Đạo cũng là còn giữ tật,

Quen ba lơn lấc khấc ghẹo đời.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

BA LƯỢC SÁU THAO

Ba lược sau thao, dịch từ câu “Tam lược lục thao 三 略 六 韜”.

Ba lược: Tức sách Tam lược do Hoàng Thạch Công soạn. Sách này theo Sử Ký chép, Hoàng Thạch Công đã trao cho Thương Lương ở cầu Hạ Bì.

Sáu thao: Tức Lục thao, tên cuốn sách của Thái Công Vọng, tức Lữ Vọng là hiệu Khương Thượng, tự là Tử Nha đời Châu Võ Vương soạn, chia thành Văn thao, Võ thao, Long thao, Hổ thao, Báo thao và Khuyển thao.

Ba lược sáu thao tức là lược thao dùng để chỉ người giỏi về mưu kế binh pháp.

Xem: Tam lược lục thao.

Cờ gà… khó thắng người ba lược,

Thơ cóc… xin nhường kẻ sáu thao.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

BA MỐI

Ba: Số tiếp theo của số hai trong số đếm. Mối: Mối giềng, chỉ khuôn phép, kỷ cương.

Ba mối, như chữ “Ba giềng”, tức là ba giềng mối trong đạo Nho dạy về sự quan hệ giữa vua tôi, cha con, chồng vợ cư xử nhau cho có đạo lý, gọi là Tam cang.

Xem: Ba giềng.

Trai trung hiếu sửa trau ba mối,

Đừng buông lung lầm lỗi năm hằng.

(Kinh Sám Hối).

 

 

BA MƯƠI SÁU CÕI

Hay “Ba mươi sáu cõi Thiên Tào”.

Ba mươi sáu cõi: Ba mươi sáu cõi giới. Thiên Tào 天 曹: Những cơ quan làm việc trên Thiên Đình.

Theo trong kinh sách Cao Đài, ba mươi sáu cõi hay ba mươi sáu cõi Thiên Tào, tức là ba mươi sáu tầng Trời, đó là Tam Thập Lục Thiên.

Xem: Tam Thập Lục Thiên.

1.- Ba mươi sáu cõi:

Xác tại thế, đã nên Thần,

Ba mươi sáu cõi đặng gần Linh Thiên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Ba mươi sáu cõi Thiên Tào:

Ba mươi sáu cõi Thiên Tào,

Nhập trong Bát Quái mới vào Ngọc Hư.

(Kinh Tận Độ).

Ba sáu cõi Thiên Tào diệu vợi,

Và ba ngàn Thế Giới thinh thinh.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

BA NHÁNH

Ba: Số tiếp theo của số hai trong số đếm. Nhánh: Chồi, cành, chi.

Ba nhánh là ba chồi hay ba cành, ý chỉ Tam Giáo, tức là Phật Giáo, Lão Giáo, Nho Giáo.

Theo triết lý Đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn mở nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Ngài làm Giáo Chủ, nên Đạo của Ngài là gốc, còn Tam Giáo Phật, Tiên, Nho do hoá thân của Ngài lập ra vào thời Nhứt và Nhị Kỳ Phổ Độ, đó là nhánh. Vì vậy, Đạo Cao Đài có tôn chỉ Quy nguyên Tam Giáo, tức gom ba nhánh làm một.

Xem: Cội sanh ba nhánh.

Phép Tiên Đạo: Tu chơn dưỡng tánh,

Một cội sanh ba nhánh in nhau.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

Vì thương sanh chúng độ Kỳ Ba,

Ba nhánh Thầy đem lại một nhà.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

BA QUÂN

Ba: Số tiếp theo của số hai trong số đếm. Quân: Binh lính, quân lính.

Ba quân, bởi chữ “Tam quân 三 軍”, là ba đạo binh lính thời xưa.

Trong chế độ quân chủ, vua thì có lục quân, chư hầu thì có tam quân. Về sau, chữ “Tam quân” dùng để gọi chung quân đội.

Sách Luận ngữ có câu: Tam quân khả đoạt soái giả 三 軍 可 奪 帥 者, nghĩa là giữa chốn ba quân có thể bắt được viên chủ soái.

Chính giữa ba quân không lảng trí,

Việc nhà lại chịu nỗi tầm phào.

(Đạo Sử).

Nghĩa khí đã từng trên chín bệ,

Ân uy còn tạc dưới ba quân.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

BA SẮC ĐẠO

Hay “Tam sắc Đạo”.

Ba sắc (tam sắc): Ba màu sắc. Đó là vàng, xanh, đỏ, biểu tượng cho Phật, Tiên, Thánh. Đạo: Tôn giáo.

Ba Sắc Đạo, còn gọi là “Tam Sắc Đạo 三 色 道”, là miếng vải nhỏ kết lại thành ba màu: Vàng, xanh, đỏ, tượng cho Tam Giáo: Phật Giáo, Lão Giáo và Nho Giáo.

Ba Sắc Đạo được dùng để đeo bên tay trái trên áo Đại phục của Chánh Trị Sự có chiều ngang là 0m06, chiều dài 0m10.

Ba Sắc Đạo của Phó Trị Sự bằng phân nửa của Chánh Trị Sự, tức chiều ngang là 0m03, chiều dài 0m05.

Áo Đạo cổ trịt viền chỉ kim tuyến vàng, nơi tay trái có Ba Sắc Đạo.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

BA SANH

Ba: Số tiếp theo của số hai trong số đếm. Sanh: Sống.

Ba sanh, như chữ “Tam sinh 三 生”, tức là ba kiếp sống luân hồi.

Nợ ba sanh là duyên nợ tình ái gắn bó với nhau giữa người nam và nữ trong ba kiếp luân hồi phải gặp nhau.

Xem: Ba sinh hương lửa.

Đường tổ nghiệp nữ nam hương lửa,

Đốt cho nồng từ bữa ba sanh.

(Kinh Thế Đạo).

Ba sanh dầu toại thửa nguyền,

Hoạ trong giấc mộng giải phiền giao hoan.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

BA SANH HƯƠNG LỬA

Ba sanh: Ba kiếp sống. Hương lửa: Nhang đèn, chỉ hai người trai gái thề nguyền kết thành vợ chồng.

Ba sanh hương lửa là ba kiếp sống luân hồi nên duyên gắn bó với nhau.

Theo Cam Trạch Dao: Lý Nguyên đời Đường kết bạn thân với một vị sư chùa Huê Lâm là Viên Trạch. Một hôm hai người cùng đi chơi núi Tam Giáp, gặp một người đàn bà gánh đôi vò đi lấy nước giếng. Viên Trạch nói: Bà đó là nơi thác thân của tôi. Mười hai năm sau, tôi sẽ gặp lại ông tại mé ngoài chùa Thiên Trúc ở Hàng Châu. Đêm hôm đó Viên Trạch mất.

Mười hai năm sau, Lý Nguyên tìm đến nơi đã hẹn, gặp một đứa trẻ chăn trâu nghêu ngao hát rằng: “Tam sinh thạch thượng cựu tinh hồn, Thưởng nguyệt ngâm phong bất yếu luân, Tàm quý tình nhân viễn tương phỏng, Thử thân tuy dị tính trường tôn 三 生 石 上 舊 精 魂, 賞 月 吟 風 不 要 論, 慚 愧 情 人 遠 相 訪, 此 身 雖 異 性 長 存”, nghĩa là Tinh hồn cũ gửi đá ba sinh, Thưởng trăng ngâm gió không bàn định. Thẹn với bạn tình xa đến thăm, Thân tuy khác tính vẫn xưa in.

Hát xong liền từ biệt Lý Nguyên. Lý Nguyên biết rằng đứa trẻ chăn trâu đó chính là Viên Trạch.

Xem: Tam sinh.

Dầu phải nợ ba sanh hương lửa,

Kết bạn nhau phải lựa khách tâm đầu.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

BA TẤC HƠI

Ba tấc hơi, do chữ “Tam thốn khí 三 寸 氣” trong câu: Tam thốn khí tại thiên ban dụng, nhất đán vô thường vạn sự hưu 三 寸 氣 在 千 般 用, 一 旦 無 常 萬 事 休, nghĩa là ba tấc hơi còn thì ngàn việc dùng, một sáng vô thường (tức chết) thì muôn việc điều buông bỏ.

Xem: Dứt ba tấc hơi.

Sống còn ba tấc hơi róng giọng líu lăng,

Hồn khỏi xác, nghĩa Kim bằng đành phải dẹp.

(Giác Mê Khải Ngộ).

 

 

BA TON

Ba ton là tiếng đọc âm từ chữ Pháp “bâton”, là gậy, thanh gỗ dài, tròn nhỏ, dùng để đánh hoặc chống lại.

Như: Ông chủ điền một tay cầm điếu thuốc, một tay cầm cây ba ton đi thăm ruộng.

Sẵn tay cầm lấy cán ba ton,

Vẽ một chữ cho tròn cho lớn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

BA THẦN PHẨM

Ba: Số tiếp theo của số hai trong số đếm. Thần phẩm 神 品: là phẩm vị Thiêng Liêng.

Ba Thần phẩm là ba phẩm cấp Thiêng Liêng, còn gọi thừa phẩm, đó là phẩm Thần, phẩm Thánh, phẩm Tiên.

Ba Thần phẩm này mỗi phẩm lại chia ra làm ba phẩm cấp tạo thành chín phẩm cấp gọi là “Cửu phẩm Thần Tiên 九 品 神 仙”.

Cửu Phẩm Thần Tiên gồm: Địa Thần, Nhơn Thần, Thiên Thần, Địa Thánh, Nhơn Thánh, Thiên Thánh, Địa Tiên, Nhơn Tiên, Thiên Tiên.

Cung Thiềm gắng bước cho mau,

Thoát ba Thần phẩm đứng Tam Thiên.

(Kinh Tận Độ).

 

 

BA THU

Ba: Số tiếp theo của số hai trong số đếm. Thu: Mùa thứ ba trong bốn mùa.

Ba thu, là ba mùa thu, tức ba năm.

Trong Kinh Thi có câu: Nhất nhật bất kiến như tam thu hề 一 日 不 見 如 三 秋 兮, tức là một ngày không trông thấy mặt nhau lâu bằng ba mùa thu. Ý muốn nói thời quá dài lâu.

Ngóng mưa đã đợi ba thu mãn,

Cứu chúng hờn ai chẳng trổ tài.

(Bát Nương Giáng Bút).

Gió mưa đành phận ba thu lụn,

Vàng đá vì ai một kiếp chờ.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

BA TRẤN

Ba: Số tiếp theo của số hai trong số đếm. Trấn: Giữ, giữ cho yên.

Ba Trấn, dịch từ chữ “Tam Trấn 三 鎮 威 嚴”, ý chỉ Tam Trấn Oai Nghiêm trong Đạo Cao Đài.

Ba Trấn hay Tam Trấn Oai Nghiêm là chỉ ba Đấng thay mặt ba vị Giáo Chủ Tam Giáo để cầm quyền Tam Giáo trong thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Thầy chẳng để thử thất, Ba Trấn trách Thầy vì yêu mến quá lẽ mà làm mất hết công bình, nhứt là Lý Thái Bạch kêu nài hơn hết.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

BA TRỢN

Ba trợn là chỉ những hạng người có tính tình dở hơi, không đúng đắn, không đàng hoàng.

Như: Nó ăn nói ba trợn lắm, gặp thằng ba trợn biết gì phải quấy mà mầy trách.

Ấy là khi chưa đắc thế, thiên hạ kêu là ba trợn ba nháng đó...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

BA VẠN SÁU NGÀN NGÀY

Ba vạn sáu ngàn: Ba mưôn sáu, tức ba mươi sáu ngàn. Ngày: Khoảng thời gian từ sáng hôm trước đến sáng hôm sau.

Ba vạn sáu ngàn ngày tức một trăm năm.

Một trăm năm là tuổi thọ một đời người, do câu trong Kinh Lễ: “Nhân thọ dĩ bách niên vi kỳ 人 壽 以 百 年 為 期”, nghĩa là đời sống của con người lấy trăm tuổi làm kỳ hạn.

Ba vạn sáu ngàn ngày là một trăm năm, dùng để chỉ một đời người.

Có thân giữa chốn đoạ đày,

Đếm ba vạn sáu ngàn ngày khó khăn.

(Kinh Thế Đạo).

Đếm ba vạn sáu ngàn ngày,

Cõi Dương gian với cõi Tuyền đài gần nhau.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

BA VÒNG VÔ VI

Ba vòng vô vi, còn gọi là Diệu Quang Tam Giáo, là ba vòng tròn có màu vàng, xanh, đỏ được liên kết và cắt với nhau, tượng trưng cho Tam giáo: Phật giáo màu vàng (phái Thái), Tiên giáo màu xanh (phái Thượng) và Thánh giáo màu đỏ (phái ngọc). Có ba loại vòng vô vi:

1.- Ba vòng vô vi được nối tiếp nhau theo hàng dọc, tạo thành một xâu dài. Ba vòng vô vi này thường được đặt trên các cổng Tam quan.

2.- Ba vòng vô vi được liên kết theo hình tam giác. Loại ba vòng vô vi nầy thường được đặt ở giữa cửa sổ trong các Thánh Thất địa phương.

3.- Ba vòng vô vi là ba vòng tròn có hình lớn nhỏ nằm đồng tâm với nhau.

Đức Hộ Pháp dùng Ba vòng vô vi cùng với hai món bí pháp là Long Tu Phiến và cây Kim Tiên đem trấn pháp nơi Trí Huệ Cung Thiên Hỷ Động. Trong Thuyết Đạo, Ngài có nói: Hôm nay là ngày mở cửa Thiêng Liêng và đưa nơi tay các Đấng Nguyên Nhân ấy là một quyền năng đặng tự giải thoát lấy mình hai món Bí Pháp ấy là:

- Long Tu Phiến của Đức Cao Thượng Phẩm để lại.

- Kim Tiên của Bần Đạo.

Hiệp với ba vòng Vô Vi, tức nhiên Diệu Quang Tam Giáo hay là hình trạng Càn Khôn Võ Trụ, mà đó cũng là tượng ảnh Huệ Quang Khiếu của chúng ta đó vậy.

Và Ngài kết luận: Ấy là Bí Pháp trấn tại Thiên Hỉ Động Trí Huệ Cung. Toàn thể ngó thấy không có gì hết, mà trong đó có quyền pháp vô biên, vô giới. Giải thoát đặng cùng chăng là do bao nhiêu đó.

Trên áo Đại Phục của các vị Đầu Sư nam, nữ, trước ngực và sau lưng đều có thêu ba vòng vô vi bao quanh sáu chữ Nho là “大 道 三 期 普 度” (Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ). Ngoài ra trên Ngưỡng Thiên Mạo của các Giáo Hữu ba phái, phía trước có thêu một Thiên Nhãn bao quanh ba vòng vô vi.

Hiệp với ba vòng Vô Vi, tức nhiên Diệu Quang Tam Giáo hay là hình trạng Càn Khôn Võ Trụ, mà đó cũng là tượng ảnh Huệ Quang Khiếu của chúng ta đó vậy.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

1.- Bá là tên một tước thứ ba trong năm tước quan: Công, hầu, bá, tử, nam.

Như: Bá tước, công hầu vương bá.

Trăm đắng ngàn cay đành một kiếp,

Công Hầu Vương dám đâu hơn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Bá là những người hay dụng quyền mưu trí thuật. Như: Bá chủ, bá đạo, bá quyền, định bá đồ vương.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Kẻ tính làm chủ hoàn cầu để lập thành một lực lượng với cái phương pháp tàn sát đã kết liễu thế nào, chúng ta thấy rõ.

Sống thì định đồ vương,

Quy Thiên dựng lại miếu đường thuở xưa.

(Kinh Thế Đạo).

3.- Bá , còn đọc “Bách” là trăm. Như: Bá tánh, bá quan, bá thiên vạn ức Phật.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy lại khuyên nhủ các con rằng: Thầy đã đến chung cùng với các con, các con duy có tu mà đắc đạo, phải đoái lại thiên vạn ức nhơn sanh còn phải trầm luân nơi khổ hải, chưa thoát khỏi luân hồi, để lòng từ bi mà độ rỗi.

Nắng hạ héo khô vườn tánh,

Dắt nhau tìm núp bóng Cao Ðài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

4.- Bá , còn đọc “Bách”, là cây trắc.

Như: Tòng bá xum xuê, thuyền bá, gậy bá.

Hoa tươi, tòng , khác nhau xa,

Tòng bá xơ rơ kém sắc hoa.

(Giới Tâm Kinh).

Đạp giày cỏ nương cây gậy ,

Mặc áo tơi nón lá che thân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

5.- Bá nghĩa chính là gieo lúa. Nghĩa bóng là rải, rắc ra cho rộng khắp.

Như: Truyền bá, quảng bá.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Lẽ dĩ nhiên là Chức Sắc Hội Thánh phải tích cực thi hành theo giáo lý trước khi phổ biến nó đi khắp nơi để giáo hoá tín hữu và truyền Ðạo Trời.

Các con truyền đạo Người, nhưng chính các con cũng không hiểu chi cả.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

BÁ DI

伯 夷

Bá Di là tên của một người Hiền ở thời nhà Thương.

Bá Di là anh Thúc Tề, con của vua nước Cô Trúc, không chịu làm vua nhường ngôi cho em, em cũng không muốn làm vua, rồi sau cả hai vào ẩn dật ở núi Thú Dương, hái rau vi ăn mà sống.

Xem: Di Tề.

Cơ duyên mong được ngày tương hội,

Nhắc chuyện Thúc Tề với Bá Di.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

BÁ DI THÚC TỀ

伯 夷 叔 齊

Trong quyển Đạo Sử Xây Bàn của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Đức Chí Tôn trong Đàn cơ ngày 02/11/Bính Dần (06-12-1926) có ban cho ông Đoàn Văn Thương một bài thi tứ tuyệt như sau:

Thương, ai chẳng chịu lộc nhà Châu,

Ăn thể ăn vi chịu thảm sầu.

Con vốn như người Thầy nói đó,

Biết ai con trả lại đôi câu.

Thông thường trong một bài thơ, khi nói đến điển tích thường hài tên nhân vật ra thì dễ hiểu, nhưng nếu không biết nội dung điển tích thì cũng khó hiểu được nghĩa. Ở đây, bài thi nói đến tích Bá Di và Thúc Tề, nhưng Đức Chí Tôn không nêu tên ra, rồi bảo Ông Đoàn Văn Thương cho biết là người nào.

Đại ý hai câu (1) và (2) Đức Chí Tôn nói đến hai vị hiền thần đời nhà Thương là Bá Di, Thúc Tề. Hai người không chịu hưởng lộc nhà Châu, thà chịu khổ cực, hái rau vi mà sống qua ngày trên núi Thú Dương.

Câu (3) và (4) Đức Chí Tôn cho rằng Ông Đoàn Văn Thương giống như người mà Ngài vừa nhắc đến và bảo ông trả lời xem người ấy là ai?

Không biết Ông Đoàn Văn Thương trả lời như thế nào, mà Đức Chí Tôn lại rầy ông và những người đã tham dự trong đàn cơ hôm đó như sau: Biểu nó nói.... nhà Thương ai chẳng chịu lộc nhà Châu. Lũ bây cũng chưa hiểu thơ há? Cho nữa vô ích.

Sau đó, Đức Chí Tôn lại giảng tiếp: Thầy nói Thương là nhà Thương, các con hiểu thương là thương, ngu ngu ngu....

Rồi Đức Chí Tôn lại rầy Ngài Cao Thượng Phẩm như sau: Cư, con đọc già đời cũng vậy há. Thằng Thương nó giống như Bá Di, Thúc Tề, nó mới chịu khổ vậy đó các con.

Như vậy, câu (1) chữ “Thương” không phải là thương xót mà có nghĩa là triều đại nhà Thương. Theo ý đó, Thầy nói là triều đại nhà Thương (bên Trung Hoa), người nào không chịu hưởng lộc của nhà Châu.

Để hiểu được đại ý bài thi nầy, chúng ta phải biết điển tích Bá Di, Thúc Tề.

Bá Di, Thúc Tề là hai người con của vua Cô Trúc ở cuối đời nhà Thương, đầu đời Châu. Bá Di là anh cả, Thúc Tề là em út. Vua Cô Trúc yêu Thúc Tề, lập di mệnh cho Thúc Tề nối ngôi. Quốc dân theo di mệnh lập Thúc Tề, Thúc Tề không chịu, nhường lại cho Bá Di cho phải lẽ (vì Bá Di là anh). Bá Di cũng không chịu, nhường lại cho Thúc Tề để tuân lệnh cha. Không ai chịu nhận rồi cả hai sau đó trốn vào núi Thú Dương ở ẩn, quốc dân phải lập người con giữa.

Lúc đó Bá Di và Thúc Tề nghe tiếng Ông Tây Bá Xương khéo nuôi người già, muốn tới quy phục. Tới nơi thì Tây Bá đã mất. Vua Võ Vương chở thần chủ (Linh vị) của Tây Bá đem quân qua đông phạt vua Trụ.

Bá Di, Thúc Tề dập đầu trước ngựa mà can rằng: Cha mới chết (Tây Bá Xương chết) mà dấy động can qua thì có đáng gọi là hiếu không? Làm tôi đánh vua có đáng gọi là trung không?

Kẻ tả hữu của nhà vua muốn giết, ông Thái Công Vọng bảo: Hai người đó là hiền sĩ, bèn đỡ dậy, rồi thả cho đi.

Khi Võ Vương đánh Trụ thắng, lên ngôi làm vua xưng hiệu nhà Châu, thiên hạ đều thần phục, chỉ Bá Di, Thúc Tề cho hành vi của Võ Vương là đáng xấu hổ, nên không chịu thờ nhà Châu và giữ nghĩa khí, chẳng ăn lúa nhà Châu, lên ở ẩn trên núi Thú Dương, hái rau vi mà nuôi sống.

Có người thấy Bá Di, Thúc Tề không chịu ăn lúa nhà Châu, mà hái rau vi để sống, bèn chê rằng: Không ăn thóc nhà Châu, đi ăn rau để sống. Vậy chớ ngọn rau tấc đất không phải của nhà Châu là gì? Bá Di, Thúc Tề nghe được câu chuyện đó, bèn nhịn đói mà chết.

Kìa Bá Di, Thúc Tề

mượn cảnh không dứt rồi mối tệ,

Nọ Thạc Sùng, Vương Khải

cũng danh tiếng ai có kể ra gì?

(Giác Mê Khải Ngộ).

 

 

BÁ ĐÀO GIÁC AI

Bá Đào họ Tả, là một hiền sĩ ở núi Tích Thạch, xứ Tây Khương. Cha mẹ đều mất sớm, ông rất siêng năng, có chí học hành, nhưng gặp thời hung bạo, loạn lạc, ông không muốn ra làm quan.

Giác Ai họ Dương là người xứ Ung Châu, tính ham đọc sách, cha mẹ đều mất sớm.

Bá ĐàoGiác Ai là hai hiền sĩ đời chiến quốc, cùng kết làm anh em với nhau, cả hai nghe tin vua nước Sở cầu hiền, định đi đầu vua nước Sở. Dọc đường Bá Đào vì chịu không nổi đói lạnh mà chết, Giác Ai tạm chôn cất bạn bên đường, rồi tìm đến ra mắt vua Sở, được trọng dụng. Giác Ai xin phép vua về chôn cất Bá Đào cho tử tế. Một hôm Giác Ai nằm mộng, thấy Bá Đào về cảm ơn, và xin dời mả mình đi nơi khác, vì nơi ấy gần mả của Kinh Kha, bị Kinh Kha về hành hung. Sáng ngày Giác Ai đến miễu Kinh Kha mắng chửi và nếu còn quậy phá Bá Đào nữa thì sẽ đào mồ phá miễu Kinh Kha. Đêm ấy Bá Đào cũng hiện về đòi xin dời mả, vì vẫn còn bị Kinh Kha và bọn thuộc hạ hiếp đáp.

Giác Ai bèn viết biểu tâu cho vua hay, rồi phân chứng cùng làng xóm rằng: Kinh Kha hiếp đáp bạn ta, nên ta quyết xuống âm phủ để đánh nó, nói rồi rút gươm tự vận. Đêm ấy, mưa gió sấm sét tưng bừng, đến sáng người ta thấy mồ mả Kinh Kha bể nát, cây cối gần mộ tróc gốc như bị đào xới.

Sở Vương thấy tình nghĩa kim bằng của hai người quá thắm thiết, đáng nêu gương cho hậu thế, bèn sai quan quân lập miếu thờ hai người.

Bên ngoài hành lang Báo Ân từ về phía nữ phái có một khuôn hình lấy tích “Bá Đào Giác Ai”, để nêu gương bậc anh hùng nghĩa khí.

Lâm tuyền nghĩa nọ cũng là cao,

Thua chuyện Giác Ai với Bá Đào.

(Thánh Giáo Minh Thiện).

Kìa gương Bá Đào còn bia nào dối giả,

Bạn Giác Ai lời hẹn đã chẳng phai mòn.

(Giác Mê Khải Ngộ).

Bước ứng thí, bạn vong niên kết,

Giác Ai già lạnh chết táng an.

Kinh Kha đuổi, hồn anh than,

Bá Đào nguyện thác đánh tan quỷ quyền.

(Báo Ân Từ).

 

 

BÁ ĐẠO

 

1.- BÁ ĐẠO 霸 道

Bá: Dùng sức mạnh để ép người khác phải phục. Đạo: Đường lối chính sách phải theo.

Bá đạo, trái với Vương đạo, là sắp đặt, lo tính gây dựng nghiệp bá, tức là đánh dẹp và thần phục các nước chư hầu để làm bá chủ.

Nghiệp bá thì dùng bá đạo để trị nước. Bá đạo trọng về hình pháp, binh quyền, tín thuật. Trong thời Xuân Thu đã có năm vị vua dùng bá đạo mà hùng cường một thời, làm minh chủ các nước chư hầu khác, gọi là ngũ bá: Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, Tần Mục Công, Tống Tương Công,và Sở Trang Vương. Những vị vua này không phải là bậc tài đức cao, mà chỉ nhờ biết tin dùng người hiền, có chính sách khéo léo làm cho dân giàu, binh mạnh và làm chủ được những chư hầu khác.

Mạnh Tử đã định nghĩa Vương đạo và Bá đạo như sau: Dĩ lực giả nhân giả bá; bá tất hữu đại quốc. Dĩ đức hành nhân giả vương; vương bất đãi đại 以 力 假 仁 者 霸, 霸 必 有 大 國. 以 德 行 仁 者 王, 王 不 待 大, nghĩa là người dùng sức mạnh mà mượn tiếng làm điều nhân, là bá; người làm bá tất phải có nước lớn. Người lấy đức làm điều nhân là vương; người làm vương không đợi có nước lớn.

Tóm lại, Vương đạo và Bá đạo của thời xưa cũng thể hiện hai loại quyền: Quyền hành được xây dựng trên nhơn nghĩa, đạo đức và quyền hành được tạo lập bởi sức mạnh binh quyền.

Vả chăng cái Thiên đạo khác với Vương đạo, cũng như Đế đạo khác với Bá đạo.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

2.- BÁ ĐẠO 伯 道

Bá Đạo là tên tự của Đặng Nho, người đời Tấn, có nuôi đứa con của người anh đã mất.

Khi có biến, vợ chồng Bá Đạo phải bỏ con để bảo toàn đứa cháu (con người anh).

Xem: Đặng Nho.

Bá Đạo nuôi cháu bỏ con,

Hy sinh núm ruột, giữ tròn đệ huynh.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

BÁ HUÊ VIÊN

百 花 園

(Bách): Trăm, chỉ số nhiều. Huê viên (hoa viên): Vườn hoa kiểng.

Theo nghĩa từ ngữ, Bá huê viên là vườn trồng trăm thứ bông hoa.

Bá huê viên là tên một vườn hoa trong nội ô Toà Thánh, do Ngài Bảo Thế Lê Thiện Phước đề nghị lập vào năm 1963 tại một vuông đất trước Báo Ân Từ, rộng khoảng một mẫu rưỡi tây. Đây là một thắng cảnh có trồng nhiều loại bông hoa, cây kiểng đẹp đẽ, dành cho du khách khắp mọi nơi đến đây thưởng ngoạn và lưu hình kỷ niệm.

Nầy Bá Huê Viên đẹp tuyệt trần,

Trước đền Phật Mẫu hãy dừng chân.

(Thơ Hoàn Nguyên).

Cội Âm Chất hiện tại môn trung,

Cảnh Bá Huê Viên chiếm một vùng.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

BÁ LÝ HỀ

伯 里 奚

Bá Lý Hề là người đời Xuân Thu, tự là Tỉnh Bá, lúc nhỏ nghèo khó trôi nổi, ba mươi ngoài tuổi mới cưới Đỗ Thị làm vợ, sinh được một người con trai.

Sinh trưởng và lớn lên tại nước Ngu, không có người tiến cử, lại chưa gặp được thời, ông định châu lưu thiên hạ đặng kiếm chỗ làm quan, nhưng thấy nhà nghèo, vợ con không nơi nương tựa, nên còn chần chờ, chưa dám quyết định.

Đỗ Thị là một người đàn bà thông minh, hiền đức, biết được ý của chồng, mới khuyên ông nên ra đi, chớ vì bận bịu vợ con mà bỏ việc công danh, rồi bắt gà làm bữa tiệc đãi chồng trước khi lên đường.

Trước nhứt, Bá Lý Hề qua Tề, định ra mắt Tương công, nhưng không người tiến dẫn, túi lại không tiền nên đành đi xin ăn nơi đất Chất.

Lúc ấy Bá Lý Hề đã được bốn mươi tuổi, kết nghĩa anh em với một người hiền ở Chất là Kiển Thúc và tạm ngụ tại nhà người ấy, hằng ngày phải đi giữ trâu cho Thúc để kiếm tiền độ nhựt.

Sau nghe bên nhà Châu có vị công tử tên là Vương Tử Đồi, tánh thích trâu và hậu đãi cho những kẻ nuôi trâu, Bá Lý Hề mới xin Kiển Thúc và từ giã để qua tìm Vương Tử Đồi. Kiển Thúc thấy Hề gặp cảnh khó, sợ gặp người không đáng thờ mà theo, nên dặn rằng: Phàm người trượng phu không nên vì vật chất mà đầu người, nhưng lỡ theo mà sau bỏ đi là người bất trung, còn cứ theo hoài để bị nạn là người bất trí. Vì vậy, em nên thận trọng lấy mình, sau anh em sẽ gặp lại.

Kiển Thúc sau nầy có qua Châu để gặp Vương Tử Đồi và thăm Bá Lý Hề, ông thấy Đồi là một người có chí lớn nhưng tài kém, dưới trướng là một bọn sàm nịnh, nên cho Đồi không làm được chuyện lớn, bèn khuyên Bá Lỳ Hề bỏ ra đi.

Bá Lý Hề nhân xa nhà lâu, muốn về đất Ngu để thăm lại vợ con. Kiển Thúc đồng ý cũng theo Hề đi cho có bạn. Khi đến nhà mới hay Đỗ Thị vì làm không đủ ăn nên đã lưu lạc xứ nào không ai biết. Còn Kiển Thúc nhờ người bạn là Cung Chi Kỳ giới thiệu Bá Lý Hề với Ngu Công, Hề được phong làm chức Trung Đại Phu. Kiển Thúc muốn về Tống, nên đến từ giã Hề và dặn rằng: Ngu Công là người hẹp kiến thức, không đáng phò, nhưng thấy em cùng khốn đã lâu, muốn tìm chỗ nương thân tạm. Sau nầy, em muốn tìm anh thì đến làng Minh Lộc nước Tống sẽ gặp lại.

Ngu Công vì không nghe lời can của Cung Chi Kỳ để cho nước Tấn mượn đất qua đánh Quắc, thắng Quắc rồi Tấn lại đánh Ngu, Ngu đành mất nước. Bá Lý Hề tự cho mình là người không trí há lại để mất trung nữa sao, nên ông vẫn theo hầu Ngu Công bị bắt về với nước Tấn.

Ở Tấn, Bá Lý Hề có lần mắng vị Đại Phu là Chu Chi Kiều, khiến hắn sinh tâm hãm hại. Nhân Tấn Công gã con cho Tần, Chu Chi Kiều mới tiến dẫn Bá Lý Hề làm người đưa dâu về Tần. Giữa đường, thừa lúc vắng người Bá Lý Hề mới trốn, lén qua đầu Sở.

Mới tới Uyển Thành ông bị bọn thợ săn bắt về để chăn trâu. Ở đây, Hề nuôi trâu mập lại sinh sãn nhiều, chẳng bao lâu chuyện thấu tai đến Sở Vương. Sở Vương cho đòi Bá Lý Hề về chăn ngựa cho nhà vua ở Nam Hải.

Trong thư Tấn Hầu báo có Bá Lý Hề đưa dâu sang Tần, nhưng Tần Mục Công không thấy đến bèn hỏi Công Tử Chấp. Chấp nói: Bá Lý Hề là người kinh bang tế thế, chắc Hề trốn qua Sở vì nghe đâu vợ Hề cũng đang ở Sở.

Tần Mục Công sai người qua Sở dò la mới hay Bá Lý Hề chăn ngựa cho Sở Hầu ở Nam Hải, bèn sai Công Tôn Chi dùng hậu lễ rước về. Công Tôn Chi can rằng: Sở Vương để Bá Lý Hề chăn ngựa là không biết người, nếu sai đem hậu lễ rước thì hoá ra ta cho Sở biết Bá Lý Hề là người hiền, chắc gì Sở cho Bá Lý Hề đi. Chi bằng mượn cớ trốn đưa dâu để bắt tội Bá Lý Hề mà chuộc về mới được. Quả nhiên rước được Bá Lý Hề về Tần để phong làm Thừa Tướng.

Vợ Bá Lý Hề may vá không đủ sống phải ra đi trôi nổi bềnh bồng nhiều năm mới sang Tần thì hay được Bá Lý Hề làm Thừa Tướng. Đỗ Thị thừa dịp trong phủ cần người may vá, mới xin vào làm. Ngày kia, trong phủ có đờn ca, Đỗ Thị xin nhạc công theo lên nhà khách để đàn ca giúp.

Bài của Đỗ Thị ca trong phủ như sau:

“Bá Lý Hề, ngũ dương bì, ức biệt thì, phanh phục thư, xuân huỳnh phỉ, xuy diễm di. Kim nhựt phú quý, vong ngã vi?

Bá Lý Hề, ngũ dương bì, phụ lương nhục, tử đề ky, phu văn tú, thê hoãn y, ta hồ phú quý, vong ngã vi?

Bá Lý Hề, ngũ dương bì, tích chi nhựt quân hành nhi ngã đề, kim chi nhựt, quân toạ nhi ngã ly, ta hồ phú quý, vong ngã vi?”.

Nghĩa là:

Bá Lý Hề, năm bộ da dê! Nhớ ngày nào cùng nhau ly biệt: Mổ gà mái ấp, chẻ cánh cửa làm củi, thổi nồi cơm gạo vàng... Ngày nay giàu sang, quên ta hay sao?

Bá Lý Hề, năm bộ da dê! Cha ăn thịt cá, con đói khóc dài, chồng mặc áo gấm, vợ giặt thuê... Ngày nay giàu sang, quên ta hay sao?

Bá Lý Hề, năm bộ da dê! Nhớ ngày xưa, tiễn chàng ra đi, thiếp nước mắt chứa chan, tới bây giờ thấy chàng ngồi đó, thiếp đứt ruột

Bá Lý Hề nghe ca thốt nhiên sửng sốt, cho kêu người đàn bà lại gần mà hỏi, thì quả nhiên là vợ mình, bèn ôm nhau khóc rống lên. Từ đó Bá Lý Hề mới sum hợp được vợ con và cùng hưởng phú quý.

Bên ngoài hành lang Báo Ân Từ về phía nam phái có vẽ khuôn hình lấy tích “Bá Lý Hề”.

Lập thân đừng để danh lưu,

Cũng như Bá Lý Hề âu bạc tình.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Chưa gặp thời Lý Hề dày dạn,

Bắt đưa dâu bất mãn trốn đi.

Thoát nạn nhờ ngũ dương bì,

Sau làm Thừa tướng phát huy nước Tần.

(Báo Ân Từ).

 

 

BÁ NẠP

百 衲

(Bách): Trăm. Nạp: Vá lại.

Bá nạp tức là một loại áo của các tu sĩ Phật giáo.

Sở dĩ gọi là bá nạp là vì áo ấy do hằng trăm miếng vải kết lại mà thành. Theo luật của nhà Phật, các vị tu sĩ phải lượm vải để góp lại thành cái áo mà mặc, chứ không được mặc áo do một mảnh vải tạo thành.

Áo bá nạp ngụ ý chiếc áo do bá tánh mỗi người một mảnh vải kết lại thành để tăng sĩ mặc.

Xem Ca sa, áo ca sa.

Rửa lòng ăn những muối dưa,

Mượn y bá nạp mà chừa dục tâm.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Cây trăm thước đổi hương tàn,

Treo y bá nạp làm màn phòng the.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

BÁ NẠP QUANG

百 衲 絖

Bá nạp: Trăm miếng vải kết lại, chỉ áo của người tu theo Phật. Quang: Cái choàng.

Bá nạp quang hay Bá nạp y là một chiếc áo choàng bằng hằng trăm mảnh vải kết lại thành.

Trong Đạo Cao Đài, các chức sắc phái Thái từ Giáo Sư trở lên, khi mặc Đại phục bên ngoài đều có choàng áo Bá nạp quang màu đỏ (còn gọi là Khậu). Đại bá nạp quang và Tiểu Bá nạp quang.

Ngoài (Đầu Sư) choàng Bá nạp quang màu đỏ, y như của Thái Chưởng Pháp.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

BÁ NHA

伯 牙

Bá Nha là một người rất giỏi đàn, làm quan đến chức Thượng Đại Phu, đời nhà Tống, kết bạn tri âm với Tử Kỳ là một tiều phu sành về âm luật, phân biệt được tiếng đàn.

Sau Tử Kỳ chết, Bá Nha cho rằng không còn người tri âm nữa, nên đập vỡ cây đàn, thề không đàn nữa.

Xem: Bá Nha Tử Kỳ.

Gượng gạo lên dây trỗi khúc cầm,

Bá Nha viếng mộ khóc tri âm.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

BÁ NHA CHUNG TỬ

伯 牙 終 子

Bá Nha Chung Tử là Bá Nha và Chung tử Kỳ.

Bá Nha là người đời Tống, làm quan đến chức Thượng Đại Phu, biết đàn rất giỏi.

Một hôm đi sứ nước Sở về, gặp đêm trăng thanh gió mát, cập thuyền ở bờ sông Hàm Dương, cao hứng lấy đàn ra khảy. Lúc ấy có Tử Kỳ là một tiều phu đi đốn củi về, dừng chân lại nghe lén. Bá Nha đang đờn bỗng đứt dây, bèn sai người lên bờ bắt được Tử Kỳ đang đứng rình nghe. Chàng hỏi xuất xứ, Tử Kỳ trả lời: Nhân đi đốn củi, nghe tiếng đàn hay, đứng thưởng thức. Bá Nha không tin một gã tiều phu lại hiểu về âm nhạc, nên đàn một bản rồi hỏi Tử Kỳ biết được bản đó không. Tử Kỳ đáp: Bài Đức Khổng Tử thương tiếc Nhan Hồi.

Bá Nha bèn mời Tử Kỳ xuống thuyền, rồi nghĩ mình đang ở chốn non cao mà khảy một bản. Chung Tử Kỳ nghe xong khen rằng: Thật là hay. Chí của Ngài vọi vọi ở non cao! Bá Nha lại khảy thêm một bản nữa, nghĩ mình đang ở trên nước. Chung Tử Kỳ lại khen: Hay! Chí của Ngài cuồn cuộn như nước chảy!.

Đêm đó hai người trò chuyện với nhau rất tâm đắc và trở thành đôi bạn tri âm. Bá Nha mời Tử Kỳ theo mình về Kinh đô sống chung, Tử Kỳ từ chối vì còn bà mẹ già đang phụng dưỡng, nhưng hẹn ngày nầy năm sau sẽ gặp lại nơi nầy, rồi hai người biệt nhau.

Năm sau, Bá Nha đúng hẹn, nhưng đến nơi không thấy Tử Kỳ đâu, lấy đàn ra khảy, âm thanh nghe sầu buồn ai oán, Bá Nha sinh nghi, đợi sáng đi tìm mới hay Tử Kỳ đã chết rồi. Bá Nha đến mộ Tử Kỳ đàn một bài điếu hết sức bi thảm, rồi khóc mà đập vỡ cây đàn, thề không bao giờ đàn nữa.

Khúc nhạc Bá Nha hoà nghĩa đệ,

Tấm lòng Chung Tử tạ phương huynh.

(Thơ Hoàn Nguyên).

Kế đây hình Bá Nha, Chung Tử,

Gốc hai người viễn xứ giao thâm.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

BÁ TỬ

伯 子

Bá Tử tức là Bá Nha thời Xuân Thu, là người giỏi đàn gặp và chơi thân với Chung Tử Kỳ là người sanh nghe tiếng đàn. Khi Chung Tử Kỳ Mất, Bá Nha đập đàn không gảy nữa, vì cho đời không ai hiểu tiếng đờn của mình.

Xem: Bá Nha Chung Tử.

Thảo nào Bá Tử ôm đờn đập,

Chớ trách Trần Phồn xếp chõng treo.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

BÁ QUAN

(Bách): Trăm. Quan: Người đảm nhận chức vụ trong triều đình.

Bá quan, như chữ “Bách quan 百 官”, là chỉ tất cả các quan trong triều đình.

Tuân Tử có câu: Cổ giả, thiên tử thiên quan, chư hầu bách quan 古 者, 天 子 千 官, 諸 侯 百 官, nghĩa là ngày xưa, vua có ngàn ông quan, còn chư hầu có trăm ông quan.

Tin bay đến lịnh cửu trùng,

Bá quan lũ lượt tập trung vào chầu.

(Phù Kiều Hận Sử).

 

 

BÁ TÁNH

(Bách): Trăm. Tánh (Hay tính): Họ.

Bá tánh, như chữ “Bách tính 百 姓”, là trăm họ.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ngài đã thấy phép trị thế, dầu cho dân sanh phản kháng thế nào, cũng tuỳ theo một chủ quyền chính thể, hoặc do nơi đông tay xúm nhau đào tạo hay là do ở một người đã đặng mạng Trời làm chúa Đời, cầm luật pháp trị bá tánh.

Lạc hứng khấu cung giai miễn lễ,

Thoát tai bá tánh ngưỡng Ân sinh.

(Bài Dâng Rượu).

Nắng hạ héo khô vườn bá tánh,

Dắt nhau tìm núp bóng Cao Ðài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

BÁ TÒNG

柏 松

Bá: Cây bá, tức cây trắc. Tòng (Tùng): Cây tùng, còn gọi cây thông.

Bá tòng, như chữ “Bách tùng”, là cây bá và cây tùng,.hai loại cây sống lâu năm, gặp mùa Đông giá rét vẫn xanh tươi, thường được trồng nơi sân chùa.

Vì vậy, bá tòng (bá tùng), rừng tòng được dùng để chỉ cảnh chùa.

Ðường về chớ nệ bước non sông,

Lần đến tìm nơi cảnh bá tòng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

BÁ TUẾ NHÂN

Hay “Bách tuế nhân”.

(bách): Trăm. Tuế: Tuổi. Nhân: Người.

Bá tuế nhân, như chữ “Bách tuế nhân 百 歲 人”, là người trăm tuổi.

Cổ thi có câu: Sơn trung tự hữu thiên niên thụ, Thế thượng nan phùng bách tuế nhân 山 中 自 有 千 年 樹, 世 上 難 逢 百 歲 人, nghĩa là cây trong rừng tự có ngàn năm sống, kẻ ở đời khó kiếm người trăm tuổi.

Thế thượng hề vô bá tuế nhân,

Thất tuần dĩ định vấn thời quân.

(Thánh Ngôn Chép Tay).

 

 

BÁ TÙNG

(bách): Cây bá, tức cây trắc. Tùng (tòng): Cây tùng, còn gọi cây thông.

Bá tùng, như chữ “Bách tùng 柏 松”, là cây bá và cây tòng, tức cây trắc, cây thông, hai loại cây sống lâu năm, gặp mùa Đông giá rét vẫn xanh tươi, thường được trồng nơi sân chùa.

Vì vậy, bá tùng, rừng tòng được dùng để chỉ cảnh chùa, ngôi chùa.

Rừng thiền trở gót mới thung dung,

Nhàn hạ riêng vui cảnh bá tùng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

BÁ TƯỚC

伯 爵

Bá: Một trong năm tước: Công, Hầu, Bá, Tử, Nam. Tước: Một danh vị do vua phong.

Bá tước là tước của vua phong cho các ông hoàng trong hoàng tộc, hay những người có công trạng.

Bá tước đứng vào hàng thứ ba, sau Công tước, Hầu tước và trước Tử tước, Nam tước.

Bá tước công khanh ý vị gì?

Mà đời dám đổi kiếp sầu bi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Mượn bút nghiên khuây khoa vẻ thảm,

Những là Bá Tước gánh đồ thơ.

(Đạo Sử).

 

 

BÁ THIÊN VẠN KIẾP NAN TAO NGỘ

百 千 萬 刼 難 遭 遇

Bá thiên vạn kiếp: Trăm ngàn muôn kiếp. Nan tao ngộ: Khó gặp gỡ nhau.

Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ có nghĩa là trăm ngàn muôn kiếp rất khó khăn mới gặp đặng Đức Phật.

Thật vậy, con người trong vòng luân hồi sinh tử, dù trải qua trăm ngàn muôn kiếp mà không có duyên phần thì cũng khó mà gặp đặng Đức Phật ra đời.

Trong kinh Pháp Cú Đức Thích Ca Mâu Ni Văn Phật có dạy như sau: “Được sinh làm người là khó, được sống còn là khó, được nghe chánh pháp là khó, được gặp Phật ra đời lại càng khó hơn”.

Cổ nhân cũng thường nói rằng: Hữu duyên thiên lý năng tao ngộ, Vô duyên đối diện bất tương phùng 有 緣 千 里 能 遭 遇, 無 緣 對 面 不 相 逢. Nghĩa là có duyên phần thì dù xa ngàn dặm cũng có thể thấy nhau, không duyên phần dù đối mặt nhau cũng khó gặp gỡ.

Ở đây, chúng sanh luân hồi trong nhiều kiếp và trải qua nhiều nguơn hội, từ Thượng nguơn, đến Trung nguơn, rồi nay đến Hạ nguơn hầu mãn, lại may duyên lắm mới được gặp thời kỳ Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, vì thương sanh chúng, mà giáng cơ khai nền Đại Đạo, như lời Thánh giáo dạy: “Đạo Trời dìu bước nhơn sanh, đường Thánh dẫn người phàm tục. Sanh nhằm lối may mắn đặng gặp một Đạo Chánh, nếu chẳng lo dưỡng tánh trau mình, để bước vào đường Cực Lạc, thoát đoạ Tam Đồ, một mai cảnh ủ bông tàn, rốt lại ăn năn vô ích”.

Đức Lý Giáo Tông cũng có dạy như sau: “Mở một mối đạo chẳng phải là sự thường tình, mà sanh nhằm đời đặng gặp một mối đạo cũng chẳng phải dễ”.

Chúng ta muốn thoát lìa sinh tử, lại may duyên được sinh ra kiếp con người, đặc biệt lại gặp được thời Tam Kỳ Phổ Độ, Chí Tôn Đại Ân xá, khai nền Đại Đạo mở cơ tận độ cho toàn thể chúng sanh chung hưởng.

Người ta thường nói: “Nhân thân nan đắc, Phật pháp nan văn 人 身 難 得, 佛 法 難 聞”, nghĩa là thân người khó được, pháp Phật khó nghe. Thế mà hôm nay chúng ta đều có được cả, đó là nhờ vô lượng kiếp chúng ta tu hành, lập nhiều phước đức để tạo được duyên phần trong kiếp hôm nay.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: “Thầy lấy đức háo sanh mở Đạo lần ba mà vớt kẻ hữu phần, tránh khỏi nơi buộc ràng khổ phạt. Ai hữu phước đặng để chân vào, kẻ vô phần phải bị tà yêu cám dỗ”.

Chính Thanh Tâm Tài Nữ, theo lời thuật lại của Chức sắc tiền bối thì Cô là một vị Nữ Tiên, có đầu kiếp tại Việt Nam, nhưng Cô mất sớm lúc 18 tuổi do chết đuối nơi bãi biển Vũng Tàu. Cô được lịnh Ðức Phật Mẫu, hiệp cùng Cửu Vị Tiên Nương, giáng cơ dạy Ðạo.

Cô cho rằng những người sinh vào thời Tam Kỳ Phổ Độ nầy là có duyên phần, gặp được Đức Chí Tôn giáng huyền cơ mở Đạo Cao Đài, nhứt là được thọ truyền bí tích của nền Đại Đạo, và được hưởng đại ân xá kỳ ba nầy. Nên Cô khuyên hãy cố gắng lập công bồi đức để sau nầy về hội hiệp cùng Thầy.

Trong một Ðàn cơ lúc 21 giờ đêm ngày 12 tháng 1 năm Quý Dậu (dl 6-2-1933), giáng dạy như sau:

Em đã nói trước với quý anh rồi, có lạ chi dòng luân luân chuyển chuyển mà da díu bận lòng. Em đến giúp nên cơ Ðạo đặng báo nghĩa cho Chí Tôn.

Em nghe Chí Tôn nơi nầy, chạy theo nơi nầy không gặp. Em nghe nói nơi khác, chạy nơi khác, cũng không gặp.

Hỏi ra thì em khiếm khổ hạnh nên khó phép thấy Người, nên quyết luân hồi chịu khổ hạnh hầu gặp cho đặng, kẻo ức. Thương quá đỗi thương mà chưa từng thấy mặt.

Thưa mấy chị,

Ðã may duyên gần gũi hình bóng của Người, ráng đặng gặp Người, kẻo sau ăn năn uổng lắm!

Cái oan nghiệt kiếp sanh đáng ghê sợ chưa bằng không gặp mặt Chí Tôn, vì lẽ ấy mà biết bao nhiêu Tiên, Phật hạ trần chịu khổ. Xin mấy chị nghe:

“Phải đủ căn sanh mới thấy Trời, Ai ai đừng tưởng dễ như chơi. Nghe danh như chất chồng bên gối, Cổ Phật không duyên khó gặp Người”.

Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp,

Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ.

(Di Lạc Chơn Kinh).

 

 

BÁ TRẠO

柏 棹

Bá: Hay Bách, là loại cây gỗ sử dụng tốt dưới nước, nên thường dùng để đóng thuyền, gọi là thuyên bách. Trạo: Chèo.

Bá trạo là người chèo thuyền.

Trong Tuồng Hát Chèo Thuyền của Ban Tổng Trạo Toà Thánh, Bá trạo là người chèo thuyền Bát nhã, gồm 12 em nhỏ, tay cầm mái chèo, mặc đồ như thủy thủ, tượng trưng cho Thập Nhị Thời Quân Hiệp Thiên Đài.

Truyền Nhị đệ tuân theo,

Bá trạo tiến thuyền lai tốc nhập.

(Tuồng Hát Chèo Thuyền).

 

 

BÁ VƠ

Bá vơ là không đúng, không chứng cứ, không có nguồn gốc.

Bá vơ còn có nghĩa là không vào đâu cả, không đúng, không phù hợp với yêu cầu, tính chất nội dung vụ việc.

Thánh giáo Đức chí tôn có dạy: Cũng như các con bề trong cấu xé, tâm một nơi đức một ngả, mà ham đi dìu dắt người ngoài, biểu hiệp đồng sao được. Trong chưa thành, ngoài dầu có làm chi cũng chuyện bá vơ thêm hại.

Lại đây Ta hỏi hết lòng thờ,

Hay đến cầu xin hỏi bá vơ.

(Đạo Sử).

 

 

BÁ VƯƠNG

霸 王

Bá: Nước lớn nhứt trong các nước chư Hầu. Vương: Vua, cai trị cả thiên hạ.

1.- Bá Vương, như chữ “Vương Bá”, là hai cách cai trị dân của người xưa. Nghiệp Bá thường lấy sức mạnh để củng cố uy quyền, như các chư hầu, còn Vương dùng nhân nghĩa để cai trị, như các vua Hạ Võ, Thương Thang, Văn vương…

Thạnh trị bá vương toan ngảnh mặt,

Khuynh nguy dân chúng thảy oằn vai.

(Thơ Cao Mỹ Ngọc).

2.- Bá Vương, còn là một xưng hiệu của Hạng Võ nước Sở, nên thường gọi là Sở Bá Vương Hạng Võ.

Bá Vương mãi giữ tánh ngang tàng,

Chẳng khứng nghe lời Phạm gián can.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

BÁ XÀM

Xàm: Nói nhảm, nói không thiết thực, không ích lợi cho người nghe.

Bá xàm là chuyện tầm bậy, không xác thực, nhảm nhí, thiếu căn cứ, không ích lợi gì.

Thí dụ: Anh ta nói chuyện bá xàm mà mầy cũng nghe và tin được à?

Công là hay học chuyện bá xàm,

Trăm bánh trái, bao hàm nhà cửa.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

1.- Bà là người đàn bà thuộc thế hệ sinh ra cha hay mẹ mình, hoặc nói chung sinh ra ông bà mình.

Như: Bà nội, bà ngoại, ông bà tổ tiên.

Lòng thành thương tưởng ông ,

Nước nguồn cây cội mới là tu my.

(Kinh Sám Hối).

Ông cha mẹ đương còn,

Phải lo báo đáp cho tròn hiếu trung.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

2.- Bà là tiếng gọi chung người vợ, trái với ông là gọi người chồng.

Như: Của ông công bà, ông ăn chả bà ăn nem.

Hễ là vào đạo vợ chồng,

Hư nên đều có của ông công .

(Nữ Trung Tùng Phận).

Rủi để bước cửa công là khó,

Phần nhiều xem dễ khó tại nơi .

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Bà là tiếng gọi chung những người đàn bà Thần Thánh anh linh, hoặc những người có phẩm vị, đạo đức, đáng được tôn kính.

Như: Bà Thiên Hậu, Bà Chúa Xứ, Chín Bà (tức Cửu Vị Tiên Nương Diêu Trì Cung).

Thu cúc hứng sương khách kiếm mùi,

Chín cùng Mẹ đến chung vui.

(Đạo Sử).

 

 

BÀ CHẰN

Bà: Chỉ người đàn bà lớn tuổi. Chằn: Một loài yêu quái trong truyện cổ tích.

1.- Bà chằn là chằn tinh, một loại yêu quái trong truyện cổ tích thường nói đến.

Như: Bà chằn trong Thạch Sanh Lý Thông là một loài yêu quái.

Hễ trừ yêu thì triệu bà chằn,

Trị chồng dữ băng hăng méc mẹ.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Bà chằn còn có nghĩa là người đàn bà hung dữ, độc ác và tâm địa xấu xa.

Bà chằn còn dùng để chỉ kẻ có gương mặt lem luốc, xấu xí. Như: Bà ấy là mụ bà chằn.

Dung chớ lấn chồng làm mụ chị,

Hạnh đừng hiếp trẻ giống bà chằn.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

BÀ NGUYỆT

Bà: Tiếng gọi chung những người đàn bà Thần Thánh anh linh. Nguyệt: Mặt trăng.

Bà Nguyệt, do chữ “Ông tơ Bà nguyệt”, dùng để chỉ vị Thần có nhiệm vụ kết hợp việc hôn nhân.

Ông tơ bà nguyệt khéo xe duyên,

Buộc chặt hai người nặng kiếp khiên.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

BẢ

1.- Bả là hỗn hợp thức ăn với thuốc độc dùng làm mồi để lừa giết thú vật nhỏ. Như: Bả chuột, bả chó.

Bả, nghĩa bóng dùng để nói vật gì có thể đánh lừa, cám dỗ hoặc lôi kéo vào chỗ nguy hiểm, xấu xa, hư hỏng. Như: Bả vinh hoa, bả lợi danh, bả công khanh.

Thánh giáo Thầy có câu: Xôn xao gió bụi, mờ mệt tuồng đời, mồi phú quý bả công khanh, mấy kẻ biết nhuộm nét nâu sồng, lánh cả muôn sự não phiền mà khách trần đều gọi là vinh diệu.

Hứng giọt nhành dương lau tục lự,

Hay chi thua được bả công khanh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Mùi chua ngọt bả sang hèn,

Ðời chác một điều vụ tiếng khen.

(Đạo Sử).

2.- Bả còn có nghĩa là sợi xe bằng tơ, gai, dùng để may áo, buộc điều, đan lưới. Như: Áo bả hài gai, đánh bả.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Ðời chuộng sang vinh, Ðạo chuộng khổ hạnh, Ðời ham trược phú, Ðạo giữ thanh bần, lên xe xuống ngựa chốn phồn hoa là cảnh áo bả hài gai nơi tịnh xá, tương dưa thanh đạm chốn thiền môn, để mặc miếng mỹ vị cao lương ngoài quán tục.

Để cho con đặng tấm thân lành,

Chẳng kể già áo bả quần manh.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Bả còn là tiếng dùng để chỉ bà ấy.

Như: Mẹ anh ấy đang ở nhà, bả là người rất hiền hậu, Vợ tôi đi chợ, chút xíu bả sẽ về.

Chồng đố dám một lời nạnh hẹ,

Chọc bà già bả chưởi mẹ cha.

(Phương Tu Đại Đạo).

Sợ bả gan chưởi tới ông bà,

Lấy trớn chưởi cả nhà ông vải.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

BẢ VINH HOA

Hay “Bả vinh huê”.

Bả: Chỉ cái có sức cám dỗ, hay lừa người ta rơi vào nơi xấu xa nguy hiểm. Vinh hoa (vinh huê): Vẻ vang đẹp đẽ.

Bả vinh hoa hay “Bả vinh huê”, là tiếng dùng để chỉ món mồi giàu sang vinh hiển.

Thánh Giáo Đức Chí Tôn có dạy: Mùi chung đỉnh, bả vinh hoa có khác chi ngọn cỏ phơi sương, vừng mây giữa gió. Nét hạnh đức là phương hay để dìu dắt các con bước lên con đường Cực Lạc, tránh khỏi đoạ tam đồ.

1.- Bả vinh hoa:

Hùng suy đã lắm thảm buồn vui,

Cái bả vinh hoa hưởng đủ mùi.

(Đạo Sử).

2.- Bả vinh huê:

Cái bả vinh huê đời rối rắm,

Nguồn đào thong thả đã là đâu?

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

là nói vật gì đã lấy hết nước cốt chỉ còn lại phần xác khô. Như: Bã mía, bã trầu, bã chè, cặn bã.

Bã, nghĩa rộng dùng để chỉ cái cách khô khan, nhạt nhẽo, rời rạc. Như: Người bã, miệng bã.

Lời khen miệng thế quý chi đâu,

Bất quá như son lộn trầu.

(Đạo Sử).

 

 

BẠ

Bạ có nghĩa gặp là bậy, làm không chọn lựa, không cân nhắc kỹ là nên hay chẳng nên làm.

Như: Bạ đâu ngồi đấy, bạ việc gì cũng bắt chước, bạ đâu nói đó, bạ đâu nằm đó.

Phàm quý lạ thì là trọng giá,

Vì cớ nào ném bạ bỏ thừa.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

BÁC

1.- Bác là anh của cha hoặc chị dâu của cha.

Như: Bác gái, ông nầy là bác ruột, người nầy là bà bác họ, con chú con bác.

Thuận cùng chú bác cậu cô,

Bà con chòm xóm ra vô khiêm nhường.

(Kinh Sám Hối).

bác gái mất ăn xúm chưởi,

Bị khô mồm miệng lưỡi đều khua.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Bác là tiếng gọi người dưng, ngang vai hay bạn thân, hoặc người là một nghề gì.

Như: Tôi và bác đồng tuổi nhau, bác nông phu, phu xa, bác kỹ sư.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Thử hỏi nếu bác nông phu, người thợ dệt vải, kẻ trồng rẩy, nhà kỹ nghệ, giới thợ thuyền đều ngưng hẳn hoạt động thì đồng tiền của ta còn có ích gì cho ta nữa không, và đời sống của ta sẽ ra thế nào?

Đào non liễu thắm thuyền êm bến,

Cá nước duyên lành bác tặng thi.

(Thơ Chơn Tâm).

3.- Bác là không ưng, không y, bỏ đi, bắt bẻ.

Như: Ngọc Hư cung bác luật, bộ hình bác cái án của tỉnh đã xử, bác bỏ điều đã biểu quyết, bài bác.

Thánh giáo Thầy có câu: Than ôi! Ðiều vui sướng lao trần chẳng ai buộc mà nhiều kẻ tìm tới, mối đạo đức trau thân là phương châm thoát tục mà lắm kẻ trốn lánh, bài bác mối Ðạo Trời, khua môi uốn lưỡi, mà tưởng cho mình hơn đặng các phẩm nhơn sanh, chớ chẳng dè là một hình phạt rất nặng nề đã chực chúng nó nơi chốn A Tỳ.

Nhưng có một điều là Ngọc Hư Cung bác luật, Lôi Âm Tự phá cổ, nên tu nhiều mà thành ít.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

4.- Bác là rộng, không dùng một mình. Như: Bác ái, uyên bác, bác lãm quần thi, nhà bác học.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Một người thì đem tài bách chiến và khí phách anh hùng để phò vua vực nước, một người thì dụng văn chương bác lãm để giúp cho nước trị dân an, hai Ðấng ấy chẳng phải vì tu hành mà chỉ nhờ nơi tâm chí cao siêu nên thủ đắc Thiên vị.

Tính cha đã thông minh mẫn đạt,

Con chắc là bác lãm quần thi.

(Phương Tu Đại Đạo).

5.- Bác là cờ bạc, đánh bạc. Như: Đổ bác.

Xem: Đổ bác.

Trường đổ bác cũng đừng léo tới,

Phường trăng hoa hát bội khá từ.

(Kinh Sám Hối).

Vui nơi đổ bác là vui khổ,

Vui thói tà gian lụy trọn đời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

BÁC ÁI

博 愛

Bác: Rộng rãi. Ái: Yêu thương.

Bác ái là tình yêu trải rộng không những đối với bà con thân thích mà với cả mọi người.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có đoạn dạy: Bác ái là hay thương xót sanh linh hơn thân mình. Cho nên kẻ có lòng bác ái coi mình nhẹ hơn mảy lông, mà coi thiên hạ trọng bằng Trời Ðất.

Câu tư dục biến ra bác ái,

Nghiệp oan khiên đổi lại hồng ân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Sửa bác ái ra nên câu kệ,

Chế từ bi như thể bài kinh.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

BÁC LÃM

博 覽

Bác: Rộng rãi. Lãm: Xem.

Bác lãm, đồng nghĩa với “Triển lãm 展 覽”, là cuộc trưng bày các thứ nông sản, hoá phẩm và hoặc các thứ đồ về công kỹ nghệ để công chúng xem.

Bác lãm quần thi (Thư) 博 覽 群 書 là chỉ người tài giỏi đã hết xem các loại kinh sách.

Tính cha đã thông minh mẫn đạt,

Con chắc là bác lãm quần thi.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

BÁC LUẬT

駁 律

Bác: Không chấp nhận. Luật: Luật lệ.

Bác luật là bác bỏ luật pháp đã cũ kỹ thời xưa vì không còn thích hợp.

Thánh giáo Đức Chí tôn có câu: Nguyên từ buổi bế đạo, tuy Chánh pháp ra cũ mặc dầu, chớ kỳ trung thọ đắc kỳ truyền. Luật lệ tuy cũ chớ đạo vẫn như nhiên. Do công đức mà đắc đạo cùng chăng. Nhưng có một điều là Ngọc Hư Cung bác luật, Lôi Âm Tự phá cổ, nên tu nhiều mà thành ít.

Ngọc Hư Cung bác luật, Lôi Âm Tự phá cổ; ấy vậy Cựu Luật thì Ngọc Hư Cung đã biếm bác, còn Cổ Pháp thì Lôi Âm Tự đã phá tiêu…

(Pháp Chánh Truyền).

 

 

BẠC

1.- Bạc là một thứ kim loại quý, sắc trắng, lấy ở mỏ, người ta dùng làm đồ trang sức. Như: Vàng bạc.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Theo thế thường thì giàu đổi bạn sang đổi vợ, con người khi gặp nơi đắc dụng được kẻ biết trọng đãi kính nể mình, ban cho vàng bạc đủ đầy gái tốt hầu hạ sớm khuya, yến tiệc linh đình, tước cao lộc quý thì cho anh em ruột cũng quên được, vợ mình tấm mẳn cũng dứt tình, chúa cũ cũng không màng huống chi là kết nghĩa giao bằng hữu.

Lọc lừa chớ để đen pha trắng,

Lui tới đừng cho bạc lộn chì.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Để mặc đời thị thị phi phi,

Chưa ai rõ trong chì có bạc.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Bạc là kim loại bạc, dùng làm tiền tệ. Như: Tiền bạc, bạc đồng, bạc giấy, bạc lạng.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có đoạn dạy: Thầy chẳng khi nào dụng những kẻ ấy vào nền Ðạo bao giờ. Than ôi! Tiền lớn bạc nhiều, món ngon vật quý, hay xiêu lòng phàm phu. Của bất nghĩa kẻ trần còn chẳng chịu dùng thay!

Thi ân hậu bạc ngàn khó sánh,

Rán tập thành sửa tánh từ hoà.

(Kinh Sám Hối).

Không bạc túi, dầu tròn cũng méo,

Sẳn tiền lưng, thật dở ra hay.

(Thơ Huệ Giác).

3.- Bạc là chỉ sắc trắng, giống như màu kim loại bạc. Như: Bạc đầu, tóc bạc, da mồi tóc bạc.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Đã hai mươi sáu năm họ (chỉ người trong Phạm Môn) chịu khổ nhọc đã nhiều. Hy sinh từ tóc xanh đến bạc đầu, lao tâm lao lực.

Khuôn đời chưa dễ tạo nên hình,

Tóc bạc còn mờ lối nhục vinh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tranh khoe nguyệt rọi làu sông Vị,

Mây toả sương phơi bạc đảnh Tần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

4.- Bạc là mỏng, ít, tệ, trái nghĩa với hậu. Như: Mệnh bạc, bạc bẽo, bạc đức, bạc nhược, bạc như vôi.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn dạy: Hại thay! Loài người bạc nhược thiếu đức tin mà phải chịu muôn lỗi ngàn tội đối với Ðức Chí Tôn.

Nỗi mình tâm sự tỏ cùng ai,

Mạng bạc còn xuân uổng sắc tài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nhiều cơn sóng dập gió thêm dồi,

Cái kiếp gì xem bạc quá vôi.

(Đạo Sử).

 

 

BẠC BẼO

Bạc: Mỏng manh, tệ, hèn kém.

Bạc bẽo là tệ bạc, không trung thành.

Thánh giáo bằng Pháp Văn của Đức Chí Tôn được Hội Thánh dịch ra Việt Ngữ có câu: Thầy chỉ định con lãnh một vai trò bạc bẽo mà nhân đạo. Con vì tâm tình cao thượng mà cứu vãn sự sụp đổ của một dân tộc đã hấp thụ một nền văn minh tối cổ.

Phải nào bạc bẽo hỡi em ôi!

Vì phận nghĩa kia xử khó rồi.

(Thơ Thượng Sanh).

Thiên hạ diễn bao tuồng bạc bẽo,

Thế nhân được mấy thuở vàng son.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

BẠC CHỨA VÀNG CHÔN

Bạc chứa: Ky cỏm để tích chứa bạc. Vàng chôn: Nhịn ăn mà chôn giấu vàng.

Bạc chứa vàng chôn ý muốn nói không dám tiêu xài để tiền và vàng bạc đem chôn giấu.

Cơm ngày hai bữa vừa no dạ,

Bạc chứa vàng chôn chẳng ích gì.

(Đạo Sử).

 

 

BẠC ĐÃI

薄 待

Bạc: Mỏng, trái với hậu là dầy. Đãi: Đối xử.

Bạc đãi là đối xử tồi tệ, có ý khinh dể rẻ rúng. Phản nghĩa của bạc đãi là hậu đãi.

Thánh Giáo Bát Nương Diêu Trì Cung có câu: Làm đạo có khổ mới có công, công do khổ hạnh thì mới xứng với cõi hư vô. Như Phật Quan Âm buổi nọ, có bị đời bạc đãi mới đắc vị được.

Quyết bỏ ngôi Chí Tôn xuống lập Ðạo, lại bị các con bạc đãi, biếm nhẻ, xua đuổi, bắt buộc đến đỗi phải chịu cho các con giết chết!

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

BẠC ĐẦU

Bạc: Màu trắng, đã chuyển thành màu trắng vì tuổi già. Đầu: Phần trên hết trong thân thể người.

Bạc đầu là mái tóc bạc trắng cả.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Đã hai mươi sáu năm họ chịu khổ nhọc đã nhiều. Hy sinh từ tóc xanh đến bạc đầu, lao tâm lao lực.

Bạc đầu non chịu lằn sương nhuộm,

Nhăn mặt nước chờ trận gió qua.

(Đạo Sử).

Nhẫng là đeo thảm chác sầu,

Tóc xanh cho tới bạc đầu cũng in.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

BẠC MỆNH

薄 命

Bạc: Mỏng, mong manh. Mệnh: Số mệnh.

Bạc mệnh là mạng số mỏng manh, bạc bẽo.

Truyện Kiều của Nguyễn Du có câu: Đau đớn thay phận đàn bà! Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.

Tô Thức có nói rằng: Tự cổ giai nhân đa bạc mệnh 自 古 佳 人 多 薄 命, nghĩa là tự nghìn xưa giai nhân đều bạc mệnh.

Chừng cơn phấn lợt hương tàn,

Núm mồ bạc mệnh bên đàng cỏ chôn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

BẠC PHẦN

Hay “Bạc phận”.

Bạc: Mỏng, mỏng mành. Phần (phận): Số phần, chỉ về số mạng dành cho mình.

Bạc phần, như chữ “Bạc phận 薄 分”, là số mạng mỏng mảnh, hẩm hiu.

Xem: Bạc phận.

Trai thì chinh chiến đời phiêu bạt,

Gái lại tùng phu kiếp bạc phần.

(Thơ Thanh Hương).

 

 

BẠC PHẬN

薄 分

Bạc: Mỏng mành. Phận: Phần số, những gì số mệnh đã dành cho mình.

Bạc phận là phận mỏng, tức là số phần gặp những điều không may.

Như: Hồng nhan bạc phận.

Sổ hồng phấn ghi câu bạc phận,

Giá ngàn vàng thử trận hơn thua.

(Phù Kiều Hận Sử).

 

 

BẠC PHƯỚC

薄 福

Bạc: Mỏng, xấu. Phước (phúc): Những điều tốt đẹp do trời ban cho.

Bạc phước, như chữ “Bạc phúc 薄 福”, là phước mỏng, tức thiếu về phước đức, thiếu về may mắn.

Trong Thuyết Đạo của Đức Thượng Sanh có câu: Vùng Thánh Ðịa Tây Ninh nầy là nhà chung của nhơn sanh, là nơi được Ðấng Chí Tôn che chở dưới bóng từ bi, họp tất cả những tâm hồn biết tin cậy nơi lượng háo sanh của Ðức Ngài, để gieo rắc tình thương yêu vô lượng, xoa dịu nỗi đau khổ của kẻ vô cùng bạc phước, dù ở trong cảnh ngộ nào, cũng là con cái chung của Ðại gia đình mà Ðức Ngài là Ðại Từ Phụ.

Càng bạc phước càng than con dại,

Lo tảo tần mảy mạy dưỡng nuôi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Hỏi đon thử lời nguyền buổi trước,

Gẫm thân nàng bạc phước như ta.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

BẠC PHƯỚC VÔ DUYÊN

薄 福 無 緣

Hay “Vô duyên bạc phước”.

Bạc phước (phúc): Phước mỏng, thiếu phước đức. Vô duyên: Không có duyên phần, xấu số.

Bác phước vô duyên là người thiếu phước và không duyên phần nên số phận dành cho toàn những chuyện không may mắn.

Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy Ngài Hộ Pháp có câu: Tắc! Con nghe Thầy dặn: Con ngày nay đã cầm sanh mạng của Đạo nơi tay, con lại đủ quyền năng đạo đức với nghị lực tinh thần, con phải có dạ yêu thương những người vô duyên bạc phước.

Tôi nay bạc phước vô duyên,

Không nhà không cửa gạo tiền cũng không.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

BẠC TÌNH

薄 情

Bạc: Mỏng. Tình: Lòng yêu mến.

Bạc tình cũng như chữ “Bạc nghĩa 薄 義”, tức là nói người ăn ở bạc bẽo, không có tình nghĩa.

Xem: Bạc nghĩa.

Trời hằng thương mến lũ nhơn sanh,

Giận nỗi cưu cưu ở bạc tình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Bạc tình chi lắm hỡi ai ơi!

Bảy tháng chung vui đã mất rồi.

(Đạo Sử).

Chuốt trau đẹp dạng tốt hình,

Ngữ ngôn dụng thói bạc tình gọi khôn.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

BẠC TÌNH BỘI NGHĨA

薄 情 背 義

Bạc tình: Ăn ở bạc bẽo, không có tình cảm. Bội nghĩa: Phản bội lại ơn nghĩa.

Bạc tình bội nghĩa là nói thái độ của kẻ ăn ở bạc bẽo, phản bội lại tình nghĩa của người.

Dập liễu vùi hoa không chút thẹn,

Bạc tình bội nghĩa có ra chi.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

BẠC TÓC DA MỒI

Bạc tóc: Mái tóc bạc trắng, chỉ tuổi đã già. Da mồi: Da người già trổ lốm đốm những chấm màu nâu nhạt như mai con đồi mồi.

Bạc tóc da mồi, như câu “Tóc bạc da mồi” chỉ người già, đầu đã bạc, da đã trổ lốm đốm như da đồi mồi.

Thương bạc tóc hỡi còn thương dại,

Thương da mồi còn phải thương ngu.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

BẠC VÀNG

Bạc: Kim loại màu trắng, thường dùng để mạ hay làm đồ trang sức. Vàng: Kim loại quý, có màu vàng, làm đồ trang sức.

Bạc vàng, như chữ “Vàng bạc”. là bạc và vàng, thường dùng để chỉ những thứ quý giá.

Xin khá nhớ Tiên phàm khác tánh,

Đá đất nào dám sánh bạc vàng.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

BÁCH NIÊN

百 年

Bách (Bá): Trăm. Niên: Năm.

Bách niên, bởi chữ “Bách niên giai lão 百 年 皆 老”, tức là lời chúc vợ chồng ăn ở với nhau hoà hợp, sống lâu đến trăm tuổi.

Bỏ cuộc bách niên tròn bách sự,

Lên xe thiên cổ hưởng thiên phần.

(Thơ Hoàn Nguyên).

Vàng son tô điểm màu song hỷ,

Tài sắt vun bồi chữ bách niên.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

BẠCH

1.- Bạch là bày tỏ, nói, thưa.

Như: Ăn chưa sạch bạch chưa thông, bạch Thầy con có lỗi, xin Thầy tha thứ.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bạch Ngài (Lý Giáo Tông), sự bí mật ấy Ngài có thể cho tôi biết đôi chút đặng tôi mới an tâm, an trí được.

Mong tầm Tiên học phép huờn hồn,

song sợ học phép mầu, Tiên chẳng bảo,

Muốn bạch Phật hỏi phương hiện thế,

lại e phương cấm, Phật không truyền.

(Tuý Sơn Vân Mộng).

2.- Bạch là màu trắng. Như: Hắc bạch, bạch câu quá khích, bạch chủng (Giống người da trắng).

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bạch chủng giờ phút này, đương làm chúa thiên hạ vì văn minh của họ đến mức cao thượng, cũng như các chủng tộc kia vậy, đã đạt đến một nền văn minh khoa học tối yếu, tối trọng, huyền vi vô biên.

Bạch Y Quan mở đàng rước khách,

Cõi Kim Thiên nhẹ tách Tiên xa.

(Kinh Tận Độ).

Hắc bạch phú cho vầng nhựt nguyệt,

Thị phi chờ thoát bóng quang âm.

(Thơ Huệ Giác).

3.- Bạch là sạch sẽ. Như: Thanh bạch, tấc lòng trinh bạch, tuyết bạch giá trong.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy cũng hoan tâm nắm máy huyền vi, mong rằng các con sẽ tận lực tận tâm đắp vững nền Ðạo đặng hoàn toàn mà dìu sanh chúng thoát khỏi tội tình, cùng nhau đỡ nâng đem lên con đường Cực Lạc, vẹt ngút mây xanh, trông vào lối thanh bạch thiêng liêng là chỗ từ xưa các Chí Thánh đã tổn lắm công phu mà chưa mong để mình đến được.

Thanh bạch một lòng vì đạo hạnh,

Có khi lóng đục bởi nhờ phèn.

(Đạo Sử).

4.- Bạch là rõ ràng, sáng sủa. Như: Minh bạch, thanh thiên bạch nhật.

Thánh giáo Thầy có câu: Lằn tang thương gần khởi, đường đạo đức chớ dần dà, công vẹt ngút mây xanh của các con sẽ làm cho sáng sủa bạch minh, cho bước đàng sau nầy do theo dấu ấy mà lần đến cõi vô ưu, để bước khỏi lối nhọc nhằn ban sơ khai dẫn.

Ấy vậy nên người làm Quan, lúc nào cũng phải trau giồi đức thanh liêm cho được rõ ràng minh bạch để nêu gương lành cho dân bắt chước.

(Giáo Lý).

 

 

BẠCH ĐẰNG GIANG

白 籐 江

Bạch Đằng Giang là sông Bạch Đằng, một con sông thuộc huyện Thuỵ Nguyên, tỉnh Kiến An bây giờ.

Hưng Đạo Vương sai Nguyễn Khoái lén dẫn binh lên mé thương lưu sông Bạch Đằng, dùng gỗ đẻo nhọn có bịt sắt đóng khắp giữa giòng sông, rồi phục binh chờ thuỷ triều lên thì đem binh ra khiêu chiến. Chiến thuyền của quân Nguyên do Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp xông vào đánh, quân Nguyễn Khoái quay thuyền chạy, nhử cho thuyền giặc qua khỏi chỗ đóng cọc.

Đến lúc thấy thuỷ triều xuống thì quay binh lại hết sức mà đánh, kế có đại quân Trần Hưng Đạo tiếp đến. Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp thấy quân thế nhà Trần quá mạnh, bèn quay thuyền chạy trở lại. khi chạy đến khúc sông có đóng cọc thì thuỷ triều đã rút xuống, thuyền của quân Nguyên vướng mắc phải cọc, đổ nghiêng đổ ngửa, đắm vở mất nhiều. Quan quân nhà Trần thừa thắng đánh cực hăng, quân Nguyên chết như rạ, máu loang đỏ cả khúc sông, tướng Nguyên là Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp đều bị bắt.

Dưới Hưng Đạo kiếm trăm đầu rụng,

Trên Bạch Đằng Giang vạn xác sình.

(Thơ Thành Toại).

 

 

BẠCH ĐẦU

白 頭

Bạch: Bạc, trắng. Đầu: Phần trên hết của thân thể người hoặc vật.

Bạch đầu là đầu bạc, chỉ người già.

Thánh giáo Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng viết: Cổ nho có câu: Thanh sơn nguyên bất lão, vị tuyết bạch đầu, Lục thuỷ bổn vô sầu, nhơn phong sô diện. Nghĩa là: Núi kia chẳng phải già mà bị tuyết đóng nên bạc đầu, Nước kia chẳng phải sầu mà bị gió thổi nên nhăn mặt.

Trường xuân quạnh quẽ đưa ngưu đẩu,

Nẻo hoạn nghinh ngang điểm bạch đầu.

(Quyền Giáo Tông Giáng).

 

 

BẠCH KHỈ

Hay “Bạch Khởi”.

Bạch Khỉ, còn đọc là Bạch Khởi 白 起, là người đời Chiến Quốc, làm đại tướng cho Chiêu Tương Vương nươc Tần, có tài dụng binh, đã từng đánh lấy 70 thành, được phong làm Võ An Quân.

Bạch Khởi là người hiếu sát, khi đánh thắng Triệu Quát tại Trường Bình, quân Triệu đầu hàng hơn 40 vạn. Bạch Khởi sợ hàng binh nổi loạn, bày mưu cho binh Tần đội vải trắng, nửa đêm đánh vào hàng binh của Triệu, thấy ai không đội vải trắng giết sạch hơn 40 vạn quân trong một đêm.

Sau Bạch Khởi bị gièm pha, phải chịu tam ban triều điển chết một cách thảm thiết.

Thạnh bỏ suy đương lao khổ phận,

Cũng như Bạch Khỉ đến hôn mê.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

BẠCH KHỈ TÌM ĐƯỜNG SƠN KHÊ

Do điển nhà Châu, vua Châu Vương có nuôi một con khỉ trắng (Bạch khỉ) rất khôn ngoan, nghe được tiếng người, làm trò khiến vua tức cười mà quên buồn.

Trong triều có quan Thừa tướng là Chu Ôn có tham vọng, nhiều mưu lược, lại được vua Châu Vương tin dùng. Thừa Tướng cấu kết với một số gian thần âm mưu thí vua chiếm đoạt ngôi báu.

Khi Tân vương lên ngôi bèn truyền lịnh đem Bạch khỉ đến làm trò để giúp vui, nhưng con Bạch khỉ không chịu nhảy múa, đứng trơ trơ nhìn Tân vương. Tân vương tức giận định truyền quân sĩ đánh, nhưng thình lình Bạch khỉ nhảy đến quào quấu Tân vương đến đỗi nằm lăn dưới gạch. Bạch khỉ thừa dịp chạy thoát nhanh về chốn sơn khê.

Để nêu gương loài vật biết việc chánh tà, tỏ lòng trung nịnh, nên Đức Hộ Pháp dạy cho vẽ một bức tranh trên hành lang Báo Ân Từ về phía nam phái lấy tích “Bạch khỉ đến sơn khê”.

Châu Vương đã khéo nuôi Bạch khỉ,

Lúc Chu Ôn tiếm vị xưng vương.

Bảo múa, nhảy cắn trọng thương,

Vật vì chủ cũ, tìm đường sơn khê.

(Báo Ân Từ)

 

 

BẠCH NGỌC

白 玉

Bạch: Màu trắng. Ngọc: Loại đá quý báu có màu sắc sáng bóng rất đẹp.

1.- Bạch ngọc là loại ngọc màu sáng trắng, một loại ngọc quý báu.

Như: Đôi bông tai cẩn bạch ngọc.

Cao Ðài tá thế đến phàm gian,

Bạch Ngọc Huỳnh Kim cũng chẳng màng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Bạch Ngọc, nói tắt của “Bạch Ngọc Kinh”, một toà Thiên các của Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế ngự, làm bằng ngọc màu trắng, sáng loà rực rỡ.

Xem: Bạch Ngọc Kinh.

Trên Bạch Ngọc Chí Tôn cao ngự,

Giữa Tây phương nắm giữ Thiên điều.

(Kinh Thế Đạo).

Nguyện các Đấng đương chầu Bạch Ngọc,

Giúp thông minh lảu thuộc văn từ.

(Kinh Thế Đạo).

Ðạo hạnh khuyên con gìn tánh đức,

Cửa Cung Bạch Ngọc đã gần khai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

BẠCH NGỌC CHUNG

白 玉 鐘

Bạch Ngọc: Ngọc trắng. Chung: Chuông.

Bạch ngọc chung là chuông Bạch Ngọc.

Bạch Ngọc chung là một cái chuông lớn, bên Phật giáo gọi là Hồng chung, một loại chuông lớn, có lòng rỗng, thành cao, miệng loa tròn, thường có quai để treo trên giá, tiếng chuông phát ra trong và ngân dài.

Trong đạo Cao Đài nơi Toà Thánh Tây Ninh hay các Thánh Thất địa phương đã hoàn chỉnh, Đại Hồng Chung được treo trên giá chuông, miệng úp xuống và đặt tại lầu chuông, gọi là Bạch Ngọc Chung Đài 白 玉 鐘 臺, nên người trong Đạo còn gọi Đại Hồng Chung là “Bạch Ngọc Chung 白 玉 鐘” (hay chuông Bạch Ngọc).

Đại Hồng Chung là một pháp bảo thiêng liêng, khi dọng âm thanh vang xa, có sức lan toả rất lớn đến đời sống tâm linh của con người chung quanh và mọi cảnh giới. Tiếng chuông, theo kinh điển, có thể thấu đến cõi Phong đô, chúng sanh nào bị đọa nơi địa ngục nhờ nghe tiếng chuông này mà sám hối, liền được giải thoát. Vì thế Đại Hồng Chung còn được gọi là “U Minh chung 幽 暝 鐘” (hay chuông U Minh).

Chính vì vậy, trong đạo Cao Đài bài Kệ Chuông Đại, Tiểu Đàn có câu:

 

Thần chung thinh hướng phóng phong đô,

 

神 鐘 聲 向 放 酆 都

 

Địa Tạng khai môn phóng xá cô.

 

地 藏 開 門 放 赦 辜

 

Tam Kỳ vận chuyển kim quang hiện,

 

三 期 運 轉 金 光 現

 

Sám hối âm hồn xuất u đồ.

 

懺 悔 陰 魂 出 幽 途

Giải nghĩa:

 

Tiếng chuông thiêng liêng hướng đến cõi Phong đô.

Đức Địa Tạng Vương mở cửa phóng thích các tội hồn.

Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ vận chuyển làm hiện ra lằn Kim quang.

Lằn Kim quang đó làm con đường để những âm hồn ở Phong đô sám hối được ra khỏi cõi tối tăm (U đồ)

Trên quai và thành bất kỳ một quả Hồng Chung nào đều được đúc những hình ảnh hoặc trang trí hoa văn tượng trưng cho nhiều ý nghĩa sâu sắc. Người đúc chuông ngày xưa có quan niệm rằng muốn đúc chuông kêu to, thì phải đúc hình con bồ lao trên chóp chuông để làm cái quai.

Bồ lao 蒲 牢 theo một số tài liệu, còn gọi là “Đồ lao 徒 劳”, là một giống rồng và là một trong số chín con rồng (Long sinh cửu tử). Theo truyền thuyết, bồ lao thích âm thanh lớn và thích "gầm rống", và vì thế theo truyền thống được đúc trên quai chuông đặt ở nhiều nơi, như tại Trung Quốc, Việt Nam, và nó được sử dụng như là một cái quai treo chuông.

Lời chú trong bài phú của Ban Cố có chép rằng: Giữa biển có một loại cá, gọi là cá kình rất lớn, trong bờ gần biển có một loại thú gọi là bồ lao. Con bồ lao rất sợ cá kình. Mỗi lần cá kình lội vào bờ để đánh bồ lao thì bồ lao kêu rống to lên. Vì thế, muốn làm chuông kêu to thì người ta đúc con bồ lao ở trên đỉnh chuông và chày đánh chuông được chạm hình cá kình, gọi là chày kình.

Bạch Ngọc Chung chấn động cõi Trần ai,

Rước khách đến nhập cung Bạch Ngọc.

(Hiền Nhơn Lê Văn Trung).

Lôi Âm Cổ khởi Tam Kỳ Hội,

Bạch Ngọc Chung khai thất ức niên.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

BẠCH NGỌC CHUNG ĐÀI

白 玉 鐘 臺

Bạch Ngọc chung: Chuông Bạch Ngọc, tức Đại Hồng chung. Đài: Cái đài cao.

Bạch Ngọc Chung Đài là cái đài cao nằm trước Đền Thánh, bên phía nam phái, trên đó đặt một cái giá treo chuông Bạch Ngọc (Đại Hồng Chung).

Hai bên Hiệp Thiên Ðài, bên mặt thì có Lôi Âm Cổ Ðài, bên tả thì Bạch Ngọc Chung Ðài.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

BẠCH NGỌC KINH

白 玉 京

Bạch Ngọc: Ngọc trắng. Kinh: Toà nhà lớn, là nơi thường ngự của Đức Thượng Đế.

Bạch Ngọc Kinh là một toà kinh thành ở cõi thiêng liêng là nơi thường ngự của Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, làm bằng ngọc màu trắng, sáng loà rực rỡ.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, có bài thi mô tả về Bạch Ngọc Kinh như sau:

Một toà Thiên Các ngọc làu làu,

Liền bắc cầu qua nhấp nhoá sao.

Vạn trượng then gài ngăn Bắc Đẩu,

Muôn trùng nhiếp khảm hiệp Nam Tào.

Chư Thần choá mắt màu thường đổi,

Liệt Thánh kinh tâm phép vẫn cao.

Dời đổi chớp giăng đoanh đỡ nổi,

Vững bền muôn kiếp chẳng hề xao.

Ở thế gian những lâu đài được xây dựng bằng vật chất thường bị hư sập, bị hủy hoại theo thời gian, nhưng tại sao Bạch Ngọc Kinh, bằng những loại ngọc quý báu nơi thiêng lại có thể tồn tại vĩnh viễn?

Theo Kinh A Di Đà, Đức Thích Ca Mâu Ni Văn Phật thuyết pháp cũng cho rằng tất cả lầu các nơi Cực Lạc Quốc đều được trang sức cũng bằng bảy thứ báu. Ngài nói: “Tứ biên giai đạo kim, ngân, lưu ly, pha lê hiệp thành. Thượng hữu lâu các, diệc dĩ kim, ngân, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu mã não nhi nghiêm sức chi 四 邊 階 道, 金, 銀, 琉 璃, 玻 璃 合 成. 上 有 樓 閣, 亦 以 金, 銀, 琉 璃, 玻 璃, 硨 磲, 赤 珠, 瑪 瑙 而 嚴 飾 之”, nghĩa là bốn phía có thềm bậc, đường đi do vàng bạc, lưu ly, pha lê hợp thành. Phía trên lại có lầu gác cũng dùng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não để trang hoàng.

Đức Phật tả bảy thứ báu kể trên chỉ là mượn danh hiệu những vật quý giá nhứt ở cõi thế gian nầy để tạm diễn tả nơi cõi Phật trang nghiêm rực rỡ, chứ mỗi thứ báu nơi Phật quốc đều thù thắng, siêu việt hơn các thứ báu là vật chất trong cõi trần của chúng ta gấp trăm vạn lần.

Theo Cao Đài, Toà Bạch Ngọc Kinh được Đức Hộ Pháp giải thích trong Thiêng Liêng Hằng Sống như sau: “Lại gần tới, còn thấy một vật khác thường quái lạ, nhưng nó là một toà Thiên các đẹp đẽ lắm, màu sắc thay đổi sáng rỡ, mà cả thoại khí bao quanh, làm như thể vận chuyển hình trạng của nó vậy. Lâu đài chớn chở mà nó là con vật sống chớ không như gạch đá chúng ta làm đây, nó vận hành như con vật sống vậy, thay đổi màu sắc vô cùng vô biên. Bí pháp ấy không thể gì tả đặng, ngó thấy đặc sắc lắm.

Nhà cửa ở thế gian nầy là con vật chết, Bạch Ngọc Kinh là con vật sống, biến hoá thay đổi như thể vận hành, xung quanh thoại khí bao trùm, từ nam chí bắc, từ đông qua tây. Khối lửa ánh sáng ấy, chúng ta ngó thấy như mặt trời vậy, mà ánh sáng mặt trời thì nóng nực bực bội, còn ánh sáng nơi Toà Bạch Ngọc Kinh lại dịu dàng và huyền bí lắm, sung sướng khoái lạc lắm!

Tại sao Đài các là con tử vật mà nó sống? Sống là do nơi đâu? Nếu biết thì không lạ gì.

Bạch Ngọc Kinh là do Hỗn Nguơn khí biến hình ra. Hỗn Nguơn khí là khí Sanh Quang của chúng ta đã thở, đã hô hấp, khí để nuôi các sanh vật sống. Ta sống cũng do nơi nó xuất hiện, mà biểu nó làm sao không sống?”.

Tóm lại, Bạch Ngọc Kinh là Toà Thiên các ở cõi thiêng liêng, là triều nghi của Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Người tu hành khi đắc Đạo thì chơn hồn đều phải đến Bạch Ngọc Kinh bái lễ Đức Chí Tôn.

Toà Thánh Tây Ninh do Đức Lý Giáo Tông giáng cơ chỉ cho Hộ Pháp xây cất mô phỏng theo kiểu vở hình ảnh của Bạch Ngọc Kinh nơi cõi thiêng liêng. Vì vậy, Toà Thánh Tây Ninh được coi là Bạch Ngọc Kinh tại thế.

Diệu diệu Huỳnh Kim Khuyết,

Nguy nguy Bạch Ngọc Kinh.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

Thời thường phụng hiến Huỳnh Kim Khuyết,

Đàn lệ thăng triều Bạch Ngọc Kinh.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

BẠCH PHÁT

白 髮

Bạch: Trắng, bạc. Phát: Tóc.

Bạch phát là tóc bạc, chỉ tuổi già.

Người xưa cho rằng “Tâm sầu bạch phát” tức là lòng sầu muộn sinh ra đầu bạc. Do điển Ngũ Tử Tư vì buồn phiền và lo nghĩ việc báo thù, nên suốt đêm không ngủ, sáng hôm sau đầu tóc bạc hết.

Duyên bạch phát là chỉ duyên nợ keo sơn, bền chặt cho đến tuổi già.

Huấn từ của Đức Thượng Sanh đọc trong buổi lễ Cứu Trợ Việt Kiều Hồi Hương có dạy: Trên cõi tạm nầy, những nỗi buồn, vui, đau khổ, nhục vinh, là những đoạn trường mà khách trần, ai cũng phải trải qua từ thanh my chí bạch phát để nung đúc tâm hồn cho tới mức siêu nhiên và những ai đã vượt qua những cảnh bất thường ấy mà lòng vẫn minh chánh, chí vẫn thanh cao đó là những người biết sống, đáng sống và đã tìm ra con đường trở về với Ðấng Chí Tôn Thượng Đế.

Bước thế chịu đày khơi bạch phát,

Nguồn Tiên ráng lướt rạng thanh my.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tiệc ngọc vui vầy trang bạch phát,

Xe hoa mừng đón lứa thanh my.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

BẠCH TUYẾT THẦN QUANG

白 雪 神 光

Bạch tuyết: Tuyết trắng. Thần quang: Ánh sáng thần.

Bạch tuyết thần quang là ánh sáng thần, trắng như màu tuyết.

Trong đạo Cao Đài, Bạch tuyết thần quang là một sợi dây bằng hàng trắng dài ba thước, ba tấc, ba phân (3m33) và bề ngang rộng ba tấc ba phân ba ly (0m333) dùng để Bảo Văn Pháp Quân làm đai lưng.

Khi đai dây Bạch tuyết thần quang phải buộc mối chừa ra trước thế nào đủ thắt một bông sen năm cánh.

Lưng (Bảo Văn Pháp Quân) đai Bạch Tuyết Thần Quang bằng hàng trắng...

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

BẠCH THỐ

白 兔

Bạch: Trắng. Thố: Con thỏ.

Bạch thố là thỏ bạc, chỉ mặt trăng.

Bạch thố do tục truyền trên mặt trăng có con thỏ trắng giã thuốc, nên còn gọi mặt trăng là bạch thố.

Xem: Thỏ bạc ác vàng.

Tuyến kim đưa khách chưa hoà,

Mượn gương bạch thố rọi nhà tri âm.

(Tam Nương Giáng Bút).

Trông gương bạch thố gìn ngôi trước,

Ngó bóng kim ô giữ nghĩa sau.

(Tiêu Diêu Đạo Sĩ).

 

 

BẠCH THỦ THÀNH GIA

白 手 成 家

Bạch thủ: Tay trắng, chỉ hai bàn tay không. Thành gia: Thành nhà, chỉ nên sự nghiệp.

Bạch thủ thành gia ý muốn nói người tài giỏi, chỉ có hai bàn tay trắng mà lập nên sự nghiệp.

Bạch thủ thành gia ít kẻ tài,

Cũng như Huệ Mạng thế không hai.

(Đạo Sử).

 

 

BẠCH VÂN ĐỘNG

白 雲 洞

Hay “Bạch Vân Am 白 雲 庵”.

Bạch Vân: Mây trắng, đây là tên một cái Động Thánh nơi cõi Thiêng liêng. Động: Cái hang động.

Bạch Vân Động, hay Bạch Vân Am, theo Đức Hộ Pháp là tên một cái Động hay Am ở Quảng Hàn Cung, tức Nguyệt cầu, do Bạch Vân Hoà Thượng làm giáo chủ mà kiếp giáng trần chính là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm có Thánh danh là Thanh Sơn Chơn Nhơn.

Trong thời Tam Kỳ Phổ Độ, chư Thánh Bạch Vân Động là Thanh Sơn Chơn Nhơn, Nguyệt Tâm Chơn Nhơn và Trung Sơn Chơn Nhơn lãnh lịnh Đức Chí Tôn làm trung gian ký kết một hoà ước giữa Trời và người, gọi là đệ tam Thiên nhân hoà ước.

Xem: Tam Thánh.

1.- Bạch Vân Động:

Bạch Vân Động trước có công tu,

Yên xã tắc nam cứ vận trù.

(Thanh Sơn Giáng Bút).

2.- Bạch Vân Am:

Hình Tam Thánh tạc rành trên vách,

Tiền căn đều ở Bạch Vân Am.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

BẠCH VƯƠNG ĐẠI HỘI

白 王 大 會

Bạch Vương Đại Hội là một Đại Hội trong ba thời kỳ khai Hội Long Hoa để phổ độ chúng sanh. Đó là Thanh Vương Đại Hội, Hồng Vương Đại Hội và Bạch Vương Đại Hội.

Bạch Vương Đại Hội là một Đại Hội được mở ra trong thời kỳ phổ độ lần thứ ba, do Đức Di Lạc Cổ Phật làm Chưởng Giáo, và Chủ khảo trong thời kỳ nầy.

Sở dĩ gọi “Bạch Vương Đại Hội” là vì Hội Long Hoa kỳ thứ ba, ví như mùa thu, chủ về kim, thuộc màu trắng, nên gọi là Bạch Vương.

Nam Mô Tam Hội Long Hoa Bạch Vương Đại Hội, Di Lạc Cổ Phật Chưởng Giáo Thiên Tôn.

(Kệ U Minh).

 

 

BÁI

Bái là lễ, lạy, cách cung kính đối với người trên. Như: Bái tạ, bái lễ, cúc cung bái.

Thánh giáo Thầy dạy Ngài Thượng Trung Nhựt có câu: Khi bái lễ, hai tay con chấp lại, song phải để tay trái ấn Tý, tay mặt ngửa ra nằm dưới, tay trái chụp lên trên.

Bớt những lẽ giựt giành bái phước,

Lấy Vu Lan đặng được ấm no.

(Lục Nương Giáng Bút).

Hễ bé thơ tập vào bái ra chào,

Quyền cha mẹ, Trời cao kia dám sánh.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

BÁI CÔNG

沛 公

Bái Công là của Lưu Bang, vị vua Cao Tổ nhà Hán.

Lúc đầu, Lưu Bang tụ họp hơn ba ngàn người, khởi binh dựng nghiệp ở huyện Bái (Đất Bái) để đánh Tần, được dân chúng tôn là Bái Công.

Đất Bái là một huyện của nước Tần đặt ra. Thời Hán thuộc Bái Quận, nay thuộc tỉnh Giang Tô, ở phía đông Bái Huyện.

Xem: Lưu Bang.

Xưa Hớn Bái Công chưa phải là chánh đáng một vị minh quân, mà cơ Trời vẫn để cho nghiệp Hớn ba trăm năm quyền bỉnh.

(Thánh Giáo Thái Thượng).

 

 

BÁI KỈNH

Hay “Bái kính”.

Bái: Lễ, lạy, cách cung kính đối với người trên. Kỉnh (kính): Lòng kính trọng.

Bái kỉnh, như chữ “Bái kính 拜 敬”, là làm lễ lạy để tỏ lòng kính trọng.

Vọng Thượng Đế chứng lòng thành tín,

Chúng sanh đồng bái kỉnh khẩn nguyền.

(Giới Tâm Kinh).

 

 

BÁI MẠNG

Bái: Lễ, lạy, cách cung kính đối với người trên. Mạng (mệnh): Mệnh lệnh.

Bái mạng, như chữ “Bái mệnh 拜 命”, là lạy vua hoặc các Đấng Thiêng Liêng và vâng mệnh sai khiến.

Thánh giáo Đức Hộ Pháp dạy về lễ Tấn phong như sau: Còn lễ toàn đạo hiệp lại tổ chức cuộc lễ cho có vẻ tôn nghiêm rồi toàn thể Chức sắc Thiên phong đến hành lễ bái mạng cho vị Tân phong đủ uy quyền với toàn Đạo.

Phổ biến Cao Đài tròn trách nhiệm,

Ngọc Hư bái mạng hưởng tiền duyên.

(Thơ Nguyệt Quang).

 

 

BÁI PHỤC

拜 服

Bái: Lạy, vái, kính cẩn. Phục: Cho là tài giỏi, là đáng tôn kính mà theo.

Bái phục, như chữ “Kính phục 敬 服”, tức chịu phục hoàn toàn, một cách kính cẩn.

Xưa Võ Vương nhà Châu nghe một lời nói phải thì bái phục.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

BÀI

1.- Bài là một thiên, một khúc về văn chương hay âm nhạc. Như: Bài thơ, bài luận, bài học, bài nhạc, bài thi.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Cuộc đời khó khăn tỷ như bài thi, nếu dễ thì ai thi cũng đặng, cuộc thi có ý vị gì đâu? Hễ bài càng khó thì đậu càng cao, đậu cao mới ra có giá.

Khi thong thả đặt bài trẻ học,

Lấy gương già gợi chọc sắp con.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Con lo bài biết sợ biết rầu,

Theo dịu ngọt khuyên cầu con học hỏi.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Bài là những tấm giấy nhỏ cứng có ghi hình hoặc nút, dùng làm quân trong vài môn cờ bạc.

Như: Đánh bài, bài bạc, bộ bài, quân bài.

Cũng đừng ham kết bạn kết bè,

Theo cờ bạc bài me phá của.

(Phương Tu Đại Đạo).

Chẳng phải giỏi ra tài đánh lú,

Không phải hay bong vụ đánh bài.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Bài là bẻ bắt, chê bai, đuổi trừ, không dùng một mình.

Như: Anh ta bài bác người có đạo, cơ quan bài tiết, cô ấy hay bài trừ thuốc lá.

Vậy chớ quần chúng phải làm thế nào để bài trừ cái chế độ chánh trị tàn bạo kia hầu áp dụng chế độ dân quyền.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

4.- Bài là một tấm làm bằng ngà, bằng gỗ hoặc bằng giấy, dùng để viết chữ vào đó. Như: Bài ngà, bài chỉ, bài vị, lệnh bài.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có đoạn dạy: Ngay chỗ bàn ngự của Thầy, phải để một cái ghế trước ngôi ba vị Ðầu Sư, vọng một bài vị, biểu Lịch viết như vầy: Cửu Thiên Cảm Ứng Lôi Thinh Phổ Hoá Thiên Tôn, lại vẽ thêm một lá bùa "Kim Quang Tiên" để thòng ngay giữa, ai ai ngó vào cũng đều thấy đặng.

Hương thề để trước vị bài,

Châm đề thấy rõ những ngày biệt phu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

BÀI BÁC

排 駁

Bài: Gạt bỏ. Bác: Không chấp nhận.

Bài bác tức là chê bai, công kích nhằm mục đích gạt bỏ ra ngoài.

Thánh Giáo Thầy đã dạy: Than ôi! Ðiều vui sướng lao trần chẳng ai buộc mà nhiều kẻ tìm tới, mối đạo đức trau thân là phương châm thoát tục mà lắm kẻ trốn lánh, bài bác mối Ðạo Trời, khua môi uốn lưỡi, mà tưởng cho mình hơn đặng các phẩm nhơn sanh, chớ chẳng dè là một hình phạt rất nặng nề đã chực chúng nó nơi chốn A Tỳ.

Lễ Nhạc chẳng hoàn toàn, nhiều đứa cậy tài học giỏi, lượm lặt sách xả rác hủ nho, mong bài bác đặng vinh mặt.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

BÀI BẠC

Bài: Tấm giấy cứng có ghi hình hoặc nút dùng làm quân trong vài môn cờ bạc. Bạc: Tiền bạc.

Bài bạc là đánh bài đánh bạc để ăn tiền, nói chung về bộ môn cờ bạc.

Như: Bài bạc là bác thằng bần.

Xem: Cờ bạc.

Cũng đừng bài bạc lận nhau,

Rũ ren rù quến, lấy xâu ăn đầu.

(Kinh Sám Hối).

 

 

BÀI TRỪ

排 除

Bài: Đuổi trừ. Trừ: Bỏ đi.

Bài trừ là trừ bỏ đi, làm cho mất đi.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Nơi xứ nầy, dân tình rất thuần hậu và ôn hoà, nên Thầy đến cũng như Chúa Cứu Thế đã đến với chúng con để bài trừ Tà thuyết và truyền bá Chơn đạo trên toàn cầu.

Nếu đã có tinh thần chế độ chánh trị dân quyền rồi, thì quần chúng coi đó là một chủ nghĩa phải theo đuổi để bài trừ một chế độ không hợp lòng dân.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

BÀI VỊ

牌 位

Bài: Tấm bảng. Vị: Chỗ ngồi.

Bài vị còn gọi là Thần vị, Linh vị, Thần chủ, hay Mộc chủ, là một tấm giấy hoặc gỗ dày, có đế đặt đứng được. Trên mặt giấy hoặc gỗ có viết tên họ, ngày sinh, ngày mất của người chết…

Bài vị được người xưa quan niệm là đặt trên bàn thờ để linh hồn người quá cố nương tựa vào đó.

Trong Đạo Cao Đài, Bài vị còn dùng viết Thánh danh các Đấng để thờ. Đó còn được gọi là Long Vị.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Trung nghe! Con dời bài vị của Lý Bạch để dưới tượng Thầy, con dọn dẹp trong hết, để một cái ghế kế một bên tran thờ, rồi để lên một cái ghế lớn đặng làm ngôi Giáo Tông, ba cái nữa để sắp hàng theo ở dưới đặng làm ngôi cho ba vị Ðầu Sư.

Bài vị lờ mờ nhang toả khói,

Ánh đèn mòn mỏi, nến rơi châu.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

BÀI XÍCH

排 斥

Bài: Bắt bẻ, chê bai, đưa đẩy. Xích: Đuổi ra.

Bài xích, như chữ “Bài bác 排 駁”, là chê bai, công kích nhằm mục đích loại ra ngoài.

Bài xích còn có nghĩa bài trừ, ruồng đuổi.

Thiếu hoà ái ấy tâm bài xích,

Đủ đức tin là phúc vĩnh tồn.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

BÃI

1.- Bãi là vùng đất ăn ra ven sông, ven biển, hoặc nổi lên ở giữa mặt nước.

Như: Bãi sông, bãi biển, bãi sa mạc.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Phải có một bàn tay từ thiện giúp đỡ cứu nguy cho họ bằng không họ chẳng khác chi những khách lữ hành vì thiếu nước mà phải phơi thây giữa bãi sa mạc.

Bãi biển đưa chơn chưa đáng buổi,

Trần hoàn trả vẹn nợ tiền khiên.

(Đạo Sử).

Dường như biển thảm không cầu,

Kẻ thì cuối bãi, người đầu gành khơi.

(Thất Nương Giáng Bút).

2.- Bãi khoảng đất trống, rộng rãi, bằng phẳng có một đặc điểm nào đó.

Như: Bãi sa mạc, bãi chiến trường, bãi tha ma, bãi mìn, bãi cỏ non.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có đoạn: Những kẻ đau khổ chán chường, đó là những vết đen tối của bức tranh xã hội, những vai tuồng bẩn thỉu của sân khấu đời. Phải có một bàn tay từ thiện giúp đỡ cứu nguy cho họ bằng không họ chẳng khác chi những khách lữ hành vì thiếu nước mà phải phơi thây giữa bãi sa mạc.

Thương gái kiên trinh mùa chiến trận,

Thương trai nhiệt huyết bãi sa trường.

(Thơ Hoàng Nguyên).

3.- Bãi là bỏ đi, thôi không làm nữa. Như: Bãi binh, bãi chức, bãi công, bãi khoá.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Lý Giáo Tông giáng cơ tại Cung Đạo Đền Thánh, đêm 6 tháng 5 năm Tân Hợi có câu: Vậy từ đây Lão bãi bỏ lịnh truất cầu thăng, rồi đây Hội Thánh Cửu Trùng Đài phải tái lập Sổ cầu phong và cầu thăng.

Sở buộc cống ngọc ngà báu nhứt,

Báu của Hàn đạo đức nghĩa nhân.

Sở Vương nghe sứ phân trần,

Báu xưa vui trả, xưng thần bãi đi.

(Báo Ân Từ).

 

 

BÃI BUÔI

Bãi buôi là chỉ người có vẻ ân cần, vồn vã với kẻ khác, nhưng trong lòng có thể không thật.

Ca dao có câu: “Thương em, thương dạng, thương hình, Thương lời ăn tiếng nói thiệt tình không bãi buôi”.

Gặp lắm đứa du côn tánh nóng,

Mình bãi buôi trở giọng hiền từ.

(Phương Tu Đại Đạo).

Dù đang ray rứt niềm chua chát,

Cũng tạm bãi buôi ý ngọt ngào.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

BÃI CÁT

Bãi: Khoảng đất trống, rộng rãi, bằng phẳng có một đặc điểm nào đó. Cát: Đá vụn thành hạt nhỏ ở bờ sông hoặc bờ biển.

Bãi cát là những vùng đất toàn là cát ở ven sông hay ven biển, hoặc khoảng đất nào đó.

Như: Du khách tắm biển nằm phơi mình trên bãi cát.

Mơ hồn hồ điệp đêm trăng lạnh,

Thương cái dã tràng bãi cát xây!

(Thơ Thuần Đức).

 

 

BẠI

1.- Bại là ở tình trạng bị suy yếu, giảm hoặc mất khả năng cử động, do tổn thương thần kinh.

Như: Chân tay bị bại, do thất chí khiến tinh thần anh ấy lụn bại.

Rượu thịt hằng ngày hại tấm thân,

Say sưa vất vả, bại tâm thần.

(Thơ Thiên Vân).

2.- Bại là không đạt được kết quả dự định. Như: Thành bại, thắng bại, bại trận, bại danh.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có dạy: Lão, vì đã thấy rõ, nên không nỡ ngồi an xem cơ thắng bại. Lão nhứt định đứng chung vai đâu cật cùng chư hiền hữu, chư hiền muội, mà chia bớt khổ tâm.

Thành bại lẽ thường lo cũng uổng,

Ðể công dạy kẻ biết nguồn lành.

(Đạo Sử).

Là vì biết chữ bại thành,

Say mê chung đỉnh tử sanh quay cuồng.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

BẠI HOẠI

敗 壞

Bại: Liệt, suy yếu, hư hỏng. Hoại: Phá nát.

Bại hoại là tồi tàn, hư hỏng, tức suy đồi đến mức mất hết phẩm chất.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Trời đã không nhường ai, không làm tôi tớ ai, thì con cái của Ðức Chí Tôn cũng chỉ có phận sự giúp đỡ thiên lương của con cái Ngài, vì thiên lương ấy là căn bản tạo quyền cho thiên hạ, là con cái của Ngài, lẽ đương nhiên chúng ta phải biết phận sự đối với quốc gia xã hội, chúng ta đang ở trong tình thế bại hoại.

Mê hồn là đứa nịnh trân,

Làm cho bại hoại triều thần ngửa-nghiêng.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

BẠI LỘ

敗 露

Bại: Hư hỏng, thua. Lộ: Bày ra, bị người khác biết.

Bại lộ là vỡ lở, không còn giấu giếm được nữa, tức công việc định giữ kín mà bị người phát giác.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Vì làm giàu với những hành động bất chánh nên họ vẫn cứ phập phồng lo sợ không biết cơ mưu sẽ bại lộ ngày nào.

Nhiều kẻ dụng thế để cầu Thầy, chớ kỳ thật là chúng nó muốn tìm cách dòm hành mong các con lầm mà bại lộ cơ quan mật yếu mà thôi.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

BAY

1.- Bay là di chuyển trên không gian.

Như: Phụng hoàng bay, máy bay trực thăng, mây bay lơ lửng trên bầu trời.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng có câu: Còn con hạc nội, tuy bữa đói bữa no, nhưng Trời Ðất rộng thinh, mặc tình cao bay xa liệng.

Bay đến Hồ Dương phụng gáy chiều,

Thần Tiên giáng thế biết bao nhiêu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tịch mịch mây bay cuốn bóng thiều,

Trời thu ướt át cảnh buồn hiu.

(Thơ Huệ Giác).

2.- Bay là di chuyển trong không khí, hoặc cuốn trôi theo làn gió thổi.

Như: Hương bay nực nồng, khói bay mờ mịt, lá cờ bay trước gió.

Thánh giáo Bát Nương Diêu Trì có đoạn: Xin quý anh quý chị ráng nắm gốc cây cho chắc, kẻo gió lớn thổi bay đa! Ví dầu có thổi thế nào thì em xin quý anh quý chị ráng bịn gốc lại nghe.

Hương bay rừng trước nực mùi thung,

Ðạo đức đem về một nẻo chung.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Bay là phai mất, biến mất, trốn đi.

Như: Áo quần đã bay màu, nước hoa đã bay mùi, cao bay xa chạy.

Bủa lưới Càn Khôn lừa lọc khách,

Chơn trời chẳng kẻ thoát cao bay.

(Đạo Sử).

 

 

BAY BƯỚM

Bay: Di chuyển trên không gian. Bướm: Tên một loại côn trùng cánh có phấn.

Bay bướm là có hình thức trau chuốt, bóng bẩy, hơi kiểu cách.

Như: Lời văn rất chảy chuốt và bay bướm.

Giọt rơi thánh thót: lời bay bướm,

Đèn lụn tờ mờ, gió vuốt ve.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

BAY HƠI

Bay: Bốc lên trên không. Hơi: khí, mùi.

Bay hơi, như chữ “Bay mùi”, là hơi bốc lên trong có lẫn mùi thơm tho hoặc hôi thúi.

Bay hơi còn có nghĩa là chất lỏng chuyển thành hơi ở lớp bề mặt.

Như: Nồi cơm nếp bay hơi mùi lá dứa.

Trong núi lửa bay hơi tanh khét,

Linh hồn người đầy nghẹt trong ngoài!

(Kinh Sám Hối).

 

 

BAY NHẢY

Bay: Di chuyển trên không, dùng biểu thị hành động diễn ra nhanh lẹ. Nhảy: Co chân cất mình lên.

Bay nhảy là khi bay khi nhảy, ý chỉ người năng động, thường tham gia công việc nầy, công việc nọ, không chịu ở yên một chỗ.

Như: Anh ấy bay nhảy suốt mấy năm nay giờ mới chịu ngưng nghỉ.

Còn hoi hóp tranh đua bay nhảy,

Nhắm mắt rồi phủi thảy lợi danh.

(Kinh Sám Hối).

 

 

BÀY

1.- Bày là xếp đặt, phô trương. Như: Bày quả phẩm để cúng tế, bày hương án để nghinh tiếp.

Thánh giáo Thầy có câu: Phẩm tước là sự tổng hợp các chức tước đã bày ra để quyến rũ người hoặc ít hoặc nhiều. Những chức tước ấy do người đời tạo ra phong thưởng kẻ khác.

Khi vận thới lung lăng chẳng kể,

Lúc suy vi bày lễ khẩn cầu.

(Kinh Sám Hối).

Chín tầng cửa đóng then cài,

Ra ngoài nghiêm nghị, trong bày đoan trang.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Bày là lập ra, làm ra. Như: Ai Bày luật lệ làm chi, bày cách làm ăn, bày kế thưa kiện.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thần Hoàng Bổn Cảnh có dạy: Bởi thế nên ai dùng vật thực mà cúng, tốt hơn nên dùng trái cây. Ai có lòng thì tế lễ chi chi ta cũng chẳng trách đặng, vì cựu lệ bày đến ngày nay.

Gặp thây nuốt sống ăn tươi,

bày thưa kiện móc bươi xúi lời.

(Kinh Sám Hối).

Xem thường dưới mắt dở cùng hay,

Ngặt độ cho ra chẳng kẻ bày.

(Đạo Sử).

3.- Bày là nói ra những điều thầm kín ở trong lòng.

Như: Bày tỏ quan điểm, cạn bày những điều đã suy nghĩ trong tâm, giãi bày việc oan ức.

Bước chân ra nghĩ ngậm ngùi thay,

Nỗi ước nhiều phen khó cạn bày.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

BÀY BIỆN

Bày: Phô trương, bày đặt.

Bày biện là đặt ra những cái không cần thiết, không thích hợp.

Bày biện còn là không ngăn nắp, trật tự, để đồ đạc phơi bày ra ngoài không theo hiện trạng ban đầu.

Về nhạc lễ trong Đàn cúng, Đức Chơn Cực Lão Sư có dạy: Nhạc còn chưa đủ thể cách, đờn để rước chư Tiên, Thánh, không phải vậy là đủ. Người nhạc công phải ăn mặc tinh khiết, sắp đặt vào khởi Nhạc phải có thứ lớp phân minh, chớ chẳng phải muốn đờn bài chi cũng đặng. Ấy là trái Thánh ý đó. Phải sắp đặt lại, nghe à! Nơi đàn nào mà khác hơn Thánh giáo và bày biện nhiều trái cách thì đạo hữu không phép tham dự.

Nếu chẳng giữ theo lẽ chánh mà hành đạo và bày biện nhiều sự vô lối thì trong ít năm sau đây, sẽ trở nên một mối Tả đạo, mà các con đã từng thấy.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

BÀY ĐẶT

Bày: Sắp đặt để tạo ra cho có. Đặt: Bịa ra, tức nghĩ cách để tạo dựng ra.

Bày đặt là đặt để ra, hoặc đặt ra cái không cần thiết.

Bày đặt còn có nghĩa là bịa chuyện không có.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bần Ðạo đã nói chức Ðại Hương Cả hay Kế Hiền là mới bày đặt sau này, chớ Nho Giáo chỉ định tới Hương Chủ là hết.

Làm thinh thì thiếu nói ra cũng ngặt,

Sợ chê rằng bày đặt nên trò.

(Phương Tu Đại Đạo).

Xin đừng tưởng lời tôi bày đặt,

Mẹ cưng dâu trước mắt thấy thường.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

BÀY TRÒ

Bày: Đặt ra, làm ra. Trò: Cuộc diễn ra để mà chơi.

Bày trò là đặt ra một cuộc để vui đùa.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Thất Nương Diêu Trì Cung có câu: Ôi! Câu hờn giọng thảm ai khéo bày trò. Ôi! Tánh hoài tình ai gây nên mối? Cái đời đã gọi là vô vị mà ai dè cho tới bậc Thần Tiên thoạt trông đến cũng phải nghiễm nhiên yêu trọng.

Ham miếng cao lương thường hại mạng,

Mê mồi danh lợi luống bày trò.

(Thơ Thuần Đức).

Chung đỉnh bày trò không quyến luyến,

Công danh trước mắt chả xôn xao.

(Thơ Cao Quỳnh Diêu).

Cuộc thế bày trò toàn ảo mộng,

Công danh phú quý gẫm bao lâu.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

BÀY VẼ

Bày: Sắp đặt để tạo ra cho có. Vẽ: Chỉ, bày cho, hoặc bày đặt thêm cái không cần thiết.

Bày vẽ là giúp đỡ cho biết cách làm, cách giải quyết.

Bày vẽ còn có nghĩa là đặt ra cái không thiết thực hoặc không thật cần thiết, làm cho thêm phiền phức.

Đức Quyền Giáo Tông giải nghĩa về “Chí thành” cớ câu: Anh lớn chỉ biểu cho em nhỏ, người rõ Ðạo bày vẽ cho kẻ chưa thông. Người nầy lầm lỗi kẻ kia chỉ giùm, dưới vui tuân lời trên dạy, trên không hổ cho dưới bày, lấy lễ hoà nhau, trên khuyên dưới kỉnh vui vẻ chung nhau, buồn thảm sớt nhau, giao lưng đâu cật mà bồi đắp mối Ðạo Trời cho rõ là con một cha, chung thờ một chủ nghĩa.

Hành lễ do Thánh giáo lúc nơi đàn Cầu Kho, chẳng nên bày vẽ nhiều.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

Sang hèn bọt nước hay bày vẽ,

Vinh nhục đám mây khéo cợt trò.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

BẢY

Bảy là một số đếm đứng sau số sáu và trước số tám. Như: Lên bảy, được bảy tuổi, bảy mươi, ba chìm bảy nổi.

Thánh giáo Thầy dạy Ngài Giáo Hữu Thượng Kiệt Thanh có câu: Con phải giúp Thơ trong việc lập Thánh Thất. Thầy giao cho con phải săn sóc, mướn thợ làm bảy cái ngai: Một cái trọng hơn cho Giáo Tông, ba cái cho ba vị Chưởng Pháp, ba cái cho ba vị Ðầu Sư, nhứt là cái ngai của Giáo Tông phải làm cho kỹ lưỡng, chạm trổ Tứ Linh, nhưng chỗ hai tay dựa phải chạm hai con Rồng, còn của Chưởng Pháp chạm hai con Phụng, của Ðầu Sư chạm hai con Lân. Nghe à!

Trước lâm chứa đặng Bảy Ông Hiền,

Vì bỏ tục trần mến cảnh Tiên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Bảy mươi chưa biết trọn mình lành,

Ðừng thị khi đời ỷ miệng lanh.

(Đạo Sử).

 

 

BẢY BƯỚC

Hay “Bảy bước thành thơ”.

Bảy bước hay “Bảy bước thành thơ”, bởi câu “Thất bộ thành thi 七 步 成 詩” nghĩa là bảy bước thành bài thơ.

Do tích từ sách Thế Thuyết: Tào Phi, con của Tào Tháo, muốn hại em ruột của mình là Tào Thực, biểu trong bảy bước phải làm một bài thi, không làm xong, sẽ bị giết chết. Tào Thực liền ứng khẩu ngâm, Tào Phi xem xong bài rất nên cảm động, bèn tha cho em mình là Tào Thực.

Xem: Củi đậu nấu đậu.

Bảy bước hay bảy bước thành thơ ý chỉ người có tài về thơ ca.

1.- Bảy bước:

Bảy bước chưa nên tài xạ kích,

Công danh đâu lại đợi người mời.

(Đạo Sử).

Lánh mặt vùi chôn tài bảy bước,

Phủi tay đeo đuổi giấc ngàn năm.

(Thơ Hoài Tân).

2.- Bảy bước thành thơ:

Tài hay bảy bước thành thơ,

Điển xưa lưu dấu bây giờ còn ghi.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

BẢY CHIẾC NGAI

Hay “Bảy cái ngai”.

Bảy chiếc ngai là bảy chiếc ghế chạm hình tứ linh Long, Lân, Phụng, sơn son thếp vàng, được đặt nơi bậc thứ 9 của Cửu Trùng Đài, hai bên có hai hàng Tàn, Lọng và dàn Bát bửu.

Bảy chiếc ngai này từ dưới thấp kể lên theo thứ tự như sau:

- Ba ngai dưới cùng dành cho ba vị Đầu Sư phái Thái, phái Thượng, phái Ngọc.

- Ba ngai kế trên dành cho ba vị Chưởng Pháp cũng thuộc ba phái: Thái, Thượng, Ngọc.

- Ngai sau hết lớn nhứt, đẹp nhứt dành cho Đức Giáo Tông.

Trong Thánh Ngôn, Đức Chí Tôn dạy ông Kiệt, vị chức sắc tạo ra bảy chiếc ngai đó như sau: Kiệt! Con phải giúp Thơ trong việc lập Thánh Thất. Thầy giao cho con phải săn sóc, mướn thợ làm bảy cái ngai: Một cái trọng hơn cho Giáo Tông, ba cái cho ba vị Chưởng Pháp, ba cái cho ba vị Ðầu Sư, nhứt là cái ngai của Giáo Tông phải làm cho kỹ lưỡng, chạm trổ Tứ Linh, nhưng chỗ hai tay dựa phải chạm hai con Rồng, còn của Chưởng Pháp chạm hai con Phụng, của Ðầu Sư chạm hai con Lân.

Trước thì có bảy chiếc ngai,

Giữa tám pho tượng phô bày ngũ chi.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

Trong có bảy chiếc ngai vàng ánh,

Chạm Tứ linh vi cánh đẹp thay.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

BẢY DÂY OAN NGHIỆT

Dây oan nghiệt tức những điều oan nghiệt và mầm ác mà con người sống ở thế gian đã gây ra, tạo thành những sợi dây vô hình ràng buộc lẫn nhau, có khả năng lôi kéo các chơn linh phải chìm đắm vào luân hồi sinh tử.

Vì sự thù giận mà con người gây ra những hành vi hung dữ, rồi tạo thành những mầm ác. Những mầm ác đó mới tạo nên căn nghiệp ác mà tự thân phải đền trả ngay trong kiếp hiện tại hay kiếp lai sinh. Cứ thế, những oan nghiệt trong nhiều kiếp chồng chất lên nhau mà tạo thành những chuỗi dây oan nghiệt.

Kinh Giải Oan có câu:

Bước đường sanh tử đã chồn,

Oan oan nghiệt nghiệt dập dồn trái căn.

Như vậy, tức là con người luôn tự mình xe dây để tự trói chặt vào mình mà không hay. Sợi dây oan nghiệt đó xây chuyển từ muôn đời ngàn kiếp trong cái vòng lẩn quẩn không bao giờ thoát ra nổi.

Chúng sanh may duyên gặp thời Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn và Phật Mẫu khai nền Đại Đạo hầu mở cơ tận độ, nên giao cho những bài kinh Tận Độ và “Bí tích hành phép Đoạn căn” để giải thoát Chơn thần ra khỏi những sợi dây oan nghiệt đó.

Trong quyển Bí Truyền Chơn Pháp, Ngài Đầu Sư Thượng Sáng Thanh có giải thích như sau: Sự sống của con người do nơi khí Sanh quang nuôi nấng, khí sanh quang nơi mình chúng ta tụ tại bảy khiếu làm nên điển lực, gọi là Thất khiếu sanh quang, phàm gọi là bảy dây oan nghiệt hay bảy sợi từ khí.

Bảy dây oan nghiệt là bảy dòng điển lực nối liền giữa Chơn thần và thể xác, hễ điển lực còn thì thi hài còn vận chuyển, sanh hoạt, điển lực dứt thì thi hài phải chết. Khi sắp sửa chết thì thi hài phải chịu một phen khổ sở, đau đớn, vì bảy dây oan nghiệt này vẫn còn ràng buộc thể xác và Chơn thần, không bứt rời ra được.

Còn theo hai Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh trong quyển “Thiên Đạo” thì thể xác con người và Chơn thần liền nhau bởi sợi từ khí. Ngài nói: Có bốn thể là: Vật thể, Khí thể, Thần thể, Thánh thể.

Vật thể (Corps physique: Rupa) là xác thịt, thể thứ nhứt của con người. Nó do bốn nguyên tố lớn hiệp thành (Tứ đại giả hiệp). Bốn cái nguyên tố ấy là: đất, nước, lửa, gió.

Vật thể bị bao bọc bởi một lớp tinh khí (éther), gọi là Khí thể (Double éthérique: linga-sharira), cũng gọi là cái Phách (Chơn thần), kêu nôm là cái Vía, thuật âm phù gọi Tướng tinh. Khí thể dùng rút sanh lực vào Vật thể đặng giữ cho Vật thể được sanh tồn. Nhờ có Khí thể chở che bao học, Vật thể mới không tan rã.

Khí thể dính với Vật thể bởi một sợi từ khí (lienmagnétique). Khi nào Khí thể bứt sợi dây ấy mà lìa khỏi Vật thể, thì con người phải chết. Lúc bấy giờ, Vật thể mất sự che chở của Khí thể, nên lần lần tiêu rã.

Theo hai Ngài, có khi sợi từ khí khó bứt làm cho kẻ hấp hối phải nhiều đau đớn. Cho nên tôn giáo dùng kinh “độ hồn” đọc trong khi người bịnh sắp tắt hơi, là để giúp cho sợi từ khí nhờ sức rung động của những tiếng mầu nhiệm trong câu kinh mà được bứt ra dễ dàng.

Người tu hành đầy đủ đạo đức thì Khí thể của họ nhẹ nhàng trong sạch, sợi từ khí ấy lại được tinh vi, nên khi thoát xác phàm, sợi từ khí bứt ra rất dễ, nên liễu trần một cách êm ái.

Chúng sanh trong thời Tam Kỳ Phổ Độ được may duyên gặp đạo, chính Đức Chí Tôn vì lòng Đại từ bi, mở đạo Cao Đài và ân xá, ban cho những bài kinh Tận Độ và bí tích Cắt Dây Oan Nghiệt, tức là dùng tiếng kinh kệ mầu nhiệm hay những diệu pháp cắt bảy cái mối năng lực (bảy dây oan nghiệt hay bảy sợi từ khí) đặng cho Chơn thần xa lìa xác tục, rồi cũng dùng diệu pháp mà đưa vào cõi Hư linh.

Vi vậy, chúng ta thấy khi hành phép đoạn căn cho người chết, vị hành pháp dùng kéo đi vòng quanh quan tài để cắt đứt bảy sợi dây oan nghiệt đó.

Theo Ngài Đầu Sư Thượng Sáng Thanh, bảy dây oan nghiệt ở các vị trí sau của thân người:

- Ngay mỏ ác.

- Ngay trán.

- Ngay cổ.

- Ngay tim.

- Ngay hông bên trái.

- Ngay dạ dưới.

- Ngay xương khu.

Khi người hành pháp đoạn căn, người hành pháp phải định Thần cho thấy được xác mới cắt đúng vị trí của bảy lằn khí còn vướng bận với xác thân. Nghĩa là đi từ phải qua trái giáp vòng quan tài về vị trí giữa như lúc mới đứng ban đầu.

Ấy vậy, làm phép xác cốt yếu là tắm gội xác tục và hồn với giọt nước Cam Lồ, cắt đứt bảy dây oan nghiệt cho Chơn thần lìa khỏi xác rồi đưa Chơn thần vào cõi Hư linh, nghĩa là Thanh Tịnh Đại Hải Chúng, Tứ Đại Bộ Châu và Tam Thập Lục Thiên.

Bảy dây oan nghiệt hết ràng,

Bợn trần rửa sạch muôn ngàn đau thương.

(Kinh Tận Độ).

Khép kín bờ my giã cuộc đời,

Bảy dây oan nghiệt hết ràng thôi.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

BẢY HAI ĐỊA CẦU

Bảy hai địa cầu, như chữ “Thất thập nhị Địa Cầu 七 十 二 地 球”.

Theo Thánh giáo, trong bảy mươi hai Địa Cầu, con người chúng ta đang ở trên Địa cầu 68, trên chúng ta nữa là Địa cầu 67, 66... rồi đến Địa cầu thứ nhứt, tức là được sắp xếp theo thứ tự từ trọng trược đến khinh thanh.

Như thế, dưới Địa cầu 68 là bốn Địa cầu u tối nặng nề nữa, ấy là u minh giới.

Xem: Thất thập nhị Địa.

Trên đường sứ mạng bằng nay,

Thông công khắp cả bảy hai Địa Cầu.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

BẢY LÃO

Bảy: Một số trên sáu dưới tám. Lão: Ông già.

Bảy Lão tức là bảy ông lão đời nhà Tấn, thường vui chơi ở nơi rừng Trúc Lâm, mà người đời xưng tụng là Trúc Lâm Thất Hiền.

Xem: Trúc Lâm Thất Hiền.

Bảy Lão nhắc tình già giẹo cẳng,

Ba bà hỏi việc mụ ham thi.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

BẢY NĂM DŨ LÝ

Bảy: Số đếm, trên sáu dưới tấm. Năm: Chỉ thời gian 12 tháng. Dũ Lý: Tên nhà giam thời vua Trụ Vương.

Bảy năm Dũ Lý ý chỉ Tây Bá Hầu Cơ Xương bị vua Trụ nghe lời tên gian thần là Bí Trọng không để cho Cơ Xương về nước, mà bắt giam ở thành Dũ Lý hết bảy năm.

Bảy năm Dũ lý nhọc nhằn,

Hà Ðồ Bát Quái dịch thành Lạc Thơ.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

BẢY NỔI BA CHÌM

Bảy ba: Số dùng để chỉ nhiều phen, nhiều lần. Nổi chìm: Vật trôi trên dòng nước, lúc nổi, lúc chìm.

Bảy nổi ba chim chỉ hoàn cảnh không may, gặp chuyện gian truân, vất vả phải chịu cực khổ như vật trôi lênh đênh trên mặt nước, khi chìm khi nổi bao phen.

Khiến trần gian bảy nổi ba chìm,

Người mê mẩn khó tìm đường chánh đại.

(Giác Mê Khải Ngộ).

 

 

BẢY THIẾP

Bảy: Số tiếp theo số sáu trong dãy số tự nhiên. Thiếp: Vợ kế, vợ bé trong các gia đình quyền quý, giàu sang thời xưa.

Bảy thiếp, do tục ngữ có câu: “Trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng”, dùng để chỉ người đàn ông ngày xưa có quyền lấy nhiều vợ (tục đa thê), nhưng đàn bà chỉ lấy một chồng.

Trai bảy thiếp cũng cho chẳng hại,

Gái lộn chồng đã hoại tánh danh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

BẢY ỨC

Bảy: Số tiếp theo số sáu trong dãy số tự nhiên. Ức: Mười vạn, hay một trăm ngàn năm.

Bảy ức do chữ “Thất ức niên 七 億 年” là bảy chục vạn năm, hay bảy trăm ngàn năm (Thất bá thiên niên).

Thánh giáo Đức Chí Tôn khi ban Tịch đạo chức sắc Cửu Trùng Đài Nam phái có câu: Thanh đạo tam khai thất ức niên 清 道 三 開 七 億 年, nghĩa là nền Đạo trong sạch của Đức Chí Tôn mở ra lần thứ ba được bảy trăm ngàn năm.

Ngoài ra, cặp liễn trong ngày lễ khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ vào ngày 15- 10- năm Bính Dần, 1926 tại chùa Gò Kén như sau: Di Lạc thất bá thiên niên quảng khai Đại Đạo, Thích Ca nhị thập ngũ thế chung lập thiền môn 彌 勒 七 百 千 年 廣 開 大 道, 釋 迦 二 十 五 世 終 立 禪 門, nghĩa là Đức Phật Di Lạc mở rộng nền Đại Đạo trong bảy trăm ngàn năm, Đức Phật Thích Ca lập Phật giáo trong hai mươi lăm thế kỷ thì chấm dứt.

Xem: Thất ức niên.

Mở lối quy nguyên truyền bảy ức,

Phất cờ cứu khổ nắm hai đài.

(Thơ Hoàng Nguyên).

Tàn cao bảy ức xuân chen trổ,

Cảnh tịnh bốn mùa khách viếng thăm.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

BÁM

1.- Bám là tự giữ chặt vào, tự giữ cho không rời ra khỏi vật gì đó.

Như: Bám thân cây để leo lên, đĩa bám vào mình, bụi bám đầy quần áo.

Chơn bám địa cầu cứng biết bao,

Cả vườn đều thấp có ta cao.

(Quyền Giáo Tông Giáng).

Năm tháng cỏ loang vùng cổ mộ,

Mai chiều bụi bám bức chân dung.

(Thơ Hoài Tân).

2.- Bám còn có nghĩa là dựa vào, không rời khỏi người khác để được tồn tại.

Như: Sống bám vào cha mẹ, ăn bám xã hội, không lao động nuôi thân chỉ ăn bám vào của vợ.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Đặng chúng ta mới có phương thế giúp ích cho họ, nếu không đủ trí tài thì chúng ta sẽ làm một con vật mà thôi, làm một vật ăn bám của xã hội nhơn quần không có hữu ích gì hết.

Quỷ đói giục lòng tham Đạo chích,

Ma nghèo lờn mặt bám thi gia.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

BAN

1.- Ban là từ Nôm chỉ khoảng thời gian không xác định rõ, nhưng tương đối ngắn. Như: Ban mai, ban trưa,...

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Lằn tang thương gần khởi, đường đạo đức chớ dần dà, công vẹt ngút mây xanh của các con sẽ làm cho sáng sủa bạch minh, cho bước đàng sau nầy do theo dấu ấy mà lần đến cõi vô ưu, để bước khỏi lối nhọc nhằn ban sơ khai dẫn.

Ban mai ai đẩy mặt trời lên,

Không đặng cao sang chí kém bền.

(Đạo Sử).

2.- Ban là người trên cho kẻ dưới, hoặc truyền cho mọi người biết. Như: Vua ban sắc.

Thánh giáo Thầy có câu: Cái quyền hành lớn lao ấy do Thầy ban cho nó, nên đặng quyền cám dỗ các con, xúi biểu các con, giành giựt các con mà làm tay chơn bộ hạ trong vòng tôi tớ nó.

Từ Bi ngũ cốc đã ban,

Dưỡng nuôi con trẻ châu toàn mảnh thân.

(Kinh Thế Đạo).

3.- Ban là nhóm quan lại được chia theo văn, võ, hoặc tả, hữu và phân theo hạng bậc.

Ban còn là một tổ chức gồm tập thể được lập ra để cùng làm một công việc.

Thánh giáo Thầy dạy ông Marcel Martin, 135 rue Catinat, Saigon, có đoạn: Sau nầy, con sẽ là một trong các môn đồ trung thành của Thầy để đi truyền bá hoà bình và tương ái trên khắp hoàn cầu. Ban Truyền giáo Pháp sẽ được thành lập gần đây.

Giúp dân hưởng chữ thái bình,

Văn ban võ bá triều đình đặc an.

(Kinh Thế Đạo).

Nơi Diêu điện, lưỡng ban chầu chực,

Nhớ đến con bứt rứt lòng già.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

BAN BỐ

頒 布

Ban: Vua hoặc các Đấng Thiêng Liêng cho, cấp cho người dưới. Bố: Khắp mọi nơi.

Ban bố là ban hành và công bố cho mọi người biết. Như: Ban bố một đạo luật.

Ban bố còn có thể hiểu là ban và bố hoá cho.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Tâm là một nguồn sáng Thiêng Liêng, một điểm linh quang của Ðức Chí Tôn ban bố cho con người để khuyên lơn dìu dắt và soi sáng bước đường đời cũng như bước đường Ðạo của mỗi cá nhân trong kiếp sanh, hầu lúc rời bỏ xác phàm, mỗi nguyên nhân hay hoá nhơn được hoặc quy hồi cựu vị, hoặc thăng đẳng cấp, hoặc bị trừng trị theo Luật Thiên Ðiều.

May đặng Chí Tôn ban bố phước,

Trở nên phú quý hưởng ân hồng.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

BAN ĐẠO SỬ

Ban: Một tổ chức nhiều người có nhiệm vụ được quy định. Đạo sử: Lịch sử của tôn giáo.

Ban Đạo sử là một tổ chức nhằm sưu tầm, nghiên cứu, lưu trữ các tài liệu lịch sử của đạo Cao Đài từ hồi khai đạo trở về sau.

Để lưu giữ lại những tài liệu lịch sử của Đạo, Hội Thánh Cao Đài có thành lập một Ban Đạo Sử theo vi bằng số 02/VB ngày 26-10- Mậu Thân (Dl. 15-12-1968) do phiên họp của Hội Thánh Hiệp Thiên, Cửu Trùng và Phước Thiện, dưới sự chủ toạ của Đức Thượng Sanh.

Ban Đạo Sử có nhiệm vụ sưu tầm, nghiên cứu các tài liệu lịch sử của đạo Cao Đài.

Đôi liễn Ban Đạo Sử đã được Ngài Phối Sư Thượng Cảnh Thanh soạn và dâng Hội Thánh:

道 脈 開 成 教 理 搜 尋 今 驗 古

Đạo mạch khai thành giáo lý sưu tầm kim nghiệm cổ.

史 綱 編 撰 真 經 藏 貯 本 追 源

Sử cương biên soạn chơn kinh tàng trữ bổn truy nguyên.

Nghĩa là:

Đạo mạch đã khai mở, sưu tầm giáo lý, xem việc nay nghiệm lại việc xưa.

Sử cương được biên soạn, tàng trữ chơn kinh, tìm hiểu tận nguồn gốc.

 

Đạo sử phòng văn lễ khánh thành,

Một toà đồ sộ đẹp như tranh.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

BAN HÀNH

頒 行

Ban: Ban cho, công bố. Hành: Làm, đi, thi hành.

Ban hành là tuyên bố để thi hành.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Trước khi ngưng cơ, Thầy đã cho lịnh dùng cơ bút thế nào? Thầy tưởng mỗi Thiên phong đều đặng Thánh Ngôn của con đã ban hành, sao còn có ra việc bất minh ấy, là con chẳng nói tất cho mỗi Thiên phong rõ và ban hành Thánh ý, để cho chúng nó chác lấy vào mình, thì con cũng không khỏi chia một phần trong ấy.

Đầu Sư Nữ phái chịu công cử theo luật Hội Thánh ban hành, theo luật lệ Hội Thánh phân xử về đường đời và đường đạo.

(Pháp Chánh Truyền CG).

Đạo Cao nay đã lập thành,

Đạo khai pháp luật ban hành thế gian.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

BAN KỲ LÃO

Ban: Một tổ chức gồm nhiều người có phận sự đặc biệt. Kỳ lão 耆 老: Những người già trên sáu mươi tuổi.

Ban Kỳ Lão là một đoàn thể gồm những người già trên sáu mươi tuổi nằm trong Hội Thánh Phước Thiện.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Nên nhớ, Hội Thánh Phước Thiện không có hàm chức như Hành Chánh, phải đi theo lên cho tới tột phẩm Phật Tử. Những Chức Sắc hàm chức ngày nay Bần Đạo sẽ kiếm thế đưa qua Ban Kỳ Lão hết.

Hiền hữu hiệp với Ban Kỳ Lão mà tính việc ấy.

(Thánh Giáo Hộ Pháp).

 

 

BAN KIẾN TRÚC

Ban: Tổ chức gồm một tập thể người được lập ra để cùng làm một công việc. Kiến trúc 建 築: Xây dựng.

Ban Kiến Trúc là một Ban công thợ có nhiệm vụ lo việc thiết kế, xây dựng, trang trí các Thánh Thất, hay các Điện Thờ Mẫu, cùng các cơ quan khác ở trung ương Tòa Thánh hay các địa phương của Đạo Cao Đài.

Đứng đầu Ban Kiến Trúc là một vị Tổng Giám, nhiều vị Phó Tổng Giám và Tá Lý giúp việc.

Như ta biết, từ ngày mới Khai Đạo nhứt là trong giai đoạn Hội Thánh trả chùa Gò Kén cho Hòa Thượng Như Nhãn để về làng Long Thành Tây Ninh khai phá rừng cất ngôi thờ Đức Chí Tôn đều nhờ sự hy sinh của nhân viên công quả, không nệ hiểm nguy của thú dữ, lam sơn chướng khí của núi rừng để theo tiếng gọi thiêng liêng của Hội Thánh mà làm tròn một chức sắc, một nhân viên công quả. Chính Đức Thượng Sanh, trong một bài Thuyết đạo trước đông đủ chức sắc, chức việc Phước Thiện đã nhắc lại công lao vĩ đại đó như sau:

Hồi tưởng lại cách đây bốn mươi mốt năm, vùng nội ô và ngoại ô Thánh địa toàn là những khu rừng rậm chứa đầy thú dữ. Biết bao điều nguy hiểm trong sự phá rừng và sự khai thác: nào lam sơn chướng khí, nào nước độc muỗi mòng, nào thú dữ chực hờ... lại thêm thiếu người công quả. Nếu chức sắc lúc ban sơ không có chí hy sinh và sụt sè vì những trở ngại, nếu Ðức Thượng Phẩm không có chí cương quyết điều khiển công quả, phần nhiều là người Tần Nhơn thì ngày nay đâu có vùng Nội ô Thánh Ðịa, đâu có một đô thị tôn giáo trang hoàng và xinh đẹp nhứt trong nước Việt Nam.

Đó chỉ giải đoạn đầu phá rừng cất ngôi chúa lá bằng cây ván, còn những công trình sau nầy như ngôi Đền Thánh hiện nay, Báo Ân Từ, các cơ quan Đạo, vòng rào chung quanh và cổng trong Nội Ô Tòa Thánh đều nhờ công sức của mọi thành phần trong Đạo đóng góp, nhứt là công lao khổ nhọc của các nhân viên công quả trong Ban Kiến Trúc trực tiếp xây dựng nên. Điều nầy Đức Thượng Sanh, trong cuộc lễ Khánh Thánh Nhà Hội Vạn Linh cũng đã cho biết như sau:

Thưa toàn thể chư Chức sắc, Chức việc và Ðạo hữu, hoàn thành được công trình xây dựng nầy, Hội Thánh nhờ nơi tấm nhiệt thành của toàn Ðạo Chức sắc, Chức việc, cùng Ðạo hữu nam nữ nơi trung ương cũng như ở các địa phương vui lòng chung đậu kẻ ít người nhiều, nhứt là nhờ nơi công quả của BAN KIẾN TRÚC và thợ chuyên môn toàn là người hiến thân cho Ðạo.

Vậy Ban Kiến Trúc được thành lập trên cơ sở pháp lý nào?

Trước đây, Ban Kiến Trúc, Ban Nhà Thuyền và Ban Mỹ Thuật là ba bộ phận trực thuộc Cơ Quan Công Thợ, do Đức Hộ Pháp ban hành Thánh Lịnh Số: 231/TL ngày 9 tháng 7 năm Canh Dần (Dl. 22/18/1950) lập thành gồm có các chức danh và quy định nhiệm vụ như sau:

a.- Tá Lý coi về một Sở, đối hàm với Chánh Trị Sự hay Hành Thiện.

b.- Phó Tổng Giám làm đầu một hay nhiều Sở, dưới quyền của Tổng Giám, đối hàm Lễ Sanh.

c.- Tổng Giám kiểm soát toàn thể các cơ sở, đối hàm Giáo Hữu.

Các chức vụ trên cũng phải hành sự trong Đạo đủ 5 năm công nghiệp mới được cầu thăng và tới bậc Tổng Giám thì được Hội Thánh đem ra quyền Vạn Linh công nhận vào hàng Giáo Sư, sau khi đầy đủ công nghiệp.

Theo Thánh Lịnh trên:

Các phẩm trong Cơ Quan Công Thợ như Tá Lý, Phó Tổng Giám, Tổng Giám không có đạo phục riêng khi chầu lễ Đức Chí Tôn. Mỗi khi các vị nầy vào cúng Đàn thì mặc áo dài trắng như Đạo Hữu và đứng vào vị trí Đạo Hữu. Nhưng khi quy liễu thì được hành lễ tang theo nghi thức tương đương, nghĩa là:

Tá Lý hành lễ tang theo Chánh Trị Sự.

Phó Tổng Giám hành lễ tang theo Lễ Sanh.

Tổng Giám hành lễ tang theo Giáo Hữu.

Cơ Quan Công Thợ, theo Thánh Lịnh số: 231/TL chịu dưới quyền của Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, tức là không trực thuộc riêng của Hội Thánh Cửu Trùng Đài hay Hội Thánh Phước Thiện.

Chính sự kiện pháp lý nầy đã xảy ra trước đây giữa Ban Kiến Trúc và Hội Thánh Phước Thiện khi xây dựng cổng Chánh Môn vào năm 1965.

Theo thông lệ từ trước, khi xây dựng một công trình nào của Hội Thánh cũng đều do bản vẽ của Đạo, tức do Ban Kiến Trúc vẽ.

Bản vẻ cổng Chánh Môn được Đức Hộ Pháp chỉ dẫn Ban Kiển Trúc vẻ vào năm Đinh Hợi có “Bề cao 36 thước, bề ngang 60 thước, cổ kín tam quan, trên nóc đắp mái ngói có hình cổ pháp tam giáo”.

Ngoài ra sau nầy Thiếu Tướng Lê Văn Tất, con Ngài Đạo Nhơn Lê Văn Trung được Chánh phủ bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng Tây Ninh, có nhờ Ty Kiến Thiết tỉnh Tây Ninh vẽ một họa đồ khác về cổng Chánh môn, chỉ cao có 9 thước, ngang 54 thước, trên ngói đắp hai rồng phò Cổ pháp.

Bản thiết kế nầy được Ngài Bảo Thế, Quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài chấp thuận lấy để xây cổng Chánh Môn.

Trong lúc đó, Tổng Giám Ban Kiến Trúc là ông Lê Văn Thế phản đối, không bổ công thợ đến xây dựng, viện lý do rằng không dùng họa đồ của Ban Kiến Trúc vẽ theo sự chỉ dạy của Đức Hộ Pháp.

Ngài Bảo Thế bèn ra lịnh cho ông Chưởng Quản Cơ Quan Phước Thiện là Chơn Nhơn Lê Văn Trung ban Huấn lịnh số 31/HL ngày 10 tháng 5 năm Ất Tỵ thâu quyền chức Tổng Giám của Lê Văn Thế và cử ông Phó Tổng Giám Trần Văn Lành lên thay quyền Cai quản Ban Kiến Trúc, bổ công thợ để xây dựng cổng Chánh Môn.

Sau đó, Tổng Giám Lê Văn Thế đem tất cả nội vụ trình lên Đức Thượng Sanh. Thượng Sanh yêu cầu Bộ Pháp Chánh minh tra rồi dựa theo phúc trình của Bộ Pháp Chánh, Ngài ra văn bản giải quyết như sau:

 

Hiệp Thiên Đài

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Văn Phòng

(Tứ thập niên)

Thượng Sanh

Tòa Thánh Tây Ninh

Số: 072/TS

 

 

Kính gởi:

- Hiền huynh Bảo Thế.
- Hiền huynh Đầu Sư.

Tham chiếu: V/v Chưởng Quản Phước Thiện ra Huấn Lịnh thâu hồi nhiệm vụ của vị Tổng Giám Ban Kiến Trúc Lê Văn Thế.

Kính Quý Hiền huynh,

Theo Phúc Trình minh tra số: 157/PC của Hiền huynh Hiến Pháp, Chưởng Quản Bộ Pháp Chánh thì vị Chưởng Quản Phước Thiện không có thẩm quyền thâu hồi nhiệm vụ của vị Tổng Giám Ban Kiến Trúc Lê Văn Thế, vì chức vụ Tổng Giám ngang hàng với Giáo Hữu Cửu Trùng Đài.

Ngoài ra chiếu theo Thánh Lịnh Số: 231/TL ngày 20 tháng 8 năm 1950 của Đức Hộ Pháp, Ban Kiến Trúc là một Cơ Quan Công Thợ biệt lập, chịu dưới quyền điều khiển của vị Tổng Giám và đặt dưới hệ thống của Cửu Trùng Đài và Phước Thiện đặng tạo tác hoặc tu bổ các cơ sở trong châu vi Tòa Thánh.

Nếu Tổng Giám cơ quan nầy không làm tròn phận sự hoặc không tuân lịnh thượng cấp, thì tùy trường hợp, bên Hành Chánh hay bên Phước Thiện phúc báo lên Hội Thánh Hiệp Thiên Đài để nội vụ được giao qua Bộ Pháp Chánh minh tra đủ lẽ rồi Hội Hiệp Thiên Đài mới quyết định sau.

Vậy quý Hiền huynh ra lịnh cho các cơ quan dưới quyền trực thuộc của mình thi hành theo đề nghị của Bộ Pháp Chánh gồm hai khoản sau đây:

1.- Quyền chức của vị Tổng Giám Lê Văn Thế vẫn giữ như cũ.

2.- Ngưng công cuộc tạo tác những Thánh Thất và Điện Thờ Phật Mẫu trong các Phận Đạo chiếu theo lời phê của Đức Hộ Pháp và quyết nghị của Hội Nhơn Sanh năm Giáp Thìn. Những Thánh Thất và Điện Thờ Phật Mẫu cất lỡ rồi, Hội Thánh sẽ tùy nghi sửa đổi cho hợp thời và hợp lệ.

Nay kính,

Tòa Thánh, ngày 25 tháng 8 năm Ất Tỵ
(Dl. 20/9/1965).
(Ấn ký)
THƯỢNG SANH

 

Số: 221/SL: Sao y bổn chánh.

Tư cho Quyền Ngọc Chánh Phối Sư, lịnh cho
Khâm Thành thi hành khoản 2 trong chỉ thị nầy.

Tòa Thánh, ngày 28 tháng 8 năm Ất Tỵ
Đầu Sư
(Ấn ký)
Thượng Sáng Thanh

Tóm lại, Ban Kiến Trúc không trực thuộc riêng của Cửu Trùng Đài hay Phước Thiện, mà đặt dưới quyền của Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Trước đây, có nhiều người tưởng lầm Ban Kiến Trúc đặt dưới quyền Công Viện Phước Thiện, nên qua sự việc trên, vị Chưởng Quản Phước Thiện là Chơn Nhơn Lê Văn Trung mới lập Huấn lịnh thu hồi chức Tổng Giám của Lê Văn Thế và cử Phó Tổng Giám Trần Văn Lành lên thay. Nhưng theo theo Đức Thượng Sanh, qua văn bản số: 072/ TS, cho rằng Ban Kiến Trúc do Thánh Lịnh số: 231/TL của Đức Hộ Pháp thành lập ngày 10 tháng 5 năm Ất Tỵ, là bộ phận của Cơ Quan Công Thợ, một cơ quan biệt lập, đặt dưới hệ thống của Cửu Trùng Đài và Phước Thiện đặng tạo tác hoặc tu bổ các cơ sở trong châu vi Tòa Thánh.

Nhứt là nhờ nơi công quả của Ban Kiến Trúc và thợ chuyên môn toàn là người hiến thân cho Ðạo.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

BAN KHEN

Ban: Trên cấp cho kẻ dưới. Khen: Nói lên sự đánh giá tốt về người nào với ý vừa lòng.

Ban khen là cấp trên khen ngợi cho kẻ dưới.

Thánh giáo Lý Giáo Tông dạy Ngài Ngọc Trang Thanh có đoạn: Lão để lời ban khen đó. Nên hư của Ðạo đều nơi tay hiền hữu, hiền hữu khá liệu lấy mà giữ gìn.

Ví biết ăn năn đền tội trước,

Sửa răn sửa mạng Lão ban khen.

(Đạo Sử).

 

 

BAN NHÀ THUYỀN BÁT NHÃ

Ban: Tổ chức gồm một tập thể người được lập ra để cùng làm một công việc.

Nhà Thuyền Bát Nhã: Cơ quan quản lý Thuyền Bát Nhã và Đạo Tỳ.

Theo Thể pháp, Thuyền Bát Nhã trong đạo Cao Đài do lịnh của Đức Hộ Pháp cho tạo ra, được làm bằng gỗ, có hình dáng là một con rồng vàng, có bánh xe di chuyển được để chuyên chở quan tài của người ngộ Đạo trong buổi lâm chung, vào Nghĩa địa chôn cất.

Ban Nhà Thuyền Bát Nhã là một Ban quản lý Thuyền Bát Nhã và nhơn viên công quả, được Hội Thánh Cao Đài thành lập vào năm Ất Hợi (1935), có nhiệm vụ tẩn liệm, di chuyển quan tài và cất táng thể xác cho nhơn sanh quy liễu về mặt thế đạo.

Trước đây, Ban Nhà Thuyền, Ban Mỹ Thuật và Ban Kiến Trúc, là ba bộ phận trực thuộc Cơ Quan Công Thợ, do Đức Hộ Pháp ban hành Thánh Lịnh Số: 231/TL ngày 9 tháng 7 năm Canh Dần (Dl. 22/18/1950) lập thành gồm có các chức danh và quy định nhiệm vụ như sau:

a.- Tá Lý coi về một Sở, đối hàm với Chánh Trị Sự hay Hành Thiện.

b.- Phó Tổng Giám làm đầu một hay nhiều Sở, dưới quyền của Tổng Giám, đối hàm Lễ Sanh.

c.- Tổng Giám kiểm soát toàn thể các cơ sở, đối hàm Giáo Hữu.

Các chức vụ trên cũng phải hành sự trong Đạo đủ 5 năm công nghiệp mới được cầu thăng và tới bậc Tổng Giám thì được Hội Thánh đem ra quyền Vạn Linh công nhận vào hàng Giáo Sư, sau khi đầy đủ công nghiệp.

Theo Thánh Lịnh trên:

Các phẩm trong Cơ Quan Công Thợ như Tá Lý, Phó Tổng Giám, Tổng Giám không có đạo phục riêng khi chầu lễ Đức Chí Tôn. Mỗi khi các vị nầy vào cúng Đàn thì mặc áo dài trắng như Đạo Hữu và đứng vào vị trí Đạo Hữu. Nhưng khi quy liễu thì được hành lễ tang theo nghi thức tương đương, nghĩa là:

Tá Lý hành lễ tang theo Chánh Trị Sự.

Phó Tổng Giám hành lễ tang theo Lễ Sanh.

Tổng Giám hành lễ tang theo Giáo Hữu.

Đến ngày 26 tháng 11 năm Giáp Dần (Dl. 8/1/1975) Ngài Hiến Đạo Phạm Văn Tươi và Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa ký ban hành Bản Nội Quy riêng cho Ban Thuyền Bát Nhã Và Đạo Tỳ có sự phê kiến của Ngài Hiến Pháp Trương Hữu Đức, Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài.

Bản Nội Quy Thuyền Bát Nhã Và Đạo Tỳ có nội dung như sau:

I.- Danh hiệu, địa điểm:

Ban Thuyền Bát Nhã Và Đạo Tỳ được Hội Thánh thành lập vào năm Ất Hợi (1935) vì sự nhu cầu cần thiết cất táng thể xác của nhơn sanh về mặt Thế đạo nhơn luân cũng như phần Đời do cơ Đạo gầy nên.

Địa điểm Ban Ban Thuyền Bát Nhã Và Đạo Tỳ Trung Ương đặt tại Nội Ô Tòa Thánh Tây Ninh.

Ban Thuyền Bát Nhã Và Đạo Tỳ thành lập do Thánh ý của Đức Hộ Pháp, Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài với mục đích:

- Tẩn liệm thi hài người quy liễu.

- Giúp tang gia người hữu công cùng Đạo và người may duyên mới gặp Đạo.

- Đưa linh cữu bằng Thuyền Bát Nhã đến nghĩa địa để an táng theo phép Đạo.

II.- Thành phần Ban Nhà Thuyền Bát Nhã Và Đạo Tỳ:

1. Ban Nhà Thuyền Bát Nhã Và Đạo Tỳ Trung Ương, văn phòng đặt tại Nội Ô Tòa Thánh Tây Ninh gồm có:

- Một Chưởng Quản (hai phó).

- Một Tổng Thơ Ký (hai Thơ Ký).

- Một Trưởng Ban Kiểm Soát và Trật Tự (một phó).

- Một Trưởng Ban Tổ Chức và Liên Lạc (một phó).

- Một Trưởng Ban Huấn Luyện (hai phó).

- Một Trưởng Ban Tẩn Liệm (một phó).

- Một Trưởng Ban Khai Huyệt (một phó).

- Một Trưởng Ban Đạo Tỳ (hai phó).

- Một Trưởng Ban Tài Sản và Tu Bổ (một phó).

- Một Trưởng Ban Vận Tải và Ẩm Thực (một phó).

Ban Nhà Thuyền Bát Nhã Và Đạo Tỳ Trung Ương có thể hợp bất thường do vị Chưởng Quản triệu tập, hoặc số nhơn viên quá bán phần trong Ban yêu cầu.

2. Ban Nhà Thuyền Bát Nhã Và Đạo Tỳ địa phương gồm có:

- Một Trưởng Ban (một phó).

- Một Thơ Ký.

- Một Tiểu Ban Kiểm Soát (một phó).

- Một Tiểu Ban Tẩn Liệm (một phó).

- Một Tiểu Ban Khai Huyệt (một phó).

- Một Tiểu Ban Hướng Dẫn Quan (một phó).

Ban Nhà Thuyền địa phương cần họp ít nhứt mỗi tháng 1 lần có sự hiện diện của chức sắc Hành Chánh, Phước Thiện nơi địa phương để bàn định công việc.

Tổng kê mọi hoạt động trong tháng đã qua và hoạch định chương trình cho tháng tới cùng phúc trình về cho Ban Trung Ương.

III.- Đồng phục cho nhơn viên Ban Nhà Thuyền Bát Nhã Và Đạo Tỳ may bằng vải dày hay là kaki màu đen có viền trắng theo kiểu Á Đông (võ phục).

1.- Đồng phục cấp điều hành:

- Áo đen cổ viền trắng 3 phân rưởi xếp.

- Tay viền trắng 6 phân.

- Áo đơm 6 nút trắng, đường kính 2 phân rưởi.

- Viền hai miệng túi trên 4 phân.

- Viền hai miệng túi dưới 5 phân.

- Viền trôn áo 1 phân rưởi gắn tụi bằng kim tuyến trắng 3 phân.

- Dây nịch lưng trắng 6 phân

- Đầu đội mủ Đồng Tử Quân (trước cao sau thấp).

- Quần đen ống hai mươi viền hai sọc trắng, mỗi sọc 2 phân rưởi cách nhau 1 phân.

- Chân đi giày bố trắng.

- Các cấp Trưởng Ban nơi địa phương cũng đồng phục như cấp điều hành Trung Ương.

2.- Đồng phục của Đạo Tỳ:

- Đầu đội mủ Đồng Tử Quân màu trắng.

- Áo cổ viền trắng 3 phân rưởi xếp.

- Tay viền trắng 6 phân.

- Hai túi trên viền trắng 4 phân.

- Trôn áo viền trắng 2 phân.

- Năm nút trắng đường kính 1 phân rưởi.

- Quần đen ống 20 viền một sọc trắng 1 phân, hai bên ống viền trắng 2 phân có dây rút.

- Giày bố đen cổ cao.

Đồng phục của các cấp điều hành địa phương cũng như đồng phục của các các cấp điều hành Trung Ương, nhưng chỉ có vị Trưởng Ban Nhà Thuyền và Trưởng Ban Đạo Tỳ mà thôi.

Đồng phục của Đạo Tỳ địa phương cũng như đồng phục của Đạo Tỳ Trung Ương.

Y phục của các Trưởng Ban điều hành cũng như nhơn viên Đạo Tỳ từ Trung Ương đến địa phương chỉ mặc trong khi thừa hành phận sự và tuyệt đối không được mặc đi rong ngoài đường hoặc vào nhà người hay quán, lều. Ngoài ra khi nghỉ việc được mặc Đạo phục thường.

VI.- Thưởng Phạt:

Nhơn viên Ban Nhà Thuyền Bát Nhã và Đạo Tỳ tại Trung Ương, có hạnh đức tốt, có tinh thần phục vụ, hành sự liên tục từ 5 năm trở lên tròn nhiệm vụ, do đề nghị Chưởng quả Nhà Thuyền sẽ được Hội Thánh cứu xét cho vào hàng Tá Lý.

Tá lý hành sự liên tục từ 5 năm trở lên, không bị án tiết, sau khi minh tra đủ lẽ, sẽ được Hội Thánh phong vào hàng Phó Tổng giám.

Phó Tổng Giám hành sự liên tục từ 5 năm trở lên, hạnh đức tốt được tín nhiệm trong Ban, sau khi minh tra đủ lẽ, sẽ được Hội Thánh phong vào hàng Tổng Giám.

Nhơn viên thuộc Ban Nhà Thuyền Bát Nhã và Đạo Tỳ, nếu vị nào không tùng luật pháp Đạo, phạm vào các điều răn cấm của Hội Thánh đã quy định sẽ bị vị Chưởng Quản Nhà Thuyền phạt quỳ hương về các tội nhẹ, nếu tái phạm hoặc trọng tội sẽ bị đưa ra Ban Kỷ Luật của Hội Thánh xét xử.

Từ ngày thành lập Ban Thuyền Bát Nhã năm 1935 cho đến năm 1953, Đức Hộ Pháp đã thấy được cái công lao khó nhọc của nhơn viên Ban Nhà Thuyền, nhứt là sự hy sinh to lớn của nhơn viên tẩn liệm, không nệ sự thối tha, sự truyền nhiễm của dịch bịnh từ thân xác người mất, nên Đức Ngài cho tổ chức một bữa tiệc tại Báo Ân Từ ngày 12 tháng 6 năm Quý Tỵ (1953) để thết đãi nhơn viên Ban Thuyền Bát Nhã.

Câu chuyện được Thừa Sử Phan Hữu Phước thuật lại như sau:

Đức Hộ Pháp mời Bà Phối Sư Hương Nhiều, Chưởng Quản Phước Thiện Nữ phái và Ban Nấu Chay giao cho 5000đ để sắm một tiệc đặng đãi thượng khách chừng một trăm người, định hai giờ chiều ngày 12 tới đây tại Hậu Điện Báo Ân Từ. Bà Phối Sư Hương Nhiều xin giúp thêm 3000 đ.

Đúng hẹn, tiệc làm xong chờ đợi 3 giờ rưởi chưa thấy thượng khách đến, Đức Ngài mặc tiểu phục đến Báo Ân Từ. Kế 4 giờ thấy Giáo Hữu Thái Hồ Thanh, Chưởng Quản Ban Nhà Thuyền cùng đi với nhơn viên mặc đồ Đạo Tỳ. Bà Tám bạch Ngài: Sao không thấy thượng khách? Đức Hộ Pháp nói: Đây là thượng khách. Cả thảy đồng cười lên. Đức Ngài mời ngồi theo mỗi ghế có ghi tên vào mỗi ly rượu. Đức Ngài dạy người khui rượu rót vào ly cho đều đủ.

Ngài nói: Bữa nay Qua mời mấy em đến cùng với Qua một tiệc, đây có Hội Thánh chứng kiến, mấy em nâng lý cùng Qua, chứng tỏ rằng: Ly rượu nầy chính tay Qua đãi mấy em và cùng chung với mấy em trong nhiệm vụ Ban Nhà Thuyền để cấp táng thi hài người quy liễu, khi về thiêng liêng mấy em làm chứng rằng việc nầy làm có Qua cùng chung sức với mấy em, theo lẽ Qua muốn cởi áo Hộ Pháp đặng hiệp với mấy em mới phải, nhưng vì không ai cho.

Bởi cớ mà ngày nay thiết tiệc để chứng tỏ việc làm nầy có Hộ Pháp nhúng tay làm trong đó.

Qua chẳng cần luận thuyết, trước mắt mấy em đã thấy thiên hạ ở thế nầy mãi tranh với sự sống nhàn rỗi, tức là danh lợi để toại hưởng mảnh thân phàm, nếu có muốn tạo âm chất hay giúp ích xã hội thì họ cũng tìm cái nhẹ nhàng vừa theo sự dục tấn của xác phàm, chớ ít ai ra gánh vác mọi nỗi thống khổ đau thảm của người.

Cũng như việc mấy em đã đang làm, Qua thấy cái hy sinh vô bờ bến của mấy em, nhứt là sự tẩn liệm thi hài của xác chết, có nhiều khi gặp phải cái mùi trược khí có thể gây ra bịnh truyền nhiễm, nhứt là bịnh dịch hạch, trái giống, v.v... Điều mà thiên hạ tránh xa chẳng ai dám lại gần, ai cũng muốn bảo trọng sự sống mà mấy em ra lãnh với mọi khó khăn chẳng sợ cái bịnh truyền nhiễm có hại mạng sanh của kiếp con người, có khi phải lưu truyền lại cho con cháu (nhứt là bịnh lao).

Đừng nói chi trong thân tộc người nhà của gia quyến đó, rủi gặp trường hợp bệnh chứng dầu tốn hao bao nhiêu tiền bạc cũng mướn, nếu có quyền là bắt buộc dân làng hèn hạ ra làm, còn những việc mướn người đứng ra làm việc đó chỉ là một số tiền làm mướn chẳng kể xác thân phàm, làm đại làm đùa để lấy số bạc mà thôi. Còn mấy em nếu gặp các bệnh chướng độc nhiễm ấy cũng cố làm. Với phận sự, chẳng kể cái truyền nhiễm, mấy em xét lại coi trong cả thảy mấy em làm từ thuở đến giờ, nhứt là Giáo Hữu Hồ đã chịu nhiều hơn hết, mà có em nào vướng lấy bệnh truyền nhiễm ấy chăng? Nếu không có quyền năng thiêng liêng giúp mấy em làm sao tránh khỏi độc nhiễm.

Còn việc âm chất phi thường nữa, nhứt là các bậc chân tu, các nhà từ thiện hay tìm điều lành điều phải mà tạo âm chất, họ đang tìm thế nào đặng gặp một vị Phật sống ở thế nầy, đặng họ cho bát cơm, hoặc mảnh áo đặng tạo hạnh phúc trong việc âm chất.

Với sức phàm làm sao tìm đặng, nên các nguyên linh thánh chất ấy xuất hiện ra việc bố thí, tu cầu, bồi lộ làm chay, thí tế, cất chùa miễu, am tự, v.v... vì sự mơ vọng cầu may coi có gặp Phật không. Còn phần mấy em đã trọn hiến thân trong cửa Đạo làm gì có của cải mà thi hành việc nghĩa ấy được. Nếu có được chăng, chỉ có Cơ Quan Phước Thiện của nền Đại Đạo do Đức Chí Tôn lập ra mà thôi.

Điều nầy mấy em Phước Thiện nên chú ý cố gắng với nhiệm vụ dầu sớm với muộn cũng có thể gặp được.

Dự buổi lễ Khánh Thành Ban Nhà Thuyền Bát Nhã hôm nay tôi để lời chia vui với Hội Thánh Phước Thiện và mong ước quý chức sắc Phước Thiện hiệp đồng tâm chí để xây dựng nhiều cơ sở khác hầu có đủ phương tiện thật hành nhiệm vụ cao quý của cơ quan cứu khổ trong cửa Ðại Ðạo.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

BAN PHÉP LÀNH

Ban: Trên ban tặng cho. Phép lành: Những điển quang huyền diệu của Thiêng Liêng giúp con người nhẹ nhàng, sáng suốt.

Ban Phép Lành là một bí tích thiêng liêng huyền diệu của Đức Chí Tôn hay Đức Hộ Pháp để ban phát những điển quang lành, hầu hoá giải các điển quang ô trược, giúp cho chơn thần người tín đồ được sáng suốt, nhẹ nhàng, tránh được mọi phiền não vô minh, bước yên trên đường đạo đức.

Thánh Giáo Đức Chí Tôn vào đêm 1 tháng 1 năm Đinh Mão (Dl. 2-2-1927), sau khi khen thưởng các cao đồ, rồi Ngài giở cơ lên để Ban Phép Lành cho chư chúng sanh. Ngài nói: “Nhiều đứa khác nữa, ngày mùng 9, Thầy biểu đòi về cho Thái Bạch phong thưởng. Thầy ban ơn trọn cả các con, dầu không có mặt tại đây cũng vậy. Thầy giở cơ lên, các con đều chun ngang qua cho Thầy “Ban phép lành”.

Đức Hộ Pháp Thuyết Đạo tại Kim Biên có thuật lại bí tích “Ban phép lành” mà Ngài đã học hỏi nơi Đức Chí Tôn như sau:

“Bần đạo và anh Cao Thượng Phẩm phò loan cho Đức Chí Tôn đến. Đến rồi, vừa ký tên của Ngài (ký đặc biệt) cho chúng tôi hiểu. Ngài xách hai đứa đứng dậy hết, không biết làm gì, xô ra chính giữa, rồi viết trên không vậy, đoạn biểu cả con cái của Ngài đều chun ngang dưới cơ đó hết đặng Ngài “Ban phép lành”. Khi xong, hai đứa đứng dậy, mỗi người đều chun dưới cơ vậy hết. Hễ chun qua, Ngài vẽ gì đó không biết trên đầu mỗi người. Đó là cái huyền bí của Đại Từ Phụ, mình không hiểu gì hết. Tới chừng rồi lại kêu: "Tắc, con coi đó đặng bắt chước Thầy nghe".

Thiệt, Bần đạo không hiểu gì hết, bắt chước nhưng làm sao giáng cơ như Ngài, rồi cũng vẽ như vậy sao? Không biết mà không dám hỏi. Lâu quá rồi khi đó giáng cơ nữa, dạy nữa. Bần đạo hỏi: Dạ thưa Thầy, hôm Tết Thầy ban Phép lành cho cả con cái của Thầy mà Thầy biểu con coi đó đặng bắt chước, nhưng bắt chước làm sao mới được chớ? Con có thể giáng cơ như Thầy được đâu mà bắt chước?.

Đức Chí Tôn cười, Ngài mới chỉ cái bí pháp Ban Phép lành là làm như vậy, và giải nghĩa. Ngài nói: Cái ấn tạo Càn Khôn Vũ Trụ là cái ấn Thái Cực với Lưỡng Nghi, nó thuộc về vô hình thể, tức nhiên về khí chất nên không hữu hình tướng, duy có cái ấn Tứ Tượng với Bát Quái, hễ hiển xuất ra rồi thì vạn linh mới xuất hiện ra. Ấy vậy, con đưa cái ấn Tứ Tượng với Bát Quái ra, con trụ cả cái nguyên khí của Càn Khôn Vũ Trụ rồi con phân phát lên đầu mỗi đứa, vậy là Ban Phép lành đó.

Nếu không nói rằng: Hễ con đưa nó lên đó, rồi nguơn pháp của con đó nó hiệp lại với huyền khí tối linh của Thầy tức nhiên là cái quyền Chí Tôn của Thầy đó, thì cả con cái của Thầy mới được hưởng cái hồng ân đặc biệt về hồn về phách và xác thịt của nó.

Nghe nói vậy, Bần đạo mới hỏi: Bây giờ ấn Tứ Tượng ra sao? ấn Bát Quái ra sao?

Thầy trả lời: Tay nầy để trên tay kia thành chữ thập là Tứ Tượng, rồi cái nầy có 8 cái cung của nó, tức nhiên là Bát Quái đó vậy. (Đức Hộ Pháp đưa hai tay ra làm kiểu mẫu) Rồi biểu để vậy đưa ra.

Bần đạo cũng đưa ra mà không hiểu biết, nên đưa tay ra trơ trơ mà không làm gì trong đó hết.

Ngài nói cái pháp thủ để như vầy, nhưng Bần đạo không biết làm sao. Vì tự thuở trước, Bần đạo theo đạo Thiên chúa, đâu có tin gì thứ đó. Đạo Gia Tô mà tin thứ đó đâu có được, từ nhỏ chí lớn là đại kỵ đó mà. Ngài bắt làm cái vụ nầy, Bần đạo cũng đưa ra, rồi không làm gì hết.

Sau bữa đó, Ngài thấy mỗi khi làm trật rồi Ngài lại rầy, Ngài nói: Con đưa ra cũng như không, cũng như khúc củi thôi.

- Dạ thưa Thầy, vậy chớ làm sao, con có biết đâu.

Ngài nói: Ờ, Thầy dặn con để pháp thủ như vầy.

- Đưa ra thì con cũng đưa ra chớ biết sao giờ.

Ngài nói: Con không trụ cái điển lực của con vô trong đó, trong pháp thủ của con, tức nhiên truyền thần vô đó, thì nó làm sao huy động trong Càn Khôn Vũ Trụ đặng? Không hành chơn pháp thì có gì hy vọng đâu? Giả tỷ như máy truyền thanh thâu thanh của con hát đó chớ gì, hễ đưa nó ra, nó phải rung động mới được, là xao động cả Càn Khôn Vũ Trụ chớ. Đàng nầy con đưa ra như khúc củi, có làm gì đâu?

Bần đạo hỏi: Truyền thần có phải như thể con phò loan phò loan hôm nọ, phải truyền thần, cơ mới lên phải không?

Ngài nói: Thì vậy chớ sao!

Hôm trước Thầy không có nói, Thầy nói chỉ có một lần thôi, dặn ban phép tới kẻ cùng đinh.

Bần đạo mới tò mò hỏi: Cái đó là sao?

Ngài nói: Không có gì. Con ngó thấy máy truyền thanh, máy thâu thanh bây giờ trước mắt đó là cho mấy con dễ hiểu. Con nói tiếng là nó có thể thâu được. Bây giờ con có thể đứng ra huy động thì cả Càn Khôn nầy nó linh động chớ gì, mà khi nào cái pháp thủ của con nó linh động thì cái chơn pháp của Thầy thiệt hiện cho cái pháp thủ của con, rồi cả khối sanh lực Càn Khôn Vũ Trụ trụ lại đó, rồi mới đưa tay ra như vầy, con rải trên đầu của mỗi đứa thì mỗi đứa hưởng, chớ có gì đâu.

Tại Bần đạo chưa hiểu tới chỗ đó, khi hiểu được điều đó mới có làm bây giờ đây, không thôi đâu có biết đâu mà làm. Hạng nhứt là những ấn khuyết thì lúc đó là đại kỵ với Bần đạo, vì Bần đạo không ưa thứ đó. Bần đạo đâu có phải thầy phù thầy pháp gì mà ưa. Gốc là Gia Tô giáo nên Bần đạo đâu có ưa thứ đó, nhưng biểu làm thì làm.

Nhưng cái ấn mà Đức Chí Tôn đưa cho đặng Ban Phép lành cho con cái của Ngài đến nay là trọng yếu hơn hết mà mai sáng đây, thì mấy người sẽ đến mừng tuổi, Bần đạo sẽ ban Phép lành cho, để tề tựu lại cho đông thiên hạ. Không biết chừng có người ngoài họ đi đâu lối đó, rồi làm bất tử, họ cũng hưởng được, cũng đỡ lắm chớ. Mình làm chuyện phước đức bất ngờ phải vậy không?

Thôi để mai rồi ban Phép lành, đêm nay nghỉ, sáng mai tựu lại cho có mặt đầy đủ rồi sẽ ban Phép lành. Nhớ à! Ai không có mặt không được hưởng thì chịu à!" (trích trong Bán Nguyệt San Thông Tin xuân Quý Sửu 1973).

Đức Hộ Pháp khi trấn thần chợ Long Hoa, rồi sau đó có Ban Phép Lành, Ngài nói: “Ngày giờ nầy, tuy là nhìn thấy cái chợ thô sơ, nhưng rồi đây nó sẽ bành trướng rộng rãi hơn, long trọng hơn mà chắc chắn con cái Đức Chí Tôn không bao giờ ngờ như thế, nhưng Bần Đạo dám quả quyết nó phải có và nhứt định có, vì cái chợ chuyển thế và huyền diệu Thiêng Liêng của Đức Chí Tôn đã định vậy”.

Sau hai năm trấn thần và Ban Phép Lành ngôi chợ Long Hoa, Đức Hộ Pháp lại nói: “Khi Qua ra khỏi nhà Tịnh Trí Huệ Cung, về nơi đây Qua Ban Phép Lành nơi Chợ Long Hoa là ngày mồng 2 tháng 5 năm Tân Mão khởi sự làm Chợ Long Hoa thì tháng 7 năm Tân Mão cho tới tháng 7 này thật ra chỉ có 2 năm mà thôi. Mấy em coi cái đức tin của con người, nếu mà nhơn loại trụ cả đức tin lại làm một khối thì không có gì mấy em làm không làm đặng, Qua vẫn biết cả cái sự nghiệp kinh dinh do tinh thần hoạt bát của mấy em, làm cho Qua được hưởng hạnh phúc trước mắt, cái đền ơn rất trọng hậu của mấy em đối với Qua đó vậy".

Ban Phép Lành nhơn loại biết yêu thương,

Ngưng chém giết biểu dương tình huynh đệ.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

BAN QUYỀN

頒 權

Ban: Cho, cấp trên cho người dưới. Quyền: Điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm.

Ban quyền là ban cho quyền hành.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Thầy đã lập hình thể hữu vi của Thầy, nghĩa là Hội Thánh của Ðại Ðạo ngày nay, rồi thì Thầy cũng phải ban quyền hành trọn vẹn của Thầy cho hình thể ấy đặng đủ phương tận độ chúng sanh; còn các con cả thảy đều đứng vào hàng sanh chúng, dưới quyền hành chuyển thế của Ðời, nghĩa là toàn nhơn loại đồng quyền cùng Thầy, mà tạo hoá vạn linh vốn là con cái của Thầy.

Nhờ Ngài mới đặng phục nguyên,

Ngài xin chính phủ ban quyền tự do.

(Văn Tế Quyền Giáo Tông).

 

 

BAN SẮC

頒 敕

Ban: Tặng, cấp cho. Sắc: Tờ lệnh của vua.

Ban sắc là Vua ban lịnh truyền xuống thi hành.

Trong Đạo Cao Đài, ban sắc là nói Đức Chí Tôn hay Hội Thánh ban lịnh truyền xuống sắc phong phẩm tước hoặc truyền lịnh buộc phải thi hành.

Thầy đã ban sắc cho Thần Hoàng Long Thành thăng lên chức Văn Xương, vào trấn nhậm làng Hiệp Ninh, dạy dỗ dân về Ðạo...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

BAN SƠ

Ban: Đương lúc, chỉ khoảng thời gian không xác định rõ, nhưng tương đối ngắn. Sơ: Mới đầu.

Ban sơ là lúc đầu, tức là đang buổi khởi đầu.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Ba con đã lãnh mạng lịnh lớn lao vẹt đường tăm tối trong buổi ban sơ, Thầy lại khiến cả ba đứa phải liên hiệp nhau mới có thể xây đắp nền Ðạo cho đến cùng.

Di tích lịch sử ban sơ,

Thượng Phẩm quỳ tại ngôi thờ cung nghinh.

(Báo Ân Từ).

Để di tích ban sơ khai Đạo,

Nhờ Ngọc cơ thấu đạo huyền vi.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

BAN TỔNG TRẠO

Ban: Một nhóm gồm nhiều người. Tổng trạo 總 棹: Người cai quản và huấn luyện các bá trạo của thuyền Bát nhã.

Ban Tổng trạo là một cơ quan huấn luyện và quản lý các Bá trạo của thuyền Bát nhã thuộc đạo Cao Đài.

Trước Văn phòng của Ban Tổng trạo Trung ương Toà Thánh có hai câu liễn như sau:

Tổng đăng giác ngạn bạc long thuyền huy tương chấp đà siêu khổ hải.

總 登 覺 岸 泊 龍 船 揮 漿 執 柁 超 苦 海

Trạo tống nguyên nhân hồi cựu vị đương phong bột lãng hướng thiên đường.

棹 送 元 人 囬 舊 位 當 風 勃 浪 向 天 堂

Nghĩa là:

Tổng (hết thảy) lên bờ giác, thuyền rồng cặp bến, quơ chèo giữ lái, vượt qua biển khổ.

Trạo (mái chèo) đưa nguyên nhân, ngôi xưa trở về, lướt gió vượt sóng, hướng đến Thiên đường.

 

Ban Tổng Trạo thuyền Bát nhã chèo hầu, ban ngày có làm lễ triêu tịch, đêm có nhạc hoà tấu...

(Quan Hôn Tang Lễ).

 

 

BAN THẾ ĐẠO

Ban: Một nhóm gồm nhiều người. Thế Đạo 世 道: Thuộc chi Thế của Đạo.

Theo Quy Điều Ban Thế Đạo, Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Toà Thánh Tây Ninh thành lập Ban Thế Đạo cốt yếu mở rộng trường công quả, tiếp đón những bực nhơn tài văn võ có khả năng phụng sự cho Đạo mà không phế đời hành Đạo.

Chức sắc trong Ban Thế Đạo có nhiệm vụ độ đời nâng Đạo, hành sự trực tiếp với Cửu Trùng Đài về mặt chuyên môn trong xã hội, trực thuộc chi Thế của Hiệp Thiên Đài về mặt chơn truyền và luật pháp.

Ban Thế Đạo gồm bốn phẩm chức sắc: Hiền Tài, Quốc Sĩ, Đại Phu và Phu Tử.

Phẩm Hiền Tài do Đức Hộ Pháp lập ra, sau trong Đàn cơ tại Giáo Tông Đường ngày 3 tháng 12 năm Quý Tỵ (Dl. 7/1/1954), Đức Lý Giáo Tông giáng cơ ban cho ba phẩm chức sắc nữa là Quốc Sĩ, Đại Phu, Phu Tử.

Quy điều Ban Thế Đạo được Hội Thánh Hiệp Thiên Đài lập và Đức Thượng Sanh ban hành ngày 28 tháng 2 năm Ất Tỵ (Dl. 30/3/1965) và sau đó Nội Luật Ban Thế Đạo được Đức Thượng Sanh ban hành ngày 28 tháng 2 năm Ất Tỵ (Dl. 30/3/1965).

Trụ sở Văn Phòng Ban Thế Đạo được đặt tại lộ Oai Linh Tiên, sau lưng của Y Viện Hành chánh.

Ban Thế Đạo đang xây bên tả,

Những Hiền Tài nay đã thọ phong.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

BAN THƯỞNG

頒 賞

Ban: Người trên cấp cho người dưới. Thưởng: Khen ngợi, trả công cho người có công.

Ban thưởng là nói người trên ban tặng tiền của, chức tượng cho người có công.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Thầy đã lập Ðạo nơi cõi Nam nầy là cốt để ban thưởng một nước từ thuở đến giờ hằng bị lắm cơn thạnh nộ của Thầy. Thầy lại tha thứ, lại còn đến ban thưởng một cách vinh diệu.

Thiên ý đã xoay chuyển, đã sắp đặt cơ hội, đã tạo thành dịp tốt và rốt cuộc sự ban thưởng đã đến bất ngờ, dầu muốn dầu không cũng phải đành chịu nhận lãnh.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

BÁN

1.- Bán là đổi vật, đổi mối lợi hoặc đổi sức lực để lấy tiền, hay lấy một vật khác.

Như: Bán hàng, bán nước, bán tiếng, bán công sức.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông dạy Ngài Thượng Trung Nhựt có đoạn: Hiền hữu rõ chưa? Ðã lầm nhiều rồi đó. Danh Ðạo đã bán một lần rồi, ráng mà chuộc lại.

Chờ khi lúa phát giá cao,

Khai ra bán mắc Trời nào dung cho.

(Kinhn Sám Hối).

Mua bán chọn lừa như buổi chợ,

Về nhà chưa tối đã qua đời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Bán là nửa, một nửa, một phần hai. Như: Bán đảo, bán thân, bán tín bán nghi.

Thánh giáo Thầy có đoạn dạy: Mỗi kẻ phàm dưới thế nầy đều có hai xác thân: Một phàm gọi là Corporel, còn một thiêng liêng gọi là Spirituel, mà cái thiêng liêng do nơi cái phàm mà ra nên gọi nó là bán hữu hình, vì có thể thấy đặng mà cũng có thể không thấy đặng.

Khải tịch nhược hoài thiên tứ cổ,

Chung minh bán điểm khẩn Từ Bi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chua cay đã chịu lắm mùi đời,

Bán thế gỡ chưa khỏi vận thời.

(Đạo Sử).

 

 

BÁN ĐỒ NHI PHẾ

半 途 而 廢

Bán đồ: Nửa đường. Nhi phế: Mà phế bỏ.

Bán đồ nhi phế là nửa đường lại bỏ, ý nói công việc tiến hành làm đến nửa chừng lại bỏ phế.

Thánh giáo Đức Hộ Pháp có câu: Bần đạo nhớ lại lúc ban sơ bị áp bức đủ điều, mà cũng phải cam tâm làm tròn nhiệm vụ. Nếu vì thiếu luyện kỷ thì cũng vì tự ái mà bán đồ nhi phế cũng như ai mà chớ.

Vì ở trong cảnh ngộ đó cũng chưa phải là quá thất vọng chán nãn đưa đến chỗ bán đồ nhi phế, bỏ dở hành trình.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

BÁN LẬN BUÔN GIAN

Bán lận: Bịp hay lừa gạt để bán ra. Buôn gian: Buôn bán có tính gian manh, xảo trá.

Bán lận buôn gian, như câu “Buôn gian bán lận”, có nghĩa là buôn bán không ngay thẳng, chỉ dùng sự gian lận để gạt người trong sự mua bán.

Như: Kẻ gian thương thường thường bán lận buôn gian mà làm giàu.

Quốc dân ăn thãi uống thừa,

Khôn ngăn bán lận, khó ngừa buôn gian.

(Ngụ Đời).

 

 

BÁN MÌNH

Bán: Đổi vật để lấy tiền. Mình: Thân mình.

Bán mình, như chữ “Bán thân”, tức là lấy thân mình đem bán, ý chỉ hy sinh bản thân để chuộc tội cho cha mẹ.

Do tích: Nàng Đề Oanh, con gái của Thuần Vu Ý, đời vua Hán Văn Đế đem thân bán vào cung để chuộc tội cho cha.

Thuần Vu Ý bị tội nhục hình nhưng vì ông không có con trai để hậu tự, nàng con gái thứ năm là Đề Oanh dâng thơ cho vua Hán Văn Đế, xin bán mình vào cung để chuộc tội cho cha.

Vua cảm lòng chí hiếu, bèn tha tội cho cha nàng.

Giữ đạo mong chờ ngày độc tịch,

Bán mình quyết cứu độ song thân.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

BÁN NÀI

Bán: Đổi vật mà lấy tiền, lấy lợi. Nài: Cố mời, khẩn khoản xin, yêu cầu.

Bán nài là vừa bán vừa nài xin người mua, ý nói vật mất giá trị nên phải yêu cầu nài ép để bán.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Ðạo là quý, của quý chẳng bán nài, các con đừng thối chí.

Trên chẳng đặng nương vin khúc giữa,

Ðừng cho sụt giá bán nài hàng.

(Đạo Sử).

Hiếu trung đã đủ đôi thân trả,

Mua phẩm Thần Tiên sẽ bán nài.

(Đạo Sử).

 

 

BÁN NGUYỆT MUA HOA

Bán mua: Mua và bán. Nguyệt hoa: Trăng hoa, chỉ sự tư tình giữa trai gái, sự ăn chơi đàn điếm.

Bán nguyệt mua hoa là nói hạng gái lầu xanh, chuyên đem việc trăng hoa ra mua bán.

Xem: Buôn hương.

Chỉ những phường bán nguyệt mua hoa,

Đưa hơi quyển ngâm nga trêu sắc gái.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

BÁN TÍN BÁN NGHI

半 信 半 疑

Bán tín: Một nửa thì tin tưởng. Bán nghi: Một nửa lại nghi ngờ, không tin.

Bán tín bán nghi là nửa tin nửa ngờ, tức chưa tin tưởng hoàn toàn, còn một nửa ngờ vực.

Như: Lời nói của nó khiến tôi bán tín bán nghi.

Nghe chi tiếng vô nhân đạo thính,

Mà để lòng bán tín bán nghi.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

 

 

BÀN

1.- Bàn là bày tỏ trước nhiều người điều phải trái, hay dở để quyết định một việc gì. Như: Bàn việc Đạo, bàn hơn tính thiệt.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có câu dạy: Nên khá dè chừng, đừng vội luận nhảm bàn khùng mà mang tội thiêng liêng rất uổng, nghe!

Bàn qua thế sự lắm buồn cười,

Nếu cả nhơn sanh phải giống ngươi.

(Đạo Sử).

Lẽ nhục vinh tính tính bàn bàn,

Em làm phải vội vàng khen hết tiếng.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Bàn là đồ dùng bằng gỗ, hình tròn, vuông hay chữ nhật, dưới có chân, mặt trên phẳng. Như: Bàn ăn, bàn viết, bàn thờ, bàn cầu cơ.

Thánh giáo Thầy có câu: Bàn Thầy giáng cơ thì để trước bàn vọng Ngũ Lôi, khi giáng cơ rồi thì dời đi cho trống chỗ, đặng nhị Ðầu Sư quỳ mà thề.

Anh xây lưng làm mặt ông hoành,

Lên bàn viết vẽ hình đầy sách vở.

(Phương Tu Đại Đạo).

Năng chùi lau, tủ, kiếng, ghế, bàn,

Đừng để đóng làng khan bụi nhện.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Bàn tức là “Bàn đào 蟠 桃” một thứ đào ở nơi Diêu Trì Cung, Đức Phật Mẫu thường dùng để hội yến, gọi là Hội Yến Bàn Đào.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Chúng tôi tưởng tượng một ngày kia, khi tu đắc Đạo, về cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống, tức nhiên về cảnh Tiên, mới có hạnh phúc, mới có thể Hội Yến Diêu Trì hưởng Tiên Tửu, hưởng Bàn Đào, chớ đâu có ngờ Hội Yến Diêu Trì là hội ngộ các vị Tiên Nương tại mặt thế gian này.

Rượu cúc Bàn Ðào chờ hội ẩm,

Thuốc Tiên lò tạo giữ sanh tồn.

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 

BÀN BẠC

Bàn: Bày tỏ điều phải trái, hay dở để quyết định một việc gì, hoặc vấn đề gì.

Bàn bạc, như chữ “Bàn luận”, là cùng thảo luận, trao đổi ý kiến qua lại với nhau để có sự phân tích lý lẽ.

Như: Trước khi làm, phải bàn bạc cho chắc chắn.

Đang lúc quốc dân bồng bột giành giựt vì sanh kế, mà đem vấn đề Tu Thân ra bàn bạc thiết tưởng cũng một sự rất hạp thời.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

BÀN CAI QUẢN PHƯỚC THIỆN

Bàn Cai Quản Phước Thiện là một ban có nhiệm vụ cai quản, điều hành về hoạt động phước thiện trong một quận Đạo của Đạo Cao Đài.

Theo Đạo Luật năm Mậu Dần, mỗi nhà Sở Phước Thiện trong một Quận Đạo bầu ra một Bàn Cai Quản để điều hành Nhà Sở ấy. Mỗi Bàn Cai Quản có ít nhứt 12 người Chức việc: 1 Chủ Trưởng, 1 Phó Chủ Trưởng, 1 Thủ Bổn, 1 Phó Thủ Bổn, 1 Từ Hàn, 1 Phó Từ Hàn và 6 Nghi Viên. Trong 6 Nghị Viên, cử ra 2 vị Kiểm Soát.

Các Chức việc nầy, buộc phải hiến thân trọn đời vào Sở Phước Thiện. Vị Chủ Trưởng phải lựa chọn công cử trong hàng Chủ Sở Lương Điền Công Nghệ.

Bàn Cai Quản Phước Thiện có nhiệm vụ:

- Chăm lo các cơ sở Lương điền, Công nghệ thuộc Sở Phước Thiện mình đang cai quản.

- Mỗi tháng họp ít nhất 2 kỳ.

- Nếu xa Thánh Thất thì được nhóm tại nhà sở Phước Thiện.

Mỗi Nhà Sở Phước Thiện trong Quận Đạo phải cử ra một Bàn Cai Quản để lãnh trách nhiệm Chủ Trưởng Nhà Sở ấy.

(Đạo Luật Mậu Dần).

 

 

BÀN CỔ

盤 古

Theo truyền thuyết Trung Hoa, Bàn Cổ là tên một ông vua thuỷ tổ của loài người và của cả muôn loài khác, cũng như A đam trong thần thoại Cơ Đốc giáo.

Tương truyền, khi trời đất đã định vị thì vua Bàn Cổ đã xuất hiện trị đời.

Miền Đông Á, vẫn từ đời Bàn Cổ, xưa đã bao phen Đạo Thánh dẫn nhơn sanh,

Đất Việt Nam, khai những thuở Hồng Bàng, nay mới gặp lúc thuyền linh đưa bến khổ.

(Văn Tế Thượng Phẩm).

 

 

BÀN CHÔNG

Bàn: Vật bằng gỗ hay sắt có mặt phẳng, như Bàn ủi, bàn chải. Chông: Những vật có đầu nhọn, sắc bén.

Bàn chông là một mảnh gỗ, tre hoặc sắt làm đế, trên có cắm các mũi chông nhọn, dùng để làm bẫy, làm vật chướng ngại, hoặc làm hình cụ tra khảo.

Bàn chông nhọn liền liền đánh khảo,

Tra tội nhơn, gian giảo ngược ngang.

(Kinh Sám Hối).

 

 

BÀN ĐÀO

蟠 桃

Hay “Hội Bàn Đào”.

Bàn đào là tên một loại đào Tiên của bà Tây Vương Mẫu, ba nghìn năm mới kết quả.

Theo sách Hán cổ sử: Vua Hán Võ Đế cầu bà Tây Vương Mẫu, được ban cho bốn quả đào Tiên và cho biết rằng: Cây bàn đào ba ngàn năm mới nở hoa, ba ngàn năm nữa mới kết quả, ăn được một quả thì sống đời đời.

Theo Đạo Cao Đài, Hội Bàn Đào gọi là Hội Yến Diêu Trì Cung được tổ chức hằng năm tại Toà Thánh vào ngày rằm tháng tám để hiến lễ Đức Phật Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Chúng tôi tưởng tượng một ngày kia, khi tu đắc Đạo, về cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống, tức nhiên về cảnh Tiên, mới có hạnh phúc, mới có thể Hội Yến Diêu Trì hưởng Tiên Tửu, hưởng Bàn Đào, chớ đâu có ngờ Hội Yến Diêu Trì là hội ngộ các vị Tiên Nương tại mặt thế gian này.

Xem: Hội Yến Diêu Trì Cung.

Hội Bàn Đào, Diêu Trì Cung,

Phục sinh đào hạnh rượu hồng thưởng ban.

(Kinh Tận Độ).

Rượu cúc Bàn Ðào chờ hội ẩm,

Thuốc Tiên lò tạo giữ sanh tồn.

(Đạo Sử).

 

 

BÀN ĐÀO HỘI YẾN

蟠 桃 會 宴

Bàn đào: Tên một loại đào Tiên của bà Tây Vương Mẫu (hay Diêu Trì Kim Mẫu). Hội yến: Tham dự vào tiệc rượu.

Bàn Đào Hội Yến, như chữ “Hội Yến Diêu Trì 會 宴 瑤 池”, là một yến tiệc long trọng của toàn tín đồ đạo Cao Đài tổ chức vào ngày rằm tháng 8 hằng năm để thết đãi Đức Phật Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương.

Xem: Hội Yến Diêu Trì.

Bàn Đào Hội Yến nghinh Kim Mẫu,

Bửu Điện linh quang phủ đỉnh trầm.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

BÀN HOÀN

盤 桓

Bàn hoàn có nghĩa là băn khoăn, loanh quanh, bịn rịn, hay do dự không dứt khoát, không quyết định.

Như: Nghe tin lòng bỗng nhiên bàn hoàn, nỗi riêng riêng những bàn hoàn.

Vó ký ngàn dâu khuất dặm đường,

Bàn hoàn lòng khách giục quày cương.

(Thơ Cao Quỳnh Cư).

 

 

BÀN KHÊ

Khương Tử Nha lúc còn hàn vi ngồi câu cá ở sông Vị tại Bàn Khê. Sau vua Văn Vương nhà Châu đi săn bắn, gặp ông rước về tôn làm thầy. Ông đã giúp cho vua Văn Vương và Võ Vương dựng nên nghiệp nhà Châu.

Ông Khương Thượng một lòng nhẫn nại,

Câu vận thời ngồi tại Bàn Khê.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

BÀN LINH

Bàn: Bàn thờ. Linh: Thuộc người chết, Linh vị.

Bàn linh hay Bàn vong là một cái bàn thờ tang, đặt trước linh cữu người chết trên đó có thiết đặt một Linh vị và trước Bàn vong có treo một tấm vải trắng có viết chữ Nho, gọi là tấm Phủ nghi.

Trước nhứt đặt một cái bàn nhỏ, gọi là bàn độc trước Linh cữu để dọn cơm canh cúng tế cho người chết. Kế đó, đặt trước bàn độc một cái ghế nghi, gọi là Bàn linh hay Bàn vong. Trên Bàn linh ở giữa phía bên trong đặt một tấm Linh vị, bên trái Bàn linh là bình hoa, và bên phải là đĩa quả. Hàng kế, ở giữa để một cây đèn vọng. Hàng tiếp theo, ở giữa có một ly nước trà và một ly rượu. Hàng ngoài cùng ở giữa đặt một lư hương và hai bên là cặp chân đèn.

Ngùi trông đỉnh hộ mây u ám,

Chạnh ngắm bàn linh ảnh rụng rời.

(Thơ Vạn Năng).

 

 

BÀN LUẬN

Bàn: Bày tỏ điều phải trái, hay dở để quyểt định một vấn đề. Luận: Bàn bạc, biện luận.

Bàn luận là bàn bạc và thảo luận, tức là đưa ra một vấn đề trao đổi qua lại với nhau để có sự phân tích lý lẽ.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Tâm hay là Lương Tâm là một vấn đề mà về mặt Ðạo người ta đã có nhiều bàn luận đến, nhưng lý thuyết thì vẫn có mà thực hành ít ai để ý đến.

Bần Đạo cữ không nên bàn luận,

E quá lời sanh giận lòng nhau.

(Phương Tu Đại Đạo).

Bàn luận sử kinh từng thoả thích,

Xướng hoà thơ phú mặc vui say.

(Thơ Võ Thành Lượng).

 

 

BÀN TÍNH

Bàn: Bàn bạc, là bày tỏ điều phải trái hay dở để quyết định. Tính: Toan tính.

Bàn tính là bàn bạc và tính toán, tức cân nhắc các mặt lợi hại, nên hay không nên làm.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Từ đây, mỗi lần nhóm Bàn Chủ Sự đặng liệu tính việc chi thì con phải có mặt và y theo lời Thầy dạy, phải có ba Chức sắc Hiệp Thiên Ðài có trách nhậm xứng đáng, thì những việc bàn tính mới tiện thi hành.

Thầy đã có lời dặn con về việc phổ độ tha phương thì con cứ đó mà làm. Nhưng trước hết phải hiệp nhau mà bàn tính.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

BÀN TRỊ SỰ

Trong đạo Cao Đài, Bàn Trị Sự là một ban gồm các Chức Việc, có nhiệm vụ quản lý và điều hành công việc Đạo tại một Hương, tức là một Xã Đạo.

Bàn Trị Sự Hương Đạo gồm có một vị Chánh Trị Sự, được gọi là Đầu Sư Em, làm Đầu Hương Đạo. Dưới Chánh Trị Sự gồm nhiều Phó Trị Sự và Thông Sự. Thường mỗi Ấp Đạo chọ cử ra một Phó Trị Sự và một Thông Sự.

Phó Trị Sự được gọi là Giáo Tông Em, thay mặt Chánh Trị Sự về hành chánh trong một Ấp Đạo, còn Thông Sự được gọi là Hộ Pháp Em, có nhiệm vụ trông coi về luật pháp của một Ấp Đạo. Tất cả những Chức việc Bàn Trị Sự được gọi chung là Hội Thánh Em.

Bàn Trị Sự nên chọn cử hạng người tài đức, bất luận là thanh niên hay là bậc trưởng lão, miễn vị ấy đặng phần đông tín nhiệm là đủ.

(Đạo Luật Mậu Dần).

 

 

BÀN VIẾT

Bàn: Đồ dùng bằng gỗ có mặt phẳng và chân đứng, để ngồi viết hoặc bày thức ăn, hay đồ đạc. Viết: Kẻ, vạch ra chữ.

Bàn viết, như chữ “Bàn giấy”, là cái bàn dùng để ngồi viết chữ.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Khi nọ, Chí Tôn biểu Bần Ðạo lại kệ "bàn viết" có sắp một dãy nhựt trình đặng rút ra hai tờ.

Anh xây lưng làm mặt ông hoành,

Lên bàn viết vẽ hình đầy sách vở.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

BẢN CHÂN

本 真

Bản (Bổn): Cái gốc, cội rễ. Chân (Chơn): Chơn như, trạng thái chân thật của vạn hữu trong vũ trụ.

Bản chân, hay Bổn chơn là bản thể chân thật thường trụ của vạn pháp. Thực tại tuyệt đối của vạn hữu, trái với thế giới hiện tượng, hư vọng biến đổi vô thường.

Bản chân chỉ cõi Hằng Sống.

Nhưng đời chưa tỉnh giấc mê,

Tìm phương giải thoát trở về bản chân.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

BẢN CHẤT

本 質

Bản (Bổn): Cái gốc, cội rễ. Chất: Bản thể của sự vật.

Bản chất là chất gốc, tức chất chính của một vật có từ lúc mới sinh, chưa bị ảnh hưởng bên ngoài.

Nói về sự luân hồi của phàm thể, quyển Giáo Lý của Ngài Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có đoạn: Cả Cơ chuyển sanh, biến kiếp đều do khí Âm Dương, Ngũ Hành diệu hợp mà nên thể chất và trưởng thành, nghĩa là từ buổi thành hình trong bào thai đến khi ra đời và nên vai nên vóc, lúc nào cũng nhờ khí Âm Dương, Ngũ Hành sanh dục, trưởng dưỡng đến mãn kỳ sanh thọ thì thể xác tiêu tan. Lúc bấy giờ, Tứ Đại (Địa, Thuỷ, hoả, Phong) phục huờn nguyên về bản chất tự nhiên của nó, để rồi chuyển hoá hình hài khác nữa.

Các con lại làm sai lạc bản chất, tôn chỉ của nền Thánh giáo.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

BẢN LĨNH

本 領

Bản: Gốc, vốn sẵn có. Lĩnh (lãnh): Cổ áo, trông coi khắp cả.

Bản lĩnh, hay “Bản lãnh”, nghĩa đen là cái gốc và cái cổ áo, nghĩa là cái cốt, tức đức tính tự quyết định bằng tài sức hay khả năng của một người, không vì áp lực bên ngoài mà thay đổi quan điểm.

Như: Việc nầy phải giao cho người có bản lĩnh mới giải quyết được.

May cũng già tay tràn né dịch,

Bằng không bản lĩnh chết nhăn toi.

(Thơ Huệ Ngàn).

 

 

BẢN NGÃ

本 我

Bản: Gốc, vốn. Ngã: Ta, cái ta.

Bản ngã 本 我 là cái làm nên tính cách riêng của mỗi con người, tức cái ta hay cái tôi.

Đạo Phật chủ trương thuyết vô ngã, vì con người chỉ là tập hợp của ngũ uẩn, năm uẩn nầy đều thay đổi từng giây từng phút, ở trong năm uẩn đó không có cái gì gọi là Ta, hay của Ta thường còn bất biến cả. Chính vì chúng sanh chấp cái thân ngũ uẩn nầy là bản ngã, tức Ta hay của Ta mà phải chịu cảnh luân hồi sinh tử.

Diệt được cái Ta (diệt ngã) là đoạn được cái tư tâm ngã kiến, trừ được vị kỷ mà quay về vị tha., quên mình để làm lợi cho người.

Người tu hành nếu không lo diệt bản ngã thì chẳng thể nào bỏ vọng về chơn, đoạn mê theo giác, mà thoát ra khỏi vòng luân hồi sinh tử được.

Trong Thuyết Đạo, Đức Thượng Sanh có đoạn dạy: “Nơi cửa Ðạo, người hành đạo phải làm gương mẫu cho nhơn sanh và muốn lập chữ tâm phải quên được cái “Bản ngã” thường tình. Trừ bỏ được bịnh chỉ biết có mình, hành vi nào cũng được trong sạch, khỏi bận tâm lo mất còn thiếu đủ. Trong cảnh hèn sang, vui khổ, phải chia sớt với tất cả bạn đồng hành, sự tương thân, tương ái mới được trọn vẹn.

Lưu Hướng Liệt Nữ truyện Trung Hoa có chép một truyện như sau đây: “Lúc Xuân Thu, nước Tề cử binh phạt nước Lỗ. Khi đến chỗ giáp giới, viên tướng chỉ huy binh Tề trông thấy một người đàn bà một tay bồng đứa bé, tay kia dắt một đứa bé nữa. Quân tràn tới, người đàn bà vội bỏ đứa bé đang bồng trên tay xuống, xốc đứa bé đang dắt, rồi hơ hải chạy trốn vào rừng. Ðứa bé bị bỏ, chạy theo la khóc, người đàn bà cứ lo chạy không ngó lại.

Viên tướng Tề sai quân bắt lại và hỏi: “Ðứa bé nàng bồng chạy là con ai, đứa bé bỏ lại là con ai?”.

- Thưa, đứa tôi bế chạy là con của anh cả tôi, đứa tôi bỏ lại là con tôi. Vì không thể bảo toàn cả hai đứa, nên tôi phải bỏ con tôi.

– Tướng Tề nói: “Tình mẹ con không đau xót sao? Ai nở bỏ con mình để cứu lấy con của anh là thế nào?”.

- Con của tôi là tình riêng, con của anh tôi là “nghĩa công”, bỏ con đẻ tuy đau xót, nhưng muốn làm tròn nghĩa công, tôi phải lìa nó mà cứu con anh tôi. Tôi không thể nào mang tiếng “vô nghĩa” mà sống ở nước tôi được.

Viên tướng Tề dừng binh lại, đợi vua Tề đi tới quỳ tâu: “Nước Lỗ chưa thể đánh được. Quân ta mới tới biên giới, đã thấy một kẻ phụ nhơn ở xó rừng góc núi còn biết chẳng vì tình riêng mà hại nghĩa công huống chi là những bậc quan lại sĩ phu trong nước. Vậy xin kéo binh về là hay hơn.”

Vua Tề cho là phải.

Nhờ vậy người đàn bà bảo toàn cả hai đứa bé và sau được Vua nước Lỗ thưởng một trăm tấm lụa và tặng hai chữ “nghĩa cô”.

Ðó là tâm lý xử nghĩa của một người đàn bà ở tận góc núi ven rừng nơi trường đời.

Khi người ta bỏ được thuyết “Bản ngã” ra ngoài hành động trông ra chánh đáng và cao thượng làm sao!

Nơi cửa Ðạo, chủ nghĩa giác thế độ đời lại cao cả hơn nữa. Nếu tâm vẫn còn chịu khổ để lo cái “của mình” còn hay mất, được hay thua, thêm hay bớt thì phận sự Ðạo làm sao cho trọn?”.

Diệt bản ngã bỏ quyền dụng lý,

Khử tư tâm hiệp ý Ðại-Ðồng.

Làm cho thế giới lưu thông,

Dân quyền xướng dậy đời hồng âu ca.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

BẢN THÂN

本 身

Bản: Gốc, thuộc về phần mình. Thân: Thân mình.

Bản thân là tiếng dùng để chỉ chính cá nhân, chính ngay sự vật nào đó.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Chức Sắc đã hiến thân cho Ðạo, quyết xả thân để phụng sự nhơn loại thì bản thân không còn là của mình nữa, phải chết về mặt đời, sống về mặt Ðạo, tận tuỵ với nhiệm vụ, không nệ khó khăn lao nhọc thì mới đúng với sự hiến thân của mình.

Cầu tiến bản thân đời hữu dụng,

Dinh hư tạo hoá lẽ xoay vần.

(Thơ Thành Đức).

Bản thân thường chuộng theo đường chánh,

Bẩm tính hằng ghi tránh nẻo tà.

(Thơ Thái Minh).

 

 

BẢN XỨ

本 處

Bản: Gốc, thuộc về phần mình. Xứ: Chốn, nơi, miền.

Bản xứ là bản thân đất nước (thuộc địa) được nói đến, thường hàm ý coi khinh.

Như: Vào thời Pháp thuộc, nơi vùng mất an ninh, người bản xứ thường bị nghi ngờ.

Cùng là các nước thân yêu,

Và dân bản xứ thảy đều chung lo.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

BẠN

Bạn là người thân thiết với mình tuy không phải trong vòng bà con. Như: Bạn bè, bạn học, bạn hàng, giàu đổi bạn sang đổi vợ.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Lý Giáo Tông có câu: Lão mang nặng tình nghĩa cùng một bạn thiêng liêng vì đời lãnh mạng, tạo Ðạo đặng cứu chúng sanh mà phải chịu mông trần vào cảnh đọa.

Coi gương trước Thánh Hiền ghi lại,

Kết bạn nhau đạo ngãi làm sao.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Gái lớn lên giữ chữ phụ tùng,

Trai chớ khá buông lung theo chúng bạn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

BẠN BÈ

Bạn: Người thân với mình nhưng không phải là bà con. Bè: Phe, đảng.

Bạn bè là những người cùng kết thân với nhau.

Nói về ý nghĩa của ngày Xuân, Đức Thượng Sanh có dạy: Ngoài ra, người ta chúc lành cho thân quyến, bạn bè và đi đến Chùa, Miếu, Ðền thờ để cầu phúc cho gia tộc, rồi thì tính toán đường lối xoay trở trong nghề nghiệp để thi thố cho có kết quả tốt đẹp, khi bắt tay vào công việc sẽ tới.

Rằng quyền thay đổi căn nhân sự,

Gia đạo hưng suy nghĩa bạn bè.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

BẠN HÀNG

Bạn: Người quen có quan hệ với nhau việc mua bán. Hàng: Sản phẩm để bán, nơi bán hàng.

Bạn hàng là người cùng buôn bán.

Bạn hàng còn dùng để chỉ khách hàng quen, trong quan hệ với người bán hàng.

Như: Chị ta là bạn hàng ở chợ.

Mắt tinh đời độ khách dân, quan,

Hèn sang cũng bạn hàng đồng thể.

(Phương Tu Đại Đạo).

Nhiều bạn hàng làm bảnh nói hơn,

Mình vui vẻ đừng hờn lại trọng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

BẠN LỮ

伴 侶

Bạn: Người quen biết và có quan hệ gần gũi, coi nhau ngang hàng. Lữ: Bạn bè.

Bạn lữ tức là cùng trang lứa làm bạn bè với nhau.

Mãn kiếp những nỗi mình, mình xử,

Nào mong chi bạn lữ giúp nên.

(Phương Tu Đại Đạo).

Dầu kén chọn vào hàng bạn lữ,

Nên cho em hạng thứ trên người.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

BẠN TÁC

Bạn: Người quen biết và có quan hệ gần gũi, coi nhau ngang hàng. Tác: Tuổi tác.

Bạn tác tức là bạn bè cùng tuổi tác, cùng trang lứa với nhau.

Bia kỷ niệm Đức Cao Thượng Phẩm có câu: Ô hô! Thiên cơ tiền định người dễ thấu đâu, những ngỡ tay rường cột sum vầy cùng bạn tác, chung lo đắp nền Ðạo giữa trời Nam, nào hay đâu số mạng bốn tuần dư dâng Thánh chỉ trở về Kinh Bạch Ngọc.

Tánh ngoan ngạnh không vì cô bác,

Thói lăng loàn bạn tác khinh khi.

(Kinh Sám Hối).

Anh em bạn tác vầy đông,

Xô thành cũng ngã, lấp sông cũng bằng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Mình dầu đồng bạn tác cùng quan,

Đừng hổ phận bần hàn cha mẹ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

BẠN TRĂM TUỔI

Bạn: Người thân ngang hàng, hợp tình ý nhau. Trăm tuổi: Như chữ Trăm năm, chỉ trọn đời người.

Bạn trăm tuổi, như chữ “Bạn trăm năm”, là chỉ vợ hoặc chồng, trong quan hệ gắn bó trọn đời.

Bạn trăm tuổi thân hoà làm một,

Dầu sang hèn xấu tốt cũng duyên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

BẠN VÀNG

Bạn: Bè bạn, người có quan hệ gần gũi, ngang hành nhau, hợp tình ý. Vàng: Chỉ sự quý báu.

Bạn vàng, do chữ “Kim bằng 金 朋”, dùng để chỉ người bạn quý và thân thiết.

Thủ túc tình thâm ấy bạn vàng,

Đừng phân anh tiện với em sang.

(Phương Tu Đại Đạo).

Mừng gặp bạn vàng tay siết chặt,

Mê hồi tiệc ngọc khách chưa rồi.

(Thơ Vạn Năng).

 

 

BÀNG CỬ

旁 舉

Bàng Cử là hiệu của Nhạc Phi.

Nhạc Phi là một danh tướng đời nhà Tống, sanh ở huyện Thang Âm, làm đến chức Ðại Nguyên Soái đời vua Cao Tông.

Ông một lòng tận trung báo quốc, đem quân đi đánh thắng nước Liêu, bảo vệ bờ cõi, nhưng vua Cao Tông hôn ám, dùng kẻ gian thần là Tần Cối làm Tể Tướng, để Tần Cối gièm pha hãm hại giết chết Nhạc Phi.

Xem: Nhạc Phi.

Tam ưu Bàng Cử trắng đầu non,

Mua lấy chức quan đức phải mòn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

BÀNG MÔN

傍 門

Bàng: Một bên. Môn: Cửa.

Bàng môn là cửa bên hông, chớ không phải cửa chánh. Ý nói không phải Ðạo Chánh.

Bàng môn là chỉ các tôn giáo không chơn chánh, đưa người tu đến chỗ lầm lạc, không thành Chánh quả, không giải thoát khỏi luân hồi.

Thánh Giáo Đức Thích Ca Như Lai có dạy: Phép hành đạo Phật giáo dường như ra sái hết, tương tợ như gần biến Tả Ðạo Bàng Môn. Kỳ truyền đã thất, chư sơn chưa hề biết cái sai ấy do tại nơi nào, cứ ôm theo luật Thần Tú, thì đương mong mỏi về Tây phương mà cửa Tây phương vẫn cứ bị đóng, thì cơ thành Chánh quả do nơi nào mà biết chắc vậy.

Phước Thiện nuôi nấng tinh thần,

Phước Thiện cứu kẻ lạc gần bàng môn.

(Thất Nương Giáng Bút).

Phá cho Thánh giáo nát tan,

Dẫn người lương thiện vào đàng bàng môn.

(Nguyễn Trung Trực Giáng).

Chơn thành đạo đức vô thinh sắc,

Giả tướng bàng môn trọng hữu hình.

(Thơ Thông Quang).

 

 

BÀNG QUAN

旁 觀

Bàng: Bên cạnh, bên ngoài. Quan: Xem, xem xét.

Bàng quan là đứng ngoại cuộc mà nhìn, tức chỉ người đứng bên ngoài mà xem, coi là không dính líu tới mình, không dự gì tới.

Như: Có thái độ bàng quan với thời cuộc.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bởi họ hiểu thấu huyền vi mầu nhiệm sống chết còn mất của họ, nếu lấy đạo đức làm căn bản bảo sanh cho họ, thì chúng ta bất quá giống như kẻ bàng quan kia vì thấy một nhơn vật họ không biết cái sống của họ, họ chưa định giá trị kiếp sống của họ hay là phương sống của họ.

Người bàng quan còn phải xử trí như thế, huống chi ông bà là ruột thịt của cha mẹ mà chúng ta không tôn kính sao?

(Giáo Lý).

 

 

BÀNG QUYÊN TÔN TẪN

龐 絹 孫 儘

Bàng Quyên là người nước Nguỵ đời Chiến Quốc, cùng Tôn Tẫn học một thầy là Quỷ Cốc Tiên Sinh, nhưng thua tài Tôn Tẫn, nên thường tìm cách hãm hại.

Bàng Quyên giả mạo chứng cớ, cáo buộc Tôn Tẫn tư thông nước Tề để hại nước Nguỵ. Huệ Vương nghe lời sàm tấu của Bàng Quyên, bắt Tôn Tẫn chặt chân và thích vào trán bốn chữ “Tư thông ngoại quốc”.

Bàng Quyên làm quân sư cho Nguỵ Huệ Vương, cầm quân đánh đâu thắng đó nên sinh ra kiêu căng ngạo mạn. Sau Tôn Tẫn giúp Tề, đem quân dụ Bàng Quyên tới Mã Lăng rồi cho phục binh bắn chết theo lời thề.

Xem: Tôn Tẫn.

Bàng Quyên nỡ chặt chân Tôn Tẫn,

Đã nhờ người tiến dẫn Nguỵ Vương.

(Báo Ân Từ).

 

 

BẢNG

Bảng là vật có mặt phẳng, làm băng ván mỏng, hay bện bằng tre, dùng để viết chữ hoặc dán những gì cần nêu cho mọi người xem.

Như: Bảng viết, bảng yết thị, bảng vàng, kim bảng.

Thánh giáo Thầy có câu: Ôi! Thầy vì mấy chục ức nguyên nhân, không nỡ để cho ngôi phẩm tan tành, chớ lấy luật Thiên thơ thì không một ai dự vào kim bảng.

Linh Tiêu Điện, bảng danh nêu,

Nguyên căn đẹp vẻ mỹ miều cao thăng.

(Kinh Tận Độ).

Dùng kiểng vật đá cây làm bảng,

Dạy đếm cho biết đặng đến mười.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

BẢNG HỔ

Bảng: Vật bằng ván mỏng dùng để viết tên những người thi đỗ. Hổ: Cọp.

Bảng hổ, do chữ “Hổ bảng 虎 榜”, là bảng có vẽ hình con hổ, dùng để ghi tên hay niêm yết những người thi đỗ.

Đời nhà Mãn Thanh nước Trung Hoa chỉ võ khoa là hổ bảng.

Ở Việt Nam, Long bảng (Trên bảng có vẽ rồng) đề tên những người đậu Tiến sĩ; Hổ bảng (Vẽ cọp) đề tên những người đậu Cử nhân; Mai bảng (Vẽ cây mai) đề tên những người đậu Tú tài.

Đội niếp Tô Chương nêu bảng hổ,

Mang bầu Nhan Tử chiếm khoa tràng.

(Thơ Thái Đến Thanh).

Mong thấy vinh quy trường khổ hạnh,

Chờ xem bảng hổ hội lương tài.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

BẢNG LẢNG

Bảng lảng là lạnh nhạt, lơ là, thờ ơ, không để tâm chú ý tới. Như: Nó bảng lảng như người không quen biết.

Bảnh lảng còn có nghĩa là lờ mờ, không rõ nét, hoặc bát ngát, buồn bâng khuâng.

Trời chiều bảng lảng bóng thiều quang,

Tiếng trống thu không giục khách nhàn.

(Thơ Tiếp Pháp).

 

 

BẢNG NGỌC

Bảng: Tấm bảng dùng để yết thị danh tánh người thi đỗ, hay người có công. Ngọc: Tiếng tôn xưng, quý báu.

Bảng ngọc, như chữ “Ngọc bảng 玉 榜”, dùng để chỉ bảng niêm yết tên những người đỗ khoa thi, hoặc những người tu đắc đạo.

Phong tước Thiên Tiên bảng ngọc đề,

Giác rồi trở lại độ người Mê.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

BẢNG PHONG THẦN

Bảng Phong thần, như chữ “Phong thần bảng 封 神 榜”, là một bảng danh sách ghi tên họ những người tu hành, thiếu phẩm hạnh, thiếu công đức để vào hàng Thánh, Tiên và Phật vị, mà phải chịu vào hàng phẩm Thiên Thần.

Bảng Phong thần do Đức Nguơn Thỉ Thiên Tôn lập ra vào thời Nhị Kỳ Phổ Độ thuộc nhà Châu bên Trung Hoa. Khương Tử Nha thay mặt cho thầy là Nguơn Thỉ Thiên Tôn, chiếu theo danh sách trong Bảng Phong thần mà sắc phong cho chư chơn linh các tướng sĩ hoặc các vị Đạo sĩ đã chết vào hàng phẩm Thần vị.

Lập bảng Phong Thần ta chủ khảo,

Càn Khôn biết mặt gậy cùng nai.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Đường tu ví chẳng dày công đức,

Nhập bảng Phong thần khó nổi binh.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

BẢNG VÀNG

Bảng: Tấm bảng dùng để yết thị danh tánh người thi đỗ, hay người có công. Vàng: Thếp vàng.

Bảng vàng, như chữ “Kim bảng 金 榜”, tức là bảng có thếp vàng, đề tên những vị tân khoa đỗ Tiến sĩ trong thời khoa cử ngày xưa của Việt Nam.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Sanh ra nơi trần thế, người hữu học có công thập niên đăng hoả thì ai cũng muốn chen vào trường ốc, mong chiếm bảng vàng hầu lập nên sự nghiệp vẻ vang, làm đẹp mặt nở mày cho cha mẹ.

Xem: Kim bảng.

Nông nả Long vân chờ gặp hội,

Bảng vàng tên tạc thoả tình thâm.

(Thơ Hoàng Nguyên).

Bảng vàng tên tuổi đề vang dội,

Trường đạo công phu gắng miệt mài.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

BÁNH

1.- Bánh là món ăn chế biến bằng các thứ bột, thường có chất ngọt, mặn, béo.

Như: Bánh chưng, bánh bao, bánh bèo, nhân bánh, gói bánh.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Cũng như đứa con trong nhà thấy cha có bánh nhiều hơn tức phải bỏ má. Ông cha họ có đủ tài đức đủ quyền bảo vệ họ, họ bợ đỡ nương theo đặng sống. Làm mẹ bất tài thì chúng phải nương sống theo cha, có gì là lạ.

Chị làm bánh cậy nhồi mớ bột,

Trộn một hồi thành lấy cốt trùng.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Bánh là bộ phận của xe hoặc máy có dạng dĩa tròn lắp nan hoa, quay quanh một trục để chuyển động.

Như: Bánh xe, bánh trớn, bánh lái tàu thuyền.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Tự cổ chí kim, vì không giữ mình được trong sạch cho nên con người phải chịu làm nô lệ cho xác thịt để cho dục vọng lôi cuốn gây thành tam nghiệp tức là thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp, phải bị chìm đắm trong vòng sanh tử luân hồi, chẳng khác chi tự mình trói buộc vào một cái bánh xe, cứ quay cuồng mãi mãi không biết bao giờ tháo mở được.

Dẫy xe trâu Côn Lôn trỗi bánh,

Lý Lão Quân mong lánh phong trần.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

BÁNH ẾCH ĐI BÁNH QUY LẠI

Bánh ếch đi: Bánh ếch cho đi. Bánh quy lại: Bánh quy trả lại.

Bánh ếch đi, bánh quy lại là một câu tục ngữ Việt Nam, khuyên người ta nên giữ sự công bằng, hễ tặng bánh ếch đi thì phải gởi bánh quy trả lại.

Bánh ếch mãi đi... càng khó nghĩ,

Bánh quy không lại... cũng hơi phiền.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

BÁNH LÁI

Bánh: Bộ phận có thể điều khiển chuyển động xoay tròn trên một trục. Lái: Bộ phận dùng để điều khiển các phương tiện vận tải, như xe, tàu.

Bánh lái là bộ phận xoay được dùng để đổi hướng di động của phương tiện vận tải như xe, tàu, thuyền...

Tại ngôi Bắc Ðẩu, con phải vẽ hai cái bánh lái cho đủ và sao Bắc Ðẩu cho rõ ràng.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

BÁNH TRÁI

Bánh: Món ăn chế biến bằng bột, có hình khối, thường là ngọt hay mặn béo. Trái: Quả.

Bánh trái là nói chung là các loại bánh để ăn.

Như: Cửa hàng có bán nhiều loại bánh trái.

Công là hay học chuyện bá xàm,

Trăm bánh trái, bao hàm nhà cửa.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

BÁNH VẼ

Bánh: Món ăn chế biến bằng bột, có hình khối, thường là ngọt hay mặn béo. Vẽ: Dùng bút mà tả hình trạng các vật như thực.

Bánh vẽ là hình vẽ của chiếc bánh, thấy mà ăn không được, thường dùng để ví cái trông có vẻ tốt đẹp, nhưng là cái không có thật, lừa bịp.

Ðạo trễ một ngày thì hại cho chúng sanh một ngày, mà mỗi đứa đều gây ác cảm, làm cho mối Ðạo thành ra bánh vẽ, thì chừng nào Ðạo trọn thành nơi đây?

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

BÀNH THÀNH

膨 城

Bành Thành là tên đất ngày xưa của nước Tàu.

Vào đời Xuân Thu, Bành Thành là một ấp của nước Tống. Sau nước Tần đặt thành huyện, nay là Từ Châu Thị, thuộc tỉnh Giang Tô.

Thiền cao chưa đủ đỡ muôn linh,

Như thuở Hạng Vương ở Bành Thành.

(Đạo Sử).

 

 

BÀNH TRƯỚNG

澎 漲

Bành: Nước chảy mạnh. Trướng: Nước dưới sông rạch lớn lên, đầy dẫy lên.

Bành trướng là phồng to ra.

Bành trường còn có nghĩa là dương rộng ra, hay mở rộng khu vực tác động ra.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Trong lúc khói lửa chiến tranh còn bao trùm đất nước, nền Ðại Ðạo tuy không được bành trướng khả quan nhưng nhờ sự trung thành và sự tận tâm phục vụ của phần đại đa số Chức sắc nơi Trung ương và Ðịa phương, nên phương diện tinh thần của Ðại Ðạo vững mức cao siêu, cái danh liêm khiết của Hội Thánh cũng như chí hy sinh của Chức sắc được các giới trí thức ngoài mặt đời ngợi khen và kính nể.

Bần Đạo hôm nay mới đặng cái quyền và năng lực bành trướng như thế nầy.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

BẢNH

Bảnh là sang, đẹp, tài giỏi có khả năng hoàn hảo, vượt trội hơn người.

Như: Anh ta ăn diện rất bảnh, tay lao động bảnh, làm mặt bảnh.

Nhiều bạn hàng làm bảnh nói hơn,

Mình vui vẻ đừng hờn lại trọng.

(Phương Tu Đại Đạo).

Bởi gà là đứa vô suy,

Tưởng đâu mình bảnh nên thì tự cao.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

BAO

1.- Bao là ít hay nhiều, lâu hay chóng. Như: Biết bao mà kể, xiết bao thảm sầu, bao điều tội lỗi.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Xưa các Thánh làm cho nên mối Ðạo biết bao là công trình ngày tháng!

Lợi danh đã đoạ biết bao người,

Nhiều kẻ nay còn ý dể ngươi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Bỏ đức bỏ nhân bao kiếp đọa,

Khuyên con giữ Ðạo đến cùng Thầy.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Bao là bọc ở ngoài, cho chứa được các vật, tóm quát cả. Như: bao bọc, bao phủ, bao quanh, bao dung.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Tôi cầu xin cho trong Cửa Ðạo chúng ta thắt chặt dải đồng tâm càng ngày thêm khắng khít, xoá bỏ những hờn nghịch nhỏ nhen, nên coi Ðại nghiệp của Ðạo là quý trọng đễ cùng nắm tay dìu dắt nhau vẹt ngút mây mù cứ vẫn bao phủ quanh vùng Thánh địa hầu đi đến một giai đoạn vui vẻ hơn.

Một làn ác khí bao ràng rịt,

Muôn xác tinh ma nhảy dập dìu.

(Thiên Thai Kiến Diện).

3.- Bao là khen, không dùng một mình. Như: Bao biếm (khen chê), Bao thưởng (khen và ban thưởng).

Xem: Bao biếm.

Tán tụng công đức hiền nhân,

Bao biếm thiện ác, cân phân rõ ràng.

(Báo Ân Từ).

 

 

BAO BIẾM

褒 貶

Bao: Khen. Biếm: Chê.

Bao biếm là khen và chê.

Người đời sau, khi nói về quyển kinh Xuân Thu của Đức Khổng Tử có câu như sau: Nhất tự chi bao, vinh ư hoa cổn; nhất tự chi biếm, nhục ư phủ việt 一 字 之 褒, 榮 於 華 袞, 一 字 之 貶, 辱 於 斧 鉞, nghĩa là một chữ khen, thì vinh hơn cái áo hoa cổn của vua ban cho, một chữ chê thì nhục hơn là tội bị rìu búa.

Hơn thua trối mặc đời bao biếm,

Nửa kiếp dầu qua hết lấn chen.

(Đạo Sử).

Xuân Thu bao biếm rõ ràng,

Trung Dung luận thuyết bảo toàn thánh tâm.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

BAO CÔNG CHẨN BẦN

包 公 賑 貧

Bao Công còn có tên là Bao Chửng, tên tự là Văn Chính, người đất Hiệp Phì, phủ Lư Châu, tỉnh Giang Nam Trung Quốc, con của ông viên ngoại Bao Hoài, và bà Châu Viện Quân.

Lúc nhỏ Bao Công là đứa trẻ thông minh tột bực, học đâu biết đó, nổi tiếng là thần đồng. Ông đậu Tiếng sĩ được vua Tống Nhân Tông bổ làm Tri Huyện Định Viễn, thuộc phủ Phụng Dương, sau vua triệu về kinh phong chức Lệnh Doãn Khai Phong phủ, rồi thăng lên chức Long Đồ Các Đại Học Sĩ.

Bao Công là người thanh liêm chính trực, giữ gìn luật pháp rất nghiêm minh, nên được vua ban cho Ngự Trát Tam đao là: Long đao, Hổ đao, Cẩu đao, để trị tội những hoàng thân quốc thích hay các đại thần, các nhà quyền quý phạm tội và sai Ông đi tra xét vụ tham những việc phát chẩn ở xứ Thần Châu.

Nguyên đất Thần Châu bị hạn ba năm, vua bèn sai An Lạc Hầu Bàng Dực là con Thái Sư Bàng Hồng, đến xứ ấy chẩn bần. Bàng Dực đến nơi không phát chẩn mà lại còn húng hiếp dân chúng và cưỡng bức gái lành, làm cho dân tình điên đảo.

Xứ Thần Châu đã bị hạn hán nhiều năm, dân tình điêu đứng, sứ thần của triều đình đến chẳng những không cứu giúp, trái lại còn tham nhũng, hạch sách, cưỡng bức gái lành, làm cho dân tình nơi đó càng thêm khốn đốn. Bao Công đến nơi thấy tội của Bàng Dực rõ ràng, bèn bắt hắn, lấy Long đao xử trảm. Rồi ông thay mặt cho nhà vua chẩn bần và an dân, nên dân chúng nơi đó cảm cái ơn đức của Bao Công vô hạn.

Bên ngoài hành lang Báo Ân Từ về phía nữ phái có bức tranh vé hình “Bao Công chẩn bần 包 公 賑 貧”.

1.- Bao Công:

Nhờ có Bao Công tài phá án,

Cẩu đầu đao chém hạng dân thường.

(Thơ Hoàn Nguyên).

2.- Bao Công chẩn bần:

Thần Châu hạn hán khổ dân,

Bao Công được phái chẩn bần cứu nguy.

(Thơ Thái Huệ).

 

 

BAO CHỬNG

包 拯

Bao Chửng, tên gọi là “Bao Công 包 公”, tự là Hy Nhơn, người ở đất Hiệp Phì đời nhà Tống. Ông là người có tiếng xét án giỏi, vụ án dầu bí mật và bao lâu, ông đều xử ra manh mối.

Bao Chửng là người rất ngay thẳng, giữ gìn luật pháp rất nghiêm minh, nên những kẻ quyền quý hay hoạn quan đều rất nể sợ.

Bao Chửng làm đến chức Khu Mật Phó Sứ, từng xử nhiều vụ án ly kỳ được chép ở sách “Bao Công Kỳ Án 包 公 奇 案”.

Xem: Bao Công.

Ví gặp Quách Hoè bày quỷ kế,

Há thua Bao Chửng trổ thiên tài.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

BAO DUNG

包 容

Bao: Trùm lên, che chở, bênh vực. Dung (dong): Tha thứ, không chấp.

Bao dung hay “Bao dong” là chỉ người có lòng rộng lượng với mọi người, hay tha thứ bảo bọc kẻ khác.

Như: Đức Chí Tôn là một người cha có lòng rộng lượng bao dung.

Tập tánh con quảng đại bao dung,

Hay thương mến thuận cùng bạn tác.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

BAO ĐÀNH

Bao: Ít hay nhiều, lâu hay chóng. Đành: Bất đắc dĩ mà phải chịu vậy.

Bao đành có nghĩa là sao đành, đành lòng nào, nỡ lòng nào.

Như: Thấy đứa con hư lòng cha bao đành từ bỏ.

Người phụ nhơn trí hoá hẹp hòi,

Mình quân tử bao đành ngồi ngó dại.

(Phương Tu Đại Đạo).

Bao đành sớm tách miền Tiên cảnh,

Nỡ để nhơn sanh chốn Nghiệt đài.

(Thơ Thượng Trí Thanh).

 

 

BAO ĐỒNG

Bao đồng là dông dài, linh tinh, lung tung, không đi vào trọng tâm cái cần nói, hoặc việc cần làm.

Thí dụ: Thôi đi làm đi ở đó mà nói chuyện bao đồng.

Bao đồng còn nghĩa khác là có tính chất khái quát, chung nhất.

Hay lo những chuyện gọi bao đồng,

Một tánh mạng mình tính chẳng xong.

(Đạo Sử).

 

 

BAO GIỜ

Bao: Từ dùng để chỉ một mức độ, số lượng, hoặc khoảng thời gian nào đó không rõ. Giờ: Chỉ thời gian.

Bao giờ là khi nào. Bao giờ là tiếng dùng để hỏi một khoảng thời gian nào đó không rõ.

Thánh giáo Đức Chơn Cực Lão Sư có câu: Ðấng Chí Tôn, vì thương dân tình nơi đây, đã khổ tâm gieo Ðạo, đem chiếc thuyền cận bến để dìu dắt vào chỗ bình địa đặng tự tại thung dung, mà vì chưa hiểu thấu căn nguyên, khổ bao giờ trông thoát?

Trái oan nào khác mối tơ,

Rối rồi không gỡ, bao giờ cho ra.

(Kinh Sám Hối).

 

 

BAO HÀM

包 含

Bao: Trùm ra ngoài. Hàm: Chứa đựng.

Bao hàm là bao trùm, tức chứa đựng bên trong, mang bên trong (nói về cái nội dung trừu tượng).

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Hai chữ “Tu thân” không phải chỉ có một ý nghĩa tiêu cực là sửa trị nết xấu mà là bao hàm một chương trình rộng rãi trau dồi tài đức.

Thập Thiên can bao hàm vạn tượng,

Tùng Địa Chi hoá trưởng Càn Khôn.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

Công là hay học chuyện bá xàm,

Trăm bánh trái, bao hàm nhà cửa.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

BAO HẮC TỬ

包 黑 子

Bao Hắc Tử là tục danh của Bao Công, một ông quan cương trực, thanh liêm, nổi tiếng xử nhiều vụ án ly kỳ được chép ở sách “Bao Công Kỳ Án 包 公 奇 案”.

Ông chẳng những xử các vụ án do người thế gian đầu cáo, mà còn được các vong hồn ở Diêm Cung nhờ tra xét. Điển hình là vụ án của Y Thị.

Y Thị tên thật là Trịnh Nương, vợ của quan Ngự sử Trần Quốc Thanh. Y Thị là người thẳng thắng, cương trực, hay ghét kẻ gian thần, thường khuyên can chồng đừng nên theo phe bọn gian thần là Thái Sư Bàng Hồng để mưu hại hai tướng trung thần là Dương Tôn Bảo và Địch Thanh.

Một hôm, vì khuyên mãi không được, Y Thị nặng lời khiến chồng tát tai, quá uất ức nàng thắt họng tự tử. Trần Quốc Thanh chẳng thương tiếc, lại sai gia nhân khiêng xác Y Thị vùi vào chỗ bùn lầy, rồi chọn một đứa a hoàn có nhan sắc lên thế nàng để làm phu nhân. Hồn Y Thị xuống Diêm đình đầu cáo, Diêm Vương dạy Y Thị về kiện nơi Khai Phong phủ của Bao Công.

Bao Công đi chẩn bần nơi xứ Thần Châu trở về, dọc đường hồn Y Thị hoá luồng khí lạnh chận lại, rồi đến đêm báo mộng cho Bao Công biết.

Hồn Y Thị quỳ trước Bao Công cáo rằng: Thiếp thác là tại thiếp, nhưng chồng thiếp không nghĩ đến tình nghĩa, không nghĩ đến phẩm mạng phụ phu nhân của triều đình, đem vùi thây thiếp nơi bùn lầy nước đọng, còn đem một con tỷ tất lên thay thiếp. Chồng thiếp theo bọn gian thần là Thái Sư Bàng Hồng mưu hại hai tướng trung can là Dương Tôn Bảo và Địch Thanh, nếu Lão gia không về triều ngay thì hai vị tôi thần lương đống sẽ không còn. Nghe xong, Bao Công ra lịnh về triều ngay trong đêm đó. Sáng hôm sau, Bao Công tâu hết mọi việc cho vua nghe, rồi mượn ba món bửu bối đem đến nơi vùi thây Y Thị để cứu sống nàng.

Y Thị sống lại, Bao Công lập hình án xử trảm Trần Quốc Thanh và trưng nhiều bằng cứ để minh oan cho hai tướng Dương Tôn Bảo và Địch Thanh.

Bao Hắc Tử tiếp hồn Y Thị,

Cáo đứa gian hại vị trung thần.

Trừ gian cứu nước hại dân,

Đáng danh hiền triết phu nhân liệt vào.

(Báo Ân Từ).

 

 

BAO LA

包 羅

Bao: Trùm ra ngoài. La: Cái lưới.

Bao la là rộng lớn đến mức như vô cùng tận.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Cây “giác ngộ” chỉ mọc giữa đám đất đau khổ (vì bị dục vọng lôi cuốn) lấy chúng sanh làm gốc, lấy lòng thương bao la làm nước tưới mới có hoa giữa trí tuệ.

Nước non chớn chở bao la,

Quyết tìm một gậy mệt già viếng con.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

BAO LĂM

Bao: Nói tắt của “Bao nhiêu”, chỉ một số lượng nào đó, nhưng không xác định.

Bao lăm là bao nhiêu, từ dùng để chỉ một lượng rất ít, không đáng kể.

Bao lăm còn có nghĩa chẳng đáng bao nhiêu, chẳng được bao nhiêu.

Ngọc lành đáng giá biết bao lăm,

Ðể mẻ thì ai chẳng tiếc thầm.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Làm lụng té bao lăm của cải,

Để cho con là ngãi cùng con.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

BAO LÂU

Bao: Ít hay nhiều, lâu hay chóng. Lâu: Phải nhiều thời giờ, trái với mau (chóng).

Bao lâu là bao nhiêu lâu, tức bao nhiêu thời gian.

Thánh giáo Thầy có câu: Ðạo Trời soi gương rạng, khá biết tỉnh mộng hồn, kiếp sanh chẳng bao lâu, đừng đợi đến ngày cùng tận.

Trần khổ dầu ai chơn muốn lánh,

Ngày thành Chánh quả có bao lâu?

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Có thuở mạng Trời đưa sắc đến,

Nên giềng Ðạo cả chẳng bao lâu.

(Đạo Sử).

 

 

BAO LƠN

Hay “Bao Lơn Đài”.

Bao lơn: Phần nhô ra ngoài hiên, hoặc ngoài sàn gác, xung quanh có lan can. Đài: Cái đài.

Bao Lơn Đài là một cái đài xây theo hình bán nguyệt, có lan can, đưa ra mặt tiền của Toà Thánh Tây Ninh.

Trước thành bao lơn có đắp các tượng hình: Sĩ, Nông, Công, Thương, Ngư, Tiều, Canh, Mục, tượng trưng sự sinh hoạt con người với ý nghĩa nơi Toà Thánh là nơi tập trung các chơn linh trên cõi thế, dù sinh tiền làm nghề gì cũng vậy, phút cuối cùng phải về đây xem tội phước.

1.- Bao lơn:

Khi bước vào trước sân Toà Thánh,

Hãy trông lên trên cánh bao lơn.

(Lược Thuật Toà Thánh).

2.- Bao Lơn Đài:

Du khách thấy xây hình bán nguyệt, gọi là Bao Lơn Đài.

(Toà Thánh Tây Ninh).

 

 

BAO NẢ

Bao nả là tiếng thường dùng trong câu hỏi, có nghĩa là bao nhiêu, chừng nào.

Thánh giáo Đức Cao Thượng Phẩm trong Thánh Ngôn Sưu Tập có đoạn: Nên nhớ rằng, chơn lý vẫn là nguồn khai thác cho U Minh Giới mà cửa Hiệp Thiên Đài vốn phải lắm công lao. Vì cớ cả mấy em dầu cho Phước Thiện cũng là Hội Thánh cứu khổ của Hiệp Thiên Đài, thì thử hỏi trọng trách bao nả.

Ví bằng ai hỏi sao bao nả?

Rằng trẻ noi sau biến hoá già.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Lời phiền đổi lại tiếng than,

Thương kia bao nả lại càng thêm thương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Nghĩ cõi Bồng Lai xưa mấy mặt,

Còn tôi bao nả dám làm hơi?

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

BAO NHIÊU

Bao: Tiếng dùng để chỉ mức độ, số lượng hoặc khoảng thời gian nào đó không rõ.

Bao nhiêu là không biết nhiều hay ít, tức số lượng nào đó không rõ chính xác.

Bao nhiêu còn có nghĩa là không biết chừng nào.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có đoạn: Vậy muốn đắc quả thì chỉ có một điều phổ độ chúng sanh mà thôi. Như không làm đặng thế nầy thì tìm cách khác mà làm âm chất, thì cái công tu luyện chẳng bao nhiêu cũng có thể đạt địa vị tối cao.

Dưới Ngọc Hư, kể bao nhiêu,

Thiêng Liêng các Đấng lập triều trị dân.

(Kinh Thế Đạo).

Mang câu thất hiếu đã đành,

Bao nhiêu công quả biển gành rã tan.

(Thất Nương Giáng Bút).

Xuân mệt mờ bao nhiêu cảnh ủ,

Cụm rừng tòng lá xủ tranh sầu.

(Thanh Tâm Tài Nữ).

 

 

BAO NHIÊU CÔNG QUẢ BẤY NHIÊU PHẦN

Bao nhiêu công quả: Lập công quả được bao nhiêu. Bấy nhiêu phần: Được hưởng tương ứng với phần công quả đã làm.

Bao nhiêu công quả bấy nhiêu phần ý muốn nói máy Trời rất chí công, nếu mình làm công quả ở cõi thế gian được bao nhiều thì ngày sau về cõi Thiêng liêng mình sẽ được hưởng bấy nhiêu, tức là tương ứng với số công quả do mình tạo nơi thế gian.

Muôn đức ngàn lành không sót một,

Bao nhiêu công quả bấy nhiêu phần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

BAO PHEN

Bao: Từ kết hợp để chỉ mức độ, số lượng hoặc khoảng thời gian nào đó. Phen: Lần, lượt.

Bao phen là bao lần, bao lượt.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: Ôi! Thầy cực nhọc bao phen, mà nay con đường ngó lại còn dài thăm thẳm. Thầy chỉ mong mỗi con tỉnh hồn thức trí, ngó lại bước đường sái trước kia mà lập tâm làm việc chánh đáng, theo lần Thầy, thì sự may mắn ấy không còn chi cho Thầy vui hơn nữa.

Trượng tài khinh nghĩa đã bao phen,

Làm mất số sang chịu khó hèn.

(Đạo Sử).

Nào là lúc ăn cay uống đắng,

Nào là khen rồi mắng bao phen.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

BAO PHỦ

Bao: Bọc ở bên ngoài. Phủ: Che đậy lại.

Bao phủ là bao bọc và phủ kín ở bên ngoài.

Trong Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp có câu: Ấy vậy, ta có một tinh thần, một phương pháp duy nhất của Đức Chí Tôn đã để trong mình ta, nó là bộ Thiết giáp đang bao phủ lấy ta, ta mang bộ Thiết giáp ấy vô, mấy em cố gắng mỗi em đều sắm bộ Thiết giáp ấy tức nhiên là đạo đức của mấy em đó vậy.

Kìa lố bóng hồng ân bao phủ,

Cả thế gian đầy đủ đạo mầu.

(Kinh Thế Đạo).

Xin có tưởng ruột rà máu mủ,

Cõi Hư linh bao phủ ân hồng.

(Kinh Thế Đạo).

Cao sang chẳng mượn của thường tình,

Bao phủ mình con chút khí linh.

(Đạo Sử).

 

 

BAO QUẢN

Bao: Lâu mau, xa gần. Quản: Ngại.

Bao quản là một từ Nôm, có nghĩa là không quản ngại, hay không nề hà.

Như: Làm việc thiện bao quản gian lao khổ nhọc.

Lòng lành là vốn có căn xưa,

Bao quản lợi danh chẳng dám chừa.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Biển bắc mặc dầu cơn sóng bủa,

Non nam bao quản đám mây vần.

(Thơ Hộ Pháp).

Thanh bạch quyết gìn ra sức lái,

Sắt son bao quản nhọc công dò.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

BAO QUÁT

包 括

Bao: Bọc ở ngoài, cho chứa đựng các vật. Quát: Thu tóm lại.

Bao quát là bao gồm rộng rãi, toàn bộ.

Như: Làm những công việc bao quát của công ty chớ không cụ thể.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có đoạn: Tiếng tu nó bao quát như thế, thiên kinh vạn điển tiếng của các Tôn Giáo đã để lại duy chỉ trong một chữ đấy mà thôi; thành thử chẳng phải đứng trên giảng đài mà giảng chữ tu ấy cho cùng lý được, nhứt là Bần Đạo có thể lấy cái tinh túy của nó để ra, dầu không trọn vẹn, nhưng cả thể toàn thể con cái của Đức Chí Tôn để ý, định trí cho lắm nghe và hiểu.

Ðạo dưỡng dục vận hành bao quát,

Ðạo độ người hay sát hay sanh,

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

BAO TỶ

褒 姒

Bao Tỷ, con gọi là Bao Tự là một nàng con gái đẹp đước tiến vào cung cho Châu U Vương.

Theo Sử ký Tư Mã Thiên, Chu bản kỉ có chép:

Thời nhà Hạ suy vi, có hai con rồng thần vào sân đình của vua tự xưng là vua nước Bao. Triều đình bèn tế lễ, rồng thần nhả lại dãi và được lưu vào hộp gỗ.

Từ đời nhà Hạ qua đời nhà Thương không ai dám mở hộp dãi rồng. Đến thời Chu Lệ Vương mở hộp ra xem, nước dãi biến thành con thằn lằn đen chạy vào hậu cung, làm một cung nữ mang thai. Sau đó người cung nữ sinh ra một bé gái, sợ là vật tai dị nên vứt đứa trẻ đi.

Thời Chu Tuyên Vương, có một đôi vợ chồng không hay có lệnh cấm bán gỗ dâu và gỗ cơ, mang ra chợ bán liền bị triều đình truy bắt. Họ chạy trốn giữa đường thì gặp đứa trẻ bị bỏ rơi, bèn mang theo chạy đến nước Bao.

Cô bé lớn lên chính là Bao Tỷ 褒 姒, hay Bao Tự là một người con gái đẹp đời Chiến Quốc, do Bao Hồng Đức xuất vải lụa mua để tiến vào cung cho Châu U Vương đặng xin tội cho cha là Bao Quýnh.

Bao Tỷ vào cung được vua U Vương sủng ái, phế Thân Hoàng hậu và Thái Tử Nghi Cửu để lập Bao Tỷ làm Chánh cung Hoàng hậu và con là Bá Phục làm Thái Tử.

Bao Tỷ có gương mặt rất đẹp, nhưng luôn luôn buồn ủ dột, không khi nào có một nụ cười. Biết nàng thích nghe tiếng lụa xé, U Vương truyền xuất cả trăm cây lụa trong kho để xé cho Bao Tỷ nghe. Nghe qua mặt nàng chỉ tươi một chút mà không cười.

Tại Ly Sơn thời ấy có đắp một cái đài gọi là Phong Hoả Đài, khi nào Kinh thành có loạn thì đốt lửa trên ấy để báo cho các chư hầu biết mà đem binh về cứu viện. Để làm vừa lòng U Vương, Quách Thạch Phủ bèn dâng kế cho đốt lửa Phong Hoả Đài, đánh lừa chư hầu mà làm trò cười cho Bao Tự.

Vua U Vương nghe theo, truyền đốt Phong Hoả Đài, lửa bốc lên cao, chư hầu vội vàng kéo quân đến nườm nượp. Khi tới nơi thấy không có giặc giả, chỉ có U Vương và Chánh hậu bày tiệc uống rượu, chư hầu xẻn lẻn cuốn cờ xếp giáo, kéo nhau ai về xứ nấy. Chừng đó Bao Tỷ thích chí đứng dựa lan can mà cười ngất.

Sau đó, Thân hầu kéo binh đánh kinh đô, U Vương truyền đốt Phong Hoả Đài, nhưng chư hầu sợ bị lừa lần nữa, nên không ai đem binh tiếp cứu. Kết quả, Châu U Vương và Bao Tỷ đều bị giết chết.

Trà my kém sắc hơn hường,

Tiếng cười Bao Tỷ hơn hờn Phan Vương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

BAO TÓC

Bao: Bọc lại. Tóc: Lông mọc ở phần trên và sau của đầu người.

Bao tóc, bởi chữ “Đối phu phong phát 對 夫 封 髮”, tức là bao tóc đợi chồng.

Đường Thư chép: Ông Giả Trực Ngôn là một vị quan, vì có công việc mà phạm tội bị đày đi Lĩnh Nam, bèn từ biệt cùng vợ là bà Đổng Thị rằng: Sự sống chết không thể hẹn kỳ, nay tôi bị tội đày 20 năm, ra đi không biết sống chết thế nào, nàng ở lại nên tái giá để nương tựa tấm thân! Vợ khóc mà không đáp lại, chỉ lấy dây buộc tóc, bao ngoài bằng vải lụa, nhờ Trực Ngôn viết lên rằng: Phi quân thủ bất giải 非 君 手 不 解, có nghĩa là chẳng phải tay chàng, không mở.

Sau đó, Trực Ngôn bị đi đày, Hai mươi năm sau mới được trở về, chữ và lụa trên đầu vợ còn rành rạnh, đến khi đem nước nóng gội tóc, tóc rụng tất cả. Thật là “trinh tiết” đáng khen!

Người đời sau khen rằng: Đổng Thị đối phu phong phát, trinh tiết kham khoa 董 氏 對 夫 封 髮, 貞 節 堪 誇, nghĩa là bà Đổng Thị đối chồng bao tóc, trinh tiết thật đáng khen.

Dưới trăng bóng ngọc còn nguyên,

Ôm bình, bao tóc sang hèn cũng cam.

(Kinh Thế Đạo).

Thiếp cam bao tóc thờ chàng,

Rót chung ly biệt đôi hàng lụy sa!

(Kinh Thế Đạo).

 

 

BAO THUỞ

Bao: Từ kết hợp để chỉ mức độ, số lượng hoặc khoảng thời gian nào đó. Thuở: Khoảng thời gian không xác định của thời quá khứ hay tương lai xa.

Bao thuở là chừng lúc nào, thời nào. Như: Vật quý báu mà mất đi, bao thuở tìm lại được.

Bao thuở đầu non chim vắng dạng,

Thị thiềng càng thấy bắt buồn tanh.

(Đạo Sử).

Bao thuở nằm nhà cơm tới miệng,

Của công thường thế phải cân đồng.

(Đạo Sử).

Rường cột Ðạo mầu bao thuở dựng,

Sụt sùi để bước khó làm thinh.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

BAO TRÙM

Bao: Bọc ở bên ngoài. Trùm: Bao phủ lên trên.

Bao trùm là bao bọc và trùm lên khắp cả một khoảng không gian nhất định nào đó.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Lễ và Nhạc cùng họp nhau và nếu giữ đúng nề nếp thì đàn cúng mới nghiêm chỉnh, được bao trùm một bầu không khí huyền diệu, Thiêng liêng khiến cho chúng ta cảm tưởng là có Ðức Chí Tôn và Chư Tiên Phật giáng ngự để ban ơn cho toàn Ðạo.

Lược sách binh thư dâng bửu bối,

Bao trùm hậu khí giúp nhà Nam.

(Liễu Nhứt Chơn Nhơn).

Than ôi! Ðất Tây Ninh giăng phủ mây sầu,

Vùng Thánh Ðịa bao trùm gió thảm.

(Thượng Sáng Thanh).

 

 

BÁO

1.- Báo là mách bảo. đưa tin, đưa giấy, hoặc hiển nhiên cho biết trước. Như: Báo tin, báo tử, báo quan, nhạn báo tin xuân.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy đã sai Allan Kardec, Flammarion, cũng như Élie và Thánh Jean Baptiste, là những bực tiền Thánh báo tin ngày giáng sinh chấn động của Chúa Cứu Thế Jésus Christ, nhưng chúng nó, đứa thì bị hành hạ, đứa khác bị giết chết.

Thanh thoát rừng thung tiếng gió ngàn,

Muôn hồng ngàn tía báo Xuân sang.

(Thơ Thượng Sanh).

2.- Báo là làm nhiễu, làm phiền, làm hại. Như: Báo vợ con, báo hại người, báo đời.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Hễ Ðạo có hành tàng thì lấy từ bi làm căn bản, còn hung tàn thì đi theo cái hung, tức báo đời chớ không phải cứu đời.

Toan kiếm con, kiếm cũng không ra,

Báo vợ lớn, mẹ già, sầu thảm.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Báo là trả, đền lại. Như: Báo ân, báo oán, báo ứng, báo hiếu, nghiệp báo.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Nếu ai giết mạng sống, đều chịu quả báo không sai, biết đâu là cái kiếp sanh ấy chẳng phải là Tiên, Phật bị đoạ luân hồi mà ra đến đỗi ấy.

Làm cho chồng vợ lìa xa,

Cả đời nghiệt báo oan gia chẳng rời.

(Kinh Sám Hối).

 

 

BÁO ÂN TỪ

報 恩 祠

Báo ân: Đền ơn, báo đáp ân đức. Từ: Đền thờ, nhà để thờ phượng.

Báo Ân Từ là một cái Đền dùng để phụng thờ các bậc vĩ nhân có công với nhân loại, hoặc các bậc tiền bối có đại công với Đạo.

Sau đây là lịch sử kiến tạo Báo Ân Từ tại Nội Ô Toà Thánh Tây Ninh.

Nguyên vào năm 1928, tại làng Phú Mỹ, tỉnh Mỹ Tho, Đức Diêu Trì Kim Mẫu có giáng cơ ban cho một bài thi và dạy phải lập Đền thờ Phật Mẫu và cất một ngôi Thảo Đường trong vuông đất đó.

Bài thi Thảo Đường như sau:

Thảo Đường phước địa ngộ tùng hoa,

Lục ức dư niên vũ trụ hoà.

Cộng hưởng phàm gian an lạc nghiệp,

Thế đăng Bồng đảo định âu ca.

Nghĩa là:

Ngôi Thảo Đường cất nơi phước địa, gặp mối Đạo trời mới mở ra.

Hơn sáu trăm ngàn năm, vũ trụ được yên ổn và hoà bình.

Nơi phàm gian nhơn loại cùng nhau hưởng cảnh an cư lạc nghiệp.

Cõi thế như cõi Tiên, con người đều được sống thanh bình thịnh vượng.

Sau đó, Đức Lý Giáo Tông giáng cơ ban cho đôi liễn tại Thảo Đường:

草 上 霜 飛 便 是 天 波 之 勝 景

Thảo thượng sương phi tiện thị thiên ba chi thắng cảnh.

堂 前 月 照 甚 光 地 泰 是 登 仙

Đường tiền nguyệt chiếu thậm quang địa thới thị đăng tiên.

Nghĩa là:

Trên cỏ sương bay tựa như sóng trời, ấy là cảnh đẹp.

Trước nhà trăng chiếu sáng trên đất thới, nơi lên Tiên cảnh.

Vào thời ấy, ông Đinh Công Trứ là chủ trưởng Minh Thiện Đàn tại làng Phú Mỹ do Đức Lý Giáo Tông thành lập năm 1928. Đến năm 1929, Đức Lý Giáo Tông dạy bàn giao Minh Thiện Đàn cho Đức Hộ Pháp cai quản.

Theo lời dạy của Đức Phật Mẫu, tại làng Phú Mỹ phải lập một Thánh Thất, gọi là Thánh Thất Khổ Hiền Trang, một Sở Thảo Đường trong đó cất một Đền Thờ Phật Mẫu. Do đó, Đức Hộ Pháp bèn giao cho ông Đinh Công Trứ lập Bàn thờ Phật Mẫu nơi sở Thảo Đường.

Do chiến tranh. giặc giã khắp nơi, trong khoảng thời gian 1943 đến năm 1945, ông Trứ cùng các bạn Đạo trong Minh Thiện Đàn, phải rời khỏi làng Phú Mỹ tản cư về Tây Ninh lập ra Trường Quy Thiện, Trí Giác Cung, rồi xây dựng Đền Thờ Phật Mẫu trong đó. Đây là nơi thờ Đức Phật Mẫu đầu tiên hết.

Như chúng ta biết, từ khi mới khai Đạo 1926 cho đến năm 1946, Nội Toà Thánh chưa có Đền Thờ Phật Mẫu, Đức Hộ Pháp mới mượn ngôi Báo Ân Từ để tạm thờ Đức Phật Mẫu.

Nguyên ngôi Báo Ân Từ trước đây là một Đền thờ do Đức Hộ Pháp cho xây dựng tại Nội Ô Toà Thánh để thờ các bậc Tiền bối có đại công với Đạo và các bậc vĩ nhân có công với đất nước hay nhân loại.

Đền thờ nầy Đức Hộ Pháp nhờ công quả Phạm Môn dở ba căn nhà sở là Sở Dưỡng Lão, Sở Nữ Công Nghệ và Sở Trường Hoà làm bằng cây ván, đem cất thành một ngôi thờ cạnh Hộ Pháp Đường, dùng làm Báo Ân Từ.

Phía trước ngôi thờ có dựng một cái cổng lớn, hai bên có đôi liễn khoán thủ hai chữ “Báo Ân”, giải thích ý nghĩa của Báo Ân Từ:

報 得 聖 名 香 火 千 秋 奉 祀

Báo đắc thánh danh hương hoả thiên thu phụng tự.

恩 遺 世 代 威 靈 萬 古 留 存

Ân di thế đại uy linh vạn cổ lưu tồn.

Nghĩa là:

Báo đáp các bậc Thánh, lửa hương ngàn năm thờ phụng.

Ân sâu lưu lại đời đời, oai linh muôn thuở tồn tại.

Vào năm 1933, Hội Thánh khởi công xây dựng ngôi Đền Thánh bằng vật liệu nặng với bê tông cốt sắt, nên ngôi thờ cũ bằng cây ván được dở bỏ và quả Càn Khôn dời về tạm thờ tại Báo Ân Từ.

Đến năm 1946, Đức Hộ Pháp từ Hải đảo Madagascar trở về, Ngài mới tổ chức cuộc lễ long trọng, có sự tham dự của Chức sắc lưỡng đài cùng toàn thể chức sắc và tín đố để rước Linh vị Phật Mẫu từ Trí Giác Cung về Toà Thánh.

Lộ trình đưa Linh vị Đức Phật Mẫu từ Trí Giác Cung Địa Linh Động theo đường Bàu Sen qua Sân Cu rồi vô Toà Thánh.

Linh vị của Đức Phật Mẫu rước về được thờ tạm tại “Khách Thiện Từ”, một ngôi nhà do Hộ Pháp cho làm bằng cây ván lợp tranh nằm trên khoảng đất trống sau cơ quan Hiệp Thiên Đài hiện nay.

Đến năm 1947, sau khi Hội Thánh xây dựng xong ngôi Đền Thánh và dời Quả Càn Khôn tại Báo Ân Từ về Đền Thánh thờ tại Bát Quái Đài, thì Linh vị của Đức Phật Mẫu một lần nữa được làm lễ long trọng, có Hội Thánh lưỡng đài và chức sắc tín đồ tham dự đông đảo để rước từ “Khách Thiện Từ” về Báo Ân Từ thờ cho đến ngày nay.

Vì thế, Đền Thờ Phật Mẫu tại Nội Ô Toà Thánh, được Đức Hộ Pháp dùng ngôi Báo Ân Từ tạm thờ Đức Phật Mẫu, nên Đền Thờ nầy còn gọi là “Báo Ân Từ”.

Dầu Thánh Thất không gần cũng tới,

Báo Ân Từ diệu vợi đừng lơi.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

Báo Ân Từ đắp hình Kim Mẫu,

Toà Thánh nghi thờ nhãn Chí Tôn.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

BÁO BỔ

報 補

Báo: Đáp trả lại. Bổ: Làm việc có ích cho người.

Báo bổ là báo đáp ơn nghĩa bằng cách giúp ích cho người, tức là đền bù những lúc người ta vì mình mà chịu cực nhọc.

Trong Bài Văn tế Đức Cao Thương Phẩm của Chức Sắc Hiệp Thiên Đài có câu: Ngảnh lại, bóng tang du cha khuất, mẹ còn già ngồi lên khóc trẻ, nghĩ cũng lạ thường, thất chữ hiếu phải cam là vậy đó. Nhưng... nhưng cũng nghĩ rằng tình chồng vợ cũng đủ dạ yêu thương, nghĩa mẹ con cũng đã dày công báo bổ...

Nguyện lấy sức đền ơn cương thổ,

Dốc lòng lo báo bổ ơn nhà.

(Kinh Cúng Chiến Sĩ).

Ơn nước mong tìm phương báo bổ,

Đạo nhà nay gặp cảnh khang an.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

BÁO ĐÁP

報 答

Báo: Đáp trả lại. Đáp: Đền lại.

Báo đáp là đền đáp ơn nghĩa.

Nói về Giới Tử Thôi, Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Một người trung thần là Giới Tử Thôi cắt thịt vế trái mình, nấu một tô đem dưng cho Trùng Nhĩ. Trùng Nhĩ thấy thịt nóng, ăn ngon lắm, mới hỏi: Chỗ nầy làm sao có thịt?, Tử Thôi thưa rằng: “Tôi thường nghe con thảo hết mình thờ cha, tôi ngay liều mình thờ chúa, nay Chúa công đói lòng nên hạ thần cắt thịt trái vế mà dưng cho Chúa công đỡ dạ. Trùng Nhĩ rơi nước mắt mà than rằng: “Kẻ nạn nhân này làm hại cho ngươi biết bao, ta lấy chi báo đáp ơn người cho xứng”.

Thương lùm mả ủ thân ma,

Cốt căn báo đáp sơn hà gầy nên.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

BÁO HIẾU

報 孝

Báo: Trả lại, đền đáp. Hiếu: Thảo, có lòng kính yêu, và biết ơn cha mẹ.

Báo hiếu là đền đáp công ơn của cha mẹ.

Báo hiếu còn có nghĩa là lo việc tang lễ chu đáo khi cha mẹ đã qua đời.

Muốn hiển tổ vinh tông báo hiếu,

Học cho hay trọng yếu miếu đường.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

BÁO QUỐC

報 國

Báo: Trả lại. Quốc: Nước.

Báo quốc là trả nợ nước.

Con người được sinh ra và lớn lên, trước nhứt là thọ ơn của đất nước, vì vậy khi đất nước cần, làm người dân ai cũng phải lo trả nợ cho đất nước.

Như: Tận trung báo quốc.

An dân buồn thiếu trang hiền sĩ,

Báo quốc vui nhờ Đức Thánh Nhân.

(Thanh Sơn Đạo Sĩ).

 

 

BÁO QUỐC TỪ

報 國 祠

Báo Quốc: Báo đáp công đức của đất nước và dân tộc. Từ: Đền thờ.

Báo Quốc Từ 報 國 祠 là Đền thờ những vị có công lớn với Quốc gia và dân tộc Việt Nam.

Báo Quốc Từ được Đức Hộ Pháp cho xây dựng vào ngày 01 tháng 01 năm 1955 cách cửa Bắc Chợ Long Hoa hơn hai trăm thước, nằm giữa Đại lộ từ Toà Thánh đến chợ Long Hoa. Nếu du khách viếng Toà Thánh muốn đến Chợ Long Hoa thì phải đi ngang Báo Quốc Từ, một ngôi Đền uy nghiêm và lộng lẫy nằm trên trục giao thông được gọi là “Lộ Báo Quốc Từ”.

Ngôi Báo Quốc Từ nầy được xây dựng theo hình lục giác đều, hai mặt trước sau có cổng, quay dọc theo chiều lộ, trước mỗi cổng đều có đắp nổi bằng chữ Nho vào hai trụ cổng đôi liễn như sau:

保 守 基 圖 英 雄 揚 氣 魄

Bảo thủ cơ đồ anh hùng dương khí phách.

護 持 國 運 志 士 顯 威 靈

Hộ trì Quốc vận chí sĩ hiển uy linh.

Dịch nghĩa:

Bảo thủ cơ đồ, người anh hùng nêu cao khí phách.

Hộ trì vận nước, người chí sĩ hiển lộ oai linh.

Đôi liễn trên do Ngài Hiến Pháp Trương Hữu Đức thuộc chức sắc Hiệp Thiên Đài chi Pháp đặt ra.

Bên trong Báo Quốc Từ, nơi chánh điện có một bài vị viết bằng chữ Nho ở giữa hàng chữ lớn: “Hùng Vương Quân Chi Thuỷ 雄 王 君 之 始” để thờ Quốc Tổ Hùng Vương.

Hàng bên phải “Cứu Quốc Công Thần 救 國 功 臣”, để tôn vinh những bậc có công với Đất nước.

Và hàng bên trái là “Chiến Sĩ Trận Vong 戰 士 陣 亡” để thờ các chiến sĩ tử trận vì quốc gia dân tộc.

Ngoài ra, nơi Bàn thờ còn có các linh vị sơn son thếp vàng đề tên của các vị vua nhà Nguyễn có tinh thần yêu nước, chống Pháp đô hộ như: Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân và nhà cách mạng Cường Để. Hai bên Chánh điện có trang trí lỗ bộ và lọng tàn. Phía sau bàn thờ có đề tám chữ Nho: “救 國 功 臣 戰 士 陣 亡 Cứu Quốc Công Thần Chiến Sĩ Trận Vong”.

Hằng năm cứ đến ngày 10 tháng 3 Âm lịch, ngày Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, Hội Thánh Cao Đài Toà Thánh Tây Ninh cùng toàn Đạo có thiết tại Báo Quốc Từ “Lễ Kỷ Niệm Quốc Tổ Hùng Vương”.

Trong buổi Lễ Khánh Thành Báo Quốc Từ ngày 16 tháng 8 năm Ất Mùi (Dl. 01/10/1955), Đức Hộ Pháp có nói: “Nơi Đền Thờ nầy, các Ngài đã thấy Linh Vị của mấy vị Cựu Hoàng và Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, xin các Ngài đừng lầm tưởng rằng: Đạo đã xu hướng theo thuyết "Bảo Hoàng" mà kỳ thật các Đấng ấy, chỉ liệt vào hàng trung quân ái quốc của xã hội Việt Nam mà thôi.

Vì công nghiệp của họ tranh đấu giải ách lệ thuộc cũng đồng cùng các chiến sĩ cách mạng khác kia vậy.

Tưởng niệm tới Lễ ấy, nên Hội Thánh mới quyết định lập Báo Quốc Từ thờ trọn cả các Vong Linh của các Anh Hùng Chiến Sĩ, Cứu Quốc Công Thần cùng là Trận Vong Chiến Sĩ”...

“Hôm nay các anh linh chư vị anh hùng tiền bối và hậu bối đang ngự trị trong khối Quốc hồn của ta và đang vơ vẫn bên ta.

Giờ phút Thiêng Liêng nầy. Bần Đạo xin cả các Ngài hiệp tâm làm một cùng Bần Đạo thành một khối tưởng niệm duy nhứt đặng cầu xin các Đấng ấy giúp cho nòi giống ta khỏi cơn ly loạn, cốt nhục tương tàn đặng đem hạnh phúc hoà bình lại cho nước nhà và cho toàn thiên hạ”.

Huấn từ của Đức Thượng Sanh trong Lễ Khánh Thành “Vuông Rào Báo Quốc Từ” có nói: Trên vùng Thánh Ðịa nầy, hôm nay Ðời và Ðạo đã gặp nhau và thông cảm nhau trong dịp tỏ lòng tôn kính và sùng bái những nhơn vật trong hàng vương giả, đã lấy chủ nghĩa quốc gia dân tộc làm chuẩn đích, đem thân thế điểm tô cho non sông Việt chủng được vững bền trên cõi Á Ðông, lắm khi phải trọn đời hy sinh vì giống nòi Hồng Lạc.

Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ là một nền Quốc Ðạo được sáng trên đất Nam Phần Việt Nam, nơi mà tinh ba của đất nước đã nung đúc biết bao bậc anh phong chí sĩ, lẽ tất nhiên là Ðại Ðạo có phận sự bảo tồn quốc túy, giữ cho còn mãi những cái hay, cái đẹp riêng biệt của nước nhà hầu lưu truyền cho đời sau roi dấu.

Trong những cái hay, cái đẹp đó đáng treo gương nhất là tinh thần vị quốc xả thân dầu đến thác cũng không đổi dời tiết tháo. Vì muốn tôn thờ cái tinh thần vị quốc ái dân đó, Ðức Hộ Pháp mới có sáng kiến xây dựng ngôi Báo Quốc Từ để làm nơi hương hoả phụng tự cho các Ðấng Tiên Vương và các nhà tôn thất có dày công với Tổ Quốc Việt Nam. Cái sáng kiến của Ðức Hộ Pháp do nơi lòng ái quốc chơn chính của Ðức Ngài, đã làm cho toàn Ðạo vui lòng và mãn nguyện.

Ngày nay Hội Thánh tiếp tục gìn giữ dấu tích của Ðức Ngài và tô điểm cho nó còn vẻ uy nghiêm mãi mãi. Tuy nói rằng ngôi Báo Quốc Từ để tôn thờ những bậc vương giả hữu công với đất nước, nhưng nước Việt Nam đã thoát vòng lệ thuộc và chính thể hiện tại là chính thể Cộng Hoà thì từ đây ngôi miếu nầy sẽ dành chung để chiêm bái những vị lãnh đạo Quốc gia như Quốc Trưởng, Thủ Tướng chẳng hạn, đã hy sinh vì Tổ Quốc, đã có công đổi loạn ra trị, xây dựng thái bình cho nhơn sanh được hưởng an cư lạc nghiệp. Ðó là những đấng Phụ Mẫu chi dân thật xứng đáng những ân nhân ngàn đời của dân tộc Việt Nam vậy.

Ngài Bảo Thế Lê Thiện Phước trong dịp trùng tu xây hàng rào ngôi Báo Quốc Từ ngày 20 tháng 10 năm Bính Ngọ (Dl. 01/12/1966) có đọc bài Diễn Văn và được trích một đoạn như sau:

Để tô điểm cho Báo Quốc Từ được thêm vẻ tôn nghiêm, nhiều phần tử ưu tú trong vùng Long Hoa đã hoan hỷ chung lo xây dựng bức rào chung quanh ngôi thờ Tiền Nhân Vị Quốc Vong Thân. Ấy là một hành tàng đáng khen ngợi vầ phần vật chất và đáng chú ý về mặt tinh thần là ngộ khi quốc biến gia vong, chẳng luận là người thuộc giới Đạo hay Đời, phải đồng tình làm tròn bổn phận công dân đặng giải nguy cho dân tộc, cho thủy thổ. Chúng ta nên lưu ý rằng không phương mầu nào hơn phương pháp áp dụng đạo đức, nghĩa nhân để thức tỉnh thiên hạ quy về chánh pháp của Thiên Thượng thì dầu muốn dầu không khi “Thời lai vận khứ”, thanh bình sẽ phục hưng tạo lại một đời mới với dân mới trong an cư lạc nghiệp.

Mong thay!

Báo Quốc Từ ngui ngút khói hương,

Nghi thờ trên hết Tổ Hùng Vương.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

BÁO ỨNG

報 應

Báo: Trả lại. Ứng: Đáp lại.

Báo ứng là được đền trả lại những gì do chính mình đã gây tạo, như làm lành trả lành, làm ác trả ác.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Vì làm giàu với những hành động bất chánh nên họ vẫn cứ phập phồng lo sợ không biết cơ mưu sẽ bại lộ ngày nào. Ðó thiệt là “Thanh bần thường lạc, trược phú đa ưu”. Lại có câu “Hoạnh tài bất phú”, ham dụng của phi nghĩa rốt cuộc cũng không hưởng được bền lâu, phép nước dầu không trừng trị thì luật Trời cũng không thứ tha, thiện ác đều có sự báo ứng.

Lẽ báo ứng cao thâm huyền diệu,

Cho chúng sanh đặng hiểu răn mình.

(Giới Tâm Kinh).

Nếu chẳng định tâm lo xét quấy,

Nhãn tiền báo ứng dễ đâu sai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

BÁO ỨNG NHÃN TIỀN

報 應 眼 前

Báo ứng: Báo đáp trả lại. Nhãn tiền: Xảy ra trước mắt, xảy ra liền.

Báo ứng nhãn tiền là sự báo đáp trở lại liền trước mắt, không phải chờ đợi lâu.

Đó là báo ứng nhãn tiền,

Mau thì mình chịu lâu truyền cháu con.

(Kinh Sám Hối).

 

 

BÀO

1.- Bào là lấy cái bào (dụng cụ của thợ mộc) để làm cho phẳng, cho trơn tấm gỗ.

Như: Bào cây cột cho bóng, trơn, lưỡi bào bén, bộ ván ngựa bào thật phẳng.

Thợ hay dầu đủ sức tài,

Giũa đêm chẳng đủ, bào ngày không kham.

(Ngụ Đời).

2.- Bào là cái nhau ở trong bụng người đàn bà khi tượng thai, không dùng một mình.

Như: Bào thai, bào huynh, bào đệ, đồng bào.

Dầu lớn khôn tước cả quyền cao,

Cũng nhớ thuở thai bào công chín tháng.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Bào là cái bọt nước, hoặc cái bóng sáng, ý chỉ sự ngắn ngủi, hư ảo, không tồn tại bao lâu.

Như: mộng huyễn bào ảnh.

Xem: Bào ảnh.

Mộng huyễn bào ảnh đồ vi thị xuân,

Không sắc sắc không hà tu thậm dã.

(Tuý Sơn Vân Mộng).

4.- Bào là áo dài, tay rộng. Như: Cẩm bào, Chiến bào, người lên ngựa kẻ chia bào.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Anh (chỉ Quyền Giáo Tông) đã chán biết mỗi một sanh mạng của nó trong quân sĩ, nó phải cỗi áo cà sa mặc chiến bào đặng chuyển thế, gieo bảo sanh nhơn nghĩa đại đồng cho toàn nhơn loại.

Nghèo hèn đừng đổi lòng thành thật,

Mới đặng khi may mặc cẩm bào.

(Đạo Sử).

 

 

BÀO ẢNH

泡 影

Bào: Bọt nước, Ảnh: Cái bóng, cái hình.

Bào ảnh là cái bọt nước và cái bóng, là hai vật rất mong manh, dùng để chỉ sự hư ảo.

Kinh Kim Cang có câu: Nhất thiết hữu vi pháp như mộng huyễn, bào, ảnh như lộ diệc như điện ưng tác như thị quan 一 切 有 為 法 如 夢 幻 泡 影, 如 露 亦 如 電, 應 作 如 是 觀, nghĩa là các pháp hữu vi tức là việc đời như giấc chiêm bao, bọt nước và cái bóng, như giọt móc cũng như ánh sáng của chớp nhoáng thì hết thảy nên xem như vậy cả. Ý nói những sự hiện hữu trên cuộc đời này đều không được lâu bền.

Biết đời bào ảnh gìn thần sắc,

Biết kiếp vô thường giữ khí tinh.

(Thơ Cao Tiếp Đạo).

 

 

BÀO CHỮA

Bào chữa là dùng lý lẽ và chứng cớ để bênh vực cho việc gì đó đang bị lên án, hoặc cho một người nào đó phạm tội hình sự hay dân sự trước toà án.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Thầy có dạy về việc Ngài Ngô Minh Chiêu như sau: Rủi thay! Đau đớn thay! Buổi khảo nó phải bị tà quái áp chế nên phải mất ngôi, song Ta cũng còn thương yêu chẳng nỡ, nhưng mà có mặt chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, thì khó bề bào chữa đặng.

Như phải đáng bào chữa thì Khai Đạo phân giải giữa hội cho ra lẽ oan ưng, Hiệp Thiên Đài cho lịnh thì mới dâng nội vụ lên cho Hiến Đạo.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

BÀO HUYNH

胞 兄

Bào: Bọc nằm trong bụng của người đàn bà, chỉ sự ruột thịt. Huynh: Anh.

Bào huynh là anh ruột, tức người cùng nằm trong bụng bà mẹ như mình.

Bào huynh nay đã về quê cũ,

Một giấc nghìn thu dứt nợ trần.

(Thơ Hương Cường).

 

 

BÀO LẠC

炮 烙

Bào lạc là một thứ dụng cụ dùng để tra tấn tội nhơn rất ghê gớm. Sách Liệt Nữ Truyện chép: Một cột đồng dựng đứng có bôi mỡ, bên trong đốt than cháy đỏ rực. Tội nhân bị cột vào trụ đồng cho đến chết cháy như quay.

Hình phạt này có vào thời nhà Thương do Trụ Vương nghĩ ra. Lúc ấy, Trụ vương nghe lời Đắc Kỷ bày ra hình Bào lạc để giết hại người tôi trung. Hình bào lạc này được chế ra để xử Bà Khương Hoàng Hậu.

Trong bài kinh Sám Hối cho biết, dưới Diêm Đình cũng có dùng hình phạt “Bào lạc” để xử những tội hồn khi còn ở nơi dương thế tánh tình hung bạo đốt nhà người hay săn bắn loài chim thú.

Hình Bào lạc cột đồng vòi vọi,

Đốt lửa hồng ánh giọi chói loà.

(Kinh Sám Hối).

 

 

BẢO

1.- Bảo, có khi đọc “Biểu”, là chỉ truyền, tức nói với người dưới hay người ngang hàng. Như: Bảo sao nghe vậy, Ai không đi thì bảo, ai bảo anh thế?

Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy Ngài Thượng Trung Nhựt có câu: Thầy đã có sai chư Thần mách bảo với con đã lâu, trí thiêng liêng đem đàng dắt bước con đặng độ dẫn sanh linh cho kịp thì giờ trong buổi chung cuộc của con.

Rồi lựa thứ vật chơi con hảo,

Giả như tuồng khuyên bảo đem cho.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Bảo là giữ gìn, không dùng một mình. Như: Bảo dưỡng, bảo chứng, bảo hộ, bảo sanh.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Cần nhứt là chúng ta nên lưu tâm sự nhận định tình thế của Ðạo chẳng căn cứ theo bề ngoài mà phải căn cứ theo tinh thần thiệt mặt của Ðạo là cái căn bản của Ðạo Ðức Vô Hình đã được un đúc từ buổi ban sơ, và nhờ thế Thánh Thể nơi mặt thế của Ðức Chí Tôn mới cảm hoá nhơn tâm và bảo tồn nghiệp Ðạo.

Thiện tâm minh đạo đắc chơn truyền,

Bảo mạng trì thiên tắc đắc viên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chánh giáo bảo tồn thất ức niên,

Nhờ nơi luật pháp hiệp chơn truyền.

(Thơ Huệ Giác).

3.- Bảo , còn đọc là “Bửu”, là quý báu. Như: Tam bảo, bảo kiếm, bảo vật.

Theo Phật giáo, tất cả các vị Phật là Phật bảo, Giáo pháp của Phật là Pháp bảo, những người theo Phật tu là Tăng bảo.

Đối với Cao Đài, Tam bảo là Phật, Pháp, Tăng như lời Thánh giáo của Đức Chí Tôn dã dạy: Thầy khai Bát Quái Đài mà tác thành Càn Khôn Thế Giái, nên gọi là Pháp, Pháp có mới sanh ra Càn Khôn Vạn Vật rồi mới có người nên gọi là Tăng.

Thầy là Phật chủ tể cả Pháp và Tăng, lập thành các Đạo mà phục hồi các con hiệp một cùng Thầy ".

Xem: Bửu.

Quy y Tam bảo lòng thanh tịnh,

Chứng ngộ nhiệm mầu cảnh giới phăng.

(Thơ Thanh Hương).

 

 

BẢO AN

保 安

Bảo: Giữ gìn, che chở. An: Yên ổn.

Bảo an là giữ gìn cho yên ổn, an toàn.

Thánh giáo Quyền Giáo Tông có câu: Mấy em lấy chánh sách ôn nhu mà đối đãi với kẻ nghịch thù thì quyết thắng họ đặng. Qua cậy mấy em tha thứ lỗi của kẻ nghịch Qua, nhưng liệu phương bảo an Hội Thánh mà thôi.

Đắc truyền Khai Đạo Tam Kỳ,

Bảo an Toà Thánh đến kỳ cửu niên.

(Văn Tế Quyền Giáo Tông).

Đạo Cao Đài Nho Tông chuyển thế,

Giữ chơn truyền làm kế bảo an.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

BẢO BỌC

Bảo: Gìn giữ cho đừng hư, mất. Bọc: Đùm kín, gói kín, bao kín để che giữ.

Bảo bọc là che chở, bao bọc, nuôi nấng, tức có những việc làm hỗ trợ người già, nhỏ, yếu đuối, hay tật nguyền.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Trong nước trên thương dưới, dưới kính trên, vắng trộm cướp, khỏi luật hình, vì quốc dân đặng bảo bọc giúp đỡ cho có nghề sanh nhai.

Xúm nhau bảo bọc cầu sinh,

Nhưng rồi chết hết để mình bơ vơ...

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

BẢO CÔ

保 孤

Bảo: Giữ gìn, che chở. Cô: Mồ côi.

Bảo cô giữ gìn trẻ mồ côi, hay giúp đỡ, bảo dưỡng người neo đơn.

Từ ái biến thành cơ cứu khổ,

Bảo cô an định pháp sanh tồn.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

BẢO DƯỠNG

保 養

Bảo: Giữ gìn, che chở. Dưỡng: Nuôi nấng.

Bảo dưỡng là chăm nom và nuôi nấng cha mẹ hay người già cả, tàn tật.

Bảo dưỡng còn có nghĩa là trông nom, giữ gìn và sửa chữa thường xuyên, như bảo dưỡng xe cộ, máy móc.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Tuy vân, lúc nọ mấy em có phương thế lắm mà mấy em chỉ có tâm vị kỷ, trót năm năm, Qua đi vắng đến khi Qua trở về, Qua còn thấy có kẻ đói không ai nuôi, rách rưới không ai bảo dưỡng, thất lạc nơi nầy nơi khác, đoàn em Qua gởi gấm đã xiêu lạc, thủ phận Ðạo không được, nên phải tìm đôi bạn sống theo Ðời, vì nếu ở thủ phận theo Ðạo thì cũng chẳng ai nuôi.

Phước Thiện bảo dưỡng khắp nơi,

Phước Thiện lập để cứu đời chúng sanh.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

BẢO ĐẢM

保 擔

Bảo: Giữ gìn, gánh trách nhiệm. Đảm: Nhận gánh lấy trách nhiệm.

Bảo đảm là nhận gánh vác một việc gì. Bảo đảm còn có nghĩa là bảo lãnh và đảm nhận.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có đoạn: Còn mang lấy xác thân là còn trách nhiệm cho đến ngày thở hơi cuối cùng. Phải tự nuôi tâm chí cho cao thượng, tự bảo đảm cái trách nhậm ấy đặng tự tạo con đường “sống còn” hầu giải thoát cho những kẻ đương “sống mất”.

Tự tín là gì? Là mình tin nơi sở sanh của mình có thể bảo đảm được sanh mạng cho mình.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

BẢO ĐẠO

保 道

Hay “Bảo Đạo Chơn Quân

Bảo Đạo là một phẩm chức sắc trong Thập Nhị Thời Quân, thuộc chi Đạo Hiệp Thiên Đài, dưới quyền trực tiếp của Đức Thượng Phẩm.

Bảo Đạo Chơn Quân 保 道 真 君 là một vị chức sắc Đại Thiên phong thuộc chi Đạo Hiệp Thiên Đài được Đức Chí Tôn phong cho Ngài Ca Minh Chương.

Theo Hiến pháp Hiệp Thiên Đài, Bảo Đạo là người có trách nhiệm bảo tồn luật Đạo, bảo hộ những điều cần ích cho Đạo đã ra mặt luật.

Ngoài ra, Pháp Chánh Truyền chú giải cũng có quy định: Khi tiếp cáo trạng các vụ án do Hiến Đạo dâng lên, Bảo Đạo phải gìn giữ bí mật ấy cho kín nhiệm, làm tờ lý đoán binh vực chiếu y luật Đạo rồi dâng lên cho Thượng Phẩm, đặng người lo phương bào chữa. Bảo Đạo là Đầu Phòng Văn của Thượng Phẩm.

Đạo phục của Ngài Bảo Đạo Chơn Quân theo Pháp Chánh Truyền quy định gồm có hai bộ:

Bộ Đại phục của Bảo Đạo toàn trắng, cổ trịch, viền kim tuyến bạc, đầu đội mão Nhựt Nguyệt mạo màu trắng, lưng đeo dây sắc lịnh, thả mối bên hong mặt (thuộc Đạo), chân đi giầy vô ưu trắng.

Bộ Tiểu phục cũng toàn hàng trắng, lưng mang dây sắc lịnh y như Đại phục, đầu đội Hỗn Nguơn mạo, trên mão có Long Tu Phiến và Phất Chủ (Cổ pháp Thượng Phẩm), chân đi giầy vô ưu màu trắng.

Bảo Đạo Hiệp Thiên Đài được Đức Chí Tôn phong cho Ngài Ca Minh Chương trong đàn cơ ngày 13 tháng 02 năm 1927 tại chùa Gò Kén.

Ngài Ca Minh Chương sinh năm 1850 (Canh Tuất), tại ấp Thanh Ba, làng Mỹ Lộc Tây, tổng Phước Điền Trung, quận Cần Giuộc, trong một gia đình theo Nho giáo. Hiền nội của Ngài là bà Phạm Thị Kế, sinh 1860, ông bà chỉ sinh được đứa con gái là Ca Thị Thế.

Ngài được dân làng cử lên làm chức Hương Bộ làng Mỹ Lộc, sau một thời gian làm việc, Ngài xin nghỉ để theo nghề dạy học.

Vào ngày 21 tháng 2 năm Bính Dần (Dl. 3/4/1926), Ngài Ca Minh Chương được người giới thiệu đến hầu đàn tại Vĩnh Nguyên Tự, Đức Chí Tôn ban cho Ngài một bài thi và thâu nhận làm môn đệ.

Thế thượng hề vô bá tuế nhân,

Thất tuần dĩ định vấn thời quân.

Ưu tư mạc vọng thường vô lộ,

Nghiệp trái tùy căn định số phần.

Khi ngộ Đạo rồi, Ngài Ca Minh Chương cùng với Ngài Phạm Văn Tươi được phân công phò loan tại đàn cơ ở Tân Kim quận Cần Giuộc, thuộc nhà ông Cựu Hội Đồng Nguyễn Văn Lai, để dân chúng đến hầu đàn nhập môn cầu Đạo.

Theo Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đàn cơ lập Tịch đạo Nữ phái tại Chùa Gò Kén ngày 14 tháng 10 năm Bính Dần (Dl. 18/11/1926), Đức Chí Tôn giáng cơ cho bài thi tịch đạo rồi phong cho các vị nữ phái đầu tiên sau đây:

“Lâm thị: phong vi Giáo Sư, lấy Thiên ân Hương Thanh.

Ca thị: phong vi Phó Giáo Sư, lấy Thiên ân Hương Thế.

Ðường thị: đã thọ mạng Thiên sai, cứ giữ địa vị mình.

Còn cả chư ái nữ, Thầy sẽ lập đại hội cho đủ mấy vị rồi sẽ phong sắc một lần”.

Như vậy, trong đàn cơ nầy Đức Chí Tôn đã phong cho con gái Ngài Ca Minh Chương là Bà Ca Thị Thế vào phẩm Phó Giáo Sư (tức Giáo Hữu), thiên ân là Hương Thế cùng lượt với Bà Lâm Thị Thanh phẩm Giáo Sư.

Ngài Ca Minh Chương được Đức Chí Tôn phong vào chức Bảo Đạo Hiệp Thiên Đài trong đàn cơ lập Pháp Chánh Truyền Hiệp Thiên Đài vào ngày 12 tháng 1 năm Đinh Mão (Dl. 13/2/1927).

Trong thời gian hành Đạo, hoàn cảnh gia đình Ngài lâm vào cảnh bi đát: Ngài thì bị bịnh, vợ cũng mang bịnh, và con Ngài bị bịnh điên nên Đức Chí Tôn có giáng cơ cho bài thi an ủi Ngài như sau:

Thấy con gia đạo tợ tơ cuồn,

Chạnh đến lòng Thầy dạ ướm tuôn.

Ngặt nỗi vợ nhà đau dã dượi,

Khật khùng con trẻ nói luông tuồng.

Khiến nên mai đảnh khơi màu trắng,

Cho đến tòng lâm trổ sắc buồn.

Công quả đã đành công quả đủ,

Nay đem ba kiếp dập dồn luôn.

Theo ý nghĩa bài thi trên, Đức Chí Tôn cho biết vì thương tình người có căn tu, nên cho Ngài nhồi ba kiếp để Ngài trả hết nợ tiền khiên trong một kiếp nầy.

Ngài Ca Minh Chương là một vị Thời Quân lớn tuổi nhứt trong Thập Nhị Thời Quân. Vì vậy, Ngài chỉ hành Đạo gần ba năm thì mất vào ngày 19 tháng 10 năm Mậu Thìn (Dl. 30/11/1928), hưởng thọ 79 tuổi.

Lễ tang của Ngài được Đức Chí Tôn giáng cơ vào ngày 19 tháng 10 năm Mậu Thìn, dạy Hộ Pháp phải làm trọng thể giống như đám tang của Ngài Chưởng Pháp Trần Văn Thụ. Đoạn Thánh giáo dạy như sau:

Tắc! Phải biểu Cư xuống cho kịp đặng làm lễ y như lời Thầy dạy đám táng của Thụ, nhớ đừng bỏ nữa nghe!

Thầy cũng nhắc lại với con rằng: Ðủ ba năm phải thiêu hài cốt, lên tượng đặng đem nó vào Bát Quái Ðài nghe!

Nơi mộ nó phải để quan tài khỏi mặt đất một tấc mà đắp xây tháp y như lời Thầy đã dặn. Trên mặt tháp để chữ vàng: "Bảo Ðạo Chơn Quân" nhớ à!

1.- Bảo Đạo:

Cảnh trần ai đã tạo Thiên đàng,

Bảo Đạo Minh Chương tiếp lấy phan.

(Thơ Hộ Pháp).

Kỷ niệm hôm nay cảm mấy vần,

Xưa Ca Bảo Đạo đắc Thiên ân.

(Cội Đạo Bốn Mùa).

2.- Bảo Đạo Chơn Quân:

Bảo người ở thế gắng công tu,

Đạo đức cao thâm vẹt ngút mù.

Chơn chất thành tâm thì biện bạch,

Quân năng ưu Đạo lập công phu.

(Thánh Giáo Minh Thiện).

 

 

BẢO HỌC QUÂN

保 學 君

Bảo Học Quân, là một phẩm chức sắc trong Thập Nhị Bảo Quân của Hiệp Thiên Đài, có nhiệm vụ lo về việc tổ chức, xây dựng nền giáo dục trong tôn giáo, như giáo dục về giáo lý, đạo đức, giáo dục về văn hoá, xã hội, giáo dục về khoa học lịch sử...

Bảo Học Quân đối phẩm với Phối Sư bên Cửu Trùng Đài, theo tài liệu huấn luyện Giáo Hữu 1972, Thập Nhị Bảo Quân là hội đồng khoa học thuộc chi Thế Hiệp Thiên Đài.

Theo Đức Hộ Pháp, toàn thể Bảo Quân là Hàn Lâm Viện. Mỗi vị có sở thức sở năng, ấy là điều khác nhau đặc biệt, tỷ như Bảo Huyền Linh Quân, nghĩa là Thần linh hồn, khác với Bảo Học Quân thuộc về khoa học hay là thực tế học.

Như vậy, Hàn Lâm Viện Cao Đài là một cơ quan đặc biệt nằm ngoài Cửu Trùng Đài và Hiệp Thiên Đài, gồm mười hai Viện sĩ gọi là Thập Nhị Bảo Quân, mỗi vị chuyên môn một ngành, được kể theo Lời Phê Đức Hộ Pháp như sau:

 

1.- Bảo Huyền Linh Quân.

 

2.- Bảo Thiên Văn Quân.

 

3.- Bảo Địa Lý Quân.

 

4.- Bảo Học Quân.

 

5.- Bảo Cô Quân.

 

6.- Bảo Sanh Quân.

 

7.- Bảo Phong Hoá Quân.

 

8.- Bảo Văn Pháp Quân.

 

9.- Bảo Y Quân.

 

10.- Bảo Nông Quân.

 

11.- Bảo Công Quân.

 

12.- Bảo Thương Quân.

Nhưng theo Ngài Khai Pháp, trong quyển Chánh Trị Đạo, thì vị Bảo Phong Hoá Quân được thế là Bảo Sĩ Quân.

Vậy Bảo Học Quân là một trong Thập Nhị Bảo Quân dưới quyền chỉ huy của Giáo Tông và Hộ Pháp, được Đức Hộ Pháp phong cho Ngài Nguyễn Văn Lộc trong Đàn cơ vào năm 1972.

Nguyễn Văn Lộc sinh năm 1922 tại làng Long Châu, quận Châu Thành, Vĩnh Long, hiện nay là Thành Phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

Hồi năm 1945, Ngài đã tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp. Sau đó, Ngài từ bỏ kháng chiến, trở về Sài Gòn hành nghề xuất bản và ấn loát. Vào những năm 1948- 1949, Ngài làm giám đốc nhà xuất bản Sống Chung và cũng trong những năm nầy, Ngài lấy bút danh là Sơn Khanh, Nguyễn Tử Việt, Ngài có viết và xuất bản nhiều tác phẩm như Giai Cấp (1949), Tàn Binh (1949), Loạn (1949), và tuyển tập thơ "Mùa giải phóng" có nội dung chống thực dân Pháp. trong vùng kháng chiến.

Đến năm 1950, được dịp sang Pháp du học, Ngài Nguyễn Văn Lộc đỗ cử nhân Luật tại Đại Học Montpellier (Pháp) vào năm 1954 và cao học hình luật tại Đại học Paris (Pháp) năm 1964.

Khi trở về nước Ngài tham gia làm luật sư nhiều năm tại Toà thượng thẩm Sài Gòn. Cho đến năm 1964, Ngài được bầu làm Chủ tịch Hội Đồng Dân Quân, là cơ quan lập pháp.

Đến Tháng 11 năm 1967, Ngài được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu chỉ định vào chức Thủ tướng đầu tiên của nền đệ nhị Việt Nam Cộng Hoà. Sau biến cố tết Mậu Thân 1968, Ngài bị buộc phải từ nhiệm chức Thủ tướng.

Kể từ đây, Ngài không tham gia làm chính trị nữa mà chuyển sang dạy học. Trong khoảng thời gian từ năm 1969 đến năm 1970, Ngài là giáo sư Đại Học Hoà Hảo ở An Giang.

Khi đạo Cao Đài thành lập Viện Đại Học ngày 17 tháng 4 năm 1973, Ngài được Hội Thánh Cao Đài bổ nhiệm làm Viện trưởng Viện Đại Học Cao Đài Tây Ninh trong hai năm liền từ 1971-1972.

Ngài Nguyễn Văn Lộc nhập môn vào đạo Cao Đài và xin tình nguyện phục vụ cho Đạo.

Trong Đàn cơ tại Giáo Tông Đường, ngày 23 tháng 9 năm Tân Hợi (Dl. 10/11/1971). Phò loan: Hiến Pháp - Khai Đạo. Hồi 20 giờ. Hầu đàn: Bảo Đạo, Đầu Sư, chư Chức sắc Hiệp Thiên Đài. Hầu bút: Truyền Trạng Lê Minh Khuyên.

Ngài Bảo Đạo bạch với Đức Hộ Pháp: Vị Cựu Thủ Tướng Nguyễn Văn Lộc hiện là Trạng Sư Toà Thượng Thẩm Sài Gòn có dâng tờ tình nguyện phục vụ cho Đạo. Hội Thánh Hiệp Thiên Đài cầu xin Đức Ngài thẩm định.

Hộ Pháp giáng dạy: Một điều đáng mừng cho Đạo. Người ấy đáng mặt làm nha trảo sẽ giúp hay nhiều việc. Bần đạo có ý định cho vào Thập Nhị Bảo Quân như Bảo Sanh Quân vậy, nhưng vai trò phải khác, chừng ra Cung Đạo sẽ phong chức trước sự hiện diện của Hội Thánh. Nhớ đưa hồ sơ ra Cung Đạo và phải có mặt vị nguyên thủ Lộc. Có thể mời trước để kiến diện Bần đạo và có lời khuyến khích, nhứt là cho có đủ ngày giờ sắm Đạo phục Bảo Quân như của Bảo Sanh Quân.

Đến đêm 15 tháng 11 năm Tân Hợi (Dl. 1/1/1972), hồi 20 giờ, tại Cung Đạo Đền Thánh, phò loan: Hiến Pháp - Khai Đạo. Hầu đàn: Bảo Đạo, Hiến Đạo, Đầu Sư, chư Chức sắc Hiệp Thiên Đài, Cửu Trùng Đài, Phước Thiện và toàn đạo nam nữ. Hầu bút: Truyền Trạng Lê Minh Khuyên, Giáo Hữu Thượng Tám Thanh.

Ngài Hiến Đạo bạch: Cầu xin Đức Ngài phong vị chính thức cho 3 vị Bảo Quân.

Đọc danh sách:

- Trương Kế An, đắc phong Bảo Y Quân.

- NGUYỄN VĂN LỘC, đắc phong BẢO HỌC QUÂN.

- Đặng Văn Dắn, đắc phong Bảo Nông Quân.

Ngài Hiến Đạo bạch: Cầu xin Đức Ngài chỉ giáo về sự đối phẩm và tiểu phục của chư vị Bảo Quân.

Đối phẩm Phối Sư. Tiểu phục cũng sửa lại còn một Thiên Nhãn như Hộ Đàn.

Ngài Hiến Đạo bạch: Xin Đức Ngài chỉ định chư vị Bảo Quân đứng cúng chỗ nào?

Bảo Quân đứng hai bên tả hữu dưới cấp bực của Hiệp Thiên, như có một thì đứng bên chi Thế.

Như vậy, Đạo phục của Bảo Học Quân vẫn có hai bộ:

Đại phục: Áo tràng trắng như Thời Quân, đội Nhựt Nguyệt Mạo, giống như các chức sắc Hiệp Thiên Đài, ngay giữa mão, có thêu một Thiên nhãn Thầy.

Tiểu phục như Hộ Đàn Pháp Quân, nghĩa là áo tràng trắng, đầu đội mão Tam Quang không có thêu, nhưng có một Thiên nhãn ngay giữa.

Chơn đi giày Vô ưu cũng bằng hàng trắng.

Năm 1984, Ngài Bảo Học Quân Nguyễn Văn Lộc sang định cư tại Houston, nước Mỹ, sau đó Ngài quyết định sang Pháp an dưỡng tuổi già. Cho đến ngày 31 tháng 05 năm 1992 (Nhâm Thân) Ngài đăng Tiên tại Thành Phố PARI Pháp. Hưởng Thọ 70 tuổi.

Nói về công nghiệp của Bảo Học Quân Nguyễn Văn Lộc, nhân ngày bác sĩ Lê Văn Hoạch, Bảo Sanh Quân Hiệp Thiên Đài nhận chức viện trưởng, Ngài Thời Quân Khai Đạo, Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị Viện Đại Học Cao Đài đã cho biết như sau:

Suốt gần hai niên khoá 1971 - 1972 và 1972-1973 với tư cách quyền viện trưởng tôi xin xác nhận thành quả tốt đẹp của viện, một phần lớn công do Luật Sư Nguyễn Văn Lộc, Bảo Học Quân, nhị vị khoa trưởng là tiến sĩ Lê Trọng Vinh và kỹ sư Đoàn Minh Quang đảm nhiệm điều hành giảng huấn….

Bảo Sanh Quân cũng có công việc từ thiện Phạm Môn. Bảo Y Quân cũng có nhiệm vụ từ thiện. Bảo Học Quân thì trùm hết. Bảo Nông Quân thì vai chánh về lương điền công nghệ và luôn cả công thương, nên mới có sự liên hệ với nhau.

(Thánh Giáo Hộ Pháp).

 

 

BẢO HỘ

保 護

Bảo: Giữ gìn. Hộ: Giúp đỡ.

1.- Bảo hộ là nước mạnh đánh chiếm nước yếu, lấy cớ là để bảo hộ.

Như: Việt Nam chịu ách bảo hộ của Pháp.

Vậy Thầy nhờ con truyền bá Giáo lý nầy cho dân tộc đặt dưới quyền bảo hộ của con.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

2.- Ngoài ra, Bảo hộ còn có nghĩa là che chở, giữ gìn giúp đỡ không để bị hư hỏng, tổn thất.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Thánh giáo Đức Chi Tôn có câu: Lo bảo hộ Luật đời và Luật Ðạo, chẳng ai qua Luật mà Hiệp Thiên Ðài chẳng biết.

Ở ngay thẳng Thần minh bảo hộ,

Nết xéo xiên gặp chỗ rạc tù.

(Kinh Sám Hối).

Phước Thiện bảo hộ người cùng,

Việt Nam làm chủ vẫy vùng tự do.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

BẢO LÃNH

Hay “Bảo lĩnh”.

Bảo: Gánh trách nhiệm. Lãnh (lĩnh): Nhận lấy.

Bảo lãnh, như chữ “Bảo lĩnh 保 領”, là bảo đảm người khác thực hiện một nghĩa vụ và chịu trách nhiệm nếu người đó không thực hiện.

Bảo lãnh đồng nghĩa với chữ “Bảo đảm 保 膽”.

Thầy bảo lãnh các con, un đúc chí Thánh của các con, đã mãn kỳ, phải giao lại cho Toà Tam Giáo được phép lấy mực công bình mà chuẩn phê các cử chỉ của mỗi đứa.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

BẢO PHÁP

保 法

Hay “Bảo Pháp Chơn Quân”.

Bảo Pháp là một phẩm chức sắc trong Thập Nhị Thời Quân, thuộc chi Pháp Hiệp Thiên Đài, dưới quyền trực tiếp của Đức Hộ Pháp.

Bảo Pháp Chơn Quân 保 法 真 君 là một vị chức sắc Đại Thiên phong thuộc Chi Pháp Hiệp Thiên Đài được Đức Chí Tôn phong cho Ngài Nguyễn Trung Hậu.

Theo Hiến pháp Hiệp Thiên Đài, Bảo Pháp là người có trách nhiệm bảo tồn luật pháp của Đạo, bảo hộ không cho ai phạm đến những điều luật nào đã thành mặt luật. Ngoài ra, Pháp Chánh Truyền chú giải cũng có quy định: Khi tiếp nhận giấy tờ do Hiến Pháp dâng lên, Bảo Pháp phải gìn giữ bí mật, kín nhiệm, làm tờ xét và định án chiếu y theo luật Đạo, rồi dâng lên cho Hộ Pháp đặng Người phân xử.

Đạo phục của Ngài Bảo Pháp Chơn Quân theo Pháp Chánh Truyền quy định gồm có hai bộ:

Áo Đại phục của Bảo Pháp toàn hàng trắng, cổ trịch, viền kim tuyến bạc, đầu đội mão Nhựt Nguyệt mạo màu trắng, lưng đeo dây sắc lịnh, thả mối ngay giữa bụng (Thuộc Pháp), chân đi giầy vô ưu trắng.

Áo Tiểu phục cũng toàn hàng trắng, lưng mang dây sắc lịnh y như Đại phục, đầu đội Hỗn Nguơn mạo, trên mão có để cổ pháp Hộ Pháp (Xuân Thu, Phất chủ, và Bát Vu), chân đi giầy vô ưu màu trắng.

Bảo Pháp Hiệp Thiên Đài được Đức Chí Tôn phong cho Ngài Nguyễn Trung Hậu trong đàn cơ ngày 12 tháng 01 năm Đinh Mão (Dl. 13-2 1927) tại chùa Gò Kén.

Ngài Nguyễn Trung Hậu, tên thật là Nguyễn Văn Hậu, sanh ngày 05 tháng 03 năm Nhâm Thìn (Dl. 01-4- 1892) tại làng Bình Hoà, tỉnh Gia Định. Thân phụ là cụ Nguyễn Phục Lễ, là Đông Y Sĩ và thân mẫu là cụ bà Lê Thị Cơ, người thuộc tỉnh Bình Định.

Hiền nội của Ngài Nguyễn Trung Hậu là bà Diệp Thị Nguy, quy vị vào cuối năm Nhâm Thìn, 1953. Hai Ông Bà có tám người con, gồm 5 trai 3 gái.

Ngài tốt nghiệp trường Sư Phạm Gia Định, được bổ làm giáo viên tại một trường Tiểu Học ở đường Tabert, khi trường nầy bị bãi bỏ, sau đổi Ngài về dạy trường Tiểu Học ở đường Richaud.

Năm 1919, Ngài làm thư ký cho ông Giám Đốc các trường Tiểu Học Sài gòn.

Năm 1922, Ngài xin nghỉ làm thư ký để làm Giám Đốc Tư Thục Internat de Dakao ở đường D’Ariès, nay là Huỳnh Khương Ninh.

Ngài Nguyễn Trung Hậu là một thi sĩ có tiếng tăm đã tham gia vào Ngưu Giang Thi Xã vào các năm 1918-1920. Ngài lấy bút hiệu là Thuần Đức.

Năm 1925, Nguyễn Trung Hậu nghe đồn tại nhà Cao Quỳnh Cư ở số 134 Bourdais (nay là đường Calmette), có một nhóm người xây bàn thỉnh vong, trong đó có các Đấng Thiêng liêng thường về cho thi hay lắm, Ngài bèn tìm tới ý muốn thử xem thiệt giả.

Đến nơi Ngài xin hầu Đàn, Đấng A Ă Â bèn gõ Bàn cho bài thi tứ tuyệt nói về Ngài như sau:

Thuần văn chất Ðức tài cao,

Tên tuổi làng thơ đã đứng vào.

Non nước muốn nêu danh tuấn kiệt,

Ðến hồi búa Việt giục cờ Mao.

Khi tiếp nhận được bài thi, Ngài Nguyễn Trung Hậu rất thán phục và tin tưởng, vì ở đây không ai biết bút hiệu của Ngài là Thuần Đức, cho nên sau đó Ngài xin nhập môn cầu Đạo.

Đến năm 1926, Ngài giao trường Internat de Dakao lại cho ông Huỳnh Khương Ninh, rồi gia nhập vào đạo Cao Đài.

Kể từ đó Ngài dạy Pháp văn cho các trường Hưng Việt, Nguyễn Anh Bổn, Nguyễn Du và tham gia viết cho các báo như Đuốc Nhà Nam, Hoàn Cầu, Tân Văn, rồi sau đó làm chủ bút tạp chí La Revue Caodaiste để truyền bá giáo lý của Đạo Cao Đài cho người ngoại quốc.

Ngài Nguyễn Trung Hậu được Đức Chí Tôn nhận làm một trong mười hai vị môn đệ đầu tiên, có nêu tên trong một bài thi tứ tuyệt như sau:

Chiêu Kỳ Trung độ dẫn Hoài sanh,

Bản đạo khai Sang Quý Giảng thành.

Hậu Ðức Tắc Cư Thiên Ðịa cảnh,

Hườn Minh Mân đáo thủ đài danh.

Đến đêm 30 tháng chạp năm Ất Sửu (dl 12-2-1926), Đấng Thượng Đế giáng cơ cho mỗi người đệ tử đầu tiên một bài thi, trong đó bài thi của Ngài Bảo Pháp Chơn Quân như sau:

Thuần phong mỹ tục giáo nhơn sanh,

Đức hóa thường lao mạc vị danh.

Hậu thế lưu truyền gia pháp quý,

Giáo dân bất lậu, tán thời manh.

Trong quyển Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, trong Đàn cơ ngày 24 tháng 6 năm 1926, Đức Chí Tôn có ban cho Ngài một bài thi sau:

Đã có căn phần dựa cảnh Tiên,

Bước đời chớ quản bậc sang hèn.

Mưa mai nắng xế chờ qua khỏi,

Đêm tối lần ra gặp ánh đèn.

Ngày 15 tháng 3 năm Bính Dần (Dl. 26/04/1926), Đức Chí Tôn phong Ngài Nguyễn Trung Hậu làm Tiên Đạo Phò Cơ Đạo Sĩ.

Đến ngày 12 tháng 01 năm Đinh Mão (Dl. 13-02-1927), Đức Chí Tôn lập Pháp Chánh Truyền Hiệp Thiên Đài và phong Ngài Nguyễn Trung Hậu vào phẩm Bảo Pháp Hiệp Thiên Đài.

Ngày 07 tháng 03 năm Quý Dậu (Dl. 01-04-1933), Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu được cử tạm quyền Thái Chưởng Pháp, Bảo Thế Lê Thiện Phước cử tạm quyền Thượng Chưởng Pháp và Hiến Đạo Phạm Văn Tươi cử tạm quyền Ngọc Chưởng Pháp do Châu Trí số 1 của Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung và Đức Hộ Pháp ký.

Ngày 15 tháng 4 năm Đinh Dậu (Dl. 14-05-1957), Ngài được Hội Thánh cử làm Giám Đốc Hạnh Đường, huấn luyện chức sắc.

Ngài Bảo Pháp có cảm tác bài thi để kỷ niệm:

Hội Thánh giao cai quản Hạnh đường,

Ân cần lo lập kỷ trần cương.

Giúp người tâm chí hành Thiên mạng,

Tuyển bực nhân hiền trấn tứ phương.

Học hỏi khép vào khuôn Đạo lý,

Lọc lừa mở rộng cửa khoa trường.

Góp phần xây dựng trong muôn một,

Khó vẫn không nao, nhọc chả màng.

Trong Đàn cơ tại Giáo Tông Đường, lúc 20 giờ, ngày 29 tháng 9 năm Đinh Dậu (Dl. 20/11/1957), phò loan: Thượng Sanh và Bảo Pháp, Đức Quyền Giáo Tông giáng cơ hoạ lại bài của Ngài Bảo Pháp như sau:

Học vấn từ đây Đạo mở đường,

Luyện trau Chức sắc kỷ hoà cương.

Quyền đời hóa chúng còn phô đức,

Cửa Thánh độ người há kém phương.

Giáo lý dồi dào nung khách trí,

Nho phong nhuần gội vững can trường.

Lập công đem đổi nên Thiên vị,

Đèn sách bền theo nhọc chớ màng.

Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu có viết và xuất bản nhiều sách Đạo như: Luận Đạo Vấn Đáp (1927), Tiên Thiên Tiểu Học (1927), Châu Thân Giải, Ăn Chay, Đức Tin, Chơn Lý (1928), Đại Đạo Căn Nguyên (1930), Thiên Đạo (Viết chung với Phan Trường Mạnh 1955), Luân Hồi Quả Báo (Viết chung với Ngài Khai Đạo Phạm Tấn Đãi 1956)...

Do viết rất nhiều sách, Ngài sợ có khuyết điểm gì chăng, nên trong một Đàn cơ ngày 10 tháng 4 năm Đinh Mão (Dl. 10/5/1927) Ngài cầu hỏi Đức Chí Tôn.

Đức Chí Tôn giáng cơ đáp: Hậu, sách con làm ra đều có giá trị là nhờ có Thầy giáng tâm con. Con sợ sai lầm cũng phải, nhưng về sự sai siển, dầu bậc Thánh xưa làm sách cũng còn nhiều chỗ khuyết điểm.

Vậy con cứ an lòng mà làm ích thêm nữa. Thầy hằng ở bên con mà dìu dắt cho trí hóa rộng thêm, nghe con.

Ngoài việc làm thi và soạn sách giáo lý, Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu tuy tự học về chữ Nho, nhưng Ngài còn có tài về soạn liễn đối, chính Ngài đã đặt ra đôi liễn trên Thuyền Bát Nhã như sau:

Vạn sự viết vô, nhục thể ký quy Tam xích thổ.

萬 事 曰 無 肉 體 旣 歸 三 尺 土

Thiên niên tự hữu, linh hồn trực đáo Cửu trùng thiên.

千 年 自 有 靈 魂 直 到 九 重 天

Nghĩa là:

Muôn việc đều không, xác thể đã về ba tấc đất.

Ngàn năm tự có, linh hồn vượt thẳng chín tầng trời.

Hai câu liễn của Ngài được Hội Thánh dâng lên Đức Lý Giáo Tông thì Đức Lý chỉnh lại phần cuối câu như sau:

Vạn sự viết vô, nhục thể thổ sanh hoàn tại thổ.

萬 事 曰 無 肉 體 土 生 還 在 土

Thiên niên tự hữu, linh hồn thiên tứ phản hồi thiên.

千 年 自 有 靈 魂 天 賜 反 囬 天

Nghĩa là:

Muôn việc đều không, xác thể đất sanh hườn lại đất.

Ngàn năm tự có, linh hồn trời ban trở về trời.

Ngài Bảo Pháp hành Đạo tại Toà Thánh cho đển cuối năm 1958, do tuổi già sức khỏe yếu dần, lại thường hay bị áp huyết cao, Ngài Bảo Pháp phải xin phép lui về dưỡng bịnh tại tư gia ở đường Ngô Tùng Châu, Gia Định.

Đến ngày 7 tháng 9 năm Tân Sửu (Dl. 16/10/1961), Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu đăng Tiên lúc 16 giờ 50 phút, hưởng thọ 70 tuổi. Linh cữu được an táng tại nghĩa trang gia đình ở Gia Định.

Vào năm 1974, tức là 13 năm sau, các con Ngài làm đơn dâng lên Hội Thánh xin cải táng hài cốt Ngài về nơi Thánh Địa Tây Ninh. Quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài lúc ấy là Ngài Hiến Pháp chấp thuận. Cuộc Lễ cải táng Ngài Bảo Pháp do Hiến Pháp, Chưởng Hiệp Thiên Đài đích thân tổ chức vào ngày 4 tháng 9 năm Giáp Dần (1974).

Theo lời thuật lại của gia đình, mặc dù đã mười ba năm qua nhưng hài cốt của Ngài Bảo Pháp vẫn còn nguyên vẹn, chưa tiêu hủy hay khô cứng, vì thế Đạo tỳ chỉ dùng rượu chỉnh sửa hài cốt của Ngài theo thế ngồi bắt ấn Tý để liệm vào Liên đài.

Liên đài của Ngài được quàn tại tư gia một đêm, sau đó Hội Thánh rước Liên Đài kỵ Long mã về Báo Ân Từ rồi thiết lễ tế điện và câu siêu.

Qua ngày 7 tháng 9 năm Giáp Dần Hội Thánh di Liên đài Ngài Bảo Pháp đến Đền Thánh, thỉnh Bửu ảnh vào kỉnh lễ Đức Chí Tôn, rồi di Liên đài nhập bửu tháp tại đất Ao Hồ.

Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu có để lại một tài liệu mà Ngài đã cầu hỏi Đức Chí Tôn trong Đàn cơ ngày 3 tháng 7 năm Đinh Mão (Dl. 31/7/1927), thì Ơn trên cho biết nguyên căn của Đức Ngài chính là Xích Tinh Tử, một vị Tiên trong mười hai vị Đệ tử của Nguơn Thủy Thiên Tôn, Giáo chủ Xiển giáo.

Bài Thài tế lễ Ngài Bảo Pháp Chơn Quân như sau:

Nhà Phật hôm nay giữ Ðạo mầu,

Phiền ba ngảnh lại có vui đâu.

Tẽ đường phi thị, noi đường tịnh,

Tìm cửa từ bi, lánh cửa hầu.

Xác thịt trải qua miền gió bụi,

Nắm xương nhờ gởi bóng tang du.

Lửa lòng vụt tắt từ đây vẫn,

Giọt nước nhành dương gội tấm sầu.

1.- Bảo Pháp:

Phần của Hộ Pháp chưởng quản về Pháp thì: Hậu là Bảo Pháp, Ðức là Hiến Pháp, Nghĩa là Khai Pháp, Tràng là Tiếp Pháp.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

2.- Bảo Pháp Chơn Quân:

Bảo Pháp Chơn Quân đã lánh trần,

Nương về cựu vị cảnh đài vân.

(Thơ Thượng Sanh).

Bảo Pháp Chơn Quân khuất bóng rồi,

Từ đây thui thủi một mình tôi.

(Thơ Hiến Pháp).

 

 

BẢO QUỐC

保 國

Bảo: Gìn giữ. Quốc: Nước, đất nước.

Bảo quốc là bảo vệ quốc gia, ý muốn nói là gìn giữ bảo vệ đất nước.

Như: Bảo quốc an dân.

Xem: Bảo quốc hộ dân.

An dân buồn thiếu trang hiền sĩ,

Bảo quốc vui nhờ Đức Thánh nhân.

(Thanh Sơn Chơn Nhơn).

 

 

BẢO SANH

Hay “Bảo sinh”.

Bảo: Giữ gìn. Sanh (Sinh): Sanh mạng, mạng sống.

Bảo sanh, hay “Bảo sinh 保 生” là giữ gìn sinh mạng, bảo toàn sự sống.

Đức lớn của Trời đất là sự sinh. Người là một phần nhỏ của muôn vật, cho nên cũng phải theo lẽ Trời mà sinh hoá. Khổng giáo lấy sự sinh làm gốc cho hành vi thiện ác: Việc gì hợp với đức sinh là thiện, trái với đức sinh là ác. Như vậy, cái tông chỉ của Đạo Khổng là theo Thiên lý mà bồi bổ cho sự sinh của vạn vật, hay nói cách khác, là phải bảo sanh vạn vật.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có day: Sự thương yêu là giềng bảo sanh của Càn khôn Thế giới. Có thương yêu, nhơn loại mới hoà bình, Càn khôn mới an tịnh. Ðặng an tịnh mới không thù nghịch lẫn nhau, mới giữ bền cơ sanh hoá.

Tạo đời cải dữ ra hiền,

Bảo sanh nắm giữ diệu huyền Chí Tôn.

(Kinh Tận Độ).

Bảo sanh bủa khắp năm châu,

Toàn cầu chung hưởng phép mầu Chí Linh.

(Kinh Cúng Chiến Sĩ).

 

 

BẢO SANH QUÂN

Bảo Sanh (sinh) Quân 保 生 君, là một phẩm chức sắc trong Thập Nhị Bảo Quân của Hiệp Thiên Đài, có nhiệm vụ bảo tồn sự sống cho nhơn loại và cứu tế cho người nghèo, giúp đỡ cho kẻ hoạn nạn.

Bảo Sanh Quân đối phẩm với Phối Sư bên Cửu Trùng Đài, theo tài liệu huấn luyện Giáo Hữu 1972, Thập Nhị Bảo Quân là hội đồng khoa học thuộc chi Thế Hiệp Thiên Đài.

Theo Đức Hộ Pháp, toàn thể Bảo Quân là Hàn Lâm Viện. Mỗi vị có sở thức sở năng, ấy là điều khác nhau đặc biệt, tỷ như Bảo Huyền Linh Quân, nghĩa là Thần linh hồn, khác với Bảo Học Quân thuộc về khoa học hay là thực tế học.

Như vậy, Hàn Lâm Viện Cao Đài là một cơ quan đặc biệt nằm ngoài Cửu Trùng Đài và Hiệp Thiên Đài, gồm mười hai Viện sĩ gọi là Thập Nhị Bảo Quân, mỗi vị chuyên môn một ngành, được kể theo Lời Phê Đức Hộ Pháp như sau:

 

1.- Bảo Huyền Linh Quân.

 

2.- Bảo Thiên Văn Quân.

 

3.- Bảo Địa Lý Quân.

 

4.- Bảo Học Quân.

 

5.- Bảo Cô Quân.

 

6.- Bảo Sanh Quân.

 

7.- Bảo Phong Hoá Quân.

 

8.- Bảo Văn Pháp Quân.

 

9.- Bảo Y Quân.

 

10.- Bảo Nông Quân.

 

11.- Bảo Công Quân.

 

12.- Bảo Thương Quân.

Nhưng theo Ngài Khai Pháp, trong quyển Chánh Trị Đạo, thì vị Bảo Phong Hoá Quân được thế là Bảo Sĩ Quân.

Vậy Bảo Sanh Quân là một trong Thập Nhị Bảo Quân dưới quyền chỉ huy của Giáo Tông và Hộ Pháp, được Đức Chí Tôn phong cho Ngài Lê Văn Hoạch.

Trong Đàn cơ ngày 15 tháng 12 năm Đinh Mão (Dl. 7/1/1928), Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông dạy Ngài Lê Văn Hoạch sắm Bộ Đại phục như sau:

Hỷ chư Đạo hữu,

Hoạch, nên may Thiên phục theo lời dạy sau đây: Áo trắng y theo của Thập Nhị Thời Quân và các Chức sắc khác nơi Hiệp Thiên Đài. Mão trắng theo của Mỹ Ngọc, nhưng không có bông sen, ngay giữa mão thêu một Thiên Nhãn, chí bìa dưới mão lên cho đủ chỗ thêu Thiên Nhãn, chừa 4 phân, hai bên tả hữu mão, hai Thiên Nhãn, hết thảy là ba. Một sợi dây Tiên thằng buộc vòng bìa mão, bề ngang 5 phân, bề dài 2 thước, buộc thế nào chừa Thiên Nhãn ngay giữa mão ra, cho hai mối thòng xuống hai bên vai.

May cho kịp đặng mùng 1 hoặc mùng 2 tới đây hầu Đức Từ Bi. Sẽ dâng cho Lão coi khi may rồi nghe.

Như vậy, bộ Đại Phục của Bảo Sanh Quân toàn bằng hàng trắng, đầu đội Nhựt Nguyệt Mạo giống như các chức sắc Hiệp Thiên Đài, ngay giữa mão, từ bìa lên bốn phân thêu một Thiên nhãn, hai bên mão thêu hai Thiên nhãn nữa, cả thảy là ba.

Vòng theo vành mão cột một sợi dây Tiên Thằng (bề ngang 8 phân, bề dài hai thước) buộc thế nào chừa Thiên nhãn ngay giữa mão ra, cho hai mối thòng xuống hai bên vai. Lưng đai Song Quang Thần Thông, nghĩa là một đường lụa trắng, kết hai bên hai vòng vô vi.

Chơn đi giày Vô ưu cũng bằng hàng trắng.

Ngài Lê Văn Hoạch sinh năm 1896 tại Phong Điền, tỉnh Cần Thơ, Ngài tốt nghiệp Y khoa Bác sĩ tại Pháp năm 1923.

Ngài nhập môn vào đạo Cao Đài và được Đức Chí Tôn phong làm Bảo Sanh Quân trong Đàn cơ năm 1930.

Vào ngày 10 tháng 11 năm 1946, Thủ tướng Cộng hoà tự trị Nam Kỳ lúc đó là ông Nguyễn Văn Thinh (Bác sĩ) đã chết. Hội đồng tư vấn Nam Kỳ nhóm họp để bầu người lên thay. Dưới sự chủ tọa của chủ tịch Béziat, hội đồng tư vấn chọn Ngài Lê Văn Hoạch lên làm Thủ tướng.

Khi nhận chức Thủ tướng Ngài Lê Văn Hoạch chủ trương "Nam kỳ tự trị" phân ly nên gặp sự phản đối quyết liệt của quần chúng, do vậy chính phủ của Ngài chỉ tồn tại 10 tháng, cho đến tháng 9 năm 1947 thì sụp đổ.

Kể từ đó, Ngài không tham gia chính trị nữa, lui về đường đạo đức, nên Ngài thường xuyên có mặt trong những đàn cơ do Hội Thánh tổ chức. Đức Chí Tôn và các Đấng có giáng cơ dạy bảo Ngài, sau đây là Đàn cơ tại Báo Ân Từ, ngày 26 tháng 8 năm Đinh Hợi (Dl. 10/10/1947). Phò loan: Hộ Pháp - Khai Pháp, Đức Chí Tôn giáng dạy như sau:

Các con, Đợi Thầy một chút nghe.

Tắc, Nghĩa, đứng dậy hai con.

Cười... Thầy để dấu lại khi Diêu Trì Kim Mẫu giáng lâm biết Thầy có đến.

Hoạch!, con hiểu trước Thánh ý Thầy rồi, cây phướn chiêu hồn của nhơn loại chưa đặng trọn linh diệu hầu quy tụ thiên lương nên phản trắc nhơn tâm, phi ân vô đạo là thường tình, chẳng chi lạ mà con ái ngại. Thầy đã hứa rằng, quốc gia các con sẽ phục hoàn, các con tin nơi Thầy mong lòng giúp sức.

Con Hoạch, trọng trách con, Thầy đã phó thác thì tức nhiên Thiên mạng nơi con đã sẵn, an lòng đợi mạng lịnh Thầy, con nghe. Trung, Cư, Hương Thanh thường ở bên con hằng lo giúp đỡ, con khá thường kêu chúng nó nghe. Thầy sẽ dạy Trung đến thường hội hiệp cùng các con đặng chung lo cho tổ quốc các con. Ấy Thầy mới trọn hứa cùng các con đó.

Thầy ban ơn cho các con nam và nữ.

Và trong Đàn cơ đêm 22 tháng 12 năm Kỷ Sửu (Dl. 8/2/1950), Đức Cao Thượng Phẩm giáng cơ dạy Ngài Bảo Sanh Quân như sau:

Bảo Sanh Quân là một phần trọng yếu với danh từ của Chí Tôn đặt để. Vậy Hiền hữu khá trọn tâm làm thế nào cho được sự hạnh phúc cho dân, thì các Ðấng sẽ sẵn sàng ám trợ mỗi việc đều được thành công. Vai tuồng của Hiền hữu còn dài, nhơn sanh còn đương mong mỏi thì phải để cho một chí hướng cao siêu tầm phương hay làm đời thoát khổ và bảo tồn sự sống của nhơn loại. Ấy là sở định trách nhậm của Hiền hữu đó."

Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung cũng có giáng cơ giải thích cho Ngài Bảo Sanh Quân về chuyện Đạo Đời như sau:

Nay có sự hiện diện của Bảo Sanh Quân, Qua rất vui mừng và khuyên Hiền đệ nên để trọn tâm chí với Ðạo, vì Hiền đệ đã chán hiểu tuồng đời ra thế nào rồi mà còn đeo đuổi làm gì cho nhọc thể xác lẫn tâm hồn. Hiền đệ nên nhớ rằng khi xưa Qua có tài cán gì đâu, bất quá là một học trò khó, chỉ có mảnh văn bằng trung học mà cũng nhờ thời thế tạo anh hùng mà Qua đi đến nơi đến chốn, dám nói rằng đi tới Trời; huống gì Hiền đệ có đủ khả năng mà nỡ nào bỏ trôi cho đành. Lại nữa, Hiền đệ đang mang sứ mạng Bảo Sanh đâu phải tầm thường. Một điều cần lưu ý là lấy đạo đức thắng hung bạo, dùng nghĩa nhân quy phục lòng dân, ấy là phương lập quốc trường cửu đó."

Sau nầy Ngài Lê Văn Hoạch nhiều lần giữ chức vụ Quốc Vụ Khanh trong nhiều chính phủ với tư cách là nhân sĩ Cao Đài trong cả hai thời kỳ Quốc Gia Việt Nam và Việt Nam Cộng Hoà.

Khi đạo Cao Đài thành lập Viện Đại Học ngày 17 tháng 4 năm 1973, Ngài được Hội Thánh cử giữ chức Viện trưởng đầu tiên. Vì tuổi già sức yếu, Ngài chỉ giữ chức vụ một thời gian rồi từ chức và trở về quê nhà ở Cần Thơ để an dưỡng.

Sau một cơn bịnh, Ngài Lê Văn Hoạch mất vào năm 1978 tại tư gia, hưởng thọ 83 tuổi.

Về công nghiệp đối với Đạo, Đức Hộ Pháp trong một đoạn Thuyết đạo có tán tụng Ngài Bảo Sanh Quân đã tận tình vận động giúp cho Đạo có được viện ngọc Xá lợi và cây Bồ đề của Phật giáo Tích Lan:

Ngài nói: “Ba cây Bồ Đề cho Tiểu Thừa một cây, cho Tiểu Thừa Phật Giáo Miên Quốc một cây, còn một cây của Đại Thừa đem về Toà Thánh. Hột Ngọc Xá Lợi đem về Toà Thánh hôm nay là đặc biệt của Đại Đức Narada Théra, Phó Giáo Tông của Đạo Giáo Tích Lan, lấy của tư của Ngài hiến cho Toà Thánh. Chúng ta thấy cả hành tàng cả sự khó khăn đem Ngọc Xá Lợi về Toà Thánh đều do nơi công nghiệp vĩ đại của Ngài Bảo Sanh Quân Hiệp Thiên Đài, tức nhiên Phó Thủ Tướng Việt Nam đương giờ này là Ông Bảo Sanh Quân Lê Văn Hoạch, ông đã chịu nhọc nhằn cả thảy con cái Đức Chí Tôn đều ngó thấy. Ngài hạ mình xin cho đặng Ngọc Xá Lợi ấy thế nào? Nên hôm Ngài trở về Sài Gòn, Bần Đạo nhân danh toàn thể con cái Đức Chí Tôn và Hội Thánh nam nữ lưỡng phái để lời cám ơn ông Bảo Sanh Quân rồi, và Bần Đạo sẽ cho các cơ quan Chánh Trị Đạo làm một tờ chúc thơ cảm tạ công nghiệp của Ngài”.

May thay Tân Chánh Phủ tức nhiên Tân Nội Các toàn quốc lại thấu đáo điều ấy, nên khi Bần Ðạo ở Sài Thành, chính mình Thủ Tướng Xuân đến nhà Bảo Sanh Quân cầu Bần Ðạo xin hành lễ khẩn nguyện Ðức Chí Tôn ban ân lành cho quốc dân Việt Nam.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

BẢO TINH

保 精

Bảo: Giữ gìn. Tinh: Một chất nước rất tinh anh của nhục thể. Nhờ có tinh, con người mới có sức lực, tạo ra nòi giống, và nhứt là người tu nếu biết bảo tinh thì có thể tạo ra đệ nhị xác thân hay tượng hình Linh thể đắc Đạo.

Bảo tinh là giữ gìn chất tinh, một chất dùng để nuôi dưỡng sức khỏe và tinh thần của con người. Do đó, người xưa coi việc bế tinh, gìn giữ chất tinh, không để cho hao phí chất tinh trong sắc dục.

Trong phép luyện đạo trong Tịnh thất, là luyện Tam bửu Tinh, Khí, Thần hiệp nhứt. Muốn luyện Tinh hoá Khí, luyện Khí, luyện Khí hiệp Thần, luyện Thần hườn Hư thì chúng ta trước tiên phải “Bào Tinh”.

Bảo tinh, dưỡng khí, tồn thần,

Theo đường trung Ðạo thoát thân luân-hồi.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

BẢO TOÀN

保 全

Bảo: Gìn giữ. Toàn: Nguyên vẹn.

Bảo toàn là giữ cho được nguyên vẹn, không để suy suyển, mất mát.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Nếu thế gian dữ thì thế nào đặng bảo toàn, còn mong mỏi gì đặng bền vững. Cá nhân dữ thì thế nào bảo toàn tánh mạng.

Nguyền Khổng Thánh bảo toàn Nho giáo,

Lấy nghĩa nhơn Đại Đạo truyền ra.

(Giới Tâm Kinh).

Phước Thiện để rước ngoại bang,

Phước Thiện sản nghiệp bảo toàn thế gian.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

BẢO TỒN

保 存

Bảo: Gìn giữ. Tồn: Còn.

Bảo tồn là gìn giữ cho còn.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy: Ấy vậy, các con phải lưu tâm mà chấn hưng mối Ðạo, ấy là kế bảo tồn quốc tuý, lại là phương thoát tục.

Vẹn toàn đủ xác đủ hồn,

Xây cơ chuyển thế bảo tồn vạn linh.

(Kinh Tận Độ).

Phước Thiện nắm luật bảo tồn,

Phước Thiện để rước chơn hồn nguyên nhân.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

BẢO TỒN QUY CỔ

保 存 歸 古

Bảo Tồn: Nguơn Bảo Tồn, còn gọi là nguơn Tái Tạo. Quy cổ: Trở về như đời Thượng cổ.

Vào thời Hạ nguơn, sự tranh đấu càng ngày càng ác liệt, khiến nhơn loại chịu nạn tiêu diệt hầu kề, nên còn gọi là Nguơn điêu tàn.

Nhưng hễ loạn tới trị, do vậy Nguơn tiêu diệt sẽ bước sang Nguơn Bảo Tồn là Nguơn đạo đức phục hưng, để trở lại như đời Thượng cổ, đó gọi là Bảo Tồn quy cổ.

Hạ nguơn nay đã mãn rồi,

Bảo tồn quy cổ cơ trời chuyển luân.

(Thơ Thông Quang).

 

 

BẢO TỒN CHÚNG SANH

保 存 衆 生

Bảo tồn: Giữ cho còn. Chúng sanh: Tất cả các loài vật có sự sống

Bảo tồn chúng sanh, đồng nghĩa vớt “Bảo tồn vạn linh”, là giữ gìn cho còn mạng sống của muôn sinh linh (chúng sanh) trong Càn khôn Vũ trụ.

Mạng sống của vạn linh được Thánh giáo dạy như sau: Chi chi hữu sanh cũng do bởi Chơn Linh Thầy mà ra. Hễ có sống ắt có Thầy. Thầy là Cha của sự sống. Vì vậy mà lòng háo sanh của Thầy không cùng tận.

Cái sống của cả chúng sanh, Thầy phân phát khắp Càn khôn Thế giới, chẳng khác nào như một nhành hoa trong cội, nó phải đủ ngày giờ Thầy nhứt định mới trổ bông và sanh trái đặng trồng nữa, biến hoá ra thêm. Nếu như ai bẻ hoa ấy nửa chừng thì là sát một kiếp sanh không cho biến hoá.

Vì lòng háo sanh nên Thánh chất của Chí Tôn là Bảo sanh, tức là có sự thương yêu để bảo toàn sự sống của chúng sanh. Thánh giáo dạy: “Sự thương yêu là giềng Bảo sanh của Càn khôn Thế giới. Có thương yêu nhơn loại mới hoà bình, Càn khôn mới an tịnh. Đặng an tịnh mới không thù nghịch lẫn nhau, mới giữ bền cơ sanh hoá”.

Chơn thần đã nhập Càn khôn,

Thâu quyền độ thế bảo tồn chúng sanh.

(Kinh Tận Độ).

 

 

BẢO TỒN VẠN LINH

保 存 萬 靈

Bảo tồn: Giữ cho còn. Vạn linh: Muôn sanh linh, tất cả các chơn linh trong Càn khôn Vũ trụ gồm đủ bát hồn.

Bảo tồn vạn linh là giữ gìn cho còn mạng sống của muôn sinh linh trong Càn khôn Vũ trụ.

Xem: Bảo tồn chúng sanh.

Vẹn toàn đủ xác đủ hồn,

Xây cơ chuyển thế bảo tồn vạn linh.

(Kinh Tận Độ).

 

 

BẢO THẾ

保 世

Hay “Bảo Thế Chơn Quân”.

Bảo Thế là một phẩm chức sắc trong Thập Nhị Thời Quân, thuộc chi Thế Hiệp Thiên Đài, dưới quyền trực tiếp của Đức Thượng Sanh.

Bảo Thế Chơn Quân 保 世 真 君 là một vị chức sắc Đại Thiên phong thuộc chi Thế Hiệp Thiên Đài được Đức Chí Tôn phong cho Ngài Lê Thiện Phước.

Theo Hiến pháp Hiệp Thiên Đài, Bảo Thế là người có trách nhiệm bảo tồn luật Thế, bảo hộ những điều cần ích cho Đạo đã ra mặt luật. Ngoài ra, Pháp Chánh Truyền chú giải cũng có quy định: Khi tiếp nhận giấy tờ do Hiến Thế dâng lên, Bảo Thế phải gìn giữ bí mật, kín nhiệm, rồi chiếu y Đạo luật và Thê luật mà làm tờ buộc án, kế dâng lên Thượng Sanh đặng Người đến Toà Tam Giáo Cửu Trùng Đài, Hiệp Thiên Đài hay Bát Quái Đài mà buộc tội.

Bảo Thế là Đầu Phòng Văn của Thượng Sanh.

Đạo phục của Ngài Bảo Thế Chơn Quân theo Pháp Chánh Truyền quy định gồm có hai bộ:

Bộ Đại phục toàn hàng trắng, cổ trịch, viền kim tuyến bạc, đầu đội mão Nhựt Nguyệt mạo màu trắng, lưng đeo dây sắc lịnh, thả mối bên hong trái (thuộc chi Thế), chân đi giầy vô ưu trắng.

Bộ Tiểu phục cũng toàn hàng trắng, lưng mang dây sắc lịnh y như Đại phục, đầu đội Hỗn Nguơn mạo, trên mão có để cổ pháp Thượng Sanh (Thư Hùng Kiếm, Phất chủ), chân đi giầy vô ưu màu trắng.

Bảo Thế Hiệp Thiên Đài được Đức Chí Tôn phong cho Ngài Lê Thiện Phước trong đàn cơ ngày 12 tháng 01 năm Đinh Mão (Dl. 13-2 1927) tại chùa Gò Kén.

Ngài Bảo Thế sinh ngày 4 tháng 6 năm 1985 (Ất Mùi) tại Sài Gòn. Thân phụ là Lê Văn Dương, giám đốc trường Tiểu Học Dakao, thân mẫu là Trần Thị Chọn đã nhập môn vào Đạo Cao Đài.

Năm 1912, Ngài đậu bằng Thành Chung trường Chasseloup Laubat tại Sài Gòn. Năm 1915, tốt nghiệp trường luật Đông Dương, sau đó đậu vào ngạch Thơ Ký Thượng Thơ (Dinh Hiệp Lý Sài Gòn) đời Pháp Thuộc.

Năm 1927 nghỉ làm việc cho nhà nước, ra giúp xã hội, đắc cử Hộ Trưởng Quận Tân Định và Hoà Hưng. Năm 1944, làm Huyện danh dự, rồi làm chủ hai nhà máy xay gạo ở Dakao và Chợ Lớn.

Bảo Thế được Đức Chí Tôn giáng cơ tại nhà Ngài Thái Thơ Thanh, ban cho một bài thi khuyên lo tu hành, Ngài nhập môn và Thượng Tượng có mời các Đức Quyền Giáo Tông, Đức Cao Thượng Phẩm và Đức Hộ Pháp đến dự. Cho đến năm 1946, Đức Ngài mới chánh thức trọn phế đời hành Đạo.

Đức Hộ Pháp vừa rời hải đảo Madagascar trở về Việt Nam, liền tái thủ quyền hành, giao Ngài Bảo Thế trách vụ “Thừa quyền Hộ Pháp”, sau đó ngày 21 tháng 01 năm 1950, nhận chức vụ “Tổng Thư Ký Chánh Trị Đạo”. Do Thánh lịnh ngày 01 tháng 9 năm Ất Mùi, 1955, Ngài đại diện chi Thế, đứng trong Tam Đầu Chế Hiệp Thiên Đài. Đến năm 1956, Ngài Đại diện Hội Thánh lập Thoả Ước năm Bính Thân.

Ngài Bảo Thế lúc về già bị bịnh bán thân, sức khoẻ yếu dần, rồi đăng Tiên vào lúc 6 giờ 30 phút sáng ngày 17 tháng 3 năm Ất Mão (Dl. 27- 4-1975) hưởng thọ 81 tuổi.

Bảo trọng vạn linh hiệp chí linh,

Thế nguy chuyển loạn lập hoà bình.

Cứu đời mở đạo kinh luân sẵn,

Nước Việt trong chờ sách cứu tinh.

(Bài Thài Bảo Thế).

 

 

BẢO THỂ

保 體

Bảo: Bảo hộ, giữ gìn. Thể: Hình thể.

Bảo Thể, còn gọi là Bảo Thể Quân, là bảo vệ, che chở Thánh thể Đức Chí Tôn tại thế, tức là che chở cho toàn Hội Thánh.

Trong Nội ô Toà Thánh, nếu Thánh Vệ giữ gìn trật tự an ninh ngoài đường phố của Nội ô thì Bảo Thể gìn giữ trật tự trong các Dinh thự, các cơ quan hành chánh, cùng các buổi cúng đàn trong Đền Thánh.

Cơ Bảo Thể (Cơ Quan Bảo Thể) và Cơ Thánh Vệ được đặt dưới quyền Thống Quản của Hộ Đàn Pháp Quân.

Khi cúng Đức Chí Tôn, Bảo Thể Quân mặc áo trường y sáu nút, lưng buộc dây thắt lưng trắng, tay mang Tam Sắc Đạo, đầu đội mão giống như cái calot màu trắng, tay cầm cây Tam Thanh. Nếu là Chánh Bato Thể thì trên mão có cổ pháp của Hộ Pháp.

Chánh Bảo Thể có đủ năm năm công nghiệp và có đủ hạnh đức thì được cầu phong lên Lễ Sanh.

Còn Bảo Thể Quân (nhân viên Bảo Thể) thì đủ 10 năm công nghiệp và đủ hạnh đức cũng được cầu phong lên phẩm Lễ Sanh.

Hộ Đàn kiêm luôn Thánh Vệ và Bảo Thể vì hai cơ quan nầy chịu dưới quyền thống quản của Hộ Đàn.

(Thánh Giáo Hộ Pháp).

 

 

BẢO THỦ

保 守

Bảo: Giữ gìn. Thủ: Giữ.

Bảo thủ là gìn giữ, hay cố giữ những cái sẵn có, ý không muốn thay đổi.

Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp có câu: Có công thì không phụ, có chánh thì không tà, không chối cái điều chơn thật được, còn có từ bi thì có khoan hồng dung thứ, có bác ái mới có thể bảo thủ và thân mến toàn thiên hạ...

Ấy phương bảo thủ thành trì,

Đường khai đã sẵn gắng đi cho cùng.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

Lạc Hồng thuở dựng giang san,

Dày công bảo thủ bốn ngàn năm xưa.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

BẢO THỦ CHƠN TRUYỀN

保 守 真 傳

Bảo thủ: Gìn giữ. Chơn truyền: Những giáo pháp chơn thật để truyền lại cho người sau.

Bảo thủ Chơn Truyền là gìn giữ những giáo pháp chơn thật để truyền lại cho người sau.

Khi thuyết về Lễ Đăng Tiên của Hộ Pháp, Đức Thượng Sanh có câu: Biết tôn thờ Ðức Ngài, Biết ghi nhớ ơn của Ðức Ngài, chúng ta phải noi theo gương sáng của Ðức Ngài, cái gương nhẫn nại và vị tha, luôn luôn quên mình, sẳn sàng hy sinh để bảo thủ chơn truyền và giữ trọn hiếu trung đối với Ðức Chí Tôn Ðại Từ Phụ.

Thừa kế đại chí, bảo thủ chơn truyền, thật hành nhơn nghĩa, tế độ chúng sanh.

(Sớ Văn).

 

 

BẢO TRỌNG

保 重

Bảo: Giữ gìn. Trọng: Xem nặng, quý trọng.

Bảo trọng là chủ ý giữ gìn và quý trọng thân thể hoặc danh giá của mình.

Trong quyển Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Diễn Văn Ðức Quyền Giáo Tông đọc tại Toà Thánh, ngày mùng 8 tháng 4 năm Giáp Tuất (1934) có câu: Phận sự bảo trọng lấy mình là dễ; còn phận sự bảo Ðạo vốn khó vô cùng.

Quyền năng của chơn linh không giới hạn, nó là quyền năng bảo trọng đường sống của vạn loại, của xác hình.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

BẢO VĂN PHÁP QUÂN

保 文 法 君

Hay “Bảo Văn Quân”.

Bảo Văn Quân, tức là Bảo Văn Pháp Quân, một phẩm chức sắc trong Thập Nhị Bảo Quân của Hiệp Thiên Đài, có nhiệm vụ chỉnh đốn Lễ Nhạc trong đạo Cao Đài được hoàn toàn cho đến ngày thành Đạo.

Bảo Văn Pháp Quân là một trong mười hai vị chức sắc thuộc Thập Nhị Bảo Quân, do Đức Chí Tôn lập nên tạo thành Hàn Lâm Viện của đạo Cao Đài.

Theo Đức Hộ Pháp, Toàn thể Bảo Quân là Hàn Lâm Viện. Mỗi vị có sở thức sở năng, ấy là điều khác nhau đặc biệt, tỷ như Bảo Huyền Linh Quân, nghĩa là Thần linh hồn, khác với Bảo Học Quân thuộc về khoa học hay là thực tế học.

Như vậy, Hàn Lâm Viện Cao Đài là một cơ quan đặc biệt nằm ngoài Cửu Trùng Đài và Hiệp Thiên Đài, gồm mười hai Viện sĩ gọi là Thập Nhị Bảo Quân, mỗi vị chuyên môn một ngành, được kể theo Lời Phê Đức Hộ Pháp như sau:

 

1.- Bảo Huyền Linh Quân.

 

2.- Bảo Thiên Văn Quân.

 

3.- Bảo Địa Lý Quân.

 

4.- Bảo Học Quân.

 

5.- Bảo Cô Quân.

 

6.- Bảo Sanh Quân.

 

7.- Bảo Phong Hoá Quân.

 

8.- Bảo Văn Pháp Quân.

 

9.- Bảo Y Quân.

 

10.- Bảo Nông Quân.

 

11.- Bảo Công Quân.

 

12.- Bảo Thương Quân.

Nhưng theo Ngài Khai Pháp, trong quyển Chánh Trị Đạo, thì vị Bảo Phong Hoá Quân được thế là Bảo Sĩ Quân.

Thập Nhị Bảo Quân dưới quyền chỉ huy của Giáo Tông và Hộ Pháp.

Bộ Đại phục của Bảo Văn Pháp Quân toàn bằng hàng trắng, đầu đội Nhựt Nguyệt Mạo, hai bên ngay chính giữa có kết một bông sen năm cánh, trên mỗi bông sen có thêu Thiên Nhãn, ngay đường giữa trước mão cũng kết một bông sen nhưng không thêu Thiên Nhãn, cả thảy ba bông sen trên mão. Lưng đai Bạch Tuyết Thần Quang bằng hàng trắng, buộc mối chừa ra trước thế nào đủ thắt một bông sen năm cánh. Chơn đi giầy Vô Ưu cũng bằng hàng trắng, trước mũi mỗi chiếc có một bông sen nhỏ.

Bạch Tuyết Thần Quang là một sợi dây bằng hàng trắng dài ba thước, ba tấc, ba phân (3m33) và bề ngang rộng ba tấc ba phân ba ly (0m333) dùng để vị Bảo Văn Pháp Quân làm đai lưng.

Khi đai dây Bạch tuyết thần quang phải buộc mối chừa ra trước thế nào đủ thắt một bông sen năm cánh.

Bảo Văn Pháp Quân được Đức Chí Tôn phong cho Ngài Cao Quỳnh Diêu trong một Đàn cơ năm 1930.

Cao Quỳnh Diêu hiệu là Mỹ Ngọc, Đạo hiệu là Cao Liên Tử, sinh năm Giáp Thân 1884 tại làng Hiệp Ninh, tổng Hàm Ninh Thượng, tỉnh Tây Ninh.

Thân phụ là Cao Quỳnh Tuân, làm Cai tổng Hàm Ninh Thượng, mất lúc Ngài Cao Quỳnh Diêu được 14 tuổi, thân mẫu là Bà Trịnh Thị Huệ, sau đắc phong Nữ Giáo Sư trong Đàn cơ phong Thánh Nữ phái lần I vào ngày 14 tháng 1 năm Đinh Mão (Dl. 15/2/1927).

Người em ruột thứ tư của Ngài Diêu là Cao Quỳnh Cư, sau đắc phong Thượng Phẩm Hiệp Thiên Đài, cầm quyền chi Đạo.

Hiền thê Ngài Cao Quỳnh Diêu là Bà Trần Thị Lựu, đắc phong Nữ Giáo Hữu trong kỳ phong Thánh Nữ phái lần I, và được Đức Chí Tôn trong Đàn cơ ngày 5 tháng 8 năm Bính Dần (Dl. 11/9/1926) giao cho nhiệm vụ cùng với Bà Nữ Giáo Sư Hương Hiếu (Hiền nội Ngài Cao Quỳnh Cư) tập một tốp đồng nhi gồm 36 đứa đặng tụng kinh khi cúng lễ.

Như chúng ta biết, Ngài Cao Quỳnh Diêu là một trong bốn vị tiền khai nền Đại Đạo. Chính Ngài cùng với quý vị Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang khởi sự xây bàn đầu tiên tại nhà Ngài Sang cạnh chợ Thái Bình dãy phố hàng Dừa Sài Gòn.

Từ đó, Ngài Cao Quỳnh Diêu hợp với Ngài Cao Hoài Sang thành một cặp phò loan để Đức Chí Tôn giáng cơ dạy Đạo. Đến tháng 5 năm 1926 Đức Chí Tôn lập thành sáu đàn cơ phổ độ, trong đó có Đàn cơ ở Chợ Lớn là nhà của Ngài Lê Văn Trung, do hai Ngài Cao Hoài Sang và Cao Quỳnh Diêu phò loan, còn Ngài Trung và Ngài Lê Bá Trang thay phiên nhau chứng đàn.

Theo lời dạy của Đức Chí Tôn, thân phụ của hai Ngài Diêu và Cư là Cao Quỳnh Tuân chính là Xuất Bộ Tinh Quân giáng trần, nên trong Đàn cơ ngày 6 tháng 8 năm Bính Dần (Dl. 12/9/1926) Xuất Bộ Tinh quân giáng cơ dạy như sau:

Mừng mấy con và mấy cháu,

Diêu! Từ đây thầy lấy làm vui mà thấy con đặng để bước vào đường Thánh đạo. Vậy hãy ráng tu hạnh hầu phục hồi cựu vị.

Thầy rất vui mà thấy Cư và con đã đem tấm nhiệt thành cứu độ nhơn sanh khỏi dòng khổ hải. Ấy cũng số phần rất may mắn của lịnh Ngọc Hoàng đã định cho con và Cư, Tắc, Sang.

Vậy thầy có mấy lời thiết yếu cùng con sau đây:

Cựu vị ngày xưa đã có rồi,

Ðường về chớ bỏ há con ôi!

Công trình chớ nệ xây nền Ðạo,

Phước mỏng đâu hay bởi tứ Trời.

Ðức trước hưởng rồi tua trả đức,

Ngôi sau gìn ắt đặng an ngôi.

Từ đây son sắt vì sanh chúng,

Cảnh tịnh mai sau cũng đặng ngồi.

Năm Đinh Mão, 1927, Ngài Cao Quỳnh Diêu đắc phong Tiếp Lễ Nhạc Quân, có phận sự sắp đặt Lễ nghi và âm nhạc trong việc cúng tế của đạo Cao Đài. Chính Ngài vâng lịnh Hội Thánh vào đầu năm 1929 đặt ra ba bài Dâng Tam Bửu (hoa, rượu, trà) hiện nay, được Bát Nương giáng cơ chỉnh văn lại.

Ngoài ra, Ngài Cao Quỳnh Diêu có soạn quyển “Nghi Tiết Đại Đàn Tiểu Đàn” dâng lên Đức Chí Tôn duyệt, Đức Hộ Pháp và Hội Thánh xem xét, rồi Đức Quyền Giáo Tông ban hành vào ngày 17 tháng 6 năm Canh Ngọ (1930) nhằm mục đích chỉnh đốn lễ nhạc trong các đàn cúng Đức Chí Tôn và các Đấng Thiêng Liêng cho được thống nhứt và trang nghiêm.

Đầu năm Canh Ngọ 1930, Ngài Cao Quỳnh Diêu được thăng lên phẩm Bảo Văn Pháp Quân. Đến năm 1932, Ngài viết bài Tán Tụng Công Đức Diêu Trì Kim Mẫu, được Bát Nương giáng cơ chỉnh văn lại để dùng làm kinh cúng Tứ Thời nơi Điện Thờ Phật Mẫu.

Vào năm Giáp Tuất (1934) nội bộ nền Đạo Cao Đài bị chia rẽ, hai Ngài Quyền Đầu Sư Thượng Tương Thanh (Nguyễn Ngọc Tương) và Quyền Đầu Sư Ngọc Trang Thanh (Lê Bá Trang) lập chi phái, tách rời khỏi Toà Thánh Tây Ninh lôi kéo theo một số chức sắc.

Ngài Bảo Văn Pháp Quân cũng bị Chi phái tác động, khiến Ngài phân vân, lưỡng ước, không biết theo ai. Nhờ Ðức Thái Thượng Ðạo Tổ giáng cơ ngày16 tháng 7 năm Giáp Tuất (Dl. 25/8/1934) trình bày điều hơn lẽ thiệt, khuyên Ngài ở lại mà phụng sự Ðạo nơi Toà Thánh Tây Ninh. Bài Thánh giáo của Đức Thái Thượng Đạo Tổ có đoạn như sau:

Nền Ðạo đã chia ba, theo lời Bần Ðạo đã nói, Mỹ Ngọc Hiền hữu muốn lập công nơi nào? Toà Thánh Trung Ương, Hậu Giang?

Mỹ Ngọc bạch: Nơi Toà Thánh.

Toà Thánh là gốc cội của Ðạo, nếu muốn lập công nơi đó, vì Thầy đã dạy, thì nên làm đi, cách xây đổi phương lược tùy cơ ứng biến, ấy là cơ nghiệp riêng của mỗi Ðạo hữu, Bần đạo không dám dạy, nếu chờ thì phải trễ chăng? Hiền hữu nên xét, Ðời khác Ðạo khác, những sự lỗi lầm của mình tạo khổ cho mình mà nguyên nhân vẫn cứ huyền bí, mắt thịt tâm phàm chưa dễ độ đặng, nên xét cho xa."

Ngài Bảo Văn Pháp Quân Cao Quỳnh Diêu ngoạ bịnh trong mấy ngày rồi đăng Tiên vào ngày 4 tháng 9 năm Mậu Tuất (Dl. 16/10/1958), tại Văn Phòng Trung Tông Đạo, trong Nội Ô Toà Thánh, hưởng thọ 75 tuổi.

Đàn cơ đêm 26 tháng 11 năm Mậu Tuất (Dl. 5/1/1959) tại Giáo Tông Đường, phò loan Thượng Sanh và Tiếp Pháp, Ngài Cao Quỳnh Diêu giáng dạy như sau:

Chào hai em Thượng Sanh, Tiếp Pháp và mấy em.

Cười... Tiếp Pháp! Bây giờ Bần đạo hết rệu rồi nghe không. Nhớ lại buổi trước còn nằm dầm tại Trung Tông thì chán quá! Đi, ở cũng là sự thường, đi rồi ngảnh lại thương mấy bạn còn ở phải chịu bao nhiêu nhọc nhằn tâm trí, nhưng đó là nhiệm vụ của mỗi bạn do Đức Chí Tôn sắp đặt. Bần đạo nhờ từ tâm của Phật Mẫu và Cửu vị Phật Nương Diêu Trì Cung, nên cũng đặng phần ân huệ thiêng liêng.

Hiện giờ Bần đạo hiệp với mấy bạn của chúng ta nơi thiêng liêng tiếp tục làm công quả phổ độ Á Châu. Bần đạo có mấy lời hiến chư quí bạn:

Đau khổ ném xong cái gánh trần,

Nhẹ nhàng mới toại chí thanh vân.

Đường mây vừa thoát tầm sông lệ,

Cánh hạc vui qua tận đảnh thần.

Công lớn chưa ghi trang sử Đạo,

Nghiệp hồng còn tiếp dựng nền nhân.

Giựt mình hối tiếc bao tâm sự,

Nhắn bạn trường tu gắng vẹn phần.

Thượng Sanh cùng cả mấy bạn, Bần đạo để lời cám ơn. Thôi, xin kiếu.

Nói về sự nghiệp của Ngài Bảo Văn Pháp Quân, Đức Thượng Sanh Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài có đoạn trong bài ai điếu như sau:

Ngài là một vị trong Chức sắc Hiệp Thiên Ðài mà buổi Ðạo mới khai, Ðức Chí Tôn và các Ðấng Thiêng liêng đã đến dìu dắt trước nhứt để giao phó sứ mạng thiêng liêng sử dụng cơ bút đặng độ nhơn sanh nhập vào cửa Ðại Ðạo.

Ðầu năm 1926, tức là năm Bính Dần, một lượt với chư vị Chức sắc cao cấp Hiệp Thiên Ðài, Ngài đắc lịnh nâng loan, hiệp với Ðức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt, lúc đương phẩm Ðầu Sư, và các vị Ðại Thiên phong Cửu Trùng Ðài đi phổ độ khắp các tỉnh, nhứt là các tỉnh trung ương và miền Tây Nam Việt.

Mặc dầu còn giúp việc cho một hãng tư, Ngài không nệ cực nhọc gắng làm tròn nhiệm vụ trong hai năm Bính Dần và Ðinh Mão (1926 và 1927), là hai năm mà Ðức Chí Tôn cho huyền diệu cơ bút, thâu nhập môn gần một triệu tín đồ, đem lại cho nền Ðạo một thắng lợi vẻ vang về mặt tinh thần cũng như về mặt phổ thông Chơn đạo.

Ngài thọ phong Tiếp Lễ Nhạc Quân năm Ðinh Mão (1927), qua năm Kỷ Tỵ (1929) lối tháng 10, mặc dầu hưởng lương bổng trọng hậu, Ngài phế đời về Toà Thánh hiến thân lo Ðạo, giúp Hội Thánh sắp đặt nội bộ, nhứt là góp công trong việc nâng loan cho Ðức Chí Tôn và các Ðấng dạy truyền Ðạo lý.

Ðầu năm Canh Ngũ (1930), được đắc phẩm vị Bảo Văn Pháp Quân, Ngài cố tâm chấn chỉnh Lễ Nhạc, ra công dạy Nhạc cho ban Nhạc sĩ tại Toà Thánh, từ điệu nghệ cầm roi trống cho tới bài bản Âm nhạc.

Ðến cuối năm Canh Ngũ (1930), Ngài rủi bị nạn hỏa tai, cả nhà cửa sự nghiệp bị thiêu hủy, nên vì sinh kế Ngài trở về Phú Nhuận (Gia Ðịnh).

Kể một thời gian qua, Ngài hiệp với mấy bạn Thập nhị Thời quân Hiệp Thiên Ðài để gầy dựng cơ quan tái lập tại Thánh Thất Từ Vân nơi Phú Nhuận, lo chú giải Tân Luật, Pháp Chánh Truyền và lập Luật điều phụ thuộc, để sau nầy giúp cho Chức sắc dễ thi hành phận sự.

Mãi đến năm Canh Dần (1950), Ngài trở về Toà Thánh, quyết lòng cộng tác với Chức sắc cao cấp Hiệp Thiên Ðài lo làm phận sự.

Nhưng từ ấy đến sau, vì tuổi cao sức yếu, Ngài không thể đảm đương nhiệm vụ chung lo với Hội Thánh, hơn nữa Ngài đã phế cả sự nghiệp vì chủ nghĩa của Ðạo và bởi đó, Ngài chịu lắm vất vả về vật chất, xác thân càng tiều tụy hao mòn.

Vừa rồi Ngài ngọa bịnh không mấy ngày, bỗng phút vĩnh biệt cố thân, xa miền dương thế.

Thuở sinh tiền Ngài Bảo Văn Pháp Quân, có bút hiệu Mỹ Ngọc, Đạo hiệu Cao Liên Tử, là một thi sĩ danh tiếng trong thời bấy giờ. Ngài có sáng tác rất nhiều bài thơ và kết thành “Mỹ Ngọc Thi Phổ”.

1.- Bảo Văn Pháp Quân:

Ngài Bảo Văn Pháp Quân sanh trưởng tại làng Hiệp Ninh, Tổng Hàm Ninh Thượng thuộc tỉnh Tây Ninh.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

2.- Bảo Văn Quân:

Lòng thành ai điếu Bảo Văn Quân,

Sanh tử chẳng qua cũng một lần.

(Thơ Hiến Pháp).

 

 

BÃO

1.- Bão là gió xoáy trong phạm vi rộng, có sức phá hoại dữ dội do gió lớn mưa to. Như: Phong ba bão táp.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Trước cảnh máu xương chồng chất gây nên bởi chiến cuộc, trước cảnh chiếu đất màn trời, của mấy trăm nạn nhân bão lụt miền Trung đang vất vả khóc than, vì đói rách cơ hàn, chúng ta những người đã xả thân cầu đạo, có vui sướng gì mà hỉ hạ chơi Xuân, hoang phí đồng tiền để làm khách phong lưu trong buổi trà dư tửu hậu.

Trong ngày mười tám vẫn an khương,

Tối lại bão to rất lạ thường.

(Thơ Thái Đến Thanh).

Bão tới, sao đưa về lũ lụt?

Nắng thiêu, nở héo hết cây mầm!

(Thơ Thanh Hương).

2.- Bão là no, không đói.

Như: Bão noãn (no ấm), bão mãn (đầy đủ), cư bất cầu an thực bất cầu bão.

Nhưng chưa nghèo phải học nghèo, chưa khổ phải học khổ, kế chí quân tử, cư bất cầu an, thực bất cầu bão...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

BÃO BÙNG

Bão: Cơn gió to thổi. Bùng: Bốc, phát lên mạnh.

Bão bùng là bão lớn bốc lên mãnh liệt và dữ dội.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Ngày nay về đảm đương việc Ðạo, chúng tôi quyết tôn trọng tinh thần tập thể, nghĩa là sẽ chung trí mà lái con thuyền Ðạo giữa cơn sóng gió bão bùng. Phàm một sắc lịnh hay một quyết nghị nào sẽ đem ra ban hành là khi đã được phần đông chức sắc Hiệp Thiên Ðài chấp thuận.

Phú quý ấy là nơi Thiên định,

Bão bùng hết lúc đến hồi an.

(Đạo Sử).

Chờ cho nước lặng đến chơn,

Chơn mau khó thoát mấy cơn bão bùng.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

BÃO TỐ

Bão: Cơn gió to thổi. Tố: Cơn dông.

Bão tố, đồng nghĩa với chữ “Bão táp”, là nói một cơn bão lớn, dữ dội, thường dùng để ví với cảnh gian nan đầy thử thách, hoặc việc xảy ra dữ dội, mãnh liệt. Như nói: Cuộc đời đầy bão tố.

Thánh giáo Đức Diêu Trì Kim Mẫu có dạy trong Thánh Ngôn Sưu Tập như sau: Mẹ mừng đến nỗi rơi nước mắt, vì thấy các con hãy còn trong vòng cương toả của thế tình. Tuy nhiên nhờ tánh đức của các con đã rèn luyện bấy lâu nên cũng lướt qua nhiều bão tố.

Đảnh Việt chờ qua cơn bão tố,

Muôn năm tỏ rạng mối chơn truyền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cơn bão tố thuyền con thủ phận,

Để chờ cơn tan trận phong ba.

(Lục Nương Giáng Bút).

Đảnh Việt chờ qua cơn bão tố,

Muôn năm tỏ rạng mối chơn truyền.

(Thượng Phẩm Giáng Bút).

 

 

BẠO

1.- Bạo là không nhút nhát, không sợ hãi. Như: Bạo ăn, bạo nói, bạo gan, bạo tính.

Thánh giáo Thầy trong Đạo Sử có dạy: Các con cũng nên bạo gan mà nói trước mặt Vạn Quốc cùng Chánh Phủ rằng: Các con là người Ðạo biết giúp đỡ nhơn sanh, dạy dỗ nhơn sanh, chớ chẳng biết chánh trị là gì?

Ðường đạo vững bền, chớ nên bạo tính mà cũng chẳng nên giải đãi bần dùn, gắng công trì chí, liệu chừng với nhau mà vẹt cho sạch mấy lối chông gai để cho dễ bước đường sau tấn bộ.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

2.- Bạo là hung dữ, không kể gì đến nhơn nghĩa, đạo đức. Như: Hung tàn bạo ngược, bạo thiên nghịch địa.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy: hoạ Âu tai Á sẽ vì Thiên điều mà phạt kẻ bạo tàn tội lỗi.

Trói người vào đó xát chà,

Vì chưng hung bạo đốt nhà bắn săn.

(Kinh Sám Hối).

Chê tà trừ bạo lẽ như nhiên,

Song lưỡi gươm chưa sánh dạ hiền.

(Đạo Sử).

 

 

BẠO HÀNH

暴 行

Bạo: Hung tợn. Hành: Việc làm, hành động.

Bạo hành là dùng lối hung dữ và ngang ngược trong khi hành động.

Như: Kẻ tham quan mới bạo hành với người dân.

Vui chánh nghĩa vui hoài không thẹn,

Vui bạo hành là kẻ dã tâm.

(Bát Nương Giáng Bút).

Gây trường náo loạn kinh hồn,

Đế quyền xúi giục du côn bạo hành.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

BẠO NGƯỢC

暴 虐

Bạo: Hung tợn. Ngược: Ngang ngược, độc ác.

Bạo ngược là tàn bạo ngang ngược, tức kẻ hung tợn độc ác.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bởi vì đời quá hung tàn bạo ngược vô nhơn luân, tinh thần đạo đức không quy định, tâm lý loài người không tương quan cùng nhau, mất cả luật đồng sanh làm căn bản của loài người, luật đồng sanh gần như bị huỷ bỏ.

Hiền ngõ rủi sanh đời bạo ngược,

Dầu trong Thánh đức cũng ra thường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Đừng học thói của quân bạo ngược,

Xử mẹ cha tội phước quá hơn toà.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

BẠO TÀN

暴 殘

Bạo: Hung dữ, dữ dội. Tàn: Ác, xấu lắm.

Bạo tàn, như chữ “Tàn bạo 殘 暴”, là độc ác, hung bạo, tàn ngược.

Thánh giáo Thầy có câu: Còn có một hạng người cũng có tánh thiêng liêng ấy, nhưng lại không để trí khôn vào lối cao thượng, mà cứ quen thói hung hăng, nghĩ những việc bạo tàn, làm điều tội lỗi, ấy là những kẻ nghịch Thiên, không biết luân hồi là chi cả.

Lấy chí Thánh dìu đời giác ngộ,

Dụng bạo tàn đâu phải chỗ an bang.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

Sâu dân mọt nước bạo tàn,

Mua quan bán chức nhộn nhàng cân đai.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Người hiền cứu sống theo phò chúa,

Kẻ dữ bạo tàn xác quạ tha.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

BẠO TẦN

暴 秦

Bạo: Hung dữ ngược ngạo. Tần: Nhà Tần.

Bạo Tần chỉ nhà Tần bạo ngược, đốt sách chôn Nho, bắt dân xây Vạn Lý Trường Thành, khiến lòng người không phục, đó là dọn đường cho Lưu Bang lập nên nhà Hán sau nầy.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Luận xa hơn nữa, thiên hạ tưởng cái võ lực của họ là hơn hết, nếu võ lực quả nhiên bảo thủ cái sống của họ còn tồn tại, thì Sở Bá Vương kia, nào bạo Tần nọ, hỏi cái nghiệp của họ còn bền bỉ hay chăng, nếu không có thượng cờ nhơn nghĩa thì cái nghiệp Hớn không còn tồn tại tới 800 năm, không có thượng cờ nhân nghĩa thì nhà Châu chưa hề cướp đặng cái Đế vị của nhà Trụ.

Các con, nền Ðạo bề ngoài coi diềm dà sung túc, mà chẳng thấy rõ cái mạch bịnh trong tâm, chẳng khác chi thế Sở chế bạo Tần,...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

BÁT

1.- Bát là thứ đồ làm bằng sành, sứ hay gỗ, dùng để chứa đựng các thức ăn uống hoặc các thức khác.

Như: Chén bát, bát đĩa, bình bát vu, bát nước trà.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Cơ hội ngàn năm một thuở, ví như Ðấng Chí Tôn không khai mối Ðạo Trời, cái đà sống của mỗi người chúng ta trong thời loạn là cần cù mưa nắng vì manh áo bát cơm, nay di cư chỗ nầy, mai đổi dời chỗ khác, phải chịu cảnh lầu Tần quán Sở, cay đắng trăm bề, trong lúc loạn ly thì vàng thau chung chạ, ngọc đá bất phân, ngoài ra còn bận bịu gánh thê nhi, não nề tình ấm lạnh, rồi đến khi Thiên số nan đào, thân cát bụi không còn để lại một dấu vết chi cho người đời nhắc nhỡ.

Thương đồng loại cũng hơn thí bạc,

Thấy trên đường miểng bát, miểng chai.

(Kinh Sám Hối).

Gái nồi cơm bát nước đói no,

Trai thang thuốc ngày lo an vấn.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Bát là tám, con số đếm đứng trước số chín và sau số bảy.

Như: Bát quái đồ thư, bát phẩm chơn hồn,thuyền bát nhã, bát trận đồ.

Xa trông cảnh vật đã xây tròn,

Bát hướng Ðài ngừng thấy nước non.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

BÁT ÂM

八 音

Bát: Tám, con số đếm đứng trước số chín và sau số bảy. Âm: Âm thanh, tiếng.

Bát âm là tám loại âm thanh.

Trong âm nhạc, người ta chia ra tám thứ tiếng:

 

1.-Bào: Tiếng sênh.

 

2.-Thổ: Tiếng trống đất.

 

3.-Cách: Tiếng trống da.

 

4.-Mộc: Tiếng mõ gỗ.

 

5.-Thạch: Tiếng khánh đá.

 

6.-Kim: Tiếng chuông đồng.

 

7.-Ty: Tiếng dây đàn.

 

8.-Trúc: Tiếng ống sáo tre.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bởi cớ nên dùng đến những vật bát âm, nó đã chết đi rồi như cái trống chẳng hạn, tấm da trâu ấy đã chết, mà với sự khôn ngoan loài người mà nó có tiếng kêu được, tức là làm cho nó sống lại được,

Nghĩa bóng: Chỉ chung về âm nhạc.

Nơi Á Ðông có câu: “Biều, thổ, cách, mộc, thạch, kim, dữ tư trước, nãi bát âm”.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

BÁT BỬU

八 寶

Bát: Tám, số đếm. Bửu: Báu, bửu bối.

Bát bửu là tám món báu của Bát Tiên, tức là bửu bối của tám vị tu luyện thành Tiên ở núi Bồng Lai. Đó là:

 

1- Bầu của Lý Thiết Quả.

 

2- Quạt của Hớn Chung Ly.

 

3- Gươm của Lữ Đồng Tân.

 

4- Sanh của Tào Quốc Cựu.

 

5- Hoa Lam của Lâm Thái Hoà.

 

6- Ống Tiêu của Hàn Tương Tử.

 

 7- Gậy của Trương Quả Lão.

 

8- Bông Sen của Hà Tiên Cô.

Nơi Toà Thánh Tây Ninh của Đạo Cao Đài, có đặt hai dàn Bát bửu ở hai bên song song và đối xứng nhau trước Chánh Điện thờ Đức Chí Tôn.

Bát bửu còn ai chẳng quý mà,

Nương đời dạy Đạo lắm công ta.

(Bát Nương Giáng Bút).

Kìa trước Điện hai hàng Bát bửu,

Đã phô bày tả hữu hiển nhiên.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

BÁT BỬU NANG

八 寶 囊

Bát bửu: Tám món báu. Nang: Cái túi.

Bát bửu nang là cái túi đựng tám món báu. Tám món báu ấy là: Hiếu, đễ, trung, tín, lễ nghĩa, liêm, sỉ.

Theo Ngọc Lộ Kim Bàn, Đức Phật Mẫu lấy ra trong hộp Cửu Hoàn ở trước đài Thất Bửu một cái túi đựng tám món báu là: Hiếu, đễ, trung, tín, lễ nghĩa, liêm, sỉ, rồi dặn các chơn linh xuống thế phải giữ gìn tám món báu đó. Nếu bỏ mất món nào thì khó trở về ngồi toà sen được.

Luyện thần kết tụ Tam huê đảnh,

Ngộ đạo thực hành Bát bửu nang.

(Thơ Huệ Phong),

 

 

BÁT CẢNH CUNG

八 境 宮

Bát Cảnh Cung là một toà cung điện nơi cõi Thiêng liêng có tám cảnh mà Đức Phật Mẫu dùng để vận chuyển bát hồn hoá thành chúng sanh.

Vì vậy, nơi Báo Ân Từ tạm thờ Đức Phật Mẫu, Đức Hộ Pháp cho chia ra làm tám căn, mỗi căn đều treo cờ trên một tấm bảng nhỏ có đề “Bát Cảnh Cung kỳ 八 境 宮 旗”, nghĩa là cờ Bát Cảnh Cung.

Bát Cảnh Cung quỳ xinh áo trắng,

Tam Quan Cửa mở lộng mây xanh.

(Thơ Hoàn Nguyên).

Bát Cảnh Cung, tầm phương bất tử,

Cửu Trùng Thiên, mở lối hằng sanh.

(Thơ Hàn Sinh).

Một sớm về thăm Bát Cảnh Cung,

Trước đền Phật Mẫu ngắm hoa tùng.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

BÁT CHÁNH ĐẠO

Hay “Bát chánh”.

Bát chánh (chính): Tám thứ hoàn toàn, ngay thẳng, đúng với sự thật. Đạo: Con đường, tôn giáo.

Bát chính đạo 八 正 道 hay Bát chánh, là con đường của sự hành trì chân chánh, tức là tám phương tiện hành động đưa chúng sanh đến một đời sống an lạc, dẫn đến mọi giải thoát khổ đau.

Bát chánh đạo, còn gọi là “Bát Thánh đạo” thuộc nội dung của Đạo đế, tức phần thứ tư của Tứ Diệu Đế, gồm:

1. Chánh kiến: Thấy biết rõ sự thật khổ đau và con đường tu tập đạt đến an lạc hạnh phúc.

2. Chánh tư duy: Suy nghĩ đúng với chơn tánh của mọi sự vật.

3. Chánh ngữ: Nói lời chơn thật, không nói láo, nói ác, nói hai lưỡi, nói phù phiếm.

4. Chánh nghiệp: Hành động, việc làm không phạm giới, đúng với lẽ phải, có lợi ích cho mình, cho mọi người.

5. Chánh mạng: Nuôi sống sanh mạng bằng nghề nghiệp lương thiện, trong sạch, tránh làm các nghề như đồ tể, thợ săn...

6. Chánh tinh tấn: Siêng năng cố gắng kiên trì tu tập thân tâm, nên làm việc thiện, tránh làm ác.

7. Chánh niệm: Sống tỉnh thức, có ý thức về thân thể, cảm thọ, tâm hành...

8. Chánh định: Giữ tâm ý an trụ tĩnh lặng, tâm không tán loạn, lắng đọng mọi vọng tưởng.

Trong Bát chánh đạo có hai Pháp môn quan trọng hơn hết là: Chánh kiến và Chánh định.

(Giáo Lý).

 

 

BÁT ĐẠO NGHỊ ĐỊNH

八 道 議 定

Bát đạo: Tám điều trong tôn giáo. Nghị định: Lời quyết nghị trở thành luật.

Bát Đạo Nghị Định là tám nghị định quan trọng của Đức Lý Giáo Tông hiệp cùng Đức Hộ Pháp ký tên ban hành trong Đạo Cao Đài Tây Ninh, nhằm chỉnh đốn lại các cơ quan và cách hành Đạo.

Bát Đạo Nghị Định được xem như là Thiên điều, không bao giờ thay đổi, bởi vì nó do Giáo Tông và Hộ Pháp, tức