TỪ NGỮ ĐIỂN CỐ CAO ĐÀI

 

 

Danh mục vần C

 

CA

Ca

Ca dao

Ca Diếp

Ca ngâm

Ca sa

Ca tụng

Ca xang

 

Cá ao ngại lửa

Cá chậu chim lồng

Cá chậu gà chuồng

Cá hoá cù

Cá hoá long

Cá hoá rồng

Cá kia chung chậu hơi quen

Cá nước

Cá nhân

Cá tánh

 

Cà nanh

Cà sa

 

CẢ

Cả

Cả gan

Cả thảy

 

CÁC

Các Đằng

Các lân

Các tía

Các tư kỳ sự

Các trần thần linh

 

CÁCH

Cách

Cách ăn

Cách ăn thói ở

Cách biệt

Cách mạng

Cách thức

Cách trí

Cách trở

Cách vật trí tri

 

CAI

Cai

Cai quản

Cai trị

 

CÁI

Cái

Cái thế

Cái Thiên

 

CÀI

Cài

Cài trâm sửa áo

 

CẢI

Cải

Cải ác

Cải ác tùng lương

Cải chính

Cải dẫn

Cải dữ

Cải dữ ra hiền

Cải hạnh

Cải hoá

Cải kim

Cải quá

Cải số

Cải sửa

Cải tà quy chánh

Cải tạo

Cải tổ

Cải tử hoàn sanh

Cải Trời

 

CÃI

Cãi

Cãi lẽ

Cãi lịnh

Cãi luật

 

CAY

Cay

Cay chua

Cay đắng

Cay nghiệt

 

CÀY

Cày

Cày cấy

Cày mây

Cày mây cuốc nguyệt

 

CAM

Cam

Cam chịu

Cam đành

Cam đoan

Cam go

Cam kết

Cam khổ

Cam La

Cam lòng

Cam lộ

Cam phận

Cam tâm

 

CÁM

Cám

Cám cảnh

Cám dỗ

Cám ơn

 

CẢM

Cảm

Cảm động

Cảm đức cao sâu

Cảm hoá

Cảm hoài

Cảm hứng

Cảm kích

Cảm khái

Cảm mến

Cảm quang

Cảm tạ

Cảm tình

Cảm thông

Cảm thương

Cảm ứng

Cảm xót

Cảm xúc

 

CẠM

Cạm bẫy

 

CAN

Can

Can đảm

Can gián

Can qua

Can thiệp

Can trường

 

CÁN

Cán

Cán cân

 

CÀN

Càn

Càn kiện cao minh

Càn khôn

Càn khôn chủ tể

Càn khôn dĩ tận thức

Càn khôn đại thống

Càn khôn đào tạo

Càn khôn oát vận

Càn khôn thế giới

Càn khôn Vũ trụ

Càn Khôn xuất hữu hình

Càn Nguơn

Càn vô đắc khán

 

CẢN

Cản ngăn

 

CẠN

Cạn

Cạn bày

Cạn lẽ

Cạn lý

Cạn lời

Cạn phân

 

CANG

Cang

Cang cường

Cang lệ

Cang tam

Cang tâm

Cang thường

Cang trực

 

CÀNG

Càng

 

CANH

Canh

Canh cải

Canh cửi

Canh điền

Canh gà

Canh khuya

Canh lụn

Canh tàn

Canh tân

Canh tràng

Canh trường

 

CÁNH

Cánh

Cánh bằng

Cánh hộc

Cánh hộc hồng

Cánh hồng

Cánh lông

Cánh nhạn

Cánh vi

 

CÀNH

Cành

Cành xuân nhuỵ nở

 

CẢNH

Cảnh

Cảnh cáo

Cảnh duyên

Cảnh đoạ

Cảnh giới

Cảnh huống

Cảnh lạc

Cảnh ngộ

Cảnh nghịch

Cảnh nhàn

Cảnh phạm

Cảnh Tiên

Cảnh tỉnh

Cảnh tịnh

Cảnh tục

Cảnh thăng

Cảnh Thần

Cảnh Thiên

Cảnh trí

Cảnh ủ bông tàn

Cảnh vật

 

CẠNH

Cạnh

Cạnh tranh

 

CAO

Cao

Cao bay

Cao bay xa chạy

Cao cường

Cao Đài

Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát

Cao đẹp

Cao đồ

Cao hoang

Cao kiến

Cao kỳ

Cao khiết

Cao lương

Cao lương mỹ vị

Cao niên

Cao ngạo

Cao ngôi

Cao ngôn

Cao ngự

Cao Quân dời Phật

Cao quý

Cao quyền

Cao sang

Cao sắc

Cao sâu

Cao sĩ

Cao siêu

Cao thăng

Cao thâm

Cao thấp

Cao thượng

Cao thượng Chí Tôn

Cao Thượng Phẩm

Cao trọng

Cao xanh

 

CÁO

Cáo

Cáo chung

Cáo luật

Cáo Từ Tổ

Cáo trạng

 

CẢO

Cảo thơm

 

CẠO

Cạo

 

CÁT

Cát

Cát ái ly gia

Cát bụi

Cát bụi lầm

Cát đằng

Cát lầm

Cát luỹ

Cát nhựt

Cát tường

 

CẮC

Cắc

Cắc cớ

 

CĂM

Căm

Căm gan

Căm hờn

 

CẮM

Cắm

Cắm cổ

Cắm đầu

 

CẶM

Cặm cụi

 

CĂN

Căn

Căn bản

Căn bịnh

Căn cội

Căn cớ

Căn cứ

Căn dặn

Căn duyên

Căn do

Căn kiếp

Căn mạng

Căn nợ

Căn nguyên

Căn nghiệp

Căn nghiệt

Căn phần

Căn quả

Căn quả số

Căn quả tiền khiên

Căn sanh

Căn sinh

Căn số

Căn Ta Ca

Căn tội

Căn tu

Căn xưa quả cũ

Căn xưa quả kiếp

 

CẮN

Cắn

Cắn răng

Cắn rứt

Cắn xé

 

CẰN

Cằn cỗi

Cằn nhằn

Cằn rằn

 

CẲN

Cẳn nhẳn

 

CẶN

Cặn kẽ

 

CẲNG

Cẳng

 

CẶP

Cặp

Cặp đèn

Cặp kè

Cặp liễn tang

 

CẮT

Cắt

 

CÂY

Cây

Cây có cội nước có nguồn

Cây cỏ

Cây cối

Cây cội nước nguồn

Cây đa

Cây liền cành

Cây muốn lặng

Cây ngô

Cây rừng trăm tuổi

Cây trăm thước

Cây trăm thước bắc thang bến khổ

 

CẤY

Cấy

 

CẬY

Cậy

Cậy mình tài

Cậy nương

Cậy nhờ

Cậy sức

Cậy tài

Cậy thế

Cậy thế ỷ quyền

Cậy thế ỷ thời

 

CÂM

Câm

 

CẤM

Cấm

Cấm đình

Cấm nhặt

 

CẦM

Cầm

Cầm bằng

Cầm cân

Cầm cân nảy mực

Cầm điểu

Cầm đường

Cầm hạc

Cầm kỳ thi tửu

Cầm loan

Cầm nguyệt

Cầm quyền

Cầm sắt

Cầm thi

Cầm thú

 

CẨM

Cẩm

Cẩm bào

Cẩm đôn

Cẩm nang

Cẩm tú

Cẩm tú giang san

 

CÂN

Cân

Cân công bình

Cân công lý

Cân đai

Cân lường

Cân nhắc

Cân phân

Cân Tạo hoá

Cân Thần

 

CẤN

Cấn

 

CẦN

Cần

Cần câu Lữ

Cần cổ

Cần cù

Cần chuyên

Cần ích

Cần yếu

Cần kiệm

Cần lao

Cần mẫn

Cần vương

 

CẨN

Cẩn

Cẩn ngôn cẩn hạnh

Cẩn sớ thượng tấu

Cẩn thận

 

CẬN

Cận

Cận hiền như dựa chi lan

Cận kề

Cận lợi

 

CẤP

Cấp bằng

Cấp Cô Độc

Cấp tế

Cấp thời

 

CẬP

Cập kê

 

CẤT

Cất

Cất nhà cõi Thiên

Cất nhắc

 

CẬT

Cật

Cật lực

Cật ruột

Cật vấn

 

CÂU

Câu

Câu kinh tiếng kệ

Câu mâu

Câu sanh Tịnh độ

Câu Tích kim

Câu Tiễn

Câu tùng

 

CẤU

Cấu

Cấu kết

Cấu thành

Cấu xé

 

CẦU

Cầu

Cầu bất đắc khổ

Cầu bịnh

Cầu cạnh

Cầu cao

Cầu cơ

Cầu danh

Cầu danh chác lợi

Cầu duyên

Cầu đảo

Cầu đảo Chí Tôn

Cầu Đạo

Cầu hôn

Cầu hồn

Cầu Kho

Cầu khẩn

Cầu Lam

Cầu Lam chưởng ngọc

Cầu lợi

Cầu may

Cầu Nại Hà

Cầu nguyện

Cầu Ô

Cầu phong

Cầu quạ

Cầu rỗi

Cầu siêu

Cầu tiến

Cầu thăng

Cầu thỉnh

Cầu vận thời tại Bàn Khê

Cầu vinh

Cầu vui

Cầu xin

 

CẨU

Cẩu thả

 

CẬU

Cậu

 

CIVA

Civa Phật

 

CO

Co

Co cỏm

Co duỗi

Co đắp chung mền

 

Có ăn có mặc

Có công mài sắt

Có lẽ

Có mòi

Có thân khổ cho thân

Có thể

 

Cò ngao

 

CỎ

Cỏ

Cỏ cây

Cỏ đeo châu

 

COI

Coi

Coi bộ

Coi chừng

Coi dèo

Coi khinh

Coi mòi

Coi nhẹ

Coi thường

 

CÒI

Còi

 

CÕI

Cõi

Cõi Bồng

Cõi bờ

Cõi dương gian

Cõi Dương trần

Cõi Đào Nguyên

Cõi đoạ

Cõi Hư linh

Cõi Hư vô

Cõi không

Cõi linh

Cõi lòng

Cõi phàm

Cõi tạm

Cõi Tây Phang

Cõi Tiên nước Phật

Cõi tục

Cõi Thánh

Cõi thăng

Cõi thế

Cõi Thiên

Cõi Thiêng liêng Hằng sống

Cõi thọ

Cõi trần

Cõi vĩnh hằng

 

CON

Con

Con buôn

Con cái

Con đẻ

Con đỏ

Con giặc tôi loàn

Con Hồng

Con Hồng cháu Lạc

Con nít

Con người

Con người tối linh

Con nhờ thầy

Con quốc quốc

Con rồng

Con Rồng cháu Tiên

Con thơ

Con trẻ

Con vịt mẹ gà

 

CÒN

Còn

 

CỎN

Cỏn con

 

CÒNG

Còng

 

CỌNG

Cọng

Cọng lúa chín bông

 

CỌP

Cọp

 

Cô bác

Cô đăng

Cô độc

Cô đơn

Cô hồn

Cô lập

Cô lậu

Cô liêu

Cô miên

Cô Nhi Viện

Cô nhi quả phụ

Cô phần

Cô phòng

Cô quả

Cô quạnh

Cô tịch

Cô thân

Cô thế

Cô thôn

 

CỐ

Cố

Cố cựu

Cố chấp

Cố giao

Cố hương

Cố hữu

Cố ý

Cố lân

Cố lý

Cố nhân

Cố quốc

Cố tâm

Cố vấn

 

CỔ

Cổ

Cổ động

Cổ lai hy

Cổ học

Cổ kim

Cổ kim hy hữu

Cổ kính tàn y

Cổ lai chinh chiến

Cổ Loa

Cổ luật

Cổ mộ

Cổ nhơn hình tợ thú

Cổ pháp

Cổ Phật

Cổ quái

Cổ Tẩu

Cổ tục

Cổ truyền

Cổ vãng kim lai

 

CỘ

Cộ

 

CỐC

Cốc

 

CỘC

Cộc cằn

 

CÔI

Côi

Côi cút

Côi quạnh

Côi thế

 

CỐI

Cối

 

CỔI

Cổi

 

CỖI

Cỗi

 

CỘI

Cội

Cội ái

Cội ái nguồn nhân

Cội Âm Chất

Cội bá cội tùng

Cội Bồ Đề

Cội cả

Cội Đạo

Cội huyên

Cội lý ruộng dưa

Cội nguồn

Cội nhành

Cội nhân

Cội phúc

Cội rễ

Cội sanh ba nhánh

Cội tử

Cội thung

Cội xuân

 

CÔN

Côn

Côn Lôn

Côn quờn

Côn trùng

 

CỒN

Cồn

Cồn dâu hoá bể

 

CÔNG

Công

Công bất khả nghị

Công bình

Công cán

Công cô

Công cử

Công chánh

Công chúa

Công chúng

Công dã tràng

Công danh

Công danh phú quý

Công dung ngôn hạnh

Công đầy quả mãn

Công đèn sách

Công đức

Công đường

Công hầu

Công hầu khanh tướng

Công hầu vương bá

Công hiệu

Công ích

Công kích

Công Kỹ nghệ

Công khanh

Công lao

Công lao khổ

Công lao sanh dưỡng

Công linh

Công lý

Công minh

Công môn

Công nghệ

Công nghiệp

Công nho

Công phu

Công quả

Công quả trường thi

Công sai

Công tâm

Công tội

Công tử

Công tham Thái cực

Công thành danh toại

Công thành thân thoái

Công thần

Công thưởng

Công thưởng tội trừng

Công trạng

Công trình

Công tròn quả mãn

Công truyền

Công Trứ

Công viên quả mãn

Công Viễn

Công Viện

 

CỐNG

Cống

Cống Hồ

 

CỔNG

Cổng kính tường cao

 

CỘNG

Cộng

Cộng đồng

Cộng đồng quyền lợi

Cộng hoà

Cộng hưởng

Cộng nghiệp

Cộng sự viên

Cộng tác

 

CỐT

Cốt

Cốt cách

Cốt yếu

Cốt hài

Cốt yếu

Cốt nhục

Cốt nhục đồng bào

Cốt nhục tương tàn

Cốt tuỷ

 

CỘT

Cột

Cột mai cột mối

Cột phướn

 

Cơ bút

Cơ cẩn

Cơ cấu

Cơ cầu

Cơ chuyển thế

Cơ diệt thế

Cơ duyên

Cơ Đạo

Cơ đồ

Cơ đời

Cơ giải thoát

Cơ hàn

Cơ hội

Cơ huyền diệu

Cơ khảo

Cơ mầu

Cơ ngơi

Cơ ngẫu

Cơ nghiệp

Cơ phong Thánh

Cơ quan

Cơ Quan Phát Thanh

Cơ Quan Phước Thiện

Cơ sanh hoá

Cơ sở

Cơ tạo

Cơ tận độ

Cơ Thánh lâm phàm

Cơ thể

Cơ thoát tục

Cơ thử thách

Cơ thưởng phạt

Cơ Trời

Cơ trời huyền diệu

 

CỚ

Cớ

Cớ sao

 

CỜ

Cờ

Cờ bạc

Cờ Đạo

Cờ mao

Cờ rủ

 

CỞI

Cởi

Cởi mở

 

CỠI

Cỡi

Cỡi hạc

Cỡi phụng ngừa loan

Cỡi rồng

 

CƠM

Cơm

Cơm áo

 

CƠN

Cơn

 

CỢT

Cợt

Cợt bỡn

 

 

Cù cưa

Cù lao

Cù lao chín chữ

 

CỦ

Củ

 

 

CỤ

Cụ

Cụ Lưu

 

CUA

Cua

 

CỦA

Của

Của cải

Của không phải nghĩa

Của ông công bà

Của phù du

Của tiền

Của thập phương

 

CÚC

Cúc

Cúc cung

Cúc cung bái

Cúc dục

Cúc dục cù lao

Cúc nở

Cúc xủ sương tan

 

CỤC

Cục

 

CÚI

Cúi

Cúi lạy

Cúi lòn

Cúi ngửa

Cúi vâng

Cúi xin

 

CÙI

Cùi

Cùi đày

 

CỦI

Củi

Củi đậu

Củi quế gạo châu

 

CÚM

Cúm núm

 

CÙM

Cùm gông

 

CỤM

Cụm

 

CUNG

Cung

Cung âm

Cung cầm

Cung Chưởng Pháp

Cung dâu tên cỏ

Cung Diêu

Cung đàn

Cung Đạo

Cung Đẩu

Cung hiến

Cung hiến Tiên hoa

Cung hiến Tiên Tửu

Cung hiến Tiên Trà

Cung kiếm

Cung loan

Cung nga

Cung Ngọc

Cung nguyệt

Cung Nghê

Cung nghinh

Cung Như Ý

Cung phần

Cung phụng

Cung Quảng

Cung quế

Cung tiên

Cung Tốt

Cung thiềm

Cung thỉnh

Cung thương

Cung xanh

 

CÚNG

Cúng

Cúng kiếng

Cúng tế

Cúng Tứ thời

Cúng vong

 

CÙNG

Cùng

Cùng cực

Cùng đồ

Cùng đường

Cùng lý

Cùng thông

 

CỦNG

Củng cố

 

CŨNG

Cũng

 

CỤNG

Cụng

 

CUỐC

Cuốc

 

CUỘC

Cuộc

Cuộc bể dâu

Cuộc cờ

Cuộc đời

Cuộc sống

Cuộc thế

Cuộc trăm năm

 

CUỐI

Cuối

Cuối cùng

 

CUỐN

Cuốn

 

CUỒN

Cuồn cuộn

 

CUỘN

Cuộn

 

CUỐNG

Cuống

 

CUỒNG

Cuồng

Cuồng khấu

Cuồng phong

 

CÚT

Cút côi

 

Cư bất cầu an

Cư ngụ

Cư tang

Cư Thái Cực chi tiền

Cư trần bất nhiễm

Cư xử

 

CỨ

Cứ

 

CỬ

Cử án tề my

Cử chỉ

Cử động

 

CỮ

Cữ

 

CỰ

Cự

Cự tuyệt

 

CƯA

Cưa

 

CỬA

Cửa

Cửa công

Cửa Công khanh

Cửa Cực Lạc

Cửa chiền

Cửa Đạo

Cửa hấp gà tiễn phu

Cửa hầu

Cửa Hoà Viện

Cửa Không

Cửa Khổng

Cửa Khổng sân Trình

Cửa Khuyết

Cửa nát nhà tan

Cửa ngục

Cửa nhà

Cửa nhà xiềng gông

Cửa Phạm

Cửa Phật

Cửa quyền

Cửa sắc không

Cửa sổ

Cửa sổ thoát vó câu

Cửa tía

Cửa tịnh

Cửa tuyết

Cửa từ bi

Cửa Thánh

Cửa Thánh miếu

Cửa Thiền

Cửa Trình

Cửa Võ

 

CỰC

Cực

Cực điểm

Cực khổ

Cực Lạc

Cực Lạc quan

Cực lòng

Cực nhọc

Cực sướng

 

CỬI

Cửi

 

CƯNG

Cưng

 

CỨNG

Cứng

Cứng bền

Cứng cát

Cứng cỏi

Cứng cổ

Cứng mồm

Cứng rắn

 

CƯỚI

Cưới

Cưới gả

 

CƯỜI

Cười

Cười cợt

Cười giỡn

Cười mơn

 

CƯƠNG

Cương

Cương lĩnh

Cương quyết

Cương toả

Cương thổ

Cương trực

 

CƯỜNG

Cường

Cường khai

Cường ngạnh

Cường quyền

Cường tráng

 

CƯỠNG

Cưỡng bức

 

CƯỢNG

Cượng cầu

Cượng lý

 

CƯỚP

Cướp

Cướp bóc

Cướp giựt

 

CỨT

Cứt đái

 

CƯU

Cưu

Cưu cưu

Cưu hờn

Cưu mang

Cưu tâm

Cưu thước

 

CỨU

Cứu

Cứu an

Cứu cánh

Cứu cấp

Cứu chúng

Cứu chuộc

Cứu chữa

Cứu độ

Cứu đời

Cứu hộ

Cứu khổ

Cứu khổn

Cứu khổn phò nguy

Cứu nàn

Cứu nước

Cứu nguy

Cứu nhơn độ thế

Cứu nhơn tai

Cứu quốc

Cứu rỗi

Cứu tế

Cứu tinh

Cứu tử huờn sanh

Cứu thế

Cứu thế độ nhân

Cứu thế quyết ngưng quyền Địa phủ

Cứu ương

Cứu vãn

Cứu vớt

 

CỪU

Cừu

Cừu hận

Cừu y

 

CỬU

Cửu

Cửu hoàng

Cửu huyền

Cửu khiếu

Cửu Long Đài

Cửu lưu

Cửu Nương Diêu Trì Cung

Cửu nguyên

Cửu nhị Nguyên nhân

Cửu Phẩm

Cửu phẩm liên hoa

Cửu phẩm Thần Tiên

Cửu Tiên

Cửu Tiên chưởng âm

Cửu tiêu

Cửu tuyền

Cửu tự cù lao

Cửu thập ngũ hồi

Cửu thập nhị tào chi mê muội

Cửu Thiên

Cửu Thiên Huyền Nữ

Cửu Thiên Khai Hoá

Cửu trùng

Cửu Trùng Chư Thánh

Cửu Trùng tức xác thân

Cửu Trùng Thiên

Cửu U

Cửu Vị Tiên Nương

Cửu Viện

 

CỰU

Cựu

Cựu lệ

Cựu luật

Cựu ngôi

Cựu nguyên

Cựu nghiệp

Cựu phẩm

Cựu vị

 

 

 

 

 

 

 

 

C

 

CA

1.- Ca là hát. Như: Ca bài vọng cổ, ca cải lương, ca khúc khải hoàn, ca sĩ.

Huấn từ Thượng Sanh đọc trong buổi lễ Khánh thành Cơ Quan Phát Thanh Phổ Thông Giáo Lý có câu: Các bạn Ðạo nhạc sĩ và ca sĩ đã sẳn lòng đem hết khả năng và thiện chí hiến dâng công quả từ buổi ban sơ đến nay, giúp cho phần văn nghệ của mỗi buổi phát thanh được hào hứng.

Ca hay quên hẳn giọng đờn,

Một đêm tuý mộng sánh hơn gặp vàng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Ca là anh. Như: Đại ca, nhị ca.

Trong tôn giáo Cao Đài, lúc mới xây bàn, Thất Nương giáng thi văn với quý Ông: Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc và Cao Hoài Sang. Ông Cư xin kết nghĩa anh em với Cô. Thất Nương bằng lòng và gọi: Ông Cư là Ðại ca, Ông Tắc là Nhị ca và Ông Sang là Tam ca, còn Cô là Tứ muội. Do đó, Cửu vị Tiên Nương Diêu Trì Cung cũng theo Thất Nương mà gọi ba Ông như thế.

Nhị ca ôi! Bài thi làm cho cả Cung Diêu Trì đổ lụy.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CA DAO

歌 謠

Hay “Ca diêu”.

Ca: Những bài dùng để hát. Dao: Câu ca, lời ca không theo nhạc khí.

Ca dao, hay “Ca diêu” là những bài hát phổ thông được truyền tụng trong dân gian.

Ca diêu đã ví giấc Nam Kha,

Kiếp sống dữ răn nết vạy tà.

(Đạo Sử).

Ca diêu thường ví sự đời như,

Một giấc Nam Kha tỉnh sật sừ.

(Đạo Sử).

 

 

CA DIẾP

Ca Diếp, do tiếng Phạn Kasyapa, Hán dịch nghĩa là Ẩm Quang (tức là uống ánh sáng), có hai nghĩa:

1.- Ca Diếp là tên một vị Phật của kiếp vừa qua, trước kiếp hiện tại.

2.- Ca Diếp còn gọi là Ma Ha Ca Diếp (Maha Kasyapa) là tên một vị đệ tử xuất sắc nhứt của Đức Phật Thích Ca.

Ma Ha Ca Diếp đã đắc quả A La Hán, là vị Tổ Sư thứ nhất của Phật giáo.

Làm thinh tiêu biểu bản tâm,

A Nan, Ca Diếp chọn cầm Pháp môn.

(Báo Ân Từ).

 

 

CA NGÂM

歌 吟

Ca: Những bài dùng để hát. Ngâm: Đọc có giọng lên xuống và kéo dài ra.

Ca ngâm là ca hát và ngâm thơ.

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du có câu: Thông minh vốn sẵn tư trời, Pha nghề thi hoạ, đủ mùi ca ngâm.

Buổi lâm chung đã sẵn Quỷ phục Thần khâm.

Chốn thanh nhàn bạn cùng Tiên Thánh, cờ rượu ca ngâm,

Nơi thanh nhã muôn năm còn mãi mãi.

(Giác Mê Khải Ngộ).

 

 

CA SA

袈 裟

Hay “Cà sa”.

Ca sa dịch âm từ tiếng Phạn Kasaya, một loại y phục của tăng sĩ Phật giáo, áo ca sa. Còn gọi là Pháp y, Giải thoát y, Phước điền y hay Điều phục y.

Các sư theo Nam Tông mặc áo ca sa màu vàng nhạt hoặc thẩm. Còn các sư Bắc Tông thường mặc áo màu nâu hoặc đen nhạt.

Áo ca sa cũng có loại do nhiều mảnh vải hình chữ nhựt kết lại với nhau thành chiếc áo như những thủa ruộng, nên còn gọi là bá nạp y, hay cát tiệt y (Áo cắt vụn).

Nước đục lóng trong toan lánh bợn,

Cừu y đành gởi mảnh ca sa.

(Bát Nương Giáng Bút).

Buông câu danh lợi xa mùi tục,

Khoác áo cà sa mặc phú bần.

(Thơ Hiến Pháp).

 

 

CA TỤNG

歌 頌

Ca: Hát. Tụng: Khen ngợi, chúc mừng.

Ca tụng là làm thi ca mà khen ngợi.

Ca tụng còn có nghĩa là nêu lên để tỏ lòng biết ơn hoặc kính phục.

Trong Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Thánh giáo Đức Diêu Trì Kim Mẫu có dạy: Ðạo chia ra ba Chi: Thế, Pháp, Ðạo. Mình tu cho đúng theo luật, hành theo pháp thì chúng sanh nơi thế ca tụng công đức mình, trọng kính mình, ấy là mình đắc thế.

Và gương Trung, Can, Nghĩa, Khí há chẳng còn được ca tụng đến nay đó sao?

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

CA XANG

Ca: Hát. Xang: Cung thứ ba của gam năm cung giọng hồ: Hồ, xự, xang, xê, cống.

Ca xang, như chữ “Ca hát”, lafg dùng giọng theo giai điệu, nhịp diệu để biểu hiện tình cảm tư tưởng.

Như: Ca xang múa hát.

Đờn hay vặn lắm trục lờn,

Đổi hơi cầm sắt ra trường ca xang.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

là một loại động vật ở dưới nước, thở bằng mang, bơi bằng vi. Như: Cá lóc, cá rô, cà voi.

Thánh giáo Chơn Cực Lão Sư có đoạn: Chư đạo hữu phải biết rằng, Ðạo trước khi gieo truyền cho ngoại quốc, phải dìu dắt kết chặt dân sanh nơi vùng Nam nầy, đặng cùng nhau chung hợp trên con đường hoà bình, chậm rãi lần ra khỏi lối khốn khổ lao lung nơi cõi trần nầy, rồi tự tại ngâm câu thái bình. Chừng ấy, chim về cội, về sông, hớn hở trau lòng thiện niệm mà bước lên nấc thang thiêng liêng mới đặng.

Một miếng mồi ngon câu lớn,

Mình nên con khá giúp nên người.

(Đạo Sử).

Như lúc Tử Nha đưa cán trúc,

Câu thời câu vận nào ăn?

(Đạo Sử).

Nấu trách canh đổ nước nổi thuyền,

Kho trã mắm nát nghiền xương .

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CÁ AO NGẠI LỬA

Cá ao ngại lửa, bởi câu “Thành môn thất hoả, hoạ cập trì ngư 城 門 失 火, 禍 及 池 魚”, nghĩa là lửa cháy cửa thành vạ lây đến cá dưới ao. Do điển tích sau:

Sách Quảng Văn chép: Ngày xưa có người tên là Trì Trọng Ngư, gọi tắt là Trì Ngư, ở gần cửa thành.

Khi thành bị hoả hoạn, làm cho Trì Ngư bị chết thiêu, nên ngạn ngữ Trung Hoa mới có câu: Cửa thành lửa cháy, hoạ đến cả Trì Ngư.

Nếu chữ “Trì ngư 池 魚” là cá ao, thì có thể hiểu điển tích theo nghĩa sau: Thành bị hoả thiêu, người ta múc nước ao để chữa lửa, khiến nước ao bị cạn, cá trong ao vì thế phải chết theo.

Rồng nằm bãi cạn nhìn mây ủ,

ao sâu ngại lửa tràn.

(Thuần Đức).

 

 

CÁ CHẬU CHIM LỒNG

Cá chậu: Cá nhốt trong chậu. Chim lồng: Chim bị giam vào lồng.

Cá chậu chim lồng là cá chim bị kẹt ở chậu lồng.

Ca dao ta có câu: “Cá cắn câu biết đâu mà gỡ, chim vào lồng biết thuở nào ra”.

Vì vậy, “Cá chậu chim lồng” được dùng để chỉ người bị giam giữ hay bị ràng buộc, không được thong thả.

Cá chậu chim lồng chi dễ chịu,

Rừng xưa bến cũ thảnh thơi đâu?

(Đạo Sử).

Mạnh yếu hai ngôi cam chịu vậy,

Hay chi cá chậu với chim lồng.

(Thanh Sơn Chơn Nhơn).

Nô lệ buổi nào đặng trả xong,

Bận tuồng cá chậu với chim lồng.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

CÁ CHẬU GÀ CHUỒNG

Cá chậu: Cá nuôi trong chậu. Gà chuồng: Gà nhốt trong chuồng.

Cá chậu gà chuồng, đồng nghĩa với “Cá chậu chim lồng”. Ý muốn nói người bị ràng buộc, thân bị giam giữ mất tự do, như cá rộng ở chậu, gà nhốt trong chuồng.

Xem: Cá chậu chim lồng.

Dân như cá chậu gà chuồng,

Tiếng oan trăm họ trêu buồn ngậm than.

(Ngụ Đời).

 

 

CÁ HOÁ CÙ

Cá: Một loại động vật có xương sống ở nước, thở bằng mang. Hoá: Biến thành. (long, rồng): Một loại vật theo truyền thuyết mình dài có vẩy, có chân, biết bay được coi lào cao quý nhất trong loài vật.

Cá hoá cù, như thành ngữ “Cá hoá long”, là chỉ sự thi cử, đổ đạt. Còn trong tôn giáo, dùng để chỉ sự đắc Đạo.

Xem: Cá hoá long.

Làm lành lánh dữ ấy phương tu,

Khổ hạnh dày công cá hoá cù.

(Thơ Thuần Đức).

Muối dưa khổ hạnh rèn tâm chí,

Chờ buổi đài vân cá hoá cù.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

CÁ HOÁ LONG

Cá: Một loại động vật có xương sống ở nước, thở bằng mang. Hoá: Biến thành. Long: Rồng.

Cá hoá long, tương truyền Võ môn là khúc núi ở Thượng du Trường Giang bên Trung Hoa có vực sâu, cứ mùa thu nước lụt, cá đua nhau nhảy qua, con nào nhảy khỏi thì hoá long (rồng), dùng để chỉ sự đỗ đạt.

Trong tôn giáo, cá hoá long chỉ sự đắc Đạo.

Ngũ trong Thánh đức vẽ nên rồng,

Nương bóng từ bi cá hoá long.

(Ngũ Nương Giáng Bút).

 

 

CÁ HOÁ RỒNG

Cá: Một loại động vật có xương sống ở nước, thở bằng mang. Hoá: Biến thành. Rồng: Loài đứng đầu trong tứ linh.

Cá hoá rồng, như chữ “Cá hoá long”, ý chỉ sự đỗ đạt, thành tựu hay đắc Đạo.

Xem: Cá hoá long.

Đội ân các Đấng quyền xây chuyển,

Vượt khỏi võ môn cá hoá rồng.

(Thơ Thông Quang).

 

 

CÁ KIA CHUNG CHẬU HƠI QUEN

Cá kia chung chậu quen hơi, lấy ý từ câu ca dao “Chim quyên hái trái nhãn lồng, thia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi”.

Cá kia chung chậu hơi quen có ý nói vợ chồng chung sống, cùng chiếu cùng giường lâu ngày quen hơi.

Cá kia chung chậu hơi quen,

Ái ân đằm thắm bởi bền nghĩa nhân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CÁ NƯỚC

Cá nước, như chữ “Ngư thuỷ 魚 水”, là cá và nước được ví như vợ chồng yêu thương nhau, hoặc vua tôi tin cậy nhau.

1.- Vua tôi tương đắc:

Do điển: Khi Lưu Bị cùng Khổng Minh thân mật, thì Quan Công và Trương Phi không bằng lòng. Lưu Bị nói: Cô đắc Khổng Minh do ngư chi đắc thuỷ, nghĩa là ta có Khổng Minh như cá gặp nước.

Nghĩa bóng: Vua tôi tin cậy nhau.

Trong Truyện Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu có viết: Bao giờ cá nước gặp duyên, Đặng cho con thảo phỉ nguyền tôi ngay.

2.- Vợ chồng yêu thương:

Kinh Thi có câu: Hạo hạo giả thuỷ, dục dục giả ngư, nghĩa là mênh mang kìa nước, nhởn nhơ kìa cá. Ý nói nhơn duyên vợ chồng tương đắc cùng nhau.

Đào non liễu thắm thuyền êm bến,

Cá nước duyên lành bác tặng thi.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

CÁ NHÂN

個 人

Cá: Cái, một cái. Nhân: Người.

Cá nhân là tư kỷ, tức người riêng lẻ, phân biệt với tập thể và xã hội.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức chí Tôn có dạy: Nếu cả thế gian nầy biết tu thì thế gian có lẽ cải lý Thiên đình mà làm cho tiêu tai tiêu nạn đặng, huống lựa mỗi cá nhân biết tu thì Thiên đình cầm bộ Nam Tào cũng chẳng ích chi.

Cá nhân cũng như xã hội loài người đều đặt dưới Luật Quả Báo.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

CÁ TÁNH

Hay “Cá tính”.

Cá: Từng cái một. Tánh (tính): Bản nhiên của trời phú cho, thói nết.

Cá tánh, như chữ “Cá tính 個 性”, là tính cách riêng làm phân biệt với những người khác.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Các Đấng Thiêng Liêng còn ở trong Hữu Tử Thiên họ cũng như ta vậy, cũng có quân tử tiểu nhơn, cũng cá nhân cá tánh như ta vậy.

Thời tuổi trẻ Thiên ban cá tánh,

Đã vân du viếng cảnh ngôi xưa.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

CÀ NANH

Cà nanh là ganh tỵ, tỵ nạnh, so thiệt tính hơn từng chút một trong tình cảm.

Như: Bé hay cà nanh lắm, thương nó quá sợ con mình nó cà nanh.

Đừng cà nanh những tiếng chê khen,

Chê khen vốn nhiều phen mưu chước khéo.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CÀ SA

袈 裟

Cà sa như “Ca sa”, dịch âm từ Phạn ngữ Kasaya là áo Cà sa, một loại y phục của tăng sĩ Phật giáo. Áo Cà sa còn gọi là Pháp y, Giải thoát y, Phước điền y, Điều phục y,...

Phật giáo Nam tông thường mặc áo Cà sa màu vàng nhạt hoặc thẫm, còn Bắc tông mặc áo Cá sa màu nâu hoặc màu đen nhạt.

Kinh Pháp Cú có câu: Ai mặc áo Cà sa, Tâm chưa rời uế trược, Không tự chế, không thực, Không xứng áo Cà sa.

Buông câu danh lợi xa mùi tục,

Khoát áo Cà sa mặc phú bần.

(Thơ Hiến Pháp).

Di Lạc Vương ngôi vọi Thánh Toà,

Thể hình Hộ Pháp mặc Cà sa.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

CẢ

1.- Cả là to, lớn. Như: Anh cả, cây cao bóng cả, ruộng cả ao liền, cả thuyền to sóng.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, dạy về phẩm Giáo Tông, Thánh giáo Thầy có câu: Gíao Tông nghĩa là Anh Cả các con, có quyền thay mặt Thầy mà dìu dắt các con trong đường Ðạo và đường Ðời.

Người sang cả là vì duyên trước,

Kẻ không phần luống ước cầu may.

(Kinh Sám Hối).

Suy thời dầu quý cũng ra hèn,

Nghiệp cả khuyên con lửa nhúm nhen.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trí để chẳng toan gánh vác đời,

Chẳng nên quan cả đặng cao ngôi.

(Đạo Sử).

2.- Cả là lắm, quá, nhiều, mạnh. Như: Cả gan, cả cười, cả giận, cả mừng.

Thánh giáo Thầy có câu: Các con đã đặng thong dong rồi, rảnh chẳng lo tu đức mà sửa mình, lại còn cả gan trước mặt Thần, Thánh, Tiên, Phật, gây thêm tội lỗi nữa, thiệt là đáng giận!

Bày đờn ai khéo sắm đờn đây,

Ðể quỷ để ma ở cả bầy.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cười khan mà khóc bởi thương bây,

Chẳng mất một con, nghiệt cả bầy.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Cả là gồm hết, tóm hết. Như: Cả nước, cả làng, cả đời, nhơn loại gồm cả các nước.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có câu: Chúng sanh là toàn cả nhơn loại chớ không phải lựa chọn một phần người, như ý phàm tục các con tính rỗi.

Cao Ðài đứng chủ cả sanh linh,

Bến khổ bầu Tiên rưới thế tình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Vong xu trọn cả một Càn Khôn,

Hết kiếp thịt xương tới kiếp hồn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Mẹ cả đời chịu phận cửi canh,

Cha mãn kiếp lao thân, thuê mướn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CẢ GAN

Cả: To, lớn. Gan: Một bộ phận nằm trong ngũ tạng.

Cả gan là liều lĩnh, tức có gan to để làm một việc gì.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: Các con đã đặng thong dong rồi, rảnh chẳng lo tu đức mà sửa mình, lại còn cả gan trước mặt Thần, Thánh, Tiên, Phật, gây thêm tội lỗi nữa, thiệt là đáng giận!

Có một điều đáng trách là một phái yêu dấu của Chí Tôn dám cả gan nghịch Thiên mà phải đoạ trầm luân muôn kiếp.

(Đạo Sử).

 

 

CẢ THẢY

Cả: Gồm hết, tóm hết. Thảy: Tất cả.

Cả thảy là tất cả, tức số lượng tính gộp lại toàn bộ.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Cả thảy đều con của Thầy, trừ ra tôn tythượng hạ nơi việc hành chánh, thì đồng một bậc cả, chẳng ai đặng vì quyền mà lấn lướt, chẳng ai đặng vì mạng lịnh mà đè ép xua đuổi ai.

Dạy cả thảy nhơn sanh tỉnh tánh,

Lấy từ bi mà lánh sân si.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

 

 

CÁC ĐẰNG

閣 滕

Các: Cái gác. Đằng: Viết tắc của Đằng Vương Lý Nguyên Anh.

Các Đằng hay Đằng vương Các, là cái toà lâu đài của Đằng Vương Lý Nguyên Anh, con của Đường Cao Tổ Lý Uyên, làm Thứ sử Hàng Châu.

Đây là một công trình kiến trúc nổi tiếng đẹp đẽ, xây dựng bên cửa sông Chương Giang, quận Nam Xương, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc.

Xem: “Đằng Vương Các”.

May duyên gặp hội Long vân,

Thuyền thơ ngọn gió Các Đằng xuôi đưa.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

CÁC LÂN

閣 麟

Các: Nhà lầu, nhà gác. Lân: Kỳ lân, một loài vật trong tứ linh.

Các lân là cái lầu cao trên đó có chạm hình con Kỳ lân, do vua Hán Tuyên Ðế lập nên để thờ 11 vị Khai quốc Công Thần của nhà Hán.

Ðây là đài vinh quang của kẻ bề tôi có công trạng, còn đối với người tu thì “Các lân” ý nói là nơi đắc đạo.

Xem: Gác lân.

Ví xưa biết chút đường tu niệm,

Thì chắc nay đà ngự các lân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Sang như Tần Thỉ lúc đương hưng,

Chừng quá ba đời hết các lân.

(Đạo Sử).

Cuộc mơ màng nọ lầu Phụng, các lân,

Nơi phú quý như mây gần rã nước.

(Giác Mê Khải Ngộ).

 

 

CÁC TÍA

Các: Cái lầu, cái gác. Tía: Màu tím đỏ, giống như màu mận chín, một loại màu mà người quyền quý thời xưa thường sơn lầu gác.

Các tía là “Gác tía”, bởi chữ “Tử các 紫 閣”, là cái lầu, cái gác của nhà quyền quý, dùng để chỉ nhà cao sang, quyền quý.

Đai vàng khôn đổi gian lều cỏ,

Các tía sao bằng chốn cửa không.

(Thơ Bồng Dinh).

 

 

CÁC TƯ KỲ SỰ

各 司 其 事

Các tư: Mỗi người giữ công việc gì. Kỳ sự: Công việc của người ấy.

Các tư kỳ sự có nghĩa là việc ai nấy làm, tức là người nào giữ công việc của người ấy mà làm.

Trong nghi tiết cúng Đại đàn Đức Chí Tôn nơi Đền Thánh có câu: Chấp sự giả các tư kỳ sự 執 事 者, 各 司 其 事, nghĩa là người chấp sự trong cuộc tế lễ giữ công việc nào thì lo làm công việc của người ấy.

Chấp sự giả các tư kỳ sự.

(Nghi Tiết Đại Đàn).

 

 

CÁC TRẤN THẦN LINH

Các trấn: các khu vực hành chánh ở địa phương. Thần Linh: Vị thần thiêng liêng mầu nhiệm.

Các trần thần linh là các vị Thần thiêng liêng trấn nhậm ở địa phương.

Theo quan niệm của tôn giáo, ở mỗi địa phương đều có các Đấng Thần linh trấn nhậm, như Thần Hoàng Bổn Cảnh, Thổ Thần, Hậu Thổ.

Cầu các Trấn Thần linh trợ lịnh,

Giữ Chơn hồn xa lánh xác trần.

(Kinh Tận Độ).

 

 

CÁCH

1.- Cách là lối, lề lối, phương pháp, tức hình thức diễn ra một hoạt động. Như: Cách ăn ở, cách đi đứng.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Nếu trí các con chẳng lanh lẹ, hạnh các con chẳng hoàn toàn, cách cư xử các con chưa hoà hiệp, đường Ðạo các con chưa liệu chung, nét khiêm cung các con chưa trọn vẹn, cách đối đãi các con chưa ôn hoà, thì nền Ðạo sau nầy e khi phải vì đó mà để một trò cười, dầu đức từ bi của Thầy cũng khó gỡ rối fắm được.

Bề ăn cách ở đã an nơi,

Cuộc thế dường ni đủ toại rồi.

(Đạo Sử).

2.- Cách là suy xét cho cùng, cho thấu suốt, không dùng một mình.

Như: Cách trí, cách vật trí tri là suy xét cái biết của mình cho đến nơi đến chốn.

Mình phải người cách vật trí tri,

Nhớ tình nghĩa trong khi lựa rể.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Cách là ngăn ra, phân ra, bên nọ không liên tiếp với bên kia, tức là ở giữa có một vật, hoặc một khoảng thời gian, không gian nào đó. Như: Cách mặt, cách biệt, cách lòng, cách đây khoảng năm năm.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Hồi tưởng lại cách đây 41 năm, vùng nội ô và ngoại ô Thánh địa toàn là những khu rừng rậm chứa đầy thú dữ.

Âm dương tuy cách cũng Trời chung,

Thấy trái nên đây mới tỏ cùng.

(Đạo Sử).

Chích mát oan gia đôi lứa cách,

Chẳng lo tu tánh đặng từ hoà.

(Đạo Sử).

 

 

CÁCH ĂN

Cách: Lề lối, phương pháp, cung cách. Ăn: Dùng miệng nhai, nuốt, ăn uống.

Cách ăn là cung cách ngồi ăn uống, tức là cách thức nhìn thấy cái hay đẹp về việc ăn uống bên ngoài xã hội mà bắt chước, nói khác đi, là lịch sự trong vấn đề ăn uống.

Người xưa thường quan niệm việc ăn uống cũng phải biết cách lịch sự, như câu tục ngữ: Ăn coi nồi, ngồi coi hướng.

Ở hay đâu bẳng cách ăn hay,

Dầu chẳng thiệt may cũng đủ mày.

(Đạo Sử).

 

 

CÁCH ĂN THÓI Ở

Cách ăn thói ở là nói cái cách thức mình ăn ở với mọi người, với xã hội, tức là cách đối nhân xử thế.

Con người sống ở thế gian là một cộng đồng tập thể có quy củ, có luật pháp, nhỏ nhứt là gia đình, rồi đến quốc gia, xã hội.

Do vậy, việc ăn ở phải liên hệ đến mọi người chung quanh, nếu ăn ở xấu xa tồi tệ thì ảnh hưởng đến bản thân gia đình và xã hội.

Do cách ăn thói ở của mình, người ta đánh giá mình cao hay thấp.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

CÁCH BIỆT

隔 別

Cách: Ngăn cách ra, lìa xa ra. Biệt: Chia ra, riêng.

Cách biệt là cách xa nhau hoàn toàn, không liên lạc gì được với nhau.

Cách biệt còn có nghĩa là có sự phân biệt, sự ngăn cách do khác nhau quá xa.

Nói về triết lý của Lão Tử, Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Người lý tưởng của Ngài là người sống trong cảnh tịch mịch, cách biệt với người đời, đóng cửa, rấp ngõ không giao thiệp với ai, để rèn luyện tâm tánh, trụ vững tinh thần như thế mới gần gũi được với thiên nhiên, quan năng trực giác mới được sáng suốt, tuy không ra khỏi ngõ cũng hiểu được thiên hạ, không ngó qua cửa sổ cũng biết được thiên đạo.

Nầy là chỗ lời hơn tiếng thiệt,

Nầy là nơi cách biệt sanh ly.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Cách biệt bấy chầy những đợi nhau,

Lâm cung ủ dột nét hoa đào.

(Trần Thị Hương Giáng).

 

 

CÁCH MẠNG

革 命

Hay “Cách mệnh”.

Cách: Đổi, đổi cũ ra mới. Mạng (mệnh): Mệnh trời.

Ngày xưa vua chịu mệnh nơi Trời, nên thay đổi một vị vua khác được gọi là “Cách mạng”.

Cách mạng (mệnh) là quyền lực mà thay đổi việc chính trị.

Ngày nay chữ cách mạng được dùng với nghĩa rộng rãi hơn là thay đổi cái tệ thành cái tốt.

Ví dụ: Cách mạng kinh tế, cách mạng giáo dục, cách mạng văn học,...

Chán bấy những phường xu cách mạng,

Dựa thân công tử giữ nồi xôi.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

CÁCH THỨC

格 式

Cách: Lề lối, phương thức. Thức: Hình thức.

Cách thức là cái dạng thức, tức hình thức diễn ra của một hành động.

Thánh giáo Đức Lý dạy Quyền Giáo Tông có câu: Hiền hữu có mang trách nhiệm lớn lao của Ðại Từ Bi đặng phổ thông điều đình mối Ðạo, hiệp với Hội Thánh mà trù nghĩ suy tính cách thức hành động về bước đường của chư Thiên phong và đạo hữu trong buổi nầy.

Con có lẽ hiểu cách thức của Thầy dùng mà lập Ðại Ðạo Tam Kỳ, sao con lại sai lầm mà chẳng hiểu sự cám dỗ của Tà quái?

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CÁCH TRÍ

格 致

Cách: Tìm hiểu. Vật: Sự vật. Trí: Đến. Tri: Biết.

Cách trí, do câu: “Cách vật trí tri 格 物 致 知”, nói tắt lại, tức là lấy cái lẽ sâu xa của sự vật mà suy ra cái trí thức cùng cực thì chẳng có gì là không thấu đáo.

Hiện nay chữ “Cách trí” dùng để chỉ các môn học về vật lý và hoá học, vạn vật học.

Tập quen vui nhắm nguyệt xem hoa,

Ghẹo tính toán cho ra cách trí.

(Phương Tu Đại Đạo).

Nơi người vốn văn minh cách trí,

Tấn hoá hồn phép quý không ngừng.

(Thơ Hộ Pháp dịch).

 

 

CÁCH TRỞ

隔 阻

Cách: Phân, ngăn xa nhau. Trở: Ngăn cản.

Cách trở là ngăn cách và gây trở ngại trong việc đi lại liên lạc với nhau.

Do sự xa cách nhau và do việc gì hoặc vật gì ngăn cản không thể gần gũi nhau được gọi là cách trở.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Ngày Xuân là ngày chung vui đoàn tụ của mỗi gia đình trong cửa Ðại Ðạo, một số Chức sắc Hội Thánh tản mát nơi bốn phương vì nhiệm vụ, dù là nơi cách trở xa xôi cũng tề tựu đông đủ về Tổ Ðình để trình diện với Ðức Chí Tôn và Ðức Phật Mẫu. Lòng hiếu kính cũng như tình đoàn kết của quý vị thật nên quý báu, nếu ngoài hai bổn phận ấy, mỗi Chức sắc có thêm lòng nhân ái và chí vị tha thì quý vị toàn là Thánh nhơn tại thế.

Chia đôi lỡ ở, lỡ khi về,

Cách trở một mình biết mấy quê.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Bỏ hồi cách trở nước non,

Bao nhiêu miếng ngọt miếng ngon để dành.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

CÁCH VẬT TRÍ TRI

格 物 致 知

Cách vật: Tìm hiểu sự vật. Trí Tri: Đến sự biết.

Cách vật trí tri nghĩa là lấy cái lẽ sâu xa của sự vật mà suy ra cái trí thức cùng cực thì thấu đáo được tất cả.

Theo sách Đại Học, có cách vật mới trí tri, có trí tri mới thành ý, có thành ý mới chánh tâm...

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: chẳng hề khi nào chúng ta lấy trí khôn định quyết đặng, định nó chỉ có chúng ta tìm hiểu lấy trí thức mình, đặng định cái chơn tướng của vạn vật hữu hình, tức nhiên chúng ta chỉ học phương pháp cách vật trí tri.

Xem: Cách trí.

Phải trang cách vật trí tri,

Tửu, trà, thực phẩm, lễ nghi chúc mừng.

(Bài Chúc Đáo Tuế).

Thần mẹ thêm cách vật trí tri,

Con ắt đặng quảng tri thế sự.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CAI

Cai là gồm cả, đứng đầu.

Như: Cai bộ, cai quản, cai trị, cai tổng, cai thập tứ danh (gồm cả mười bốn tên).

Khắp trong Vũ Trụ Càn Khôn,

Một ngôi Chúa Cả Chí Tôn nắm quyền.

Trên cai tam thập lục Thiên,

Cả trong chư Phật, Thánh, Tiên phục tùng.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

CAI QUẢN

該 管

Cai: Trông coi, điều khiển. Quản: Trông nom.

Cai quản là người đứng ra quán xuyến việc trong nhà, hoặc người đứng đầu cơ quan, coi sóc tất cả mọi công việc của trong cơ quan.

Thánh Giáo Chí Tôn dạy: Còn chùa chiền thì ngày sau e cho con không đủ sức cai quản cho hết. Ấy vậy, đừng lo lắng đến nữa. Nghe và tuân theo.

Tánh hiền đức một lời chẳng phạm,

Thủ hiếu thân cai quản gia tề.

(Phương Tu Đại Đạo).

Hội Thánh giao cai quản Hạnh Đường,

Ân cần lo lập kỷ trần cương.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CAI TRỊ

該 治

Cai: Trông coi, điều khiển. Trị: Sắp đặt công việc.

Cai trị là sắp đặt sửa sang cho yên ổn và tốt đẹp các công việc trong phạm vi nhiệm vụ của mình.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Xưa dưới triều đại của những đấng minh quân thì dân được giáo hoá trong tinh thần Nho giáo, nên phần nhiều là người có đức hạnh và nhơn phẩm cao quý, trừ ra một phần ít là hạng người thất học, mới có những tánh xấu, tham lam hèn hạ mà thôi. Còn những quan cai trị là những bậc liêm chánh, giữ mình thật trong sạch để làm gương cho đoàn hậu tấn.

Đầu Sư có quyền cai trị phần Đạo và phần Đời của chư Môn Đệ Chí Tôn.

(Pháp Chánh Truyền).

 

 

CÁI

1.- Cái là từ dùng đứng trước một tiếng khác để chỉ rõ một việc hay một vật gì.

Như: Cái da bọc cái xương, cái khó bó cái khôn, cái nết đánh chết cái đẹp.

Thánh giáo Đức Thích Ca Như Lai có câu: Phép hành đạo Phật giáo dường như ra sái hết, tương tợ như gần biến Tả Ðạo Bàng Môn. Kỳ truyền đã thất, chư sơn chưa hề biết cái sai ấy do tại nơi nào, cứ ôm theo luật Thần Tú, thì đương mong mỏi về Tây phương mà cửa Tây phương vẫn cứ bị đóng, thì cơ thành Chánh quả do nơi nào mà biết chắc vậy.

Dạy trẻ con toan trước dạy mình,

Cái công giáo hoá cũng đồng sinh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cái kiếp hồng nhan kiếp đoạ đày,

Phải làm cho gái hoá ra trai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cái khổ của đời mình ước vọng,

Cái chê của chúng lại nài cầu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Cái, như chữ con, chỉ những người thế hệ sau, thuộc hàng con cháu.

Như: Sinh con đẻ cái, việc giáo dục con cái.

Cũng con cũng cái đồng môn đệ,

Bụng muốn phân chia, hỏi bởi ai?

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chia chồng vì dạ sắt son,

Nhịn chồng bởi chút sắp con cái nhà.

(Nữ Trung Tùng Phận).

3.- Cái là chỉ một vật to lớn hơn những vật cùng loại, hay đứng đầu, cốt thiết hơn cả.

Như: Cột cái, rễ cái, sông cái, chữ cái.

Miễn là con gắng sức gia công,

Học thuộc mặt hăm lăm chữ cái.

(Phương Tu Đại Đạo).

4.- Cái là một từ cổ, dùng để chỉ người mẹ.

Như: Bố cái (tức cha mẹ), con dại cái mang, Bố Cái Đại Vương.

Ca dao ta có câu: Nàng về nuôi cái cùng con, Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng.

Thuở mà nòi giống nầy còn kêu cha là bố và mẹ là cái, kẻ nào đạt được vị Bố Cái hương đảng, tức là cha mẹ của hương đảng,...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

CÁI THẾ

蓋 世

Cái: Che trùm. Thế: Đời.

Cái thế là tài năng hơn hẳn mọi người trong cõi thế gian, tức là suốt trong cõi đời không ai địch nổi.

Do điển Hạng Võ có tiếng sức mạnh và võ nghệ cao cường hơn thiên hạ, không ai đương cự nổi, nên sách có câu: Lực bạt sơn hề, khí cái thế 力 拔 山 兮, 氣 蓋 世, nghĩa là sức nhổ núi hề, khí trùm đời.

Văn chương cái thế mãn đời còn,

Ðức hạnh vững bền sánh nước non.

(Đạo Sử).

Cái thế công danh thế quý oai,

Thiên Tào kim phụng lịnh Cao Đài.

(Quan Thánh Giáng Bút).

 

 

CÁI THIÊN

蓋 天

Hay “Cái Thiên Cổ Phật 蓋 天 古 佛”.

Cái Thiên hay Cái Thiên Cổ Phật là vị Phật do Đức Quan Thánh Đế Quân đắc quả thành.

Do tích Quan Vân Trường là tướng của Lưu Bị nhà Thục đời Tam Quốc, bị lầm kế Lữ Mông nên bi bắt chém đầu.

Nhờ sanh tiền là một người chính trực và trung can nghĩa khí, nên Chơn linh của Ngài được thành Thần, nhưng chưa giác ngộ, khi đi ngang ngôi chùa kêu vị trụ trì là Phổ Tịnh Thiền Sư đòi trả cái đầu lại, Phổ Tịnh tụng cho ba biến vãng sanh, và cười mà nói rằng: “Ông đòi đầu ta, vậy Nhan Lương, Văn Xủ kia đòi đầu ai đây? Ấy là tiền căn báo hậu kiếp thôi”.

Lúc đó, Quan Thánh Ðế Quân mới tỉnh ngộ, xin ông Phổ Tịnh cho Ngài ở đó đặng tu hành, Chơn linh của Ngài nhờ ở nơi chùa đó mà hiển Thánh.

Khi hiển Thánh rồi, nhờ công Ngài trừ tà diệt quỷ, cứu độ sanh linh, làm cho oai linh ngày càng thêm hiển hách và từ đó vạn linh mới tôn Ngài vào hàng Phật vị, ấy là Cái Thiên Cổ Phật.

1.- Cái Thiên:

Sanh nhựt Hà hoa vía Cái Thiên,

Cung nghinh hương Phật ngát đàn tiền.

(Thơ Huệ Phong).

2.- Cái Thiên Cổ Phật:

Với quyền thiêng liêng ấy mà Ngài lập được Phật vị là Cái Thiên Cổ Phật, nhờ vạn linh tôn trọng Ngài lên.

(Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp).

 

 

CÀI

Cài là giắt, ghim vào, tức là làm cho một vật nhỏ nào đó mắc vào một vật khác.

Như: Cài huy hiệu, cửa đóng then cài.

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du Tiên Sinh có câu: Nàng thì chiếc bóng song mai, Đêm thâu đằng đẵng, nhặt cài then mây.

Thương vợ nhà dạy dỗ cũng như em,

Dầu cài trâm sửa trắp cũng nên xem.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CÀI TRÂM SỬA ÁO

Hay “Cài trâm sửa trắp”.

Cài trâm: Lấy trâm cài tóc. Sửa áo: Chỉnh sửa áo.

Cài trâm sửa áo hoặc “Cài trâm sửa trắp” đồng nghĩa với câu “Nâng khăn sửa túi”, tức là lo khăn lược, mũ áo cho chồng, ý chỉ bổn phận của người đàn bà thời xưa, lo lắng, săn sóc cho chồng.

Xem: Nâng khăn sửa túi.

1.- Cài trâm sửa áo:

Cửa Võ bền trau nếp hạnh dung,

Cài trâm sửa áo đẹp duyên cùng...

(Thơ Hoàn Nguyên).

2.- Cài trâm sửa trắp:

Dầu cài trâm sửa trắp cũng nên xem,

Suy từ việc dạy thêm từ tiếng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CẢI

1.- Cải là tên một thứ rau có hoa gồm bốn cánh, xếp thành hình chữ thập, thường trồng làm rau ăn.

Như: Cải củ, cải bắp, hạt cải, bát canh cải, kim cải (cây kim và hạt cải).

Xem: Kim cải.

Kim rời cải rụng lòng ngao ngán,

Ðá nát vàng phai dạ ngậm ngùi.

(Đoàn Ngọc Quế).

Hễ thất nghĩa rẻ khinh kim cải,

Khó tưới hoa trở lại thanh tươi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Cải là đổi, sửa đổi.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có câu: Nếu cả thế gian nầy biết tu thì thế gian có lẽ cải lý Thiên đình mà làm cho tiêu tai tiêu nạn đặng, huống lựa mỗi cá nhân biết tu thì Thiên đình cầm bộ Nam Tào cũng chẳng ích chi.

Cải hạnh đố ngươi về tập thử,

Tháng sau sẽ đến trước trình Ta.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trau tánh ôn hoà chừa cải trước,

Dựa hơi rừng quế cũng thơm tho.

(Đạo Sử).

 

 

CẢI ÁC

改 惡

Cải: Sửa đổi, đổi khác đi. Ác: Hung dữ, tức những việc gây đau khổ, tai hoạ cho người khác.

Cải ác là sửa đổi không làm những điều hung ác nữa.

Thành ngữ Việt Hán có câu “Cải ác quy thiện 改 惡 歸 善”, tức là sửa đổi không làm những điều ác để trở về làm những điều thiện.

Thanh thế con người toan cải ác,

Tùng theo nhơn cách đặng phong Thần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðại công khá lập độ nhơn sanh,

Cải ác mà theo mối Ðạo lành.

(Đạo Sử).

Sa vào đường tội khó nên hiền,

Cải ác xưa từng chiếm bực Tiên.

(Đạo Sử).

 

 

CẢI ÁC TÙNG LƯƠNG

改 惡 從 良

Cải ác: Sửa đổi điều hung dữ. Tùng lương: Theo những việc hiền lành.

Cải ác tùng lương, đồng nghĩa với cải ác tùng thiện là bỏ điều hung ác để theo việc hiền lành.

Trong Giảng Đạo Chơn Ngôn, Ngài Phối Sư Thái Đến Thanh có câu: Tu là trau dồi đức hạnh, sửa bổn tâm chơn tánh, cải ác tùng lương, khử tà quy chánh.

Cải ác tùng lương tẩy nghiệp trần,

Hồi đầu trước hết phép tu thân.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

CẢI CHÍNH

改 正

Hay “Cải chánh”.

Cải: Sửa. đổi khác đi. Chính (chánh): Ngay thẳng, đúng đắn về mặt đạo đức.

Cải chính (chánh) là chữa lại cho đúng với sự thật, hoặc sửa để đi theo đường ngay thẳng.

Nào dè phép quỷ toan cải chánh,

Mượn quyền yêu so sánh Chí Linh.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

CẢI DẪN

改 引

Cải: Đổi, tức sửa từ xấu ra tốt, từ ác ra thiện. Dẫn: Cùng đi để đưa đến nơi nào đó.

Cải dẫn là sửa đổi và dìu dẫn, tức làm cho con người từ xấu xa, khổ sở để dẫn dắt đến tốt lành và hạnh phúc.

Thầy vì đó mà cải dẫn bước đường của các con, não phiền thành vui vẻ, đường gai gốc hoá ra nẻo êm đềm, lo lắng phải ra tươi cười, mỏi mòn thành phấn chấn.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CẢI DỮ

Cải: Đổi khác đi, sửa đổi. Dữ: Hung bạo, tỏ ra sẵn sàng làm hại người khác.

Cải dữ, như chữ “Cải ác 改 惡”, là sửa đổi tánh hung dữ để trở thành hiền lương, đạo đức.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có đoạn: Nên để ý là người hành Ðạo cần phải có chí nhẫn nại, phải cố gắng theo dõi mục đích mà mình đã đạt lấy không lúc nào chểnh mảng. Cái mục đích ấy là giúp đời tế chúng, đem ánh sáng vào cõi tối tăm, cải dữ nên lành, lấy chơn thay giả.

Tìm hiền lắm lúc gieo nguồn đạo,

Cải dữ đòi phen cổi mạch sầu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thấy sửa hiền cải dữ lần lần,

Mình càng mến càng gần cơn sớm tối.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CẢI DỮ RA HIỀN

Hay “Cải dữ nên lành”.

Cải dữ: Sửa đổi những việc làm hung dữ. Ra hiền: Như chữ “Nên lành” là thành điều hiền lành.

Cải dữ ra hiền hay “Cải dữ nên lành” là sửa những việc làm hung dữ ra việc làm hiền lành.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Nên để ý là người hành Ðạo cần phải có chí nhẫn nại, phải cố gắng theo dõi mục đích mà mình đã đạt lấy không lúc nào chểnh mảng. Cái mục đích ấy là giúp đời tế chúng, đem ánh sáng vào cõi tối tăm, cải dữ nên lành, lấy chơn thay giả.

Tạo đời cải dữ ra hiền,

Bảo sanh nắm giữ diệu huyền Chí Tôn.

(Kinh Tận Độ).

 

 

CẢI HẠNH

改 行

Cải: Sửa đổi. Hạnh: Tánh nết.

Cải hạnh là sửa đổi tánh nết, tức tập cho nết hạnh từ xấu xa, hung dữ ra tốt đẹp, hiền lành.

Cải hạnh đố ngươi về tập thử,

Tháng sau sẽ đến trước trình Ta.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

CẢI HOÁ

改 化

Cải: Đổi, sửa đổi. Hoá: Biến hoá, thay đổi.

Cải hoá là lấy cảm tình mà hoá người ta theo mình, hoặc hai bên cảm thụ nhau mà sinh biến hoá.

Trong quyển Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Thánh giáo Chí Tôn có câu: Kẻ nào gieo sự chia phân, tương tàn cho các con là kẻ nghịch đường Chánh Giáo. Nếu chẳng biết cải hoá thì lòng từ bi của Thầy khó dung tình nữa đặng.

Hổ ngươi đừng cố tội khi xưa,

Cải hoá ăn năn lỗi cũ chừa.

(Đạo Sử).

 

 

CẢI KIM

Cải: Hạt cải. Kim: Cây kim.

Cải kim là chỉ tính tình hoà hợp nhau mà tìm đến nhau, tình vợ chồng hoà thuận.

Trong Kinh Dịch có nói: Không phải chỉ có những vật đồng loại mới có sự tương cảm, mà cũng có những sự tương cảm của các vật khác loại, như hổ phách hút hạt cải, từ thạch dẫn kim loại.

Cải kim dùng để chỉ sự hoà hợp tìm đến với nhau, như tình duyên, tình vợ chồng.

Cải kim đã vẹn mảnh gương thề,

Chẳng biết trọng mình để chúng chê.

(Đạo Sử).

 

 

CẢI QUÁ

改 過

Cải: Đổi, sửa đổi. Quá: Lầm lỗi, tội lỗi.

Cải quá là sửa lỗi.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có dạy: Nếu phận còn nét chưa rồi, lương tâm chưa đặng yên tịnh thì phải biết cải quá, ráng sức chuộc lấy lỗi đã làm, thì các con có lo chi chẳng bì bực Chí Thánh.

Thành tâm sám hối một đôi ngày,

Cải quá những lời chú nói sai.

(Đạo Sử).

Khổ như thế mà người không cải quá,

Coi giống nòi tợ thịt cá mồi ngon.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

CẢI SỐ

改 數

Cải: Đổi, sửa đổi. Số: Mạng vận hay số phận đã được định từ trước.

Cải số là sửa đổi lại số mạng.

Trong Đạo Sử, Thánh giáo Thầy có dạy: Nếu cả thế gian nầy biết tu, thì thế gian có lẽ cải số tiêu diệt đặng, lại còn có thể cải lý Thiên Ðình mà làm cho tiêu tai nạn đặng, huống lựa là mỗi cá nhân nếu biết tu thì là Thiên Ðình cầm bộ Nam Tào cũng vô ích vậy.

Thầy dặn biết tu Thầy cải số,

Nghèo hèn có thuở dựa cao ngôi.

(Đạo Sử).

Hữu phước sẵn Thầy năng cải số,

Kỷ cang liệu để tánh ôn hoà.

(Đạo Sử).

 

 

CẢI SỬA

Cải: Đổi, sửa đổi. Sửa: Chữa lại cho đúng, cho hay, cho đẹp.

Cải sửa là sửa đổi những điều không đúng lại cho thật đúng hoàn toàn.

Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy: Thầy trông mong nơi con, khá cải sửa chút ít phàm tâm, thì đức tánh mới đặng trọn vẹn.

Mỗi tiếng nào con nói ngang tàng,

Thì để ý vội vàng cải sửa.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CẢI TÀ QUY CHÁNH

Hay “Cải tà quy chính”.

Cải tà: Sửa đổi điều tà vạy. Quy chánh (Chính): Trở về ngay thẳng, hay đúng đắn.

Cải tà quy chính (chánh) 改 邪 歸 正 là sửa đổi điều không đúng đắn để trở về con đường ngay thẳng tốt đẹp.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Chí Tôn có dạy: Từ khai Thiên lập Ðịa, Thầy cũng vì yêu mến các con mà trải bao nhiêu điều khổ hạnh, mấy lần lao lý, mấy lúc vang mày, nuôi nấng các con hầu lập nền Ðạo, cũng tưởng cho các con lấy đó làm đuốc soi mình đặng cải tà quy chánh.

Phải lo khử ám tựu minh,

Cải tà quy chánh lập thành chơn tu.

(Thơ NĐS Hương Thanh).

Sớm biết ăn năn toan hối lỗi,

Cải tà quy chánh phúc trời dành.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

CẢI TẠO

改 造

Cải: Đổi, sửa đổi. Tạo: Làm ra.

Cải tạo là làm cho chất lượng thay đổi về căn bản, theo hướng tốt.

Cải tạo còn dùng để chỉ giáo dục làm cho thay đổi trở thành người tốt, người lương thiện.

...khiêm nhượng, khoan hồng, cần mẫn, quảng đại, thi ân huệ cho người, thương yêu mọi người và mong cải tạo xã hội.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

CẢI TỔ

改 組

Cải: Đổi, sửa đổi. Tổ: Nối liền lại, kết hợp lại.

Cải tổ là tổ chức lại cho khác hẳn với lúc trước. Hoặc thay đổi căn bản và toàn diện về tổ chức, thể chế, cơ chế…trong mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội, nhằm khắc phục hậu quả sai lầm trong quá khứ.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Bần Đạo đã quan sát ở Đài Loan, ở Nhựt, ở Triều Tiên rồi mới cân coi phương pháp họ đã cải tổ cả nền văn minh của họ thế nào, và họ đã dìu đường cho hạng thanh niên của họ về phương học thức thế nào.

Nội bộ cần phải được cải tổ, tronglúc hành chánh Ðạo cần phải chấn chỉnh để cho nền chánh giáo được thuần tuý hơn...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

CẢI TỬ HOÀN SANH

改 死 還 生

Hay “Cải tử huờn sanh”.

Cải tử hoàn (huờn) sanh là nói người sắp chết mà được cứu sống trở lại.

Có hai nghĩa đen và nghĩa bóng.

Nghĩa đen: Anh ấy bị bệnh sắp chết, nhờ thuốc mà anh ấy được cải tử hoàn sanh.

Nghĩa bóng: Anh ấy nhờ ông thầy giáo hoá mà được cải tử hoàn sanh, nếu không thân sẽ bị tù tội.

1.- Cải tử hoàn sanh:

Người đau nào khác mình đau vậy,

Cải tử hoàn sanh phước hải hà!

(Thơ Chơn Tâm).

2.- Cải tử huờn sanh:

“Lương y từ mẫu” ơn như biển,

Cải tử huờn sanh” nghĩa sánh trời.

(Thơ Thành Toại).

 

 

CẢI TRỜI

Cải: Đổi, sửa đổi. Trời: Chỉ Tạo Hoá, số Trời.

Cải Trời là sửa đổi lại số Trời đã định.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Thánh giáo Chí Tôn có câu: Người Hàn Tín xưa, nếu chẳng trở lòng nạp bạn thì chẳng bị thác vô cớ. Còn ngươi Trương Tử Phòng, nếu chẳng Phạm Tăng cải Trời làm lếu thì ân oán đền trả chẳng mấy hồi.

Mình muốn cải Trời là tưởng mộng,

Ðể xem cơ Tạo sẽ làm sao.

(Đạo Sử).

 

 

CÃI

1.- Cãi là dùng lời lẽ chống lại ý kiến người khác nhằm bảo vệ ý kiến hoặc việc làm của mình. Như: Cãi bướng, cãi lẽ, cãi vã.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo của Đức Chí Tôn có dạy: Làm một việc phải tức là do nơi ý Trời, phạm một nét vạy tà là cãi nơi Thiên luật.

Hiểu thương ghét giả cam phận dại,

Biết nên hư chẳng cãi cho cùng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Cãi còn có nghĩa là biện hộ, bào chữa cho một bên đương sự nào đó trước Toà án, hay một cơ quan xét xử của Đạo. Như: Cãi án, cãi luật.

Không thể gì mình chối cãi tội, cãi án của mình đặng, vì chính mình định cho mình, nếu cãi đặng là qua Chơn-Thần sao?

(Con Đường Thiêng Liêng).

 

 

CÃI LẼ

Cãi: Dùng lời nói chống lại ý kiến của người khác. Lẽ: Lời lẽ, lý lẽ.

Cãi lẽ là dùng lý lẽ chống lại ý kiến của người khác, nhằm bảo vệ ý kiến, hoặc việc làm của mình.

Đừng cãi lẽ những điều phải chẳng,

Tấm thân già hiểu đặng cuộc đời hơn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CÃI LỊNH

Hay “Cãi lệnh”.

Cãi: Dùng lời lẽ chống lại ý kiến người khác nhằm bảo vệ ý kiến hoặc việc làm của mình. Lịnh: Mệnh lệnh của cấp trên truyền xuống để thi hành.

Cãi lệnh (Lịnh) là chống lại lệnh của cấp trên.

Chánh Phối Sư đã là người thay mặt cho nhơn sanh chỉ biết tuân lịnh mà thôi, chớ không phép cãi lịnh...

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

CÃI LUẬT

Cãi: Dùng lời lẽ để bào chữa. Luật: Pháp luật.

Cãi luật là dùng những điều trong luật pháp đã ấn định để bào chữa, bênh vực cho bị cáo trước Toà án.

Pháp Chánh Truyền Chú Giải có câu: Người nắm luật Đạo trong tay, mà binh vực cả chư chức sắc Thiên phong và các tín đồ, chẳng cho ai phạm luật, vừa lo cho người Đạo hạnh lên cho tột phẩm vị của mình. Thượng Phẩm là chủ phòng cãi luật, làm Trạng sư của tín đồ.

Ngài lại là Trạng sư cãi Luật,

Cả Tông đồ binh vực đỡ nâng.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

CAY

Cay là có vị hăng nồng như ớt, làm cho tái tê đầu lưỡi, dùng để chỉ sự đau xót hay tức tối.

Như: Gừng cay, rượu cay, trăm đắng ngàn cay.

Thánh giáo có câu: Con đã để dạ ưu tư về mối Ðạo, đã lắm lần trưu cay ngậm đắng mà nhuộm nét nâu sồng, mong trau rạng mảnh gương để soi chung bước đàng sau mà lần đến cảnh tự tại thung dung, tránh bớt muôn điều phiền não.

Trăm đắng ngàn cay đành một kiếp,

Công Hầu Vương Bá dám đâu hơn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Khổ hạnh để lòng công quả gắng,

Lánh trần chi nệ nỗi cay chua.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

CAY CHUA

Cay: Vị của ớt. Chua: Vị của dấm, chanh.

Cay chua, bởi chữ “Tân toan 莘 酸” là vị cay và vị chua, dùng để chỉ sự gian nan, vất vả, hay khổ cực.

Cay chua đồng nghĩa với chữ “Cay đắng”.

Xem: Cay đắng.

Rừng tòng tìm đến lánh cay chua,

Đêm lặng lắng nghe tiếng khánh chùa.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Hạnh tu đã chịu lắm cay chua,

Ðạo thế cho xong mới đến chùa.

(Đạo Sử).

 

 

CAY ĐẮNG

Cay: Vị cay xé họng của ớt. Đắng: Vị làm khó chịu như mướp đắng.

Cay đắng, bởi chữ “Tân khổ 莘 苦” là vị cay, vị đắng, hai trong ngũ vị ăn vào khó khăn, gây khổ sở cho người chưa quen dùng, nên người ta thường dùng hai vị “Cay đắng” để chỉ sự khổ sở, gian nan hay vất vả.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Ngũ Nương Diêu Trì Cung có dạy: Tội nghiệp lắm là phần nữ lưu phải chịu thiệt hơn, nhưng kỳ Hạ nguơn nầy, lại khá nhiều lắm, nếu được như vậy hết thì cửa Bạch Ngọc Kinh và Cung Diêu Trì sẽ chật hết, vì đó là một phần được thôi, còn bao nhiêu sẽ chịu trăm chiều cay đắng về nạn...

Xem: Tân khổ.

Cay đắng lần soi gương trí huệ,

Chia phui chờ trải lối tang thương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thường ngày cay đắng phải âu lo,

Ðộ dẫn nhằm nơi phải gắng dò.

(Đạo Sử).

Con dầu gặp trăm lần cay đắng,

Nguyện với Thầy dìu dẫn giùm con.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

CAY NGHIỆT

Cay: Có vị hăng nồng như ớt, làm cho tái tê đầu lưỡi, dùng để chỉ sự đau xót hay tức tối. Nghiệt: Khắt khe, riết róng.

Cay nghiệt là khắc khe, nghiệt ngã quá đáng, làm cho người khác phải khổ sở.

Thánh giáo Đức Diêu Trì Kim Mẫu có câu: Cũng lắm đứa miệng niệm Nam mô mà lòng cay nghiệt đè ép kẻ yếu thế cô, đương thâu của bá gia về tấn cúng, lòng ham tưởng chúng khen ngợi mà không kiếm hiểu câu tội phước công bình kia.

Ðại Từ Phụ lại sợ cơ thử thách quá cay nghiệt, nên có dạy rằng: “Ngày nào Ðạo đã khai tức là tà khởi.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

CÀY

1.- Cày là nông cụ có lưỡi bằng sắt, dùng sức kéo để lật đất và làm vỡ lớp đất trồng trọt.

Như: Trâu bò kéo cày, lưỡi cày đã mòn.

Dạy trẻ tớ sự nhà tiêm tất,

Cuốc, cày, bừa còn mất phải coi chừng.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Cày là dùng lưỡi cày để lật đất lên. Như: Cày sâu cuốc bẵm, cày ải, cày đất khô,

Đức Thanh Tâm có câu: Ðạo nơi Tâm, thì Tâm ví như Ðiền, có Ðiền mà chẳng cày bừa đặng đem hột lúa gieo vào cho đặng trổ bông đơm hột thì ruộng tất phải bỏ hoang, bỏ hoang thì sâu bọ rắn rít xen vào ẩn trú.

Hễ đặng bữa cày, buông bữa giỗ,

Phân thân đâu đặng hưởng hai bên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Hiếu con dầu ví kẻ cày voi,

Không đạo hạnh đừng coi là trọng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CÀY CẤY

Cày: Dùng lưỡi cày, một loại nông cụ để lật đất lên. Cấy: Cắm cây con xuống đất cho cây tiếp tục tăng trưởng.

Cày cấy là nói chung chỉ về việc làm ruộng.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Ðiền là tâm điền, chỉ nghĩa tâm người ta như miếng ruộng, cần phải cày cấy, gieo giống tốt mới nở bông sanh trái, bằng để u trệ không lo săn sóc, ruộng sẽ bị cỏ chạ cây rừng loán mọc, thành đất hoang vu, chứa những độc trùng hiểm nguy không ít.

Trâu cày cấy bớt điều đòn bọng,

Nuôi kỹ càng nó sống mình giàu.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CÀY MÂY

Cày: Lật đất lên bằng lưỡi cày. Mây: Hơi nước bốc lên đọng lại thành từng đám.

Cày mây là cày cuốc trong mây núi, dùng để chỉ thú hưởng nhàn thanh cao của những bậc ẩn giả.

Xem: Cày mây cuốc nguyệt.

Cày mây Y Phó nêu gương trí,

Lánh tục Hứa Sào thích thú ghê.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

CÀY MÂY CUỐC NGUYỆT

Cày mây cuốc nguyệt, lấy ý từ chữ “Canh vân điếu nguyệt 耕 雲 釣 月” tức là cày ruộng trong mây núi, câu cá dưới trăng.

Cày mây cuốc nguyệt dùng để nói cảnh sống thơ mộng, thanh cao nhàn nhã của người ẩn dật.

Cày mây cuốc nguyệt chờ Thang Võ,

Rằng biết cho dân chịu buộc ràng.

(Đạo Sử).

 

 

CAM

1.- Cam là ngọt. Nghĩa bóng chỉ sự sung sướng.

Như: Trân cam, khổ tận cam lai là hết hồi khổ sở, đến hồi sung sướng.

Cẩm phong nhuỵ đào thơ nở bóng,

Vẻ trân cam lồng lộng mùi thơm.

(Nhị Nương Giáng Bút).

2.- Cam còn có nghĩa là chịu, đành, xin bằng lòng.

Thánh giáo Đức Thích Ca Mâu Ni kim viết Cao Đài Tiên Ông Đạo Bồ Tát ma Ha Tát có câu: Ta vì luật lịnh Thiên mạng đã ra cho nên cam để vậy, làm cho Phật tông thất chánh có trên ba ngàn năm nay.

Thà cam chết sống với tình,

Chia tay chẳng chịu sớm đành phụ nhau.

(Thất Nương Giáng Bút).

Cam day hướng Bắc xét cho cùng,

Thấy lửa lẫy lừng trận khói un.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Nghịch cảnh cam bề xa cửa Đạo,

Ngược chiều đưa bước đến nhà giam.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CAM CHỊU

Cam: Đành, xin bằng lòng. Chịu: Nhận lấy, không thể làm được.

Cam chịu là bằng lòng chịu vì cho là không thể nào khác được.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy tỏ thật, cái luật lệ Thầy khiến các con hiệp chung trí mà lập thành đây, nó có ảnh hưởng về đạo đức, Tiên phong Phật sắc của các con, nên Thầy buộc mình cam chịu vậy.

Xông pha ra chốn chiến tràng,

Đắng cay cam chịu gian nan không sờn.

(Kinh Cúng Chiến Sĩ).

Thiệt thòi cam chịu mình đau xót,

Tranh cạnh để chi kẻ hiểu lầm.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

CAM ĐÀNH

Cam: Cảm thấy có thể bằng lòng làm việc gì đó, hoặc trước một việc gì đó. Đành: Vừa lòng, ở tình trạng có tâm lý thích và muốn tiếp nhận vì hợp với ý mình.

Cam đành, như chữ “Cam chịu”, là bằng lòng vì cho rằng không thể nào khác được.

Nơi phòng khuê phận gái cam đành,

Dạy cho biết cạnh tranh đường thế sự.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CAM ĐOAN

甘 端

Cam: Cam tâm, cam chịu, đành. Đoan: Cam kết.

Cam đoan là nói chắc và hứa chịu trách nhiệm về lời nói của mình để cho người khác tin.

Thánh giáo Thầy có dạy: Các con phải hiểu rằng, mỗi đứa có trách nhậm lớn lao về Ðạo. Trước khi lãnh mạng Tam Giáo Toà xuống chịu mình với chúng sanh lúc Tam Kỳ Phổ Ðộ nầy, đều có cam đoan hứa làm tròn phận sự.

Mỗi phen Thầy đến lập Ðạo thì là phải cam đoan và lãnh các con, chẳng khác nào kẻ nghèo lãnh nợ.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CAM GO

Cam go là gay go, gian khổ.

Như: Tu hành thì phải chịu đựng nhiều nỗi cam go, thử thách.

Trong Đàn cơ ngày 22 tháng 1 năm Kỷ Tỵ (3/3/1929 Phò loan: Hộ Pháp - Thượng Phẩm, Đức Tôn Sơn Chơn Nhơn có câu: Bần đạo như Hộ Pháp, vì đa lo mà đã quên lời hứa. Tỷ như Tiếp Đạo một mình côi cút tại xứ người, hành chánh cam go chẳng xiết.

Nhớ khi còn ở dưới trần,

Tu-hành phải chịu lắm phần cam go.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

CAM KẾT

甘 結

Cam: Cam tâm, cam chịu, đành. Kết: Buộc, thắt lại.

Cam kết là chính thức cam đoan làm đúng những điều đã hứa.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Quyền; Chúng ta thấy quyền thế nào? Giờ chúng ta kể lại sự tích của Tàu; Như Hạng Võ khi vô Bao Trung đã có lời cam kết, kẻ nào đã vô Bao Trung trước thì được làm Chúa.

Ra gánh vác việc xã hội, tuỳ theo địa vị, phải ráng lập công cho đúng với nhiệm vụ mình đã nhận lãnh, hoặc y theo lời cam kết của mình.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

CAM KHỔ

甘 苦

Cam: Tự nguyện. Khổ: Cực nhọc, vất vả.

Cam khổ tức là tự nguyện chịu sự nhọc nhằn, lo lắng, vất vả.

Thánh giáo Đức Quyền Giáo Tông trong Thánh Ngôn Sưu Tập có câu: Qua nhớ lại năm nào, Thượng Phẩm, Hộ Pháp cùng Em Tư Hương Hiếu đã chịu nhiều cam khổ mới tém dẹp lần hồi cho ra vẻ. Đó chẳng qua là vì Đạo mà hăng say quên hết khó nhọc.

Mấy phen cam khổ cùng thân phận,

Phải trách mình quê, chớ trách Trời.

(Đạo Sử).

Sợ đàn em dại u ơ,

Khổ thà cam khổ cũng thờ dưỡng nghi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CAM LA

甘 羅

Cam La là người nước Tần, từ nhỏ rất thông minh, làm môn hạ của Lữ Bất Vi.

Lữ Bất Vi muốn giúp nước Yên, nên sai Trương Đường sang làm tướng. Trương Đường không chịu đi, Lữ Bất Vi phải nhờ Cam La thuyết phục, nên Trương Đường mới nhận lời.

Vua Tần biết Cam La là người tuổi trẻ tài cao nên ban cho năm mươi cổ xe, một trăm người theo hầu để đi sứ sang nước Triệu.

Cam La khuyên Triệu nên liên kết với Tần bằng cách cắt năm thành chia cho Tần để Tần tuyệt giao với Yên. Triệu nghe lời, dâng năm thành cho Tần. Vua Tần triệu Trương Đường về nước, không giúp cho nước Yên nữa.

Triệu biết Tần tuyệt giao với Yên, nên đem quân qua đánh nước nầy, lấy được ba mươi thành, chia cho Tần mười một, còn giữ lấy mười chín thành.

Nhờ công lao lớn, vua Tần mới phong cho Cam La là Thượng Khanh, là một vị quan trẻ nhất bấy giờ. Chẳng may, Cam La lại mất sớm.

Cam La trước trẻ đã công hầu,

Bảy chục Khương Công nhẫn nhấp câu.

(Đạo Sử).

Cam La sớm phận đã nên quan,

Mình thiệt thòi thôi cứ việc làng.

(Đạo Sử).

 

 

CAM LÒNG

Cam: Đành, chịu. Lòng: Bụng dạ, tâm tính người.

Cam lòng là thoả lòng, tự cảm thấy bằng lòng trước một việc gì.

Cam lòng còn có nghĩa là “Cam tâm”, tức tự bằng lòng khi làm điều thừa biết là xấu xa, nhục nhã.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Bởi vậy cho nên, nhiều bậc Thần, Thánh, Tiên, Phật cam lòng thủ phận, chẳng dám vọng cầu đem thân vào cảnh đọa, nhưng mà chẳng tái kiếp thì như nhu sĩ trốn thi, thế nào giữ vững địa vị cao thượng?

Ôi! Con phải cam lòng gánh vác sự khó khăn, nhứt là trong lúc nầy.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

Về thu chạnh dạ nhớ hồi xưa,

Xưa đã cam lòng đã rõ chưa.

(Đạo Sử).

 

 

CAM LỘ

甘 露

Hay “Cam lồ”.

Cam: Ngọt. Lộ (lồ): Sương, mốc.

Cam lộ hay Cam lồ, tức Cam lộ thuỷ 甘 露 水, là nước sương ngọt, còn gọi là nước nhành dương, bởi vì nước Cam lộ là một thứ nước thiêng liêng được đựng trong cái Tịnh bình của Phật Quan Âm, và dùng nhành dương liễu nhúng vào nước Cam lộ rải vào người hay vật để trừ oan khiên, tiêu nghiệp chướng hay tiêu tai giải nạn.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Mấy em cũng dư biết Ðạo Cao Ðài sản xuất có một Chơn Lý tối cao, tối trọng nên đời buổi nầy khao khát đợi chờ như hạn trông mưa, những kẻ tội tình trong bể khổ khát khao đợi giọt Cam Lồ của Ðức Chí Tôn chan rưới cho bớt sự đau thảm.

1.- Cam lộ:

Khá từ bỏ xa dòng bể khổ,

Diệt trần tình Cam lộ tẩy nhơ.

(Kinh Thế Đạo).

Cam lộ kìa ai dành để sẵn,

Cầm dương rửa sạch nét phù vân.

(Thơ Hộ Pháp).

Sông Tương đổ ngọc làm Cam lộ,

Ðảnh giáp trao châu cất Phụng lầu.

(Thiên Thai Kiến Diện).

2.- Cam lồ:

Cam Lồ rưới giọt nhành dương,

Thất tình lục dục như dường tiêu tan,

(Kinh Tận Độ).

Am tự đóng chặt gài bước tục,

Nước Cam lồ cho phúc tiêu diêu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Mượn nước Cam lồ lau tục trái,

Ðường Tiên nẻo Phật sớm đưa chơn.

(Đạo Sử).

 

 

CAM PHẬN

甘 分

Cam: Đành, chịu, tức có thể bằng lòng trước một việc gì đó. Phận: Thân phận, số phận.

Cam phận là cam chịu với cảnh sống của mình vì cho rằng không thể nào thay đổi được.

Thuyết về Đức Khổng Tử, Hộ Pháp có câu: Thương thay một Đấng Chí Thánh như Ngài mà cũng phải chịu bề thất vọng, bởi gặp buổi đời quá bạo tàn, nên cây quạt và mảnh mền là đạo nhơn nghĩa của Ngài không đủ thế quạt nồng đắp lạnh, Ngài phải thối bước về quê, cam phận thiệt thòi trọn đời ngồi dạy học.

Ngãi nhân cam phận chịu bần hàn,

Mình biết trọng mình mặc kẻ sang.

(Đạo Sử).

Hiểu thương ghét giả cam phận dại,

Biết nên hư chẳng cãi cho cùng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Thà cam phận mơi cơm chiều cháo,

Nhờ vợ đời khi ngạo đã nhiều lời.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CAM TÂM

甘 心

Cam: Cảm thấy có thể bằng lòng. Tâm: Lòng.

Cam tâm là đành lòng, cam lòng chịu vậy, tức cảm thấy khi bị thiệt thòi hay làm điều thừa biết là xấu xa, nhục nhã, vẫn phải tự bằng lòng, cam chịu.

Cam tâm còn dùng để chỉ sự thoả lòng, cảm thấy tự bằng lòng với việc gì.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Vì vậy Hội Thánh phải cam tâm chịu thiệt thòi về mặt hình thức, nhưng Hội Thánh đã tự hào là được hoàn toàn trong sạch, không một mảy bợn nhơ về tiền tài dầu là ở đâu đưa đến.

Xưa coi nhẹ lời răn đạo đức,

Nay cam tâm ngậm ức nuốt oan.

(Ngũ Nương Giáng Bút).

Cam tâm nín nẩm gia đàng,

Vì con chưa giữ vững vàng quy mô.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CÁM

Cám do chữ “Cảm” đọc trại đi, có nghĩa từ ngoài mà thâm nhập vào.

Như: Cám ơn anh đã giúp đỡ, thấy nó khổ lòng tôi cám cảnh, lấy sắc đẹp cám dỗ anh ấy.

Biển hoạn dập dồn thương bấy trẻ,

Thành sầu chất chứa cám cho gia.

(Đạo Sử).

 

 

CÁM CẢNH

Cám: Do tiếng cảm đọc trại, có nghĩa động lòng. Cảnh: Việc bày trước mắt.

Cám cảnh là động lòng thương cảm trước một hoàn cảnh hay một cảnh ngộ.

Trong Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Thánh Giáo Thầy có câu: Bính, Thầy thưởng công con, cho lên chức Phối Sư. Thầy cám cảnh lòng yêu mến của con, Thầy cám ơn lòng đạo đức của con. Sanh linh còn nhờ công con mà thoát qua khổ hải.

Dệt thảm lê dân Trời cám cảnh,

Thêu sầu xã tắc đất kinh hồn.

(Thất Nương Giáng Bút).

Tái kiếp lao đao Thầy cám cảnh,

Đến cho con một Đạo linh phù.

(Thanh Sơn Giáng Bút).

 

 

CÁM DỖ

Cám: Do tiếng cảm đọc trại, có nghĩa xúc động tình cảm. Dỗ: Dụ dỗ, vỗ về.

Cám dỗ là khêu gợi lòng ham muốn đến nỗi có thể làm cho sa ngã.

Theo Đệ ngũ hình thuộc Phạm pháp, trong Thập Hình Đức Lý Giáo Tông, những kẻ mê hoặc chúng sanh hay cám dỗ người sẽ bị hình phạt ngưng quyền từ 1 tới 3 năm và phạt vào tịnh thất.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Cái quyền hành lớn lao ấy do Thầy ban cho nó, nên đặng quyền cám dỗ các con, xúi biểu các con, giành giựt các con mà làm tay chơn bộ hạ trong vòng tôi tớ nó.

Lẩn bẩn cứ theo toan cám dỗ,

Làm cho nên nỗi Ðạo xa Thầy.

(Đạo Sử).

Chúng đủ thuốc mê hồn cám dỗ,

Sắc tài quyền tứ đổ đưa ra.

(Nguyễn Trung Trực Giáng).

 

 

CÁM ƠN

Cám: Do tiếng cảm 感 đọc trại, có nghĩa xúc động tình cảm. Ơn (ân): Điều làm lợi ích cho người, được người mnghĩ phải đền trả.

Cám ơn, như chữ: “Cảm ân”, là tỏ lòng biết điều tốt mà người khác đã làm cho mình.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Lý Giáo Tông có đoạn: Nay vì Lễ Ðạo Triều, nên đến chúc mừng chư hiền hữu. Lão để lời cám ơn Hộ Pháp đã chịu lắm phen nhọc nhằn khổ não làm cho Ðạo ngày nay đặng ra thiệt tướng.

Thề nhau trọn kết dải đồng,

Cám ơn chàng giúp mặn nồng nghĩa nhân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CẢM

1.- Cảm là từ bên ngoài mà xúc phạm vào trong.

Như: Cảm sương, bệnh cảm nặng, đi nắng gió làm dễ bị cảm sương.

Trung, con nhớ nói với em rằng Thầy cấm nó uống rượu nghe. Nó cảm nặng là vì rượu đó nghe.

(Đạo Sử).

2.- Cảm là làm cho rung động trong lòng khi tiếp xúc với một việc gì.

Như: Điệu hát cảm được người nghe, việc làm của anh đã cảm động lòng người, sầu cảm ác cảm.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Ðạo trễ một ngày thì hại cho chúng sanh một ngày, mà mỗi đứa đều gây ác cảm, làm cho mối Ðạo thành ra bánh vẽ, thì chừng nào Ðạo trọn thành nơi đây? Chừng nào cho Ðạo truyền ra ngoại quốc?

Xem cây cỏ như màu thảm đạm,

Ngó thú cầm dường cảm đau thương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CẢM ĐỘNG

感 動

Cảm: Làm cho rung động trong lòng khi tiếp xúc với một việc gì.

Cảm động là cảm thấy tình cảm bị tác động trước sự việc, làm rung động trong lòng.

Như: Cảm động đến rơi nước mắt, nhìn thấy đưa bé ăn xin thật quá cảm động.

Ơn dưỡng dục đất trời cao rộng,

Ngại đền bồi cảm động lòng con.

(Thơ NĐS Hương Thanh).

 

 

CẢM ĐỨC CAO SÂU

Cảm: Ngoại vật tác động lên tâm khiến xúc động. Đức cao sâu: Ân đức cao dày và thâm sâu.

Cảm đức cao sâu ý chỉ chúng sanh cảm cái ơn đức cao sâu của các Đấng Thiêng liêng đã cứu khổ giải nàn.

Chúng sanh cảm đức cao sâu,

Rèn lòng, sửa nết, lo âu làm lành.

(Xưng Tụng Công Đức).

 

 

CẢM HOÁ

感 化

Cảm: Ngoại vật tác động lên tâm khiến xúc động. Hoá: Biến đổi.

Cảm hoá là nhờ cảm động mà thay đổi.

Thánh Giáo Thầy có đoạn: Cái tình cảm hoá của con người là tình thường ứng hiệp Trời Ðất. Cho nên khi tâm tịnh thường cảm hoài, hằng tìm nơi u huyền mà nghĩ nghị trong trí khôn, ấy là kẻ có sẵn tình ý thiên nhiên Tạo hoá.

Cảm hoá môn sinh tùng luật pháp,

Khuyên lơn chức sắc trọng uy quyền.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

CẢM HOÀI

感 懷

Cảm: Làm cho rung động trong lòng khi tiếp xúc với một việc gì. Hoài: Mang trong lòng.

Do tình hay cảnh gây mối xúc động mang trong lòng gọi là cảm hoài.

Thánh Giáo Thầy dạy: Cái tình cảm hoá của con người là tình thường ứng hiệp Trời Ðất. Cho nên khi tâm tịnh thường cảm hoài, hằng tìm nơi u huyền mà nghĩ nghị trong trí khôn, ấy là kẻ có sẵn tình ý thiên nhiên Tạo hoá.

Con xin nương bóng Cao Đài,

Bước ra một bước cảm hoài căn tu.

(Kinh Thế Đạo).

Rèn tâm khá nắm dây thân ái,

Giữ dạ đừng quên mối cảm hoài.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

CẢM HỨNG

感 興

Cảm: Mối cảm xúc trong lòng. Hứng: Hứng thú.

Cảm hứng là cảm xúc vì tình hoặc cảnh mà sinh ra hứng thú.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Lễ Tết Trung Thu và cũng là Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung năm Ất Tỵ nơi Toà Thánh đã kết thúc trong sự vui đẹp và trong niềm cảm hứng của toàn thể chức sắc, chức việc và đạo hữu nam nữ. Ðiều đó chứng tỏ một tinh thần đoàn kết mật thiết giữa Hội Thánh và toàn thể chức sắc, chức việc nơi trung ương cũng như ở địa phương.

Tràn ngập muôn sao nguồn cảm hứng,

Cửa lòng rộng mở đón hương xuân.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CẢM KÍCH

感 激

Cảm: Mối cảm xúc trong lòng. Kích: Kích thích.

Cảm kích là trong lòng cảm động và được kích thích tinh thần trước hành vi tốt đẹp của người khác.

Như: Trước sự săn sóc ân cần của mọi người tôi và gia đình rất cảm kích.

Tang quyến sầu thương lần vĩnh biệt,

Đàn văn cảm kích mối tương thông.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

CẢM KHÁI

感 慨

Cảm: Mối cảm xúc trong lòng. Khái: Thương xót.

Cảm khái là thương cảm ngậm ngùi, tức nhân cảm xúc mà động lòng thương.

Như: Người có chí khí lỗi thời thường hay phát những lời văn cảm khái.

Sầu cuộn theo dòng thơ cảm khái,

Tình thương qua nét bút quan hoài.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CẢM MẾN

Cảm: Mối cảm xúc trong lòng. Mến: Có cảm tình, thích gần gũi vì thấy hợp ý.

Cảm mến là có lòng thương mến.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Ðời có Ðạo, tức là có kỷ cương trật tự, người quân tử đều ra ứng dụng, đem cái hay cái biết của mình mà thật hành cho đời nhờ. Vì đó mà được chúa Thánh tôi Hiền, muôn dân cảm mến, nên cần mẫn chơn chánh, biết lo nghĩa vụ giữ liêm sỉ. Trong nước trên thương dưới, dưới kính trên, vắng trộm cướp, khỏi luật hình, vì quốc dân đặng bảo bọc giúp đỡ cho có nghề sanh nhai.

Triều thần cảm mến ân ba,

Mừng ngày chứng quả, ông bà thừa long.

(Báo Ân Từ).

Văn tài chi mấy khách lưu tâm,

Tiếp mảnh hoa tiên cảm mến thầm.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

CẢM QUANG

感 光

Cảm: Mối cảm xúc trong lòng. Quang: Ánh sáng, hào quang, hay điển lực của chư vị Thiêng liêng.

Cảm quang là ánh sáng hào quang, hay những điển lực của chư Thiêng Liêng gây cảm xúc cho con người, nói cách khác tác động đến con người.

Cảm quang diêu động tâm tu,

Khai cơ giải thoát mở tù Phong Đô.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

CẢM TẠ

感 謝

Cảm: Mối cảm xúc trong lòng. Tạ: Tỏ lòng biết ơn hay xin lỗi một cách trân trọng.

Cảm tạ là cảm kích và tạ ơn, tức tỏ lòng biết ơn bằng lời cảm ơn.

Nói về Đức Quyền Giáo Tông, Thuyết Đạo Hộ Pháp có đoạn: Một nền Chơn giáo cao thâm tinh thần dường nầy sẽ bất tiêu, bất diệt. Nhờ ơn đầu tiên của Ngài khai mở, chúng ta hãy cúi đầu cầu nguyện và cảm tạ ơn Ngài.

Cảm tạ ơn Trên đầu dìu đỡ,

Từ khi đi khi trở lộn về.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

CẢM TÌNH

感 情

Cảm: Mối cảm xúc trong lòng. Tình: Sự yêu mến gắn bó giữa người với người.

Cảm tình là vì ngoại giới kích thích mà khơi động đến mối tình.

Cảm tình còn dùng để chỉ tình cảm tốt đối với người, với việc nào đó.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có dạy: Lão đã mang một cảm tình rất nặng cùng chư hiền hữu, hiền muội rồi đó.

Từ khi hiệp mặt buổi Trung Thu,

Cảm tình nhìn biết đứa em ngu.

(Lục Nương Giáng Bút).

Lừa dịp đình chơn viếng cố nhân,

Cảm tình trông đợi dạ ân cần.

(Thất Nương GiángBút).

 

 

CẢM THÔNG

感 通

Cảm: Mối cảm xúc trong lòng. Thông: Suốt.

Cảm thông, như chữ “Thông cảm 通 感”, là nhân cảm động mà tình ý liên lạc với nhau, hay hiểu nhau được nhờ cảm xúc tương đồng.

Như: Mình cảm thông với sự cực nhọc, vất vả của người lao động.

Kìa Ô thước là loài phi điểu,

Mà vẫn còn đa thiểu cảm thông.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CẢM THƯƠNG

感 傷

Cảm: Mối cảm xúc trong lòng. Thương: Cảm thấy đau đớn xót xa trong lòng trước cảnh không may.

Cảm thương, như chữ “Thương cảm 傷 感”, là mối tình cảm bi thương, tức thương xót sâu xa trước tình cảnh nào đó.

Ca dao ta có câu: Cảm thương con hạc ở chùa, Muốn bay da diết, có rùa gữ chân.

Cảm thương con cũng lắm công phu,

Thầy phải liệu vận trù chước thế.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

 

 

CẢM ỨNG

感 應

Cảm: Những việc làm của mình có sức mạnh ảnh hưởng đến chung quanh. Ứng: Chung quanh ngoại cảnh ứng đối, đáp lại sức mạnh ấy.

1.- Cảm ứng. Như tiếng nói là cảm, vang dội lại là ứng.

Cảm ứng là chúng sanh có lòng thành cầu nguyện sẽ được chư thiêng liêng ứng hiện để gia hộ cứu giúp cho.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Cảm ứng nghĩa là có sự hành động trước rồi mới có cái sức dội lại hay là sự phản động sau.

Thầy không bao giờ không cảm ứng với những lời cầu nguyện chơn thành.

(Thanh Ngôn Hiệp Tuyển).

2. Cảm Ứng còn là tựa một bổn Kinh của Đức Thái Thượng Đạo Quân, đó là “Kinh Cảm Ứng”.

Đức Thượng Sanh cũng dạy: Theo Kinh Cảm Ứng, con người thở ra thở vô, hơi thở đều có thông đồng với khí hư vô của Trời, cho nên niệm tưởng vừa phát động tuy người phàm không hay chớ Trời đã rõ thấu.

Dị đoan chẳng có toàn chơn pháp,

Cảm Ứng còn thêm Đạo Đức Kinh.

(Cội Đạo Bốn Mùa).

 

 

CẢM XÓT

Cảm: Những việc làm của mình có sức mạnh ảnh hưởng đến chung quanh. Xót: Thương hại nhiều.

Cảm xót là cảm động và xót thương.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Đức Quyền Giáo Tông có dạy: Qua vì thương các em nên mỗi khi các em bận lo rộn trí việc Đạo việc đời thì Qua cần cảm xót mà dạy dẫn lối đi và sở hành cho các em vững chí.

Lòng cảm xót dương trần lận đận.

Ra oai linh tiếp dẫn nhơn cầm.

(Xưng Tụng Công Đức).

 

 

CẢM XÚC

感 觸

Cảm: Động lòng, xúc động tình cảm. Xúc: Tiếp với, cảm động.

Cảm xúc là do tiếp xúc mà cảm động, tức lòng rung động bởi tiếp xúc với sự việc gì.

Trong Đạo Sử, Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy Ngài Thượng Trung Nhựt có câu: Ấy vậy dân nơi đó là con yêu dấu của Thầy, nhưng phần đông chưa biết Ðạo là gì? Thầy rất cảm xúc, con tính sao Trung?

Nguồn cảm xúc đương nhiên phát khởi,

Cảnh cố hữu nhủ gợi chân tình.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

CẠM BẪY

Cạm: Dụng cụ thô sơ để lừa bắt thú vật. Bẫy: Đồ để lừa người hay lừa thú vào để bắt.

Cạm bẫy là cạm và bẫy là những thứ dụng cụ dùng để lừa người hay thú mắc kẹt vào đó để bắt.

Thánh giáo Lục Nương Diêu Trì Cung có dạy: Cả thế gian đang phải chịu bao trùm bởi nét phù vân mà từ người tu đến kẻ thế đành thảm lụy vào cạm bẫy lợi danh mới ra nông nỗi.

Đại Từ Phụ băn khoăn lo sợ cho bầy con cái thất bại trên đường lập vị mà phải sa ngã vào cạm bẫy quỷ vương...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

CAN

1.- Can là khuyên ngăn những sự lầm lỗi hay sự tranh cạnh của người khác. Như: Can hai người đánh nhau, can em trai đừng đi đánh bạc.

Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy Ngài Thượng Trung Nhựt có đoạn: Con ráng khuyên can bạn con và ráng mà tuân lời Lý Bạch. Ấy là hai chuyện Thầy cậy con.

Dạy không nghe chẳng đặng làm thinh,

Can chẳng đặng nài xin em phải thuận.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Can là phạm vào, mắc vào vụ phạm pháp.

Như: Hắn đã can tội giết người, thả can phạm về đoàn tụ gia đình.

Biết bao người phải tiêu mòn tinh lực vì sắc dục và để cho nó thâu ngắn đời sống của mình! Biết bao người làm điều can danh phạm nghĩa vì sắc dục!

(Thiên Đạo).

3.- Can là dự vào, có quan hệ đến.

Như: Can dự, can thiệp, việc ấy chẳng can gì đến anh, việc phải nói thì nói can chi mà sợ.

Bền công kinh sách xem coi,

can sát mạng thiệt thòi rất oan.

(Kinh Sám Hối).

Ðã chẳng phải duyên không phải nợ,

Can chi con buộc tấm tình riêng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

4.- Can là cái mộc, một loại binh khí thời xưa, thường kết hợp với từ Qua 戈: cây giáo, cây mác, là can qua, dùng để chỉ chiến tranh, giặc giã.

Như: Can qua, can thành.

Kết khối hoà bình ngăn giặc loạn,

Mở trường giáo hội chận can qua.

(Thơ Đức Hộ Pháp).

5.- Can là tên mười chữ: “Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý”, gọi là Thập Thiên can hợp với mười hai chi, gọi Thập nhị Địa chi trong phép tính giờ, ngày, tháng, năm theo Âm lịch.

Thập Thiên can bao hàm vạn tượng,

Tùng Địa Chi hoá trưởng Càn Khôn.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

6.- Can là buồng gan, chỉ sự ngay thẳng, gan dạ.

Như: Ngài là bậc trung can nghĩa khí, hết sức can đảm, can trường.

Tiết nghĩa trung can Hớn đảnh xây,

Phò Lưu dựng Thục một lòng ngay.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

CAN ĐẢM

肝 膽

Can: Lá gan. Đảm: Mật.

Can đảm là gan và mật, chỉ sự dũng cảm, không sợ nguy hiểm, dám làm việc liên tục.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Thảng không đủ can đảm cương quyết thiệt dụng quyền năng của Ngài thì dầu cho Chức Sắc Thiên Phong, Chức Việc Ðạo Hữu cho đến mấy con nhỏ cũng vậy, cái hoạ tương lai không thể tránh thì không lấy gì làm lạ, hết giặc giả đao binh đến bịnh chướng sát hại.

Chí hy sinh và lòng can đảm phục vụ của mấy em sẽ được sự ban thưởng của Hội Thánh và các em sẽ được hưởng ân huệ xứng đáng về mặt thiêng liêng.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

CAN GIÁN

干 諫

Can: Dự vào. Gián: Ngăn cản, khuyên can.

Can gián là khuyên can những sự lầm lỗi hay sự cạnh tranh của người khác.

Trong Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Đức Lý Giáo Tông có lời dạy: Trong đám Thiên Phong nhiều kẻ e còn bị trục xuất thay. Thầy vì lòng từ bi can gián Lão, bằng chẳng Lão đã dụng hình phạt mà răn những kẻ giả dối ấy.

Chưởng Pháp phải can gián sửa lỗi của Giáo Tông; nếu cả ba thấy lẽ vô đạo của Giáo Tông, có quyền đem đơn kiện nơi Toà Thánh.

(Tân Luật).

 

 

CAN QUA

干 戈

Can: Cái mộc, một loại binh khí làm bằng da để che thân. Qua: Cây giáo hay cây mác.

Ngày xưa nơi nào có các loại binh khí như can qua là nơi đó có loạn lạc, giặc giả.

Vì thế, hai chữ can qua được dùng để chỉ chiến tranh, giặc giả.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Bây giờ đến Khổng Phu Tử, nếu Ngài không có khổ về Nhơn đạo của Ngài và xã hội của Ngài giặc giả can qua, bởi Ngài sanh ra gặp buổi loạn ly đời Đông Châu Liệt Quốc...

Thiên Tào Thánh ngự an ngôi,

Cầu cho dân chúng khỏi hồi can qua.

(Kinh Thế Đạo).

Chước quỷ hỏi ai gây khói lửa,

Mưu thần nào kẻ dẹp can qua.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

CAN THIỆP

干 涉

Can: Dự vào. Thiệp: Dính dáng vào.

Can thiệp là ở ngoài mà dự vào việc người khác. Như: Không can thiệp vào việc người khác.

Trong cuộc khai mạc Hội Nhơn Sanh 1951, Đức Hộ Pháp có nói: Chúng ta giữ sao đừng cho nó ra khỏi cái văn hiến bốn ngàn năm tối cổ của nó. Cần gì phải can thiệp vào đó mà làm chi?

Ðâu xúm lại cầu nguyện Ðức Phật Mẫu can thiệp giùm cho, sau thờ ơ quá vậy!

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

CAN TRƯỜNG

肝 腸

Hay “Can tràng”.

Can: Buồng gan. Trường (tràng): Ruột.

1.- Can trường, hay “Can tràng”, là gan ruột, dùng để chỉ những người có khí phách anh hùng.

Như: Những chiến sĩ can trường (tràng).

Giáo lý dồi dào nung khách trí,

Nho phong nhuần gội vững can trường.

(Quyền Giáo Tông).

Cái cảnh từ bi ai khéo vẽ,

Lặng trông thơ thới tấm can trường.

(Thơ Thuần Đức).

2.- Can trường còn dùng để chỉ những tâm sự thầm kín từ trong gan ruột.

Như: Cô ấy thố lộ hết can trường (tràng).

Những mong bốn bể dựng nên nhà,

Một tấm can tràng ta biết ta.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CÁN

1.- Cán là bộ phận để cầm của một số đồ dùng, thường có hình tròn và dài.

Như: Cán gáo, cán dao, cán quạt, tra lưỡi cuốc vào cán, dốt đặc cán mai.

Bà rút roi giả bộ theo ôm,

Đưa cán quạt cho bà đơm ít phát.

(Phương Tu Đại Đạo).

Sẵn tay cầm lấy cán ba ton,

Vẽ một chữ cho tròn cho lớn.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Cán là chống đỡ, gánh vác, không dùng một mình. Như: Cán đáng, Cán sự, công cán.

Thánh giáo Thầy có câu: Mỗi bậc phẩm đều đặng một vai tuồng của Ðấng cầm quyền thế giới ban cho, dầu thanh cao, dầu hèn hạ, cũng phải gắng làm cho rồi trách nhậm, hầu buổi chung cuộc, hồn lìa cõi trần, đặng đến nơi khởi hành mà phục hồi công cán.

Công Dã Tràng công cán để đâu,

Muốn ngăn sóng cả khoả ngang đầu.

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 

CÁN CÂN

Cán: Phần để cầm, nắm. Cân: Dụng cụ dùng để đo lường sức nặng.

Cán cân là chỉ cây cân, ý muốn nói thực hiện công lý một cách công bình tuyệt đối.

Để thể hiện sự công bình tuyệt đối của Thiêng liêng, nơi Toà Thánh Tây Ninh, trên cửa bước vào có đắp một bàn tay sơn màu trắng nắm cán cân, tượng trưng bàn tay Chí Tôn cầm cân công bình đo tội phước của chúng sanh.

Cán cân chánh lý không nghiêng lệch,

Thưởng phạt công bình chẳng lạc sai.

(Thơ Xích Quang).

 

 

CÀN

1.- Càn là hành động đại, không kể gì phải trái, nên hay không nên.

Như: Cậy thế làm càn, nó nói càn không lựa lời để nói, chó dại gặp ai cũng cắn càn.

Chàng vui thiếp cũng vui càn,

Chàng buồn thiếp tựa bên màn khóc theo.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Càn , có khi đọc “Kiền”, là tên một quẻ đầu trong bát quái, tượng cho dương, Trời, cha, trái với quẻ Khôn, tượng cho âm, đất, mẹ.

Thánh giáo Thầy có câu: Ấy là một phần của con, một phần của Thầy hiệp nhứt, mới thấu đáo Càn khôn, tinh thông vạn vật đặng.

Chuyển nổi Càn khôn xây võ trụ,

Nhẹ nâng nhựt nguyệt chiếu Ðài Vân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Vong xu trọn cả một Càn khôn,

Hết kiếp thịt xương tới kiếp hồn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

CÀN KIỆN CAO MINH

乾 健 高 明

Càn kiện: Cung Càn (tượng trưng cho Trời) mạnh mẽ. Cao minh: Cao vọi sáng tỏ, sáng suốt.

Càn kiện cao minh tức là ngôi Càn mạnh mẽ, cao và sáng rỡ.

Trong tám quẻ của bát quái, thì ngôi Càn cứng mạnh nhứt, sáng tỏ nhứt, cao vọi nhứt. Càn tượng trưng cho Trời, cho Thượng Đế, là ngôi độc tôn làm chúa tể Vũ trụ vạn vật, khôn tượng trưng cho đất.

Càn kiện cao minh,

Vạn loại thiện ác tất kiến.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

CÀN KHÔN

乾 坤

1.- Càn khôn là tên hai quẻ trong Bát Quái.

Càn là dương, tượng cho trời hay người cha; khôn là âm, tượng cho đất hay người mẹ.

Càn khôn là hai quẻ dùng để chỉ Âm dương, trời đất hay cha mẹ.

Đại Từ Phụ từ bi tạo hoá,

Tượng mảnh thân giống cả Càn Khôn.

(Kinh Tận Độ).

Chưởng quyền cực lạc phân ngôi vị,

Quản xuất Càn Khôn định cõi bờ.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Hạc reo bay khắp dạo cùng,

Càn Khôn Thế Giái cũng chung một bầu.

(Đạo Sử).

2.- Càn Khôn hay quả Càn Khôn là một quả cầu, trên đó có vẽ Thiên Nhãn và gồm 3072 ngôi sao để thờ Đức Chí Tôn và chư Thần Thánh Tiên Phật tại Bát Quái Đài Toà Thánh Tây Ninh.

Xem: Quả Càn Khôn.

Bính! Thầy giao cho con lo một Trái Càn Khôn, con hiểu nghĩa gì không?

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CÀN KHÔN CHỦ TỂ

乾 坤 主 宰

Càn khôn: Trời đất, chỉ toàn thể Vũ trụ. Chủ tể: Người làm chủ hết thảy, tức là chúa tể.

Càn khôn chủ tể là câu trong bài “Phật Giáo Tâm Kinh”, ý nói Đức Nhiên Đăng Cổ Phật là Đấng làm chúa tể Càn khôn Thế giới.

Ta đã biết, Ngọc Hoàng Thượng Đế là vị Thiên Đế, làm chúa tể Càn khôn Thế giới, mà tại sao theo ý nghĩa câu kinh nầy, Nhiên Đăng Cổ Phật lại có quyền đó?

Theo thuyết Tam thân của Phật, Pháp thân là cái thể sở chứng của Phật, còn Báo thân và Hoá thân chỉ cái dụng, tức là nhờ Pháp thân mà có được Báo thân và Hoá thân. Như vậy, chỉ có một Phật (Pháp thân), nhờ minh giác linh diệu lưu chuyển thành Báo thân và Hoá thân của Phật.

Theo Thánh giáo, Đức Chí Tôn sinh ra chư Tiên Phật, Như vậy Đức Chí Tôn là vị Phật lớn trong các vị Phật. Hay nói cách khác, Đức Chí Tôn là Pháp thân, còn chư Phật chư Tiên là Hoá thân của Đức Chí Tôn.

Nhiên Đăng Cổ Phật được hoá sanh trong thời kỳ hỗn độn, như vậy Pháp thân của Ngài là Đức Chí Tôn. Điều nầy, trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Thầy có dạy: “Nhiên Đăng Cổ Phật thị Ngã 燃 燈 古 佛 是 我” tức là Nhiên Đăng Cổ Phật là Ta. Hay có thể nói cách khác, Ngài là hoá thân của Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Hỗn Độn Tôn Sư,

Càn Khôn chủ tể.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

CÀN KHÔN DĨ TẬN THỨC

乾 坤 已 盡 識

Càn Khôn: Trời đất. Dĩ tận thức: Đã biết hoàn toàn, biết hết.

Càn khôn dĩ tận thức có nghĩa là tất cả các sự vật trong Càn khôn Thế giới, con người đều biết rõ tất cả.

Do nền văn minh hiện đại, con người đã thu hẹp không gian coi thế giới là nhà, vì vậy chỉ cần mở một nền Đại Đạo duy nhứt tại Việt Nam thì có thể truyền thông khắp thế giới.

Còn nay thì nhơn loại đã hiệp đồng, Càn Khôn dĩ tận thức, thì lại bị phần nhiều đạo ấy mà nhơn loại nghịch lẫn nhau, nên Thầy mới nhứt định quy nguyên phục nhứt.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CÀN KHÔN ĐẠI THỐNG

乾 坤 大 統

Càn khôn: Trời đất. Đại thống: Thống quản tất cả.

Càn khôn đại thống là thống quản tất cả Càn khôn Thế giới.

Trong Đạo Cao Đài, bài Kệ chuông U Minh, lời nguyện thứ tư có câu: Càn khôn đại thống, phổ cập ngũ châu 乾 坤 大 統 普 及 五 洲, nghĩa là thống quản tất cả Càn khôn Thế giới và phổ cập khắp năm châu.

Càn khôn đại thống, phổ cập ngũ châu.

(Kệ U Minh).

 

 

CÀN KHÔN ĐÀO TẠO

乾 坤 陶 造

Càn khôn: Trời đất, Âm dương hay vợ chồng. Đào tạo: Nặn đúc cho thành hình, nhồi nắn tạo ra.

Càn khôn đào tạo ý nói Trời đất, Âm dương, hay Vợ chồng sinh hoá ra vạn vật và con người.

Theo triết lý Nho giáo, Trời đất có âm dương, con người có vợ chồng.

Sách Lễ Ký viết: Cô âm tắc bất sinh, độc dương tắc bất trưởng, cố thiên địa phối dĩ âm dương, nam dĩ nữ vi thất, nữ dĩ nam vi gia, cố nhân sinh ngẫu dĩ phu phụ 孤 陰 則 不 生, 獨 陽 則 不 長, 故 天 地 配 以 陰 陽; 男 以 女 為 室, 女 以 男 為 家, 故 人 生 偶 以 夫 婦, nghĩa là một âm thì không sinh, một dương thì không lớn, cho nên Trời đất phối hợp âm dương; nam dùng nữ lập gia thất, nữ dùng nam tạo gia đình, cho nên nhân sinh sánh đôi bởi vợ chồng.

Phàm âm hoặc dương cái gì lẻ một là không sinh được. Phải có cái chẳng đôi để tương đối, tương điều hoà với nhau thì mới có sự sinh hoá. Cơ 奇 là lẻ, ngẫu 偶 là chẳn: Một cái cơ phối hợp với một cái cơ khác để thành ngẫu thì mới sinh được.

Vì thế Trời đất lấy âm dương phối hợp cơ ngẫu để sinh hoá ra vạn vật, gọi là “Càn khôn đào tạo”.

Cơ sanh hoá Càn Khôn đào tạo,

Do Âm Dương hiệp đạo biến thiên.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

CÀN KHÔN OÁT VẬN

乾 坤 斡 運

Càn khôn 乾 坤: Trời đất, hay Âm Dương. Oát: Xoay chuyển ra. Vận: Xoay vần.

Càn khôn oát vận là Trời đất xoay chuyển vận hành không ngừng nghỉ, hay dài lâu.

Càn khôn là Trời đất, cũng có thể hiểu là Âm dương, mà hễ Âm dương thì nguyên lý của nó phải xoay chuyển, vận hành để tác động đun đẩy lẫn nhau mà biến hoá. Sách Dịch có câu: Dịch cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cửu 易 窮 則 變, 變 則 通, 通 則 久.nghĩa là Dịch cùng thì có biến, có biến hoá mới thông, có thông mới có dài lâu:

Càn khôn oát vận,

Nhựt nguyệt chi quang.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

CÀN KHÔN THẾ GIỚI

乾 坤 世 界

Hay “Càn Khôn Thế Giái”.

Càn khôn: Chỉ Trời đất hay vũ trụ. Thế giới: Chỉ cõi nhơn gian, cõi đời.

Càn khôn thế giới là chỉ tất cả các Địa cầu trong vũ trụ. Đồng nghĩa với Càn khôn Vũ trụ.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh Giáo Đức Chí Tôn có dạy: Thầy đã nói với các con rằng: Khi chưa có chi trong Càn khôn Thế giới thì Khí Hư Vô sanh ra có một Thầy và ngôi của Thầy là Thái Cực.

Quyền năng dâng thửa Thiên Triều,

Càn Khôn Thế Giái dắt dìu Tinh Quân.

(Lý Giao Tông Giáng).

Hạc reo bay khắp dạo cùng,

Càn Khôn Thê Giới cũng chung một bầu.

(Bài Mừng Thay)

 

 

CÀN KHÔN VŨ TRỤ

乾 坤 宇 宙

Càn khôn: Trời đất. Vũ trụ: Khắp cả không gian và thời gian.

Càn khôn Vũ trụ là khoảng không gian bao la trong đó có nhiều tinh tú chuyển động không ngừng, Địa cầu là một hành tinh xoay quanh Mặt trời đều nằm trong Càn khôn Vũ trụ đó.

Thánh giáo Đức Cao Thượng Phẩm có câu: Bát Quái Đài là nơi của Đức Chí Tôn ngự đặng ban bố quyền năng, còn Ngọc Hư Cung là nơi của Đức Chí Tôn nắm chủ quyền cả Càn khôn Vũ trụ.

Ðạo là cơ quan bí mật làm cho Trời Người hiệp một trong sự sống của Càn khôn Vũ trụ...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

CÀN KHÔN XUẤT HỮU HÌNH

乾 坤 出 有 形

Càn Khôn hay Dương Âm, thuộc về phần hình nhi thượng, tức là vô vi, không có hình sắc. Hai nguyên lý huyền vi mầu nhiệm của Âm Dương là phần vô hình mới phối hiệp nhau lại mà sinh hoá ra vạn vật là vật loại có hình thể.

Chính Đức Lão Tử trong Đạo Đức Kinh cũng có viết: Thiên địa vạn vật sinh ư hữu, hữu sinh ư vô 天 地 萬 物 生 於 有, 有 生 於 無, Nghĩa là Trời đất vạn vật từ cái “Có” mà sinh ra, cái “Có” ấy được sinh ra từ cái “Không”, tức vật hữu hình được sinh ra từ Càn Khôn.

Càn Khôn sản xuất hữu hình,

Bát hồn vận chuyển hoá thành chúng sinh.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

 

 

CÀN NGUƠN

Hay “Càn nguyên”.

Càn: Tên một quẻ trong Kinh Dịch tượng Trời. Nguơn (nguyên): Hay Nguơn là đầu, đức đầu tiên của quẻ càn như: Nguyên, hanh, lợi, trinh.

Càn Nguơn, như chữ “Càn nguyên 乾 元”, là to lớn khởi đầu của đức Trời, chỉ Thượng Đế.

Kinh Dịch có câu: Đại tai Càn nguyên, vạn vật tư thuỷ 大 哉 乾 元, 萬 物 資 始, nghĩa là lớn thay Càn nguyên, vạn vật nhờ đó để bắt đầu phát sinh.

Ngưỡng Vọng Vô Trung Từ Phụ Phát hạ hồng ân Càn Nguơn Đại Đức bố hoá Chư Đệ tử Thánh thể tinh anh, tăng long đắc thọ...

(Sớ Văn).

 

 

CÀN VÔ ĐẮC KHÁN

乾 無 得 看

Càn: Trời. Vô đắc khán: Không thể thấy được.

Càn vô đắc khán là không thể thấy hết được Trời, ý chỉ trí thức con người còn lạc hậu, do tầm mắt chưa được thấy xa rộng.

Ngày xưa nhân loại còn trong thời kỳ lạc hậu, chưa có phương tiện đi lại, và việc thông tin liên lạc còn bị hạn chế, nên con người chỉ biết chung quanh địa phương mình ở mà thôi. Vì thế, Đức Chí Tôn phải mở nhiều mối đạo tuỳ theo phong tục, địa phương, như đạo Phật được mở ở Ấn Độ, đạo Tiên mở ở Trung Hoa, đạo Thánh Gia Tô mở ở Do Thái...

Tuỳ theo phong hoá của nhơn loại mà gầy Chánh giáo, là vì khi trước Càn vô đắc khán, Khôn vô đắc duyệt, thì nhơn loại duy có hành đạo nội tư phương mình mà thôi.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CẢN NGĂN

Cản: Chận lại, cản trở. Ngăn: Chắn riêng ra.

Cản ngăn, như chữ “Ngăn cản”, là chặn lại, giữ lại.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu dạy: Một đứa vun quén, mười đứa cản ngăn, lớn nhỏ chẳng phân minh, xem Thiên tước của Thầy ban dường như một chức vô vị ở cõi trần, lấy thế lớn lực to mà ép đè hạnh nhiều đứa.

Tua giữ dạ cản ngăn lối quẹo,

Giữ chơn thần ngắm nẻo từ bi.

(Nhị Nương Giáng Bút).

 

 

CẠN

1.- Cạn là ở tình trạng đã hết nước, hoặc nông, khô nước. Như: Nước ruộng đã cạn, cạn ly.

Thánh giáo Thầy có câu: Nếu chẳng sớm xét mình, để buổi ác xế trăng tà, nước dời cạn bực, thuyền Bát Nhã đã lướt qua, nhành dương liễu hết rơi giọt từ bi thì ăn năn rất muộn.

Dầu nghèo hèn chồng của vợ công,

Hiệp sức tát biển đông cũng cạn.

(Phương Tu Đại Đạo).

Nâng ly vừa cạn hạc reo vang,

Rằng chiếu đòi ông đến điện vàng.

(Thiên Thai Kiến Diện).

2.- Cạn nghĩa bóng là hết. Như: Cạn lương, cạn vốn, cạn lời, trút cạn tâm tư.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có đoạn: Ngày nào tiếng trống giác mê, hồi chuông cảnh tỉnh có đủ mãnh lực dìu dắt bước đường của phần đông theo bước đường đạo đức; ngày nào trên con đường thống nhứt giang sơn, quốc dân Nam những kẻ có trách nhậm lớn nhỏ trong xã hội thấy lợi nghĩ đến nghĩa, thấy nguy nghĩ đến dân, tận tuỵ vì bổn phận, bỏ hẳn nhơn cách đáng khinh, theo Thiên lương sáng suốt, đồng một lòng làm cho cạn nguồn đau khổ của giống nòi, trụ lại một quốc hồn mạnh mẽ, thì ngày ấy chủ nghĩa dân chủ mới rạng soi, hạnh phúc quốc dân mới mong mỏi!

Tả nỗi thảm thêm đau mấy đoạn,

Mượn bút hoa đắp cạn thành sầu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Nếu để ý xét suy cho cạn,

Cả sự thương, sự sợ, giảm tinh thần.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Cạn, như chữ “Nông cạn”, là hời hợt, nông nổi, không sâu sắc.

Như: Cạn suy, cạn nghĩ, nông cạn.

Mặc dầu vậy, nhưng sở học của chúng tôi rất nông cạn.

(Giáo Lý).

 

 

CẠN BÀY

Cạn: Ở tình trạng đã hết hoặc gần hết. Bày: Nói ra điều thầm kín.

Cạn bày là bày tỏ hết, tức trình bày hết những điều thầm kín đã mang trong lòng.

Như: Những điều thầm kín tôi đã cạn bày cho anh.

Bước chân ra nghĩ ngậm ngùi thay,

Nỗi ước nhiều phen khó cạn bày.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

CẠN LẼ

Cạn: Ở tình trạng đã hết hoặc gần hết. Lẽ: Điều được coi là hợp lẽ phải, lý lẽ, lý do.

Cạn lẽ, như chữ “Cạn lý”, là nói hết lý lẽ, hoặc bày tỏ, suy xét, tìm tòi hết lý lẽ, hay nguyên lý của sự vật.

Như: Tôi đã phân trần cạn lẽ với anh rồi đó.

Xem: Cạn lý.

Thành thời thế lòng nên định thế,

Phải ráng xem cạn lẽ hư nên.

(Tứ Nương Giáng Bút).

 

 

CẠN LÝ

Hay “Cạn lẽ”.

Cạn: Ở tình trạng đã hết hoặc gần hết. (lẽ): Điều được coi là hợp lẽ phải, lý lẽ, lý do.

Cạn lý, như nghĩa chữ “Cùng lý 窮 理”, là nói hết lý lẽ, hoặc bày tỏ, suy xét, tìm tòi hết lý lẽ, hay nguyên lý của sự vật.

Muốn suy nghĩ ra cho cạn lý,

Hễ sanh chồng tức thị sanh mình.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CẠN LỜI

Cạn: Đã hết, không còn nữa. Lời: Câu nói.

Cạn lời là đã nói hết, bày tỏ hết.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Nơi trường thi công quả, Ông Thầy đã tận tuỵ với chức vụ, đã cạn lời giảng dạy, nhưng học trò không có thiện chí làm theo thì Ông Thầy cũng phải buồn lòng chán nản, mà học trò dầu học bao nhiêu năm cũng chỉ là hoài công mà thôi.

Nơi trần khổ bớt lần đeo đẳng,

Vì lắm thương mới dặn cạn lời.

(Thái Bạch Giáng Bút).

Đã cạn lời khuyên tự buổi nào,

Rằng đừng buộc nợ cõi thương đau.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

CẠN PHÂN

Cạn: Ở tình trạng đã hết hoặc gần hết. Phân: Bày tỏ, tách bạch. Như: Phân trần, phân giải.

Cạn phân, như chữ “Cạn lời”, là nói hết, bày tỏ hết. Như: Tôi đã cạn phân mà anh ấy vẫn thù hằng, giận dữ.

Thấy đời tiêu diệt đến nơi,

Xót thương nên mới để lời cạn phân.

(Nguyễn Trung Trực Giáng).

 

 

CANG

1.- Cang, như chữ “Cương ”, là cứng, trái với nhu. Như: Cang cường, cang tâm, cang nghị.

Thánh giáo Thầy có dạy: Thế tục là nét dìu dắt cho mất tánh thiêng liêng, phải lấy nghị lực cang tâm mà kềm chế thì cái lối diệt vong, mới chẳng làm uổng công phu hành đạo cho.

Xem: Cương.

Cang cường quen tánh hiếp dân nghèo,

Nghe Ðạo Phật Trời cũng muốn theo.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Cang, như chữ “Cương ”, là giềng mối.

Như: Rối loạn kỷ cang, cang thường điên đảo, tam cang ngũ thường.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Ðức Ngài nói: Vì xu hướng Việt Nam theo văn minh vật chất, chuộng cái tinh xảo bề ngoài của ngoại chủng nên ngày nay phong hoá suy đồi, cang thường đảo ngược.

Xem: Cương.

Hữu phước sẵn Thầy năng cải số,

Kỷ cang liệu để tánh ôn hoà.

(Đạo Sử).

 

 

CANG CƯỜNG

Hay “Cương cường”.

Cang (Cương): Cứng. Cường: Mạnh.

Cang cường, như chữ “Cương cường 剛 強” nghĩa là cứng và mạnh.

Cang cường quen tánh hiếp dân nghèo,

Nghe Ðạo Phật Trời cũng muốn theo.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

CANG LỆ

亢 儷

Hay “Kháng lệ”.

Cang (kháng): Đối đãi, giao tiếp. Lệ: Đôi.

Cang lệ, còn đọc là “Kháng lệ”, là kết đôi hay sánh đôi với nhau, tức chỉ trai gái kết duyên thành vợ chồng. Thường người ta đọc là cang lệ.

Xem: Duyên cang lệ.

Gầy niềm cang lệ gìn hương lửa,

Nêu chữ vinh hài rỡ tiếng tăm.

(Thơ Thượng Cảnh Thanh).

Tùng khuôn lễ giáo vầy cang lệ,

Đẹp phận xướng tuỳ vẹn kỷ cương.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

CANG TAM

Hay “Cương tam”.

Cang (cương): Giềng mối. Tam: Ba.

Cang tam, bởi chữ “Tam cương 三 綱” là ba giềng mối, rất trọng hệ trong đạo nhân luân, đó là quân thần (Vua tôi), Phụ tử (Cha con), Phu phụ (Vợ chồng).

Xem: Tam cương.

Cang tam thử gióng, cân nào nhẹ,

Thường ngũ kê vai, lượng cũng bằng.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

CANG TÂM

Hay “Cương tâm”.

Cang (cương 剛): Cứng, cứng cỏi. Tâm: Lòng dạ, biểu tượng cho tâm lý, tình cảm.

Cang tâm, như chữ “Cương tâm 剛 心” là lòng dạ cứng cỏi, bền chặt, không khiếp sợ hay không bao giờ thay đổi ý chí.

Thế tục là nét dìu dắt cho mất tánh thiêng liêng, phải lấy nghị lực cang tâm mà kềm chế thì cái lối diệt vong, mới chẳng làm uổng công phu hành đạo cho.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CANG THƯỜNG

綱 常

Hay “Cương thường”.

Cang (Cương 綱): Sợi dây lớn ở cái lưới, chỉ điều cốt yếu. Thường: Đức tính thông thường, quen thuộc của con người.

Cang thường hay cương thường, do câu: “Tam cương ngũ thường 三 綱 五 常”, là chỉ ba giềng: Vua tôi, cha con, vợ chồng, và năm hằng: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.

Nên lo cho đặng mối cang thường,

Thường bữa trau dồi cái tánh cương.

(Đạo Sử).

Sửa sang cho vẹn đạo cang thường,

Phải giữ cho toàn tánh thiện lương.

(Đạo Sử).

 

 

CANG TRỰC

Hay “Cương trực”.

Cang (cương): Cứng cỏi. Trực: Ngay thẳng.

Cang trực, như chữ “Cương trực 剛 直”, là cứng cỏi và ngay thẳng, tức là người có tinh thần dám giữ và nói thẳng ý kiến theo lẽ phải của mình.

Xem: Cương trực.

Cang trực lòng trong cũng đáng khen,

Tuy vân nghèo khó đức không hèn.

(Đạo Sử).

 

 

CÀNG

Càng là thêm ra, là tiếng biểu thị mức độ tăng thêm do nguyên nhân nhất định nào đó.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có dạy: Chư đạo hữu đâu rõ thấu, ngơ ngơ ngáo ngáo như kẻ không hồn, thấy càng thảm thiết!

Càng nhớ đến những ngày hội ngộ,

Càng ngổn ngang mối nợ tình chung.

(Kinh Thế Đạo).

Ðàng Ðạo càng đi càng vững bước,

Cõi Thiên sau ắt hội cùng nhau.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thiệt vàng gặp lửa tuổi càng cao,

Dầu gọi mình khờ cũng chẳng nao.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

CANH

1.- Canh là sợi ngang trên khung cửi, nên nghề dệt thủ công gọi là canh cửi.

Như: Canh cửi, canh tơ chỉ vải (ngang tơ dọc vải).

Xem: Canh cửi.

Mẹ cả đời chịu phận cửi canh,

Cha mãn kiếp lao thân, thuê mướn.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Canh là một món thức ăn, nấu bằng rau cải có nhiều nước để chan cơm hoặc húp.

Như: Canh rau, con sâu làm rầu nồi canh.

Nấu trách canh đổ nước nổi thuyền,

Kho trã mắm nát nghiền xương cá.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Canh là một phần năm thời giờ trong ban đêm.

Như: Đêm năm canh ngày sáu khắc, canh thâu, canh lụn, canh khuya, canh tàn.

Oanh về tổ, dế reo tơ,

Đường về vắng bước như tờ canh khuya.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Hễ chê ngu vì học chẳng hành,

Không cố học đầu canh lo chúi ngủ.

(Phương Tu Đại Đạo).

Canh thâu rúc rắc mưa tuôn nhặt,

Ngày vắng xơ rơ gió thổi vèo.

(Thơ Huệ Giác).

4.- Canh là cày ruộng.

Như: Canh điền, hằng ngày canh tác ruộng nương, làm nghề canh nông.

Nguyện nhớ ơn nông canh nhằn nhọc,

Nguyện ơn người lúa thóc giã xay.

(Kinh Thế Đạo).

Xưa Nga Hoàng lại với Nữ Anh,

Theo vào chốn điền canh cùng ông Thuấn.

(Phương Tu Đại Đạo).

5.- Canh là chữ thứ bảy trong Thập can, còn có nghĩa là tuổi.

Như: Đồng canh (Cùng một tuổi).

Bính niên canh hạn đã gần qua,

Hết buổi lưu linh tới có nhà.

(Đạo Sử).

Niên canh chẳng hiệp mạng nghèo hèn,

Bởi đạo đức nhiều mới lấn chen.

(Đạo Sử).

 

 

CANH CẢI

更 改

Canh: Thay đổi. Cải: Sửa.

Canh cải là sửa đổi cho khác đi.

Điều thứ ba mươi hai, khoản hai trong Tân Luật có quy định: Những chức sắc chưa trường trai được kỳ hạn hai năm phải tập cho kịp.

Trong Pháp Chánh Truyền Chú Giari có câu: Mọi điều canh cải là phạm Pháp Chánh Truyền, ắt bị giải ra Toà Tam Giáo.

Cuộc biến đổi tang thương canh cải,

Ôi là đời khôn dại, dại khôn.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

CANH CỬI

Canh: Sợi dọc trên khung cửi hay máy dệt đã luồn qua go và khổ, phân biệt với sợi ngang, gọi là chỉ. Cửi: Dệt vải lụa theo lối thủ công.

Canh cửi là nghề dệt vải lụa theo lối thủ công.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Bao nhiêu gương để chỉnh đốn đạo nhơn luân, cốt yếu làm con người biết đạo vợ chồng là trọng, đặng sửa đương cho nhau lập mình lên bực chí Thánh. Như thời xưa vợ ông Châu Công, Ngài là Tể Tướng đầu triều mà bà vợ vẫn lo canh cửi làm ăn nuôi mẹ chồng, một vị mạng phụ phu nhơn mà cư xử được như vậy thật đáng quý.

Chồng thì triều nội cao sang,

Vợ thì canh cửi cơ hàn tấm thân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CANH ĐIỀN

耕 田

Canh: Cày ruông. Điền: Ruộng, đất ruộng.

Canh điền là cày ruộng, do bài “Khang Cù” có câu: Canh điền nhi thực, tạc tỉnh nhi ẩm 耕 田 而 食 鑿 井 而 飲, nghĩa là cày ruộng mà ăn, đào giếng mà uống.

Ý nói đời thái bình an lạc, sống tự tại an nhàn, nên tự cày ruộng mà ăn, tự đào giếng mà uống.

Xem: Tạc canh.

Công Thần Nông hoá dân buổi trước,

Dạy khôn ngoan học chước canh điền.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

CANH GÀ

Canh: Chỉ khoảng thời gian bằng một phần năm của đêm. Gà: Một vật trong lục súc, thuộc loài cầm.

Canh gà tức canh năm khi gà vừa mới gáy.

Người xưa chia ban đêm làm năm canh, nên canh năm là trời sắp sáng.

Canh gà là tiếng dùng để chỉ khoảng thời gian về cuối nửa đêm đến gần sáng, khi gà vừa gáy báo sang canh.

Xem: Canh lụn, canh tàn.

Già yên giấc điệp đem lòng mến,

Trẻ dại canh gà duỗi cẳng tung.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CANH KHUYA

Canh: Chỉ khoảng thời gian bằng một phần năm của đêm. Khuya: Sâu vào trong đêm.

Canh khuya là canh đã về khuya, tức đêm khuya.

Thành tâm, Mẹ phải chứng đàn,

Canh khuya dạy bảo con toàn thuỷ chung.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Thương ai đau đớn cùng chồng,

Chia phui hồn trí não nồng canh khuya.

(Thất Nương Giáng Bút).

Canh khuya, phòng vắng trơ thân Cuội,

Cổng kín, tường cao, ánh chị Hằng.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CANH LỤN

Canh: Chỉ khoảng thời gian bằng một phần năm của đêm. Lụn: Lụi, yếu dần, tàn dần đi.

Một đêm chia làm năm canh. Canh lụn, tức là canh sắp tàn dần, ý nói đêm sắp hết, gần sáng.

Xem: Canh tàn.

Nào khi tựa bên màn canh lụn,

Nào khi ngồi ngó bóng Hằng nga.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CANH TÀN

更 殘

Hay “Canh tàn lụn”.

Ngày xưa chia thời gian ban đêm ra làm năm canh, nên gọi là đêm năm canh.

Canh tàn hay “Canh tàn lụn” có nghĩa là thời gian đã trôi qua gần hết năm canh, tức là trời bắt đầu sáng.

Bài Tuyên dương công nghiệp Bà Hương Hiếu trong cuộc lễ Tấn phong Nữ Đầu Sư, Đức Thượng Sanh có câu: Bà chỉ còn một mảnh thân bơ vơ cô độc trong tình cảnh não nùng bi đát, để rồi khi nắng sớm mưa chiều, lúc canh tàn đêm lụn, Bà không thể ngăn được giọt thảm đầm đìa để khóc chồng, khóc con và khóc mẹ.

1.- Canh tàn:

Chừ sao bướm cũ lìa huê,

Vườn thu vắng khách, ử ê canh tàn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Trống giục lầu hồng cơn gió thoảng,

Sầu theo tiếng nhạn lúc canh tàn.

(Thơ Thuần Đức).

2.- Canh tàn lụn:

Trời khuya chưa rõ canh tàn lụn,

Não oán trí lo ruột nát bầm.

(Đạo Sử).

 

 

CANH TÂN

更 新

Canh: Thay đổi. Tân: Mới.

Canh tân là thay đổi để trở thành mới mẻ. Như: Chính phủ ban hành kế hoạch canh tân đất nước.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Xuân Canh Tuất đã đến với chúng ta trong khi khói lửa còn lan tràn, vòm trời Việt Nam còn những ánh mây đen mịt mờ bao phủ. Nhưng mùa Xuân là mùa sinh hoá đem đến nguồn sống cho vạn vật, con người trước cái hiện tượng hoán cựu canh tân thiên nhiên cũng tạm dẹp nỗi lo âu thường ngày đón rước Xuân về với hy vọng ngày Xuân sẽ đem đến cho mình những gì vui tươi tốt đẹp theo như ý muốn.

Tồn tâm tự giác nhi tha giác,

Dưỡng tánh canh tân hựu nhựt tân.

(Thơ Thân Dân).

Lối cũ vẫn còn lề lối cũ,

Canh tân nào thấy bóng canh tân.

(Thơ Hiến Đạo).

 

 

CANH TRÀNG

Hay “Canh trường”.

Canh: Một canh, tức là một phần năm của đêm. Tràng (trường): Dài, kéo dài.

Canh tràng, như chữ “Canh trường 更 長”, là canh dài, ý chỉ sự trông chờ một canh dài trôi qua dằng dặc.

Xem: Canh trường.

Thương ai thổn thức canh tràng,

Dở phòng phòng vắng, vén màn màn côi.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

CANH TRƯỜNG

更 長

Canh: Một canh, tức là một phần năm của đêm. Trường: Dài, kéo dài.

Canh trường là canh dài, ý chỉ sự trông chờ một canh dài trôi qua dằng dặc.

Như: Đêm qua thức suốt canh trường.

Tiếng dế canh trường buồn goá phụ,

Giọng ve ác xế khổ huyên thung.

(Thơ Thành Toại).

Thao thức canh trường khó ngủ yên,

Cô đơn đè nặng giấc sầu miên.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

CÁNH

1.- Cánh là bộ phận của loài chim, dơi, hay côn trùng, dùng để bay.

Như: Chim vỗ cánh, cánh hồng bay bổng, ruộng bạt ngàn cò bay thẳng cánh.

Thánh giáo Thầy có câu: Trường công quả đã hầu mãn, các con lại phải đến cảnh gay go, vó ký ướm ngập ngừng mà cánh hồng toan lướt gió.

Chích cánh riêng vui con hạc lánh,

Ngừa thuyền còn đợi nhánh tùng rơi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðường mây thẳng gió hồng trương cánh,

Bước Ðạo êm chơn nguyệt rọi mày.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Cánh là một vật có hình tấm mỏng, dài hoặc có thể duỗi ra co vào, mở ra cụp xuống được.

Như: Cánh cửa khép hờ, cánh tay co duỗi, cánh buồm theo gió, cánh hoa rơi trước sân.

Thuyền khơi gặp gió cánh buồm trương,

Dìu dắt đạo mầu nẻo chánh nương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

CÁNH BẰNG

Cánh: Bộ phận của loài chim, dơi, hay côn trùng, dùng để bay. Bằng: Loài chim rất lớn, bay xa, hay ở ngoài bể cả.

Cánh bằng là cánh con chim bằng, một loại chim bay cao và xa, chỉ sự tung hoành của người có chí lớn, nói về công danh. Nếu gặp gió nổi, tức là gặp được thời thuận lợi thì làm nên việc cả.

Sách Tề Hài của Trang Tử viết: Khi chim bằng dời sang biển nam, nước sóng sánh ba ngàn dặm. Nó liệng theo gió lốc mà bay lên là chín vạn dặm. Đi liền sáu tháng mới nghỉ.

Bể hoạn trong theo làn sóng bạc,

Cánh bằng cao lướt dặm mây xanh.

(Thơ Thuần Đức).

Chia việc gia đình thân liễu gánh,

Chen trường công quả cánh bằng tung.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

CÁNH HỘC

Cánh: Bộ phận của loài chim, dơi, hay côn trùng, dùng để bay. Hộc: Một giống chim như con ngỗng, cùng loại chim hồng, nên người ta gọi chung là “Hồng hộc 鴻 鵠” bay cao và xa, dùng để chỉ người có chí lớn.

Cánh hộc, đồng nghĩa với cánh hồng chỉ người anh hùng có chí lớn.

Xem: Cánh hồng.

Lẫy lừng cánh hộc xông trường võ,

Đầm ấm duyên loan để chí thành.

(Bát Nương Giáng Bút).

Vó kỳ từng trải đường nguy hiểm,

Cánh hộc quen chiều gió ngược xuôi.

(Thơ Hộ Pháp).

Tang thương biến cuộc dầu khe khắt,

Cánh hộc bao nài gió ngược sao.

(Thơ Hương Ánh).

 

 

CÁNH HỘC HỒNG

Cánh: Bộ phận của loài chim, dơi, hay côn trùng, dùng để bay.

Hộc hồng: Hay hồng hộc 鴻 鵠, là hai loài chim giống nhau, tựa như loài ngỗng, bay cao và xa.

Cánh hộc hồng là cánh chim hộc và cánh chim hồng (hồng hộc), dùng để chỉ người có chí lớn.

Dài đường chớ ngán con Kỳ Ký,

Ngược gió đừng nao cánh Hộc Hồng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

CÁNH HỒNG

1.- Cánh hồng ví với người anh hùng có chí lớn như cánh chim hồng hộc bay cao.

Sử Ký chép: Trần Thiệp thời hàn vi đi cày thuê cho người ta, lúc ngồi nghỉ, nói với các bạn cày: Nếu được phú quý không bao giờ quên nhau. Những người cày khác cười mà nói: Nếu còn cày thuê thì làm sao giàu sang được? Trần Thiệp thở dài nói: Ta hồ, yến tước an tri hồng hộc chi chí tai 嗟 乎, 燕 雀 安 知 鴻 鵠 之 志 哉!, nghĩa là than ôi, loài chim én chim sẻ sao biết được chí chim hồng chim hộc.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Trường công quả đã hầu mãn, các con lại phải đến cảnh gay go, vó ký ướm ngập ngừng mà cánh hồng toan lướt gió.

Cánh hồng quen với cuồng phong,

Nước non thế giới vẫy vùng tinh trăng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Khổ thế đeo đai chờ dứt nợ,

Cánh hồng thong thả dạo non cao.

(Thơ Thanh Thuỷ).

Chậu lồng ràng buộc lối thung dung,

Vùng vẫy đòi phen chớp cánh hồng.

(Thơ Mỹ Ngọc).

2.- Cánh hồng còn dùng để ví như tấm thân nhẹ nhàng uyển chuyển của người đàn bà đẹp.

Bài phú Tào Thực có câu: Phiên nhược kinh hồng, uyển nhược du long 翩 若 驚 鴻, 婉 若 游 龍, nghĩa là nhẹ nhàng bay vút như chim hồng khi kinh sợ, uyển chuyển như con rồng khi lượn chơi.

Nương mây như thả cánh hồng,

Tiêu diêu phất phướn, cõi tòng đưa Tiên.

(Bài Thài Lục Nương).

 

 

CÁNH LÔNG

Cánh: Bộ phận trong cơ thể loài chim và loài côn trùng, dùng để bay. Lông: Bộ phận như sợi mọc ở thân mình người hoặc loài thú.

Cánh lông, bởi chữ “Mao dực 毛 翼”, có nghĩa là lông và cánh, để chỉ sự thay đổi về bề thế, như thành ngữ “Thay lông đổi cánh”, “Cánh thêm lông”.

Cánh lông còn dùng để chỉ cái thế lực, quyền uy, hay vây cánh.

Phong vân phải thế buổi bay rồng,

Nanh vuốt bây chừ đủ cánh lông.

(Bát Nương Giáng Bút).

Sống kiếp cu mồi uổng cánh lông,

Ăn càng hao thóc, uống nhơ sông.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

CÁNH NHẠN

Cánh: Bộ phận của loài chim, dơi, hay côn trùng, dùng để bay. Nhạn: Loài du cầm, cánh dài nhọn, đuôi chẻ đôi, mỏ ngắn, thường bay thành hàng có trật tự.

Cánh nhạn là chim nhạn. Do điển Tô Võ nhà Hán, nên chim Nhạn còn dùng để chỉ thư từ, tin tức.

Cánh nhạn, cũng như cánh én, báo hiệu tin xuân sắp đến. Cánh nhạn về non là đem tin trời sắp tối, đàn chim nhạn lũ lượt bay về núi để tìm về tổ ấm.

Chiều thu nhắc ủ ê cảnh hạn,

Nhấp nhô xem cánh nhạn về non.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thương trời rạng lao xao cánh nhạn,

Đến đưa tin cửa Hán Chiêu Quân.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

CÁNH VI

Hay “Cánh vây”.

Cánh: Bộ phận trong thân thể loài chim, dùng để bay. Vi (vây): Bộ phận loài cá dùng để bơi lội.

Cánh vi, bởi chữ “Vi (Vây) cánh”, là vây và cánh, dùng để nói anh em thân thiết đoàn kết nhau.

Vây cánh nghĩa rộng dùng để chỉ sức mạnh, sự đoàn kết hay tay chơn bộ hạ.

Trong Đại Thừa Chơn Giáo có câu: Khờ lắm thay! dại lắm thay! Ðã sanh đứng làm người là chúa của muôn vật, sao chẳng biết tầm cái máy bí nhiệm ấy tu hành thoát ra khỏi cái phạm vi chật hẹp, để chi chịu mãi tội tình đày đoạ luân hồi chuyển kiếp, lúc thì mang vi cánh, hồi lại sừng lông. Ôi! Thảm! Ôi Thảm!...

Ai là trí phân minh lẽ chánh,

Văn chương đem làm cánh làm vi.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

Trời thương ngó xuống ban châu ngọc,

Đất cảm đùn lên giúp cánh vi.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CÀNH

Cành hay “Nhành”, là nhánh mọc ở thân cây ra. Như: Cành cây quít, cành hoa lan.

Trong Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Chim kết cánh, cây liền cành; rất đổi là con vật mà cũng có tình ái thay, nên luật thiên nhiên lấy tình ái làm căn bản hoá sanh cả vạn loại.

Cành mai thơ thới đượm hơi xuân,

Dìu dắt đem nhau lại đảnh Thần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Sương phủ rừng thiền cành lá đổ,

Gương mờ cung quế mảnh trăng treo.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

CÀNH XUÂN NHUỴ NỞ

Cành xuân: Cây mùa xuân, ví với con gái trẻ tuổi. Nhuỵ nở: Chỉ gái sinh con.

Cành xuân nhuỵ nở là nói người con gái trẻ tuổi đã sinh ra con.

Kìa máu huyết, cành xuân nhụy nở,

Khối ái ân đành ở nơi con.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CẢNH

1.- Cảnh là cõi. Như: Cảnh giới, cảnh vắng, cảnh rạng, cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống.

Thánh giáo Thầy có câu dạy: Ai đặng phước thêm cao trọng, ai vô phần thì trí não vẫn mờ hồ, nét hạnh đời càng mê muội, biết biết không không, luật Trời đã định, phần công quả trả cho rồi thì cảnh u nhàn là nơi rước khách tục trong lúc chung quy đó.

Ðường gai gốc gắng lần qua khỏi,

Cảnh rạng ngần tua rán bước vào.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cõi Tiên mở rộng cung Ðâu Suất,

Nước Phật sửa an cảnh Niết Bàn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Võ đài chờ trả rồi oan trái,

Xủ áo phồn hoa lại cảnh Thiên.

(Lục Nương Giáng Bút).

2.- Cảnh , nghĩa bóng chỉ cái bước đường mà người ta gặp ở trong đời.

Như: Cảnh thuận, nghịch cảnh, cảnh vui buồn, cảnh ngộ trái ngang, cảnh oan trái.

Thần thông trói chặt Ma vương quái,

Dìu bước vạn linh đến cảnh nhàn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Một cảnh đôi quê thân chẳng thuận,

Làm cho sắc nọ phải xa tài.

(Đạo Sử).

3.- Cảnh, còn đọc “Kính ”, là cái gương soi.

Như: Minh cảnh (kính) đài, đài nghiệt cảnh.

Đài Chiếu giám cảnh minh nhẹ bước,

Xem rõ ràng tội phước căn sinh.

(Kinh Tận Độ).

4.- Cảnh là hình sắc bày ra trước mắt. Như: cảnh sắc, cảnh núi non, phong cảnh.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Sanh nhằm lối may mắn đặng gặp một Ðạo Chánh, nếu chẳng lo dưỡng tánh trau mình, để bước vào con đường Cực Lạc, thoát đoạ Tam đồ, một mai cảnh ủ bông tàn, rốt cuộc lại ăn năn vô ích.

Ðông tàn cảnh ướm trở nên xuân,

Xuân nở vườn mai há mấy lần?

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Non nước đìu hiu xuân vắng chúa,

Nhìn quê cảnh úa giục cơn sầu.

(Lục Nương Giáng Bút).

5.- Cảnh là phòng giữ.

Như: Tiếng chuông chùa cảnh tỉnh chúng sanh, lúc nào cũng phải cảnh giác đề phòng.

Xem: Cảnh tỉnh.

Chuông cảnh tỉnh rán khua đêm tịch mịch,

Trống chiều già gượng khích bóng trời mơi.

(Văn Tế Tiểu Tường).

 

 

CẢNH CÁO

警 告

Cảnh: Răn đe. Cáo: Báo, trình cho biết.

Cảnh cáo là khiển trách nghiêm khắc, cho biết nếu không sửa chữa khuyết điểm thì sẽ bị xử lý nặng hơn.

Thánh giáo Đức Hộ Pháp giáng cơ tại Cung Đạo Đền Thánh, đêm mùng 1 tháng 12 năm Nhâm Tý (Dl. 4/1/1973) có đoạn: Mầm tạo loạn nơi pháp luật là điều đáng tiếc, các em không làm gương đạo hạnh lại dùng áp lực đối với bề trên. Bần đạo cấm hẳn tự hậu không đặng làm như vậy. Nếu tái phạm sẽ có hình phạt. Đó là lời cảnh cáo của Bần đạo, nghe à!

Đòn này cảnh cáo người Mông Cổ,

Thống trị Á Âu mộng bất thành.

(Thơ Thành Toại).

 

 

CẢNH DUYÊN

Cảnh: Cõi. Duyên: Sự ràng buộc có từ kiếp trước.

Cảnh duyên, như chữ “Duyên cảnh 緣 境”, là cái hoàn cảnh bị ràng buộc với nó từ tiền kiếp, tức có duyên phần với cảnh ấy.

Ví dụ: Sự tu hành ở kiếp này là do cảnh duyên từ kiếp trước.

Cao ngôi chưng đạo chẳng cao quyền,

Mở lối dắt người đến cảnh duyên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Đưa bầu nhựt nguyệt soi đường tục,

Phất ngọn chổi Tiên mở cảnh duyên.

(Đoàn Thị Điểm Giáng).

 

 

CẢNH ĐOẠ

Cảnh: Cảnh giới, chỉ cõi. Đoạ: Rớt.

Cảnh đoạ, do chữ “Đoạ cảnh 墮 境”, là cõi đoạ đày, ý chỉ cõi trần hay cõi thế gian, bởi vì cõi trần là cõi khổ, cõi trược, nơi đoạ của những bậc Thánh, Tiên hay các chơn linh tội lỗi.

Cảnh đoạ đồng nghĩa với cõi đoạ.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có câu: Lão mang nặng tình nghĩa cùng một bạn thiêng liêng vì đời lãnh mạng, tạo Ðạo đặng cứu chúng sanh mà phải chịu mông trần vào cảnh đọa.

Xem: Cõi đoạ.

Bởi vậy cho nên, nhiều bậc Thần, Thánh, Tiên, Phật cam lòng thủ phận, chẳng dám vọng cầu đem thân vào cảnh đoạ...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CẢNH GIỚI

境 界

Cảnh: Bờ cõi. Giới: Chỗ hai miền giáp nhau.

Cảnh giới là bờ cõi, hay ranh giới của bờ cõi.

Nói về Quan Thánh, Đức Hộ Pháp có thuyết rằng: Kể từ Ðào Viên kết tình bằng hữu cùng nhau, từ thuở bần hàn cho đến khi vinh huê phú quý sang trọng Ngài vẫn một mực không hề thay đổi tâm đức bao giờ. Tinh thần của người ấy là tinh thần đứng riêng biệt một mình một cảnh giới mà thôi.

Cảnh giới Hư linh chê lại có,

Thời kỳ nguyên tử sợ rồi chơi.

(Thơ Thái Phong).

Dở hay đáp nghĩa người trong mộng,

U hiển chưa từng cảnh giới riêng.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

CẢNH HUỐNG

境 況

Cảnh: Cái bước người ta gặp phải ở trong đời. Huống: Trạng thái, tình cảnh.

Cảnh huống là cái tình trạng mà người ta gặp phải lúc buồn, lúc khổ hay lúc vui trong cuộc sống.

Như: Tôi đã trải qua nhiều cảnh huống.

Chạnh nhớ nghĩa xưa đồng cảnh huống,

Xót thương bạn cũ tợ tình thân.

(Thơ Hiến Pháp).

 

 

CẢNH LẠC

境 樂

Cảnh: Cõi giới. Lạc: Vui.

Cảnh lạc, như chữ “Lạc cảnh 樂 境”, là cõi vui sướng, còn gọi là “Cực Lạc cảnh 極 樂 境”, tức chỉ cõi Phật.

Xem: Cực Lạc cảnh.

Thung dung cảnh lạc dường mưa hạ,

Bận bịu hồng trần tợ nắng xuân.

(Thơ Thông Quang).

 

 

CẢNH NGỘ

境 遇

Cảnh: Tình trạng xảy ra. Ngộ: Gặp phải.

Cảnh ngộ là tình trạng, thường là không hay, đang gặp phải trong cuộc sống.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Cả thảy đến thăm Bần Ðạo, mà Bần Ðạo đi thăm lại không đặng, theo đạo pháp cho là thất lễ. Xin cả thảy nên biết cái cảnh ngộ và tha thứ giùm cho.

Li bì cảnh ngộ dạ hằng lo,

Lo chẳng đặng mà cũng rán lo.

(Đạo Sử).

Đêm vắng khiến ai đồng cảnh ngộ,

Động niềm tâm sự khó phôi pha.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CẢNH NGHỊCH

Cảnh: Hoàn cảnh, chỉ trạng huống người ta gặp ở đời. Nghịch: Phản lại, không thuận.

Cảnh nghịch, như chữ “Nghịch cảnh 逆 境”, để chỉ tình cảnh éo le, trắc trở.

Xem: Nghịch cảnh.

Nguồn Đạo xưa trông đôi cảnh nghịch,

Thuyền từ nay lướt một dòng xuôi.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

CẢNH NHÀN

Cảnh: Lúc, trạng huống người ta gặp ở đời, cõi. Nhàn: Thong thả, nhàn nhã.

Cảnh nhàn, hay “Nhàn cảnh 閒 境”, là lúc gặp cảnh thong thả nhàn nhã. Cảnh nhàn còn dùng để chỉ cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy về “Cảnh nhàn” như sau: Thầy khuyên các con phải chung lưng đâu cật mà bước đến cảnh nhàn. Cảnh ấy, tuy các con không thể thấy đặng, nhưng mà các con có thể đến đặng, là ngày nào các con rõ đặng lẽ Ðạo mà Thầy đã đem chỉ cho tận nơi, nếu các con phấn chí về Ðạo thì ngày đạt mục đích ấy cũng chẳng xa chi.

Thần thông trói chặt Ma vương quái,

Dìu bước vạn linh đến cảnh nhàn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trời Nam vừa thọ ánh dương quang,

Cương toả tiêu tan thấy cảnh nhàn.

(Đạo Sử).

 

 

CẢNH PHẠM

Cảnh: Cõi, chỉ một khu, một miền hay một vùng. Phạm: Do chữ Brahma là thanh tịnh, là Phật.

Cảnh phạm, như chữ “Phạm cảnh 梵 境”, tức chỉ cảnh Phật, hay cảnh chùa.

Cảnh Phạm đồng nghĩa với cửa Phạm.

Xem: Cõi Phạm.

Đã quen cảnh Phạm lánh mình,

Nên phương nhờ bởi đoạn tình ái yêu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CẢNH TIÊN

Cảnh: Cõi, cảnh giới. Tiên: Người tu để được trường sanh, có pháp thuật.

Cảnh Tiên, như chữ “Tiên cảnh 仙 境”, là cảnh giới của các vị Tiên. Đồng nghĩa với cõi Tiên.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Chúng tôi tưởng tượng một ngày kia, khi tu đắc Đạo, về cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống, tức nhiên về cảnh Tiên, mới có hạnh phúc, mới có thể Hội Yến Diêu Trì hưởng Tiên Tửu, hưởng Bàn Đào, chớ đâu có ngờ Hội Yến Diêu Trì là hội ngộ các vị Tiên Nương tại mặt thế gian này.

Xem: Tiên cảnh.

Ngu vì đạo đức ấy ngu hiền,

Thành dạ thì toan đến cảnh Tiên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ngọn khí hư vô âm mấy tấc,

Cảnh Tiên huyền diệu đủ vài phân.

(Thơ Hộ Pháp).

Thương đời dẫn lối về non Thánh,

Cứu chúng đưa đường đến cảnh Tiên.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

CẢNH TỈNH

警 醒

Cảnh: Đánh thức. Tỉnh: Thức dậy.

Cảnh tỉnh là đánh thức dậy, làm tỉnh ngộ. Nghĩa bóng: Đánh thức người thoát khỏi cảnh mê muội, sai lầm.

Như: Tiếng chuông chùa cảnh tỉnh những người còn mê tục trần.

Hồi chuông cảnh tỉnh vang rừng Thánh,

Tiếng trống giác mê nhặt đỉnh Thần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Khua chuông cảnh tỉnh vang khuya sớm,

Giục khách phồn hoa lánh bụi hồng.

(Thơ Đức Thượng Sanh).

 

 

CẢNH TỊNH

Cảnh: Cõi, cảnh giới. Tịnh: Trong sạch.

Cảnh tịnh, như chữ “Tịnh cảnh 淨 境”, là cảnh trong sạch và thanh tịnh.

1.- Cảnh tịnh thường được dùng để chỉ ngôi chùa, nơi tu hành.

Như: Vào cảnh tịnh để rửa sạch mọi phiền não.

Mừng thiệt là khi nương cảnh tịnh,

Khen chê giận ghét lẽ đời thường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trước biết sửa mình tâm trí vẹn,

Sau nương cảnh tịnh mới nên hay.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Bước cảnh tịnh đã đành để cẳng,

Tóc quy y nửa trắng nửa vàng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Cảnh tịnh còn dùng để chỉ cõi Thiêng liêng Hằng sống, tức cõi Tiên.

Như: Tu hành là mong cho chơn linh sau nầy được nương về cảnh tịnh.

Ðâu bằng cảnh tịnh cõi Bồng Lai,

Thế thượng không ai biết giá nài.

(Đạo Sử).

Nương phướn Tây Thiên về cảnh tịnh,

Bỏ nơi phiền não chịu ai bi.

(Đạo Sử).

Nơi cảnh tịnh âm thầm vui thú,

Đem tấm tình để ngụ đài sen.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CẢNH TỤC

境 俗

Hay “Cảnh tục trần”.

Cảnh: Cõi giới. Tục (tục trần): Tầm thường, trần tục, chỉ cõi thế gian.

Cảnh tục hay cảnh tục trần, như chữ “Tục cảnh 俗 境”, là cảnh nơi cõi phàm tục, tức cõi thế gian.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Thầy có dạy: Vàng thau dầu lộn phải cậy lửa trui phân. Thầy đã đến nơi cảnh tục trần nầy mà đem các con ra khỏi vòng tôi đòi xác thịt đồng thể với quỷ nhơn và hoá nhơn thì chính mình Thầy đây còn bị nhiễm nhằm trược khí thay, huống lựa là các con.

Đi an khương, về an khương,

Cõi Thiên, cảnh tục cũng dường chung nhau.

(Kinh Thế Đạo).

Cái nghĩa nhơn luân vốn luật Trời,

Chẳng vì cảnh tục phải lưng vơi.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

CẢNH THĂNG

境 升

Cảnh: Cõi giới. Thăng: Đi lên, bay lên.

Cảnh thăng, như chữ “Thăng cảnh 升 境”, là cảnh của các chơn linh được siêu thăng, cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống. Ý chỉ con đường đắc Đạo.

Thăng và đoạ là hai đường đi của các Chơn linh. Nếu lần theo thăng cảnh thì được vào cõi Thiêng Liêng Hằng Sống, là nơi Cực Lạc, Vĩnh hằng; còn rơi vào đường đoạ thì bị cõi phong đô kềm thúc.

Xem: Cõi thăng.

Phong trần quen thú cung âm,

Cảnh thăng ngơ ngẩn lạc lầm Phong đô.

(Kinh Tận Độ).

Cảnh thăng trỗi gót cho mau,

Xa vòng tục lự đặng chầu Chí Linh.

(Kinh Tận Độ).

Cam lồ rửa sạch phong trần,

Gương xưa để bước đi lần cảnh thăng.

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 

CẢNH THẦN

境 神

Cảnh: Cõi giới. Thần: Bậc Thần, thiêng liêng.

1.- Cảnh Thần, như chữ “Thần cảnh 神 境”, là chỉ cõi Thiêng Liêng Hằng Sống, tức cõi của chư vị Thần Tiên.

Chàng dầu vinh hiển cảnh Thần,

Gởi trong giấc mộng đặng gần cùng nhau.

(Kinh Thế Đạo).

2.- Cảnh Thần, như chữ “Cảnh tịnh”, dùng để chỉ nhà chùa, nơi tu hành.

Tìm đâu đặng kẻ tri âm,

Ôm thương đem gởi cảnh Thần cửa không.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CẢNH THIÊN

境 天

Hay “Cảnh Thiên đàng”.

Cảnh: Cõi giới. Thiên: Trời.

Cảnh Thiên, như chữ “Thiên cảnh 天 境”, là chỉ cõi Trời. Đồng nghĩa với cảnh Thiên đàng.

Theo giáo lý Đạo Cao Đài, Cảnh Thiên tức cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Các Ðấng Thiêng liêng có dạy chúng ta phải chung lưng đâu cật, hiệp thế côi thành sức mạnh, kết chặt dây thân ái một như mười, mười như trăm, như ngàn thì có lo chi không tạo được một cảnh Thiên đàng tại thế.

Xem: Thiên cảnh.

Cảnh Thiên noi bước Hoá Công,

Nắm phan Tiếp Dẫn vào vòng Như Lai.

(Kinh Thế Đạo).

Rẽ phân cốt nhục đồng bào,

Cảnh Thiên cõi tục lẽ nào không thương.

(Kinh Thế Đạo).

Cảnh Thiên trở gót hồi ngôi vị,

Tuồng thế may duyên dứt nợ nần.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

CẢNH TRÍ

Cảnh: Cõi giới. Trí: Phần khôn, phần thông hiểu.

Cảnh trí, như chữ “Trí cảnh 智 境”, là cảnh của những bậc đạt được sự sáng suốt, trí tuệ.

Cảnh trí là chỉ cõi sáng suốt, cõi của những người đắc Đạo, đó là cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống, hay cảnh Thiên đường.

Chàng dầu đặng thảnh thơi cảnh trí,

Hộ dâu con giữ kỹ nhơn luân.

(Kinh Thế Đạo).

Thuyền từ sông lệ buồm trương cánh,

Cảnh trí rừng thung khách lướt đường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Lần gội tâm phàm vui cảnh trí,

Ðường trần lưu luyến nhọc tranh đua.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

CẢNH Ủ BÔNG TÀN

Cảnh ủ: Cảnh tượng cây cỏ héo ủ. Bông tàn: Bông hoa héo úa tàn tạ.

Cảnh ủ bông tàn là nói cảnh vật bị khô héo, tàn tạ, ý chỉ cảnh người lúc già nua như cảnh cây khô héo, nhuỵ bông úa tàn.

Sanh nhằm lối may mắn đặng gặp một Ðạo Chánh, nếu chẳng lo dưỡng tánh trau mình, để bước vào con đường Cực Lạc, thoát đoạ Tam đồ, một mai cảnh ủ bông tàn, rốt cuộc lại ăn năn vô ích.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CẢNH VẬT

景 物

Cảnh: Phong cảnh, sự vật, hiện tượng diễn ra trước mắt ở một thời điểm nào đó. Vật: Muôn vật.

Cảnh vật là phong cảnh và sự vật, nhân vật, tức là cảnh thiên nhiên bày ra trước mắt.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Vầng trăng đương soi sáng vũ trụ, bỗng nhiên một thoáng mây đen thoáng qua, tuy là làm cho lu mờ cảnh vật, nhưng đó chỉ là trong chốc lát.

Đẹp xinh cảnh vật đòi ngàn,

Hào quang chiếu diệu khai đàng thăng Thiên.

(Kinh Tận Độ).

Đất nhà cảnh vật ruộng vườn,

Hình chàng như gắn nẻo đường vô ra.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CẠNH

1.- Cạnh là giáp bên, sát liền bên. Như: Người ngồi bên cạnh, nhà ở cạnh đường.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Tâm ở nơi con người cũng như một vị quốc sư ở cạnh một đấng cầm quyền thống trị thiên hạ.

Trước thềm có lão ưa nương gậy,

Bên cạnh thêm người đứng vuốt râu.

(Thiên Thai Kiến Diện).

2.- Cạnh là giành nhau, đua nhau, không dùng một mình. Như: Cạnh tranh, tranh cạnh, cầu cạnh.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Kiếp trần ai lắm nỗi vày vò, các con ở nhằm thời đại nầy, đặng lắm cuộc tân toan, nên mới để ý vào đường đạo đức. Nếu chẳng vậy thì các con cũng đã như ai, đem thân vùi dập trong chốn lợi quyền, tranh tranh cạnh cạnh, biết ngày nào rồi?

Thiệt thòi cam chịu mình đau xót,

Tranh cạnh để chi kẻ hiểu lầm.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

CẠNH TRANH

競 爭

Cạnh: Tranh nhau. Tranh: Giành giựt.

Cạnh tranh là đua nhau, giành giựt.

Cạnh tranh còn là cố gắng giành phần hơn, phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích như nhau.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Quốc dân Việt Nam có một phần người thiếu đức tin về Ðạo Cao Ðài, họ chẳng tin rằng Trời khai Ðạo để tạo Ðời, lập Minh Ðức Tân Dân, tức là một Cơ Quan Cứu Thế, làm cho vạn loại hoà bình càn khôn an tịnh, tránh khỏi sự cạnh tranh giết hại lẫn nhau.

Tiếng đời hằng nói phước do lành,

Con chẳng biết tu cứ cạnh tranh.

(Đạo Sử).

Bao lần chuyển tiêu hao nhọc thế,

Bước cạnh tranh chưa dễ ai hơn.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

Nơi phòng khuê phận gái cam đành,

Dạy cho biết cạnh tranh đường thế sự.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CAO

1.- Cao là ở trên mức thường, trổi lên, nổi gò lên, trái với thấp. Như: Nhà cao, quyền cao chức trọng.

Thánh giáo Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Các con liệu phương thế mà nâng đỡ đức tin của môn đệ cao lên hằng ngày, ấy là công quả đầu hết.

Cao đê thế sự khá đinh ninh,

Một dặm xa xuôi nhọc lộ trình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Phú quý lớn là giành với giựt,

Lợi danh cao bởi mượn và xin.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Non Thái dầu cao, cao hoá thấp,

Chậu kia dầu kín thấy thông thương.

(Đạo Sử).

2.- Cao chỉ nơi cùng tột ở trên đầu người, không có vật gì cao hơn.

Như: Trời cao, cao xanh, cao dầy, trời cao đất dầy.

Tính chi những việc tới đâu đâu,

Ðâu cũng Trời cao ở khỏi đầu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cao xanh nào có phụ chi con,

Mà chẳng giữ cho đức vẹn còn.

(Đạo Sử).

3.- Cao có nghĩa là lên mặt, kiêu. Như: Làm cao, tự cao, giữ giá làm cao, cao ngạo.

Thánh giáo Thầy có dạy: Người hành đạo chẳng đủ quyền chế cải, kẻ tự cao muốn chiếm vị cầu danh, nghịch tư cách đối đãi với thế tình, gây ác cảm mà tạo thù oán.

Mình không cao nếu muốn làm cao,

Gặp gió ái đừng xao đầu tử trước.

(Phương Tu Đại Đạo).

4.- Cao còn dùng để chỉ giỏi hơn người.

Như: Cao tay ấn, cao cơ, võ nghệ cao cường, tánh cao kỳ, người cao kiến.

Người tài gặp kẻ cao tài,

Ỷ tài phải chịu mang tai liền liền.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

CAO BAY

Cao: Trái với thấp, ở trên mức thường. Bay: Đi hay cử động trên không.

Cao bay là bay lên cao, ý chỉ người mang chí lớn.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng có câu: Còn con hạc nội, tuy bữa đói bữa no, nhưng Trời Ðất rộng thinh, mặc tình cao bay xa liệng.

Bủa lưới Càn Khôn lừa lọc khách,

Chơn trời chẳng kẻ thoát cao bay.

(Đạo Sử).

Lượn sóng xu danh khi đã lặn,

Câu tiên độ thế đã cao bay.

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 

CAO BAY XA CHẠY

Cao bay: Bay lên cao. Xa chạy: Chạy đi xa.

Cao bay xa chạy, cũng như câu thành ngữ “Cao chạy xa bay”, có nghĩa là lánh đi thật nhanh, thật xa, để không tìm thấy được.

Như: Nghe tin người ta đến đòi nợ, nó liền cao bay xa chạy rồi.

Cao bay xa chạy đã hay chi,

Chưa biết loạn bình lúc trợ nguy.

(Đạo Sử).

 

 

CAO CƯỜNG

高 強

Cao: Dùng để chỉ giỏi hơn người. Cường: Mạnh mẽ, phần hơn người.

Cao cường là tài giỏi hơn những người khác.

Như: Võ nghệ cao cường, Pháp thuật cao cường.

Linh oai chiếu diệu mình pha ngọc,

Pháp lực cao cường gót phún châu.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

CAO ĐÀI

高 臺

Chữ Cao Đài có nhiều nghĩa:

1. Cao Đài là một cái đài cao nơi Linh Tiêu Điện trong Ngọc Hư Cung, nơi ngự triều của Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Do bài thi Đức Chí Tôn giáng cơ năm 1927 tại Cần Thơ có nghĩa như sau: Linh Tiêu Điện có một tháp gọi Cao Đài. Đại hội các Tiên họp tại nơi bệ ngọc nầy. Muôn trượng hào quang từ nơi ấy mà chiếu ra. Tên khi xưa, cảnh báu đó gọi Lạc Thiên Thai.

Linh tiêu nhất tháp thị Cao Đài,

Đại hội quần Tiên thử ngọc giai.

Vạn trượng hào quang tùng thử xuất,

Cổ danh bửu cảnh Lạc Thiên Thai.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

2. Cao Đài còn là một danh xưng của Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế. Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Ngài dạy: Nhiên Ðăng Cổ Phật thị Ngã, Thích Ca Mâu Ni thị Ngã, Thái Thượng Nguơn Thỉ thị Ngã, Kim viết Cao Ðài 燃 燈 古 佛 是 我, 釋 迦 牟 尼 是 我, 太 上 元 始 是 我, 今 曰 高 臺, nghĩa là Nhiên Đăng Cổ Phật là ta, Thích Ca Mâu Ni Phật là ta, Thái Thượng Nguơn Thỉ là ta, Nay gọi là Đấng Cao Đài.

Cao Đài tá thế xuống phàm gian,

Bạch ngọc huỳnh kim cũng chẳng màng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thiên đàng giữ cửa góc Trời tây,

Truyền Đạo cho dân biết mặt Thầy.

Cứu chuộc đã gần hai ngàn tuổi,

Cao Đài phú thác dắt dìu bây.

(Đạo sử).

3. Cao Đài còn được dùng để chỉ nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, do Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế giáng lập tại miền Nam nước Việt Nam.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Khi Đức Chí Tôn mở Đạo Cao Đài tức nhiên Phật Giáo chấn hưng đó vậy.

Thây phơi chật đất chật đàng,

Cao Đài xuất hiện cứu an dân trời.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT

高 臺 仙 翁 大 菩 薩 摩 訶 薩

Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế đến lập Đạo tại miền Nam Việt Nam lấy danh hiệu là “Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát”. Danh hiệu nầy, lần đầu tiên Ngài giáng vào đêm Noel 1925 và ban cho bài thi như sau:

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ
VIẾT: CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT
GIÁO ĐẠO NAM PHƯƠNG.

Muôn kiếp có Ta nắm chủ quyền,

Vui lòng tu niệm hưởng ân Thiên.

Ðạo mầu rưới khắp nơi trần thế,

Ngàn tuổi muôn tên giữ trọn biên.

Nhưng khi niệm danh hiệu Ngài, chúng ta phải thêm hai chữ Nam Mô trước Thánh danh của Ngài mới trọn đủ.

Vậy chúng ta thử tìm hiểu câu Thánh danh của Đức chí Tôn như sau: Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát 南 無 高 臺 仙 翁 大 菩 薩 摩 訶 薩.

Nam Mô

Nam Mô phiên âm từ tiếng Phạn Namah, nghĩa là Kính lễ, đảnh lễ: cúi đầu làm lễ. Tiếng Nam Mô thường được dùng đặt trước hồng danh chư Phật, Bồ Tát, hay đặt trước câu của lời nguyện.

Cao Đài

Hai chữ Cao Đài chúng ta chưa được thấy Đức Chí Tôn giảng nghĩa mà chỉ được Hội Thánh, trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, dịch sang tiếng Pháp là “Le tres Haut” (tối cao, cao nhất).

Trong Nho giáo, quyển Ấu Học Quỳnh Lâm có câu: “Đầu thượng viết Cao Đài” nghĩa là trên hết là Cao Đài.

Và trong lời tiên tri trăm năm trước đây của chi Minh Sư có câu:

 

Cao như Bắc khuyết nhân chiêm ngưỡng,

 

高 如 北 闕 人 瞻 仰

 

Đài tại Nam phương Đạo thống truyền.

 

臺 在 南 方 道 統 傳

Đàn cơ tại Cần Thơ vào năm 1927, Đức Chí Tôn có ban cho một bài thi, trong đó có hai chữ Cao Đài:

 

Linh Tiêu nhứt tháp thị Cao Đài,

 

靈 霄 一 塔 是 高 臺

 

Đại hội quần Tiên thử ngọc giai.

 

大 會 群 仙 此 玉 階

 

Vạn trượng hào quang tùng thử xuất,

 

萬 丈 毫 光 從 此 出

 

Cổ danh bửu cảnh Lạc Thiên Thai.

 

古 名 寶 境 樂 天 台

Bài thi trên có nghĩa như sau:

- Nơi Linh Tiêu Điện ở Thiên đình, nơi mà Đức Chí Tôn thường ngự, có một ngọn tháp gọi là Cao Đài.

- Chư Tiên thường mở Đại hội trước bệ ngọc ấy.

- Từ nơi đó, hào quang muôn trượng chiếu toả ra xa.

- Tên khi xưa, cảnh báu nầy gọi là Lạc Thiên Thai.

Vậy hai chữ Cao Đài có thể hiểu là “Đấng tối cao”, hay “Đấng Cao cả”, ở trên hết các Đấng Thiêng Liêng. Hai chữ đó chính là tá danh (tên mượn tạm, chứ không phải là xưng danh) của Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Tiên Ông

Tiên Ông là một phẩm chót của đạo Tiên.

Đại Bồ Tát

Đại Bồ Tát là một vị Bồ Tát lớn.

Bồ Tát do từ tiếng Phạn Bodhisattva tức là Bồ Đề Tát Đóa. Bồ Đề (Bodhi) có nghĩa là chánh giác, còn Tát Đóa (Sattva) có nghĩa là chúng sinh.

Bồ Đề Tát Đóa gọi tắt là Bồ Tát để chỉ bậc đã giác ngộ, đã đắc quả Bồ Đề, nhưng không an hưởng Niết Bàn, mà cứ lặn lội trong tam đồ lục đạo (ba cõi sáu đường) để cứu độ chúng sinh.

Chính Đức Phật Thích Ca cũng đã từng làm Bồ Tát ở kiếp trước, đến kiếp cuối cùng mới ngồi nơi cội Bồ Đề sáu năm rồi thành Phật.

Ma Ha Tát

Ma Ha Tát là tiếng Phạn Mahasattva dịch là Ma Ha Tát Đóa. Ma Ha Tát có nghĩa là bậc chúng sinh (sattva) lớn, có lòng dạ quảng đại luôn thương xót và tế độ (Maha) tất cả nhân loại.

Vậy Đại Bồ Tát Ma Ha Tát là bậc Bồ Tát trên hết các bậc Bồ Tát, đáng lẽ đã thành Phật nhưng vì lòng thương chúng sinh nên nguyện ở lại tế độ mọi người và khi nào không còn ai khổ sở nữa mới thành Phật.

Danh hiệu nầy có hai từ Tiên Ông và Bồ Tát là hai phẩm thấp trong Tiên và Phật giáo, nên Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Đức Chí Tôn có dạy: “Các con coi bậc Chí Tôn như Thầy mà hạ mình đặng độ rỗi nhơn sanh là thế nào, phải xưng là một vị Tiên Ông và Bồ Tát là hai phẩm chót của Tiên, Phật. Ðáng lẽ thế thường phải để mình vào phẩm tối cao tối trọng, còn Thầy thì khiêm nhường là thế nào! Vì vậy mà nhiều kẻ môn đệ cho Thầy là nhỏ”.

Tóm lại danh hiệu Đấng Cao Đài, hay câu chú Thầy, ta thấy rõ sự tổng hợp của ba nền tôn giáo là Nho, Lão và Phật, vì:

Cao Đài thuộc Nho giáo.

Tiên Ông thuộc Lão giáo.

Đại Bồ Tát Ma Ha Tát thuộc Phật giáo.

Ngoài ra khi chúng ta niệm: “Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát” thì tổng số các chữ trong câu chú ấy là mười hai chữ mà số mười hai là số riêng của Đức Thượng Đế, nên câu chú ấy cũng tượng trưng cho Đức Chí Tôn

Ông Ngô Quang Chiêu là một vị Phủ, Đốc Phủ Sứ buổi nọ, ở tại Hà Tiên do nơi Cơ Bút, Đức Chí Tôn đến với Người và thâu Người làm Môn Đệ đầu tiên hết, là người được Đức Chí Tôn xưng là Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

CAO ĐẸP

Cao: Ở trên mực thường. Đẹp: Có hình thức đẹp hoặc phẩm chất tốt, khiến người kính phục.

Cao đẹp là cao quý và đẹp đẽ.

Huấn từ của Đức Thượng Sanh nhân bữa tiệc Hội Thánh Cửu Trùng Đài uỷ lạo chức sắc và nhân viên công quả lúc đầu năm Canh Tuất, 1970 có câu: Làm được một sự cao đẹp, không phải một vị Chức sắc được tiếng khen riêng cho mình mà toàn thể Chức sắc đều được chia hưởng tiếng khen ấy.

Ðó là gương cao đẹp nhứt của những đấng anh hùng vị quốc vong thân đáng để cho muôn đời ca tụng.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

CAO ĐỒ

高 徒

Cao: Chỉ đạo Cao Đài. Đồ: Học trò.

Cao đồ, trước hết có nghĩa là những vị học trò lớn, giỏi. Như: Nhan Uyên là một cao đồ Đức Khổng Tử.

Cao đồ còn dùng để chỉ những môn đồ của đạo Cao Đài, tức là những người học trò của đấng Cao Đài Ngọc Đế. Những người được nhập môn vào đạo Cao Đài và tùng thị Pháp điều Tam Kỳ Phổ Độ đều là môn đồ của Đức Chí Tôn.

Nam Mô Tam Trấn Hư Vô,

Oai Nghiêm độ rỗi Cao đồ quy nguyên.

(Kinh Tận Độ).

 

 

CAO HOANG

膏 肓

Cao: Bộ phận dưới trái tim. Hoang: Trên trái tim.

Cao hoang là chỗ dưới trái tim và trên hoành cách mô là bộ phận rất trọng yếu, theo Đông y hễ bệnh đến nơi đó thì thuốc không thể cứu chữa được nữa.

Cao hoang, nghĩa bóng bệnh rất nặng.

Ấy là lúc bịnh xung trong ngũ tạng lục phủ, nhập đến cao hoang, thì người bịnh dầu số Trời cứu cũng không qua đặng.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CAO KIẾN

高 見

Cao: Trái với thấp, hơn người. Kiến: Thấy, ý thức.

Cao kiến là kiến thức cao xa, sâu rộng hơn người.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Thái Thượng Đạo Tổ có câu: Cơ Trời mầu nhiệm đối với Ðời, mà máy Thiên cơ đối với Ðạo, lại càng huyền vi thâm trọng hơn nữa, có lẽ tâm phàm dầu cao kiến đến đâu cũng chưa đạt thấu được.

Thiên chơn thẹn với hàng cao kiến,

Địa vị xin nhường bậc quảng văn.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CAO KỲ

高 奇

Cao: Trên cao. Kỳ: Lạ lùng.

Cao kỳ, như chữ “Kiêu kỳ”, tức tư tưởng hoặc hành động cố làm ra vẻ hơn người, khác người một cách giả tạo.

Cao kỳ còn có nghĩa là cao và lạ, khác thường.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Sự cao kỳ của Lục Nương, con có đặng mảy mún gì chưa? Học sự cao kỳ ấy.

Dầu cho thầy phàm tục cũng phải vậy, nếu đứa dở mà dạy cao kỳ, nó biết đâu mà hiểu đặng.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CAO KHIẾT

高 潔

Cao: Hơn người. Khiết: Trong sạch.

Cao khiết là nói trong sạch hơn người.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn dạy: Phú quý thì hành động theo phú quý, bần tiện thì hành động theo bần tiện, tuỳ theo thời thế và cảnh ngộ mà đối đãi với mọi người; giàu chẳng bợ, khó chẳng khinh, người quân tử lúc nào cũng an phận mà vui thú. Lên cao xuống thấp tự mình điều khiển lấy thân, người quân tử chẳng để một mảy chi nhơ-bợn đến tinh thần cao khiết của mình đặng.

Cao khiết đề danh lầu thượng uyển,

Tinh anh thọ sắc Đấng Hồng Quân.

(Quỳnh Hoa Tiên Nữ).

 

 

CAO LƯƠNG

膏 粱

Cao: Thịt mỡ. Lương: Kê, một loại cốc ngon.

Cao lương là tiếng dùng để chỉ thức ăn ngon của kẻ giàu sang, phú quý.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Ðời chuộng vinh sang, Ðạo chuộng khổ hạnh, đời ham trược phú, Ðạo giữ thanh bần, lên xe xuống ngựa chốn phồn hoa đổi lại cảnh lê hoắc nâu sồng, nơi cửa Ðạo tương dưa thanh đạm tháng ngày, để mặc miếng mỹ vị cao lương ngoài quán tục.

Nếu muốn an vui theo lẽ đạo,

Từ từ đừng vọng vị cao lương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ham miếng cao lương thường hại mạng,

Mê mồi danh lợi luống bày trò.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CAO LƯƠNG MỸ VỊ

膏 粱 美 味

Cao lương: Thịt béo, gạo ngon. Mỹ vị: Thức ăn ngon và quý.

Cao lương mỹ vị là gạo thơm thịt béo, nói chung là món ăn ngon và sang quý.

Trong Đại Thừa Chơn Giáo có câu: Về phần xác thịt thì các con nuôi nó bằng vật thực, như các loại ngũ cốc, cùng những món cao lương mỹ vị cho nó có sức lực và khí phách để hoạt động theo ý muốn của các con.

Cao lương mỹ vị hại thân phàm,

Hỏi thử thế đời mấy món tham?

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

CAO NIÊN

高 年

Cao: Hơn hẳn mức trung bình về số lượng, thời gian. Niên: Năm, tuổi.

Cao niên chỉ người lớn, trái với ấu niên.

Cao niên còn có nghĩa là người đã nhiều tuổi, cao tuổi, chỉ người tuổi đã già.

Cao niên biết tuyển hiền đáng mặt,

Khỏi lầm mưu kẻ giặc phong tình.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CAO NGẠO

高 傲

Cao: Tự cho mình cao. Ngạo: Xem thường, bất chấp, phách lối ngạo mạn.

Cao ngạo là tự cho mình là cao, nên phách lối, kênh kiệu và ngạo mạn.

Như: Được sinh ra trong một gia đình quyền quý nên tánh tình anh ấy rất cao ngạo.

Chớ khoe khoan, đừng cao ngạo. Quên mình mà làm nên cho người.

(Tân Luật).

 

 

CAO NGÔI

Cao: Trên cao. Ngôi: Chỗ ngồi, ngôi vị.

Cao ngôi tức ngôi cao, là chỉ ngôi vị to, lớn.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Đức Hộ Pháp dạy: Bần đạo chuyển pháp, nên thì để, hư thì bỏ, không lẽ cao ngôi lớn vị mà không đoái hoài đến chúng sanh, ai chết mặc ai, như thế Hội Thánh có ích gì!

Cao quyền khó kiếm đặng cao ngôi,

Ðạo đức gầy nên đã phải hồi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cao ngôi chưng Ðạo chẳng cao quyền,

Mở lối dắt người đến cảnh duyên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Bạch Ngọc từ xưa đã ngự rồi,

Chẳng cần hạ giới vọng cao ngôi.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

 

 

CAO NGÔN

高 言

Cao: Vượt khỏi người, hơn người. Ngôn: Lời nói.

Cao ngôn là lời nói ra lúc nào cũng muốn hơn người, ý chỉ lời nói cầu cao.

Đừng thèm dụng cao ngôn xảo ngữ,

Với vợ nhà cứ giữ thật tình.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CAO NGỰ

高 御

Cao: Ở trên cao. Ngự: Chỉ vua hay Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế ngồi.

Cao ngự là ngồi trên ngôi cao, ý nói Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế ngự trên cao.

Trên Bạch Ngọc Chí Tôn cao ngự,

Giữa Tây phương nắm giữ Thiên điều.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

CAO QUÂN DỜI PHẬT

Cao Quân 高 君: Cao Quỳnh Cư, thọ phong Thượng Phẩm Hiệp Thiên Đài. Dời Phật: Di chuyển cốt Phật.

Cao Quân dời Phật tức là Đức Thượng Phẩm Cao Quỳnh Cư di dời tượng Phật Thích Ca từ chùa Gò Kén về Chùa mới ở làng Long Thành, Tây Ninh.

Nguyên Giác Hải là Hoà thượng Thích Từ Phong tên thật là Nguyễn Văn Tường, trụ trì chùa Giác Hải ở Phú Lâm Chợ Lớn. Sau Hoà thượng cùng với một số bổn Đạo Phật giáo quyên góp số tiền mua miếng đất, toạ lạc cạnh quốc lộ 22, cách tỉnh lỵ Tây Ninh chừng năm cây số. Trên miếng đất ấy, có một cái gò toàn là cây kén, nên sau Hoà thượng Giác Hải xây dựng lên gò đó một kiểng chùa thờ Phật là Từ Lâm Tự, người chung quanh gọi là chùa Gò Kén. Khi về trụ trì chùa Chùa Gò Kén, Hoà thượng Giác Hải đổi pháp danh là Như Nhãn.

Hoà Thượng Như Nhãn được ông Nguyễn Ngọc Thơ, và bà Lâm Hương Thanh là hai vị quyên góp nhiều nhất cho ngôi chùa Gò Kén giới thiệu về Đạo Cao Đài. Hoà thượng Như Nhãn đồng ý nhập môn, rồi được Thiên phong là Thái Chưởng Pháp. Sau đó, ông hứa cho Hội Thánh Đạo Cao Đài mượn ngôi Từ Lâm Tự (tức chùa Gò Kén) để làm Đại lễ khai Đạo Cao Đài.

Trước khi Đạo Cao Đài chuẩn bị làm lễ khai Đạo thì ngôi chùa này vừa mới xây xong, chưa sơn phết, chung quanh chùa còn cây cối um tùm. Khi Hoà Thượng Như Nhãn cho Hội Thánh làm Đại lễ khai nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Hội Thánh mới vận động người dọn dẹp và xây dựng thêm những cơ sở cần thiết để chuẩn bị ngày Khai Đạo.

Sau cuộc biến trong ngày lễ khai Đạo, Như Nhãn đòi chùa lại và hẹn trong vòng ba tháng phải dời đi.

Lúc 6 giờ chiều, ngày 13 tháng 2 năm Đinh Mão (Dl. 26-3-1927), Đức Cao Thượng Phẩm thỉnh cốt Thái Tử Sĩ Đạt Ta cỡi ngựa Kiền trắc và ông Sa Nặc từ chùa Gò Kén về chùa mới ở làng Long Thành bằng hai chiếc xe bò.

Trong cuốn Đạo Sử Xây Bàn, bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu có kể lại như sau: Cốt Phật Tổ vì nặng quá, bởi con ngựa Kiền Trắc của Ðức Phật Tổ cỡi lớn và dài nên Ðức Thượng Phẩm phải kết hai chiếc xe bò lại để thỉnh cốt Phật lên.

Trong lúc sửa soạn thỉnh cốt Phật thì ông Chánh Tham Biện người Pháp cho một toán lính mặc đồ thâm núp dưới đường mương ngoài chong súng lên đặng bắn Ðức Thượng Phẩm. Tới chừng thấy rõ là thỉnh cốt Phật mới rút lui. Hội Thánh từ từ di cốt Phật về đất mới mua.

Ðức Thượng Phẩm đứng trên xe bò vịn Ðức Phật Tổ, thấy nghiêng bên nào thì hô lên để sửa lại ngay; đi từ 6 giờ chiều tới 2 giờ khuya mới đến Thánh Ðịa (ngay cửa Hoà Viện bây giờ). Trước cửa Hoà Viện có cây vên vên, đến đây di cốt Phật Tổ vào không được vì bị một cái đường mương lớn quá; Ðức Thượng Phẩm phải lập kế kiếm ván đặng lót xe vô mới được. Khi xe qua đường mương rồi thì tạm để cốt Phật Tổ nơi đây, vì Ðức Thượng Phẩm mệt đuối, nhào xuống đống lá khô trong rừng nằm nghỉ; tất cả Chức Sắc cũng nằm xuống đó nghỉ theo.

Giác Hải đòi chùa kỳ mãn hạn,

Cao Quân dời Phật bước truân chuyên.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

CAO QUÝ

高 貴

Cao: Trên cao, trái với thấp. Quý: Sang, báu.

Cao quý là tôn quý, tức có giá trị lớn về mặt tinh thần rất đáng quý trọng.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Xưa dưới triều đại của những đấng minh quân thì dân được giáo hoá trong tinh thần Nho giáo, nên phần nhiều là người có đức hạnh và nhơn phẩm cao quý, trừ ra một phần ít là hạng người thất học, mới có những tánh xấu, tham lam hèn hạ mà thôi.

Tiền trang với lễ tiền cao quý,

Tiền khó trao ra ít kẻ hiền.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

CAO QUYỀN

高 權

Cao: Trên cao, to. Quyền: Quyền hành, tức cái thế lực có thể định đoạt mọi việc.

Cao quyền là quyền hành to lớn, tức quyền hành của những vị quan cao, nên có quyền thế lớn.

Cao ngôi chưng Ðạo chẳng cao quyền,

Mở lối dắt người đến cảnh duyên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thử để hỏi tâm, tâm sẽ dạy,

Rằng trong thế giới Lão cao quyền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

CAO SANG

Cao: Cao quý. Sang: Vinh hiển, sang trọng.

Cao sang là ở bậc cao quý và sang trọng.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy dạy: Chư ái nữ ôi! Các con thường để mắt dòm lên, thấy kẻ cao sang thì các con cho rằng các con vô phước, còn nhìn xuống thấy đồng chủng thấp hèn thì các con lại đem lòng khi bạc. Ấy là một điều vô đạo.

Bầu bí chưa ai bỏ lộn giàn,

Mình quê chưa ắt biết cao sang.

(Đạo Sử).

Cao sang chẳng mượn của thường tình,

Bao phủ mình con chút khí linh.

(Đạo Sử).

Nỗi trông hương hoả giữ bền,

Giúp cho chồng có phẩm quyền cao sang.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CAO SẮC

高 敕

Cao: Ở trên cao. Sắc: Giấy do vua hay Đức Thượng Đế ban xuống.

Cao sắc là lịnh ban ra của vua hay của Thượng Đế.

Trong Đạo Cao Đài, Cao sắc là sắc chỉ của Đức Chí Tôn, Cao Đài Ngọc Đế.

Trung thành một dạ thờ Cao sắc,

Sống có Ta, thác cũng có Ta.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

CAO SÂU

Cao: Ở trên cao. Sâu: Lõm xuống ở dưới, cách xa trên mặt đất, nghĩa bóng tận ngọn ngành.

Cao sâu, như chữ “Cao thâm 高 深” nghĩa là cao và sâu, dùng để chỉ những gì không thể hiểu thấu.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, lời Thầy có dạy: Sao con không dùng tiếng chết mà tỏ lý cao sâu? Vì có ghét nhau, vạn loại mới khi nhau, khi lẫn nhau mới tàn hại hại nhau, mà tàn hại lẫn nhau là cơ diệt thế.

Cao sâu máy Tạo khó đong lường,

Thiệt bực mới vào cửa niệm hương.

(Đạo Sử).

Cao sâu đã hiểu cuộc trần hoàn,

Có nợ trả rồi chớ thở than.

(Đạo Sử).

Tôn kỉnh thầy cũng bì cha trẻ,

Mới đắc truyền mọi lẽ cao sâu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CAO SĨ

高 士

Cao: Vượt trội hơn người. Sĩ: Người có học thức và đạo đức.

Cao sĩ là người có học, có phẩm hạnh tốt, đạo đức hơn người.

Cầu danh thẹn lẫn hàng cao sĩ,

Xả phú vui thầm phận hạ bô.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

CAO SIÊU

高 超

Cao: Cao. Siêu: Vượt lên trên.

Cao siêu là người hiền đức và tài giỏi vượt lên trên nhiều người khác.

Thuyết Đạo Thượng Sanh dạy: Những ông Hiền được đời kính nể mến phục vì những đấng ấy có tư tưởng cao siêu, hành vi xuất chúng, lúc nào cũng cứ ngay thẳng mà làm điều lành, điều phải, không vì tư tâm tư lợi mà hại đạo lý.

Luật Nhơn quả để răn Thánh đức,

Cửa Luân hồi nhắc bực cao siêu.

(Kinh Tận Độ).

Thiếu kẻ thi đề câu xướng hoạ,

Còn ai tâm đạt tứ cao siêu!

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CAO THĂNG

高 升

Cao: Ở trên cao. Thăng: Bay lên.

Cao thăng là bay lên cao, ý nói linh hồn nhờ tu hành nên nhẹ nhàng bay lên cõi giới cao hơn.

Bản Tuyên dương công nghiệp của Ngài Hiến Pháp, Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài đọc trước Liên Đài Đức Thượng Sanh có câu: Trước khi dứt lời, tôi xin thành tâm cầu nguyện ƠnTrên ban phước lành cho toàn thể quý vị và quý quyến, tôi xin nghiêng mình trước Liên Ðài của Ðức Thượng Sanh, và thành tâm cầu nguyện cho Anh linh Ðức Ngài được cao thăng, sau nữa xin chơn thành phân ưu cùng tang quyến

Chuyển luân định phẩm cao thăng,

Hư vô Bát quái trị thần quy nguyên.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

Trăm năm thọ khảo vĩnh trường,

Thuận căn thuận mạng đôi đường cao thăng.

(Kinh Tận Độ).

Linh Tiêu Điện, bảng danh nêu,

Nguyên căn đẹp vẻ mỹ miều cao thăng.

(Kinh Tận Độ).

 

 

CAO THÂM

高 深

Cao: Cao, trái với thấp. Thâm: Sâu.

Cao thâm là cao sâu, dùng để chỉ những gì không thể hiểu thấu.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Thầy có dạy: Nền Ðạo cao thâm là mấy, trí phàm không thấu lý sâu, nếu các con chẳng ra khỏi vòng trần tục thì các con chẳng là luống công theo Thầy kể đã đầy năm.

Lẽ báo ứng cao thâm huyền diệu,

Cho chúng sanh đặng hiểu răn mình.

(Giới Tâm Kinh).

Ðừng bụng nghi nghi rồi hoặc hoặc,

Tự nhiên rõ thấu Ðạo cao thâm.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

CAO THẤP

Cao: Ở trên mức thường. Thấp: Kém bề cao.

Cao thấp là trên cao và dưới thấp, hoặc chỉ bậc hạng của người, việc.

Thánh giáo Thầy có dạy: Chư ái nữ, Thầy vì Tam Kỳ Phổ Ðộ, chẳng phân cao thấp, sang hèn. Thầy chỉ khuyên một điều là đạo hạnh các con phải giữ hằng ngày cho nhằm phương pháp Nhơn đạo, tức là Tứ Ðức đó vậy. Các con hiểu à!

Trong tám tiếng phân tường giai cấp,

Giọng Cung Thương cao thấp tuỳ nhau.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

Tinh thần cao thấp nhờ thi,

Dục tài nữ sĩ sánh bì cùng nam.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CAO THƯỢNG

高 上

Cao: Cao, trái với thấp. Thượng: Ở trên.

Cao thượng là cao vượt hẳn lên trên những cái tầm thường, nhỏ nhen về phẩm chất hay tinh thần.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Mối Ðạo Thầy đưa cho các con phăng đầu hết, thì các con phải biết trách nhậm các con lớn lao, cao thượng là chừng nào! Nếu các con không biết nghĩa vụ của Ðạo thì sao cho xứng đáng?

Biết tâm cao thượng là Tiên Thánh,

Biết sắc yêu kiều ấy quái tinh.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

CAO THƯỢNG CHÍ TÔN

高 上 至 尊

Cao thượng: Trên cao. Chí Tôn: Rất tôn quý, trong Cao Đài chỉ Đức Thượng Đế.

Cao thượng Chí Tôn là Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế ở trên ngôi cao.

Hai câu liễn ngoài cổng của đạo Cao Đài viết: Cao thượng Chí Tôn Đại Đạo hoà bình dân chủ mục, Đài tiền sùng bái Tam Kỳ cộng hưởng tự do quyền 高 上 至 尊 大 道 和 平 民 主 目, 臺 前 崇 拜 三 期 共 享 自 由 權, nghĩa là Đấng Chí Tôn ở trên cao hơn hết, mở ra một nền Đại Đạo, nhắm tới hoà bình và dân chủ; Sùng bái trước Đấng Cao Đài thời Tam Kỳ Phổ Độ, nhơn sanh cùng chung hưởng quyền tự do.

Cao thượng Chí Tôn quyền chủ toạ,

Đài tiền sùng bái giữ nâu sồng.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

CAO THƯỢNG PHẨM

高 上 品

Cao: Họ Cao. Thượng Phẩm: Một phẩm chức sắc Hiệp Thiên Đài, chưởng quản chi Đạo.

Cao Thượng Phẩm là Thượng Phẩm Cao Quỳnh Cư.

Theo Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thượng Phẩm được Đức Chí Tôn phong cho Ngài Cao Quỳnh Cư vào ngày 18 tháng 5 Bính Dần (Dl. 27-6-1926).

Xem: Cao Quỳnh Cư.

Một tháng ba Cao Thượng Phẩm quy,

Công ân chiêm ngưỡng nghĩ thương vì...

(Thơ Huệ Phong).

 

 

CAO TRỌNG

高 重

Cao: Trái với thấp, ở trên mức thường. Trọng: Tôn trọng, quý trọng.

Cao trọng là cao quý và được trọng vọng.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có dạy: Từ đây, Lão hằng gìn giữ chư hiền hữu hơn nữa. Nếu Lão ép lòng cầm quyền thưởng phạt phân minh là có ý muốn giá trị của chư hiền hữu thêm cao trọng nữa

Còn cái địa vị cao trọng, nó làm cho nhơn tâm ganh gổ.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

Nữ hễ khôn đào lý ngăn rào,

Càng chặt giữ càng cao trọng giá.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CAO XANH

Cao: Trái với thấp, có khoảng cách từ đầu dưới đến đầu trên theo chiều thẳng đứng. Xanh: Màu xanh.

Cao xanh, dịch từ chữ “Cao thương 高 蒼”, tức là vòm trời cao và xanh xanh.

Trong văn chương, Cao xanh thường dùng để chỉ ông Trời, hay Đấng Tạo hoá.

Tay rạch đất con ôi trẻ nhớ,

Ngước mặt lên phú có cao xanh.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Cao xanh nào có phụ chi con,

Mà chẳng giữ cho đức vẹn còn.

(Đạo Sử).

Vương mang đoạn thảm rối lòng tơ,

Trộm trách cao xanh khéo phỉnh phờ.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CÁO

1.- Cáo là tên một loài thú hay bắt gà ăn thịt, thuộc loài chó. Như: Chồn cáo, cáo mượn oai hùm.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu dạy: Muốn cho nhà thiệt cao, áo thiệt tốt, mượn lốt cọp doạ cáo bầy, bụng trống lổng, túi thâu đầy toan làm thầy lũ dại.

Nam Thiên đã rạng danh đạo giáo,

Cõi Trung châu lũ cáo chia phần.

Đôi đường vật chất tinh thần,

Rồi đây sẽ rõ một phân một quyền.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

2.- Cáo là bảo, trình, Như: Cáo phó, cáo thị, cáo trạng, cáo gian, cảnh cáo.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Còn Đạo Cao Đài chúng ta đã ngó thấy, nền Chơn Giáo của Đức Chí Tôn, hồi buổi phôi thai thế nào, họ đã dụng quyền lực mưu chước, quỷ quyệt xảo trá, cáo gian, cái tâm vô nhơn đạo họ đã đối với ta, tức nhiên họ muốn liệu phương thế nào tiêu diệt Đạo Cao Đài trong buổi mới phôi thai cho rồi.

Đòn này cảnh cáo người Mông Cổ,

Thống trị Á Âu mộng bất thành.

(Thơ Thành Toại).

 

 

CÁO CHUNG

告 終

Cáo: Báo, trình. Chung: Kết, hết.

Cáo chung là có dấu hiệu cho biết là đã kết liễu, chấm dứt. Như: Chủ nghĩa thực dân đã cáo chung.

Bài giảng đạo của Tiếp Pháp Trương Văn Tràng vào đêm 30 rạng mùng 1 tháng 3 năm Nhâm Dần (1962) trong dịp Vía Ðức Cao Thượng Phẩm có câu: Cầu Ðạo rồi Ðức Chí Tôn dạy phải dùng Ngọc Cơ để tiếp xúc với Ðức Chí Tôn, thì cái giai đoạn xây bàn đến đây là cáo chung.

Ngày tháng thoát qua chẳng khác chi nước chảy dưới gầm cầu, lật bật năm Kỷ Dậu sắp cáo chung, trăm họ nô nức đón chào Xuân mới.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

CÁO LUẬT

告 律

Cáo: Buộc tội. Luật: Pháp luật.

Cáo luật là dựa theo pháp luật mà buộc tội can phạm trước toà án.

Theo Pháp Chánh Truyền Chú Giải, Đức Thượng Sanh làm chủ phòng cáo luật.

Chủ phòng cáo luật Toà Tam Giáo,

Tuyên án tội danh phẩm Cửu Trùng.

(Thơ Huệ Phong).

Vì lo Thế Đạo tạo thời,

Chủ phòng Cáo luật giúp Đời kỳ ba.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

CÁO TỪ TỔ

Cáo: Trình thưa. Từ Tổ 祠 祖: Từ đường tổ phụ.

Cáo Từ Tổ là cáo trình với Từ đường Tổ phụ, hay nói cho dễ hiểu tức là trình thưa với Ông bà Tổ tiên vậy.

Tại sao nghi thức tang lễ trong đạo Cao Đài phải có lễ Cáo Từ tổ?

Nghi “Cáo từ tổ” là thể hiện nền Nho Tông chuyển thế. Theo lời chú thích trong sách Lễ Ký có nói rằng: Vật bản hồ Thiên, nhân bản hồ Tổ 物 本 乎 天, 人 本 乎 祖, nghĩa là toàn thể vạn vật nương nhờ căn bản nơi Trời là Đấng tạo Thiên lập Địa, còn toàn thể nhơn loại nương nhờ căn bản nơi Tổ tiên là bậc khai sáng ra dòng giống.

Triết lý Cao Đài cũng cho rằng nguồn cội của con người gồm hai phần, phần hữu hình, gần gũi nhứt là cha mẹ, ông bà đã sinh ra hình hài xác thịt; phần vô vi, không thấy được, phải suy luận mới nhận biết, đó là Đức Thượng Đế đã ban cho một Chơn linh để con người có sự sống, sự hiểu biết và sự khôn ngoan.

Người bình dân Việt Nam cũng tôn trọng Cửu huyền, nên tưởng nhớ đến ông bà qua câu ca dao sau đây:

Con người có tổ có tông,

Như cây có cội, như sông có nguồn.

Khi nhớ đến công ơn sanh thành dưỡng dục rộng lớn như trời biển của ông bà, cha mẹ, người tu hành phải chăm lo phụng dưỡng khi các người còn sanh tiền, và lễ bái hoặc bố thí hành thiện để hồi hướng công đức đến người khi đã quá vãng.

Do vậy, thờ cúng Tổ tiên hay Tổ phụ là nhằm thể hiện lòng tưởng cây cội nước nguồn, nhớ đến ân sâu nghĩa nặng, tức là tỏ lòng biết ơn và thương kính đối với những Chơn linh người thân đã đào tạo nên cơ thể hữu vi cho con cháu ngày nay.

Sự thờ kỉnh Tổ tiên Ông bà cũng là một cách để duy trì nền luân lý đạo đức, nhứt là trong những ngày kỵ lạp, tế lễ để con cháu có dịp quy tụ về hầu nhắc nhở cho nhau sự tưởng nhớ nguồn cội, công đức của Ông bà, cha mẹ.

Vì thế, bất cứ một nghi lễ nào trong Cao Đài về phần thế đạo như: Thành phục phát tang, chánh tế, di quan hay tiểu đại tường đều phải có Cáo Từ tổ trước. Đó là cái lễ kỉnh Tổ tiên theo Nho giáo.

Thực hiện lễ cáo Từ tổ con cháu hay tang gia hiếu quyến quỳ tế Tổ tiên, phải có lòng thành kính để tưởng nhớ đến Ông bà Tổ phụ như lời Đức Khổng Phu Tử dạy: Sự tử như sự sanh, sự vong như sư tồn, hiếu chi chí dã 事 死 如 事 生, 事 亡 如 事 存, 孝 之 至 也, nghĩa là thờ cha mẹ mới chết dường như sống, thờ Ông bà tuy mất cũng như còn, mới gọi rằng chí hiếu vậy.

Ngoài ra, sự thành tâm của con cháu để tụng đọc ba biến Kinh Cứu Khổ cũng nhằm để cầu nguyện cho Chơn linh Cửu Huyền Thất Tổ được siêu thăng Tịnh độ.

Phải hành lễ Đức Chí Tôn, Cáo Từ tổ, Tế điện, đọc Ai chúc (vợ tế chồng, con tế cha…), nếu có thân bằng cố hữu tế lễ, thì làm nghi châm chước.

(Quan Hôn Tang Lễ).

 

 

CÁO TRẠNG

告 狀

Cáo: Báo cho biết, tố giác. Trạng: Tờ bày tỏ tình ý của mình, hoặc kêu xin việc gì.

Cáo trạng là bản nêu những tội trạng, hoặc lời tuyên bố tội trạng.

Như: Toà đọc bản cáo trạng.

Tiếp Đạo là người tiếp cáo trạng án tiết thì phải quan sát trước coi có oan khúc chi chăng...

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

CẢO THƠM

Cảo 稿, cũng đọc “kiểu”, là bản thảo, hay tài liệu văn chương. Thơm: Hương thơm.

Cảo thơm là bản thảo hay tài liệu nhà văn. Nghĩa bóng chỉ chỉ pho sách hay.

Truyện Kiều của Nguyễn Du có câu: Cảo thơm lần giở trước đèn, Phong tình có lục còn truyền sử xanh.

Xem: Phương cảo.

Nguyên thỉ đạo Trời ai muốn biết,

Cảo thơm lần giở đọc từng câu.

(Thơ Chơn Tâm).

Bóng xế qua ngang thời tuổi mộng,

Cảo thơm chép rạng sử ngày xanh.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

CẠO

Cạo là dùng dao. lưỡi lam bén đưa sát vào mặt da làm cho đứt lông, tóc hoặc râu.

Như: Cạo đầu đi tu, cạo râu cho sạch sẽ, cao lông da bò để bịt trống.

Tu không biểu mặc đồ dà,

Cạo râu thí phát bỏ nhà lìa con.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

CÁT

1.- Cát là đá vụn nhỏ thành hạt ở bờ sông hoặc ở bờ biển. Như: Bãi cát, đãi cát lấy vàng, dã tràng xe cát.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Cơ hội ngàn năm một thuở, ví như Ðấng Chí Tôn không khai mối Ðạo Trời, cái đà sống của mỗi người chúng ta trong thời loạn là cần cù mưa nắng vì manh áo bát cơm, nay di cư chỗ nầy, mai đổi dời chỗ khác, phải chịu cảnh lầu Tần quán Sở, cay đắng trăm bề, trong lúc loạn ly thì vàng thau chung chạ, ngọc đá bất phân, ngoài ra còn bận bịu gánh thê nhi, não nề tình ấm lạnh, rồi đến khi Thiên số nan đào, thân cát bụi không còn để lại một dấu vết chi cho người đời nhắc nhỡ.

Dã Tràng ai dễ xét công đâu?

Bãi biển thường xe cát lấp đầu.

(Đạo Sử).

Trước sân quét một nơi cho sạch,

Cát trắng dùng làm sách dạy con.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Cát là chỉ những hạt nhỏ vụn. Như: Đường cát.

Thánh giáo Thầy Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu có câu: Con nghe Thầy nói chuyện làm đường cát trắng. Thầy đố con biết làm sao cho đường đen ra trắng?

Hột cơm tẻ nhai ra như cát,

Gan còn nguyên như nát bao chừ.

(Nữ Trung Tùng Phận).

3.- Cát, còn đọc là “Kiết ”, là lành, tốt.

Như: Cát hung, điềm chiêm bao cát tường, cát nhựt lương thần.

Mãn hạn trảm thôi mừng cát nhựt,

Đúng kỳ hiếu quyến xả hung tang.

(Thơ Hoàn Nguyên).

3.- Cát là tiếng gọi chung các loại dây sắn, dùng để chỉ thân phận đàn bà nương dựa chồng,

Như: Cát đằng, cát luỹ.

Dìu nhau trở bước lại rừng thung,

Ðằng cát may đưa dựa bóng tùng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

CÁT ÁI LY GIA

割 愛 離 家

Cát ái: Cắt đứt tình thương yêu. Ly gia: Rời khỏi nhà cửa, gia đình.

Cát ái ly gia là cắt đứt tình thương yêu, rời khỏi gia đình, ý muốn nói dẹp bỏ những thứ tình cảm hẹp hòi của gia đình để phụng sự cho nhơn loại.

Nhàn Âm Đạo Trưởng đã dạy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển như sau: Vào nơi đạo đức rồi, dầu cho phải cát ái ly gia, chia tình xẻ nghĩa, máu thịt đoạn ly, mà làm cho tròn trách nhậm xứng đáng của mình, để hiến thân chuộc sanh mạng cho muôn ngàn kẻ đồng bào, thì cái đau đớn thường tình, sự khổ tâm ở thế kia, đau khổ nào có tiếc.

Xem: Ly gia cát ái.

Trách nhiệm Thiên phong đành cát ái,

Quyền hành chức sắc phải ly gia.

(Thơ Thông Quang).

 

 

CÁT BỤI

Cát: Đá vụn nhỏ thành hạt ở bờ sông hoặc ở bờ biển. Bụi: Những hạt nhỏ li ti bay lẫn vào không khí.

Cát bụi là hạt cát và hạt bụi, ý chỉ vật thể tầm thường ở cõi thế gian.

Huấn từ Đức Thượng Sanh đọc ngày 4 tháng 6 năm Canh Tuất (Dl. 8/7/1970) tại Hạnh Đường có đoạn: Tiền tài châu báu có nhiều giá trị ở đời, nhưng đức tốt tánh lành có giá trị hơn nữa. Tiền tài châu báu có thể bị chúng cướp giựt chớ đức tốt tánh lành không thể nào mất được và khi xác thân ta trở về với cát bụi, những đức tốt tánh lành sẽ theo linh hồn ta để nâng cao địa vị ta nơi cõi Thiêng liêng.

Thân cát bụi không còn để lại một dấu vết chi cho người đời nhắc nhỡ.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

CÁT BỤI LẦM

Cát bụi: Hạt cát và hạt bụi. Lầm: Vẩn đục lên.

Cát bụi lầm ý nói bị cát bụi, bùn đất làm cho dơ bẩn, làm cho vẩn đục.

Cát bụi lầm được ví như thân phận con người ta bị cuộc đời làm đau đớn, khổ nhục.

Giữ gìn thinh giá mấy mươi năm,

Một đoạn đường qua cát bụi lầm.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CÁT ĐẰNG

葛 藤

Cát: Gọi chung các loại dây sắn. Đằng: Một loại cây có thân dạng hình sợi như loài mây, sắn.

Cát đằng là dây sắn bìm và dây mây, là hai loại dây leo chuyên sống bám nhờ vào gốc cây khác. Chữ cát đằng còn có nghĩa là vương vấn, vấn vít.

Trong Diêu Kinh có nói rằng: Chúng sinh nếu sa vào lưới tình thì cũng như dây cát đằng vương vấn vào cây khô.

Cát đằng có nghĩa rộng là nương nhờ vào kẻ khác.

Hễ cát đằng nhảy lá xanh chồi,

Thân tòng bá càng tươi thêm vẻ đẹp.

(Phương Tu Đại Đạo).

Dây cát đằng tỉ phận mỏng mành,

Cội tòng bá đã đành nương gởi phận.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CÁT LẦM

Cát: Chất đá vụn nhỏ, ở bờ sông hay bãi biển. Lầm: Vẩn đục lên.

Cát lầm là bị cát sông, bùn đất làm cho vẩn đục, làm cho nhơ bẩn.

Cát lầm được ví như thân phận con người ta bị cuộc đời làm đau đớn, khổ nhục.

Xem: Cát bụi lầm:

Chung vầy sức mạnh non sông vững,

Chia rẽ lòng dân ngọc cát lầm.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

CÁT LUỸ

葛 藟

Cát: Dây sắn bìm. Luỹ: Dây mây.

Dây sắn bìm là giống dây mộc lan ra hay leo lên một cây khác. Chỉ phận vợ tựa bóng chồng. Ngoài ra, còn có ý chỉ người vợ bé nương nhờ vào vợ lớn.

Kinh Thi có câu: Nam hữu cù mộc, cát lũy luy chi 南 有 樛 木, 葛 藟 累 之, nghĩa là phương nam có cây cù mộc, dây sắn dây bìm leo vào đó.

Xem: Cát leo cù mộc.

Sân nguyệt úa Tàn dây cát luỹ,

Thềm thu trơ trọi bóng tùng quân.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

CÁT NHỰT

Hay “Kiết nhật”.

Cát (kiết): Tốt, lành. Nhựt (nhật): Ngày.

Cát nhựt, như chữ “Kiết nhật 吉 日”, là ngày lành, ngày tốt. Như: Cát nhựt lương thần.

Mãn hạn trảm thôi mừng cát nhựt,

Đúng kỳ hiếu quyến xả hung tang.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

CÁT TƯỜNG

Hay “Kiết tường”.

Cát (kiết): Điều tốt. Tường: Việc lành.

Cát tường, như chữ “Kiết tường 吉 祥”, là điềm lành, điều tốt đẹp.

Như: Giấc mộng hôm nay ứng điềm cát tường.

Lòng tu quả quyết bền tin tưởng,

Người đạo đương nhiên hưởng cát tường.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

CẮC

Cắc là hào, giác, đơn vị tiền tệ của ta, tương đương với một phần mười của đồng.

Như: Ngày để dành năm ba cắc, kiếm từng đồng từng cắc, tiền giấy đổi bạc cắc.

Dầu mình giàu rộng thế xa hoa,

Cũng nhớ mẹ ở nhà bòn cắc nhỏ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CẮC CỚ

Cắc cớ là từ biểu thị sự việc diễn ra đột ngột, thình lình, hơi ngược đời, hơi oái oăm.

Như: Anh hỏi cắc cớ như vậy ai có mà mang theo để cho anh mượn, duyên tình cắc cớ làm sao đâu.

Thiệt Lão thấy vầy nên cắc cớ,

Người nay vào để thử tài trò.

(Thánh Giáo Minh Thiện).

Trớ trêu cơ tạo xui nên cảnh,

Cắc cớ ai đang bẻ chữ đồng.

(Thơ Vạn Năng).

 

 

CĂM

Căm là tức giận người nào đó lắm, nhưng cố nén trong lòng không nói ra.

Như: Căm kẻ thù, càng nghĩ càng thêm căm.

Trong Truyện Thuý Kiều, Tố Như Nguyễn Tiên Sinh có câu: Giọt riêng tầm tã tuôn mưa, Phần căm nỗi khách phần dơ nỗi mình.

Trách kẻ bất tài mua địa vị,

Căm loài vô hạnh bán thiên lương.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CĂM GAN

Căm: Tức giận ngầm trong lòng không nói ra. Gan: Biểu tượng của tinh thần con người, dám chịu đựng, dám đương đầu với nguy hiểm.

Căm gan là giận lắm mà phải nén lại trong lòng, không để bộc lộ ra ngoài.

Trải cật phòng loan che kín đáo,

Căm gan đoàn muỗi hết buông lung.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CĂM HỜN

Căm: Tức giận ngầm trong lòng không nói ra. Hờn: Dỗi, tỏ thái độ không bằng lòng.

Căm hờn là căm giận và hờn oán (oán hờn).

Như: Ai cũng căm hờn bọn giặc xâm lăng. Toàn dân tộc căm hờn quân bán nước, nỗi căm hờn thể hiện qua nét mặt.

Căm hờn ai oán chạ thù vơ,

Dụng chước hoà Phiên chước khó ngờ.

(Thơ Thuần Đức).

Căm hờn độc lập nồi da xáo,

Tức tối hoàn đồ đẫm máu xương.

(Thượng Trí Thanh).

Muôn dân thất quốc căm hờn,

Định an nước cũ chi sờn lòng trai.

(Kinh Cúng Chiến Sĩ).

Nỗi mất nước căm hờn lở đất,

Nỗi tù đày u uất tim gan.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

CẮM

Cắm là ấn sâu một vật gì xuống.

Như: Cắm sào đỗ thuyền lại, không có một tấc đất cắm dùi, cắm cọc hàng rào.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có dạy: Hộ Pháp, Thượng Phẩm, nội trưa nầy phải cắm một cây viết vào đầu cơ, lấy một miếng giấy lớn vào Ðiện phò loan cho Lão vẽ.

Cỏ huyên cắm kền kền đầu tuyết,

Con gậy lê mòn khuyết nửa cây.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CẮM CỔ

Cắm: Chúc xuống, cúi hẳn đầu xuống. Cổ: Bộ phận cơ thể, nối liền đầu với thân.

Cắm cổ là cúi đầu xuống để làm động tác gì một cách mải miết, không để ý đến chung quanh.

Như: Cắm cổ chạy một mạch, kêu hoài nó không đến cứ cắm cổ ngồi chép bài.

Người thế thường chác những hèn-ngu,

Cắm cổ chết trong ngục tù tội lỗi.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

CẮM ĐẦU

Cắm: Chúc xuống, cúi hẳn đầu xuống. Đầu: Phần trên cùng của thân thể con người.

Cắm đầu là cúi đầu xuống làm việc một cách mải miết, không để ý với chung quanh.

Cắm đầu còn dùng để chỉ mù quáng, thiếu suy nghĩ mà nghe theo người khác.

Như: Cắm đầu đọc sách, ai bảo gì nó cũng cắm đầu làm theo.

Mắt phàm trông thấy sắc mầu,

Dục lòng tham chạ, cắm đầu chết nguy.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

CẶM CỤI

Cặm cụi là chăm chú và mải miết làm việc gì. Như: Hằng ngày lo cặm cụi học hành.

Thánh giáo Bát Nương Diêu Trì cung có dạy: Quý anh quý chị đều ăn mặc sung sướng, ngày nay đổi lại chịu phận nâu sồng, cũng khá thương đó, nhưng chưa nghèo phải học nghèo, chưa khổ phải học khổ, kế chí quân tử, cư bất cầu an, thực bất cầu bảo, chỉ cặm cụi quanh năm lo cho xã hội được no ấm thôi, biết người quên mình, đó là phận sự kẻ tu hành, đến bực tối thượng thừa cũng phải như thế, mới tròn nghĩa vụ.

Cặm cụi sanh nhai không thất nghiệp,

Cần cù hoạt động chẳng khoe tài.

(Thơ Thái Đến Thanh).

Sơn lâm cặm cụi noi đường trước,

Mao ốc thanh nhàn nhắc chuyện xưa.

(Thơ Thông Quang).

Cặp phò loan lo làm túi bụi,

Hầu cận Thầy cặm cụi ngày đêm.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

CĂN

1.- Căn là gian nhà, tức từ chỉ từng đơn vị nhà ở không lớn lắm.

Như: Căn nhà có hai phòng, nhà rộng gồm ba căn.

Ruộng cày sáu mẫu lo vun quén,

Nhà ở bảy căn rán vẹn gìn.

(Cao Thượng Phẩm).

2.- Căn là rễ, gốc gác, không dùng một mình. Như: Căn bản, căn cội, căn cơ, căn nguyên.

Thánh giáo Đức Thích Ca Như Lai kim viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát có câu: Chư tăng, chư chúng sanh hữu căn hữu kiếp, đặng gặp kỳ Phổ Ðộ nầy là lần chót, phải rán sức tu hành, đừng mơ mộng hoài trông giả luật.

Biết số biết căn tua biết phận,

Ðường xưa để bước lại Thiên đình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðắc công đắc quả bởi căn xưa,

Nết dữ từ đây gắng phải chừa.

(Đạo Sử).

 

 

CĂN BẢN

根 本

Căn: Rễ. Bản: Gốc.

Căn bản là gốc và rễ, ý muốn nói gốc rễ là nền tảng của mọi việc.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Cần nhứt là chúng ta nên lưu tâm sự nhận định tình thế của Ðạo chẳng căn cứ theo bề ngoài mà phải căn cứ theo tinh thần thiệt mặt của Ðạo là cái căn bản của Ðạo Ðức Vô Hình đã được un đúc từ buổi ban sơ, và nhờ thế Thánh Thể nơi mặt thế của Ðức Chí Tôn mới cảm hoá nhơn tâm và bảo tồn nghiệp Ðạo.

Ái hoà đạo dụng làm căn bản,

Nhân nghĩa đời toan giúp phổ truyền.

(Thơ Thân Dân).

 

 

CĂN BỊNH

Hay “Căn bệnh”.

Căn: Gốc rễ. Bịnh (Bệnh): Đau ốm.

Căn bịnh, như chữ “Căn bệnh”, là căn nguyên, nguyên do của bịnh.

Căn bịnh (bệnh), do chữ “Bệnh căn 病 根”, còn được gọi là bệnh nghiệp, là bịnh do những hành vi hung ác từ kiếp trước, tạo nên căn nghiệp mà báo ứng trong hiện kiếp. Bịnh này làm cho người thọ lãnh phải chịu đau khổ triền miên để trả nghiệp, nên không có thuốc nào điều trị được, chỉ khi nào hết nghiệp là mới hết bịnh.

Tử Đồng Đế Quân có để lời dạy như sau: Diệu dược nan y oan trái bệnh, hoạnh tài bất phú mệnh cùng nhân 妙 藥 難 醫 冤 債 病, 橫 財 不 富 命 窮 人, nghĩa là cái bịnh oan nghiệt thì thuốc hay khó chửa cho lành, của hoạnh tài không có thể làm cho người mạng cùng giàu sang được.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Thầy phải ép lòng chịu tư vị với các con mà thố lộ chút ít. Vậy nên biết mà kềm sửa bước đường đặng cứu chữa căn bịnh cho nhau và ngăn ngừa bước đường cho những đứa sẽ đến.

Sống dương thế hành thì căn bịnh,

Xui tai nàn dấp dính theo mình.

(Kinh Sám Hối).

 

 

CĂN CỘI

Căn: Rễ, gốc gác. Cội: Hay cỗi là gốc.

Căn cội là gốc rễ, chỉ cái nguồn cội.

Đức Diêu Trì Kim Mẫu có dạy: Chỗ Hằng sống là nơi căn cội của các con. Vậy các con cũng chẳng nên quyến luyến thế đời mà quên cựu vị nghe!

Ðắc lịnh Hư cung chầu Bạch ngọc,

Mới tường căn cội vị mình đâu.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Dạy cho biết những điều hàm hội,

Đặng cho tường căn cội lợi danh.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CĂN CỚ

Căn: Gốc, rễ. Cớ: Cái duyên do.

Căn cớ, như chữ “Căn do”, là cái nguyên nhân một việc bởi đâu mà ra.

Như: Những sự khổ não của đời nầy căn cớ do mình gây tạo trong kiếp trước.

Dạy căn cớ làm thân cực sướng,

Người ngồi ăn người làm mướn bởi nơi nào.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CĂN CỨ

根 據

Căn: Gốc rễ. Cứ: Bằng dựa vào, chiếm giữ.

Căn cứ là dựa vào, do chỗ nào.

Căn cứ còn có nghĩa là chỗ dùng để đặt một cơ quan, để xuất phát hoặc tụ tập.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Cần nhứt là chúng ta nên lưu tâm sự nhận định tình thế của Ðạo chẳng căn cứ theo bề ngoài mà phải căn cứ theo tinh thần thiệt mặt của Ðạo là cái căn bản của Ðạo đức Vô hình đã được un đúc từ buổi ban sơ, và nhờ thế Thánh Thể nơi mặt thế của Ðức Chí Tôn mới cảm hoá nhơn tâm và bảo tồn nghiệp Ðạo...

Trà mi khi đã dựa cung đài,

Căn cứ chi nên phải lạc loài.

(Đạo Sử).

Nước mạnh nguyên do là địa lợi,

Dân giàu căn cứ bởi nhơn hoà.

(Thơ Thông Quang).

 

 

CĂN DẶN

Căn dặn là dặn đi dặn lại cẩn thận, nhiều lần thường với người dưới mình.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Lời Bần Ðạo căn dặn: Mặc ai sang trọng ở trường đời, ta cứ quyết theo Chí Tôn thì đại nghiệp không mất, quả quyết đứa con nào của Ngài trọn trung, trọn hiếu với Người và với Hội Thánh là hình thể của Người tại thế gian nầy, thì không bao giờ thất nghiệp và thất phận.

Tổng mến lời khuyên bền mộ chép,

Tình thương căn dặn gắng tâm đời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chia gương căn dặn buổi trường đình,

Vàng đá trăm năm tạc tấm tình.

(Đạo Sử).

Lòng son căn dặn niềm chung thuỷ,

Dạ sắt dồi dào chữ tín trung.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CĂN DUYÊN

根 緣

Căn: Gốc rễ của sự việc. Duyên: Lý do, hoặc mối dây ràng buộc định sẵn từ trước.

Căn duyên có nghĩa lý do vì sao.

Căn duyên còn nghĩa là duyên từ gốc rễ kiếp trước, hay nói cách khác là mối dây ràng buộc từ cái nghiệp của mỗi người.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Vả chăng con người chỉ có quý ở cái Tâm và hạ sanh tại đây ít nữa phải có căn duyên sao đó mà mình không biết đó thôi. Bần Ðạo dám chắc dầu một vị chí Phật đến tại thế gian nầy mang thi hài xác thịt cũng quên hết tiền kiếp, cửa huệ quang bị bí lối, không tự biết mình, không tự hiểu phẩm vị mình, vì mang xác phàm thì cái gì cũng phàm hết.

Trước có căn duyên ở ngọc cung,

Cầu con nên phải đến phân cùng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Hương lửa ba sanh Trời đã định,

Căn duyên phải phận giữ cho cùng.

(Đạo Sử).

 

 

CĂN DO

根 由

Căn: Rễ, gốc gác. Do: Bởi, theo, noi, tuỳ ở, căn cứ ở, tức từ biểu thị quan hệ nguyên nhân, nguồn gốc và kết quả, hậu quả.

Căn do, như chữ “Nguyên do 原 由”, là gốc tích, nguyên nhân sâu xa.

Như:Gặp trở ngại bất cứ một công việc gì phải tìm căn do xảy ra.

Phong cảnh hỏi qua xin khá tỏ,

Căn do hiểu thấu nói cho tàng.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Bỉ ngạn gần xa tường cội rễ,

Lôi âm cao thấp thấu căn do.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

CĂN KIẾP

根 劫

Căn: Cái gốc, rễ. Kiếp: Khoảng thời gian dài của một đời người.

Căn kiếp là cội rễ hay gốc của số kiếp.

Khi giảng về Bài Phật Mẫu Chơn Kinh, Đức Hộ Pháp có câu: Sự luân hồi chuyển kiếp của chúng ta, nẻo sanh tử là con đường đạt vị cao thăng: Sanh ra đặng trả căn kiếp ở thế gian theo luật nhơn quả, sanh đặng lập nghiệp đạt vị cũng có, mượn kiếp hữu sanh nầy lập vị cao thăng cũng có.

Sanh dưỡng đã biết bao căn kiếp,

Rồi dắt dìu cho hiệp với cha.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

CĂN MẠNG

Hay “Căn mệnh”.

Căn: Cái gốc, rễ. Mạng (mệnh): Mạng, hay vận số của con người, nghĩa bóng sự sống.

Căn mạng như chữ “Căn mệnh 根 命”, là gốc của sự sống con người.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Chưa ai hiểu đặng một người tài tình quán chúng, trí não cao sâu phải hạ mình làm người ngu dốt. Chưa có quyền năng nào mà đem một đứa ngu dốt lên làm ông Tể Tướng triều đình. Hàng phẩm căn mạng đều do Chí Tôn sở định.

Bao nhiêu lỗi trước tua kềm sửa,

Căn mạng nên Ta phải để lời.

(Đạo Sử).

 

 

CĂN NỢ

Căn: Gốc, gốc rễ. Nợ: Cái vay phải trả mà chưa trả được.

Căn nợ, bởi chữ Hán “Trái căn 債 根”, tức là món nợ có gốc rễ từ kiếp trước, kiếp hiện tại phải trả.

Căn nợ khiến cho hai người phải vay trả cho nhau. Người xưa quan niệm vợ chồng có duyên có nợ, tức là có nhân duyên, có căn nợ với nhau.

Phải căn nợ cách non cũng gặp,

Lỡ trái duyên vội gấp ra hư.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CĂN NGUYÊN

根 源

Căn: Rễ. Nguyên: Nguồn nước.

Căn nguyên là nguồn gốc, tức là cái gốc tích, hay cái duyên do.

Thánh giáo Chơn Cực Lão Sư có dạy: Ðấng Chí Tôn, vì thương dân tình nơi đây, đã khổ tâm gieo Ðạo, đem chiếc thuyền cận bến để dìu dắt vào chỗ bình địa đặng tự tại thung dung, mà vì chưa hiểu thấu căn nguyên, khổ bao giờ trông thoát?

Kính lập công to quy cựu vị,

Tặng tiền phát khởi lập căn nguyên.

(Cửu Nương Giáng Bút).

Dương thế căn nguyên tại thảm sầu,

Đường vinh hoa ấy tại Thiên lâu.

(Quyền Giáo Tông Giáng).

 

 

CĂN NGHIỆP

根 業

Căn: Gốc rễ. Nghiệp: Điều mình gây ra làm cái nhân để sau chịu quả báo.

Căn nghiệp, cũng như căn nghiệt, là những việc ác gây tạo ra từ kiếp trước làm gốc rễ cho việc báo ứng trong hiện kiếp.

Đã hay căn nghiệp là tên độc,

Mà cũng liên hoa thoát tục trần.

(Thanh Sơn Đạo Sĩ).

Lều tranh nương náu sống qua ngày,

Căn nghiệp còn vương chút nạn tai.

(Thơ Thuần Đức).

Níu phan Tiếp Dẫn lìa căn nghiệp,

Thoát khỏi mê đồ đắc quả duyên.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

CĂN NGHIỆT

根 孽

Căn: Gốc rễ. Nghiệt: Mầm ác.

Căn nghiệt là những việc ác gây ra từ kiếp trước (nghiệt) làm gốc rễ (căn) của các tai ương, hoạn hoạ xảy đến trong kiếp này.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có dạy: Lũ con hoang, hễ ra khỏi nhà thì toan gây tội: Căn nghiệt. Căn nghiệt là do tại nơi các con chớ không phải của Thầy dành để; vay trả phải cho rồi mới đặng quy hồi cựu vị.

Cương toả đương thời đã giải vây,

Đừng mơ căn nghiệt một đời này.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

CĂN PHẦN

Căn: Rễ, gốc gác. Phần: Phần số

Căn phần là gốc của phần số, tức phần số đã được định từ kiếp trước.

Mãn căn phần, đồng nghĩa với mãn phần là chết.

Trong Đạo Sử, Thánh giáo Thầy có dạy: Thầy cũng đau lòng, nhưng căn phần về sau của mỗi đứa đều định. Các con khá biết thương nhau mới chẳng uổng công trình đã bấy lâu cực khổ. Kẻ nào gieo sự chia phân, tương tàn cho các con là kẻ nghịch đường Chánh Giáo.

Ðã có căn phần dựa cảnh Tiên,

Bước đời chớ quản bậc sang hèn.

(Đạo Sử).

Hễ muốn trọn căn phần hữu phước,

Rán làm tề để được một chòm râu.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CĂN QUẢ

根 果

Căn: Cái gốc rễ. Quả: Trái, kết quả.

Căn quả là những việc làm thiện hay ác trong kiếp trước báo ứng trong kiếp này.

Thánh Giáo Thầy dạy: Thầy vì thương căn quả của các con mà lấy đức từ bi đặng Thiên phong cho các con là cố ý để cho các con hành đạo cho hoàn toàn, dễ bề tương công chiết tội tiền khiên, hầu nâng mình vào nơi cựu vị.

Nuôi nấng lấy xác thân hoà hoả,

Thuận Âm Dương căn quả hữu vi.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Căn quả nhân luân trả khó cùng,

Đừng vì hiếu nghĩa phế tâm trung.

(Huyền Hạo Chơn Quân).

 

 

CĂN QUẢ SỐ

根 果 數

Căn quả: Những việc làm thiện hay ác trong kiếp trước báo ứng trong kiếp này. Số: Mệnh số.

Căn quả số là mệnh số của mỗi con người do căn quả tạo nên, tức là những hành vi thiện ác nơi cõi trần trong kiếp trước đã gây ra báo ứng trong hiện kiếp.

Cung Bắc Đẩu xem căn quả số,

Học triều nghi vào ở Linh Tiêu.

(Kinh Tận Độ).

 

 

CĂN QUẢ TIỀN KHIÊN

根 果 前 愆

Căn quả: Gốc và kết quả, tức là những việc làm thiện ác của kiếp trước hiện ra trong kiếp sống hiện tại. Tiền khiên: Những tội lỗi đã gây ra trong kiếp trước.

Căn quả tiền khiên là những tội lỗi đã gây ra trong kiếp sống trước đã tạo thành căn quả (hay nghiệp quả) trong kiếp sống hiện tại.

Nhiều Thánh, Tiên, Phật, xuống phàm, nếu căn quả tiền khiên không mấy trọng hệ, nghĩa là kiếp trần duyên không chi phải nhơ bợn nhiều thì dầu không Thiên phong, hễ gắng tâm thiện niệm thì địa vị cũng đạt hồi đặng.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CĂN SANH

Căn: Gốc rễ. Sanh (sinh): Kiếp sống.

Căn sanh, như chữ “Căn sinh 根 生”, là cái gốc rễ của cuộc sống, nghĩa là do cái nhân của kiếp sống trước làm kết quả cho kiếp sống hiện tại.

Căn sanh đồng nghĩa với “Kiếp căn”.

Xem: Căn sinh.

Phải đủ căn sanh mới thấy Trời,

Ai ai đừng tưởng dễ như chơi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nhìn non chỉ nước làm hơn,

Mượn bầu tuế nguyệt giải hờn căn sanh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Nên biết căn sanh để biết mình,

Biết đâu tà chánh lựa mà tin.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

CĂN SINH

根 生

Hay “Căn sanh”.

Căn: Gốc rễ. Sinh (sanh): Kiếp sống.

Căn sinh (sanh) là cái gốc rễ của cuộc sống, tức là những việc làm thiện hay ác của kiếp trước làm ảnh hưởng cái số phận của kiếp sống này.

Do cái gốc rễ đó mà kiếp sống này được sung sướng hay khổ sở, giàu sang hay nghèo hèn.

Xem: Kiếp căn.

Đài Chiếu giám cảnh minh nhẹ bước,

Xem rõ ràng tội phước căn sinh.

(Kinh Tận Độ).

 

 

CĂN SỐ

根 數

Căn: Cái gốc rễ của sự việc. Số: Mạng vận đã được định trước.

Căn số là cái số mệnh đã được định trước.

Theo luật nhân quả, căn số tuỳ thuộc vào hành vi của kiếp trước, nếu kiếp trước làm những điều thiện thì kiếp nầy mạng số thọ hay tốt đẹp, nếu tiền kiếp gây những điều ác thì số mạng hiện tại phải chịu xấu xa.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bần Ðạo đã nhiều lo ngại cho căn số con cái của Chí Tôn trong buổi phiêu lưu nơi hải ngoại, e ra vì nhẹ dạ của đôi phần tử Thánh Thể của Thầy, nên vừa để gót về đất Tổ Ðình thì đã quên hẳn mảnh thân tiều tuỵ hao mòn...

Trăm năm chưa hẳn ngoài căn số,

Ðịa vị đỉnh chung chớ giựt giành.

(Đạo Sử).

Bảy chục xuân qua căn số mãn,

Phục hồi cựu vị hưởng Thiên ân.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

CĂN TA CA

Căn Ta Ca, hay “Găn Ta Ca”, là phiên âm từ Phạn ngữ Kantaka, Hán dịch là Càn Trắc 乾 陟 (hay Kiền Trắc), là con ngựa của Thái tử Tất Đạt Đa (Sĩ Đạt Ta).

Căn Ta Ca lúc nửa đêm chở Ngài cùng với quan giữ ngựa là Xa Nặc, bỏ cung vàng điện ngọc để đi đến nơi thâm sơn cùng cốc mà tu hành.

Sau đó, Ngài bảo ông Xa Nặc dẫn con ngựa Kiền Trắc trở về hoàng thành. Về đến thành, con Kiền Trắc liền bỏ ăn rồi chết.

Căn Ta Ca đỡ bước đi,

Ra thành Phật Tổ gặp kỳ ly cung.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

CĂN TỘI

Căn: Gốc rễ. Tội: Làm điều phạm pháp.

Căn tội, như chữ “Tội căn 罪 根”, tức là những tội lỗi gây ra từ kiếp trước, làm gốc rễ cho kiếp sống hiện tại.

Như: Bây giờ phải đáp trả những căn tội đã gây ra.

Xem: Tội căn.

Biết mình căn tội rửa chưa xong,

Chi dám tuông pha giữa bụi hồng.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

CĂN TU

Căn: Rễ, gốc. Tu: Sửa, tu hành.

Căn tu, do chữ “Tu căn 修 根” là chỉ gốc tu hành.

Thuyết về tiểu sử Đấng Jésus Christ, Đức Hộ Pháp có câu: Ðêm lễ Noel trong Ðền Thánh làm lễ long trọng như chúng ta làm lễ hôm nay vậy, hai vợ chồng đi lại từ làng Nazareth vô Ðền Thánh làm lễ.

Khi đó bà đã có thai gần ngày sanh, nghĩ mình đã có căn tu, đến ngày Ðại Lễ không thể ở nhà được, bụng mang dạ chửa, cũng rán đi đến chầu lễ thường lệ.

Con xin nương bóng Cao Đài,

Bước ra một bước cảm hoài căn tu.

(Kinh Thế Đạo).

Dần dà những hẹn với căn tu,

Ðau mắt không lo để đợi mù.

(Đạo Sử).

 

 

CĂN XƯA QUẢ CŨ

Hay “Căn xưa quả trước”.

Căn xưa: Những việc làm thiện hay ác của tiền kiếp. Quả cũ (Quả trước): Nghiệp quả gây ra từ kiếp trước.

Căn xưa quả cũ, đồng nghĩa với “Căn xưa quả trước”, là căn quả của kiếp sống trước.

Đức Chí Tôn có dạy: Nhơn loại dùng thế lực mà cắn xé nhau, giành giựt nhau, quên lửng cõi trần nầy, nhơn sanh lãnh mỗi đứa một vai tuồng đặc biệt mà trả cho xong căn xưa quả cũ.

1.- Căn xưa quả cũ:

Căn xưa quả cũ đã trả vẹn thì con đường đạo đức tất là nấc thang dìu đến phẩm cũ ngôi xưa.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

2.- Căn xưa quả trước:

Căn xưa quả trước chẳng chịu lo đền bồi, lại tự dẫn mình vào nơi hang thẳm, sau kết cuộc ra thế nào sẽ thấy.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CĂN XƯA QUẢ KIẾP

Căn xưa: Những việc làm thiện hay ác của tiền kiếp. Quả kiếp: Cái nghiệp quả gây ra từ kiếp trước.

Căn xưa quả kiếp là căn quả của kiếp sống trước, đồng nghĩa với căn xưa quả cũ và căn xưa quả trước.

Chốn Hư linh chờ ngày hội hiệp,

Dầu căn xưa quả kiếp dường bao.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

CẮN

Cắn là lấy răng nghiến vào. Như: Chó cắn, cắn miếng bánh mì, cắn chặt môi lại, cá cắn câu.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bần Ðạo tưởng mảnh thân nầy có phương thế đồng sống chung với mấy em trong cảnh gia đình ấm lạnh để cùng hiểu nhau những nỗi tân khổ sầu buồn thì Bần Ðạo rất hữu hạnh mà được chia mảy mún cũng đặng, dầu cắn hột muối hay ăn hột cơm rơi với mấy em, thì tưởng trọn kiếp sống của Bần Ðạo không có cảnh vinh quang phú quý nào trên thế gian nầy đối đặng.

Già răng rụng cắn cơm không bể,

Dâu kiếm phương nhai thế đút mồi.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CẮN RĂNG

Cắn: Lấy răng nghiến vào. Răng: Phần xương cứng, màu trắng mọc trên hàm, dùng để nhai, cắn.

Cắn răng là nghiến hai hàm răng lại để cố chịu đựng nỗi phiền muộn, nỗi đau đớn, không để bộc lộ ra ngoài.

Như: Cắn răng chịu đựng, cắn răng không nói.

Thà thấy dạng còn hơn hiu quạnh,

Nên cắn răng nhịn nhín tình thương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CẮN RỨT

Cắn: Lấy răng nghiến. Rứt: Giật mạnh cho đứt rời.

Cắn rứt là dùng miệng cắn cho đứt rời.

Cắn rứt còn có nghĩa là giày vò, ray rứt, lòng xốn xang không được yên.

Thánh giáo Thầy có câu: Hại nữa là các con lại bị nó tàng ẩn, xô cho dang nhau, bứt nghiến tình đoàn thể, chặt lìa dây liên lạc, giành xé cắn rứt nhau như kẻ khác nhà, gà riêng ổ, cho đừng có thế lực chi mà kình chống với chúng nó, rồi rốt cuộc lại thì các con phải lần lần bị manh mún phân chia, sa vào hang sâu vực thẳm.

Phải thường hỏi lấy mình, khi đem mình vào lạy Thầy buổi tối, coi phận sự ngày ấy đã xong chưa, mà lương tâm có điều chi cắn rứt chăng?

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CẮN XÉ

Cắn: Lấy răng nghiện vào. Xé: Làm cho rách, hay làm rách ra từng mảnh.

Cắn xé là cắn và xé, làm cho rách nát, đau đớn.

Thánh giáo Thầy có câu: Nhơn loại dùng thế lực mà cắn xé nhau, giành giựt nhau, quên lửng cõi trần nầy, nhơn sanh lãnh mỗi đứa một vai tuồng đặc biệt mà trả cho xong căn xưa quả cũ.

Luồng gió cạnh tranh, người thảy mắc mưu,

Khiến cắn xé hận cừu, dụng thầm mưu, mà hại đồng lưu trong màng chung đỉnh.

(Giác Mê Khải Ngộ).

 

 

CẰN CỖI

Cằn: Còi, không lớn lên, mọc lên được. Cỗi: Hết màu, không nẩy nở được nữa.

Cằn cỗi chỉ đất trồng trọt thiếu dinh dưỡng, bị cằn quá, không có chút màu mỡ.

Cằn cỗi còn có nghĩa là không đủ sức lớn và sớm trở nên già cỗi, do thiếu điều kiện dinh dưỡng.

Giảng về lương tâm, Thượng Sanh có câu: Thường ta thấy nơi trường đời người ta mượn cái lốt bề ngoài để lòe quần chúng để che khuất cái tâm khô khan cằn cỗi bên trong, đặng chờ dịp lừa phỉnh nhau và sát hại nhau.

Ngày qua thật đáng tiếc, nhất là khi sức đã mòn, tâm trí đã cằn cỗi mà công nghiệp đối với Ðạo và nhơn sanh vẫn còn là một con số không...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

CẰN NHẰN

Nhằn (nhẳn): Nói một cách dai dẳng để bộc lộ sự bực tức, giận hờn.

Cằn nhằn, là nói lẩm bẩm như có ý phàn nàn, bực tức hay giận dỗi.

Như: Nó cằn nhằn vì giấc ngủ bị phá khuấy.

Đừng giận mẹ cằn nhằn mắng nhiếc,

Vì lo con chẳng biết thế gian hùng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CẰN RẰN

Cằn rằn, như chữ “Cằn nhằn”, là nói lẩm bẩm như có ý bự tức, phàn nàn.

Như: Có gì không chịu thì em nói đi, ở đó mà cứ cằn rằn hoài vậy.

Xem: Cằn nhằn.

Đừng giận lẫy cằn rằn tính bỏ,

Các nguyên nhân hỏi ngõ cùng ai.

(Tứ Nương Giáng Bút).

 

 

CẲN NHẲN

Nhẳn: Như chữ nhằn, là nói dai dẳng để bộc lộ sự bực tức, giận hờn.

Cẳn nhẳn, như chữ “Cằn nhằn”, là nói lẩm bẩm như có ý bực tức, phàn nàn.

Như: Có gì không thích thì nói, đừng có ở đó cẳn nhẳn hoài nghen.

Xem: Cằn nhằn.

Nếu anh dạy chau mày bẳng hẳng,

Tiếng thấp cao cẳn nhẳn mắng trả thù.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CẶN KẼ

Cặn: Tạp chất trong nước, lắng xuống đáy. Kẽ: Khe nhỏ, chỗ hở.

Cặn kẽ là kỹ lưỡng, đầy đủ mọi khía cạnh.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có câu: Mặc dầu Đức Chí Tôn có để lời khuyên dạy cặn kẽ, Lão nhận thấy Chức sắc Hiệp Thiên và Cửu Trùng cũng còn hẫng hờ phận sự, chưa đem hết tiếng nói của Đại Từ Phụ vào não cân.

Vậy thì từ đây, hễ có mạng lịnh chi đã đủ hai đứa nó hạ truyền thì các con phải hội đủ Nhơn sanh, Hội Thánh và Thượng Hội mà xét nét cho cặn kẽ phân minh, đặng thi hành phận sự.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CẲNG

Cẳng là chân người hay chân súc vật. Như: Co cẳng chạy, ba chân bốn cẳng.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Con chim ở trên Trời, loài người đã khôn ngoan bắt một con bạn của nó cột cẳng hay xỏ mũi cho dính trong bẩy đặng gài, nó nhảy nha nhảy nhót, những con kia thấy cảnh thương tâm, nó xuống chịu khổ với bạn, nên mới bị bắt.

Kế cao âu rõ phép Trời cao,

May đặng đường Tiên cẳng bước vào.

(Đạo Sử).

Bảy Lão nhắc tình già vẹo cẳng,

Ba Bà hỏi việc mụ ham thi.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Co cẳng muốn vào rồi lại thụt,

Biểu thương sao đặng buộc người thương?

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

 

 

CẶP

Cặp là một đôi, tức tập hợp gồm hai cá thể, hai vật cùng loại đi đôi với nhau.

Như: Cặp mặt, cặp môi, cặp đèn cầy, cặp vợ chồng.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có câu: Lão nghĩ như thế nên nhứt định tái thủ quyền hành, đem cặp nhãn thiêng liêng thay vì cặp nhãn của Thầy, đặng thấy giùm mọi điều cho chư hiền hữu, chư hiền muội, đặng quyết thắng chúng sanh trong kỳ Khai Ðạo nầy, thì Lão tưởng khi Lão chưa phải là người vô dụng vậy.

Cặp liễn tang còn câu long ám,

Hạc quy hồi lãnh đạm trần ai.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Chồng biết vợ muốn toan hót nịnh,

Cặp mắt nhìn tôn kính sắc vợ nhà.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CẶP ĐÈN

Cặp: Một đôi, tức tập hợp gồm hai cá thể, hai vật cùng loại đi đôi với nhau. Đèn: Đồ dùng để soi sáng.

Cặp đèn trên Chánh Điện thờ Đức Chí Tôn được gọi là đèn Lưỡng nghi, tượng trưng cho mặt trời, mặt trăng hay Dương Âm.

Trong vũ trụ mặt trời, mặt trăng đã thay nhau soi sáng khắp cả Càn khôn, hết đêm đến ngày, hết ngày đến đêm, từ tháng này qua tháng nọ, hết năm nọ đến năm kia, cứ tuần hoàn mãi mãi không bao giờ dứt. Mặt trời soi sáng ban ngày nên tượng cho Dương, còn mặt trăng chiếu rọi ban đêm nên tượng cho Âm.

Vậy cặp đèn cũng tượng trưng cho Âm Dương, cây đèn bên tả thuộc Dương (thắp trước), cây đèn bên hữu thuộc Âm (thắp sau).

Cặp đèn là tiểu âm dương,

Tức là Nhựt, Nguyệt chiếu chương đêm ngày.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

CẶP KÈ

Cặp: Một đôi, tức là hai cá thể hoặc hai vật cùng loại. Kè: Theo sát bên cạnh.

Cặp kè là theo liền bên cạnh, không rời nhau.

Như: Hai đứa cặp kè nhau tựa hình với bóng.

Hai đàng cặp kè với nhau mà đi dầu chậm cũng phải đi từ từ nhi tiến.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

CẶP LIỄN TANG

Cặp: Song, đôi. Liễn tang: Hai câu đối về ý nghĩa tang lễ được đặt trước bàn thờ.

Cặp liễn tang tức là một cặp đối được viết để hai bên bàn thờ tang.

Nội dung cặp đối này được viết theo hoàn cảnh người chết. Ví dụ như nói về ý nghĩa liễn thờ cha, thờ mẹ, thờ vợ, hay thờ chồng,...

Cặp liễn tang còn câu long ám,,

Hạc quy hồi lãnh đạm trần ai.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CẮT

1.- Cắt là dùng vật sắc bén mà cứa đứt một vật gì. Như: Lấy dao cắt dây, cắt quần áo, ruột đau như cắt.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Cắt ruột, ai lại không đau, nếu Thầy không cầu khẩn Thái Bạch đình hình phạt lại cho tới ngày lập thành Toà Thánh, các con lấy công mà chuộc tội, thì trong các con chẳng đặng còn lại một phần mười, các con nên lấy lời răn Thầy đây làm vị thuốc khử tội của các con.

Con khổ mà cha sướng đặng nào,

Ai từng cắt ruột lại không đau.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

Phải cho khéo mới ra tài khéo,

Liệu vụng đừng nắm kéo cắt đồ.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Cắt là chia, sắp đặt hoặc sai khiến.

Như: Cắt người canh gác, cắt phiên, cắt cử, cắt trực.

Trong Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Một ban 4 đứa đãi bọn Thượng lưu và Lang Sa; một ban đãi bọn Trung lưu; một ban đãi bọn Hạ lưu; song phải cắt ba vị Phó phụ sự ra ba ban đặng cai quản.

Mặc dù không cắt người canh giữ, nhưng tội nhơn không khi nào dám bước ra khỏi cái vòng vẽ đó và đợi đến mãn giờ phạt, có lịnh cho đi mới dám đi.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

CÂY

1.- Cây là tiếng gọi chung các loại thực vật. Như: Cây cau, cây cam, cây cội nước nguồn.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Còn bực chơn tu, tỉ như một hột giống tốt, hễ gieo xuống thì cây lên, cây lên thì trổ bông, rồi sanh trái mà biến biến sanh sanh càng tăng số.

Tu như cỏ úa gặp mù sương,

Ðạo vốn cây che mát mẻ đường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cây muốn tịnh nhành rung vì gió,

Trăng ánh mờ mất tỏ vì mây.

(Lục Nương Giáng Bút).

2.- Cây chỉ đơn vị riêng lẻ của vật gì có hình dài như thân cây. Như: Cây cột, cây nọc, cây nến, cây gậy.

Thánh giáo Lý Giáo Tông có đoạn dạy: Ðạo hữu phải khai phá đám rừng trước miếng đất ấy. Như vậy, ngay trung tim rừng, cách miếng đất trống chừng 3 thước rưỡi, đóng một cây nọc, đo Hiệp Thiên Ðài như vầy: Ngoài Bàu Cà Na đo chừng 50 thước, đóng một cây nọc, ấy là khuôn viên Toà Thánh.

Đạp giày cỏ nương cây gậy bá,

Mặc áo tơi nón lá che thân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CÂY CÓ CỘI NƯỚC CÓ NGUỒN

Cây có cội: Cây có gốc, ý chỉ cây từ gốc sinh ra. Nước có nguồn: Nước từ nguồn chảy ra.

Cây có cội nước có nguồn, nói tắt là “Cây cội nước nguồn”, do câu “Mộc bổn thuỷ nguyên 木 本 水 源”, ý nói con người có nguồn cội là ông bà, cha mẹ.

Cây có cội nước có nguồn ý muốn nói phải nhớ đến nguồn gốc của mình.

Xem: Cây cội nước nguồn.

Cây có cội, nước có nguồn,

Mồng mười giỗ Tổ Đức Hùng Vương.

(Thơ Thân Dân).

 

 

CÂY CỎ

Cây: Loại thực vật có thân lá rõ rệt. Cỏ: Loại cây nhỏ thân mềm, dùng làm thức ăn cho trâu bò.

Cây cỏ, như chữ “Cỏ cây”, là cỏ và cây, chỉ chung các loại cây trong thiên nhiên.

Thánh giáo Thầy có dạy: Thầy nói một lần từ đây nhớ lấy: Dầu cho sắt đá cỏ cây, mà nghe đến Thánh Ngôn nơi Thầy do con nói ra cũng hoan nghinh, huống lựa là người. Con nhớ và an lòng.

Nguồn Đạo thể như là cây cỏ,

Hễ gặp sương phới phở đâm chồi,

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

Im lìm cây cỏ vẫn in màu,

Mờ mệt vườn xuân điểm sắc thu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Xem cây cỏ như màu thảm đạm,

Ngó thú cầm dường cảm đau thương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CÂY CỐI

Cây: Loài thực vật có thân, lá rõ rệt.

Cây cối nói chung là các loại cây thuộc về thực vật.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Qua mơ ước tâm hồn của cả thảy trong một năm già cỗi, trong lúc xuân đến, cây cối nở lá nở bông, tốt tươi trở lại, tức nhiên là được phục sinh lại thì cả tâm hồn của chúng ta cũng phục sinh như thế.

Kiểng vật thường tưới nước cho tươi,

cây cối thở hơi tinh khiết.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CÂY CỘI NƯỚC NGUỒN

Cây cội: Cây có gốc. Nước nguồn: Nước có nguồn.

Cây cội nước nguồn, bởi chữ “Mộc bổn thuỷ nguyên 木 本 水 源”, là cây có cội, nước có nguồn, nghĩa bóng nói con người có nguồn cội là ông bà, cha mẹ. Ý chỉ phải nhớ đến nguồn gốc của mình.

Xem: Nước nguồn cây cội.

Cây cội nước nguồn toan vẹn phận,

Kiếp tu nhân cách đắc cơ duyên.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

CÂY ĐA

Cây đa là một loại cây lâu năm, có thân cao, to, thường được trồng ở các đình, miếu, có nhiều cây sống cả mấy trăm năm.

Truyện cổ tích trong dân gian tương truyền rằng trên mặt trăng có cây đa và chú cuội. Do vậy cây đa chú cuội cũng dùng để chỉ mặt trăng.

Phải chi lên được cây đa ngắm,

Cả một trời trăng sáng tợ trăng.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

CÂY LIỀN CÀNH

Cây: Loài thực vật có thân, lá rõ rệt. Liền cành: Cành liền với nhau.

Cây liền cành tức là hai cây có cành liền với nhau.

Do điển: Vợ Hàn Bằng tên là Hà Thị, là người đàn bà đẹp người đẹp nết, đến đỗi Tống Khang Vương thấy rồi mê thích. Nhưng biết Hà Thị là người tiết hạnh, khó mà ép uổng cho được, bèn ra lịnh giết Hàn Bằng.

Vậy mà Hà Thị vẫn cương quyết không chịu thất thân với Khang Vương, cắn lưỡi tự tử và để lại một bức thư xin được chôn chung với chồng.

Tống Khang Vương tức giận, chôn hai mộ song song nhưng cách xa nhau. Sau người ta thấy mỗi ngôi mộ mọc lên một cây to, trên thì có cành giao nhau, còn dưới thì rể ăn liền với nhau.

Trong bài Trường hận Ca của Bạch Cư Dị có câu: Tại địa nguyện vi liên lý chi, 在 地 願 為 連 裏 枝, nghĩa là dưới đất nguyện làm cây liền cành.

Nghĩa bóng: Chỉ vợ chồng gắn bó không rời nhau.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Chim kết cánh, cây liền cành; rất đổi là con vật mà cũng có tình ái thay, nên luật thiên nhiên lấy tình ái làm căn bản hoá sanh cả vạn loại.

Chim kết cánh, cây liền cành,

Còn thân thiếp chịu một mình đơn cô.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CÂY MUỐN LẶNG

Cây: Loài thực vật có thân, lá rõ rệt. Muốn lặng: Muốn yên tĩnh, không bị xao động.

Cây muốn lặng, bởi câu cổ ngữ “Mộc (Thụ) dục tĩnh nhi phong bất tức, tử dục dưỡng nhi thân bất tồn 樹 欲 靜 而 風 不 息, 子 欲 養 而 親 不 存, nghĩa là cây muốn lặng mà gió chẳng dừng, con muốn phụng dưỡng mà cha mẹ không còn. Ý nói người con than tiếc cha mẹ đã mất, không kịp chăm lo, phụng dưỡng.

Cây kia muốn lặng, không dừng gió,

Tứ khổ ai lâm cảnh ngộ này.

(Thơ Hoàn Nguyên).

Tha mồi thấy quạ lòng đau đớn,

Muốn lặng nhìn cây gió xót xa.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

CÂY NGÔ

Cây: Loài thực vật có thân, lá rõ rệt. Ngô: Ngô đồng.

Cây ngô tức cây ngô đồng, một loại cây mùa thu đến thường hay rụng lá.

Cành cây ngô đồng là nơi chim phượng hoàng thường hay đậu, vì thế thơ Đỗ Phủ có câu: Bích ngô thê lão phụng hoàng chi 碧 梧 棲 老 鳳 凰 枝, tức là cành ngô biếc là cành chim phượng hoàng đậu đã già rồi.

Xem: Ngô đồng.

Cây ngô rụng cánh lá vàng,

Đâu đây trầm mặc đôi hàng quỳnh hoa.

(Phù Kiều Hận Sử).

 

 

CÂY RỪNG TRĂM TUỔI

Cây rừng: Cây trong rừng. Trăm tuổi: Trăm năm.

Cây rừng trăm tuổi ý nói cây sống trong rừng sâu hằng trăm năm.

Cây rừng trăm tuổi, do câu thi cổ nhân đã than về tuổi thọ con người ngắn ngủi: Sơn trung tự hữu thiên niên thụ, Thế thượng nan phùng bách tuế nhân 山 中 自 有 千 年 樹, 世 上 難 逢 百 歲 人, nghĩa là cây trong rừng tự có ngàn năm sống, kẻ ở đời khó kiếm người trăm tuổi.

Cây rừng đã có dư trăm tuổi,

Người sống bao lâu luận phú bần.

(Thơ Thông Quang).

 

 

CÂY TRĂM THƯỚC

Cây: Loài thực vật có thân, lá rõ rệt. Trăm thước: Ý nói thân cây dài cả trăm thước.

Cây trăm thước tức cây Bồ đề, ý chỉ sự tu hành.

Trong Kinh Phật có câu: Bồ đề bách xích thụ, liên toạ tứ thời hoa 菩 提 百 尺 樹, 蓮 座 四 時 花, nghĩa là bồ đề cây trăm thước, toà sen hoa bốn mùa.

Chính Thái Tử Sĩ Đạt Ta ngồi thiền định dưới cội cây Bồ Đề này mà thành đạo.

Vì thế, chữ cây trăm thước dùng để chỉ sự tu hành.

Cây trăm thước đổi hương tàn,

Treo y bá nạp làm màn phòng the.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Cây trăm thước trông qua sân Điện,

Rừng Thiên Nhiên đối diện trung cung.

(Thơ Tuệ Nhật).

 

 

CÂY TRĂM THƯỚC BẮC THANG BẾN KHỔ

Cây trăm thước: Cây bồ đề, chỉ sự tu hành. Bến khổ: Cũng như biển khổ, chỉ cõi tục.

Cây trăm thước bắc thang bến khổ ý nói sự tu hành như một cái thang đưa người tu vượt qua bể khổ, để đến bờ Cực Lạc.

Cây trăm thước bắc thang bến khổ,

Hoa bốn mùa thơm chỗ nhớp nhơ.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CẤY

Cấy là cắm cây con xuống đất cho cây tiếp tục sinh trưởng. Như: Cấy lúa, cấy rau, cấy hái, chồng cày vợ cấy.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có đoạn: Vật hữu sanh, chúng ta thấy cây lúa mới cấy nó nằm nghiêng, sau khi sống nó đứng thẳng đầu lên. Hỏi nó tìm ai? Tìm Ðấng Tạo Ðoan.

Chịu cực khổ đắng cay biết mấy,

Cuốc, cày, bừa, gieo, cấy, gặt, đong.

(Kinh Sám Hối).

Phải chăm nom cấy, gặt, đập, dê,

Nuôi công đủ mọi bề đừng thiếu thốn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CẬY

1.- Cậy là nhờ vào, nhờ giúp việc gì, nhờ giúp đỡ. Như: Cậy giữ nhà giùm, cậy mai cậy mối.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy Ngài Quyền Giáo Tông có câu: Trung, con ráng khuyên can bạn con và ráng mà tuân lời Lý Bạch. Ấy là hai chuyện Thầy cậy con.

Cậy kẻ dạy con cũng lẽ thường,

Cho roi cho vọt mới là thương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thương gìn lúc ốm khi đau,

Sợ chê xấu phận, cậy màu phấn son.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Cậy còn có nghĩa ỷ vào ưu thế nào đó của mình.

Thánh giáo Thầy có đoạn dạy: Lễ Nhạc chẳng hoàn toàn, nhiều đứa cậy tài học giỏi, lượm lặt sách xả rác hủ nho, mong bài bác đặng vinh mặt. Thầy bây giờ chỉn để phú Thiên điều hành luật

Quanh đường chớ cậy chơn Kỳ Ký,

Ngược gió tài chi sức Hộc Hồng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

CẬY MÌNH TÀI

Cậy: Ỷ vào ưu thế nào đó của mình. Mình: Chỉ về bản thân. Tài: Có khả năng làm được việc.

Cậy mình tài, như câu thành ngữ “Tài bất khả ỷ 才 不 可 倚”, có nghĩa là có tài đừng nên cậy tài.

Đừng lòng kiêu hãnh cậy mình tài,

Nên nhớ chữ tài cận chữ tai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

CẬY NƯƠNG

Cậy: Nhờ làm giup việc gì, nhờ giúp đỡ. Nương: Dựa vào để có sự che chở, giúp đỡ.

Cậy nương, như chữ “Nương cậy”, là dựa vào sự giúp đỡ của người khác.

Cậy nương đồng nghĩa với Nương nhờ.

Xem: Nương cậy.

Đạo vợ chồng là đạo tào khương,

Mình đi nỡ cậy nương ai lập sẵn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CẬY NHỜ

Cậy: Nhờ làm giúp việc gì, nhờ giúp đỡ. Nhờ: Yêu cầu người khác giúp đỡ.

Cậy nhờ, như chữ “Nhờ cậy”, là dựa vào sự giúp đỡ của người khác.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Vậy Bần Đạo cậy nhờ cả toàn thể con cái Đức Chí Tôn thành tâm cầu nguyện đặng nạn chia đôi Hoàng Đồ của chúng ta thống nhứt lại.

Hình hài Thánh thể chừ nên tướng,

Đài trọng hồng ân gắng cậy nhờ.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Bầy gà mất mẹ kiếm bơ vơ,

Yếu đuối biết ai để cậy nhờ.

(Đạo Sử).

 

 

CẬY SỨC

Cậy: Nhờ giúp đỡ, ỷ vào ưu thế nào đó của mình. Sức: Sức lực, tài sức.

Cậy sức là dựa vào sức lực, hay ỷ thế vào tài sức của chính mình.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Dũng cảm đối với Ðức Khổng Tử không phải là cậy sức làm liều mạng, mà Dũng là giữ niềm hoà khí, lúc nào cũng sống với đạo lý của mình, ý chí không thể bị lay chuyển dù là lúc bình thường hay trong hồi nguy biến.

Mùi đời đã nếm biết chua cay,

Giành giựt còn mong cậy sức tài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Hễ người mạnh thì hay cậy sức,

Phận liễu bồ lấy lực mưu mô.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CẬY TÀI

Cậy: Ỷ vào ưu thế nào đó của mình. Tài: Khả năng đặc biệt làm một việc gì đó.

Cậy tài là ỷ vào tài năng, sức lực của mình.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Lễ Nhạc chẳng hoàn toàn, nhiều đứa cậy tài học giỏi, lượm lặt sách xả rác hủ nho, mong bài bác đặng vinh mặt.

Đừng ỷ thế cậy tài dụng sức,

Rối tơ duyên toan bứt cho rồi.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CẬY THẾ

Cậy: Ỷ vào ưu thế nào của mình hay người khác. Thế: Thế lực, quyền thế.

Cậy thế là ỷ vào thế lực (quyền thế) của mình hay của người khác.

Thuyết về Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống, Đức Hộ Pháp có câu: Vợ tốt hơn mình thì nó ăn hiếp mình, nó cậy sang, nó biết nó đẹp hơn mình, vì mình thương nó quá nên nó cậy thế nó đè đầu mình xuống nó dọi đầu mình.

Tình chung đặng cậy thế người sang,

Mượn tiếng khua môi với xóm làng.

(Giới Tâm Kinh).

Đừng cậy thế làm chồng lấn lướt,

Chẳng đoái thương chất nhược liễu bồ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CẬY THẾ Ỷ QUYỀN

Cậy thế: Nhờ cậy vào thế lực của mình hay của người khác. Ỷ quyền 倚 權: Dựa vào quyền lực của mình hay của người khác.

Cậy thế ỷ quyền là nhờ cậy vào quyền thế.

Trong Thiên Đạo, Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có viết: Đối đãi với người không phân giai cấp, không phân quốc tịch; chẳng so đo phú bần quý tiện; lấy đức làm trọng, lấy đạo làm cao; không cậy thế ỷ quyền, không xu phụ người thế lực; xem ta như người; xem người như ta. Đó là bình đẳng.

Người nghèo khổ biết sao than kể,

Kẻ lễ nhiều cậy thế ỷ quyền,

(Kinh Sám Hối).

 

 

CẬY THẾ Ỷ THỜI

Cậy thế: Nhờ cậy vào thế lực của mình hay của người. Ỷ thời: Dựa vào thời, lúc.

Cậy thế ỷ thời là cậy dựa vào thời thế.

Như: Bây giờ anh nó làm quan lớn, nên nó hay cậy thế ỷ thời lắm.

Rủi gặp em cậy thế ỷ thời,

Khá nhớ bé tập chơi đi lững đững.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CÂM

Câm là không nói ra tiếng, hoặc mất khả năng nói do bị bệnh tật. Như: Bé vừa câm vừa điếc.

Câm còn có nghĩa là im lặng chẳng nói, chẳng phát ra tiếng nữa. Như: Ngồi câm lặng không nói.

Dám hỏi giang sơn đây mấy chủ,

Dân nào có miệng chịu làm câm.

(Bát Nương Giáng Bút).

Chất mối sầu tư ruột nát bầm,

Thời thôi đành phải giả làm câm.

(Thơ Thượng Sanh).

Ai biết ta chăng? Ta tự biết,

Riêng hiềm có miệng cũng như câm.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CẤM

Cấm là không cho phép làm việc gì đó, hoặc đi qua một khu vực nào đó.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Thầy cấm không cho dị nghị việc người, nhứt là đạo hữu của các con thì đừng phạm đến kẻo tội nghiệp. Chi chi cũng phải nhớ quyết rằng có Thầy trong đó.

Nào khi cửa then gài mấy lớp,

Cấm vườn xuân nườm nượp én anh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Nẻo danh lợi vào ra ai cấm,

Mắt sáng soi cái dặm quan hà.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CẤM ĐÌNH

禁 庭

Cấm: không cho phép làm việc gì đó, hoặc đi qua một khu vực nào đó. Đình: Cái sân.

Cấm đình là sân cấm người lui tới, chỉ sân trước cung điện của vua.

Nửa đêm lạc bước đường trần,

Tình cờ đưa đẩy dừng chân cấm đình.

(Phù Kiều Hận Sử).

 

 

CẤM NHẶT

Cấm: Không cho phép. Nhặt: Nghiêm ngặt.

Cấm nhặt là cấm gắt gao, không được phép làm.

Trong Đạo Sử, Thánh giáo Thầy day Ngài Trung có đoạn dạy: Xuống đó không phải cầu Thầy, chỉ nói Ðạo và khuyên nhủ chư Ðạo Hữu là đủ. Cấm nhặt Cơ Bút, chúng nó có tự chuyên thì để Lý Thái Bạch trọn quyền định đoạt.

Cấm nhặt không cho Hiến Thế thông đồng cùng Hiến Pháp và Hiến Đạo.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

CẦM

1.- Cầm là dùng tay để giữ lấy một vật gì. Như: Cầm tiền, cầm bút viết, cầm tay nhau.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Thầy nói cho các con hiểu, bực Chơn Thánh mà phải đoạ trần, nếu không đủ tánh chất để dìu dẫn nhơn sanh thì cũng chưa xứng đáng cầm bút cho Thầy truyền Ðạo.

Cầm mối Thiên Thơ lo cứu chúng,

Ðạo người vẹn vẻ mới thành Tiên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nấu kinh sử ra mùi son phấn,

Cầm bút nghiên đặng thắm má đào.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Cầm là vay hay cho vay tiền, nhưng phải thế đồ vật để làm tin.

Như: Cầm đồ vật, cầm thế nhà cửa, cầm ruộng đất cho địa chủ, cầm cố.

Làm mặt phải bạc ngàn cúng Phật,

Ép kẻ nghèo cố đất cầm vườn.

(Kinh Sám Hối).

3.- Cầm là tên một thứ đàn, gảy đàn.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Nhạc là món ăn tinh thần đứng đầu trong bốn thú phong lưu của Thánh hiền thời xưa là cầm, kỳ, thi, hoạ và các bậc Thánh hiền đã dùng Nhạc để đạt đến lý tưởng cao siêu, giúp ích cho sự kinh bang tế thế, xây dựng nước nhà.

Phòng đào giữ rủi rơi trâm,

Sợ lơi hơi sắt, tiếng cầm lạc cung.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Tiếng cầm ấp lỗ đương êm ái,

Ngọn bút thần cơ đã đoạn phân.

(Thơ Huệ Giác).

4.- Cầm là loài chim. Như: Cầm thú, gia cầm.

Trong Thiên Đạo, hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có câu: Lại sự sống ấy còn hàm dưỡng một giác tánh biểu lộ từ cây cỏ thú cầm cho đến loài người thì chuyển thành cái trí khôn linh diệu lạ lùng.

Kìa cầm điểu bẻ cành kết ổ,

Nọ thú trùng moi lỗ làm hang.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Thú cầm mập mạp bầy thong thả,

Non nước trong veo trái dẫy đầy.

(Thiên Thai Kiến Diện).

5.- Cầm bắt, giữ, không dùng một mình. Như: Cầm tù, cầm ngục, giam cầm.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Đàng sau Anh cả chúng ta buổi nọ không có cái hậu thuẫn chi hết, cả thảy đều bo bo chết anh, anh chịu, chết em, em chịu, không biết binh vực lẫn nhau, không có một hậu thuẫn biểu sao cường quyền không áp chế bắt cầm tù đặng thị nhục.

Ngục đao kiếm cầm giam phạm ác,

Tánh gian dâm hành phạt gớm ghê.

(Kinh Sám Hối).

Thành Uổng tử cheo leo gớm ghiếc,

Cầm hồn oan rên xiết khóc than.

(Kinh Sám Hối).

 

 

CẦM BẰNG

Cầm bằng là cứ xem như, cứ kể như là, tức dùng để nêu một giả thiết, coi đó là trường hợp xấu nhất đành phải chấp nhận. Như: Cầm bằng như không sinh nó ra.

Ca dao Việt Nam có câu: “Lòng ta đã quyết thì liều, Cầm bằng con trẻ chơi diều đứt dây”.

Cầm bằng Chức nữ biệt Ngưu lang,

Vĩnh viễn tơ duyên hết bảo toàn.

(Thơ Nguyễn Trung Nhơn).

 

 

CẦM CÂN

Cầm: Nắm giữ. Cân: Đồ dùng để đo về sức nặng.

Cầm cân là nói người đứng ra cân đo, ý muốn nói phải giữ sự công bằng.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy: Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật còn phàn nàn trách cứ Thầy thay! Các con ôi! Ðã gọi là Ðấng cầm cân, lẽ công bình thiêng liêng đâu mà Thầy đặng phép tư vị.

Mạnh yếu rồi đây yếu được phần,

Ðược phần máy Tạo khéo cầm cân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cầm cân thăng thưởng răn người thế,

Người thế sao cho hạnh chói ngần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

CẦM CÂN NẢY MỰC

Cầm cân: Đứng ra cân lường. Nảy mực: Búng đường mực để ghi đường thẳng.

Cầm cân nảy mực là có vai trò gìn giữ cho mọi việc đều đúng đắn và công bằng, ý chỉ người làm quan cầm cân công lý phải giữ sự công bằng.

Sẻ áo chia cơm còn khiếu nại,

Cầm cân nảy mực khó tri căn.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

CẦM ĐIỂU

禽 鳥

Cầm: Tiếng gọi chung các giống vật biết bay. Điểu: Chỉ loài chim.

Cầm điểu là nói chung các loại chim.

Như: Cầm điểu, thú trùng đều do tạo hoá sinh ra.

Kìa cầm điểu bẻ cành kết ổ,

Nọ thú trùng moi lỗ làm hang.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CẦM ĐƯỜNG

琴 堂

Cầm: Cây đàn. Đường: Ngôi nhà.

Cầm đường chỉ nơi làm việc của quan huyện.

Do tích chép từ sách Lã Thị Xuân Thu như sau: Học trò của Đức Khổng Phu Tử là Mật Tử Tiện làm Tri huyện Đan Phụ. Thường ngày, nơi huyện đường, ông chỉ đàn hát, vậy mà dân trong hạt đều an cư lạc nghiệp. Sau đó triều đình có phái Vu Mã Tử Kỳ đến thay thế Tử Tiện.

Tử Kỳ đến làm việc suốt cả ngày, không lúc nào rỗi rảnh, như vậy trong hạt mới được yên ổn. Gặp Tử Tiện, Tử Kỳ mới hỏi: Công việc ở huyện tôi phải làm một cách cực lực, dân tình mới được yên ổn, còn ông, tôi thấy chỉ đánh đàn mà thôi, sao mọi việc lại chu tất hết? Tử Tiện mỉm cười đáp: Tôi không làm nhưng điều hành thuộc hạ làm, còn ông tự làm lấy. Ai biết dùng người thì người đó khoẻ, ai không biết dùng người thì tự làm lấy, ắt phải mệt.

Do câu chuyện trên người sau mới gọi nơi làm việc của quan huyện là “Cầm đường”.

Lộc Hớn từ vinh Trương học chước,

Cầm đường tiếng hạc phủi muôn chung.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

CẦM HẠC

琴 鶴

Cầm: Cây đàn. Hạc: Chim hạc.

Cầm hạc nghĩa là một cây đàn và một con chim hạc.

Do tích Triệu Thanh Hiến đời nhà tống được triều đình cho trấn giữ đất Thục.

Khi đi phó nhậm, ông không đem theo vợ con hay đầy tớ chi cả, mà chỉ đi một mình cùng với một cây đàn và một con chim hạc.

Nghĩa bóng: Chỉ cảnh phong lưu nhàn hạ.

Cầm hạc ngao du dưới bóng hồng,

Mắt xanh để ngó máy thanh không.

(Bát Nương Giáng Bút).

Gắng đề phòng bả lợi đua tranh,

Cầm hạc giữ đạm thanh khi sớm tối.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

Chi bẳng riêng vui cầm hạc thú,

Sớm nương Tuý Lãnh, tối Kỳ San.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

CẦM KỲ THI TỬU

琴 棋 詩 酒

Hay “Cầm kỳ thi hoạ 琴 棋 詩 畫”.

Cầm: Gảy đàn. Kỳ: Đánh cờ. Thi: Ngâm thơ. Hoạ: Hội hoạ. Tửu: Uống rượu.

Cầm kỳ thi tửu hay cầm kỳ thi hoạ là bốn thú tiêu khiển của người nho phong, tao nhã.

Trong Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Nhạc là món ăn tinh thần đứng đầu trong bốn thú phong lưu của Thánh hiền thời xưa là Cầm, Kỳ, Thi, Hoạ và các bậc Thánh hiền đã dùng Nhạc để đạt đến lý tưởng cao siêu, giúp ích cho sự kinh bang tế thế, xây dựng nước nhà.

Nghĩa bóng: Chỉ cảnh phong lưu.

Cầm, kỳ, thi, tửu khuây tuồng thế,

Phú, quý, công, danh luống đoạn trường.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

CẦM LOAN

琴 鸞

Cầm: Cây đàn. Loan: Chim loan, là một loài chim với chim phụng, con trống gọi là phụng, con mái gọi là loan.

Sách Ngoại Truyện chép: Xứ Tây Tạng có một loại keo được chế bằng máu con chim loan. Keo chim loan gắn phím đàn rất tốt.

Cầm loan là thứ đàn cầm gắn phím bằng keo con chim loan, chỉ vợ chồng gắn bó, khắng khít nhau.

Xem: Giao loan 膠 鸞.

Khúc trỗi cầm loan dây Túc đế,

Nhịp xây cầu quạ, bến Ngân hà.

(Thơ Thuần Đức).

Phận bạc cầm loan dây sớm dứt,

Khen không nối lại mối tơ đồng.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

CẦM NGUYỆT

琴 月

Cầm: Cây đàn. Nguyệt: Mặt trăng.

Cầm nguyệt, bởi chữ “Nguyệt cầm 月 琴”, là tên một loại đàn tỳ bà, đó là đàn nguyệt, hay hồ cầm.

Theo sách Văn hiến thông khảo thì cầm nguyệt (Nguyệt cầm) chính là hồ cầm, hay đàn Tỳ bà.

Xem: Nguyệt cầm.

Tri âm ví đáng dây cầm nguyệt,

Đừng đem tình chí thiết giao hoan.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Cầm nguyệt lên dây tuôn luỵ đổ,

Cúi đầu nhìn nước chảy hoa trôi.

(Thơ Thượng Phẩm).

 

 

CẦM QUYỀN

Cầm: Nắm lấy, giữ lấy. Quyền: Quyền hành.

Cầm quyền là nắm giữ chánh quyền. Nhà cầm quyền là chỉ chánh quyền.

Cầm quyền còn là nắm lấy quyền hành.

Trong bài Tuyên dương Bà Hương Hiếu trong cuộc lễ Tấn phong Nữ Đầu Sư, Đức Sanh có dạy: Phải sợ Đức Chí Tôn và Phật Mẫu hơn sợ mích lòng người thì mới hẳn là vô tư, còn vị nể cá nhân hơn tôn trọng luật Đạo thì chẳng phải là tư cách của người cầm quyền.

Nắm phướn từ bi dìu chủng tộc,

Cầm quyền bác ái định chơn tông.

(Đức Lý Đại Tiên).

Hiệp Tạo hoá cầm quyền chuyển thế,

Dạy vạn linh dụng thế từ bi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Vốn Đấng cầm quyền gieo Đạo cả,

Dầu cho nhựt nguyệt cũng kiêng oai.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

CẦM SẮT

琴 瑟

Cầm sắt là đàn cầm và đàn sắt, là hai loại đàn âm thanh thường hoà hợp nhau, dùng để chỉ đôi vợ chồng hoà hợp với nhau.

Trong Kinh Thi có câu: Yểu điệu thục nữ, cầm sắt hữu chi 窈 窕 淑 女, 琴 瑟 友 之 (Vợ chồng hoà hợp nhau như gảy đàn sắt đàn cầm). Người ta thường dùng hai câu sau để chúc tụng đôi vợ chồng thương yêu, hoà hợp: Loan phượng hoà minh, sắt cầm hảo hiệp 鸞 鳳 和 鳴, 瑟 琴 好 合.

Nghĩa bóng: Chỉ vợ chồng hoà hợp.

Thà cho đáng mặt thuyền quyên,

Đừng làm cầm sắt ra duyên bĩ bàng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Cầm sắt năm cung dầu xứng nhịp,

Keo loan thử chấp mối tơ mành.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CẦM THI

琴 詩

Cầm: Gảy đàn, đàn. Thi: Làm thơ.

Cầm thi là gảy đàn và ngâm thơ.

Cổ thư viết về phong cách tao nhã của vua Thuấn như sau: “Thuấn đàn ngũ huyền chi cầm, ca nam phong chi thi 舜 彈 五 懸 之 琴, 歌 南 風 之 詩”, nghĩa là Thuấn gảy đàn cầm năm dây và hát bài thơ nam phong.

Cầm thi nghĩa bóng: Chỉ sự phong lưu.

Lầu thưởng nguyệt cầm thi những buổi,

Mái Tây cung sẵn lối vào ra.

(Phù Kiều Hận Sử).

 

 

CẦM THÚ

禽 獸

Cầm: Loài chim. Thú: Loài muông, tức loài động vật có vú, có bốn chân.

Cầm thú là loài chim và loài muông, tức là loài vật có lông cánh, bay được và loài vật đi trên đất, chỉ chung loài súc vật.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Nhờ Chí Tôn phân tánh là bí pháp lập thành xã hội đó, chúng ta đã hằng tưởng hiểu cả, loài cầm thú phải có hiệp lại mà biến sanh được, giải rõ là trống mái, đực cái hay nam nữ vậy.

Thành Thang muôn mặt lưới trường,

Biết khôn cầm thú kiếm đường cao sâu.

(Ngụ Đời).

 

 

CẨM

Cẩm là gấm, vóc, loại hàng dệt, bằng tơ, có nhiều màu, thuộc sang, quý.

Như: Áo cẩm bào, cẩm nang, cẩm tâm tú khẩu, giang san cẩm tú, cẩm thạch.

Tâm trung cẩm đắc phù vô giá,

Khải chiết mai chi hữu diệt trần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

cẩm chưa khoe đặng rỡ màu,

Rán theo đạo hạnh lập thân sau.

(Đạo Sử).

 

 

CẨM BÀO

錦 袍

Cẩm: Gấm. Bào: Áo.

1.- Cẩm bào là áo gấm, một loại áo do vua ban cho các quan lại thời quân chủ và những người thi đỗ tiến sĩ.

Cẩm bào, nghĩa bóng: Chỉ áo của các quan.

Vẻ quan viên tuy chẳng áo cẩm bào,

Bề đạo đức đáng vào Toà Bát Quái.

(Văn Tế Bảo Đạo).

2.- Cẩm bào, trong tôn giáo, mặc áo cẩm bào ý muốn nói người tu hành đạt được quả vị.

Nghèo hèn đừng đổi lòng thành thật,

Mới đặng khi may mặc cẩm bào.

(Đạo Sử).

 

 

CẨM ĐÔN

Cẩm: Hoa vân đẹp đẽ. Đôn: Vật như cái ghế ngồi, thường làm bằng sành sứ.

Cẩm đôn là cái ghế đôn dùng làm cái ngai cho các vị chức sắc Đại Thiên Phong.

Nơi Hiệp Thiên Đài, ba cái cẩm đôn được quấn quanh bởi thất đầu xà dành cho ba vị Chức sắc Đại Thiên Phong Chưởng quản ba chi của Hiệp Thiên Đài là Hộ Pháp, Thượng Phẩm Thượng Sanh.

Ngoài ra, nơi Cửu Trùng Đài bên Nữ Phái còn có một cái cẩm đôn, trên chỗ ngồi có bọc gấm đẹp, và gắn hai bông sen nở nhuỵ dành cho bà Nữ Đầu Sư. (Hiện nay, chưa có chiếc Cẩm đôn này).

Trong Pháp Chánh Tuyền Chú Giải, Đức Hộ Pháp hỏi về cái ngai của bà Nữ Đầu Sư, thì Thầy dạy: Giống y như cái ngai của Quan Thế Âm Bồ Tát, nghĩa là một cái Cẩm đôn để trong vườn Trước Tử bên Nam Hải, dưới chơn đạp hai bông sen nở nhuỵ.

Xem xuống Thất Đầu Xà trương vảy,

Quấn vòng quanh ba cái cẩm đôn.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

CẨM NANG

錦 囊

Cẩm: Gấm. Nang: Cái túi.

Cẩm nang là cái túi bằng gấm, dùng chứa mật kế để đến khi gặp những việc rắc rối, khó khăn thì mở ra xem mà có cách đối phó.

Ngày xưa, Khổng Minh sai Triệu Tử Long phò Lưu Bị sang nước Ngô, có trao cho ba cái cẩm nang (Sách Tam Quốc Chí gọi là cẩm nang kỳ kế), dặn khi gặp việc chẳng lành thì mở ra xem, sẽ có kế hay để đối phó. Nhờ vậy mà Triệu Tử Long phò Lưu Bị về nước một cách an lành.

Ganh tài hại bạn khôn lường,

Cẩm nang Quỷ Cốc xem tường giả điên.

(Báo Ân Từ).

Thuốc dân tộc sẵn vườn dân tộc,

Túi cẩm nang còn sách cẩm nang.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

CẨM TÚ

錦 繡

Cẩm: Gấm. Tú: Thêu.

Cẩm tú là gấm thêu, thường dùng để ví cảnh thiên nhiên đẹp đẽ, như “Non sông cẩm tú”.

Cẩm tú còn dùng để ca tụng lời nói hoa mỹ, văn chương đẹp đẽ.

Cẩm tú đồng nghĩa với câu thành ngữ “Cẩm tâm tú khẩu 錦 心 繡 口”.

Cẩm tú thêu oan thành khí giới,

Văn chương khảo tội hoá côn quờn.

(Lục Nương Giáng Bút).

Chan rưới hồng ân trời đổi sắc,

Phô trương cẩm tú đất thay màn.

(Thơ Thượng Sanh).

Sự nghiệp văn chương là cẩm tú,

Công trình học vấn vốn thơ hương.

(Thơ Thân Dân).

 

 

CẨM TÚ GIANG SAN

Hay “Cẩm tú giang sơn”.

Cẩm tú: Gấm vóc, gấm thêu. Giang san (sơn): Sông núi, chỉ đất nước.

Cẩm tú giang san, như câu “Cẩm tú giang sơn 錦 繡 江 山”, là nói núi sông đẹp đẽ như gấm thêu, ý chỉ giang san, đất nước tráng lệ.

Cẩm tú giang san một gánh nâng,

Ðường xưa nẻo cũ đã quen chừng.

(Đạo Sử).

Ôi ! Thương thay cho cẩm tú giang san.

Đầy sông ngui ngút khói thuyền,

Đầu non súng giữ, cuối triền gươm đoanh.

(Ngụ Đời).

 

 

CÂN

1.- Cân là đồ dùng để biết sức nặng của một vật gì. Như: Cầm cân, Cân thiêng liêng, lường cân tráo đấu.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có đoạn: Thầy đã nói, bầy hổ lang, lũ quỷ mị đã sẵn bên mình của mỗi đứa, mà con lớn nhỏ gì cũng chẳng để ý đến. Thầy nắm cân thiêng liêng, há dễ để tay sửa nét công bình sao?

Ấy là phạt kẻ lường cân,

Đo gian, đong thiếu, Thánh Thần chẳng kiêng.

(Kinh Sám Hối).

Cầm cân thăng thưởng răn người thế,

Người thế sao cho hạnh chói ngần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Cân là dùng cái cân để biết sức nặng của một vật gì. Như: Cân gạo, cân cá, cân tội, cân nhắc, cân sức.

Thánh giáo Chí Tôn có dạy: Thầy dạy các con một điều là biết tranh đấu cùng Thầy. Hễ nó tấn thì mình chống, cân sức cho bằng hay là trổi hơn mới đắc thắng. Các con chịu nổi thì Ðạo thành, còn các con ngã thì Ðạo suy. Liệu lấy!

Cân đường tội phước đắp nên nhân,

Chớ lấy giữ riêng để dạ hờn.

(Đạo Sử).

Chồng đạo đức biết cân tội phước,

Đừng sanh tâm gian ngược dối lường.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Cân là ngang nhau, tương đương với nhau.

Như: Đồng cân, lực lượng hai bên cân nhau, cuộc chiến đấu không cân sức.

Dạy cho hiểu nữ nam đồng bực,

Trí khôn ngoan cân sức vốn như nhau.

(Phương Tu Đại Đạo).

4.- Cân là cái khăn. Như: Đai cân, Huỳnh cân.

Ngày xưa người đàn ông để tóc dài, nên khi làm quan, mặc triều phục, đầu phải bịt khăn, đội mũ, lưng phải buộc sợi dây đai. Nên chữ Cân đai dùng để chỉ quan lại.

Thánh giáo có câu: Lần lựa cúc xủ sương tan, mai gầy sen nở, ngày tháng qua chẳng là bao mà thế thái nhơn tình biết bao thay đổi! Kìa đai cân nhuộm nước màu thiền, nọ danh lợi xủ lằn trí huệ!

Ðai cân mảng luyến chưa nên phận,

Danh lợi ham giành khó vẹn ngôi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Dạy trọn thờ hai chữ quân thần,

Rán nên mặt đai cân cùng thế sự.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CÂN CÔNG BÌNH

Cân: Đồ dùng để biết sức nặng của một vật gì. Công bình: Không thiên vị, theo đúng lẽ phải.

Cân công bình là cây cân Thiêng Liêng dùng để cân tội phước của nhân loại.

Nơi Toà Thánh Tây Ninh, vừa bước vào cửa có đắp một bàn tay sơn màu trắng nắm cán cân, tượng trưng bàn tay Chí Tôn cầm cân công bình đo tội phước chúng sanh. Nguyên con người sau khi chết đi, xác thân sẽ tan rã nhưng linh hồn vẫn tồn tại và chịu sự thưởng phạt theo luật công bình của Đức Chí Tôn, không ai thoát khỏi được. Vì thế mới gọi là luật công bình thiêng liêng và cái cân gọi là cân công bình để cân tội phước của nhân loại.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có dạy: Các con chẳng chịu vầy hiệp nhau cho đặng bền, cho thân ái, đặng tiến bước đường, thì Thầy cũng lắm nỗi thương đau mà nắm cân công bình ngó xem một phần trong các con sa nơi u hiểm.

Xin ghé mắt môn tiền cho hản,

Cân công bình nắm cán do Thiên.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

CÂN CÔNG LÝ

Cân: Đồ dùng để biết sức nặng của một vật gì. Công lý: Đạo lý rất công bằng, không thiên lệch về mặt nào.

Cân công lý, cũng như “Cân công bình”, là cây cân thiêng liêng dùng để cân đường tội phước của chúng sanh.

Nơi Toà Thánh Tây Ninh, khi bước lên năm bậc thềm, ngay phía trên cửa có đắp một bàn bàn tay tượng cho bàn tay Đức Thượng Đế nắm chặt cây cân công bình thiêng liêng.

Nguyên con người sau khi chết, xác thân sẽ tan rã nhưng linh hồn vẫn tồn tại để chịu sự thưởng phạt theo luật công bình của Đức Chí Tôn. Bất cứ ai cũng phải chịu luật công bình này cả, không người nào thoát khỏi được. Vì thế mới gọi là luật công bình thiêng liêng và cây cân gọi là “Cân công lý” để cân tội, phước của nhơn loại.

Nắm pháp thiêng liêng dìu Thánh vị,

Cầm cân công lý giữ ngôi Trời.

(Bài Thài Khai Pháp).

Cân Công lý mối giềng định sẵn,

Đức Chí Tôn đã tặng nơi phàm.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

CÂN ĐAI

Cân: Cài khăn bịt đầu. Đai: Cái vòng choàng ngang bụng bên ngoài áo của quan đại thần.

Cân đai, bởi chữ “Cân đái 巾 帶”, là cái khăn và sợi dây đai, chỉ phẩm phục của các quan nơi triều đình.

Ngày xưa người đàn ông để tóc dài, nên khi làm quan, mặc triều phục, đầu phải bịt khăn, lưng phải buộc sợi dây đai. Do vậy, từ “Cân đai” dùng để chỉ quan lại.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: Lăng xăng xạo xự mùi chung đỉnh, vẻ cân đai, rốt cuộc cũng chẳng khác chi một giấc huỳnh lương mộng.

Đẹp mình với vẻ cân đai,

Công thầy tô điểm từ ngày ấu xuân.

(Kinh Thế Đạo).

Nương chơn chưa biết chơn nào vững,

Níu thử cân đai thấy nặng trì.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Hồ thỉ vẫy vùng đáng phận trai,

Trời chiều nay đã rạng cân đai.

(Đạo Sử).

 

 

CÂN LƯỜNG

Cân: Đo lường sức nặng. Lường: Lượng, đo, đong.

Cân lường là cân đo cho biết sức nặng, hay dài ngắn của một vật. Như: Khó cân lường được phước đức.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bần Đạo là một vị Giáo Chủ tưởng chẳng cần minh bạch nói thẳng thắng ra cho toàn thể điều biết cái khối thương tâm của Bần Đạo thế nào, mỗi người đã cân lường nó.

Biển đổi, non dời, đời phải tuyệt,

Ðức cao bền vững khó cân lường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

CÂN NHẮC

Cân: Dùng cân để biết sức nặng của một vật. Nhắc: Nâng lên, so sánh.

Cân nhắc là so sánh cho biết nặng nhẹ thế nào. Nghĩa rộng: So sánh, suy xét để lựa chọn.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Vì chẳng hay xét mình, chẳng cần tính sổ cuối năm như những nhà thương mãi tính lời hay lỗ, người Chức sắc không tiến triển trên đường đạo đức; bởi lẽ, mình không biết lấy mình, thì thế nào cân nhắc được sự học vấn của mình tấn hay thối, tác động và giá trị của đạo hạnh của mình thấp hay cao.

Nhờ đức trầm tĩnh tuỳ thời của Ngài trấn an được nhân tâm và uyển chuyển tuỳ cơ bảo thủ nghiệp Ðạo, mỗi mỗi đều cân nhắc lợi hại nên hư.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

CÂN PHÂN

Cân: Bằng nhau, đều nhau. Phân: Chia đều.

Cân phân là chia bằng, chia đều nhau. Cân phân còn có nghĩa suy tính cho kỹ lưỡng.

Thánh giáo Đức Cao Thượng Phẩm có câu: Vậy thì Quy Thiện Đường là nơi quy tụ những người đã nhận thức sự thiệt về giá trị và sở hành của mình, đã có sẵn một tâm hồn cao thượng nên biết rõ cái mất cái còn, hoặc biết cân phân điều hơn lẽ thiệt.

Sóng khoả thuyền về còn lắc lở,

Rừng chờ khách trở buổi cân phân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nghiêng triền hiếu nghĩa gánh đôi vai,

Phải xử cân phân nết gái tài.

(Đạo Sử).

Nhớ tiếc đức tài trau vẹn đủ,

Chạnh thương tà chánh định cân phân.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

CÂN TẠO HOÁ

Cân: Vật dùng để lượng xem được nhiều hay ít. Tạo Hoá: Đấng sinh thành ra vạn vật, chỉ Trời.

Cân Tạo hoá là cây cân của Trời, ý chỉ cây cân rất công bình, tức là công bình một cách tuyệt đối.

Mọi việc nơi thế gian đều có tính cách tương đối: Từ luật pháp, luân lý đạo đức, sự ứng xử của con người đối với nhau cũng chỉ có công bình một cách tương đối, vì mọi quan niệm, mọi phán xét đều bị thiên kiến, bị giới hạn của thời gian và không gian.

Còn sự công bình nơi Thiêng Liêng thì tuyệt đối, không bị giới hạn bởi thời gian hay không gian, không bị thiên lệch, không bị khuất lấp... Để biểu tượng cây “Cân Tạo Hoá”, nơi Toà Thánh Tây Ninh, trên cửa bước vào có đấp một bàn tay sơn màu trắng nắm cán cân, tượng trưng bàn tay Chí Tôn cầm cân công bình đo tội phước của chúng sanh.

Khuyên em biết cây cân Tạo Hoá,

Chẳng chê nghèo, sang cả chẳng vì.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

CÂN THẦN

Cân: Lượng xem được nhiều hay ít. Thần: Chơn thần của con người.

Cân Thần là một từ bên Phạm Môn do Đức Hộ Pháp hành pháp, trục chơn thần của vị công quả xin vào Phạm Môn để Ngài xét xem người đó có đủ Hạnh, Đức, Trí, Lực không, nếu thiếu thì phải tiếp tục lập công đức thêm, còn đủ thì Đức Hộ Pháp mới cho thọ Đào Viên Pháp và lập Hồng thệ Phạm Môn.

Phương Luyện Kỷ gần hiền lánh tục,

Phép Cân Thần hồi phục anh linh.

(Thơ Huệ Nhật).

 

 

CẤN

1.- Cấn là lấy một vật để trừ vào số nợ, hoặc lấy số nợ người nầy trừ vào số nợ của người kia.

Như: Đừng có cấn nợ lôi thôi lắm, nợ ai nấy trả không nên trừ cấn phiền phức lắm.

Mới giao kèo đổi chữ với xu,

Thuộc thì thưởng hễ ngu trừ cấn.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Cấn là vướng cái gì có cạnh, vướng mắc.

Như: Gay cấn, ván kê không bằng nằm cấn lưng, cấn móc áo nên không đặt tủ sát tường được.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Rồi đây, Chư vị Khâm Châu và Ðầu tộc phải lên đường trở về với phận sự, để bắt tay vào những công việc nhiều khi khó khăn, gay cấn, nhất là trong thời buổi hiện tại.

Tu là thật sự mà vui,

Chuyện chi gay cấn cũng xuôi cho rồi.

(Đại Thừa Chơn Giáo)

 

 

CẦN

1.- Cần là thiết đến, phải có mới được. Như: Cần kíp, cần tiền tiêu, cần sách đọc, cần ngủ sớm.

Thánh giáo Thầy có đoạn dạy: Con không cần nặng lòng lo lắng. Ðạo cốt để cho kẻ hữu duyên. Những kẻ nào đã làm môn đệ của Tà Thần Tinh Quái thì không thế gì làm môn đệ Thầy đặng.

Cần lo học Ðạo chí đừng lơi,

Phú quý sương tan lố bóng Trời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Dò theo đường chánh chớ sai lầm,

Biết đạo cần trau một chữ tâm.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Cần là một cây cán tròn, dài, nhỏ và cứng, một đầu có thể bật lên bật xuống được.

Như: Cần câu, cần cối, cần vọt.

Nhắp cần thao lược dò sâu cạn,

Nương sợi kinh luân sửa mối giềng.

(Thơ Huệ Giác).

3.- Cần là siêng năng, chịu khó.

Như: Cần cù nhẫn nại, làm ăn cần kiệm, siêng năng cần mẫn học tập.

Dầu giàu sang ăn kiệm ở cần,

Nhịn mớ áo che thân cho kẻ khó.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CẦN CÂU LỮ

Cần câu: Cây cần có buộc dây và lưỡi câu. Lữ: Viết tắt của Lữ Vọng, tức Khương Tử Nha.

Cần câu Lữ tức là cần câu của Lữ Vọng, một vị hiền thần ngồi câu trên sông Vị chờ thời vận, sau được Tây Bá Hầu Cơ Xương (tức Văn Vương) rước về làm Tướng quốc, và trở thành vị khai quốc công thần cho nhà Châu.

Sử Ký chép rằng: Lữ Vọng họ Khương tên Thượng, tự là Tử Nha. Tổ tiên ông có công được phong ở đất Lữ (có khi đọc Lã), nên lấy họ là Lữ, gọi là Lữ Thượng.

Ông sống trong cảnh nghèo khốn cho đến lúc già hơn 70 tuổi, ông làm nhiều nghề nhưng vẫn không đủ sống, phải ngồi câu trên sông Vị để chờ thời. Trong một bài thi Đức Chí Tôn cho ông Dương Văn Ngọ có câu:

Ngọ chưa thấy bóng kế Mùi sang,

Trông đặng vinh huê hưởng chữ nhàn.

Như lúc Tử Nha đưa cán trúc,

Câu thời câu vận cá nào ăn?

Sau đó, Châu Văn Văn Vương đi săn về phía đông và gặp Lữ Vọng câu ở mé bắc sông Vị. Hai người bàn luận với nhau, Văn Vương lấy làm hợp lắm. Vua nói: Tự ngô tiên quân Thái công viết: Đương hữu thánh nhân thích Châu, Châu dĩ hưng, tử chân thị gia! Ngô Thái công vọng tử cửu hỷ 自 吾 先 君 太 公 曰: 當 有 聖 人 適 周, 周 以 興, 子 真 是 耶! 吾 太 公 望 子 乆 矣, nghĩa là từ Thái công tiên quân của ta đã nói: Hiện có Thánh nhân đến giúp nhà Châu, nhà Châu sẽ hưng thịnh. Chính ngài là Thánh nhân đó chăng? Vua cha ta trông mong ngài đã lâu lắm rồi đó.

Do câu nói trên, mà đặt tên hiệu cho ông là “Thái Công Vọng” (người mà vua cha trông mong). Văn Vương mời Lữ Vọng lên ngồi chung xe rước về kinh phong làm bậc thầy.

Lữ Vọng giúp cho vua Văn Vương và con là vua Võ Vương dựng nghiệp lớn cho nhà Châu.

Ðợi thời toan mượn cần câu Lữ,

Dựng nghiệp tua chờ mặt lưới Thang.

(Đạo Sử).

 

 

CẦN CỔ

Cổ: Một phần trong thân thể, nối đầu và thân.

Cần cổ là một bộ phận của con người, nối liền giữa đầu và thân, có nhiệm vụ ngửa lên, cúi xuống, hay quay qua quay lại.

Như: Người cúi lòn thường hay mỏi cần cổ.

Già run en nói chẳng ra điều,

Dâu nhái tiếng cho kêu cần cổ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CẦN CÙ

勤 劬

Cần: Nhọc lòng hết sức. Cù: Siêng năng.

Cần cù là chỉ sự chuyên cần, chăm chỉ chịu khó nhọc một cách thường xuyên.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Cha mẹ thì ngày tháng cần cù lo cho có tiền nuôi mấy cháu, thầy dạy thì lao tâm tiêu tứ để nung đúc trí não của mấy cháu, cố gắng sao cho mấy cháu trở nên người khôn ngoan hữu dụng. Cái công ơn của thầy không kém gì cái công ơn của cha mẹ.

Tròn năm luống phận cần cù,

Không nuôi thê tử không bù thân sanh.

(Ngụ Đời).

Cần cù dấu của trong khuôn sọ,

Lẩn bẩn tô nhà với bột xương.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

CẦN CHUYÊN

勤 專

Cần: Siêng năng, cần mẫn. Chuyên: Để tâm vào một công việc gì đó.

Như vậy, cần mẫn siêng năng để lo một việc gì gọi là cần chuyên.

Như: Muốn thành công phải cần chuyên học tập.

Đạo đức dồi trau thần mẫn huệ,

Nghĩa nhân vẹn giữ chí cần chuyên.

(Thơ Vạn Năng).

 

 

CẦN ÍCH

Cần: Tha thiết đến một thứ gì. Ích: Lợi ích.

Cần ích là việc cần thiết và ích lợi. Làm việc gì cũng phải cần ích cho xã hội.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có câu: Lão chỉ sợ một điều là Lão không phương gần kẻ tà tâm toan dạy dỗ; còn như gần kẻ đạo đức chơn thành thì rất dễ, song chẳng cần ích.

Ngọn rau tấc đất là ân,

Một dòng một giống lo cần ích chung.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Phận nuôi dưỡng tuy vân cần ích,

Phải dạy răn kẻo nghịch lòng Trời.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CẦN YẾU

Cần: Tha thiết đến một thứ gì. Yếu: Quan trọng.

Cần yếu là cần thiết và quan trọng.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Các con nghe lời dặn cần yếu nầy mà làm phận sự các con cho vẹn vẽ cùng Thái Bạch.

Lời cần yếu Mẹ than cho trót,

Muốn dạy em, con khá xót xa chừng.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

CẦN KIỆM

勤 儉

Cần: Siêng năng. Kiệm: Tằn tiện, không tiêu xài hoang phí.

Cần kiệm có nghĩa là siêng năng cần mẫn và tiện tặn, không phung phí.

Thánh giáo Thầy dạy: Vì bô vải là tấm gương đạo đức, các con đã rõ đạo thì biết đức cần kiệm là đức hạnh đầu trong lúc các con còn ở thế gian nầy. Như sự lãng phí se sua ở đời nầy, Thầy cũng cho là một việc tổn đức vậy.

Vợ cần kiệm không cần giỏi dở,

Dầu dở hay cũng đỡ cho chồng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CẦN LAO

勤 勞

Cần: Siêng năng. Lao: Nhọc nhằn.

Cần lao là siêng năng khó nhọc.

Thuyết về tiểu sử Đức Cao Thượng Phẩm, Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có câu: Nói tóm lại, đời của Ðức Cao Thượng Phẩm lúc tuổi xuân là một vị công chức của Chánh Phủ Pháp, khi vào Ðạo là một vị Ðại Thiên Phong nơi Ðài Hiệp Thiên, ngày công viên quả mãn đắc vị "Kim Tiên" thật công trình cần lao khó nhọc không uổng.

Sức bò miệng chén tuy không mấy,

Mà chí cần lao đến tuyệt vời.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CẦN MẪN

勤 敏

Cần: Siêng năng chăm chỉ. Mẫn: Mau mắn, thông minh, ứng phó nhanh.

Cần mẫn là siêng năng và lanh lợi.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có đoạn: Ðời có Ðạo, tức là có kỷ cương trật tự, người quân tử đều ra ứng dụng, đem cái hay cái biết của mình mà thật hành cho đời nhờ. Vì đó mà được chúa Thánh tôi Hiền, muôn dân cảm mến, nên cần mẫn chơn chánh, biết lo nghĩa vụ giữ liêm sỉ.

Điều chi chúng nó xin, thì buộc Giáo Tông phải cần mẫn hơn hết.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

CẦN VƯƠNG

勤 王

Cần: Siêng năng. Vương: Vua.

Cần vương là hết lòng siêng năng vì công việc của vua. Vua gặp tai biến, hoạn nạn, kéo quân về giúp vua thì gọi là Cần vương.

Thời nhà Nguyễn ở nước ta, vua Hàm Nghi cùng Tôn Thất Thuyết đứng lên chống Pháp, ban hịch “Cần vương” và gửi đi cho các sĩ phu và dân chúng khắp nơi.

Dầu rủi phận nợ thân chẳng vẹn,

Đạo Cần vương nêu tiếng thanh cao.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Dấy binh theo tiếng gọi Cần vương,

Thiên Hộ… nghiêng vai đỡ miếu đường.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

CẨN

1.- Cẩn là giữ gìn, kỹ càng, trân trọng, kín đáo.

Như: Cẩn thận, cẩn ngôn, cẩn hạnh, đêm hôm phải cẩn bếp núc.

Khá nên làm việc cẩn lời,

Nên chăng cũng có cơ Trời quyền năng.

(Bát Nương Giáng Bút).

2.- Cẩn là lấy quả bầu làm chén uống rượu trong lễ cưới gọi là chén cẩn. Như: Hiệp cẩn giao bôi.

Theo phong tục ngày xưa, Hiệp cẩn là lễ hai vợ chồng uống chung một chén rượu trong đêm tân hôn.

Xem: Hiệp cẩn.

Hỏi ai thoả chí ai ơi?

Tra phòng hiệp cẩn, bao hồi khóc riêng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CẨN NGÔN CẨN HẠNH

謹 言 謹 行

Cẩn ngôn: Cẩn thận về lời nói. Cẩn hạnh: Cẩn thận về tánh nết.

Cẩn ngôn cẩn hạnh tức là cẩn thận về lời nói và gìn giữ về tính nết, tức là nói năng phải minh chánh, tính nết phải đoan trang.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy: Nơi Toà Phán Xét, chẳng một lời nói vô ích mà bỏ, nên Thầy dạy các con phải cẩn ngôn cẩn hạnh, thà là các con làm tội mà chịu tội cho đành, hơn là các con nói tội mà phải mang trọng hình đồng thể.

Cẩn ngôn cẩn hạnh khá gìn hoài,

Ðừng phụ ai cũng chẳng khinh ai.

(Đạo Sử).

 

 

CẨN SỚ THƯỢNG TẤU

謹 疏 上 奏

Cẩn: Kính cẩn, tôn kính. Sớ: Tờ Sớ, viết những lời tâu trình lên nhà vua hay dâng lên Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế. Thượng tấu: Tâu lên.

Cẩn sớ thượng tấu kính cẩn dâng sớ tâu lên Đức Chí Tôn hay Đức Phật Mẫu.

Chư đệ tử đồng thành tâm khấu bái, cẩn sớ thượng tấu. DĨ VĂN.

(Sớ văn).

 

 

CẨN THẬN

謹 慎

Cẩn: Thận trọng. Thận: Không sơ suất.

Cử chỉ và hành động một cách thận trọng, không để cho có sự sơ suất, gọi là cẩn thận.

Cổ ngữ có câu: “Cần vi vô giá bửu, thận thị hộ thân phù” 勤 為 無 價 寶, 慎 是 護 身 符, nghĩa là siêng năng là của báu vô giá, cẩn thận là bùa hộ thân. Vì thế, thận trọng trong mọi việc thì chuyện lo buồn không có thể xảy ra.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy dạy: Thầy lại nhắc cho con nhớ rằng, trong Thập nhị Thời Quân đó đều có sắp đặt. Nếu không phải mấy đứa phò loan của Thầy đã định thì cơ bút do nơi khác mà ra đều là không phải lời của Thầy nói. Con phải đề phòng, cẩn thận, nghe à!

Mũi kim chẳng lọt xưa nay hẳn,

Biết sợ xin khuyên cẩn thận mình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

CẬN

Cận là gần. Như: Kề cận, cận đại, cận thị, nhứt cận thân nhì cận lân.

Thánh giáo Thầy có câu: Ngày vui vẻ của sanh linh đã mòn, hoạ Thiên điều đã cận, Càn khôn Thế giới còn đeo đuổi, dụng thất đức vô nhân mà gieo thảm chất sầu trong nhân loại.

Lung kê hữu mễ than oa cận,

Dã hạc vô lương Thiên Ðịa khoan.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

Đường tu nối bước cho quen,

Xa trần tăm tối cận đèn Thiêng Liêng.

(Ngụ Đời).

Để chuông mõ dựa kề son phấn,

Chất nhơn tình chồng cận kệ kinh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CẬN HIỀN NHƯ DỰA CHI LAN

Hay “Cân hiền như lộn chi lan”.

Cận hiền 近 賢: Gần kẻ hiền lương. Dựa chi lan: Tựa vào cỏ chi và cỏ lan, hai loại hoa thơm.

Cận hiền như dựa chi lan, cũng như câu cận hiền như lộn chi lan đều có nghĩa là gần người hiền như vào nhà trồng cỏ chi cỏ lan.

Khổng Tử Gia Ngữ có câu: Dữ thiện nhân cư như nhập chi lan chi thất, cửu bất văn kỳ hương, tức dữ chi lan hoá 與 善 人 居, 如 入 芝 蘭 之 室, 久 不 聞 其 香, 即 與 之 俱 化, nghĩa là cùng ở với người hiền, như vào nhà trồng chi lan, lâu ngày không thấy mùi thơm, đã cùng hoá theo mà không biết.

1.- Cận hiền như dựa chi lan:

Cận hiền như thể dựa chi lan,

Chẳng nhiễm mùi hương cũng phẩm hàm.

(Đạo Sử).

2.- Cận hiền như lộn chi lan:

Cận hiền nhưlộn chi lan,

Chọn lựa người ngay kết nghĩa vàng.

(Đạo Sử).

 

 

CẬN KỀ

Cận: Gần. Kề: Ở vào hoặc làm cho ở vào vị trí rất gần, không còn có khoảng cách.

Cận kề, như chừ “Kề cận”, là ở gần bên cạnh, tức sát liền với nhau.

Lời Tựa quyển Giáo Lý của Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có câu: Sự nghiên cứu Giáo lý thời xưa và phối hợp với Thánh ngôn của các Đấng Thiêng liêng lập thành một học lý đối với chúng tôi, lúc ban đầu không phải dễ dàng như lấy đồ trong túi, nhưng, may thay Đức Chí Tôn hằng cận kề dạy bảo : Đức Ngài dạy phải bớt điều không thích hạp, phải thêm những điều cần thiết, cắt nghĩa những câu văn khó hiểu, chung quy, những bài học góp nhặt thành lập giáo lý nầy, chúng tôi đã cống hiến cho các bạn đồng môn hồi năm 1950 và được tái bản hai lần nữa.

Tức thì bờ giác cận kề,

Tức nhiên nghiệp chướng lầm mê chẳng còn.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

CẬN LỢI

近 利

Cận: Gần. Lợi: Những thứ được hưởng, như tiền bạc, lợi lộc.

Cận lợi là gần điều lợi, tức là thấy những điều lợi trước mắt.

Người xưa thường nói “Lợi cận viễn ưu 利 近 遠 憂” nghĩa là lợi gần lo xa.

...mà cũng vì nhơn loại không chịu khó tìm tòi cho ra lẽ thiên nhiên, cứ thấy những điều cận lợi mà quên hẳn lương tâm, chẳng hay thương mà hay chém giết lẫn nhau...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CẤP BẰNG

給 憑

Cấp: Cho, giúp. Bằng: Văn bằng, tức tờ giấy chứng chỉ học lực của một thí sinh đã trúng tuyển.

Cấp bằng, như chữ “Bằng cấp 憑 給”, là văn bằng cấp cho người đã thi đỗ trong khoa cử.

Huấn dụ của Thượng Sanh nhân Lễ Bế Mạc Khoá Huấn Luyện Lễ Sanh tại Hạnh Ðường năm Bính Ngọ (Ngày 25 tháng 10 năm 1966) có đoạn: Khoá Huấn luyện Lễ Sanh nơi Hạnh Ðường đã chấm dứt. Hôm nay là buổi lễ Bế Mạc niên học Bính Ngọ để rồi một ngày gần đây các sinh viên sẽ dự cuộc thi lãnh cấp bằng Hạnh Ðường.

Phải có cấp bằng Lễ Sanh mới vào hàng Giáo Hữu đặng, kỳ dư Thầy giáng cơ phong thưởng riêng...

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

CẤP CÔ ĐỘC

Cấp Cô Độc là một trưởng giả ở thành Xá Vệ. Ông là người mộ đạo và là vị thí chủ lớn, cúng dường nhiệt thành nhất vào thời Đức Phật còn tại thế.

Ông mua đất xây cất Kỳ Viên và xây cất Kỳ Hoàn để cúng dường Đức Phật và tăng chúng. Đức Phật thường lưu trú nơi đó. Ông cũng là người mỗi ngày cúng dường thực phẩm cho năm trăm tỳ kheo, ngoài ra ông còn bố thí cho những kẻ cô độc, bệnh tật, và nghèo khổ. Ông được nghe Đức Phật giảng rất nhiều kinh và chứng được quả Dự Lưu. Người sau gọi Kỳ Viên là vườn Cấp Cô Độc.

Trong một Đàn cơ Đức Hộ Pháp giáng, Ngài Hiến Đạo bạch: Ban Kỳ Lão đang xây dựng Viện Bảo Cô, xin Đức Ngài có điều chi chỉ bảo. Thỉnh tôn ý của Đức Ngài.

Thánh giáo Đức Hộ Pháp có dạy: Bần đạo đã định lập Cấp Cô Độc Viện nơi ấy, chư hiền hữu tiếp tục phát triển cho thành một cơ sở Phước Thiện vĩ đại sau nầy.

Ôi! Cấp Cô Độc vườn thiền quạnh quẽ,

Hội Thanh Vương chợ thế đìu hiu.

(Văn Tế Bảo Đạo).

 

 

CẤP TẾ

給 濟

Cấp: Cho. Tế: Cứu giúp.

Cấp tế là cứu giúp cho người nghèo khổ, gặp thiên tai, hoạn nạn, bằng cách giúp đỡ vật thực, quần áo, hay thuốc men.

Trong Đạo Luật Năm Mậu Dần có điều: Về khoản cấp tế của Phước Thiện, chẳng nên phân biệt người trong đạo hay người ngoài đời.

Nào Dưỡng Lão Dưỡng Đường xây cất,

Cấp tế người tàn tật cô nhi.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

CẤP THỜI

急 時

Cấp: Mau gấp, cấp bách. Thời: Thời giờ.

Cấp thời chỉ ngay lúc đó, tức thời, tức khắc.

Thánh Ngôn Thầy có câu: Các con, nền Ðạo bề ngoài coi diềm dà sung túc, mà chẳng thấy rõ cái mạch bịnh trong tâm, chẳng khác chi thế Sở chế bạo Tần, ham cái mạnh bề ngoài, biết sợ cái mặt chớ chẳng rõ lòng người ra sao, mà không độ cái mạnh cấp thời đó sẽ dần dần tan như giá mà đổi ra yếu hèn thấp nhược.

Nghiệp nghề đợi lỗ trao cơ thể,

Lợi lộc phương Nam hưởng cấp thời.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

CẬP KÊ

及 笄

Cập: Kịp, theo tới nơi, không dùng một mình. Kê: Cây trâm cài đầu của con gái.

Cập kê là nói con gái đến tuổi cài trâm.

Ngày xưa bên Trung Hoa, con gái khi đến tuổi 16 thì làm lễ cài trâm, gọi là lễ “Cập kê”.

Luật của Ðền Thánh buộc hễ con gái đến tuổi cập kê cho ra xuất giá.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

CẤT

1.- Cất là dựng lên. Như: Cất nhà, cất kho lương thực, cất trường học, cất Toà Thánh.

Thánh giáo Thầy có dạy: Có nhiều đạo, cũng như cái nhà, phải có nhờ nào là cột cái, nào là cột con, đòn tay, kèo, rui. Rui là nhỏ, mỏng mảnh hơn hết, mà cũng phải nhờ nó. Tuy kể cho nhiều tên, chớ cất rồi thì có một chủ mà thôi.

Phòng tía cất thành hình thổ võ,

Cung loan lập giống dạng Cao Ðài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðạp đất thành vàng làm của báu,

Thổi tro cất lũy sửa nhà an.

(Thiên Thai Kiến Diện).

2.- Cất là nhấc lên, đưa lên.

Như: Cất cao đầu, cất gánh lên vai, cất bước ra đi, ngựa cất vó chạy.

Gánh đời đã tự cất lên vai,

Trau chuốt cho sao đủ trí tài.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

3.- Cất là làm vang lên.

Như: Cất tiếng hát vang, thằng bé cất tiếng gọi, con vượn cất tiếng hú, cất giọng ca.

Đưa tay lau lụy đời đau khổ,

Cất tiếng kêu thương Đạo nắm giềng.

(Bát Nương Giáng Bút).

Mùi Đạo Đức chớ ơ hờ mà bê trễ,

Cuộc thế tàn nghe tiếng dế cất giọng Nam Ai,

(Giác Mê Khải Ngộ).

4.- Cất là tước bỏ, không giao cho làm việc gì, không cho nắm giữ nữa.

Như: Cất quyền cai quản, cất chức Giáo Hữu.

Hoặc là xin trục xuất cất chức ngưng quyền hay đuổi đi nơi khác, tuỳ theo tội nặng nhẹ,...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

CẤT NHÀ CÕI THIÊN

Cất nhà: Xây dựng ngôi nhà, ý chỉ tạo lập ngôi vị nơi cõi thiêng liêng. Cõi thiên: Cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Cất nhà cõi Thiên là xây dựng toà nhà ở miền Thiên cảnh. Ý muốn nói tạo lập ngôi vị cho chơn linh nơi cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Cửa Địa ngục, chóng lánh xa,

Mượn hình Thánh thể cất nhà cõi Thiên.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

CẤT NHẮC

Cất: Nhấc lên, đưa lên. Nhắc: Nâng lên.

Cất nhắc là cử động nhẹ một cách yếu ớt, khó khăn.

Như: Mệt muốn lả người, không thể cất nhắc tay chân nổi.

Cất nhắc còn dùng để chỉ nâng đỡ lên, tức đưa lên một chức vụ cao hơn.

Người trong nước không kể sang hèn, hễ ai có tài có đức là được cất nhắc lên làm quan giúp nước trị dân.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

CẬT

1.- Cật là thận, bầu dục, nằm ở hai bên xương sống.

Như: Quả cật, cật lợn, cật ruột là quả thận và ruột, nghĩa rộng nói người cùng máu mủ ruột thịt.

Trải cật phòng loan che kín đáo,

Căm gan đoàn muỗi hết buông lung.

(Thơ Thuần Đức).

2.- Cật là phần lưng ở chỗ ngang bụng. Như: No thân ấm cật, chung lưng đâu cật.

Trong bài Diễn Văn của Đức Quyền Giáo Tông đọc tại Toà Thánh nhân vía Đức Phật Thích Ca mùng 8 tháng 4 năm Giáp Tuất có câu: Ít ai ngó xuống thương đồng loại cực khổ biết bao! Kể không xiết số người thất nghiệp truân chuyên, cơm tẻ ngày hai không có, mảnh tơi che cật chẳng lành.

Ham Chiêu Quân trọn nghĩa phụ thần,

Hơn giúp Hớn Tôn Phu Nhân gươm cật ngựa.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CẬT LỰC

Cật: Như chữ “Kiệt”, có nghĩa là hết. Lực: Sức.

Cật lực là làm việc hết sức lực. Như: Những anh em lao động cật lực, thi công cật lực để sớm hoàn thành.

Thi nhau cật lực một hồi,

Gặp hòm bọc kín xúm lôi lên liền...

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

CẬT RUỘT

Cật: Thận, trái cật nằm ở hai bên xương sống. Ruột: Phần của ống tiêu hoá từ cuối dạ dày đến hậu môn.

Cật ruột là quả thận và ruột, nghĩa rộng chỉ người cùng máu mủ, ruột thịt.

...tạo nghiệp cho mỗi gia đình phải có bằng chứng là ngoại nhân chớ không phải đem bà con cật ruột thì truất bỏ chẳng kể công nghe vậy chưa?

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

CẬT VẤN

詰 問

Cật: Hỏi vặn, hỏi gặng. Vấn: Hỏi.

Cật vấn là hỏi vặn, hỏi một một cách nghiêm nhặt, cặn kẽ, tức hỏi để cố tìm cho ra những điều mà kẻ khác muốn giấu.

Cật vấn cho ra lẽ ức oan,

Thôi con bớt thảm lụy tuôn tràn.

(Đạo Sử).

 

 

CÂU

1.- Câu là sự kết hợp của nhiều tiếng, nhiều chữ liên tiếp với nhau mà có nghĩa trọn. Như: Câu thơ, câu văn.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Có câu nầy nữa: Mọi sự khó khăn Thầy gánh vác, chỉ cậy các con thương yêu, gắng công độ rỗi.

Một câu thất đức thiên niên đọa,

Nhiều nỗi trầm luân bởi ngọn ngành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Sách dầu muôn cuốn dạy câu lành,

Nào kẻ học cao thế gọi lanh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðem câu nhơn nghĩa khoe ngoài miệng,

Xảo trá hung hăng ít kẻ bằng.

(Đạo Sử).

2.- Câu là bắt cá, tôm bằng móc sắt nhỏ (gọi là lưỡi câu) có móc mồi. Như: Câu cắm, câu rê, câu nhử.

Trong Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Nếu có hạnh phúc hay chăng thì như Bần Ðạo đã nói, làm người phải biết yêu ái với nhau, biết tôn trọng nhau, biết bảo vệ sự sống còn cho nhau ấy mới là hạnh phúc. Ngoài ra thì cũng như câu cá trên ngọn cây không hạnh phúc gì hết.

Một miếng mồi ngon câu cá lớn,

Mình nên con khá giúp nên người.

(Đạo Sử).

Như lúc Tử Nha đưa cán trúc,

Câu thời câu vận cá nào ăn?

(Đạo Sử).

Trời nước nghêu ngao một chiếc thuyền,

Thú câu gẫm lại thú thần tiên.

(Thơ Huệ Giác).

3.- Câu là cái móc cong như cây câu liêm.

Như: Mồng một lưỡi trai, mồng hai lưỡi liềm, mồng ba câu liêm (hình vòng câu, chỉ hình mặt trăng mọc đêm đầu tháng).

Đây hồ nhựt nguyệt tại đầu non,

Một nửa vòng câu, một nửa tròn.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

CÂU KINH TIẾNG KỆ

Kinh: Là nền tảng của một triết thuyết hay giáo lý một Tôn giáo. Ví dụ như: Ngũ kinh trong Nho giáo, Đạo Đức kinh trong Lão giáo, Tam Tạng kinh trong Phật giáo và Kinh Thánh của Công giáo.

Kệ: Những bài thơ ngắn hay dài để tóm tắt đại ý một bài thuyết pháp hay một đoạn kinh, hoặc để ca ngợi công đức Phật, hoặc để cầu nguyện, hoặc là một bài dùng để kệ chuông, kệ trống...

Câu kinh tiếng kệ là tiếng kinh và câu kệ trong thời công phu vang lên.

Câu kinh tiếng kệ gọi hồn,

Kêu thương khách tục, giải lòng người nhân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Câu kinh cửa Khổng dường non Thái,

Tiếng kệ đời Nghiêu giống đảnh Kỳ.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

CÂU MÂU

Câu mâu là bắt bẻ, xét nét, tức chú ý bắt lỗi từ những việc nhỏ nhặt.

Câu mâu còn có nghĩa là hay gây gổ, cải lộn, bực bội trước những việc không đâu.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Đức Lục Nương Diêu Trì Cung có câu: Mấy em ra lãnh Thiên mạng nơi mình, tức là thay hình thể của Phật Mẫu tại thế, thì phải dè dặt từ chút mới được, điều cốt yếu là mấy em phải giữ sự chung hoà, đừng câu mâu hay bắt bẻ từng việc nhỏ mà e cho nữ phái khó tu nghe.

Đừng gặp việc câu mâu biếng nhác,

Mà quên lời phú thác dặn dò.

(Kinh Sám Hối).

 

 

CÂU SINH TỊNH THỔ

俱 生 淨 土

Câu (Cu) sinh: Đều được sanh về. Tịnh độ: Hay Tịnh thổ là cõi đất trong sạch của Đức Phật, tức cõi Cực Lạc Thế giới.

Câu sanh Tịnh độ là đều được sanh về cõi Cực Lạc Thế Giới.

Trong Đạo Cao Đài, bài Kệ Chuông U Minh, lời nguyện 11 có câu: Trận bại thương vong Câu sanh Tịnh độ 陣 敗 傷 亡 俱 生 淨 土, nghĩa là những người thương tích hay chết vì bại trận đều được sanh về cõi Tịnh độ (Cõi Cực Lạc Thế giới).

Trận bại thương vong Câu sanh Tịnh độ.

(Kệ U Minh).

 

 

CÂU TÍCH KIM

Câu: Sự kết hợp của nhiều tiếng, nhiều chữ liên tiếp với nhau mà có nghĩa trọn. Tích kim 積 金: Chứa vàng, dựa vàng.

CâuTích kim 積 金” là câu “Chứa vàng”, ý nói chứa vàng để lại con cháu, chắc gì con cháu giữ được.

Do trong sách Gia Huấn của Tư Mã Ôn Công có nói: Tích kim dĩ di tử tôn, tử tôn vị tất năng thủ; tích thư dĩ di tử tôn, tử tôn vị tất năng đọc; bất như tích âm đức minh minh chi trung, dĩ vi tử tôn truờng cửu chi kế 積 金 以 遺 子 孫, 子 孫 未 必 能 守; 積 書 以 遺 子 孫, 子 孫 未 必 能 讀; 不 如 積 陰 德 於 瞑 瞑 之 中, 以 為 子 孫 長 久 之 計, nghĩa là chứa vàng để lại cho con cháu, con cháu chưa chắc đã giữ được; chứa sách để lại cho con cháu, con cháu chưa chắc đã học được; Cách để lại cho con cháu lâu dài không gì bằng chứa âm đức ở trong chỗ minh minh.

Xem: Chứa vàng để lại cho con.

Câu tích kim lời đã đáng lời,

Cơ nan thủ phép Trời đã định.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CÂU TIỄN

句 踐

Câu Tiễn là tên vua nước Việt đời Đông Châu.

Phụ thân của Việt vương Câu Tiễn thường bị vua nước Ngô là Hạp Lư đánh bại. Câu Tiễn rửa nhục cho cha, bằng cách đánh thắng được Ngô Hạp Lư.

Con của Hạp Lư là Ngô Phù Sai trả thù cho cha, bắt Câu Tiễn cầm tù ở Thạch Thất để chăn ngựa cho vua Ngô. Nhờ lo lót và giả ngu khờ để nếm phẩn của vua Ngô, nên Phù Sai không nghi ngờ mà tha cho Câu Tiễn về nước.

Nhớ mối thù xưa, Câu Tiễn miệng thường nếm mật đắng, thân thường nằm trên gai (ngoạ tân thường đảm) để nhắc nhở mối hận ở Cối Kê, mà cố gắng chiêu binh mãi mã, tích thảo đồn lương hầu sau đó đánh thắng được vua Ngô Phù Sai, báo được mối hận.

Xem: Việt Vương.

Nền nhân Câu Tiễn đà chen bước,

Cửa ải Phù Tang đã bước vào.

(Nguyệt Tâm Chơn Nhơn).

 

 

CÂU TÙNG

Câu: Sự kết hợp của nhiều tiếng, nhiều chữ. Tùng (tòng): Theo, đi theo.

Câu tùng ý muốn nói câu “Xuất giá tùng phu 出 嫁 從 夫” nghĩa là lấy chồng phải theo chồng.

Đây là một trong đạo tam tùng của người phụ nữ ngày xưa.

Xem: Chữ tùng.

Nếu trăm năm thề vẹn câu tùng,

Dầu sống thác chữ đồng hằng nắm chặt.

(Phương Tu Đại Đạo).

Câu tùng phận gái nên dày vặn,

Chữ nghĩa đoàn trai bởi vẹn toàn.

(Thơ Hương Phụng).

Câu tùng gắng giữ bền tơ tóc,

Chữ hiếu lo tròn đẹp mẹ cha.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

CẤU

1.- Cấu là bụi bậm, dơ bẩn.

Như: Hồng cấu, trần cấu, thân hình cấu trược, bao nhiêu cấu uế đã nhiễm vào tâm.

Hồng cấu đã chui thân phải vấy,

Hơn thua cười kẻ biết nơi tiền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nhẫng lo trọng tước cao quyền,

Ðem thân trần cấu gieo miền trầm luân.

(Ngụ Đời)/

Chánh trực Thần Tiên còn nể mặt,

Huống hồ trần cấu động vào mình.

(Đạo Sử).

2.- Cấu là gây nên, dựng lên.

Như: Cấu kết, cấu tạo, cấu trúc.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Lớn lên nữa, thấy mẹ đẻ em ra, cũng nhờ có ông cha ta kia, ta chia nhau một mảnh chiếu, đắp nhau một mảnh mền, nhịn nhau từ hột muối, từ ngọn rau, tình cảnh ấy không cần tả, có điều ta thấy hẳn nó kết cấu khối tình ái thiên nhiên.

Bởi đó, mọi sự sanh ra trong đời của chúng ta đều phải có một nguyên nhân kết cấu mà ra.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

CẤU KẾT

構 結

Cấu: Kết lại, dựng lên. Kết: Thắt buộc lại với nhau.

Cấu kết, bởi chữ “Kết cấu 結 構”, là kết tụ lại với nhau, gầy dựng nên.

Cấu kết còn có nghĩa như chữ “Câu kết”, là hợp thành phe cánh để cùng thực hiện âm mưu xấu xa.

Thánh giáo dạy về Bất tà dâm có câu: Những sanh vật ấy cấu kết nhau mà thành khối vật chất có tánh linh, vì vật chất nuôi nấng nó cũng đều là sanh vật, tỷ như: rau cỏ, cây trái, lúa gạo, mọi lương vật đều cũng có chất sanh.

Thân thể con người là một khối chơn linh cấu kết. Những chơn linh ấy đều là hằng sống.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CẤU THÀNH

構 成

Cấu: Xây dựng, kết lại, gây ra chuyện. Thành: Nên.

Cấu thành là làm thành, tạo nên.

Trong sách Giáo Lý, Ngài Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có đoạn viết: Tóm lại, thân thể người ta gồm đủ mọi lẽ Huyền diệu của Trời Đất và mọi Khí chất của Vũ trụ (Thái Cực, Âm Dương, Ngũ hành Khí) cấu thành cho nên sách Nho nói rằng: "Nhơn giả kỳ Thiên địa chi đức, Âm Dương chi giao, Quỷ thần chi hội, Ngũ hành chi tú Khí dã". Nghĩa là người ta là cái đức của Trời Đất, chỗ giao hợp của âm dương, tụ hợp của Quỷ thần và Khí tinh anh của Ngũ hành.

Vàng bạc chỉ là loại kim khí tầm thường. Hồng là một chất màu. Còn lụa là chất do loài vật cấu thành ra.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CẤU XÉ

Cấu: Cào cấu, tức lấy móng tay cào mạnh. Xé: Làm cho rách, làm rách ra từng mảnh.

Cấu xé là cào cấu, bứt xé nhau.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Trên đường đời đầy dẫy những chông gai hiểm trở trong lúc thiên hạ đua nhau tôn thờ tiền tài danh vọng để mặc tâm hồn dật dờ trong vòng tối tăm tội lỗi. Trong lúc người ta chực chờ cấu xé nhau, giết hại nhau đề tranh giành lợi lộc, chúng ta lại may mắn được che chở dưới bóng từ bi, được sống một đời an vui thanh đạm.

Cần chi phải đánh ghen cấu xé,

Muốn trừng heo dụng kế treo hèm.

(Phương Tu Đại Đạo).

Vì ép buộc nên rời tổ mẹ,

Bởi ham danh cấu xé đồng môn.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

CẦU

1.- Cầu là công trình nối liền hai bên sông, hồ hay mương rạch.

Như: Cầu ao, cầu dừa, nhịp cầu, bắc cầu qua sông, xe lửa qua cầu.

Đừng đợi đến ôm cầu mà khóc,

Nước ngập mình tơ tóc đều trôi.

(Phương Tu Đại Đạo).

Sông Ngân hà sóng gió coi êm,

Cậy quạ bắc cầu thêm cho dễ gặp.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Cầu là tìm, kiếm, xin, mong, cậy, mượn. Như: Cầu cạnh, bán nước cầu vinh, cầu vui.

Thánh giáo Thầy có câu: Ðạo chẳng phải một món hàng mà nay đem cầu người nầy, mai đem nài kẻ kia cho họ biết mà nhìn nhận, thật nên nhục thể Ðạo quá!

Dặm khổ qua rồi ngôi vị sẵn,

Hay chi thế tục chước cầu vinh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chỉn cầu con gắng chí cho bền,

Lập danh phận cho thê vinh tử ấm.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Cầu là hình quả tròn. Như: Địa cầu, hình cầu.

Thánh giáo Thầy có câu: Nơi xứ nầy, dân tình rất thuần hậu và ôn hoà, nên Thầy đến cũng như Chúa Cứu Thế đã đến với chúng con để bài trừ Tà thuyết và truyền bá Chơn đạo trên toàn cầu.

Ðiều đáng chú ý là Ðức Hộ Pháp được Ðấng Chí Tôn ban cho một ân huệ đặc biệt chưa từng có trong các lịch sử Ðạo Giáo trên toàn cầu.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

4.- Cầu do chữ tú cầu là trái cầu thêu, mà ngày xưa những danh gia vọng tộc thường dùng để kén chọn chồng cho con gái.

Như: Gieo cầu.

Mặt anh hùng ở tại nơi đâu,

Phải kén chọn gieo cầu cho đáng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CẦU BẤT ĐẮC KHỔ

求 不 得 苦

Cầu bất đắc: Mong cầu nhưng không được. Khổ: Đau đớn khổ sở.

Cầu bất đắc khổ là một trong “Bát khổ 八 苦”, tức tám cái khổ trong giáo lý Phật giáo.

Cầu bất đắc khổ là cái khổ do sự ước ao, mong cầu nhưng không đạt được, nên sinh ra khổ.

Cầu bất đắc khổ, tức là muốn mà không được là khổ.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

CẦU BỊNH

求 病

Hay “Cầu giải bịnh”.

Cầu: Cầu xin. Bịnh (bệnh): Ốm đau, bịnh hoạn.

Cầu bịnh, như chữ “Cầu giải bệnh”, là nghi lễ do Bàn Trị Sự cùng gia quyến người bịnh thiết lễ cúng Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng để cầu xin tha thứ cho oan khiên nghiệp chướng để người bịnh được bình phục sức khoẻ trở lại.

Theo tài liệu Hạnh Đường, Bàn Trị Sự đến gia đình người bịnh lập đàn cầu giải bịnh trong ba đêm:

Đêm thứ nhứt, thiết lễ cúng Chí Tôn, có thượng sớ, xong thỉnh rượu và nước âm dương để người bịnh cầu nguyện rồi dùng rượu để rửa mặt, nước âm dương để uống. Tiếp tụng Di Lạc Chơn Kinh và Kinh Cứu Khổ.

Đêm thứ nhì, thứ ba thiết lễ cúng Chí Tôn và tụng kinh như đêm thứ nhứt, nhưng không thượng sớ, xong thỉnh rượu, nước âm dương cho bịnh nhân cầu nguyện rồi dùng. Riêng vào đêm thứ ba, Bàn Trị Sự buộc gia đình và người bịnh trai giới trọn ngày đêm để tụng Kinh Sám Hối.

Nghi lễ lập đàn cầu bịnh cho bổn đạo.

(Hạnh Đường).

 

 

CẦU CẠNH

Cầu: Tìm, xin, cậy.

Cầu cạnh là xin xỏ, nhờ vả, hay cậy nhờ người có quyền thế.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Nhưng đời nầy cũng có lắm kẻ hay cầu cạnh lấy hư danh và bả lợi, cũng có những hành động đê tiện để tủi nhục đến vợ con chẳng khác chi người nước Tề kia vậy.

Thương kẻ nhơn sanh hơn xác thịt,

Chẳng lo cầu cạnh cũng ngồi ngai.

(Đạo Sử).

 

 

CẦU CAO

求 高

Cầu: Xin, mong muốn cho mình. Cao: Trên người.

Cầu cao là chỉ người mong cầu cảnh cao sang.

Cầu cao còn dùng để chỉ người có thái độ trịch thượng, xem mình cao trọng hơn kẻ khác.

Đừng học khách lầu hồng đánh bóng,

Nói với chồng dùng giọng cầu cao.

(Phương Tu Đại Đạo).

Sạch lòng lê hoác hằng no ấm,

Mặc kẻ cầu cao thế sự đua.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

CẦU CƠ

求 乩

Cầu: Xin. Cơ: Cây cơ, một dụng cụ dùng để thông công với các Đấng Thiêng liêng.

Cây cơ gồm một cái giỏ đan bằng tre hay mây, bọc vải vàng, nơi miệng giỏ có một cái cán dài bằng gỗ, đầu cán chạm hình đầu chim loan, gắn vào cán một cọng mây, dùng để viết chữ. Cây cơ được người trong Đạo gọi một cách trịnh trọng là “Ngọc cơ”. Nếu cây cơ có kích thước nhỏ thì gọi là Tiểu ngọc cơ, nếu cây cơ có kích thước lớn thì gọi là Đại ngọc. Khi cầu Đức Chí Tôn hay Đức Phật Mẫu thì phải dùng Đại ngọc cơ.

Trong đàn cầu cơ phải có vị đứng làm chủ đàn để cầu nguyện, hai vị đồng tử tức hai vị chức sắc Hiệp Thiên Đài, một vị hầu bút làm độc giả để đọc do cơ viết ra, một vị Điển ký để ghi chép bài giáng cơ, và nhiều vị hầu đàn.

Thầy cấm từ đây chẳng nên lấp lửng cầu cơ hay chấp bút chi, vì là một sự hại lớn lao cho Ðạo.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CẦU DANH

求 名

Cầu: Tìm, cầu xin. Danh: Tiếng tăm.

Cầu danh là cầu được tiếng tăm ở đời.

Muốn có tiếng tăm, phải là người có tài, có đức, có địa vị trong xã hội và nhứt là có công làm lợi ích cho quốc gia dân tộc.

Người cầu danh là người làm việc chi chỉ vụ vào tiếng tăm mà thôi.

Thánh giáo Thầy có câu: Các con ôi! Thầy thương đến tâm thành chánh trực đạo đức khiêm cung, cũng như Thầy xoá kẻ xảo trá gian tà cầu danh chác lợi.

Xem: Cầu danh chác lợi.

Ðức tánh khen con có chí thành,

Lần đường Ðạo chẳng chút cầu danh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Diệt cho sạch xác ma thịt quỷ,

Trừ những phường hồ mị cầu danh.

(Bát Nương Giáng Bút).

Cầu danh thẹn lẫn hàng cao sĩ,

Xả phú vui thầm phận hạ bô.

(Thơ Cao Tiếp Đạo).

 

 

CẦU DANH CHÁC LỢI

Cầu danh: Mong cầu tiếng tăm. Chác lợi: Mua kiếm lợi lộc.

Cầu danh chác lợi là tìm cầu danh tiếng và kiếm chác lợi lộc. Người thiếu tài đức làm việc chi chỉ vụ tiếng tăm và lợi lộc cho riêng mình, đó gọi là người “Cầu danh chác lợi”.

Thánh Giáo Thầy có câu: Các con ôi! Thầy thương đến tâm thành chánh trực đạo đức khiêm cung, cũng như Thầy xoá kẻ xảo trá gian tà cầu danh chác lợi.

Cầu danh chác lợi mờ tai mắt,

Mua chức bán quyền nám phổi gan.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

CẦU DUYÊN

求 緣

1.- Cầu: Tìm, xin ban những điều mong muốn. Duyên: điều kiện phụ để