TỪ NGỮ ĐIỂN CỐ CAO ĐÀI

 

 

Danh mục vần CH

 

CHA

Cha

Cha chả

Cha mẹ

Cha mẹ đỡ đầu

Cha thầy con bán sách

Cha Trời

 

CHÀ

Chà

Chà chà

Chà đạp

Chà Và

Chà xát

 

CHẢ

Chả

Chả phụng khô lân

 

CHẠ

Chạ

 

CHÁC

Chác

Chác buộc

Chác khổ

Chác lợi

Chác lợi danh

Chác oán

 

CHAI

Chai

 

CHẢI

Chải chuốt

 

CHAY

Chay lạt

 

CHÁY

Cháy

Cháy mày

Cháy nhà ra mặt chuột

 

CHÀY

Chày

Chày kình

 

CHẢY

Chảy

 

CHẠY

Chạy

Chạy chữa

 

CHÀM

Chàm

 

CHAN

Chan

Chan chứa

Chan hoà

Chan rưới

 

CHÁN

Chán

Chán chường

Chán đời

Chán ngán

 

CHÀNG

Chàng dù lọng thiếp đai cân

Chàng Hồ

Chàng mão thiếp cân

Chàng ngưu

Chàng ràng

 

CHANH

Chanh ranh

 

CHÁNH

Chánh

Chánh chơn

Chánh danh

Chánh đại quang minh

Chánh đáng

Chánh đạo

Chánh định

Chánh giác

Chánh giáo

Chánh kỷ

Chánh khí

Chánh lý

Chánh môn

Chánh niệm

Chánh nghĩa

Chánh pháp

Chánh Phối Sư

Chánh phủ

Chánh quả

Chánh sách

Chánh tà

Chánh tâm

Chánh tế

Chánh tín

Chánh tự

Chánh thất

Chánh thê

Chánh thể

Chánh thiếp

Chánh trị

Chánh trị Đạo

Chánh Trị Sự

Chánh truyền

Chánh trực

Chánh văn

Chánh vị

 

CHẠNH

Chạnh

 

CHAO

Chao ôi

 

CHÁO

Cháo

Cháo rau

 

CHÀO

Chào

 

CHẢO

Chảo

 

CHÁT

Chát

Chát chúa

Chát ngắt

 

CHAU

Chau mày

 

CHÁU

Cháu

Cháu con

 

CHẮC

Chắc

Chắc hẳn

Chắc mẻm

 

CHĂM

Chăm

Chăm chỉ

Chăm chú

Chăm lo

Chăm nom

Chăm sóc

 

CHẰM

Chằm

Chằm khíu

 

CHẶM

Chặm

 

CHĂN

Chăn

Chăn cù

Chăn chiếu lạnh

Chăn dân

Chăn dê

Chăn gối

Chăn loan gối phượng

 

CHẰN

Chằn

 

CHẲN

Chẳn

 

CHẶN

Chặn

 

CHẰNG

Chằng

Chằng mắt

 

CHẲNG

Chẳng

Chẳng dè

Chẳng đoái

Chẳng hề

Chẳng khứng

Chẳng lẽ

Chẳng lượm của rơi

 

CHẮP

Chắp cánh

Chắp cánh liền cành

Chắp nối

 

CHẮT

Chắt chiu

 

CHẶT

Chặt

Chặt chẽ

Chặt giữ

 

CHẦY

Chầy

 

CHÂM

Châm

Châm biếm

Châm chế

Châm chước

 

CHẤM

Chấm

Chấm dứt

 

CHẦM

Chầm chậm

 

CHẪM

Chẫm rãi

 

CHẬM

Chậm

Chậm rãi

Chậm trễ

 

CHÂN

Chân

Chân dung

Chân lý

Chân tài

Chân tướng

 

CHẤN

Chấn chỉnh

Chấn động

Chấn hưng

Chấn Tử

 

CHẦN

Chần chờ

 

CHẨN

Chẩn

Chẩn bần

 

CHẬN

Chận

 

CHẤP

Chấp

Chấp bút

Chấp chánh

Chấp chưởng

Chấp kinh

Chấp nê

Chấp nhứt

Chấp sự giả các tư kỳ sự

Chấp thủ

Chấp thuận

Chấp trách

Chấp trung

Chấp trước

 

CHẬP

Chập

Chập chồng

Chập chờn

 

CHẤT

Chất

Chất chồng

Chất chứa

Chất ngất

Chất nhược liễu bồ

Chất phác

Chất Thánh

 

CHẬT

Chật

Chật cứng

Chật hẹp

Chật ních

Chật vật

 

CHÂU

Châu

Châu cấp

Châu Công

Châu Công Cẩn

Châu chấu đá xe

Châu du liệt quốc

Châu du thiên hạ

Châu Đạo

Châu hoàn Hiệp Phố

Châu lưu

Châu Mãi Thần

Châu mày

Châu nhi phục thỉ

Châu rơi ngọc trầm

Châu sa

Châu toàn

Châu thành

Châu Thành Thánh Địa

Châu Thọ Xương

Châu Trần

Châu tri

Châu về Hiệp Phố

 

CHẦU

Chầu

Chầu chực

 

CHẬU

Chậu

 

CHE

Che

Che chở

Che đậy

Che lấp

 

CHÈ

Chè

 

CHÉM

Chém

Chém vợ cầu vinh

 

CHEN

Chen

Chen vai

 

CHÉN

Chén

Chén cúc

Chén đồng

Chén nguyệt

Chén quỳnh

Chén thề

 

CHEO

Cheo

Cheo leo

 

CHÉO

Chéo

Chéo áo

 

CHÈO

Chèo

Chèo chống

Chèo quế

Chèo thuyền

 

CHÉP

Chép biên

Chép miệng

Chép nhiều thơ vạn đại truyền ra

 

CHẸT

Chẹt

 

CHÊ

Chê

Chê bai

Chê khen

Chê rẻ khinh khi

Chê thế Trang ca

 

CHẾ

Chế

Chế cải

Chế giảm

Chế ngự

Chế nhạo

Chế răn

Chế sửa

 

CHỄM

Chễm chệ

 

CHÊNH

Chênh

Chênh lệch

Chênh vênh

 

CHẾT

Chết

Chết sống

Chết sống trọn nghì

 

CHI

Chi

Chi bằng

Chi Đạo

Chi lan

Chi phái

Chi Pháp

Chi phối

Chi Thế

 

CHÍ

Chí

Chí cả

Chí cao

Chí công

Chí chánh

Chí chơn

Chí đức

Chí hồng

Chí hộc hồng

Chí hướng

Chí khí

Chí linh

Chí nam nhi

Chí nguyện

Chí nhân

Chí phàm

Chí quyết

Chí sĩ

Chí tang bồng

Chí Tôn

Chí Thánh

Chí thành

Chí thân

Chí thiện

Chí thiết

Chí thú

Chí ư

 

CHÌ

Chì

Chì dần dạ

 

CHỈ

Chỉ

Chỉ bóng

Chỉ dẫn

Chỉ định

Chỉ giáo

Chỉ hồng

Chỉ huy

Chỉ kim

Chỉ mành

Chỉ thắm

Chỉ trích

Chỉ vẽ

 

CHỊ

Chị

Chị Hằng

 

CHIA

Chia

Chia cách

Chia cơm cắn muối

Chia cơm nhịn muối

Chia đau sớt thảm

Chia gương

Chia lao sớt nhọc

Chia ly

Chia phân

Chia phe phân phái

Chia phôi

Chia phui

Chia rẽ

Chia sẻ

Chia sớt

Chia tay

Chia tình xẻ nghĩa

Chia vui sớt nhọc

Chia xẻ

 

CHÌA

Chìa

Chìa khoá

 

CHÍCH

Chích

Chích bạn lìa đôi

Chích bóng

Chích cánh

Chích lẻ

Chích mát

Chích mích

 

CHIẾC

Chiếc bá

Chiếc bách

Chiếc lá chàng Vu

 

CHIÊM

Chiêm bái

Chiêm bao

Chiêm ngưỡng

Chiêm nghiệm

 

CHIẾM

Chiếm

Chiếm đoạt

 

CHIẾN

Chiến bào

Chiến công

Chiến chinh

Chiến địa

Chiến mã

Chiến Quốc

Chiến sĩ

Chiến sĩ trận vong

Chiến tướng

Chiến tràng

Chiến tranh

Chiến trận

Chiến trường

 

CHIẾP

Chiếp miệng

 

CHIẾT

Chiết liễu

Chiết quả

 

CHIÊU

Chiêu

Chiêu an

Chiêu hiền

Chiêu hồn

Chiêu mộ

Chiêu phước hoạ

Chiêu Quân

Chiêu Quân cống Hồ

Chiêu tập

 

CHIẾU

Chiếu

Chiếu cố

Chiếu chăn

Chiếu chỉ

Chiếu diệu

Chiếu dụ

Chiếu đất màn trời

Chiếu giám

Chiếu y

Chiếu minh

Chiếu Nhũ lịnh

 

CHIỀU

Chiều

Chiều chuộng

Chiều hôm

Chiều lòn

Chiều luỵ

 

CHIM

Chim

Chim cấy voi cày

Chim chóc

Chim hồng vỗ cánh

Chim hướng về non

Chim kết cánh

Chim liền cánh

Chim khôn đậu cây lành

Chim lồng

Chim Việt cành Nam

Chim xanh

 

CHÌM

Chìm

Chìm đắm

Chìm nổi

Chìm xuồng

 

CHÍN

Chín

Chín bệ

Chín cô

Chín chữ

Chín chữ cù lao

Chín được mười thua

Chín khúc

Chín lớp

Chín phẩm toà sen

Chín phẩm Thần Tiên

Chín suối

Chín tầng

Chín Trời mười Phật

Chín trùng

 

CHỈN

Chỉn

Chỉn có

 

CHINH

Chinh

Chinh chiến

Chinh chuyên

Chinh khách

Chinh lòng

Chinh nghiêng

Chinh phu

Chinh phụ

 

CHÍNH

Chính

Chính chuyên

Chính giữa

Chính phủ

Chính trị hà khắc

 

CHỈNH

Chỉnh

Chỉnh đàn

Chỉnh đốn

Chỉnh sát cúng phẩm

Chỉnh tề

Chỉnh Tiên hoa

Chỉnh túc

Chỉnh trang

 

CHÍT

Chít chiu

 

CHIU

Chiu chít

 

CHỊU

Chịu

Chịu cực

Chịu khổ

 

CHO

Cho

Cho roi cho vọt

 

CHÓ

Chó

 

CHOÁN

Choán

 

CHOÀNG

Choàng

 

CHỌC

Chọc

Chọc ruột

 

CHÓI

Chói

Chói chang

Chói loà

Chói ngần

Chói rạng

Chói rực

 

CHÒI

Chòi

Chòi tranh

 

CHÒM

Chòm

Chòm mây bạc

Chòm xóm

 

CHỌN

Chọn

Chọn đá thử vàng

Chọn lọc

Chọn lựa

Chọn xóm

 

CHONG

Chong

 

CHÓNG

Chóng

 

CHÕNG

Chõng Trần treo đợi

 

CHÓP

Chóp

 

CHÓT

Chót

 

CHỖ

Chỗ

 

CHỐC

Chốc lát

 

CHỐI

Chối

Chối cãi

Chối công

Chối tội

Chối từ

 

CHỒI

Chồi

Chồi huyên

Chồi quế

 

CHÔN

Chôn

Chôn chân

Chôn vùi

 

CHỐN

Chốn

Chốn đoạ đày

Chốn Hư linh

Chốn quyền môn

 

CHỒN

Chồn

 

CHỘN

Chộn rộn

 

CHÔNG

Chông

Chông chinh

Chông gai

 

CHỐNG

Chống

Chống cự

Chống chèo

Chống chỏi

Chống gậy

Chống ngăn

 

CHỒNG

Chồng

Chồng của vợ công

Chồng chập

Chồng chất

Chồng là chúa

Chồng hay trọn nghĩa

Chồng tế vợ

 

CHỔNG

Chổng

 

CHỚ

Chớ

 

CHỜ

Chờ

Chờ con lập đức

Chờ đợi

 

CHỞ

Chở

Chở che

Chở chuyên

 

CHỢ

Chợ

Chợ búa

Chợ Long Hoa

 

CHƠI

Chơi

Chơi bời

Chơi giỡn

Chơi vơi

 

CHỚI

Chới với

 

CHƠM

Chơm chởm

 

CHỜM

Chờm hờm

 

CHƠN

Chơn

Chơn chánh

Chơn chúa

Chơn dung

Chơn Đạo

Chơn giả

Chơn giáo

Chơn hồn

Chơn linh

Chơn linh phối nhất thân vi Thánh hình

Chơn linh Thiết Quả

Chơn lý

Chơn mây

Chơn mạng

Chơn nữ

Chơn ngôn

Chơn nhơn

Chơn như

Chơn pháp

Chơn quân

Chơn tâm

Chơn tu

Chơn tục

Chơn tướng

Chơn thành

Chơn thân

Chơn thần

Chơn thật

Chơn thiệt nghĩa

Chơn trị

Chơn trời

Chơn trời góc bể

Chơn truyền

Chơn vạc

 

CHỚN

Chớn chở

 

CHỚP

Chớp

Chớp nháng

Chớp nhoáng

 

CHỢT

Chợt

 

CHRISTNA

Christna

 

CHU

Chu đáo

Chu phục

Chu toàn

 

CHÚ

Chú

Chú giải

Chú ý

Chú trọng

Chú Vãng sanh

 

CHỦ

Chủ

Chủ Âm quang

Chủ đích

Chủ gia

Chủ ý

Chủ khảo

Chủ nghĩa

Chủ phòng Cáo Luật

Chủ quan

Chủ quản

Chủ quyền

Chủ tể

Chủ toạ

Chủ tướng

Chủ trung

Chủ trương

 

CHUA

Chua

Chua cay

Chua chát

Chua lè

Chua xót

 

CHÚA

Chúa

Chúa Cứu Thế

Chúa đóng đinh

Chúa Đông

Chúa quỷ

Chúa tể

Chúa thánh tôi hiền

 

CHÙA

Chùa

Chùa chiền

Chùa Gò Kén

Chùa mây

Chùa mới

Chùa rách Phật vàng

Chùa tranh Phật vàng

 

CHUẨN

Chuẩn bị

Chuẩn Đề Bồ Tát

Chuẩn đích

Chuẩn nhận

Chuẩn phê

Chuẩn thằng

 

CHỤC

Chục

 

CHUI

Chui

 

CHÙI

Chùi

Chùi lau

 

CHUYÊN

Chuyên

Chuyên cần

Chuyên môn

Chuyên quyền

 

CHUYỂN

Chuyển

Chuyển đoạ vi thăng

Chuyển hoạ vi phước

Chuyển kiếp

Chuyển lay

Chuyển luân

Chuyển pháp

Chuyển tinh hoá khí

Chuyển thân

Chuyển thế

Chuyển vần

Chuyển vận

Chuyển xây

 

CHUYỆN

Chuyện

Chuyện vãn

 

CHÚM

Chúm chím

 

CHÙM

Chùm nho

 

CHUN

Chun

 

CHUNG

Chung

Chung cuộc

Chung chạ

Chung chăn gối

Chung đỉnh

Chung hiến lễ

Chung Kỳ

Chung ly biệt

Chung lo

Chung lưng

Chung lưng đâu cật

Chung mạng

Chung niên

Chung quanh

Chung quy

Chung sống

Chung tình

Chung tư

Chung Tử

Chung thân

Chung thuỷ

Chung trí

Chung vai đâu cật

 

CHÚNG

Chúng

Chúng sanh

Chúng sinh

 

CHÙNG

Chùng

 

CHỦNG

Chủng

Chủng loại

Chủng tộc

Chủng tử

 

CHUỐC

Chuốc

 

CHUỘC

Chuộc

Chuộc tội

 

CHUỖI

Chuỗi

Chuỗi bồ đề

Chuỗi Từ bi

 

CHUÔNG

Chuông

Chuông Bạch Ngọc

Chuông mõ

Chuông tỉnh thế

 

CHUỒNG

Chuồng

 

CHUỘNG

Chuộng

Chuộng quới cầu vinh

 

CHUỐT

Chuốt

Chuốt trau

 

CHỤP

Chụp

Chụp giựt

Chụp hình

 

CHÚT

Chút

Chút đỉnh

Chút ít

 

CHƯ

Chư hầu

Chư Hiền

Chư linh

Chư Nhu

Chư sơn

Chư tăng

 

CHỪ

Chừ

Chừ bự

 

CHỮ

Chữ

Chữ Đồng

Chữ Khí

Chữ nghĩa

Chữ nhẫn

Chữ tài cận chữ tai

Chữ tòng

Chữ tùng

 

CHƯA

Chưa

 

CHỨA

Chứa

Chứa chan

Chứa đức

Chứa đức muôn năm hưởng

Chứa sách cho con sau học

Chứa vàng để lại cho con

 

CHỪA

Chừa

Chừa cải

Chừa lỗi

Chừa thói

 

CHỬA

Chửa

Chửa đẻ

 

CHỮA

Chữa

 

CHỨC

Chức

Chức Nữ Ngưu Lang

Chức phận

Chức sắc

Chức tước

Chức trách

Chức trọng

Chức việc

Chức vụ

 

CHỰC

Chực

Chực chầu

 

CHỬI

Chửi

Chửi rủa

 

CHƯỞI

Chưởi rủa

 

CHƯN

Chưn

 

CHƯNG

Chưng

Chưng cộ

 

CHỨNG

Chứng

Chứng cớ

Chứng chiếu

Chứng đàn

Chứng giám

Chứng hôn

Chứng kiến

Chứng lòng

Chứng minh

Chứng quả

Chứng sự

Chứng tỏ

Chứng tri

 

CHỪNG

Chừng

Chừng mực

Chừng nào

 

CHƯỚC

Chước

Chước hiểm

Chước hiểm sâu

Chước mầu

Chước mưu

Chước quỷ mưu thần

Chước sâu

Chước tửu

 

CHƯỞI

Chưởi

 

CHƯƠNG

Chương đài

Chương phủ

Chương trình

 

CHƯỚNG

Chướng

Chướng ngại

 

CHƯỜNG

Chường

 

CHƯỞNG

Chưởng âm

Chưởng ấn

Chưởng Đạo Kim Biên

Chưởng Đạo Nguyệt Tâm

Chưởng giáo

Chưởng Pháp

Chưởng quản

Chưởng thiện quả ư thi thơ chi phố

 

 

 

 

 

 

 

 

CH

 

CHA

1.- Cha là người đàn ông đã sinh ra mình. Như: Con có cha như nhà có nóc.

Theo triết lý đạo Cao Đài, con người có một cha mẹ xác thịt sinh ra, nhưng có chung một cha mẹ linh hồn như lời Thánh giáo Đức Chí Tôn đã dạy: Người sống trên thế gian nầy, dầu thuộc giống dân nào, cũng chỉ có một Cha chung mà thôi, ấy là Trời đang chế ngự số mạng của các con. Tại sao các con lại chia rẽ nhau vì sự bất đồng Ðạo lý, mà chính tất cả các con đều phải chịu đau khổ để rửa tội của các con ở cõi thế gian nầy?

Nhơn nghĩa gắng gìn dạ sắt son,

Thờ cha kính mẹ hiếu lo tròn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Khiêm cung từ thuở tuổi thơ sanh,

Thương mẹ hiếu cha lắm nhọc nhằn.

(Đạo Sử).

2.- Cha, như chữ “Từ Phụ”, còn là tiếng rất thân thiết mà các tín đồ Đạo Cao Đài dùng để gọi Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Sở dĩ gọi Đức Chí Tôn bằng cha bởi vì chơn linh mọi người là điểm Linh Quang do Ngài chiết ra từ khối Đại Linh Quang ban cho, nên Ngài là Đấng cha thiêng liêng.

Người cũng vẫn Cha, Thầy luôn một,

Cả chơn linh, hài cốt tay Người.

(Thơ Dịch Hộ Pháp).

 

 

CHA CHẢ

Cha chả là tiếng thốt ra biểu lộ ý ngạc nhiên, tán thưởng hoặc sự bực tức cao độ.

Như: Cha chả ngôi nhà nầy đẹp nhỉ, cha chả tức ơi là tức, cha chả hôm nay mặc áo sang trọng quá.

Cha chả hèn lâu chẳng viếng thăm,

E chư huynh trưởng trách em thầm.

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 

CHA MẸ

Cha: Tiếng gọi người đàn ông sinh ra mình. Mẹ: Tiếng gọi người đàn bà sinh ra mình.

Cha mẹ là ông cha, bà mẹ, chỉ hai đấng sinh thành và dưỡng dục ra thân mình.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Mấy cháu chỉ biết ăn học và chơi giỡn hoàn toàn vô ưu lự của buổi thiếu thời. Nhưng mấy cháu cũng ý thức được phần nào cha mẹ lắm chịu cực khổ lo cho mấy cháu ăn học đặng ngày sau trở nên người xứng đáng.

Đặt ra có họ, có dòng,

Vua, thầy, cha mẹ, vợ chồng, cháu con.

(Giới Tâm Kinh).

 

 

CHA MẸ ĐỠ ĐẦU

Cha mẹ: Tiếng gọi người không trực tiếp sinh ra, nhưng xem như con đẻ. Đỡ đầu: Nhận trách nhiệm quan tâm, giúp đỡ.

Cha mẹ đỡ đầu của một đứa bé là người đứng ra lãnh trách nhiệm như một người cha hay người mẹ của đứa bé, nhằm quan tâm lo lắng nó, khi nói gặp cảnh côi cút.

Con nít mới sanh phải chọn cha mẹ đỡ đầu cho nó, phòng sau bảo hộ nó lúc rủi phải thân côi.

(Tân Luật).

 

 

CHA THẦY CON BÁN SÁCH

Cha thầy: Ý nói cha làm thầy dạy học. Con bán sách: Con đem sách của cha bán hết.

Tục ngữ Việt Nam có câu: “Cha làm thầy, con bán sách”, ý nói con không nối được nghiệp cha, cha hay chữ mà con dốt nát.

Nghĩa bóng: Chỉ con kém tài đức hơn cha.

Ai nói cha thầy con bán sách,

Nên danh đợi thuở huyệt kia đào.

(Đạo Sử).

 

 

CHA TRỜI

Cha: Người đàn ông sinh ra mình. Trời: Đấng làm chủ tể muôn vật trong thế gian.

Người xưa thường quan niệm rằng: Cha Trời mẹ Đất.

Theo giáo lý Cao Đài, Đức Chí Tôn (Trời) giáng cơ xưng là Đại từ Phụ, xem chúng sanh như là con, Thánh giáo Ngài đã dạy: “Các con ôi! Thầy lấy đức háo sanh mà dìu dắt các con, chẳng khác nào như kẻ làm cha nưng niu dạy dỗ một trẻ bé trông cho mau trưởng thành, hầu lưu danh truyền nghiệp cho có tên tuổi với đời”.

Quyền năng của Đấng Cha Trời,

Càn Khôn thế giái vạn loài hữu sinh?

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

CHÀ

Chà là xát, cọ vào, xát mạnh cho tróc vỏ hoặc nát ra.

Như: Chà bộ ván cho sạch đất, chà nát khoai mì, chà tróc vỏ đậu xanh.

Trói người vào đó xát chà,

Vì chưng hung bạo đốt nhà bắn săn.

(Kinh Sám Hối).

 

 

CHÀ CHÀ

Chà chà là tiết thốt ra, biểu tỏ ý ngạc nhiên, than phiền hoặc tán thưởng.

Ý, chà chà! Quên nữa, phải ở lại vài hôm để gặp nó chớ, sắp tết rồi, chà chà lại mệt nữa.

Ý, chà chà,

Trí Bần Đạo ngày nay sanh chướng,

Viết tầm khào nói bướng chọc hờn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHÀ ĐẠP

Chà: Xát, cọ, nghiến, đạp nát. Đạp: Lấy chân để giẫm mạnh xuống, hoặc tống mạnh ra.

Chà đạp là giẫm lên làm cho nát, thường dùng để ví hành động vi phạm một cách hết sức thô bạo cái đáng lẽ phải được tôn trọng.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Cái phong hoá tốt đẹp đó đã bị bôi dơ, bị chà đạp: nào tình phụ tử, nào nghĩa phu thê, tình huynh đệ, mỗi mỗi đều mất hẳn tính cách thiêng liêng của nó.

Nơi bụi thế đảo điên chánh pháp,

Chốn hồng trần chà đạp đức tin.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

CHÀ VÀ

Chà Và, theo Việt Nam Tự Điển của Hội Khai Trí Tiến Đức, là tiếng người đàng trong (miền Nam) gọi người Ấn Độ, vì dân tộc Ấn có nước da đen.

Cũng có sách khác cho rằng Chà Và là tiếng dùng để gọi người Mã Lai.

Như: Trước đây người Chà và thường hay bán vải.

Lỡ bất bình con chẳng giống cha,

Làm lếu giống chà và ma ní.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHÀ XÁT

Chà: Áp mạnh bàn tay, bàn chân, hoặc vật gì có mặt phẳng xuống và đưa đi đưa lại nhiều lần để làm cho tróc, hoặc nát ra. Xát: Chà, cọ, đánh đi đánh lại.

Chà xát là chà đi chà lại nhiều lần. Như: Con trâu chà xát gốc cây bên bờ ruộng.

Chúng ta sẽ chà xát họ như con vật, chừng đó mới biết ăn năn sám hối thì đã rồi.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

CHẢ

1.- Chả, như chữ “Chẳng”, là từ biểu thị ý phủ định. Như: Chả hiểu, chả làm, chả biết làm sao.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy: Thầy buộc phải nói rõ cho các con đừng lầm mà trách Thầy. Cha hiền chả biết hành hạ con cái bao giờ.

Trăm tuổi áo là còn gắng điếu,

Công trình cửa phạm chả hề quen.

(Đạo Sử).

Khổ hạnh đâu long lòng sắt đá?

Nhục vinh chả hổ phận râu mày.

(Thơ Thuần Đức).

Chung đỉnh bày trò không quyến luyến,

Công danh trước mắt chả xôn xao.

(Thơ Cao Quỳnh Diêu).

2.- Chả là món ăn bằng thịt hoặc cá tôm băm hay giã nhỏ, ướp gia vị, gói ép lại và nấu chín.

Như: Chả cá, chả chay, chồng ăn chả vợ ăn nem, nem công chả phụng.

Bần Đạo tưởng không chi rằng lạ,

Với vợ nhà đủ chả đủ nem.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHẢ PHỤNG KHÔ LÂN

Chả phụng (phượng): Lấy thịt chim phụng làm chả. Khô lân: Lấy thịt lân làm khô.

Chim phụng (phượng) và kỳ lân là hai con vật rất nên quý hiếm, thuộc loài tứ linh: Long, Lân, Quy, Phượng.

Vì vậy, người ta thường mượn phượng, lân để chỉ những vật quý báu.

Chả phụng (phượng) khô lân, như chữ “Chả phụng nem lân”, ý muốn nói những thức ăn trân quý, sang trọng.

Trái Phan Đào

mời khách nên xa lánh chả Phụng khô Lân,

Nếm một miếng

rửa cõi trần cho người nguyên nhân muôn kiếp.

(Giác Mê Khải Ngộ).

Thủ giới trì trai niệm chuỗi lần,

Quên mùi chả phụng với khô lân.

(Thơ Phạm Mộc Bổn).

 

 

CHẠ

1.- Chạ là hỗn tạp, lẫn lộn, bừa bãi. Như: Oán chạ thù vơ, làm chạ, cỏ chạ.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Loại thảo mộc cũng thế: Sanh ra như cây bá cây tùng, những cây danh mộc, hoặc kỳ hoa dị thảo mới thật có ích trên thế gian, dù ở chốn non cao rừng thẳm cũng có kẻ lặn lội đi tìm, chớ giống cỏ chạ lan mọc bên đường, ví có bị bước tục vầy bừa cũng không ai màng ngó tới.

Chớ oán chạ tham lam ngược ngạo,

Bội nghĩa ân trở tráo chước sâu.

(Kinh Sám Hối).

Lan chung cỏ chạ ít ai tường,

Bởi kẻ hiền lương chác nỗi thương.

(Đạo Sử).

2.- Chạ là tiếng gọi chung hạng bình dân trong làng.

Chạ còn dùng để chỉ một phần trong làng, xóm. Như: Phường chạ, làng trên chạ dưới.

Lộc xưa chẳng đức giữ cho bền,

Phường chạ nay đành gởi tuổi tên.

(Đạo Sử).

 

 

CHÁC

Chác là chuốc lấy, mua lấy, cầu lấy. Như: Công đâu chác lấy sự đời, gây sầu chác oán.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Bến khổ đường mê vẫn cứ tìm vào mà làm cho biển trần chẳng biết bao nhiêu chìm đắm. Ðạo đức chẳng rèn lòng mà tội tình càng chác lấy.

Khổ đời muốn lánh gắng tìm phương,

Giành giựt đừng mong chác thế thường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Làm lành sau cũng lành vay trả,

Chác dữ âu hay dữ vốn lời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

CHÁC BUỘC

Chác: Chuốc lấy. Buộc: Trói buộc.

Chác buộc có nghĩa là tự chuốc lấy để trói buộc vào mình, không còn được tự do, nhàn hạ.

Thánh giáo Thầy có dạy: Chung đỉnh mảng tranh giành, lợi danh thường chác buộc, kiếp phù sanh không mấy lát, đời giả dối chẳng là bao.

Danh lợi mải mê chác buộc vào,

Tâm thần khó vượt sóng lao xao.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

CHÁC KHỔ

Chác: Chuốc lấy. Khổ: Vất vả, đau đớn.

Chác khổ là chuốc lấy sự đau đớn, khổ sở.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Đức Ngũ Nương Diêu Trì Cung có đoạn dạy: Nên ráng mà lo cho rồi kiếp trả vay, rồi nên cải hối, đừng nhiễm của trần nữa mà chác khổ.

Đời thường chác khổ chớ mê,

Đạo là cội phúc khá kề nương thân.

(Thất Nương Giáng Bút).

Còn anh mãi bo bo chác khổ,

Giam cuộc đời vào chỗ quạnh hiu.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

CHÁC LỢI

Chác: Chuốc lấy, mua lấy, cầu lấy. Lợi: Lợi lộc.

Chác lợi là cầu lấy điều lợi lộc.

Như: Cầu danh chác lợi.

Thầy đã vì chúng sanh mà lập Ðạo, nhưng kẻ phàm tục còn ám muội, tham danh chác lợi, lấn tước cầu quyền, thì ấy là tự chúng nó gieo mình nơi vực thẳm.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CHÁC LỢI DANH

Chác: Mua, đổi, cấu vào mình. Lợi danh 利 名: Tiếng tăm và lợi lộc.

Chác lợi danh là tìm kiếm những gì để có tiếng tăm và lợi lộc.

Như: Người tu hành nếu còn chác lợi danh thì sẽ bị mê đắm, không giải thoát được.

Tùng Thiên an mạng rán làm lành,

Ðừng kết oán đời chác lợi danh.

(Đạo Sử).

Kiếp khiên khảo chẳng bòn âm chất,

Đời khổ tu còn chác lợi danh.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

CHÁC OÁN

Hay “Chác oán thù”.

Chác: Chuốc lấy. Oán: Oán giận, hờn oán.

Chác oán, hay “Chác oán thù”, là chuốc lấy những điều thù oán.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Tâm bất chánh trong phạm vi eo hẹp thì làm rối loạn gia đình, tâm bất chánh ở chỗ xử sự xã giao thì gây ác cảm, chác oán thù, tâm bất chánh loán vào xã hội tạo giây oan nghiệt, đưa đến cảnh tội tù, xô đẩy con người vào vực sâu hang thẳm.

Nhẫng lo chác oán mua hờn,

Hại nhau chẳng biết nghĩa nhơn thế nào.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CHAI

1.- Chai là chỗ da bị dày và cứng lại vì bị tiếp xúc, cọ xát nhiều.

Như: Bàn tay bị chai, mang dép hoài làm cho ngón chân chai cứng.

Chưa kinh sợ cứ hoạ gây hoài,

Khuyên bảo dường như nó đã chai.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

2.- Chai là lọ, đồ đựng bằng thuỷ tinh có cổ nhỏ và dài, thường dùng để đựng chất lỏng.

Như: Chai lọ, chai đựng rượu, chai chứa hơn một lít nước, miểng bát miểng chai.

Thương đồng loại cũng hơn thí bạc,

Thấy trên đường miểng bát, miểng chai.

(Kinh Sám Hối).

 

 

CHẢI CHUỐT

Chải: Làm cho sạch mượt bằng lược hoặc bàn chải. Chuốt: Sửa chữa một cách công phu, bóng bẩy.

Chải chuốt là sửa sang, tô điểm mất nhiều công phu cho hình thức bên ngoài của con người cho đẹp đẽ, óng ả.

Như: Suốt ngày ngồi trước gương chải chuốt.

Trình môn đã muốn ít câu văn,

Chải chuốt mép môi cũng gọi rằng.

(Đạo Sử).

Lời thơ chải chuốt tình man mác,

Ngòi bút lung linh bạn xã giao.

(Thơ Vạn Năng).

 

 

CHAY LẠT

Chay: Dùng thức ăn không cá thịt. Lạt: Không mặn, ý chỉ không dùng thịt, cá, mắm, nước mắm.

Chay lạt, nói chung về việc ăn chay, tức là dùng những món thuộc rau cải, thực vật, không có cá thịt.

Nhơn đạo rày đã suy vi,

Chay lạt dời đổi còn chi tu hành.

(Thất Nương Giáng Bút).

Chay lạt đặng ngừa lằn khí độc,

Mê man bất tỉnh trận kỳ ba.

(Thơ Hộ Pháp).

Từng quen nửa kiếp mùi chay lạt,

Chi lạ đôi tuần vị đắng cay.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CHÁY

Cháy là bén lửa, hay bốc lửa lên. Như: Tàn thuốc cháy áo, đống trấu cháy ầm ỉ.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có đoạn: Ðạo tuy cao, song nên biết sức Quỷ cũng chẳng hèn. Nếu không ngăn ngừa, dằn lửa nóng trong tâm thì lửa Tam muội của Quỷ vương đốt cháy.

Ðường tu ví bẳng không lo trước,

Ðền điện Lương vương phải cháy tiêu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thấy ai thảm lòng đau ái ngại,

Nghe kẻ sầu như cháy lòng thương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CHÁY MÀY

Cháy: Bén lửa, hay bốc lửa lên. Mày: Hàng lông mọc trên con mắt.

Cháy mày tức là lửa cháy lông mày, ý nói những việc sắp xảy đến rất gần.

Cháy mày chỉ chuyện khẩn cấp, gắp rút như lửa cháy lông mày.

Thương lấy cõi trần gian chịu cơn cháy mày mà nhăn nhố,

Bước lạc lầm sao chưa suy độ thẹn hổ với lương tâm.

(Giác Mê Khải Ngộ).

 

 

CHÁY NHÀ RA MẶT CHUỘT

Cháy nhà: Nhà bị lửa bốc cháy. Ra mặt chuột: Chuột bị lộ mặt ra.

Cháy nhà ra mặt chuột là câu tục ngữ ví trường hợp việc xảy ra mới lộ rõ ra bộ mặt thật xấu xa.

Đợi buổi cháy nhà ra mặt chuột,

Mấy phường đểu giả hết khoa trương.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CHÀY

1.- Chày là dụng cụ dùng để giã vào cối, thường bằng gỗ hoặc bẳng thỏi chất kim và nặng.

Như: Chày giã gạo, cây chày giã thuốc, vắt cổ chày ra nước (chỉ sự hà tiện).

Kìa cuối xóm mấy hàng trước tử,

Nọ đầu làng chày lữ phơi sương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Chày còn đồng nghĩa với “Dùi”, dùng chỉ vật để đánh, hoặc để gõ chuông.

Như: Chày Giáng Ma Xử, chày kình.

Bầu linh gậy sắt Ông an thế,

Chày Giáng Ma Xử tớ giúp đời.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

CHÀY KÌNH

Chày: Dụng cụ dùng để giã, dọng, thường bằng gỗ hoặc bẳng thỏi chất kim. Kình: Cá kình, loại cá ở biển

Chày kình là cây chày dọng đại hồng chung có chạm hình con cá kình.

Lời chú bài phú của Ban Cố có chép: Trong biển có một loại cá, gọi là cá kình rất lớn, bờ gần biển có một loại thú gọi là bồ lao. Con bồ lao rất sợ cá kình. Mỗi lần cá kình lội vào bờ để đánh bồ lao thì bồ lao kêu rống to lên.

Cho nên người xưa muốn đúc chuông lớn kêu to, thì đúc hình con bồ lao trên chóp chuông, và chạm cá kình nơi chày dọng chuông. Khi chày kình dọng vào chuông bồ lao thì chuông kêu to lên.

Hòn ngọc khó đem trau Thánh chất,

Cân vàng khôn lấy nện chày kình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nghe chày kình khua tiếng chốn đền thờ,

Giục nhớ khách dõi khai đường tận độ.

(Văn Tế Tiểu Tường).

 

 

CHẢY

1.- Chảy là trôi đi, tuôn ra, tức di chuyển thành dòng.

Như: Nước chảy đá mòn, nước sông chảy xiết.

Thánh giáo Lý Giáo Tông có dạy: Ðặng bậc Chí Tôn cầm quyền thế giới dìu dắt, rửa lỗi, mà chẳng bươn chải cho kịp thì, để đua nhau nghĩ tính về miếng đỉnh chung, nếu Thầy chẳng đại từ đại bi thì công quả đã chảy theo dòng nước.

Suối lành chảy nước hoá sông thanh,

Trăm hạnh chưa phen một nết lành.

(Đạo Sử).

Dòng Tương chảy thân bèo trôi nổi,

Chẳng ai thương chữa lỗi binh lời.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Chảy là thoát ra ngoài thành giọt, thành dòng.

Như: Nước mắt chảy như mưa, máu chảy ruột mềm, nồi chảy hết nước.

Giáo gươm bén nhọn tư bề,

Chém đâm máu chảy tràn trề ngục môn.

(Kinh Sám Hối).

Giọt lệ thiếp vì phiền mà chảy,

Gẫm thương người chia dải đồng tâm.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CHẠY

1.- Chạy là phóng mình đi mau, gót chân không bám xuống đất, như chạy nhảy, ngựa chạy đường dài.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Hiền hay ngu là do người ta giữ cho còn cái Tâm hay là để cho mất cái Tâm, giữ cho còn cái Tâm là sánh được với bậc Thánh Hiền, bỏ mất cái Tâm, con người chỉ là một cây thịt biết đi, biết chạy mà thôi.

Cao bay xa chạy đã hay chi,

Chưa biết loạn bình lúc trợ nguy.

(Đạo Sử).

Mây bay rửa mặt mưa tuôn đổ,

Ngựa chạy vùng mình nước cuộn trôi.

(Thiên Thai Kiến Diện).

2.- Chạy là ở chỗ nầy dời ra chỗ khác.

Như máu chạy không đều, nhọt chạy, rượu chạy vào ngũ tạng lục phủ.

Như rượu vào tỳ vị, nó chạy vào ngũ tạng lục phủ hết, thì trái tim con người chẳng khác nào như cái máy chánh để trữ sự sống...

3.- Chạy là vì mê đắm mà mải miết theo đuổi một mục đích gì, như chạy theo tiền tài, chạy theo nữ sắc.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có đoạn: Gặp đặng mối Ðạo Trời như cầm trong tay một khối ngọc còn đang ẩn đá. Phải cố tâm mài giũa, gắng công tháng lụn năm chầy thì một ngày kia mới thấy lố hình ngọc quý. Ví bằng mới mài được nửa chừng lại thối chí ngả lòng, vội buông mồi bắt bóng bỏ chạy theo mối lợi khác vô giá trị thì có phải là công phu lỡ dở, mình chịu thiệt thòi chăng?

Dạy đừng tụ nay chòm mai khóm,

Thấy con người la lỏm chạy theo ve.

(Phương Tu Đại Đạo).

4.- Chạy là di chuyển chỗ này dời ra chỗ khác để tránh, trốn những điều không hay xảy tới, như chạy giặc, chạy nạn, chạy loạn.

Thánh giáo Thầy có câu: Các con hiểu, Thầy buồn, nhưng ấy là máy Trời đã định, chạy sao cho khỏi. Thầy biết bao lần vì các con mà chịu nhọc nhằn.

Chạy Trời trốn nắng ít ai lo,

Còn mảnh phàm tâm khổ nỗi trò.

(Đạo Sử).

Giao Ngọc ấn tôi lên chấp chánh,

Văn nghe qua chạy lánh thiền môn.

(Lược Thuật Toà Thánh).

5.- Chạy là nói về máy móc chuyển động, hoạt động, xe chạy, tàu chạy, xe chạy dầu, xe hết hư, còn chạy được.

Một chiếc xuồng con không chạy biển,

Thầm lo chi hiệp giống nòi còn.

(Đạo Sử).

6.- Chạy là xoay xở tìm kiếm trong hoàn cảnh cấp bách, hay cần kíp, như chạy gạo, chay ăn, chạy thầy, chạy chữa, chạy quan.

Nhỏ chạy manh quần tấm áo,

Lớn khôn lo học lo hành.

(Phương Tu Đại Đạo).

7.- Chạy còn dùng để chỉ hàng hoá có nhiều người mua, tức là đắc hàng.

Như: Hàng mỹ phẩm bán chạy, công ty khuyến mãi cho tiệm buôn nào bán chạy hàng hoá.

Miễn bán nhiều hàng chạy đặng mau,

Dầu lời ít, lời cao hơn mắc giá.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHẠY CHỮA

Chạy: Xoay xở tìm kiếm trong hoàn cảnh cấp bách, hay cần kíp. Chữa: Làm cho hết bệnh tật hoặc hết hư hỏng.

Chạy chữa là nói riêng về xoay xở để chữa bệnh, tức tìm thầy, tìm thuốc để chữa cho người mắc bệnh khỏi nguy kịch.

Như: Anh ấy bịnh, gia đình đã hết lòng chạy chữa.

Nhưng nhờ sự chạy chữa tận tình nên Ðức Ngài (Thượng Sanh) đã dần dần bình phục.

(Đặc San Thông Tin).

 

 

CHÀM

Chàm là một thứ cây nhỏ, thuộc họ đậu, lá cho một chất màu xanh sẫm, người ta dùng để nhuộm, in.

Như: Tay đã nhúng chàm.

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du có câu: Trót vì tay đã nhúng chàm, Dại rồi còn biết khôn làm sao đây.

Lỡ tay nên chịu nhúng chàm,

Rủi ro mang lấy vóc phàm bấy lâu.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

CHAN

1.- Chan là rưới nước vào, hoặc rưới nước canh vào cơm và thức ăn.

Như: Cơm chan máu, cơm nấu quá khô nên phải chan canh ăn.

Ca dao có câu: Râu tôm nấu với ruột bầu, Chồng chan vợ húp, gật đầu khen ngon.

Thương mưa đổ giọt châu ria,

Cỏ cây nhờ nước chan bìa dầm xuân.

(Thất Nương Giáng Bút).

Buổi họp chưa cùng lời ấm lạnh,

Cơn lìa khó nín lụy hoà chan.

(Thiên Thai Kiến Diện).

2.- Chan là đầy dẫy, tràn đầy, lênh láng.

Như: Chan hoà tình cốt nhục, chan chứa niềm khổ đau, bão dập mưa chan.

Vun trồng cội phúc ơn chan thấm,

Dong ruổi đường Tiên nghĩa tạc gìn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Buổi họp chưa cùng lời ấm lạnh,

Cơn lìa khó nín lụy hoà chan.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

CHAN CHỨA

Chan: Đầy dẫy, tràn đầy, lênh láng. Chứa: Giữ, tích trữ ở bên trong.

Chan chứa là đầy, lênh láng. Như: Nước mắt chan chứa, hay Tình thương chan chứa.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Phải có những người giàu lòng bác ái, dẫy đầy huyết quản thương đời, chan chứa tính vị tha, nồng nàn tình đồng loại thì kẻ xấu số mới được gội nhuần ân huệ.

Chan chứa lòng lo cứu thế thời,

Tang thương biến cải các con ơi!

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Đời mạt kiếp, nhắm xem sơn thuỷ Trời càng chan chứa,

Nhìn cỏ cây đồng xào úa, dường như lụy ứa cõi mộng trường.

(Giác Mê Khải Ngộ).

 

 

CHAN HOÀ

Chan: Rưới nước. Hoà: Đều khắp.

Chan hoà là tràn đầy đều khắp mọi nơi.

Chan hoà còn dùng để chỉ tình cảm hay lối sống hoà vào với nhau, không có sự xa lạ, cách biệt.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Bao nhiêu xương máu con cái yêu dấu của Đức Chí Tôn tức nhiên bao nhiêu sanh mạng anh hùng Liệt Sĩ Cao Đài. Mỗi một giọt máu là một giọt huyết lệ chan hoà trong ấy.

Nhìn thấy trẻ chan hoà giọt lệ,

Bởi quá thương con trẻ chẳng lo.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

CHAN RƯỚI

Chan: Rưới nước. Rưới: Đổ nước từng giọt cho thấm đều bề mặt.

Chan rưới là tiếng dùng để nói ân hồng của Đức Chí Tôn hay các Đấng Thiêng Liêng bủa khắp cả chúng sanh ví như những hạt mưa móc rưới xuống thấm nhuần cho cây cỏ.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Ðức Chí Tôn lập Ðạo cốt yếu là đem tình thương vô lượng chan rưới cho nhân loại, làm cho nhơn loại nhìn nhau cùng một nguồn cội Thiêng Liêng để cùng nhau hoà hợp trong tình huynh đệ Ðại Ðồng hầu tạo hoà bình cho thế giới.

May đặng gặp hồng ân chan rưới,

Giải trái oan sạch tội tiền khiên.

(Kinh Tận Độ).

Lãnh phước khá toan chan rưới phước,

Làm cho sanh chúng hưởng Thiên ân.

(Lục Nương Giáng Bút).

Chan rưới hồng ân Trời đổi sắc,

Phô trương cẩm tú đất thay màn.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

CHÁN

Chán là không thích, không ưa, tức ở trạng thái không còn ham thích, không thiết tới nữa. Như: Học không chán, ngủ lắm cũng chán.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy đã chán mắt thấy phái Nữ hành đạo thế nào, biết bao phen Thầy buồn, mà buồn rồi lại giận, muốn chẳng lập Nữ phái mà làm gì, nhưng trai gái cũng đồng con, Thầy không nỡ đành lòng từ bỏ.

Thanh cao tập chí mắt xem thời,

Ðời thấy đã nhiều chán nữa thôi.

(Đạo Sử).

Dạy cho chán thân hầu phận thiếp,

Kiếp chia chồng là kiếp vô duyên.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHÁN CHƯỜNG

Chán: Không thích nữa vì có nhiều quá. Chường: Phô bày, để lộ cho mọi người thấy.

Chán chường là chán lắm, không còn thiết gì nữa, vì đã thất vọng nhiều.

Trong Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Ðức Thái Bạch có dạy Ngọc Trang Thanh như sau: Hiền Hữu đã chán chường mắt thấy một nơi tội lỗi là nội thành Chợ Lớn, Sài Gòn, Gia Ðịnh, mà một mình Hiền Hữu hết lòng hành Ðạo độ rỗi chưa ắt trọn cả chúng sanh nơi đó cho đặng. Hiền Hữu rất nên vô phước.

Thôi mắt chán chường về định liệu,

Mau chơn theo dõi kịp cùng Thầy.

(Đạo Sử).

Mạnh đè yếu thiệt chán chường,

Biển sâu khó biết lo lường giải oan.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

Mùi chê dưới mắt chán chường,

Còn duyên chi mộng đến đường tái hôn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CHÁN ĐỜI

Chán: Không thích, không ưa, không thèm, buồn bực, ngã lòng. Đời: Chỉ cõi thế gian, cuộc đời, việc đời.

Chán đời là không thiết gì đến việc đời nữa.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Những bậc hiền thời xưa là những người tài kinh bang tế thế và có một tiết tháo đáng kính. Phần nhiều là những trang chán đời, có chí ẩn dật, nhưng nếu gặp vận hội được ra gánh vác việc đời thì làm nên sự việc phi thường, đổi loạn ra trị, đổi nguy thành an, như Trương Tử Phòng đời Hớn, Kiển Thúc, Phạm Lãi đời Xuân Thu, Ðịch Nhơn Kiệt đời Ðường, Châu Công Ðáng đời Châu, Triệu Phổ đời Tống..

Người tu phải biết chán đời,

Một niềm theo Ðạo, Phật, Trời thoát mê.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

CHÁN NGÁN

Chán: Không thích nữa. Ngán: Chán nản.

Chán ngán là rất chán, không còn thấy thích thú, tha thiết gì đến nữa.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Người đã khép mình trong cảnh giới tu hành đã xả thân cầu Đạo, thấy diễn những tuồng rất bẩn thỉu như vậy cũng đã bất bình, chán ngán.

Oan khúc nỗi đời thôi chán ngán,

Tư bề nào biết cậy ai binh.

(Đạo Sử).

Thấy nẻo công danh thêm chán ngán,

Dòm gương phú quý bắt buồn cười.

(Thơ Cao Liên Tử).

 

 

CHÀNG DÙ LỌNG THIẾP ĐAI CÂN

Chàng dù lọng: Chồng được ban dù lọng để vinh quy. Thiếp đai cân: Vợ cũng được ban áo mão.

Chàng dù lọng, thiếp đai cân ý muốn nói chồng được vinh hiển thì vợ cũng hưởng giàu sang.

Ngày xưa, các quan được thọ tước phong thì vợ con được triều đình cho hưởng tập ấm.

Cháng dù lọng thếp đai cân đồng nghĩa với câu: Chàng mão thiếp cân.

Xem: Chàng mão thiếp cân.

Lo lắng chung cùng lo lập nghiệp,

Lo chàng dù lọng thiếp đai cân.

(Đạo Sử).

 

 

CHÀNG HỒ

Chàng: Chỉ chung về người đàn ông. Hồ: Tên một vị sử quan đời Xuân Thu.

Chàng Hồ tức là chàng Đổng Hồ.

Đổng Hồ là một vị sử quan nước Tấn đời Xuân Thu. Vua Tấn Linh Công bị Triệu Xuyên giết, trong lúc Triệu Thuẫn cầm quyền chính trong nước lại chạy trốn định qua nước khác, nhưng vừa qua khỏi thành thì nghe tin vua chết, bèn trở về triều.

Đổng Hồ bèn chép vào sử: Triệu Thuẫn giết vua. Thuẫn xin Đổng Hồ sửa lại, Đổng Hồ không chịu, Thuẫn dùng quyền lực cưỡng bức, Đổng Hồ nói: Giết tôi thì được nhưng sửa bút tôi không được. Khổng Tử khen Đổng Hồ là một sử gia giỏi.

Xem: Đổng Hồ.

Mượn thế đặng toan phương giác thế,

Cũng như nương viết của chàng Hồ.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

CHÀNG MÃO THIẾP CÂN

Chàng mão: Người chồng được ban mão quan. Thiếp cân: Người vợ cũng được ban đai cân.

Chàng mão thiếp cân là chồng làm quan, mặc áo mão triều đình, thì vợ cũng được đội khăn, ý nói khi chồng vinh hiển thì vợ cũng vẻ vang, tức là vợ chồng cùng chung hưởng phú quý.

Xem: Chàng dù lọng thiếp đai cân.

Vinh thì chàng mão thiếp cân,

Hèn thì chàng váy thiếp quần đổi thay.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CHÀNG NGƯU

Chàng: Tiếng dùng để chỉ người đàn ông. Ngưu: Ngưu lang, người chăn trâu bên sông Ngân.

Chàng ngưu, tức là một người chăn trâu trên thiên đình, gọi là Ngưu Lang, kết duyên với người con gái dệt vải, gọi là Chức nữ.

Hai người bị đày ở hai bên sông Ngân Hà, mỗi năm nhờ chim quạ bắc cầu, mới gặp nhau vào đêm thất tịch.

Xem: Ngưu lang, Chức nữ.

Ả Chức bơ thờ quên nhiệm vụ,

Chàng Ngưu lười biếng lộ hành tung.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CHÀNG RÀNG

Chàng ràng là quanh quẩn ở bên, không rời, đeo bám theo xung quanh đối tượng mà mình thích, gây sự vướng bận cho người khác.

Ca dao ta có câu: Chợ chiều nhiều khế ế chanh, Nhiều cô gái lạ nên anh chàng ràng.

Rộn rực Nam giao bầy chúa quỷ,

Chàng ràng Văn miếu lũ thương ma.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

CHANH RANH

Chanh ranh là lăng xăng, lộn xộn, rối rít, đứng ngồi không yên.

Như: Tụi nhỏ chanh ranh quanh bàn chẳng ai ngồi ăn uống gì được.

Thánh giáo Đức Chí tôn tại Thảo Xá Hiền Cung ngày Ngày 12 Tháng 12 năm Kỷ Tỵ, 1930 có câu: Dòm các nơi thì chỗ chanh ranh tự lập, nơi lừng lẫy độc quyền. Trung, hỏi có vậy chăng?

Chanh ranh làm rộn đến người mời,

Chẳng biết phận mình chịu tả tơi.

(Đạo Sử).

 

 

CHÁNH

1.- Chánh, như chữ “Chính ” là ngay thẳng, đúng đắn. Như: Chánh trực, chánh lý, chánh đáng.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Thầy đến chuyển đạo, lập lại vô vi. Các con coi thử bên nào chánh lý: Hữu hình thì bị diệt đặng, chớ vô vi chẳng thế nào diệt đặng.

Tâm chánh nương nhau dìu lối chánh,

Lòng thành nhờ lẫn lóng hơi thanh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Bề trong ngay thẳng tỏ bề ngoài,

Miệng chánh thì đời vốn trái tai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Chánh, nhữ chữ “Chính ” là ngay, ở giữa. Như: Chánh điện, chánh toạ, chánh tẩm, chánh ngọ.

Kế nữa là Chánh Ðiện, bề dài 81 thước, bề ngang 27 thước. Lão phải vẽ mới đặng.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

3.- Chánh, như chữ “Chính ”, là trái với tà, nguỵ. Như: Chánh giáo, chánh pháp, chánh tà, chánh truyền.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có đoạn dạy: Thầy thường than rằng: Ðạo phát trễ một ngày là một ngày hại nhơn sanh, nên Thầy nôn nóng nhưng Thiên cơ chẳng nghịch đặng. Ma quỷ hằng phá Chánh mà giữ Tà, chư Tiên Phật trước chưa hề tránh khỏi.

Lẽ Chánh tự nhiên có lẽ Tà,

Chánh Tà hai lẽ đoán sao ra.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thuyền khơi gặp gió cánh buồm trương,

Dìu dắt đạo mầu nẻo chánh nương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

4.- Chánh, như chữ “Chính ”, là việc chính trị. Như: Chánh phủ, chánh sách, hành chánh, chánh thể.

Thánh giáo có câu: Nếu Thầy không vì Tam Kỳ Phổ Ðộ nầy thì Thầy đã y tấu lời xin của Giáo Tông mà huỷ trường công quả của các con hết thảy. Vậy nay Thầy cũng lấy lòng nhơn mà để vào trí não các con ít lời thêm cho rõ việc thi hành chánh sách của Ðạo.

Con gắng công thêm và liệu cách đối đãi với chánh phủ, có chư Thần giúp sức, khá an tâm.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CHÁNH CHƠN

Hay “Chính chân 正 真”.

Chánh (Chính): Ngay thẳng. Chơn (chân): Thật.

Chánh chơn, như chữ “Chân chính 真 正”, là đúng thực, ngay thật.

Thánh giáo Ngũ Nương Diêu Trì Cung có dạy: Vì Đạo là lẽ chánh chơn để hướng dẫn quần linh sau nầy yên ngôi vị cũ.

Xem: Chơn chánh.

Đức chánh chơn, thuật xử thế thuần lương,

Hạnh liêm khiết, ôn hoà điều khắc kỷ.

(Ai Điếu Hương Lự).

 

 

CHÁNH DANH

Hay “Chính danh”.

Chánh (chính): Ngay, đúng. Danh: Tên.

Chánh danh, như chữ “Chính danh 正 名”, là tên gọi phải đúng theo nghĩa của nó.

Đức Khổng Tử trong Nho Giáo có đề ra thuyết “Chính danh định phận” có nghĩa là tên gọi phải đúng với bổn phận, ví dụ như tên gọi là vua, hay cha thì phải làm tròn chức vụ của vua, hay cha, như vậy mới gọi là chính danh. Còn như làm không tròn thiên chức của tên gọi thì gọi là bất chính danh. Hễ “Danh bất chính tắc ngôn bất thuận, ngôn bất thuận tắc sự bất thành 名 不 正 則 言 不 順, 言 不 順 則 事 不 成”, nghĩa là danh không chánh thì lời nói không xuôi, lời nói không xuôi thì việc không thành. Do vậy người quân tử không bao giờ dám bừa bãi về lời nói.

Thuyết chính danh của Khổng Tử nhằm về chánh trị có mục đích ổn định trật tự xã hội để biến cải đời loạn ra đời bình trị.

Kim Bàn Ngọc Lộ thần linh tại,

Tiên tịch chánh danh chữ rạng đề.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

CHÁNH ĐẠI QUANG MINH

Hay “Chính đại quang minh”.

Chánh (chính) đại: Thật ngay thẳng. Quang minh: Sáng, sáng rõ.

Chánh đại quang minh, như chữ “Chính đại quang minh 正 大 光 明”, tức là làm bất cứ điều gì cũng phải rõ ràng, sáng sủa, không được mờ ám.

Người chính đại quang minh là người làm điều gì cũng rõ ràng, trong sáng, không khuất lấp, không trái đạo lý. Đây là tánh đức căn bản của người tu hành.

Khuyên khắp cả Hoàn Cầu Thế Giái, Đứng trong trần người người phải có lý chánh đại quang minh.

(Giác Mê Khải Ngộ).

 

 

CHÁNH ĐÁNG

Hay “Chính đáng”.

Chánh (chính): Thích đáng, phải đúng. Đáng: Hay Đương là thích hợp.

Chánh đáng, như chữ “Chính đáng 正 當”, là đúng hợp với lẽ phải, với luật pháp.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Những lời cảm khái của chức sắc trong các cơ quan Ðạo vừa mới bày tỏ, chứa đầy sự thương tiếc, bộc lộ xiết bao nỗi tri ân nồng hậu đối với một Ðấng vĩ nhân mà cuộc đời phải trải qua biết bao sóng gió nguy nan, đòi phen thất thổ ly hương, lắm lúc ôm sầu nuốt hận cũng vì chủ nghĩa thương đời. Sự thương tiếc và sự tri ân đó thật chánh đáng.

Thầy muốn dạy con, phải ở và dạy nội gia quyến con cho chánh đáng, phải lấy lòng trong sạch đối đãi với người, dầu việc nhỏ mọn cũng vậy.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CHÁNH ĐẠO

Hay “Chính đạo”.

Chánh (chính): Ngay thẳng. Đạo: Đạo lý.

Chánh đạo, như chữ “Chính đạo 正 道”, tức là cái đạo lý theo đúng chính nghĩa.

Sách Trung Dung cho rằng: Trung giả thiên hạ chi chính đạo 中 者 天 下 之 正 道, nghĩa là trung là chính đạo trong thiên hạ.

Chánh đạo còn là một nền đạo chơn chánh, còn gọi là Chánh giáo.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Thầy lại thường nói rằng, sự sang trọng vinh hiển của các con chẳng phải nơi thế giới nầy. Thầy lại đến lập trong nước các con một nền chánh Đạo đủ tư cách độ rỗi chúng sanh.

Thánh đức chưa ai sanh đủ sẵn,

Ðừng xa chánh Ðạo mất oai linh.

(Đạo Sử).

Ngưỡng vọng Chí Tôn nguồn chánh Đạo,

Kỉnh thờ Phật Mẫu khối chơn Thần.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

CHÁNH ĐỊNH

Hay “Chính định”.

Chánh (chính): Ngay. Định: Dừng đứng, ngăn bặt mọi thứ loạn động. Định là sự tập trung tâm ý.

Chánh định, hay “Chính định 正 定”, là trạng thái tâm tập trung vững chắc, giống như ngọn đèn không chao động, ở một nơi không có gió.

Chánh định là sự kềm giữ tâm ngay ngắn và ở yên một điểm, không lay chuyển và chẳng xao xuyến.

Con người thường bị hoàn cảnh và vọng niệm sai sử, tâm ý phân tán, cho nên sống trong quên lãng, thất niệm. Chánh định giúp cho người tu tập có thể thắp sáng chánh niệm và sống tỉnh thức, tâm không còn đeo đuổi vọng niệm.

Chánh định phương tu diệt ý tà,

Trau tâm Thánh đức, tỉnh phồn hoa.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

CHÁNH GIÁC

Hay “Chính giác”.

Chánh (chính): Ngay. Giác: Thức tỉnh, biết.

Chánh giác, như chữ “Chính giác 正 覺”, Hán dịch âm là “Tam Bồ đề 三 菩 提”, là sự giác ngộ hoàn toàn viên mãn, tức là sự giác ngộ thành đạo (đắc quả thành Phật).

Chánh giác còn gọi là “Viên giác 圜 覺”, “Toàn giác 全 覺”, hay “Đại giác 大 覺”.

Muốn tu thì phải đi tầm,

Tầm đường chánh giác cao thâm mới tài!

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Đưa đường chánh giác khêu đèn huệ,

Dìu khách phồn hoa trỗi tiếng kình.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

CHÁNH GIÁO

Hay “Chính giáo”.

Chánh (chính): Hay chánh là chơn chánh, ngay thật. Giáo: Tôn giáo.

Chánh giáo, như chữ “Chính giáo 正 教”, là một nền tôn giáo chơn chánh, độ dẫn những người tu hành đến chỗ đắc đạo. Trái với Tà giáo là một nền tôn giáo đưa người tu hành vào đường sai lầm, tà vạy.

Chánh giáo bảo tồn thất ức niên,

Nhờ nơi luật pháp hiệp chơn truyền.

(Thơ Huệ Giác).

Lập đạo xiển dương nền Chánh giáo,

Khai nguơn an định mối chơn truyền.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

CHÁNH KỶ

Hay “Chính kỷ”.

Chánh (chính): Ngay thẳng. Kỷ: Mình, chính mình.

Chánh kỷ, như chữ “Chính kỷ 正 己”, là giữ cho mình được chánh trực và lấy chính mình làm trước, nghĩa là luôn luôn ăn ở đời, phải biết giữ lời cho ngay thẳng, chính chắn trước, phải biết vui nghe lời phải, vui thấy điều phải, vui nói lời phải và vui làm việc phải.

Trong sách Giáo Lý, Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có viết: Chỉ ư Chí thiện là việc làm ấy nhắm đến mục đích chí Thiện. Học tập theo Tam cang lãnh là thực hành phép chánh kỷ hoá nhơn vậy.

Chánh kỷ trước rồi mới hoá nhân,

Đạo mầu rèn luyện khá chuyên cần.

(Thơ Thân Dân).

Tề gia trị quốc kế dài lâu,

Chánh kỷ hoá nhân chước nhiệm mầu.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

CHÁNH KHÍ

Hay “Chính khí”.

Chánh (chính): Ngay thẳng. Khí: Sự phát hiện ra bên ngoài của tinh thần.

Chánh khí,như chữ “Chính khí 正 氣”, là cái khí tiết ngay thẳng của người trung liệt, nghĩa tiết.

Người xưa cho rằng người anh hùng, có tiết nghĩa thường thọ Hạo nhiên chi khí, còn gọi là Chánh khí, là cái khí lớn lao, mạnh mẽ có trong trời đất.

Phò Lưu Huyền Đức lắm công lao,

Chánh khí gương nêu vạn cổ làu.

(Cội Đạo Bốn Mùa).

Cứu khổn phò nguy hưng chánh khí,

Trừ gian diệt nịnh hộ chơn truyền.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

CHÁNH LÝ

Hay “Chính lý”.

Chánh (chính): Ngay thẳng. Lý: Lý lẽ.

Chánh lý, như chữ “Chính lý 正 理”, là lý lẽ đúng đắn, ngay thẳng.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Thầy đến chuyển đạo, lập lại vô vi. Các con coi thử bên nào chánh lý: Hữu hình thì bị diệt đặng, chớ vô vi chẳng thế nào diệt đặng.

Thầy phân chánh lý cho con hiểu,

Kẻ vụ thâu đa chẳng thoát phàm.

(Đạo Sử).

Hay sợ đời lắm sự dại khôn,

Về cõi thọ bảo tồn câu chánh lý.

(Văn Tế Bảo Đạo).

 

 

CHÁNH MÔN

Hay “Chính môn”.

Chánh (chính): Ngay giữa. Môn: Cửa.

Chánh môn, như chữ “Chính môn 正 門”, là cửa chánh vào nhà hay vào đình chùa, cơ quan.

Chánh Môn còn là một cái cửa cổng lớn nhứt trong mười hai cửa ra vào Nội Ô Toà Thánh, nằm ngay phía trước Đền Thánh là một đại lộ có bề ngang 60 thước, chạy về hướng tây. Con lộ nầy được khởi công mở rộng ngày 25 tháng 3 năm Giáp Dần (Dl. 17/4/1974), Ngài Hiến Pháp Trương Hữu Đức có nhắc lại một bài thi của Đức Hộ Pháp sáng tác năm Mậu Tý (1948) như sau:

Đại đồng thiên hạ đó đi đây,

Tiện mối lưu thông mở lộ nầy.

Trước mặt Cao Đài xuyên Đất Việt,

Sau lưng tháp ngọc tận Trời Tây.

Ngang bằng mặt rộng hai bên rảnh,

Lưng thẳng thân to một lối ngay,

Trên lộ dưới thuyền du khách ngoạn,

Đường về tầm Đạo, động Thiên Thai.

Việc xây dựng công trình cổng Chánh môn được bắt đầu từ ngày 12 tháng 6 năm Ất Tỵ (Dl. 10/7/1965). Theo thông lệ từ trước, khi xây dựng một công trình nào của Hội Thánh cũng đều do bản vẽ của Đạo, tức do Ban Kiến Trúc vẽ.

Bản vẻ cổng Chánh môn được Đức Hộ Pháp chỉ dẫn Ban Kiển Trúc vẻ vào năm Đinh Hợi có “Bề cao 36 thước, bề ngang 60 thước, cổ kín tam quan, trên nóc đắp mái ngói có hình cổ pháp tam giáo”.

Cổng Chánh Môn hiện tại không phải là hoạ đồ của của Ban Kiến Trúc do Đức Hộ Pháp chỉ dẫn, mà là bản vẽ sau này của Ty Kiến Thiết tỉnh Tây Ninh thiết kế, được Hội Thánh chọn để thi công.

Nguyên vào năm Ất Tỵ (1965), Thiếu Tướng Lê Văn Tất, con Ngài Đạo Nhơn Lê Văn Trung được Chánh phủ bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng Tây Ninh, trong lúc đó Ngài Bảo Thế Lê Thiện Phước, cầm quyền Chưởng quản Hiệp Thiên Đài. Ông Tỉnh trưởng xin hợp tác với Đạo để xây dựng cổng Chánh môn, Ngài Bảo Thế chấp thuận, giao cho bên Đời lo vật liệu xây cất, còn phần nhân công do công quả thợ hồ Ban Kiến trúc của Đạo. Ông Tỉnh trưởng vận động các mạnh thường quân quanh vùng chợ Long Hoa thì đủ tiền mua vật liệu,

Bản hoạ đồ Chánh môn của Ban Kiến Trúc do Đức Hộ Pháp chĩ dẫn vẽ có nhiều ý kiến cho rằng quá cao nên đề nghị Ty Kiến Thiết Tây Ninh vẽ lại hoạ đồ khác. Bản đồ do Ty Kiến Thiết vẽ cổng Chánh môn chỉ cao có 9 thước, ngang 54 thước, trên ngói đắp hai rồng phò Cổ pháp. Bản thiết kế nầy được Ngài Bảo Thế chấp thuận.

Đến khi điều công thợ để xây dựng Chánh môn, Tổng Giám Ban Kiến Trúc lúc bây giờ là ông Lê Văn Thế không đồng ý xây dựng theo hoạ đồ của Ty Kiến Thiến với lý do là không làm theo Bản đồ Đức Hộ Pháp đã dạy trước năm 1947 đến nay, nên ông không chịu bổ công thợ đến làm. Ngài Bảo Thế ra lịnh cho ông Chưởng quản Cơ Quan Phước Thiện là Chơn Nhơn Lê Văn Trung ban Huấn lịnh số 31/HL ngày 10 tháng 5 năm Ất Tỵ thâu quyền chức Tổng Giám của Lê Văn Thế và cử ông Phó Tổng Giám Trần Văn Lành lên thay quyền Cai quản Ban Kiến Trúc, bổ công thợ để xây dựng cổng Chánh môn.

Từ đó vị tân Tổng Giám Ban Kiến trúc là Trần Văn Lành đứng ra điều hành công thợ đến xây dựng cổng Chánh môn cho đến khi khánh thành.

Sau đây là Huấn từ của Đức Thượng Sanh đọc trong buổi “Lễ Đặt Viên Gạch Đầu Tiên” có đoạn như sau: Ðã bao lâu rồi Hội Thánh có ý định xây cất Chánh môn Toà Thánh theo sự trù hoạch của Ðức Hộ Pháp từ trước. Nhưng vì tài chánh eo hẹp, lại nữa trong vùng nội ô có nhiều sự kiến trúc và tu bổ cấp bách cần phải lo trước, nên không thể thực hành ý định sớm hơn được. Mãi cho đến ngày hôm nay mới có thể khởi công xây dựng. Theo sự thoả thuận trước đây giữa Hội Thánh và ông cựu Tỉnh Trưởng thì công cuộc vận động cho có đủ tài chánh mua vật liệu về phần ông cựu Tỉnh Trưởng đảm nhiệm, còn Hội Thánh thì lo về chi phí công thợ.

Nhưng ngày 12 tháng sáu Ất Tỵ (nhằm 10/07/1965) thì chánh phủ bổ nhiệm ông Tỉnh Trưởng mới đến thay thế cho ông Lê Văn Tất được lãnh nhiệm vụ khác.

Lẽ dĩ nhiên, ông cựu Tỉnh Trưởng không còn lo nhiệm vụ kể trên nữa, và công cuộc xây dựng Chánh môn Toà Thánh hiện nay đã chính thức trọn vẹn phần Hội Thánh đảm nhiệm về phương diện tài chánh cũng như về phương diện kiến thiết.

Từ mấy chục năm qua, đại nghiệp của Ðức Chí Tôn tại thế vẫn được bồi đắp lần hồi do nơi lòng trung thành và chí hy sinh của toàn Ðạo, tức là của Chức sắc và Thiện tín. Ðạo trải qua bao nhiêu nỗi thăng trầm, lướt qua bao phen bão bùng, giông tố gây nên bởi lòng tham hiểm của thế tình, nhưng chánh khí trung can của con cái Ðức Chí Tôn không bao giờ sờn mẻ. Trong những giờ phút khó khăn, điên đảo; trong những hồi đen tối khuynh nguy, nếu vạn đắc dĩ, Hội Thánh phải để lời kêu gọi thì nhân sanh trong cửa Ðạo sẵn sàng hưởng ứng kẻ của người công xúm nhau đem khối nhiệt thành điểm tô cho cơ nghiệp Ðạo.

Ðó chính là một tinh thần phục vụ cao siêu mà cũng là cái năng lực hữu hiệu của Thiêng Liêng đã mầu nhiệm dành sẳn cho Thánh Thể Ðức Chí Tôn tại thế. Cái tinh thần đó bất diệt cũng như cái năng lực đó vẫn mãi trường tồn và luôn luôn chực sẵn để phụng sự cho chánh nghĩa, nâng đỡ cho lẽ phải và giúp nên cho những bậc lãnh đạo chơn chánh, thiết tha hoài bão xây dựng cho nền Chánh giáo.

Chánh Môn qua lại ngắm trong ngoài,

Đôi liễn thầm khen chữ gấm ai!

(Thơ Chơn Tâm).

Chánh Môn nhìn lại uy linh chiếu,

Bửu tháp trông lên triết lý bày.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

CHÁNH NIỆM

Hay “Chính Niệm”.

Chánh (chính): Đúng đắn, ngay thẳng. Niệm: Nhớ, sự tưởng nghĩ.

Chánh niệm, như chữ “Chính niệm 正 念”, là sự tưởng nghĩ những điều chơn chánh, ngay thẳng.

Chánh niệm là sự tỉnh giác, nên thường để tâm tưởng nghĩ đến những điều chơn chánh, không để cho tâm vọng niệm, lang thang từ đối tượng nầy đến đối tượng khác, do đó sự đau khổ, phiền não, hoặc chán chường không thể xảy ra.

Chánh niệm còn có thể hiểu là ý thức được cái gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại, sống với giờ phút hiện tại.

Trong đời sống hằng ngày, nhiều khi chúng ta không có mặt, không thực sự sống trong giây phút hiện tại, tức là thân ta có mặt, nhưng tâm chúng ta không có mặt. Tâm ta có thể nhớ tưởng, lo lắng hoặc mơ tưởng về quá khứ hay vị lai. Chánh niệm là sự tu tập để chính mình có mặt, đưa tâm về với thân, hầu có thể tiếp xúc với những nhiệm mầu của sự sống trong ta và chung quanh ta. Như vậy, ta không để tâm rơi vào thế giới mộng tưởng, cũng không đưa tâm về với quá khứ hay tương lai.

Chánh niệm: Tưởng nhớ ngay thẳng.

(Giáo Lý).

 

 

CHÁNH NGHĨA

Hay “Chính nghĩa”.

Chánh (chính): Ngay thẳng. Nghĩa: Đạo lý.

Chánh nghĩa, như chữ “Chính nghĩa 正 義”, là lẽ chánh đáng của những hành động chống áp bức, bất công, bảo vệ quyền lợi cơ bản của con người.

Chánh nghĩa còn là con đường ngay thẳng, đồng nghĩa với chính đạo, là con đường đạo lý.

Người không chánh nghĩa là kẻ tà gian.

Đức Hộ Pháp có nói: Tiếp tục công trình vì dân vì nước ấy, chủng tộc đồng bào ta cùng con đường đấu tranh chánh nghĩa duy có một, nhưng phương pháp tranh đấu bất đồng mới khiến gây nạn nồi da xáo thịt.

Tạo dựng cơ đồ cho chánh nghĩa,

Rưới chan hạnh phúc bởi lòng tin.

(Thơ Hộ Pháp).

Trinh trung phục quốc đương tranh đấu,

Chánh nghĩa hưng ban khó giảng hoà.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

CHÁNH PHÁP

Hay “Chính pháp”.

Chánh (chính): Ngay thẳng. Pháp: Luật pháp.

Chánh pháp, như chữ “Chính pháp 正 法”, là chữ dùng để chỉ việc xử án đúng theo luật pháp, như tử hình một người nào thì gọi là chánh pháp.

Theo Tôn giáo, chánh pháp còn có nghĩa là Giáo pháp chơn chánh. Kinh Pháp Cú có câu: Các ngươi hãy tự thắp đuốc lên mà đi, thắp với chánh pháp.

Thánh giáo Chí Tôn có dạy: Vốn từ Lục Tổ thì Phật giáo đã bị bế lại, cho nên tu hữu công mà thành thì bất thành. Chánh pháp bị nơi Thần Tú làm cho ra mất Chánh giáo, lập riêng pháp luật buộc mối đạo Thiền.

Trong Kinh sách Cao Đài, chánh pháp là giáo pháp chơn chánh:

Sa môn chánh pháp đổi dời,

Con buôn cửa Phạm gạt người thiện tâm.

(Lục Nương Giáng Bút).

Lâm phàm khai hoá Đạo Cao,

Ban truyền chánh pháp, luyện trau tinh thần.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

CHÁNH PHỐI SƯ

Chánh (chính): Đứng đầu. Phối Sư: Phẩm Chức sắc Cửu Trùng Đài, đối phẩm với hàng Thiên Thánh.

Chánh (chính) Phối Sư 正 配 師, là vị Chức sắc đứng đầu các vị Phối Sư. Theo Pháp Chánh Truyền, Phối Sư nam phái gồm có 36 vị, mỗi phái có mười hai vị, trong đó chọn ra một vị để làm Chánh Phối Sư. Như vậy, ba phái có ba vị Chánh Phối Sư, đó là Thái Chánh Phối Sư, Thượng Chánh Phối Sư và Ngọc Chánh Phối Sư.

Quyền hành và Đạo phục của ba vị Chánh Phối Sư được ấn định trong Pháp Chánh Truyền.

Chánh Phối Sư Nữ phái chỉ chưởng quản bên Nữ phái mà thôi.

Chánh Phối Sư có ba đủ số,

Phái Thái thì giữ Hộ, Lương, Công.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

Chánh Phối Sư cổi xác trần,

Công viên quả mãn ngự đài vân.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

CHÁNH PHỦ

Chánh (chính): Việc làm của nhà nước, quy tắc làm việc. Phủ: Dinh thự, nha môn, nhà to.

Chánh phủ, như chữ “Chính phủ 政 府”, là cơ quan cầm quyền chính trị trong một nước.

Hiện nay Chánh phủ là cơ quan hành pháp, quyền lực cao nhứt của một nước, thực hiện công việc quản lý của nhà nước ở cấp trung ương.

Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy Ngài Lê Văn Trung có câu: Con gắng công thêm và liệu cách đối đãi với chánh phủ, có chư Thần giúp sức, khá an tâm.

Khá kiếm thế đặng gần chánh phủ,

Tìm biết danh trọn lũ gian manh.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

CHÁNH QUẢ

Hay “Chính quả”.

Chánh (chính): Đúng đắn, không tà vạy. Quả: Cái kết quả.

Người tu hành theo chơn pháp Đạo, khi chứng đắc được một quả vị cao nhứt, gọi là thành “Chánh quả”.

Chánh quả, như chữ “Chính quả 正 果”, tức là quả vị chánh đẳng chánh giác, đó là ngôi vị Phật.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có dạy: Nơi trần khổ nầy, dầu cho bậc Chí Thánh cũng khó tránh sự lỗi lầm đặng, nhưng sự ăn năn tự hối là quý báu vô giá. Các Tiên, Phật xưa cũng nhiều bậc đứng đặng địa vị cao thượng thiêng liêng là nhờ có sự cải quá mà nên Chánh quả.

Trần khổ dầu ai chơn muốn lánh,

Ngày thành chánh quả có bao lâu?

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Huyền vi đóng mở do cơ tạo,

Chánh quả mừng anh đạt vững vàng.

(Thơ Tiếp Pháp).

 

 

CHÁNH SÁCH

Hay “Chính sách”.

Chánh (Chính): Chính trị. Sách: Mưu lược, kế hoạch.

Chánh sách, như chữ “Chính sách 政 策”, là kế hoạch, đường lối chủ trương về chính trị.

Thánh giáo Thầy có nói: Vậy nay Thầy cũng lấy lòng nhơn mà để vào trí não các con ít lời thêm cho rõ việc thi hành chánh sách của Ðạo.

Chánh sách bất hoà không hội hiệp,

Hoàn đồ chia xẻ khó chung đồng.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

CHÁNH TÀ

Hay “Chính tà”.

Chánh (chính): Ngay thẳng, chơn thật. Tà: Cong queo, tà vạy.

Chánh tà, như chữ “Chính tà 正 邪”, là hai con đường mà người tu phải chọn lựa, để trau dồi đức tánh mà tiến hoá.

Chánh là ngay thẳng, chơn thật, đúng đắn, hợp với luân lý đạo đức. Tà là cong queo, tà vạy, không hợp với luân thường đạo lý. Chánh tà luôn luôn lúc nào cũng xung khắc nhau, đối chọi nhau. Nhưng vì luật đối đải nơi thế gian hễ có chánh tự nhiên có tà, có thiện là phải có ác, cũng như có ngày thì phải có đêm.

Người tu hành muốn phân biệt được tà chánh thì phải có trí huệ. Trí huệ là cây đuốc soi rọi cho người tu lần đi theo con đường chơn chánh, bằng phẳng và ngắn nhứt.

Việc chi cũng có chánh tà,

Làm điều phải nghĩa lánh xa vạy vò.

(Kinh Sám Hối).

Huệ quang chiếu thấu chánh tà,

Chèo thuyền Bát Nhã Ngân hà độ sanh.

(Kinh Tận Độ).

 

 

CHÁNH TÂM

Hay “Chính tâm”.

Chánh tâm, như chữ “Chính tâm 正 心”, là cái tâm ngay thẳng, không tà vạy. Chánh tâm cũng còn gọi là Chân tâm.

Trau dồi đức hạnh để lòng được ngay thẳng đó gọi là chánh tâm.

Theo sách Đại học, chánh tâm là một trong tám điều: Cách vật, Trí tri, Thành ý, Chính tâm, Tu thân, Tề gia, Trị quốc, và Bình thiên hạ.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Ðể hoàn thành những công việc đó, Ðức Khổng Tử khuyên phải triệt để thực hiện tuần tự những điều mục: Thành ý, Chánh tâm, Tu thân, Tề gia, Trị quốc, Bình thiên hạ.

Thảo chi sang lượm với danh mua,

Chẳng hiểu chánh tâm cứ nói đùa.

(Đạo Sử).

Dạy con giữ tấm lòng chất phác,

chánh tâm không lạc bước đời.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHÁNH TẾ

Hay “Chính tế”.

Chánh (chính): Đứng đầu, lớn nhứt. Tế: Dâng cúng phẩm vật cho người chết.

Chánh tế (Chính tế 正 祭) là nghi tiết tế lễ chánh thức cho người quy liễu một cách long trọng.

Đối với tang lễ của chức sắc Đại Thiên phong, khi hành lễ tại Biệt điện thì tang quyến chánh tế, khi di Liên đài đến Báo Ân Từ, Cửu Trùng Thiên hành lễ thì Hội Thánh chánh tế, còn tang quyến và thân bằng cố hữu phụ tế.

Đối với tang lễ của chức sắc Thiên phong, chức việc và đạo hữu, chánh tế là phần tế lễ của vợ (hoặc con), còn phụ tế là phần tế lễ dành cho những bà con thân tộc đứng tế, không có lễ sĩ đăng điện.

HÀNH LỄ TẾ ĐIỆN: Hội Thánh chánh tế. Tang quyến và Thân bằng bằng cố hữu phụ tế.

(Quan Hôn Tang Lễ).

 

 

CHÁNH TÍN

Hay “Chính tín”.

Chánh (chính): Ngay, đúng. Tín: Tin, đức tin.

Chánh tín, như chữ “Chính tín 正 信”, là sự tin tưởng đúng đắn chơn chánh, trái với mê tín là sự tin tưởng mù quáng, sai lầm.

Đó là lúc nên bắt đầu ung đúc đức tin của chúng về đường chánh tín.

(Thiên Đạo).

 

 

CHÁNH TỰ

Hay “Chính tự”.

Chánh (chính): Đứng trên. Tự: Chữ viết.

Chánh tự, như chữ “Chính tự 正 字”, là chữ viết chánh thức dùng trong tôn giáo để chép kinh và dạy Đạo.

Đức Chí Tôn giáng lập Đạo Cao Đài tại Việt Nam, nên chọn chữ Quốc ngữ làm “Chánh tự” tức là phương tiện chánh để truyền bá giáo lý, chép kinh sách và sử dụng trong văn thư hành chánh của Đạo.

Thầy không muốn nói với con bằng tiếng Hớn ngôn, vì tiếng An nam từ đây Thầy cho là chánh tự đặng lập Ðạo của Thầy, nên buộc phải nói rõ ràng với con.

(Đạo Sử).

 

 

CHÁNH THẤT

Hay “Chính thất”.

Chánh (chính): Đứng trên, đứng trước, có quan hệ trước. Thất: Nhà, phòng.

Chánh thất, như chữ “Chính thất 正 室”, tức là vợ chánh thức, vợ lớn.

Ngày xưa “Phòng” hay “Thất” chính là nơi dành cho người vợ đích (Vợ lớn) nắm quyền trong nhà. Vì vậy, chánh thất là tiếng dùng để chỉ người vợ cả.

Quá lứa lựa nơi thưa thất nguyện,

Phẩm hàng chánh thất liệu cân phân.

(Đạo Sử).

 

 

CHÁNH THÊ

Hay “Chính thê”.

Chánh (chính): Phải, thích đáng. Thê (thiếp): Vợ.

Chánh thê, như chữ “Chính thê 正 妻”, là người vợ chánh thức, tức vợ lớn, còn vợ nhỏ gọi là thứ thê hay thứ thiếp.

Xem: Chánh thất.

Con coi phận mẹ mỏng mành,

Chánh thê nay lại sánh mình thứ thê.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CHÁNH THỂ

Hay “Chính thể”.

Chánh (chính): Việc chánh trị, việc tổ chức trị an trong nước. Thể: Hình thể, hình thức tổ chức.

1.- Chánh thể, như chữ “Chính thể 政 體”, là hình thể tổ chức các cơ quan cầm quyền chính trị trong một nước.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Mặc dầu trong nước được có một chánh thể hay đến đâu mà giao về người cầm quyền thất nhân bất đức, cái chính thể ấy cũng hoá ra ươn dở.

Bắc Nam một gốc ai chia xẻ,

Chánh thể hoà nhân dựng thánh triều.

(Thơ Hộ Pháp).

2.- Chánh thể của đạo Cao Đài là hình thức tổ chức các cơ quan cầm quyền nền Đạo. Chánh thể nầy được xác định bởi Tân Luật và Pháp Chánh Truyền của Đạo.

Trong Diễn Văn của Đức Quyền Giáo Tông có câu: Trước đây, Tệ Huynh có nói Thầy lập Ðạo kỳ nầy phù hạp với dân trí ngày nay đã tăng tiến khỏi Nguơn Tấn Hoá đến địa vị tối cao, cho nên chủ nghĩa Cựu Luật của các Tôn Giáo hiện thời không đủ sức kềm chế đức tin của toàn nhơn loại. Theo chánh thể của Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ thì có ba Hội, đã định quyền hành đặc biệt.

Nhưng mà buộc phải lập Chánh thể, có lớn nhỏ đặng dễ thế cho các con dìu dắt lẫn nhau, anh trước em sau mà đến nơi Bồng đảo.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CHÁNH THIẾP

Hay “Chính thiếp”.

Chánh (chính): Phải, thích đáng, chánh thức. Thiếp: Vợ, hoặc vợ lẽ.

Chánh thiếp, như chữ “Chính thiếp 正 妾”, là vợ chánh thức. Chánh thiếp đồng nghĩa với Chánh thê.

Chia thương ơn ấy đã đành,

Thứ thê chánh thiếp giựt giành chi duyên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CHÁNH TRỊ

Hay “Chính trị”.

Chánh (chính): Việc của nhà nước, quy tắc để làm việc. Trị: Sửa sang công việc.

Chánh trị, như chữ “Chính trị 政 治”, là tiếng gọi chung những việc sắp đặt và thi hành để sửa trị một nước.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Xưa những người có trách nhiệm trị nước trị dân lúc nào cũng phải kính cẩn, hằng lo sửa mình cho ngay chính để được có kẻ hiền tài theo giúp mình, rồi lấy nhân mà trị, lấy đức mà hoá, cái kết quả trong việc chánh trị mới tốt đẹp.

Cái quyền tinh thần ấy biến ra một nền chánh trị đặc biệt riêng của nó như Ðền Thánh Vatican ở La Mã là một nước trong vạn quốc...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

CHÁNH TRỊ ĐẠO

Hay “Chính trị Đạo”.

Chánh (chính): Quy tắc trị nước để đưa dân cho ngay thật, trung chính. Trị: Sửa sang, chỉnh đốn công việc. Đạo: Tôn giáo.

Chánh trị Đạo, như chữ “Chính trị Đạo 政 治 道”, là điều hành, sửa sang, chỉnh đốn công việc trong Đạo cho trật tự, yên ổn, từ trung ương cho đến địa phương. Chánh trị Đạo phải là nền chính trị công bình chánh trực, chánh đại quang minh.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Trong thời buổi ba tháng Bần Đạo nhập tịnh vào Trí Huệ Cung, cả tinh thần hồn phách của Bần Đạo tương liên với Đức Chí Tôn mà thôi, ngoài ra không còn biết điều chi nữa hết, điều đó là trọng yếu nên Bần Đạo định cho các cơ quan Chánh trị Đạo, mỗi cơ quan đều có chủ quyền sở hữu của mình giữ gìn đừng để mất.

Kỳ dư xảy ra với các cơ quan trong nền Chánh Trị Đạo, thì buộc phải giải ra Toà Đạo phân xử.

(Đạo Luật Mậu Dần).

 

 

CHÁNH TRỊ SỰ

Chánh (chính) Trị Sự 正 治 事 là một phẩm Chức Việc đứng làm đầu Hương Đạo (Xã Đạo) do Đức Lý Giáo Tông lập ra, có nhiệm vụ về hành chánh và luật pháp.

Trong Pháp Chánh Truyền cho rằng: Chánh Trị Sự là Đầu Sư em, vì nắm cả hai quyền hành chánh và pháp luật trong một Hương Đạo (Xã đạo), giống như Đầu Sư cầm quyền hành chánh và luật pháp Cửu Trùng Đài.

Trong mỗi Hương đạo chỉ có một vị Chánh Trị Sự làm Đầu Hương Đạo, nhưng có nhiều Phó Trị Sự và Thông Sự, tuỳ theo ấp đạo.

Chánh Trị Sự là Chức Sắc của Đức Lý Giáo Tông lập thành, phải tùng quyền Lễ Sanh mà hành sự.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

CHÁNH TRUYỀN

Hay “Chính truyền”.

Chánh (chính): Hay chánh là đúng đắn, không tà vạy. Truyền: Trao lại, truyền đi.

Chánh truyền, như chữ “Chính truyền 正 傳”, là giáo lý chơn chánh của một tôn giáo được truyền lại.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Thích Ca Mâu Ni có dạy: Từ trước, Ta giáng sanh lập Phật giáo gần sáu ngàn năm thì Phật đạo chánh truyền gần thay đổi.

Toà Tam Giáo có ngày định lập,

Quyền phân minh đẳng cấp chánh truyền.

(Thất Nương Giáng Bút).

Giãi bày giáo lý thông chơn pháp,

Dìu dắt nhơn sanh đắc chánh truyền.

(Thơ Thông Quang).

 

 

CHÁNH TRỰC

Hay “Chính trực”.

Chánh (chính): Ngay. Trực: Thẳng.

Chánh trực, như chữ “Chính trực 正 直”, có nghĩa là ngay thẳng.

Thánh giáo Chí Tôn dạy về chánh trực như sau: Vậy Thầy lại dặn các con: Nếu kẻ không tu, làm đủ phận người, công bình chánh trực, khi hồn xuất ra khỏi xác thì cứ theo đẳng cấp gần trên mà luân hồi lại nữa, thì biết chừng nào đặng hội hiệp cùng Thầy.

Chánh trực kinh oai loài giả dối,

Công bình vừa sức kẻ chơn thành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chánh trực Thần Tiên còn nể mặt,

Huống hồ trần cấu động vào mình.

(Đạo Sử).

 

 

CHÁNH VĂN

Hay “Chính văn”.

Chánh (chính): Ngay thẳng. Văn: Văn chương.

Chánh văn, như chữ “Chính văn 正 文”, là văn chương, nghĩa lý ngay thẳng, đúng đắn và chơn thật.

Để tâm dưới ánh Chí linh,

Soi tường chơn lý chỉ rành chánh văn.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

CHÁNH VỊ

Hay “Chính vị”.

Chánh (chính): Đứng bực trên, chánh thức. Vị: Chỗ ngồi, ngôi vị.

Chánh vị, như chữ “Chính vị”, là phẩm vị chánh thức được Hội Thánh nhìn nhận.

Ví dụ như: Trong Hiến Pháp Hiệp Thiên Đài quy định, Luật Sự do khoa mục tuyển chọn, nhưng đã thi đậu rồi phải hành Đạo và tập sự trong một thời gian là một năm thì Hội Thánh Hiệp Thiên Đài mới nhìn nhận vào hàng Luật Sự chánh vị.

Chánh vị còn có nghĩa là phẩm vị thiệt thọ, chứ không phải là quyền tạm.

Ví dụ như: Quyền Chánh Phối Sư, Quyền Đầu Sư là những chức sắc Cửu Trùng Đài chưa vào chánh vị, nên trước phẩm vị có đặt chữ “Quyền”. Khi được phong vào chánh vị rồi thì không có chữ Quyền ở phía trước nữa.

Đây là một sự quyền biến cho có Chức sắc cao cấp hành sự hầu sắp đặt trật tự cho Cửu Trùng Đài, nên hiền hữu chỉ giữ nhiệm vụ Quyền Đầu Sư, nghe. Tuy nhiên hiền hữu cũng đủ quyền hành như Đầu Sư chánh vị.

(Lý Giáo Tông)

 

 

CHẠNH

Chạnh là cảm động, tức do cảm xúc mà thấy thoáng gợi lên trong lòng một tình cảm, một ý nghĩ buồn nào đó.

Thánh giáo Đức Diêu Trì Kim Mẫu trong Thánh Ngôn Sưu Tập có câu: Ngày nay Mẹ rất hân hạnh vui mừng thấy các con níu nhau hồi về với Mẹ, chạnh nhớ nỗi niềm từ lúc nọ, nung lò bảo sanh, đùm bọc các con cho đến nay đã sáu triệu niên dư, có lúc Mẹ chi xiết nỗi mừng, Mẹ tưởng nhớ rằng các con thân mến đã dắt nhau hồi về với Mẹ.

Ðộng đình chạnh lúc tạm chia đường,

Bốn giọt nhìn nhau lối rẽ cương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nước non càng ngắm càng thêm chạnh,

Chạnh thảm khi mang mảnh xác trần.

(Thất Nương Giáng Bút).

Lầu gần đêm vẳng hồi chuông thúc,

Chạnh nỗi niềm riêng ruột chín chiều.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

CHAO ÔI

Chao: Tiếng thốt ra khi xúc động đột ngột. Ôi: Tiếng than, tiếng kêu.

Chao ôi là tiếng thốt ra khi xúc động mạnh, thường để than thở.

Như: Chao ôi! Nàng có ngần ấy tuổi mà phải ra đi vĩnh viễn.

Chao ôi binh cách xua binh cách,

Tang tóc lan tràn biết mấy phương!

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

CHÁO

Cháo là thức ăn bằng gạo hoặc bột, nấu loãng và nhừ, có thể thêm rau, hay cá thịt. Như: Cháo cá, cháo thịt.

Nói về tình ruột thịt giữa anh, chị và em, trong sách Giáo Lý, Ngài Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có viết: Ðời xưa ông Lý Tịch làm quan to, ông đã già mà cung kỉnh bà chị một cách lạ thường. Một hôm bà chị đau ông thân hành đi nấu cháo cho chị ăn, thổi lửa rủi bị cháy hết râu, người chị thấy em như vậy thì hết lòng thương xót.

Đôi phen chịu cơm mơi chiều cháo,

Mới còn dư để gạo lại cho con.

(Phương Tu Đại Đạo).

Chị gái lại dễ bề dạy bảo,

Dạy đến nghề nấu cháo luộc rau.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHÁO RAU

Cháo: Thực phẩm bằng gạo hoặc bột nấu loãng và nhừ. Rau: Các loại cây thuộc thân cỏ, có thể ăn được.

Cháo rau là cháo và rau, hai món ăn đơn giản và tiện tặn, dùng để chỉ sự đạm bạc.

Như: Cháo rau đạm bạc qua ngày.

Dầu cháo rau cũng nhịn miệng nuôi con,

Đẻ một trẻ lại thon von thêm phận mẹ.

(Phương Tu Đại Đạo).

Thà cháo rau trọn đạo tào khương,

Hơn sang cả người thương đành phụ rãy.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHÀO

Chào là tỏ ý lễ phép hoặc thân tình khi tiếp xúc, gặp gỡ nhau. Như: Tiếng chào cao hơn cỗ, chào đón, chào mời, chào xuân.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thần Hoàng Bổn Cảnh có câu: Thôi ta chào chư Thiên phong và các đạo hữu, các đẳng chúng sanh nơi bổn thôn. Ta lui.

Xuân có tuyết mai xuân hiệp tuyết,

Tuyết mai vầy bạn xúm chào xuân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Lạ nghe lời vật thế nào,

Mà ra như tiếng chàng chào buổi xưa.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Hễ bé thơ tập vào bái ra chào,

Quyền cha mẹ, Trời cao kia dám sánh.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHẢO

Chảo là đồ dùng để rang, chiên, xào thức ăn, thường làm bằng gang, có lòng dốc thoai thoải, miệng loa rộng và có hai cái quai.

Như: Chảo gang và chảo nhôm, kiến bò miệng chảo, miếng ruộng có lòng chảo.

Khi anh được phi thân mạnh bạo,

Thì anh nên ngừa chảo nước sôi.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

CHÁT

Chát là có vị như vị chuối còn xanh.

Như: Chuối chát, chua chát, chát ngắt chua lè, khế chua sung chát.

Ca dao ta có câu: Thà rằng ăn nửa quả hồng, Còn hơn ăn cả chùm sung chát lè.

Cùng thuở ấy có con bạch hạc,

Thấy sự đời chua chát đau thương.

(Thơ Hộ Pháp).

Ôi! là người chịu nhục chê vinh,

Vinh nhục gẫm sự tình chua chát lắm.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

CHÁT CHÚA

Chát: Âm thanh to phát ra và vang dội mạnh, gây cảm giác khó chịu.

Chát chúa là âm thanh phát ra to và vang dội, nghe rất chói tai. Như: Tiếng trời sét chát chúa bên tai.

Thanh thao nhạc phụng trên dương liễu,

Chát chúa kèn nai dưới bá tòng.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

CHÁT NGẮT

Chát: Có vị như vị của trái chuối còn xanh. Ngắt: Quá lắm, như: Lạnh ngắt, nguội ngắt, chát ngắt.

Chát ngắt là rất chát, tức là có vị chát đến mức không thể ăn được.

Chua chát, đắng cay là những vị thường dùng để chỉ những sự gian gian, đau khổ.

Mùi đời chát ngắt chua lè,

Mùi Tiên nếm đặng, không the, ngọt bùi.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

CHAU MÀY

Chau: Còn đọc “Châu” là hơi nhíu lông mày lại thường vì đau buồn, hay nghĩ ngợi. Mày: Lông mày, hàng lông mọc trên hai mắt.

Chau mày là nhăn mày hay nhíu mày vì sợ sệt, suy nghĩ hoặc vì đau buồn.

Nhơn vật mười phần hao chín tám,

Thần Tiên thấy vậy cũng chau mày.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

Nếu anh dạy chau mày bẳng hẳng,

Tiếng thấp cao cẳn nhẳn mắng trả thù.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHÁU

1.- Cháu là con của con mình, hoặc con của anh chị em mình. Như: Ông cháu, chú cháu, bác cháu.

Trong Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Một gia đình nào rân rát, sanh sản con cháu đông đảo và có phương sống đầy đủ gia đình, đó là vui vẻ.

Con thương con cháu là thương Ðạo,

Ðạo chẳng ở xa, ở tại con.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nghèo mà trong sạch danh thơm rạng,

Phúc hậu Trời ban để cháu con.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Cháu là tiếng xưng hô của người lớn tuổi đối với con cháu người khác, hoặc đại từ của người ít tuổi dùng đối với người lớn vì lễ phép.

Như: Cháu có đi học không, thưa cháu có đi học.

Về bổn phận của mấy cháu học sinh, tôi xin có mấy lời nầy: Mấy cháu còn đương niên thiếu, đó là lúc tốt đẹp nhứt của đời người.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

CHÁU CON

Cháu: Con của con mình, hoặc con của những thế hệ sau. Con: Người mà do cha mẹ sinh ra.

Cháu con, như chữ “Con cháu”, là chỉ cháu và con, tức những người thuộc các thế hệ sau.

Nói về Đức Cao Hoàng, Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Nhắc tới những sự nghiệp của Đức Cao Hoàng thì Bần Đạo thấy rằng Ngài cũng vì quyền lợi tổ quốc vì không muốn bản đồ của nước Việt Nam phải vì thời gian mà bị xoá nhoà trong trí nhớ của hậu thế, mới ra công nằm gai nếm mật khôi phục sơn hà lưu cho cháu con ngày nay một dãy non sông như dệt gấm thêu hoa.

Đó là báo ứng nhãn tiền,

Mau thì mình chịu lâu truyền cháu con.

(Kinh Sám Hối).

Đặt ra có họ, có dòng,

Vua, thầy, cha mẹ, vợ chồng, cháu con.

(Giới Tâm Kinh).

 

 

CHẮC

1.- Chắc có nghĩa là vững vàng. Như: Vững chắc, cái bàn đóng không chắc, cột chỏi căn nhà thiệt chắc, chắc dạ.

Thánh giáo Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng có câu: Chư đạo hữu biết trước, muốn rèn lòng đạo đức phải khởi nơi đâu cho chắc bước đường chăng?

Chắc trí chẳng ai đặng chắc lòng,

Cứ tham lợi lớn với dày công.

(Đạo Sử).

2.- Chắc là đích thực, tức có tính chất khẳng định, có thể tin được là sẽ đúng như thế. Như: Hứa chắc, việc ấy chắc đâu mà tin, chưa lấy gì làm chắc.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Nếu gặp thuyền Bát Nhã mà không xuống không theo thì chắc thế nào cũng chơi vơi nơi mé biển.

Ví xưa biết chút đường tu niệm,

Thì chắc nay đà ngự các lân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Sau Thầy hứa chắc đỡ nâng con,

Thiên Ấn Thái Sơn cũng chẳng mòn.

(Đạo Sử).

 

 

CHẮC HẲN

Chắc: Đích xác, đích thực. Hẳn: Khẳng định là như vậy, không có gì nghi ngờ nữa.

Chắc hẳn là từ biểu thị ý khẳng định, có nghĩa tin chắc là như thế.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Công cuộc kiến tạo đã thành đạt, những bạn đạo đã giúp về vật chất cũng như về tinh thần và có mặt trong buổi lễ hôm nay chắc hẳn cũng lấy làm hân hoan khi nhìn thấy kết quả hữu hình mà trong đó mình có đóng góp một phần tô điểm và xây dựng.

Hại người, tính kế càng sâu độc,

Chắc hẳn “Mưu thâm hoạ diệc thâm”.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

CHẮC MẺM

Chắc: Đích xác, đích thực.

Chắc mẻm là từ Nam bộ, có nghĩa tin chắc, không có gì sai chạy, chắc chắn như vậy.

Như: Năm nay nếu có đi thi thì nó chắc mẻm là đậu.

Giáo Nhi mừng đã đúng năm năm,

Thánh lịnh Lễ Sanh chắc mẻm cầm.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

CHĂM

1.- Chăm là siêng năng và hằng chú ý đến việc làm. Như: Chăm học, chăm làm, chăm chỉ, chăm lo.

Nói về Đức Hộ Pháp, Thuyết Đạo Thượng Sanh có đoạn: Về đến vùng Thánh địa, điều lo nghĩ trước nhứt của Ðức Ngài là tiếp tục công cuộc kiến thiết Ðền Thánh. Khích lệ đám nhân viên công thợ của Ðạo, Ðức Ngài chăm lo tiện tặn tài chánh, lo tô điểm ngôi Ðền Thờ cho đến khi hoàn thành mỹ mãn.

Sao cho thành kỉnh Phật Trời thương,

Ðạo đức chăm lo vững mối đường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Chăm là bền vững, chắc chắn. Như: Vững chăm.

Ca dao ta có câu: Ngó lên sở Thượng thêm buồn, Muốn chăm cội rễ, ngặt đường xa xôi.

Lập thành Hội Thánh nơi Tần quốc,

Hạt giống Cao Đài gốc vững chăm.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

CHĂM CHỈ

Chăm: Siêng năng, không trễ nhác, hằng chú ý đến việc làm.

Chăm chỉ là siêng năng, cần mẫn, hằng chú ý, lo lắng đến công việc.

Như: Mặc dù bị khuyết tật nhưng anh ấy rất chăm chỉ làm ăn.

Sớm khuya chăm chỉ công đèn sách,

Đức hạnh vẹn gìn dạ sắt son.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

CHĂM CHÚ

Chăm: Siêng năng, không trễ nhác, hằng chú ý đến việc làm. Chú: Chú ý, để ý chăm chăm vào.

Chăm chú là nói làm việc gì đều có sự tập trung về tâm trí công việc.

Như: Học sinh phải chăm chú nghe thầy giảng bài.

Chơn truyền lớp học, lo chăm chú,

Công quả trường thi, cố vượt thăng.

(Thơ Huệ Ngàn).

 

 

CHĂM LO

Chăm: Siêng năng, hằng chú ý đến việc làm. Lo: E ngại, áy náy trong lòng.

Chăm lo là thường xuyên lo lắng để làm cho tốt hơn.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Có nhiều hạng trẻ thơ phải chịu dốt nát chỉ vì cha mẹ quá nghèo cực, không có tiền cho con ăn học. Mấy cháu được có phước hơn những trẻ ấy, vì mấy cháu được cắp sách đến trường, lại nữa mấy cháu quá may mắn là được ở trong vùng đạo đức, sự học tập được dễ dàng, có Hội Thánh chăm lo, có thầy siêng năng dìu dắt chỉ dạy.

Khổ ấy về sau danh phận xứng,

Chăm lo trách nhậm mới gìn kham.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

CHĂM NOM

Chăm: Siêng năng và hằng chú ý đến việc làm. Nom: Để mắt đến.

Chăm nom là thường xuyên trông nom.

Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy Ngài Quyền Giáo Tông có câu: Phận sự của con nơi đó chẳng ít, phải chăm nom mà liệu chừng với các đạo hữu, nghe!

Mình dầu khéo đến điều dạy dỗ,

Cũng chăm nom đặng độ từ người.

(Phương Tu Đại Đạo).

Hễ vợ ghen cặp mắt lom lom,

Công đi đứng chăm nom từ bước.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHĂM SÓC

Chăm: Siêng năng và hằng chú ý đến việc làm.

Chăm sóc là thường xuyên săn sóc.

Điếu văn Đức Thượng Sanh đọc trước Liên đài của Ngài Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có câu: Cũng tưởng nhờ sức Thiêng liêng ủng hộ, nhờ sự chăm sóc chu đáo của Hội Thánh, Ngài sẽ qua khỏi cơn nguy, sức khoẻ lần hồi bình phục.

Đồ y phục cần lo chăm sóc,

Dưỡng song thân khó nhọc đừng sờn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHẰM

Chằm là khâu từng mũi một bằng sợi chỉ to, hoặc bằng dây lạt những vật bằng lá.

Như: Chằm nón, chằm áo tơi, chằm khíu, chằm lá, quần chằm áo vá.

Dầu mình sang ngự điện ngồi ngai,

Cũng nhớ thuở mẹ chằm gai cha kết lá.

(Phương Tu Đại Đạo).

Gặp vợ hiền đã đủ kiếp may,

Dầu đương rớ chằm gai cũng đặng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHẰM KHÍU

Chằm: Khâu từng mũi kim một bằng sợi, như chằm nón. Khíu: kết hai mép vào nhau để làm liền chỗ rách.

Chằm khíu là khâu vá, đắp, nối nhiều mảnh trên quần áo lại cho lành.

Chằm khíu nghĩa bóng là từ cái vụn vặt, nhỏ nhặt kết lại thành cái to tát quan trọng.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Một người ăn mày cầm Bình Bát đi xin cơm đặng nuôi kẻ khó kẻ đói, đi bòn mót từ miếng vải rách đặng chằm khíu mặc cho lành, tức là Đức Phật Thích Ca.

Thánh xưa dạy từ câu nói hiếu,

Đạo thờ thân chằm khíu nên kinh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CHẶM

Chặm là một từ Nam Bộ, có nghĩa là thấm từng ít cho ráo. Như: Chặm mực cho ráo, giấy chặm.

Chặm còn là lau chùi cho khô, như chặm mồ hôi, chặm nước mắt.

Chặm còn có nghĩa dụi cho tắt, như chặm bó đuốc.

Trông ra nước mắt bao phen chặm,

Nhớ lại xuân về mấy độ xây.

(Thơ Tòng Bá).

 

 

CHĂN

1.- Chăn là đồ làm bằng vải, len, dạ, dùng để đắp cho ấm trong mùa lạnh.

Như: Chiếu chăn, chăn loan gối phụng, chăn gối.

Nào hơn vui thú đức tài lo,

Sẵn gối sẵn chăn cứ xuống đò.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Còn ta luống những đoạn trường,

Gối chăn tê tái, chiếu giường lạnh tanh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Chăn là đưa hoặc dắt gia súc đi kiếm ăn ngoài đồng. Nghĩa rộng nuôi nấng, trông nom. Như: Chăn bò dê, chăn tằm, chăn dân, chăn thằng cháu nội.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Ðức Khổng Tử xưa châu du thiên hạ cho tới già, vì không gặp được chúa biết dùng để sửa đời trị nước, Khương Thái Công là ông câu nơi sông Vị, Ninh Thích chăn trâu ở Ngao Sơn, Bá Lý Hề xin ăn nơi đất Chất, đều là những bậc cao sĩ, sẵn ôm tài tế thế trong mình, nhưng chưa gặp thời nên cam vất vả.

Phải dặn chừng con vú đứa chăn,

Chơi vui vẻ nói năng đằm thắm.

(Phương Tu Đại Đạo).

Dễ là uốn lúc còn măng,

Sớm khuya đào luyện giữ chăn chớ lìa.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

CHĂN CÙ

Hay “Chăn cừu”.

Chăn: Cái mền dùng để đắp. (cừu): Một loại thú cùng họ với dê, nuôi để ăn thịt và lấy lông làm len.

Chăn cù (cừu) là cái chăn (mền) làm bằng lông con cừu, một loại lông mịn làm mền rất tốt, vào mùa đông giá rét đắp ấm.

Vừa mới chăn cù chung gối điệp,

Chi cho gối phượng lẽ phòng tiêu.

(Thơ Hoàng Nguyên).

Chăn cù nệm Tuý hoà hơi thở,

Giấc bướm hồn Trang dạo đỉnh Tùng.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

CHĂN CHIẾU LẠNH

Hay “Chăn chiếu lạnh lùng”.

Chăn: Mền, dùng để đắp. Chiếu: Đồ dệt bằng cói, tre, mây, dùng để trải mà ngồi, nằm. Lạnh: Hay lạnh lùng là không có hơi nóng.

Chăn chiếu lạnh, hay “Chăn chiếu lạnh lùng”, là ý nói nằm ngủ một mình đơn chiếc, do vợ chồng xa nhau, để người ở lại lạnh lùng.

1.- Chăn chiếu lạnh:

Trướng gấm hết lo chăn chiếu lạnh,

Phòng đào đã có phụng loan kề.

(Thơ Chơn Tâm).

2.- Chăn chiếu lạnh lùng:

Chừ sao chăn chiếu lạnh lùng,

Phím loan nín bặt, tranh tòng đứt dây.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CHĂN DÂN

Chăn: Chăn dắt súc vật, nghĩa rộng nuôi nấng, chăm nom. Dân: Dân chúng.

Chăn dân, do chữ Hán “Mục dân 牧 民”.

Người xưa quan niệm rằng vua, quan cai trị dân chúng chẳng khác gì mục đồng chăn gia súc.

Do vậy người ta thường dùng chữ chăn dân nghĩa là chăn dắt dân chúng để chỉ việc cai trị nhân dân.

Dầu hoạn lộ chưa vừa sở nguyện,

Dầu cửa quyền trọng tiếng chăn dân.

(Kinh Thế Đạo).

Ngôi Tiên đã lấm gót phàm,

Kẻ chăn dân lại ra làm con buôn.

(Ngụ Đời).

Vợ không tham nhũng kim tiền,

Chồng lo trọn đạo nắm quyền chăn dân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CHĂN DÊ

Chăn: Chăn dắt súc vật, nghĩa rộng nuôi nấng. Dê: Loài vật có vú, có sừng, có râu, thường nuôi để lấy sữa, lấy thịt.

Chăn dê ý chỉ Tô Võ chăn dê.

Do tích Tô Võ đời Hán Võ Đế bị chúa Hung Nô ép hàng phục, nhưng Tô Võ không chịu. Chúa Hung Nô giận, bắt Tô Võ bỏ vô hang ba ngày không cho ăn uống. Song Tô Võ nhờ uống nước giọt sương trên ngù cờ thấm giọng, nên không chết. Chúa Hung Nô cho Tô Võ là thần, không dám hại, chỉ đày ra ải bắc chăn dê, chờ chừng nào dê đực đẻ mới cho về xứ.

Mười chín năm sau, chừng Hung Nô giải hoà với nhà Hán, Tô Võ mới được tha về.

Tô Võ còn sống chăn dê,

Không đầu quân giặc, trọn bề tôi trung.

(Báo Ân Từ).

 

 

CHĂN GỐI

Chăn: Vật làm bằng vải, len, dạ, dùng để đắp cho ấm trong mùa lạnh. Gối: Đồ dùng để kê đầu khi nằm.

Chăn gối là cái chăn, cái gối, dùng để chỉ tình yêu hoà hợp và việc ân ái giữa vợ chồng.

Máu ghen chăn gối dẫy tràn,

Hình mai ủ dột, sắc càng héo don.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Phiền gan ngẩn chạnh tình chăn gối,

Ứa lệ buồn trông bước Hớn Hồ.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

CHĂN LOAN GỐI PHƯỢNG

Chăn loan: Chăn làm bằng lông chim loan, hoặc có thêu hình chim loan. Gối phượng: Gối có thêu hình chim phượng.

Loan là chim mái, phượng là chim trống, cho nên chăn được thêu hình chim loan, gối thêu hình chim phượng để ví với vợ chồng hoà thuận, khắng khít nhau.

Chăn loan gối phượng là tiếng dùng để chỉ chăn, gối của đôi vợ chồng trẻ.

Đuốc ngọc tiệc hoa xuê nét liễu,

Chăn loan gối phượng ấm giường ngà.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

CHẰN

Chằn là tiếng Nam Bộ, dùng để chỉ loài yêu quái trong truyện cổ tích thần thoại.

Như: Chằn tinh, bà chằn, Thạch Sanh chém chằn.

Xem: Bà chằn.

Mặt yêu vằn vện dường Tiêu Diện Sĩ le lưỡi trấn Tây phương,

Mày chằn nhăn nhíu tợ Quỷ Dạ Xoa đẩy xe vào Âm phủ.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

CHẲN

Chẳn là nguyên, trọn, không có phần lẻ.

Như: Vừa chẳn hai nghìn đồng, một trăm đồng chẳn, bên chẳn bên lẻ.

Mười ngàn chẳn năm nay đủ số,

Luật Ngọc Kinh chưng trợ Lôi Âm.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

 

 

CHẶN

Chặn là giữ chặt lại hoặc đè xuống, không cho tự do di động.

Chặn còn có nghĩa là ngăn lại, cản lại.

Như: Lấy ghế chặn cửa, chặn giấy khỏi bay, thủ môn chặn tại khung thành.

Lúc giăng lưới khi đóng nò,

Mảng lo tàu chặn, nhẫn dò bè trôi.

(Ngụ Đời).

 

 

CHẰNG

Chằng là buộc từ bên nọ sang bên kia nhiều lần, không theo hàng lối nhất định, chỉ cốt cho thật chặt.

Như: Cột chằng, kéo chằng, chằng cột buồm, chằng gói hàng sau xe.

Hễ chị biểu xăm giùm miếng mứt,

Ngồi kéo chằng xé đứt làm hai.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHẰNG MẮT

Chằng: Như chữ chằng chằng là nhỉn không nháy mắt. Mắt: Cơ quan để nhìn.

Chằng mắt mở to mắt nhìn, căng to mắt ra nhìn.

Như: Chằng mắt ra kiếm cả ngày không thấy.

Chằng mắt rán nhìn hưng Kiệt, Trụ,

Dằn lòng nán đợi mạc Di, Tề.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

CHẲNG

Chẳng là từ biểu thị ý phủ định được nhấn mạnh dứt khoát hơn “không”.

Như: Chẳng cày lấy đâu có thóc, chẳng học lấy đâu biết chữ.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu dạy: Bởi vậy cho nên, Thầy chẳng vì ghét mà không lời khuyến dụ; cũng chẳng vì thương mà không sai quỷ dỗ dành.

Ám muội thì nhiều, mưu trí ít,

Ðường Tiên chẳng bước, đoạ thì đành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chi lan mọc lẫn cỏ hoa thường,

Chẳng để mũi gần chẳng biết hương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thừa ưa đến buổi đặng chơi Tiên,

Chẳng mất công phu chẳng tốn tiền.

(Đạo Sử).

 

 

CHẲNG DÈ

Chẳng: Không, tiếng biểu thị ý phủ định. Dè: Tưởng, đoán biết để liệu trước. Như: Ai dè, dè đâu.

Chẳng dè là không phòng trước điều không bình thường hoặc không hay.

Như: Tưởng đến trường học sớm chẳng dè giữa đường xe bị hỏng.

Lừa lọc cho cùng rồi nhứt định,

Đừng quen tính một chẳng dè hai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

CHẲNG ĐOÁI

Chẳng: Không. Đoái: Ngoảnh lại, nghĩ tới.

Chẳng đoái là chẳng có ý nghĩ tới, hay không quan tâm tới.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Cang thường điên đảo, phong hoá suy vi, những mảng ghét lẫn nhau, giành xé nhau, mối tôn giáo phân chia, đạo nước nhà chẳng đoái, chánh tà tà chánh nan phân, còn chút hơi thở ở cõi trần mà tính tình dọc ngang chưa chịu dứt, một mai hồn xuống Diêm Ðài, khổ A Tỳ bảo sao không buộc trói

Đi luông tuồng chẳng định hồi về,

Niềm tình nghĩa phu thê chẳng đoái.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHẲNG HỀ

Chẳng: Không. Hề: Từ dùng để khẳng định về việc không bao giờ xảy ra, hoặc để xảy ra.

Chẳng hề là chẳng bao giờ, hay chưa bao giờ khác.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Triết lý nhà Phật từ tạo thiên lập địa đến giờ đã tạo ra biết bao nhiêu Ðấng đã thừa hành mạng lịnh Phật Giáo, đang hành hoá chúng sanh nơi mặt thế gian nầy, nếu không có tánh đức ấy chẳng hề khi nào lập giáo đặng.

Kẻ nào ghét sự thương yêu thì chẳng hề qua khỏi cửa luân hồi.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CHẲNG KHỨNG

Chẳng: Không. Khứng: Ưng, thuận.

Chẳng khứng là không chịu, không ưng thuận.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Nếu Thầy chẳng vì thương tâm thì các Tiên Phật đã ghi lỗi rất trọng hệ của các con mà chẳng khứng cho lập công chiết tội.

Mưa nắng bao nhiêu cuộc dãi dầu,

Thân bèo chẳng khứng dựa vào đâu.

(Thơ Thuần Đức).

Lòng chẳng khứng thờ Trời kỉnh Phật,

Tánh cũng ưa vật chất kim tiền.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

CHẲNG LẼ

Chẳng: Không. Lẽ: Điều coi là lý do giải thích, nguyên nhân của sự việc.

Chẳng lẽ có nghĩa là không có lý nào, lẽ nào. Như: Chẳng lẽ làm thinh.

Thánh giáo Thầy có câu: Chẳng lẽ ngôi Tiên phẩm Phật là địa vị tối trọng của các chơn linh mà Thầy lại đành bất công, tự nhiên đem các con mà để trên đó.

Giống rồng lại gặp hội mây rồng,

Xuân đến vận thời chẳng lẽ không.

(Thơ Hộ Pháp).

Đây còn nỗi bế bồng thêm trẻ,

Hễ giao tình chẳng lẽ không con.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Chẳng lẽ khó, đem con ra đợ,

Một miệng ăn núi lở non mòn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHẲNG LƯỢM CỦA RƠI

Chẳng lượm: Không nhặt. Của rơi: Của cải bị rơi rớt.

Chẳng lượm của rơi, bởi câu “Lộ bất thập di 路 不 拾 遺”, tức là của rơi rớt giữa đường không có ai lượm, ý chỉ đời thái bình thịnh trị, dân chúng được sung túc, không tham lam.

Do truyện Khổng Tử khi giết chết tên gian thần Thiếu Chính Mão, giúp vua Định Công nước Lỗ sửa sang việc trị nước. Được ba tháng, thì phong tục biến đổi, nhà không đóng cửa, đường không ai lượm của rơi

Trong nhà không đóng cửa, ngoài đường chẳng lượm của rơi,

Người ngậm cơm vỗ bụng, rất thảnh thơi Trời Nghiêu cùng Đất Thuấn.

(Giác Mê Khải Ngộ).

 

 

CHẮP CÁNH

Chắp: Nối, làm cho liền lại. Cánh: Bộ phận loài chim và loài côn trùng, dùng để bay.

Chắp cánh là hai cánh của loài côn trùng hay loài chim quạt lên xuống để bay. Như: Chắp cánh bay.

Chắp cánh còn dùng để ví việc tạo điều kiện tốt nhất để đạt tới đỉnh cao. Như: Chắp cánh ước mơ.

Đợi chừng gió bấc thổi lao rao,

Em chắp cánh bay đến nước Tàu.

(Quyền Giáo Tông).

 

 

CHẮP CÁNH LIỀN CÀNH

Chắp cánh liền cành, dịch từ câu “Tỷ dực liên chi 比 翼 連 枝”, tức là chim chắp cánh, cây liền cành, dùng để chỉ vợ chồng không rời xa nhau.

Do điển lấy trong bài “Trường Hận Ca” của Đỗ Phủ có câu: Tại thiên nguyện tác tỷ dực điểu, tại địa nguyện vi liên lý chi 在 天 願 作 比 翼 鳥, 在 地 願 為 連 理 枝, nghĩa là ở trên trời thì làm con chim liền cánh, ở dưới đất thì làm cây liền cành.

Chắp cánh uyên ương tròn ước vọng,

Liền cành đào lý vững căn nguyên.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CHẮP NỐI

Chắp: Làm cho liền lại bằng cách ghép vào nhau. Nối: Làm cho cái bị đứt đoạn hoặc những phần tách rời liền lại với nhau.

Chắp nối là chắp và nối lại cho liền.

Chắp nối, đồng nghĩa với tục huyền, dùng để chỉ người đàn ông hoặc người đàn bà bị gãy gánh (tức có vợ hoặc chồng đã chết), đi cưới vợ hoặc chồng khác.

Rủi có chích lẻ giữa đường thì được chấp nối.

(Tân Luật).

 

 

CHẮT CHIU

Chắt chiu có nghĩa coi là quý và chăm chút, nâng niu, tức chăm sóc một cách quý trọng.

Chắt chiu còn dùng để chỉ xem là quý và dành dụm cẩn thận từng chút một.

Như: Ít chắt chiu hơn nhiều vung phí, chắt chiu từng bông hoa.

Xét vì nhơn vật lẽ đồng,

Chắt chiu hằng để trọn lòng chung thương.

(Tán Tụng Công Đức).

Huống tạo Thiên đùm bọc chắt chiu,

Sanh một đứa liều ngàn thế kỷ.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

CHẶT

1.- Chặt là dùng dao hoặc các vật có lưỡi sắc chém mạnh cho đứt ra.

Như: Chặt cành cây, chặt xương heo, chặt tre chẻ lạt, chặt sắt như chặt bùn.

Thánh giáo Thầy có dạy: Hại nữa là các con lại bị nó tàng ẩn, xô cho dang nhau, bứt nghiến tình đoàn thể, chặt lìa dây liên lạc, giành xé cắn rứt nhau như kẻ khác nhà, gà riêng ổ, cho đừng có thế lực chi mà kình chống với chúng nó, rồi rốt cuộc lại thì các con phải lần lần bị manh mún phân chia, sa vào hang sâu vực thẳm.

Dâng gươm huệ kiếm xin cầm,

Chặt lìa trái chủ đặng tầm ngôi Thiên.

(Kinh Thế Đạo).

Xúm nhau kẻ chặt người ghì,

Đôi chân bước lệch lối đi gập ghình...

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

2.- Chặt là nói cái gì vững chắc, bám sát vào nhau không rời, khó tách nhau hay khó gỡ.

Thánh giáo Đức Tiêu Sơn Đạo Sĩ trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Chư đạo hữu phải biết rằng, Ðạo trước khi gieo truyền cho ngoại quốc, phải dìu dắt kết chặt dân sanh nơi vùng Nam nầy, đặng cùng nhau chung hợp trên con đường hoà bình, chậm rãi lần ra khỏi lối khốn khổ lao lung nơi cõi trần nầy, rồi tự tại ngâm câu thái bình.

Thân ái mối dây tua nắm chặt,

Chít chiu ấy cũng một bầy gà.

(Đạo Sử).

Am tự đóng chặt gài bước tục,

Hoạ Nước Cam lồ cho phúc tiêu diêu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CHẶT CHẼ

Chặt: Vững chắc, không lung lay được.

Chặt chẽ là gắt, không để rời khỏi sự theo dõi, không buông lỏng.

Chặt chẽ còn có nghĩa gắn với nhau rất chặt.

Thánh giáo Đức Diêu Trì Nương Nương có câu: Vậy cần trau chữ Tâm cho lắm. Cái thất bại của Đạo và Đời vừa qua là nơi kẻ cầm quyền không trọn Tâm đức và nếu được hoà hiệp thành một khối chặt chẽ, thì các con mới dìu dắt nhơn sanh khỏi lo lầm lạc.

Hôm nay trong việc xây dựng ngôi thờ Ðức Phật Mẫu, Hội Thánh vui thấy tình cảm đoàn kết của quý bạn Ðạo nơi đây được chặt chẽ.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

CHẶT GIỮ

Chặt: Vững chắc, không lung lay được. Giữ: Nắm giữ, gìn giữ.

Chặt giữ là gìn giữ hay nắm giữ một cách chặt chẽ, không để cho rơi rớt, cho mất mát, cho hư hỏng.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Đức Quyền Giáo Tông có câu: Qua lấy làm vui là còn một số con chiên của Đại Từ Phụ trung thành cùng Hội Thánh và chặt giữ chơn truyền.

Kìa Chí Tôn Cao Đài đương ngự,

Rưới hồng ân chặt giữ biên cương.

(Kinh Thế Đạo).

Trong giá trắng ngần, khá chuốt trau,

Bền công chặt giữ mới anh hào.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

CHẦY

1.- Chầy là chậm, muộn. Như: Không chóng thì chầy.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu dạy: Ðạo thế chẳng kíp thì chầy sẽ thành ra một mối hàng mà mỗi người trong Ðạo, sau khi giành giựt cấu xé nhau, thì sẽ phân chia tan tành manh mún, để trò cười về sau.

Duyên dầu đặng tâm đầu ý hiệp,

Cũng ngại lo chầy kíp phụ phàng nhau.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Chầy còn có nghĩa là lâu, dài.

Như: Đêm chầy, năm canh chầy.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Gặp đặng mối Ðạo Trời như cầm trong tay một khối ngọc còn đang ẩn đá. Phải cố tâm mài giũa, gắng công tháng lụn năm chầy thì một ngày kia mới thấy lố hình ngọc quý.

Mới tám thu bao chầy mà vội,

Đạo huyền linh sớm tối cũng thành.

(Xuân Hương Giáng Bút).

Năm chầy đã vẹn ngừa ngày vận,

Ðặng chỗ nên trao hết nợ đời.

(Đạo Sử).

Chầy ngày tuy chẳng thăm nhau đặng,

Mà tấm lòng kia vẫn luống gần.

(Đạo Sử).

 

 

CHÂM

1.- Châm là đâm nhẹ bằng một vật có mũi nhọn nhỏ.

Như: Lấy kim châm chích vào thịt, ong châm vào lưng thằng bé đau buốt.

Các con bị chứng bịnh tê,

Chích châm cho lắm chẳng hề than ôi!

(Đại Thừa Chơn Giáo).

2.- Châm là bài châm, viết chữ vào giấy hay khắc vào gỗ treo chung quanh chỗ ở để trông làm gương.

Ở đây, bài châm được viết lên một tấm vải trắng, còn gọi là tấm phủ nghi để treo trước Bàn thờ người đã chết.

Thường bài châm được viết theo hoàn cảnh của người chết, và tâm ý của kẻ thờ phụng.

Hương thề để trước vị bài,

Châm đề thấy rõ những ngày biệt phu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

3.- Châm là rót chất lỏng (như rượu, trà, dầu...) vào vật gì đó.

Như: Châm rượu cúng, mỗi sáng đều phải châm trà vào bình, châm dầu vào đèn Thái cực.

Hương thắp, trà châm xin đạm bạc,

Thuỷ chung vẹn giữ một lòng thôi.

(Thơ Thượng Phẩm)

 

 

CHÂM BIẾM

針 砭

Châm: Cây kim. Biếm: Cục đá nhọn.

Dùng cây kim và cục đá nhọn để lể trị bịnh, cũng vậy dùng lời nói để chỉ trích lỗi lầm của người khác một cách mỉa mai gọi là “Châm biếm”.

Như; Anh ấy thường hay châm biếm điều những lỗi lầm của người khác.

Khá chịu khó nương nhau chớ đừng lời qua tiếng lại mà để cho những em nữ phái còn ở mặt đời đem lời châm biếm...

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 

CHÂM CHẾ

斟 制

Châm: Rót rượu, thêm vào. Chế: Bớt ra.

Châm chế là thêm bớt cho vừa. Châm chế còn có nghĩa là tha thứ.

Thánh giáo Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng có câu: Ðức Chí Tôn đã lấy từ bi mà châm chế, mong ngày Ðạo được hoà bình. Vậy khá chung trí hiệp tâm mà tái dìu mối Ðạo. Ấy là phương chuộc lỗi sửa mình mà trở về ngôi cũ đó. Phải khá lo xa

Còn sự tự hối của mỗi đứa, sau nầy ra sao, thì cân tội phước cũng vì đó mà châm chế.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CHÂM CHƯỚC

斟 酌

Châm: Rót chén rượu qua một lần. Chước: Rót chén rượu lại một lần nữa.

Châm chước là làm việc phải thương lượng, tính toán thêm đi bớt lại cho đúng, tức là lấy chỗ này bớt chỗ kia, thêm bớt cho vừa phải.

Châm chước còn có nghĩa là chiếu cố mà tha thứ cho.

Thánh giáo Đức Diêu Trì Kim Mẫu có dạy: Mẹ cũng để lời khuyên những con cái của Mẹ nên thắt chặt tình đoàn kết thương yêu nâng đỡ nhau, tha thứ cho nhau, để làm vui lòng Chí Tôn và cho Lý Bạch giảm cơn thạnh nộ, thì Người mới châm chước mà lập vị cho các con.

Tiểu muội nhắc nhở mấy lời, mong chư hiền huynh Hiệp Thiên Đài để ý hầu châm chước giúp công cho nhơn sanh nơi cửa Đạo nhờ với,

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

CHẤM

1.- Chấm, như chữ “Điểm 點” là vẽ.

Như: Bức tranh chấm thuỷ mặc, chấm nốt ruồi vào hình người đẹp.

Chiêu Quân được chọn vào cung cấm,

Hình mỹ nhân, Thọ chấm nốt ruồi.

Cống Hồ tính chuyện êm xuôi,

Mà dòng Bích Thuỷ chưa vùi tấm trinh.

(Báo Ân Từ).

2.- Chấm là chạm vừa tới một điểm nào đó.

Như: Quần dài chấm gót, tóc chấm ngang vai, ngồi thòng chân chấm đất.

Cư, giỏi con, phải vậy, như con muốn cho ra bộ lịch sự thì khi chấm gót, con nhún bộ xuống một chút.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

3.- Chấm là đánh giá và cho điểm để chọn lựa.

Như: Giáo viên chấm bài, chấm công lao động, chấm đậu trạng nguyên.

Ðến khi triều đình mở khoa mục, cậu nhờ trí thông minh sáng suốt lạ thường lại học giỏi nên được chấm đậu Trạng Nguyên.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

CHẤM DỨT

Chấm: Dấu chấm, điểm. Dứt: Dừng hẳn lại, kết thúc.

Chấm dứt là làm cho ngừng hẳn lại, kết thúc.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn dạy: Thế thì cái vui vẫn đi liền với cái khổ chỉ khi nào bỏ gánh xuống thì mới chấm dứt hẳn được vui sướng và khổ đau. Bỏ gánh xuống nghĩa là diệt dục, tức là giải thoát vậy.

Thầy muốn thế nào mau chấm dứt nạn chiến tranh đặng đem lại hạnh phúc hoà bình cho Tổ Quốc và chủng tộc các con...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

CHẦM CHẬM

Chậm: Không mau, lâu lắc, trễ nải.

Chầm chậm là chậm chạp, không được nhanh, có tốc độ, nhịp độ dưới mức bình thường.

Trong Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Đức Cao Thượng Phẩm có đoạn: Bần Ðạo ngày này năm rồi chịu đau thảm khó khăn cùng tột, cái đau đớn ấy vẫn còn trong chơn linh Bần Ðạo. Cô Tư có nhớ đêm nay là đêm Bần Ðạo nằm trên một cái xe đi chầm chậm trong nhà tịnh về hay chăng hử?

Khuya cô tịch buồn rơi chầm chậm,

Màu sáng soi đăm đắm nội cung.

(Phù Kiều Hận Sử).

Hoàng hôn chầm chậm chìm âm hưởng,

Tình lúa hương quê quyện ngút ngàn.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

CHẪM RÃI

Chẫm rãi, như chữ “Chậm rãi”, là chầm chậm, không đi một cách vội vàng.

Như: Người ta có chuyện gấp mà nó vẫn đi chẫm rãi, cô ấy ăn nói rất chẫm rãi, dịu dàng.

Xem: Chậm rãi.

Chẫm rãi bước đường xa chớ vội,

Góp ý hay mở lối cang thường.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

CHẬM

Chậm là có tốc độ nhịp độ dưới mức bình thường, trái với nhanh. Như: Đi quá chậm, máy chạy chậm.

Thánh giáo Thầy có câu: Có mau lắm cũng chẳng tới trước, mà chậm lắm cũng không trễ bước đường. Hành tàng do nơi Thầy mà thôi.

Cây cả còn chờ ngày rựa cốt,

Chẳng qua báo ứng chậm cùng mau.

(Đạo Sử).

Quen xa mã chê thuyền là chậm,

Đã mùi chàm gọi thắm là hơn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CHẬM RÃI

Chậm: Lâu lắc, không mau, trễ nải.

Chậm rãi là chầm chậm, không vội vàng.

Thánh giáo của Chơn Cực Lão Sư có câu: Chư đạo hữu phải biết rằng, Ðạo trước khi gieo truyền cho ngoại quốc, phải dìu dắt kết chặt dân sanh nơi vùng Nam nầy, đặng cùng nhau chung hợp trên con đường hoà bình, chậm rãi lần ra khỏi lối khốn khổ lao lung nơi cõi trần nầy, rồi tự tại ngâm câu thái bình.

Rừng chiều ác lặn con trăng lố,

Chậm rãi đường về bước trở thu.

(Đạo Sử).

Nhàn dạo vẩn vơ theo Nhựt Nguyệt,

Rảnh ngồi chậm rãi tụng Huỳnh Đình.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

CHẬM TRỄ

Chậm: Không mau, lâu lắc. Trễ: Chậm, muộn, không kịp kỳ hẹn.

Chậm trễ nghĩa là chậm chạp so với yêu cầu hoặc giới hạn đã định.

Thánh giáo Thầy có câu: Sự xảy ra nơi Thánh Thất, tuy là nơi mối Ðạo chậm trễ, nhưng cũng do nơi lòng tà vạy của nhiều đứa mà ra, vì tâm trung chánh đáng thì làm cốt cho Tiên Thánh, còn tâm chí vạy tà là chỗ của Tà quái xung nhập.

Nếu các con thật lòng vì Ðạo thì đâu có chậm trễ như vầy.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CHÂN

1.- Chân, còn gọi “Chơn”, hay “Chưn”, là một bộ phận trong thân thể người và vật, dùng để đi, đứng.

Như: Bước chân đi, nước đến chân mới nhảy.

Thánh giáo Thầy có câu: Ai hữu phước đặng để chân vào, kẻ vô phần phải bị Tà yêu cám dỗ.

Lui chân kiếm con đường nhà nội,

Lửa đốm nhen dẫn lối thảm trang.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Chí nam nhi dầu đặng lẫy lừng,

Cũng nhờ cậy dưới chân nâng bởi vợ.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Chân , còn đọc “Chơn”, là thực, không dối. Như: Chân thực, chân chính, chân dung, chân thần.

Nói về phẩm Hiền Tài, Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Cái giá trị của người Hiền Tài lại thiên về đức tính nhiều hơn là về chân tài.

Nghe hạc tỏ bày lời chân lý,

Gà thấy mình ích kỷ tối tăm.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

CHÂN DUNG

真 容

Chân (Chơn): Thật. Dung: Hình dáng.

Chân dung, còn đọc “Chơn dung”, là hình vẽ hay hình chụp của một người giống như thật.

Như: Bức chân dung người chết.

Năm tháng cỏ loang vùng cổ mộ,

Mai chiều bụi bám bức chân dung.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

CHÂN LÝ

真 理

Chân (chơn): Thật. Lý: Lẽ phải.

Chân lý, còn đọc “Chơn lý”, là một danh từ triết học, liên quan giữa tri thức và thực tế.

Tri thức và thực tế phù hợp hoặc không trái với phương pháp luận lý đều gọi là chân lý.

Tất cả những thứ vật chất và tình cảm ở thế gian không phải là chân lý vì nó có thể mất và biến đổi theo thời gian, chỉ có những nguyên lý tạo dựng nên Càn khôn Vũ trụ và sinh thành vạn vật, tức là Đức Thượng Đế, Đấng Tạo hoá mới thật sự là chân lý tuyệt đối.

Tóm lại ở thế gian là tương đối, có tính cách đối đãi, nên mọi vật, mọi sự việc đều không phải là chân lý tuyệt đối.

Long Hoa hội lập nền chân lý,

Sửa cho đời thiện mỹ thuần phong.

(Long Hoa Hội).

 

 

CHÂN TÀI

真 才

Chân (chơn): Thực, không dối. Tài: tài năng, có khả năng đặc biệt làm một việc gì đó.

Chân tài là tài giỏi thực, tức chỉ những người có tài năng thực sự.

Như: Anh ấy là một hoạ sĩ chân tài.

Cái giá trị của người Hiền Tài lại thiên về đức tính nhiều hơn là về chân tài.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

CHÂN TƯỚNG

真 相

Hay “Chơn tướng”.

Chân (chơn): Thật. Tướng: Hình dáng, trạng mạo.

Chân tướng, còn đọc “Chơn tướng”, là hình trạng hay tính tình đích thực của một con người.

Như: Vạch trần chân tướng của kẻ ấy.

Vô vi chưa dễ bày chân tướng,

Bất chánh thường hay lộ giả hình.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CHẤN CHỈNH

振 整

Chấn: Sửa sang lại. Chỉnh: Làm cho ngay thẳng tốt đẹp, sửa lại.

Chấn chỉnh là sửa sang lại cho được tốt đẹp.

Thánh giáo Lý Giáo Tông dạy: Lão khuyên hai Đài Hiệp Thiên và Cửu Trùng nên chung tâm nhứt trí chấn chỉnh nền chánh giáo cho được thuần tuý hơn, nghiêm trang hơn, để đối phó với sự tiến triển của các tôn giáo, làm cho rạng danh Đạo, và mới có đủ chuẩn thằng độ rỗi nhơn sanh trong thời kỳ mạt kiếp nầy.

Vững chí gieo thuyền câu Thánh Đức,

Dằn lòng chấn chỉnh đạo nhơn luân.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

Bao trở ngại đang cần chấn chỉnh,

Pháp bày trò siểm nịnh trùng trùng.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp)

 

 

CHẤN ĐỘNG

震 動

Chấn: Vang động. Động: Chuyển động.

Chấn động là rung động mạnh, làm vang động lên. Chấn động còn dùng chỉ làm cho lòng người lay động.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy đã sai Allan Kardec, Flammarion, cũng như Élie và Thánh Jean Baptiste, là những bực tiền Thánh báo tin ngày giáng sinh chấn động của Chúa Cứu Thế Jésus Christ, nhưng chúng nó, đứa thì bị hành hạ, đứa khác bị giết chết.

Phong ba chấn động góc trời nghiêng,

Bát nhã tuông khơi rắp đắm thuyền.

(Thơ Bảo Văn Pháp Quân).

Chấn động Thần Tiên xem héo mặt,

Hai nhà xiển triệt lộ nguyên hình.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

CHẤN HƯNG

振 興

Chấn: kéo lên. Hưng: Nổi dậy.

Chấn hưng là những cái gì đang còn yếu đuối, suy sụp làm cho mạnh mẽ, thịnh vượng lên.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Ðạo phát trễ một ngày thì nhơn sanh tội lỗi cả muôn ngàn. Vì vậy mà Thầy muốn cho mỗi đứa đều để lòng lo liệu chấn hưng nền Thánh giáo.

Xem dường cuồng khấu biên đình,

Cung dâu tên cỏ, nước mình chấn hưng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Tiền định công đồng quy nhứt bổn,

Chấn hưng Tam giáo Thích, Tiên, Nho.

(Thơ Thông Quang).

 

 

CHẤN TỬ

振 子

Chấn Tử, tức là Lôi Chấn Tử 雷 振 子, con nuôi của Tây Bá Hầu Cơ Xương, lượm được lúc mới sinh khi ông trên đường về triều, đến núi Yên Sơn.

Lôi Chấn Tử được Vân Trung Tử ở núi Chung Nam, động Ngọc Trụ thâu nhận về núi nuôi dưỡng và làm đệ tử.

Về sau, Lôi Chấn Tử được thầy cho xuống núi phò Khương Tử Nha giúp nhà Châu đánh Trụ, lập nên công lớn. Lôi Chấn Tử là một trong Thất Thánh.

Xem: Thất Thánh.

Kim Tra, Mộc tra, Na Tra,

Chấn Tử, Vi Hộ, cùng là họ Dương.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

CHẦN CHỜ

Chần chờ, như chữ “Chần chừ”, là do dự, đắn đo suy nghĩ, chưa có ý định làm ngay.

Thánh giáo Thầy có câu: Hoạ Âu tai Á sẽ vì Thiên điều mà phạt kẻ bạo tàn tội lỗi. Càn khôn tiều tuỵ mà bước tục hỡi chần chờ. Nếu chẳng sớm xét mình, để buổi ác xế trăng tà, nước dời cạn bực, thuyền Bát Nhã đã lướt qua, nhành dương liễu hết rơi giọt từ bi thì ăn năn rất muộn.

Ðường Ðạo tìm vào mới rõ cơ,

Cơ mầu giải khổ, chớ chần chờ.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

CHẨN

Chẩn là cứu giúp, đem tiền gạo, áo quần phát cho người nghèo.

Như: Chẩn bần, người ta tụ tập đông như phát chẩn.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Thảng như rủi năm nào thất bác, dân đói khó, thì lập tức mở kho ấy phát cho dân gọi là chẩn bần, mà đầu tiên đứng ra tế chẩn là ông Hương Chủ, khởi phát ở kho lúa của làng trước, khi nào thiếu mới lấy thêm ở kho quốc gia.

Gặp người đói rách khốn nàn,

Ra tay chẩn cứu cho toàn nghĩa nhơn.

(Giới Tâm Kinh).

 

 

CHẨN BẦN

賑 貧

Chẩn: Cứu giúp. Bần: Người nghèo.

Chẩn bần là dùng tiền bạc, vật thực hay thuốc men cứu giúp cho người nghèo khó.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Thảng như rủi năm nào thất bác, dân đói khó, thì lập tức mở kho ấy phát cho dân gọi là chẩn bần, mà đầu tiên đứng ra tế chẩn là ông Hương Chủ, khởi phát ở kho lúa của làng trước, khi nào thiếu mới lấy thêm ở kho quốc gia.

Thí tiền, thí bạc, chẩn bần,

Người đau thí thuốc, Thánh, Thần phước ban.

(Kinh Sám Hối).

 

 

CHẬN

Chận là chặn, ngăn lại, đè xuống.

Như: Chận đầu chận đuôi, chận họng chận hầu, nó chận đứng âm mưu của quân địch.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Mấy bà nào đó không biết giăng ngang qua hết thảy vậy, đem trại thiết giăng ngang chận đường mà năn nỉ biểu dời, đặng cho sắp nhỏ có chỗ vô nhà lồng buôn bán với, ngăn ngang qua đó, đáo để đuổi cũng không đi.

Chận kế đốt thơ khêu Mạnh Ðức,

Nghiêng mình ai ví gã Châu Công.

(Đạo Sử).

Kết khối hoà bình ngăn giặc loạn,

Mở trường giáo hội chận can qua.

(Thơ Hộ Pháp)

 

 

CHẤP

1.- Chấp là cầm, nắm, giữ. Như: Chấp bút, chấp ấn quyền, chấp trung, tranh chấp.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Nhắc lại lời dạy của Ðức Chí Tôn Ðại Từ Phụ nêu lại cái tình tương thân, tương ái giữa bạn đồng Ðạo, tôi chỉ ước nguyện các bạn chức sắc nơi Trung ương cũng như địa phương cùng nhau thắt chặt giải đồng, đừng vì một tranh chấp, hoặc một tự ái nhỏ nhen mà làm cho mất niềm hoà khí, phạm nghĩa đồng môn.

Thăng Long bao thuở nâng hùng khí,

Gia Ðịnh từ nhiên chấp ấn quyền.

(Đạo Sử).

Chấp phướn tiêu diêu toan cứu khổ,

Chúng ta từ thử bạn đồng tâm.

(Thơ Hộ Pháp).

2.- Chấp là câu nệ, để ý ghi nhớ lỗi lầm của người. Như: Cố chấp, chấp nê, chấp trách, xin ông đừng chấp.

Trong quyển Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu dạy: Hành sự cho tròn là đủ, chớ nên chấp lẫn nhau mà mất niềm đồng Ðạo chẳng tốt.

Hoà trên thì dưới mới an tâm,

Mình vốn là anh chấp lỗi lầm.

(Đạo Sử).

Gọi duyên nợ đừng lòng cố chấp,

Sự rủi may cao thấp cam đành.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHẤP BÚT

執 筆

Chấp: Cầm giữ. Bút: Viết.

Chấp bút là tiếng dùng để chỉ một hình thức thông công với các Đấng thiêng liêng, nhờ Thánh điển giáng vào tay vị đồng tử cầm bút viết ra.

Theo Thánh giáo, người phò cơ chấp bút là vị tướng soái của Đức Chí Tôn để truyền Đạo trong thiên hạ, nên vị đồng tử phò cơ chấp bút phải là chức sắc thiên phong do Đức Chí Tôn chọn lựa trong những người đạo hạnh cao, trường chay tuyệt dục.

Thánh giáo Thầy dạy về chấp bút như sau: Còn chấp bút, khi Thầy đến thì làm cho thần con bất định một lát, cho thần xuất ra nghe Thầy dạy, còn tay con tuân theo mà viết. Ấy là một phần của con, một phần của Thầy hiệp nhứt, mới thấu đáo Càn khôn, tinh thông vạn vật đặng.

Cao Ðài Thượng Ðế lập ra,

Do Ngài chấp bút xây toà Thiên lương.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

CHẤP CHÁNH

Hay “Chấp chính”.

Chấp: Cầm giữ. Chánh (chính): Công việc cai trị.

Chấp chánh, như chữ “Chấp chính 執 政”, là giữ việc chính trị, tức nắm quyền hành trong tay để điều hành việc cai trị.

Diễn Văn Đức Quyền Giáo Tông đọc trong ngày vía Đức Phật Thích Ca Mồng 8 tháng 4 năm Giáp Tuất 1934 có câu: Ấy vậy, dầu cho sự xung đột của quyền Ðạo với quyền Ðời thoảng đã làm cho lao tâm tiêu tứ của những trang chấp chánh Ðạo quyền đi nữa, là phương chước tô điểm vẽ vời cho lịch xinh mặt Ðạo.

Tóm quyền thế một tay chấp chánh,

Bắt chồng hầu như lính hầu quan.

(Phương Tu Đại Đạo).

Giao Ngọc ấn tôi lên chấp chánh,

Văn nghe qua chạy lánh thiền môn.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

CHẤP CHƯỞNG

執 掌

Chấp: Cầm giữ. Chưởng: Lòng bàn tay.

Chấp chưởng là tay nắm giữ, ý nói người cầm quyền chưởng quản hết mọi việc.

Như: Chấp chưởng quyền hành trong tôn giáo.

Oai linh mầu nhiệm Đấng cầm cân,

Chấp chưởng Phật Tiên lẫn Thánh Thần.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

CHẤP KINH

執 經

Chấp: Cầm giữ, nắm lấy. Kinh: Đạo thường.

Chấp kinh là nói giữ theo đạo thường, lẽ thường, tức hành động một cách bình thường.

Như: Chấp kinh phải tùng quyền.

Xem: Kinh quyền.

Biết tùng quyền hiểu chấp kinh,

Tìm phương hay gởi lấy mình cửa tu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CHẤP NÊ

Chấp: Câu nệ, không độ lượng.

Chấp nê, như chữ “Chấp nhặt”, cố chấp, câu nệ, tức để bụng trách móc về những sai sót nhỏ nhặt.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông trong Thánh Ngôn Sưu Tập có câu: Thì cũng do lòng từ bi vô tận của Đại Từ Phụ lo cho con cái của Người, chỉ sợ cái oai của Lão, vì còn cầm quyền thiêng liêng mối Đạo quá chấp nê, tánh không dung thứ tội tình con cái của Người nên phú giao cho hiền hữu, là bạn đồng sanh biết đau đớn, biết khổ cực với mảnh thi phàm mà rộng dung cho họ.

Hằng nhớ đến vợ nhà nhỏ dại,

Đừng chấp nê quấy phải để lòng hờn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHẤP NHỨT

Hay “Chấp nhất”.

Chấp: Nắm chặt. Nhứt (nhất): Một.

Chấp nhứt, như chữ “Chấp nhất 執 一”, tức là chỉ chấp khư khư một mực những định kiến, quan niệm đã có mà không chịu thay đổi. Dùng để chỉ sự cố chấp.

Trong tác phẩm Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu có viết: Làm người chấp nhất sao đành, Hễ là lịch sự có kinh có quyền.

Thời đã đổi dời không ngừng nghĩ như thế thì người ta cũng không thể chấp nhứt được; cho nên nói rằng kẻ học Dịch phải biết “Thời Trung” vậy.

(Giáo Lý).

 

 

CHẤP SỰ GIẢ CÁC TƯ KỲ SỰ

執 事 者 各 司 其 事

Chấp: Cầm giữ, nắm lấy. Sự: Việc. Giả: Người. Các: Mỗi người. Tư: Coi giữ. Kỳ: Cái ấy.

Chấp sự giả các tư kỳ sự là người được phân công làm việc gì thì đến giữ làm việc ấy.

Khi cúng đàn, Lễ Sĩ xướng đến câu nầy thì những người có phận sự trong đàn cúng đều chuẩn bị đến chỗ thi nhiệm vụ của mình.

Chấp sự giả các tư kỳ sự.

(Nghi Tiết Cúng Lễ).

 

 

CHẤP THỦ

執 手

Chấp: Cầm giữ. Thủ: Nắm bằng tay.

Chấp thủ là nói tóm tắt hai từ ngữ là “Thủ cơ” và “Chấp bút”.

Như vậy, chấp thủ có nghĩa là phò cơ, chấp bút, là hai cách thông công với các Đấng Thiêng Liêng của Đạo Cao Đài.

Xem: Phò cơ, chấp bút.

Khi chấp thủ thì tay tuân theo Chơn thần nói lại mà viết ra, mường tượng như con đặt để, con hiểu đặng vậy.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CHẤP THUẬN

執 順

Chấp: Nhận, như: Chấp đơn. Thuận: Vui lòng theo.

Chấp thuận là chấp nhận điều yêu cầu hoặc điều đã được đề nghị. Như: Đề nghị đã được cấp trên chấp thuận.

Thánh giáo Chí Tôn có câu: Như thế đủ chứng tỏ cho con tin rằng Thầy là Ðức Jéhovah của dân Hébreux, vị chủ tể của quân lực dân Israel, vị Thánh vô danh của dân Do Thái, vị Ðại Từ Phụ của Chúa Jésus Cứu Thế, con chỉ cần cầu nguyện Thầy với danh hiệu Cao Ðài thì sẽ có sự cảm ứng chấp thuận.

Được chấp thuận lo toan đúc cống,

Mạnh Thường Quân tự động kề vai.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

CHẤP TRÁCH

執 責

Chấp: Câu nệ, tức cứ một mực theo cái định sẵn, không biết xử lý linh hoạt theo hoàn cảnh. Trách: Quở, bắt tội.

Chấp trách là câu nệ một điều gì mà trách móc.

Thầy chẳng buổi nào chấp trách các con, bởi lòng thương yêu hơn chấp trách rất nhiều...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CHẤP TRUNG

執 中

Chấp: Cầm giữ. Trung: Ở giữa.

Chấp trung là nói người biết giữ sự quân bình, không có thái độ bất cập và không làm điều thái quá. Đây là cái đạo Trung Dung của Đức Khổng Tử.

Người xưa thường chủ trương: Chấp trung quán nhất 執 中 貫 一, nghĩa là giữ đạo Trung Dung xuyên suốt từ đầu cho đến cuối.

Khuyên con con biết nghe lời,

Dạy con con biết tuỳ thời chấp trung.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

CHẤP TRƯỚC

執 著

Chấp: Giữ vững. Trước: Dính gắn vào.

Chấp trước là bám chặt vào sự vật không chịu buông thả. Bệnh lớn của con người là bệnh cố chấp, chấp càng nặng thì khổ càng nhiều.

Con người chấp theo cái thấy, cái hiểu biết của mình. Nếu người khác thấy khác cái thấy, biết của mình thì sinh thù ghét. Vì vậy, con người do chấp trước mà sinh ra tham ái, sân hận, khổ đau.

Không chấp trước, thì Tâm (Hồn) không duyên theo ngoại cảnh.

(Thiên Đạo).

 

 

CHẬP

1.- Chập là đặt liền bên nhau nhiều vật cùng loại và gộp lại làm một.

Như: Chồng chập, chập hai sợi dây làm một, hai sợi điện chập vào nhau, roi chập làm đôi.

Bằng chẳng biết sửa mình thì luật Thiên điều chồng chập, khổ A Tỳ phải vướng muôn muôn đời đời mà đền tội ác.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

2.- Chập còn dùng để chỉ hồi, đoạn, hay tiểu phẩm trong một tuồng hát.

Như: Dọc đường đến Thành Phổ phải nghỉ từng chập, thường hát một hai chập thì nghỉ xả hơi.

Móc mồi Nghiêm Lữ gieo từng chập,

Đón gió Cơ Liêm hứng một bầu.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CHẬP CHỒNG

Chập: Đặt liền bên nhau và gộp làm một. Chồng: Để nằm nhiều cái đè lên nhau.

Chập chồng, như chữ “Chập chùng”, là chỉ từng lớp nọ chồng lên lớp kia.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Ðức Chí Tôn có dạy là dân tộc Việt Thường đang ở trong vòng vay trả oan nghiệp, nhưng hơn 20 năm qua đã hứng chịu nạn binh đao thảm khốc, sự đau khổ đã chập chồng trên đất nước, dù là nơi an tịnh tu hành cũng không tránh khỏi thảm hoạ chết chóc, sự nghiệp tiêu tàn, cửa nhà đổ vỡ.

Thương con khổ não chập chồng,

Đau lòng Mẹ xuống quyết bồng con lên.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Gióng dây lìa nhạn sầu nghiêng ngửa,

Dở ngón rơi loan thảm chập chồng.

(Bát Nương Giáng Bút).

Tấn thối mảng lo đời ấm lạnh,

Chập chồng đã trải mấy thương đau.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

CHẬP CHỜN

Chập chờn là ở trạng thái nửa ngũ nủa thức, nửa tỉnh nửa mê. Như: Giấc ngủ chập chờn.

Chập chờn còn có nghĩa là khi ẩn khi hiện, khi tỏ khi mờ, khi rõ khi không. Như: Ánh lửa chập chờn.

Khói toả chập chờn gương khí phách,

Tượng thờ lẫm liệt nét dung nhan.

(Thơ Hoài Tân).

Bao tháng phép chập chờn ngắn ngủi,

Mấy tuần xoay lụi hụi qua mau.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

CHẤT

1.- Chất là xếp cái nọ chồng lên cái kia. Như: Củi chất thành đống, chất hàng lên xe, đem hàng chất vào kho.

Thánh giáo Thầy có câu: Các con nên nhớ, Thầy lấy từ bi phong tịch, nhưng Chức sắc nếu vì áo mão hơn đạo đức thì tội chất bằng hai.

Ðược vàng chớ khá gọi là may,

Vàng hết tội kia chất dẫy đầy.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chất mối sầu tư ruột nát bầm,

Thời thôi đành phải giả làm câm.

(Thơ Huệ Giác).

2.- Chất là bản thể của các vật. Chất nóng, chất lạnh, chất rắn, cải tạo chất đất, chất thánh, chất phàm.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển,Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Nó vẫn là chất tức hiệp với không khí Tiên Thiên, mà trong khí Tiên Thiên thì hằng có điển quang. Cái Chơn thần buộc phải tinh tấn trong sạch mới nhẹ hơn không khí, ra khỏi ngoài Càn khôn đặng.

Lánh xa trược chất bụi hồng,

Cung Tiên sớm tối vui vòng thung dung.

(Kinh Thế Đạo).

Dặm dài bước lạ nẻo chưa quen,

Thánh chất dầu trau gẫm chẳng hèn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Chất là chỉ về tính khí và tư cách.

Như: Chất nhược liễu bồ, thói nhà băng tuyết chất hằng phỉ phong, chất nhơn tình.

Để chuông mõ dựa kề son phấn,

Chất nhơn tình chồng cận kệ kinh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Đừng cậy thế làm chồng lấn lướt,

Chẳng đoái thương chất nhược liễu bồ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHẤT CHỒNG

Chất: Đặt vật nầy chồng lên vật kia. Chồng: Để nhiều vật đè lên nhau.

Chất chồng, do chữ “Chồng chất”, là chồng lên nhau thành nhiều tầng, nhiều lớp ngổn ngang. Chất chồng còn có nghĩa là đầy dẫy, nhiều.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Chí Tôn sai các vị Giáo Chủ đại diện Ngài đến lập Ðạo do danh thể của Ngài, vâng mạng lịnh nơi Ngài, đến thay thế giáo hoá con cái của Ngài. Chưa vị nào an ủi được sự đau thảm cho trọn vẹn cái khổ của đời. Khối đau thảm ấy từ buổi có loài người chất chồng vô số kể.

Giựt giành rốt cuộc cũng tay không,

Nhân quả đeo mang tội chất chồng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nghe danh như chất chồng bên gối,

Cổ Phật không duyên khó gặp Người.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Lợi danh ví muốn cho đầy đủ,

Tội lỗi càng thêm nỗi chất chồng.

(Thài Hương Hiếu).

 

 

CHẤT CHỨA

Chất: Đem một vật chồng lên một vật khác. Chứa: Giữ, cất giấu.

Chất chứa là để lại nhiều, cái nọ chồng lên cái kia.

Chất chứa, như chữ “Chứa chất”, còn dùng để chỉ tích trữ đã lâu và nhiều.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Thầy vì thương căn quả của các con mà lấy đức từ bi đặng Thiên phong cho các con là cố ý để cho các con hành đạo cho hoàn toàn, dễ bề tương công chiết tội tiền khiên, hầu nâng mình vào nơi cựu vị, song nhiều đứa vẫn còn thế tục đeo đai, bước trần chưa trở nẻo, còn chất chứa gánh trần ai, ngổn ngang lằn gió bụi, chẳng hiểu sự khổ hạnh trau mình là nấc thang để bước khỏi chốn luân hồi ràng buộc.

Biển hoạn dập dồn thương bấy trẻ,

Thành sầu chất chứa cám cho gia.

(Đạo Sử).

Trong lòng chất chứa điều đê tiện,

Ngoài miệng hô hào chí đởm đương.

(Thơ Võ Thành Lượng).

 

 

CHẤT NGẤT

Chất: Đem một vật chồng lên một vật khác. Ngất: Cao vút.

Chất ngất là cao ngất, có nhiều lớp, nhiều tầng chồng chất lên nhau.

Đại Thừa Chơn Giáo có câu: Ôi! đời đã đến thế thì đời chỉ là một trường tranh đấu kịch liệt, một cuộc tàn sát gớm ghê, nạn khổ dẫy đầy, đao binh chất ngất, đạo tặc lung tung cho đến đỗi cùng chung một bọc, cùng chung một nòi, mà cũng tương tàn, tương sát lẫn nhau cho vừa lòng dục, thì còn chi phong tục, kỷ cương, tình nghĩa!

Xẩn bẩn trời mơi kế xế chiều,

Sầu đâu chất ngất cứ đeo theo.

(Thơ Thượng Sanh).

Thánh Toà chất ngất chiếu muôn trùng,

Hùng vĩ vươn mình giữa cõi đông.

(Thơ Hiến Pháp).

 

 

CHẤT NHƯỢC LIỄU BỒ

質 弱 柳 蒲

Chất nhược: Chất mềm yếu. Liễu bồ: Dương liễu và cỏ bồ, hai loại cây có thể chất yếu ớt, nên người ta thường ví với người phụ nữ yếu đuối.

Chất nhược liễu bồ chỉ thân phận người đàn bà chân yếu tay mềm như cây bồ liễu.

Đừng cậy thế làm chồng lấn lướt,

Chẳng đoái thương chất nhược liễu bồ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHẤT PHÁC

質 樸

Chất: Thật thà. Phác: Thành thật.

Chất phác là người có tính thật thà, mộc mạc.

Trong quyển Thiên Đạo, Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu có câu: Ngoài những bực hiến thân vào cửa đạo cần phế hết phàm trần tục sự thì chẳng nói, kỳ dư những người tu tại gia vẫn làm ăn chất phác như thường, và cũng kề vai gánh vác một phần trong công việc xây đắp nền thạnh vượng về kinh tế cho quốc gia xã hội; có điều khác hơn người thường là, ngoài giờ làm lụng thay vì rong chơi vô ích, họ nhơn lúc rảnh rang mà lập công bồi đức, hoặc dạy dỗ lẫn nhau cùng trau sửa tánh tình bằng cách quan sát hành động mỗi ngày.

Dạy con giữ tấm lòng chất phác,

Có chánh tâm không lạc bước đời.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHẤT THÁNH

Chất: Tính cách, phẩm chất. Thánh: Bậc Thánh, thiêng liêng, tốt đẹp hoàn toàn.

Chất Thánh, do chữ “Thánh chất 聖 質” là phẩm chất của bậc Thánh, chỉ phẩm chất tốt đẹp hoàn toàn.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Thấy vậy chẳng đành, Thầy phải sửa cải Thiên thơ mà để cho mỗi đứa được có ngày giờ và thế lực mà dìu dắt nhau cho tròn phận sự, nhưng rốt lại, tà quyền cũng lấn lướt chất Thánh, bước tục dẫn chơn phàm, Thầy rất đau lòng mà dòm thấy con cái líu xíu bị lầm vào đường tà quái.

Xem: Thánh chất.

Tà mị phàm rung rinh chất Thánh,

Mùa màng sâu phá hoại hồn kinh.

(Đạo Sử).

 

 

CHẬT

Chật là hẹp, trái với rộng.

Như: Chật chội, chật hẹp, người đông nhà chật, quần áo nhét chật tủ, người xem đứng chật hai bên đường.

Nói về Đức Chúa Jésus Christ, Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Ở Châu Thành nhà cửa bị thiên hạ mướn chật hết, kiếm không ra chỗ ngụ, không lẽ ở ngoài trời, mới vô năn nỉ chúng cho ở trong chuồng chiên tạm trú.

Biết tấn thối đời thì ít kẻ,

Những người hả miệng chật đầy nhà.

(Đạo Sử).

Thây phơi chật đất chật đàng,

Cao Đài xuất hiện cứu an dân trời.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

CHẬT CỨNG

Chật: Có kích thước nhỏ hẹp, đông, đầy sát với nhau. Cứng: Không lỏng lẻo.

Chật cứng là chật ních, chật đến mức không còn chỗ trống để nhét thêm vào được nữa.

Như: Tủ chật cứng mền gối, không thể nhét thêm quần áo nữa được.

Người tấp nập không thừa chỗ đứng,

Khách đông ken chật cứng nơi ngồi.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

CHẬT HẸP

Chật: Có kích thước nhỏ hẹp, đông, đầy sát với nhau. Hẹp: Chật, không rộng rãi.

1.- Chật hẹp là vừa chật vừa hẹp, ý chỉ khoảng không gian chẳng rộng lớn.

Như: Nhà cửa chật hẹp, đất đai chật hẹp.

Đông hải mênh mông còn phải cạn,

Tây hồ chật hẹp độ bao sâu.

(Quyền Giáo Tông).

2.- Chật hẹp còn có nghĩa chỉ cái tình cảm chật hẹp tức những cái khó khăn, vất vả.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Theo tình cảm, trước hết ta phải thương những người thân cận như là cha, mẹ, anh, em và gia tộc, thứ nữa ta phải nới rộng tình thương tới cả nhơn loại, vì đức Nhân là tiêu chuẩn của lòng từ ái và tánh vị tha, không thể khép vào một chỗ chật hẹp được.

Chàng dầu hưởng Thiên Tào quyền phép,

Đỡ đường trần chật hẹp thân côi.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

CHẬT NÍCH

Chật: Có kích thước nhỏ hẹp, đông, đầy sát với nhau.

Chật ních là chật đến mức không thể chứa, đựng thêm được nữa.

Như: Rạp hát chật ních những người, nhét vải vụn chật ních bao bố.

Sao khuya loe lóe ánh hồng,

Người chen chật ních pháo bông rợp trời...

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

CHẬT VẬT

Chật: Hẹp, có nhiều quá mức trong phạm vi nhất định nào đó. Vật: Vật đi vật lại, vật lộn.

Chật vật là khó nhọc vất vả, tức làm việc mất nhiều công sức vì gặp nhiều khó khăn.

Chật vật còn dùng để chỉ có nhiều khó khăn về vật chất, khiến phải vất vả nhiều.

Diễn văn của Đức Thượng Sanh đọc trong cuộc lễ Đặt viên gạch đầu tiên kiến thiết Chánh môn tại Toà Thánh Tây Ninh có câu: Mặc dù cuộc sinh hoạt đương hồi khó khăn, đời sống của nhơn sanh quá chật vật, nhưng lòng háo nghĩa của bổn Ðạo quá nồng nàn, thật Hội Thánh lấy làm cảm động.

Nhiều vị phải tốn kém tiền nhà, trong lúc cuộc sanh hoạt hằng ngày trở nên khó khăn chật vật.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

CHÂU

1.- Châu, như chữ “Chau”, là hơi nhíu lông mày, thường vì sợ sệt, đau buồn hay nghĩ ngợi.

Như: Nhăn mặt châu mày.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Lão thấy hình phạt phải châu mày, nhưng ôm lòng ráng chịu, lạy lục khẩn cầu.

Xem: Chau.

Nếu anh dạy châu mày bẳng hẳng,

Tiếng thấp cao cẳn nhẳn mắng trả thù.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Châu là trai, một loại động vật thân mềm, sống ở đáy nước, có vỏ cứng gồm hai mảnh.

Như: Ngọc châu, đi tìm châu báu, xuống biển mò châu, châu về Hiệp Phố.

Thìn dạ chờ châu về hiệp phố,

Nơi mình sự nghiệp mới tan tành.

(Đạo Sử).

3.- Châu là ngọc châu, trân châu, nghĩa bóng chỉ vật hiếm có và quý giá.

Như: Châu báu, gạo châu củi quế.

Gió dậy xao trời mây cuốn ngọc,

Sương lồng ướt đất liễu đeo châu.

(Đạo Sử).

Giá kia nào kể nên chăng,

Tay chân chàng để cũng bằng báu châu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

4.- Châu là giọt nước mắt.

Như: Đôi dòng lệ châu, hai hàng châu rơi lả tả, đầm đìa giọt châu.

Sợ viết nữa đờn bà lại khóc,

Mình nhẹ lòng họ chọc rơi châu.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHÂU CẤP

Hay “Chu cấp”.

Châu (chu): Giúp đỡ. Cấp: Cho.

Châu cấp, như chữ “Chu cấp 周 給”, là đem tiền bạc, hoặc vật dụng ra để giúp đỡ người được đầy đủ.

Trong Kinh Thi có câu: Mỹ nhân bất chu 靡 人 不 周, nghĩa là không người nào là không giúp đỡ.

Áo cơm no ấm hằng ngày,

Của người châu cấp ơn dày nghĩa sâu.

(Kinh Sám Hối).

Thêm những sãi giả nương cửa Phật,

Của thập phương châu cấp thê nhi.

(Kinh Sám Hối).

 

 

CHÂU CÔNG

Hay “Chu Công”.

Châu Công, như chữ “Chu Công 周 公”, tức là Châu Công Đán, con của vua Văn Vương đời nhà Châu, em của vua Võ Vương và chú của Thành Vương.

Khi vua Thành Vương lên ngôi còn rất nhỏ tuổi, Châu Công Đán làm nhiếp chính, điều hành mọi việc trong nước.

Châu Công là người chế ra lễ nhạc, về quan hôn tang tế, truyền cho đến bây giờ.

Quản Thúc là em của Châu Công muốn làm phản, gièm pha với vua là Châu Công muốn cướp ngôi, rồi nổi lên làm loạn. Châu Công đem quân đi đánh dẹp, một lòng vì vua vì nước.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có lời dạy: Chẳng khác nào khi trước, Nhơn đạo chưa mở thì đã có Châu Công truyền trước.

Châu Công đưa nghiệp nối Nho phong,

Thánh đức còn nêu trí hoán phòng.

(Đạo Sử).

Bực Thánh Châu Công xưa vẹn đức,

Nếu kiêu đời chẳng gọi nên người.

(Đạo Sử).

Vợ Châu Công đình thần mạng phụ,

Ở thôn quê lam lụ làm ăn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CHÂU CÔNG CẨN

Hay “Chu Công Cẩn”.

Châu Công Cẩn, như chữ “Chu Công Cẩn 周 公 瑾”, là một tướng tài của nước Ngô đời Tam Quốc, họ Châu, tên Du (hay Do), tự là Công Cẩn.

Châu Công Cẩn lập kế dùng hoả công đánh thắng một trận lớn binh Tào Tháo ở sông Xích Bích.

Châu Công Cẩn có tài kiêm văn võ, nhiều mưu lược, nhưng lại chết sớm.

Khổng Minh thắng Châu Công Cẩn cũng nhờ giả dối, đó là Á Ðông.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

CHÂU CHẤU ĐÁ XE

Châu chấu: Bọ cánh thẳng, đầu tròn, thân mập, màu nâu và vàng, ăn hại lúa. Đá xe: Tức là chống lại với xe.

Châu chấu đá xe, lấy từ câu ca dao: Nực cười châu chấu đá xe, Tưởng rằng chấu ngã ai dè xe nghiêng.

Châu chấu đá xe ý nói: Châu chấu là loài vật bé nhỏ không thể nào đương cự lại chiếc xe to lớn, có nghĩa nhỏ không chọi được to.

Nếu chống cự cho dù quyết đấu,

Cầm bằng như châu chấu đá xe.

(Phù Kiều Hận Sử).

 

 

CHÂU DU LIỆT QUỐC

Hay “Chu du liệt quốc”.

Châu (chu) du: Đi giáp khắp vòng. Liệt quốc: Các nước, ý nói các nước chư hầu.

Châu du liệt quốc, như chữ “Chu du liệt quốc 週 遊 列 國”, là nói Đức Khổng Tử cùng với những người học trò của Ngài đi qua các nước như Vệ, Khuông, Trần, Tống, Thái, và Sở... để mong thuyết phục các vua chư hầu đem cái “Vương Đạo” của Ngài ra thi hành hầu mang lại nền thái bình thạnh trị cho dân chúng.

Nhưng cái Vương Đạo của Ngài chủ trương đi ngược lai với chính sách “Bá Đạo” của các nước chư hầu thời bấy giờ. Vì vậy, sau 14 năm châu du các nước không thành công, Đức Khổng Tử đành phải trở về nước Lỗ để soạn sách và dạy học.

Khổng Thánh thời xưa đã lắm lần,

Châu du liệt quốc tạo nền nhân.

(Cội Đạo Bốn Mùa).

 

 

CHÂU DU THIÊN HẠ

Hay “Chu du thiên hạ”.

Châu (chu) du: Đi giáp vòng, đi mọi nơi. Thiên hạ: Dưới trời, chỉ toàn thế giới.

Châu du thiên hạ, như chữ “Chu du thiên hạ 週 遊 天 下”, là đi giáp vòng khắp nơi.

Đây là câu thành ngữ nói về Đức Khổng Tử đi khắp các nước chư Hầu trong thời Xuân Thu để Ngài truyền bá Đạo Nho.

Từ đó Ngài châu du khắp thiên hạ, Ngài sang nước Vệ, đến nước Khuông, nước Trần...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

CHÂU ĐẠO

州 道

Châu: Chỉ một khu vực hành chánh, ngang hàng cấp tỉnh. Đạo: Tôn giáo.

Châu Đạo là một khu vực hành chánh của Đạo Cao Đài, tương đương với cấp tỉnh, nghĩa là có tín đồ cư ngụ trong một tỉnh.

Vị Chức sắc được Hội Thánh bổ đến cầm đầu một Châu Đạo thường là phẩm Giáo Hữu, được gọi là Khâm Châu Đạo.

Châu Đạo miền tây Hội Thánh truyền,

Cúi đầu đãi mạng lịnh thăng thuyên.

(Thơ Trúc Bạch).

 

 

CHÂU HOÀN HIỆP PHỐ

Hay “Châu hoàn Hợp Phố”.

Châu: Hạt châu. Hoàn: Trở về. Hiệp Phố: Hay Hợp Phố là tên đất.

Châu hoàn Hiệp (Hợp) Phố 珠 還 合浦, như chữ “Châu về Hợp Phố”, ý nói hạt châu trai rời bỏ đất Hợp Phố ra đi, rồi sau lại trở về đất xưa.

Do điển đời Hậu Hán, ở miền biển đất Hợp Phố có nhiều hạt trai. Quan lại nơi đó hà khắc, bắt dân đi mò ngọc. Trai bỏ đi nơi khác hết. Sau Mạnh Thường người nhơn đức, được về làm Thái Thú, trai lại lần lần trở về.

Xem: Châu Về Hiệp Phố.

Châu hoàn Hiệp Phố, lòng ray rức,

Bạc hỏi ngân hàng, nợ vấn vương.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

CHÂU LƯU

Hay “Chu lưu”.

Châu (chu): Vòng quanh, một tinh kỳ là 7 ngày. Lưu: Nước chảy, chuyển động.

Châu lưu, như chữ “Chu lưu 週 流”, là chảy vòng quanh, chảy khắp mọi nơi, hay đi khắp cả bốn phương.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ðức Khổng Phu Tử đã châu lưu lục quốc bất kỳ nơi nào cũng bị thiên hạ biếm nhẻ, chê bai, bắt doạ cho đến khúc trở về nước Lỗ, khi về Ngài còn cần cù dạy học trò.

Châu lưu tứ hải ngũ hồ,

Thơ hương đắc vận cậy nhờ dân sinh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Khi Ngài châu lưu khắp thiên hạ thì bên mình không khi nào rời cây đàn Ngũ Huyền Cầm.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

CHÂU MÃI THẦN

Hay “Chu Mãi Thần”.

Châu Mãi Thần, còn đọc “Chu Mãi Thần 周 買 臣”, là người đời Hán, nhà nghèo nhưng rất chăm học, vừa gánh củi đi bán, vừa mang theo sách để học. Vợ chê nghèo, bỏ ông để đi lấy chồng khác. Ông nài nĩ: Nay tôi 49 tuổi rồi, đến 50 tuổi tôi thế nào cũng lập được công danh. Lâu nay mình chịu cực khổ, ráng thêm một thời gian nữa đi. Người vợ không nghe, bỏ ông đi lấy một người làm ruộng.

Sau Châu Mãi Thần được người tiến cử lên vua Hán Võ Đế, vua phong làm quan to, người vợ muốn trở lại, nhưng Mãi Thần bảo người vợ cũ đổ tô nước xuống đất nếu hốt lại đầy như cũ thì ông cho nàng về. Tuy vậy, để đền đáp tình nghĩa trước kia, ông cấp cho vợ chồng người vợ cũ một số tài sản, người vợ lấy làm xấu hổ, bèn tự vận chết.

Châu Mãi Thần bèn chôn vợ gần nơi ao, dọc theo bờ lộ và cho khắc một bài thơ trên mộ bia như sau:

 

Thanh thảo trì biên mộ nhứt khu,

 

青 草 池 邊 墓 一 丘,

 

Thiên niên mai cốt bất mai tu.

 

千 年 埋 骨 不 埋 羞.

 

Đinh ninh ký‎ ngữ nhơn gian phụ,

 

丁 寧 寄 語 人 間 婦,

 

Tự cổ tào khang đáo bạch đầu.

 

自 古 糟 糠 到 白 頭.

Nghĩa là:

Một nấm mồ xanh cỏ bên bờ ao,

Ngàn năm chôn xương chớ tiếng không mất.

Đinh đinh nhắn gửi những đàn bà ở thế gian,

Từ xưa nghĩa tào khang cho đến đầu bạc.

 

Châu Mãi Thần là ông Nho sĩ,

Cơn thất thời lại bị vợ khinh.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

CHÂU MÀY

Châu: Như chữ “Chau”, là hơi nhíu lông mày, thường vì sợ sệt, đau buồn hay nghĩ ngợi. Mày: Hàng lông mọc phía trên con mắt.

Châu mày, như chữ “Chau mày”, là nhăn mắt, hơi nhíu lông mày.

Thánh giáo Lý Giáo Tông trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có đoạn: Nạn tiêu diệt hầu gần, hết chém giết lẫn nhau tới buổi bịnh chướng sát hại. Lão thấy hình phạt phải châu mày, nhưng ôm lòng ráng chịu, lạy lục khẩn cầu.

Xem: Chau mày:

Thần Tiên xem thấy châu mày,

Đói cơm ai giúp, thi hài ai chôn.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Quả như chàng có chốn này,

Tưởng khi đổ lụy châu mày với duyên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CHÂU NHI PHỤC THỈ

Hay “Chu nhi phục thuỷ”.

Châu (chu): Vòng quanh, đi vòng quanh. Nhi: Mà. Phục: Trở lại. Thỉ (thuỷ): Đầu, bắt đầu, mối khởi đầu.

Châu nhi phục thỉ, như chữ “Chu nhi phục thuỷ 週 而 復 始”, là đi giáp một vòng thì trở lại mối đầu tiên, tức là đúng một chu kỳ thì trở lại.

Ý chỉ việc đời cứ biến chuyển xoay vần và tái diễn.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Đền Thánh hoàn toàn là triệu chứng châu nhi phục thỉ, từ đây sắp vô cùng, vạn linh sanh chúng sẽ được hưởng muôn điều hạnh phục.

Tam Kỳ Ðạo chuyển tuần huờn,

Châu nhi phục thỉ, Ðạo chơn chánh truyền.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

CHÂU RƠI NGỌC TRẦM

Châu ngọc: Dùng để chỉ vật quý báu, ở đây chỉ mạng sống con người. Rơi trầm: Rơi và chìm xuống.

Châu rơi ngọc trầm ý chỉ mạng sống con người đã hết, ví như châu ngọc đã rơi và chìm mất.

Cõi trần kiếp sống mấy hơi,

Phủi tay phút đã châu rơi ngọc trầm.

(Đại Đạo Truy Nguyên).

 

 

CHÂU SA

Châu: Hạt ngọc, hạt châu, ở đây dùng để chỉ nước mắt. Sa: Rơi xuống.

Châu sa là giọt nước mắt rơi xuống từng giọt, long lanh như hạt ngọc.

Do tích: Xưa có loài giao long hoá thành người, gọi là giao nhân 蛟 人, sống trên thế gian lấy vợ, lấy chồng và buôn bán với loài người. Nhưng đến cuối năm lại phải về thuỷ phủ để chầu vua. Lúc từ biệt gia đình, họ khóc rất thảm thiết, mà khóc bao nhiêu thì nước mắt hoá thành những hạt châu bấy nhiêu. Nên có câu: “Sái giao nhân chi châu lệ 洒 蛟 人 之 珠 淚”, nghĩa là người giao nhân khóc, nước mắt sa xuống thành hạt châu.

Đôi lúc nhớ nhung tha thiết lắm,

Nhưng lòng cố nén giọt châu sa.

(Thơ Chơn Tâm).

Lã chã giọt châu sa trước mặt,

nào ngờ bình thuỷ duyên xưa,

(Tuý Sơn Vân Mộng).

 

 

CHÂU TOÀN

Hay “Chu toàn”.

Châu (chu): Khắp. Toàn: Trọn vẹn.

Châu toàn, như chữ “Chu toàn 周 全”, là làm trọn vẹn hết mọi điều, không thiếu sót chỗ nào.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Vậy chia làm ba người (Phàm thân, thân thể khí chất là pháp thân, linh hồn tức linh thân) trong ta nuôi nấng xác hài hữu hình nầy. Pháp thân một mặt gìn giữ xác thân châu toàn kiếp sống, một mặt tương liên với quyền năng sở định của các Ðấng Thiêng Liêng với Chí Tôn

Cõi hư vô nay gần phước Thánh,

Xin châu toàn đường hạnh môn sinh.

(Kinh Thế Đạo).

Từ Bi ngũ cốc đã ban,

Dưỡng nuôi con trẻ châu toàn mảnh thân.

(Kinh Thế Đạo).

Đức lập Quyền, dân được châu toàn,

Quyền lập Đức, nhơn gian thống khổ.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

CHÂU THÀNH

州 城

Châu: Một hạt cai trị, lớn nhỏ tuỳ lúc chia địa phận. Thành: Một đô thị.

Châu thành là thành phố, tức một khu đất rộng đã lập ra phố phường, dân cư đông đúc.

Như tại Châu thành lớn thì mỗi đứa đặng quyền cai quản cúng tế Thầy như thể Ðầu Sư và Phối Sư.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CHÂU THÀNH THÁNH ĐỊA

州 城 聖 地

Châu Thành Thánh Địa là một vùng đất ngoại ô rộng lớn của Toà Thánh Tây Ninh, hầu hết là tín đồ Cao Đài từ khắp nơi trong nước về Thánh Địa lập nghiệp sanh sống.

Theo tổ chức hành chánh đạo trước năm 1975, đứng đầu Châu Thành Thánh Địa là một vị Khâm Thành, phẩm Giáo Sư, do Hội Thánh bổ nhiệm.

Dưới Khâm Thành có ba vị Phó Khâm Thành, phẩm Giáo Hữu, mỗi vị phụ trách một khu vực Khâm Thành Bắc, Khâm Thành Trung, Khâm Thành Nam.

Châu Thành Thánh Địa gồm nhiều Phận Đạo, đứng đầu mỗi Phận Đạo là một vị Lễ Sanh.

Cái tình đoàn kết đó chẳng nên có giới hạn trong khuôn khổ địa phương. Nó phải được lan rộng cùng khắp trong Châu Thành Thánh Ðịa.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

CHÂU THỌ XƯƠNG

Hay “Chu Thọ Xương”.

Châu Thọ Xương, còn đọc “Chu Thọ Xương”, người Tống, là con của người vợ thứ. Năm ông vừa lên 7 tuổi, người vợ cả đuổi mẹ ông đi. Về sau ông được làm quan nghĩ đến công sinh thành tác tạo của mẹ đang sống lưu lạc khổ sở, ông cảm thấy chua xót trong lòng. Ông liền xin từ quan chức để đi tìm mẹ đẻ. Trước khi đi, ông thề rằng: Nếu không tìm được mẹ chết cũng đành. Tìm kiếm khắp nơi, may đến đất Đồng Châu mẹ con lại được trùng phùng. Tuy xa cách nhau đến năm mươi năm, mẫu tử được đoàn viên, ông lấy làm vui mừng. Ông liền rước mẹ về ở chung và phụng dưỡng tận tình.

Chu Thọ Xương được xếp vào một gương hiếu trong Nhị thập tứ hiếu và được Đức Hộ Pháp dạy vẽ hình bên ngoài mặt tiền Báo Ân Từ.

Châu Thọ Xương từ quan tìm mẹ,

Nhờ công ơn sanh đẻ dãi dầu.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

Châu Thọ Xương từ quan trỗi bước,

Tống sang Tần, tìm được mẹ già.

(Báo Ân Từ).

 

 

CHÂU TRẦN

朱 陳

Châu Trần là hai họ thời xưa ở Trung Quốc đời đời kết hôn với nhau, chỉ việc kết duyên vợ chồng.

Do trong sách Tàu viết: Châu Trần nhị tính, thế thế hôn nhân, nhân danh Châu Trần Thôn 朱 陳 二 姓, 世 世 婚 姻. 因 名 朱 陳 村, nghĩa là họ Châu họ Trần đời đời lấy nhau, về sau nhân đó mà gọi thôn Châu Trần.

Châu Trần dùng để nói hai bên lấy nhau xứng đáng.

Cùng nhau giữ trọn hương nguyền,

Cái duyên kinh bố là duyên Châu Trần.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CHÂU TRI

週 知

Châu: Vòng quanh, quanh khắp. Tri: Biết.

Châu tri là một bản văn thuộc hành chánh đạo Cao Đài, được gởi đi khắp nơi để thông báo cho toàn thể bổn đạo biết và theo đó mà thi hành.

Châu tri còn được gọi là Thông tri.

Trong Đạo Luật Năm Mậu Dần có dạy: Mỗi kỳ sóc vọng tại Thánh Thất hoặc các Đàn lệ khác, vị chức sắc đương quyền phải thuyết đạo, hoặc đọc Châu tri, Bố cáo, hay là dẫn giải những điều khuyết điểm, cùng là khuyến khích và nhắc nhở chư Đạo hữu trong đường đạo đức.

Tắc! Con phải ký tên tờ Châu tri với anh con nghe à.

(Đạo Sử).

 

 

CHÂU VỀ HIỆP PHỐ

Hay “Châu về Hợp Phố”.

Châu về Hiệp (Hợp) Phố là hạt châu trai ở đất Hiệp Phố trở về.

Do điển: Con trai (Ngọc trai) ở đất Hiệp Phố, thuộc Giao Chỉ bỏ đi xứ khác, bởi quan cai trị lúc đó hà khắc, bắt dân đi mò ngọc trai, khiến dân tình khổ sở.

Đến sau, Mạnh Thường làm Thái thú, là người nhơn đức, lo cho dân lành, nên ngọc trai lại trở về nhiều như cũ.

Châu hoàn Hợp Phố dùng để chỉ những vật đã mất mà tìm lại được.

Thìn dạ chờ châu về hiệp phố,

Nơi mình sự nghiệp mới tan tành.

(Đạo Sử).

Châu về hiệp phố dễ ai hay,

Có đức tiếc cho chẳng có tài.

(Đạo Sử).

Châu về hiệp phố nâng hồn nước,

Nhuần gội ân hồng đẹp đảnh vân.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

CHẦU

1.- Chầu, như chữ “Triều 朝”, là vào hầu trong cung để chờ nghe lịnh của vua hoặc chúa.

Như: Vào chầu vua, ngoài sân chầu các quan đã tụ tập đông đảo.

Phòng cơn biển nọ hoá cồn dâu,

Chưa hết quan viên há hết chầu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Non sông nhuộm một màu sầu,

Nền giao cỏ láng sân chầu sương phong.

(Ngụ Đời).

2.- Chầu, trong tôn giáo Cao Đài, dùng để chỉ việc “Triều bái 朝 拜” Đức Chí Tôn, hoặc Đức Phật Mẫu.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có câu: Hội Tam Giáo đương chầu Ðức Từ Bi định khai đạo cho khắp nơi đặng hiệp theo lẽ Trời cuối kỳ Hạ nguơn nầy.

Nguyện các Đấng đương chầu Bạch Ngọc,

Giúp thông minh lảu thuộc văn từ.

(Kinh Thế Đạo).

Trăm năm rồi có gì đâu,

Chỉ hai tay trắng về chầu Diêm Vương.

(Thơ Hộ Pháp).

Dìu đời cửa Thánh đương mong đợi,

Thoát tục non Tiên vội đến chầu.

(Thơ Thượng Sanh).

3.- Chầu là một buổi, một hồi, một dịp.

Như: Chầu nầy trời hay mưa, mắng cho một chầu, dẫn đi xem một chầu hát.

Phạm Lãi gặp chầu buôn bán nước,

Bất Vi đặng buổi đổi mua duyên.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

CHẦU CHỰC

Chầu: Hầu, chờ lịnh. Chực: Chờ sẵn để làm việc gì.

Chầu chực là ở bên cạnh để chờ đợi sự sai khiến.

Chầu chực còn dùng để chỉ chờ đợi mất nhiều thì giờ để đạt một yêu cầu gì.

Nói Ngôi sao Bắc Đẩu, quyển Thiên Đạo của hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có viết: Sao Bắc Đẩu (étoile polaire) là vì sao lớn ở thẳng về miền Bắc Cực. Kế bên sao Bắc Đẩu, có hai chòm sao (mỗi chòm 6 cái) gọi là hai bánh lái (grande Ourse et petite Ourse). Hai chòm sao nầy hình như chầu sao Bắc Đẩu, cho nên trong “Luận Ngữ” có câu: “Vi chánh dĩ đức thí như Bắc Đẩu cư kỳ sở nhi chúng tinh cung chi” (Lấy đức làm chánh tỷ như sao Bắc Đẩu ở một nơi mà các vì sao khác đều chầu chực).

Nơi Diêu điện, lưỡng ban chầu chực,

Nhớ đến con bứt rứt lòng già.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

CHẬU

Chậu là đồ bằng đất, sành, sứ, đồng... dùng để rửa, giặt hay trồng cây.

Như: Chậu nuôi cá, chậu trồng bông, chậu giặt đồ, chậu rửa mặt.

Non Thái dầu cao, cao hoá thấp,

Chậu kia dầu kín thấy thông thương.

(Đạo Sử).

Ngạc kình đâu dễ đem nuôi chậu,

Hồng hộc không ưa để nhốt lồng.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

CHE

Che là làm cho khuất, cho kín. Như: Che mưa, che nắng, tốt khoe xấu che, trướng rủ màn che.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu dạy: Chẳng khác nào ngồi nhà thấy kẻ mắc mưa ướt mình, nhảy ra che cho ướt, lại khen rằng mát thì muội lắm đó.

Cổi thân ra mảnh áo tơi,

Che mưa đỡ nắng cho đời nguy nan.

(Bát Nương Giáng Bút).

Vui bóng Cao Ðài che khắp chốn,

Vui gương Ngọc Ðế thấy như nhiên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

CHE CHỞ

Che: Ngăn trở cho khỏi bị tác động vào. Chở: Đỡ, mang, tải.

Che chở là ngăn trở để bảo vệ, chống sự xâm phạm.

Che chở, bởi từ Hán Việt là “Phú tái 賦 載” là che và chở, ý muốn nói “Trời che đất chở” (tức là Thiên phú địa tái 天 賦 地 載), dùng để chỉ ơn bảo dưỡng, ơn hộ trì của Trời đất.

Thánh giáo Thầy có câu: Nền Ðạo thung dung được đứng sững trên cõi Việt mà đùm bọc che chở những kẻ hữu phước hữu phần, nếu dần dà chẳng tỉnh ngộ mà un đúc cho cứng khối tinh thần, để nay trở bước, mai đổi đường, thì mảnh xác phàm tục kia tránh sao khỏi lối tan tành ra tro bụi.

Trên nhờ có Chí Tôn che chở,

Thần, Thánh, Tiên, Phật hộ thân hèn.

(Kinh Thế Đạo).

Nào có ai thấu đặng tâm tình,

Như cha mẹ để tin che chở.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHE ĐẬY

Che: Làm cho khuất, cho kín. Đậy: Úp hay phủ vật gì lên trên.

Che đậy là phủ lên, đậy lên, giữ cho kín đáo không để khỏi bị hại.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Tựu trung cái tâm lý chung của người đời là sợ đau khổ và sợ cả sự nghĩ đến đau khổ, luôn luôn có thái độ lẩn tránh, che đậy hay muốn quên đi bằng cách ẩn mình trong những vui thú nhất thời.

Che đậy kín tường đông ong bướm,

Giấu nhặt nghiêm nhụy tướng hương hình.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CHE LẤP

Che: Làm cho khuất, cho kín. Lấp: Phủ kín, làm cho người ta không thấy.

Che lấp là phủ kín làm cho người ta không còn nhìn thấy được nữa.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Tâm được sáng suốt thêm hay trở nên mờ tối là do nơi con người biết nuôi nấng, nâng cao nó lên hay là đàn áp làm cho nó bị che lấp mất.

Màn Trời che lấp dấu trần, đạo Thánh dắt dìu bước tục.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

Giúp người nên Đạo. Đừng nhớ cừu riêng. Chớ che lấp người hiền.

(Tân Luật).

 

 

CHÈ

Chè là cây nhỡ, loại cây được trồng để lấy lá, búp nụ pha nước uống.

Như: Công nhân hái chè, đây sản phẩm chè của xứ Huế, mỗi buổi sáng đều pha chè uống.

Khi kẹt đá vài câu hứng chí,

Giải lòng ẩn sĩ một chung chè.

(Thơ Hộ Pháp).

Chung chè sớm tối cuộc cờ trưa,

Vinh nhục công danh nhắm đã thừa.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

CHÉM

Chém là dùng gươm hay đao mà chặt, bổ cho đứt. Như: Chém đâm, chém tre, chém đầu.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có đoạn dạy: Nạn tiêu diệt hầu gần, hết chém giết lẫn nhau tới buổi bịnh chướng sát hại. Lão thấy hình phạt phải châu mày, nhưng ôm lòng ráng chịu, lạy lục khẩn cầu.

Lại có kẻ hung hoang ác nghiệt,

Cướp giựt rồi chém giết mạng người.

(Kinh Sám Hối).

Cơn hỏi tội đừng mưu che ém,

Công dưỡng sanh quyền chém vốn không vừa.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHÉM VỢ CẦU VINH

Chém vợ cầu vinh, bởi câu “Sát thê cầu tướng 殺 妻 求 將”, tức giết vợ để cầu làm tướng.

Sử Ký chép: Ngô Khởi làm quan nước Lỗ. Khi Tề đánh Lỗ, Lỗ Hầu muốn phong Ngô Khởi làm tướng, nhưng vợ Ngô Khởi lại là Công chúa nước Tề, vua Lỗ nghi ngờ, không dám dùng Khởi.

Biết vậy, Ngô Khởi bèn tự tay giết vợ mình, để chứng tỏ lòng vô tư, không theo Tề mà cầu xin Lỗ Hầu phong làm tướng.

Chém vợ để cầu vinh thuở trước,

Ngô Khởi còn gian ngược chi danh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CHEN

Chen là len, lẫn vào giữa, tức lách giữa đám đông để chiếm chỗ, chiếm lối đi. Như: Chen vào đám đông.

Thánh giáo Thầy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Lợi danh xạo xự, chung đỉnh mơ màng, cuộc vui vẻ chẳng là bao, mà chốn đoạ đày chen chẳng mãn.

Noi dấu đường ngay Trời tế độ,

Chen chơn nguồn Thánh bước lần vào.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Miệng ngọt lòng chua ai dễ thấu,

Chen vào tội chướng mất an nhàn.

(Đạo Sử).

 

 

CHEN VAI

Chen: Len, lẫn vào giữa. Vai: Vai của con người, biểu tượng cho sức lực.

Chen vai là chen vào để gánh vác, hoặc ý chỉ đem hết sức với nhau để cùng làm một việc gì.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Kiếp phù sinh không mấy chốc, đời mộng ảo chẳng là bao, sanh đứng nên người chen vai vào vòng thế cuộc, có khác chi kẻ bị đày vào biển khổ, để làm xong nhân sự đặng chuộc thửa tội tiền khiên.

Phẩm hàng cũng nhộn với người đời,

Tính đến chen vai với Ðạo chơi.

(Đạo Sử).

 

 

CHÉN

Chén là đồ dùng bằng sành, bằng sứ, để đựng đồ uống, hoặc đồ ăn. Như: Chén ăn cơm, chén chè đậu, mời cạn chén rượu.

Trong Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Tới giờ chúng đem chén thuốc độc đưa trong tay của Ngài (Socrate) biểu Ngài uống.

Thân nhau từ buổi lọt lòng,

Chén cơm miếng cá cũng đồng chia nhau.

(Kinh Thế Đạo).

Nỡ đem chén ngọc đựng màu chàm,

Chẳng biết phận mình thế cuộc ham.

(Đạo Sử).

Khối thảm chất tràn trề bể hẹn,

Giọt đau thương quá chén hiệp phu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CHÉN CÚC

Chén: Đồ bằng sành, sứ, dùng để uống nước, uống rượu. Cúc: Hoa cúc

Chén cúc, do chữ “Cúc tửu 菊 酒”, là chén rượu cất bằng hoa cúc, một loại rượu quý, thơm ngon dành cho bậc văn nhân tài tử hay hạng khách hào hoa phong nhã thưởng thức.

Quến rủ đôi ba thầy tụng,

Rập rềnh tiếng quyển rập tiếng tiêu.

Trù trì năm bảy ông sư,

Thù tạc chén thung đưa chén cúc.

(Tuý Sơn Vân Mộng).

Ngửa nghiêng chén cúc hơi ngào ngạt,

Yểu điệu nàng nga sắc điểm trang.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CHÉN ĐỒNG

Chén: Đồ bằng sành, sứ, dùng để uống nước, uống rượu. Đồng: Do chữ “Đồng tâm 同 心” tức là cùng một lòng với nhau.

Chén đồng là chén rượu thề nguyền suốt đời một dạ một lòng cùng nhau.

Chén đồng được dùng để ví sự hoà hợp thương yêu giữa đôi trai gái hay vợ chồng.

Hoà minh loan phượng dâng lời nhạc,

Giao bái con dâu cạn chén đồng.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CHÉN NGUYỆT

Chén: Đồ bằng sành, sứ, dùng để uống nước, uống rượu. Nguyệt: Mặt trăng.

Chén nguyệt là chén rượu dưới bóng trăng.

Chén nguyệt dùng để chỉ những bậc tao nhân mặc khách, hay văn nhân tài tử ngồi uống rượu đêm trăng để thưởng thức ánh nguyệt.

Chén nguyệt còn có thể hiểu là chén rượu thề dưới hai vầng nhựt nguyệt.

Đinh ninh chén nguyệt lời sơn hải,

Ấm áp phòng xuân gối phượng hoàng.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

CHÉN QUỲNH

Chén: Đồ bằng sành, sứ, dùng để uống nước, uống rượu. Quỳnh: Rượu quỳnh, tức rượu quỳnh tương, là một loại rượu ngon và quý.

Chén quỳnh là chén rượu quỳnh tương.

Đường thi có câu: Nhất ẩm quỳnh tương bách cảm sinh 一 飲 瓊 漿 百 感 生, nghĩa là uống một chén rượu quỳnh tương thì sinh trăm điều nhớ nhung.

Chén quỳnh còn là chén làm bằng ngọc quỳnh, một loại ngọc đẹp và quý giá.

Thu về hứng cảnh đôi bầu cúc,

Hạ đến vui sen mấy chén quỳnh.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

Chén quỳnh tiễn bạn trước long cu,

Giục vó tùng chinh báo quốc thù.

(Thơ Cao Liên Tử).

 

 

CHÉN THỀ

Chén: Đồ bằng sành, sư, dùng để uống nước, uống rượu. Thề: Thề nguyền.

Chén thề tức là chén rượu thề nguyền.

Ngày xưa trai gái yêu nhau thường bày lễ giữa trời để thề non hẹn biển với nhau.

Khen cô dụng ý đề thi hạ,

Mừng cháu thành thân cạn chén thề.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CHEO

Cheo là khoản tiền mà người con gái, theo tục cưới gả thời xưa, phải nạp cho làng khi đi lấy chồng nơi khác.

Như: Tiền nộp cheo cưới xin, lễ nạp cheo bằng tiền hay bằng đồ vật.

Coi lại coi lễ nạp tiền cheo,

Giống chẳng khác hàng heo theo nhóng giá.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHEO LEO

Cheo leo là cao và không có chỗ bấu víu, không vững gây cảm giác nguy hiểm, dễ bị rơi ngã.

Như: Đường lên núi vách đá cheo leo.

Ca dao có câu: Phượng hoàng đậu chốn cheo leo, Đến khi thất thế phải theo đàn gà.

Thành Uổng tử cheo leo gớm ghiếc,

Cầm hồn oan rên xiết khóc than.

(Kinh Sám Hối).

Lựa đèo tầm ngọc ẩn non Côn,

Triền đá cheo leo gắng bước dồn.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

CHÉO

Chéo là một góc, một mảnh nhỏ không vuông vắn.

Như: Nó cầm chéo khăn giũ mạnh, níu chéo áo để theo mẹ đi chợ, mảnh ruộng chéo.

Sẩy chơn lọt tuốt hang sâu thẳm,

Níu chéo vượt qua kẻo lạc Thầy.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

CHÉO ÁO

Chéo: Một góc, một mảnh nhỏ không vuông vắn. Áo: Đồ mặc che kín nữa thân hình trên.

Chéo áo là một mảnh vải nhỏ hình tam giác may liền vào hai bên vạt áo để cho vạt áo rộng thêm ra ở phía dưới, theo kiểu góc dưới của vạt áo.

Chéo áo phất phơ đường thẩm mỹ,

Hồ sen lóng lánh khoé thu ba.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

CHÈO

1.- Chèo là dụng cụ để bơi thuyền, làm bằng thanh gỗ dài đầu trên tròn để tay cầm, đầu dưới dẹp và rộng bản.

Như: Buông dầm cầm chèo, khua động mái chèo.

Bát Nhã xin con trở mái chèo,

Thìn lòng thương lấy chúng sanh eo.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Buồm trương dặm Bắc con chèo lửng,

Mặt ngoảnh non Tây bóng ác tà.

(Thơ Hoàng Nguyên).

2.- Chèo còn có nghĩa là bơi, tức gạt nước bằng cây chèo làm cho thuyền di chuyển.

Như: Chèo thuyền vượt sóng, chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo.

Cười như Lữ Vọng lúc suy thời,

Chẳng lái chẳng chèo khó nổi bơi.

(Đạo Sử).

Tâm ẩn ái giúp Chí Linh,

Biển mê chèo chiếc thuyền tình độ nhân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CHÈO CHỐNG

Chèo: Dùng cây chèo để bơi thuyền. Chống: Dùng sào để đẩy thuyền đi.

Chèo chống là nói dùng cây chèo và sào để đưa đảy thuyền đi. Nghĩa bóng là tìm phương cách để đối phó với những tình huống khó khăn, nguy hiểm.

Trong kinh sách Cao Đài, thường ví Đạo như một con thuyền, nên “Chèo chống” là tìm cách lèo lái con thuyền Đạo qua khỏi cơn phong ba bão táp để đưa chúng sanh vào êm nơi bờ giác.

Điếu văn của Ðức Thượng Sanh đọc trước Liên Ðài Ngài Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có câu: Nhưng nền Ðạo đương hồi biến chuyển, bể khổ sóng chập chờn mà con thuyền tế độ lắm lúc ngửa nghiêng, đương thiếu tay chèo chống.

Hát lường chèo chống cũng đưa bơi,

Cầu Phật cầu Tiên cũng đợi mời.

(Đạo Sử).

 

 

CHÈO QUẾ

Chèo: Vật làm bằng gỗ dẹp, dài, dùng để bơi cho thuyền đi. Quế: Cây quế.

Chèo quế, bởi câu “Quế trạo lan tương 桂 棹 蘭 漿” tức là mái chèo bằng cây quế, cây lan.

Chèo quế chỉ mái chèo bằng cây quế.

Thinh thinh một chiếc thuyền lan, noi dòng Xích Bích,

Nhẹ nhẹ đôi con chèo quế, dực bến Thương Lang.

(Tuý Sơn Vân Mộng).

Bạn lan đẹp hứng khoang tiền hội,

Chèo quế vui đùa sóng bạc trôi.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

CHÈO THUYỀN

Chèo: Bơi, tức gạt nước bằng cây chèo làm cho thuyền di chuyển. Thuyền: Đồ dùng đêt chuyên chở trên mặt nước.

A.- Chèo thuyền là dùng chèo mà bơi thuyền đi.

Trong đạo Cao Đài, thuyền ở đây là chỉ con thuyền Đạo hay Thuyền Bát Nhã, tượng trưng cho trí tuệ dùng để đưa các chơn linh đắc Đạo lên bờ giác.

Chèo thuyền tế độ sang bờ giác,

Đưa khách phồn hoa với tấc thành.

(Thơ Phong).

B.- Chèo thuyền còn là một nghi lễ trong đám tang chức sắc đạo Cao Đài.

Về hữu vi, thuyền Bát Nhã được đóng bằng gỗ, hình con rồng vàng, nơi giữa có một nhà vàng, đặt quan tài người chết trên đó để đưa đến nghĩa địa chôn cất. Về nhiệm mầu vô vi là cơ Tận độ cứu rỗi cửu nhị ức nguyên nhân quy hồi cựu vị.

Lễ chèo thuyền được Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa giải thích vào ngày 13 tháng 10 năm Ất Hợi (Dl. 08-11- 1935) trong buổi lễ Khai Thuyền Bát Nhã như sau: Nhân viên thuyền Bát Nhã gồm có:

- Tổng Lái là Chơn linh Hắc Sát Tinh ở thượng giới theo thể pháp, còn bí pháp là chơn khí của Đức Hộ Pháp. Tổng Lái tượng trưng Bát Quái Đài.

- Tổng Thương là chơn linh Huỳnh Long Tinh ở Thượng giới theo thể pháp, còn bí pháp là chơn khí của Thượng Sanh. Tổng Thương tượng trưng cho Cửu Trùng Đài.

- Tổng Mũi là chơn linh của Bạch Hổ Tinh ở Thượng giới theo thể pháp, còn bí pháp là chơn khí của Thượng phẩm. Tổng Mũi tượng trưng cho Hiệp Thiên Đài.

- Tổng Khậu tượng trưng cho nhơn sanh, tức là chơn hồn của chúng ta, thấy tánh tình của Tổng Khậu vô chừng, vui buồn chẳng định, vả chăng trong thời biến chuyển loạn lạc, phải chịu dưới phép sai khiến của lục dục thất tình, vì danh lợi tự đem mình đến chỗ truỵ lạc, vì vật chất xa hoa quyến rũ.

- Mười hai Bả Trạo tức là mười hai người cầm chèo. Con số 12 là bí pháp, số riêng của Đức Chí Tôn. Ngài nắm Thập nhị Khai Thiên nơi tay, tức là Thập nhị Thời Thần nơi Bạch Ngọc kinh. Còn thể pháp là Thập nhị Thời Quân Hiệp Thiên Đài mà chúng ta đã biết trong cửa Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Vậy 12 Bả trạo tượng trưng cho Thập nhị Địa chi.

Theo Ngài Khai Pháp, Đức Chí Tôn là chúa tể Càn khôn Vũ trụ, hoá sanh vạn vật, cầm quyền thiêng liêng cũng như hữu hình, với lòng đại từ đại bi, chẳng nở ngồi nhìn con cái của Ngài phải chịu trầm luân khổ hải, nên Ngài dùng bí pháp định cho Tam vị Thần xuống thế tượng trưng Thể pháp là Tổng Lái, Tổng Mũi, Tổng Thương, lái vững khuôn thuyền Bát Nhã để độ dẫn các chơn linh nguyên nhân, hoá nhân, quỷ nhân và các chơn hồn tức là trong chúng sanh, dầu xiêu lạc nơi nào cũng tìm rước về hội ngộ cùng Thầy.

Mười sáu lễ hội Chèo thuyền,

Đưa hồn hạ giới thoát miền trầm luân.

(Thơ Huệ Phong).

Truy điệu vốn làm phương cứu cánh,

Chèo thuyền là mở nẻo siêu thăng.

(Chiêu Hồn Tử Sĩ).

 

 

CHÉP BIÊN

Chép: Viết lại theo bản có sẵn. Biên: Viết lại trên một vài trang giấy.

Chép biên, như chữ “Biên chép”, là viết lại thành bài, hoặc ghi chép thành ít chữ, ít dòng.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Phải quấy, Thần, Thánh chỉn chép biên, thưởng phạt duy đợi ngày chung cuộc. Khá biết lấy!

Dầu cho chẳng đặng cũng hiền,

Nầy lời của Mẹ chép biên để lòng.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Lịch sử chép biên bao vẻ đẹp,

Ai từng đem nhục đổi làm vinh.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

CHÉP MIỆNG

Chép: Hai môi chặp lại phát thành tiếng. Miệng: Bộ phận dùng để ăn của người hoặc vật.

Chép miệng là miệng phát ra tiếng khẽ để tỏ ý tiếc hoặc than phiền điều gì.

Như: Bà ấy chép miệng than dài thở vắn.

Ðong đầy đức cả hoá kho vàng,

Ðừng thấy phận nghèo chép miệng than.

(Đạo Sử).

 

 

CHÉP NHIỀU THƠ VẠN ĐẠI TRUYỀN RA

Chép nhiều thơ: Viết lại nhiều sách. Vạn đại: Muôn đời. Truyền ra: Trao lại cho người sau.

Chép nhiều thơ, vạn đại truyền ra ý nói ghi chép và san định nhiều kinh sách để truyền ra muôn đời sau.

Đây nói về Đức Khổng Tử, Ngài soạn ra sáu bộ kinh, đời sau gọi Lục kinh. Sau khi Ngài mất rồi, những sách của Ngài bị mất mát theo và nhứt là bị đời nhà Tần đốt đi nên bị mất nhiều. Sau này hậu Nho góp nhặt và phụ hoạ vào thành ra Ngũ kinh 五 經: Kinh Dịch, Kinh Thư, Kinh Thi, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu.

Ngoài ra, học trò của Ngài và người đời sau còn viết để lại nhiều sách khác, trong đó có Tứ thư: Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ và Mạnh Tử...

Sau khi Đức Khổng Tử mất, một số môn sinh của Ngài như Tăng Sâm, Tử Hạ, Tử Trương, Trọng Cung... theo gót Ngài mở trường dạy học, do đó mà tư tưởng trong lục kinh lần lần truyền bá và đi sâu vào tâm hồn của dân chúng, trong số đệ tử đó có Tăng Sâm, là người có công đem cái lý nhứt quán của Ngài viết trong quyển Đại Học để vạch ra mục đích của Khổng giáo.

Còn một số môn sinh khác ra làm quan để thi hành đạo của thầy và chủ trương lấy đức trị dân thành một lý tưởng chính trị, gọi là nhân trị hay vương đạo.

Một số môn đệ khác ghi chép lại những lời đàm đạo, hay dạy khuyên của Khổng Tử để truyền lại cho học trò hay con cháu. Rồi sau này có người gom những lời châm ngôn đó lại thành bộ Luận ngữ.

Kể từ khi Đức Khổng Tử mất, bốn trăm năm sau Sử gia nhà Hán là Tư Mã Thiên đã xuy tụng công đức Ngài như sau: Các quân vương, hiền nhân trong thiên hạ không phải là ít, còn sống thì vinh quang, chết rồi là hết. Duy có Khổng Tử là người áo vải, tới nay đã trên mười đời, vẫn được các Nho gia tôn sùng. Ở Trung Quốc, từ bậc thiên tử vương hầu trở xuống, hễ bàn tới lục nghệ đều lấy Ngài làm tiêu chuẩn. Ngài thật là bậc Chí Thánh.

Xem: Khổng Thánh.

Ghi các sách ngàn lời để lại,

Chép nhiều thơ vạn đại truyền ra.

(Xưng Tụng Công Đức).

 

 

CHẸT

Chẹt là chật, nghẹt, làm cho tắc nghẽn hay bó sát lại. Như: Chẹt lối đi, bóp chẹt, quần chẹt ống.

Ca dao Nam Bộ có câu: Nhớ ai em những khóc thầm, Hai tay áo chẹt ướt dầm cả hai.

Ngồi lì mà đợi Lý Ngưng Vương,

Biểu xuống thuyền Tiên nói chẹt lườn.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

CHÊ

Chê là không cho là phải, là đúng, hoặc tỏ ra không ưa, không thích, không vừa ý, vừa miệng, trái với khen. Như: Chê áo không đẹp, chê cơm khét, chê sách cũ.

Thánh giáo Thầy có câu: Nếu Thầy làm đặng vậy, đạo phổ thông rất lẹ, ngặt gia tài mỗi đứa đều có phần, Thầy không phép lấy cho kẻ khác, trừ ra đứa nào chê bỏ thì mới đặng tuỳ ý Thầy định đoạt mà thôi.

Cái khổ của đời mình ước vọng,

Cái chê của chúng lại nài cầu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðặng ngọc mà chê ngọc chẳng lành,

Ðường Tiên chẳng lựa, lựa đường danh.

(Đạo Sử).

 

 

CHÊ BAI

Chê: Không cho là phải, là đúng. Chê còn có nghĩa không ưa, không vừa ý.

Chê bai là chỉ trích, không cho là phải là đúng.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Các con, dầu bên nào cũng thương nhau như con một nhà, chớ khá ganh gổ chê bai nhau.

Kẻ lỗ mãng chê bai khinh dể,

Rằng thác rồi còn kể ra chi.

(Kinh Sám Hối).

Dư luận chê bai mặc tiếng đời,

Miễn con biết đặng gặp Thầy Trời.

(Đạo Sử).

Gà nghe nói chẳng cần suy nghĩ,

Mỉm môi cười ngỏ ý chê bai.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

CHÊ KHEN

Chê: Không cho là phải, là đúng, là vừa ý. Khen: Đánh giá tốt về người, vật, hay việc vừa ý, vừa lòng.

Chê khen, như chữ “Khen chê”, là chỉ sự phê bình.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Luận tới loài người, chúng ta thấy toàn thể xã hội sự chê khen, nào là từ bỏ vương quyền, đế quyền, thì nhơn loại cũng phải chịu dưới quyền thống trị nào mới tồn tại được.

Ðòi lúc phân vân đời vẫn thế,

Màng chi miệng độc để chê khen.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cao thanh miệng thế mặc chê khen,

Thượng trí màng chi tiếng thấp hèn.

(Đạo Sử).

 

 

CHÊ RẺ KHINH KHI

Chê rẻ: Không thích và thường hay coi nhẹ người khác. Khinh khi: Không coi ra gì.

Chê rẻ khinh khi là chê bai rẻ rúng và khinh khi những người thấp kém nghèo khó.

Như: Anh ấy là người cao ngạo thường tỏ ra chê rẻ khinh khi kẻ khác.

Nhưng đối với Bần Đạo, Bần Đạo thấy mỗi phen Đạo chịu khổ nhục chịu khó khăn hay bị chê rẻ khinh khi thì Bần Đạo lại vui mừng mới chướng chớ!

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

CHÊ THẾ TRANG CA

Chê thế: Chê đời. Trang ca: Trang Tử vỗ bồn ca hát.

Chê thế Trang ca ý muốn nói: Chê người thế gian quá bội bạc, ông Trang Tử vỗ bồn mà ca hát.

Theo sách Kim Cổ Kỳ Quan, Trang Tử dạo chơi, thấy người đàn bà ngồi quạt mồ. Trang tử thắc mắc hỏi, người đàn bà cho biết, bà quạt mồ của chồng, đến khi mồ chồng khô thì được phép tái giá.

Về nhà Trang Tử đem câu chuyện kể cho vợ nghe. Vợ nghe xong, giận cho rằng người đàn bà quá bội bạc. Trang Tử bèn nghĩ cách thử vợ. Năm ngày sau ông bị ốm nặng, lúc hấp hối ông khuyên vợ nên tái giá, vợ thề quyết thủ tiết thờ chồng.

Trang Tử chết, nàng khóc suốt ngày đêm, chẳng ăn uống gì cả, mặc đồ tang khâm liệm cho chồng, rồi đem quàn tạm ở nhà trong.

Được bảy ngày, có một thiếu niên tuấn tú tìm đến, tự xưng là cháu vua Sở, nghe tiếng Trang Tử đến xin học, nay gặp cảnh đau buồn, xin ở lại chịu tang một trăm ngày cho Trang Tử.

Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén, vợ Trang Tử và người thiếu niên phải lòng nhau, rồi thề thốt kết thành vợ chồng.

Một ngày kia thình lình chàng thiếu niên lăn ra kêu đau bụng sắp chết, đòi óc người chết chưa quá năm mươi ngày để làm thuốc. Vợ Trang Tử bèn cạy nắp quan tài của chồng, định đập đầu lấy óc cho người tình uống, thì chợt Trang tử ngồi nhỏm dậy, nàng thấy dậy, xấu hổ bèn thắt cổ chết. Trang Tử bỏ xác vợ vào cỗ quan tài của mình, đem mai táng xong, gõ chậu sành (Bồn) mà hát. Hát dứt đập nát chậu sành, đốt sạch nhà cửa rồi ra đi biệt tích.

Hờn đời Lam hát tay khua ngọc,

Chê thế Trang ca phép vỗ bồng.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

CHẾ

1.- Chế là nhạo, dùng lời nói trêu chọc làm cho người ta thẹn, xấu hổ.

Như: Bị các bạn chế, bài thơ chế người thi rớt, bị người chế nhạo.

Tánh con nít thì hay láo táo,

Hễ nghe cha chế nhạo nổi hành hung.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Chế là làm ra một chất mới nào đó, hoặc dựng lên, đặt ra một việc gì.

Như: Chế ra một loại thuốc, chế ra chiếc máy, máy cày chế thành máy phóng lúa.

Ðịnh tâm chế luyện tinh ba,

Biết phương sớt lại sang qua thì thành.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

3.- Chế là trị, ngăn giữ bằng phép tắc, không dùng một mình. Như: Áp chế, hạn chế, kềm chế.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có dạy: Các con ôi! Các con đã chịu lắm khổ não nơi biển trần nầy. Từ mười ngàn năm rồi đã ở dưới quyền Tà quái áp chế.

Cửa Sàigòn tính bán áp chế nội hàng,

Gạo bắp chở ngoại bang giành phần xuất cảng.

(Ngụ Đời).

Phải có một Giáo lý mới mẻ đủ khả năng kềm chế nhân loại trong sự thương xót chúng sanh.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CHẾ CẢI

制 改

Chế: Mệnh lệnh của vua. Cải: Sửa đổi.

Chế cải chỉ mệnh lệnh của vua hay Các Đấng Thiêng liêng ban xuống sửa tội lại cho phạm nhân.

Từ đó, “Chế cải” có nghĩa sửa đổi cái cũ và làm ra cái mới.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Ðạo hiện giờ cũng chẳng khác chi người bịnh mà lương y coi chưa ra chứng. Bề ngoài coi chẳng có vẻ chi trầm trọng, nhưng một ngày kia nếu chẳng rõ mà chế cải thì xuất tại trong mà loán ra ngoài, thế mạnh như núi đè cây, biển tràn bờ, chẳng thế chi ngăn chống nổi.

Ơn Đông Nhạc Đế Quân quảng đại,

Độ kẻ lành chế cải tai ương.

(Kinh Tận Độ).

 

 

CHẾ GIẢM

Chế: Châm chước, giảm nhẹ. Giảm: Bớt.

Chế giảm là châm chước mà giảm bớt.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chơn Cực Lão Sư có câu: Ðược, nhưng còn sơ sót, món nào liệu chẳng có ích thì nên chế giảm, trừ ra Nhạc phải giữ cho toàn, đi lễ cho có vẻ nghiêm nghị. Ấy là 2 món đại khái đó.

Vợ nhơn từ lê thứ đều bình,

Dẫu tội trọng cầu xin chồng chế giảm.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHẾ NGỰ

制 禦

Chế: Ngăn cấm, ràng buộc. Ngự: Ngăn ngừa.

Chế ngự là dụng quyền lực buộc phải tuân theo.

Trong Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Quý vị cũng thấy rõ là ách nước nạn dân do Thiên điều chế ngự, kẻ bạo tàn phải chịu diệt vong, người chơn chánh được hưởng ân huệ.

Người sống trên thế gian nầy, dầu thuộc giống dân nào, cũng chỉ có một Cha chung mà thôi, ấy là Trời đang chế ngự số mạng của các con.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CHẾ NHẠO

Chế: Trêu chọc. Nhạo: Chế giễu.

Chế nhạo là nêu lên thành trò cười để tỏ ý mỉa mai, khinh dể.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Hồi Đạo mới phôi thai thiên hạ khinh khi chế nhạo hết sức, nên Bần Đạo nói rằng: Họ đã dùng cường quyền họ làm cho hai người ấy (Chỉ Đức Thượng Phẩm và Đức Quyền Giáo Tông) phải chịu thống khổ một cách không thể tả.

Phải nhớ sang hèn con cái Lão,

Ðừng quen chế nhạo chánh cùng tà.

(Đạo Sử).

 

 

CHẾ RĂN

Chế: Kềm giữ, ngăn cấm, ràng buộc. Răn: Dạy bảo để ngăn cản việc làm quấy.

Chế răn là kềm chế và răn dạy, tức tự kiềm chế để không làm những điều sái quấy và răn cấm lòng tà vạy.

Quấy rồi phải biết ăn năn,

Ở cho nhân hậu chế răn lòng tà.

(Kinh Sám Hối).

 

 

CHẾ SỬA

Chế: Kềm giữ, ngăn cấm, ràng buộc. Sửa: Chữa lại cho ngay ngắn, tốt đẹp.

Chế sửa là kềm giữ để không làm những chuyện quấy và chữa lại những điều xấu xa.

Hễ biết dở thường ngày chế sửa,

Nghề hay làm thường bữa mới rành nghề.

(Phương Tu Đại Đạo).

Phép truyền thần dầu chẳng đặng linh,

Việc dạy dỗ vợ mình còn chế sửa.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHỄM CHỆ

Chễm chệ là từ gợi tả dáng ngồi nghiêm trang, oai vệ.

Như: Anh ấy ngồi xếp bằng chễm chệ trên bộ ván, vua ngồi chễm chệ trên ngai vàng.

Tiểu nhân chễm chệ trên cao,

Gây bao tội ác cách nào trừng răn...?

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

CHÊNH

Chênh là xiên, nghiêng lệch.

Chênh, như chữ “Chinh”, nghĩa rộng nói vật gì cao thấp khác nhau, không bằng nhau.

Như: Giá gạo hai miền chênh nhau lắm, hai gia đình chênh lệch nhau, chênh lòng.

Cứ tựa cửa phòng đào giấu dạng,

Ngoài nước non nào hẳn vơi chênh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Thiệt bịnh liến của tôi cũng quá,

Vẽ thật tình mấy ả chênh lòng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHÊNH LỆCH

Chênh: Xiên, không cân, không bằng nhau. Lệch: Không được đúng đắn, thiên về một phía, một mặt.

Chênh lệch là không bằng nhau, không ngang nhau, cao thấp khác nhau.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Nhờ lấy lý soi dẫn cái tâm cho chánh, cái khí cho thanh, nên vật ở ngoài không làm chênh lệch, đủ định được điều phải quấy, quyết được việc hiềm nghi, vả lại tâm là của hình thể, chỉ ra lịnh khiến chớ không chịu lịnh sai.

Đòn cân pháp lý mà chênh lệch,

Câu chuyện nhơn tình khó lấp nguôi.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CHÊNH VÊNH

Chênh, còn đọc “Chinh”, là xiên, nghiêng lệch.

Chênh vênh là ở thế không có chỗ dựa chắc chắn, gây cảm giác trơ trọi, thiếu vững chãi.

Như: Nhà chênh vênh cất trên sườn núi.

Sân ngô vắng vẻ tình lưu luyến,

Bóng thỏ chênh vênh ý buộc ràng.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

CHẾT

1.- Chết là mất khả năng sống, không còn có biểu hiện sự sống. Như: Chết chóc, chết đuối, chết hụt.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Các con đã sanh ra tại thế nầy, ở tại thế nầy, chịu khổ não tại thế nầy, rồi chết cũng tại thế nầy.

Ngảnh lại hỏi người là chắc đó,

Trăm năm là tuổi chết rồi chôn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ới hợi mình nay tuổi đã già,

Chết đây ắt sẽ trở ra ma.

(Đạo Sử).

2.- Chết là tiếng dùng để nói cho mạnh nghĩa. Như: Sướng chết, cười chết được, chết thèm chết khát.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Nội Bí Pháp không, Đại Từ Phụ đã truyền giáo, Ngài mở Đạo tại Từ Lâm Tự, đến ngày khai đàn Bần Đạo cười chết, cười sống, cười lộn mật, cười quên đầu quên đuôi hết ráo.

Nào phải người nghèo ngặt chết thèm,

Phòng hưởng chút hơi hèm cho đỡ đói.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHẾT SỐNG

Chết: Không còn biểu hiện sự sống. Sống: Có sinh khí và hoạt động.

1.- Chết sống là sự chết và sự sống. Như: Anh em kết nghĩa chết sống có nhau.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Ðêm ngày 24 giờ, thấy chết sống trước mắt, thiệt tướng. Chẳng phải ở cái sống nầy mà ở trong buổi chết, biết bao nhiêu kẻ khi khổ não cực nhọc thi hài quá lẽ, chạy theo phương cứu khổ, tìm không được phải thống khổ tinh thần.

Lưu, Quan, Trương giữ còn nghiệp Hớn,

Gìn trọn thề chết sống có nhau.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Chết sống, như chữ “Sống mái”, là đấu tranh một mất một còn, tức có thái độ tranh đấu quyết liệt, một là sống hay một là chết.

Như: Lều chết sống với nó một phen, quyết chết sống với kẻ thù.

Thà cam chết sống với tình,

Chia tay chẳng chịu sớm đành phụ nhau.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

CHẾT SỐNG TRỌN NGHÌ

Chết sống: Sự chết và sự sống. Trọn nghì: Vẹn nghĩa, trọn vẹn đạo nghĩa.

Chết sống trọn nghì là dù chết dù sống cũng giữ trọn đạo nghĩa, tức là dù bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải giữ gìn cho vẹn nghĩa với nhau.

Nối hương lửa nhơn luân đạo trọng,

Con gìn câu chết sống trọn nghì.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

CHI

1.- Chi đồng nghĩa với chữ “”. Như: Cái chi, cần chi, chi bằng.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Thầy đã hằng ngày nói với con rằng: Muôn việc chi Thầy đã bố hoá vào lòng con, như con tính điều chi, tức Thầy đã định rồi.

Nhơn tình ví chẳng mưu thâu phục,

Thế giới mong chi phép độ lường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Kinh sách đầy đầu chưa thoát tục,

Ðơn tâm khó định lấy chi mong.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Chi là đi, đấy, ấy, làm, chưng. Như: Nhân nghĩa chi tâm, vị chi âm dương, gian ngược chi danh.

Thánh giáo Chí Tôn có đoạn: Chấp hai tay lạy là tại sao? Tả là nhựt, hữu là nguyệt, vị chi âm dương. Âm dương hiệp nhứt phát khởi Càn khôn, sanh sanh hoá hoá, tức là Ðạo.

Chém vợ để cầu vinh thuở trước,

Ngô Khởi còn gian ngược chi danh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

3.- Chi là ngành, nhánh. Như: Chi phái, Ngũ chi, Hiệp Thiên Đài có ba chi, họ nầy có nhiều chi.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Thầy nhập ba chi lại làm một là chủ ý quy tụ các con trong Ðạo Thầy lại một nhà, Thầy làm Cha chưởng quản, hiểu à!

Hiệp hoà Tam giáo Ngũ chi,

Ngôi Hai tái thế từ bi không lường.

(Nguyễn Trung Trực Giáng).

4.- Chi là cành cây, nhánh cây, nhành.

Như: Liên chi (liền cành), mai chi (cành mai), kim chi ngọc diệp.

Tâm trung cẩm đắc phù vô giá,

Khải chiết mai chi hữu diệt trần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

5.- Chi là một loài cỏ có mùi thơm, thường ví với người có tài năng đức hạnh, người quân tử.

Như: Cỏ chi cỏ lan, chi lan hương tòng bá mậu.

Xem: Chi lan.

Chi lan mọc lẫn cỏ hoa thường,

Chẳng để mũi gần chẳng biết hương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cận hiền như thể dựa chi lan,

Chẳng nhiễm mùi hương cũng phẩm hàm.

(Đạo Sử).

 

 

CHI BẰNG

Chi: Gì. Bằng: Giống nhau, ngang nhau.

Chi bằng là không gì bằng, tức một tổ hợp biểu thị điều sắp nêu ra là việc nên làm hơn cả.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Thầy có dạy: Con ôi! Cái bả vinh hoa, con đã thấy tường tận rồi, nào có ra chi, chi bằng biết Đạo hết lòng độ vớt chúng sanh, trẻ thơ trông cậy nơi con nhiều đó con à!

Chi bằng lê hoắc say sưa đạo,

Cư chốn trần ai chẳng chịu trần.

(Thơ Thượng Phẩm).

Kết cuộc ăn năn than đã muộn,

Chi bằng hướng thiện sớm hồi đầu.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

CHI ĐẠO

支 道

Chi: Ngành, nhánh. Đạo: Tôn Giáo.

Chi Đạo là ngánh (nhánh) thuộc về Đạo.

Theo Pháp Chánh Truyền, chức sắc Hiệp Thiên Đài gồm có ba chi: Chi Pháp, Chi Đạo và Chi Thế.

Chi Đạo Hiệp Thiên Đài do Đức Thượng Phẩm chưởng quản, dưới có bốn vị Thời Quân: Bảo Đạo, Hiến Đạo, Khai Đạo, Tiếp Đạo. Ba chi nầy đều có phận sự về tư pháp, tức là bảo thủ luật pháp chơn truyền của Đức Chí Tôn, và gìn giữ các cơ quan Hành Chánh Đạo đi vào khuôn viên Đạo Pháp.

Chi Thế Hiệp Thiên Đài có phận sự là buộc tội. Chi Đạo Hiệp Thiên Đài có phận sự là cãi án, binh vực.

Cơ Quan Phước Thiện với Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng, trực thuộc Chi Đạo, do một vị Thời Quân Chi Đạo Hiệp Thiên Đài làm Thống Quản.

Ngoài ra, các Tịnh Thất như Trí Huệ Cung, Thiên Hỷ Động, Trí Giác Cung Địa Linh Động và Vạn Pháp Cung Nhơn Hoà Động cũng trực thuộc Chi Đạo, do một vị Thời Quân Chi Đạo Hiệp Thiêng Đài làm Thống Quản.

Đức Thượng Phẩm về phần Chi Đạo,

Nắm trọn quyền truyền giáo Thiên Phong.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

CHI LAN

芝 蘭

Chi: Một thứ cỏ có hoa thơm. Lan: Hoa lan.

Chi lan là cỏ chi cỏ lan, hai loại cỏ có hoa rất thơm, hương hoà hợp nhau, thường được ví với người có tài năng đức hạnh, người quân tử.

Nghĩa bóng: Chỉ anh em bạn tốt.

Chi lan mọc lẫn cỏ hoa thường,

Chẳng để mũi gần chẳng biết hương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chi lan tự hữu có mùi hương,

Phải thế tay ai hết gọi thường.

(Đạo Sử).

 

 

CHI PHÁI

支 派

Chi: Ngành, nhánh. Phái: Nhóm gồm nhiều người.

Chi phái là nói những chi nhánh do các Chức sắc đạo Cao Đài thuộc Toà Thánh Tây Ninh tách ra, lập thành một chi phái Cao Đài, không còn nằm trong hệ thống của Hội Thánh Toà Thánh Tây Ninh.

Từ khi đạo Cao Đài làm lễ Khai Đạo tại chùa Gò Kén vào ngày 15 tháng 10 năm Bính Dần, 1926, thì Hội Thánh chia ra nhiều đàn cơ phổ độ khắp nơi. Từ năm 1928 cho đến năm 1934, có nhiều chi phái được tách ra khỏi Toà Thánh Tây Ninh.

Sau đây là những chi phái có tầm hoạt động đáng kể như:

Phái Chiếu Minh do Ngài Ngô Văn Chiêu lập cơ tuyển độ Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi vào năm 1927.

Phái Cầu Kho do Giáo Sư Thượng Kỳ Thanh, tức Vương Quan Kỳ lập phái Cầu Kho vào năm 1930 tại Thánh Thất Cầu Kho.

Phái Minh Chơn Lý do Ngài Thái Ca Thanh, tức là Đốc phủ Nguyễn Văn Ca lập chi phái Minh Chơn Lý năm 1931 ở Mỹ Tho.

Phái Tiên Thiên do Giáo Hữu Ngọc Chính Thanh, tức Nguyễn Văn Chính lập phái Tiên Thiên tại Cai Lậy vào năm 1932.

Phái Ban Chỉnh Đạo do hai vị Quyền Đầu Sư Thượng Tương Thanh, tức Đốc phủ Nguyễn Văn Tương và Ngọc Trang Thanh, tức Đốc phủ Lê Bá Trang tách khỏi Toà Thánh Tây Ninh lập Ban Chỉnh Đạo tại Bến Tre vào đầu năm 1934.

Những phái này sau lại tự tách ra thêm nhiều chi phái nhỏ khác nữa, nên người ta đếm thêm cho đủ và gọi là mười hai chi phái.

Phước Thiện báu quý càn khôn,

Độ các Chi Phái nhập môn hồi đầu.

(Thất Nương Giáng Bút).

Phước Thiện cứu kẻ ngỗ ngang,

Độ Chi Phái nghịch dễ dàng cảnh tu.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

CHI PHÁP

支 法

Chi: Ngành, nhánh. Pháp: Luật pháp.

Chi Pháp là ngánh (nhánh) thuộc về luật pháp.

Theo Pháp Chánh Truyền, chức sắc Hiệp Thiên Đài gồm có ba chi: Chi Pháp, Chi Đạo và Chi Thế. Ba chi nầy đều có phận sự về tư pháp, tức là bảo thủ luật pháp chơn truyền của Đức Chí Tôn, và gìn giữ các cơ quan Hành Chánh Đạo đi vào khuôn viên Đạo Pháp.

Đức Hộ Pháp Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài và nắm giữ Chi Pháp, dưới quyền có bốn vị Thời Quân: Bảo Pháp, Hiến Pháp, Khai Pháp, Tiếp Pháp.

Quyền tư pháp của Chi Pháp có phận sự tổ chức các phiên Toà xét xử, định án để xử trị các Chức sắc hay tín đồ vi phạm luật pháp của Đạo. Theo Đạo Luật năm Mậu Dần (1938), cơ quan được gọi là Toà Đạo, nhưng sau nầy được Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa đổi tên là Bộ Pháp Chánh. Bộ Pháp Chánh trực thuộc Chi Pháp và do một vị Thời Quân Chi Pháp Hiệp Thiên Đài làm Chưởng Quản.

Chừng nào Chi Pháp đã ra đi,

Là lúc Đạo Trời gặp vận suy.

(Thanh Sơn Đạo Sĩ).

 

 

CHI PHỐI

支 配

Chi: Chia rẽ ra. Phối: Hợp với, phân phối.

Chi phối là chia ra, phân phối.

Chi phối còn có nghĩa chỉ huy, cầm giữ, có tác dụng điều khiển quyết định đối với cái gì.

Huấn từ Thượng Sanh có câu: Phần đông chức sắc có đức tin vững chắc, có quan niệm rõ rệt về sứ mạng thiêng liêng của mình nên nhứt quyết không để cho ai chi phối, mặc dù giọng kèn tiếng quyển vẫn luôn luôn to nhỏ bên tai để chực cuốn theo đường lối bất hảo.

Đồng bào chi phối phân trăm mảnh,

Xã hội lộn ngầu ngả tứ tung.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

CHI THẾ

支 世

Chi: Ngành, nhánh. Thế: Đời.

Chi Thế là ngánh (nhánh) thuộc về Đời.

Theo Pháp Chánh Truyền, chức sắc Hiệp Thiên Đài gồm có ba chi: Chi Pháp, Chi Đạo và Chi Thế.

Chi Thế Hiệp Thiên Đài do Đức Thượng Sanh chưởng quản, dưới quyền có bốn vị Thời Quân: Bảo Thế, Hiến Thế, Khai Thế, Tiếp Thế. Ba chi nầy đều có phận sự về tư pháp, tức là bảo thủ luật pháp chơn truyền của Đức Chí Tôn, và gìn giữ các cơ quan Hành Chánh Đạo đi vào khuôn viên Đạo Pháp. Chi Thế Hiệp Thiên Đài có phận sự là buộc tội.

Ban Thế Đạo là một cơ quan độ dẫn các vị quan chức hay người trí thức đang làm việc tại các cơ quan đời, đi vào cửa Đạo. Ban Thế Đạo trực thuộc Chi Thế, do một vị Thời Quân Chi Thế làm Chưởng Quản.

Ngoài ra, cơ quan Đại Đạo Thanh Niên Hội nhằm đào tạo đức dục, trí dục và thể dục cho lớp thanh niên có đạo đức và tài năng để hữu dụng cho đời và Đạo mai sau. Cơ quan này trực thuộc Chi Thế Hiệp Thiên Đài.

Đây là Ngài Thuợng Sanh liền kế,

Ngài cầm quyền Chi Thế định phân.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

CHÍ

1.- Chí là lòng quyết định làm việc gì. Như: Chí nam nhi, có chí thì nên, chí tang bồng.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy hằng rõ chí hành tàng chơn đạo của các con, nhưng nhơn lực khó lướt qua Thiên cơ, các con cứ đường ngay bước tới, đợi ngày sẽ lập chút công trình để lướt khỏi lối gai chông, vẹt ngút mây xanh, tìm vào cảnh thiêng liêng mà rửa sạch bụi hồng.

Quy điền có lúc phong trần rảnh,

Ðinh sắt một lòng, chí chớ lay.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ngày chầy dặm thẳng gắng đưa qua,

Chịu khổ trau tâm chí mới già.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nguồn Ðạo tìm vào đã tận nơi,

Rán đưa chơn tục chí đừng dời.

(Đạo Sử).

2.- Chí là rất. Như: Chí tình, chí thân, Chí Tôn, Chí Linh, chí bửu.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Thầy đã lấy từ bi mà dìu dắt từ bước đường, hôm nay các con đặng lấy chí thành của Thầy đã un đúc mà dìu dắt lại sanh linh, lớn nhỏ phải cần tương thân tương ái nhau, kỉnh yêu chỉ dẫn nhau, đem tấc lòng thanh bạch để làm mảnh gương soi sáng bước đường hậu tấn.

Cho hay Trời Phật chí công bình,

Trước mắt ngờ ngờ thấy phép linh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðức tánh khen con có chí thành,

Lần đường đạo đức chẳng cầu danh.

(Đạo Sử).

3.- Chí là đến. Như: Làm việc từ đầu chí cuối, giúp cho từ a chí z.

Thánh giáo Thầy có dạy: Thầy nói cho các con rõ, vì cớ nào trước từ Nhứt Tổ chí Lục Tổ thì thờ Thầy ngồi trước, vì trước là lớn phải vậy.

Nhẹ phơ phới dồi dào không khí,

Hạo Nhiên Thiên đã chí môn quan.

(Kinh Tận Độ).

 

 

CHÍ CẢ

Chí: Lòng quyết định, hướng đến để làm một việc gì. Cả: To, lớn.

Chí cả là chí lớn, tức ý muốn to lớn và bền bỉ theo đuổi một việc gì tốt đẹp.

Như: Nuôi chí cả, cương quyết thực hiện chí cả của mình đang ấp ủ trong lòng.

Người tuy mất, nhưng phương danh không mất,

Xác dù tan, nhưng chí cả không tan.

(Điếu Văn Đầu Sư).

 

 

CHÍ CAO

志 高

Hay “Chí Cao thượng”.

Chí: Điều mà trong lòng muốn hướng đến. Cao (cao thượng): Vượt hẳn lên trên những cái tầm thường.

Chí cao hay “Chí cao thượng 志 高 上” là nói kẻ có chí hướng hơn người khác.

Thánh giáo Thầy có dạy: Bấy lâu vì lẽ công bình Thiên đạo, nên các con chịu lắm điều đau đớn, mà cũng vì không biết tu luyện cái chí cao thượng của Thầy ban cho, cứ một lối thấp hèn quanh quẩn, chẳng cho trí não ra khỏi vòng mờ tối, cho nên bước đường hoá nên trở ngại mà lâu tấn bộ.

Ðường quan lắm nỗi điều gay trở,

Chước lánh nhàn tìm mới chí cao.

(Đạo Sử).

Chí cao sâu đáy biển lòng Trời,

Trí thức để đổi đời xây thế cuộc.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHÍ CÔNG

Chí: Rất. Công: Sự khó nhọc, hiệu quả của một việc gì. Công: Công bình, không thiên lệch.

1.- Chí công 至 功 là gắng sức ra công.

Như: Chí công mài sắt có ngày nên kim, chí công giữ gìn vật báu.

Chí công gắng sức độ đời,

Nước Nam có thuở đổi dời nêu tên.

(Lục Nương Giáng Bút)

2.- Chí công 至 公 có nghĩa là rất công bình.

Như: Vị Toà án phải chí công mà thi hành luật pháp, Thiên địa chí công.

Ba lo trị thế thái bình,

Cộng chung Pháp luật Thiên Đình chí công.

(Kinh Thế Đạo).

Phép linh thiệt rất chí công,

Hoá sanh muôn vật, ngưỡng trông phước đời.

(Xưng Tụng Công Đức).

3.- Chí Công 至 公: Trời là Đấng công bình tuyệt đối, cho nên trong tôn giáo Đấng “Chí Công 至 公” được dùng để chỉ ông Trời, hay Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Nghiệp hồng vận tử hồi môn,

Chí Công định vị vĩnh tồn Thiên cung.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

Thượng Hoàng sánh đức Chí Công,

Mặc phò lê thứ khỏi vòng lao lung.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

CHÍ CHÁNH

Hay “Chí chính”.

Chí: Rất. Chánh (Chính): Ngay thẳng.

Chí chánh, như chữ “Chí chính 至 正”, là rất đúng đắn, ngay thẳng.

Hoà là chí chánh chí chơn,

Hiệp lòng bác ái độ nhơn thoát nàn.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

CHÍ CHƠN

Hay “Chí chân”.

Chí: Rất. Chơn (chân): Thật.

Chí chơn, như chữ “Chí chân 至 真”, là rất chơn thật.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Đêm nay Bần Đạo giảng về năng lực phi thường của đức tin trên con đường chí chơn chí Thánh, chí là khối thương yêu, Bần Đạo đã giảng về đức tin nhiều lần rồi, và cũng đã giảng cái năng lực của khối thương yêu như thế nào rồi.

Xuân Thu, Phất Chủ, Bát Vu,

Hiệp quy Tam Giáo hữu cầu chí chơn.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

 

 

CHÍ ĐỨC

至 德

Chí: Rất. Đức: Đạo đức.

Chí đức là lòng rất đạo đức, lòng đạo đức cao cả.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Toà Tam Giáo đã xin ngưng phổ độ nơi đây nhiều lần, song vì Thầy thấy lòng chí đức của các con mà chẳng nỡ. Lý Bạch và Quan Thánh cũng xin hành phạt lũ vô đạo, Thầy chẳng khứng là vì muốn để các con chịu dày thêm chút ít hạnh khổ đó.

Ðạo Cao Ðài độ khách Nam Bang,

Thuyền Bát Nhã rước trang chí đức.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

CHÍ HỒNG

志 鴻

Chí: Ý muốn bền bỉ theo đuổi một việc gì to lớn, tốt đẹp. Hồng: Ngỗng trời, mình xám cánh đen, tính dũng mãnh, bay cao, thường dùng để chỉ người có chí lớn.

Chí hồng ý chỉ người có chí cả, mưu việc lớn như con chim hồng bay cao.

Xem: Chí hộc hồng.

Dầu không bì được chí chim hồng,

Thuyền rộng buồm to mặc sức dong.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

CHÍ HỘC HỒNG

Chí: Lòng quyết định, hướng đến để làm một việc gì. Hộc hồng: Chim hộc và chim hồng, hai loại chim bay cao và xa.

Chí hộc hồng là chí con chim hộc, và chim hồng được ví với người anh hùng có chí lớn, mưu việc cao xa.

Sử Ký chép: Trần Thiệp thời hàn vi đi cày thuê cho người, lúc ngồi nghỉ, nói với các bạn cày rằng: Nếu được phú quý không bao giờ quên nhau. Những người cày khác cười mà nói: Nếu còn cày thuê thì làm sao giàu sang được? Trần Thiệp thở dài nói: Ta hồ, yến tước an tri hồng hộc chi chí tai 嗟 乎, 燕 雀 安 知 鴻 鵠 之 志 哉!, nghĩa là than ôi, loài chim én chim sẻ kia sao biết được chí chim hồng chim hộc.

Riêng đây đã bén mùi dưa muối,

Ai đó còn nuôi chí hộc hồng.

(Thơ Thuần Đức).

Tuy già mà khoẻ rèn con cháu,

Khôn lớn không thua chí hộc hồng.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

CHÍ HƯỚNG

志 向

Chí: Những điều trong lòng mong hướng đến. Hướng: Phương hướng, nghiêng về.

Chí hướng là ý chí quyết định theo đuổi một công việc gì để đạt tới một mục tiêu cao đẹp trong cuộc sống.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Đối với bạn đồng hành cùng chung chí hướng, phận sự chúng ta, dù trên hay dưới là phải thương yêu nhau và dạy bảo lẫn nhau.

Kiến thiết quốc gia đời chí hướng,

Hoà bình thế giới đạo tâm nguyền.

(Thơ Thông Quang).

 

 

CHÍ KHÍ

志 氣

Chí: Cái lòng mong muốn. Khí: Sức, hay cái tư cách thiên bẩm.

Chí khí là ý muốn bền bỉ, mạnh mẽ, quyết khắc phục mọi trở ngại để thực hiện mục đích cao đẹp của cuộc sống.

Nói về Đức Quan Thánh Đế Quân, Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Nói đến chí khí của Ngài, Bần Ðạo tưởng luận không hết: Ngài bất sát hạ mã chi nhơn. Truyện sách lưu lại rằng Ngài suýt bị Hạ Hầu Ðôn giết vì nó biết cái sở yếu của Ngài mà lợi dụng, nếu không Trương Liêu đến cứu.

Ðầu xanh chí khí lập danh cao,

Phải ở sao ra mặt khí hào.

(Đạo Sử).

Xuyên dương trăm bộ đấng nên tài,

Vùi lấp bấy chầy chí khí trai.

(Đạo Sử).

 

 

CHÍ LINH

至 靈

Chí: Rất, hết sức. Linh: Thiêng liêng.

1.- Chí linh là rất thiêng liêng, hoặc rất linh thiêng. Như: Phật pháp chí linh, phép mầu chí linh.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Chúng ta đến làm người, cốt yếu đạt cho được cơ tạo đoan trở nên Chí linh chí Thánh, một kiếp học thêm một bực, để ngày kia mong mỏi làm Trời.

Ngày đêm đưa rước chực chầu,

Công bình Thiên Đạo phép mầu chí linh.

(Kinh Sám Hối).

Bát Nương thật đấng chí linh,

Cùng chung giáo hoá ân cần lo âu.

(Tán Tụng Công Đức).

2.- Chí Linh, cũng như chữ “Chí Công 至 公”, hay “Chí Tôn 至 尊”, là một từ riêng trong Tôn giáo Cao Đài dùng để chỉ Đấng rất công bình, rất tôn kính, đó là Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, hay Đức Phật Mẫu.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Nhưng quyền năng Ðức Chí Tôn và Ðức Phật Mẫu vẫn vô biên. Cái tinh thần của con cái hai Ðấng Chí Linh ấy dầu bị xao xuyến đôi phen song còn đủ sáng suốt nhận định để kịp hướng về chánh nghĩa của Ðạo.

Ơn nhờ hồng phước Chí Linh,

Lôi Âm tự toại, Bồng Dinh hưởng nhàn.

(Kinh Tận Độ).

Đem mình nương bóng Chí Linh,

Định tâm chí Thánh mới gìn ngôi xưa.

(Kinh Tận Độ).

Để tâm dưới ánh Chí Linh,

Soi tường chơn lý chỉ rành chánh văn.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

CHÍ NAM NHI

Chí: Lòng quyết định, hướng đến để làm một việc gì. Nam nhi: Người con trai.

Chí nam nhi, bởi chữ “Nam nhi chí 男 兒 志” tức là chí làm trai.

Theo người xưa, khi sinh con trai mộng ước người cha là mong con sau này có một cái chí lớn, đó là phải sống một cuộc đời ngang dọc, vẫy vùng, làm nên sự nghiệp hiển hách để lưu danh thiên cổ.

Chí nam nhi dầu đặng lẫy lừng,

Cũng nhờ cậy dưới chân nâng bởi vợ.

(Phương Tu Đại Đạo).

Trải mấy mươi năm cùng thế sự,

Chí nam nhi đủ sức vẫy vùng.

(Văn Tế Thượng Phẩm).

Thế nào rồi rảnh chí nam nhi,

Lần lựa tuổi xuân rất uổng thì.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

CHÍ NGUYỆN

志 願

Chí: Cái ý muốn mạnh mẽ hướng dẫn hành động để đạt mục đích. Nguyện: Tự mình làm, không ai ép.

Chí nguyện là điều hằng mong mỏi để đạt được. Như: Thoả được chí nguyện.

Dở hay thời cuộc dầu thay đổi,

Chí nguyện dân Nam hưởng thái bình.

(Thơ Hộ Pháp).

Chí nguyện phục hưng nền Tổ quốc,

Tâm thành tô điểm Việt Nam bang.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

CHÍ NHÂN

1.- Chí nhân 至 人:

Chí: Rất. Nhân: Người

Chí nhân 至 人 là người có đức độ.

Trang Tử định nghĩa: Chí nhân là người không xa lìa chân tính.

Giao lưu học hỏi trang tài đức,

Thầm lặng nhắc hoài bậc chí nhân.

(Thơ Huệ Nhân).

2.- Chí nhân 至 仁:

Chí: Rất. Nhân: Nhơn đức.

Chí nhân 至 仁 là người rất có nhơn đức.

...chúng ta phải chịu ảnh hưởng trọng hệ hơn hết của hai nền Tôn giáo Trung Hoa thọ giáo Ấn Ðộ dạy chúng ta tu cho được chí thiện, chí nhơn...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

CHÍ PHÀM

Chí: Cái ý muốn mạnh mẽ hướng dẫn hành động để đạt mục đích. Phàm: Chỉ con người nơi cõi trần.

Chí phàm, như chữ “Phàm chí 志 凡”, là cái ý chí thấp kém của người phàm.

Nền Ðạo cao thâm là mấy, chí phàm không thấu lý sâu, nếu các con chẳng ra khỏi vòng trần tục thì các con chẳng là luống công theo Thầy kể đã đầy năm.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CHÍ QUYẾT

Chí: Cái ý muốn mạnh mẽ hướng dẫn hành động để đạt mục đích. Quyết: Định chắc.

Chí quyết, như chữ “Quyết chí 決 志”, là định chắc ý chí để làm việc gì, quyết không thay đổi.

Thánh giáo Thầy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Hẳn nhiên con đã thành tâm thật ý muốn gây tại xứ nầy tình liên lạc tinh thần giữa hai dân tộc Pháp Việt mà Thầy chí quyết cho họ được chung sống trong cộng đồng quyền lợi và sinh hoạt.

Chí quyết tìm chàng cho thấy mặt,

Trèo non lội suối dạ bao nài.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CHÍ SĨ

志 士

Chí: Cái ý muốn mạnh mẽ hướng dẫn hành động để đạt mục đích, chí khí. Sĩ: Người học thức.

Chí sĩ là một kẻ sĩ có tiết tháo, chí khí hơn người.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có dạy: Muôn việc chi khởi đầu đều khó, nhưng cái khó mình lướt qua đặng, mới có công, mới anh hùng, mới chí sĩ, mới đáng đạo sĩ.

Giục lòng chí sĩ chưa vừa sức,

Múa viết thần tiên đủ chấp quờn.

(Thất Nương Giáng Bút).

Qua bao nhiêu bóng ác tà,

Tà gương chí sĩ nợ nhà còn mang.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

Hồn Linh điện đeo sầu trang chí sĩ,

Toà Cao Đài chưa lụy mặt anh hùng.

(Văn Tế Tiểu Tường).

 

 

CHÍ TANG BỒNG

Chí: Lòng quyết định làm việc gì. Tang: Dâu, chỉ cung. Bồng: Cỏ bồng, chỉ mũi tên.

Chí tang bồng, hay “Tang bồng chí 蓬 桑 志”, là chí hướng theo cung dâu tên cỏ, tức chỉ chí vẫy vùng.

Ngày xưa có tục lệ khi sanh ra con trai thì thường lấy cung bằng gỗ dâu, tên bằng cỏ bồng bắn bốn phương và trên dưới để cầu cho đứa con sau nầy lớn lên có chí hướng cung tên, vẫy vùng, ngang dọc bốn bể hầu lập công danh, sự nghiệp hiển hách.

Chí bồng tang là có chí vẫy vùng ngang dọc.

Cho duyên cầm sắt hoà muôn điệu,

Cho chí tang bồng toại bốn phương.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CHÍ TÔN

至 尊

Chí: Rất. Tôn: Lớn hay tôn quý.

Chí Tôn là người lớn nhứt hay tôn quý nhứt trong một nước, đó là vị thiên tử hay vua.

Theo Đạo Cao Đài, bậc đáng tôn kính nhất trong cõi Thiêng liêng là Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, nên Ngài được vạn linh xưng tụng là Đấng Chí Tôn.

Thánh giáo Thầy có câu: Mỗi phen Thầy đau thảm khóc lóc các con, phải lén hạ trần, quyết bỏ ngôi Chí Tôn xuống lập Ðạo, lại bị các con bạc đãi, biếm nhẻ, xua đuổi, bắt buộc đến đỗi phải chịu cho các con giết chết!

Chí Tôn xá tội giải oan,

Thánh, Thần Tiên, Phật cứu nàn độ căn.

(Kinh Thế Đạo).

Luật điều Cổ Phật không chừa tội,

Hình phạt Chí Tôn chẳng vị tình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Vâng lịnh Chí Tôn đà chỉ dạy,

Chủ quyền chơn đạo một mình Thầy.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

CHÍ THÁNH

至 聖

Chí: Rất, hết sức. Thánh: Bậc học thức và đạo đức hơn người.

Chí Thánh là bậc Thánh hết sức cao. Ngày xưa người ta tôn đức Khổng Tử là bậc Chí Thánh.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Nếu phận còn nét chưa rồi, lương tâm chưa đặng yên tịnh thì phải biết cải quá, ráng sức chuộc lấy lỗi đã làm, thì các con có lo chi chẳng bì bực Chí Thánh.

Đem mình nương bóng Chí Linh,

Định tâm Chí Thánh mới gìn ngôi xưa.

(Kinh Tận Độ).

Biết coi thế giới như nhà,

Sống nên Chí Thánh, thác là Thần Tiên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Rừng trước khách hiền dầu trữ đức,

Cửa thiền Chí Thánh nhẫng khinh tài.

(Thơ Tây Sơn Đạo).

 

 

CHÍ THÀNH

至 誠

Chí: Rất, hết sức. Thành: Thành thật.

Chí thành là hết lòng thành thật.

Trong việc xử thế của con người điều trước tiên phải có lòng chí thành. Chí thành là thể hiện sự hết sức thành thật của chính cá nhân mình đối với mọi người trong xã hội. Người chí thành luôn luôn phải sửa mình, không bỏ một giờ phút nào, lúc nào cũng lo sợ có điều dở mà không sửa đổi, làm việc công khai, không lén lút, không mờ ám.

Mạnh Tử nói về đức Chí thành như sau: Thành giả, thiên chi đạo dã, tư thành giả, nhân chi đạo dã. Chí thành nhi bất động giả, vị chi hữu dã; bất thành vị hữu năng động giả dã 誠 者, 天 之 道 也, 思 誠 者, 人 之 道 也, 至 誠 而 不 動 者, 未 之 有 也, 不 誠 未 有 能 動 者 也. Nghĩa là thành thực là cái Đạo của Trời, luyện tập để nên thành thực là cái Đạo của người. Hễ chí thành mà không cảm được thiên hạ, thì chưa hề có; không thành thực thì chẳng cảm động được ai cả.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn dạy về lòng chí thành như sau: Chí thành là mỗi việc lấy lòng thành thật mà đối đải trong đời và trong Đạo.

Nguyện lời nói biến hình bác ái,

Nguyện chí thành sửa máy tà gian.

(Kinh Thế Đạo).

Ðức tánh khen con có chí thành,

Lần đường Ðạo chẳng chút cầu danh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Hiếu trung tròn vẹn đời bia tạc,

Nhân nghĩa gồm xong bậc chí thành.

(Lý Đại Tiên Giáng).

 

 

CHÍ THÂN

至 親

Chí: Rất. Thân: Gần gũi, thương yêu.

Chí thân là rất gần gũi thân thiết.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Hộ Pháp đến kỳ Long Hoa nầy cốt để rước Cửu nhị ức Nguyên Nhân là bạn chí thân của Người đã bị đoạ lạc nơi hồng trần không phương giải thoát, muốn rước các bạn chí thân của Bần Đạo, Đức Chí Tôn buộc phải lấy Pháp Giới tận độ chúng sanh.

Dầu chi cũng nghĩa chí thân,

Khối tình còn có một lần đấy thôi.

(Kinh Thế Đạo).

Bởi rẻ rúng thuyền quyên thiếu học,

Dầu chí thân tơ tóc cũng khi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CHÍ THIỆN

至 善

Chí: Rất. Thiện: Lành.

1.- Chí thiện là rất hiền lành, rất tốt.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Những nhơn vật trong hàng trí thức nếu đã thâm nhiễm triết lý của Thánh Hiền và hiểu bổn phận làm người thì ai cũng cố gắng trau giồi học vấn và đức tính để kịp tiến hoá cho đến chí thiện, chí mỹ.

Trăm phước chưa hay lòng chí thiện,

Lựa là trên gió mảnh hương hoe.

(Đạo Sử).

2.- Chí Thiện còn là một phẩm chức sắc trong Thập Nhị Đẳng Cấp Thiêng Liêng thuộc Cơ Quan Phước Thiện của Đạo Cao Đài.

Chí Thiện đứng trên phẩm Giáo Thiện, dưới phẩm Đạo Nhơn, đối phẩm với Giáo Hữu bên Cửu Trùng Đài. Bộ đạo phục của Chí Thiện là một chiếc áo tràng trắng, choàng qua vai một dây sắc lịnh màu xanh, bỏ mối qua bên mặt (Thể Đạo), trên sắc lịnh có gắn khuê bài đề chữ Chí Thiện, đầu đội khăn đóng đen 7 lớp.

Phước Thiện mất rồi trang Chí Thiện,

Nguyện về Cực Lạc thoát mê tân.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

CHÍ THIẾT

至 切

Chí: Rất, to lớn. Thiết: Thân thiết, cần thiết.

Chí thiết là rất thân thiết, hoặc rất cần thiết.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Đức Diêu Trì Kim Mẫu có đoạn dạy: Ngày nay đã đúng kỳ sở định, Thiếp mới đặng quyền nhìn nhận con cái của Thiếp. Vậy từ đây, Thiếp chỉ dụng lời chí thiết yêu đương, là Mẹ con tương hội.

Tri âm ví đáng dây cầm nguyệt,

Đừng đem tình chí thiết giao hoan.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CHÍ THÚ

至 趣

Chí: Rất. Thú: Ý vị, thích thú, điều vui thích.

Chí thú là rất thú vị, rất thích thú.

Chí thú là chăm chỉ một cách thích thú, thường là trong công việc vì lợi ích cho riêng mình.

Ví dụ như: Chí thú làm ăn.

Mình dầu trọng nghiệp nhà cự phú,

Nhờ vợ hiền chí thú mới nên.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHÍ Ư

至 於

Chí: Đến, rất. Ư: Ở tại, chỗ ấy, và với, vậy thì.

Chí ư là đến như, nói đến.

Thánh giáo Nhàn Âm Đạo Trưởng có câu: Bần đạo khuyên khá hết dạ kỉnh thành mà vọng ngưỡng nơi Ðấng Chí Tôn, thì con đường được thung dung đầm ấm, chí ư đem hoạ cỏn con biến đổi trong gia đình mà so sánh trành tròn với đức háo sanh của Tạo hoá, thì đường đạo đức minh quang thế nào trông trờ bước tới nữa, mà vẹt ngút mây xanh, trông vào cảnh tự tại.

Chí ư gọi là khó rồi bỏ qua, không gắng công phu kềm chế cái vọng tâm, không vững chí sửa mình.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

CHÌ

Chì là kim loại nặng màu xám xanh, mềm dễ nóng chảy, khó bị ăn mòn, dùng để chế hợp kim, đúc chữ in...

Nói về người mẹ bù chì, Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Ăn không đủ thế nào cũng ốm, bây giờ đến phiên ngày cân, đây thì bà phải làm sao, bà lận lưng thêm chì cho nặng để cân, không thì tội nghiệp cho đứa nhỏ nghèo.

Lọc lừa chớ để đen pha trắng,

Lui tới đừng cho bạc lộn chì.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Để mặc đời thị thị phi phi,

Chưa ai rõ trong chì có bạc.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHÌ DẦN DẠ

Chì: Một thứ kim loại nặng. Dần dạ: Đánh đạp, hay dộng trong bụng dạ.

Chì dần dạ là chỉ sự đau đớn cũng như cục chì đập vào dạ, ý muốn nói cõi lòng tan nát.

Nghe trẻ khóc như chì dần dạ,

Thấy con đau như đá đập đầu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CHỈ

1.- Chỉ là tơ hay sợi xe lại thành dây nhỏ, hay kim loại kéo thành sợi nhỏ, dùng để may để thêu.

Như: Chỉ khâu, chỉ kim, chỉ hồng xe dây, kéo vàng thành sợi chỉ.

Lần lựa chỉ sầu tay gỡ rối,

Trời tây bóng nhựt đã hầu chinh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thêu phụng nên xinh chỉ nhuộm màu,

Mình không đạo hạnh mới ra sao.

(Đạo Sử).

2.- Chỉ là tiếng nói tắt, dùng với nghĩa là chị ấy.

Như: Chị tôi rất chăm học, chỉ thường thức đến khuya để ôn bài.

Mấy chỉ thường muốn một mình no,

Mặc ai đói nấy lo không chịu nhịn.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Chỉ là lấy ngón tay mà trỏ.

Như: Chỉ mặt trăng trên trời, chỉ mặt đặt tên, chỉ núi chỉ biển mà thề.

Bồng Lai Cực Lạc chỉ chừng,

Đẩy đưa xác tục dựa gần cõi linh.

(Kinh Thế Đạo).

Nhìn non chỉ nước làm hơn,

Mượn bầu tuế nguyệt giải hờn căn sanh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Già mập mờ đôi mắt có làng,

Dâu rán chỉ rõ ràng cho thấy thiệt.

(Phương Tu Đại Đạo).

4.- Chỉ là bảo cho người ta biết. Như: Chỉ dạy, chỉ đường, chỉ nẻo.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Thầy đã chỉ rõ hai nẻo Tà Chánh, sang hèn rồi, vậy Thầy cũng chỉ phương hướng cho các con đi cho khỏi lầm lạc.

Về tập ăn chay cùng kiếm phước,

Lại đây Lão sẽ chỉ nên phương.

(Đạo Sử).

Mảng gượng vui cùng đàn cháu dại,

Chỉ lời hay sự phải khuyên răn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

5.- Chỉ là quyết định của nhà vua, của Đức Thượng Đế. Như: Thánh chỉ, phụng chỉ, chỉ dụ.

Thánh giáo của Thần Hoàng Bổn Cảnh đình Mỹ Lộc có câu: Từ thuở ta vâng chiếu chỉ đến trấn nhậm nơi đây, ta một tấm lòng lo cho lê thứ đặng an cư lạc nghiệp, thạnh vượng mùa màng, mỗi mỗi đều hằng lo lắng cho chúng sanh nơi phần trách nhậm.

Nơi Ngọc Hư còn đang định án,

Chiếu chỉ phân cho hản tội tình.

(Ngũ Nương Giáng Bút).

6.- Chỉ là có thế thôi, tức từ biểu thị phạm vi được hạn định, không có gì thêm, không có ai khác. Như: Chỉ lo làm tròn nghĩa vụ, chỉ một mình anh ấy ở nhà.

Thánh giáo Thầy có lời dạy: Con chỉ có tu mà đắc đạo. Phải ngó đến hằng ức thiên vạn kẻ nhơn sanh chưa đặng khỏi luân hồi, để lòng từ bi độ rỗi, kẻo tội nghiệp.

Thấm thoát đời qua cuộc bể dâu,

Ham vui chỉ chác cuộc mua sầu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Lén xem sự thế ngậm ngùi,

Nguyền trông chỉ đợi phép trời dạy khuyên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CHỈ BÓNG

Chỉ: Lấy ngón tay mà trỏ. Bóng: Hình do ánh sáng giọi ra thành.

Chỉ bóng là chỉ vào cái bóng hiện trên vách. Do điển tích: Thiếu phụ Nam Xương.

Người thiếu phụ là Võ Thị Thiết, ở quận Nam Xương, tỉnh Hà Nam nước ta, có chồng là Trương Sinh. Gặp phải thời loạn lạc, Trương Sinh phải tòng quân nhập ngũ, trong khi nàng Thiết đã có thai gần đến ngày sinh nở.

Đến khi chàng Trương ca khúc khải hoàn trở lại quê hương thì đứa con tên Đản vừa mới biết nói. Đản bảo Trương Sinh không phải là cha nó, vì cha nó về trong lúc ban đêm, thường theo bên mẹ nó.

Vốn là người hay nóng giận, lại ghen tương, không hỏi cặn kẻ, Trương Sinh chửi mắng vợ và đuổi đi. Nàng Thiết quá tuyệt vọng, bèn nhảy xuống sông Hoàng Giang thuộc huyện Nam Xương tự tử.

Đêm đến, trong cảnh phòng không chiếc bóng, chàng đốt đèn lên, chợt đứa con liền nói: Cha Đản đã về. Từ đó, chàng mới biết vợ ở nhà chỉ bóng dạy con gọi là cha, thì than ôi! Nàng đã ra đi trở thành người thiên cổ.

Dỗ con chỉ bóng giải sầu,

Rằng khuya đèn thắp cha hầu về thăm.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CHỈ DẪN

指 引

Chỉ: Lấy ngón tay mà trỏ. Dẫn: Đưa, đem đi.

Chỉ dẫn là chỉ bảo, bày vẽ cho, hoặc chỉ đường mà dẫn dắt đi.

Thánh giáo Thầy có dạy: Công chỉ dẫn của Thầy phải lững đững theo giọt thuỷ triều, mà rồi rốt cuộc lại, bến khổ cũng chưa xa, ngôi xưa còn lánh mãi.

Năm năm công quả tua bền chí,

Chỉ dẫn nhơn sanh bước lạc loài.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

Giáng cơ chỉ dẫn điều hư thiệt,

Giải thoát mê đồ khách thiện duyên.

(Thơ Hiến Pháp).

 

 

CHỈ ĐỊNH

指 定

Chỉ: Quyết định về một việc gì. Định: Định đoạt.

Chỉ định có nghĩa là (cấp trên) quyết định chọn, cử ra để làm một việc gì.

Thánh giáo Đức Chí Tôn bằng Pháp văn, dạy viên Đại Uý Paul Monet người Pháp, có đoạn: Thầy chỉ định con lãnh một vai trò bạc bẽo mà nhân đạo. Con vì tâm tình cao thượng mà cứu vãn sự sụp đổ của một dân tộc đã hấp thụ một nền văn minh tối cổ.

Lừa lọc nên hư do phép Tạo,

Hưng suy chỉ định bởi đôi câu.

(Đức Quyền Giáo Tông).

Các Chức sắc trấn nhậm mấy Thánh Thất phải do nơi quyền Người (Thượng Phẩm) thuyên bổ, liệu lượng tài sức mỗi người mà chỉ định phận sự.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

CHỈ GIÁO

指 教

Chỉ: Dùng ngón tay để chỉ. Giáo: Dạy bảo.

Chỉ giáo tức là bày vẻ ra để chỉ dạy người.

Thánh giáo Chí Tôn có dạy: Các con xa Thánh giáo của Thầy đã lâu, tưởng lòng hằng ước mơ hoài vọng, mà Thầy lâu đến để lời tâm huyết chỉ giáo cho các con, Thầy cũng buồn lòng mà thấy bầy con lao nhao lố nhố lặn hụp chìm đắm giữa cõi hư sanh nầy.

Văng vẳng bên tai lời chỉ giáo,

Mơ màng trong mộng Đấng uy nghi.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CHỈ HỒNG

Chỉ: Tơ hay sợi xe lại thành dây nhỏ, dùng để may để thêu. Hồng: Màu đỏ.

Chỉ hồng, như chữ “Tơ hồng”, lấy tích từ “Hồng ty 紅 絲” hay “Xích thằng 赤 繩”, dùng để biểu trưng cho tình duyên do trời định phận.

Xem: Tơ Hồng.

Nguyệt lão đem xe mối chỉ hồng,

Cho duyên bèo nước một nguồn thông.

(Thơ Thuần Đức).

Dưới mái trường quê kết chỉ hồng,

Nguyễn Lê hai họ đẹp gia phong.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

CHỈ HUY

指 揮

Chỉ: Làm cho người ta nhận ra cái gì bằng tay hoặc vật dùng làm hiệu. Huy: Phất tay.

Chỉ huy là sai khiến, tức điều khiển sự hoạt động của một lực lượng hay một tập thể có tổ chức.

Trong Huấn từ Thượng Sanh đọc trong buổi lễ nhậm chức Quyền Ðầu Sư của Ngài Bảo Thế Lê Thiện Phước có câu: Cái quyền chỉ huy ấy phải được triệt để ủng hộ, kính nể, trật tự mới phân minh, mối giềng mới chặt chẽ, người cầm quyền mới có thể bảo thủ uy danh của Ðạo, trụ vững tinh thần để điều khiển dìu dắt con cái của Ðức Chí Tôn Ðại Từ Phụ đi trọn vẹn trên đường Thánh Ðức.

Tánh cách chỉ huy toàn liệt địa,

Đạo mầu khôi phục khắp đông kiên.

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 

CHỈ KIM

Chỉ: Dây bằng sợi dài và mảnh, chuyên dùng để khâu, thêu, may vá. Kim: Vật dùng để may vá thêu thùa.

Chỉ kim, như chữ “Kim chỉ”, là cọng chỉ cây kim, vật dụng của đàn bà con gái dùng để thêu thùa, may vá.

Chỉ kim còn dùng để nói về tính siêng năng tỉ mỉ của người phụ nữ.

Gặp cơn rảnh nhà lan vắng khách,

Công chỉ kim đèn sách học hay.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CHỈ MÀNH

Chỉ: Dây bằng sợi dài và mảnh, chuyên dùng để khâu, thêu, may vá, hoặc treo vật nhẹ. Mành: Mảnh, nhỏ dễ đứt.

Chỉ mành là sợi chỉ nhuyễn dễ đứt. Như: Chỉ mành treo chuông.

Chỉ mành rối khá lo âu,

Liệu chơn thoát khỏi vực sâu sau nầy.

(Thanh Tâm Tài Nữ).

 

 

CHỈ THẮM

Chỉ: Tơ hay sợi xe lại thành dây nhỏ, dùng để may để thêu. Thắm: Màu đỏ.

Chỉ thắm, như chữ “Chỉ hồng” hay “Tơ hồng”, lấy tích từ “Hồng ty 紅 絲” hay “Xích thằng 赤 繩”, dùng để biểu trưng cho tình duyên do trời định phận.

Xem: Tơ Hồng.

Hoà ái xe săn đường chỉ thắm,

Thuỷ chung rạng rỡ tấm son vàng.

(Thơ Chơn Tâm).

Nguyệt Lão đã xe dòng chỉ thắm,

Lòng già nay cậy tấm tình son.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

CHỈ TRÍCH

指 摘

Chỉ: Lấy ngón tay mà chỉ, trách. Trích: Lựa chọn, cáo giác tội lỗi của người khác.

Chỉ trích xoi mói những chỗ khuyết điểm của người, hoặc vạch cái sai, tìm cái xấu, nhằm mục đích chê trách, phản đối.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Chúng ta thường mục kích người chức sắc hay có cái tự ái không đúng chỗ, ưa tiếng khen mà ghét lời chỉ trích.

Chỉ trích thành tự kiêu tự đại,

Tu đừng cho vấp phải điều này.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

CHỈ VẼ

Chỉ: Làm cho biết, cho thấy được điều cần biết để làm việc gì. Vẽ: Chỉ, bày cho biết.

Chỉ vẽ, như chữ “Chỉ bảo”, là bày vẽ để dạy cho biết một cách cụ thể.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: Con nên để ý nhiều vào lời Thầy dạy dỗ, và cũng có nhiều Thánh Ngôn của chư Tiên vì thương con chỉ vẽ mà con chẳng để ý vào đó.

Hễ ra tiền thì trẻ ắt ham,

Dầu thế khéo đừng tham không chỉ vẽ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHỊ

1.- Chị là vai lớn hơn mình về hàng gái trong nhà, trong họ. Như: Chị gái, chị dâu, chị họ, chị ngã em nâng.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, có câu: Trừ ra vợ chồng hay là chị em ruột, anh em ruột đặng chuyện vãn nhau nơi Tịnh đàn. Còn kỳ dư, như hai đàng muốn chuyện vãn nhau, phải có hai người chứng, một bên Nam, một bên Nữ.

Nỗi em chị bởi đâu chẳng thuận,

Nỗi nhi tôn lẩn bẩn bên lưng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Em chị gái nặng tình hơn đôi chút,

Nhớ lớn khôn côi cút lụy nhà người.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Chị là tiếng chỉ người đàn bà nào đó trên tuổi, hoặc ngang hàng với mình. Như: Chị chèo đò, chị đàn bà.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Cần thiết là buổi hội diện giữa những bạn đạo cùng chung một chí hướng thương đời, buổi hội diện giữa anh lớn, chị lớn, em nhỏ trong đại gia đình để cho mọi người được cõi lòng sưởi ấm hầu trong năm mới cùng nhau bắt tay vào công việc với một tinh thần vững chắc.

Đường xúm xít chị em ruổi bước,

Dắt dìu nhau kẻ trước người sau.

(Lục Nương Giáng Bút).

Chọc cho có dịp suy, dịp nghĩ,

Đừng cho gần mấy chị đàn bà.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHỊ HẰNG

Chị: Tiếng chỉ người đàn bà nào đó trên tuổi, hoặc ngang hàng với mình. Hằng:Hằng Nga 嫦 娥”.

Tục truyền Hằng Nga là vợ của Hậu Nghệ. Khi Hậu Nghệ xin được thuốc trường sanh của bà Tây Vương Mẫu, Hằng Nga trộm uống, bay lên cung trăng, biến thành vị tiên nữ rất đẹp và trẻ mãi không già.

Chị Hằng là tiếng dùng để chỉ người con gái đẹp, hoặc chỉ mặt trăng.

Đổ ngọc chị Hằng cười ngả ngớn,

Trông hoa dì gió ngủ thiu thiu.

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 

CHIA

Chia là san sẻ ra, phân ra, tức làm ra thành từng phần từ một chỉnh thể. Như: Chia tổ thành nhóm, chia đôi.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Từ đây, các con sẽ cực nhọc hơn, vì Thầy phân phát phận sự cho mỗi đứa vì chẳng vậy, các con sanh nạnh nhau, tựa hồ chia phe phân phái, là điều đại tội trước mắt Thầy vậy, nghe à!

Chín Trời mười Phật cũng là Ta,

Truyền Ðạo chia ra nhánh nhóc ba.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Từ đây nòi giống chẳng chia ba,

Thầy hiệp các con lại một nhà.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

CHIA CÁCH

Chia: Làm ra thành từng phần, tách ra. Cách: Phân, ngăn xa nhau.

Chia cách là xa nhau vì cách trở, chỉ hai người hoặc hai vật bị phân cách chia lìa nhau.

Như: Núi non chia cách.

Đã bày ra đủ trò chia cách,

Lại vẽ thêm chi cảnh mất còn.

(Thơ Hoài Tân).

Mưa chiều chia cách đường Ngưu Chức,

Nắng sớm khuất dần dặm vó câu.

(Thơ Minh Phát).

 

 

CHIA CƠM CẮN MUỐI

Chia cơm: Chia sớt hột cơm. Cắn muối: Hột muối cắn nhường.

Chia cơm cắn muối ý muốn nói anh em hay vợ chồng sống chung, thương yêu nhau, phải biết nhường cơm chia muối cho nhau.

Tình chung bền giữ một đời,

Chia cơm cắn muối không dời lòng thương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CHIA CƠM NHỊN MUỐI

Chia cơm: Chia sớt hột cơm. Nhịn muối: Nhịn muối để nhường người ăn.

Chia cơm nhịn muối là nhịn ăn để chia sớt từng miếng cơm, từng hột muối, ý muốn nói hết lòng giúp đỡ cho nhau lúc khó khăn.

Lau giọt lệ, giải tai ương,

Chia cơm nhịn muối đỡ đường khó khăn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CHIA ĐAU SỚT THẢM

Chia sớt: Cùng chia sẻ với nhau để cùng hưởng hoặc cùng chịu. Đau thảm: Đau đớn sầu thảm.

Chia đau sớt thảm là cùng chia sẻ với nhau về nỗi đau đớn và sầu thảm.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Bà Đoàn Thị Điểm có giáng cơ dạy: Thiếp hỡi còn lo lắm điều, nên chưa định chắc phải khởi dạy Chức sắc hay tín đồ, nhưng sở vọng để hết tâm giáo hoá nữ nhi bổn quốc, ấy là chia đau sớt thảm cùng bạn đồng thuyền. Thiếp chỉn e không kham phận sự.

Ngoài những người chẳng phải đồng bào,

Vợ là bạn chia đau sớt thảm.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHIA GƯƠNG

Chia: Làm ra thành từng phần, tách ra. Gương: Mặt phẳng bằng thuỷ tinh, sau lưng có tráng thuỷ ngân dùng để soi.

Chia gương là nói khi từ biệt, lấy gương chia làm hai, mỗi người giữ một nửa, chỉ sự ly biệt.

Do tích: Từ Đức Ngôn và vợ là Lạc Xương Công Chúa gặp lúc loạn lạc, hai vợ chồng bèn hẹn nhau mỗi người giữ nửa mảnh gương soi, sau này hai mảnh gương ráp lại vợ chồng mới sum họp nhau.

Xem: Gương vỡ lại lành.

Chia gương căn dặn buổi trường đình,

Vàng đá trăm năm tạc tấm tình.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

CHIA LAO SỚT NHỌC

Chia lao: Lao khổ cùng san sẻ. Sớt nhọc: Nhọc mệt cùng sớt chia.

Chia lao sớt nhọc là chia sớt với nhau để cùng chịu những nỗi lao khổ và nhọc mệt.

Như: Tình vợ chồng phải biết chia lao sớt nhọc.

Cơn nghèo khó chia lao sớt nhọc,

Cuộc tử sanh kết tóc chẳng rời.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHIA LY

Chia: Chia cắt. Ly: Lìa nhau.

Chia ly là chia lìa, cách biệt nhau.

Khi nói về cô hồn, ngạ quỷ, Thuyết Đạo Hộ Pháp có đoạn: Ngày cúng ấy là ngày chúng ta nhắc lại sự đau thảm chia ly với nhau trong kiếp sống. Còn kiếp chết của chúng ta sẽ được tương ngộ trên cảnh hư linh hằng sống kia, cái cảm tình của chúng ta ngày đó dầu cho dưa muối mà chúng ta nhớ cái thâm tình ấy là quý trọng.

Chia ly thống thiết nơi trần khổ,

Quy vị an vui chốn Niết Bàn.

(Thơ Hiến Pháp).

 

 

CHIA PHÂN

Chia: Chia cách. Phân: Phân lìa.

1.- Chia phân, như chữ “Phân chia”, là một khối chia thành nhiều phần, nhiều mảnh.

Như: Đất nước bị chia phân trăm mảnh.

Một cục máu chia phân mấy mảnh,

Hình hài em tượng ảnh thân con.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Chia phân có nghĩa là chia cắt, ý nói hai người, hai vật bị chia cách phân lìa với nhau.

Như: Chiến tranh đã chia phân hai vợ chồng, mỗi người mỗi ngả.

Âm dương đôi nẻo chia phân,

Tuý Sơn Vân Mộng mới gần đặng nhau.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

CHIA PHE PHÂN PHÁI

Chia phe: Chia, hay tách ra phe nhóm. Phân phái: Chia ra làm nhiều nhánh.

Chia phe phân phái là phân chia hoặc tách ra nhiều phe, nhiều nhánh khác, có ý muốn chống lại nhau.

Chia phe phân phái và lập tả đạo Bàng môn thuộc khoản 3, Đệ nhứt hình trong Thập Hình của Lý Giáo Tông. Ai vi phạm sẽ bị trục xuất.

Thánh giáo Thầy có dạy: Từ đây, các con sẽ cực nhọc hơn, vì Thầy phân phát phận sự cho mỗi đứa vì chẳng vậy, các con sanh nạnh nhau, tựa hồ chia phe phân phái, là điều đại tội trước mắt Thầy vậy, nghe à!

Kẻ nào cưu tâm chia phe phân phái là đứa thù nghịch của Thầy. Con hiểu à!

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CHIA PHÔI

Chia: Chia cách, chia lìa.

Chia phôi, như chữ “Chia ly”, là nói hai người chia lìa, xa cách nhau. Như: Nỗi sầu chia phôi.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Loài người do một nguyên căn mà thôi, bởi do tâm lý và tập quán của các nước, của các sắc dân, vì cái khác ấy mà chia phôi nhau, nghịch lẫn nhau, thù địch nhau, mà tranh tranh đấu đấu không ngừng.

Ình ình trống giục thảm trường đình,

Ðau nỗi chia phôi một chữ tình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Muốn khuyên giảm bớt ái ân,

Lại e giục kẻ Tấn Tần chia phôi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CHIA PHUI

Hay “Chia phôi”.

Chia: Chia cách, chia lìa.

Chia phui, như chữ “Chia phôi”, dùng để chỉ hai người rẽ chia nhau, mỗi người mỗi nơi.

Xem: Chia phôi.

Cay đắng lần soi gương trí huệ,

Chia phui chờ trải lối tang thương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thương ai đau đớn cùng chồng,

Chia phui hồn trí não nồng canh khuya.

(Thất Nương Giáng Bút).

Tạm gác chia phui, vui gặp gỡ,

Cùng nhau dan díu suốt canh chầy.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CHIA RẼ

Chia: Chia cách, chia lìa. Rẽ: Chia tách ra.

Chia rẽ là chia cắt nhau, phân rẽ.

Thánh giáo Thầy có dạy: Nhân loại tàn sát lẫn nhau bởi không biết dùng khoa học vào việc phải, nên nó mới biến thành chia rẽ và chiến tranh.

Bốn ngàn năm một gánh cơ đồ,

Chia rẽ mãi mà điểm tô không kịp bước.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

Chung vầy sức mạnh non sông vững,

Chia rẽ lòng dân ngọc cát lầm.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

CHIA SẺ

Chia: Sớt chia, tức cùng chịu hoặc cùng hưởng cái buồn vui của người khác. Sẻ: San sẻ, chia sớt.

Chia sẻ là cùng chung chịu những điều buồn khổ, hay cùng chung hưởng những điều yên vui để tỏ sự thông cảm với nhau.

Như: Gặp hoạn nạn cùng chia sẻ nhau từng chén cơm manh áo.

Đắng cay ngọt béo cùng chia sẻ,

Lá rách nhờ thương cũng đặng lành.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

CHIA SỚT

Chia: Sớt chia, tức cùng chịu hoặc cùng hưởng cái buồn vui của người khác. Sớt: Sẻ, chia bớt ra, lấy bớt ra một phần.

Chia sớt là cùng san sẻ cho nhau để cùng hưởng hoặc cùng chịu, tức no cùng nhau no, đói cùng nhau đói.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Giúp đỡ một người nghèo đói, cứu vớt một kẻ té sông, chia sớt thống khổ của người già cả tật bịnh, đó là làm điều nghĩa.

Nếu khổ cực chung cùng chia sớt,

Dầu sang vinh đừng bớt tình nồng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CHIA TAY

Chia: Chia cách. Tay: Bộ phận nối liền với vai.

Chia tay là chào để rời nhau, xa nhau.

Trong bữa tiệc Hội Thánh uỷ lạo Chức sắc, Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Cuộc hội hiệp vui vẻ này đã biến thành cái lệ bất di bất dịch, in sâu vào trí não của mọi người trong chúng ta, vì đó là một cuộc hội hiệp đầy thiện cảm chân thành, nồng đượm bao nhiêu vẻ thân mật khắng khít và sẽ ghi lại một kỷ niệm êm dịu trong tâm hồn của những người đến dự khi mà mỗi vị đều ý thức trong một vài ngày nữa đây sẽ có cuộc chia tay, kẻ ở lại nơi đại gia đình, người tản mát nơi tứ phương, để làm phận sự của người con thảo đối với Ðức Chí Tôn Ðại Từ Phụ.

Chia phui một vẻ cảnh đài,

Công linh buổi trước chia tay nặng lời.

(Tứ Nương Giáng Bút).

Thà cam chết sống với tình,

Chia tay chẳng chịu sớm đành phụ nhau.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

CHIA TÌNH XẺ NGHĨA

Chia tình: Chia cắt mối thâm tình. Xẻ nghĩa: Chia cắt niềm đạo nghĩa.

Chia tình xẻ nghĩa là chia xẻ mối tình nghĩa, ý nói tình nghĩa vợ chồng thắm thiết, mặn nồng, giờ đây đành phải xa cách, ly biệt nhau.

Vào nơi đạo đức rồi, dầu cho phải cát ái ly gia, chia tình xẻ nghĩa, máu thịt đoạn ly...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CHIA VUI SỚT NHỌC

Chia vui: Vui mừng cùng san sẻ. Sớt nhọc: Khổ nhọc cùng sớt chia.

Chia vui sớt nhọc là chia sớt, san sẻ cho nhau, vui cùng hưởng, nhọc cùng chịu.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Hơn nữa, quý vị là những người thân cận hằng ngày với tín đồ, hoà mình với nhơn sanh chia vui sớt nhọc với Bổn Ðạo trong mọi trường hợp thì quý vị chẳng nên khinh thường cái trách vụ cao đẹp của mình.

Các con thương mến nhau, dìu dắt nhau, chia vui sớt nhọc nhau, ấy là các con hiến cho Thầy một sự vui vẻ đó.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CHIA XẺ

Chia: Làm ra thành từng phần nhỏ. Xẻ: Chia dọc.

Chia xẻ là chia thành nhiều mảnh, làm cho không còn nguyên một khối nữa.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy: Quỷ Vương lại thừa dịp hành tàng bất chánh của nhiều đứa trong Ðạo mà giựt giành, chia xẻ các con với Thầy.

Chánh sách bất hoà không hội hiệp,

Hoàn đồ chia xẻ khó chung đồng.

(Thơ Hộ Pháp).

Bắc Nam một gốc ai chia xẻ,

Chánh thể hoà nhân dựng thánh triều.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

CHÌA

Chìa là vật để mở khoá.

Như: Khi về nhà nhớ lấy chìa để mở khoá, khoá cũ bị sét mở hoài nên chìa bị gãy.

Ðặng vầy thanh sử tạc bia,

Ôi con! khoá chặt không chìa thì sao?

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Chìa đây Thầy sẽ sắp trao,

Trao mà chọn lựa con nào chí tâm.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

CHÌA KHOÁ

Chìa: Một vật để mở khoá. Khoá: Vật bằng kim loại dùng để đóng chặt cửa lại.

Chìa khoá là cái vật để mở khoá.

Huấn từ Đức Thượng Sanh có nói: Sự khổ đau vì chúng sanh, vì Đạo, chính là chìa khoá mở cửa Bạch Ngọc Kinh để bước vào cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Sư thương yêu là chìa khoá mở Tam thập lục Thiên, Cực Lạc Thế Giới và Bạch Ngọc Kinh.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CHÍCH

1.- Chích là lấy mũi nhọn mà đâm vào da thịt, như chích thuốc, muỗi chích, ong chích.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Ta thấy cả vạn vật ấy đối với ta rất có cảm tình, bởi lẽ đồng sanh, như đứa con nít con bướm đẹp đẽ thì mê lắm, tìm bắt, đến khi gặp con ong chích thì sợ sệt, mấy điều ấy làm cho con người tự tỉnh, đi tìm nguyên do của sự sống ấy, đó là khởi bước đầu sự tầm Ðạo.

Các con bị chứng bịnh tê,

Chích châm cho lắm chẳng hề than ôi!

(Đại Thừa Chơn Giáo).

2.- Chích là chiếc, tức là mất một, không còn có đôi, có cặp nữa.

Như: Chích thân, chích cánh, phòng the chích bóng, chích bạn lìa đôi.

Học đạo thiếu văn thuyền chích lái,

Cũng nên tìm kiếm một đôi pho.

(Nhan Hồi-Tử Tư Giáng).

Rêu phong ngõ hạnh sầu hoa cỏ,

Nhạn chích phương trời quạnh nước non.

(Thơ Tùng Chơn).

 

 

CHÍCH BẠN LÌA ĐÔI

Chích bạn: Lẻ bạn. Lìa đôi: Đôi bạn chia lìa nhau, mỗi người một phía.

Chích bạn lìa đôi ý nói hai người yêu nhau hoặc vợ chồng đang sum họp, vui vẻ, giờ thì chia lìa, sống lẻ loi, cô độc một mình.

Càng đeo đẳng nỗi phiền nỗi thảm,

Càng thương thân chích bạn lìa đôi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CHÍCH BÓNG

Chích: Chiếc, lẻ, mất một, không còn có đôi, có cặp. Bóng: Hình bóng.

Chích bóng, như chữ “Chiếc bóng”, là lẻ bóng, ý nói chỉ còn một mình khi phải xa cách người tình, hay người vợ hoặc chồng.

Buồng the chích bóng sầu chinh phụ,

Biết gởi về đâu nỗi đoạn trường.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

CHÍCH CÁNH

Chích: Chiếc, lẻ, mất một, không còn có đôi, có cặp. Cánh: Cánh chim.

Chích cánh là chỉ còn có một cánh.

Trong văn học, vợ chồng được ví như chim liền cánh, nếu người vợ hoặc chồng mất đi thì giống như chim bị chích cánh, không bao giờ bay được.

Chích cánh riêng vui con hạc lánh,

Ngừa thuyền còn đợi nhánh tùng rơi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Sóng dậy tang thương hồng chích cánh,

Trời dìu thưởng phạt hoạ đồng cân.

(Thanh Tâm Tài Nữ).

 

 

CHÍCH LẺ

Chích: Chiếc, lẻ, mất một, không còn có đôi, có cặp. Lẻ: Lẻ loi, chỉ có một mình.

Chích lẻ là đơn chiếc, lẻ loi có một mình, ý muốn nói đôi vợ chồng nếu có người mất đi, người còn lại phải sống trong cảnh chích lẻ.

Trong quyển Giáo Lý, Ngài Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có viết: Người tín đồ Đại Đạo không nên có hầu thiếp, trừ ra, khi đã bị chích lẻ giữa đường, cần chấp nối. Hoặc giả vợ chánh không con nối hậu, thì đặng phép cưới thiếp, song phải có vợ chánh ưng thuận mới đặng.

Rủi có chích lẻ giữa đường thì được chấp nối.

(Tân Luật).

 

 

CHÍCH MÁT

Chích: Chiếc, lẻ, mất một, không còn có đôi, có cặp. Mát: Hơi thiếu hụt, hơi non.

Chích mát, như chữ “Goá bụa”, là vợ hoặc chồng đã chết, sống đơn lẻ, không có đôi, có cặp.

Tại nơi chích mát bóng tùng,

Trần hoàn vì nỗi đau lòng hồng nhan.

(Đạo Sử).

Ðiểu mai mấy lúc đẹp duyên hài,

Chích mát là vì bởi tại ai.

(Đạo Sử).

Tủi phận hờn duyên, duyên chích mát,

Canh thâu hồn mộng dõi theo chàng.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CHÍCH MÍCH

Mích (mếch): Làm người khác không hài lòng.

Chích mích, như chữ “Xích mích”, là có sự va chạm nhỏ nhặt, lặt vặt trong quan hệ với nhau mà sinh ra phiền hà hờn giận.

Xem: Xích mích.

Cợt người ra dạ dể duôi,

Sanh điều chích mích đâu nguôi dạ hờn.

(Kinh Sám Hối).

 

 

CHIẾC BÁ

Chiếc: Một cái, một chiếc. (bách): Cây bách hay cây bá, một loại cây dùng để đóng thuyền.

Chiếc bá, như chữ “Chiếc bách”, là chiếc thuyền gỗ bách, ví thân phận người phụ nữ trôi nổi trên mặt nước như chiếc thuyền gỗ bách.

Xem: Chiếc bách.

Chiếc bá linh đinh thả giữa vời,

Thôi tìm bến Phạm đậu an nơi.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

CHIẾC BÁCH

Chiếc: Một cái, một chiếc. Bách (bá): Cây bách hay cây bá, một loại cây dùng để đóng thuyền.

Chiếc bách, còn đọc “Chiếc bá”, là chiếc thuyền bằng gỗ cây bách (cây bá).

Do Kinh Thi có câu: Phiếm bỉ bách chu tại bỉ trung hà 泛 彼 柏 舟, 在 彼 中 河, nghĩa là chiếc thuyền gỗ bách trôi nổi giữ dòng sông kia.

Chiếc bách dùng để chỉ thân phận người đàn bà linh đinh như chiếc thuyền gỗ bách nổi trôi trên mặt nước.

Chiếc bách dập dồn dòng Bích Thuỷ,

Phồn hoa mờ mệt giấc Huỳnh Lương.

(Đạo Sử).

 

 

CHIẾC LÁ CHÀNG VU

Chiếc lá của chàng Vu Hựu.

Do tích Vu Hựu bắt được chiếc lá hồng có bài thơ của nàng cung nữ Hàn Thị thả trên dòng ngự câu. Vu Hựu bèn đề hai câu thơ vào chiếc lá khác, rồi thả nơi đầu ngòi nước cho chảy vào cung. Cung nữ Hàn Thị, bắt được.

Sau Cung nữ Hàn Thị được thả và tình cờ kết duyên với Vu Hựu. Hai người sau khi thành hôn mới biết chiếc lá hồng đó làm mối.

Cung đàn họ Bá may nên bạn,

Chiếc lá chàng Vu chỉ cậy dòng.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

CHIÊM BÁI

瞻 拜

Chiêm: Ngẩng mặt lên trông. Bái: Lạy.

Chiêm bái là đến không lạy, xem người khác lạy.

Ngày xưa trong các cuộc lễ tế, vua phái các hoàng thân hay đại thần thay mặt vua để lạy, vua không lạy, tức chỉ chiêm bái.

Tôn nghiêm một cõi đời chiêm bái,

Soi rạng đường tu ngọn đuốc hồng.

(Thơ Thuần Đức).

Trẻ già nam nữ đồng chiêm bái,

Với tấc lòng thành quyện khói hương.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

CHIÊM BAO

Chiêm bao là thấy những việc hay những hình ảnh hiện ra trong giấc ngủ.

Trong Đạo Sử, Đức Chí Tôn dạy Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung có câu như sau: Con nên thức lần giấc chiêm bao của chúng nó mà chớ nên đem mình buộc vào chỗ tối tăm ấy.

Rẽ lối non sông thấy Ðộng đào,

Bừng con mắt tỉnh giấc chiêm bao.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ngắm coi cái nhỏ bây giờ,

Nhớ trong cái lớn mịt mờ chiêm bao.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Việc đã diễn ra ngoài tưởng tượng,

Chuyện rồi nghĩ lại ngỡ chiêm bao!

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CHIÊM NGƯỠNG

瞻 仰

Chiêm: Xem. Ngưỡng: Ngẫng mặt lên.

Chiêm ngưỡng là ngửa mặt nhìn lên, tức là nhìn một người, một bức tượng hay một nơi nào đó mà trong lòng mình rất tôn kính.

Bát Nương Diêu Trì Cung trong Thánh Ngôn Sưu Tập có câu: Em rất vui lòng mà đặng thấy quý anh và các bạn hội họp nơi đây đồng một dạ chiêm ngưỡng các Đấng đến đàn Tiên chỉ bảo đôi lời đạo hạnh, khuyên răn tánh đức và các bạn cùng nhau lo bồi đắp nền tôn giáo, là cũng một phần lo bồi bổ giang sơn, từ mỗi vị lo thi hành nhiệm vụ của mình.

Thần Tiên vốn chẳng xa chi,

Có lòng chiêm ngưỡng nhứt thì giáng linh.

(Bài Trời Còn).

Nghìn thu chiêm ngưỡng ai đâu tá?

Cỏ loán hơi sương gió thở dài.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

CHIÊM NGHIỆM

占 驗

Chiêm: Xem xét. Nghiệm: Suy ngẫm, chứng thực.

Chiêm nghiệm là nhờ từng trải sự đời mà xem xét và đoán biết được.

Thánh giáo Thầy dạy Đức Quyền Giáo Tông có câu: Thầy hỏi sao con không chiêm nghiệm Thánh đức của Thái Bạch? Sao con không xét nét cho cùng lý lời vàng tiếng ngọc của vị Giáo Tông thiêng liêng mà noi gương theo đó.

Vậy nên nhớ mấy lời Thầy, chẳng phải đọc sơ qua mà coi làm chơi, cần chiêm nghiệm kỹ lưỡng mà hiểu, nghe!

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CHIẾM

Chiếm là lấn cướp của người để làm của mình.

Như: Như giành dân chiếm đất, chiếm của công làm của riêng, vùng bị địch chiếm đóng.

Thánh giáo Thầy có câu: Người hành đạo chẳng đủ quyền chế cải, kẻ tự cao muốn chiếm vị cầu danh, nghịch tư cách đối đãi với thế tình, gây ác cảm mà tạo thù oán.

Núp phướn tiêu diêu làm chủ quỷ,

Chiếm quyền bốn hướng một mình cam.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

CHIẾM ĐOẠT

占 奪

Chiếm: Giữ lấy làm của mình. Đoạt: Cướp lấy.

Chiếm đoạt là cướp lấy của người làm của mình.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Con người khổ vì ham muốn cuộc đời, ham muốn hưởng thụ, ham muốn chiếm đoạt, ham muốn chế ngự, ham muốn phô trương, ham muốn khoái lạc về vật chất lẫn tinh thần.

Nhìn vào lịch sử, những vụ “Phần Thư”, những vụ chiếm đoạt thư tịch đã xảy ra như một hệ luận trước những biến cố.

(Lời Trần Thuyết).

 

 

CHIẾN BÀO

戰 袍

Chiến: Đánh giặc với nhau. Bào: Chiếc áo.

Chiến bào là áo của quân lính ngày xưa mặc để đánh trận, có kết vảy thép như vảy cá để đỡ tên đạn.

Chiến bào còn gọi là nhung y hay Giáp y (Áo giáp).

Như: Mặc chiến bào xông ra trận tiền.

Chúc thêm bước tiến qua non Phật,

Chiếm được chiến bào cứu nạn tai.

(Bạch Vân Giáng Bút).

 

 

CHIẾN CÔNG

戰 功

Chiến: Đánh nhau. Công: Công lao.

Chiến công là có công đi đánh thắng giặc. Công lao nầy còn được gọi là võ công.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Về sự diệt dục, Đức Phật có nói: “Chiến thắng mười vạn quân còn dễ hơn chiến thắng lòng mình, mình tự thắng được mình là chiến công oanh liệt nhứt”.

Hùng khí còn nêu thuở chiến công,

Uy linh để xây nền tự chủ.

(Cội Đạo Bốn Mùa).

 

 

CHIẾN CHINH

戰 征

Chiến: Đánh nhau. Chinh: Đem quân đi đánh giặc.

Chiến chinh, như chữ “Chinh chiến 征 戰”, là chỉ sự đánh giặc, hay giặc giã.

Như: Nước nhà nguy biến, bổn phận kẻ nam nhi phải sẵn sàng chiến chinh.

Xem: Chinh chiến.

Nợ cung kiếm chiến chinh là nghiệp,

Giúp quốc dân sánh kịp tha bang.

(Kinh Cúng Chiến Sĩ).

Sinh thời cộng hưởng vui xâu thuế,

Kích nhưỡng nhi ca khỏi chiến chinh.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

CHIẾN ĐỊA

戰 地

Chiến: Đánh nhau. Địa: Đất.

Chiến địa, như chữ “Trận địa”, là chỉ nơi mà hai bên dàn trận đánh nhau tại đó.

Ngày xưa, khi có chiến tranh, hai bên thường chọn một khu đất để làm bãi chiến trường, tức là nơi hai bên đánh trận với nhau, gọi là chiến địa.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Xương máu của đồng bào đã hao nhiều vì chiếc cuộc, hồn thiêng sông núi đang chờ đợi những đứa con thân yêu của quê hương đang xông pha ngoài chiến địa để cứu nguy cho dân tộc mà không biết ngày nào được trở về.

Trường đình rẽ bước trong đoanh bóng,

Chiến địa tuỳ cơ kế vận trù.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

CHIẾN MÃ

戰 馬

Chiến: Chiến trận. Mã: Ngựa

Chiến mã là ngựa cỡi khi ra đánh giặc ở chiến trường, còn có nghĩa là ngựa chiến, ngựa giỏi.

Gác bút, mài gươm, lưng chiến mã,

Lửa binh ngùn ngụt bốn phương trời.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

CHIẾN QUỐC

戰 國

Chiếc Quốc là tên một thời kỳ trong lịch sử Trung Quốc, cuối đời Xuân Thu, trước đời Tần, tức là từ Châu Uy Liệt Vương thứ 23 cho đến Tần Thuỷ Hoàng.

Đời Chiến Quốc có bảy nước mạnh: Tề, Sở, Yên, Triệu, Hàn, Nguỵ và Tần gọi là thất hùng, đánh nhau từ năm 403 đến 221 trước kỷ nguyên.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Có khi lại dám liều cả tánh mạng để cho đời biết chí cao thượng của mình như Giới Tử Thôi đời chiến quốc!

Trong đời Chiến Quốc gương phô,

Công thành thân thối ngũ hồ thong dong.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

CHIẾN SĨ

戰 士

Chiến: Đánh giặc. Sĩ: Quân lính.

Chiến sĩ là quân lính đi đánh giặc, hoặc chỉ những người tranh đấu về chính trị.

Thánh giáo Đức Hộ Pháp có câu: Chiến sĩ tiếp tục ăn gan uống huyết lẫn nhau vì mối danh lợi ảo huyền. Ấy là Thiên cơ đã định.

Dặm tuyết vời trông tin chiến sĩ,

Phòng sương riêng chạnh khách cô phòng.

(Thơ Thanh Thuỷ).

 

 

CHIẾN SĨ TRẬN VONG

戰 士 陣 亡

Chiến sĩ: Quân lính đi đánh giặc, hoặc chỉ những người tranh đấu về chính trị. Trận vong: Chết nơi mặt trận.

Chiến sĩ trận vong là chỉ chung các sĩ quan và binh lính bị tử trận nơi chiến trường khi đánh nhau.

Tại Toà Thánh, các Thánh Thất ở Tây Ninh, hằng năm vào ngày 15 hoặc 16 tháng giêng, tháng bảy, tháng mười đều có tổ chức cúng tế và cầu siêu cho các chiến sĩ trận vong.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ngày nay là ngày kỷ niệm các chiến sĩ trận vong, các chiến sĩ ấy hy sinh cho quốc gia, vì nước nhà, vì nòi giống, vì nhơn loại họ không tiếc mạng sống...

Trong đạo Cao Đài bài “Kinh Cúng Chiến Sĩ” của Trung Dõng, tức Trung tướng Nguyễn Văn Thành được Đức Hộ Pháp chỉnh văn lại và cho phép đồng nhi tụng đọc trong nghi lễ cúng tế Chiến Sĩ Trận Vong.

Truy điệu chiến sĩ trận vong,

Mấy vần siêu độ tỏ lòng tiếc thương.

(Cội Đạo Bốn Mùa).

 

 

CHIẾN TƯỚNG

戰 將

Chiến: Đánh nhau. Tướng: Tướng quân.

Chiến tướng là một ông tướng đi đánh trận, hoặc còn dùng với nghĩa bóng để chỉ người tài giỏi về một môn gì.

Như: Hưng Đạo Vương là một chiến tướng của nhà Trần, anh ta là một cầu thủ chiến tướng.

Chiến tướng xưa đề danh cửa Á,

Tùng quân nay dậy tiếng vùng Âu.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

CHIẾN TRÀNG

Hay “Chiến trường”.

Chiến: Đánh nhau. Tràng (trường): Khoảng đất rộng.

Chiến tràng, như chữ “Chiến trường 戰 場”, là chỉ khoảng đất rộng để hai bên đánh giặc với nhau, tức chỉ nơi diễn ra các cuộc chiến tranh.

Xem: Chiến trường.

Xông pha ra chốn chiến tràng,

Đắng cay cam chịu gian nan không sờn.

(Kinh Cúng Chiến Sĩ).

 

 

CHIẾN TRANH

戰 爭

Chiến: Đánh nhau. Tranh: Giành giựt.

Chiến tranh là hai nước hay hai phe dùng võ lực đánh nhau để tranh giành đất đai hay quyền lợi.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Hiện thời Ðạo mới ra đời hơn bốn mươi năm, trong nước lại đương hồi bị nạn chiến tranh liên tiếp, chức sắc Phước Thiện vì thời cuộc mà chưa thực thi chính sách kinh doanh, khai thác kỹ nghệ, mở mang nông nghiệp sản điền.

Hễ tướng soái chiến tranh là nghiệp,

Đạo đức sao cho hiệp Thiên đài.

(Xuân Hương Giáng Bút).

Chiến tranh đất nước còn đau khổ,

Tang tóc nhơn sanh vẫn hãi hùng.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

CHIẾN TRẬN

戰 陣

Chiến: Đánh nhau. Trận: Hình thế quân đội trong khi đánh nhau, một lần đánh.

Chiến trận là phép sắp trận để đánh nhau.

Chiến trận còn chỉ trận địa lúc đánh nhau, tức trận đánh nhau giữa quân đội hai bên.

Ai cũng thủ thân nơi hỗn độn,

Ðời là chiến trận lúc đua tranh.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Thương gái kiên trinh mùa chiến trận,

Thương trai nhiệt huyết bãi sa trường.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

CHIẾN TRƯỜNG

戰 場

Chiến: Đánh nhau. Trường: Khoảng đất rộng.

Chiến trường đồng nghĩa với “Chiến địa 戰 地”, chỉ nơi hai bên đánh giặc với nhau, tức chỉ nơi diễn ra các cuộc chiến tranh.

Như: Liều thân nơi bãi chiến trường.

Lưu hồng bạch cốt phơi sương,

Hoàn cầu sôi nổi, chiến trường từ đây.

(Đoàn Thị Điểm Giáng).

Chăn bông ấp ủ ai màn gấm,

Gối đất co ro kẻ chiến trường.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

CHIẾP MIỆNG

Chiếp (chép): Hai môi chặp lại phát thành tiếng. Miệng: Bộ phận dùng để ăn, nói.

Chiếp miệng là chập môi và mở miệng cho kêu thành tiếng trước hay sau khi ăn uống.

Như: Chiếp miệng khen ngon.

Chiếp miệng, đồng nghĩa với chữ “Chép miệng”, còn là ngậm miệng lại rồi mở ra, tạo thành tiếng kêu khe khẽ để tỏ ý tiếc hoặc than phiền điều gì. Như: chiếp miệng thở dài, chiếp miệng than vắn.

Ðong đầy đức cả hoá kho vàng,

Ðừng thấy phận nghèo chiếp miệng than.

(Đạo Sử).

Mang tiền cỡi hạc đến Dương Châu,

Chiếp miệng còn than nỗi buổi đầu.

(Đạo Sử).

 

 

CHIẾT LIỄU

折 柳

Chiết: Bẻ. Liễu: Dương liễu.

Chiết liễu là bẻ cành liễu.

Theo sách Tam Phụ Hoàng Đồ, Bá kiều là một cây cầu nằm về hướng đông của Trường An.

Đời Hán, khi tiễn bạn tới cầu Bá Kiều, người ta thường bẻ một cành liễu để tặng bạn làm cây roi ngựa. Cầu này về sau thành tên cầu “Chiết liễu”.

Nghĩa bóng: Tiễn đưa, tống biệt nhau.

Xem: Bẻ liễu.

Chiết liễu mến trao thi Bạch thoại,

Trường đình kính tặng chén quỳnh tương.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

CHIẾT QUẢ

折 果

Chiết: Bẻ, hái, làm giảm bớt. Quả: Kết quả.

Chiết quả là làm tiêu mòn cái kết quả xấu của kiếp trước, tức là giảm nghiệp quả.

Trong thành ngữ Việt Hán có câu: “Tương công chiết quả 將 功 折 果” là lấy công quả mình tạo lập mà giảm trừ quả nghiệp tiền khiên.

Ai mau bước đặng gặp mối chánh dẫn truyền mà lần lập công chiết quả, để lánh cả muôn điều phiền não về sau.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CHIÊU

Chiêu là vời, mời, gọi đến.

Như: Chiêu an, chiêu bài, chiêu tài tấn bửu, chiêu hiền nạp sĩ, chiêu oán chuốt hờn.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Ấy vậy, biết mình lầm lạc, tự chừa cải ăn năn, đó là điều quý báu, chứ biết lỗi mà cứ ngoan cố đi vào chỗ sai lầm, đó là tự chiêu kỳ hoạ.

Lành dữ nơi mình chiêu phước hoạ,

Thành tâm ắt thấy hết thần minh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chiêu mối hàng đặng kẻ yêu đương,

Ắt có thuở khai trương tiệm lớn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHIÊU AN

招 安

Chiêu: Kêu gọi về với mình. An: Yên ổn.

Chiêu an tức là kêu gọi kẻ phản loạn, bọn giặc cướp hàng phục, bãi binh, để đất nước được yên ổn.

Kê Lặc Biên chép: Đời Tống Kiến Viêm thường hay chiêu an giặc cướp, nên sau đó ngoài dân gian có câu hát: Dục đắc quan, sát nhân phóng hoả thọ chiêu an 欲 得 官, 殺 人 放 火 受 招 安, nghĩa là muốn được làm quan thì giết người đốt nhà rồi để triều đình chiêu an.

Kỳ ba mở Đạo cứu đời,

Chiêu an thế giới khắp nơi hoà bình.

(Thất Nương Giáng bút).

Chiêu an tả đạo, trừ tà khí,

Độ tận quần sanh, chiếu cứu tinh.

(Lý Giáo Tông Giáng).

 

 

CHIÊU HIỀN

招 賢

Chiêu: Vẫy, kêu gọi về với mình. Hiền: Người có tài năng và hiền đức.

Ngày xưa, những vị minh quân ưa chuộng kẻ hiền tài, thường đăng bảng kết nạp hiền tài, thâu dụng danh sĩ để giúp vua trị nước, đó gọi là chiêu hiền hay nạp sĩ.

Bóng người tri kỷ mòn đôi mắt,

Tấm bảng chiêu hiền nhạt nét sơn.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

CHIÊU HỒN

招 魂

Chiêu: Vẫy, kêu gọi. Hồn: Một thực thể vô hình trong con người.

Chiêu hồn là dùng pháp thuật mà kêu gọi người chết trở về nói chuyện.

Đối với Phật giáo, Chiêu hồn là kêu gọi hồn người chết trở về để thiết lễ cúng tế cầu siêu.

Trong tôn giáo Cao Đài, Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có nói rằng: Chức Sắc Thiên Phong là người cầm phướn chiêu hồn dìu dắt chúng sanh thoát khổ, mà đi đến đâu đều bị họ chê bai, biếm nhẻ, kích bác, hân hủi đủ thứ...

Xem: Phướn chiêu hồn.

Hay thắng chẳng đặng đời, anh phải nhịn,

Về cõi Tiên toan tính phép chiêu hồn.

(Văn Tế Bảo Đạo).

Phất phướn chiêu hồn quy lối cũ,

Vén màn mờ ám cứu nhơn sanh.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

CHIÊU MỘ

招 募

Chiêu: Kêu gọi. Mộ: Cầu tìm khắp nơi.

Chiêu mộ là kêu gọi người đến làm việc hoặc đi lính.

Chiêu mộ binh là chiêu tập binh lính tình nguyện, rồi trả tiền thuê cho họ, khác với chế độ trưng binh là những người lính ứng mộ.

Như: Chiêu mộ binh lính.

Dối sai Tỳ Vũ ân cần,

Ra đi chiêu mộ tôi thần Hàn Châu.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

CHIÊU PHƯỚC HOẠ

Chiêu: Vời, vẫy gọi đến với mình. Phước (phúc) hoạ: Phước đức và tai hoạ.

Chiêu phước hoạ, như chữ “Chiêu phúc hoạ 招 福 禍”, là mời cái phước và cái hoạ tới.

Thật vậy, Nho có câu: Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo 善 有 善 報, 惡 有 惡 報, nghĩa là lành có lành báo, ác có ác báo, như vậy mình làm lành tức mời điều lành sang, làm điều ác thì rước điều ác đến.

Lành dữ nơi mình chiêu phước hoạ,

Thành tâm ắt thấy hết thần minh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

CHIÊU QUÂN

昭 君

Chiêu Quân là tên một cung nhân đời nhà Hán, có sắc đẹp, được phong làm Tây Phi.

Khi Hung Nô đem binh sang đánh Trung nguyên, vua nhà Hán buộc phải đem nàng Chiêu Quân cống Hồ để xin cầu hoà, bãi việc binh đao.

Xem: Hán Chiêu Quân.

Thương trời rạng lao xao cánh nhạn,

Đến đưa tin cửa Hán Chiêu Quân.

(Thất Nương Giáng Bút).

Ham Chiêu Quân trọn nghĩa phụ thần,

Hơn giúp Hớn Tôn Phu Nhân gươm cật ngựa.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHIÊU QUÂN CỐNG HỒ

昭 君 貢 胡

Chiêu Quân: Tên một cung nhân đời nhà Hán. Cống: Dâng nộp, thường dùng chỉ nước Phiên thuộc đem vật quý dâng cho vua nước lớn. Hồ: Rợ Hung Nô.

Chiêu Quân tên thật là Vương Tường, một giai nhân ở đất Việt Châu được vua Hán Nguyên Đế nằm mộng thấy, bèn sai Mao Diên Thọ đến phủ Việt Châu tìm kiếm. Diên Thọ đến đó chọn được hai mỹ nữ: Chiêu Quân và Lỗ Kim Định.

Gia đình Kim Định lấy vàng hối lộ cho Mao Diên Thọ, còn Chiêu Quân thì không có, nên Thọ cho vẽ hình Chiêu Quân có một nốt ruồi đen dưới khoé mắt, còn Kim Định thì người đẹp hoàn toàn. Do vậy, vua Nguyên Đế bèn chọn Lỗ Kim Định làm ái phi. Còn Chiêu Quân thì bị chiếu giả của Mao Diên Thọ và Kim Định đày vào Lãnh cung.

Lâm Hoàng Hậu biết được oan tình của Chiêu Quân, bèn tâu với Nguyên Đế. Vua Hán tức giận, truyền bắt Diên Thọ xử trảm, cho đày Lỗ Kim Định vào lãnh cung và triệu nàng Chiêu Quân vào cung phong cho chức Tây Phi.

Mao Diên Thọ chạy thoát, trốn sang đầu vua Hung Nô, rồi bày mưu cho Hung chúa cử đại binh sang đánh Trung nguyên, uy hiếp vua Hán. Hán Nguyên Đế buộc phải đem nàng Chiêu Quân cống Hồ để xin cầu hoà, bãi việc binh đao.

Lúc thuyền đi đến ải Nhạn Môn quan, Chiêu Quân buồn thảm, ngồi gãy đàn tỳ bà để tỏ nỗi lòng thương chúa và nhớ nhà.

Đến nước Hồ, Chiêu Quân ra mắt Hung Chúa, được nhà vua hết sức quý trọng. Nhờ vậy, nàng mới tâu xin vua Hung Nô bắt Mao Diên Thọ là một tên phản thần đem ra chém đầu. Và sau đó nàng mượn tiếng đi dâng hương trên cầu Bạch Dương Hà, rồi gieo mình xuống dòng sông đang chảy xiết.

Ở ngoài hành lang Báo Ân Từ về phía Nữ phái cũng có vẽ một bức tranh lấy tích “Chiêu Quân cống Hồ 昭 君 貢 胡” để nói lên tấm gương trung trinh tiết liệt của một nàng nhi nữ.

Chiêu Quân chịu giã từ đất Hớn,

Thân cống Hồ ngất ngưởng tha bang.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Chiêu Quân được chọn vào cung cấm,

Hình mỹ nhân, Thọ chấm nốt ruồi.

Cống Hồ tính chuyện êm xuôi,

Mà dòng Bích Thuỷ chưa vùi tấm trinh.

(Báo Ân Từ).

 

 

CHIÊU TẬP

招 集

Chiêu: Vẩy, mời gọi. Tập: Tụ họp lại.

Chiêu tập là vời về nhóm lại, tức là kêu gọi nhiều nơi tập hợp lại, như: Chiêu tập binh mã.

Trong quyển Thiên Đạo, hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có câu: Thịt cá giúp cho sức tiêu hoá rất mạnh, làm cho người ta ăn uống quá độ, chuyển động khích thích cả phần huyết nhục trong châu thân mà chiêu tập những tình dục xấu xa, lôi cuốn con người vào vòng tội lỗi.

Chiêu tập hồn thi bước Đạo dìu,

Non xưa chớp cánh nhạn trông theo.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

Đạo nghiệp biểu dương nền Chánh Giáo,

Cơ Đồ chiêu tập sức nhơn công.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CHIẾU

1.- Chiếu là đồ dệt bằng cói, tre, mây, dùng để trải ra ngồi, nằm. Như: Trải chiếu, chiếu bông, chiếu chăn.

Nói về Giới Tử Thôi, Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Số là trước ngày phong thưởng, Tử Thôi lóng nghe bọn quần thần nhóm nhau, giành lộc tranh công, lấy làm hổ-thẹn chung, nên vào trào cung hạ có một lần, rồi từ đó về sau cáo bịnh ở nhà, dệt chiếu mà nuôi mẹ già.

Chừ sao chăn chiếu lạnh lùng,

Phím loan nín bặt, tranh tòng đứt dây.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Biết bớt cơn chung chiếu chung mùng,

Cứ giữ tánh thong dung chê nữ sắc.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Chiếu là soi vào, rọi đến, tức hướng luồng sáng phát ra đến một nơi nào đó.

Như: Mặt trời chiếu trước thềm nhà, ngọn đèn chiếu khắp phòng, chiếu x quang.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có câu: Bần đạo chỉn để lời cho các đạo hữu rõ đặng lưu tâm mà hành sự, chớ con đường tuy chớn chở, triền núi vẫn khó qua, song ngọn đèn Trời đã chiếu tỏ mà dìu dắt các đạo hữu, thì nhiều ít gì rồi sau cũng đến chốn được.

Sắc huỳnh chiếu roi vàng đường hạc,

Cõi Huỳnh Thiên nhẹ thoát chơn Tiên.

(Kinh Tận Độ).

Lòng thành một tấm Trời soi xét,

Gương rạng nghìn thu nguyệt chiếu minh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Chiếu là dựa vào, căn cứ theo điều đã được quy định thành văn bản. Như: Chiếu luật, chiếu y.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Ðại Ðạo Tam Kỳ hoằng khai tại cõi Nam, đã chiếu theo Thiên thơ, Hội Tam giáo, mà vớt chúng sanh thoát vòng ly khổ, thiệt thiệt, hư hư, một mảy chi, cũng chẳng qua là máy Thiên cơ mà thôi.

Chiếu nhũ lịnh Từ Huyên thọ sắc,

Độ anh nhi nam, bắc, đông, tây.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

4.- Chiếu là tờ của vua hoặc Đức Chí Tôn ban bố xuống. Như: Chiếu chỉ, mật chiếu, chiếu dời Đô.

Thánh giáo Đức Thích Ca Mâu Ni kim viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát có dạy: Vì Tam Kỳ Phổ Ðộ, Thiên Ðịa hoằng khai, nơi Tây Phương Cực Lạc và Ngọc Hư Cung mật chiếu đã truyền siêu rỗi chúng sanh.

Nâng ly vừa cạn hạc reo vang,

Rằng chiếu đòi ông đến điện vàng.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

CHIẾU CỐ

照 顧

Chiếu: Soi rọi đến. Cố: Quay đầu lại để nhìn.

Chiếu cố là xem đến, đoái đến.

Thánh giáo Đức Tôn Sơn Chơn Nhơn có câu: Khi mở Đạo nơi ấy thì Hộ Pháp có lòng chiếu cố, hằng hứa rằng về Toà Thánh thì liệu lượng cùng Hội Thánh mà giúp kẻ cô thế truyền Đạo tha phương. Lại bị cường quyền áp chế từ thử.

Phước trạch nhà ta trên chiếu cố,

Lấy gương đức hạnh để soi mình.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

CHIẾU CHĂN

Chiếu: Đồ dệt bằng cói, dùng trải ra để ngồi, nằm. Chăn: Mền, vật dùng bằng vải, len để đắp cho ấm.

Chiếu chăn tức chiếu và mền.

Chiếu chăn dùng để nói tình nghĩa vợ chồng thắm thiết, vì cùng nằm chung chiếu, cùng đắp chung mền.

Dầu một đêm cũng nghĩa chiếu chăn,

Huống chi bạn khó khăn bao nỡ phụ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHIẾU CHỈ

詔 旨

Chiếu: Một bản văn của vua ban hành công bố cho dân biết. Chỉ: Lệnh bằng văn bản của vua, chúa.

Chiếu chỉ là tờ giấy ghi chép mệnh lệnh của nhà vua ban xuống cho triều thần và dân chúng.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thần Hoàng Bổn Cảnh có câu: Từ thuở ta vâng chiếu chỉ đến trấn nhậm nơi đây, ta một tấm lòng lo cho lê thứ đặng an cư lạc nghiệp, thạnh vượng mùa màng, mỗi mỗi đều hằng lo lắng cho chúng sanh nơi phần trách nhậm.

Diêu Trì Cung nội nghỉ vừa an,

Ngọc Đế lịnh truyền chiếu chỉ sang.

(Thánh Giáo Minh Thiện).

Nơi Ngọc Hư còn đang định án,

Chiếu chỉ phân cho hản tội tình.

(Ngũ Nương Giáng Bút).

 

 

CHIẾU DIỆU

照 耀

Chiếu: Soi sáng. Diệu: Rực rỡ.

Chiếu diệu là chiếu sáng rực rỡ.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ðến khi tất cả niệm ngũ nguyện cũng vậy, Bần Ðạo định tâm, dồn cả đức tin biến thành một huệ quang chiếu diệu đem vào Bát Quái Ðài rồi, đợi cho Bát Quái Ðài trả lời khi ấy ở trong đó ánh sáng tủa ra, Bần Ðạo cúi đầu niệm thế cho cả thảy.

Đẹp xinh cảnh vật đòi ngàn,

Hào quang chiếu diệu khai đàng thăng Thiên.

(Kinh Tận Độ).

Hào quang chiếu diệu Cao Đài,

May duyên nay đã gặp ngày siêu sanh.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

CHIẾU DỤ

詔 諭

Chiếu: Văn bản của vua hay Thượng Đế ban xuống cho dân. Dụ: Lời truyền của vua cho bề tôi hay dân chúng.

Chiếu dụ là chiếu chỉ hay lời huấn dụ của vua hay Đức Chí Tôn ban xuống cho dân hoặc chúng sanh biết.

Tuy quyền Thầy chí Thánh mà rằng,

Không hạ thế, xác thân đâu chiếu dụ.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

 

 

CHIẾU ĐẤT MÀN TRỜI

Chiếu đất: Lấy đất làm chiếu ngủ. Màn Trời: Lấy trời là mùng hay màn.

Chiếu đất màn trời là tả cảnh sống ăn ngủ ngoài trời, lấy đất làm chiếu lấy trời làm màn, không nhà không cửa.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Trước cảnh máu xương chồng chất gây nên bởi chiến cuộc, trước cảnh chiếu đất màn trời, của mấy trăm nạn nhân bão lụt miền Trung đang vất vả khóc than, vì đói rách cơ hàn, chúng ta những người đã xả thân cầu đạo, có vui sướng gì mà hỉ hạ chơi Xuân, hoang phí đồng tiền để làm khách phong lưu trong buổi trà dư tửu hậu.

Bầu nước đai cơm nằm chiếu đất,

Co tay làm gối đắp màn trời.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

CHIẾU GIÁM

 

1. CHIẾU GIÁM 照 監

Chiếu: Soi sáng, tức hướng luồng ánh sáng phát ra đến một nơi nào đó. Giám: Xem xét.

Chiếu giám là soi rọi và xem xét.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Bát Nương Diêu Trì Cung có câu: Song lằn Âm quang ấy có giới hạn, nghĩa là nơi nào ánh linh quang của Chí Tôn chưa chiếu giám đến thì phải còn tối tăm mịt mờ, chẳng sanh chẳng hoá.

Tưởng nghĩa đồng môn xin chiếu giám,

Niệm tình cố hữu ứng phò trì.

(Thơ Thái Đến Thanh).

Thành nguyện Chí Tôn ân chiếu giám,

Một ngày ngục thất ngoại ngàn thu.

(Thơ Thái Bộ Thanh).

 

2. CHIẾU GIÁM 照 鑑

Chiếu: Soi sáng, tức hướng luồng ánh sáng phát ra đến một nơi nào đó. Giám: Tấm gương.

Chiếu giám là một tấm gương sáng, được đặt trong một cái đài, gọi là “Chiếu giám đài 照 鑑 臺”, hoặc “Minh cảnh đài 明 鏡 臺”, dùng để soi rọi các Chơn hồn khi thác xuống thấy đặng những hành vi thiện ác trong kiếp sống nơi cõi thế gian.

Trong Thiêng Liêng Hằng Sống, Đức Hộ Pháp nói về Minh Cảnh Đài như sau: “Trước mặt chúng ta, chúng ta thấy khi trước chúng ta làm những việc gì, nay nó sẽ chiếu lại cho xem chẳng khác gì mình xem tuồng hát bóng vậy. Mỗi khi mình hành động gì trong kiếp sanh khi xưa, hôm nay đều ngó thấy trước mặt, và cây cân công bình ấy tuỳ theo nên hư, tội phước mà hiện tượng ra hết thảy, quyết đoán một cách công bình, không sai chút nào hết. Phải chăng đó là huyền bí của Toà Thiêng Liêng ấy”.

Đài Chiếu giám cảnh minh nhẹ bước,

Xem rõ ràng tội phước căn sinh.

(Kinh Tận Độ).

 

 

CHIẾU Y

照 依

Chiếu: Dựa theo, căn cứ. Y: Theo.

Chiếu y là căn cứ theo.

Trong đạo Cao Đài, từ “Chiếu y” thường được dùng đặt ở phần đầu của một Thánh Lịnh, Đạo Lịnh, hay Đạo Nghị Định.

Trong Đạo Nghị Định Thứ Bảy có câu: Chiếu y Ðạo Nghị Ðịnh số ba và số bốn ban quyền hành cho Hội Thánh Cửu Trùng Ðài Nam Nữ lưỡng phái.

Vậy phải chiếu y Bạch Ngọc Kinh, chư Thánh lập họ mình.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CHIẾU MINH

照 明

Chiếu: Soi tỏ. Minh: Sáng, rõ ràng.

Chiếu minh là rọi sáng, soi tỏ, tức chiếu sáng những chỗ tối tăm, hoặc soi tỏ nơi lòng ám muội.

Tuy là Trời Đất rộng thinh,

Mắt dường sao nháy chiếu minh lòng người.

(Kinh Sám Hối).

Lòng thành một tấm Trời soi xét,

Gương rạng nghìn thu nguyệt chiếu minh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

CHIẾU NHŨ LỊNH

照 乳 令

Chiếu: Căn cứ theo. Nhũ: Vú, chỉ người đàn bà, Đức Mẹ. Lịnh (Lệnh): Mệnh lệnh.

Chiếu Nhũ lịnh là căn cứ theo lịnh của Mẹ, tức là theo mệnh lịnh của Đức Phật Mẫu.

Chiếu nhũ lịnh Từ Huyên thọ sắc,

Độ anh nhi nam, bắc, đông, tây.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

 

 

CHIỀU

1.- Chiều chỉ khoảng thời gian từ sau buổi trưa đến trước trời tối. Như: Trời chiều, bữa cơm chiều, mưa chiều.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có đoạn: Ðạo Trời soi gương rạng, khá biết tỉnh mộng hồn, kiếp sanh chẳng bao lâu, đừng đợi đến ngày cùng tận. Nơi trường thi công quả, nên cân lấy phước phần, chẳng sớm trau thân, rừng chiều ác xế.

Chiều thu nhắc ủ ê cảnh hạn,

Nhấp nhô xem cánh nhạn về non.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Những áo quần rán sắm nhiều nhiều,

Giữ tinh sạch mơi chiều thay đổi.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Chiều còn có nghĩa là làm theo hoặc đồng ý cho làm theo ý thích để được vừa lòng.

Thánh giáo Lý Giáo Tông có câu: Lão cũng hết lòng chiều theo tánh từ bi của Ðức Thượng Ðế, bằng chẳng thì Lão xuống tay bôi xoá hết trường công quả Ðại Ðạo, thì chúng sanh hết trông mong, mà kẻ chác tội lỗi cũng khó bề lấy sức phàm phu để gây nên rối rắm nữa.

Trăm cay ngàn đắng cũng chiều,

Quý thân quân tử, dám liều với thân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Phải chiều tánh trí con lanh lẹ,

Hay tối tăm giải lẽ cho vừa.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Chiều là phía, bề, hướng đi trên một đường, hướng quay chung quanh một điểm.

Như: Chiều bên phải, chiều gió, thuyền xuôi theo chiều gió.

Trương buồm hạnh đức xuôi chiều gió,

Ðưa khách phồn hoa lánh nẻo phiền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Buông khơi đợi lúc đường xa lướt,

Núp gió theo chiều nẻo tắt do.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

CHIỀU CHUỘNG

Chiều: Làm theo ý muốn người khác. Chuộng: Thường quý và thích hơn những cái khác.

Chiều chuộng là hết sức chiều để làm vừa lòng vì yêu, hay vì coi trọng.

Thánh giáo Đức Thái Thượng Đạo Tổ có câu: Võ Tắc Thiên hoang dâm thái thậm, Tuỳ Dương Ðế lỗi đạo muôn phần, khi Sở Hạng bạo ngược vô biên, Tần Thuỷ Hoàng hôn quân cực điểm, nhưng than ôi! máy Thiên cơ buổi nọ, nếu phải chiều chuộng một ít vị công thần bị khép vào vòng những kẻ đã chịu sở bức, thì phải thay đổi, bôi xoá sự nghiệp non sông của những chúa tể ngu muội ấy chăng?

Ví được lang quân chiều chuộng lắm,

Chữ tòng khuyên gắng chớ bê tha.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

CHIỀU HÔM

Chiều: Khoảng thời gian từ sau trưa đến trước tối. Hôm: Thời gian buổi tối.

Chiều hôm là chỉ lúc mặt trời sắp lặn, khuất dưới rặng cây, ngọn núi.

Như: Nắng quái chiều hôm.

Đờn nhắn khách năm cung nhặt trỗi,

Vẹt mây đen gió thổi chiều hôm.

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 

CHIỀU LÒN

Chiều: Làm theo ý muốn người khác. Lòn: Khúm núm, xu phụ người.

Chiều lòn là chiều chuộng, lòn cúi, hạ mình cho vừa lòng người khác.

Ca dao có câu: Phải chi nhan sắc em còn, Anh lăn vô đó chiều lòn cũng ưng.

Tầm sư học Ðạo bao nhiêu khổ,

Nhưng cũng chiều lòn mới trứ danh.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Cảnh chùa Gò kén thon von,

Tạm nơi cửa Phật chiều lòn người ta.

(Thơ NĐS Hương Thanh).

Vòng nô lệ, phải chiều lòn,

Càng nghĩ thẹn thuồng với nước non.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

CHIỀU LUỴ

Chiều: Theo ý muốn người khác. Luỵ: Nhẫn nhục chiều theo ý người, vì mình cần đến người.

Chiều luỵ, như chữ “Chiều lòn”, là nhẫn nhục lòn cúi, hạ mình cho vừa lòng với người khác.

Chiều lụy đòi phen xem quá tục,

Nghĩ không đổ lụy phải cười khan.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tập biết khôn chiều lụy nhà chồng,

Tập cho hiểu đạo tùng là đạo cả.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHIM

Chim là loài vật có lông, có cánh bay được. Như: Chim sa cá lặn, bóng chim tăm cá.

Thánh giáo Thầy có dạy: Chim về cội, nước tách nguồn, từ xưa kiếp con người giữa thế chẳng qua là khách đi đường. Phận sự muốn cho hoàn toàn cần phải có bền chí và khổ tâm. Có bền chí mới đạt phẩm vị thanh cao, có khổ tâm mới rõ tuồng đời ấm lạnh.

Chiu chít như chim cơn khuất bóng,

Mới vui rồi tới chịu đeo sầu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cội Bắc chim về chiều ngả bóng,

Non Nam ác lố ánh tan sương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cung trương chim đỡ thế nào đang,

Mất phước ôn nhu ấy mất nhàn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

CHIM CẤY VOI CÀY

Chim cấy: Chim phụ Thuấn cấy lúa. Voi cày: Voi giúp cày ruộng.

Chim cấy voi cày nói việc Ngu Thuấn bị cha và mẹ ghẻ bắt ông đi cày cấy một mình ở núi Lịch Sơn có nhiều thú dữ để hại ông.

Nhưng nhờ lòng hiếu thảo, nên Trời khiến voi đến cày, chim đến nhặt cỏ.

Xem: Lịch Sơn.

Trời xui chim cấy voi cày,

Lòng thương cha mẹ đêm ngày vái van.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

CHIM CHÓC

Chim: Loài vật có lông, có cánh bay.

Chim chóc là tiếng nói chung về các loài chim. Như: Chim chóc bay vô rừng.

Dưới ánh nắng chói chang nóng bức,

Trên tàn cây chim chóc lặng im.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

CHIM HỒNG VỖ CÁNH

Chim hồng: Ngỗng trời, một giống chim như con ngỗng bay cao và xa. Vỗ cánh: Đập cánh để bay.

Chim hồng vỗ cánh là chim hồng bay cao, ý chỉ người có chí cao xa.

Xem: Hồng hộc chí.

Thoả tình cá lý tung mình vọt,

Thích chí chim hồng vỗ cánh bay.

(Thơ Hoài Dương).

 

 

CHIM HƯỚNG VỀ NON

Chim: Loài vật có lông, có cánh bay được. Hướng về non: Quay lại phía núi.

Sáng chim từ núi bay đi khắp nơi, đến chiều đàn chim phải hướng về non để tìm tổ ấm.

Chim hướng về non ý nói người tìm về nguồn cội.

Xem: Thuyền quày lại bến.

Thuyền sớm ra khơi quày lại bến,

Chim chiều bạt gió hướng về non.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CHIM KẾT CÁNH

Chim kết cánh ý nói vợ chồng khắng khít, gắn bó không rời nhau.

Do điển tích “Tỵ dực điểu 比 翼 鳥”, tức là một loài chim chỉ có một bên cánh, nên lúc nào con trống và con mái cũng phải kết cánh lại thì mới bay được, gọi là chim kết cánh.

Trong bài Trường Hận Ca của Đỗ Phủ có câu: Tại thiên nguyện tác tỷ dực điểu 在 天 願 作 比 翼 鳥, nghĩa là trên trời nguyện làm chim liền cánh.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Chim kết cánh, cây liền cành; rất đổi là con vật mà cũng có tình ái thay, nên luật thiên nhiên lấy tình ái làm căn bản hoá sanh cả vạn loại.

Chim kết cánh, cây liền cành,

Còn thân thiếp chịu một mình đơn cô.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

CHIM LIỀN CÁNH

Chim: Loài vật có lông, có cánh bay được. Liền cánh: Cánh hai con chim phải kết liền lại với nhau.

Chim liền cánh, như chữ “Chim kết cánh”, ý nói đôi chim bay phải kết cánh liền với nhau. Chỉ tình nghĩa vợ chống gắn bó đời đời.

Xem: Chim kết cánh.

Nguyễn phủ Huỳnh gia tác hợp thành,

Đôi chim liền cánh yến hoà anh.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

CHIM KHÔN ĐẬU CÂY LÀNH

Chim khôn: Chim khôn ngoan, ý chỉ người hiểu thời thế. Đậu cây lành: Tìm đậu nhánh cây tốt.

Chim khôn đậu cây lành, bởi tục ngữ Việt Nam có câu “Chim khôn chọn cây lành mà đậu”, ý nói người thức thời tìm đất lành mà sống.

Chim khôn đậu cây lành còn có nghĩa bóng là tôi hiền tìm chúa Thánh mà thờ.

Chim khôn biết kiếm đậu cây lành,

Người thiện phải ngừa đức háo sanh.

(Đạo Sử).

 

 

CHIM LỒNG

Chim: Động vật có cánh, lông, có thể bay được, đẻ trứng. Lồng: Đồ đan bằng tre, nứa, dùng để nhốt chim gà.

Chim lồng tức chim bị bẫy đem nhốt vào lồng, khó thoát ra được.

Ca dao ta có câu: “Cá cắn câu biết đâu mà gỡ, chim vào lồng biết thuở nào ra”.

Chim lồng dùng để ví thân phận người bị giam giữ, ràng buộc.

Bởi mến mùi thơm thân cá chậu,

Vì ganh tiếng gáy phận chim lồng.

(Thơ Hộ Pháp).

Lợi danh ví thể chim lồng,

Sắc tài như cá giữa vòng mắc câu.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

CHIM VIỆT CÀNH NAM

Chim Việt: Chim ở đất Việt. Cành nam: Cành cây ở hướng nam.

Chim Việt cành nam, bởi câu “Việt điểu sào Nam chi 越 鳥 巢 南 枝”, tức là chim Việt đậu cành nam.

Do tích vua Hùng đem cống con chim bạch trĩ cho nước Tàu, chim này chỉ lựa cây ngô đồng ở hướng nam mà đầu.

Chim Việt cành nam dùng để chỉ việc nhớ quê hương đất nước.

Xem: Chim Việt ngựa Hồ.

Chim Việt ven mây rời đất khách,

Cành Nam cội Đạo đón chân ai.

(Thơ Hoàn Nguyên).

Chim Việt cành Nam như thế đó,

Dù sao áo rách cũng còn lai.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

CHIM XANH

Chim: Động vật có cánh, lông, có thể bay được, đẻ trứng. Xanh: Màu xanh.

Chim xanh, do chữ “Thanh điểu 青 鳥” là chim có lông màu xanh.

Trích từ câu chuyện của Hán Võ Đế ra chơi vườn ngạn uyển, có con chim xanh bay đến. Đông Phương Sóc thấy vậy mới tâu rằng: Đây là sứ giả của bà Tây Vương Mẫu, đến báo tin để đón rước.

Nhà vua liền cho sửa soạn, vừa xong thì quả nhiên có Tây Vương Mẫu đến thật.

Chim xanh dùng để chỉ sứ giả, thông tin hay người mai mối.

Nhiều trai gái duyên hài lỡ dở,

Tại chim xanh dụng mở mối đường.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHÌM

Chìm là đắm xuống dưới mặt nước hoặc dưới mặt chất lỏng. Như: Vàng chìm đáy nước, chiếc đò chìm xuống đáy sông.

Thánh giáo Thầy có câu: Cái hoạ lây vạ tràn kia, nhiều khi phải bôi xoá đến công trình xứng đáng của mỗi con và nhận chìm luôn đến con thuyền Bát Nhã.

Khuôn thuyền Bát Nhã chẳng hề chìm,

Nổi quá như bông, nặng quá kim.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Vàng chìm đáy biển nghĩ khôn tầm,

Biết phận tuỳ thời chốn gửi thân.

(Đạo Sử).

 

 

CHÌM ĐẮM

Chìm: Rơi sâu dưới nước. Đắm: Chìm xuống, nghĩa bóng say mê.

Chìm đắm là chìm sâu dưới nước.

Chìm đắm còn dùng để chỉ sự đam mê.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Than ôi! Ðường Thánh ít kẻ tìm, mà nẻo Tà nhiều người đến. Trò đời lăng xăng, cõi thế biết bao người chìm đắm vào biển khổ, mang nặng xác phàm, miếng đỉnh chung, mồi danh lợi, giành giựt phân chia, mà chẳng kể đạo lý, luân thường, khiến cho mối Ðạo quý báu ngàn năm, đã thành nấc thang để dắt người xuống hang sâu vực thẳm.

Dòng khổ hải hễ thường chìm đắm,

Mùi đau thương đã thấm Chơn linh.

(Kinh Tận Độ).

 

 

CHÌM NỔI

Chìm: Đắm sâu xuống dưới dòng nước. Nổi: Trồi lên trên mặt nước.

Chìm nổi là khi chìm khi nổi, ý nói vận mạng lúc suy lúc thịnh, lúc bĩ lúc thới.

Như: Cuộc đời chìm bị bao phen chìm nổi.

Vòng trần chìm nổi từ đây dứt,

Công quả tua bền độ chúng sinh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Bước đời chìm nổi bấy nhiêu niên,

Tâm chí ghe phen dập lửa phiền.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

CHÌM XUỒNG

Chìm: Đắm xuống dưới nước. Xuồng: Thuyền nhỏ không có mui.

Chìm xuồng là xuồng bị đắm chìm, dùng để chỉ:

- Việc thất bại lớn, hay sự phá sản. Như: Đi buôn chuyến này mà không thắng thì kể như chìm xuồng luôn, khó mà vực lại được.

- Sự cố ý bỏ qua, không đề cập tới, vì không muốn xét xử, hoặc không muốn để lộ ra ngoài.

Như: Vụ án bị xử chìm xuồng.

Tình chồng vợ ra mòi lảng xẹt,

Muôn sự chi hễ mét xử chìm xuồng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHÍN

1.- Chín là một số đếm, đứng trên số tám, dưới số mười. Như: Chín bệ, chín khúc, chín suối, chín chữ cù lao.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Thầy dạy Ngài Thượng Trung Nhựt có câu: Từ đây, con phải may riêng bộ áo lễ tay rộng, cổ trịch như áo đạo, nhưng dải gài chín mối, màu xanh da trời. Con nhớ mang giày gai đặng hầu Thầy, còn nhứt nhứt đều để chơn không hết.

Lộc nước gắng đền công chín tháng,

Nợ nhà tua vẹn gánh hai vai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chín Trời mười Phật cũng là Ta,

Truyền Ðạo chia ra nhánh nhóc ba.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Chín là quả, hạt các loại cây ở vào giai đoạn đầy đủ nhất, có thể ăn được.

Như: Vườn cam chín đỏ, lúa chín đầy đồng, mẹ già như chuối chín cây.

Tây Vương Mẫu vườn Đào ướm chín,

Chén trường sanh có lịnh ngự ban,

(Kinh Tận Độ).

 

 

CHÍN BỆ

Chín: Số đếm, trên số tám và dưới số mười. Bệ: Chỗ cao để thờ hoặc để vua ngồi.

Chín bệ, bởi chữ “Cửu bệ 九 陛” hay “Cửu trùng 九 重”, là chín cấp đến ngai vua ngự.

Như vậy, chín bệ là nơi vua ngồi được xây trong chín lần cửa thâm nghiêm, và ngự trên chín bậc thềm cao.

Chín bệ dùng để chỉ vua hay ngôi vua.

Còn chi hai chữ thái bình,

Ngửa nghiêng chín bệ, gập ghình ba châu.

(Ngụ Đời).

Nên thiền khi trước lập công danh,

Chín bệ xem qua chẳng trí quân.

(Đạo Sử).

 

 

CHÍN CÔ

Chín: Số đếm, trên số tám và dưới số mười. Cô: Tiếng thông thường gọi các người đàn bà.

Chín cô, bởi chữ “Cửu Nương 九 娘”, ý chỉ Cửu Vị Tiên Nương hay Cửu Vị Nữ Phật nơi Diêu Trì Cung.

Xem: Cửu Vị Tiên Nương.

Chín cô đã sẵn lòng thương,

Mê tân độ chúng bưồm trương thoát vòng.

(Tán Tụng Công Đức).

 

 

CHÍN CHỮ

Chín: Số đếm, trên số tám và dưới số mười. Chữ: Ký hiệu viết ra để biểu thị tiếng nói.

Chín chữ, do “Cửu tự 九 字” là chín chữ, nói công lao khó nhọc của cha mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng con cái.

Chín chữ tức là chín công việc khổ nhọc mà cha mẹ, đó là:

 

1.- Sinh: Đẻ con.

 

2.- Cúc: Nâng đỡ.

 

3.- Phủ: Vuốt ve.

 

4.- Xúc: Cho bú.

 

5.- Trưởng: Nuôi cho lớn.

 

6.- Dục: Dạy dỗ.

 

7.- Cố: Trông nôm.

 

8.- Phục: Săn sóc dạy dỗ.

 

9.- Phúc: Che đỡ.

Xem: Chín chữ cù lao.

Tủi bóng ngàn thu mơ bóng mẹ,

Đau lòng chín chữ quặn lòng tôi.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

CHÍN CHỮ CÙ LAO

Chín chữ: Chỉ công lao khó nhọc của cha mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng con cái. Cù lao: Vất vả, khó nhọc.

Chín chữ cù lao, bởi chữ “Cửu tự cù lao 九 字 劬 勞” là chín điều khổ nhọc của cha mẹ.

Xem: Chín chữ.

Kinh Thi có câu: Phụ hề sinh ngã, mẫu hề cúc ngã, ai ai phụ mẫu, sinh ngã cù lao dục báo thâm ân, hạo thiên võng cực 父 兮 生 我, 母 兮 鞠 我, 哀 哀 父 母, 生 我 劬 勞. 欲 報 深 恩, 昊 天 罔 網 極, nghĩa là cha sinh ta, mẹ nuôi ta, thương thay cha mẹ, công sinh ra ta khó nhọc dường nào! muốn báo ân sâu, trời cao chẳng dứt.

Hỏi ai có biết hiếu ra sao?

Chín chữ cù lao giá thế nào?

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

CHÍN ĐƯỢC MƯỜI THUA

Chín được: Chín phần có thể làm xong. Mười thua: Mười phần khó đạt.

Chín được mười thua là công việc làm chỉ đạt được chín phần, còn thua mười phần, ý muốn nói việc cầu may.

Chín được mười thua còn có nghĩa công việc thường bị thất bại.

Ba chìm bảy nổi, câu thành ngữ,

Chín được mười thua, chuyện tối thường.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CHÍN KHÚC

Chín: Số đếm, trên số tám và dưới số mười. Khúc: Lóng, đoạn.

Chín khúc, dịch nghĩa từ chữ “Cửu hồi trường 九 回 腸”, tức là chín khúc ruột, dùng để chỉ sự ưu tư, khổ sở khiến lòng quặn đau, như thắt thành nhiều khúc ruột.

Tư Mã Thiên có câu: Trường nhất nhật nhi cửu hồi 腸 一 日 而 九 回, nghĩa là một ngày lòng đau quặn chín khúc ruột.

Truân chuyên đã bấy nhiêu lần,

Nỗi oan chín khúc ruột dần chạnh đau.

(Đạo Sử).

Nỗi nhớ băn khoăn lòng chín khúc,

Tình thương chồng chập núi bao tầng.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

CHÍN LỚP

Chín: Số đếm, trên số tám và dưới số mười. Lớp: Tầng, bực, đợt, hồi.

Chín lớp, như chữ “Cửu Trùng 九 重”, là chín tầng, có nghĩa là chín từng Trời, hoặc Cửu Trùng Thiên.

Xem: Chín tầng.

Dưới chín lớp liên thần đưa bước,

Trên hồng quang phủ phước tiêu diêu.

(Kinh Tận Độ).

 

 

CHÍN PHẨM TOÀ SEN

Chín phẩm: Chín bực phẩm. Toà sen: Chỉ ngôi vị ở cõi Phật.

Chín phẩm toà sen, do chữ “Cửu phẩm liên hoa 九 品 蓮 花”, là chín phẩm bậc nơi cõi Phật, tức ngôi vị ở cõi Cực Lạc Thế Giới.

Theo Tịnh Độ Tông, chúng sanh ở cõi Tịnh độ này được hoá sanh từ hoa sen có chín bậc cao thấp khác nhau, chia làm ba cấp: Thượng, trung, hạ và mỗi cấp lại chia làm thượng, trung, hạ nữa, nên gọi là “Chín phẩm Toà sen”.

Xem: Toà sen chín phẩm.

Thơm tho là Chín phẩm Toà sen,

Sao đặng về sau núp dưới bèn.

(Thơ Bảo Pháp).

 

 

CHÍN PHẨM THẦN TIÊN

Chín phẩm: Chín bậc phẩm, chín phẩm cấp. Thần Tiên: Chỉ chung các Đấng từ Thần, Thánh, Tiên, Phật.

Chín phẩm Thần Tiên, bởi chữ “Cửu phẩm Thần Tiên”, là chín bậc phẩm từ Thần đến Tiên, trong đó gồm ba bậc Thần, ba bậc Thánh, và ba bậc Tiên được kể như sau: Địa Thần, Nhơn Thần, Thiên Thần, Địa Thánh, Nhơn Thánh, Thiên Thánh, Địa Tiên, Nhơn Tiên, Thiên Tiên.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Đức Chí Tôn dạy Hộ Pháp Phạm Công Tắc có câu: Thầy đã nói trước, Tắc, con ôi! Nếu kẻ nào khác hơn con, dầu đứng chín phẩm Thần Tiên, Thầy cũng cho bị đọa, còn con thì Thầy quá thương.

Xem: Cửu phẩm Thần Tiên.

Chín phẩm Thần Tiên nể mặt ta,

Thích Ca dầu trọng khó giao hoà.

Lấy chơn đem giả tô thiên vị,

Thắng bại, phàm tâm liệu thế à?

(Trích Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

CHÍN SUỐI

Chín: Số đếm, trên số tám và dưới số mười. Suối: Dòng nước tự nhiên ở miền đồi núi, chảy thường xuyên.

Chín suối là chín ngọn suối ở dưới Âm phủ.

Chín suối, do chữ “Cửu tuyền 九 泉” là chín ngọn suối vàng ở dưới mặt đất, dùng để chỉ chỗ ở của người chết, hay Âm phủ.

Chín suối còn được gọi là “Suối vàng” hay “Hoàng tuyền 黃 泉”.

Xem: Cửu tuyền.

Làm vinh nghĩ chẳng thẹn non sông,

Chín suối ông cha nhẫng tủi thầm.

(Đạo Sử).

 

 

CHÍN TẦNG

1.- Chín tầng (từng), bởi chữ “Cửu trùng 九 重” là chín tầng cửa thâm nghiêm hay chín bậc thềm cao vọi, chỉ thiên tử hoặc chỗ vua ngự.

Trong Chinh Phụ Ngâm Khúc, Bà Đoàn Thị Điểm có câu: Chín tầng gươm báu trao tay, Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh.

Ngày nay Đệ tử khẩn nguyền,

Chín tầng Trời, Đất thông truyền chứng tri.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

2.- Chín tầng, như chữ “Chín từng Trời”, do chữ “Cửu Trùng Thiên 九 重 天” là chỉ chín cõi Trời.

Xem: Cửu Trùng Thiên.

Đã quá chín từng Trời đến vị,

Thần đặng an, Tinh, Khí cũng an.

(Kinh Tận Độ).

Tâm thành con động chín từng Trời,

Chớ trách Thầy xưa chẳng để lời.

(Đạo Sử).

 

 

CHÍN TRỜI MƯỜI PHẬT

Chín Trời: Chỉ chín từng Trời, tức Cửu Trùng Thiên, còn dùng để chỉ các Đấng trong Cửu Thiên Khai hoá. Mười Phật: Chỉ chư Phật ở từng Trời thứ 10, tức là cõi Cực Lạc Thế Giới, vì cõi nầy ở từng trời thứ 10.

Chín Trời mười Phật là chỉ các Đấng Tiên Phật trong Cửu Thiên Khai hoá và chư Phật ở Cực Lạc Thế Giới.

Chín Trời mười Phật cũng là Ta,

Truyền Ðạo chia ra nhánh nhóc ba.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

CHÍN TRÙNG

Chín: Số đếm, trên số tám và dưới số mười. Trùng: Tầng, lớp.

1.- Chín trùng, từ chữ “Cửu trùng 九 重” để chỉ chín tầng cửa thâm nghiêm nơi vua ngự hay chín bậc thềm cao vọi chỗ ngôi vua.

Chín trùng có nghĩa là thiên tử hoặc chỉ nơi vua ngự.

Quân khép nép đợi ngày cờ kiệu,

Trên chín trùng chiếu triệu lai kinh.

(Phù Kiều Hận Sử).

2.- Chín trùng: Trong đạo Cao Đài, “Chín trùng”, như chữ “Cửu Trùng Thiên 九 重 天” có nghĩa là chín tầng trời, dùng để chỉ cõi Thiên.

Lã chã đôi hàng luỵ ngọc,

Chín trùng trở lại Tiên đô.

(Tuý Sơn Vân Mộng).

Buồn câu gương vở, mừng siêu thoát,

Nương phướn Tiêu diêu vượt chín trùng.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

CHỈN

Chỉn có nghĩa là vốn, vẫn, chỉ. Như: Chỉn e đường xá xa xôi, chỉn e tai vách mạch rừng.

Đức Lý Giáo Tông trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Bần đạo chỉn để lời cho các đạo hữu rõ đặng lưu tâm mà hành sự, chớ con đường tuy chớn chở, triền núi vẫn khó qua, song ngọn đèn Trời đã chiếu tỏ mà dìu dắt các đạo hữu, thì nhiều ít gì rồi sau cũng đến chốn được.

Dưỡng nuôi lao khổ đắng cay,

Lửa hương chỉn ước có ngày nối xa.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Tách trần tính lại đã là đâu,

Thế giới vân du chỉn một bầu.

(Quyền Giáo Tông Giáng).

Chỉn cầu con gắng chí cho bền,

Lập danh phận cho thê vinh tử ấm.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

CHỈN CÓ

Chỉn: Vốn, vẫn, chỉ. Có: Nói về cái gì đã hiển hiện ra hay thuộc về của ai, trái với không.

Chỉn có là vốn có, chỉ có.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Các con phải nhớ rằng, toàn Thế giới Càn khôn chỉn có hai quyền: Trên là quyền hành Chí Tôn của Thầy, dưới là quyền hành của sanh chúng.

Thầy chỉn có lòng mơ ước cho các con biết yêu thương trong Thánh đức của Thầy.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

CHINH

1 Chinh là chênh, nghiêng so với vị trí bình thường, chỗ cao chỗ thấp.

Như: Bàn để chinh một bên, cột nhà bị chinh về phía nhà dưới, chinh nghiêng.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Trong làng có điều gì chinh tâm với nhau thì ông chủ của làng xử trước, nếu bất đồng đem nội vụ ra nhà việc, hễ lỗi nhỏ thì nạp tiền câu tra, tội lớn thì căng nọc đánh giữa dân làng, không đến nỗi chết mà hễ bị đánh rồi thì về nhà còn có nước trốn đi nơi khác, hoặc đóng cửa đi đâu đi lén lút khổ não lắm vì bị gièm pha nhạo báng xấu hổ chịu không nổi.

Xuân hé đã hay cơn ác lố,

Ðông tàn khá biết lúc Trời chinh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Rừng thung bóng nhựt đã hầu chinh,

Tỏ rạng gần nơi bước vẹn gìn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Chinh là đem quân đi đánh giặc, đánh dẹp.

Như: Chinh chiến, chinh y, chinh phục, đem quân đi chinh phạt, kẻ chinh phu ngoài tiền tuyến.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ðến thế kỷ 19, Ðạo Thánh Giáo Gia Tô đem đến nước ta truyền giáo mới thành một trường nhiệt liệt đua tranh quyết chinh phục hết thảy các Tôn Giáo khác.

Ven mây cánh nhạn xa mờ mịt,

Khoác mảnh chinh y khách dập dìu.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

CHINH CHIẾN

征 戰

Chinh: Đem quân đi đánh giặc, đánh dẹp. Chiến: Đánh nhau bằng quân lính, khí giới.

Chinh chiến là đánh giặc.

Theo Mạnh Tử, chinh giả, thượng phạt hạ dã 征 者, 上 伐 下 也, nghĩa là chinh là nước lớn đem quân đánh phạt nước nhỏ, tức là nước nhỏ có tội, nước lớn đem quân đến đánh để trị tội.

Chinh chiến đi đánh giặc để trừng phạt nước có tội. Hiện nay, chinh chiến có nghĩa là giặc giả.

Trong Đường thi có câu: Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi 古 來 征 戰 幾 人 回, nghĩa là xưa nay đi chinh chiến mấy ai trở về.

Công chinh chiến nay lần tỏ rạng,

Đuốc từ bi rọi sáng tâm hồn.

(Kinh Cúng Chiến Sĩ).

Chinh chiến bao năm khổ quá chừng,

Thanh bình mong mỏi một mùa xuân!

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

CHINH CHUYÊN

Chinh: Như chữ “chênh”, là nghiêng. Chuyên: Chở.

Chinh chuyên là chở nghiêng, ý nói chở nặng nề. Như: Cái phận phàm nhơn chịu lắm nỗi chinh chuyên.

Chinh chuyên thay, phậ