TỪ NGỮ ĐIỂN CỐ CAO ĐÀI

 

 

Danh mục vần D

 

DA

Da

Da diết

Da mồi

Da mồi tóc bạc

Da non

 

Dà Lam

 

Dã dượi

Dã hạc

Dã man

Dã nhơn

Dã tâm

Dã tràng

 

DẠ

Dạ

Dạ đài

Dạ hội

Dạ yến

Dạ lang

Dạ sắt

Dạ sắt son

Dạ xoa

 

DAI

Dai dẳng

 

DÀI

Dài

Dài dòng

 

DẢI

Dải

Dải đồng tâm

 

DÃI

Dãi dầu

Dãi nắng dầm sương

 

DẠI

Dại

Dại dột

Dại khờ

Dại ngây

 

DAY

Day

Day trở

 

DÀY

Dày

Dày công

 

DẠY

Dạy

Dạy bảo

Dạy biểu

Dạy chồng nên Đạo

Dạy dỗ

Dạy khuyên

Dạy răn

 

DÁM

Dám

 

DAN

Dan díu

 

DÁN

Dán

 

DÀN

Dàn Bắc

Dàn Nam

 

DẠN

Dạn

Dạn dĩ

 

DANG

Dang

 

DÁNG

Dáng liễu

 

DẠNG

Dạng

Dạng hình

 

DANH

Danh

Danh bia

Danh cương lợi toả

Danh dự

Danh giá

Danh lợi

Danh phận

Danh tạc

Danh tiết

Danh tánh

Danh thắng

Danh thần

Danh thể

Danh vọng

Danh vọng hao mòn thân thể

 

DÀNH

Dành

Dành dụm

 

DÁO

Dáo dác

 

DÀO

Dào dạt

 

DẶM

Dặm

Dặm hồng

Dặm liễu

Dặm ngàn

Dặm tuyết

Dặm trường

 

DẰN

Dằn

Dằn lòng

Dằn thúc

 

DẶN

Dặn

Dặn dò

 

DẮT

Dắt

Dắt dìu

 

DẶT

Dặt dè

 

DÂY

Dây

Dây lèo

Dây Lịnh sắc

Dây loan

Dây oan nghiệt

Dây Thần Thông

 

DẤY

Dấy

Dấy loạn

 

DẪY

Dẫy

Dẫy đầy

Dẫy tràn

Dẫy xe trâu

 

DẬY

Dậy

 

DÂM

Dâm loàn

Dâm phong

Dâm phụ

 

DẦM

Dầm

Dầm dề

Dầm mưa dan nắng

Dầm mưa dãi gió

 

DÂN

Dân

Dân chúng

Dân đen

Dân ý

Dân khí

Dân quyền

Dân sanh

Dân sinh

Dân tình

Dân tộc

Dân thứ

Dân vi quý

 

DẤN

Dấn thân

 

DẦN

Dần

Dần dà

Dần lân

 

DẪN

Dẫn

Dẫn dắt

Dẫn đạo

Dẫn độ

Dẫn đường

Dẫn giải

Dẫn lối

Dẫn thuỷ nhập điền

Dẫn truyền

 

DÂNG

Dâng

Dâng dép

Dâng Sớ

Dâng Tam Bửu

 

DẤP

Dấp dính

 

DẬP

Dập

Dập dìu

Dập dồn

Dập liễu vùi hoa

 

DẬT

Dật dờ

 

DÂU

Dâu

Dâu bể

Dâu con

Dâu hiền rể thảo

 

DẤU

Dấu

Dấu vết

 

DẦU

Dầu

Dầu dãi

Dầu sống sót cũng đành gọi thác

Dầu thơm

 

Dè chừng

Dè dặt

 

DÈO

Dèo

 

DÉP

Dép

Dép cỏ

 

DẸP

Dẹp

 

 

DẾ

Dế

 

DỂ

Dể

Dể duôi

Dể khinh

Dể ngươi

 

DỄ

Dễ

Dễ dàng

 

DỆT

Dệt

Dệt gấm hồi văn tức

Dệt gấm thấu bệ rồng

Dệt gấm thêu hoa

Dệt gấm thùa hoa

Dệt văn Tô Huệ

 

DI

Di

Di ảnh

Di Đà Phật

Di hài

Di Lạc Chơn Kinh

Di Lạc Vương

Di ngôn

Di phong dịch tục

Di Tề

Di truyền

 

Dì gió

 

DỈ

Dỉ hơi

 

Dĩ chí

Dĩ định

Dĩ đức phục nhân

Dĩ hoà vi tiên

Dĩ Lữ diệt Dinh

Dĩ Mã diệt Ngưu

Dĩ vãng

 

DỊ

Dị chủng

Dị điểu

Dị đoan

Dị hình

Dị hợm

Dị nghị

Dị quốc

Dị tục

Dị thảo kỳ hoa

Dị thường

 

DỊCH

Dịch

Dịch sử

 

DIỆC

Diệc

 

DIÊM

Diêm cung

Diêm chúa

Diêm đình

Diêm phù

Diêm vương

 

DIỀM

Diềm

Diềm dà

 

DIỄM

Diễm kiều

Diễm phúc

Diễm phước

Diễm Tử

 

DIÊN

Diên trì

 

DIỄN

Diễn

Diễn đàn

Diễn văn

 

DIỆN

Diện bích

 

DIỆT

Diệt

Diệt chủng

Diệt dục

Diệt hình

Diệt hoá

Diệt khổ

Diệt mị

Diệt phàm

Diệt tà

Diệt tàn

Diệt tận

Diệt tận phàm tâm

Diệt tiêu

Diệt tục xủ phàm

Diệt thác

Diệt trần tình

Diệt trừ

Diệt vong

 

DIÊU

Diêu động

Diêu Trì

Diêu Trì Cung

Diêu Trì Cửu Nương

Diêu Trì Hội Yến

Diêu Trì Kim Mẫu

 

DIỀU

Diều

Diều đứt dây

 

DIỆU

Diệu

Diệu diệu Huỳnh Kim Khuyết

Diệu dược

Diệu hoá

Diệu huyền

Diệu lý

Diệu quang

Diệu pháp

Diệu thâm

Diệu Thiện

Diệu viễn

Diệu võ dương oai

 

DINH

Dinh đảo

Dinh hoàn

Dinh hư

Dinh hư tiêu trưởng

 

DÍNH

Dính

Dính cứng

Dính líu

 

DỊP

Dịp

Dịp may

 

DÌU

Dìu

Dìu bước

Dìu dắt

Dìu dẫn

Dìu đỡ

Dìu đời

Dìu đường

 

DỊU

Dịu

Dịu dàng

Dịu ngọt

 

DO

Do Thái

 

Dò đon

Dò xét

 

DỌ

Dọ

Dọ dẫm

Dọ thám

 

DOANH

Doanh du

 

DỌC

Dọc

Dọc đường

Dọc ngang

 

DOI

Doi

 

DỌI

Dọi

 

DÒM

Dòm

Dòm hành

Dòm ngó

 

DỌN

Dọn

Dọn dẹp

 

DÒNG

Dòng

Dòng bích

Dòng giống

Dòng giống Lạc Hồng

Dòng Lạc

Dòng Ngân

Dòng Tương

 

DỖ

Dỗ

Dỗ dành

 

DỐC

Dốc

 

DỐI

Dối

Dối cậy in kinh

Dối kết

Dối lừa

Dối người dối Trời

Dối tu cúng chùa

Dối trá

 

DỒI

Dồi dào

Dồi mài

 

DỘI

Dội

 

DỒN

Dồn

Dồn dập

 

DÔNG

Dông

Dông tố

 

DỐT

Dốt

Dốt nát

 

Dơ dáy

 

DỞ

Dở

Dở dang

 

DỜI

Dời

Dời đổi

Dời non đổi biển

 

DỢM

Dợm

 

DỢN

Dợn

 

DU

Du

Du côn

Du đãng

Du đạo

Du hành

Du hý du thực

Du học

Du khách

Du ngoạn

Du Sách

Du tiên

 

Dù lọng

 

DỤ

Dụ

Dụ dỗ

Dụ dự

 

DUA

Dua nịnh

 

DỤC

Dục

Dục lạc

Dục lòng

Dục lợi

Dục quyền cầu lợi

Dục tài

Dục tâm

Dục tình

Dục vọng

 

DÙI

Dùi

Dùi đục

 

DUY

Duy nhứt

Duy tâm

Duy tân

Duy trì

Duy vật

 

DUYÊN

Duyên

Duyên bèo nước

Duyên bình thuỷ

Duyên cá nước

Duyên cang lệ

Duyên cầm sắt

Duyên cớ

Duyên Đằng

Duyên hài

Duyên Hồ Hán

Duyên kỳ ngộ

Duyên kiếp

Duyên kim cải

Duyên phần

Duyên phận

Duyên Tần Tấn

Duyên tình

Duyên trước

 

DÙN

Dùn

Dùn thẳng

 

DUNG

Dung

Dung mạo

Dung nghi

Dung nhan

 

DŨNG

Dũng

Dũng chí

 

DỤNG

Dụng

Dụng mưu

Dụng nhơn chẳng khác dụng cây

Dụng nhơn như dụng mộc

Dụng quyền hơn dụng đức

 

Dư dả

Dư đồ

Dư luận

Dư ngôn

 

DỮ

Dữ

Dữ dằn

Dữ đoạ hiền thăng

Dữ lành

Dữ răn hiền thưởng

Dữ tận hiền thăng

Dữ tợn

 

DỰ

Dự

Dự phòng

 

DƯA

Dưa

Dưa muối

 

DỪA

Dừa

 

DỰA

Dựa

Dựa cột

Dựa kề

Dựa lòng từ bi

Dựa nương

Dựa thân cội tử

 

DỪNG

Dừng

 

DỰNG

Dựng

Dựng đứng cột đồng

Dựng giềng

Dựng nước

Dựng nghiệp

 

DƯỚI

Dưới

Dưới Bộc trong dâu

 

DƯƠNG

Dương

Dương bờ

Dương cảnh

Dương Chấn

Dương Châu

Dương chi

Dương danh

Dương gian

Dương Hương

Dương pháp

Dương quang

Dương tụng từ ân

Dương thế

Dương thạnh

Dương trần

 

DƯỜNG

Dường

Dường bao

 

DƯỠNG

Dưỡng

Dưỡng chí thanh nhàn

Dưỡng dục

Dưỡng khí

Dưỡng Lão

Dưỡng nuôi

Dưỡng nghi

Dưỡng nhi bất giáo

Dưỡng sanh

Dưỡng tánh

Dưỡng tánh tu tâm

 

DƯỢT

Dượt

 

DỨT

Dứt

Dứt bỏ

Dứt hơi ba tấc

Dứt tuyệt

 

 

 

 

 

 

 

 

D

 

DA

Da là lớp màng bọc bên ngoài thịt. Như: Da bọc xương, nồi da xáo thịt, da mồi tóc bạc.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Người ta dám giết lẫn nhau vì số tiền một vài trăm đồng hoặc tạo cảnh nồi da xáo thịt vì bát cơm manh áo.

Lợi lộc công danh đã thấy chi,

Ðày thân tóc quắn với da chì.

(Đạo Sử).

Ngồi hang thương kẻ mang da chó,

Ngự điện ghét quân đội lốt lừa.

(Đạo Sử).

 

 

DA DIẾT

Da diết là chỉ cái tình cảm thấm thía và day dứt không nguôi.

Như: Ngồi một mình với nỗi buồn da diết, trong lòng bỗng nhớ da diết.

Một điểm thiếu mà ai chẳng tiếc,

Của non sông da diết lắm buồn vui.

(Thái Bạch Giáng Bút).

 

 

DA MỒI

Da: Lớp màng bọc ngoài thịt của người và vật. Mồi: Đồi mồi, loại rùa lớn ở bể, mai có hình lốm đốm.

Da mồi tức là da trổ đồi mồi. Ý nói những người lớn tuổi da trên thân thể bắt đầu ửng hiện ra những điểm thâm tựa như da con đồi mồi.

Da mồi chỉ người sắp già như câu thành ngữ “Tóc bạc da mồi”.

Chẳng còn yểu điệu hình mai,

Da mồi tóc đã ướm thay nửa vàng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Thương bạc tóc hỡi còn thương dại,

Thương da mồi còn phải thương ngu.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

DA MỒI TÓC BẠC

Da mồi: Da đã trổ lốm đốm như da đồi mồi. Tóc bạc: Tóc đã điểm bạc.

Da mồi tóc bạc, như câu thành ngữ “Tóc bạc da mồi”, dùng để chỉ người đã bước qua tuổi già, đầu bạc và da trổ đồi mồi.

Như: Tuổi trẻ không lo tu đến lúc da mồi tóc bạc thì than ôi quá muộn màng.

Trên Huyền Mẫu da mồi tóc bạc,

Thụ cửu tuần quy hạc ngày cao.

(Thơ NĐS Hương Thanh).

 

 

DA NON

Da: Lớp mô bọc ngoài cơ thể người và động vật. Non: Ở giai đoạn mới mọc, mới sinh ra, chưa phát triển đầy đủ.

Da non là da bé sơ sinh, hoặc da mỏng mới mọc lại trên vết thương, hay mụn nhọt khi sắp lành.

Như: Làm nhẹ tay thôi kẻo đau da non của Bé, mụt ghẻ đã kéo da non.

Tắm và lau thì dụng bông gòn,

Trẻ mới đẻ da non đừng động mạnh.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

là tên một loài cây có vỏ màu nâu đỏ, dùng để nhuộm vải, sợi hay để xảm thuyền.

Dà còn dùng để chỉ màu nâu đỏ.

Như: Áo dà, nhuộm màu dà, áo dài màu củ khăn vuông sắc dà.

Tu không biểu mặc đồ ,

Cạo râu thí phát bỏ nhà lìa con.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Nước non để bước ta bà,

Sô xiêm đem nhuộm màu gọi duyên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

DÀ LAM

伽 藍

Dà Lam, còn viết “Già Lam”, là phiên âm từ tiếng Phạn: Asharam nghĩa là khu vườn ngoạn cảnh, hay chỉ Tịnh xá. Từ gọi chung chỉ chùa chiền, trung tâm tu học, thiền định.

Ngoài ra, Dà Lam còn dùng để chỉ ngôi vị Phật, gọi là Phật Dà Lam, có nhiệm vụ dìu dắt các Chơn linh đắc đạo đến cõi Cực Lạc Thế Giới.

Nói về Quan Thánh Đế Quân đắc quả vị Phật, Đức Hộ Pháp thuyết đạo tại Đền Thánh ngày 23-7-1938 nói như sau: “Ngài giữ trọn Tam cang: Trung, Nghĩa, Chánh trực công bình. Đến buổi Ngài quy vị thì đặng hiển Thánh, nhờ Phổ Tịnh Thiền Sư đến khai linh nên đặng phi thăng yết kiến Thượng Đế mới đắc hàng phẩm Phật Dà Lam”.

Dà Lam dẫn nẻo Tây Quy,

Kim chung mở lối kịp kỳ kỵ sen.

(Kinh Tận Độ).

Ao Thất Bửu gội mình sạch tục,

Ngôi liên đài quả phúc Dà Lam.

(Kinh Tận Độ).

 

 

1.- Dã là làm giảm, làm mất tác dụng của chất, thường là có hại, đã hấp thu vào trong cơ thể.

Như: Uống chanh đường để dã rượu, ăn đậu xanh dã độc, thuốc đắng dã tật.

Biết tật sợ chi thuốc đắng,

Muốn siêu phàm phải gắng công phu.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

2.- Dã là đồng quê, đồng nội, hoang dại.

Như: Dã hạc, dã thú, dã nhân, người ác độc dã man, cảnh thành thị thôn dã.

Đau nhìn thôn thương ai đó,

Nghèo đói thân không áo ngự hàn.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

DÃ DƯỢI

Dã dượi, đồng nghĩa với chữ “Rã rượi”, là bải hoải tay chân do mệt mỏi, hay do buồn bã khiến toàn thân rã rời như muốn rũ xuống.

Trong Giác Mê Khải Ngộ, Lý Giáo Tông có câu: Thuốc trần tục, người lâm phàm thêm mẩn mê dã dượi, Nay phép Tiên đã rưới, kíp mau định hồn lại, mà thoát ra khỏi lưới trần.

Sầu dã dượi lòng ta tuổi lớn,

Lớn nhỏ khuyên lo Ðạo khá cầu.

(Đạo Sử).

Liễu dựa bến lá cành dã dượi,

Hỏi buồn chi nên phải xơ rơ.

(Ngũ Nương Giáng Bút).

 

 

DÃ HẠC

野 鶴

Dã: Đồng quê, hoang dại. Hạc: Chim hạc.

Dã hạc là chim hạc đồng.

Hạc là một loài chim ở đồng nội, thích bay phóng túng, không chịu nhốt lồng, nên người ta còn gọi là hạc đồng, hay hạc nội.

Dã hạc dùng để ví với những người thích tự do, ở ẩn, không chịu ra làm quan.

Dã hạc còn là một cuốn sách dạy bói toán, gọi là “Quẻ dã hạc”.

Lung kê hữu mễ thang oa cận,

Dã hạc vô lương Thiên Ðịa khoan.

(Lý Bạch Giáng Bút).

 

 

DÃ MAN

野 蠻

Dã: Đồng quê, hoang dại. Man: Mọi, rợ.

Dã man là mọi rợ, dùng để chỉ những hạng người hung dữ, chưa được khai hoá.

Dã man còn là tiếng dùng để mắng nhiếc.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Một phần đồng bào chúng ta, lớp bị tàn sát dã man, không phương trốn lánh, lớp bị bốc lột sản nghiệp, của tiền, chỉ còn mảnh áo che thân, may mắn lắm mới vượt qua khỏi tay của lũ bạo tàn trở về cố quốc.

Dầu khôn, mẹ cũng cho ngu,

Tài chi trong kiếp tội tù dã man.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

DÃ NHƠN

Hay “Dã nhân”.

Dã: Đồng quê, hoang dại. Nhơn (nhân): Người.

Dã nhơn, như chữ “Dã nhân 野 人”, là người chưa khai hoá, người chất phác.

Dã nhân còn dùng để chỉ một loài tinh tinh (lười ươi), thuộc giống khỉ.

Bần Đạo có thuyết khi trái địa cầu này đã thoát qua, chính mình Đức Di Lạc Vương Phật thời kỳ này cầm quyền Càn Khôn Võ Trụ chỉ là một “dã nhơn” mà thôi.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

DÃ TÂM

野 心

Dã: Quê mùa, hoang dại. Tâm: Lòng, dạ.

Dã tâm là tâm chưa thuần, còn phóng túng không kềm thúc được.

Sau nầy người ta dùng chữ “Dã tâm” với nghĩa là lòng ham muốn lớn lao, không chịu an phận.

Hiện nay, chữ “Dã tâm” còn có nghĩa là lòng dạ xấu xa, hiểm độc, mưu việc lợi mình mà hại người khác.

Vui chánh nghĩa vui hoài không thẹn,

Vui bạo hành là kẻ dã tâm.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

DÃ TRÀNG

Dã tràng là loại giáp xác nhỏ sống ở bãi biển, thường đào lỗ dưới cát và xe cát thành những viên tròn ở chỗ nước triều lên xuống.

Ca Dao Việt Nam có câu: Dã tràng xe cát biển đông, Nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì.

Nghĩa bóng: Nhọc công mà chẳng kết quả.

Xem: Công dã tràng.

Dã tràng ai dễ xét công đâu,

Bãi biển thường xe cát lấp đầu.

(Thơ Bồng Dinh).

Mơ hồn hồ điệp đêm trăng lạnh,

Thương cái dã tràng bãi cát xây.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

DẠ

1.- Dạ là tiếng dùng để đáp lại lời gọi, hoặc để mở đầu câu nói một cách lễ phép.

Như: Gọi thì dạ, dạ thưa bác, mẹ cháu đã đi vắng.

Cửa công huyện mãn nha còn,

Dạ thưa lưỡi mỏi, cúi lòn lưng cong.

(Ngụ Đời).

2.- Dạ chỉ cái bụng, nơi chứa đồ ăn thức uống, hoặc nơi mang thai bào.

Như: No dạ, thắt dạ, bụng mang dạ chửa, bụng làm dạ chịu.

Ai đời thắt dạ mà lường,

Bưởi bòng bụng gái vẫn thường giống nhau.

(Nư Trung Tùng Phận).

3.- Dạ là bụng con người, biểu tượng của khả năng nhận thức và ghi nhớ. Như: Sáng dạ, để dạ, tạc dạ, khắc dạ, ghi vào trong dạ.

Thánh giáo Lý Giáo Tông có đoạn dạy: Từ đây, Lão hằng gìn giữ chư hiền hữu hơn nữa. Nếu Lão ép lòng cầm quyền thưởng phạt phân minh là có ý muốn giá trị của chư hiền hữu thêm cao trọng nữa. Vậy Lão xin đừng để dạ phiền hà nghe!

Chánh tà con đủ thấy con đường,

Biết ý rằng Thầy để dạ thương.

(Đạo Sử).

Cân đường tội phước đắp nên nhân,

Chớ lấy giữ riêng để dạ hờn.

(Đạo Sử).

4.- Dạ là bụng của con người, coi là biểu tượng của tâm lý, tình cảm. Như: Lòng lang dạ thú, thay lòng đổi dạ.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy để lời mừng các môn đệ nơi đây có dạ kính thành và lo phận sự mà dìu dắt sanh linh bước vào nẻo chánh.

Một Trời một Ðất một nhà riêng,

Dạy dỗ nhơn sanh đặng dạ hiền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nhơn nghĩa gắng gìn dạ sắt son,

Thờ cha kính mẹ hiếu lo tròn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

5.- Dạ là ban đêm, không dùng một mình.

Như: Dạ đài (chỉ cõi âm), dạ đề (chứng trẻ khóc đêm), dạ minh sa (phân dơi).

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Thầy rút ra trong Tam Tự Kinh, Thầy chỉ rõ rằng: Không phải học thức để đặng làm nhà triết học, mà cốt yếu học thức đặng phục vụ cho Tổ quốc và giống nòi “Khuyển thủ dạ, kê tư thần, tàm thổ tư, phong nhưỡng mật, nhơn bất học bất như vật”.

Xem: Dạ đài.

Tình thâm một gánh còn dương thế,

Oan nặng ngàn thu xuống Dạ đài.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

DẠ ĐÀI

夜 臺

Dạ: Ban đêm. Đài: Đền đài.

Dạ đài có nghĩa (Nghĩa đen) là chỗ ở ban đêm, chỉ mộ phần, cõi Âm phủ. Nghĩa bóng: Chỉ Âm phủ.

Thơ Lý Bạch có câu: Dạ đài vô hiểu nhật, Cô tử dữ hà nhân? 夜 臺 無 曉 日 沽 酒 與 何 人? Nghĩa là: Dạ đài không ánh sáng, Mua rượu uống cùng ai?

Chốn Dạ đài Thập Điện Từ Vương,

Thấy hình khổ lòng thương thảm thiết.

(Kinh Tận Độ).

Vói nhắn khách Dạ đài có tưởng,

Vậy bóng hình để tướng nơi nao?

(Kinh Thế Đạo).

 

 

DẠ HỘI

夜 會

Dạ: Ban đêm. Hội: Nhóm họp.

Dạ hội là cuộc vui lớn tổ chức vào buổi tối.

Dạ hội thường là những cuộc nhóm họp vui vẻ, có tổ chức ca nhạc, khiêu vũ, yến tiệc...

Thiếp gởi bốn phương mời dạ hội,

Đêm mời tám hướng thắp hoa đăng.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

DẠ YẾN

夜 宴

Dạ: Ban đêm. Yến: Tiệc rượu.

Dạ yến là tiệc rượu tổ chức vào ban đêm. Như: Nhân đêm Noel, nhà anh ấy có tổ chức dạ yến.

Bên ly, dạ yến trăm màu,

Bên ngai, phút chút lạc vào Bồng lai.

(Phù Kiều Hận Sử).

 

 

DẠ LANG

Dạ: Lòng dạ, biểu tượng cho tâm lý, tình cảm của con người. Lang: Con chó sói, chỉ sự hung hiểm.

Dạ lang, như chữ “Lòng lang”, là lòng dạ như loài chó sói, chỉ lòng dạ độc hiểm.

Đồng nghĩa với câu thành ngữ: Lòng lang dạ sói.

Xem: Lòng lang.

Chớ hiểm độc dạ lang lần lựa,

Nhơn thất mùa bế dựa gắt gao.

(Kinh Sám Hối).

 

 

DẠ SẮT

Dạ: Lòng dạ, biểu tượng cho tâm lý, tình cảm của con người. Sắt: Một loại kim khí cứng và bền.

Dạ sắt, như thành ngữ “Lòng son dạ sắt”, là nói lòng trung thành, kiên trinh, trước sau như một.

Cho bền dạ sắt với lòng son,

Thiên Ðịa dầu qua Ðạo vẫn còn.

(Đạo Sử).

 

 

DẠ SẮT SON

Dạ: Lòng dạ, biểu tượng cho tâm lý, tình cảm của con người. Sắt son: Thủy chung không bao giờ thay đổi, không bao giờ phai nhạt.

Dạ sắt son là nói lòng chung thủy, kiên trinh, không thay đổi, không phai nhạt.

Như: Chồng đi chinh chiến vợ ở nhà giữ dạ sắt son.

Nhơn nghĩa gắng gìn dạ sắt son,

Thờ cha kính mẹ hiếu lo tròn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chia chồng vì dạ sắt son,

Nhịn chồng bởi chút sắp con cái nhà.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

DẠ XOA

夜 叉

Tiếng Pali: Yakkha.

- Loài Thần (Thần dạ xoa) có sức mạnh khác thường.

- Một loại quỷ có hình thù cổ quái ở cõi Âm phủ để Diêm Vương sai khiến đi bắt và hành phạt các tội hồn.

Còn là một loài quỷ hay phá phách người tu hành bằng cách gây tiếng động ồn ào trong lúc họ thiền.

Theo Kinh Duy Ma, quỷ Dạ xoa, còn gọi là Dược xoa, dịch nghĩa là Tiệp tật quỷ (quỷ nhanh nhẹn). Có ba loại: Một ở mặt đất, hai ở hư không, ba là thiên dạ xoa.

Cột trói ngược quá kinh rất lạ,

Quỷ Dạ xoa đánh vả kẹp cưa.

(Kinh Sám Hối).

 

 

DAI DẲNG

Dai: Bền, lâu, khó bị hủy hoại, khó dứt.

Dai dẳng là kéo dài mãi không chịu chấm dứt, gây cảm giác khó chịu.

Như: Bệnh dai dẳng kéo dài cả tháng nay, đợt rét dai dẳng suốt mươi ngày liền.

Cơn bịnh nặng bao nhiêu thuốc đắng,

Vóc hình teo dai dẳng bơ phờ.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

DÀI

1.- Dài là có khoảng cách từ đầu nầy đến cuối đầu kia theo chiều có kích thước lớn nhất, trái với ngắn.

Như: Đường dài, đo theo chiều dài.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: Hành trình dài đăng đẳng, mà bước tục hãy còn chờ, chẳng sớm biết mình, hoạ Trời đâu tránh khỏi.

Ðường dài vó ngựa tua bền sức,

Sức yếu lòng người khéo để gương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tân toan khổ hạnh phải trau giồi,

Bước tới đường dài chớ trở lui.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Dài là nói về thời gian trải qua lâu. Như: Đời dài, ngày dài đêm vắn.

Trong Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Suốt một niên khoá học dài đăng đẳng, Ban Giám Ðốc và Chư Giáo viên đã cố gắng làm phận sự, đã lắm nhọc nhằn để dìu dắt, giáohoá đoàn trẻ thơ học sinh, toàn là những con em trong cửa Ðạo.

Canh dài mưa gió chị thăm anh,

Từ cõi Hư vô khởi lộ trình.

(Thơ Hoàn Nguyên).

Những chuyện thăng trầm dài một kiếp,

Mấy lời giáo huấn nặng hai vai.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

DÀI DÒNG

Dài: Chiều từ bên nầy đo qua cuối bên kia. Dòng: Đường nước chảy, hoặc chỉ một nhánh, ở chung một gốc mà ra.

Dài dòng ý chỉ nhiều lời, nhiều ý một cách rườm rà, vô ích. Như: Dài dòng văn tự.

Dài dòng còn có nghĩa là nối dài dòng họ cho con cháu về sau.

Cháu con sum hội yên thân lão,

Sung túc dài dòng dõi họ Cao.

(Đạo Sử).

Nỗi lo cả giống dài dòng,

Nỗi thân chữ hiếu, nỗi chồng chữ duyên.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

DẢI

1.- Dải là vật có hình dài và hẹp khổ, bằng hàng dệt, thường dùng để buộc, thắt.

Như: Dải áo, dải mủ, dải thắt lưng, dải đồng tâm.

Đã cùng gánh chung tình hoà ái,

Tua đúc cơm, sửa dải làm duyên.

(Kinh Thế Đạo).

Phong ba dầu được dìu qua khỏi,

Nhớ bởi chung nhau kết dải đồng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Dải, còn gọi “Thẻ”, là một dây bằng vải hay bằng lụa mỏng có bề ngang nhỏ và dài, dùng để gắn sau áo Đại phục của Chức sắc đạo Cao Đài, tuỳ theo phẩm cấp thường có một dải, ba dải hay chín dải.

Trong “Lời Phê của Đức Hộ Pháp” có giải thích dải (thẻ) như sau: Chỉ “Dải sau lưng” là Chí Tôn muốn định phận mình là Tam Thừa.

- Phó Trị Sự hành quyền về Hạ thừa chớ chưa vào Thánh Thể nên mang Một Thẻ nơi lưng.

- Còn Phối Sư là bậc Thượng Thừa nên có Ba Thẻ. Trung Thừa Chí Tôn không cần định để cho mỗi người cố gắng lập vị mình mau chóng tới bậc Thượng Thừa.

- Nếu qua khỏi ba thẻ lên Chín (thẻ) tức là vào hàng phẩm Cửu Thiên Khai Hóa. Cách nhau có một mức Phối Sư với Chánh Phối Sư mà xa nhau một Trời một vực. Hễ đủ tài đức cầm quyền Đạo có quyền Vạn Linh và quyền Chí Tôn ủy nhiệm ân-tứ quyền hành thì là vào ngay Cửu Thiên Khai Hóa qua khỏi Tam Thừa.

Chánh Phối Sư thì áo chín dải, còn Phối Sư ba dải.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

DẢI ĐỒNG TÂM

Hay “Dải đồng”.

Dải: vật có hình dài và hẹp khổ, bằng hàng dệt, thường dùng để buộc, thắt. Đồng: Cùng nhau. Tâm: Lòng.

Dải đồng tâm, hay “Dải đồng”, là một dải lụa trong thời nhà Tuỳ, được kết lại thành nút để biểu hiện sự thương yêu khắng khít giữa bạn bè và vợ chồng.

Theo Tuỳ Thư: Tuỳ Dượng Đế sai lấy lụa ngũ sắc kết thành nút gọi là đồng tâm kết (tức dải đồng tâm) để ban cho các vị quý phi trong cung để tỏ lòng yêu thương khắng khít.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Tôi cầu xin trong cửa Đạo, chúng ta thắt chặt dải đồng tâm càng ngày càng khắng khít, xoá bỏ những hờn giận nhỏ nhen, nên coi Đại nghiệp của Đạo là quý trọng...

1.- Dải đồng tâm:

Một dải đồng tâm bao thuở nối,

Nửa chừng xuân gãy tủi thân ai.

(Đạo Sử).

Giọt lệ thiếp vì phiền mà chảy,

Gẫm thương người chia dải đồng tâm.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Nhấn ngón dường khêu lời hải thệ,

Búng dây như thúc dải đồng tâm.

(Thơ Mỹ Ngọc).

2.- Dải đồng:

Phong ba dầu được dìu qua khỏi,

Nhớ bởi chung nhau kết dải đồng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nào khi ước giữ niềm son sắt,

Nào thề non nắm chặt dải đồng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Dải đồng kết chặt qua vùng khổ,

Buồm hạnh trương cao kết sóng to.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

DÃI DẦU

Dãi: Phơi. Dầu: Dan chịu.

Dãi dầu là phơi bày ra để chịu mưa nắng.

Thánh giáo Thầy có câu: Có vì chúng sanh mà khổ tâm hành đạo, có khó nhọc, có dãi dầu sương mơi nắng xế, mà quên bậc phẩm vô vị ở cõi trần nầy, có vày vã nẻo gai chông lần theo bước đường hạnh đức, mới có ngày vui vẻ bất tận...

Dầu cho mưa nắng dãi dầu,

Thân con phú có trăng thu soi giùm.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Dầu cho gió kép mưa đơn,

Khuyên em gắng chịu trong cơn dãi dầu.

(Bát Nương Giáng Bút).

Mưa nắng bao nhiêu cuộc dãi dầu,

Thân bèo chẳng khứng dựa vào đâu.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

DÃI NẮNG DẦM SƯƠNG

Dãi nắng: Phơi lâu ngoài nắng. Dầm sương: Hứng chịu mù sương.

Dãi nắng dầm sương chỉ sự chịu đựng vất vả ngày đêm ngoài trời nhiều sương nắng.

Như: Người nông dân phải chịu dãi nắng dầm sương mới tạo ra sản phẩm được.

Thương xót đàn dân chịu đoạn trường,

Lắm cơn dãi nắng với dầm sương.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

DẠI

1.- Dại là khờ, không đủ khả năng suy xét để ứng phó với hoàn cảnh hay tránh những hành động và thái độ không nên. Như: Con dại cái mang, khôn nhà dại chợ.

Thánh giáo Thầy có dạy: Ôi! Thầy đã lắm nhọc nhằn vì bầy con dại, muốn ra tay tế độ, vớt trọn cả chúng sanh thoát vòng khổ hải, nhưng chúng nó nhiễm luyến đã đầy mùi trần thế, tâm chí chẳng vững bền, thấy khó đã ngã lòng, mới đạp chông toan trở bước.

Biết phận già không chờ chống gậy,

Nương theo con dại mới ra vầy.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nhỏ dại Thầy nuôi mùi Ðạo hạnh,

Lớn khôn bây xứng mặt hiền lương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nhiều đứa dại muốn sang đủ thứ,

Chẳng kể cha bạc cữ tiền ngày.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Dại là ngây, điên, tức mắc bệnh tâm thần, bị rối loạn thần kinh. Như: Điên dại, ngây dại, giận quá hoá dại.

Thánh giáo Thầy dạy về sự tác hại của rượu có câu: Vậy thì óc là nguồn cội của Khí, mà óc cũng bị huyết vận động vô chừng làm cho đến đỗi loạn tán đi, thì chơn thần thế nào đặng an tịnh điều khiển, thân thể phải ra ngây dại, trở lại chất thú hình, mất phẩm nhơn loại rồi, còn mong chi đặng phẩm Thần, Thánh, Tiên, Phật.

Ghen ngây dại hết phân trái phải,

Tánh ngổ ngang trở lại cũng như xưa.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Dại là nói loài động vật hay thực vật không được thuần dưỡng, nuôi trồng mà sinh trưởng tự do trong môi trường thiên nhiên.

Như: Giống bò dại chưa được thuần hoá, bờ ruộng mọc đầy cỏ dại.

Cỏ dại quê hương dần xẻn nhổ,

Hoa thơm dân tộc gắng vun bồi.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

DẠI DỘT

Dại: Khờ, ngu, trái với khôn.

Dại dột là tỏ ra khờ dại, thiếu sự khôn ngoan.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Có một phương thế hay ho hơn hết mới có thể bảo vệ ta khỏi lạc lầm, phận sự ta đối đãi cùng đoàn em có một phương pháp duy nhứt là chỉ thương yêu mà thôi. Dầu cho sự thương yêu ấy có ra vẻ dại dột, ngu khờ nhục nhã thế nào đi nữa chúng ta cũng chỉ biết thương yêu mà thôi...

Hễ thân mình thiểu khí loạn thần,

Thọ khí bẩm nhâm thần con dại dột.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

DẠI KHỜ

Dại: Ngu, không khôn. Khờ: Kém về trí khôn, không đủ khả năng duy xét.

Dại khờ, như chữ “Khờ dại”, là nói người kém về trí khôn, Không đủ khả năng suy xét để ứng phó với hoàn cảnh, để biết việc cần làm hay không nên làm.

Như: Con bé còn dại khờ lắm, chưa biết thế nào là việc lành đâu là việc nguy hiểm.

Làm như dốt nát dại khờ,

Ðừng cho kẻ thế ngờ rằng mình tu!

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

DẠI NGÂY

Dại: Khờ, trái với khôn. Ngây: Thơ dại, đờ đẫn.

Dại ngây, như chữ “Ngây dại” là ngây ngô khờ dại. Dại ngây còn có nghĩa điên dại, không biết gì.

Xem: Ngây dại.

Hình nầy phạt kẻ dại ngây,

Khinh khi Tam giáo đoạ đày thế ni.

(Kinh Sám Hối).

Làm người như dại như ngây,

Không phân Nam Bắc Đông Tây đàng nào.

(Nguyễn Trung Trực Giáng).

 

 

DAY

Day là xoay về hướng khác.

Như: Ngồi day mặt vào trong nhà, nằm day đầu ra ngoài sân, day lưng lại.

Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy Ngài Thái Thơ Thanh có câu: Con phải xây cái tháp của Thượng Phẩm phía trước cây ba nhánh, phải day về hướng đông, giống như ngó vào điện mà hầu Thầy vậy, song ba từng phải lợp ngói như nóc chùa của các Ðường nhơn vậy, nghe!

Day mặt Hồng Quân ngó địa hoàn,

Rưới chan vạn vật khối sinh quang.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cam day hướng Bắc xét cho cùng,

Thấy lửa lẫy lừng trận khói un.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

DAY TRỞ

Day: Xây, xích một ít. Trở: Làm đảo ngược, đầu thành đuôi, trên thành dưới.

Day trở là xoay, lật qua lại. Day trở còn có nghĩa là xoay xở, thu xếp vụ việc.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Ðặng một việc chi chớ vội mừng, thất một việc chi chớ vội buồn, vì sự mừng vui và buồn tủi thường pha lẫn kế cận nhau. Còn sự gì phải đến cho con, ấy là tại nó phải vậy. Chớ cượng cầu mà nghịch Thánh ý Thầy. Hãy xem dò theo đây mà day trở trong bước đường đạo.

Con thì đứa đường đời lẩn bẩn,

Con thì hay day trở cơ mầu.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Liệu mà day trở, bước thang xuân,

Một dặm đường qua Đạo một gần.

(Thanh Tâm Tài Nữ).

Chống chèo sẵn cậy trang đồng chí,

Day trở nhờ nương bạn Hiệp Thiên.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

DÀY

1.- Dày là trái với mỏng, nhiều lớp khít.

Như: Vỏ quít dày móng tay nhọn, chiếc va li dày cộm, tường xây rất dày.

2.- Dày là lâu, nhiều, do được tích luỹ liên tục trong quá trình lâu dài.

Như: Dày kinh nghiệm, dày công luyện tập, ơn sâu nghĩa dày.

Thánh giáo Thầy có dạy: Phần nhiều các đạo hữu dày công mà xây đắp nền đạo, nhưng sự ham muốn còn bôn chôn theo tình thế.

Áo cơm no ấm hằng ngày,

Của người châu cấp ơn dày nghĩa sâu.

(Kinh Sám Hối).

 

 

DÀY CÔNG

Dày: Trái với mỏng, lâu, nhiều. Công: Công sức, công phu.

Dày công là bỏ ra nhiều công sức, tức nhiều công phu, hay công nghiệp.

Thánh giáo Đức Lý Thái Bạch có dạy: Phần nhiều các đạo hữu dày công mà xây đắp nền đạo, nhưng sự ham muốn còn bôn chôn theo tình thế.

Tổ Sư Thái Thượng Đức Ông,

Ra tay dẫn độ, dày công giúp đời.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

Làm ra lúa gạo dày công,

Dầm mưa dan nắng kẻ nông nhọc nhằn.

(Kinh Sám Hối).

 

 

DẠY

Dạy là truyền thụ trí thức và kỹ năng, hoặc làm cho biết điều phải trái, biết cách đối xử với người. Như: Dạy học, dạy nghề, dạy đạo lý.

Thánh giáo Thầy có câu: Phải có một Chơn linh tinh tấn mới mầu nhiệm, huyền diệu, phải trường trai mới đặng linh hồn tinh tấn, phải tập tành chí Thánh, Tiên, Phật, mới phò cơ dạy đạo cả chúng sanh.

Dạy trẻ con toan trước dạy mình,

Cái công giáo hoá cũng đồng sinh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Sách dầu muôn cuốn dạy câu lành,

Nào kẻ học cao thế gọi lanh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

DẠY BẢO

Dạy: Làm cho biết điều phải trái, biết cách ứng xử với mọi người. Bảo (biểu): Chỉ dạy cho biết.

Dạy bảo là người trên bảo kẻ dưới.

Dạy bảo còn có nghĩa là bảo cho biết điều hay lẽ phải, cho nên người.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có dạy: Chưa đặng bao lâu mà lời dạy bảo chẳng còn chút nét kính tuân, thế thì sau nầy có ngày phải khuất hết dấu Thánh truyền, thì cách giao tiếp của chư đạo hữu phải ra sao nữa?

Nguyện Ơn Trên cho yên trí não,

Nguyện Phật, Tiên dạy bảo Chơn linh.

(Kinh Thế Đạo).

Thành tâm, Mẹ phải chứng đàn,

Canh khuya dạy bảo con toàn thuỷ chung.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

DẠY BIỂU

Dạy: Làm cho biết điều phải trái, biết cách ứng xử với mọi người. Biểu (bảo): Chỉ dạy cho biết.

Dạy biểu, như chữ “Dạy bảo”, là chỉ bảo cho người dưới biết điều hay lẽ phải.

Như: Những cụ già thường hay dạy biểu con cái.

Xem: Dạy bảo.

Giữ cho thương đừng để giận hờn,

Đặng dễ thế lừa cơ dạy biểu.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

DẠY CHỒNG NÊN ĐẠO

Dạy chồng nên Đạo tức là sửa tánh nết chồng cho nên người đạo đức.

Do tích: Yến Tử làm quan Tể tướng nước Tề, là người nhỏ thó, tuy làm quan to, nhưng tánh tình nho nhã, đúng nề nếp nhà quan, không kiêu căn, gương mặt khiêm hoà; dưới trướng ông có người lính hầu theo cầm lọng, là một quân hầu lại vênh mày vênh mặt, bộ tướng xem nghinh ngang, hách dịch.

Lúc Tể Tướng Yến Anh đi ngang qua nhà chú lính cầm lọng, người vợ chú lính núp sau kẹt cửa thấy chồng vênh váo, hách dịch, nên khi về nhà mới đòi làm tờ ly dị. Người chồng hỏi tại sao? Người vợ nói rằng: “Thiếp núp sau cánh cửa, thấy Ngài Tể Tướng đi ngang, tuy người nhỏ mà gương mặt xem nho nhã, tỏ vẻ hạ mình; còn chàng, phận thì nhỏ, thân hình to lớn mà tánh tình lại nghinh ngang, coi trái mắt quá lẽ, vì thế, thiếp lấy làm xấu hổ không thể ở với chàng nữa”.

Nhờ giải thích của người vợ, chú lính ấy biết cảm hoá, sau sửa mình lập thân trong hàng ngũ quân binh lên đến bực quan tướng.

Ấy vậy, đạo nhơn luân nếu biết giữ chặt, thì vợ có thể làm nên cho chồng, dạy chồng nên đạo được.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

DẠY DỖ

Dạy: Chỉ bảo về việc học hành, giáo hoá, giáo dục. Dỗ: Vỗ về, dỗ dành.

Dạy dỗ là dạy bảo một cách ân cần.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Lý Giáo Tông có câu: Lão chỉ sợ một điều là Lão không phương gần kẻ tà tâm toan dạy dỗ; còn như gần kẻ đạo đức chơn thành thì rất dễ, song chẳng cần ích.

Một Trời một Ðất một nhà riêng,

Dạy dỗ nhơn sanh đặng dạ hiền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Công dạy dỗ muôn ngàn khó nhọc,

Ơn của thầy con học nên người.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

DẠY KHUYÊN

Dạy: Chỉ bảo về việc học hành, giáo hoá, giáo dục. Khuyên: Nói điều phải cho mà theo.

Dạy khuyên là dạy bảo và khuyên răn.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Thầy lấy sự thương yêu vô cùng vô tận mà dạy khuyên các con, nhưng các con nên lo sợ Lý Bạch quyền Nhứt Trấn Oai Nghiêm khiển trách, chừng đó Thầy không lấy lẽ gì mà binh vực được.

Tam Kỳ tự chủ là Trời,

Diệu huyền giáng bút để lời dạy khuyên.

(Lục Nương Giáng Bút).

Nâng niu lúc ẵm khi bồng,

Phụ thân thế phận cho chồng dạy khuyên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

DẠY RĂN

Dạy: Chỉ bảo về việc học hành, giáo hoá, giáo dục. Răn: Dạy bảo để ngăn cản.

Dạy răn là dạy dỗ và răn bảo, tức chỉ những điều sai trái và tác hại của nó để biết mà tránh làm việc xấu.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Bát Nương Diêu Trì Cung có dạy: Ngoài ra, nên hư của Đạo không để tâm nghĩ đến, mấy anh nên liệu phương cứu chữa làm cho sạch vết nhơ của Đạo đã mang do nơi điều bất chánh của đám dưới, mà lỗi nơi người trên chẳng kềm chế dạy răn.

Một nuôi nấng tinh thần tinh khiết,

Hai dạy răn cho biết tội tình.

(Kinh Thế Đạo).

Khi dạy răn đòn bọng chớ sân si,

Hình vua chúa có khi còn phải kém.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

DÁM

1.- Dám là bạo, không sợ, tức có đủ tự tin để làm việc gì, dù biết là khó khăn, nguy hiểm. Như: Dám nghĩ dám làm, không dám phơi bày sự thật.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Kẻ phàm dầu ly hương thuở ấu xuân đi nữa, lòng hằng hoài vọng. Chí Thánh dầu bị đoạ trần, lòng hỡi còn nhớ hoài nơi Tiên cảnh. Nếu chẳng vậy, ai còn dám ưng thuận hạ thế cứu đời?

Ai dám xả thân hành chánh Ðạo?

Ðạo mầu theo dõi hết trần ai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cửa Trời vì có ngày kia mở,

Là đức thế gian ít dám bì.

(Đạo Sử).

2.- Dám còn là tiếng dùng để nói nhún, nói một cách khiêm nhường.

Như: Dám xin, dám hỏi, dám đâu, tôi không dám.

Trăm đắng ngàn cay đành một kiếp,

Công hầu vương bá dám đâu hơn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Dám hỏi giang sơn đây mấy chủ,

Dân nào có miệng chịu làm câm.

(Bát Nương Giáng Bút).

Dám hỏi đại huynh rõ máy trời,

Chừng nào ba lửa cháy ba nơi.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

DAN DÍU

Dan díu là thương yêu, quấn quít với nhau.

Dan díu còn dùng để chỉ có quan hệ yêu đương với nhau, thường là không chính đáng.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Hiếm chi bậc Thánh bị đày vào chốn trần ai khổ nhọc, chìm đắm nơi bến khổ sông mê, dan díu lấy sự say vui mùi thế tục, bước đến cảnh kim mã ngọc đàng mà phủi hết lòng đạo đức, khiến cho ngôi cựu vị phải chịu trôi phủi dòng sông, mà vì đó, thuyền Bát Nhã khó nương cứu vớt đặng.

Nào là thuở âm thầm dan díu,

Vịn bóng trăng đặng níu hoa đào.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

DÁN

Dán là làm cho gắn vào nhau bằng chất kết dính như hồ, keo.

Như: Dán truyền đơn lên tường, tết trung thu dán lồng đèn, keo dán sắt.

Trong Tân Luật, điều 7 phần Thế luật có câu: Tám ngày trước Lễ sính, chủ hôn trai phải dán bố cáo nơi Thánh Thất sở tại cho trong bổn đạo hay, sau khỏi điều trắc trở.

Viết diễn văn đem dán cùng đàng,

Trông có mặt người sang giúp sức.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

DÀN BẮC

Dàn: Sắp ra, bày ra có thứ tự hàng lối nhất định. Bắc: Hướng Bắc.

Dàn Bắc là Dàn nhạc cổ tấu lên những bài thuộc cung Bắc, dùng để đưa tang các chức sắc Thiên phong của đào Cao Đài, từ phẩm Giáo Hữu trở lên Giáo Tông và các hàng phẩm tương đương.

Trong nhạc cổ của Việt Nam có sáu bài thuộc nhạc cung Bắc, đó là: Lưu thuỷ trường, Xuân tình, Phú lục, Bình bán chấn, Tây thi, Cổ bản. Những bản nhạc cổ nầy phóng tác theo Phương Bắc (Trung Hoa), nhưng âm điệu mang sắc thái Việt Nam.

Dàn Bắc thường dùng những nhạc cụ sau đây: Trống cái, Kèn, Thanh la, Chập chả.

Di Linh cữu (Giáo Hữu) vào Báo Ân Từ: 1. Bảng Đại Đạo. 2. Phướn Thượng Phẩm. 3. Dàn Bắc...

(Quan Hôn Tang Lễ)

 

 

DÀN NAM

Dàn: Sắp ra, bày ra có thứ tự hàng lối nhất định. Nam: Hướng Nam.

Dàn Nam là Dàn nhạc cổ trỗi lên những bản nhạc cung Nam, dùng để đưa tang cho chức sắc đạo Cao Đài phẩm Lễ Sanh và các hàng phẩm tương đương.

Trong nhạc cổ của Việt Nam có ba bài thuộc cung Nam, đó là: Nam ai, Nam xuân, Đảo ngũ cung. Những bản nhạc cổ nầy được sản xuất ở miền Nam, Việt Nam, thường có giọng ai, bi, oán.

Dàn Nam thường dùng những thứ nhạc cụ sau đây: Trống cơm, Kèn, Đờn cò, Cặp sanh.

Di Linh cữu (Lế Sanh) vào Khách Đình: 1. Bảng Đại Đạo. 2.- Phướn Thượng Sanh. 3. Dàn Nam...

(Quan Hôn Tang Lễ)

 

 

DẠN

Dạn là mạnh dạn, bạo, không rụt rè, không e ngại.

Điếu văn của Ngài Hiến Đạo, Đại diện cho Hiệp Thiên Đài đọc trước Liên đài Đức Thượng Sanh có câu: Rất may thay! Khi nên Trời cũng chiều người, Ðức Ngài mạnh dạn đứng ra cứu vãn tình thế rối ren, vẹt lối chông gai, đánh tan đám mây mù, chuyển hoạ vi cường, Ðạo mới qua khỏi cơn bỉ cực.

Thấy lỗi mọn chớ nghi chẳng hại,

Thường dạn làm tội lại hằng hà.

(Kinh Sám Hối).

 

 

DẠN DĨ

Dạn: Không sợ, chẳng ngượng, không rụt rè.

Dạn dĩ là tỏ ra dạn, bạo dạn.

Bài Giảng Đạo của Tiếp Pháp Thuyết tại Ðền Thánh đêm 30 rạng mùng 1 tháng 3 năm Nhâm Dần (1962) trong dịp Vía Ðức Cao Thượng Phẩm có câu: Nguyên đêm 10 tháng 7 năm Ất Sửu (1925), tại tư gia của Ðức Cao Thượng Phẩm, các anh em cũng xây bàn như thường lệ, thoạt nhiên có Ðức Chí Tôn đến, nhưng không xưng tên thiệt mà lại mượn chữ A.Ă. làm danh hiệu để xưng hô, có lẽ Ðức Chí Tôn mượn tên ấy để cho ba người dạn dĩ lân la học hỏi.

Người đắm với người càng dạn dĩ,

Sóng xao mặc sóng quyết lần dò.

(Thơ Thái Phong).

 

 

DANG

Dang là tránh, dịch ra đến vị trí khác.

Như: Dang ra chỗ khác cho tôi thấy đường làm việc, chớ bu quanh như vậy sao được.

Rượu vào loạn tánh, mang điều lỗi,

Khuyên hãy dang xa dứt bỏ lần.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

DÁNG LIỄU

Dáng: Những nét đặc trưng của một người, nhìn qua bề ngoài. Liễu: Dương liễu thường được ví như thân hình người phụ nữ.

Dáng liễu dùng để ví dáng thước tha, mềm mại của người đàn bà, con gái đẹp như cành liễu.

Trong cuộc mưu sinh gầy dáng liễu,

Giữa thời kinh tế héo hình mai.

(Thơ Lan Chi).

 

 

DẠNG

Dạng là hình thể trông bên ngoài. Như: Hình dạng, giả dạng, dạng bột, dạng chất lỏng.

Điếu văn của Đức Thượng Sanh đọc trước Liên đài Ngài Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có câu: Hôm nay, văn phòng Tiếp Pháp nơi Hiệp Thiên Ðài còn đó mà người chủ đã ngàn thu biệt dạng.

Hồng nhạn đưa tin trông vắng dạng,

Phụng lầu gác quyển đợi hoà thinh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Phòng tía cất thành hình thổ võ,

Cung loan lập giống dạng Cao Ðài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trường đời tuy vắng hình tri kỷ,

Cửa Thánh còn mơ dạng cố nhân.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

DẠNG HÌNH

Dạng: Hình thể trông từ ngoài. Hình: Dung mạo của người hay vật bày ra ngoài.

Dạng hình, như chữ “Hình dạng”, là hình của một vật làm phân biệt nó với những vật khác loại.

Sự đời thấu rõ dạng hình,

Trá ngôn lánh chước gia đình pháp nghiêm.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Máu mỡ anh em hoà cốt nhục,

Dạng hình cha mẹ giống dung nhan.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

DANH

1.- Danh là tên, tên người. Như: Danh tánh, danh hiệu, ẩn danh, xưng danh, tá danh, Thánh danh.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Buổi Bạch Ngọc Kinh và Lôi Âm Tự lập pháp Tam Kỳ Phổ Ðộ, Quỷ vương đã khởi phá khuấy chơn đạo, đến danh Ta nó còn mượn, duy ngai Ta nó chẳng dám ngồi mà thôi.

Sánh vai Sào Phủ ẩn danh xưa,

Vì nẻo lợi danh cũng đã thừa.

(Đạo Sử).

danh là Đức Cao Đài,

Cầm quyền Quốc Đạo bền dai đời đời.

(Thơ Bảo Pháp).

2.- Danh là có tiếng tăm, được dư luận xã hội biết đến và coi trọng. Như: Nổi danh, ham danh, tốt danh hơn lành áo.

Thánh giáo Thầy có câu: Ðời cũng vậy, mà Ðạo cũng vậy. Hễ chác danh cao quyền lớn, bực quý phẩm Tiên thì phải dày chịu gian nguy, nặng đeo sầu thảm.

Dìu dắt sanh linh lo tế độ,

Thiên niên danh tạc chốn Vân Ðài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Hay cho kẻ sĩ biết tu hành,

Hành ấy thì thân chẳng mến danh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nghèo mà trong sạch danh thơm rạng,

Phúc hậu Trời ban để cháu con.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

DANH BIA

Danh: Tên. Bia: Tấm đá dùng để khắc tên, văn thơ để xưng tụng việc gì hoặc người nào.

Danh bia, do chữ “Bia danh”, đồng nghĩa với chữ “Danh tạc” tức là bia khắc tên họ, chỉ người có tiếng tăm lưu truyền lại hậu thế.

Chẳng phải cần đá tạc danh bia,

Tên tuổi trẻ nước kia còn khép mặt.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

Mẹ khuyên em chị chớ lìa,

Học gương Diệu Thiện danh bia lưu truyền.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

DANH CƯƠNG LỢI TOẢ

名 韁 利 鎖

Danh cương: Tiếng tăm như sợi dây cương trói buộc. Lợi toả: Lợi lộc như cái khoá giam chặt.

Danh cương lợi toả là công danh như sợi dây cương trói buộc, lợi lộc như cái khoá đóng kín, hai thứ ấy (danh lợi) ràng buộc con người mất tự do.

Danh cương lợi toả không màng chuyện,

Tử phược thê thằng mãi vướng chân.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

DANH DỰ

名 譽

Danh: Tên, tiếng tăm. Dự: Khen ngợi, tiếng tốt.

Danh dự là tiếng tốt, tiếng khen.

Danh dự còn có thể hiểu là có tiếng chứ không có chức vị hoặc thực quyền. Như: Chủ tịch danh dự.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có dạy: Cái danh dự của mỗi chức sắc không phải riêng cho cá nhân mình mà là cái danh dự chung của toàn thể chức sắc Hội Thánh.

Nhưng lời khuyên nhủ của anh,

Có đâu danh dự trong ngành tư thương...

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

Tầng Hỗn Nguơn thứ mười toà ngự,

So Cửu Thiên danh dự quá cao.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

DANH GIÁ

名 價

Danh: Tiếng tăm. Giá: Giá trị.

Danh giá dùng để chỉ về tiếng tăm và giá trị của một con người trong xã hội.

Thói thường sự coi trọng của xã hội thường là dựa trên địa vị của con người và biểu hiện bằng những danh dự dành riêng cho.

Gái tiết hạnh giữ tròn danh giá,

Chớ học đòi mèo mả gà đồng.

(Kinh Sám Hối).

Gắng sức tranh tài trong Thánh đức,

Ngàn năm danh giá mới còn ghi.

(Bát Nương Giáng Bút).

Mẹ cha thảm, vợ con phiền,

Nhuốc nhơ danh giá, đảo điên đạo nhà.

(Thơ Bảo Pháp).

 

 

DANH LỢI

名 利

Danh: Tiếng tăm. Lợi: Quyền lợi hay lợi lộc.

Danh lợi tức là công danh mang đến tiếng tăm, lợi lộc và đem lại tiền bạc.

Như: Người tu hành phải gác bỏ danh lợi.

Cuộc danh lợi là phần thưởng quý,

Đấng Hoá Công xét kỹ ban ơn.

(Kinh Sám Hối).

Ðã nhiều danh lợi bước đua tranh,

Nhọc xác lao tâm hỏi có thành?

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

DANH PHẬN

名 分

Danh: Tên gọi. Phận: Số phần phải gánh vác.

Danh phận là danh nghĩa và chức phận, tức phải làm tròn bổn phận để xứng đáng với danh nghĩa.

Thánh giáo Thầy có câu: Ðời thấm thoát, thế gay go, trăm năm thoát qua điều dâu bể, khách trần, hỏi có bao nhiêu kẻ lấy danh phận đem vào cảnh tuyền đài, để nâng mình lên địa vị cao thượng đặng chăng?

Bớt phương giải nạn tinh ma,

Lập nên danh phận cho nhà quỷ tăng.

(Lục Nương Giáng Bút).

Đã đành danh phận còn xa thẳm,

Nhưng đấng mày râu chẳng mảy may.

(Hộ Pháp Giáng Bút).

 

 

DANH TẠC

Danh: Tên họ, tiếng tăm. Tạc: Xoi, đục gỗ đá cho thành hình, ghi sâu.

Danh tạc là tên tuổi được khắc sâu vào bia đá, ý nói được ghi tên vào Sử xanh.

Thuyết Đạo ĐứcThượng Sanh có câu: Họ xem sắc đẹp như cây khô, thị tiền tài như dép rách, đời trong sạch thanh bai từng làm cho kẻ thù nghịch phải khép nép cúi đầu. Vì vậy mà được danh tạc sử xanh, thiên hạ sùng bái.

Dìu dắt sanh linh lo tế độ,

Thiên niên danh tạc chốn Vân Ðài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Gắng chí độ đời danh tạc để,

Tận tâm dìu chúng sử truyền roi.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

DANH TIẾT

名 節

Danh: Tên, tiếng tăm. Tiết: Khí tiết, tiết tháo.

Danh tiết có nghĩa danh dự và khí tiết của con người. Như: Dù chết cũng rán giữ tròn danh tiết.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Chúng ta ngó thấy một vị quan chẳng cần nói cao kỳ cho đến Vương Đế công thần chỉ lấy bực thường theo quan viên có sứ mạng cầm quyền trị dân, có cái sở hướng định chí của họ làm thế nào để lưu lại miệng đời cái danh tiết yếu trọng, danh để cho thiên hạ tôn sùng kính nể...

Thương kẻ giữ chẳng bền danh tiết,

Vì thương nên khó biết trọng mình.

(Thất Nương Giang Bút).

Nỗi lo Đạo cho tròn danh tiết,

Nỗi tề gia cho biết vẹn hằng.

(Bát Nương Giáng Bút).

Giữ mình dầu vẹn tấm tình chung,

Danh tiết nữ lưu ở phụ tùng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

DANH TÁNH

Hay “Danh tính”.

Danh: Tên. Tánh (tánh): Họ.

Danh tánh, như chữ “Danh tính 名 姓”, là tên và họ.

Như: Khi đi Tắm Thánh phải ghi danh tánh đứa trẻ để được cấp giấy Tắm Thánh.

Còn những chiến sĩ đương xông pha nơi chiến địa buổi hôm nay cũng thế ta chỉ biết danh tánh của họ một phần ít còn quên lại là phần nhiều, bởi cớ họ phải bị thân danh mai một.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

DANH THẮNG

名 勝

Danh: Tiếng tăm, có tiếng. Thắng: Chỗ đất đẹp tốt có tiếng tăm, như thắng địa, thắng cảnh.

Danh thắng là nơi thắng cảnh có tiếng.

Thành ngữ Hán Việt có câu: Danh lam thắng cảnh là chỉ ngôi chùa có tiếng, phong cảnh đẹp đẽ.

Sang chơi mới biết là danh thắng,

Mến cảnh thiên nhiên lửng dặm trường.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

DANH THẦN

Danh: Tiếng tăm. Thần: Người bề tôi.

Danh thần là người bề tôi nổi tiếng, tức vị quan trong triều đình có danh vọng.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Ngày xưa người ta tầm hiếu, đến tại nơi thôn lân, huyện, phủ, tỉnh lỵ, để hỏi thăm những gương hiếu thuận. Người ta tìm hiếu tức là tìm hiền, do cái hiếu ấy suy độ ra cái hiền của bậc danh thần triều chánh, mà muốn có hiếu thì cha phải có từ vậy.

Văn là thượng sĩ danh thần,

Võ thì bạt tuỵ siêu quần quân trung.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

DANH THỂ

名 體

Danh: Tiếng tăm. Thể: Thể diện, cái vẻ vang danh dự bề ngoài.

Danh thể là danh dự và thể diện.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Gặp được mối Ðạo mầu, chúng ta rất hữu phước được Ðức Chí Tôn dìu dắt và giáo hoá, chúng ta nên gắng công trau dồi tâm chí hầu nâng cao danh thể Ðạo và thức tỉnh những kẻ sai bước lạc đường.

Một trường vinh hiển buổi sau đây,

Danh thể khá tua trả nghĩa thầy.

(Giáo Tông Giáng Bút).

Chuyện đâu vô tội phải đành câm,

Danh thể thì mang... tại kẻ làm.

(Thơ Thái Phong).

 

 

DANH VỌNG

名 望

Danh: Nổi tiếng. Vọng: Ngưỡng mộ.

Danh vọng là nổi tiếng về tiền bạc, tài năng hay đức độ khiến người đời nhìn vào mà ngưỡng mộ.

Trong bài Thánh giáo Chúa nhựt, ngày 19 tháng 12 năm 1926, Đức Chí Tôn giáng cơ nói về danh vọng bằng Pháp văn được Hội Thánh dịch ra Việt ngữ có câu: Danh vọng thường hay chống lại với đức hạnh. Nó rất ngắn ngủi và thường thành tựu nhờ nơi sự gian trá.

Danh vọng ru hồn quên thổ võ,

Thẹn nòi bộc lại mộ đai cân.

(Đạo Sử).

 

 

DANH VỌNG HAO MÒN THÂN THỂ

Danh vọng: Có danh tiếng và đượng ngưỡng vọng. Hao mòn: Bị giảm sút từng ít một. Thân thể: Thân mình.

Danh vọng và giàu sang là cái mồi khiến cho con người ham mê đeo đuổi, nhưng nó dễ làm cho người ta phải lao tâm tiêu tứ, phải tính toán bằng trăm phương ngàn kế, phải mất ăn mất ngủ để làm việc một cách bán chết bán sống mới tạo ra được, cũng có khi phải dùng cả những thủ đoạn xấu xa, tội lỗi để giành giựt lấy nó.

Ôi! Khi có được nó rồi thì thân xác hao mòn, sức khoẻ suy kiệt. Chính vì vậy, cổ nhân thường cho rằng: Phú quý trường trung dị bạch đầu 富 貴 場 中 易 白 頭, nghĩa là trong trường phú quý đầu dễ bạc.

Lo danh vọng hao mòn thân thể,

Ham làm giàu của để bằng non.

(Kinh Sám Hối).

 

 

DÀNH

Dành là để lại về sau dùng. Như: Dành tiền bạc, dành thóc gạo phòng lúc bão lụt.

Thánh giáo Thầy giáng cơ bằng Pháp văn do Hội Thánh dịch ra Việt ngữ có đoạn: Con tự hy sinh để đem lại cho dân tộc ấy một nền đạo lý chơn chánh. Ðó là công nghiệp dành sẵn cho con. Hãy đọc các Thánh Ngôn của Thầy. Giáo lý của Thầy sẽ là đại đồng.

Gai gốc lần đường công trước gắng,

Thảnh thơi có lúc buổi sau dành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nâu sồng tánh gội dành trăm tuổi,

Chung đỉnh đường qua trót một thì.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

DÀNH DỤM

Dành: Để lại về sau dùng. Dụm: Tụm, chụm, gom lại, tụ lại thành nhóm nhỏ.

Dành dụm là để dành không hoang phí, hay để dành từng ít một và tích góp lại.

Huấn từ Đức Thượng Sanh đọc trong buổi lễ chung niên tại Toà Thánh có câu: Duy có hạng người có ý niệm nông nổi cho rằng ngày Tết thì phải ăn xài phủ phê, mặc dù không dư dả hoặc nghèo túng quanh năm, cũng học đòi theo nhà sẳn của, cũng sắm ăn sắm mặc lòe loẹt bề ngoài. Thành thử phải tiêu phí số tiền nhỏ nhen dành dụm bấy lâu hoặc vay mượn tứ phía để rồi xong ba ngày Tết phải cặm cụi lao nhọc mãn năm mà trả cũng chưa dứt nợ. Ðó là một điều sai lầm đáng thương hại, khổ nỗi cái tệ đoan ấy không biết bao giờ mới tiêu trừ được.

Cái vốn đạo đức mà quý vị cố gắng góp nhặt và dành dụm, ngày sau sẽ giúp quý vị được mãn nguyện, vì quý vị sẽ đạt đến địa vị trọng yếu trong hàng Thánh thể Đức Chí Tôn.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

DÁO DÁC

Dáo dác, như chữ “Nhớn nhác”, là có vẻ sợ hãi, luống cuống nhìn chỗ nầy chỗ khác để tìm lối thoát.

Như: Nó dáo dác nhìn tứ phía để tìm đường thoát, dáo dác như gà con gặp quạ.

Ve dáo dác xa gần rủ bạn,

Nhớ chị em lai láng lòng trông.

(Diêu Trì Kim Mẫu)

 

 

DÀO DẠT

Dào: Dâng lên và tràn đầy.

Dào dạt, như chữ “Dạt dào”, là tràn ngập, tràn đầy, do dâng lên nhiều và liên tục.

Điếu văn của Ngài Đầu Sư Chưởng Quản Cửu Trùng Đài Nam Phái, thay mặt Hội Thánh Cửu Trùng Ðài, đọc trước Liên đài Đức Thượng Sanh có câu: Ðức Ngài triều Thiên hồi 16 giờ 45 ngày 26 tháng 3 Tân Hợi (Dl. 21/4/1971), hưởng thọ 71 tuổi, gieo vào lòng Hội Thánh và toàn Ðạo một nguồn bi thương dào dạt như muôn lượn sóng trùng dương.

1.- Dào dạt:

Tôi toại hưởng phước hồng dào dạt,

Lúa đầy kho tiền bạc đầy rương.

(Thơ Hộ Pháp).

2.- Dạt dào:

Khi tạn mặt dạt dào nôn nóng,

Lúc dừng chân rúng động tâm tư.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

DẶM

1.- Dặm là đơn vị xưa dùng để đo độ dài, thường chỉ quảng đường dài. Như: Cách mấy dặm đường, sai một ly đi một dặm.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Các con trước đã vì Thiên mạng phải bỏ các ngôi cao đặng đem mình vào nơi khổ não, Thầy chỉ đường vẽ bước, dạy từ nét, dẫn từ dặm đường mà đem các con về chốn Cực Lạc xưa, các con chẳng chịu vầy hiệp nhau cho đặng bền, cho thân ái, đặng tiến bước đường, thì Thầy cũng lắm nỗi thương đau mà nắm cân công bình ngó xem một phần trong các con sa nơi u hiểm.

Cõi thế chờ qua đường mấy dặm,

Non Thần đợi lóng nhạc năm cung.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðạo cao phó có tay cao độ,

Gần gũi sau ra vạn dặm trường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Dặm là chỉ về đường đi xa xôi. Như: Dặm ngàn, đường xa dặm vắng.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy vui thấy nhơn sanh biết hối ngộ, chẳng quản dặm dài, đến hội hiệp nhau mà để bước vào đường đạo đức.

Dặm dài bước lạ nẻo chưa quen,

Thánh chất dầu trau gẫm chẳng hèn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Liệu mà day trở bước thang xuân,

Một dặm đường qua Đạo một gần.

(Thanh Tâm Tài Nữ).

 

 

DẶM HỒNG

Dặm: Chỉ khoảng đường dài. Hồng: Tức hồng trần, là cát, bụi màu đỏ.

Dặm hồng là từ dùng để chỉ đường đi đầy gió bụi, đi một cách gian nan, vất vả.

Sông mai lạc lối dặm hồng,

Đề thơ cậy lá ngô đồng rơi tin.

(Nhứt Nương Giáng Bút).

Dặm hồng lỡ lối đã quày đầu,

Một bộ Xuân Thu dựng nghiệp Châu.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

DẶM LIỄU

Dặm: Mội thôi đường, nói về đường đi xa xôi. Liễu: Cây liễu.

Dặm liễu chỉ đường đi có trồng cây liễu, có hai nghĩa khác nhau:

1.- Dặm liễu chỉ nơi tiễn biệt.

Do tích trong Hán thư: Ngày xưa bên Trung Quốc trên các con đường đều có trồng cây liễu, cứ năm dặm có một cái đình, gọi là “Đoản đình”, cứ mười dặm có một cái đình, gọi là “Trường đình” để khách bộ hành vào đó nghỉ chân, hay bẻ cành liễu để tiễn biệt nhau.

Lướt thế trẻ giong đường dặm liễu,

Xem đời già núp cội cây hoè.

(Thơ Chánh Đức).

2.- Dặm liễu còn dùng để chỉ nơi tha hương, viễn xứ.

Thơ Bà Huyện Thanh Quan có câu: Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi, Dặm liễu sương sa khách bước dồn.

Chiều xuân sương toả lồng sân hoạn,

Dặm liễu trăng soi rạng bước đường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ải Nhạn mình chàng tuông dặm liễu,

Phòng loan một thiếp quạnh đêm thu.

(Thơ Cao Liên Tử).

 

 

DẶM NGÀN

Hay “Dặm nghìn”.

Dặm ngàn, do chữ “Thiên lý 千 里”, là ngàn dặm, ý nói xa lắm.

Dặm ngàn, như chữ “Dặm nghìn” dùng để chỉ đường xa thăm thẳm.

Trong Chinh Phụ Ngâm Khúc, Bà Đoàn Thị Điểm có câu: Chí làm trai dặm nghìn da ngựa, Gieo Thái Sơn như tựa hồng mao.

Giềng mối giữ an phận liễu bồ,

Dặm ngàn xa phải chịu thân cô.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

DẶM TUYẾT

Dặm: Chỉ đường đi. Tuyết: Hơi nước gặp lạnh đông đặc, bay đầy hoặc rơi xuống đất.

Dặm tuyết là đoạn đường đi đầy tuyết giá, chỉ hành trình lạnh lẽo vất vả.

Dặm tuyết vời trông tin chiến sĩ,

Phòng sương riêng chạnh khách cô phòng.

(Thơ Thanh Thuỷ).

 

 

DẶM TRƯỜNG

Dặm: Chỉ đường đi. Trường: Dài, xa.

Dặm trường tức là đường trường, chỉ đường dài, đường đi xa diệu vợi.

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du có câu: Vầng trăng ai xẻ làm đôi, Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường.

Ðạo cao phó có tay cao độ,

Gần gũi sao ra vạn dặm trường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

DẰN

1.- Dằn là đè mạnh xuống, và giữ không cho trỗi dậy, không cho nổi lên.

Như: Dằn cuốn sách cho thẳng thớm, dằn ngửa con heo xuống để trói, dằn đồng tiền.

Ca dao có câu: Nhớ ai cơm chẳng buồn ăn, Đã bưng lấy bát lại dằn xuống mâm.

Ưa dằn đồng dưới trên năm bảy,

Ðể của phù vân đến cũ mèm.

(Đạo Sử).

2.- Dằn là nén tình cảm, cảm xúc xuống và giữ không để cho bộc lộ ra. Như: Dằn cơn giận, dằn lòng không nói.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: Ðạo tuy cao, song nên biết sức Quỷ cũng chẳng hèn. Nếu không ngăn ngừa, dằn lửa nóng trong tâm thì lửa Tam muội của Quỷ vương đốt cháy.

Vuốt dạ riêng đau người một cảnh,

Dằn thương cố nhớ buổi chung tình.

(Bát Nương Giáng Bút).

3.- Dằn là quát to hay nói mạnh từng tiếng để tỏ thái độ giận dữ, hàm ý đe dọa.

Như: Dằn cho trâu cày, nói dằn giọng, dằn thúc, dằn từng tiếng.

Thân trâu phải chịu nhọc nhằn,

Ðòn roi lão mục, tiếng dằn thằng chăn.

(Ngụ Đời).

Phép quan luật nước thúc dằn,

Đỉnh chung rốt cuộc mơ màng chiêm bao.

(Đại Đạo Truy Nguyên).

 

 

DẰN LÒNG

Dằn: Nén tình cảm, cảm xúc xuống và giữ không để nổi dậy hay bộc lộ ra. Lòng: Lòng, dạ, biểu tượng cho tâm lý tình cảm.

Dằn lòng là nén xúc cảm.

Thánh giáo Thầy có dạy: Dầu Quan Âm và Quan Thánh xin cũng chẳng đặng. Nhứt là buổi thử thất ấy, lại nhằm ngày khai Thánh Thất thì các con đủ hiểu là hại dường nào, song phải dằn lòng chịu vậy.

Quyền biến dầu dùng khi buổi ngặt,

Dằn lòng nhớ tránh kế mưu gian.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Dằn lòng nhẫn nại chờ đôi lúc,

Sẽ thấy khuôn linh pháp nhiệm mầu.

(Tiêu Diêu Đạo Sĩ).

 

 

DẰN THÚC

Dằn: Nói mạnh từng tiếng để tỏ thái độ giận dữ, hàm ý đe dọa. Thúc: Giục liên tiếp, không cho chậm trễ.

Dằn thúc là trong lòng cảm thấy bị dằn vặt, đau đớn, khổ tâm một cách dai dẳng.

Thí dụ: Nỗi lo không có tiền trả nợ ngân hàng cứ dằn thúc chị, khiến chị phải quần quật làm việc mà nhiều khi quên cả ăn uống, nghỉ ngơi.

Thầy đã lắm lúc nhọc nhằn chiều theo thế mà dẫn bước đường, nhưng nhiều đứa dụng thời thế ở trần mà phạm thượng đến Thầy, và dằn thúc chư môn đệ và chư chúng sanh.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

DẶN

Dặn là bảo cho biết điều cần nhớ để làm.

Như: Dặn con trước khi đi, viết thư dặn đi dặn lại.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có đoạn: Con có biết sự chơn thật nơi nào mà phải khổ thân lo lắng. Con có phận sự rất lớn, Thánh danh con cũng lớn. Thầy dặn con, nhứt nhứt phải do mạng lịnh Thầy mà thôi.

Mình dặn lấy mình, mình lại biết,

Mặc ai chung hưởng phận cao sang.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Dặn mình tua chặt trong gan tấc,

Sau trước lòng son giữ đặng thường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

DẶN DÒ

Dặn: Bảo cho nhớ.

Dặn dò là dặn bảo cho nhớ.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Một ông cha đã tới giờ quy liễu, nhìn lại gia đình sắp con đã nên gia thất chỉ còn vài đứa nhỏ dại, chưa đủ trí khôn; ông cha ấy phải thống khổ biết chừng nào, khi thấy đứa trẻ ấy bơ vơ, nếu mình rủi chết hoàn cảnh ấy ông phải định thế nào, lẽ cố nhiên là ông kêu người con trai lớn của ông lại dặn dò cặn kẽ: Khi cha có mất rồi thì con phải thương em con còn nhỏ, bảo trọng cho nó, tạo tương lai hạnh phúc cho nó.

Đừng gặp việc câu mâu biếng nhác,

Mà quên lời phú thác dặn dò.

(Kinh Sám Hối).

Dần dà những mảng cuộc đời lo,

Mà chẳng tu tâm lúc dặn dò.

(Đạo Sử).

Nhỏ nên việc đặng chờ nên lớn,

Ðừng bỏ trôi qua tiếng dặn dò.

(Đạo Sử).

 

 

DẮT

Dắt là cầm tay, hay cầm gậy mà dẫn đi. Như: Dắt em đi chơi, dắt người mù qua lộ.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy đã có sai chư Thần mách bảo với con đã lâu, trí thiêng liêng đem đàng dắt bước con đặng độ dẫn sanh linh cho kịp thì giờ trong buổi chung cuộc của con.

Cao ngôi chưng Ðạo chẳng cao quyền,

Mở lối dắt người đến cảnh duyên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Hạnh đức làm gương dắt lũ sau,

Một nhà đạo đức khá thương nhau.

(Đạo Sử).

 

 

DẮT DÌU

Dắt: Cầm tay mà dẫn nẻo. Dìu: Dẫn đi.

Dắt dìu, như chữ “Dìu dắt”, là đưa đường dẫn nẻo, và chăm nom giúp đỡ.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy: Màn Trời che lấp dấu trần, đạo Thánh dắt dìu bước tục. Cuối Hạ nguơn biết bao đời thay đổi.

Ngọc Hư định phép cũng nhiều,

Phái Vàng Mẹ lãnh dắt dìu trẻ thơ.

(Tán Tụng Công Đức).

Dầu chăng phải mực Thiên điều,

Cũng quyền tự chủ dắt dìu thiên lương.

(Kinh Tận Độ).

Cửu Thiên mở cửa rước người hiền,

Nương chí dắt dìu khách hữu duyên.

(Đạo Sử).

 

 

DẶT DÈ

Dè: Tự hạn chế trong hành động, tránh động đến.

Dặt dè, như chữ “Dè dặt”, là tỏ ra sự hạn chế ở mức độ thấp trong hành động, do có nhiều sự cân nhắc.

Ðiều hay lẽ phải đã tường nghe,

Phước tội đôi bên khá dặt dè.

(Đạo Sử).

Dầu lời thốt dặt dè từ chuyện,

Mượn đoan trang thay miếng đỉnh chung.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

DÂY

1.- Dây là một thứ cây có thân dạng hình sợi bò lan hoặc leo lên chà, giàn.

Như: Dây bầu bí, dây sắn, dây bìm, dây mây.

Dây cát đằng tỉ phận mỏng mành,

Cội tòng bá đã đành nương gởi phận.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Dây là vật hình sợi dùng để buộc, nối, truyền dẫn.

Như: Dây đờn, dây tơ, lên dây đồng hồ, đường dây điện cao thế.

Muốn ngón hay đừng thẳng dây đờn,

Ngọt với vợ còn hơn quờn thịnh nộ.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Dây còn dùng để chỉ mối liên hệ gắn bó, ràng buộc nhau. Như: Dây sầu, dây oan, dây thân ái.

Thánh giáo Thầy có câu: Hại nữa là các con lại bị nó tàng ẩn, xô cho dang nhau, bứt nghiến tình đoàn thể, chặt lìa dây liên lạc, giành xé cắn rứt nhau như kẻ khác nhà, gà riêng ổ, cho đừng có thế lực chi mà kình chống với chúng nó, rồi rốt cuộc lại thì các con phải lần lần bị manh mún phân chia, sa vào hang sâu vực thẳm.

Dây oan xe chặt buộc mình,

Nhớp nhơ lục dục thất tình nhiễm thân.

(Kinh Giải Oan)

Tiếng tiêu dầu lọt phụng lầu,

Hoặc may gỡ đặng dây sầu nữ nhi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

DÂY LÈO

Dây: Vật hình sợi dùng để buộc, nối, truyền dẫn. Lèo: Dây buộc ở lá buồm để lựa theo chiều gió cho thuyền đi.

Dây lèo là sợi dây buộc từ cánh buồm đến chỗ lái để điều khiển buồm hướng theo gió.

Cơn gió vụt thuyền bong hải ngoại,

Phải lẹ tay bịn lấy dây lèo.

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 

DÂY LỊNH SẮC

Dây: Một sợi băng vải, dùng nịt vào lưng. Lịnh sắc: Hay Sắc lệnh 勅 令 là mệnh lệnh của người cầm quyền ban ra cốt thi hành các luật lệ.

Dây Lịnh sắc (hay Dây Sắc lịnh) là một dây bằng vải có ba màu đạo: Vàng, xanh, đỏ theo chiều dọc kết lại, dùng để buộc ngang thắt lưng của chư chức sắc cao cấp Hiệp Thiên Đài khi mặc đạo phục chầu lễ Đức Chí Tôn, hoặc khi cầm quyền hành chánh. Ba màu vàng, xanh, đỏ của Dây Sắc lịnh tượng trưng cho quyền chưởng quản tam giáo, nắm Thể pháp và Bí pháp trong tay.

Trong Pháp Chánh Truyền Chú Giải có viết: Vì lời khuyên của Thầy mà Đức Lý Giáo Tông xin buộc cả chức sắc Hiệp Thiên Đài phải minh thệ giữa Hội Thánh rằng: Lấy dạ vô tư mà hành Đạo, lại muốn tỏ ra rằng: Chức sắc Hiệp Thiên Đài thật trọng quyền, Ngài mới ban “Dây Sắc lịnh”, buộc cả tín đồ và cả chức sắc Thiên phong, hễ mỗi chức sắc Hiệp Thiên Đài mang Dây Sắc lịnh vào mình mà hành chánh nơi nào, thì phải tuân mạng, dầu lỗi quấy cũng phải chiều theo, chỉ để cho Hội Thánh có quyền định tội, lại buộc cả chức sắc nào đã thọ quyền của Hiệp Thiên Đài cũng phải minh thệ, y như vậy mới đặng hành chánh.

Đức Hộ Pháp, Đức Thượng Phẩm, Đức Thượng Sanh và Thập nhị Thời Quân khi mặc Đại phục thì lưng đều mang Dây Sắc lịnh. Đức Hộ Pháp và quý vị Thời Quân chi Pháp thì buộc Dây Sắc lịnh mối đặt giữa bụng, Đức Thượng Phẩm và quý vị Thời Quân chi Đạo thì mối buộc đặt bên hông mặt, Đức Thượng Sanh và quý Thời Quân chi Thế thì mối buộc đặt bên hông trái.

Còn các phẩm chức sắc Hiệp Thiên Đài dưới Thập nhị Thời Quân hoặc chức sắc Cửu Trùng Đài khi được lịnh Hiệp Thiên Đài hay thay mặt Hội Thánh thi hành một công việc Đạo quan trọng thì được Hiệp Thiên Đài (Chưởng Quản là Hộ Pháp) ban cho Dây Sắc lịnh để được toàn quyền hành sự trong phạm vi trách nhiệm. Những vị lãnh nhiệm vụ nầy buộc phải minh thệ để giữ dạ chí công vô tư, và toàn cả chức sắc và tín đồ phải tùng mạng lịnh vị chức sắc đó. Sau khi thi hành nhiệm vụ xong, vị chức sắc phải trả Dây Sắc lịnh lại cho Hiệp Thiên Đài.

Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa trong quyển Chánh Trị Đạo có giải thích về Dây Sắc lịnh như sau:

- Về quyền năng thiêng liêng:

Người được Hiệp Thiên Đài ban Dây Sắc lịnh là người đại diện Đức Hộ Pháp trong khi hành sự, quyền hành y như Hộ Pháp khi thi hành mạng lịnh của Hộ Pháp. Dây Sắc lịnh là tướng diện của luật pháp, chẳng một quyền nào tương đối lại đặng. Khi hành pháp, thảng như quá quyền thì người đại diện đó mang trọng tội là lợi dụng hay là phỉ nhục Hộ Pháp.

- Quyền hành hữu hình:

Cả cơ quan hữu vi của Đạo, dầu trọng dầu khinh, điều phải cúi đầu vâng phục người thay mặt cho Thiên điều tại thế, tổng hợp cả quyền Tam giáo nơi mình đặng thi hành luật pháp.

Vì quyền hạn của chức sắc Hiệp Thiên Đài, dầu thượng cấp dầu hạ cấp, hễ Hộ Pháp ban cho tới đâu, hành quyền tới đó, nó không có giới hạn định chắc cao hay thấp.

Sau đây là những trường hợp của các chức sắc thọ Dây sắc lịnh đặc biệt.

Theo quyển Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Đức Chí Tôn phong cho Ông Nguyễn Phát Trước, tục danh là Tư Mắt phẩm Phụ Ðạo Chưởng Nghiêm Pháp Quân và trong đàn cơ ngày 23 tháng 10 năm Bính Dần (Dl. 27/11/1926) Đức Chí Tôn có đọan Thánh giáo dạy ông mặc sắc phục như sau: Mắt, Thầy dặn con cứ nghe lời Thầy. Con nghe: Thầy giúp con làm công quả đặng chuộc tội cho cha con và cứu Cửu Huyền Thất Tổ con, song tùy theo con chứ Thầy cũng phải giữ lẽ công. Chừng nào con làm đủ âm chất, Thầy sẽ cho cha con nhập cơ mà hội diện với con nghe à.... Cười.

Còn sắc phục con phải mặc nịt một sợi dây lưng ba màu: vàng, xanh, đỏ; có chữ ngay giữa: Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ và một cây trượng, trên có lá cờ cũng đề như vậy.

Theo Thánh giáo Đức Hộ Pháp, vị Hộ Đàn Pháp Quân không phải là chức sắc Hiệp Thiên Đài, nhưng được ban cho Dây sắc lịnh để thi hành nhiệm vụ.

Trong một đàn cơ tại Giáo Tông Đường, ngày 25 tháng 10 năm Ất Tỵ (Dl. 17/11/1965). Phò loan: Hiến Pháp và Khai Đạo. Lúc 21 giờ 30, Ngài Thượng Sanh có bạch: Vị tân Hộ Đàn Pháp Quân là Thượng Khanh Thanh sẽ mặc sắc phục thế nào? Đương sự phải kiêm luôn nhiệm vụ Thánh Vệ Trưởng theo lời Đức Ngài đã dạy. Vậy đương sự sẽ đặt dưới quyền trực thuộc của cơ quan nào?

Đức Hộ Pháp dạy: Hộ Đàn chịu dưới quyền trực thuộc Hiệp Thiên Đài Chi Pháp. Đại phục là mặc áo tràng rộng như Thời Quân, đội Nhựt Nguyệt Mạo, lưng thắt Dây Sắc Lịnh bỏ mối ngay giữa. Hộ Đàn có tiểu phục như Thời Quân nhưng không mang Sắc lịnh, đội mão Tam Quang không có thêu, nhưng có Thiên nhãn ngay giữa. Đạo phục màu trắng.

Lưng buộc Dây Lịnh sắc y như của Hộ Pháp, song mối phải thả ngay bên hữu.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

DÂY LOAN

Dây: Sợi dây đàn. Loan: Chất keo làm bằng máu chim loan.

Dây loan, cùng nghĩa với chữ “Tơ loan”, là dây đàn hay dây tơ được nối lại bằng máu chim loan.

Ngày xưa người ta dùng keo bằng máu chim loan để nối dây đàn khi dây đàn bị đứt, ý chỉ vợ chồng hoà hợp, thương yêu.

Xem: Tơ loan.

Thương tiếng dế năm canh trỗi giọng,

Tưởng như dường ướm gióng dây loan.

(Thất Nương Giáng Bút).

Trông tình sông Ngự dây loan đứt,

Đợi ngọc cầu Lam tuổi nguyệt chồng.

(Thơ Chánh Đức).

 

 

DÂY OAN NGHIỆT

Hay “Dây oan”.

Dây oan nghiệt hay dây oan tức những điều oan nghiệt và mầm ác mà con người sống ở thế gian đã gây ra, tạo thành những sợi dây vô hình ràng buộc lẫn nhau, có khả năng lôi kéo các chơn linh phải chìm đắm vào luân hồi sinh tử. Như vậy, tức là con người luôn tự mình xe dây để tự trói chặt vào mình mà không hay.

Sợi dây oan nghiệt đó xây chuyển từ muôn đời ngàn kiếp trong cái vòng lẩn quẩn không bao giờ thoát ra nỗi. Chúng sanh may duyên gặp thời Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn và Phật Mẫu khai nền Đại Đạo hầu mở cơ tận độ, nên giao cho “Bí pháp giải oan hay đoạn căn” để giải thoát con người khỏi những sợi dây oan nghiệt đó.

1.- Dây oan nghiệt:

Dây oan nghiệt dứt rời trái chủ,

Nương huyền linh sạch giũ thất tình.

(Kinh Tận Độ).

Biết căn tầm lối băng về,

Đoạn dây oan nghiệt đặng kề Ngọc Kinh.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

2.- Dây oan:

Dây oan xe chặt buộc mình,

Nhớp nhơ lục dục thất tình nhiễm thân.

(Kinh Tận Độ).

Gởi hồn phách cho chàng định số,

Gởi kiếp căn chàng mở dây oan.

(Kinh Thế Đạo).

Ngảnh lại mà đau cảnh đoạn tràng,

Cõi thiên mừng đặng dứt dây oan.

(Thơ Thượng Phẩm).

 

 

DÂY THẦN THÔNG

Dây: Một sợi lụa mỏng, dài dùng để buộc ngang lưng. Thần thông: Sự nhiệm mầu của các bậc Thần Tiên hay các bậc đắc Đạo.

Dây Thần Thông là một sợi dây lưng làm bằng một đường lụa màu đỏ.

Trong Đạo Cao Đài, Đức Thượng Sanh, một vị chức sắc Hiệp Thiên Đài thuộc Chi Thế, khi mặc Đại Phục để chầu lễ Đức Chí Tôn thì lưng mang Dây Thần Thông và nịt Dây Lịnh sắc.

Lưng mang dây Thần Thông và nịt dây lịnh sắc y như của Hộ Pháp và Thượng Phẩm, song mối phải thả ngay về bên tả.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

DẤY

Dấy là nổi lên, hay nổi dậy. Như: Dấy quân khởi nghĩa, làn sóng biểu tình dấy lên.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Ông Trang Tử nói rằng: Nhứt nhựt bất thiện niệm, chư ác giai tự khởi; nghĩa là một ngày không tưởng đến việc lành, thì mọi việc dữ đều tự nó dấy lên.

Giặc tứ hướng đao binh khởi động,

Dấy can qua các giống giết nhau.

(Ngũ Nương Giáng Bút).

Bốn phương dấy động binh đao,

Thứ ba thế chiến không sao tránh rồi.

(Nguyễn Trung Trực Giáng).

 

 

DẤY LOẠN

Dấy: Nổi lên, hay nổi dậy. Loạn: Chống đối làm mất an ninh trật tự, hoặc ở tình trạng lộn xộn.

Dấy loạn là nổi lên làm loạn, tức làm cho tình hình xáo trộn về an ninh trật tự trong xã hội hoặc trong Đạo.

Theo Thập Hình của Đức Lý Giáo Tông, người làm dấy loạn chúng sanh sẽ phạm vào Đệ nhị hình thì bị thì phạt giáng cấp tới tín đồ hay buộc hành Đạo ngoại quốc, trừ Ai Lao, Tần Quốc.

Đệ nhị hình:

1. Tư thông.

2. Dấy loạn chúng sanh.

(Thập Hình Lý Giáo Tông).

 

 

DẪY

1.- Dẫy là nói về nước dâng lên, nhiều đầy tràn.

Như: Mưa dầm nước dẫy, nước sông dẫy tràn, công việc dẫy đầy.

Ruộng dâu, giáo đóng dầy hơn rạo,

Biển hoạn, nước xao dẫy quá bờ.

(Thiên Thai Kiến Diện).

2.- Dẫy còn có nghĩa là đẩy tới, đưa tới.

Như: Dẫy xe lên đường, dẫy xe trâu.

Dẫy xe trâu Côn Lôn trỗi bánh,

Lý Lão Quân mong lánh phong trần.

(Kinh Thế Đạo).

Giúp xã tắc tôi trung ra mặt,

Dẫy xe thơ trỗi nhặt văn minh.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

DẪY ĐẦY

Dẫy: Đầy tràn lên. Đầy: Lên tận miệng chứa.

Dẫy đầy, như chữ “Đầy dẫy”, là đầy tràn, chỉ số lượng rất nhiều đến mức tràn trề.

Nghĩa bóng: Chỉ số lượng nhiều.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Một cơ quan tại thế nếu nói các chơn linh, mang xác phàm đặng học hỏi, họ đã học bài gì ở thế gian, ta chỉ thấy nước nầy tranh sống với nước kia, mạnh hiếp yếu, giàu hiếp nghèo, cả sự bất công nơi mặt địa cầu đã dẫy đầy không phương thế gì giải cho hết trong khi nước mình hơn nước người ta, đưa binh khí trong tay, xúi giết nhau, quen thói giết rồi, chúng giết người lại đem ra giết chính mình, đem cái giết ra dạy nó làm, rồi trở lại giết nó.

Miền Âm cảnh nhiều thay hình lạ,

Cõi dương trần tội quá dẫy đầy.

(Kinh Sám Hối).

Tội lỗi dẫy đầy chưa gỡ đặng,

Vào chi cho nhọc kẻ chào mời.

(Đạo Sử).

Đời mạt kiếp luân thường điên đảo,

Khắp nhơn gian tội báo dẫy đầy.

(Thơ Bảo Pháp).

 

 

DẪY TRÀN

Dẫy: Đầy tràn lên. Tràn: Chảy ra ngoài miệng, ngoài bờ vì chứa quá đầy.

Dẫy tràn là đầy dẫy và tràn ngập, ý chỉ nhiều đến mức có ở khắp mọi nơi, mọi chỗ.

Mắt xem cái cảnh điêu tàn,

Lòng thương dường đổ dẫy tràn khắp nơi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Phồn hoa xa mã rộn ràng,

Vinh vinh nhục nhục dẫy tràn kiếp căn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

DẪY XE TRÂU

Dẫy: Đẩy tới, đưa tới, khởi đi. Xe trâu: Chiếc xe kéo bằng con trâu, gọi là độc giác thanh ngưu (con trâu xanh một sừng) của Lão Tử.

Dẫy xe trâu là chiếc xe trâu khởi đi.

Đây nói việc Đức Lão Tử sau khi để lại quyển Kinh Đạo Đức cho quan Doãn Hỷ tại ải Hàm Cốc, Đức Ngài bèn cỡi chiếc xe do con độc giác thanh ngưu kéo, về hướng Tây đến núi Côn Lôn mất dạng.

Dẫy xe trâu Côn Lôn trỗi bánh,

Lý Lão Quân mong lánh phong trần.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

DẬY

1.- Dậy là cất mình lên. Như: Ngồi dậy, ngủ dậy, thức khuya dậy sớm.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có đoạn dạy: Hễ đứng dậy rồi, xây mặt vào Chánh điện, để song đăng và cúng vật xuống ngay ngực, chừng trống đổ lần thứ nhì, cung lên.

Dở hồn phách, yếu thây thi,

Dậy ngồi chẳng nổi, bước đi không rồi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Phải dậy sớm đừng ham ngủ nán,

Đứa ở ăn đứng bán khuân đồ.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Dậy là nổi lên, rực lên, bốc lên.

Như: Giông gió nổi dậy, giặc dậy, tiếng reo hò như sấm dậy, tuổi dậy thì.

Gió dậy xao trời mây cuốn ngọc,

Sương lồng ướt đất liễu đeo châu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chừng nào đất dậy Trời thay xác,

Chư Phật, Thánh, Tiên xuống ở trần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ngọn tháp chín rồng hư sát rạt,

Ngoài bờ muôn quái dậy lao xao.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

DÂM LOÀN

Dâm: Có tính ham muốn về nhục dục quá độ hoặc không chính đáng. Loàn: Như chữ “Loạn 亂”, là ở tình trạng lộn xộn, không theo nề nếp chính đáng.

Dâm loàn, bởi chữ “Dâm loạn 淫 亂”, tức là dâm dục thái quá, đến nỗi làm rối loạn cả nền tảng luân lý, đạo đức.

Buông lời tục tĩu dâm loàn,

Lâu mau, nặng nhẹ, chịu mang tội nầy.

(Kinh Sám Hối).

 

 

DÂM PHONG

淫 風

Dâm: Có tính ham muốn nhục dục quá độ hoặc không chính đáng. Phong: Phong tục, thói tục.

Dâm phong là quen thói dâm đãng.

Dâm phong còn có thể hiểu là thói tục hay phong tục dâm đãng. Ví dụ như nước Trịnh, Vệ của Trung Quốc thời xưa, theo sử sách còn truyền lại là nước “Dâm phong”.

Mựa chớ ham giọng đờn tiếng quyển,

Thói dâm phong rù quến nguyệt hoa.

(Giới Tâm Kinh).

 

 

DÂM PHỤ

淫 婦

Dâm: Có tính ham muốn thú nhục dục quá độ hoặc không chính đáng. Phụ: Người đàn bà đã có chồng.

Dâm phụ là người đàn bà đã có chồng mà lại thông dâm với một người đàn ông khác.

Như: Gian phu dâm phụ.

Nơi Địa ngục gông kềm sẵn đủ,

Để răn loài dâm phụ gian phu.

(Giới Tâm Kinh).

 

 

DẦM

1.- Dầm, nói tắt chữ “Dầm dề”, tức là thấm nước nhiều và ướt khắp cả.

Như: Quần áo ướt dầm, mưa lớn tuôn dầm trước sân, nước mắt nhỏ dầm.

Càng ngó trái lại miền thế tục,

Lụy nhỏ dầm đòi khúc lòng đau.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Sóng trần bể khổ mây mờ mịt,

Nghĩ nỗi gần xa lệ ứa dầm.

(Thơ Huệ Giác).

2.- Dầm là ngâm hoặc chịu ướt lâu để cho nước, chất lỏng dần dần thấm sau và tác động vào.

Như: Dầm mưa suốt ngày, dầm sương dãi nắng, nước mắm dầm ớt.

Ca dao có câu: Anh đi anh nhớ quê nhà, Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương.

Ao nước nóng sôi thì sục sục,

Dầm cho người rã rục thịt xương.

(Kinh Sám Hối).

Oanh ướt cánh, buông hơi gọi tổ,

Quốc dầm mình, nhắc thuở ly hương.

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 

DẦM DỀ

Dầm: Ngâm hoặc chịu ướt lâu để nước thấm sâu vào.

Dầm dề là liên tục, không dứt, kéo dài liên miên, không ngưng nghỉ. Như: Mưa dầm dề suốt ngày.

Ca dao Nam bộ có câu: Ghe lên ghe xuống dầm dề, Sao em không gởi thơ về thăm anh.

Dầm dề còn có nghĩa là thấm nhiều nước và ướt khắp cả, như nước mắt dầm dề.

Thây người máu chảy dầm dề,

Tiếng la than khóc tư bề rùm tai.

(Kinh Sám Hối).

Ðứa trẻ chưa quen quyền Lão xá,

Ðái đầu rán chịu ướt dầm dề.

(Đạo Sử).

Thấy trẻ gái dầm dề lụy đổ,

E cho sau chịu số như già.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

DẦM MƯA DAN NẮNG

Dầm mưa: Hứng chịu ngoài mưa. Dan nắng: Phơi trần ngoài nắng.

Dầm mưa dan nắng, như thành ngữ “Dầm mưa dãi nắng”, ví với cảnh chịu đựng nhiều nỗi gian lao vất vả trong cuỗ sống.

Xem: Dầm mưa dãi gió.

Làm ra lúa gạo dày công,

Dầm mưa dan nắng kẻ nông nhọc nhằn.

(Kinh Sám Hối).

 

 

DẦM MƯA DÃI GIÓ

Dầm mưa: Hứng chịu ngoài mưa. Dãi gió: Phơi bày ngoài gió.

Dầm mưa dãi gió, do câu: “Mộc vũ trất phong 沐 雨 櫛 風”, có nghĩa là mưa gió dãi dầu, ý nói gian lao khổ chực của con người.

Sách Ấu Học viết: Mộc vũ trất phong vị phong trần chi lao khổ 沐 雨 櫛 風 謂 風 塵 之 勞 苦, nghĩa là gội mưa chải gió là nói sự nhọc nhằn, vất vả trong cuộc sống.

Đường thư chép: Địch Nhân Kiệt tâu với bà Võ Hậu rằng: Văn Hoàng Đế gội mưa chải gió, xông pha tên đạn để bình định thiên hạ, truyền cho con cháu. Tiên đế đem hai con gởi gấm bệ hạ, nay bèn dời sang họ khác! Phải chăng là thiên ý ư?

Bắt ốc hái rau phương đỡ dạ,

Dầm mưa dãi gió tái tê lòng.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

DÂN

1.- Dân là tiếng gọi chung người trong một nước, một xứ, một vùng. Như: Dân Việt Nam, dân miền Bắc, dân quê, người dân thành phố.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Dân tộc Pháp, Việt là hai giống dân được nhiều huệ phúc nhất. Thầy muốn sao cả hai được hoà hiệp nhau mãi mãi.

Xúc lòng nhắm lại cảnh trời Nam,

Một sắc dân xưa chẳng phải phàm.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Dân là chỉ kẻ thường dân, tức người ở dưới quyền của vua và quan.

Như: Tình quân dân cá nước, người dân thường.

Thánh giáo Thầy có câu: Như kẻ làm quan ỷ quyền hiếp bức dân lành, đứa ngu nghịch cha phản bạn, làm rối luân thường, các con có biết vì tại sao chăng? Tại vô đạo.

Một chức giáo dân tua lãnh lịnh,

Làm cho đời tệ hoá ra hay.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

DÂN CHÚNG

民 眾

Dân: Người dân thường ở một xứ, một vùng. Chúng: Đông đảo, nhiều người.

Dân chúng là đông đảo những người dân thường, tức là quần chúng nhân dân.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Thấm thoát ngày tháng trôi qua, với trăm hoa đua nở muôn tía ngàn hồng cũng như bao nhiêu Xuân trước, những quang cảnh vô tri thì tươi đẹp theo lệ thường mà tình hình đất nước Việt Nam vẫn còn mịt mờ trong khói lửa, dân chúng vẫn lầm than, cảnh đời còn đen tối; Gượng vui để khoả lấp cái buồn khổ chung của nòi giống.

Thiên Tào Thánh ngự an ngôi,

Cầu cho dân chúng khỏi hồi can qua.

(Kinh Thế Đạo).

Trị theo đời mà dân chúng vẫn lầm than,

Đó là dìu chúng đến con đàng tự diệt.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

DÂN ĐEN

Dân: Người dân thường ở một xứ, một vùng. Đen: Do chữ “ 黎” là đen.

Dân đen, bởi chữ “Lê dân 黎 民” là người dân đen, ý chỉ những người thường dân, không có chức vị, không có quyền hành.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Lợi dụng địa vị hoành hành thiên hạ, bóc lột nhân sanh, khoát nạt trước đám dân đen, cúi rạp mình trước người thượng cấp, lấy nhục làm vinh, lấy xấu làm tốt, miễn lo cho đầy túi tham, không cần nghĩ tới hậu quả việc làm đen tối của mình.

Nếu làm đặng Đường Ngu nào khác,

Dạy dân đen chẳng phạt ngục hình.

(Bát Nương Giáng Bút).

Nào quốc thể, người khi kẻ thị,

Nào dân đen, phép quỷ hớp hồn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

DÂN Ý

民 意

Dân: Người dân thường ở một xứ, một vùng. Ý: Sự phát hiện ra của tâm.

Dân ý là ý kiến của dân chúng.

Các nước dân chủ khi muốn thi hành một chính sách quan trọng đều phải đem chính sách đó ra trưng cầu dân ý để lấy ý kiến của nhân dân.

Đạo đắc nhơn tâm, đời đắc sách,

Đời do dân ý, đạo dân quyền.

(Thơ Thân Dân).

 

 

DÂN KHÍ

民 氣

Dân: Người dân thường ở một xứ, một vùng. Khí: Cái tinh thần phát ra ngoài.

Dân khí là cái khí tiết của nhân dân, tức là nói tinh thần yêu nước thương nòi của nhân dân.

Câu văn ái chủng gầy dân khí,

Tiếng sấm ưu hương định quốc hồn.

(Bát Nương Giáng Bút).

Đem chơn chánh phô bày trừ mị,

Nâng niu cho dân khí lẫy lừng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

DÂN QUYỀN

民 權

Dân: Người dân thường ở một xứ, một vùng. Quyền: Quyền hành.

Dân quyền là các quyền hành của nhân dân, tức là những thứ quyền mà luật pháp quy định cho nhân dân được phép làm.

Đạo đắc nhơn tâm, đời đắc sách,

Đời do dân ý, đạo dân quyền.

(Thơ Thân Dân).

 

 

DÂN SANH`

Dân: Người dân thường ở một xứ, một vùng. Sanh (sinh): Sinh ra, sống.

Dân sanh, như chữ “Dân sinh 民 生”, là dân chúng.

Dân sanh, như chữ “Dân sinh”,còn dùng để chỉ đời sống vật chất tinh thần của nhân dân.

Thánh giáo Thầy có câu: Vậy rán giồi Thánh đức, lấy đạo hạnh mà giáo hoá đám dân sanh, phần nhiều đã mơ màng trong giấc mộng. Thầy trông mong nơi con, khá cải sửa chút ít phàm tâm, thì đức tánh mới đặng trọn vẹn.

Công danh nước Việt tay đành nắm,

Mưa móc dân sanh gắng gội nhuần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

DÂN SINH

民 生

Dân: Người dân thường ở một xứ, một vùng. Sinh (sanh): Sinh ra, sống.

Dân sinh (sanh) là dân chúng.

Dân sinh (sanh) còn có nghĩa là sinh kế hay sự sống của nhân dân.

Như: Cải thiện dân sinh.

Châu lưu tứ hải ngũ hồ,

Thơ hương đắc vận cậy nhờ dân sinh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

DÂN TÌNH

民 情

Dân: Tiếng gọi chung người trong một nước, một xứ. Tình: Tình cảnh, tình hình.

Dân tình là tình hình, tình cảnh của nhân dân.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Nhưng Ðức Ngài (Khổng Thánh) đã thất bại, vì gặp nhằm Xuân Thu thời đại, loạn lạc bốn phương, dân tình khổ sở, Vua thì yếu đuối, mất hết quyền hành, các chư hầu thì đua nhau tranh bá xưng hùng, không ai thiết gì đến nhơn nghĩa.

Nơi xứ nầy, dân tình rất thuần hậu và ôn hoà, nên Thầy đến cũng như Chúa Cứu Thế đã đến với chúng con để bài trừ Tà thuyết và truyền bá Chơn đạo trên toàn cầu.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

DÂN TỘC

民 族

Dân: Người dân thường ở một xứ, một vùng. Tộc: Họ.

Dân tộc là chủng tộc của quốc dân, tức là tất cả các họ của dân chúng trong nước, bao gồm tất cả người dân trong một nước.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Nếu nhơn loại biết tu hành thì đó sẽ là nền hoà bình hứa hẹn chung cho tất cả các dân tộc.

Dân tộc sống văn minh công lý,

Những người tu chánh vị sẵn dành.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

Cỏ dại quê hương dần xẻn nhổ,

Hoa thơm dân tộc gắng vun bồi.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

DÂN THỨ

Dân: Người dân. Thứ: Đông đúc.

Dân thứ, như chữ “Thứ dân 庶 民”, là những người dân thường không có chức vị gì trong xã hội, vì trong xã hội dân chúng là hạng đông đúc nhứt.

Bậc vua chúa, kẻ quan quyền hay hàng dân thứ, hễ đạt được lẽ mầu nhiệm của Ðạo...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

DÂN VI QUÝ

民 為 貴

Dân: Người dân thường ở một xứ, một vùng. Vi: Là. Quý: Có giá trị cao.

Dân vi quý là nhân dân là quý nhất.

Trong sách Mạnh Tử có câu: Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh 民 為 貴, 社 稷 次 之, 君 為 輕, nghĩa là dân là quý, kế đó là xã tắc, vua là nhẹ.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ấy là Ngài (Bảo Đại) muốn thiệt hiện ba chữ “Dân Vi Quý” của Ngài, kể từ hôm nay đã gọi dân quyền, nên Bần Đạo sợ ngày sóc vọng ở nơi Thánh Địa con cái của Đức Chí Tôn trông ngóng. Bần Đạo lật đật về cúng sóc vọng đặng tỏ cái hành trình buổi hội cho con cái Đức Chí Tôn biết.

Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” cái thuyết của Mạnh Tử xuất hiện cũng vì lẽ đó.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

DẤN THÂN

Dấn: Góp vào. Thân: Bản thân, thân mình.

Dấn thân là dốc hết sức lực vào hoạt động hay vào làm công việc nào đó, bất chấp khó khăn, nguy hiểm.

Huấn từ Đức Thượng Sanh có dạy: Đã dấn thân vào trường thi công quả, quý vị phải chịu khó nhọc làm cho cái vốn đạo đức của mình ngày càng tăng lên mãi.

Đã dấn thân vào cửa sắc không,

Nữ nhi cực nhọc há nao lòng.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Dấn thân vào chốn ao tù,

Để làm nô lệ vinh phù lấy thân.

(Nhị Nương Giáng Bút).

 

 

DẦN

1.- Dần là đập liên tiếp nhiều lần, hoặc đập cho dập, cho mềm ra.

Như: Dần lưng, mình mẩy đau như dần, dần xương, dần thịt, dần lươn.

Móc nhọn vắt treo mình nhỏng nhảnh,

Cối đạp đồng rất mạnh giã dần.

(Kinh Sám Hối).

Nghe trẻ khóc như chì dần dạ,

Thấy con đau như đá đập đầu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Dần là tiếng biểu thị cách thức diễn ra từ từ, từng ít một của quá trình, của sự việc.

Như: Trời ấm dần lên, bệnh khỏi dần, nhờ anh giải nghĩa tôi mới hiểu ra dần.

Non nước hồn thiêng đã tỉnh dần,

Xuân thu xưa, nay đổi thu xuân.

(Thơ Hộ Pháp).

3.- Dần là chi thứ ba trong mười hai chi, biểu tượng cho con cọp.

Như: Nhâm Dần, đạo Cao Đài khai năm Bính Dần tại chùa Gò Kén.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Dần qua Mẹo lại, Thìn đến Tỵ về, xuân đổi lại xuân thay, năm kề rồi năm mãn.

Năm Dần Đại Đạo Hoằng Khai,

Chí Tôn giáng thế Cao Đài độ nhơn.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

DẦN DÀ

Dần: Từ từ, lần lần, từ chút một.

Dần dà là từ từ, lần lần.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy: Lằn tang thương gần khởi, đường đạo đức chớ dần dà, công vẹt ngút mây xanh của các con sẽ làm cho sáng sủa bạch minh, cho bước đàng sau nầy do theo dấu ấy mà lần đến cõi vô ưu, để bước khỏi lối nhọc nhằn ban sơ khai dẫn.

Dần dà những hẹn với căn tu,

Ðau mắt không lo để đợi mù.

(Đạo Sử).

Dần dà những mảng cuộc đời lo,

Mà chẳng tu tâm lúc dặn dò.

(Đạo Sử).

Đảnh hạc vầy đoàn tua bước tới,

Mộng hồ bỏ lối chớ dần dà.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

DẦN LÂN

Dần: Từ từ từng ít một, lần lữa.

Dần lân là dài dòng, hết chuyện nọ sang chuyện kia. Như: Ngồi đó mà nói dần lân hoài.

Dần lân còn có nghĩa là vần công, luân phiên, thay phiên nhau làm việc gì đó.

Gió ngược xông pha đã lắm lần,

Trường đời gay cấn thấy dần lân.

(Thơ Diệu Tuyền).

 

 

DẪN

1.- Dẫn là đưa, tức cùng đi để dắt đến một nơi nào đó. Như: Dẫn đường, dẫn nẻo, dẫn con đến trường.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Thầy đã lắm lúc nhọc nhằn chiều theo thế mà dẫn bước đường, nhưng nhiều đứa dụng thời thế ở trần mà phạm thượng đến Thầy, và dằn thúc chư môn đệ và chư chúng sanh.

Ðã thấy ven mây lố mặt dương,

Cùng nhau xúm xít dẫn lên đường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Dẫn là làm cho đi theo một con đường hay một hướng nào đó của tôn giáo. Như: Cầu thủ dẫn bóng, ống dẫn dầu, chức sắc dẫn tín đồ theo đạo, dẫn độ.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy đã có sai chư Thần mách bảo với con đã lâu, trí thiêng liêng đem đàng dắt bước con đặng độ dẫn sanh linh cho kịp thì giờ trong buổi chung cuộc của con.

Phước gặp Kỳ Ba Trời dẫn độ,

Mau chơn rán lướt tới rừng thiền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Mái tóc sương pha thiều nhặt thúc,

Sanh linh độ dẫn hưởng Thiên ân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Dẫn là chỉ bảo cho biết. Như: Dẫn dụ, chỉ dẫn.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Công chỉ dẫn của Thầy phải lững đững theo giọt thuỷ triều, mà rồi rốt cuộc lại, bến khổ cũng chưa xa, ngôi xưa còn lánh mãi. Thảm thay! Tiếc thay!

Năm năm công quả tua bền chí,

Chỉ dẫn nhơn sanh bước lạc loài.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

Giáng cơ chỉ dẫn điều hư thiệt,

Giải thoát mê đồ khách thiện duyên.

(Thơ Hiến Pháp).

 

 

DẪN DẮT

Dẫn: Cùng đi để đưa đến một nơi nào đó. Dắt: Dìu đi với mình bằng cách nắm giữ liền một bên.

Dẫn dắt, như chữ “Dắt dẫn”, là nắm tay dẫn đi.

Dẫn dắt còn dùng để chỉ dẫn cho đi đúng đường, đúng hướng, để khỏi bị lầm lạc.

Trong Thiên Đạo, hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có viết: Nếu cha mẹ bảo con phải kỉnh tin Trời Phật mà tự mình không tỏ ra điều gì để cụ thể hoá sự kỉnh tin, thì con cái biết dựa vào đâu mà tin? Làm như thế chẳng khác nào mấy tấm bảng chỉ đường (poteau indicateur) dựng mấy ngả tư, ngả ba kia vậy. Bảng cứ chỉ đường nầy đi đường kia đi mà bảng cứ ở yên một chỗ. Hành khách do theo bảng chỉ có khi cũng lạc đường, sao bằng có người dẫn dắt.

Tôi nguyền dẫn dắt cho nhau,

Dìu anh ra khỏi bốn rào thế gian.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

DẪN ĐẠO

Dẫn: Đưa, đem đến. Đạo: Đem đường, mở lối. Đạo: Đạo lý, tôn giáo.

Dẫn đạo 引 導 là người chỉ dẫn đường lối. Như: Dẫn đạo cho bọn hậu sinh.

Dẫn Đạo 引 道 là người dìu dắt tín đồ trong tôn giáo, tức người lãnh đạo trong tôn giáo.

Tam Kỳ độ rỗi người quy thiện,

Dẫn đạo sao ta lắm khổ nàn.

(Thơ Thái Bộ Thanh).

 

 

DẪN ĐỘ

引 渡

Dẫn: Dẫn dắt. Độ: Đưa qua sông, cứu giúp.

Dẫn độ là dẫn dắt và cứu giúp.

Trong tôn giáo chữ dẫn độ có nghĩa là dẫn dắt vào con đường thiện lương hầu cứu giúp cho linh hồn được siêu thăng thoát hoá.

Thánh giáo Thầy có câu: Sau nầy con đặng cầm quyền trong bước Ðạo mà dẫn độ sanh chúng nơi đây, là nơi Thầy đã đặng nhiều môn đệ yêu dấu.

Tổ Sư Thái Thượng Đức Ông,

Ra tay dẫn độ, dày công giúp đời.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

Phước gặp Kỳ Ba Trời dẫn độ,

Mau chơn rán lướt tới rừng thiền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

DẪN ĐƯỜNG

Dẫn: Cùng đi để đưa đến một nơi nào đó. Đường: Nẻo, lối đi, lộ.

Dẫn đường là dẫn dắt lối đi, tức chỉ đường dẫn nẻo.

Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy: Mấy chuyện con tính đều được. Tâm chí các con lay động ưu tư tất là Thần, Thánh dẫn đường để chỉ cho con ra khỏi lối mịt mờ, nhưng đặng cùng không, nên hay hư, đều tại nơi tấc thành của mỗi đứa nữa.

Non Thần tiếng hạc chầu vang đảnh,

Chờ rước người ngay chánh dẫn đường.

(Lục Nương Giáng Bút).

Dựa bóng dẫn đường thuyền Phạm Lãi,

Treo gương chỉ chữ sách Đào Châu.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

DẪN GIẢI

引 解

Dẫn: Đem đi, chỉ dẫn. Giải: Giải nghĩa.

Dẫn giải là đem những câu trong sách và điển tích ra làm bằng chứng để giải thích cho người đọc rõ.

Trong Đạo Luật Năm Mậu Dần có dạy: Mỗi kỳ sóc vọng tại Thánh Thất hoặc các Đàn lệ khác, vị chức sắc đương quyền phải thuyết đạo, hoặc đọc Châu tri, Bố cáo, hay là dẫn giải những điều khuyết điểm, cùng là khuyến khích và nhắc nhở chư Đạo hữu trong đường đạo đức.

Cao Đài dẫn giải thông nguồn cội,

Hậu thế lưu truyền rạng ngọc châu.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

DẪN LỐI

Dẫn: Cùng đi để đưa đến một nơi nào đó. Lối: Đường, nẻo, lộ.

Dẫn lối, như chữ “Dẫn đường”, là dẫn dắt đường đi, tức là chỉ đường dẫn nẻo.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Bậc đã được kiến tánh, giữ cõi lòng thật thanh tịnh trở lại với bản tánh thiên nhiên tức là lúc mắt tuy thấy thiên hình vạn trạng trí tưởng nghìn muôn pháp, nhưng tâm vẫn yên tịnh dường như không gì xao xuyến. Lúc ấy bậc kiến tánh được thấy ngọn đèn chơn lý đột nhiên đưa đến sáng rạng lạ thường để chỉ đường dẫn lối đưa đến cõi tâm giới nhiệm mầu.

Lui chân kiếm con đường nhà nội,

Lửa đốm nhen dẫn lối thảm trang.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Dẫn lối nhơn sanh lìa khổ hải,

Đưa đường nguyên chủng đến Linh Tiêu.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

DẪN THUỶ NHẬP ĐIỀN

引 水 入 田

Dẫn thuỷ: Dẫn nước, tức làm cho nước chảy vào. Nhập điền: Vào ruộng.

Dẫn thuỷ nhập điền là dẫn nước vào ruộng, ý muốn nói đem nước ở ngoài sông hay kinh mương vào ruộng để cày cấy, làm ruộng.

Đông Tây hai lối kinh khai thác,

Dẫn thuỷ nhập điền cuộc sống an.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

DẪN TRUYỀN

引 傳

Dẫn: Dìu, dắt. Truyền: Lan rộng cho mọi người biết.

Dẫn truyền là dẫn dắt và truyền rộng ra.

Thánh giáo có câu dạy: Ai mau bước đặng gặp mối chánh dẫn truyền mà lần lập công chiết quả, để lánh cả muôn điều phiền não về sau. Chúng sanh khá biết cho!

Ra mối manh thì tua liệu lấy,

Lấy nền Ðạo chánh dẫn truyền ra.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

DÂNG

Dâng là đưa, biếu, trình lên một cách cung kính. Như: Dâng sớ, dâng trà, dâng cơm vùa nước.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Cửa Bạch Ngọc Kinh chẳng phải ai vô cũng đặng. Mỗi đứa con đều có tên trong Thiên thơ cả, chức phận cũng đã tiền định, chớ chẳng phải tước hàm trần thế dâng cho kẻ lễ nhiều.

Ðừng sợ nghèo hèn lo đạo hạnh,

Của dư có kẻ đến dâng hoài.

(Đạo Sử).

Còn gặp thuở xanh mày lịch sắc,

Dâng hình hoa treo mắt bướm ong.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

DÂNG DÉP

Dâng: Đưa lên một cách cung kính. Dép: Đồ có quai, dùng mang dưới chân để đi.

Dâng dép, bởi chữ “Tấn lý chi khiêm 進 履 之 謙” tức là tỏ lòng kỉnh khi dâng dép.

Do tích trong Sử Ký chép: Trương Lương dâng dép cho một cụ già tên Huỳnh Thạch Công ba lần trên cầu Hạ Bì, được ông trao cho một bộ sách là Thái Công Binh Pháp. Nhờ vậy, sau Trương Lương mới làm Quân sư cho Hán Bái Công.

Xem: Trương Lương dâng dép.

Lòn trôn Hàn Tín nên cơ nghiệp,

Dâng dép Trương Lương dựng miếu đường.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

DÂNG SỚ

Dâng: Trình lên một cách cung kính. Sớ: Một bản văn ghi lời trình hay lời nguyện của mình dâng lên vua hay Thần Thánh.

Trong Đạo Cao Đài, “Dâng Sớ”, còn gọi là “Thượng Sớ 上 疏”, là trình Sớ văn lên Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng Thần Thánh Tiên Phật trong mỗi kỳ đàn vía nơi Toà Thánh, Báo Ân Từ, Thánh Thất hoặc tư gia.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Chúng nó (chỉ Giáo Sư) đặng quyền dâng sớ cầu nài về luật lệ làm hại nhơn sanh, hay là cầu xin chế giảm luật lệ ấy.

Phải, như các Giáo Hữu nào bê trễ về phận sự và không quản đến lời Thầy thì con hội chư Thánh dâng sớ lên cho Lý Bạch phán đoán, nghe!

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

DÂNG TAM BỬU

Dâng: Trình lên một cách cung kính. Tam bửu: Ba thể, hay ba báu được gọi là Tam bửu 三 寶.

Trời đất tạo nên vạn vật hữu hình đều do ba thể: Vật thể, Khí thể và Thần thể, gọi là Tam bửu.

Trời có Tam bửu là Nhật 日, Nguyệt 月, Tinh 星. Đất có Tam bửu là Thuỷ 水, hoả 火, Phong 風. Người có Tam bửu là Tinh 精, Khí 氣, Thần 神.

Tam bửu Tinh, Khí, Thần là ba món báu tượng cho thể xác, chơn thần và hồn của con người.

Chúng ta thử tìm hiểu về ý nghĩa của Bí pháp Dâng Tam Bửu.

Chúng ta đã biết, dâng Tam Bửu là dâng Hoa, Rượu, Trà tượng trưng cho Tinh Khí Thần, muốn đắc Đạo phải luyện cho hiệp nhứt Tam Bửu, nghĩa là phải luyện Tinh hoá Khí, luyện Khí hiệp Thần, luyện Thần huờn Hư thì tạo được chơn thần huyền diệu, đắc Đạo thành Tiên, Phật Tại thế.

Ngoài ra, Bí pháp dâng Tam Bửu còn mang ý nghĩa là “phụng sự nhơn sanh”.

Thật vậy, trong bài Thuyết đạo “Giá Trị Tam Bửu Là Gì”, ngày 30 tháng 2 năm Nhâm Thìn (Dl. 25/3/1952), Đức Hộ Pháp có giải thích như sau:

Trước kia, hồi buổi ban sơ thì con người chỉ dùng các lễ vật mà họ gọi là quý trọng hơn hết dâng cho Đấng ấy, mà lễ dâng của họ không có xa hơn nghĩa lý tam bửu, Bần Đạo sẽ giảng rõ tỷ như: Lúc Thượng Cổ người ta đã dâng cho Đức Chí Tôn đã có những gì? Cái vật dâng cho Đức Chí Tôn buổi Thượng Cổ họ dâng sanh mạng con người cho Đấng ấy. Khi nhơn loại bị khốn khổ, bị tai nạn bất cứ trong quốc gia nào họ dùng cho đến sanh mạng, tức dùng con người làm tế vật dâng hiến cho Đức Chí Tôn. Tới chút nữa, nghĩa là tinh thần loài người tiến triển đến một mức nữa, họ dùng cái vật lựa chọn quý hoá, đồng thể với sanh mạng của con người đặng dâng cho Đức Chí Tôn, tức nhiên họ dâng Tam sinh. Khi ta đã xem tế Nam Giao, từ Thượng Cổ nhà Vua dâng cho Đức Chí Tôn ba cái vật là: Trâu, heo, và dê gọi là Tam sinh. Ngày hôm nay sau Đức Chí Tôn đối lại với Đạo Thiên Chúa, không dâng Tam sinh là sanh mạng của con vật nữa, mà chính mình Đức Chúa Jésus Christ dâng cái xác thịt của Ngài làm con tế vật cho Đức Chí Tôn, tức nhiên Ngài nói rằng Ngài chịu khổ hình là chết trên cây Thánh Giá cốt yếu làm con tế vật đặng dâng cho Đức Chí Tôn để cứu rỗi tội tình nhơn loại. Chúng ta đã ngó thấy từ thử tinh thần của loài người tiến triển tới mức văn minh của họ, thì cái vật phụng thờ, cung hiến dâng lễ vật cho Đức Chí Tôn vẫn khác. Ngày hôm nay Đức Chí Tôn đến, Ngài biểu chúng ta dâng cho Ngài ba món gọi là Tam Bửu là: Tinh, Khí, Thần.

Tại sao gọi đó là Bí Pháp của đạo Cao Đài? Và dâng Tam Bửu có ý nghĩa như thế nào?

Gọi là Bí pháp vì chính đó là cơ quan giải thoát cho chúng sanh khỏi luân hồi để trở về hiệp nhứt cùng Đức Chí Tôn.

Còn dâng Tam bửu là Hoa, Rượu, Trà mỗi khi vào Đền Thánh cúng là chúng ta nguyện dâng Tinh, Khí Thần của chúng ta lên Đức Chí Tôn, mang ý nghĩa là dâng Thể xác, Chơn thần và Linh hồn của chúng ta lên cho Ðức Chí Tôn dùng phương nào thì dùng, tức là chúng ta hoàn toàn giao cho Ðức Chí Tôn sai khiến để Ngài lấy đó làm phương tiện phụng sự vạn linh.

Ðức Hộ Pháp có giải thích điều nầy như sau:

“Ấy vậy, mỗi ngày, từ mơi tới trưa, đến chiều, từ chiều đến khuya, từ khuya đến sáng, mình vô Ðền Thánh kêu Ðức Chí Tôn, kêu Tam giáo và các Ðấng thiêng liêng mà phân chứng trước: Thân tôi không còn là của tôi nữa, tôi đã hiến dâng cho Ðức Chí Tôn, để làm tôi tớ cho vạn linh thay thế Ðức Chí Tôn.

Giờ phút đó, chúng ta không biết tội nào chúng ta đã làm, dầu có tội, mà chúng ta không làm điều gì thêm tội nữa thì quả kiếp ấy tiêu diệt, cơ quan giải thoát chúng ta đoạt, không thể gì định tội được.

Ðức Chí Tôn biểu chúng ta không phải là chúng ta, mà chúng ta không phải là chúng ta thì quả kiếp ấy cũng không phải là của chúng ta, tức nhiên ta đã đoạt cơ giải thoát.”

Như vậy, cái thân của chúng ta, cả chơn thần và linh hồn đều giao hết cho Đức Chí Tôn thì lúc ấy không còn gì của ta nữa, đừng nói chi là của cha mẹ, vợ con ta. Như vậy, cái ngã (cái Ta) không còn nữa, thì đâu gì mà phải “chấp ngã”.

Chúng ta biết “chấp ngã” là chúng ta bám víu vào cái Ta, cái của Ta quá lớn, chính cái đó là nguồn gốc của khổ đau, phiền não và luân hồi sinh tử.

Tóm lại, Bí pháp dâng Tam Bửu, theo Đức Hộ Pháp, đó là cách “phá chấp” triệt để và hiệu quả hơn hết để phụng sự nhơn sanh.

Miền Cực Lạc, xin hương hồn Cao Thượng Phẩm, chứng đơn tâm cho các bạn tại tiền.

Trước Linh Toà, cả chức sắc Hiệp Thiên, dâng Tam bửu ngõ đền ơn tri ngộ.

(Văn Tế Thượng Phẩm).

 

 

DẤP DÍNH

Dấp: Làm cho thấm vừa đủ ướt. Dính: Bám chặt lấy như được dán vào, gắn vào, có mối quan hệ không hay.

Dấp dính là theo dính vào mãi. Dấp dính là dính ướt một chút. Như: Trán dấp dính mồ hôi.

Dấp dính còn có nghĩa lời nói có tiếng nọ dính vào tiếng kia, không rõ ràng, tách bạch. Như: Lời nói dấp dính không ra câu.

Sống dương thế hành thì căn bịnh,

Xui tai nàn dấp dính theo mình.

(Kinh Sám Hối).

 

 

DẬP

Dập là vùi, lấp lại, tức làm cho bị đè lấp dưới một lớp đất, cát mỏng.

Dập còn có nghĩa làm cho tắt ngọn lửa, không còn bốc cháy được.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng có câu: Cũng nơi Thiên tai, ách nước, nhưng rất đau lòng dòm thấy muôn ngàn nhơn loại lặn hụp chới với nơi vực thẳm hang sâu kia, mà con thuyền Bát Nhã cũng còn sóng dập gió dồi, linh đinh trên biển khổ sông mê, khó vớt người bị đắm.

Biển khổ chơi vơi lằn sóng dập,

Mau chơn kẻo trễ bước con đò.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Bước đời chìm nổi bấy nhiêu niên,

Tâm chí ghe phen dập lửa phiền.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Ngược gió thuyền đầy cơn gió dập,

Xuôi dòng nước lớn giạt bèo trôi.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

DẬP DÌU

Dập dìu là nhiều, đông đảo, chỉ cảnh tượng đông vui, người qua kẻ lại không ngớt.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Thanh Tâm Tài Nhân có câu: Ðường có người đi nhiều mà không ai là người phải, đường đi dập dìu thiên hạ mà toàn là ma hồn quỷ xác, tâm giả dối, hạnh hung bạo, mật chứa đầy tà khí, thế nào gọi là người!

Dập dìu lắm kẻ ngó Thiên đường,

Buổi thế không lo níu nhánh dương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trở chơn ít kẻ lo đi ngược,

Bước đoạ xem qua dấu dập dìu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

DẬP DỒN

Dập: Vùi, lấp lại. Dồn: Liên tiếp nhau.

Dập dồn, như chữ “Dồn dập”, là chỉ sự liên tiếp rất nhiều lần xảy đến trong một thời gian ngắn.

Như: Hơi thở dập dồn, công việc dập dồn.

Xem: Dồn dập.

Việc sanh tử như dường chớp nháng,

Bóng quang âm ngày tháng dập dồn.

(Kinh Sám Hối).

Bước đường sanh tử đã chồn,

Oan oan nghiệt nghiệt dập dồn trái căn.

(Kinh Tận Độ).

Nâu sồng ngắm nẻo Côn Lôn,

Tìm phương vớt kẻ dập dồn trái căn.

(Nhị Nương Giáng Bút).

 

 

DẬP LIỄU VÙI HOA

Hoa liễu: Bông và liễu, thường được ví với thân phận người đàn bà con gái đẹp. Vùi dập: Đánh đập, chôn vùi, hay nhận chìm.

Dập liễu vùi hoa ý nói đối xử với người đàn bà con gái đẹp một cách tàn tệ, không biết thương tiếc.

Dập liễu vùi hoa không chút thẹn,

Bạc tình bội nghĩa có ra chi.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

DẬT DỜ

Dật dờ cùng nghĩa với chữ “Vật vờ”, là lay động, lơ lửng, ngã nghiêng, không tỉnh, bơ phờ.

Dật dờ còn có nghĩa là không có gì ổn định.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Trên đường đời đầy dẫy những chông gai hiểm trở trong lúc thiên hạ đua nhau tôn thờ tiền tài danh vọng để mặc tâm hồn dật dờ trong vòng tối tăm tội lỗi. Trong lúc người ta chực chờ cấu xé nhau, giết hại nhau đề tranh giành lợi lộc, chúng ta lại may mắn được che chở dưới bóng từ bi, được sống một đời an vui thanh đạm.

Sông núi dật dờ chờ tạo khách,

Hoá Công nên núi Ðạo nên thiền.

(Đạo Sử).

Kìa lũ én dật dờ cánh liệng,

Dựa chơn mây kêu tiếng nỉ non.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Để cho ai phải phận dật dờ,

Mà chẳng kẻ tay dơ bộ sách.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

DÂU

1.- Dâu là loài cây trồng để lấy lá nuôi tằm. Như: Trồng dâu chăn tằm, dâu bể, trăm dâu đổ đầu tằm.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Chúng ta phục vụ cho Ðạo, ví như thân tằm đã chịu ơn dâu thì phải tận tuỵ với mối tơ, dầu đến ngày cũng còn kéo chỉ.

Phòng cơn biển nọ hoá cồn dâu,

Chưa hết quan viên há hết chầu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ngày chờ mây áng ngàn dâu khuất,

Ðêm bặt đèn khuya một bóng nhìn.

(Bát Nương Giáng Bút).

2.- Dâu là vợ của con trai mình. Như: Làm dâu, con dâu, chị dâu, dâu hiền gái thảo.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bần Đạo đã nói cái Luật Thương Yêu ấy nó không định giới, định hướng đặng, và chúng ta có thể nói, trong một gia đình đương nhiên bây giờ, ta có con trai phải cưới dâu trong Tông Đường khác, ta có con gái phải gả cho Tông Đường khác, thì nó mới sống lụng lại trong gia đình của chúng ta, sự thương yêu nó không định giới định hướng là vậy.

Ở sao đáng phận đạo dâu,

Thờ chồng tiết hạnh mới hầu gái ngoan.

(Kinh Sám Hối).

Đạo dâu con vui chẳng dám cười,

Đôi phen gạt lụy rơi không dám khóc.

(Phương Tu Đại Đạo).

Tiếng đời ví dâu là nội bộc,

Lại gọi rằng ngoại tộc nữ sanh.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

DÂU BỂ

Dâu bể, bởi chữ “Tang hải 桑 海”, tức biển dâu.

Theo Thần tiên truyện thì cứ ba chục năm lại có một lần thay đổi, biển xanh hoá thành ruộng dâu, ý nói sự thay đổi. Nghĩa bóng: Một cuộc biến đổi lớn lao.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Ðời thấm thoát, thế gay go, trăm năm thoát qua điều dâu bể, khách trần, hỏi có bao nhiêu kẻ lấy danh phận đem vào cảnh tuyền đài, để nâng mình lên địa vị cao thượng đặng chăng?

Xem: Tang hải thương điền.

Đã hay rằng thiên địa tuần huờn,

Nỗi dâu bể tang thương đau xót.

(Văn Tế Đốc Học).

Tóc râu pha đậm màu dâu bể,

Mừng cái lương tri giữ đặng còn.

(Thơ Thuần Đức).

Thoạt nhớ đến tan tành dâu bể,

Cuộc biến thường ai dễ chống ngăn.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

DÂU CON

Dâu: Chỉ người phụ nữ có chồng, trong quan hệ với cha mẹ chồng và gia đình bên chồng. Con: Kẻ đã được cha mẹ sinh ra.

Dâu con là từ nói chung chỉ nàng dâu và con cái. Như: Dâu con trong nhà mà ai lại tính toán.

Chàng dầu đặng thảnh thơi cảnh trí,

Hộ dâu con giữ kỹ nhơn luân.

(Kinh Thế Đạo).

Giữ công cô trọn phận dâu con,

Đừng để đến hao mòn thân thể.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

DÂU HIỀN RỂ THẢO

Dâu hiền: Người con dâu hiền lành. Rể thảo: Chàng rể hiếu thảo.

Dâu hiền rể thảo ý chỉ gia đình may mắn, cưới gả cho con gặp được dâu rể hiền lành, hiếu thảo.

Lời tục ví dâu hiền là gái,

Lại gọi rằng rể thảo ấy là trai.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

DẤU

1.- Dấu là cái còn lưu lại của sự vật hoặc sự việc đã qua đi.

Như: Dấu chân trên bãi cát, dấu binh lửa, dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh.

Ðức trước hưởng thừa tâm vẹn giữ,

Nhân sau để dấu chí đừng lay.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tiếc thay một gánh cơ đồ,

Xa thơ khuất dấu ngọn cờ bặt tăm.

(Ngụ Đời).

2.- Dấu là yêu thương, trìu mến. Như: Yêu dấu, trộm dấu thầm yêu.

Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy Ngài Thượng Trung Nhựt có câu: Thầy rất đẹp lòng đặng môn đệ ái kính như các con yêu dấu nơi Thánh địa nầy.

Hạnh ngay thật là nét yêu dấu của Thầy, con nghe!

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

DẤU VẾT

Dấu: Hình, vết ghi để nhớ. Vết: Dấu để lại.

Dấu vết là cái còn lại do kết quả tác động của hiện tượng đã qua, dựa vào đó có thể nhận biết được về hiện tượng ấy. Như: Dấu vết tàn phá của trận bão lụt.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Cơ hội ngàn năm một thuở, ví như Ðấng Chí Tôn không khai mối Ðạo Trời, cái đà sống của mỗi người chúng ta trong thời loạn là cần cù mưa nắng vì manh áo bát cơm, nay di cư chỗ nầy, mai đổi dời chỗ khác, phải chịu cảnh lầu Tần quán Sở, cay đắng trăm bề, trong lúc loạn ly thì vàng thau chung chạ, ngọc đá bất phân, ngoài ra còn bận bịu gánh thê nhi, não nề tình ấm lạnh, rồi đến khi Thiên số nan đào, thân cát bụi không còn để lại một dấu vết chi cho người đời nhắc nhỡ.

Non sông còn dấu vết tang thương,

Ghét bọn đầu cơ phản lập trường.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

DẦU

1.- Dầu, có khi đọc “”, là ví, nếu. Như: Dầu mưa nắng cũng cam, dầu cho sóng gió cũng chịu.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Các con phải hiểu rằng: Thầy là huyền diệu thế nào! Cách dạy, Thầy buộc tuỳ thông minh của mỗi đứa mà dạy. Dầu cho thầy phàm tục cũng phải vậy, nếu đứa dở mà dạy cao kỳ, nó biết đâu mà hiểu đặng.

Dầu sống sót cũng đành gọi thác,

Vui chi còn man mác tơ duyên.

(Kinh Thế Đạo).

Trần khổ dầu ai chơn muốn lánh,

Ngày thành Chánh quả có bao lâu?

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Dầu chẳng kẻ tay trao cơm vắt,

Trông có người biết mặt hỏi han mình.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Dầu là chất lỏng nhờn, không hoà tan trong nước, nhẹ hơn nước, lấy từ các nguồn thực vật, động vật hay khoáng vật, dùng để ăn, chữa bệnh hay thắp đèn. Như: Dầu dừa, dầu khuynh diệp, dầu lửa, dầu thơm.

Thánh giáo Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng dạy: Có đèn dầu đầy mà thiếu hơi lửa nhen lên, thì cũng phải mờ mịt thâm u, trông chi soi sáng.

Ðức tin như cái đèn dầu,

Ðèn mà không cháy tại dầu khô khan.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

3.- Dầu là phơi dãi, gánh chịu, dan chịu (mưa nắng hay sương tuyết).

Như: Nắng dãi mưa dầu, dãi dầu mưa nắng.

Sanh đời nắng lửa với mưa dầu,

Tội là đâu, phước lại là đâu?

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Dù cho mưa nắng dãi dầu,

Thân con phú có trăng thu soi giùm.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

DẦU DÃI

Dầu: Dan chịu. Dãi: Phơi.

Dầu dãi, như chữ “Dãi dầu”, là phơi bày ra để chịu dầm mưa dãi nắng.

Như: Dầu dãi sương gió.

Xem: Dãi dầu.

Nắng mưa dầu dãi chi sờn,

Thâm tình ruột thịt còn hơn bạc vàng.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

DẦU SỐNG SÓT CŨNG ĐÀNH GỌI THÁC

Dầu sống sót cũng đành gọi thác, ý nói người vợ tuy còn sống sót (vị vong nhân) nhưng xem như mình đã chết rồi, tức không còn tha thiết với cuộc đời nữa.

Người đàn bà ngày xưa khi chồng đã chết rồi, thường tự xưng mình là “vị vong nhân 未 亡 人”, tức là người chưa chết, ý muốn nói phận đàn bà buộc phải theo chồng, lẽ ra chồng chết phải chết theo, nếu còn sống sót là người đáng chết mà chưa chết vậy.

Dầu sống sót cũng đành gọi thác,

Vui chi còn man mác tơ duyên.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

DẦU THƠM

Dầu: Chất lỏng, nhờn, lấy từ hạt hay ở cây cối, hoa cỏ. Thơm: Có mùi như hương của hoa, dễ chịu.

Dầu thơm là nước hoa, nước thơm chế từ tinh dầu của hoa hoặc chất hoá học.

Hễ thấy họ phấn son thơ thới,

Mình lại dâng cho tới dầu thơm.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

là tưởng, đoán thấy để liệu trước, phòng trước điều không bình thường hoặc không hay.

Như: Ai dè, dè đâu, nào dè.

Thánh giáo Thầy có dạy: Thầy đã giao cho mỗi đứa một quyền hành, thì Thầy cũng tưởng rằng các con biết trọng phẩm giá thiêng liêng mà bớt tánh phàm chút ít, nào nhiều đứa lại coi thế trọng hơn Thầy, coi Thầy dường như kẻ vô hình vô ảnh.

Lừa lọc cho cùng rồi nhứt định,

Đừng quen tính một chẳng hai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

DÈ CHỪNG

Dè: Tự hạn chế trong hành động, tránh không cho sai lầm hay phạm phải. Chừng: Tình hình sự việc nào đó cỏ thể xảy ra.

Dè chừng là chú ý đề phòng điều không hay có thể xảy đến. Như: Báo cho anh để anh dè chừng.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có dạy: Vậy, cái thưởng và cái phạt của Lão dùng điều đình Thánh giáo, nhiều khi chư hiền hữu, chư hiền muội không phương thấy lý đặng. Nên khá dè chừng, đừng vội luận nhảm bàn khùng mà mang tội thiêng liêng rất uổng, nghe!

Tấn thối dè chừng mưu kế hiểm,

Thiệt hư gìn nhẹm chước phương hay.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

DÈ DẶT

Dè: Tự hạn chế trong hành động, tránh không cho sai lầm hay phạm phải.

Dè dặt là tỏ ra có nhiều sự cân nhắc để hạn chế trong hành động.

Thánh giáo Thầy dạy: Xem đó thì các con khá dè dặt, kỉnh Thần, Thánh cho lắm, vì Thầy là bực Chí Tôn, lòng hay quảng đại mà tha thứ, chớ Thần, Thánh, hễ các con có lỗi thì cứ Thiên điều mà quở phạt các con, nghe à!

Gương hiếu hạnh giữ mình dè dặt,

Với mẹ cha phép tắc để nên gương.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

DÈO

Dèo là đèo, mang, kéo, dùng lực để tác dụng vật khác di chuyển. Như: Ghe máy dèo theo hai chiếc xuồng con.

Dèo là tình thế, những biểu hiện bên ngoài giúp nhận biết mọi sự việc.

Như: Anh hợp tác làm ăn với nó coi dèo thất bại.

Lựa dèo lựa thế độ nhơn sanh,

Khó dễ Thầy cho hiểu ngọn ngành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trăm năm chưa hẳn nên hiền đức,

Tấn nẻo chông gai khá lựa dèo.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

DÉP

Dép là đồ mang dưới bàn chân để đi, kết bằng cỏ, hoặc bằng da, nhựa, gồm có quai và đế.

Như: Dép nhựa, dép cao gót, dép quai ngang, giày gai dép cỏ.

Yến Tử Hà xưa lúc vận cùng,

Còn mang dép rách đến Quan Trung.

(Đạo Sử).

 

 

DÉP CỎ

Dép: Vật mang ở bàn chân. Cỏ: Loài cây có thân mềm, dùng làm thức ăn cho trâu bò, hoặc làm giầy dép.

Dép cỏ, cũng như chữ “Thảo hài 草 鞋” là giày cỏ.

Dép cỏ là loại dép được bện bằng cỏ dành cho kẻ ẩn sĩ hoặc người tu hành dùng.

Dùng dép cỏ để thể hiện người giản dị, tính cần kiệm và lòng từ bi, không muốn sát sinh hại vật.

Môn đệ của Thầy nhiều đứa muốn bỏ đạo y, ném dép cỏ, lột khăn tu mà mong hồi tục thế.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

DẸP

Dẹp, nghĩa rộng là làm cho yên, cho có trật tự.

Như: Dẹp bọn giặc cỏ, dẹp đường cho quan đi, dẹp cái chuyện ngày hôm qua không tốt đẹp đi.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Nhưng mùa Xuân là mùa sinh hoá đem đến nguồn sống cho vạn vật, con người trước cái hiện tượng hoán cựu canh tân thiên nhiên cũng tạm dẹp nỗi lo âu thường ngày đón rước Xuân về với hy vọng ngày Xuân sẽ đem đến cho mình những gì vui tươi tốt đẹp theo như ý muốn.

Quan Thánh Đế Huỳnh cân dẹp giặc,

Trừ nịnh tà gian tặc giúp đời.

(Lục Nương Giáng Bút).

Giữa cơn náo loạn trỗi cầm,

Lấy hơi hoà nhã dẹp lần bỉ thô.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

1.- Dê là động vật nhai lại, sừng rỗng, cong quặp về phía sau, cằm có túm lông làm thành râu, nuôi để lấy sữa, hoặc ăn thịt.

Như: Chăn dê, sữa dê, treo đầu dê bán thịt chó.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Khi ta đã xem tế Nam Giao, từ Thượng Cổ nhà Vua dâng cho Đức Chí Tôn ba cái vật là: Trâu, heo, và gọi là Tam sinh.

Hễ đuổi thì cậy con roi,

Muốn rượt thịt thổi còi khiển chó.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Dê còn có thể viết “Giê”, là hoạt động làm cho lúa sạch, bằng cách đổ từ trên cao xuống, để cho gió cuốn đi những bụi, rác, vỏ trấu.

Như: Đống lúa chỉ cần dê (giê) một lần là sạch.

Phải chăm nom cấy, gặt, đập, ,

Nuôi công đủ mọi bề đừng thiếu thốn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

DẾ

Dế là loài bọ cánh thẳng, có râu dài, cặp chân sau to khoẻ, đào hang sống dưới đất, ăn rễ cây.

Như: Dế nhủi, tiếng dế kêu sầu, dế mèn phiêu lưu ký.

Thi đề thảm lóng hơi oanh thán,

Cầm trỗi buồn nghe tiếng dế hoà.

(Bát Nương Giáng Bút).

Tiếng dế giống như lời chia thảm,

Ngọn đèn khuya nhấp nhoáng mùi hương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Oanh về tổ, dế reo tơ,

Đường về vắng bước như tờ canh khuya.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

DỂ

Dể là khinh bỉ, không coi ra gì. Như: khi dể, kẻ khinh người dể, chớ lờn chớ dể.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Khoác vào mình cái áo Ðạo chỉ vì mục đích riêng tư, những phần tử đáng thương hại đó toan che mắt bề trên, lừa dối thiên hạ, có khi chạy theo phe nầy nhóm kia, làm tay sai cho thế lực kim tiền, lợi dụng danh Ðạo, họ ví lời minh thệ trước Thiên bàn như một món đồ chơi, muốn ném vào xó nhà lúc nào cũng được. Tôi tin rằng quý vị Chức sắc trong hàng Thánh Thể Ðức Chí Tôn không lẽ có hành vi nông nổi như vậy... Vì làm như vậy tức là khinh thường Ðức Chí Tôn, khi dể các Ðấng Thần, Thánh, Tiên, Phật hình phạt thiêng liêng thế nào mỗi vị đều biết rõ.

Đừng có cậy giàu sang chẳng nể,

Không kiêng chồng khi dể công cô.

(Kinh Sám Hối).

Khi tế tự chớ lờn chớ dể,

Việc quan, hôn thủ lễ nghiêm trang.

(Kinh Sám Hối).

 

 

DỂ DUÔI

Dể: Coi thường, không kính nể.

Dể duôi là khinh rẻ, coi thường, không kính nể.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Thầy có dạy: Thầy hằng than rằng: Từ thuở có các con thì Thầy bởi lòng thương yêu vô tận của Thầy mà làm cho các con ra dể duôi khi lịnh, phản lại Thầy.

Chớ lầm tưởng trong hang vắng tiếng,

dể duôi sanh biến lăng loàn.

(Kinh Sám Hối).

Dễ gì lộn kiếp đặng làm người,

May đặng làm người chớ dể duôi.

(Giới Tâm Kinh).

 

 

DỂ KHINH

Dể: Coi thường, không kính nể. Khinh: Nhẹ, không nặng, coi rẻ.

Dể khinh, cũng như chữ “Khinh dể”, là xem thường, không coi ra gì, hay khi dể người khác.

Hai đường hoạ phước tua lừa lọc,

Vay trả cơ Trời chớ dể khinh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tu tề thì sửa vẹn gia đình,

Cái đạo nhơn luân chớ dể khinh.

(Đạo Sử).

 

 

DỂ NGƯƠI

Dể: Khinh rẻ, không kính nể. Ngươi: Tiếng dùng để chỉ người mà mình có ý không nể trọng.

Dể ngươi, đồng nghĩa với chữ dể duôi, là khi dể, xem thường người khác.

Như: Phải dè chừng đừng có dể ngươi nghe.

Mày râu đã đủ phận cùng người,

Biết Ðạo thì con chớ dể ngươi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Lợi danh đã đoạ biết bao người,

Nhiều kẻ nay còn ý dể ngươi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Giành phần mình đặng chẳng thương người,

Thói tục thường tình khéo dể ngươi.

(Đạo Sử).

 

 

DỄ

1.- Dễ là không khó. Như: Bài toán dễ, việc dễ làm, đường trơn dễ té.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Thử nghĩ, lập một nước còn dễ hơn dạy một người dữ đặng hiền, huống chi trong Tam Kỳ Phổ Ðộ nầy, các con phải độ rỗi cả nhơn loại khắp cả Năm Châu, thì trách nhậm ấy lớn lao là bực nào.

Dòng khổ hải dễ thường chìm đắm,

Mùi đau thương đã thấm Chơn linh.

(Kinh Tận Độ)

Bởi hoa chạ bên đường dễ hái,

Bởi buôn hương nặng ngãi nhiều nhơn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Dễ khi đi với tiếng “Gì”, tiếng “Có”, tiếng “Chi”, tiếng “Đâu”, tiếng “Nào”, hoặc trong câu có ý hỏi, có ý than thì nghĩa trái hẳn đi.

Như: Dễ gì làm xong việc, bài toán này không phải dễ đâu nghen.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Có thân là có cái Tâm, có cái Tâm không dễ gì điều khiển và gìn giữ cho trong sạch.

Dễ gì lộn kiếp đặng làm người,

May đặng làm người chớ dể duôi.

(Giới Tâm Kinh).

Nguồn Tiên tầm Ðạo dễ gì đâu?

Quyền phép Càn khôn một túi thâu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Mầu nhiệm dễ chi tìm thấu đáo,

Ðáo đầu mới rõ Ðạo là cao.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

DỄ DÀNG

Dễ: Không khó, không đòi hỏi phải có nhiều điều kiện hoặc phải cố gắng nhiều mới có được, làm được.

Dễ dàng là tỏ ra dễ, có vẻ dễ, không đòi hỏi nhiều điều kiện, nhiều công phu để đạt kết quả.

Thánh giáo Thầy có đoạn dạy: Của vô vi chưa chắc ai muốn lấy thì lấy tuỳ ý. Nếu làm Tiên, Phật đặng dễ dàng thì cả thế gian, miễn có học chút ít thì đã đặng làm Tiên, Phật rồi, vì luân hồi đâu có phòng sanh sanh tử tử.

Đùm bọc em, con ráng bước một đàng,

Đặng cho Mẹ dễ dàng cứu rỗi.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Đừng chê bỏ ra mòi rẻ rúng,

Con dao hay làm lụng dễ dàng.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

DỆT

1.- Dệt là tạo ra vải, chiếu bằng cách làm cho sợi hay lát kết vào với nhau thành tấm.

Như: Thợ dệt vải, dệt chiếu, xe tơ dệt lụa.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Tới nữa, ngoài cha mẹ và thầy, ta thấy ông già mình không có dệt vải mà có áo mặc, hỏi ra thì ổng làm ra tiền mà may cho mình, nhà mình không có rèn mà mình có dao chặt củi, biết rằng ông già mình làm ra tiền mẹ mình mua, thấy không làm ruộng mà mình có cơm ăn, đó là ông già mình làm mướn lấy tiền mua gạo.

Lòng cầu diễm phúc ban hồn nước,

Trời hiện tường vân dệt bức màn.

(Thơ Võ Thành Lượng).

2.- Dệt, nói tắt của chữ “Thêu dệt”, là bịa đặt, thêm thắt một cách khéo léo y như có thật.

Như: Không có gì cũng dệt thành chuyện, sự thật có một mà dệt ra thành mười.

Sư sinh tái hội lòng luôn nguyện,

Nào quản dư ngôn dệt méo tròn.

(Thơ Huệ Ngàn).

3.- Dệt làm cho đan kết, vướng mắc phải những thứ buồn phiền đau khổ. Như: Khêu sầu dệt thảm.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Vậy người đời dệt bằng nhiều đau khổ hơn là bằng vui sướng và chính những vui sướng đó lại làm cho đau khổ hơn khi không còn vui sướng nữa.

Dệt thảm lê dân Trời cám cảnh,

Khêu sầu xã tắc Đất kinh hồn.

(Thất Nương Giáng Bút).

Bó lòng thảm, dệt tâm đau,

Nâu sồng cậy phép đổi màu anh hoa.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

DỆT GẤM HỒI VĂN

Dệt gấm: Thơ dệt trên bức gấm, chỉ bài “Chức Cẩm Hồi Văn” của Tô Huệ. Hồi văn: Một thể văn viết quanh lên lộn xuống, khởi từ ông Tô Bá Ngọc đời nhà Tấn.

Dệt gấm hồi văn tức là “Chức cẩm hồi văn 織 錦 回 文”, là một bài thơ của Tô Huệ dệt quanh lộn trên bức gấm, rồi dâng lên cho vua để xin cho chồng đang tòng quân ngoài chiến địa được tha trở về quê nhà.

Xem: Dệt văn Tô Huệ.

Dệt gấm Hồi văn chưa, đã mấy,

Hơn ngồi trươu nuốt tấm tình si.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

DỆT GẤM THẤU BỆ RỒNG

Dệt gấm: Thơ dệt trên bức gấm, chỉ bài “Chức Cẩm Hồi Văn” của Tô Huệ. Thấu bệ rồng: Ý nói thấu đến nhà vua.

Dệt gấm thấu bệ rồng do tích Tô Huệ có chồng đang tòng quân ngoài biên giới, trời vào đông lạnh lẽo, nàng làm một bài thơ dệt lên gấm theo kiểu Hồi văn, gọi là “Chức Cẩm Hồi Văn”, để gửi vào cung vua.

Vua xem xong cảm động bèn tha cho chồng được về nhà sum họp gia đình.

Đề sầu khó nổi thông đường nhạn,

Dệt gấm khôn mong thấu bệ rồng.

(Thơ Thanh Thuỷ).

 

 

DỆT GẤM THÊU HOA

Dệt gấm: Tạo ra bức gấm bằng cách làm cho sợi tơ kết vào với nhau thành tấm. Thêu hoa: Thêu thùa bông hoa.

Dệt gấm thêu hoa là thêu và dệt nên bức hoa gấm đẹp đẽ, ý chỉ văn chương hay ngôn từ như gấm thêu.

Dệt gấm thêu hoa lời tuyệt mỹ,

Ngâm phong vịnh nguyệt ý triền miên.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

DỆT GẤM THÙA HOA

Dệt gấm: Tạo ra bức gấm bằng cách làm cho sợi tơ kết vào với nhau thành tấm. Thùa hoa: Thêu thùa bông hoa.

Dệt gấm thùa hoa, như câu “Dệt gấm thêu hoa”, ý nói văn chương hay lời nói đẹp đẽ như hoa thêu trên gấm.

Xem: Dệt gấm thêu hoa.

Mừng em bút pháp đầy hương sắc,

Dệt gấm thùa hoa nét nét thần.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

DỆT VĂN TÔ HUỆ

Dệt văn Tô Huệ tức là “Chức cẩm hồi văn 織 錦 回 文”, một thể văn biệt thể, khởi từ ông Tô Bá Ngọc đời nhà Tấn.

Sách Tấn Thư Truyện Liệt Nữ chép: Vợ của Đậu Thao họ Tô tên Huệ, tự là Nhược Lan. Đậu Thao tùng chinh vùng lưu sa (Sa mạc), Tô Huệ dệt gấm, dệt thành bài thơ hồi văn, xin cho chồng về, dệt năm màu chỉ tươi đẹp, dọc ngang qua lại, lời rất bi thương.

Trăm nghề dầu chẳng đủ tài,

Dệt văn Tô Huệ gỡ đày chinh phu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Dệt văn Tô Huệ nhàn bay vía,

Giáng thế Hằng Nga thấy giựt mình.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

DI

1.- Di là sót, để lại, không dùng một mình. Như: Di chiếu của vua, di hài của Đức Giáo Chủ, di ngôn.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Các anh em không nên làm việc gì có di hại cho xứ sở, các anh em phải làm sao cho xứng đáng mình trong công cuộc xây dựng Tổ Quốc.

Tích kim di tử tôn,

Tử tôn vị tất năng thủ.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Di là dời đi nơi khác. Như: Di cư, di dân, phần mộ đã di vào nơi nghĩa trang.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Đã hai mươi mấy năm Bần Đạo còn nhớ cái ngày di Liên Đài của Đức Cao Thượng Phẩm ra Tháp, Bần Đạo còn hứa với Ngài một điều rất trọng hệ...

Vì vậy mà thì giờ vui hay buồn cứ trôi qua, nhưng tình yêu thương vô tận giữa bạn đồng hành vẫn tồn tại bất di bất dịch.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

DI ẢNH

遺 影

Di: Để lại cho người sau, người chết để lại. Ảnh: Hình ảnh.

Di ảnh là hình ảnh của người xưa hay của ông bà, cha mẹ chết để lại.

Nén khổ cho vui ngoài thoát khổ,

Buồn xem di ảnh buổi sanh tiền.

(Thơ Vạn Năng).

 

 

DI ĐÀ PHẬT

彌 陀 佛

Hay “Di Đà”.

Di Đà Phật hay “Di Đà 彌 陀”, tức là Phật A Di Đà.

Một trong những vị Phật quan trọng trong Phật giáo Đại thừa. Ngài được thờ trong các ngôi chùa của phái Tịnh Độ Tông tại Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam.

A Di Đà là một vị Phật làm Giáo chủ cõi Tây Phương Cực Lạc. Ngài biểu hiện cho từ bi và trí tuệ. Ngài có phát 48 lời nguyện rộng lớn là cứu độ tất cả chúng sanh, trong đó có lời nguyện sẽ tiếp dẫn vãng sanh về cõi Tịnh độ, nếu chúng sanh nào hướng niệm đến Ngài.

Xem: A Di Đà.

1.- Di Đà Phật:

Trong nhà sẵn có Di Đà Phật,

Còn phải tìm đâu để thọ truyền.

(Thơ Hiến Pháp).

2.- Di Đà:

Tây phương Phật Tổ Di Đà,

Nam Hải Phổ Đà cứu khổ Quan Âm.

(Giới Tâm Kinh).

Thành tâm khả tụng kệ Di Ðà,

Bất vấn trì môn ngữ thậm đa.

(Đạo Sử).

 

 

DI HÀI

遺 骸

Di: Để lại. Hài: Xương cốt hình thể con người.

Di hài tức là xác thân của người chết còn để lại.

Truyện Kiều, Nguyễn Du có câu: Di hài nhặt gói về nhà, Nào là khâm liệm nào là tang trai.

Trong đạo Cao Đài, khi Đức Hộ Pháp Đăng Tiên, Ngài có căn dặn để di hài nằm yên nơi Tần quốc một thời gian, rồi sau đó sẽ di về Tổ đình nhập bửu tháp.

Cửa Phạm Pháp Đường nghinh bửu ảnh,

Liên Đài Ngọc Tháp lộng di hài.

(Thơ Kim Hường).

 

 

DI LẠC CHƠN KINH

彌 勒 真 經

Di Lạc Chơn Kinh là một bài kinh tận độ do Đức Thích Ca Mâu Ni giáng cơ ban cho chúng sanh trong thời Tam Kỳ Phổ Độ tụng đọc.

Theo nội dung bài Kinh, Đức Di Lạc Vương Bồ Tát chưởng quản hai tầng trời Hỗn Nguơn Thiên và Hội Nguơn Thiên, trong đó Hỗn Nguơn Thiên có các vị Phật: Brahma Phật, Civa Phật, Christna Phật, Thanh Tịnh Trí Phật, Diệu Minh Lý Phật, Phục Tưởng Thị Phật, Diệt Thể Thắng Phật, Phục Linh Tánh Phật và Hội Nguơn Thiên có các vị Phật: Trụ Thiện Phật, Đa Ái Sanh Phật, Giải Thoát Khổ Phật, Diệu Chơn Hành Phật, Thắng Giái Ác Phật. Tất cả các vị Phật theo lịnh Di Lạc Vương Phật cứu giúp tam tai, cứu giúp bịnh tật, cứu độ và dẫn dắt chúng sanh thoát hết các nghiệp chướng, ắt được giải thoát.

Trong Di Lạc Chơn Kinh có câu: Thích Ca Mâu Ni Văn Phật thuyết: Di Lạc Chơn Kinh 釋 迦 牟 尼 文 佛 說: 彌 勒 真 經, nghĩa là Đức Thích Ca Mâu Ni Văn Phật thuyết giảng về bài “Di Lạc Chơn Kinh”.

Di Lạc Chơn Kinh cầu tụng niệm,

Nguyện xin Hộ Pháp rưới ân Thiên.

(Thơ Minh Tấn).

Sau mười năm Đại Đạo hoằng khai,

Di Lạc Chơn Kinh tụng niệm hoài.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

DI LẠC VƯƠNG

彌 勒 王

Hay “Di Lạc Vương Bồ Tát”.

THEO PHẬT GIÁO

Di Lạc Vương Phật hay Di Lạc Vương Bồ Tát đều là Hồng danh của Đức Phật Di Lạc. Có điều gọi Di Lạc Vương Phật là để chỉ Đức Ngài đang hành quyền cai quản chư Phật, còn gọi Di Lạc Vương Bồ Tát để chỉ Đức Ngài còn đang là vị Bồ Tát thi hành nhiệm vụ giáo hoá và phổ độ chúng sanh.

Di Lạc Bồ Tát là do tiếng Phạn “Maitreya Bodhisattva” phiên dịch ra, có nghĩa là Từ Thị 慈 氏 (Đấng Từ bi có lòng thương rộng lớn), Vô Năng Thắng (có trí huệ và từ bi thù thắng, không ai hơn), dịch là A Dật Đa 阿 逸 多.

Theo Lời Phật Thích Ca nói thì Đức Di Lạc Bồ Tát còn đang ở trên tầng trời Đâu Suất thuyết pháp, đợi đến ngày giáng sinh làm người ở trần gian để tu thành Phật ở Hội Long Hoa, tức là một vị Phật tương lai, sau Đức Thích Ca Mâu Ni vậy.

Phật Di Lạc tượng trưng cho vị Phật tương lai. Người ta thường thờ Ngài chung với Phật Thích Ca Mâu Ni (hiện tại) và Nhiên Đăng Cổ Phật (quá khứ), gọi là Tam thế chư Phật (đời quá khứ, hiện tại, tương lai).

Đức Di Lạc thường thị hiện ở cõi trần để hoá độ chúng sanh nhưng không ai hay biết Ngài là ai. Đức Di Lạc được Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thọ ký kế thừa Phật vị của Ngài, tức là một vị Bồ Tát sẽ thành Phật tại cõi nhân gian và sẽ kế thừa Đức Phật Thích Ca để giáo hoá chúng sanh.

Di Lạc Bồ Tát là hiện thân cho đức tính hỷ xả: Bởi vì Ngài thấy được các pháp do nhân duyên sinh khởi, không thật, chỉ có giả danh, nên Ngài không có chấp trước các pháp. Tượng thờ Đức Di Lạc Bồ Tát, người ta tạc Ngài và có sáu đứa bé đeo theo chọc phá, đó là tượng trưng cho sáu thức (Lục tặc) luôn luôn quấy rối, nhưng Ngài vẫn an vui tự tại, hoan hỷ như thường.

Đức Phật Di Lạc có nhiều lần hoá sanh xuống trần để cứu độ chúng sanh.

1.- Có thuyết cho rằng Bố Đại Hoà thượng 布 袋 和 尚 sinh vào thời Ngũ Đại chính là Đức Di Lạc giáng sinh.

Trong Phật giáo Trung Hoa, từ thế kỷ 10, Hoà thượng Bố Đại được xem là hiện thân của Đức Di Lạc.Đời sống của Hoà thượng Bố Đại không hề khác nhau với Thích Ca Mâu Ni Phật, không những Ngài không có đạo tràng mà Ngài cũng không có nơi ở, trong lịch sử danh tánh cũng không có, pháp danh cũng không có. Người ta chỉ biết mỗi ngày Ngài mang một cái túi vải to (chữ Nho gọi bố đại) đi dạo khắp nơi, cho nên mọi người gọi Ngài là Bố Đại Hoà thượng.

Tương truyền Bố Đại Hoà thượng có thân hình mập mạp, mặt tròn, bụng to, miệng luôn luôn cười vui, vai lúc nào cũng mang túi vải, tay cầm cây tích truợng.

Có nhiều câu chuyện lạ lùng kể về Ngài.

Một hôm, Bố Đại Hoà thượng gặp một vị Thiền sư đến hỏi Ngài: Phật pháp là thế nào?

Ngài liền để cái túi vải xuống đất, duỗi hai tay ra, không nói một câu nào. Qua cử chỉ trên, Ngài muốn cho biết: Việc bỏ túi vải xuống đất là ý buông xả tất cả, dù là Phật pháp, nếu còn đeo đẳng, còn chấp chặt thì không thể nào thấu đạt Phật pháp.

Thiền Sư thấy vậy hỏi tiếp: Chỉ có như vậy, hay lại có việc hướng thượng?

Bố Đại mang túi vải lên vai rồi đi. Có nghĩa buông xả rồi đứng yên là có ý chỉ tâm thanh tịnh. Sau đó quải túi vải lên vai rồi thông thả đi là có ý cho biết Ngài ung dung tự tại, nhưng dấn thân vào đời để làm lợi lạc cho chúng sinh.

Ý Ngài muốn nói buông bỏ rồi phải hướng thượng, buông bỏ được mà không lấy lên được thì không tác dụng. Sau khi buông bỏ mà không chịu nhấc lên là Tiểu thừa, sau khi buông bỏ lại có thể nhấc lên là Bồ Tát.

Nhấc lên nghĩa là gì? Là cứu độ chúng sanh, vì chúng sanh phục vụ, buông bỏ không vì chính mình, hoàn toàn vì chúng sanh, đó là hạnh Bồ Tát, như vậy mới có thể tương ưng với pháp.

Tương truyền, trước khi viên tịch, Bố Đại Hoà thượng ngồi trên bàn thạch, gần mái chùa Nhạc Lâm để lại bài kệ nói rằng, mình là hiện thân của Di Lạc nên từ đó, bên Phật giáo gọi ông là Di Lạc Bố Đại hoà thượng.

Bài kệ đó như sau:

 

Di Lạc chân Di Lạc,

 

彌 勒 真 彌 勒

 

Phân thân thiên bách ức.

 

分 身 千 百 億

 

Thời thời thị thời nhân,

 

時 時 示 時 人

 

Thời nhân tự bất thức.

 

時 人 自 不 識

Nghĩa là:

 

Di Lạc, thật Di Lạc,

Phân thân trăm ngàn ức.

Luôn luôn chỉ người đời,

Người đời tự chẳng biết.

2.- Ngoài ra, có thuyết cũng cho rằng nhà Sư Tăng Can là Di Lạc Bồ Tát giáng sinh, câu chuyện về nhà sư Tăng Can được kể như sau:

Vào thời nhà Tùy, bên cạnh ngôi chùa Quốc Thanh có cái am do một nhà sư tên là Tăng Can ở, nhưng không ai biết về gốc tích của Ngài, chỉ biết thường ngày Ngài đi thuyết giáo khắp mọi nơi, có điều kỳ lạ nhứt là thỉnh thoảng thấy Ngài cỡi cọp về am, khiến tăng chúng chùa Quốc Thanh phải hoảng sợ.

Có lần Ngài ẵm về một đứa bé tên là Thập Đắc về gởi nuôi trong chùa Quốc Thanh. Lại có nhiều khi người ta thấy trong núi tuyết có người ăn mặc rách rưới như kẻ ăn mày, có tên là Hàn Sơn, cũng xin vào chùa trú ngụ.

Hai người nầy ở chùa có những cử chỉ, hành động khinh thường Phật pháp, nên không được tăng chúng coi trọng, xem như ăn mày. Khi họ muốn ăn cơm phải đợi cả tăng chúng ăn xong rồi hai người mới được ăn những thức ăn còn thừa lại.

Một hôm vào buổi trưa vắng vẻ, tình cờ có một vị tăng đi vào Chánh điện thấy một người leo lên ngồi trên cổ tượng Văn Thù Bồ Tát, còn người kia leo lên ngồi trên vai Phổ Hiền Bồ Tát. Sự việc được báo cho Hoà thượng Trụ Trì biết, cả hai người bị chư tăng lôi xuống và Hoà thượng quở về tội bất kính Tam bảo.

Nhà sư Tăng Can sau khi tịch, có về báo mộng tự xưng mình là Phật Di Lạc, cho một vị Quan huyện sở tại đang mắc bịnh nan y, và bảo quan huyện muốn được dứt binh, thì đến chùa Quốc Thanh tìm cho được hai người tên là Hàn Sơn và Thập Đắc đảnh lễ, rồi đến cầu nguyện với Đức Văn Thù Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát để ban cho phương thuốc trừ dứt bịnh. Nhà sư Tăng Can cũng cho biết chính Hàn Sơn và Thập Đắc là hoá thân của Đức Văn Thù và Phổ Hiền Bồ Tát.

Hôm sau, quan huyện đến chùa đòi gặp cho được hai vị Hàn Sơn và Thập Đắc. Hoà thượng Trụ Trì cùng tăng chúng ngạc nhiên tại sao quan huyện sở tại lại biết và có vẻ kính trọng hai người ăn mày ấy. Sư Trụ Trì bảo kẻ đệ tử gọi hai người ấy ra, quan huyện vừa thấy mặt bèn quỳ mọp xuống lạy.

Hàn Sơn và Thập Đắc đồng cười mà nói rằng: Cái lão Tăng Can bày ra chuyện làm cho chúng ta bại lộ rồi. Nói rồi cả hai người đi mất dạng.

Vị Hoà Thượng cùng tăng chúng tại chùa Quốc Thanh hỏi quan huyện sở tại, thì mới biết rằng Tăng Can chính là Đức Di Lạc hoá thân, còn Hàn Sơn và Thập Đắc là Văn Thù và Phổ Hiền Bồ Tát hoá thân.

THEO CAO ĐÀI.

Trong Di Lạc Chơn Kinh, bài Kinh do Đức Thích Ca Mâu Ni giáng cơ ban cho chúng sanh vào thời Tam Kỳ Phổ Độ cho biết: Đức Di Lạc Vương Phật cai quản hai từng trời: Từng Hội Nguơn Thiên (từng trời thứ 11), và Hỗn Nguơn Thiên (từng trời thứ 12).

Dưới từng Hội Nguơn Thiên là Hư Vô Thiên (từng trời thứ 10), dưới nữa là Cửu Trùng Thiên.

Bài Kinh Đại Tường của đạo Cao Đài có cho biết, Đức Phật Di Lạc một lần nữa phải tái sinh để thi hành những nhiệm vụ sau:

1.- Đức Di Lạc Vương Phật sẽ giáng sanh xuống trần vào thời Tam Kỳ Phổ Độ một lần nữa để sửa lại cho đúng Chơn truyền của các tôn giáo trong thời Nhị kỳ phổ độ do bị người đời canh cải. Ngài đóng các tầng Địa Ngục, A Tỳ để mở cơ tận độ các Chơn linh, giải phóng các tội hồn cho đi đầu thai trả quả, lo tu hành để được cứu vớt trong sự ân xá của Đức Chí Tôn.

Tái sanh sửa đổi Chơn truyền,

Khai cơ tận độ Cửu tuyền diệt vong.

2.- Đức Di Lạc Vương Phật vào thời kỳ Hạ nguơn mạt pháp nầy vì nhiều tôn giáo, nhiều tín ngưỡng chống báng nhau, Ngài phải thâu tóm các Đạo hữu hình để thống nhứt lại thành một mối Đạo, và mở trường thi công đức do Ngài làm chánh chủ khảo, tuyển lựa các Chơn linh tu hành tinh tấn, Ngài sẽ tùy công đức mà phong Thần, Thánh, Tiên hay Phật trong kỳ Đại Hội Long Hoa.

Thâu các Đạo hữu hình làm một,

Trường thi Tiên, Phật dượt kiếp khiên.

3.- Con người càng ngày càng trở nên hung bạo, xã hội đồi phong bại tục, con người thiếu đạo đức, Đức Di Lạc Vương Bồ Tát có nhiệm vụ dạy dỗ để tạo lập đời Thượng Nguơn Thánh đức, dân chúng trở nên hiền lương, một xã hội Đại đồng trong giềng bảo sanh của Đức Chí Tôn.

Tạo đời cải dữ ra hiền,

Bảo sanh nắm giữ diệu huyền Chí Tôn.

Tại Toà Thánh Tây Ninh, trên nóc của Phi Tưởng Đài có tượng Đức Phật Di Lạc ngồi toà sen đặt trên lưng một con cọp vàng. Tượng Di Lạc biểu hiệu cho thời kỳ Đại Hội Long Hoa do Đức Di Lạc Vương Phật làm Chưởng giáo, cọp vàng tượng trưng năm Bính Dần là năm khai nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

1.- Di Lạc:

Vào Lôi Âm, kiến A Di,

Bộ Công Di Lạc Tam Kỳ độ sanh.

(Kinh Tận Độ).

Hỗn Nguơn Thiên dưới quyền Giáo chủ,

Di Lạc đương thâu thủ phổ duyên.

(Kinh Tận Độ).

2.- Di Lạc Vương:

Long Hoa giữ chơn truyền chánh giáo,

Di Lạc Vương lãnh đạo kỳ ba.

(Long Hoa Hội).

Di Lạc Vương an ngự bửu toà,

Nắm quyền chủ khảo Hội Long Hoa.

(Thơ Huệ Phong).

3.- Di Lạc Vương Bồ Tát:

Nam Mô Di Lạc Vương Bồ Tát, năng cứu khổ ách, năng cứu tam tai, năng cứu tật bịnh, năng độ dẫn chúng sanh thoát chư nghiệt chướng tất đắc giải thoát.

(Di Lạc Chơn Kinh).

 

 

DI NGÔN

遺 言

Di: Để lại. Ngôn: Lời nói.

Lúc hấp hối những lời nói để lại cho người thân gọi là di ngôn.

Trong Đạo Cao Đài, khi Đức Hộ Pháp đăng Tiên, Ngài có để lại một “Bản di ngôn” gởi Thánh hài nơi Tần Quốc và căn dặn Hội Thánh: Ngày nào nước nhà độc lập thống nhứt hoặc thực hiện đúng theo đường lối Hoà bình Trung lập, sẽ di Liên đài về Toà Thánh Tây Ninh.

Bản di ngôn trước đệ đến vua Miên,

Gởi hài cốt Kiêm Biên còn phụng tự.

(Cội Đạo Bốn Mùa).

 

 

DI PHONG DỊCH TỤC

移 風 易 俗

Di phong: Phong tục bị dời. Dịch tục: Thói tục bị đổi.

Di phong dịch tục có nghĩa là phong dời tục đổi, ý nói thay đổi phong tục.

Xem: Phong dời tục đổi.

Vì Nhạc có thể khiến dân thuần hậu và có thể di phong dịch tục.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

DI TỀ

夷 齊

Di Tề là viết tóm tên của hai nhân vật đời Thương là Bá Di và Thúc Tề.

Bá Di, Thúc Tề là hai người con của vua Cô Trúc ở cuối đời Thương, đầu đời Châu. Bá Di là anh cả, Thúc Tề là em út. Vua Cô Trúc yêu Thúc Tề, lập di mệnh cho Thúc Tề nối ngôi. Quốc dân theo di mệnh lập Thúc Tề, Thúc Tề không chịu, nhường lại cho Bá Di cho phải lẽ. Bá Di cũng không chịu, nhường lại cho Thúc Tề để tuân lệnh cha. Không ai chịu nhận rồi cả hai trốn vào núi ở ẩn, quốc dân phải lập người con giữa.

Lúc đó Bá Di và Thúc Tề nghe tiếng Ông Tây Bá Xương khéo nuôi người già, muốn tới quy phục. Tới nơi thì Tây Bá đã mất. Vua Võ Vương chở thần chủ (Linh vị) của Tây Bá đem quân qua đông phạt Trụ. Bá Di Thúc Tề dập đầu trước ngựa mà can rằng: Cha mới chết (Tây Bá Xương) mà dấy động can qua thì có đáng gọi là hiếu không? Làm tôi đánh vua có đáng gọi là trung không? Kẻ tả hữu của nhà vua muốn giết, ông Thái Công bảo: Hai người đó là hiền sĩ, bèn đỡ dậy, rồi thả cho đi.

Khi Võ Vương đánh Trụ thắng, lên làm vua xưng hiệu nhà Châu, thiên hạ đều thần phục, chỉ Bá Di, Thúc Tề cho hành vi của Võ Vương là đáng xấu hổ, nên không thờ nhà Châu và giữ nghĩa khí, chẳng chịu ăn lúa nhà Châu, lên ở ẩn trên núi Thú Dương, hái rau vi mà nuôi sống. Có người gặp, chê rằng: Không ăn thóc nhà Châu, đi ăn rau để sống. Vậy chớ ngọn rau tấc đất không phải của nhà Châu là gì? Bá Di, Thúc Tề nghe được câu chuyện đó, bèn nhịn đói mà chết.

Chằng mắt rán nhìn hưng Kiệt Trụ,

Dằn lòng nán đợi mạt Di Tề.

(Thơ Hộ Pháp).

Hai chữ nghĩa phương thường nắm giữ,

Dạy nuôi rèn đúc chí Di Tề.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

DI TRUYỀN

遺 傳

Di: Để lại đời sau, không dùng một mình. Truyền: Trao lại, đưa đi xa.

Di truyền là truyền lại cho thế hệ sau.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Cái sở năng của mình cũng như cái huyền bí vô cùng tận của Càn Khôn Vũ Trụ, bởi vì nó sản xuất do tánh đức di truyền của nguơn linh mỗi người chúng ta, cho nên con đường dục tấn trí thức của toàn nhơn loại trong Càn Khôn Vũ Trụ với cơ quan hữu hình tức là xác thịt họ đối lại phần vô vi, tức là nguơn linh trong Càn Khôn Vũ Trụ chưa có mức hữu định, còn dục tấn mãi.

Lời kệ sám di truyền khuyến thiện,

Câu văn từ luận biện thật thà.

(Kinh Sám Hối).

 

 

DÌ GIÓ

Dì gió, dịch nghĩa từ chữ “Phong di 風 姨”, để chỉ một vị Thần làm gió.

Theo Bác Dị Chí, Thần gió được gọi là Phong gia thập bát di 風 家 十 八 姨, tức là dì mười tám nhà họ Phong.

Nghĩa bóng: Chỉ người đưa tin.

Đổ ngọc chị Hằng cười ngả ngớn,

Trông hoa Dì gió ngủ thiu thiu.

(Lục Nương Giáng Bút).

Cậy gió, hềm Dì gió đảo điên,

Mượn trăng, e ả trăng xao lãng.

(Tuý Sơn Vân Mộng).

 

 

DỈ HƠI

Dỉ: Như chữ “rỉ” là nói nhỏ vào tai. Hơi: Tiếng nói.

Dỉ hơi, như chữ “Rỉ hơi”, là há miệng ra mà nói, hoặc kêu than cho hả hơi.

Như: Tôi ngồi nín thinh, không dám dỉ hơi chút nào.

Nghe từ lịnh, cúi vâng từ mạng,

Nhọc lòng chi nào dám dỉ hơi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

DĨ CHÍ

已 至

Dĩ: Thôi, đã, sự đã qua. Chí: Tới, đến.

Dĩ chí là cho đến.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bần Ðạo quả quyết rằng: Không phải là một sự tình cờ, và nếu Bần Ðạo chứng chắc rằng toàn con cái của Ngài đều ở trong lòng của Ngài, sanh ra đã có một tình yêu đối cùng nhau, từ trong vật loại dĩ chí nhơn thân chúng ta đã có liên quan mật thiết nồng nàn, khối tình ái vô biên vô hạn.

Từ bậc vua chúa dĩ chí thứ dân, ai cũng lấy sự học để sửa mình làm gốc.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

DĨ ĐỊNH

已 定

Dĩ: Thôi, đã, quá, sự đã qua. Định: Tính, định đoạt, không dời đổi.

Dĩ định là đã định như vậy, không thể nào thay đổi được.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có dạy: Thiên cơ dĩ định cho nền Ðạo sáng lập đặng cứu vớt sanh linh.

Mạc hối tiền trình căn dĩ định,

Tự nhiên dĩ hậu phản như tiền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tử sanh dĩ định tự Thiên kỳ,

Tái ngộ đồng hoan hội nhứt chi.

(Thơ Quý Cao).

 

 

DĨ ĐỨC PHỤC NHÂN

以 德 復 人

Dĩ đức: Lấy đức hạnh. Phục nhân: Làm cho người phục, tức khuất phục người.

Dĩ đức phục nhân là lấy cái đức độ của mình để làm cho người phục.

Mạnh Tử xưa đã từng nói: Dĩ lực phục nhân giả, phi tâm phục dã, lực bất thiệm dã, dĩ đức phục nhân giả, trung tâm duyệt nhi thành phục dã 以 力 復 人 者, 非 心 復 也, 力 不 贍 也. 以 德 復 人 者, 中 心 悅 而 誠 復 也, nghĩa là lấy sức mạnh phục người, không phải là tâm phục, vì sức yếu hơn; lấy đức phục người, trong lòng vui vẻ mà thành thật phục vậy.

Vậy có câu: “Dĩ đức phục nhơn” lập hoà bình bằng nhơn đức, mà chính các vị lãnh tụ không thật hành được mảy may nào cả...

(Thánh Giáo Thượng Phẩm).

 

 

DĨ HOÀ VI TIÊN

以 和 為 先

Dĩ hoà: Lấy chữ “Hoà”. Vi tiên: Làm điều đầu tiên.

Dĩ hoà vi tiên là lấy chữ hoà làm điều trước hết.

Dĩ hoà vi tiên có ý khuyên phải sống hoà hợp với mọi người trước hết, đó là điều quý báu nhứt.

Vì vậy, Thiếp khuyên các em dĩ hoà vi tiên.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

DĨ LỮ DIỆT DINH

Dĩ Lữ: Lấy họ Lữ, chỉ Lữ Bất Vi. Diệt Dinh (Doanh): Diệt họ Doanh, chỉ họ nhà Tần.

Dĩ Lữ diệt Dinh, như chữ “Dĩ Lữ diệt Doanh 以 呂 滅 贏”, là lấy họ Lữ làm tiêu mất họ Doanh (Dinh).

Do chuyện Lữ Bất Vi đời Chiến Quốc, đem vợ đang có thai hai tháng gả cho Dị Nhân, sau đẻ ra Tần Thuỷ Hoàng. Đúng ra, Tần Thuỷ Hoàng là họ Lữ (Con Lữ Bất Vi), chớ không phải họ Doanh, họ nhà Tần.

Như vậy, khi Tần Thuỷ Hoàng lên ngôi thì họ Dinh, họ vua nhà Tần từ đó đã tiêu mất, chỉ còn họ Lữ lưu truyền trong triều đại nhà Tần mà thôi.

Xem: Dĩ Mã diệt Ngưu.

Sanh gặp lúc ruộng dâu hoá bể, phong di tục diệt.

Nhìn nước non tha thiết tấm trung thành,

Ở phải hồi dĩ Lữ diệt Dinh, hiền vong ác thạnh,

Tìm công môn xa lánh cửa công khanh.

(Văn Tế Tiểu Tường).

 

 

DĨ MÃ DIỆT NGƯU

以 馬 滅 牛

Dĩ Mã diệt Ngưu, cũng như “Dĩ Ngưu diệt Mã”, là dùng họ Ngưu làm tiêu họ Mã.

Do tích nàng Hầu Thị vợ vua Đông Tấn là Tư Mã Cận, tư thông với một tiểu lại tên Ngưu Kim, sanh ra Tư Mã Duệ. Sau Tư Mã Duệ lên làm vua, lấy hiệu là Nguyên Đế, truyền lại mười một đời. Như vậy, từ Tư Mã Duệ về sau thực tế là họ Mã, nhưng bên trong mấy đời sau này là họ Ngưu, nên người đời gọi “Dĩ Ngưu diệt Mã”.

Xem: Dĩ Lữ diệt Dinh.

Nghĩ xưa buộc chính chuyên chẳng lạ,

Vì sợ đời dĩ Mã diệt Ngưu.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

DĨ VÃNG

已 往

Dĩ: Đã. Vãng: Qua.

1.- Dĩ vãng là người quá vãng, tức người đã chết.

Như: Làm lễ để tưởng niệm đến những người đã dĩ vãng, Ông nội anh ấy đã dĩ vãng.

Còn Thánh vị của chư môn đệ đã dĩ vãng thì tuỳ theo phái nó mà sắp kế theo bàn thờ Thầy.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

2.- Dĩ vãng còn có nghĩa là thời đã qua, tức chỉ thời gian thuộc về quá khứ.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Cái nguyên do làm cho nhân tâm ly tán nền Ðạo chinh nghiêng, chúng tôi xin miễn nhắc đến, đó là dĩ vãng.

Đau đớn nỗi mình, thương nỗi bạn,

Trông về dĩ vãng cuộn phim quây.

(Thơ Thuần Đức).

Ngơ ngác lúc quay về dĩ vãng,

Trễ tràng khi nghĩ đến tương lai.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

DỊ CHỦNG

異 種

Dị: Khác, lạ. Chủng: Giống người.

Dị chủng là người khác giống, ý chỉ người ngoại bang, khác với giống nòi của mình.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ngày giờ này vì quốc dân xu hướng theo văn minh tân thời mà muốn phế bỏ huỷ hoại và cũng do bởi cớ mà Ðức Thanh Sơn để câu thi tự hào rằng: “Văn hiến bốn ngàn năm có sẵn, Chi cần dị chủng đến dâng công?”. Nền văn hoá đạt được trải qua bốn ngàn (4.000) năm, không cần ai dâng công tạo văn hiến khác.

Trường thương lấp ló ít người,

Nơi tay dị chủng như Trời nắng mưa.

(Ngụ Đời).

Văn Hiến bốn ngàn năm có sẵn,

Chi cần dị chủng đến dâng công.

(Đạo Sử).

Trị loạn những nhờ người dị chủng,

An dân lại cậy kẻ tay ngoài.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

DỊ ĐIỂU

異 鳥

Dị: Khác, lạ. Điểu: Loài chim.

Dị điểu là loài chim lạ, chưa bao giờ thấy.

Như: Trong rừng còn nhiều loài dị điểu mà con người chưa bao giờ thấy đặng.

Nghe vang tiếng sấm nổ phương Tây,

Dị điểu bay lên liệng cả bầy.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

DỊ ĐOAN

異 端

Dị: Khác, lạ. Đoan: Mối, ngay thẳng.

Dị đoan là trái với chính đạo, tức những tin tưởng nhảm nhí không đúng sự thật.

Ngày nay chữ “Dị đoan” thường được gắn liền với mê tín. Luận ngữ có câu: Công hồ dị đoan 功 乎 異 端, tức là đánh tan những mối dị đoan.

Thánh giáo Thầy dạy: Thầy chẳng dùng sự chi mà thế gian gọi là Tà quái dị đoan, mà nếu xảy ra có một ít dị đoan trong Ðạo đã dùng lỡ thì ấy là tại nơi tâm của vài môn đệ đó.

Hội xem cho rõ phép Thiên Hoàng,

Cầu lếu những điều của dị đoan.

(Đạo Sử).

Đức tin đánh đổ dị đoan,

Khỏi điều lãng phí tiền ngàn bạc muôn.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

DỊ HÌNH

異 形

Dị: Khác, lạ lùng. Hình: Thân hình, hình dáng.

Dị hình là hình dáng lạ thường, người ta còn gọi hình dung cổ quái.

Dị hình còn có nghĩa là thân hình xấu xa.

Như: Dị hình dị dạng, tướng diện dị hình.

Trên khơi nghe tiếng khóc pha cười,

Có kẻ dị hình, kẻ tốt tươi.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

DỊ HỢM

Dị: Khác, lạ. Hợm: Kỳ quái, xấu xa.

Dị hợm là lạ kỳ, lố bịch, quái gở, vô duyên, vớ vẩn, ở tình trạng không thể chấp nhận được.

Trong Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống, Đức Hộ Pháp có viết: Lọt xuống đó rồi ta thấy hồi lúc đi, còn ở trên cầu, chúng ta thấy hình ảnh còn đẹp-đẽ tốt tươi, hễ lọt xuống Bích-Hải rồi chúng ta thấy hình thù đen thui dị hợm lắm, ta không thể tưởng-tượng, còn hơn loài mọi kia tối đen như vậy.

Quyền Ðạo nó có hình tướng khác, nó không quái gở và dị hợm như trường đời chúng ta xem thấy hiển nhiên đó vậy.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

DỊ NGHỊ

異 議

Dị: Khác, quái lạ. Nghị: Bàn bạc.

Dị nghị là bàn tán với ý chê trách, hay lời phản đối.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Thầy cấm không cho dị nghị việc người, nhứt là đạo hữu của các con thì đừng phạm đến kẻo tội nghiệp. Chi chi cũng phải nhớ quyết rằng có Thầy trong đó.

Mỗi việc nghị định đều biên chép để lại đành rành, sau khỏi điều dị nghị.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

DỊ QUỐC

異 國

Dị: Khác, lạ lùng. Quốc: Nước.

Dị quốc, đồng nghĩa với “Ngoại quốc 外 國”, là nước khác, hay nước ngoài.

Cõi ngoại reo vang quân dị quốc,

Trong thành ong óng tiếng con thơ.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Lân bang ghe thuở nhường oai võ,

Dị quốc từng phen xếp giáp mâu.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

DỊ TỤC

異 俗

Dị: Lạ, khác thường. Tục: Phong tục, cõi tục.

Dị tục có hai nghĩa:

Dị tục là phong tục khác lạ. Như: Làng nầy không biết du nhập từ đâu mà có những điều dị tục.

Dị tục còn có nghĩa khác với cõi tục, hoặc khác với người tục.

Thánh giáo Đức Quyền Giáo Tông trong Thánh Ngôn Sưu Tập có câu: Hôm nay, các em cũng có ý vui mừng cho bổn phận của mình đã được đi trên con đường dị tục thì mọi sự hành trình phải làm thế nào cho ra vẻ phi thường, ấy mới cao hơn thiên hạ.

Tuy chẳng phải Tiên mà dị tục,

Dầu chưa đắc Thánh cũng phi phàm.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

DỊ THẢO KỲ HOA

異 草 奇 花

Dị thảo: Cỏ khác thường. Kỳ hoa: Bông lạ lùng.

Dị thảo kỳ hoa, như chữ “Kỳ hoa dị thảo”, là nói những thứ hoa cỏ đẹp đẽ, kỳ lạ, và khác thường.

Như: Trong rừng núi tuy không có người ở, nhưng thường có những loài dị thảo kỳ hoa.

Dừng chân thưởng ngoạn quanh sau trước,

Dị thảo kỳ hoa đẹp lạ thường.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

DỊ THƯỜNG

異 常

Dị: Khác, quái lạ. Thường: Bình thường, không có gì khác lạ.

Dị thường là khác thường, lạ thường.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Kể từ ngày 16 tháng giêng năm Tân Mão, tức là ngày mai đây Bần Đạo nhập vào Trí Huệ Cung. Bần Đạo đã nghe ngoài đời đồn rất dị thường, Bần Đạo lên giảng đài cốt để giải rõ nghĩa lý của Bần Đạo nhập Trí Huệ Cung.

Nhương là không nghĩa vốn không người,

Cái tánh dị thường ấy giống ngươi.

(Đạo Sử).

 

 

DỊCH

1.- Dịch là đổi, thay đổi.

Như: Xê dịch, chuyển dịch, dịch từng bước một, ngồi dịch ra một chút.

Trong Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Cuộc hội hiệp vui vẻ này đã biến thành cái lệ bất di bất dịch, in sâu vào trí não của mọi người trong chúng ta, vì đó là một cuộc hội hiệp đầy thiện cảm chân thành, nồng đượm bao nhiêu vẻ thân mật khắng khít và sẽ ghi lại một kỷ niệm êm dịu trong tâm hồn của những người đến dự khi mà mỗi vị đều ý thức trong một vài ngày nữa đây sẽ có cuộc chia tay, kẻ ở lại nơi đại gia đình, người tản mát nơi tứ phương, để làm phận sự của người con thảo đối với Ðức Chí Tôn Ðại Từ Phụ.

Ta đã hiểu được cái chơn linh của chúng ta nó bất di bất dịch, nó tồn tại mãi mãi nơi cõi Hằng Sống.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

2.- Dịch là tên một bộ sách trong Ngũ Kinh, nói về sự biến hoá của Bát quái.

Như: Kinh Dịch, Chu Dịch.

Ngài ở nhà dạy học trò khảo cứu và chú giải những kinh sách đời trước như các Kinh Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc,...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

3.- Dịch là phiên chuyển từ tiếng nầy ra thứ tiếng khác. Như: Dịch ra Việt ngữ, bản dịch từ tiếng Pháp, sách dịch ra Anh văn.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Bần Ðạo hỏi nguyên căn của Ðức Chí Tôn và quyền năng của Người, thì Ðức Chưởng Ðạo có tả một bài văn chữ Pháp dịch ra Quốc Ngữ; nhưng chính Ðức Nguyệt Tâm cũng đã thú thật rằng: Không biết nguyên do của Chí Tôn là thể nào, chỉ biết quyền năng vô đối của Người mà thôi.

Sợ Bần Đạo dịch ra có trật,

Cứ nguyên văn viết tất ra đây.

(Phương Tu Đại Đạo).

4.- Dịch là trạm, chỗ nghỉ từng khoảng đường, chỗ nhận văn thư, tin tức để truyền đi nơi khác.

Như: Quán dịch, dịch đình, dịch phu, dịch trạm.

Thuyết Đạo Về Quan Thánh Đế Quân, Đức Thượng Sanh có câu: Dọc đàng khi tạm nghỉ nơi quán dịch, Tào Tháo cố ý làm cho loạn lễ quân thần, để cho Ðức Ngài ở chung với nhị tẩu.

Ðâu đâu Thiên Ðịa cũng đồng khai,

Rảo bước xuống xe đến Dịch đài.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

DỊCH SỬ

役 使

Dịch: Việc, sai khiến. Sử: Sai khiến.

Dịch sử là sai khiến.

Trong Ngọc Hoàng Kinh có câu: “Vô vi nhi dịch sử quần linh” có nghĩa là Trời đất rất huyền diệu, không ai thấy làm gì hết, nhưng trong Càn Khôn Vũ Trụ mọi sanh linh đều do Trời sai khiến và vận hành. Mọi sự việc cũng đều do Thượng Đế an bài.

Nhược thiệt, nhược hư,

Bất ngôn nhi mặc tuyên đại hoá.

Thị không, thị sắc,

Vô vi nhi dịch sử quần linh.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

DIỆC

Diệc 亦 là cũng. Như: Mưu thâm hoạ diệc thâm.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có dạy: Thầy Mạnh Tử thường nói rằng: “Sinh diệc ngả sở dục giả, nghĩa diệc giả sở dục giả, nhị giả bất khả đắc kiêm xá sinh nhi thủ nghĩa giả dã”, nghĩa là cái sống ta cũng muốn, điều nghĩa ta cũng muốn, giá ta không thể giữ được cả hai thì ta bỏ cái sống mà giữ lấy điều nghĩa vậy.

Huyền vi nhứt trí thức Càn khôn,

Tặng nhữ diệc tri độ thử hồn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Khán đắc phù sinh nhứt thế không,

Điền viên sản nghiệp diệc giai không.

(Quan Âm Giáng Bút).

 

 

DIÊM CUNG

閻 宮

Diêm: Âm phủ, cõi của người chết. Cung: Cung điện.

Diêm cung là cung điện nơi cõi Âm phủ, là nơi làm việc của Thập Điện Diêm Vương cai quản cõi Âm phủ.

Thánh giáo Chí Tôn có câu: Hiệp Thiên Ðài là nơi của Giáo Tông đến thông công cùng Tam thập lục Thiên, Tam thiên Thế giới, Lục thập bát Ðịa cầu, Thập Ðiện Diêm Cung, mà cầu siêu cho cả nhơn loại.

Xem: Âm phủ.

Chốn Tây phương đường đi thong thả,

Cõi Diêm Cung tha quả vong căn.

(Kinh Thế Đạo).

Ðồng phồn đưa rước viếng Diêm Cung,

Ai đã trước đi hỏi nhắn cùng.

(Đạo Sử).

 

 

DIÊM CHÚA

Diêm: Âm phủ, cõi của người chết. Chúa: Vua chúa.

Diêm chúa, như chữ “Diêm Vương 閻 王”, chỉ vua nơi Diêm Cung, Âm phủ.

Xem: Diêm vương.

Tội sanh tiền thác xuống, Diêm Chúa luật trừng răn,

Đành cam chịu ăn năn dường như nước chảy.

(Giác Mê Khải Ngộ).

 

 

DIÊM ĐÌNH

閻 廷

Diêm: Âm phủ, cõi của người chết. Đình: Triều đình.

Diêm đình là triều đình của vua Diêm Vương, tức chỉ cõi Địa ngục, Âm phủ.

Thánh giáo Bát Nương Diêu Trì Cung có câu: Vậy thì nơi khiếm ánh thiêng liêng là Âm quang, nghĩa là Âm cảnh hay là Ðịa ngục, Diêm đình của chư Thánh lúc xưa đặt hiệu.

Xem: Âm phủ.

Lòng lang độc vui cười hớn hở,

Chốn Diêm Đình phạt quở trừng răn.

(Kinh Sám Hối).

Trời với Diêm Ðình đôi ngõ trở,

Muốn toan thoát tục liệu mà dùng.

(Đạo Sử).

Sau dầu đến chốn Diêm Đình,

Linh hồn trong sạch nhẹ mình thảnh thơi.

(Kinh Sám Hối Ngắn).

 

 

DIÊM PHÙ

Hay “Diêm phủ”.

Diêm: Âm phủ, cõi của người chết. Phù: Hay “Phủ 府”, là ngôi nhà, nơi dùng để làm việc quan.

Diêm phù, đọc trại từ chữ “Diêm phủ 閻 府”, là nơi Diêm Vương ở, dùng để chỉ Địa ngục âm phủ.

Đại Thừa Chơn Giáo có câu: Cõi ấy là chi? Là cõi Diêm phù, mà bên Phật Ðạo thường gọi Âm Ty hay miền Ðịa-ngục.

Xem: Địa ngục.

Thôi nhé người đi về vĩnh cửu,

Còn tôi ở lại cõi Diêm phù.

(Thơ Hoàn Nguyên).

Ở cõi Diêm phù tuy cách biệt,

Về cung Tận Thức chẳng tư riêng.

(Thơ Vạn Năng).

 

 

DIÊM VƯƠNG

閻 王

Diêm: Âm phủ, cõi của người chết. Vương: Vua.

Diêm vương là vua ở cõi Âm phủ.

Diêm Vương còn có thể hiểu là Diêm La Vương, vua coi cõi Địa ngục, Âm phủ.

Có thuyết cho rằng Diêm Vương xưa kia là vị Quốc vương nước Sa Tỳ, nguyện lúc chết làm chúa coi ngục cõi Âm phủ.

Ăn gian xớt bớt cho mình,

Dầu qua dương pháp, luật hình Diêm vương.

(Kinh Sám Hối).

Dầu anh quyền lực thế nào,

Cũng không tránh khỏi đường vào Diêm Vương.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

DIỀM

Diềm là phần trang trí gồm những hình hoặc đường nét lặp đi lặp lại thành một dải chạy dài theo chiều ngang hoặc viền chung quanh.

Trong đạo Cao Đài, diềm là những tấm màn có năm màu: Vàng, xanh đỏ trắng, đen, trang trí hoa văn, dùng để treo chung quanh nhà giàn trên thuyền Bát nhã.

Theo Văn thư số: 04/NCPS/VT/KTTD của Ngài Quyền Ngọc Chánh Phối Sư Ngọc Triệu Thanh ngày 4 tháng 5 năm Bính Thìn (Dl. 1/6/1976) thì treo diềm trên thuyền Bát nhã và đắp tấm Phủ quan trên quan tàn tuỳ phẩm tước người quy liễu như sau.

1/- Tín đồ, Đạo sở, Chức việc phụ quy vị thì được treo diềm và Phủ quan màu đen.

2/- Chánh, Phó Trị Sự, Thông Sự và các phẩm tương đương (Nam phái) thì treo diềm và Phủ quan màu đỏ.

3/- Chức sắc Cửu Trùng Đài (Nam phái) treo diềm và Phủ quan theo sắc phái.

4/- Chức sắc, Chức việc Hiệp Thiên Đài Và Cửu Trùng Đài (Nữ phái) treo diềm và Phủ quan màu trắng.

5/- Chức sắc, Chức việc Phước Thiện Nam, Nữ treo diềm và Phủ quan theo sắc phái.

6/- Chức sắc Bộ nhạc treo diềm và Phủ quan màu đỏ.

Tín đồ, Đạo sở, Chức việc phụ quy vị thì được treo diềm và Phủ quan màu đen.

(Số 04/NCPS/VT/KTTD).

 

 

DIỀM DÀ

Diềm dà là rậm rạp, đẹp đẽ, tươi tốt, có những biểu hiện gây bắt mắt. như: Cây cối vào xuân trông diềm dà tươi tốt.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Các con, nền Ðạo bề ngoài coi diềm dà sung túc, mà chẳng thấy rõ cái mạch bịnh trong tâm, chẳng khác chi thế Sở chế bạo Tần, ham cái mạnh bề ngoài, biết sợ cái mặt chớ chẳng rõ lòng người ra sao, mà không độ cái mạnh cấp thời đó sẽ dần dần tan như giá mà đổi ra yếu hèn thấp nhược.

Bóng trải diềm dà xuân đợi chúa,

Tiết nồng thơ thới hạ khoe sen.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Diềm dà rõ nét tà dương bóng,

Ấm áp uyên ương trỗi khúc thiều.

(Lục Nương Giáng Bút).

Cây cỏ diềm dà đượm vẻ xuân,

Lâng lâng giũ sạch áo phong trần.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

DIỄM KIỀU

豔 嬌

Diễm: Dung nhan đẹp đẽ, sáng sủa. Kiều: Mềm mỏng dễ thương.

Diễm kiều, bởi chữ “Kiều diễm 嬌 豔”, là xinh đẹp, dùng để chỉ người con gái đẹp đẽ, duyên dáng dễ thương.

Bỗng đâu thoáng bóng diễm kiều,

Thoạt trông, Hán Đế ra chiều ngẩn ngơ.

(Phù Kiều Hận Sử).

Cho hương sắc diễm kiều tàn tạ,

Cho tay phàm vọc đoá mẫu đơn...

(Phù Kiều Hận Sử).

 

 

DIỄM PHÚC

豔 福

Diễm: Xinh đẹp, ham thích, ưa mến. Phúc (phước): Điều hay, điều tốt lành.

Diễm phúc là hạnh phúc tốt đẹp do may mắn mà có.

Thuyết Đạo về Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống, Đức Hộ Pháp có câu: Bần Đạo được diễm phúc hội hiệp cùng Ngài và trước khi hội hiệp cùng Ngài, Bần Đạo cũng đã được hội kiến cùng các Đấng Thiêng Liêng nơi cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Lòng cầu diễm phúc ban hồn nước,

Trời hiện tường vân dệt bức màn.

(Thơ Võ Thành Lượng).

 

 

DIỄM PHƯỚC

Hay “Diễm phúc”.

Diễm: Xinh đẹp, ham thích, ưa mến. Phước (phúc): Điều hay, điều tốt lành.

Diễm phước, như chữ “Diễm phúc”, là hạnh phúc tốt đẹp do may mắn mà có.

Xem: Diễm phúc:

Hỡi nầy dân tộc có diễm phước, Thầy sẽ làm thoả mãn tánh hiếu kỳ của con.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

DIỄM TỬ

豔 子

Diễm Tử là một nhân vật trong hai mươi bốn người con hiếu thảo.

Ông sinh vào đời nhà Chu, thờ cha mẹ rất có hiếu. Cha mẹ ông tuổi đã già, mắt bị loà, lại thèm uống sữa hươu. Diễm Tử phải giả làm hươu con, lấy da hươu khâu làm áo mặc, vào rừng lân la đến gần những con hươu mẹ để vắt lấy sữa.

Một hôm gặp bọn người đi săn, tưởng là hươu con, dương cung toan bắn, Diễm Tử la lên, vội bỏ lớp hươu con ra, và bày tỏ cho người đi săn biết, người thợ săn mới tha cho.

Diễm Tử, song thân loà thèm sữa,

Đội lốt hươu thường bữa vào non.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

Diễm Tử hiếu, mẹ người loà mắt,

Đội lốt nai để vắt sữa nai.

(Báo Ân Từ).

 

 

DIÊN TRÌ

延 遲

Diên: Kéo dài. Trì: Chậm chạp.

Diên trì có nghĩa là chậm chạp, kéo dài thời gian. Như: Không lo đi, ở đó diên trì mãi.

Thánh giáo Đức Quan Âm Như Lai có câu: Ðiều thăng thưởng chẳng mất phần, ngày giờ nhặt thúc, nếu diên trì thì bước đường sau khó theo dấu.

Nếu mà dụ dự diên trì,

Phải cam chịu lấy nạn nguy buổi nầy.

(Thất Nương giáng Bút).

 

 

DIỄN

Diễn là phô bày, phân giải. Như: Diễn trò, diễn hành, diễn nghĩa kinh sách, phô diễn, tiếp diễn.

Trong Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Ðời người qua thấm thoát, thoạt còn thoạt mất như vầng mây nổi, như giọt sương tan. Những cảnh ruột đứt châu rơi hằng diễn ra để đày đoạ vày bừa con người giữa chốn sông mê biển khổ.

Chẳng dùng những tiếng sâu xa,

E không hiểu thấu, diễn ra ích gì?

(Kinh Sám Hối).

Một viết với thân giữa diễn đàn,

Bằng xua trước giặc vạn binh lang.

(Đạo Sử).

 

 

DIỄN ĐÀN

演 壇

Diễn: Phô bày, phân giải. Đàn: Nền đắp cao, dùng để tế lễ, diễn giảng.

Diễn đàn là nơi đứng cao để diễn thuyết, phát biểu trước đông người. Như: Lên diễn đàn ngâm thơ.

Diễn đàn còn là chỗ để cho nhiều người có thể phát biểu ý kiến một cách công khai, rộng rãi.

Như: Lấy một tờ báo làm diễn đàn.

Một viết với thân giữa diễn đàn,

Bằng xua trước giặc vạn binh lang.

(Đạo Sử).

 

 

DIỄN VĂN

演 文

Diễn: Giăng rộng ra, luyện tập. Văn: Hình thức ngôn ngữ được trau chuốt cho hay, đẹp.

Diễn văn là bài diễn thuyết, tức bài văn phát biểu tương đối dài đọc trong dịp lễ long trọng.

Thuyết Đạo Hộ Pháp về Đức Lý Giáo Tông có câu: Bài Diễn Văn của Ngài vạch rõ tinh thần, con đường hay ho làm sao, nhứt là trong Bài Diễn Văn đó cho cả Hội Thánh hay rằng: Kể từ khi Ngài cầm quyền Giáo Tông đây, các người ấy đừng ỷ công khi lịnh, Ngài chẳng hề tha thứ bao giờ, Ngài nói một đàng về hữu hình, chính mình Bần Đạo chưa thấy Ngài làm gì được về vô hình Ngài trừng thanh bí mật quyền linh không thể tưởng tượng.

Viết diễn văn đem dán cùng đàng,

Trông có mặt người sang giúp sức.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

DIỆN BÍCH

面 壁

Diện: Mặt. Bích: Bức tường.

Diện bích là đối diện với bức tường, hay quay mặt nhìn vách.

Diện bích là chỉ lúc ngồi thiền, ngồi quay mặt vào vách. Thuật ngữ này bắt nguồn từ Bồ Đề Đạt Ma ngồi thiền quay mặt vào vách (diện bích) chín năm tại chùa Thiếu Lâm.

Diện bích trở thành đồng nghĩa với toạ thiền.

Chín năm “Diện bích”, mình ba bữa,

Tìm thuốc hồi sinh để giúp người.

(Thơ Vạn Năng).

 

 

DIỆT

Diệt 滅 là dứt, mất, tắt. Như: Diệt chủng, diệt vong, phù Lê diệt Mạc.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: Thầy đến chuyển đạo, lập lại vô vi. Các con coi thử bên nào chánh lý: Hữu hình thì bị diệt đặng, chớ vô vi chẳng thế nào diệt đặng.

Bế ngũ quan, không kiêng tục tánh,

Diệt lục trần, xa lánh phàm tâm.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

DIỆT CHỦNG

滅 種

Diệt: Làm cho mất đi. Chủng: Giống nòi.

Diệt chủng là giết sạch hết giống nòi.

Diệt chủng còn dùng để chỉ sự giết người hàng loạt và huỷ hoại các điều kiện sinh sống, làm cho một chủng tộc, một dân tộc bị diệt vong.

Như: Tội ác của bọn diệt chủng.

Giành giựt đỉnh chung phường diệt chủng,

Tai ương khắp chốn gẫm châu mày.

(Thơ Thượng Trí Thanh).

Hoà ái cứu nguy cơ diệt chủng,

Công bình trị loạn mộng tham quyền.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

DIỆT DỤC

滅 欲

Diệt: Làm cho mất đi. Dục: Lòng ham muốn.

Diệt dục là diệt lòng ham muốn. Lòng ham muốn gồm có ngũ dục là tiền của, sắc đẹp, danh vị, ăn uống, ngủ nhiều. Diệt không phải làm cho hết, làm cho không còn gì nữa, mà đối với ngủ dục làm sao mình không bị vướng mắc, tâm không bị luyến ái.

Tôn giáo không chủ trương diệt mọi thứ ham muốn mà chỉ diệt những cái muốn xấu gọi là Ác dục 惡 欲, đem đến khổ đau và thực hành cái muốn tốt gọi là Thiện dục 善 惡, đem lại tâm an lạc hạnh phúc.

Nhận định được nguồn gốc đau khổ, con người cần tìm ra phương pháp để diệt khổ, mà diệt khổ tức là phải diệt dục, diệt nghiệp.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

DIỆT HÌNH

滅 形

Diệt: Mất đi, tiêu diệt. Hình: Hình thể vật chất.

Diệt hình là làm cho mất đi cái hình thể vật chất, tức là tiêu diệt các sắc tướng.

Kỳ khai tạo nhứt Linh Đài,

Diệt hình tà pháp cường khai Đại Đồng.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

Quản bao thập ác lục hình,

Giải thi thoát khổ diệt hình đoạt căn.

(Kinh Tận Độ).

 

 

DIỆT HOÁ

滅 化

Diệt: Làm mất đi. Hoá: Sanh hoá, biến đổi cái cũ để tạo ra cái mới.

Diệt hoá là tiêu diệt sự sanh hoá, tức sát hại cái mạng sống của muôn loài.

Trong Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có viết: Triết lý nào xúi giục làm cho vạn vật tàn sát với nhau diệt hoá tức nhiên triết lý ấy là tà.

Quỷ vương là tay diệt hoá. Cũng như có sống của Thầy ắt có chết của Quỷ vương vậy.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

DIỆT KHỔ

滅 苦

Diệt: Làm mất đi. Khổ: Vật vả, khốn nạn, đau đớn, không chịu được.

Diệt khổ là làm mất những thứ khổ đau con người.

Khổ đau là do ái dục, vô minh.

Chính những thứ ái dục, ham muốn tạo ra những mâu thuẫn trong cuộc sống hằng ngày của ta, và vô minh tức là không hiểu thấu đạo lý duyên khởi, vô thường, vô ngã của các pháp nên con người phải đau khổ. Kinh Phật dạy: Cái khổ trong địa ngục bị thiêu đốt cũng chưa phải là khổ, cái khổ bị làm ngạ quỷ đói khát cũng chưa phải là khổ, cái khổ làm súc sanh kéo cày bị đánh cũng chưa phải là khổ, mà cái khổ vô minh không biết đường đi mới là khổ. Vì thế, Tiên Phật thường dạy cho chúng sinh diệt trừ vô minh, trở nên tỉnh giác mà biết được đường tu hành để diệt được mọi khổ đau.

Thiếp nhờ Đạo giải phiền diệt khổ,

Biết may duyên lựa chỗ gởi tâm.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Niệm câu diệt khổ gìn tâm Phật,

Dồi đức háo sanh giữ tánh Trời.

(Cao Tiếp Đạo).

 

 

DIỆT MỊ

 

1. Diệt mị 滅 媚

Diệt: Làm cho mất, trừ bỏ. Mị: Gian nịnh.

Diệt mị là trừ bỏ kẻ gian tà, kẻ nịnh nọt. Như: Trừ gian diệt mị.

Diệt mị trừ gian danh bất hủ,

Xuân Thu lập chí nguyện làu gương.

(Thơ Huệ Phong).

 

2. Diệt mị 滅 魅

Diệt: Tiêu diệt. Mị: Tà mị, quỷ mị.

Diệt mị là diệt trừ tà mị, quỷ mị.

Đôi liễn ngoài cổng của Hộ Pháp Đường có câu: Phạm giáo tuỳ nguơn cứu thế độ nhơn hành chánh pháp, Môn quyền định hội trừ tà diệt mị hộ chơn truyền.

Hiền hữu ráng mà trừ tà diệt mị cùng Lão, kẻo ngày sau tránh không qua lời tiên tri của Lão đa nghe.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

DIỆT PHÀM

滅 凡

Diệt: Trừ bỏ. Phàm: Tầm thường, thấp kém.

Diệt phàm là loại bỏ những thứ tầm thường thấp kém của con người như tâm phàm, tánh tục, để tâm Thánh hiện ra, vươn lên trở thành người cao thượng.

Tích đức để lòng trau khổ hạnh,

Diệt phàm gắng chí thoát mê tân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

DIỆT TÀ

滅 邪

Diệt: Trừ bỏ. Tà: Không ngay thẳng, hay tiếng gọi chung yêu ma quỷ quái.

Diệt tà là trừ bỏ loài tà gian.

Diệt tà còn có nghĩa trừ loài tà ma quỷ quái.

Diệt tà trừ được hồn Hồng Lạc,

Tôn chánh tạo nên cõi thái bường.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

DIỆT TÀN

滅 殘

Diệt: Dứt, tiêu mất. Tàn: Ác, suy mòn, còn thừa lại.

Diệt tàn, đồng nghĩa với chữ “Diệt tận 滅 盡”, là tiêu diệt cho mất hết.

Thánh giáo Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn có câu: Kẻ nghịch cùng thế đạo thì tội trục ngoại xã hội hay là diệt tàn cho khỏi lưu hại, còn kẻ nghịch cùng Ðạo pháp thì tội trục ngoại Thánh Thể Chí Tôn hay là có ngày quyền thiêng liêng diệt thác.

Phận nam nhi khá bền danh tiết,

Lấy tình thương đặng diệt tàn hung.

(Nhị Nương Giáng Bút).

Nào là binh khí diệt tàn,

Nào là cường lực ép hàng quần lê.

(Đoàn Thị Điểm Giáng).

 

 

DIỆT TẬN

滅 盡

Diệt: Dứt, tiêu mất. Tận: Hết.

Diệt tận là làm cho tiêu mất hết.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Trái cầu 68 nầy bỗng nhiên có một lằn yếng sáng để thức tỉnh khách phàm, chiếu dẫn người hữu căn hầu cứu khỏi hoạ Thiên điều, sẽ vì hung bạo của sanh linh mà diệt tận.

Cõi Á đã gầy thành chủng quốc,

Phương Âu sẽ diệt tận nô lao.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

DIỆT TẬN PHÀM TÂM

滅 盡 凡 心

Diệt tận: Làm cho tiêu mất hết. Phàm tâm: Lòng phàm, lòng tục.

Diệt tận phàm tâm là làm cho tiêu mất hết cái lòng phàm của mình.

Người tu hành phải trau dồi tâm tánh, khi nào diệt được hết phàm tâm thì lúc đó Thánh tâm sẽ hiển lộ.

Các con phải thanh tịnh, kể từ ngày nay diệt tận phàm tâm, chớ nhơ một điểm thì ngày ấy thề mới đặng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

DIỆT TIÊU

滅 消

Diệt: Dứt, tiêu mất. Tiêu: Mất đi.

Diệt tiêu là làm cho mất đi.

Thánh giáo Thầy có dạy: Sông có thể thành ruộng, núi có thể diệt tiêu mà làm biển cả, cũng như sự buồn lắm lúc hoá ra vui, sự vinh thành nên nhục, cái phước đổi cái hoạ vậy.

Diệt tiêu quả kiếp hung tàn,

Hoà Bình nhơn loại thế gian khỏi cầu.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

DIỆT TỤC XỦ PHÀM

Diệt tục 滅 俗: Làm tiêu mất những cái phàm tục. Xủ phàm: Rủ bỏ, hay trúc bỏ những cái tầm thường.

Diệt tục xủ phàm là tiêu diệt và trút bỏ những cái tầm thường thấp kém của mình để trở nên cao thượng.

Thầy thấy nhiều đứa xả thân cầu Ðạo, diệt tục xủ phàm, để mình làm hướng đạo.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

DIỆT THÁC

Diệt: Dứt, tiêu mất. Thác: Chết.

Diệt thác là giết cho chết.

Còn kẻ nghịch cùng Ðạo pháp thì tội trục ngoại Thánh Thể Chí Tôn hay là có ngày quyền thiêng liêng diệt thác.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

DIỆT TRẦN TÌNH

滅 塵 情

Diệt: Dứt, tiêu mất. Trần: Cõi trần. Tình: Tình cảm, mối cảm xúc trong lòng.

Diệt trần tình là diệt những tình cảm xấu xa của con người nơi cõi trần.

Theo Phật, trần gian là cõi uế trược, nên những thứ tình cảm của con người đối xử với nhau nơi cõi ấy cũng xấu xa ô trược.

Người ta chia tình cảm của con người ra làm bảy thứ, gọi là thất tình. Đó là: Hỷ (mừng), nộ (giận), ái (yêu), ố (ghét), ai (buồn), lạc (vui) và dục (muốn).

Khá từ bỏ xa dòng bể khổ,

Diệt trần tình Cam Lộ tẩy nhơ.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

DIỆT TRỪ

滅 除

Diệt: Làm cho mất hết. Trừ: Bỏ đi.

Diệt trừ là làm cho mất đi, hay tiêu hết.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Vậy muốn hạnh phúc thật, con người không nên chạy theo dục lạc mà phải diệt trừ dục lạc. Trước hết sự tiêu diệt dục lạc phải bắt đầu từ phép Tri túc. Tri túc là bằng lòng với những gì mình đang có, mình có thể có với sức của mình và trong phạm vi đạo đức.

Ngũ khí thanh diệt trừ quả kiếp,

Linh quang đầy đặng tiếp hồng ân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Diệt trừ tà pháp ơn Trên định,

Biến chuyển càn khôn Đạo mới thành.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

DIỆT VONG

滅 亡

Diệt: Làm cho mất đi. Vong: Mất.

Diệt vong là dứt mất, làm cho tiêu mất. Diệt vong đồng nghĩa với chữ “Tiêu diệt 消 滅”.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Thế tục là nét dìu dắt cho mất tánh thiêng liêng, phải lấy nghị lực cang tâm mà kềm chế thì cái lối diệt vong, mới chẳng làm uổng công phu hành đạo cho.

Tái sanh sửa đổi Chơn truyền,

Khai cơ tận độ Cửu tuyền diệt vong.

(Kinh Tận Độ).

Sống trong cái sống giựt giành,

Gẫm thua cầm thú hoạ thành diệt vong.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

DIÊU ĐỘNG

Hay “Dao động”.

Diêu (dao): Lay động qua lại. Động: Chuyển động.

1.- Diêu động, như chữ “Dao động 搖 動”, là chuyển động qua lại như quả lắc đồng hồ.

Thiên Quân diêu động linh phan,

Cả miền Thánh vức nhộn nhàng tiếp nghinh.

(Kinh Tận Độ).

2.- Diêu động, như chữ “Dao động”, còn có nghĩa là làm rung động cho thức tỉnh, tức khơi gợi sự tỉnh thức.

Cảm quang diêu động tâm tu,

Khai cơ giải thoát mở tù Phong Đô.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

DIÊU TRÌ

瑤 池

Diêu: Một loại ngọc quý. Trì: Cái ao.

Diêu Trì là một cái ao được làm thành toàn bằng loại ngọc dao quý.

Ao Diêu Trì nằm nơi Cung ngự của bà Tây Vương Mẫu (hay Phật Mẫu), nên Cung này được gọi là Diêu Trì Cung.

Từ “Diêu Trì” còn dùng để chỉ Đức Phật Mẫu, như Diêu Trì Kim Mẫu.

Tạo Hoá Thiên Huyền vi Thiên Hậu,

Chưởng Kim Bàn Phật Mẫu Diêu Trì.

(Kinh Phật Mẫu).

Đạo sử còn ghi gương Thánh Đức,

Diêu Trì nhuần gội giọt hồng ân.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

DIÊU TRÌ CUNG

瑤 池 宮

Diêu Trì: Cái ao làm bằng ngọc diêu ở cõi thiêng liêng. Cung: Cung điện.

1.- Diêu Trì Cung là một cái cung điện bên cạnh ao Diêu trì, là nơi ngự của Đức Phật Mẫu.

Thánh giáo Bát Nương trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Âm quang là khí chất hỗn độn sơ khai khi Chí Tôn chưa tạo hoá. Lằn Âm khí ấy là Diêu Trì Cung chứa để tinh vi vạn vật, tỷ như cái Âm quang của phụ nữ có trứng cho loài người.

Hội Bàn Đào, Diêu Trì Cung,

Phục sinh đào hạnh rượu hồng thưởng ban.

(Kinh Tận Độ).

2.- Diêu Trì Cung còn dùng để chỉ Đức Phật Mẫu.

Do Đức Phật Mẫu thường ngự tại Diêu Trì Cung, nên Ngài được xưng tụng là Diêu Trì Phật Mẫu hay Diêu Trì Kim Mẫu.

Diêu Trì Cung sai nàng Tiên Nữ,

Phép Lục Nương gìn giữ Chơn hồn.

(Kinh Tận Độ).

 

 

DIÊU TRÌ CỬU NƯƠNG

瑤 池 九 娘

Diêu Trì: Chỉ Cung Diêu Trì. Cửu Nương: Chỉ chín vị Tiên Nương.

Diêu Trì Cửu Nương là chín vị Tiên Nương nơi Diêu Trì Cung, gọi chung là Cửu Vị Tiên Nương.

Theo Thánh giáo, dưới quyền Phật Mẫu có Cửu Vị Tiên Nương trông nôm về cơ giáo hoá cho vạn linh.

Xem: Cửu Vị Tiên Nương.

Đắc truyền khai mối Tam Kỳ,

Dưới tay cậy có Diêu Trì Cửu Nương.

(Tán Tụng Công Đức).

 

 

DIÊU TRÌ HỘI YẾN

Diêu Trì: Diêu Trì cung, chỉ cung của Đức Phật Mẫu và Cửu vị Tiên Nương. Hội yến: Tham dự vào tiệc rượu.

Diêu Trì Hội Yến là một cái lễ hội vào ngày rằm trung thu hằng năm của Đạo Cao Đài, do toàn thể nhơn sanh thiết lập một yến tiệc long trọng để dâng cúng Đức Diêu Trì Kim Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương.

Xem: Hội Yến Diêu Trì Cung.

Diêu Trì Hội Yến chung đào tửu,

Lễ họp quần Tiên khách thế gian.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

DIÊU TRÌ KIM MẪU

瑤 池 金 母

Diêu Trì Kim Mẫu hay viết đầy đủ hơn là “Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn 瑤 池 金 母” là Thánh danh của Đức Phật Mẫu.

Diêu Trì

Diêu: Còn đọc là dao, là một thứ ngọc quý báu. Trì: Cái ao.

Diêu Trì là một cái ao làm ngọc dao, một loại ngọc quý và đẹp.

Ao Diêu Trì nằm nơi Cung ngự của Đức Phật Mẫu, nên Cung này được gọi là Diêu Trì Cung.

Đức Phật Mẫu ngự tại Diêu Trì Cung nên người ta gọi Ngài là “Phật Mẫu Diêu Trì”. Chính trong Bài Phật Mâu Chơn Kinh có câu:

Tạo Hoá Thiên Huyền vi Thiên Hậu,

Chưởng Kim Bàn Phật Mẫu DIÊU TRÌ.

Kim Mẫu

Hai chữ Kim Mẫu là hai chữ nói tắt của “Kim Bàn Phật Mẫu”, nghĩa là Đức Phật Mẫu chưởng quản Kim Bàn (hay Kim Bồn), là nơi chứa các nguyên chất để tạo ra chơn Thần cho vạn linh.

Bài Kinh Đệ Cửu Cửu có câu như sau:

Nơi Kim Bồn (Bàn) vàn vàn nguơn chất,

Tạo hình hài các bậc nguyên nhân.

Theo sách “Ngọc Lộ Kim Bàn”, Kim Bàn (Kim Bồn) là một cái mâm vàng Thiêng liêng nơi Diêu Trì Cung mà Đức Phật Mẫu dùng để chứa các nguyên chất.

Khi Trời đất đã được hình thành, Phật Mẫu mới đem Chơn tánh phân ra một hột. Từ một hột đó, Ngài mới thổi hơi chân khí biến thành một trăm ức Linh căn Chân tánh (tức Nguyên nhân), rồi Ngài đem chứa trong Kim Bàn (Kim Bồn), nói một cách khác, Kim Bàn là nơi tạo ra các bậc Nguyên nhân.

Như vậy, Kim Bàn Phật Mẫu, nói tắt “Kim Mẫu” là một Thánh hiệu khác của Đức Phật Mẫu, mà trong Di Lạc Chơn Kinh có chỉ rõ. Bởi vậy nơi cõi trần, Phật Mẫu là Mẹ của Thần, Thánh, Tiên, Phật.

Trong Kinh Tán Tụng Công Đức Diêu Trì Kim Mẫu có dùng Thánh hiệu “Kim Mẫu” để nói về Đức Phật Mẫu như sau:

Riêng thương Kim Mẫu khóc thầm,

Biển trần thấy trẻ lạc lầm bấy lâu.

Vô Cực

Do Đức Phật Mẫu được xưng tụng là “Vô Cực Thiên Tôn”, nên có nhiều người tưởng lầm là Vô Cực trước Thái Cực, như vậy mâu thuẫn với Thánh giáo Đức Chí Tôn: “Khi chưa có chi trong Càn khôn Thế giới thì Khí Hư Vô sanh ra có một Thầy và ngôi của Thầy là Thái Cực”.

Thật ra, Vô Cực đây là một trong Tam Cực, gồm: Vô Cực, Thái Cực, Hoàng Cực. Có thể gọi chung là Đạo, là Pháp, là nguồn đầu của vũ trụ vạn vật.

Dựa theo các Kinh sách, Thánh giáo nền Đại Đạo thì Tam Cực giảng về thời kỳ tạo lập vũ trụ, chúng ta tạm hiểu rằng:

1.- Vô Cực: Thời kỳ khí hồng mông đang hỗn độn, mờ mờ mịt mịt, lặng lẽ vô vi, thanh trược hỗn hiệp, mà Đạo Đức Kinh gọi cái đó là: “Đạo tự hư vô sanh nhứt khí”, nghĩa là từ trong Đạo hư vô sanh ra Nhứt khí. Nhứt khí có ba phương diện hay là Ba ngôi, mà ngôi Thứ nhứt gọi là Vô cực.

2.- Thái Cực: Từ trong Vô Cực là ngôi thứ nhứt lại có một điểm khí dương phát sanh. Hễ khí động phát sanh tức là khí dương, thì phần tịnh còn lại là khí âm. Cho nên Kinh Dịch nói “Thái Cực sanh lưỡng nghi”, nghĩa là Thái Cực sanh ra khí âm và khí dương. Đạo Đức kinh gọi là Một sanh ra hai. Đây là ngôi thứ nhì của Nhứt khí, gọi là Thái cực.

Tuy có hai tên Vô Cực và Thái Cực nhưng không phải là hai ngôi riêng biệt, mà đó là hai trạng thái của một tự thể (hai mặt của một vật).

Có thể gọi Thái Cực là thời thứ hai. Trong thời kỳ này tuy đã có âm dương tương đối, nhưng chưa đủ mức để phối hợp, phải để qua đến thời kỳ thứ ba.

3.- Hoàng Cực: Khí âm (Vô Cực) hiệp đúng mức với khí dương (Thái Cực) thành thể thứ ba là Hoàng Cực.

Hoàng Cực hỗn hiệp âm dương, từ đó xuất phát vạn pháp. Nếu không có Hoàng Cực thì âm dương không tương hiệp, thì làm sao sanh hoá được! Nên Đạo Đức Kinh mới nói: “Hai sanh ba”, là âm dương hiệp sanh ra Hoàng cực. Ta có thể nói Hoàng Cực là tổng hợp của hai thể âm dương.

Vậy thì Ba ngôi Vô Cực, Thái Cực và Hoàng Cực tuy phân ra ba thời kỳ nhưng đều là một khí Chơn Nguyên (Nhứt khí), mà mỗi ngôi đều có một vai tuồng riêng biệt, chẳng giống nhau mà luôn luôn bổ túc cho nhau.

Đức Diêu Trì Kim Mẫu vẫn có một vai tuồng đặc biệt, thuộc về ngôi Vô Cực, nên xưng hiệu là: Vô cực Từ Tôn (hay Vô Cực Thiên Tôn). Nghĩa là Ngài đại diện cho ngôi Thứ nhứt là ngôi Vô cực, đồng ngôi, đồng thể với Thái Cực không phân biệt trước sau mà khác nhau do động thái chuyển biến mà thôi.

Đức Phật Mẫu khi giáng cơ tại Trí Huệ Cung, đêm 7 tháng 1 năm Tân Mão (Dl. 12-2-1951) có ban cho một bài thi, trong đó có đoạn thi như sau:

Từ Vô Cực vào trong giới cảnh,

Mới để tâm so sánh Tiên, Phàm.

Chẳng từ ô trược dương gian,

Vì thương trẻ mới băng ngàn viếng thăm.

Thiên Tôn (Từ Tôn)

Thiên Tôn là một bậc do chúng sanh tôn thờ cho các Đấng Thiêng liêng có công nghiệp với toàn vạn linh, trái với Thế Tôn là những bậc có các Đức tánh tốt đẹp để người đời khâm phục kính ngưỡng, như: Đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn.

Đức Phật Mẫu còn được tôn xưng là Vô Cực Từ Tôn, tức là một Đấng Mẹ hiền (nhơn từ), rất cao cả tôn nghiêm ở cõi Thiêng liêng.

Trong bản Sớ Văn của đạo Cao Đài tâu trình lên Đức Đại Từ Phụ, Đại Từ Mẫu có câu:

HUỲNH KIM KHUYẾT NỘI

Huyền Khung Cao Thượng Đế Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn.

Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn.

Xem: Phật Mẫu.

1.- Diêu Trì Kim Mẫu:

Lưỡng nghi phân khí hư vô,

Diêu Trì Kim Mẫu nung lò hoá sanh.

(Tán Tụng Công Đức).

2.- Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn:

Nam Mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn.

(Kệ U Minh).

 

 

DIỀU

Diều là một thứ đồ chơi làm bằng xường tre phất giấy, buộc chỉ thả ngoài gió bay lên.

Như: Thả diều ngoài đồng, lên như diều gặp gió, diều đứt dây.

Mua vải dùm em để phất diều,

Treo văn trước mõ mới là kêu.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

DIỀU ĐỨT DÂY

Diều là một vật người ta dán bằng giấy, cột vào sợi chỉ, rồi nhờ gió mà thả bay cao trên trời.

Diều đứt dây tức là diều được thả bay cao, gió mạnh làm đứt sợi chỉ, diều rơi ra xa, ý chỉ người có tiền tài, danh vọng lên cao mà bị sụp đỗ như diều đứt dây.

Uổng công ngày tháng nhịn tiêu,

Một mai sụp đổ như diều đứt dây.

(Thơ Thiên Vân)

 

 

DIỆU

1.- Diệu là đẹp tốt, mầu nhiệm, không thể nói ra được. Như: Diệu kế, diệu dụng, diệu mầu.

Thánh giáo Chí Tôn có câu: Các con nên biết, Thầy sanh ra mỗi chủng tộc đều có đặc biệt một phần linh diệu riêng, mà cũng vì nhơn loại không chịu khó tìm tòi cho ra lẽ thiên nhiên, cứ thấy những điều cận lợi mà quên hẳn lương tâm, chẳng hay thương mà hay chém giết lẫn nhau, sanh phương tiện thông đồng không muốn, lại tìm kế sát hại nhau.

Đừng hờn cha mạnh cú nặng đòn,

Ấy tài diệu cha trui con ra bén.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Diệu 耀 là sáng, chiếu sáng.

Như: Hào quang chiếu diệu, diệu quang.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Ðến khi tất cả niệm ngũ nguyện cũng vậy, Bần Ðạo định tâm, dồn cả đức tin biến thành một huệ quang chiếu diệu đem vào Bát Quái Ðài rồi, đợi cho Bát Quái Ðài trả lời khi ấy ở trong đó ánh sáng tủa ra, Bần Ðạo cúi đầu niệm thế cho cả thảy.

Hào quang chiếu diệu Cao Đài,

May duyên nay đã gặp ngày siêu sanh.

(Kinh Thế Đạo).

Khuê tinh chiếu diệu tại Tây phương,

Phải biết ăn năn Ðạo liệu lường.

(Đạo Sử).

 

 

DIỆU DIỆU HUỲNH KIM KHUYẾT

渺 渺 黃 金 闕

Diệu diệu: Còn đọc là miểu miểu, hay diểu diểu, có nghĩa là xa xôi, mù mù. Huỳnh Kim Khuyết: Cái cổng Huỳnh Kim Khuyết ở Bạch Ngọc Kinh.

Diệu diệu Huỳnh Kim Khuyết là cửa Huỳnh Kim Khuyết của Bạch Ngọc Kinh nơi cõi thiêng liêng ở mù mù rất xa.

Diệu diệu Huỳnh Kim Khuyết,

Nguy nguy Bạch Ngọc Kinh.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

DIỆU DƯỢC

妙 藥

Diệu: Hay, thần diệu. Dược: Thuốc chữa bịnh.

Diệu dược là thuốc hay, thuốc linh nghiệm.

Trong sách Minh Tâm Bửu Giám có câu: Diệu dược nan y oan trái bệnh 妙 藥 難 醫 冤 債 病, nghĩa là thuốc hay khó trị bịnh oan trái.

Trong bài Sớ cầu giải bệnh có câu: Thọ bệnh trầm kha, diệu dược bất năng thuyên dũ.

Y nghiệp thuật Kỳ Hiên diệu dược hạnh lâm trừ vạn bệnh, Viện đường thâm võ lộ tế nhơn công đức phục hồi xuân.

(Liễn Y Viện).

 

 

DIỆU HOÁ

妙 化

Diệu: Huyền diệu, thần diệu, hay mầu nhiệm. Hoá: Biến hoá, thay đổi.

Diệu hoá là biến hoá một cách huyền diệu.

Đạo cao nhất khí,

Diệu hoá Tam Thanh.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

DIỆU HUYỀN

妙 玄

Diệu: Tinh xảo, khéo léo. Huyền: Sâu kín.

Diệu huyền, bởi chữ “Huyền diệu 玄 妙”, dùng để chỉ sự khéo léo sâu kín, hay những sự việc thần bí, mầu nhiệm, không thể dùng trí phàm hiểu được.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Ngũ Nương Diêu Trì có câu: Đây là ngọn gió bấc sắp thổi cho cả con cái Chí Tôn để am hiểu máy huyền linh cơ tạo, hầu nêu cao phẩm hạnh của mỗi cá nhân. Đó là huờn thuốc diệu huyền của Chí Tôn để sẵn, hầu đem 92 ức nguyên nhân về chỗ cũ. Nếu để qua cơ hội, khó mong tìm lại được, vì buổi chuyển luân pháp lý thì mặt Thiên điều phải giữ đúng.

Xem: Huyền diệu.

Nam Mô Tam Giáo diệu huyền,

Tuyệt luân Bát Nhã đưa thuyền độ vong.

(Kinh Tận Độ).

Đưa tay vịn phép diệu huyền,

Ngọc Hư lập vị Cửu tuyền lánh chơn.

(Kinh Tận Độ).

Phất phơ đưa phướn diệu huyền,

Trông vơi thấy khách cửu tuyền rậm chơn.

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 

DIỆU LÝ

妙 理

Diệu: Tinh xảo, khéo léo. Lý: Lẽ, sự lý.

Diệu lý là đạo lý tinh vi, hay lý huyền vi mầu nhiệm.

Trong Sách Thiên Đạo, hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có viết: Về “Lễ nghi tế tự” của Đại Đạo và cách thờ Thiên Nhãn, vốn có ba thời kỳ: Từ Thánh Nhãn đến Nguơn Thần, từ đệ nhứt tới đệ tam kỳ, cách thờ phượng phải chuyển theo cơ tấn hoá của Đại Đạo. Người tín đồ đạo Cao Đài cần phải tìm hiểu chỗ diệu lý cách thờ phượng của mỗi thời kỳ để thuận theo cơ tấn hoá.

Đền Phật rưới chan kinh diệu lý,

Non Tiên đầm ấm kệ lưu thần.

(Bakhanayoud)

Đưa gương diệu lý dìu Âu chủng,

Cầm kiếng thiêng liêng chiếu Á Đông.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

DIỆU QUANG

妙 光

Diệu: Huyền diệu. Quang: Ánh sáng.

Diệu quang là ánh sáng huyền diệu, tức là hào quang hay Phật quang.

Thế gian thường bảo mặt trời là lớn và sáng nhứt, nhưng mặt trời chỉ chiếu khắp bốn châu, vẫn bị mây giá, sương mù che khuất ánh sáng, tường nhà không xuyên thấu được. Như vậy, ánh sáng mặt trời có hạn lượng mà còn bị chướng ngại nữa. Nếu đem so với Phật quang hay hào quang, thì ánh sáng huyền diệu của chư Phật, quang minh rực rỡ có thể chiếu suốt mười phương, tam giới, chiếu tan hết thảy những điều phiền não, khổ sở, tối tăm của tất cả chúng sanh.

Năng chiếu diệu quang tiêu trừ nghiệt chướng.

(Di Lạc Chơn Kinh).

 

 

DIỆU PHÁP

妙 法

Diệu: Huyền diệu. Pháp: Chỉ về Bí pháp, Pháp thuật.

1.- Diệu pháp là Bí pháp hay Pháp thuật huyền diệu.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Trong đó có diệu pháp của Chí Tôn đến lập vị cho con cái của Người tại thế gian nầy, Ngài mượn xác thịt của con cái Ngài tổng hợp lại cho nó có trật tự, có đẳng cấp, tức nhiên là lập Thánh Thể của Ngài, các phẩm trật có liên quan với các phần tử tức nhiên Hội Thánh tổng hợp là Thánh Thể của Ngài.

Tìm Công Viễn là tay diệu pháp,

Đưa đường phàm cho ráp cung thiềm.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Diệu pháp còn là phương pháp, hoặc binh pháp hay, tốt. Như: Dùng diệu pháp mà hoàn thành kế hoạch.

Dụng diệu pháp dẹp can qua,

Trị an thế giới mới là Chơn Quân.

(Đoàn Thị Điểm Giáng).

 

 

DIỆU THÂM

妙 深

Diệu: Huyền diệu. Thâm: Sâu.

Diệu thâm là linh diệu thâm viễn, hay huyền diệu cao thâm, tức mầu nhiệm một cách sâu xa.

Thế tình còn lắm bậc sai lầm,

Đại Đạo Tam Kỳ rất diệu thâm.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

DIỆU THIỆN

妙 善

Diệu Thiện là tên một nàng công chúa con vua Linh Ưu nước Hưng Lâm, một tiểu quốc của Ấn Độ ngày xưa, ở về phía đông.

Vua và Hoàng hậu Bửu Đức không con, nên lên núi Huê Sơn cầu tự. Ít lâu sau, Hoàng hậu thọ thai sinh ra công chúa Diệu Thanh và tiếp tục sinh thêm hai công chúa nữa là Diệu Âm và Diệu Thiện. Công chúa Diệu Thiện lớn lên không chịu lấy chồng, muốn xuất gia tu hành. Vua Linh Ưu không bằng lòng, đưa nàng vào ở nơi hoa viên bắt tưới hoa kiểng rất khổ cực để nàng bỏ ý định đi tu, chịu lấy chồng. Hoàng hậu thương con, tâu vua xin cho nàng vào tu ở chùa Bạch Tước, nhà vua bằng lòng nhưng buộc chùa phải bắt nàng làm những việc nặng nhọc vất vả để nàng thối chí, ngã lòng bỏ ý định tu hành.

Vua Linh Ưu thấy đày đoạ công chúa Diệu Thiện không làm cho nàng bỏ ý định đi tu, ông bèn ra lịnh đốt chùa rồi bắt công chúa về triều, buộc phải chọn một trong hai: Bỏ việc tu hành để lập gia đình, hoặc chịu sự xử trảm. Công chúa Diệu Thiện thà chịu chết chứ không từ bỏ ý định tu hành. Vua Linh Ưu tức giận đưa công chúa ra pháp trường hành quyết. Đức Nhiên Đăng Cổ Phật bèn sai Thần Hoàng hoá thành mãnh hổ cõng công chúa Diệu Thiện chạy vào rừng, sau đó Đức Phật dạy nàng tìm đến núi Phổ Đà, biển Nam Hải tu hành. Sau chín năm thiền định, đến ngày 19 tháng 2 Diệu Thiện đắc quả, xưng là Quan Thế Âm Bồ Tát.

Vua Linh Ưu từ khi ra lịnh giết công chúa Diệu Thiện, sau đó bị một chứng bịnh nan y, mình mẩy lở loét, hôi thối và đau đớn vô cùng, các thái y và danh y trong nước điều trị không hết. Sau đó nhờ công đức của Diệu Thiện, tức Phật Quan Âm giải những oan nghiệt của nhà vua, khiến nhà vua hối hận chịu quy y tu hành mà dứt hết được bịnh.

Nơi hành lang Báo Ân Từ, Đức Hộ Pháp có cho vẽ một khuôn hình lấy tích “Phật Nhiên Đăng và Công chúa Diệu Thiện”.

Mẹ khuyên em chị chớ lìa,

Học gương Diệu Thiện danh bia lưu truyền.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Diệu Thiện vua cha quyền quyết định,

Đầu Phật ngăn, ban lịnh lấy chồng.

Đốt chùa đến giết cũng không,

Nhiên Đăng cứu độ toại lòng người tu.

(Báo Ân Từ).

 

 

DIỆU VIỄN

渺 遠

Diệu: Còn đọc là miểu, hay diểu, có nghĩa là xa xôi, mờ mịt. Viễn: Xa xôi.

Diệu viễn là xa xôi mờ mịt, không thể nhìn thấy rõ nét được.

Như: Đường đi diệu viễn.

Nhớ thuở đồ lưu trời diệu viễn,

Tưởng công phổ hoá Đạo hoằng khai.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

DIỆU VÕ DƯƠNG OAI

Hay “Diệu vũ dương uy”.

Diệu võ: Võ nghệ rực rỡ. Dương oai (uy): Đưa ra, phô bày cái oai nghiêm.

Diệu võ dương oai, như chữ “Diệu vũ dương uy 耀 武 揚 威”, là khoe khoang cái sức mạnh và võ nghệ cho mọi người thấy.

Đất Bắc ai xui mà diệu võ,

Trời Nam Mỹ khiến Diệm dương oai.

(Thơ Đức Hộ Pháp).

 

 

DINH ĐẢO

Hay “Doanh đảo”.

Dinh (doanh): Nói tắt chữ “Doanh châu”, là một hòn đảo ở biển Bột Hải, tương truyền có Tiên ở. Đảo: Cù lao ở giữa biển.

Dinh đảo, như chữ “Doanh đảo 瀛 島”, là đảo Doanh châu ở biển Bột Hải. Tương truyền trên hòn đảo nầy có các vị Tiên ở.

Dinh (doanh) đảo dùng để chỉ cõi Tiên.

Bồng Lai vắng mặt Tiên buồn nhớ,

Dinh đảo nghiêng tai Thánh khảy đờn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

DINH HOÀN

Hay “Doanh hoàn”.

Dinh (doanh): Bể rộng to. Hoàn: Đất rộng lớn.

Dinh hoàn, như chữ “Doanh hoàn 瀛 寰”, là chỉ chung đất liền và biển cả trên quả địa cầu nầy, tức nói toàn cõi thế gian.

Thánh giáo Chí Tôn có câu: Thế thì nhơn loại, nếu chẳng có mối huyền vi để nhắc chừng tâm tánh, sẽ vì mồi danh lợi, miếng đỉnh chung mà cắn xé giựt giành, giết hại lẫn nhau cho đến buổi cùng đường, rồi vì hung bạo ấy mà cõi dinh hoàn nầy chẳng còn sót dấu chi của nhân vật cả.

Đề cao chủ nghĩa Đại Đồng,

Gây tình thiện cảm sống trong dinh hoàn.

(Lược Thuật Toà Thánh).

Từ cõi Thiên, chí dinh hoàn,

Hoa nở đầu kiếp, hoa tàn hồn quy.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

DINH HƯ

Hay “Doanh hư”.

Dinh (doanh): Đầy. Hư: Trống không.

Dinh hư, như chữ “Doanh hư 盈 虛”, là nói lúc đầy lúc thiếu, ý chỉ sự bất thường.

Thánh giáo Thầy có câu: Cơ lập Ðạo là nhiệm mầu vô giá. Biết Ðạo, biết ta biết người, biết thế biết thời, biết dinh hư, biết tồn vong ưu liệt, rồi mới có biết hổ mặt thẹn lòng, biết sự thế là trò chơi, biết tuồng đời là bể khổ, biết thân nô lệ dẫn kiếp sống thừa, biết nhục vinh mà day trở trên con đường tấn thối.

Xem: Doanh hư tiêu trưởng.

Ðã thừa may rủi cuộc dinh hư,

Làm lắm công phu thử đến chừ.

(Đạo Sử).

Nhớ lại trước kia Thầy đã phán,

Dinh hư thành hoại cũng do ta.

(Thơ Huệ Phong).

Cầu tiến bản thân đời hữu dụng,

Dinh hư tạo hoá lẽ xoay vần.

(Thơ Thành Đức).

 

 

DINH HƯ TIÊU TRƯỞNG

Hay “Doanh hư tiêu trưởng”.

Dinh (doanh) hư: Lúc đầy đủ, lúc thiếu thốn. Tiêu trưởng: Lúc nhỏ đi, lúc lớn lên.

Dinh hư tiêu trưởng, như chữ ”Doanh hư tiêu trưởng 盈 虛 消 長”, tức là khi nhỏ khi lớn, lúc đầy lúc vơi. Nghĩa rộng: Lúc vầy lúc khác.

Huấn từ Đức Thượng Sanh có câu: Quý vị nên tự an ủi, nên can đảm tuỳ theo số phận không may của mình, nếu quý vị hiểu Đạo tức là hiểu cuộc đời dinh hư tiêu trưởng vẫn là dĩ nhiên do Thiên cơ định liệu.

Dinh hư tiêu trưởng lạ gì ông?

Đạo đức không tu cứu giống dòng.

(Thơ Hộ Pháp).

Dinh hư tiêu trưởng luật tuần hoàn,

Ân điển lành chờ Hội Yến ban.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

DÍNH

Dính là bám chặt, không rời nhau.

Như: Dầu mỡ dính đầy tay, kẹo ướt dính túi, chân dính bùn, không còn một xu dính túi.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Nếu rủi có một bệt lọ, hay một chút bợn nhơ dính vào thì nó dị hình dị dạng và ô trược lắm.

Hình vóc cảnh Tiên còn dính máu,

Chơn Thần nước Phật giữ thai bào.

(Thất Nương Giáng Bút).

Nàng dâu nào nếu thiệt là khôn,

Thì cứ dính theo trôn bà mẹ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

DÍNH CỨNG

Dính: Mắc với nhau bởi một chất như keo, hồ. Cứng: Gắn chặt vào, không gỡ ra được.

Dính cứng là dính, dính chặt, bám lấy như được dán vào, gắn vào, khó gỡ, khó tách ra được.

Còn làm hơi dính cứng sân si,

Mét bả tụng đại bi ít hiệp.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

DÍNH LÍU

Dính: Mắc với nhau bởi chất hồ keo.

Dính líu là chỉ việc quan hệ hay liên quan nào đó.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Dục vọng vô bờ bến của con người bao hàm sự quyến luyến ràng buộc với điều mình ham muốn. Nhưng một khi đã dính líu, người ta không còn tự do nữa, như cá phải mắc câu, chim sa lưới.

Bằng nó nghiệt ác thì nó phải dính líu với cái xác thúi hôi nầy mà phải chịu lìa xa cái linh hồn thì tử thần sẽ rước đi mà phải đoạ là vậy.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

DỊP

Dịp là cơ hội, tức những điều kiện khách quan có được vào một thời gian nào đó, thuận tiện để làm việc gì.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Thương chẳng đặng thấy nên, thì dầu cho các con càng đông lại càng thêm nhiều người làm rối, thêm mối hận để chờ dịp cắn xé nhau chớ chẳng ích chi.

Lừa dịp đình chơn viếng cố nhân,

Cảm tình trông đợi dạ ân cần.

(Thất Nương Giáng Bút).

Mình đâu đặng dịp thấy như vầy,

Xin phép xem tường phía hướng Tây.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Của chia tư nhập lại làm công,

Gương cột đũa, gương hay dùng phải dịp.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

DỊP MAY

Dịp: Cơ hội. May: May mắn, dịp tốt.

Dịp may là cơ hội tốt, tức có điều kiện thuận tiện để làm việc gì đó.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Đức Diêu Trì Nương Nương có dạy: Thiếp ước mong cho Hiệp Thiên Đài để hết công tâm mà lo lắng chủ nghĩa chung là lập nền tảng chắc chắn để độ sanh linh đi đến con đường giải thoát. Đó là dâng cho Chí Tôn một lễ trọng hậu, và gặp dịp may để lập ngôi vị cho mình.

Dịp may dễ có mấy lần,

Dò đường đến chốn non Thần mới hay.

(Thanh Tâm Tài Nữ).

 

 

DÌU

Dìu là dắt, lôi kéo nhau đi.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Thầy cũng hoan tâm nắm máy huyền vi, mong rằng các con sẽ tận lực tận tâm đắp vững nền Ðạo đặng hoàn toàn mà dìu sanh chúng thoát khỏi tội tình, cùng nhau đỡ nâng đem lên con đường Cực Lạc, vẹt ngút mây xanh, trông vào lối thanh bạch thiêng liêng là chỗ từ xưa các Chí Thánh đã tổn lắm công phu mà chưa mong để mình đến được.

Dìu nhau trở bước lại rừng thung,

Ðằng cát may đưa dựa bóng tùng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Gội nhuần đức trước rạng thôn lân,

Ðạo Thánh dìu chơn bước khởi lần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

DÌU BƯỚC

Dìu: Nắm tay mà dắt đi. Bước: dời chân, đi.

Dìu bước là dìu dắt đi để khỏi lầm đường, lạc nẻo.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy: Con lấy làm hữu hạnh gặp đặng Thầy dìu bước trong nẻo Ðạo nhiệm mầu lúc non chiều bóng xế. Thầy đã có sai chư Thần mách bảo với con đã lâu, trí thiêng liêng đem đàng dắt bước con đặng độ dẫn sanh linh cho kịp thì giờ trong buổi chung cuộc của con.

Thần thông trói chặt Ma vương quái,

Dìu bước vạn linh đến cảnh nhàn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chúng ta từ thử bạn đồng tâm,

Dìu bước nhơn sanh khỏi lạc lầm.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

DÌU DẮT

Dìu: Dìu dẫn, nắm tay mà dẫn đi. Dắt: Dẫn dắt.

Dìu dắt là đưa dẫn, tức chỉ đường dẫn lối, hay chăm nom giúp đỡ.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Từ đây, Thầy là Ðứng chủ trung dìu dắt các con trong đường đạo hạnh, nhứt nhứt đều tưởng có Thầy bên các con, và đợi nơi Thầy mà thôi.

Thuyền khơi gặp gió cánh buồm trương,

Dìu dắt đạo mầu nẻo chánh nương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Dìu dắt đàn em sau nối gót,

Con đường đạo đức bước càng lên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

DÌU DẪN

Dìu: Dìu dắt, nắm tay mà dắt đi. Dẫn: Cùng đi để đưa đến một nơi nào đó.

Dìu dẫn, như chữ “Dìu dắt”, là dẫn dắt cùng đi với mình, hoặc chăm nom, giúp đỡ cho tiến lên theo cùng một hướng với mình.

Thánh giáo Thầy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, có dạy: Nếu Thầy quá thương dìu dẫn cho các con khỏi chốn khó khăn ấy, thì các con phải đem mình trở xuống mấy lần như vầy nữa mới được công quả hoàn toàn, hầu trở về ngôi vị đặng.

Đại Từ Phụ ra ơn dìu dẫn,

Diệt trí phàm: Hờn, giận, ghét, ganh.

(Kinh Thế Đạo).

Ơn Trời cho mở Ðạo Kỳ Ba,

Dìu dẫn nhơn sanh lánh vạy tà.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

DÌU ĐỠ

Dìu: Dìu dắt, nắm tay mà dắt đi. Đỡ: Làm cho khỏi ngã, khỏi rơi, giúp.

Dìu đỡ là dìu dắt và đỡ nâng.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có đoạn: Ngày nay cửa Ðạo được mở rộng đây cũng nhờ các Thánh Tử Ðạo, nếu không thì vẫn còn đóng cửa. Nếu mấy em xem đáng, thì Qua mở cửa cho các Ðấng Thiêng Liêng dìu đỡ mấy em.

Cảm tạ ơn trên đầu dìu đỡ,

Từ khi đi khi trở lộn về.

(Kinh Thế Đạo).

Vui hành tam lập Thầy dìu đỡ,

Siêng cúng tứ thời đạo mở mang.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

DÌU ĐỜI

Dìu: Dìu dẫn, nắm tay mà dẫn đi. Đời: Cõi thế gian, hay người đời.

Dìu đời là dìu dắt người đời xa dần bến mê để trở về đường giác.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Những vai tuồng của Chí Tôn sắp đặt trên sân khấu Ðạo, nếu so sánh lại chẳng khác chi những bậc Nguyên nhân lãnh phận sự dìu đời từ xưa đến nay mà thôi.

Thành pháp dìu đời qua nẻo khổ,

Nên công giúp thế lánh cơn nguy.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Dìu đời cửa Thánh đang mong đợi,

Thoát tục non Tiên vội đến chầu.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

DÌU ĐƯỜNG

Dìu: Dìu dẫn, nắm tay mà dắt đi. Đường: Nẻo, lộ.

Dìu đường là dẫn đường, tức quen biết lối đi đứng ra dìu dắt người chưa rành nẻo đi.

Thánh giáo Thầy có dạy: Than ôi! Các con xa Thầy chưa mấy ngày, thì mối Ðạo lớn lao đã thành một bàn hội vô giá trị ở cõi trần thế nầy. Mấy đứa mong chác sự phá hoại ấy lại là mấy ngọn đèn của Toà Tam Giáo khêu lên để dìu đường cho cả chúng sanh, thì con phải nghĩ đến hành trình của Ðạo phải đến thế nào?

Dìu đường thoát tục nắm phan,

Trông Kinh Bạch Ngọc định thần giải căn.

(Kinh Tận Độ).

Đuốc huệ dìu đường đen đổi trắng,

Ân hồng lộc nước đục ra trong.

(Thơ Cao Tiếp Đạo).

 

 

DỊU

Dịu là êm, yên, mềm, không gay gắt. Như: Lời nói êm dịu, cơn tức đã dịu, nước tương dịu, nắng dịu.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Chúng ta hãy quên mình để những kẻ khác được hưởng nhờ phải hy sinh để cho hoàn thành sứ mạng. Phận sự làm xong, lương tâm được bình tĩnh an vui, đó là phần thưởng êm dịu của chúng ta đó.

Muốn trau chuốt mặt ngần thân dịu,

Vẽ cho hay mày liễu má đào.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Dầu đắn đo cũng nghĩa đồng bào,

Dầu ngọt dịu người sao hơn thủ túc.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

DỊU DÀNG

Dịu dàng là yểu điệu, uyển chuyển, chỉ gương mặt, dáng đi của bậc văn nhân hay người phụ nữ.

Dịu dàng còn có nghĩa êm dịu, có tác dụng gây cảm giác dễ chịu, tác động êm nhẹ đến các giác quan hoặc đến tinh thần. Như: Tiếng nói dịu dàng, mùi thơm dịu dàng...

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Tâm ở nơi con người cũng như một vị quốc sư ở cạnh một đấng cầm quyền thống trị thiên hạ. Trong khi ta đang ngẩn ngơ trước một sắc đẹp mỹ nhơn hoặc ta đương dùng thẳng trước một món lợi lớn của người đem hiến cho ta đặng dục ta làm chuyện phi pháp, thì một tiếng nói văng vẳng bên tai ta, nghe dịu dàng, chơn chánh và siêu kỳ.

Dịu dàng tay mặt lần xâu chuỗi,

Yểu điệu tay kia nắm tấm hình.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Hạc thong thả dịu dàng đáp lại,

Nầy anh gà anh hảy nghe đây.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

DỊU NGỌT

Dịu: Êm dần, không gắt. Ngọt: Có vị đường, mật, chỉ sự dịu dàng êm ái.

Dịu ngọt là dịu dàng và ngọt ngào, dùng để chỉ mùi vị của thức ăn, hoặc nói về tướng mạo và ngôn ngữ của con người.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh tại Giảng Đường Toà Thánh có câu: Dưới tiềm lực yêu thương, những gì đắng cay đều biến thành dịu ngọt, những sự đau khổ sẽ biến thể thành nguồn lạc hoan.

Trả thấp cao phải chẳng đừng buồn,

Với ai cũng ra tuồng dịu ngọt.

(Phương Tu Đại Đạo).

Bồi hồi ngước mặt trông người hỏi,

Dịu ngọt khuyên mình có tiếng kêu.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

DO THÁI

猶 太

Do Thái là một dân tộc ngày xưa ở Tây bộ Á Châu, bây giờ ở tản mác khắp thế giới. Tiếng Pháp gọi là “Juif”.

Da Tô Giáo Chủ là người thuộc giống dân ấy, nên tôn giáo của Ngài còn gọi là Do Thái Giáo.

Do Thái cố quyền cam bạc phước,

Giu Đa dục lợi chịu vô phần.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

1.- Dò là thăm cho biết, tìm hiểu dần dần từng bước một cách mò mẫm.

Dò là đi một cách thận trọng, lần từng bước.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: Ðặng một việc chi chớ vội mừng, thất một việc chi chớ vội buồn, vì sự mừng vui và buồn tủi thường pha lẫn kế cận nhau. Còn sự gì phải đến cho con, ấy là tại nó phải vậy. Chớ cượng cầu mà nghịch Thánh ý Thầy. Hãy xem theo đây mà day trở trong bước đường đạo.

Rạng nẻo chung soi đèn Bạch Ngọc,

đường xúm núp bóng Hồng Quân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Bên mình sầu vướng khá âu lo,

Bước nhọc đường gay gắng chí .

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nhắp cần thao lược sâu cạn,

Nương sợi kinh luân sửa mối giềng.

(Thơ Huệ Giác).

2.- Dò là một loại bẫy, thường được làm bằng dây thòng lọng để bắt chim, thú.

Như: Chim mắc dò.

Đã mê đắm tục quen chừng,

Lạc xiêu ngoại đạo máng chưn bẫy .

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

DÒ ĐON

Dò: Tìm hiểu, theo dõi từng bước một cho biết sự thật. Đon: Hỏi thăm.

Dò đon là hỏi thăm, tìm tòi cho rõ biết sự thật.

Chi bẳng một bầu đầy nhựt nguyệt,

Thông minh miệng thế mặc dò đon.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Lợt điểm Thánh tâm trần tục khảo,

Vẻ tươi bợn thế nét dò đon.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

DÒ XÉT

Dò: Tìm biết dần dần từng bước một cách mò mẫm. Xét: Tìm hiểu cân nhắc kỹ để nhận biết, đánh giá kết luận.

Dò xét là dò bằng cách quan sát kín đáo.

Thánh giáo Đức Quyền Giáo Tông có câu: Các em cứ bình tĩnh dò xét mọi sự thiệt hư đặng liệu chừng và hiểu rằng: Nền Đạo Cao Đài phải có một trách nhiệm gì trọng yếu trong buổi phục hưng quốc thể Việt Nam.

Khi gặp chuyện khá dò xét cạn,

Liệu sức mình cho hẳn sẽ làm.

(Kinh Sám Hối).

 

 

DỌ

Dọ là dò, thăm dò. Như: Dọ hỏi, dọ thám, dọ nhà.

Thánh giáo Thầy trong Thánh Ngôn Sưu Tập có đoạn dạy: Con phải chăm nom từ chút và dọ tánh chư Đạo hữu, chớ vội tin, lúc nầy nhiều đứa bị cám dỗ mà sái bước lần. Ấy là lúc Tà Chánh tranh giành với nhau.

Đừng dọ ý chồng thương chiều bụng,

Mà bắt hơi làm nũng đòi bồng.

(Phương Tu Đại Đạo).

Ai anh hùng mình cũng anh hùng,

Theo dọ hỏi cách dùng chữ nghĩa.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

DỌ DẪM

Dọ: dò thăm dò. Dẫm: Bước chân đi.

Dọ dẫm, như chữ “Dò dẫm”, là lần tìm để đi hoặc tìm tòi để có sự hiểu biết.

Như: Trời tối đường lại trơn trợt, nên phải dọ dẫm mà đi từng bước.

Trước kia nói vô tuyến điện, và loài người bay và nghe thấy được dọ dẫm trên không trung.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

DỌ THÁM

Hay “Do thám”.

Dọ: Dò, tìm hiểu, thăm dò, dò xét để biết được thông tin cần thiết. Thám: Dò xét.

Dọ thám, như chữ “Do thám”, là dò xét để nắm tình hình của đối phương.

Như: Để nắm tình hình địa phương phải đi dọ thám.

Sự thật cũng có chứa bọn ấy mà vụ nầy phát giác là do nhơn viên dọ thám biết rõ mà điềm chỉ.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

DOANH DU

Hay “Doanh thâu”.

Doanh: Hơn, lời. Du (thâu): Thua, lỗ.

Doanh du, như chữ “Doanh thâu 嬴 輸”, tức hơn thua, thắng bại, hay lời lỗ.

Bài Chiến Tụng Tây Hồ Phú của Phạm Thái có câu: Cuộc doanh du bàn bạc bắc nam chơi, Khúc lưu thủy gảy vài câu réo rắt.

Ấm lạnh tình đời, thôi biếng thốt,

Bực mình ngao ngán cuộc doanh du.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

DỌC

Dọc là theo chiều dài, trái với ngang.

Như: Trồng hai hàng cây thẳng theo chiều dọc, cắt theo chiều dọc của tấm vải.

Lại biểu lộ Tứ linh trên nóc,

Cột hai hàng ngắm dọc rồng xanh.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

DỌC ĐƯỜNG

Dọc: Theo chiều dài mà đi tới. Đường (đàng): Lộ.

Dọc đường là trong những khoảng ở giữa đường đi.

Thuyết về Đức Quan Thánh, Thượng Sanh có câu: Dọc đường qua năm ải Ðức Ngài buộc lòng phải giết hết sáu tướng của Tào, vì cản trở không cho Ðức gài qua ải.

Noi một Ðấng mà chúng ta thường biết là Huệ Năng, khi thầy đi tu, đi dọc đường thấy một người đàn bà lõa thể nằm chết ở lề đường.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

DỌC NGANG

Dọc: Theo chiều dài, trái với ngang. Ngang: Theo chiều rộng, trái với dọc.

Dọc ngang, bởi chữ “Tung hoành 樅 橫”, cùng nghĩa chữ “Ngang dọc”, là bề dọc và bề ngang, nghĩa bóng chỉ sự bướng bỉnh, vẫy vùng.

Thánh giáo Thầy có dạy: Cang thường điên đảo, phong hoá suy vi, những mảng ghét lẫn nhau, giành xé nhau, mối tôn giáo phân chia, đạo nước nhà chẳng đoái, chánh tà tà chánh nan phân, còn chút hơi thở ở cõi trần mà tính tình dọc ngang chưa chịu dứt, một mai hồn xuống Diêm Ðài, khổ A Tỳ bảo sao không buộc trói.

Xa những kẻ buôn hương bán phấn,

Ỷ chồng thương xô lấn dọc ngang.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Đừng cậy sắc dọc ngang búng rảy,

Dầu ngu si cũng ngãi vợ chồng.

(Bát Nương Giáng Bút).

Làm em thì đừng tánh dọc ngang,

Anh chị vốn là quan của cha mẹ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

DOI

Doi là dải phù sa ở dọc theo sông hay cửa biển.

Doi là phần đất gie ra sông, biển, do cát tạo thành.

Doi còn có nghĩa là phần biển có mực nước nông hơn so với các vùng chung quanh.

Như: Lên doi xuống vịnh.

Sớm vượt lên doi, chiều xuống vịnh,

Trưa tung chài lưới, tối câu thòng.

(Thơ Thông Quang).

 

 

DỌI

Dọi, cũng có thể viết “Giọi”, là đập, cốc, dùng nắm tay gõ hay đánh mạnh vào. Như: Dọi đầu, dọi vào sườn mấy cú.

Thánh giáo Thất Nương trong Thánh Ngôn Sưu Tập có câu: Khảo về xác thịt: Thì đau té, có khi bị chúng giọi đầu, gia đình lộn xộn, xào xáo chẳng yên.

Muốn dạy biểu ông chồng quỳ gối,

Chịu cúc cung đặng dọi mới vừa.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

DÒM

1.- Dòm, có khi nói là “Nhòm”, trông, nhìn một cách chú ý. Như: Không được dòm bài của bạn.

Thánh giáo Thầy dạy nữ phái có câu: Chư ái nữ ôi! Các con thường để mắt dòm lên, thấy kẻ cao sang thì các con cho rằng các con vô phước, còn nhìn xuống thấy đồng chủng thấp hèn thì các con lại đem lòng khi bạc.

Nhiều thứ rắn mặt mày dữ tợn,

Ngóng cổ trông mắt trợn dòm người.

(Kinh Sám Hối).

Rừng tòng ngày tháng thú quen chừng,

Nhướng mắt dòm coi thế chuyển luân.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

2.- Dòm là trông qua một lỗ hổng nhỏ, hoặc khe cửa hay cửa sổ.

Như: Dòm qua khe cửa trước, ánh trăng dòm qua cửa sổ, hé cửa dòm vào nhà.

Quạnh quẽ vườn xuân quyên gọi bạn,

Lạnh lùng đêm hạ nguyệt dòm song.

(Thơ Chơn Tâm).

Thấp thoáng vầng ô chìm khuất dạng,

Thập thò gương thỏ ghé dòm song.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

DÒM HÀNH

Dòm: Nhìn, trông một cách chú ý. Hành: Hành động, hành vi.

Dòm hành tức là dòm ngó, nhìn hay theo dõi một cách tò mò chuyện của người khác.

Thánh giáo Thầy có dạy: Nơi trần nầy, thiếu chi bực giả dối. Các con có tin ai cho bằng tin cậy nơi các con? Nhiều kẻ dụng thế để cầu Thầy, chớ kỳ thật là chúng nó muốn tìm cách dòm hành mong các con lầm mà bại lộ cơ quan mật yếu mà thôi.

Chỗ riêng chớ để kẻ dòm hành,

Thà rách mà cam phận rách thanh.

(Đạo Sử).

 

 

DÒM NGÓ

Dòm: Nhìn, hay trông một cách chú ý. Ngó: Để mắt đến, để ý tới.

Dòm ngó là để ý trông nôm, hay quan tâm đến.

Dòm ngó còn có nghĩa để ý, quan sát theo dõi nhằm thực hiện ý đồ không tốt.

Nói về công nghiệp Đức Hộ Pháp, Thuyết Đạo Thượng Sanh có dạy: Vì tuy Ðức Ngài về Thiêng Liêng vị, nhưng vẫn dùng huyền diệu, cơ bút đến hội hiệp với chúng ta, khi thì để lời giáo hoá, khi thì an ủi vỗ về và lẽ tất nhiên là Ðức Ngài hằng dòm ngó đến sự nghiệp của Ðức Ngài lưu lại nơi vùng Thánh địa, nơi mà Ðức ngài đã chan rưới biết bao nhiêu giọt mồ hôi, chịu biết bao nhiêu khổ tâm mới tạo thành được như ngày nay.

Cha mẹ gái mắt hay dòm ngó,

Sự dại khôn hiểu rõ hơn mình.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

DỌN

1.- Dọn là sắp đặt, thu xếp, tức làm cho gọn, sạch, bằng cách cắt đặt vào một chỗ hoặc đưa đi chỗ khác. Như: Dọn đồ đạc, dọn nhà cửa, dọn sạch sân vườn.

Từ nền Ðạo khai sáng đặng gieo truyền mối Chánh giáo đến nay, thì phần nhiều môn đệ đã có trọn tấc thành mà dìu dắt sanh linh và đắp vun mối Ðạo Trời, ấy là những đứa Thầy đã tin cậy đặng gia công dọn lối chông gai để mở trống nẻo thiêng liêng, dẫn lần dân sanh khỏi sông mê bến khổ, tất là cõi trần vô vị nầy.

Còn nói về phụ nữ nhứt là gia đình nào con hát bè, hát bộ, thì có dọn mà đi luôn.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

2.- Dọn là soạn và bày ra để làm việc gì.

Như: Dọn ăn, mâm cơm đã dọn sẵn, tiệc dọn đãi khách, dọn quán cốc bên đường.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có câu: Phòng trù, dầu phải chung lộn với nhau buổi nấu nướng, khi dọn ăn, chẳng đặng lộn xộn cùng nhau, nghe à...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

Tiệc hồng đã dọn sẵn sàng,

Chơn Thần khá đến hội hàng chư linh.

(Kinh Tận Độ).

3.- Dọn làm cho hết cái dơ bẩn, vướng mắc, cái trở ngại để có sự thuận lợi cho việc gì.

Như: Dọn mình cho tốt đẹp, dọn con đường tương lai, dọn đường phước đức.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Trước khi nhập Ðạo, ta đã từng quan sát, kiếm hiểu lẽ mầu nhiệm sâu sa, cân phân điều chánh lẽ tà, rõ biết rồi ta dọn mình, lập ý cho thành, tâm cho định, mới đến khắc kỹ tu thân, khi ấy người hành Ðạo đã có sẳn chí hướng, đi từ bước một, mỗi bước mỗi dè dặt cân phân và nên mãi đinh ninh rằng người nơi cửa Ðạo phải làm sao cho thoát khỏi thường tình, phải đi ngược với thế sự.

Dọn mình cho sạch bớt phàm tâm,

Lẽ chánh tà kia phải xét thầm.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Dọn đường phước giúp mày xanh,

Đưa con thuyền hạc đến gành thiên lương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Khen tặng nghĩ thôi thêm thẹn phận,

Dọn mình đợi dắt đám nhơn sanh.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

DỌN DẸP

Dọn: Sắp đặt, thu xếp. Dẹp: Thu xếp cho gọn lại, làm cho có trật tự.

Dọn dẹp là thu xếp cho gọn gàng, sạch sẽ.

Như: Dọn dẹp đồ đạc trong phòng cho gọn, nhà cửa vừa mới dọn dẹp xong.

Con dời bài vị của Lý Bạch để dưới tượng Thầy, con dọn dẹp trong hết, để một cái ghế kế một bên tran thờ.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

DÒNG

1.- Dòng là đường nước chảy. Như: Dòng nước, dòng sông, dòng nước mắt chảy, dòng khổ hải.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Ðặng bậc Chí Tôn cầm quyền thế giới dìu dắt, rửa lỗi, mà chẳng bươn chải cho kịp thì, để đua nhau nghĩ tính về miếng đỉnh chung, nếu Thầy chẳng đại từ đại bi thì công quả đã chảy theo dòng nước.

Theo bước kịp thì tìm ánh sáng,

Ngừa thuyền ấy lúc lánh dòng sâu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Bền lòng thiện niệm bồi căn trước,

Trễ bước thuyền e bị ngược dòng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Dòng là một nhánh, ở chung một gốc mà ra. Như: Dòng họ,, dòng quan, dòng đạo.

Trong bài Bia Kỷ Niệm Đức Cao Thượng Phẩm có câu: Cao Quân người Nam Kỳ, xuất thân tại tỉnh Tây Ninh, nối dòng trâm anh, vốn nhà thi lễ, phẩm hạnh mực thước, tánh chất siêng năng, học hỏi thông minh, thành danh khi tuổi trẻ.

Cháu con sum hội yên thân lão,

Sung túc dài dòng dõi họ Cao.

(Thiên Hậu Giáng Bút).

Nầy là vẹn giống trọn dòng,

Nàng sanh thiếp dưỡng cũng đồng như nhau.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

DÒNG BÍCH

Dòng: Đường nước chảy. Bích: Biếc.

1.- Dòng bích là dòng nước xanh biếc, chỉ dòng sông, dòng nước biếc.

Dòng bích thông nguồn trôi lá thắm,

Động đào mở lối hẹn trăng thanh.

(Thơ Hoàn Nguyên).

Cành xuân một sớm xuôi dòng bích,

Mang hận nghìn thu xuống suối vàng.

(Thơ Hoài Tân).

2.- Dòng bích còn là dòng nước của biển khổ, tức là dòng Bích Hải, một dòng sông mà người thiếu phước đức phải rơi xuống đó.

Vậy dòng bích là dòng Bích Hải, chỉ dòng nước trong biển khổ.

Dòng bích thuyền từ còn đợi bến,

Thu qua gặp gió cánh buồm trương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

DÒNG GIỐNG

Dòng: Những người cùng một gốc mà sinh ra. Giống: Nòi giống.

Dòng giống là những người có cùng chung huyết thống, một tổ tiên, làm thành các thế hệ kế tiếp nhau, kế thừa và phát triển những truyền thống chung.

Thánh giáo Thầy dạy: Thầy lập nhơn loại là dòng giống các con, chỉ tưởng rằng ban đặng phẩm Thần, Thánh, Tiên, Phật nơi cõi thế giới càn khôn, đặng làm cho rõ Thánh chất mạnh mẽ hơn phàm chất; nào dè còn lại đặng chẳng đủ một phần triệu đấng, thì thế nào Thầy không đau lòng cho đặng?

Truyện tích xưa ghi lẽ khí trung,

Cũng là dòng giống đấng anh hùng.

(Đạo Sử).

Chim ơi! Chẳng sớm thương đồng loại,

Dòng giống sau nầy ắt diệt vong.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

DÒNG GIỐNG LẠC HỒNG

Dòng giống: Những người có cùng chung một tổ tiên, làm thành các thế hệ kế tiếp. Lạc Hồng: Lạc Long Quân họ Hồng Bàng.

Theo Việt sử, họ Hồng Bàng khởi đầu từ vua Kinh Dương Vương. Con của Kinh Dương Vương là Sùng Lãm, nối ngôi làm vua, xưng hiệu là Lạc Long Quân.

Lạc Long Quân lấy Bà Âu Cơ sinh ra trăm người con, 50 người con theo Bà Âu Cơ lên núi, và 50 người con theo Lạc Long Quân xuống miền Nam Hải.

Người con trưởng của Lạc Long Quân lên làm vua nước Văn Lang, xưng hiệu là Hùng Vương.

Như vậy dân tộc Việt là Lạc Hồng.

Ðấng Chí Tôn đã cho ra đời nhà thông minh xuất chúng đó hầu sáng tạo cho đất nước Việt Nam một nền chánh giáo để nâng cao tinh thần của Lạc Hồng ngang hàng với các nước trên mặt địa cầu về phương diện tín ngưỡng.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

DÒNG LẠC

Dòng: Những người có cùng chung một tổ tiên, làm thành các thế hệ kế tiếp. Lạc: Lạc Long Quân.

Dòng Lạc là dòng dõi Lạc Long Quân, ý nói dân tộc Việt Nam là của Lạc Long Quân thuộc họ Hồng Bàng.

Xem: Lạc Hồng.

Phục hồi xã tắc xinh dòng Lạc,

Thống hiệp uy linh đẹp giống Hồng.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

DÒNG NGÂN

Dòng: Dòng nước, chỉ con sông. Ngân: Sông Ngân.

Dòng Ngân, tức là “Ngân Hà 銀 河”, một con sông chia cắt tình yêu của đôi vợ chồng Ngưu Nữ, nên được coi như một dòng sông đau khổ.

Theo Đức Hộ Pháp, nơi đó có chiếc thuyền Bát Nhã đậu chờ rước khách trần đầy đủ công đức để trở về ngôi vị cũ nơi cõi thiêng liêng.

Thuyền khơi đợi gió lướt dòng Ngân,

Dẫn khách Nam qua khỏi bến trần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

DÒNG TƯƠNG

Dòng: Chỉ khối chất lỏng đang chảy. Tương: Sông Tương, con sông ở tỉnh Hồ Nam.

Dòng Tương là dòng sông Tương, ví với dòng nước mắt nhớ thương.

Do tích: Vua Thuấn đi tuần thú và chết ở phương Nam. Hai bà vợ là Nga Hoàng và Nữ Anh đi tìm, đến bờ sông Tương ngồi khóc chồng thảm thiết.

Xem: Rèm tương, tương liêm.

Dòng Tương chảy thân bèo trôi nổi,

Chẳng ai thương chữa lỗi binh lời.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

DỖ

1.- Dỗ là vỗ về, khuyên bảo. Như: Dỗ con ngủ, dỗ dân, khuyên răn dạy dỗ.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Đức Chúa Jésus de Nazareth (gọi là Christ) bởi lòng nhân cứu thế lập nên Thánh Giáo Gia Tô, Ngài mượn bác ái nhân sanh, đặng thay mặt Chí Tôn khai hoá, xem phổ tế chúng sanh rằng trọng, nên chuyên lo giúp khó trợ nghèo, dỗ kẻ dữ, dạy người ngu, ngó chân thật mạng sanh hành thiện Đạo, diệt dị đoan, trừ mê tín, dụng chân lý để răn đời, nhìn lương tâm là hình ảnh của Trời, lấy trí tuệ vẽ tươi Thiên Cảnh.

Dỗ con lệ ngọc li bì,

Hạ ơi! Hạ có biết nghì phu thê?

(Nữ Trung Tùng Phận).

Giúp những kẻ ôm mồ thủ hiếu,

Dỗ những trang bận bịu khối tình.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Dỗ là dụ cho người ta mê theo mình. Như: Dỗ gái, dụ dỗ, cám dỗ, dỗ dành.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Đạo Cao Đài để cho hàng trí thức họ tìm hiểu mà đến, chớ không dụ dỗ hay là cám dỗ cho người biết nó.

Lẩn bẩn cứ theo toan cám dỗ,

Làm cho nên nỗi Ðạo xa Thầy.

(Đạo Sử).

 

 

DỖ DÀNH

Dỗ: Vỗ về, dụ cho mê.

Dỗ dành là dụ dỗ, tức dùng lời lẽ, hay cử chỉ để vỗ về, hoặc dụ cho mê theo.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển như sau: Bởi vậy cho nên, Thầy chẳng vì ghét mà không lời khuyến dụ; cũng chẳng vì thương mà không sai quỷ dỗ dành.

Dỗ dành, rù quến gái non,

Làm hư hoại tiết cháu con nhà người.

(Kinh Sám Hối).

Nên chiều mặt thế mới nên danh,

Ðừng để tà tâm đến dỗ dành.

(Đạo Sử).

Cũng đừng quen theo phép dỗ dành,

Ép buộc vợ thoả tình hoa nguyệt.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

DỐC

1.- Dốc là đưa hết tất cả ra để dùng vào việc gì.

Như: Dốc tiền của vào công trình, dốc lòng vì nước, dốc sức làm để hoàn thành công việc.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có dạy: Sự hiện diện đông đủ của toàn thể Chức Việc Nam Nữ trong buổi lễ nầy làm cho Hội Thánh thấy rõ cái thiện chí của quý vị là dốc lòng học hỏi cho thông hiểu luật pháp và các nghi lễ về Quan, Hôn, Tang, Tế của nền Ðại Ðạo hầu dìu dắt nhơn sanh cho khỏi sai đường lạc lối, tránh điều đổ vỡ tai hại vô phương cứu vãn tức là sự thất kỳ truyền nơi ngày mai hậu.

Con ghi nơi dạ làm lành,

Dốc lòng đoạt đặng bảng danh đại đồng.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Ấm lạnh dốc tròn gương phấn đại,

Vui buồn chưa vẹn nỗi hàn huyên.

(Đạo Sử).

2.- Dốc là tuốt ra, rút ra.

Như: Dốc kiếm rượt quân địch, ra trận tiền dốc gươm chém quân thù.

Đã gan dốc kiếm diệu huyền,

Sanh sanh là phận, hiền hiền là công.

(Kinh Tận Độ).

 

 

DỐI

Dối là không thực, tức cho biết sai sự thực nhằm che giấu một điều gì.

Như: Nói dối, làm dối, tự dối lòng, ăn mặn nói ngay còn ăn chay nói dối.

Giải về Bất vọng ngữ, Thánh giáo Thầy có câu: Như các con nói dối, trước chưa dối với người thì các con đã nói dối với Lương tâm, tức là Chơn linh.

Dối ai đâu dễ dối cùng Trời,

Biết Ðạo răn mình cũng hết hơi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

DỐI CẬY IN KINH

Dối: Giả dối, hay lừa dối để lường gạt người. Cậy in kinh: Dựa vào việc in ấn kinh sách.

Dối cậy in kinh là dựa vào việc in ấn kinh sách để dối gạt người kiếm tiền, kiếm lợi.

Lại có kẻ miệng ngay lòng vạy,

Tởi làm chùa, dối cậy in kinh.

(Kinh Sám Hối).

 

 

DỐI KẾT

Dối: Giả dối, hay lừa dối để lường gạt người. Kết: Kết hợp, liên kết.

Dối kết là kết hợp với nhau một cách dối trá để mưu cầu điều lợi.

Ngoài mặt giả tuồng người trượng nghĩa,

Trong lòng dối kết chút tình chung.

(Giới Tâm Kinh).

 

 

DỐI LỪA

Dối: Giả dối, hay lừa dối để lường gạt người. Lừa: Chờ lợi dụng ngay lúc thuận tiện để làm việc gì.

Dối lừa, như chữ “Lừa dối”, có nghĩa là lừa bằng thủ đoạn nói dối.

Như: Anh ấy buôn bán hay dối lừa khách hàng.

Nén hương đưa đủ nguyện lòng đưa,

Thầy khá khen cho tánh dối lừa.

(Đạo Sử).

 

 

DỐI NGƯỜI DỐI TRỜI

Dối người dối Trời nghĩa là dối người tức là dối trời.

Sách Trung Hiếu Lược có câu: Khi nhân tất tự khi kỳ tâm, khi kỳ tâm tất tự khi kỳ Thiên, Thiên kỳ khả khi hồ? 欺 人 必 自 欺 其 心, 欺 其 心 必 自 欺 天, 天 其 可 欺 乎? nghĩa là mình dối người là tự dối lòng mình. Dối lòng mình là tự dối cả Trời, Trời có thể dối ru?

Dối người nào khác dối Trời,

Trời đâu dám dối ra đời ngỗ ngang.

(Kinh Sám Hối).

 

 

DỐI TU CÚNG CHÙA

Dối tu: Tu giả dối, tức không thật tu, mà giả làm thầy tu. Cúng chùa: Cúng bái nơi chùa chiền.

Dối tu cúng chùa là đi chùa cúng để giả tu mà lừa gạt người, tức giả danh người tu hành để lừa gạt lấy vật thực, tiền bạc, của cải người có đức tin cúng hiến.

Trong đời rất hiếm võ phu,

Lường cân, tráo đấu, dối tu cúng chùa.

(Kinh Sám Hối).

 

 

DỐI TRÁ

Dối: Không thực, nói không thực, sơ sài, không chắc chắn. Trá: Giả, giả dối.

Dối trá là giả dối, có ý để lừa gạt.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có đoạn: Thầy đến lập cho các con một nền Chơn đạo, tức là mỗi sự chi dối trá là chẳng phải của Thầy. Thầy đến là chủ ý để dạy cả nhơn sanh đặng hoà bình, chớ chẳng phải đến đặng giục thêm nghịch lẫn nhau.

Có thế lực thì nên nghiệp cả,

Không quyền hành dối trá nghèo hèn.

(Bát Nương Giáng Bút).

Niềm âu yếm ai đâu rõ giá,

Vui trăng hoa dối trá là thường.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

DỒI DÀO

Dồi dào là nhiều đến mức cần đến bao nhiêu cũng đủ.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Xưa nay những trang mẫn thế ưu thời, những bậc tài cao học rộng chẳng thiếu chi, nhưng đạo đức không dồi dào, nghĩa nhân không đầy đủ, nên cái kết quả hành vi của họ đối với xã hội quốc dân vẫn lắm mờ hồ.

Nhẹ phơ phới dồi dào không khí,

Hạo Nhiên Thiên đã chí môn quan.

(Kinh Tận Độ).

Công nghiệp dồi dào âm chất đủ,

Long Hoa đợi hội hưởng Thiên ân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

DỒI MÀI

Hay “Giồi mài”.

Dồi: Như chữ giồi, là trang điểm, làm cho đẹp. Mài: Mài giũa, tức rèn luyện, gọt giũa cho sắc bén, tốt đẹp hơn.

Dồi mài, như chữ “Giồi mài”, là trau giồi và rèn luyện cho tốt đẹp.

Như: Người tu hành phải dồi mài đức hạnh.

Xem: Giồi mài.

Thắm nhuận chi lan vòng gắn bó,

Thiết tha kim thạch điệu dồi mài.

(Thơ Huệ Ngàn).

 

 

DỘI

Dội là dạo, độ, lần, hiệp, chỉ một khoảng thời gian nào đó.

Như: Từ sáng đến giờ nó ăn hai dội, làm thêm ít dội nữa rồi hãy nghỉ.

Thẳng bụng hỏi ăn ngày mấy dội,

Của công nhọc xác cúi lòn ra.

(Thơ Hộ Pháp)

 

 

DỒN

Dồn là nhiều cái, nhiều nơi thu về một chỗ.

Như: Dồn hai thúng lúa làm một, dồn thóc thành một đống, công việc dồn vào cuối năm.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ðến khi tất cả niệm ngũ nguyện cũng vậy, Bần Ðạo định tâm, dồn cả đức tin biến thành một huệ quang chiếu diệu đem vào Bát Quái Ðài rồi, đợi cho Bát Quái Ðài trả lời khi ấy ở trong đó ánh sáng tủa ra, Bần Ðạo cúi đầu niệm thế cho cả thảy.

Năng làm phải, nhựt nhu ngoạt nhiễm,

Lâu ngày dồn tính đếm có dư.

(Kinh Sám Hối).

Lựa đèo tầm ngọc ẩn non Côn,

Triền đá cheo leo gắng bước dồn.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

DỒN DẬP

Dồn: Liên tiếp nhau. Dập: Vùi, lấp lại.

Dồn dập là sự liên tiếp rất nhiều lần xảy đến trong một thời gian ngắn.

Thánh giáo Ngũ Nương Diêu Trì Cung có câu: Rồi kịp đến văn minh dồn dập, thì nơi trần thế lại tạo thêm nhiều tội lỗi nữa, có xởi được là bao mà hòng yên ngôi xưa vị cũ.

Dồn dập mối sầu thân thảm thiết,

Thầy khuyên hành đạo sẽ vui lòng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Dồn dập tương tư oằn một gánh,

Nỗi mình tâm sự tỏ cùng ai?

(Đạo Sử).

 

 

DÔNG

1.- Dông là biến động mạnh của thời tiết, thường có gió to, sấm sét.

Như: Trời nổi cơn dông suốt buổi tối, dông gió nổi lên ngoài biển khiến tàu thuyền chịu cơn nguy.

Khảo trừng lắm lúc ngẩn ngơ,

Như đèn trước gió, như cờ gặp dông.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

2.- Dông là biến đi, chạy mất, phóng đi, rời nhanh khỏi một nơi nào đó.

Như: Nó đến ở không bao lâu rồi lên xe dông tuốt, gặp anh ấy nói ba điều bốn chuyện rồi quày xe dông mất.

Thắng khổ người tu vẫn để lòng,

Vì thua, Thủ Đức phải đành dông.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

DÔNG TỐ

Dông: Trong lúc mưa có gió lớn. Tố: Bão tố.

Dông tố, hay “Giông tố”, là mưa to gió lớn, tức trong cơn mưa giông có gió to.

Dông tố còn dùng để ví với cảnh gian nan, đầy thử thách, hoặc dùng để chỉ những sự kiện xảy đến một cách dữ dội, mãnh liệt.

Nguyễn Du trong Truyện Kiều có câu: Lỡ khi dông tố phũ phàng, Thiệt riêng đó cũng lại càng cực đây.

Vầy thuyền chi sợ cơn dông tố,

Hiệp chủng còn hơn cuộc chiến tranh.

(Đạo Sử).

 

 

DỐT

1.- Dốt trái với thông minh, tức là kém về trí lực, chậm hiểu, chậm tiếp thu.

Dốt còn có nghĩa là không hiểu biết gì hết, hoặc hiểu biết rất ít.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Sự chết, thường thế gian gọi chết là hết, là vì dốt không biết đạo nên tưởng lầm.

Ôm nết vơ quàng lo khống khứ,

Cũng như chú dốt đến trường thi.

(Đạo Sử).

Làm như người trong dạ ngậm ngùi,

Rầu con dốt lo nuôi uổng gạo.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Dốt, cũng còn đọc “nhốt”, là bỏ vào lồng, cũi, không cho ra.

Dốt còn có nghĩa là bị ràng buộc, làm cho không được tự do. Như: Dốt mình vào công việc.

Rẫy bái thà quen thú dốt mình,

Thà là giữa chợ lắm đua tranh.

(Đạo Sử).

 

 

DỐT NÁT

Dốt: Không thông hiểu chữ nghĩa, không hiểu biết sự đời. Nát: Tồi tệ.

Dốt nát là chậm hiểu, chậm tiếp thu, kém về trí lực, không biết chữ nghĩa, không thông sự đời.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Có nhiều hạng trẻ thơ phải chịu dốt nát chỉ vì cha mẹ quá nghèo cực, không có tiền cho con ăn học.

Làm như dốt nát dại khờ,

Ðừng cho kẻ thế ngờ rằng mình tu!

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Đừng thấy điều dốt nát mà khinh,

Xem lại mảnh thân hình nhìn máu mủ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

, như chữ “Nhơ”, bẩn, có nhiều bụi, rác, cáu ghét, hoen ố. Như: Nhà dơ, tay dơ, mình mẩy dơ.

Trong quyển Giáo Lý, Ngài Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có câu: Mã Minh Bồ Tát nói rằng: “Ngọc Ma Ni tuy trong sáng, nhưng nó đã bị bụi che lấp; nếu người ta không biết dùng phương tiện để trau giồi thì ngọc không bao giờ trong sáng”.

Đồ giặt đổ rạch sông,

Đương khi uế trược thẳng xông chỗ thờ.

(Kinh Sám Hối).

Ăn bốc chưa hay ngón bốc,

Ham phàm ắt phải lụy cùng phàm.

(Đạo Sử).

 

 

DƠ DÁY

Dơ: Bẩn, nhơ, không sạch sẽ.

Dơ dáy, như chữ “Dơ bẩn”, là bẩn, dơ đến mức đáng nhờm gớm.

Hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh trong quyển Thiên Đạo có viết: Kinh “Lăng già” lại có câu: “Ăn thịt vào bụng một lát, thịt ấy hoá ra vật dơ dáy, thân thể ta hấp thọ vật ô uế ấy mà to lớn: vậy thì cái thân thể hôi tanh, có chi là thanh tịnh?”.

Gạo cơm huỷ hoại quen chừng,

Phạt ăn dơ dáy mới ưng tội hình.

(Kinh Sám Hối).

 

 

DỞ

1.- Dở, như chữ “Giở”, là lật mặt nọ sang mặt kia, hoặc mở ra vật đang được xếp lại hay đang gói bọc.

Như: Dở từng trang sách, dở tập thơ ra để đọc, dở gói cơm nắm ra ăn.

Tuy xa cách mặt lòng không cách,

Buồn dở thơ hoà đọc lại ngâm.

(Lục Nương Giáng Bút).

2.- Dở là lỡ chừng, không dứt, không hết, không hẳn, tức ở trạng thái chưa xong, chưa kết thúc. Như: Bỏ dở cuộc vui, dở bữa ăn, bỏ dở câu chuyện vì có khách.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Nỗi đau thương bề ấm lạnh, nào tiếng khóc đến câu cười, co duỗi duỗi co, dở bước đến cảnh sầu, thì thấy chẳng lạ chi hơn là mồ hoang cỏ loán, đồng trống sương gieo,thỏ lặn ác tà, khách trần nào ai lánh khỏi.

Rủi duyên gặp phải thường phu,

Nhành xuân thì trọng, gương thu dở cầm.

(Nữ Trung Tùng Phận).

3.- Dở là trái với hay, trái với ngon, tức không đạt yêu cầu, do đó không gây thích thú, không mang lại kết quả. Như: Thợ dở, màn kịch dở, thầy dạy dở, thức ăn dở.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có câu: Dầu cho thầy phàm tục cũng phải vậy, nếu đứa dở mà dạy cao kỳ, nó biết đâu mà hiểu đặng.

Xem thường dưới mắt dở cùng hay,

Ngặt độ cho ra chẳng kẻ bày.

(Đạo Sử).

Nếm đồ ăn miếng dở vật ngon,

Xem từ món, món hiền, món độc.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

DỞ DANG

Dở: Lỡ chừng, chưa dứt. Dang: Nới rộng ra.

Dở dang là đang còn chưa xong, chưa trọn, nhưng phải dừng lại hay phải bỏ, tức là không trọn vẹn, không thành tựu.

Như: Công việc dở dang, mối tình dở dang.

Lại e lỗi đạo nhơn luân,

Dở dang gia pháp, vương thần loạn ngôi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Ái ân bao kẻ duyên đằm thắm,

Tơ tóc riêng người phận dở dang.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

DỜI

Dời là thay đổi hoặc làm thay đổi chỗ, địa điểm vốn tương đối cố định.

Thánh giáo Thầy có câu: Nếu chẳng sớm xét mình, để buổi ác xế trăng tà, nước dời cạn bực, thuyền Bát Nhã đã lướt qua, nhành dương liễu hết rơi giọt từ bi thì ăn năn rất muộn.

Điều hoạ phước không hay tìm tới,

Tại mình dời nên mới theo mình.

(Kinh Sám Hối).

Phẩm Phật ngôi Tiên ai dẫn nẻo,

Ngai Thần vị Thánh kẻ toan dời.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

DỜI ĐỔI

Dời: Thay đổi khác với trước. Đổi: Thay thế cái nầy cho cái kia.

Dời đổi, như chữ “Đổi dời”, là thay đổi, biến đổi, tức là biến chuyển từ trạng thái, hay tính chất nầy sang trạng thái, hay tính chất khác.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Xưa đã lắm phen nhơn sanh phải khổ tâm hy sinh vì nền Ðạo, nhưng mà tàn lối ngưỡng trông rồi thì phân vân dời đổi, tang biến thương dồn, rốt cuộc lại mối thân ái của sanh linh chưa vầy hiệp đặng.

Dời đổi thói đời lắm thị phi,

Trăm năm chung đỉnh có ra gì!

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nhơn đạo rày đã suy vi,

Chay lạt dời đổi còn chi tu hành.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

DỜI NON ĐỔI BIỂN

Hay “Dời non lấp bể”.

Dời non đổi biển hay “Dời non lấp bể” do hai điển tích như sau:

Dời non: Di dời núi non.

Ngày xưa có ông Ngu Công ở Bắc Sơn, đã chín mươi tuổi rồi mà vẫn muốn dời hai hòn núi Thái Hàng và Vương Ốc, đang chắn ngang lối đi nhà ông.

Ông định đào bằng phẳng, ai nấy đều cười, ông đáp: Ta có già chết thì còn con ta, con ta rồi có cháu ta, cháu ta lại sinh con nữa, trong khi cái núi vẫn mãi như thế, lo gì mà không dời nổi.

Đổi bể (biển): Thay đổi biển cả. Lấp bể (biển): Lấp bằng biển cả.

Tương truyền: Con gái vua Viêm Đế ngày xưa vượt biển chết chìm, hoá ra chim tinh vệ, cứ ngày ngày ngậm đá ở núi tây về lấp biển đông.

Dời non đổi biển hay “Dời non lấp bể” là đổi dời núi non và biển cả, dùng để chỉ sự thay đổi, hoặc chỉ ý chí kiên nhẫn phi thường.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Hôm nay đoàn tụ trong bầu êm ấm vui tươi dưới mái gia đình của nền Ðại Ðạo, sự đoàn kết chặt chẽ nầy tiêu biểu một sức mạnh phi thường có thể dời non lấp bể, nếu những quả tim của tất cả các bạn Ðạo đều cùng đập một nhịp yêu đương và cương quyết làm tròn nhiệm vụ.

Bảo cọp thành chiên đời tận diệt,

Dời non đổi biển hại nhơn gian.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

DỢM

Dợm là có biểu hiện định làm một điều gì.

Như: Đang ngồi nó dợm chạy đi, cãi không lại anh ấy dợm đánh, tôi vừa dợm đi thì anh đến.

Lằn thân ái sương tan buổi sớm,

Giấc mộng hồn chưa dợm tỉnh hồn.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

DỢN

Dợn là gợn, chuyển động uốn lên xuống rất nhẹ khi bị xao động.

Như: Mặt nước biển sóng dợn dữ dội, gió nhẹ mặt hồ dợn lăn tăn.

Bàn dợn sóng nhởn nhơ nhịp tiếp,

Bút nương tay mẫn tiệp ghi lời.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

DU

1.- Du là đi lại, chơi. Như: Du sơn, du thuỷ, du côn, du đãng, vân du thiên ngoại.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu dạy: Bậc chơn tu khi còn xác phàm nơi mình, như đắc đạo, có thể xuất ra trước buổi chết mà vân du Thiên ngoại.

Vân du thế giới vui mùi đạo,

Mơi viếng Kỳ Sơn tối Cẩm San.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Theo dòng khổ thuỷ bao hàng lệ,

Trở bước du san dứt nợ nần.

(Thanh Sơn Đạo Sĩ).

2.- Du , tức là “Phù du 蜉 蝣”, một loài côn trùng, đầu như chuồn chuồn nhỏ, hay bay ở gần mặt nước, tối thì bay quanh bóng đèn, rồi chết.

Ðiều đình để bước nguyệt canh thâu,

Nét bóng phù du đã đủ màu.

(Đạo Sử).

 

 

DU CÔN

遊 棍

Du: Đi chơi ngoài đường. Côn: Gậy gộc, hay chỉ bọn côn đồ, vô lại.

Du côn chỉ những bọn chơi bời lêu lổng, hoặc côn đồ du đãng, tức bọn chuyên gây sự, hành hung.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Gia đình là một phần nhỏ trong xã hội, nếu biết gìn giữ thân thể, tôn trọng danh giá cha mẹ, anh em thảng có đứa du côn không kể gia pháp, làm rối loạn gia đình thì kẻ đó ai cũng muốn bỏ, muốn đưa ra khỏi gia đình tông tổ.

Gặp lắm đứa du côn tánh nóng,

Mình bãi buôi trở giọng hiền từ.

(Phương Tu Đại Đạo).

Gây trường náo loạn kinh hồn,

Đế quyền xúi giục du côn bạo hành.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

DU ĐÃNG

遊 蕩

Du: Đi chơi ngoài đường. Đãng: Phóng túng, không ai kềm chế.

Du đãng là đi chơi bời, phóng túng không biết chán và chẳng ai kềm chế được.

Thi Uyển có câu: Dâm hoang hỗn loạn du đãng vô độ yên 荒 淫 混 亂 游 蕩 無 度 焉, nghĩa là hoang dâm hỗn loạn du đãng không cùng.

Nói về con của một vị quan trong triều đình ăn chơi, Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Ðến khi trưởng thành 17, 18 tuổi, ôi thôi thanh lâu, tửu quán, trà đình, cờ bạc, không món nào mà cậu không có, ngoài ra còn du côn, du đãng, ai thấy gia đình ấy mà không nói rằng do căn trước tạo nhiều quả nên nay phải thống khổ tinh thần như vậy.

Gái xướng kỵ, trai thì du đãng,

Phá tan hoang gia sản suy vi.

(Kinh Sám Hối).

 

 

DU ĐẠO

偷 盜

Hay “Thâu đạo”.

Du (thâu): Ăn trộm, ăn cắp. Đạo: Trộm.

Du đạo, như chữ “Thâu đạo 偷 盜” là trộm cướp.

Du đạo là điều giới cấm thứ hai trong Ngũ giới cấm, đó là nhị bất du đạo.

Trong Tân Luật, Điều thứ hai mươi mốt, khoản hai có ghi: Nhì bất du đạo là cấm trộm cướp, lấy ngang, lường gạt của người, hoặc mượn vay không trả, hoặc chứa đồ gian, hoặc lượm lấy của rơi, hoặc sanh lòng tham của quấy để ý hại người, mà lợi cho mình, cờ bạc gian lận.

Thứ nhì: bất du đạo, cấm gian tham trộm cướp của người.

(Giảng Đạo Yếu Ngôn).

 

 

DU HÀNH

遊 行

Du: Đi chơi. Hành: Đi.

Du hành là đi du lịch, tức đi chơi.

Trong bài Ngọc Hoàng Kinh có câu: Thời thừa lục long, du hành bất tức 時 乘 六 龍 遊 行 不 息, nghĩa là thường cỡi sáu rồng đi khắp nơi không ngừng nghỉ.

Ý muốn nói Đạo Trời mạnh mẽ vận hành khắp vũ trụ không ngừng nghỉ.

Du hành là kẻ bỏ đường tu,

Con sáng đừng nghe phỉnh lù mù.

(Đạo Sử).

Vua Nghiêu đại đức chí chơn,

Du hành nơi dãy Lịch Sơn bấy chừ.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

DU HÝ DU THỰC

Du: Đi chơi. Hý: Chơi đùa vui vẻ. Thực: Ăn.

Du hý du thực 遊 戲 遊 食 là chỉ người đi chơi và ăn uống, không làm việc gì hết.

Hạng thứ tư là hạng ta bà, du hý du thực, đến chơi rồi về.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

DU HỌC

遊 學

Du: Đi, đi chơi. Học: Học hành.

Du học là đi tìm thầy học ở phương xa.

Chiến Quốc Sách có câu: Sở hữu Hoàng Yết giả du học bác văn 楚 有 黃 謁 者 遊 學 博 文, nghĩa là ở nước Sở có Hoàng Yết đi du học, mở rộng kiến văn.

Ngày nay, du học tức là đi học ở nước ngoài.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Hạng thứ ba là hạng du học, là các chơn linh đến mặt địa cầu tìm phương pháp đặng học hỏi, vì họ thiếu thốn, đến đặng thâu đoạt cái phần thiếu kia cho hay biết nhiều thêm đặng tấnhoá về chơn linh.

Ðược lịnh du học thế gian,

Hoa nở đến lớp hoa tàn về thi.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

DU KHÁCH

遊 客

Du: Đi chơi, đi dạo. Khách: Người ở chỗ này đi đến một nơi khác.

Du khách là người khách đi chơi ở phương xa, tức khách đi du lịch.

Như: Du khách nước ngoài rất thích thắng cảnh ở Việt Nam.

Trường Tiên mở rộng chơn du khách,

Nẻo hoạn buông khơi trí đặc tài.

(Lục Nương Giáng Bút).

Trên lộ dưới thuyền du khách ngoạn,

Đường về tầm Đạo động Thiên Thai.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

DU NGOẠN

遊 玩

Du: Đi chơi, đi dạo. Ngoạn: Vui đùa, ngắm nghía, tìm hiểu.

Du ngoạn là đi chơi đây đó với mục đích ngắm xem phong cảnh thiên nhiên.

Như: Trong những ngày tết, mọi người thích du ngoạn núi Bà.

Nghĩa nhơn cứu khổ nhà an lạc,

Du ngoạn phò nguy nước thái bình.

(Thơ Thái Đến Thanh).

Đường Minh Hoàng xuất thần du ngoạn,

Giữa thu thiên, cung Quảng xem tường.

(Báo Ân Từ).

 

 

DU SÁCH

Du (Do): Tên một tướng tài của nước Ngô đời Tam Quốc, tự là Châu Công Cẩn. Sách: Tôn Sách, vua nước Đông Ngô đời Tam Quốc, anh của Ngô Tôn Quyền.

Du Sách tức là Châu Du và Tôn Sách.

Châu Du tự là Công Cẩn, người nước Ngô thời Tam Quốc, có vợ là nàng Tiểu Kiều.

Tôn Sách là vua nước Đông Ngô, là một trong ba nước thời Tam Quốc. Tôn Sách có vợ là nàng Đại Kiều.

Xem: Nhị Kiều.

Noi gương đức tánh Nhị Kiều,

Dở dang Du Sách, giữ điều tiết trinh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

DU TIÊN

遊 仙

Du: Đi, đi chơi. Tiên: Cõi Tiên, chỉ cảnh giới của người tu thành chánh quả.

Du tiên là đi chơi nơi cõi tiên, dùng để chỉ người chết, có ý cầu mong linh hồn người chết khi lìa khỏi thể xác được đi lên cảnh tiên.

Văn tế Đức Cao Thượng Phẩm của chức sắc Hiệp Thiên Đài có câu: Phần du Tiên gẫm cũng tại Thiên cơ, người khuất bóng thiếu tay rường trụ.

Khách du Tiên đời chẳng mấy người,

Cứ bốn điều tà gắm ghé chơi.

(Đạo Sử).

Bỗng tiếng sấm gần bên tai nổ,

Nghe tin chàng mệnh số du Tiên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Đức Ngài Hộ Pháp sớm du Tiên,

Thánh cốt hôm nay thượng án tiền.

(Thơ Võ Thành Lượng).

 

 

1.- Dù, thường đọc là “Dầu”, có nghĩa là ví, nếu. Như: Dù no, dù đói, dù nghèo, dù giàu.

Ca dao có câu: chàng năm thiếp bảy thê, Chàng cũng chẳng bỏ nái sề nầy đâu.

Xem: Dầu.

Ðường trần muốn dừng chơn tục,

Nguồn suối tìm nơi rửa bụi hồng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Dù là đồ dùng cầm tay để che mưa nắng, có cán cầm gắn với khung lợp vải, có thể giương ra xếp vào, thường dùng cho phụ nữ.

Như: Dù che nón đội, võng dù.

Quý sang mặc kẻ võng riêng,

Phận bạc lo cho hết kiếp khiên.

(Đạo Sử).

Thuận theo lẽ Ðạo ôn nhu,

Tự nhiên vô sự võng mặc ai.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

DÙ LỌNG

Dù: Vật cầm tay để che mưa nắng, thường dùng cho phụ nữ. Lọng: Đồ giống như cây dù, nhưng lớn hơn, dùng để che, thường dùng trong nghi lễ đón rước vua quan.

Dù lọng là cây dù và cây lọng, ý chỉ sự thi đậu, làm quan hay thành đạt.

Ngày xưa, một người học trò thi đậu thì được vua ân ban cho dù lọng (hay lọng tàn) để về quê lạy tổ tiên, gọi là vinh quy bái tổ.

Lo lắng chung cùng lo lập nghiệp,

Lo chàng dù lọng thiếp đai cân.

(Đạo Sử).

 

 

DỤ

Dụ 誘 là dỗ dành, dạy bảo. Như: Dụ cho nhiều chim bay đến, dùng mỹ nhân kế để dụ người.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Ngày Chí Tôn tình cờ đến, vì ham thi văn nên ban sơ Diêu Trì Cung đến dụ bằng thi văn tuyệt bút làm cho mê mẩn tinh thần.

Phạt răn quến gái, dụ trai,

Bày ra thuốc độc, phá thai tuyệt loài.

(Kinh Sám Hối).

Muốn cho thiên hạ đại đồng.

Lấy câu cứu khổ dụ lòng thương sanh.

(Kinh Thế Đạo).

Thương sanh thốt dối ngoài môi,

Dụ người lấy của, gạt người lấy công.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

DỤ DỖ

Dụ: Làm cho người ta mê mà theo. Dỗ: Nói cho nghe theo, làm theo.

Dụ dỗ là làm cho xiêu lòng nghe theo, làm theo bằng những lời hứa hẹn về quyền lợi.

Đạo Cao Đài để cho hàng trí thức họ tìm hiểu mà đến, chớ không dụ dỗ hay là cám dỗ cho người biết nó.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

DỤ DỰ

Hay “Dụ dựa”.

Dụ dự, hay “Dụ dựa” là do dự, chần chừ, lưỡng lự, không nhất quyết.

Dụ dựa còn dùng để chỉ trong trạng thái ngái ngủ, chưa tỉnh giấc.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Ngày giờ thôi thúc mà các con còn dụ dự giữa chừng. Nền Ðạo cao thâm là mấy, chí phàm không thấu lý sâu, nếu các con chẳng ra khỏi vòng trần tục thì các con chẳng là luống công theo Thầy kể đã đầy năm.

1.- Dụ dự:

Nếu mà dụ dự diên trì,

Phải cam chịu lấy nạn nguy buổi nầy.

(Thất Nương Giáng Bút).

Kìa đường cũ bước mòn lãng tử,

Đám thú nhà dụ dự bước chiều.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Dụ dựa:

Sắp đặt trước đừng lòng dụ dựa,

Lo sẵn sàng bếp lửa nồi xông.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

DUA NỊNH

Dua: Tức a dua, hùa theo ý người. Nịnh: Ton hót, tâng bốc.

Dua nịnh là hùa theo để tâng bốc, tức là mù quáng mà nịnh hót người.

Như: Nó quen thói dua nịnh từ nào giờ.

Lừa lọc trăm mưu nên nghiệp cả,

Bởi không dua nịnh chúng chê thừa.

(Đạo Sử).

Không dua nịnh vương gia quyền lịnh,

Cũng Yên Sơn Đậu tánh nghĩa phương.

(Văn Tế Đốc Học).

 

 

DỤC

1.- Dục là muốn, ham, lòng muốn. Như: Dục giới, dục vọng, tham dục.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có đoạn: Cái nguyên nhân ấy là dục tức là ham muốn. Con người khổ vì ham muốn cuộc đời, ham muốn hưởng thụ, ham muốn chiếm đoạt, ham muốn chế ngự, ham muốn phô trương, ham muốn khoái lạc về vật chất lẫn tinh thần, ham muốn tình cảm, nói tắt là ham muốn sống một cách huy hoàng dù là phải dấn thân vào vòng tội lỗi.

Khuya sớm tương dưa hết dục lòng,

Lòng dầu toan kế, kế sao xong.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Dục là nuôi nấng. Như: Cúc dục, trí dục, thể dục, giáo dục, sinh dục 生 育 (sinh thành dưỡng dục).

Huấn từ Đức Thượng Sanh đọc trong Lễ Bế Mạc khoá Huấn Luyện Lễ Sanh tại Hạnh Đường có câu: Hôm nay khoá học đã chấm dứt, các em sinh viên thử cân nhắc lại sự hiểu biết của mình khi chưa học với sự hiểu biết khi mãn khoá học để coi sự khác biệt là thế nào và sự học trong năm có đem lại cho mình một sự tiến triển nào về mặt Ðạo đức cũng như về mặt trí dục hay không?

Hiếu nhạc thân thìn dạ chớ quên,

Đền sinh dục thay phiền cho vợ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

DỤC LẠC

欲 樂

Dục: Ham muốn. Lạc: Vui.

Dục lạc là chỉ tất cả những thú vui vật chất trên cõi trần nầy.

Dục lạc chính là nguồn gốc sinh ra các thứ phiền não khổ đau. Dục lạc gây ra điều tai hoạ, là sự chướng ngại cho người tu tập.

Kinh Pháp Cú bài kệ số 13 viết: Như mái nhà vụn lợp, Mưa liền xâm nhập vào. Cũng vậy tâm không tu, Tham dục liền xâm nhập.

Vậy muốn hạnh phúc thật, con người không nên chạy theo dục lạc...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

DỤC LÒNG

Dục: Ham muốn. Lòng: Lòng dạ, biểu thị cho tâm lý, tình cảm.

Dục lòng, như chữ “Lòng dục”, là lòng ham muốn về tiền tài, vật chất, hay hưởng thụ khoái lạc.

Khuya sớm tương dưa hết dục lòng,

Lòng dầu toan kế, kế sao xong.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

DỤC LỢI

欲 利

Dục: Ham muốn. Lợi: Lợi lộc.

Dục lợi là ham muốn điều lợi lộc.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Theo các bậc hiền triết Nho giáo, nếu biết khiến lòng háo nghĩa thắng được lòng dục lợi thì thành ra điều hay, mà để lòng dục lợi đè được lòng háo nghĩa thì thành ra điều dở. Và nghĩa thắng được lợi là đời trị, lợi đè được nghĩa là đời loạn.

Công Thầy bố hoá bị lũ học trò tham lam ngu xuẩn dục lợi cầu danh, làm cho Tà quái lẫn vào, dìu dắt vào chốn hang sâu vực thẳm.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

DỤC QUYỀN CẦU LỢI

欲 權 求 利

Dục quyền: Ham muốn quyền hành. Cầu lợi: Mong cầu lợi lộc.

Dục quyền cầu lợi là ham muốn quyền hành và mưu cầu những điều lợi lộc.

Nghe điều cám dỗ, mê luyến hồng trần, ăn cho phải bị đọa, dâm cho phải bị đày, nên chịu nạn áo cơm, dục quyền cầu lợi.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

DỤC TÀI

育 才

Dục: Nuôi nấng. Tài: Tài năng.

Dục tài là nuôi nấng cái tài năng cho phát triển.

Như: Kẻ sĩ lúc nào cũng phải lo dục tài, dục đức để sau nầy ra giúp cho quần chúng.

Tinh thần cao thấp nhờ thi,

Dục tài nữ sĩ sánh bì cùng nam.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

DỤC TÂM

Dục: Ham muốn. Tâm: Lòng.

Dục tâm là lòng dục, lòng ham muốn.

Dục tâm là nguồn gốc sanh ra các phiền não, khổ đau, là tai hoạ, là sự chướng ngại cho việc tu tập.

Dục tâm con người thật là vô hạn, không bao giờ biết dừng nghỉ. Lòng ham muốn đó có năm thứ, gọi là ngũ dục là sắc dục (hình sắc), thanh dục (âm thanh), hương dục (mùi thơm), vị dục (mùi vị), xúc dục (đụng chạm).

Dục tâm có thể chuyển thành sự ham muốn tốt, lành, như muốn học đạo để đạt được giác ngộ giải thoát. Sự ham muốn tùy theo tốt hay xấu, tùy theo mục đích của nó, tức là đối tượng của sự mong cầu.

Tu thì tu: mắt, tai, mũi, miệng,

Mối dục tâm sai khiến diệt trừ.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Rửa lòng ăn những muối dưa,

Mượn y bá nạp mà chừa dục tâm.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

DỤC TÌNH

欲 情

Dục: Ham muốn, gồm có năm điều ham muốn (ngũ dục) là sắc dục, thanh dục, hương dục, vị dục, xúc dục. Tình: Tình cảm giữa nam nữ.

Dục tình, như chữ “Tình dục 情 欲”, là lòng ham muốn gần gũi xác thịt giữa trai gái.

Lòng ham muốn nhục dục như dòng nước chảy cuốn trôi chúng sanh chìm đắm trong vòng khổ đau sinh tử.

Tiêu thiều lấp tiếng dục tình,

Bờ dương bóng phụng đưa mình nâng thân.

(Kinh Tận Độ).

Dục tình luyến ái nên trừ,

Những điều ưa chuộng thì từ nó ra.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

DỤC VỌNG

慾 望

Dục: Ham muốn. Vọng: Trông mong.

Dục vọng là tự thấy thiếu thốn nên lòng sinh ham muốn, mong cầu cho đầy đủ.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Tự cổ chí kim, vì không giữ mình được trong sạch cho nên con người phải chịu làm nô lệ cho xác thịt để cho dục vọng lôi cuốn gây thành tam nghiệp, tức là thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp, phải chịu chìm đắm trong vòng sanh tử luân hồi...

Thánh đạo của Ðức Chúa Cứu Thế (vì sự hiểu lầm) làm tăng gia dục vọng của kẻ mạnh đối người yếu và giúp giáo cho bọn trên hiếp dưới.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

DÙI

Dùi là vật dùng để tạo lỗ thủng, thường bằng sắt, hình que, một đầu nhọn.

Như: Cây dùi dùng để đóng sách, cây dùi đục mộng của thợ mộc.

Tầng đá lớn mới vừa đục thủng,

Chiếc dùi con co rúng đôi lần.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

DÙI ĐỤC

Dùi: Vật bằng khúc gỗ to, nặng dùng cầm nơi tay để đập mạnh, hay để gõ, đánh. Đục: Dụng cụ là một thanh thép, có chuôi cầm, đầu lưỡi bén, dùng để tạo những lỗ trên vật rắn như gỗ, sắt.

Dùi đục là một thanh gỗ ngắn hình thô, to dùng để nện hay đập lên cây chàng, cây đục.

Ðứa cầm dùi đục, thằng nghiên mực,

Cậu bận áo nâu, chú khố hồng.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Đứa cầm dùi đục nghiền xương rục,

Đứa xách nước trong trút ruột đầy.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

DUY NHỨT

Hay “Duy nhất”.

Duy: Chỉ có, chỉ một mình. Nhứt (nhất): Một.

Duy nhứt, như chữ “Duy nhất 維 一”, là chỉ có một, độc nhứt, không còn có người khác hay cái khác.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Và Ðạo Cao Ðài phải đi theo con đường nào? Chúng ta thấy Ðại Từ Phụ lấy ba Tôn Giáo: Nho, Thích, Ðạo làm cơ quan duy nhứt, dầu về phần thiêng liêng hay hữu hình cũng vậy, để làm bí mật chơn truyền dìu dắt linh hồn và thi hài của chúng ta và là một phương pháp đoạt kiếp giải thoát linh hồn.

Ước mong mỗi Chức Sắc hằng ngày chỉ xét mình trong một điều duy nhứt thì nền Ðại Ðạo lấy làm may mắn mà nhơn sanh cũng lấy làm hữu phước.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

DUY TÂM

維 心

Duy: Chỉ có, chỉ một mình. Tâm: Cái tâm, lòng, chỉ về tinh thần.

Duy tâm là một chủ thuyết cho rằng chỉ có tâm là thực tại, tất cả các hiện tượng trong vũ trụ đều phát hiện ở tâm, tức là cái chủ trương cho rằng bản thể của tự nhiên là tinh thần, mà hiện tượng vật chất cũng chỉ là tác dụng của tinh thần.

Thánh giáo của Phối Thánh Phạm Văn Màng có câu: Lấy theo hành trình chánh trị vật chất mà làm nền tảng chánh trị duy tâm, ấy là phương diệu pháp của Đạo buổi sau nầy.

Trước khi giải thuyết ấy, Bần Ðạo xin giảng thuyết duy tâm và duy vật.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

DUY TÂN

維 新

Duy: Chỉ có, chỉ một mình. Tân: Mới.

Duy tân là điều gì cũng cải sửa lại theo mới.

Trong Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Tấn tuồng duy tân vật chất đưa đến tồi phong bại tục, hiện giờ là hoàn thuốc quá độc hại vậy.

Như: Phong trào duy tân ở Việt Nam.

Bác ái là đề thi tiến hoá,

Nghĩa nhân ấy mục định duy tân.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

DUY TRÌ

維 持

Duy: Liên kết, cột lại cho chắc chắn. Trì: Cầm giữ.

Duy trì là giữ gìn cho còn lại những thứ gì sắp đổ vỡ, hư hỏng. Như: Nó cố duy trì một tư tưởng hủ bại.

Thánh giáo Bát Nương dạy nữ phái có câu: Cuộc cờ đời phải theo Thiên thơ dĩ định, không thể gấp mà cũng khó duy trì cho đặng. Các em nên nhớ, các em là một phần Thiên mạng đi rước các nguyên nhân đang vội đến cùng Đức Chí Tôn, vậy phải ráng lập công buổi nầy.

Chỉ có xứ Việt Nam còn duy trì được sự tôn sùng tổ phụ theo tục lệ cổ truyền...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

DUY VẬT

維 物

Duy: Chỉ có, chỉ một mình. Vật: Vật chất.

Duy vật là một chủ thuyết, trái với duy tâm, cho rằng rốt cuộc chỉ có vật chất là thực tại mà thôi, tinh thần chỉ là một thứ tác dụng của vật chất.

Thánh giáo Lục Nương có câu: Mấy anh cần phải chịu khó định nên chiều hướng cho nét “Duy Tâm hoà với Duy Vật”, tạo nên “Trung Dung” cho cả Thánh thể vững bước hầu làm hướng đạo trong buổi cứu thế.

Chủ nghĩa duy vật đã lan tràn khắp trong nước và đầu độc hết chín phần mười dân tộc Việt Nam.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

DUYÊN

1.- Duyên là mối dây ràng buộc vô hình từ kiếp trước, tức phần do Trời định dành cho mỗi người về quan hệ tình cảm giữa vua tôi, bè bạn hay nam nữ, vợ chồng hoà hợp, gắn bó.

Như: Duyên cá nước, duyên ưa phận đẹp, ép dầu ép mỡ ai nỡ ép duyên.

Những ngỡ trao duyên vào Ngọc các,

Nào dè phủi nợ xuống Tuyền đài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Rủi duyên gặp phải thường phu,

Nhành xuân thì trọng, gương thu dở cầm.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Duyên, theo Phật, mọi thứ giúp cho nhân sinh ra quả. Từ nhân đến quả đều là do sức mạnh của Duyên, nếu không có duyên, thì nhân không thể sinh thành quả.

Như: Duyên nghiệp, duyên kiếp, duyên phận.

Thánh giáo Thầy có câu: Ðạo cốt để cho kẻ hữu duyên. Những kẻ nào đã làm môn đệ của Tà Thần Tinh Quái thì không thế gì làm môn đệ Thầy đặng.

Ấy là nợ trước còn mang,

Duyên kia chưa dứt còn đang thưởng đền.

(Kinh Sám Hối).

Mùi đạo gắng giồi lòng thiện niệm,

Duyên may tìm lại phẩm ngôi xưa.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Có Ðạo trong muôn ngồi cũng đủ,

Không duyên một đứa cũng là chìm.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Duyên là nét đáng yêu kín đáo của con người, tạo nên sự hấp dẫn tự nhiên.

Như: Không đẹp nhưng có duyên, già hết duyên, nụ cười duyên, ăn nói có duyên.

Soi kính cũ mặt hoa đã nhíu,

Tóc hoa râm mày liễu ướm sương.

Mùi chê dưới mắt chán chường,

Còn duyên chi mộng đến đường tái hôn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

DUYÊN BÈO NƯỚC

Duyên: Mối dây ràng buộc vô hình từ kiếp trước. Bèo nước: Cây bèo và dòng nước.

Bèo trôi chẳng biết đi đâu, nước chảy không biết về đâu, nên “Duyên bèo nước” là nói duyên bèo và nước gặp gỡ nhau, dùng để chỉ những việc không định mà xui khiến gặp gỡ nhau.

Xem: Duyên bình thuỷ.

Nguyệt lão đem xe mối chỉ hồng,

Cho duyên bèo nước một nguồn thông.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

DUYÊN BÌNH THUỶ

緣 萍 水

Duyên: Mối dây ràng buộc vô hình từ kiếp trước. Bình thuỷ: Bèo và nước.

Duyên bình thuỷ, bởi chữ “Bình thuỷ hữu duyên 萍 水 有 緣” là duyên bèo và nước gặp gỡ nhau, dùng để chỉ những kẻ không định mà trời xui khiến gặp gỡ nhau.

Ta trôi nửa kiếp duyên bình thuỷ,

Bạn lộng ngàn phương chí hải hồ.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

DUYÊN CÁ NƯỚC

Duyên: Mối dây ràng buộc vô hình từ kiếp trước. Cá nước: Cá gặp nước, chỉ sự khắng khít, gắn bó.

Duyên cá nước, bởi chữ “Duyên ngư thuỷ 緣 魚 水” là mối duyên cá gặp nước, chỉ duyên vợ chồng thương yêu, gắn bó nhau, vua tôi tin cậy nhau.

Xem: Duyên ngư thuỷ.

Hội ngộ mỏi trông duyên cá nước,

Trùng phùng mong gặp hội mây rồng.

(Thơ Cao Liên Tử).

Bởi đó còn chờ duyên cá nước,

Riêng đây đã gặp hội mây rồng.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

DUYÊN CANG LỆ

緣 亢 儷

Duyên: Mối dây ràng buộc vô hình từ kiếp trước. Cang lệ: Sánh đôi nhau.

Duyên cang lệ ý nói duyên đôi lứa, hay duyên kết nghĩa vợ chồng.

Xem: Cang lệ.

Trời đành bẻ gãy duyên cang lệ,

Đất nỡ vùi chôn nghĩa đá vàng.

(Thơ Vạn Năng).

 

 

DUYÊN CẦM SẮT

緣 琴 瑟

Duyên: Mối dây ràng buộc vô hình từ kiếp trước. Cầm sắt: Đàn cầm đàn sắt, chỉ trai gái hay vợ chồng hoà hiệp.

Duyên cầm sắt là duyên nợ kết nên vợ chồng gắn bó, hoà hiệp với nhau, như đàm cầm và đàn sắt.

Cho duyên cầm sắt hoà muôn điệu,

Cho chí tang bồng toại bốn phương.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

DUYÊN CỚ

Duyên: Cái lý do. Cớ: Nguyên do trực tiếp của việc làm.

Duyên cớ là bởi cớ, vì cớ, tức chỉ cái nguyên nhân sinh ra việc.

Như: Việc ấy không phải là không có duyên cớ.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ba người ấy là: Đức Quyền Giáo Tông, Đức Cao Thượng Phẩm và Bần Đạo đây, chúng tôi nhứt tâm nhứt trí quyết làm cho thành Đạo, cho vừa lòng Đức Chí Tôn, bởi vì không biết duyên cớ nào chúng tôi hiểu rằng: Chúng tôi phải báo hiếu cho Đức Chí Tôn và tự nhiên quyền năng Thiêng Liêng giúp chúng tôi biết Đạo Cao Đài nầy...

Mỗi cái Tà có duyên cớ ấy, ngày sau đều có sự biến đổi thiêng liêng hoặc có một kết quả.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

DUYÊN ĐẰNG

緣 滕

Duyên: Mối dây ràng buộc vô hình từ kiếp trước. Đằng: Đằng Vương Các, các gác của Đằng Vương Lý Nguyên Anh.

Duyên Đằng tức là có duyên với Đằng Vương Các.

Do tích: Con vua Đường Cao Tông làm Thứ Sử ở Hồng Châu được phong là Đằng Vương có xây tại đó một ngôi lầu các gọi là Đằng Vương Các.

Duyên Đằng có ý chỉ Vương Bột, một nhà thơ đời Đường có duyên gặp được ngọn gió đưa con thuyền đến Đằng Vương Các kịp thời để làm một phú nổi tiếng vào thời bấy giờ.

Từ “Duyên Đằng” hay “Các Đằng” đều dùng để chỉ vận thời, duyên may, tình cờ gặp gỡ.

Xem: Đằng Vương Các.

Duyên Đằng thuận gió đã êm thuyền,

Bốn biển năm hồ đã đậu yên.

(Đạo Sử).

 

 

DUYÊN HÀI

緣 諧

Duyên: Mối dây ràng buộc vô hình từ kiếp trước. Hài: Hoà hợp.

Duyên hài nghĩa là nhơn duyên hoà hợp, êm đẹp.

Người xưa thường nói: Phu phụ duyên hài 夫 婦 緣 諧, nghĩa là vợ chồng hài hoà, mối duyên.

Ðiểu mai mấy lúc đẹp duyên hài,

Chích mát là vì bởi tại ai.

(Đạo Sử).

Thân tám thước để lo đáp nghĩa,

Đẹp duyên hài khéo tưởng cao trông.

(Ngũ Nương Giáng Bút).

Nhiều trai gái duyên hài lỡ dở,

Tại chim xanh dụng mở mối đường.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

DUYÊN HỒ HÁN

緣 胡 漢

Duyên: Mối dây ràng buộc vô hình từ kiếp trước. Hồ: Rợ Hồ ở phương Bắc. Hán (Hớn): Nhà Hán.

Duyên Hồ Hán là duyên tình giữa nước Hồ và nước Hán, là hai miền đất nước cách xa nhau, khó mà gặp gỡ, trùng phùng nhau.

Đây nói về mối duyên tình của Chiêu Quân, cung nhân nhà Hán với Thiền vu nước Hồ.

Ai mong ôm ấp duyên Hồ Hớn,

Thiếp giữ vuông tròn chữ Á Âu.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

DUYÊN KỲ NGỘ

緣 奇 遇

Duyên: Mối dây ràng buộc vô hình từ kiếp trước. Kỳ ngộ: Cuộc gặp gỡ tình cờ.

Duyên kỳ ngộ là mối duyên tình cờ gặp gỡ nhau, tức là ngẫu nhiên mà gặp.

Mộng trần khách mến duyên kỳ ngộ,

Cõi thọ người tìm lý phục sinh.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

DUYÊN KIẾP

緣 劫

Duyên: Mối dây ràng buộc vô hình từ kiếp trước. Kiếp: Cuộc đời người.

Theo Phật, duyên kiếp là nhân duyên có từ kiếp trước. Như: Tu hành cũng do duyên kiếp của mỗi người.

Duyên kiếp là tình duyên từ kiếp trước kiếp nầy mới gặp và hiệp nhau. Như: Duyên kiếp vợ chồng.

Duyên kiếp phải một tình hờn tủi,

Lòng Chánh cung trăm mối vấn vương.

(Phù Kiều Hận Sử).

 

 

DUYÊN KIM CẢI

Duyên: Phần trời định dành cho mỗi người về khả năng quan hệ tình cảm gắn bó, hoà hợp. Kim cải: Cây kim và hạt cải, ý nói hai vật đồng cảm thì tìm nhau.

Duyên kim cải là duyên trai gái, hay vợ chồng khắng khít, gắn bó nhau như nam châm hút cây kim, hổ phách hút hột cải.

Như: Chúc hai người bền duyên kim cải.

Lánh buồn lại lạc lối bi,

Rẻ duyên kim cải, đem bì phấn hương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Nghĩa keo sơn thoạt bén thoạt ưa,

Duyên kim cải càng quen càng thấm.

(Tuý Sơn Vân Mộng).

 

 

DUYÊN PHẦN

Duyên: Mối liên lạc đã được định từ trước. Phần: Số phần, tức là số đã định từ trước.

Duyên phần, cũng như chữ “Duyên phận 緣 分”, là cái duyên số đã được định từ trước.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Ai biết đạo tức là có duyên phần, ai vô đạo tức là số chịu hình khổ luân hồi. Phải mau chơn, bằng luyến ái sự thế thì sau ăn năn rất muộn.

Mến lộc đua chen trong biển khổ,

Thiên niên chẳng quản một duyên phần.

(Đạo Sử).

 

 

DUYÊN PHẬN

緣 分

Duyên: Mối liên lạc đã được định từ trước. Phận: Số phận, tức phần số mình phải gặp.

Duyên phận là số phận mình gặp như vậy vì đã có duyên định sẵn từ kiếp trước.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: chúng ta chung hiệp với nhau ngày hôm nay trong lòng yêu ái của Ngài nơi Đền Thánh này không phải do nơi cái may mà ra, chúng ta đã đạt đặng một kiếp duyên của chúng ta, hội hiệp cùng nhau chung cả hạnh phúc của chúng ta làm một khối Thiêng Liêng vô đối trong lòng yêu ái vô tận vô biên của Đức Chí Tôn, đặng cầm cái quyền năng yêu ái ấy rải khắp cho toàn thiên hạ được hưởng, có nghĩa là chúng ta có cái duyên phận đến đặng thọ mạng lịnh của Đức Chí Tôn phụng sự con cái của Ngài, cái phụng sự ấy là để tạo kiếp duyên cho họ, cũng như ta đã được may phước ngộ Đạo gặp Ngài nơi thế này.

Lỡ làng duyên phận chớ buồn rầu,

Phải có cực nên mới tước cao.

(Đạo Sử).

Phải trí mưu đừng tánh hững hờ,

Mà bị xảo u ơ duyên phận.

(Phương Tu Đại Đạo).

An bần dưỡng tánh tuỳ duyên phận,

Hơn kém thế tình nghĩ chẳng sao.

(Thơ Cao Quỳnh Diêu).

 

 

DUYÊN TẦN TẤN

緣 秦 晉

Duyên: Mối liên lạc đã được định từ trước. Tần Tấn: Hai nước vào thời Xuân Thu, có duyên làm thông gia với nhau từ đời nầy sang thời khác.

Ngày nay, chữ “Duyên Tần Tấn” người ta thường dùng để chỉ hôn nhân giửa trai gái.

Tình săn mối mộng duyên Tần Tấn,

Cầm trỗi cung thương khúc phượng hoàng.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

DUYÊN TÌNH

緣 情

Duyên: Mối liên lạc đã được định từ trước. Tình: Mối khắng khít thương yêu.

Duyên tình, bởi chữ “Tình duyên 情 緣”, là chỉ cái duyên may mắn của đôi trai gái gặp gỡ nhau.

Như: Hai người có mối duyên tình ngắn ngủi.

Tiền trình chị giã cõi Dinh hoàn,

Nửa kiếp duyên tình chịu dở dang.

(Thơ Vạn Năng).

 

 

DUYÊN TRƯỚC

Duyên: Mối liên lạc đã được định từ trước. Trước: Đã qua, đã cũ.

Duyên trước, do từ Hán Việt “Tiền duyên 前 緣”, chỉ mối ràng buộc được định sẵn từ kiếp trước.

Nếu duyên lành, tức là kiếp sống trước ta làm những điều lương thiện đạo đức, thì kiếp sống hiện tại được may mắn, giàu sang, hạnh phúc.

Người sang cả là vì duyên trước,

Kẻ không phần luống ước cầu may.

(Kinh Sám Hối).

 

 

DÙN

1.- Dùn, hay “Dùng”, là chùng, không căng, không được thẳng. Như: Dây dùn khó đứt, dùn thẳng.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có đoạn: Trong khi ta đang ngẩn ngơ trước một sắc đẹp mỹ nhơn hoặc ta đương dùn thẳng trước một món lợi lớn của người đem hiến cho ta đặng giục ta làm chuyện phi pháp, thì một tiếng nói văng vẳng bên tai ta, nghe dịu dàng, chơn chánh và siêu kỳ.

Ngày thâu bóng xế oanh thưa nhặt,

Mắt nhắm đường xa khách thẳng dùn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nương con gậy ra vào lụm cụm,

Lưng gối dùn lững thững bước đi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Dùn là ớn, rùng mình, nổi da gà, tức rung toàn thân một cách bất ngờ vì sợ hãi, hoặc bị lạnh đột ngột.

Như: Trông thấy là tôi đã dùn mình, trời lạnh khiến phải dùn mình.

Nhiều gộp núi như đao chơm chởm,

Thấy dùn mình tán đởm rất ghê.

(Kinh Sám Hối).

Cầu Nại Hà bắc giăng sông lớn,

Tội nhơn qua ốc rởn dùn mình.

(Kinh Sám Hối).

 

 

DÙN THẲNG

Dùn: Chùng, không căng, không được thẳng. Thẳng: Ngay, không cong.

Dùn thẳng là nói lúc dùn lúc thẳng, tức tuỳ thời mà quyền biến, cũng như sợi dây lúc nên để dùn, không nên kéo thẳng, thẳng quá sẽ đứt.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có dạy: Nền Ðạo chinh nghiêng, ấy cũng nơi Thiên định. Nước có trị loạn, đời có hưng vong, thì Ðạo tất phải có dùn thẳng quanh co, rồi mới đến thẳng rẳng đường ngay mà lập nên thể thống.

Thuyền Ðạo đẩy đưa lằn sóng biển,

Bước đời dùn thẳng bước thang Trời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

DUNG

1.- Dung, cũng đọc “Dong”, là chứa, ở.

Như: Tạm dung nơi xứ người, nhà trọ nầy dung được bảy người, dung thân nơi xứ người.

Tha La xóm đạo tạm dung,

Quê cha đất tổ một vùng thênh thang.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

2.- Dung là tha thứ. Như: Tội ác trời không dung đất không tha.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Thầy cũng lấy từ bi dung cho, bằng tái phạm sẽ bị Toà Tam Giáo trục xuất. Con nên biết, cứ ai lo phần nấy, đừng lỗi phận sự thì được thanh lặng yên vui. Các con khá lưu tâm.

Chờ khi lúa phát giá cao,

Khai ra bán mắc Trời nào dung cho.

(Kinh Sám Hối).

 

 

DUNG MẠO

容 藐

Dung: Dáng bề ngoài con người. Mạo: Mặt mày.

Dung mạo là tiếng dùng để chỉ hình dáng, mặt mày con người.

Như: Dung mạo đoan trang.

Đức Lão Tử nói cùng Đức Khổng Phu Tử: “Người quân tử đức thạnh dung mạo như kẻ ngu”.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

DUNG NGHI

容 儀

Dung: Dáng bề ngoài con người. Nghi: Phép tắc.

Dung nghi là dáng dấp và lễ độ, tức chỉ người có tướng mạo và dáng điệu nghiêm trang hợp với lễ nghĩa đạo đức.

Như: Anh ấy là người có dung nghi đạo đức.

Lòng thương ví như dưòng hà hải,

Đem dung nghi làm giải trừ mê.

(Bát Nương Giáng Bút).

Rể quý cư tang tròn đạo nghĩa,

Con hiền tựa cửa nhớ dung nghi.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

DUNG NHAN

容 顏

Dung: Dáng bề ngoài con người. Nhan: Sắc mặt.

Dung nhan là gương mặt và tướng mạo.

Sách Giáo Lý của Tiếp Pháp Trương Văn Tràng dạy về chữ Dung, có câu: Dung là dung nhan, diện mạo, cần phải sạch sẽ vẻ vang, đi đứng trang hoàng, hình dung yểu điệu; nhưng lúc nào cũng phải giữ tự nhiên, nghĩa là không phải sửa cách đi đứng, vì có ý sửa là mất tự nhiên, mà mất tự nhiên thì không đẹp.

Máu mỡ anh em hoà cốt nhục,

Dạng hình cha mẹ giống dung nhan.

(Phương Tu Đại Đạo).

Dung nhan càng nhắm, nhắm càng xinh,

Nỡ để cho ai nặng chữ tình.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

DŨNG

Dũng, còn đọc là “Dõng”, sức mạnh, mạnh mẽ. Như: Phật giáo cho rằng tu cũng phải có bi, trí, dũng.

Trong Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Cũng như hoa sen mọc nơi bùn lầy nước đọng mà không nhiễm chút mùi bùn, người Chức Sắc bôn ba giữa chốn phồn hoa để chọn khách may duyên đưa vào cửa Ðạo, nhưng vẫn giữ vẹn thân danh không vướng vào tục lụy, sa ngã theo lượn sóng trần đó là đạt tới mức trí dũng của Thánh hiền thời xưa vậy.

Anh là kẻ bất tài vô dụng,

Tôi là người anh dũng tài ba.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

DŨNG CHÍ

勇 志

Dũng (dõng): Sức mạnh, mạnh mẽ. Chí: Lòng mong muốn, ý riêng.

Dũng chí, còn đọc “Dõng chí”, là ý chí cương quyết, mạnh mẽ.

Như: Thanh niên phải trau rèn dũng chí.

Lo chọn lấy thanh niên dũng chí,

Gởi sang trường võ bị Nhật hoàng.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

DỤNG

Dụng là dùng. Như: Dung mưu, dụng kế.

Thánh giáo Thầy có dạy: Kẻ vô phước dụng tà tâm làm một món lợi riêng, quên cả điều hành phạt đã kế bên mình, chới với cả muôn triệu giữa dòng, mà chẳng chịu sớm tự hối đặng gỡ lần mối hoạ sau.

Ép trí sợ trôi, trôi khó níu,

Thương thì để dạ, dụng oai linh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðạo dụng từ bi, Ðời dụng đức,

Ðời nên vị Thánh, Ðạo ngôi Tiên.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

DỤNG MƯU

用 謀

Hay “Dụng mưu mô”.

Dụng: Dùng. Mưu (hay mưu mô): Kế, chước.

Dụng mưu, hay “Dụng mưu mô”, là dùng mưu chước, hay dùng mưu kế, tức là bày mưu tính kế.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Người có đức chí thành không hề biết dối trá gạt gẫm ai, không biết a dua, bợ đỡ, không vì lợi bỏ nghĩa, không vì mình hại người, cứ thẳng thắn đường ngay tiến bước, thà là chịu thất bại còn hơn là dụng mưu mô bất chánh để dối người, lừa bạn.

Hơn người chẳng phải dụng mưu hay,

Ðức phục nhơn tâm mới thiệt tài.

(Đạo Sử).

 

 

DỤNG NHƠN CHẲNG KHÁC DỤNG CÂY

Dụng nhơn (nhân): Dùng người.

Chẳng khác dụng cây: Nghĩa là giống như sử dụng cây gỗ.

Dụng nhơn chẳng khác dụng cây, do câu thành ngữ Việt Hán “Dụng nhân như dụng mộc 用 人 如 用 木”, là dùng người như sử dụng gỗ, tuỳ loại cây, hay dài, ngắn, vuông tròn mà dùng.

Trong đạo Cao Đài, Đức Hộ Pháp cũng có dạy câu “Dụng nhơn như dụng mộc” trong đàn cơ vào lúc 20 giờ 40, tại Giáo Tông Đường, ngày 24 tháng 10 năm Đinh Mùi (Dl. 2/11/1967), do Hiến Pháp, Khai Đạo phò loan. Hầu đàn: Thượng Sanh, Bảo Thế, Nữ Chánh Phối Sư và chư Chức sắc Hiệp Thiên Đài. Hầu bút: Truyền Trạng Lê Minh Khuyên.

Bài Thánh giáo đó như sau:

Chào bạn Thượng Sanh, Bảo Thế, Hiến Pháp, Khai Đạo, hiền tỷ Chánh Phối Sư.

Mừng các em.

Bần đạo rất hoan hỷ được hiệp cùng các bạn hôm nay. Các bạn có việc chi cứ hỏi.

Đức Thượng Sanh kính bạch Đức Hộ Pháp:

– Đạo hữu Nguyễn Văn Thành tức là Cựu Trung Tướng Quân đội Cao Đài có đứng đơn lên Hội Thánh xin tái lập công quả. Hội Thánh Hiệp Thiên Đài không biết phải thâu dụng cách nào cho tương xứng với khả năng và công nghiệp của đương sự, nên xin dâng lên nhờ Đức Ngài chỉ giáo?

Những vị đã xin vào phẩm Quốc Sĩ Ban Thế Đạo năm Ất Tỵ là: Cựu Thiếu Tướng Lê Văn Tất, Thiếu Tướng Văn Thành Cao, và Cựu Trung Tướng Nguyễn Văn Thành.

Có lịnh của Đức Ngài đêm 5/8/1966 dạy đình lại một thời gian, nay xin Đức Ngài từ bi ban ân huệ cho vị Thiếu Tướng Văn Thành Cao và Cựu Thiếu Tướng Lê Văn Tất được vào phẩm Quốc Sĩ cho hai vị lập công với Đạo. Nay kính bạch.

– Cười... Vấn đề thứ nhứt, Bần đạo đã tham khảo ý kiến của Đức Lý thì Ngài đã chấp thuận nhưng còn phải đem ra cung Đạo cho hợp pháp. Bần đạo lấy làm ái ngại về việc Tướng Thành lắm, nhưng phải dụng nhơn như dụng mộc, các bạn nên nhớ điều ấy, nếu cứ hiềm nghi hoài thì có người đâu mà dùng.

Bần đạo cũng nhơn dịp nầy để lời khuyên các em Hiệp Thiên Đài nên chú trọng về mặt tinh thần hơn là về hình thức. Các bạn phải nêu gương vô ngã cho thiên hạ phục, chớ đừng mượn uy danh bề ngoài vô ích.

Vậy kỳ cầu thăng tới đây, nếu có một phần bất mãn nào thì cũng vui lòng nhân nhượng.

Bần đạo hiểu rõ tâm lý của các bạn, không phải vì danh vị mà hành đạo, mà là vì đại cuộc, các bạn hiểu cho. Bần đạo ban ân cho các bạn.

Xem: Dụng nhơn như dụng mộc.

Dụng nhơn chẳng khác dụng cây sang,

Quý trọng cùng chăng một buổi nhàn.

(Đạo Sử).

 

 

DỤNG NHƠN NHƯ DỤNG MỘC

Dụng nhơn: Dùng người. Như dụng mộc: Giống như sử dụng cây gỗ.

Dụng nhơn (nhân) như dụng mộc 用 人 如 用 木, có nghĩa là dùng người như sử dụng cây gỗ, tuỳ dài, ngắn, vuông tròn mà dùng.

Như ta biết, người thợ mộc phải biết dùng các loại gỗ để làm nhà cửa, hay để đóng đồ đạc. Không thể tùy tiện mang những loại gỗ làm cột, làm kèo để làm hàng rào, tường vách và tất nhiên cũng không thể dùng loại gỗ tạp để làm cột, làm kèo... Không biết dùng gỗ thì vừa bỏ phế vật liệu, vừa phí phạm, mà lại không khéo làm hư cả công trình.

Câu trên cũng có hàm ý cho ta biết là không có người nào trong xã hội là vô dụng cả, chỉ cần xử dụng đúng người đúng việc thì sẽ phát huy hiệu quả con người đó. Bởi vậy khi sử dụng người, đừng vì một khuyết điểm nhỏ mà vội chê người này người nọ vô dụng mà hãy tự trách mình không biết dùng người.

Câu “Dụng nhân như dụng mộc” được trích trong câu Nho: Cầu sĩ mạc cầu toàn, vô dĩ nhị noãn khí can thành chi tướng; Dụng nhân như dụng mộc, vô dĩ thốn hủ khí liên bão chi tài 求 士 莫 求 全, 無 以 二 卵 棄 干 城 之 將, 用 人 如 用 木, 無 以 寸 朽 棄 抱 之 材, có nghĩa là tìm kẻ sĩ chớ nên cầu người thật hoàn toàn, đừng vì hai cái trứng, bỏ mất tướng can thành; dùng người như dùng mộc, đừng vì một tấc gỗ mục, mà bỏ mất khúc cây cả ôm.

Câu nầy do tích trong sách Sử Ký chép: Thầy Tử Tư khi tiến cử ông Tuân Biến cho chúa Vệ Hầu có nói: Tài nầy được làm tướng ăn lộc năm trăm thặng.

Vệ Hầu trả lời: Ta biết tài làm tướng của ông ấy. Nhưng tên Biến nầy, có lần làm quan Lại, đánh thuế dân, ăn mất của người hai cái trứng gà, cho nên chớ dùng loại người như ông ấy.

Thầy Tử Tư tâu: Xét lại, sự cất nhắc người lên làm quan của bậc Thánh nhân, cũng như sự dùng cây gỗ của người thợ mộc, lấy sở trường của nó, bỏ sở đoản của nó, cho nên cây trắc, cây gỗ cả ôm, có mục vài thước, thợ hay chẳng bỏ. Nay chúa công ở vào thời Chiến Quốc, tuyển chọn người vây cánh, mà vì hai quả trứng, bỏ một tướng can thành, việc nầy không nên đồn ra nước láng giềng vậy!

Bần đạo lấy làm ái ngại về việc Tướng Thành lắm, nhưng phải dụng nhơn như dụng mộc, các bạn nên nhớ điều ấy, nếu cứ hiềm nghi hoài thì có người đâu mà dùng.

(Thánh Giáo Hộ Pháp).

 

 

DỤNG QUYỀN HƠN DỤNG ĐỨC

Dụng quyền: Sử dụng quyền hành. Hơn dụng đức: Hơn dùng đạo đức.

Dụng quyền hơn dụng đức chỉ kẻ chuyên thâu phục người bằng quyền lực, chứ không lấy đạo đức ra để thâu phục người.

Trái lại theo Nho giáo, Mạnh Tử đã từng nói: Dĩ lực phục nhân giả, phi tâm phục dã, lực bất thiệm dã, dĩ đức phục nhân giả, trung tâm duyệt nhi thành phục dã 以 力 復 人 者, 非 心 復 也, 力 不 贍 也. 以 德 復 人 者, 中 心 悅 而 誠 復 也, nghĩa là lấy sức mạnh phục người, không phải là tâm phục, vì sức yếu hơn; lấy đức phục người, trong lòng vui vẻ mà thành thật phục vậy.

Dùng quyền hành thì người ta sợ mà không phục, chỉ khi nào dùng đức thì người ta mới tâm phục. Như vậy, trong tôn giáo nên “Dụng đức hơn dụng quyền”.

... nhưng nếu các con chẳng dụng quyền hơn dụng đức, biết thương sanh chúng hơn thân mình, vì Ðạo hơn vì danh vọng theo thói đời, thì các con thế nào cũng được vững con đường mà đi cho cùng bước Ðạo.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

1.- Dư là thừa. Như: Dư ăn, dư sức làm việc đó, không nói cũng dư biết.

Thánh giáo Thầy có dạy: Lại nữa, Thầy biết trước rằng, không cần giúp các con cũng sức đậu đặng, thì dường ấy, nếu Thầy giúp tức là hại thể diện các con, chớ không giờ phút nào Thầy xa các con.

Công khó độ đời đừng nệ khó,

Phước đợi lúc hưởng ơn Trời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cơm ngày hai bữa chi uổng,

Mặc thế đua chen thói bốc rời.

(Đạo Sử).

2.- Dư 輿 là cái xe, đất đai, công chúng.

Như: Bức dư đồ (bản đồ), hành vi của anh ấy bị dư luận chê bai hết sức.

Nửa bầu vũ trụ xem chưa chán,

Một mảnh đồ ngắm đã xong.

(Thơ Vạn Năng).

 

 

DƯ DẢ

: Thừa.

Dư dả là có thừa so với mức cần thiết của đời sống vật chất. Như: Đời sống dư dả.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Duy có hạng người có ý niệm nông nổi cho rằng ngày Tết thì phải ăn xài phủ phê, mặc dù không dư dả hoặc nghèo túng quanh năm, cũng học đòi theo nhà sẳn của, cũng sắm ăn sắm mặc lòe loẹt bề ngoài.

Túng tiền, Bần Đạo phải đến tại Vũng Liêm, tưởng đâu chị có dư dả mới đến, con người như thế này không đến nước túng thiếu quá lẽ.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

DƯ ĐỒ

輿 圖

Dư: Đất đai. Đồ: Bản đồ.

Dư 輿, nghĩa rộng dùng để chỉ lãnh thổ một quốc gia.

Dư đồ là tấm bản đồ vẽ đất đai của một vùng đất hay của một nước.

Như: Bức dư đồ Bắc Nam.

Địa hoàn biến chuyển đổi dư đồ,

Diệt tận văn minh của đạo Tô.

(Liễu Nhứt Chơn Nhơn).

Dư đồ xẻ nửa buồn pha hận,

Lãnh thổ chia đôi sử thúc trang.

(Thơ Thượng Tuy Thanh).

 

 

DƯ LUẬN

輿 論

Dư: Phần đông người, công chúng. Luận: Bàn luận.

Dư luận là lời bàn luận của dân chúng về một việc gì. Như: Phản ảnh dư luận của quần chúng.

Thánh giáo Đức Cao Thượng Phẩm dạy: Thời sự hiện giờ gấp rút lắm, các em dư hiểu thì các em cứ bình tĩnh mà xây trở cho khéo léo, kẻo sơ thất mà dư luận không buông tha cho đó các em.

Dư luận chê bai mặc tiếng đời,

Miễn con biết đặng gặp Thầy Trời.

(Đạo Sử).

 

 

DƯ NGÔN

輿 言

Dư: Số đông công chúng, lời bàn luận của số đông người gọi là dư luận. Ngôn: Nói, lời nói.

Dư ngôn là lời nói của số đông người, ý chỉ lời bàn tán, lời nhận xét khen chê của số đông người.

Sư sinh tái hội lòng luôn nguyện,

Nào quản dư ngôn dệt méo tròn.

(Thơ Huệ Ngàn).

 

 

DỮ

1.- Dữ là nói người và vật hung tợn hay đánh, hay giết, hay cắn, trái với hiền (lành). Như: Người hung dữ sẽ gặp nạn, vật lộn với sóng dữ.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Nếu thế gian dữ thì thế nào đặng bảo toàn, còn mong mỏi gì đặng bền vững. Cá nhân dữ thì thế nào bảo toàn tánh mạng.

Mai tàn tuyết xủ đời thay đổi,

Dữ tận hiền thăng khách lọc lừa.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tìm hiền lắm lúc gieo nguồn đạo,

Cải dữ đòi phen cổi mạch sầu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Dữ là với, và, cùng với. Như: Phú dữ quý.

Trong Sớ Văn có câu: Cộng đồng chư Chức sắc hiệp dữ Chức việc đạo hữu nam nữ đẳng quỳ tại Điện tiền thành tâm trình tấu.

Tường quang nhứt khí chiếu minh đông,

Tam Giáo quy nguyên dữ cộng đồng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

DỮ DẰN

Dữ: Hung tợn, hay gây việc ác.

Dữ dằn là hết sức mạnh bạo, và có tác động đáng sợ. Dữ dằn còn có nghĩa trông rất dữ, khiến người ta phải sợ.

Nói về Đức Jésus Christ, Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Ấy là đời đang giả dối mà Ngài đem chân thật đặng khử trừ, chẳng khác nào vào chốn náo nhiệt dữ dằn mà Ngài đờn tiếng thanh tao hoà nhã.

Khi vừa mới biết bò biết mách,

Đừng cho người chọc cách dữ dằn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

DỮ ĐOẠ HIỀN THĂNG

Dữ đọa: Người hung thì bị đoạ (rơi xuống). Hiền thăng 賢 升: Người lành thì được siêu thăng.

Dữ đoạ hiền thăng là nói kẻ hung ác thì bị đoạ âm quang, người hiền lương thì siêu thăng Tiên cảnh.

Dữ đoạ hiền thăng ấy luật Trời,

Lánh đường tà vạy hưởng an vui.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

DỮ LÀNH

Dữ: Hung tợn, hay gây việc ác. Lành: Không làm hại người và vật khác.

Dữ lành là chỉ sự hung dữ và sự hiền lành.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có đoạn dạy: Ðường tội phước chẳng biết cân, gương dữ lành không để ý. Triền cao vực thẳm, rừng trước non xưa, cảnh vẫn đợi kẻ tìm về, nhưng giọng ai oán của khách lạc đường chẳng thế vạch Trời xanh soi thấu.

Linh Tiêu Thái Bạch Trường Canh,

Truyền tâu Đế Khuyết dữ lành nhơn gian.

(Xưng Tụng Công Đức).

Biết Ðạo khá lo trau hạnh đức,

Dữ lành đợi buổi cũng cân phân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

DỮ RĂN HIỀN THƯỞNG

Hay “Dữ răn lành thưởng”.

Dữ răn: Trừng răn kẻ hung dữ. Hiền (lành) thưởng: Ban thưởng người hiền lành.

Dữ răn hiền thưởng: Theo thuyết nhân quả của nhà Phật, kẻ làm dữ thì nhận những nghiệp dữ để trừng răn, người làm hiền (hay lành) thì nhận những thiện quả.

1.- Dữ răn hiền thưởng:

Nếu quả dữ răn cùng hiền thưởng,

Mới hay minh chánh cái quyền Trời.

(Đạo Sử).

2.- Dữ răn lành thưởng:

Trời để mắt xem đời thiện ác,

Dữ răn lành thưởng thấy hay chưa?

(Đạo Sử).

Luật Trời phân định hai đàng,

Dữ răn lành thưởng rõ ràng không sai.

(Thơ Thông Quang).

 

 

DỮ TẬN HIỀN THĂNG

Dữ tận: Tiêu hết người hung dữ. Hiền thăng 賢 升: Người lành được siêu thăng.

Dữ tận hiền thăng là người hung ác thì tiêu hết, người hiền lành thì được siêu thăng.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Dữ tận hiền thăng, mạnh tàn yếu được, nếu chẳng có mối Ðạo Trời thì sanh linh, vì hung bạo phải trả trả vay vay, biết chừng nào cho cảnh dinh hoàn nầy được trọn hưởng ân huệ, nấc thang thiêng liêng kịp dẫn độ người phàm tục.

Mai tàn tuyết xủ đời thay đổi,

Dữ tận hiền thăng khách lọc lừa.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

DỮ TỢN

Dữ: Hung, tỏ ra sẵn sàng làm hại, hoặc gây tai hại cho người khác. Tợn: Bại đến mức liều lĩnh không biết sợ hãi là gì.

Dữ tợn là hung dữ với dáng vẻ đe doạ, trông tướng thấy đáng sợ.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Chí Tôn để cho loài người một địa điểm dữ tợn không biết Trời, không biết Ðất, sắp đặt có hung ác, có hiền lành, thì cái lành ấy Chí Tôn giao cho ai?

Nhiều thứ rắn mặt mày dữ tợn,

Ngóng cổ trông mắt trợn dòm người.

(Kinh Sám Hối).

Rủi gặp phải đứa con dữ tợn,

Cậy những người quyền lớn ép đè.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

DỰ

1.- Dự là góp phần vào, dính dấp đến. Như: Dự tiệc, dự nhiều trận đánh, dự mít tinh.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu dạy: Ôi! Thầy vì mấy chục ức nguyên nhân, không nỡ để cho ngôi phẩm tan tành, chớ lấy luật Thiên thơ thì không một ai dự vào kim bảng.

Cung Lập Khuyết tìm duyên định ngự,

Lãnh Kim sa đặng dự Như Lai.

(Kinh Tận Độ).

Dự vào đường Ðạo hạnh tua trau,

Ðừng đợi người kêu mới tỉnh màu.

(Đạo Sử).

2.- Dự là phòng sẵn, liệu trước. Như: Dự bị, dự định, việc ấy đã dự trước lâu rồi.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Mưu mưu kế kế hại lẫn với nhau, Thầy đã dự định cho mỗi đứa đủ quyền kềm thúc lấy nhau, đặng giữ gìn Thánh đức yêu sanh của Thầy mà binh vực lấy nhau, mà chẳng một đứa nào biết ngó đến phẩm giá mình, làm cho cả nhơn sanh phiền muộn.

Nghĩa là dự định đặng lên Lễ Sanh, rồi lên Giáo Hữu, tức là vào hàng Thánh Thể đó vậy.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

3.- Dự là tiếng khen. Như: Vinh dự, phải vì danh dự của tổ quốc.

Trong Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Thành thử, cái danh dự của mỗi Chức sắc không phải riêng cho cá nhân mình mà là cái danh dự chung của toàn thể Chức sắc Hội Thánh.

Nếu chư đạo hữu biết quyền phận mình, nên giữ đừng cho phạm đến danh dự chung, ấy là giữ cơ mầu nhiệm của Ðạo cho ngày sau đó.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

DỰ PHÒNG

預 防

Dự: Trước khi việc xảy ra, can thiệp vào. Phòng: Ngăn ngừa.

Dự phòng là đề phòng trước, tức chuẩn bị sẵn để phòng điều không hay có thể xảy ra.

Trong Đạo Sử, Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy về việc chi xuất, có câu: Tới việc xuất thì ba vị chấp sự mỗi đều ký giấy tử tế cho đủ ba người mới cho xuất tiền... cười. Thầy làm như vậy đặng dự phòng lãng phí nghe à.

Nên người mình biết nên mình vậy,

Ðừng cách phàm tâm tánh dự phòng.

(Đạo Sử).

 

 

DƯA

Dưa là quả sinh ở các loại dây leo, ăn được. Như: Dưa chuột, dưa hấu, dưa gang.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Ðời chuộng vinh sang, Ðạo chuộng khổ hạnh, đời ham trược phú, Ðạo giữ thanh bần, lên xe xuống ngựa chốn phồn hoa đổi lại cảnh lê hoát nâu sồng, nơi cửa Ðạo tương dưa thanh đạm tháng ngày, để mặc miếng mỹ vị cao lương ngoài quán tục.

Khuya sớm tương dưa hết dục lòng,

Lòng dầu toan kế, kế sao xong.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Đừng nhạo già thờ cha cúng tổ,

Già ngậm ngùi nhớ thuở giỗ rau dưa.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

DƯA MUỐI

Dưa: Trái của loại dậy leo ăn được. Muối: Một chất có tinh thể trắng vị mặn, lấy từ nước biển.

Dưa muối là hai loại thực phẩm đạm bạc, dùng để chỉ người tu hành, thọ chay lạt.

Dưa muối đồng nghĩa với chữ “Tương dưa”, chỉ sự cần kiệm, sự đơn giản, hay sự khổ hạnh của người tu hành.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ngày cúng ấy là ngày chúng ta nhắc lại sự đau thảm chia ly với nhau trong kiếp sống. Còn kiếp chết của chúng ta sẽ được tương ngộ trên cảnh hư linh hằng sống kia, cái cảm tình của chúng ta ngày đó dầu cho dưa muối mà chúng ta nhớ cái thâm tình ấy là quý trọng.

Thanh cao là biết ngon dưa muối,

Hơn ngự lầu yên ngó đảnh Tần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tẻ vui đã hưởng mùi dưa muối,

Nơi thế dường như khách lạc loài.

(Đạo Sử).

 

 

DỪA

Dừa là một loại cây cùng họ với cau, thân cột, lá to hình lông chim, quả chứa nước ngọt, cơm dừa để ăn hoặc ép lấy dầu.

Như: Bờ dừa thẳng tắp, tóc thơm dầu dừa, đất thiếu trồng dừa đất thừa trồng cau (tục ngữ).

Xuồng nan cỡi sóng đu đưa,

Trên bờ trâu nghé hàng dừa tươi xanh.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

DỰA

1.- Dựa là cận, gần, kề, tức ở tình trạng sát bên nhau. Như: Ngồi dựa cột, đứng dựa gốc cây.

Thánh giáo Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng có câu: Than ôi! Có hình thể xương thịt mà chơn hồn phưởng phất nơi xa, thì cái thân vô dụng ấy trơ trơ như khối đá dựa đường, như khúc cây bên trũng.

Dựa cột, cột xiêu nhà sập nóc,

Kham tai cái kiếp cửa nhà không?

(Đạo Sử).

2.- Dựa còn có nghĩa là nương vào, vịn vào. Như: Nương dựa, dựa vào quần chúng.

Thánh giáo Thầy có câu: Kẻ hữu phần đặng nắm mối Ðạo Trời, dựa chiếc thuyền sen lần vào non cao suối lặng, để rửa bớt chút bợn trần, dưỡng tánh tu thân, để nâng lên địa vị thanh cao, lánh xa đoạ luân hồi trong lúc hồn lìa khỏi xác.

Dìu nhau trở bước lại rừng thung,

Ðằng cát may đưa dựa bóng tùng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðã có căn phần dựa cảnh Tiên,

Bước đời chớ quản bậc sang hèn.

(Đạo Sử).

 

 

DỰA CỘT

Dựa: Nương, tựa vào cho có thế vững. Cột: Cây to thẳng đứng dùng để chống, đỡ cái nhà, hay treo, mắc.

Dựa cột, do câu tục ngữ Việt Nam: “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe”.

Vì vậy, chữ “Dựa cột” dùng để nói người dốt nát, không biết gì cả.

Đừng ưa me chịu dốt chúng cười,

Người ghế giữa mình ngồi dựa cột.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

DỰA KỀ

Dựa: Kế cận, gần, ở tình trạng sát bên nhau. Kề: Gần bên, liền kế bên.

Dựa kề đặt gần một bên, hay lìền sát vào.

Dựa kề là tựa vào hay kề sát vào vật gì để có thế mạnh, thế vững chắc.

Muốn còn phước dựa kề quân tử,

Phải hạ mình đặng xử vuông tròn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Để chuông mõ dựa kề son phấn,

Chất nhơn tình chồng cận kệ kinh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

DỰA LÒNG TỪ BI

Dựa: Nương vào, vịn vào, như nương dựa, dựa vào quần chúng. Lòng Từ bi: Lòng thương yêu, lo lắng mong giúp đỡ cho chúng sanh được an lành và cứu vớt chúng sanh ra khỏi tai ương, khổ não. Từ bi là hạnh của Đức Phật.

Dựa lòng từ bi tức nương vào đức Phật, hay nói cách khác là quy y theo Phật.

Biết chăng cái thảm mất chồng,

Xin cho thiếp dựa nơi lòng từ bi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

DỰA NƯƠNG

Dựa: Nhờ người hoặc vật để có được sức mạnh hoạt động có hiệu lực. Nương: Dựa vào để có sự che chở, giúp đỡ.

Dựa nương là nương dựa vào sự che chở, hay giúp đỡ của người khác.

Như: Biết dựa nương vào quần chúng.

Thu ba đã quá lúc đua đường,

Chưa biết giựt mình kiếm dựa nương.

(Đạo Sử).

Sao bằng chánh đạo dựa nương,

Rảo chân thẳng bước con đường siêu nhân,

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

DỰA THÂN CỘI TỬ

Dựa thân: Nương thân vào. Cội tử: Cội cây thị, chỉ người cha.

Do Kinh Thi có câu: Duy tang hữu tử, tất cung kính chi 維 桑 與 梓, 必 恭 敬 之, nghĩa là phải cung kính nơi trồng cây dâu cây thị. Cây dâu cây thị do cha mẹ trồng nên phải cung kính.

Dựa thân cội tử là sống nương dựa theo cha mẹ.

Phép xưa tùng phụ đã rằng,

Dựa thân cội tử đợi hàng trượng phu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

DỪNG

Dừng là ngừng, đứng, thôi vận động, chuyển sang trạng thái ở yên tại một chỗ.

Như: Dừng chân, con tàu từ từ dừng lại, câu chuyện tạm dừng ở đây.

Thánh giáo Thầy có câu: Xưa sanh linh lắm lần hi sinh vì Ðạo, song chẳng đặng ân tứ cho bằng các môn đệ Thầy ngày nay, các con còn chi hơn nữa mà ngán lòng dừng bước.

Bưng vinh thẳng bước niên còn trẻ,

Gánh nhục dừng chơn tuổi đã già.

(Khương Thái Công).

Dầu trẻ đã phong lưu quen tánh,

Mình dừng ngăn trẻ lánh điều vui.

(Phương tu Đại Đạo).

 

 

DỰNG

1.- Dựng là đặt cho đứng thẳng.

Như: Dựng cây cột gỗ, dựng đứng cột nhà, dựng mọi người ngồi dậy.

Bình Dương lập trận sờ sờ,

Cả chư vạn quốc dựng cờ chiến tranh.

(Thất Nương Giáng Bút).

Rường cột Ðạo mầu bao thuở dựng,

Sụt sùi để bước khó làm thinh.

(Thơ Huệ Giác).

2.- Dựng là gây, lập, tạo nên và làm cho có được sự tồn tại vững vàng.

Như: Dựng nên cơ đồ, những ngày đầu dựng nước, dựng vợ gả chồng.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Ta vì lòng đại từ đại bi, vẫn lấy đức háo sanh mà dựng nên mối Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, tôn chỉ vớt những kẻ hữu phần vào nơi địa vị cao thượng, để tránh khỏi số mạng luân hồi và nâng những kẻ tánh đức bước vào cõi nhàn, cao hơn phẩm hèn khó ở nơi trần thế nầy.

Sống thì định bá đồ vương,

Quy Thiên dựng lại miếu đường thuở xưa.

(Kinh Thế Đạo).

Tiết nghĩa trung can Hớn đảnh xây,

Phò Lưu dựng Thục một lòng ngay.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

DỰNG ĐỨNG CỘT ĐỒNG

Dựng đứng cột đồng là cây cột đồng do viên chỉ huy quân đội nhà Hán là Mã Viện sai dựng lên sau khi chinh phục được cuộc nổi dậy của hai Bà Trưng ở Giao Chỉ vào năm 43.

Theo Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, Vua Hán Quang Vũ phong cho Mã Viện năm ấy đã 58 tuổi, làm Phục Ba Tướng Quân sang đánh Giao Chỉ.

Đất Giao Chỉ thời đó tách ra khỏi lãnh thổ của nhà Đông Hán, trở thành vùng độc lập do hai Bà Trưng nổi dậy chiếm đóng, lấy đất Mê Linh làm Kinh Đô, phong chức tước cho những người cùng tham gia khởi nghĩa.

Mã Viện thống quản hai vạn quân cùng với hai ngàn xe thuyền tiến đến Long Biên và Lãng Bạc, ở phía đông Cổ Loa. Còn hai Bà Trưng thì kéo quân từ Mê Linh qua Cổ Loa xuống Lãng Bạc đón đánh quân Hán.

Tại đây, hai bên đã giao chiến dữ dội. Hai Bà không chống nổi quân Mã Viện, phải rút quân về xã Hát Môn thuộc huyện Phúc Lộc, nay là huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây.

Phục Ba Tướng Quân đem binh tiếp đánh, thế bức quá, hai bà bèn gieo mình xuống sông Hát Giang mà tự tận.

Mã Viện dẹp xong quân của Trưng Nữ Vương, bèn đem đất Giao Chỉ nội thuộc nhà Hán, rồi sau đó dựng một cây cột đồng, khắc sáu chữ: Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt 銅 柱 折, 交 趾 滅, nghĩa là cây cột đồng mà gãy đổ thì người Giao Chỉ mất.

Trong bài trên, hai câu thi cuối Đức Chí Tôn hỏi ai đã đề xướng dựng lên cột đồng cho rằng Giao Chỉ sẽ tiêu mất, nhưng hiện nay ta thấy vẫn bền vững và tồn tại biết bao nhiêu triều đại rồi.

Đó cũng là niềm tự hào và diễm phước cho dân tộc Việt Nam ta.

Ðầu xanh chí khí lập danh cao,

Phải ở sao ra mặt khí hào.

Dựng đứng cột đồng ai đã xướng,

Ðảnh Nam sừng sựng vững bền trào.

(Đạo Sử).

 

 

DỰNG GIỀNG

Dựng: Gây, lập, tạo nên và làm cho có được sự tồn tại vững vàng. Giềng: Dùng để chỉ khuôn phép, kỷ cương.

Dựng giềng là gây tạo lại mối giềng, ý muốn nói những điều nhân nghĩa, đạo đức thời nầy đã bị đổ vỡ, nên phải tạo dựng những kỷ cương, khuôn phép như xưa.

Lâu đời Tam Giáo thất truyền,

Ngày nay Đại Đạo dựng giềng quy mô.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

DỰNG NƯỚC

Dựng: Gây, lập. Nước: Đất nước, chỉ quốc gia.

Dựng nước, đồng nghĩa với chữ “Lập quốc 立 國”, là gây dựng đất nước.

Trong lịch sử Việt Nam, vua Hùng là người có công dựng nước (lập quốc).

Dựng nước chẳng ai tài tướng lược,

Liều mình thiếu kẻ đứng hùng anh.

(Đạo Sử).

 

 

DỰNG NGHIỆP

Dựng: Lập nên. Nghiệp: Tài sản cơ nghiệp.

Dựng nghiệp là lập thành cơ nghiệp.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bần Đạo không khoe khoang, hiện nay Châu Thành Thánh Địa đã được mở rộng, con cái Đức Chí Tôn về có đất để dựng nghiệp nhà có phương thế để nuôi vợ con no đủ.

Ðợi thời toan mượn cần câu Lữ,

Dựng nghiệp tua chờ mặt lưới Thang.

(Đạo Sử).

Dày công dựng nghiệp giữa trời đông,

Non nước xinh tươi vẻ Lạc Hồng.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

DƯỚI

Dưới là đối với trên. Như: Dưới trông lên, Người trên kẻ dưới, dưới trời có đất, trên cao có trời.

Thánh giáo Thầy có câu dạy: Người dưới thế nầy muốn giàu có phải kiếm phương thế mà làm ra của. Ấy là về phần xác thịt. Còn Thần, Thánh, Tiên, Phật, muốn cho đắc đạo phải có công quả.

Nho nhã con tua tập tánh tình,

Dưới đời đừng tưởng một mình lanh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Xem thường dưới mắt dở cùng hay,

Ngặt độ cho ra chẳng kẻ bày.

(Đạo Sử).

 

 

DƯỚI BỘC TRONG DÂU

Dưới Bộc: Dưới bãi sông Bộc. Trong dâu: Trong vườn dâu.

Dưới Bộc trong dâu dịch nghĩa từ câu “Bộc thượng tang gian 濮 上 桑 間”, để chỉ sự hẹn hò tình tự bất chính giữa trai gái.

Theo Hán thư, con trai và con gái của nước Trịnh và nước Vệ thường ra bãi sông Bộc hẹn hò nhau, hoặc núp trong các ruộng dâu để tình tự nhau.

Xem: Trên Bộc trong dâu.

Nào khi đứng giữa đàng trông ngọc,

Nào khi ngồi dưới bọc trong dâu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Tại nơi mình dưới bộc trong dâu,

Ra đến thế nài cầu sao đáng giá.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

DƯƠNG

1.- Dương là một trong hai chất khí nguyên thuỷ do thái cực phân ra, trái với Âm.

Như: Âm cực dương hồi, Âm dương hoà hiệp, Dương quang.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có đoạn dạy: Chấp hai tay lạy là tại sao? Tả là nhựt, hữu là nguyệt, vị chi âm dương. Âm dương hiệp nhứt phát khởi Càn khôn, sanh sanh hoá hoá, tức là Ðạo.

Hữu vân hữu võ hữu phong ba,

Nhựt Nguyệt Âm Dương tứ quý hoà.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Dương thạnh thì hay đời mạt kiếp,

Nêu thân ở giữa cuộc tang thương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Dương là mặt trời.

Như: Bóng dương tỏ rạng, ánh dương giọi trước thềm nhà, bóng dương xế ngang đầu.

Ðã thấy ven mây lố mặt dương,

Cùng nhau xúm xít dẫn lên đường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Bóng dương tỏ rạng lố chơn mây,

Ðầm ấm hơi xuân nở mặt mày.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Dương là chỉ thế gian, tức cõi của con người đang sống.

Như: Cõi dương cõi âm, dương gian âm cảnh, dương trần, dương thế.

Chơn linh đẹp đẽ mỹ miều,

Xuất dương sớm đã đến triều Ngọc Hư.

(Nữ Trung Tùng Phận).

4.- Dương là tên một thứ cây về loại liễu. Như: Nhành dương, phướn phụng dương bờ.

Thánh giáo Thầy có câu: Ðạo Trời qua bến tục, đường Thánh dẫn khách trần, nếu chẳng biết thế thời, giọt nhành dương hết chờ khi rưới khổ đặng.

Lửa lòng rưới tắt mượn nhành dương,

Vì nghĩa sơ giao phải đến thường.

(Bát Nương Giáng Bút).

Xuyên dương trăm bộ đấng nên tài,

Vùi lấp bấy chầy chí khí trai.

(Đạo Sử).

5.- Dương là phô bày ra, nêu lên.

Như: Dương danh ư hậu thế, tuyên dương công trạng, dương cao ngọn cờ.

Anh phong nhứt thế chiếm quan trường,

Hữu thế hữu thời Ðạo khả dương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

DƯƠNG BỜ

Dương: Một thứ cây về loại liễu. Bờ: Đường đắp cao để phân giới hai bên.

Dương bờ, bởi chữ “Dương bạn 楊 畔”, trong câu “Phụng hàm đơn chiếu đề dương bạn 鳳 含 丹 詔 提 楊 畔” tức là chim phụng ngậm chiếc chiếu về bờ dương.

Trong Đạo Đức Chơn Kinh có câu: Dương vô trần nhiễm, đạo giả như dương 楊 無 塵 染, 道 者 如 楊, nghĩa là cây dương không nhiễm trần, đạo là cây dương.

Do vậy, “Dương bờ” là tiếng dùng để chỉ nền đạo đức hay bờ giác ngộ hay bờ giải thoát.

Xem: Bờ dương.

May phước phải gìn cho mạnh trí,

Nắm đuôi phướn phụng đến dương bờ.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cháu hãy nén sầu mừng mẹ đã,

Tiêu dao tự toại cõi “Dương bờ”.

(Thơ Thành Toại).

 

 

DƯƠNG CẢNH

陽 境

Dương: Một trong hai chất khí nguyên thuỷ do thái cực phân ra, trái với Âm. Cảnh: Cõi, miền.

Dương cảnh là cõi dương, chỉ cõi thế gian, nơi con người đang sống, trái với Âm cảnh.

Dương cảnh bụi trần còn lấp kín,

Tuyền đài nắm xác vội chôn vùi.

(Thơ Cao Liên Tử).

 

 

DƯƠNG CHẤN

楊 振

Dương Chấn còn gọi là Dương Quan Tây, người đất Quan Tây, đời nhà Hán, làm quan thái úy, tánh rất thanh liêm. Hồi làm thứ sử có tiến dẫn Vương Mật làm lệnh doãn huyện Xương Ấp. Nên khi ông đi ngang qua Xương Ấp, vì trời tối, có nghỉ tạm ở đó một đêm.

Vương Mật mới lén đem mười lượng vàng đền ơn. Ông Dương Chấn mới trách: Ta biết tài ngươi mà ngươi không biết lòng ta.

Dương Mật nói: Đêm hôm khuya khoắc có ai hay biết mà ngài sợ.

Dương Chấn đáp: Sáng thì có trời biết, tối thì có thần soi biết; trong có ta biết, ngoài có ông biết. Chỗ biết có nhiều sao gọi rằng không ai biết.

Vàng đem thử lửa tâm Dương Chấn,

Ngọc phải làu gương hạnh Tử Khiên.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

DƯƠNG CHÂU

楊 州

Dương Châu là tên một vùng đất thịnh vượng, và phồn hoa của Trung Quốc ngày xưa.

Người xưa có kể câu truyện: Ba người khách ngồi trò chuyện, mỗi người có đưa ra một điều ước. Người thứ nhứt, muốn làm Thứ sử ở Dương Châu. Người thứ hai, muốn có nhiều tiền bạc và được cỡi hạc bay lên cao. Người thứ ba, ước muốn toàn vẹn hơn, là lưng có mười vạn quan tiền, cỡi hạc bay lên Dương Châu, ý chỉ lời ước muốn đầy đủ và hoàn toàn nhứt.

Mang tiền cỡi hạc đến Dương Châu,

Chiếp miệng còn than nỗi buổi đầu.

(Đạo Sử).

 

 

DƯƠNG CHI

楊 枝

Dương: Một thứ cây về loại liễu. Chi: Cành, nhánh.

Dương chi tức cành dương, một loại cây có cành cứng và thẳng dựng lên; còn liễu là cành mềm rũ xuống. Tuy hai cây khác nhau, nhưng người ta thường gọi chung là “Dương liễu”.

Trong phép của Phật thường dùng dương chi (Cành dương) nhúng vào nước Ma ha để rảy vào người bệnh hoặc tẩy trừ oan khiên nghiệt chướng.

Xem: Giọt nước dương chi.

Nam thành Chánh giáo cứu sanh linh,

Hải đức dương chi cải thế tình.

(Quan Âm Giáng Cơ).

 

 

DƯƠNG DANH

揚 名

Dương: Nêu, đưa cao lên. Danh: Tiếng tăm.

Dương danh là nêu danh, tức làm cho tiếng tăm được vẻ vang, rạng rỡ.

Sách Mạnh Tử có câu: Lập thân hành đạo, dương danh ư hậu thế, dĩ hiển phụ mẫu hiếu chi chung giả 立 身 行 道, 揚 名 於 後 世, 以 顯 父 母, 孝 之 終 也, tức là lập thân hành đạo, làm nên tiếng tăm tốt đẹp để làm vinh hiển cho cha mẹ là hiếu tột bực vậy.

Dương danh chẳng phải tại trường quan,

Nước Ðạo là danh hưởng lạc nhàn.

(Đạo Sử).

 

 

DƯƠNG GIAN

陽 間

Dương: Cõi Dương, tức là cõi của người sống ở. Gian: Khoảng giữa.

Dương gian, như chữ “Thế gian”, là chỉ cõi Dương, tức cõi của người sống đang ở.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Bần Đạo thường hay nói cái khuôn luật Tạo Đoan thiên nhiên kia vẫn có một, dầu cho nó hữu tướng hay huyền vi, chỉ có một tình trạng với nhau mà thôi, vì lẽ thiên hạ đã để câu Âm Phủ Dương Gian mà từ trước tới giờ làm cho kẻ tìm Đạo rất thắc mắc không thấu đáo được ý nghĩa của hai lẽ ấy.

Dương gian ngỗ nghịch lăng loàn,

Liều mình tự vận không màng thảo ngay.

(Kinh Sám Hối).

Đếm ba vạn sáu ngàn ngày,

Cõi Dương gian với cõi Tuyền đài gần nhau.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

DƯƠNG HƯƠNG

楊 香

Dương Hương là một người trong hai mươi bốn người con hiếu thảo.

Dương Hương sinh vào đời nhà Tấn, mới 14 tuổi, cha đi đâu cũng đi theo hầu. Có một hôm, hai cha con cùng đi thăm ruộng đường xa, giữa đường gặp con hổ nhảy xông đến định vồ cha, ông tay không, quyết vào đánh nhau với hổ, hổ phải bỏ chạy, cha con đều được vô sự.

Dương Hương hiếu tuổi còn mười bốn,

Theo hầu cha thăm chốn ruộng sằn.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

Dương Hương dám đánh ngay cọp dữ,

Vì hiếu tâm quyết tử cứu cha.

(Báo Ân Từ).

 

 

DƯƠNG PHÁP

陽 法

Dương: Chỉ cõi Dương gian. Pháp: Pháp luật.

Dương pháp là luật pháp ở cõi thế gian, trái với Âm pháp là luật pháp thiêng liêng do quỷ thần xử phạt.

Người phạm pháp đều bị hình luật xử phạt, nếu ở thế gian thì bị phép vua luật nước, còn ở Âm phủ thì bị quỷ thần phạt răn.

Trong sách Minh Tâm Bửu Giám có câu: Âm vi quỷ thần sở hại, dương vi dương pháp sở tru 陰 為 鬼 神 所 害, 陽 為 陽 法 所 誅, nghĩa là ở âm phủ thì quỷ thần hại, ở dương gian thì luật pháp hành hình.

Ăn gian xớt bớt cho mình,

Dầu qua dương pháp, luật hình Diêm vương.

(Kinh Sám Hối).

 

 

DƯƠNG QUANG

陽 光

Dương: Một trong hai chất khí nguyên thuỷ do thái cực phân ra, trái với Âm. Quang: Ánh sáng.

Dương quang là khí chất nguyên thuỷ do Thái Cực biến hoá sanh ra, mang tính Dương, chứa nhiều năng lực sanh hoá do Đức Chí Tôn chưởng quản.

Phật Mẫu đến cầm quyền lập Ðạo xong, rồi giao lại cho Chí Tôn. Phật Mẫu làm chủ Âm quang, Chí Tôn là chủ Dương quang.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

DƯƠNG TỤNG TỪ ÂN

揚 頌 慈 恩

Dương tụng: Ca ngợi, xưng tụng. Từ ân: Ơn lành.

Dương tụng từ ân là ca tụng ơn lành của Đức Thái Thượng Lão quân.

Trong bài Kinh Tiên Giáo có câu: “Đại thiên Thế giới, dương tụng từ ân” là trong cõi Đại thiên Thế giới nơi nào cũng đều xưng tụng ơn lành của Đức Thái Thượng Lão Quân.

Thực vậy, Ngài là vị Xiển Giáo Thiên Tôn đã nhiều kiếp giáng trần dạy bày chúng sanh biết cách “chế phách luyện hồn”, “Chiết khảm điền ly”, để âm dương tương hiệp mà được phản bổn huờn nguyên hầu trở về với Tiên thiên cựu vị, trong cõi Đại thiên Thế giới nơi nào cũng đều xưng tụng ơn lành của Ngài.

Đại thiên Thế giới, dương tụng từ ân,

Vĩnh kiếp quần sanh, ngưỡng kỳ huệ đức.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

DƯƠNG THẾ

陽 世

Dương: Cõi Dương, tức là cõi của người sống ở. Thế: Thế gian, chỉ cõi đời.

Dương thế là cõi của người sống, tức chỉ cõi trần gian hay cõi thế gian mà nhơn loại đang sống.

Điếu văn của Đức Thượng Sanh đọc trước Liên đài Bảo Văn Pháp