TỪ NGỮ ĐIỂN CỐ CAO ĐÀI

 

 

Danh mục vần Đ

 

ĐA

Đa

Đa cảm

Đa đoan

Đa La Tam Diệu Tam Bồ Đề

Đa mang

Đa sầu

Đa số

Đa sự

Đa tình

Đa thi huệ trạch

Đa truân

 

ĐÁ

Đá

Đá bia danh tạc

Đá tạc danh bia

Đá động

Đá gật

Đá nát vàng phai

Đá vàng

 

ĐÀ

Đà

 

ĐÃ

Đã

Đã đành

 

ĐAI

Đai

Đai cân

Đai cơm bầu nước

Đai mão

Đai Tử Lộ

 

ĐÀI

Đài

Đài các

Đài chiếu giám

Đài gương

Đài liên

Đài Linh Tiêu

Đài mây

Đài Nghiệt Cảnh

Đài sen

Đài tiền sùng bái

Đài Thuyết Đạo

Đài vân

 

ĐÃI

Đãi

Đãi đằng

Đãi lịnh

 

ĐẠI

Đại

Đại bi

Đại công

Đại chiến

Đại đàn

Đại Đạo

Đại Đạo hoằng khai

Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ

Đại Điện

Đại độ

Đại đồng

Đại Đồng Xã

Đại giác

Đại hạnh

Đại hoá

Đại hội

Đại khai ân xá

Đại khái

Đại La Thiên Đế

Đại luỵ

Đại mộc

Đại Nguyện

Đại nhơn đại hiếu

Đại Phu

Đại phú do thiên

Đại phục

Đại tạo đại bi

Đại tịnh

Đại Từ Phụ

Đại tường

Đại Thánh đại nguyện

Đại Thánh đại từ

Đại Thiên phong

Đại Thiên Tôn

Đại thiên Thế giới

Đại thừa

Đại trượng phu

Đại xá

 

ĐÁY

Đáy

Đáy biển lòng người

 

ĐÀY

Đày

Đày đoạ

 

ĐAM

Đam mê

 

ĐÁM

Đám

Đám trăng hoa

 

ĐÀM

Đàm

Đàm đạo

Đàm luận

 

ĐẢM

Đảm bảo

Đảm đang

Đảm đương

Đảm nhiệm

 

ĐẠM

Đạm

Đạm bạc

Đạm thanh

 

ĐAN

Đan thanh

 

ĐÀN

Đàn

Đàn áp

Đàn bà

Đàn bảy bài

Đàn cơ

Đàn lệ

Đàn na

Đàn nội

Đàn ong xóm bướm

Đàn tiền

Đàn tràng

Đàn Văn Đạo Đức

 

ĐẠN

Đạn

 

ĐÁNG

Đáng

Đáng giá

Đáng kiếp

Đáng khen

Đáng mặt

 

ĐÀNG

Đàng

Đàng điếm

Đàng sá

 

ĐẢNG

Đảng

Đảng phái

 

ĐÁNH

Đánh

Đánh bài

Đánh bóng

Đánh đập

Đánh đòn

Đánh đổ

Đánh ghen

Đánh liều

 

ĐÀNH

Đành

Đành đoạn

Đành lòng

 

ĐẢNH

Đảnh

Đảnh bồng

Đảnh giáp

Đảnh hạc

Đảnh hồ

Đảnh Kỳ

Đảnh lễ

Đảnh nghiệp

Đảnh Tần

Đảnh Tỵ

Đảnh tộ

Đảnh Thần

Đảnh Việt

 

ĐAO

Đao

Đao binh

Đao kiếm

 

ĐÁO

Đáo

Đáo đầu

Đáo để

Đáo nhậm

Đáo tuế

 

ĐÀO

Đào

Đào công

Đào Châu

Đào độn

Đào hoa

Đào yêu

Đào lý

Đào luyện

Đào nguyên

Đào tạo

Đào Tiềm

Đào tiên

Đào thải

Đào thơ

Đào thơ liễu yếu

Đào viên

 

ĐẢO

Đảo

Đảo cáo

Đảo điên

Đảo huyền

Đảo ngược

 

ĐẠO

Đạo

Đạo bần thảnh thơi

Đạo bế

Đạo cả

Đạo cao nhất khí

Đạo cao vô cực

Đạo cốt Tiên phong

Đạo Chích

Đạo chồng vợ

Đạo dâu

Đạo đời tương đắc

Đạo đức

Đạo Đức Học Đường

Đạo Đức kinh

Đạo Đức Văn Đàn

Đạo giáo

Đạo hạnh

Đạo hằng

Đạo Hồi

Đạo huyền

Đạo huyền vi

Đạo huyền linh

Đạo Huỳnh

Đạo hư vô

Đạo hữu

Đạo y

Đạo kỳ

Đạo kinh hạo kiếp

Đạo khai tà khởi

Đạo là mẹ đẻ muôn loài

Đạo lịnh

Đạo lý

Đạo luật

Đạo luật Mậu Dần

Đạo mầu

Đạo muội

Đạo năm ba

Đạo Nghị Định

Đạo nghĩa

Đạo nhơn

Đạo nhơn luân

Đạo Nho

Đạo pháp

Đạo pháp bao la

Đạo pháp trường lưu

Đạo pháp vô biên

Đạo phụ cơ

Đạo phu thê như đũa nên đôi

Đạo phục

Đạo Quân

Đạo quân thần

Đạo quân vương

Đạo quyền

Đạo sĩ

Đạo sử

Đạo Tam Kỳ

Đạo tặc

Đạo tâm

Đạo tề my

Đạo Tỳ

Đạo tòng

Đạo Tam tùng

Đạo tương tuỳ

Đạo Thánh

Đạo Thiền

Đạo thờ thân

Đạo tràng

Đạo triều

Đạo trọng

Đạo Trời

Đạo trượng

Đạo vị

Đạo vợ chồng

Đạo xuất ư Đông

 

ĐÁP

Đáp

Đáp đền

Đáp tạ

 

ĐẠP

Đạp

Đạp đổ

Đạp thanh

 

ĐÁT

Đát Kỷ

 

ĐẠT

Đạt đạo

Đạt vị

 

ĐAU

Đau

Đau đớn

Đau khổ

Đau lòng

Đau ốm

Đau thảm

Đau thương

 

ĐẮC

Đắc

Đắc cử

Đắc duyên

Đắc dụng

Đắc đạo

Đắc kỳ sở nguyện

Đắc lịnh

Đắc nhân tâm

Đắc pháp

Đắc quả

Đắc sách

Đắc táng

Đắc thành

Đắc thắng

Đắc thất

Đắc thế

Đắc thời

Đắc truyền

Đắc vận

Đắc vị

 

ĐẶC

Đặc biệt

 

ĐẮM

Đắm

Đắm chìm

Đắm say

 

ĐẰM

Đằm thắm

 

ĐẮN

Đắn đo

 

ĐĂNG

Đăng

Đăng chúc

Đăng đẳng

Đăng điện

Đăng khoa

Đăng quang

Đăng sơn

Đăng Tiên

Đăng Thần nhập Thánh

Đăng trình

 

ĐẮNG

Đắng

Đắng cay

Đắng ngọt

 

ĐẰNG

Đằng

Đằng các

Đằng cát

Đằng giao khởi phụng

Đằng vân

Đằng vương

Đằng vương các

 

ĐẲNG

Đẳng

Đẳng cấp

 

ĐẶNG

Đặng

Đặng bữa cày buông bữa giỗ

Đặng chim quên ná

Đặng làm người

Đặng Nho

Đặng thất

 

ĐẮP

Đắp

Đắp bồi

Đắp cạn thành sầu

Đắp đổi

Đắp luỹ

Đắp luỹ xây đồn

Đắp vun

Đắp xây

 

ĐẮT

Đắt

 

ĐẶT

Đặt

 

ĐẤY

Đấy

 

ĐẦY

Đầy

Đầy dẫy

Đầy đủ

Đầy vơi

 

ĐẨY

Đẩy

Đẩy đưa

Đẩy xô

 

ĐẬY

Đậy

Đậy điệm

 

ĐÂM

Đâm

Đâm chồi

Đâm ra

 

ĐẦM

Đầm ấm

Đầm đìa

 

ĐẪM

Đẫm

 

ĐẬM

Đậm

Đậm nét

Đậm đà

 

ĐẦN

Đần độn

 

ĐẤNG

Đấng

Đấng Cao Đài

Đấng cầm cân

Đấng cầm quyền gieo Đạo cả

Đấng Chơn linh

Đấng Chí Thiêng

Đấng Tạo Đoan

Đấng trọn lành

 

ĐẬP

Đập

Đập nát cung đàn

 

ĐẤT

Đất

Đất bằng sóng dậy

Đất biến hình tự thử quy căn

Đất chiếu trời màn

Đất chở Trời che

Đất điền

Đất khách

Đất lành chim đậu

Đất tổ

Đất tổ quê cha

Đất Thánh

 

ĐÂU

Đâu

Đâu đâu

Đâu Suất

 

ĐẤU

Đấu

Đấu tranh

 

ĐẦU

Đầu

Đầu ấp tay gối

Đầu bạc

Đầu cơ

Đầu độc

Đầu đường

Đầu Hương

Đầu kiếp

Đầu Phận

Đầu Phật xuất gia

Đầu phòng

Đầu sanh

Đầu Sư

Đầu Sư Đường

Đầu Sư Em

Đầu sương

Đầu Tộc

Đầu thai

Đầu xanh

 

ĐẨU

Đẩu tinh

Đẩu Tốt

Đẩu vân

 

ĐẬU

Đậu

Đậu Yên Sơn

 

ĐE

Đe doạ

 

ĐÈ

Đè

Đè ép

Đè nén

 

ĐẺ

Đẻ

 

ĐEM

Đem

Đem lòng

 

ĐEN

Đen bạc

Đen tối

 

ĐÈN

Đèn

Đèn huệ

Đèn sách

Đèn Thái Cực

Đèn thất tinh

Đèn Thiêng liêng

 

ĐEO

Đeo

Đeo đai

Đeo đẳng

Đeo đuổi

Đeo mang

Đeo phiền

Đeo sầu

Đeo thảm chác phiền

Đeo thảm chác sầu

 

ĐÈO

Đèo

Đèo bòng

 

ĐẸP

Đẹp

Đẹp đẽ

Đẹp mặt

Đẹp trai

Đẹp xinh

 

ĐÊ

Đê

Đê đầu

Đê hèn

Đê tiện

 

ĐẾ

Đế khuyết

Đế Nghiêu

Đế Nghiêu truyền hiền

Đế quốc

Đế Thiên Đế Thích

Đế vương

 

ĐỀ

Đề

Đề bạt

Đề lao

Đề mục

Đề nghị

Đề Oanh

Đề phòng

Đề tài

Đề thi lá

Đề xướng

 

ĐỂ

Để

Để bụng

Để dành

Để ý

 

ĐỆ

Đệ

Đệ huynh bất mục

Đệ tử

 

ĐÊM

Đêm

Đêm chầy canh vắng

Đêm quạnh

 

ĐẾM

Đếm

Đếm xỉa

 

ĐẾN

Đến

 

ĐỀN

Đền

Đền báo

Đền bồi

Đền bù

Đền chùa

Đền đáp

Đền Linh

Đền Phật Mẫu

Đền rồng

Đền Thánh

Đền vàng

 

ĐỀU

Đều

 

ĐỂU

Đểu giả

 

ĐI

Đi

Đi đứng

 

ĐÌA

Đìa

 

ĐỊA

Địa ách

Địa bàn

Địa cầu

Ðịa cầu 68

Địa cửu thiên trường

Địa chi

Địa dư

Địa đàng

Địa đầu

Địa giái

Địa giới

Địa hoàn

Địa hoàn bảy lẻ

Địa kỳ

Địa linh

Địa Linh Động

Địa linh nhơn kiệt

Địa lợi

Địa ngục

Địa phận

Địa phủ

Địa Tạng Vương Bồ Tát

Địa vị

 

ĐÍCH

Đích mẫu

Đích xác

 

ĐỊCH

Địch Nhân Kiệt

 

ĐIẾC

Điếc

 

ĐIẾM

Điếm

Điếm đàng

Điếm nhục

 

ĐIỀM

Điềm

Điềm đạm

Điềm lành

Điềm nhiên

Điềm nhiên toạ thị

Điềm tĩnh

 

ĐIỂM

Điểm

Điểm Linh quang

Điểm quang minh

Điểm tô

Điểm trang

Điểm xuyết

 

ĐIÊN

Điên

Điên bái

Điên cuồng

Điên đảo

 

ĐIỀN

Điền

Điền canh

Điền viên

 

ĐIỂN

Điển

Điển mẫu

Điển quang

 

ĐIỆN

Điện

Điện Bà

Điện lễ

Điện ngọc

Điện nhạn

Điện Tiên hoa

Điện tiền

Điện Thánh

Điện vàng

 

ĐIỆP

Điệp điệp

Điệp lạc quy căn

 

ĐIÊU

Điêu đứng

Điêu linh

Điêu tàn

 

ĐIẾU

Điếu

Điếu tế

Điếu văn

 

ĐIỀU

Điều

Điều binh khiển tướng

Điều đình

Điều độ

Điều hành

Điều hoà

Điều kiện

Điều khiển

Điều lệ

Điều trong lẽ đục

 

ĐIỆU

Điệu

Điệu bộ

Điệu nghệ

 

ĐINH

Đinh

Đinh Lan

Đinh ninh

Đinh sắt

 

ĐÌNH

Đình

Đình án

Đình đãi

Đình thần

 

ĐỈNH

Đỉnh

Đỉnh chung

Đỉnh giáp

Đỉnh trầm hương

 

ĐỊNH

Định

Định án

Định bá đồ vương

Định đoạt

Định giá

Định hồn

Định kiếp căn

Định kỳ

Định liệu

Định luật

Định mạng

Định phẩm

Định phân

Định phần

Định phận

Định phương

Định quốc

Định quyết

Định số

Định tâm

Định tâm thần

Định tánh

Định tỉnh

Định thần

Định thần định tánh

Định vị

 

ĐÌU

Đìu hiu

 

ĐO

Đo

Đo gian đong thiếu

 

ĐÓ

Đó

 

ĐÒ

Đò

Đò đưa khách

 

ĐỎ

Đỏ

 

ĐOÁ

Đoá

Đoá ngọc

 

ĐOẠ

Đoạ

Đoạ căn

Đoạ đày

Đoạ lạc

Đoạ sa

Đoạ tam đồ

Đoạ tam đồ bất năng thoát tục

Đoạ Tam pháp

Đoạ thăng

Đoạ trầm

Đoạ trần

 

ĐOÁI

Đoái

Đoái hoài

Đoái tình

Đoái tưởng

Đoái thương

 

ĐOAN

Đoan

Đoan chánh

Đoan dương

Đoan ngọ

Đoan nghiêm

Đoan thệ

Đoan trang

 

ĐOÁN

Đoán

Đoán xét

 

ĐOÀN

Đoàn

Đoàn kết

Đoàn năm lũ bảy

Đoàn tụ

Đoàn thể

Đoàn viên

 

ĐOẠN

Đoạn

Đoạn căn

Đoạn đành

Đoạn lìa

Đoạn ly

Đoạn phân

Đoạn tình

Đoạn tình yểm dục

Đoạn tuyệt

Đoạn tràng

Đoạn Trần Kiều

Đoạn trừ

Đoạn trường

 

ĐOẠT

Đoạt

Đoạt binh

Đoạt căn

Đoạt cơ thoát tục

Đoạt cơ thoát khổ

Đoạt đạo

Đoạt điệu Đường Phi

Đoạt quyền vĩnh sanh

Đoạt thâu

Đoạt thủ

Đoạt vị

Đoạt vị tranh ngôi

 

ĐỌC

Đọc

 

ĐÓI

Đói

Đói khát

Đói khó

Đói rách

 

ĐÒI

Đòi

Đòi cơn

Đòi đoạn

Đòi lúc

Đòi ngàn

Đòi phen

 

ĐỌI

Đọi

 

ĐON

Đon

Đon đàng

Đon đường

 

ĐÓN

Đón

Đón đưa

 

ĐÒN

Đòn

Đòn bọng

Đòn cân

Đòn roi

 

ĐONG

Đong

 

ĐÓNG

Đóng

 

ĐỎNG

Đỏng đảnh

 

ĐÔ

Đô hộ

Đô hội

 

ĐỐ

Đố

Đố kỵ

 

ĐỒ

Đồ

Đồ đệ

Đồ lưu

Đồ lưu hải ngoại

Đồ mưu

Đồ nghiệp

Đồ sộ

Đồ tô

Đồ thán

Đồ thân

Đồ thơ

Đồ vương

 

ĐỔ

Đổ

Đổ bác

Đổ lệ

Đổ luỵ

Đổ máu

Đổ nát

Đổ nước nghiêng thành

Đổ tội

Đổ thừa

Đổ trút

Đổ vỡ

 

ĐỖ

Đỗ

Đỗ Phủ

Đỗ quyên

 

ĐỘ

Độ

Độ căn

Độ chúng

Độ dẫn

Độ đời

Độ hồn

Độ lượng

Độ lường

Độ phàm

Độ rỗi

Độ sanh

Độ tận

Độ tử

Độ tha

Độ thăng

Độ thế

Độ trì

Độ vong

 

ĐỐC

Đốc

Đốc phủ sứ

Đốc thúc

Đốc thân chi hiếu

 

ĐỘC

Độc

Độc ác

Độc chẩm

Độc chiếm

Độc địa

Độc lập

Độc mã đơn đao

Độc quyền

Độc thiện kỳ thân

 

ĐÔI

Đôi

Đôi chút

Đôi khi

Đôi lứa

 

ĐỐI

Đối

Đối ẩm

Đối đãi

Đối đầu

Đối lập

Đối phó

 

ĐỒI

Đồi

 

ĐỔI

Đổi

Đổi dạ

Đổi dời

Đổi thay

Đổi xây

 

ĐỖI

Đỗi

 

ĐỘI

Đội

Đội ân

Đội lốt

Đội mang lông sừng

Đội nguyệt mang sao

Đội trời đạp đất

 

ĐỐM

Đốm

 

ĐÔN

Đôn

Đôn đốc

 

ĐỐN

Đốn

 

ĐỒN

Đồn

Đồn đãi

 

ĐỘN

Độn

Độn nhập

 

ĐÔNG

Đông

Đông Á

Đông chí

Đông chí nhất dương sanh

Đông du quá hải

Đông đảo

Đông đủ

Đông hải

Đông hiên tây hiên

Đông ken

Đông lang tây lang

Đông lân

Đông Nhạc Đế Quân

Đông phong

Đông Phương Sóc

Đông quân

Đông sàng

Đông thiên

 

ĐỐNG

Đống xương Vô Định

 

ĐỒNG

Đồng

Đồng bào

Đồng cam cộng khổ

Đồng cân

Đồng cốt

Đồng chí

Đồng chủng

Đồng đạo

Đồng hồ

Đồng hội đồng thuyền

Đồng khí tương cầu

Đồng lạc

Đồng loại

Đồng mạch

Đồng môn

Đồng huyết mạch

Đồng Nhi

Đồng sanh đồng tịch

Đồng song

Đồng tâm

Đồng tâm hiệp chí

Đồng tiền

Đồng tịch đồng sàng

Đồng tông

Ðồng tử

Đồng Tước

Đồng thanh

Đồng thanh tương ứng

Đồng thinh

Đồng thinh tương ứng

Đồng thời

Đồng vị

 

ĐỔNG

Đổng Hồ

Đổng Vân

Đổng Vĩnh

 

ĐỘNG

Động

Động Bích

Động đào

Động đất

Động Đình hồ

Động Linh Sơn

Động lòng

Động lòng trắc ẩn

Động phòng

Động tâm

Động tình

Động tịnh

Động Thánh

Động Thánh non Tiên

Động Thiên Thai bảy Lão đón đường

Động trời

 

ĐỐT

Đốt

Đốt áo cừu

Đốt than

 

ĐỘT

Đột ngột

 

ĐỠ

Đỡ

Đỡ đầu

Đỡ nâng

Đỡ nâng yếu thế

 

ĐỢ

Đợ

 

ĐỜI

Đời

Đời bần khổ thân

Đời như trận giặc đua tranh

Đời tệ

 

ĐỢI

Đợi

 

ĐƠM

Đơm

 

ĐỞM

Đởm đương

 

ĐƠN

Đơn

Đơn cô

Đơn chiếc

Đơn điền

Đơn đình

Đơn giản

Đơn sai

Đơn sơ

Đơn tâm

Đơn trạng

 

ĐỚN

Đớn đau

 

ĐỜN

Đờn

Đờn bà

Đờn ông

Đờn tòng nhạc suối

Đờn Tư Mã

 

ĐU

Đu đưa

 

ĐỦ

Đủ

Đủ đầy

 

ĐUA

Đua

Đua bơi

Đua chen

Đua tranh

 

ĐÙA

Đùa

 

ĐŨA

Đũa

 

ĐÚC

Đúc

Đúc hình

 

ĐỤC

Đục

 

ĐUI

Đui

Đui mù

 

ĐŨI

Đũi

 

ĐÙM

Đùm

Đùm bọc

 

ĐÚNG

Đúng

Đúng đắn

 

ĐÙNG

Đùng đùng

 

ĐỤNG

Đụng

Đụng chạm

 

ĐUỐC

Đuốc hoa

Đuốc huệ

Đuốc tuệ hoa đàm

Đuốc Phật

 

ĐUỔI

Đuổi

Đuổi quỷ trừ ma

Đuổi tà trục tinh

 

ĐÚT

Đút

Đút cơm

Đút lòn

 

ĐỪ

Đừ

 

ĐƯA

Đưa

Đưa bông sen

Đưa đẩy

Đưa đón

Đưa linh

Đưa rước

Đưa thoi

 

ĐỨA

Đứa

 

ĐỨC

Đức

Đức bạc

Đức bốn

Đức cao ân nặng

Đức độ

Đức hạnh

Đức háo sanh

Đức hoá

Đức hoán hư linh

Đức Khổng thấy lân

Đức lập quyền

Đức phục nhơn tâm

Đức tánh

Đức tin

Đức tồn hậu lai

Đức thắng tài

Đức trạch

 

ĐỰC

Đực

 

ĐỨNG

Đứng

Đứng đợt

Đứng thất đầu xà

Đứng trên đầu rắn

 

ĐỪNG

Đừng

Đừng toan kế tà

 

ĐƯỢC

Được thua

 

ĐƯỢM

Đượm

Đượm nhuần

 

ĐƯƠNG

Đương

Đương cự

Đương quyền

Đương sanh

Đương thời

 

ĐƯỜNG

Đường

Đường chẳng lượm của rơi

Đường chánh

Đường danh nẻo lợi

Đường Đạo

Đường đạo đức

Đường đột

Đường đời

Đường hạnh

Đường hoa

Đường hoạn

Đường lấp

Đường lối

Đường mây

Đường mật

Đường Minh Hoàng

Đường ngay

Đường Ngu

Đương Nghiêu

Đường nhơn

Đường Phi

Đường sanh tử

Đường tên mũi đạn

Đường Tiên

Đường Tiên nẻo Phật

Đường tơ

Đường tu

Đường Thánh

Đường Thánh đức

Đường thi

Đường thị

Đường Thượng Phẩm

Đường trào

 

ĐỨT

Đứt

Đứt dây

 

 

 

 

 

 

 

 

Đ

 

ĐA

Đa là nhiều. Như: Đa cảm, đa dâm, đa số, đa tình.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Người thanh bần như vậy thì vui sướng hơn kẻ giàu mà sâu mọt, lường công tham của, thâu đa nạp thiểu, hoặc lợi dụng quyền thế để rút rỉa dân nghèo khép chặt cửa công, mở rộng cửa tư để dục vọng được thoả mãn.

Vì chưng tựu thiểu thành đa,

Hoạ tai báo ứng chẳng qua mảy hào.

(Kinh Sám Hối).

Thầy phân chánh lý cho con hiểu,

Kẻ vụ thâu đa chẳng thoát phàm.

(Đạo Sử).

 

 

ĐA CẢM

多 感

Đa: Nhiều. Cảm: Cảm xúc.

Đa cảm là nhiều cảm xúc.

Viết về Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh, Đức Hộ Pháp có câu: Ôi! Biết bao nhiêu khổ não, truân chuyên thương em, mà điều chẵng qua liễu Đạo của chị cái chết của chị trong đầu óc em biết sao mà nói, tưởng tượng quả quyết rằng vì chị bị cường quyền khảo quá thế, một người đa tình đa cảm như chị chúng đã khảo dượt với một phương pháp ấy không thế nào sống đặng.

Cái đa sầu đa cảm của Bần Đạo hồi 17 tuổi nếu không may phải giết Bà Mẹ một cách gián tiếp.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

ĐA ĐOAN

多 端

Đa: Nhiều. Đoan: Mối.

Đa đoan là nhiều mối lôi thôi, tức nhiều việc, nhiều chuyện rắc rối.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Thật không có chơn linh nào dưới thế gian nầy không muốn tu. Có kẻ đổ thừa tại đời sống đa đoan, nào vợ, nào con, nào của cải, nào tiền bạc, nào ruộng nương, đổ thừa thôi đủ thứ, cả đến chức tước quyền hành.

Vì thương đời mà khổ hạnh đa đoan,

Bởi mến đạo tân toan lắm nỗi.

(Thơ Hộ Pháp).

Nhưng hiềm nỗi vận thời ngăn trở,

Trong gia đình cảnh ngộ đa đoan.

(Thơ NĐS Hương Thanh).

 

 

ĐA LA TAM DIỆU TAM BỒ ĐỀ

Đa La Tam Diệu Tam Bồ Đề, hay còn gọi là “Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề 多 羅 三 藐 三 菩 提” do Phạn ngữ Samyak Sambodhi.

Đa La dịch là Thượng, Tam Miệu dịch là Chánh Đẳng, Tam Bồ Đề dịch là Chánh Giác.

Đa La Tam Diệu Tam Bồ Đề, hay A Nậu Đa La Tam Diệu Tam Bồ Đề, đó là Quả vị tối cao của Đức Phật: Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác hay sự giác ngộ chân chánh hoàn toàn viên mãn.

Vô Thượng là viên mãn cả ba điều giác ngộ (Tự giác, giác tha giác hạnh viên mãn), đầy đủ vạn đức, không còn có điều gì cao siêu hơn được. Xét về phương diện tự chứng, thì trí tuệ đã viên mãn vô thượng, về phương diện lợi tha thì công đức cũng viên mãn vô thượng.

Chánh Đẳng: Đẳng là bình đẳng. Khi đã được giác ngộ rồi, chẳng hề tiếc nuối mảy may, vận dụng trí huệ chân chánh, bình đẳng tận lực làm lợi cho người khác.

Chánh Giác: Là sự giác ngộ đúng đắn, hoàn toàn.

Phật là người có được chân tâm viên mãn, đã giác ngộ toàn triệt về nhân sinh và vũ trụ, đã đạt đến Vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Đắc lộ Đa La Tam Diệu Tam Bồ Đề thị chi chứng quả Cực Lạc Niết Bàn.

(Di Lạc Chơn Kinh).

 

 

ĐA MANG

多 忙

Đa: Nhiều. Mang: Bối rối.

Đa mang có nghĩa là nhiều việc đưa đến thêm nhiều bối rối, hay tự vướng vào khiến phải lo lắng bận lòng.

Như: Đa mang rượu chè, cờ bạc, trong lòng anh ấy nhiều nỗi đa mang.

Trót đã đa mang cái nợ đời,

Gánh đời nặng lắm khách đời ơi!

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 

ĐA SẦU

多 愁

Đa: Nhiều. Sầu: Phiền muộn.

Đa sầu là hay sầu muộn.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Đã 64 năm Bần Đạo chẳng hề buổi nào hưởng đặng hạnh phúc vui vẻ, vì tánh đa sầu đa cảm nên chỉ biết nhiều sầu nhiều tư lự, hơn vui hứng, bởi quả số cho nên tấm thân phải chịu đau khổ.

Mình đa sầu đừng ghẹo thêm sầu,

Thà cà rỡn vinh râu chơi khoái chí.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐA SỐ

多 數

Đa: Nhiều. Số: Lượng nhiều hay ít.

Đa số là số nhiều, phần lớn, số đông trong một tập hợp, thường là tập hợp người.

Thánh giáo Đức Hộ Pháp tại Giáo Tông Đường, ngày 9 tháng 7 năm Bính Ngọ (Dl. 24-8-1966) có câu: Một điều đáng chú trọng là Chức sắc phần đa số hay câu chấp và tự ái về những việc nhỏ mà bỏ việc lớn. Nếu phải vừa lòng theo tánh phàm thì làm sao thể Thiên hành Đạo đặng?

Đa số nó không bằng lòng cái gì thì mình từ từ, rán cố gắng mà tránh.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

ĐA SỰ

多 事

Đa: Nhiều. Sự: Việc.

Đa sự là nhiều việc.

Thánh giáo Đức Hộ Pháp trong Thánh Ngôn Sưu Tập có đoạn dạy: Bảo Đạo cố tâm giúp Khai Đạo trong trọng trách nầy nghe! Mặc dầu hiền hữu có đa sự nơi chánh phủ và Ban Thế Đạo, cứ cầu nguyện, có Bần đạo trợ giúp thành công. Bần đạo ban phép lành cho toàn thể.

Trường đời ngán ngẩm vòng đa sự,

Cửa Đạo nguôi ngoai nỗi bất bình.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

ĐA TÌNH

多 情

Đa: Nhiều. Tình: Chỉ sự yêu thương.

Đa tình là nhiều tình cảm, hoặc nói về người ham thích vấn đề yêu thương nam nữ.

Nói về Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh, Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Ôi! Biết bao nhiêu khổ não, truân chuyên thương em, mà điều chẵng qua liễu Đạo của chị cái chết của chị trong đầu óc em biết sao mà nói, tưởng tượng quả quyết rằng vì chị bị cường quyền khảo quá thế, một người đa tình đa cảm như chị chúng đã khảo dượt với một phương pháp ấy không thế nào sống đặng.

Tay lịch sự tự nhiên chê sự,

Lòng đa tình vẫn cứ vị tình.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Chòm mây vô ý lờ cung nguyệt,

Giọt nước đa tình đượm sắc hoa.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

ĐA THI HUỆ TRẠCH

多 施 慧 澤

Đa thi: Nhiều lần thi hành, nhiều lần ban cho. Huệ trạch: Hai từ đều có nghĩa là ân trạch, ơn huệ.

Đa thi huệ trạch là nhiều lần ban ơn huệ, ý chỉ Đức Nhiên Đăng Cổ Phật ban ân huệ cho chúng sanh không biết bao nhiêu mà kể đếm.

Vào thời nhứt kỳ phổ độ, đời Hiên Viên Huỳnh Đế Trung Hoa, Đức Nhiên Đăng Cổ Phật được sinh ra từ ngôi Hư Vô Thiên, tá thế hoá độ chúng sanh thời kỳ ấy đắc Đạo. Ngài là vị Chưởng Giáo Phật Đạo.

Pháp của Phật hư vô, tịch tịnh, thâm trầm, uyên áo, cho nên Phật thi ân huệ cho chúng sanh tỷ như mưa nhuần nắng gội, và Đức Phật tế độ chúng sanh bị trầm luân nơi biển khổ nhiều không biết bao nhiêu mà kể đếm cho xiết.

Đa thi huệ trạch,

Vô lượng độ nhơn.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

ĐA TRUÂN

多 迍

Đa: Nhiều. Truân: Vất vả khổ sở.

Đa truân là nhiều nỗi truyên chuyên, tức nhiều nỗi gian nan, vất vả.

Như: Hồng nhan đa truân.

Hồng quần tài sắc đa truân,

Vào vòng bạc phận, chi mong trọn quyền.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ĐÁ

1.- Đá là một chất rắn trong vỏ trái đất, thường từng khối, từng hòn, dùng để lát đường, xây nhà.

Như: Đá mài dao, rắn như đá, đường rải đá, tường xây bằng đá tảng.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Thầy nói một lần từ đây nhớ lấy: Dầu cho sắt đá cỏ cây, mà nghe đến Thánh Ngôn nơi Thầy do con nói ra cũng hoan nghinh, huống lựa là người.

Chia gương căn dặn buổi trường đình,

Vàng đá trăm năm tạc tấm tình.

(Bát Nương Giáng Bút).

Nghe trẻ khóc như chì dần dạ,

Thấy con đau như đá đập đầu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Đá là dùng chân hất mạnh lên, hoặc chỉ một số vật lấy chân chọi nhau.

Như: Hai con gà đá nhau, chơi trò đá bò, bắt dế đá nhau, châu chấu đá xe.

Chị vừa vá manh quần tấm áo,

Ra đá bò đánh đáo rách te.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐÁ BIA DANH TẠC

Đá bia: Khắc chữ vào đá để ghi lại việc người đời cần ghi nhớ. Danh tạc: Khắc ghi tên.

Đá bia danh tạc là khắc tên họ vào bia đá để ghi công nghiệp, ý chỉ lưu chép vào Sử xanh hầu bia tiếng thơm muôn đời.

Ðá bia danh tạc chẳng bền chi,

Cái khó tua lo kịp với thì.

(Đạo Sử).

 

 

ĐÁ TẠC DANH BIA

Đá tạc: Khắc tên vào tấm đá. Danh bia: Nêu danh.

Đá tạc danh bia, cũng như “Đá bia danh tạc”, là khắc tên họ vào bia đá để ghi công nghiệp, ý chỉ lưu chép vào Sử xanh hầu bia tiếng thơm muôn đời.

Chẳng phải cần đá tạc danh bia,

Tên tuổi trẻ nước kia còn khép mặt.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

 

 

ĐÁ ĐỘNG

Đá: Nghĩa bóng dựa vào, dính vào. Động: Dính tới, đụng chạm đến.

Đá động là nhắc nhở đến, đụng chạm đến người hoặc một sự việc nào đó.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Là Đền Thờ của Đức Mẹ để tượng trưng hình ảnh vô tận vô biên của hai Đấng ấy, Qua không dám đá động tới. Nếu ngày nào con cái của mấy em nghèo đói khổ não quá, Qua dám lấy từ miếng gạch, miếng gói của Đạo đem bán đặng nuôi con cái của mấy em.

Gia tài định rồi đừng đá động,

Cho con riêng làm lụng lập thân.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐÁ GẬT

Đá: Chất rắn trong vỏ trái đất, thường từng khối, từng hòn. Gật: Cúi đầu tỏ ý ưng thuận.

Đá gật tức là “Đá gật đầu”.

Do tích người đệ tử của sư La Thập ngồi giảng kinh Niết Bàn ở núi Hổ Khưu, rồi hỏi mấy hòn đá được xếp xung quanh, xem lời giảng có hợp với ý Phật không, thì thấy mấy hòn đá gật đầu.

Tỏ đặng nỗi mừng chia hạnh phúc,

Đá kia cũng gật để nên lời.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

ĐÁ NÁT VÀNG PHAI

Đá nát: Viên đá bị vở nát. Vàng phai: Vàng bị phai nhạt màu.

Đá vàng thường dùng để chỉ một lòng một dạ để giữ lời hẹn ước bền chặt.

Đá nát vàng phai ý nói lòng dạ thay đổi, không giữ lời ước hẹn của buổi ban đầu nữa.

Kim rời cải rụng lòng ngao ngán,

Đá nát vàng phai dạ ngậm ngùi.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

ĐÁ VÀNG

Đá: Chất rắn trong vỏ trái đất, thường từng khối, từng hòn. Vàng: Một thứ kim loại quý.

Đá vàng, do chữ “Kim thạch 金 石”, là đá và vàng.

Đá vàng là hai loại vật chất cứng, chắc nên trong văn chương người ta dùng để ví với lòng trinh tiết của người đàn bà bền chặt, không bao giờ thay đổi.

Đường thi có câu: Duy hữu đồng tâm nhân, khả đương kim thạch luận 維 有 同 心 人, 可 當 金 石 論, nghĩa là duy chỉ có một người một lòng mới có thể bàn đến chuyện đá vàng.

Nợ trần đã phủi lòng son sắt,

Ngôi vị nay vinh nghĩa đá vàng.

(Đạo Sử).

Son phấn đem thân đền nợ nước,

Đá vàng ra lẽ phụ lòng tơ.

(Thơ Thuần Đức).

Mây lành xuất hiện đẹp phong quang,

Trường thế hơn thua rõ đá vàng.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

ĐÀ

Đà cũng như chữ “Đã” được dùng trong thơ văn cho hợp với vần điệu.

Thánh giáo Thầy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Chiều thu nguyệt xế, non nhạn ngày thâu, lẩn thẩn ngày tháng qua mau, buổi xuân ngoảnh lại đà xa lắc.

Cô phần ngảnh lại đà bao tuổi,

Sô diện xem qua khỏi mấy dòng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tập trẻ đặng rộng lòng tha thứ,

Thì trẻ đà lánh dữ gần hiền.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐÃ

1.- Đã là tiếng thường đi với động từ và đứng trước nó để chỉ việc đã qua, đã xong, trái với chưa. Như: Việc đã xong rồi, đã hiểu từ trước, đã hết bệnh.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Nhơn loại đã thâm nhiễm vào tình luyến ái tà mị trên mười ngàn năm, thì thế nào cổi Thánh đức trong một lúc chẳng tới một năm cho trọn lành đặng.

Có công phải biết gắng nên công,

Tu tánh đã xong tới luyện lòng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nhuần gội ơn Trời âm chất vẹn,

Mau chơn ngày tháng đã qua đông.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Noi chân theo dõi Thánh Hiền xưa,

Từng tuổi đời qua cũng đã vừa.

(Đạo Sử).

2.- Đã còn có nghĩa là hết cảm giác khó chịu, do nhu cầu sinh lý hoặc tâm lý nào đó đã được thoả mãn đến mức đầy đủ. Như: Gãi đã ngứa, ăn đã thèm.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Chức vị sang trọng của mình sống như cọp vậy, bắt được thịt ăn cho đã rồi nằm ỳ ra đó ngủ mà chúng cũng kiêng cũng sợ, nhưng chúng chưa biết thương, sống như cá Ông không ai thấy, mà chiếc ghe nào chìm thì cá Ông cũng đỡ.

Dầu vật ngon ăn quá cũng đã thèm,

Chừng nhớ mắm mình đem bán mắc.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐÃ ĐÀNH

Đã đành có nghĩa là phải như thế rồi.

Đã đành là từ biểu thị một điều được coi là dĩ nhiên, nhằm bổ sung một điều khác quan trọng hơn.

Thánh giáo Thầy có dạy: Vậy Thầy lại thấy một bọn môn đồ, khi đến nói đạo với kẻ nào thì thẹn thuồng ái ngại. Phải nghịch chánh lý chăng? Phải, thiếu tư cách đã đành. Mình vì chữ thiện mà dạy người thì giá trị mình đã cao thượng rồi, mà còn thẹn nỗi gì?

Niềm thủ túc đã đành vĩnh biệt,

Càng nhớ nhau càng tiếc tình nồng.

(Kinh Thế Đạo).

Phất trần đưa sẵn bền tay níu,

Cửa tịnh đã đành phận náu nương.

(Đạo Sử).

Mang câu thất hiếu đã đành,

Bao nhiêu công quả biển gành rã tan.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

ĐAI

1.- Đai là vành đeo ngang lưng phía ngoài áo chầu vua. Như: Áo mũ cân đai.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Xưa kia, một ông Quan học thành tài dự chiếm khoa trường và được vinh quy bái tổ, thì bổn phận trước nhất là khăn áo chỉnh tề mang lễ vật đến viếng Ông Thầy dạy cũ để tỏ sự kính mến biết ơn, vì nhờ thầy mở trí lúc ban sơ mà ngày nay mình mới được đai vàng thẻ bạc.

Nương chơn chưa biết chơn nào vững,

Níu thử cân đai thấy nặng trì.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Đai là đeo, mang, mắc hay buộc vào thân thể người hay vật gì.

Như: Đai giỏ. người Thượng đai con đi làm, đeo đai có nghĩa là vướng víu, mắc míu.

Trăm năm lẩn quẩn đường nhơn nghĩa,

Một kiếp đeo đai mối nợ tình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Biết người biết mặt lòng đâu biết,

Ðừng cứ đeo đai nỗi sắc tài.

(Đạo Sử).

 

 

ĐAI CÂN

Đai: Cái vành đeo ngang lưng phía ngoài áo chầu vua. Cân: Cái mạng đan bằng sợi cước hay bằng tóc, bịt ngang trán, để đội mũ.

Đai cân là cái đai và cái mũ, phẩm phục của các quan, các tướng thời xưa, chỉ quan lại.

Thánh giáo Thầy có đoạn dạy: Lần lựa cúc xủ sương tan, mai gầy sen nở, ngày tháng qua chẳng là bao mà thế thái nhơn tình biết bao thay đổi! Kìa đai cân nhuộm nước màu thiền, nọ danh lợi xủ lằn trí huệ!

Xem: Cân đai.

Ðai cân mảng luyến chưa nên phận,

Danh lợi ham giành khó vẹn ngôi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trọng thì lấy đai cân làm lịnh,

Khinh thì lo trừ nghịch làm duyên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Dạy trọn thờ hai chữ quân thần,

Rán nên mặt đai cân cùng thế sự.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐAI CƠM BẦU NƯỚC

Đai cơm bầu nước, bởi chữ “Đan tự biều ẩm 簞 食 瓢 飲”, tức là giỏ cơm bầu nước.

Nhan Uyên học trò giỏi của Đức Khổng Tử là người chỉ thích sống cuộc đời giản dị, không sợ khổ cực. Một giỏ cơm, một bầu nước hằng ngày cũng đủ làm cho Nhan Hồi vui lòng rồi.

Ông đã được Đức Khổng Tử khen: Hiền tai! Hồi dã, nhất đan tự, nhất biều ẩm, tại lậu hạng, nhân bất kham kỳ ưu, Hồi dã bất cải kỳ lạc. Hiền tai! Hồi dã 賢 哉! 回 也. 一 簞 食, 一 瓢 飲, 在 漏 巷, 人 不 堪 其 憂, 回 也 不 改 其 樂. 賢 哉! 回 也, nghĩa là hiền thay Nhan Hồi! Một giỏ cơm, một bầu nước, ở nơi ngõ hẹp, người ta không chịu nổi cảnh nghèo hèn mà lo buồn, còn Nhan Hồi không thay đổi điều vui của mình. Hiền thay, Nhan Hồi!

Nghĩa bóng: Chỉ cảnh nghèo của Nhan Uyên.

Trong Giác Mê Khải Ngộ có viết: Sao bằng bực Nhan Uyên đai cơm bầu nước, ở thong thả nơi chốn chòi tranh, Miền lậu hạng, nẻo lợi danh, sánh như sóng đập gành khua lã chã.

Xem: Bầu Nhan.

Nghêu ngao trong cảnh Trời Thu,

Ðai cơm bầu nước vân du ta bà.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

ĐAI MÃO

Đai: Vòng đeo ngang lưng trong bộ áo của các quan ngày xưa. Mão: Mũ của quan đội.

Đai mão là dây đai và cái mão của quan, dùng để chỉ quan chức.

Trong tôn giáo Đai mão dùng để chỉ phẩm phục, hay chức tước của các vị chức sắc.

Ðai mão chưa quen đường hoạn lộ,

Công linh rèn dạ lắm công phu.

(Đạo Sử).

 

 

ĐAI TỬ LỘ

Đai: Vật dùng để đeo, mang. Tử Lộ: Học trò của Đức Khổng Tử.

Đai Tử Lộ tức là đai gạo mà Tử Lộ thường đội đi, ý nói cảnh người hiền tài gặp lúc chưa đạt.

Do tích Tử Lộ tên là Trọng Do, học trò của Đức Khổng Tử, nhà nghèo phải đội gạo thuê hàng trăm dặm để lấy tiền nuôi mẹ.

Xem: Tử Lộ.

Vui quảy bầu Nhan đai Tử Lộ,

Gió trăng quen thú, cảnh non Bồng.

(Thơ Cao Quỳnh Cư).

 

 

ĐÀI

1.- Đài là đế, bộ phận ở phía ngoài cùng của hoa, gần cuống để đỡ cho cánh hoa.

Như: Đài hoa, đài sen.

Bởi mến cảnh đôi cành đài liễu,

Bởi ưa hoa bận bịu đài hoa.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Đài là công trình xây dựng trên một nền cao.

Như: Kỳ đài, lầu đài, thiên văn đài, vân đài, võ đài, dựng đài kỷ niệm.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Thuở trước cổ nhơn muốn cầu chư Tiên, Phật phải cất một cái đài thật cao bằng tranh lá gọi là Thảo Ðài.

đài chờ trả rồi oan trái,

Xủ áo phồn hoa lại cảnh Thiên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Giờ lâu mới thấy dạng lầu đài,

Phép tắc “Ông Già” gẫm thiệt hay.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

ĐÀI CÁC

臺 閣

Đài: Lâu đài, công trình xây dựng trên một nền cao. Các: Cái Gác.

Đài các là cái phủ và cái gác, chỉ nơi làm việc của quan. Đài các còn dùng để chỉ kẻ cao sang, quyền quý.

Lời Tựa Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Cuối Hạ nguơn nầy, nhơn loại phần nhiều dụng hết tinh thần xu hướng vào lối văn minh vật chất, món ăn sẵn đủ sơn trân hải vị, nhà ở lại nguy nga đài các...

Công hầu trước cửa còn trông mặt,

Đài các đường xưa để tấc gan.

(Bát Nương Giáng Bút).

Trong đài các thấy đầy xương chất,

Ngoài áo mão xem máu dẫy đầy.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Cửa ngục thất cũng bì đài các,

Hổ nhục hay gội mát anh hùng.

(Xuân Hương Giáng Bút).

 

 

ĐÀI CHIẾU GIÁM

Đài chiếu giám hay “Chiếu giám đài 照 鑑 臺”, là cái đài có đặt một tấm gương để soi rọi tội phước. Tấm gương đó gọi là Minh cảnh, nghĩa là gương sáng, dùng để soi rọi các Chơn hồn khi thác xuống thấy đặng những hành vi thiện ác trong kiếp sống nơi cõi thế gian. Đài này còn gọi là Minh cảnh đài 明 鏡 臺.

Trong Thiêng Liêng Hằng Sống, Đức Hộ Pháp nói về Minh Cảnh Đài như sau: “Trước mặt chúng ta, chúng ta thấy khi trước chúng ta làm những việc gì, nay nó sẽ chiếu lại cho xem chẳng khác gì mình xem tuồng hát bóng vậy. Mỗi khi mình hành động gì trong kiếp sanh khi xưa, hôm nay đều ngó thấy trước mặt, và cây cân công bình ấy tuỳ theo nên hư, tội phước mà hiện tượng ra hết thảy, quyết đoán một cách công bình, không sai chút nào hết. Phải chăng đó là huyền bí của Toà Thiêng Liêng ấy”.

Xem: Minh cảnh đài.

Đài Chiếu giám cảnh minh nhẹ bước,

Xem rõ ràng tội phước căn sinh.

(Kinh Tận Độ).

 

 

ĐÀI GƯƠNG

Đài: Giá thời xưa dùng để đặt gương soi hoặc cắm nến, thường có hình giống đài hoa. Gương: Kính soi mặt.

Đài gương. như chữ “Kính đài 鏡 臺”, là nơi treo gương để người con gái trang điểm, cũng đồng nghĩa với đài trang.

Đài gương, chỉ nơi người đàn bà ở. Nghĩa rộng dùng để tôn hạng phụ nữ giàu sang.

Làu làu một tấm tợ đài gương,

Trung, hiếu, tiết, trinh vẹn mọi đường.

(Giới Tâm Kinh).

 

 

ĐÀI LIÊN

Đài: Ở đây dùng như chữ “Toà”. Liên: Sen.

Đài liên tức “Liên đài 蓮 臺”, là Toà sen, nơi ngự của chư Bồ Tát và chư Phật. Vì vậy, Đài liên là chỉ quả vị của người tu hành khi chứng đắc.

Ngoài ra, Đài liên còn là một cái quan tài hình bát giác, đặt trên Toà sen, dành cho các chức sắc cao cấp đối phẩm hàng Tiên vị của đạo Cao Đài.

Xem: Liên đài.

Anh tuấn đất gìn nung khí phách,

Uy linh Trời giữ tạc đài liên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Đài liên rạng rỡ sen năm cánh,

Cửa khuyết vầy vui bạn một trường.

(Thơ Vạn Năng).

 

 

ĐÀI LINH TIÊU

Đài: Công trình xây dựng trên một nền cao. Linh Tiêu 靈 霄: Một cái Điện ở Ngọc Hư Cung.

Đài Linh Tiêu là một cái đài cao nơi Linh Tiêu Điện ở Ngọc Hư Cung, chỗ Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế ngự để chủ toạ Đại hội quần Tiên.

Kể từ hỗn độn sơ khai,

Chí Tôn hạ chỉ trước đài Linh Tiêu.

(Tán Tụng Công Đức).

 

 

ĐÀI MÂY

Đài: Công trình xây dựng trên một nền cao. Mây: Hơi nước bốc lên trời đọng lại thành đám.

Đài mây, bởi chữ “Vân đài 雲 臺”, là tên toà nhà cao do vua Hán Minh Đế cho xây dựng để treo hình truy niệm hai mươi tám công thần nhà Hán.

Đài mây trong tôn giáo dùng để chỉ nơi đạt phẩm vị cao trọng trên cõi thiêng liêng.

Xem: Vân đài.

Hết buổi truân chuyên nên buổi sướng,

Ðài mây có lúc cũng đưa chân.

(Đạo Sử).

Tạo nên sự nghiệp thế ai màng,

Chưa đến đài mây đã đặng sang.

(Đạo Sử).

Quen chiều non nước hết xuân xanh,

Tên tuổi đài mây đã sẵn dành.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

ĐÀI NGHIỆT CẢNH

Đài: Công trình xây dựng trên một nền cao. Nghiệt: Mầm ác, nghiệp ác. Cảnh: Còn đọc là Kính, tấm gương để soi.

Đài Nghiệt Cảnh hay “Nghiệt Cảnh đài 孽 鏡 臺” còn gọi là “Minh Cảnh đài 明 鏡 臺” (đài Chiếu Giám) đặt trong cõi thiêng liêng để hiện ra những hành vi tội lỗi của mỗi chơn hồn khi đứng trước đài ấy.

Xem: Đài Chiếu Giám.

Ðài Nghiệt Cảnh rọi chẳng biết bao nhiêu tội tình, mà chốn tội tình lắm người đưa chân tìm đến.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

ĐÀI SEN

Đài: Công trình xây dựng trên một nền cao. Sen: Bông sen.

Đài sen, như chữ “Đài liên” có hai nghĩa:

Đài sen là cái giá đèn dùng để cắm nến, cái đài nầy làm thành hình bông sen.

Trong Truyện Kiều có câu: Vội mừng làm lễ rước vào, Đài sen nối sáp song đào thêm hương.

Đài sen, còn gọi là toà sen, nơi Đức Phật ngự. Trong kinh sách Cao Đài cũng có câu:

Đài sen vui nhánh trổ thêm hoa,

Một Đạo như con ở một nhà.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Treo đai ngọc đền vàng Long Hội,

Ớ con hiền bước vội đài sen.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Hiu hiu nhẹ gót phong trần,

Đài sen mấy lượt gió thần đưa hương.

(Bài Thài Ngũ Nương).

 

 

ĐÀI TIỀN SÙNG BÁI

臺 前 崇 拜

Đài tiền: Trước ngôi Cao Đài, chỉ Đức Chí Tôn. Sùng bái: Kính phục và tôn thờ.

Đài tiền sùng bái là sùng kính và tôn thờ Đấng Chí Tôn đạo Cao Đài.

Hai câu liễn ngoài các cổng Toà Thánh hay Thánh Thất địa phương của đạo Cao Đài đều có viết:

Cao thượng Chí Tôn Đại Đạo hoà bình dân chủ mục, Đài tiền sùng bái Tam Kỳ cộng hưởng tự do quyền 高 上 至 尊 大 道 和 平 民 主 目, 臺 前 崇 拜 三 期 共 享 自 由 權”, nghĩa là Đấng Chí Tôn ở trên cao hơn hết, mở ra một nền Đại Đạo, nhắm tới hoà bình và dân chủ; Sùng bái trước Đấng Cao Đài thời Tam Kỳ Phổ Độ, nhơn sanh cùng chung hưởng quyền tự do.

Cao thượng Chí Tôn quyền chủ toạ,

Đài tiền sùng bái giữ nâu sồng.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

ĐÀI THUYẾT ĐẠO

Đài: Công trình xây dựng trên một nền cao. Thuyết Đạo: Thuyết giảng giáo lý.

Đài Thuyết Đạo hay “Giảng Đài 講 臺”, là một cái đài được xây ngang hai bên cửa hông của Đền Thánh thuộc Toà Thánh Tây Ninh, dựa và uốn theo cột rồng xanh, đường đi lên có nấc thang xoắn ốc. Hai bên gồm hai đài, một đài xây bên nam và một đài xây bên nữ.

Giảng Đài được xây trên hình đầu rồng há miệng, phun ra sáu tia hào quang, đỡ Giảng đài, do điển vua Phò Dư là một ông vua hung bạo, tàn ác, lại ố Đạo Nho, bắt giam Đức Khổng Tử, nên bị Thượng Đế phạt cả nước hạn hán, và thọ bịnh chướng trong ba năm để đền tội ác.

Đức Văn Xương Đế Quân được lịnh của Ngọc Đế cỡi trên sáu tia trong miệng con rồng xanh bay khắp nước để cảnh tỉnh vua Phò Dư.

Xem: Phò Dư.

Đài Thuyết đạo hai bên đối diện,

Dưới rồng xanh hả miệng phun ra.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

ĐÀI VÂN

Đài: Công trình xây dựng trên nền cao. Vân: Mây.

Đài vân, bởi chữ “Vân đài 雲 臺” là đài mây, một cái đài cất cao tận mây.

Đài vân hay Vân đài do vua nhà Hán Minh Đế xây dựng rất cao, làm nơi thờ ảnh của hai mươi tám vị công thần để ghi nhớ công đức.

Đối với Tôn giáo, Đài vân hay Vân đài dùng để chỉ nơi đạt phẩm vị cao trọng trên cõi thiêng liêng.

Xem: Vân đài.

Đài vân Quan Võ để phong Thần,

Còn của Thầy đây để nhắc cân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Phước gặp Tam Kỳ Trời cứu độ,

Gắng tu kịp buổi lướt Đài vân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Lời lẽ tuy Thầy chưa để dặn,

Nhưng tên tuổi trẻ ở Ðài vân.

(Đạo Sử).

 

 

ĐÃI

1.- Đãi là cho ăn uống, tiền hay đồ dùng để tỏ tình cảm tốt. Như: Làm cơm đãi khách, đãi anh ấy tiền xe đi.

Nói về Đức Quan Thánh Đế Quân, Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Kể từ ngày ấy, Tào Tháo thết đãi Ðức Ngài rất trọng hậu, ba ngày thì đãi tiệc nhỏ, năm ngày thì đãi tiệc lớn lại ban cho gấm nhiễu vàng bạc vô số kể. Ngoài ra còn lựa những mỹ nữ tuyệt sắc đưa đến để hầu hạ Ðức Ngài.

Lái thì lác, lời xưa chẳng sái,

Đem văn chương thết đãi không ưa.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Đãi là đối xử với ai. Như: Đối đãi, biết đãi người hiền đức, đãi người công bằng với nhau.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Cái đời sống của ta hiện giờ giàu sang hay nghèo hèn, liền lạc hay tật nguyền, xinh đẹp hay xấu xa, được yêu vì hay bị ngược đãi, an vui hạnh phúc hay lắm chịu thiên ma bách chiết, cũng đều do ta gây nhân ở tiền kiếp.

Con một nhà, đãi đồng một bực, đứa thua sút yếu thế, lại đỡ nâng dìu dắt nhiều hơn đứa thế trọng sức nhiều.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

3.- Đãi là chờ, đợi.

Như: Đãi mệnh, dừng quân đãi lệnh vua, quân tử đãi thời, dưỡng nhi đãi lão.

Mạc đãi lão lai phương học Ðạo,

Cô phần tận thị thiếu niên nhơn.

(Thích Ca Mâu Ni).

 

 

ĐÃI ĐẰNG

Đãi: Thết đãi, cư xử.

Đãi đằng chỉ việc tiếp đãi về việc ăn uống, hoặc chỉ việc cư xử với mọi người.

Tân Luật Điều thứ mười sáu định rằng: Trong việc tống chung, không nên dùng đồ âm công có màu sắc loè loẹt, chỉ dùng toàn đồ trắng, không nên đãi đằng rần rộ mà mất sự nghiêm tịnh và mất dấu ai bi.

Gặp quan cũng đãi đằng tử tế,

Gặp dân thì thủ lễ kỉnh nhường.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐÃI LỊNH

Hay “Đãi lệnh”.

Đãi: Đợi, không dùng một mình. Lịnh (lệnh): Điều truyền bảo của người trên.

Đãi lịnh, như chữ “Đãi lệnh 待 令”, là đợi mệnh lệnh của cấp trên truyền dạy.

Như: Đãi lịnh thượng cấp để thi hành.

Dạ hậu thuyền thân đáo,

Đãi lịnh Đại ca.

(Tuồng Hát Chèo Thuyền).

 

 

ĐẠI

1.- Đại là làm ngay bất cứ việc gì, không kể nên hay không nên, chỉ cốt cho qua.

Như: Ăn đại vài chén cháo cho đỡ đói, nó nhảy đại vào trong sân, cứ làm đại đi tới đâu thì tới.

Bầy chó dữ mang xiềng chạy đại,

Thấy tội nhơn xúm lại phân thây.

(Kinh Sám Hối).

2.- Đại là to, lớn, trái với tiểu. Như: Đại dương, đại gia đình dân tộc, đại tài.

Thánh giáo Thầy có câu: Các con phải mở rộng tâm chí ra mà hành đạo mới nên cho, chớ đừng mờ hồ rằng, Ðạo thành thì mình được làm đặng một vị xứng đáng và đại ích trong Ðạo.

Chẳng khác chồi non xô đại mộc,

Như sa vực thẳm khó toan trèo.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trang quân tử thì là đại độ,

Thương vợ nhà dạy dỗ cũng như em.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Đại là đời.

Như: Lưu truyền vạn đại, ngũ đại mai thần chủ, Triều đại nhà Lê.

Thi ân, tế chúng thiên tai tận,

Nhược thiệt, nhược hư vạn đại an.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðời rạng lưu tồn gương nhựt nguyệt,

Ðạo thành vạn đại chiếu sơn hà.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

ĐẠI BI

大 悲

Đại: To, lớn. Bi: Thương xót.

1.- Đại bi là lòng thương to lớn, tức lòng đại từ đại bi của Đức Chí Tôn và chư Phật.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo của Đức Chí Tôn có câu: Nếu Thầy chẳng lấy đại từ đại bi mà lập nền Ðạo thì sổ của kẻ đặng vớt khỏi trầm luân và kẻ Chí Thánh đã bị Thầy bôi xoá hết.

Đại Thánh, Đại Nguyện,

Đại Tạo, Đại Bi.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

Ðại bi chẳng quản một phần riêng,

Thấp thỏi phàm tâm chác dạ phiền.

(Đạo Sử).

2.- Đại Bi còn là tên một bài chú của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, gọi là “Đại Bi Thần Chú”.

Như: Bài chú Đại Bi, kinh “Đại Bi Tâm Đà Ra Ni Xuất Tượng.

Còn làm hơi dính cứng sân si,

Méc bả tụng Đại Bi ít hiệp.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐẠI CÔNG

大 功

Đại: To, lớn. Công: Công nghiệp.

Đại công là công nghiệp to lớn. Như: Ngài có đại công xây dựng Toà Thánh.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Nếu Qua cho Toà Ðạo minh tra thì không có một người nào có thể đứng trước mặt Qua mà xưng là đại công được, cái đói khó cùng khổ của các em nó tố cáo mấy em không còn chối cải được.

Ðại công khá lập độ nhơn sanh,

Cải ác mà theo mối Ðạo lành.

(Đạo Sử).

Đốt hương tưởng niệm người tiền bối,

Xót dạ cảm hoài bậc đại công.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

ĐẠI CHIẾN

大 戰

Đại: To, lớn. Chiến: Đánh nhau.

Đại chiến là chiến tranh lớn, có quy mô thế giới, tức chiến tranh thế giới. Như: Thế giới đại chiến.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Đây qua trận giặc 1939-1945 muốn rạp, kế tới trận đại chiến thứ ba này nữa, tuy vẫn trước mặt thấy một trường thảm khổ vô luận, chúng ta đã thấy một kỳ đại chiến là nhơn loại đều phải trả quả kiếp, nếu biến tướng của quả kiếp để giảm bớt tội tình, thì oai linh của Đạo Cao Đài lại tấn triển thêm một bước nữa.

Liệt quốc sau cơn nguy đại chiến,

Hướng về Việt quốc lãnh niềm thương.

(Bát Nương Giáng Bút).

Kìa đại chiến đã gần rồi đó,

Khuyên chư hiền chịu khó tu hành.

(Nguyễn Trung Trực Giáng).

 

 

ĐẠI ĐÀN

大 壇

Đại: Lớn. Đàn: Đàn là nền đất đắp cao để cúng tế, ở đây chỉ sự cúng tế.

Đại đàn là nghi tiết cúng Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu tại Toà Thánh Tây Ninh hay Báo Ân Từ của đạo Cao Đài, đầy đủ và long trọng, trái lại nghi tiết cúng đơn giản, ngắn gọn hơn gọi là Tiểu đàn.

Nghìn xưa Phật thuyết Lễ Vu lan,

Toà Thánh trung nguơn cúng Đại đàn.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

ĐẠI ĐẠO

大 道

Đại Đạo tức nói tắt của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, là con đường lớn mà Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế đã vạch ra lần thứ ba để nhơn sanh noi theo, hầu cứu vớt tất cả nhơn loại.

Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ thường được gọi là Đạo Cao Đài, một Tôn giáo được khai sáng ở miền Nam nước Việt, có tôn chỉ Nho Tông Chuyển Thế, nghĩa là bảo toàn những tinh hoa của giáo lý Nho giáo, dùng khuyến dạy con người để trở nên thuần lương đạo đức.

Xem: Đại Đạo Tam Kỳ.

Nguyền Khổng Thánh bảo toàn Nho giáo,

Lấy nghĩa nhơn Đại Đạo truyền ra.

(Giới Tâm Kinh).

Vậy mới có Tam Kỳ Phổ Độ,

Đại Đạo khai cứu khổ khắp nơi.

(Thơ Bảo Pháp).

Kíp giải nàn tua mượn nước Nhành Dương,

Thì mới gặp chánh đường là Đại Đạo.

(Giác Mê Khải Ngộ).

 

 

ĐẠI ĐẠO HOẰNG KHAI

大 道 弘 開

Đại Đạo: Nền Đại Đạo tức đạo Cao Đài. Hoằng khai: Mở mang rộng khắp.

Đại Đạo hoằng khai là mở mang nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ được rộng khắp.

Nhứt nguyện: Đại Đạo hoằng khai.

Nhì nguyện: Phổ độ chúng sanh.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

Thùy tri Nam địa sanh phong nhựt,

Ðại Ðạo hoằng khai thế cuộc tuyên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

大 道 三 期 普 度

ĐẠI ĐẠO

Đại: Lớn. Đạo: Con đường, tôn giáo.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn đã định nghĩa chữ “Đạo” như sau: “Ðạo tức là con đường để cho Thánh, Tiên, Phật đọa trần do theo mà hồi cựu vị. Ðạo là đường của các nhơn phẩm do theo mà lánh khỏi luân hồi. Nếu chẳng phải do theo Ðạo thì các bậc ấy đều lạc bước mà mất hết ngôi phẩm”.

Như vậy, Đại Đạo là con đường lớn (tôn giáo lớn) do Đức Thượng Đế mở ra dẫn dắt nhơn sanh theo đó mà tu hành, hầu lánh khỏi luân hồi, và để được trở về với ngôi xưa vị cũ.

Tại sao gọi đạo Cao Đài là Đại Đạo?

1.- Thứ nhứt, đạo Cao Đài do Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế, là Đấng đã tạo hoá ra Càn khôn Vũ trụ, vạn vật, làm chủ chư Thần, Thánh, Tiên, Phật và là vua của Nhựt, Nguyệt, Tinh, Thần. Chính Ngài đứng ra giáng huyền cơ khai sáng và làm Giáo chủ nền Đạo trong thời Hạ nguơn mạt pháp để tận độ toàn chúng sanh thoát ly khổ hải.

2.- Thứ hai, chính vì những điểm khác nhau của Tam giáo và Ngũ chi nên khiến cho chúng sanh chấp ngã, chấp pháp mà có sự chống đối, chia rẽ, làm cho các Tôn giáo càng ngày càng xa rời chánh pháp.

Hiện nay, nhằm thời kỳ Hạ nguơn mạt Pháp, lại nữa nền văn minh vật chất đã kéo lôi con người càng ngày càng xa “Tự tánh”, nên Đức Chí Tôn, một lần nữa vì lòng Đại Từ Đại Bi, dùng cái oai quyền lớn lao của một vị Thiên Đế mà chính mình Ngài giáng cơ khai nền Đại Đạo, có tôn chỉ “Quy nguyên Tam Giáo, hiệp nhứt Ngũ chi.

3.- Thứ ba, Đạo Cao Đài khai sáng vào thời Tam Kỳ Phổ Độ, có nhiệm vụ tận độ chín mươi hai ức nguyên nhân còn đang nhiễm trần và phổ độ chúng sanh, không phải chỉ ở thời kỳ mạt pháp nầy, mà nó kéo dài cho đến thất ức niên, tức bảy trăm ngàn năm.

Bởi những lý do trên, nên đạo Cao Đài xứng đáng được gọi là nền Đại Đạo.

TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Tam kỳ: Thời kỳ thứ ba. Phổ độ: Cứu giúp chúng sanh khắp mọi nơi.

Tam kỳ Phổ độ là Đạo khai mở để cứu giúp toàn chúng sanh trong thời kỳ thứ ba.

Sở dĩ gọi Tam kỳ Phổ độ là vì trước đây đã có hai thời kỳ Phổ độ: Đó là Nhứt kỳ Phổ độ và Nhị kỳ Phổ độ.

1.- Nhứt kỳ Phổ độ: Các tôn giáo được mở ra vào thời Thượng cổ:

- Đức Nhiên Đăng Cổ Phật mở ra Phật giáo.

- Đức Thái Thượng Đạo Tổ mở ra Tiên giáo.

- Vua Phục Hy mở ra Nho giáo.

- Đức Moise mở ra Thánh giáo ở Do Thái.

2.- Nhị kỳ Phổ độ: Các tôn giáo mở ra vào thời Trung cổ:

- Đức Thích Ca Mâu Ni mở Phật giáo ở Ấn Độ.

- Đức Lão Tử mở ra Tiên giáo ở Trung Hoa.

- Đức Khổng Tử mở ra Nho giáo.

- Đức Jésus Christ mở ra Thánh giáo ở nước Do Thái.

- Đức Khương Thượng Tử Nha đứng ra cầm Phong Thần, nên mở ra Thần Đạo tại Trung Hoa.

3.- Tam kỳ Phổ độ ứng vào thời cuối Hạ nguơn Tam chuyển sắp bước qua Thượng nguơn Tứ chuyển, Đức Chí Tôn giáng cơ khai mở ra nền Đại Đạo, có tôn chỉ Quy nguyên Tam giáo, Hiệp nhứt Ngũ chi, thống hợp thành một tín ngưỡng duy nhứt để nhơn loại không còn bị chia rẽ vì nhiều hình thức tôn giáo hầu phổ độ toàn chúng sanh lần chót, trước khi Đại Hội Long Hoa, cứu giúp hết thảy chúng sanh, không để sót một ai.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, lần đầu tiên Thánh giáo Đức Thích Ca Mâu Ni giáng cơ ngày 26 tháng 2 năm Bính Dần (Dl. 8/4/1926) có dạy về từ “Tam Kỳ Phổ Độ” như sau:

Chuyển Phật Ðạo,

Chuyển Phật Pháp,

Chuyển Phật Tăng,

Quy nguyên Ðại Ðạo, Tri hồ chư chúng sanh?

Khánh hỷ! Khánh hỷ! Hội đắc TAM KỲ PHỔ ĐỘ, chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, đại hỷ phát đại tiếu! (Vui mừng thay! Vui mừng thay! Gặp được Tam Kỳ Phổ Độ, chư Thần, Thánh, Tiên, Phật rất vui mà phát cười lớn).

Ngã vô lự Tam đồ chi khổ.

Khả tùng giáo Ngọc Ðế viết Cao Ðài Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát.

Cao Đài: Lịch! Con nghe Phật Như Lai nói chưa?

TAM KỲ PHỔ ĐỘ là gì? Là Phổ Ðộ lần thứ ba.

Sao gọi là Phổ Ðộ? Phổ Ðộ nghĩa là gì?

Phổ là bày ra. Ðộ là gì? Là cứu chúng sanh.

Muốn trọn hai chữ Phổ Ðộ, phải làm thế nào?

Chúng sanh là gì?

Chúng sanh là toàn cả nhơn loại chớ không phải lựa chọn một phần người, như ý phàm tục các con tính rỗi.

Muốn trọn hai chữ Phổ Ðộ, phải làm thế nào? Thầy hỏi? Phải bày Bửu pháp chớ không đặng giấu nữa. Con phải luyện lại cho thành, nội trong tháng 5 nầy về theo Trung đặng đi truyền đạo.

Nghe và tuân theo.

Phải mặc y phục như Trung mà màu hồng.

Đàn cơ tại Trường Sanh Tự (Cần Giuộc), ngày 19 tháng 4 năm Bính Dần (30/5/1926), Thánh giáo Đức Chí Tôn có khẳng định cho biết: Ta nói cho chúng sanh biết rằng: Gặp Tam Kỳ Phổ Độ nầy mà không tu thì không còn trông mong siêu rỗi.

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, tức đạo Cao Đài, là một nền Đạo lớn được mở ra ngày 15 tháng 10 năm Bính Dần (1926), nhằm thời kỳ thứ ba, ứng với thời Hạ nguơn mạt pháp để tận độ chín mươi hai ức nguyên nhân và cứu giúp toàn thể chúng sanh thoát khỏi luân hồi mà trở về cõi Thiêng liêng Hằng sống.

Chúng ta biết, Đức Chí Tôn mở nền Đại Đạo ở Việt Nam, thuộc phương Đông, ban ân huệ lớn lao là Đại ân xá cho tất cả chúng sanh và các đẳng linh hồn. Vì thế, khi mới khai Đạo, Hội Thánh thường dịch câu “Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ” qua Pháp văn là “Troisième Amnistie de Dieu en Orient”, nghĩa là “Đại ân xá kỳ ba của Thượng Đế ở Phương Đông”.

Và chính trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy cho toàn cả chúng sanh như sau: “Thầy vì đức háo sanh, nên chẳng kể bậc Chí Tôn cầm quyền Thế giới, đến lập “Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ” trong lúc Hạ nguơn nầy mà vớt sanh linh khỏi vòng khổ hải”.

1.- Đại Đạo Tam Kỳ:

Rưới chan võ lộ nhuần nguơn hạ,

Đại Đạo Tam Kỳ thậm chí cao.

(Thơ Cao Liên Tử).

Thế tình còn lắm bậc sai lầm,

Đại Đạo Tam Kỳ rất diệu thâm.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

2.- Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ:

Giờ phút này, Đấng Thiêng Liêng đến cầm quyền Giáo Tông trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ mà cũng là Nhứt Trấn Oai Nghiêm nữa, Ngài đại diện cho Tiên Giáo đó.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

ĐẠI ĐIỆN

大 殿

Đại: Lớn. Điện: Cung điện nhà vua hay nơi thờ các Đấng Thiêng Liêng Thần, Thánh, Tiên, Phật.

Đại Điện là một ngôi Điện tại Toà Thánh hay tại các Thánh Thất địa phương dùng làm nơi đặt Thánh Tượng Thiên Nhãn để thờ Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu và các Đấng Thiêng Liêng.

Trong Pháp Chánh Truyền Chú Giải có câu: Còn lễ thì khi vào Đại Điện tỷ như Giáo Sư Nam phái gặp Phối Sư Nữ phái thì Nam phải đãnh lễ Nữ trước, lớn nhỏ vẫn đồng, quyền hành tuỳ Chức sắc.

Còn ai mới vô Đạo, nội ngày đem tên vào sổ, phải đứng giữa đại điện thề liền.

(Tân Luật).

 

 

ĐẠI ĐỘ

大 度

Đại: To, lớn. Độ: Độ lượng, tức là đức tính rộng lượng, dễ tha thứ với người sai lầm.

Đại độ, đồng nghĩa với chữ “Đại lượng 大 量”, là có độ lượng rộng rãi.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Thầy có câu: Phải xét nét làm cho mình đức cao hơn, lòng đại độ lớn hơn, hạnh trổi hơn, chí cao hơn, tâm tịnh nghĩ hơn, bước hoà hoãn hơn, đường cân phân chậm rãi hơn, dây thân ái bền chặt hơn, và nên biết rõ nguồn cội Đạo là cao trọng hơn danh giá cá nhân, thì hoạ may mới gặp đường ngay lối thẳng ở sau nầy, nghe.

Trang quân tử thì là đại độ,

Thương vợ nhà dạy dỗ cũng như em.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐẠI ĐỒNG

大 同

Đại: To, lớn. Đồng: Giống nhau, cũng như nhau.

Đại đồng là hết thảy đều như nhau.

Đây chỉ một xã hội lý tưởng của Nho giáo, trong đó nhơn loại đều là anh em, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, giai cấp. Mọi người đều sống bình đẳng, bác ái, chung nhau làm, chung nhau ăn, cuộc sống thanh bình, thánh đức.

Trong Kinh Lễ, thiên Lễ Vận chép rằng: Khổng Tử buồn bã, thở dài về việc Vua nước Lỗ cúng tế không đủ lễ, rồi nói với môn đệ là Tử Du rằng:

Đại đạo chi hành dã, dữ Tam đại chi anh, Khâu vị chi đãi dã nhi hữu chí yên.

Đại đạo hành dã, thiên hạ vi công, tuyển hiền dữ năng, giảng tín tu mục. Cố nhân bất độc thân kỳ thân, bất độc tử kỳ tử, sử lão hữu sở chung, tráng hữu sở dụng, ấu hữu sở trưởng, căng quả cô độc phế tật giả giai hữu sở dưỡng, nam hữu phận, nữ hữu quy. Hoá ố kỳ khí vu địa dã, bất tất tàng vu kỷ; lực ố kỳ bất xuất ư thân dã, bất tất vị kỷ. Thị cố mưu bế nhi bất hưng, đạo thiết loạn tặc nhi bất tác, cố ngoại hộ nhi bất bế. Thị vị Đại đồng.

大 道 之 行 也, 與 三 代 之 英, 丘 未 之 逮 也, 而 有 志 焉. 大 道 之 行 也, 天 下 為 公, 選 賢 與 能, 講 信 修 睦. 故 人 不 獨 親 其 親, 不 獨 子 其 子, 使 老 有 所 終, 壯 有 所 用, 幼 有 所 長, 矜 寡 孤 獨 廢 疾 者 皆 有 所 養, 男 有 分, 女 有 歸. 貨 惡 其 棄 于 地 也, 不 必 藏 于 己, 力 惡 其 不 出 於 身 也, 不 必 為 己. 是 故 謀 閉 而 不 興, 盜 竊 亂 賊 而 不 作, 故 外 戶 而 不 閉, 是 謂 大 同.

Nghĩa là thực hành đại đạo cùng với các bậc anh tuấn đời Tam đại thì Khâu này không làm được, nhưng vẫn có chí đó.

Ở thời Đại đạo thực hành thì thiên hạ là của chung, người ta chọn kẻ hiền năng, giảng điều tín thực, sửa điều hoà mục. cho nên người ta không riêng thân cha mẹ mình, không riêng yêu con mình, kẻ già được nuôi dưỡng trọn đời, trai tráng có chỗ dùng, trẻ con được săn sóc đến trưởng thành; người ta thương kẻ goá, con côi, người già cô độc; người tàn tật được chu cấp, con trai có phận, con gái có nơi chốn để nương cậy. Người ta ghét của bỏ phế trên đất mà lượm lên, chứ không chủ ý lo lợi riêng cho mình. Vì vậy những ngón cơ mưu không thi thố được, kẻ trộm cắp, người làm loạn, làm giặc không nổi lên, cho nên cửa ngõ không cần đóng. Đó là thời Đại đồng.

Linh quang chiếu diệu giữa trời đông,

Rõ mặt thiên tôn lập Đại đồng.

(Đức Lý Đại Tiên).

Muốn cho thiên hạ Đại đồng,

Lấy câu cứu khổ dụ lòng thương sanh.

(Kinh Thế Đạo).

Trọng mạng sanh gầy phép Đại đồng,

Kỉnh vật loại đặng mong cứu thế.

(Thơ Đức Hộ Pháp).

 

 

ĐẠI ĐỒNG XÃ

大 同 社

Hay “Đồng Xã”.

Đại Đồng Xã hay “Đồng Xã 同 社”, là tên gọi của một cái sân rộng, nằm trước Đền Thánh, giữa hai dãy Khán Đài và hai cụm Rừng Thiên Nhiên, dành làm nơi tổ chức các buổi lễ lớn của Đạo Cao Đài.

Giữa sân gạch Đại Đồng Xã trước Đền Thánh độ khoảng 30 thước có xây một cây cột phướn hình vuông rất cao, dùng để treo lá phướn dài 12 thước của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ trong những ngày lễ vía hay đàn lệ.

Phía ngoài cây cột phướn độ 10 thước có trồng một cây Bồ đề do Hội Phật Giáo Tích Lan lấy giống từ cây Bồ đề ở Ấn Độ, trao tặng cho Hội Thánh. Dưới cội Bồ đề có đặt tượng Đức Phật Thích Ca ngồi thiền, sau lưng có rắn bảy đầu đưa lên.

Ngoài nữa, có xây một cái đài hình bát giác gồm chín bậc sơn ba đạo: màu vàng xanh đỏ, gọi là Cửu Trùng Thiên.

Ngoài cùng, gần lộ Cao Thượng Phẩm, có đặt một bức tượng Thái Tử Sĩ Đạt Ta cởi trên lưng ngựa Kiền trắc cùng với người hầu là Xa Nặc vượt hoàng cung vào rừng để tu hành.

1.- Đại Đồng Xã:

Đại Đồng Xã dự qua cho biết,

Văn minh Điện đặc biệt dựng xây.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

Đại Đồng Xã cộ chưng hai dãy,

Vía Chí Tôn bày lại tích xưa.

(Thơ Thiên Vân).

2.- Đồng xã:

Sân Đồng Xã lần chân đòi phút,

Gốc Phướn linh sen đúc nên Toà.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

ĐẠI GIÁC

大 覺

Đại: Lớn. Giác: Biết, giác ngộ.

Đại giác là sự giác ngộ lớn, tức sự giác ngộ hoàn toàn, viên mãn của Đức Phật.

Bậc A La Hán (bậc Thánh) là người mới đạt được tự giác, nhưng chưa giác tha, còn bậc Bồ Tát thì vừa tự giác vừa giác tha, nhưng sự giác ngộ ấy chưa hoàn toàn. Chỉ có bậc Phật là người vừa tự giác vừa giác tha viên mãn, nên Đức Phật được gọi là bậc Đại giác.

Dầu cho bậc trí thức nhơn sanh đặng tấn hoá lên tới bậc Đại Giác đi nữa, cũng chưa hề có phương thế hé trọn vẹn màn bí mật ấy.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

ĐẠI HẠNH

大 幸

Đại: To, lớn. Hạnh: May mắn.

Đại hạnh là điều may mắn lớn. Như:

Những người sinh ra trong thời kỳ Đức Chí Tôn khai mở nền Đại Đạo là những kẻ đại phước, đại hạnh.

Ðại phước cho cả nhơn sanh, đại hạnh cho Ðịa cầu số 68 nầy...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

ĐẠI HOÁ

大 化

Đại: To, lớn. Hoá: Thay đổi, biến đổi.

Đại hoá là cuộc sinh hoá lớn, tức cuộc biến đổi rộng khắp Càn khôn Vũ trụ.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: “Khi chưa có chi trong Càn khôn Thế giới thì khí Hư vô sanh ra có một Thầy và ngôi của Thầy là Thái Cực.

Thầy phân Thái Cực ra Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi phân ra Tứ Tượng, Tứ Tượng biến Bát Quái, Bát Quái biến hoá vô cùng mới lập ra Càn khôn Thế giới.

Thầy lại phân tánh Thầy mà sanh ra vạn vật là: Vật chất, thảo mộc, côn trùng, thú cầm, gọi là chúng sanh.

Các con đủ hiểu rằng: Chi chi hữu sanh cũng do bởi Chơn linh Thầy mà ra. Hễ có sống ắt có Thầy. Thầy là cha của sự sống”.

Như vậy, Cuộc sinh hoá ra Càn khôn Vũ trụ và vạn vật gọi là “Đại hoá”.

Nhược thiệt nhược hư,

Bất ngôn nhi mặc tuyên đại hoá.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

ĐẠI HỘI

大 會

Đại: To, lớn. Hội: Họp, nhóm.

Đại hội là một hội nghị lớn để bàn việc quyết định những vấn đề quan trọng nhứt. Như: Đại hội Nhơn sinh.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Còn cả chư ái nữ, Thầy sẽ lập đại hội cho đủ mấy vị rồi sẽ phong sắc một lần.

Ngọc Hư đại hội ngự triều,

Thiều quang nhị bá Thiên Kiều để chơn.

(Kinh Tận Độ).

 

 

ĐẠI KHAI ÂN XÁ

大 開 恩 赦

Đại khai: Mở ra to lớn. Ân xá: Hay Đại ân xá, nghĩa là ban bố đại ân tha tội cho tất cả những người phạm tội lỗi nơi thế gian, không hạn định.

Đức Chí Tôn mở nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, tức Đạo Cao Đài ở phương Đông, ban ân huệ lớn lao là Đại ân xá cho tất cả chúng sanh và các đẳng linh hồn.

Vì thế, khi mới khai Đạo, Hội Thánh thường gọi Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là “Đại ân xá kỳ ba của Thượng Đế ở Phương Đông” và dịch ra pháp văn như sau: Troisième Amnistie de Dieu en Orient.

Kim vì Vận hội Thượng nguơn Ngọc Hư Cung Linh Tiêu Điện đại khai ân xá các Đẳng linh hồn.

(Sớ Văn).

 

 

ĐẠI KHÁI

大 概

Đại: To, lớn. Khái: Bao quát.

Đại khái là bao quát toàn thể, chỉ chú ý những cái chung chung, thiếu đi sâu vào những cái cụ thể.

Như: Anh ấy làm công việc ấy rất đại khái.

Chơn Cực Lão Sư trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Ðược, nhưng còn sơ sót, món nào liệu chẳng có ích thì nên chế giảm, trừ ra Nhạc phải giữ cho toàn, đi lễ cho có vẻ nghiêm nghị. Ấy là 2 món đại khái đó.

Bần Ðạo để đại khái đề mục cho toàn cả tiềm tàng thử coi nền Tôn giáo của chúng ta sẽ biến tướng ra thành Ðại Ðạo là chỗ nào?

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

ĐẠI LA THIÊN ĐẾ

大 羅 天 帝

Đại La: Là tấm lưới lớn, chỉ bầu Trời cõi Đại la.

Người xưa thường quan niệm rằng Trời như một tấm lưới tròn, rộng lớn phủ xuống thế gian, bao trùm cả nhựt, nguyệt, tinh; đất như một cái bàn vuông chở cả sơn xuyên và vạn vật.

Thiên Đế: Vua Trời. Vũ trụ mênh mông bát ngát, chỗ nào cũng thấy Trời xanh xanh bao bọc khắp mọi nơi, thế mà khi mưa khi nắng, lúc tối lúc sáng, hồi sấm chớp hồi giông bão, khiến người ta phải tin có vị Thiên Đế cai quản cả bách thần và vạn vật.

Đại La Thiên Đế là một vị vua Trời (Thiên Đế) cầm quyền rộng lớn mênh mông như một tấm lưới trời bao trùm cả các cõi thế giới (cõi Đại La). Đây cũng là Hồng danh của Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Theo Cao Đài, nơi thế gian nầy muốn có trật tự an ninh thì phải có một vị Hoàng đế hay một vị lãnh đạo để cầm quyền trị dân, còn Càn khôn Vũ trụ muốn được điều hoà an tịnh thì phải có vị Thiên Đế (Vua Trời) thống quản Thần, Thánh, Tiên, Phật và vạn linh.

Người ta thường gọi vị Thiên Đế nầy bằng nhiều danh hiệu: Thượng Đế, Ngọc Đế, Ngọc Hoàng Thượng Đế, hay Huyền Khung Thượng Đế. Và Cao Đài gọi là Chí Tôn, hay tá danh là Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát... là Đấng chí thánh, chí nhân, có lòng thương yêu sanh chúng.

Trong Kinh Thi có xưng tụng Đức Thượng Đế như sau: Hoàng hỹ Thượng Đế! Lâm hạ hữu hách, Giám quan tứ phương, Cầu dân chi mạc 皇 矣 上 帝, 臨 下 有 赫. 監 觀 四 方, 求 民 之 莫. Nghĩa là: Vĩ đại thay Thượng Đế! Soi xét xuống dưới rất rõ ràng, uy nghiêm. Ngài xem xét bốn phương, để tìm sự khốn khổ của dân mà cứu giúp.

Xem: Thái Cực Thánh Hoàng.

Đại La Thiên Đế,

Thái Cực Thánh Hoàng.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

ĐẠI LUỴ

大 累

Đại: To, lớn. Luỵ: Làm cho phải khốn khổ đau đớn.

Đại luỵ là làm cho nỗi đớn đau buồn rầu lớn.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Đức Chí Tôn có đoạn: Trung, con ôi! Thầy không biết còn lời gì mà nói với con nữa. Cái đại nạn của các em con tránh đà không khỏi rồi, thì cũng là tại con đó chút, chẳng biết gìn giữ lấy em nên ra đến đỗi. Đại luỵ!

Thầy cũng đại luỵ mà ngó xem một phần môn đệ xứng đáng của Thầy phải sa vào vực thẳm.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

ĐẠI MỘC

大 木

Đại: To, lớn. Mộc: Cây.

Đại mộc là cây to, cây cổ thụ.

Như: Trong rừng sâu có những đại mộc quý giá mà người ta chưa khai thác.

Chẳng khác chồi non xô đại mộc,

Như sa vực thẳm khó toan trèo.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

ĐẠI NGUYỆN

大 願

Đại Nguyện lời nguyện lớn lao.

Các Đấng Thiêng Liêng vì lòng Đại từ Đại bi thương xót chúng sanh bị trầm luân nơi khổ hải, nên vị Phật nào cũng có lập những điều nguyện lớn lao.

Kinh sách bên Phật giáo cho biết:

Đức A Di Đà Phật có phát ra 48 lời nguyện. Nếu có lời nguyện không đặng thành tựu, thì Ngài chẳng chịu thành Phật.

Đức Phổ Hiền Bồ Tát có 10 điều nguyện, gọi là Phổ Hiền thập nguyện. Mười điều nguyện ấy rộng như biển cả nên còn được gọi là “Phổ Hiền nguyện hải 普 賢 願 海”.

Đức Thích Ca Mâu Ni Văn Phật cũng có Tứ hoằng thệ nguyện 四 弘 誓 願, tức là bốn lời nguyện lớn lao:

a).- Chúng sanh vô biên, thệ nguyện độ.

b).- Phiền não vô tận, thệ nguyện đoạn.

c).- Pháp môn vô lượng, thệ nguyện học.

d).- Phật đạo vô thượng, thệ nguyện thành.

Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát chỉ có một lời nguyện lớn lao là độ cho hết các vong linh nơi cõi Diêm cung thì mới thành Phật: Địa ngục vị không thệ bất thành Phật 地 獄 未 空, 誓 不 成 佛.

Đức Quan Âm Bồ Tát có mười hai lời nguyện, gọi là thập nhị Đại nguyện. Ngài là vị Bồ Tát có lòng đại từ đại bi, thường hay cứu khổ cứu nạn, lúc nào Ngài cũng lắng nghe âm thanh ở thế gian, nơi nào, lúc nào có tiếng kêu đau khổ của chúng sanh thì Ngài đều đến cứu giúp hoá độ. Trong kinh Pháp Hoa có câu: Khổ não chúng sinh nhứt tâm xưng danh, Bồ Tát tức thì quan kỳ âm thanh, giai đắc giải thoát 苦 惱 眾 生 一 心 稱 名, 菩 薩 即 時 觀 其 音 聲, 皆 得 解 脫, nghĩa là húng sanh bị khổ não mà nhứt tâm niệm đến tên Bồ Tát, tức thì Ngài nghe âm thanh của chúng sanh mà độ cho được giải thoát.

Đến với thời Tam Kỳ Phổ Độ này, Đức Chí Tôn, Chúa tể Càn khôn Vũ trụ hạ mình xuống cõi thế gian lập đạo vào thời kỳ hạ nguơn mạt pháp nầy để cứu rỗi, độ tận toàn sanh linh thoát vòng luân hồi đọa lạc nơi khổ hải.

Kỳ nầy đích thân Thượng Đế trực tiếp dạy dỗ con người như một người Cha, một người Thầy, nên Ngài mới xưng hô là “Đại Từ Phụ”, hoặc “Thầy” và gọi chúng sanh bằng “Các con” rất dịu dàng, thân thiết.

Đức Chí Tôn mặc dù là Chúa tể Càn khôn vạn vật, nhưng Ngài không xưng danh lớn lao mà chỉ tá danh, tức là tạm mượn một vị Tiên ông hay một vị Bồ Tát qua danh xưng: “Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát” để lập một nền tôn giáo có tên là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, gọi tắt là đạo Cao Đài.

Khi giáng huyền cơ lập đạo, Đức Chí Tôn cũng đã lập những lời đại nguyện, theo Đại Thừa Chơn Giáo Ngài nguyện:

Muôn kiếp các con chịu lạc đường,

Thấy vầy, Thầy luống động lòng thương.

Nên đoan thệ với hàng Tiên Phật,

Lập Đạo không thành chịu tội ương.

Và Ngài đứng ra đoan thệ:

“Nên Hội Tam Giáo Công Đồng, Thầy lập tờ đoan thệ, đem đạo mầu phổ hoá, độ tất cả đám quần sanh. Nếu các con chẳng chịu tu hành, Đạo không thành, Thầy nguyện không trở về ngôi vị cũ”. (ĐTCG. 25/9/Bính Tý).

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn khi lập đạo cũng phải hứa cùng với các Đấng Thần Thánh Tiên Phật nơi Ngọc Hư Cung là bảo vệ con cái của Ngài cho đến cùng. Ngài nói: “Thầy buộc mình hứa cùng Ngọc Hư cung rằng nếu Đạo còn, thì Thầy cũng theo gìn các con”.

Lớn lao hơn, Thầy đứng ra lập nguyện lãnh tội lỗi, oan nghiệt của chúng sanh: “Mỗi phen Thầy đến lập Ðạo thì là phải cam đoan và lãnh các con, chẳng khác nào kẻ nghèo lãnh nợ. Các con làm tội lỗi bao nhiêu, oan nghiệt bấy nhiêu, Thầy đều lãnh hết. Các con đã đặng thong dong rồi, rảnh chẳng lo tu đức mà sửa mình, lại còn cả gan trước mặt Thần, Thánh, Tiên, Phật, gây thêm tội lỗi nữa, thiệt là đáng giận!”

Qua những lời Đại nguyện của Đức Chí Tôn, chúng ta môn sinh, là con cái yêu mến của Đại Từ Phụ, chúng ta phải nhất tâm kính vâng những lời Thánh giáo của Ngài và triệt để thực hành những lới Ngài đã dạy.

Đại bi, Đại nguyện,

Đại Thánh, Đại từ,

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

ĐẠI NHƠN ĐẠI HIẾU

大 仁 大 孝

Đây là một câu trong bài “Nho Giáo Tâm Kinh” để xưng tụng Đức Khổng Tử là bậc Đại nhơn, Đại hiếu. Ta thử xét xem những đức tính của Ngài như thế nào?

Đại nhơn

Lòng nhơn của Đức Khổng Tử rất to lớn.

Như ta biết, Đạo Nho là Đạo thi hành nhơn nghĩa, lấy sự yêu thương người làm trọng. Đức Khổng Tử cũng là người rất nhân hậu, hễ thấy ai đau đớn, buồn rầu, khổ sở thì Ngài động lòng thương xót. Chương Thuật Nhi có kể lại rằng: Đức Phu Tử mà ngồi ăn bên cạnh người có tang thì ăn không no. Ngày nào có đi phúng điếu về thì suốt cả ngày không đàn hát (Tử thực ư hữu tang giả chi trắc, vị thường bão dã. Tử ư thị nhật, khốc tắc bất ca. 子 食 於 有 喪 者 之 側, 未 嘗 飽 也.子 於 是 日, 哭 則 不 歌).

Trong Khổng Tử Gia Ngữ có chép lại câu chuyện như sau: Vua Cung Vương nước Sở bị đánh rơi mất một cây cung, các quan tâu xin vua cho người đi tìm. Vua nói rằng: Vua nước Sở mất cung, dân nước Sở nhặt được, mất đi đâu mà phải tìm. Có người mang câu chuyện đó nói với Khổng Tử, Ngài nói rằng: Tiếc thay lòng vua Sở còn hẹp! Sao chẳng nói: Có người làm mất cây cung, lại có người lượm được, cần gì phải nói là người nước Sở.

Câu chuyện nầy cho ta thấy lòng nhơn của Ngài không giới hạn trong một nước, mà lan toả khắp trong thiên hạ.

Đại hiếu

Đạo hiếu là đầu mối trước nhứt của Nho giáo, nên trong sự giáo hoá, Khổng Tử lấy Hiếu làm đầu trong trăm nết (Hiếu vi bách hạnh chi tiên 孝 為 百 行 之 先). Sách Hiếu Kinh cũng viết: Hiếu là đạo thường của Trời, lẽ phải của đất (Hiếu giả thiên chi kinh dã, địa chi nghĩa dã 孝 者 天 之 經 也, 地 之 義 也).

Ngài dạy rất kỹ lưỡng về việc hiếu với cha mẹ, ông bà. Theo Ngài người có hiếu không phải nuôi dưỡng cha mẹ là đủ, mà còn phải có lòng kính. Điều nầy Ngài dạy Tử Du như sau: Cái hiếu ngày nay, người ta cho rằng chỉ có thể nuôi dưỡng cha mẹ, đến như loài chó ngựa đều có người nuôi, nuôi mà không kính thì lấy gì để phân biệt? (Kim chi hiếu giả, thị vị năng dưỡng, chí ư khuyển mã, giai năng hữu dưỡng, bất kính hà dĩ biệt hồ? 今 之 孝 者, 是 謂 能 養, 至 於 犬 馬, 皆 能 有 養, 不 敬 何 以 別 乎).

Ngoài việc phụng dưỡng cha mẹ, Ngài còn dạy chi ly về việc hiếu như phải quan tâm, lo lắng cha mẹ, làm vui lòng cha mẹ, không đi chơi xa khi cha mẹ còn sống, Ngài cho rằng:“Bổn phận làm con phải biết rõ tuổi tác của cha mẹ, một mặt là mừng, vì song thân tuổi cao mà vẫn còn mạnh khỏe, mặt khác lại lo, vì tuổi cao chồng chất, e rằng thời gian song thân ở với ta sẽ không được bao lâu”.

Ngài còn dạy những người con có hiếu còn là những người biết khéo tiếp nối được cái chí của cha mẹ, biết khéo noi gương được việc làm của cha mẹ, biết phân biệt để xem những cái nào hay thì theo, cái nào dở thì bỏ. Theo đó: “Xét người con thì khi cha còn sống, xem chí hướng của người ấy, khi cha chết thì xem hành vi của người ấy. Ba năm không thay đổi so với đạo của cha, thì có thể gọi là hiếu vậy”.

Tóm lại, ta thấy Đức Khổng Tử là người coi trọng chữ hiếu như thế nào. Có thể nói Ngài là bậc Đại hiếu.

Đại nhơn, đại hiếu,

Đại Thánh, đại từ.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

ĐẠI PHU

Đại: Lớn, to. Phu: Người đàn ông đáng tôn kính.

Đại Phu là một chức quan ở Trung Quốc vào thời xưa, cấp bậc thay đổi tuỳ theo triều đại.

Đại Phu còn là một phẩm chức sắc Ban Thế Đạo thuộc Hiệp Thiên Đài.

Đại Phu đối phẩm với chức sắc Cửu Trùng Đài là dưới phẩm Phối Sư, trên phẩm Giáo Sư.

Sỉ Tải Cao thêm vào ba phẩm Thế đạo nầy: Quốc Sĩ, Đại Phu, Phu Tử.

(Thánh Giáo Lý Giáo Tông).

 

 

ĐẠI PHÚ DO THIÊN

大 富 由 天

Đại phú: Giàu lớn. Do Thiên: Bởi Trời.

Thánh hiền xưa có dạy rằng: Đại phú do thiên, tiểu phú do cần 大 富 由 天, 小 富 由 勤, nghĩa là giàu to là bởi trời, giàu nhỏ là do sự siêng năng.

Có người lại cho rằng: Tiểu phú do kiệm 小 富 由 儉, tức là giàu nhỏ thì do sự tiện tặn.

Ðại phú do Thiên tuy đã vậy,

Ðủ no không thiếu bởi nên cần.

(Đạo Sử).

 

 

ĐẠI PHỤC

大 服

Đại: Lớn. Phục: Quần áo.

Đạo phục của các Chức sắc đạo Cao Đài gồm áo quần, mão giày tuỳ theo phẩm mà có Đại phục và Tiểu phục. Đại phục là bộ đồ mặc khi cúng Đại Đàn tại Toà Thánh hay các Thánh Thất địa phương.

Từ phẩm Giáo Sư trở lên mới có hai bộ Đại phục, Tiểu phục. Từ phẩm Giáo Hữu trở xuống Lễ Sanh và Chức Việc Bàn Trị Sự thì chỉ một bộ mà thôi.

Đạo phục của Giáo Tông có hai bộ, một bộ Đại phục và một bộ Tiểu phục.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

ĐẠI TẠO ĐẠI BI

大 造 大 悲

Đại tạo: Đức Thượng Đế là Đấng Tạo hoá lớn. Đại Bi: Lòng từ bi lớn lao, chỉ Đức Chí Tôn.

Đại tạo Đại bi là cuộc tạo hoá lớn và lòng từ bi lớn.

Theo Thánh giáo, Đức Chí Tôn là Đấng tạo ra Càn khôn Thế giới và muôn loài vạn vật. Vì thế có thể nói Ngài là Đấng có lòng từ bi lớn lao và là Đấng Tạo hoá lớn, mà người bình dân thường gọi Ngài là Đấng Hoá Công.

Hồng oai hồng từ vô cực vô thượng,

Đại Thánh Đại Nguyện, Đại Tạo Đại Bi.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

ĐẠI TỊNH

大 淨

Đại: To, lớn. Tịnh: Thanh tịnh, không cấu uế.

Đại tịnh là hoàn toàn trong sạch, không uế trược.

Người tu hành muốn hoàn toàn trong sạch thì phải giữ gìn thân tâm không bị nhiễm trược. Tâm trong sạch khi không còn vọng động, không quấy tưởng, thường nghĩ điều cao thượng.

Thơ, con ngồi đại tịnh đặng tối nay nghe Thầy dạy việc.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

ĐẠI TỪ PHỤ

大 慈 父

Đại: To, lớn. Từ phụ: Người cha lành.

Đại Từ Phụ là Đấng cha lành lớn hơn hết.

Theo Đạo Cao Đài, Đại Từ Phụ là từ dùng để gọi Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế, một Đấng có công sanh hoá ra muôn loài, muôn vật, có lòng thương yêu vô bờ bến, nuôi nấng và dìu dẫn một cách đồng đều tất cả chúng sinh, tựa như một vị cha lành có lòng tha thiết, chắt chiu lo cho các con còn bé nhỏ, như lời Thánh giáo của Ngài đã dạy: “Các con ôi! Thầy lấy đức háo sanh mà dìu dắt các con, chẳng khác nào như kẻ làm cha nưng niu dạy dỗ một trẻ bé trông cho mau trưởng thành, hầu lưu danh truyền nghiệp cho có tên tuổi với đời”.

Đại Từ Phụ từ bi tạo hoá,

Tượng mảnh thân giống cả Càn Khôn.

(Kinh Tận Độ).

Đại Từ Phụ hồng ân rưới khắp,

Trợ giúp con đặng lập nên công.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

ĐẠI TƯỜNG

大 祥

Đại: To, lớn. Tường: Điềm lành.

Đại tường là điềm lành lớn.

Theo quyển Quan Hôn Tang Lễ, chữ Tường nghĩa là lành, là kiết. Trong nhà có tang cả nhà mang sự thương xót, đau buồn, vì tưởng nhớ đến người quá cố. Thời gian qua, xoa dịu nỗi đau thương, cái buồn bớt lần lần, đem lại cái vui, như điềm lành, điềm tốt trở lại. Vì vậy, Đại tường cũng có nghĩa là Đại kiết tường.

Kể từ sau một ngày cúng Tiểu tường đếm tới 300 ngày thì làm lễ Đại Tường, hay là tuần mãn tang.

Đến ngày thì tang gia hiếu quyến phải đem linh vị đến Thánh Thất sở tại làm lễ Đại tường.

Trước hết là cúng Thầy có dâng Tam bửu và thượng sớ. Sau khi cúng Chí Tôn rồi, thỉnh linh vị người chết đến trước Điện tụng bài kinh Khai Đại Tường, rồi kế tiếp tụng Kinh Đại tường ba hiệp, niệm chú Thầy ba lần và lạy ba lạy, mỗi lạy bốn gật. Kế tiếp là tụng Di Lạc Chơn Kinh.

Tụng Kinh Di Lạc xong, chuyển sang làm phần thế đạo, hành lễ Cáo từ tổ và xả tang trước Bàn vong.

Hội Thánh sẽ hành lễ Tiểu tường, Đại tường, kỷ niệm hằng năm và xây bửu tháp.

(Quan Hôn Tang Lễ).

 

 

ĐẠI THÁNH ĐẠI NGUYỆN

大 聖 大 願

Câu trên là một câu Kinh được trích trong bài “Ngọc Hoàng Kinh” để xưng tụng Thánh đức, lời nguyền thật to lớn của Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Đại Thánh là bậc Thánh lớn.

Đức Thượng Đế là Bậc toàn tri, toàn năng, là Đấng có đức hoá sanh rộng lớn, cho nên gọi rằng Đại Thánh. Thật vậy, từ khi gầy dựng nên Vũ trụ vạn vật, Đức Thượng Đế đã nhiều phen hoá thân Phật, Tiên, Thánh để đem Đạo cứu đời. Nhưng vì chúng sanh mê mờ tội lỗi, lấy giả thành chơn, lấy hư làm thiệt, mãi chạy theo ảo ảnh sắc trần, nên phải lăn quay trong vòng luân hồi sanh tử.

Giáo pháp Tam giáo tuỳ theo phong tục, tuỳ căn cơ chúng sanh mà tìm phương cứu độ. Chính vì điểm khác nhau của các Tôn giáo nên khiến cho chúng sanh chấp ngã, chấp pháp mà có sự chống đối, chia rẽ, làm cho các Tôn giáo càng ngày càng xa rời chánh pháp.

Hiện nay, nhằm thời kỳ Hạ nguơn mạt Pháp, lại nữa nền văn minh vật chất đã kéo lôi con người càng ngày càng xa “Tự tánh”, nên Đức Chí Tôn, một lần nữa vì lòng Đại Từ Đại Bi, dùng cái oai quyền lớn lao của một vị Đại Thánh, tức vì Thiên Đế mà chính mình Ngài giáng cơ khai Đạo.

Thánh giáo Thầy có dạy: “Thầy vì đức háo sanh, nên chẳng kể bậc Chí Tôn cầm quyền Thế giới, đến lập Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ trong lúc Hạ nguơn nầy mà vớt sanh linh khỏi vòng khổ hải”.

Trong Thi văn Dạy Đạo, Ngài đã từng than:

Thiên Cơ đã lộ lúc khai Trời,

Kêu khách phàm trần đã hụt hơi.

Cứ mến vinh hoa cùng lợi lộc,

Chẳng lo kiếp thác đến gần nơi.

Đại nguyện 大 願 là lời nguyền lớn.

Đức Chí Tôn và các Đấng Thiêng Liêng thấy chúng sanh vì vô minh, sống nơi cõi trần lao giả tạm nầy, lại còn gây nhiều nhân ác nghiệt, nên bị nhiều nghiệp chướng chất chồng mà phải chịu biết bao luân hồi sinh tử, không thể nào giải thoát được. Những lời dạy của Tam Giáo Tổ Sư, từ xưa đến nay không đủ đưa hết con người trở về Thánh Thiện.

Đến thời Hạ Nguơn mạt Pháp nầy, con người càng xu hướng theo văn minh vật chất, càng chìm sâu vào tội lỗi. Vì thương xót chúng sanh nên Đức Chí Tôn cùng chư Phật và Bồ Tát đều có lập những điều nguyện lớn lao hầu cứu vớt tất cả chúng sanh.

- A Di Đà là một vị Phật làm Giáo chủ cõi Tây Phương Cực Lạc. Ngài biểu hiện cho từ bi và trí tuệ. Ngài có phát 48 lời nguyện rộng lớn là cứu độ tất cả chúng sanh, trong đó có lời nguyện sẽ tiếp dẫn vãng sanh về cõi Tịnh độ chúng sanh nào hướng niệm đến Ngài.

- Phổ Hiền Bồ Tát có 10 điều nguyện, gọi là Phổ Hiền thập nguyện.

- Thích Ca Mâu Ni Văn Phật cũng có Tứ hoằng thệ nguyện 四 弘 誓 願, tức là bốn lời nguyện lớn lao:

a).- Chúng sanh vô biên, thệ nguyện độ.

b).- Phiền não vô tận, thệ nguyện đoạn.

c).- Pháp môn vô lượng, thệ nguyện học.

d).- Phật đạo vô thượng, thệ nguyện thành.

- Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát có lời phát nguyện: “Địa ngục vị không, thệ bất thành Phật. Chúng sanh tận độ, phương chứng Bồ Đề 地 獄 未 空, 誓 不 成 佛, 眾 生 盡 度, 方 證 菩 提” nghĩa là Địa ngục chưa sạch không, thề không thành Phật. Chúng sanh độ hết, mới chứng Đạo Bồ Đề.

- Quan Âm Bồ Tát có mười hai lời nguyện, gọi là thập nhị Đại nguyện. Ngài là vị Bồ Tát có lòng đại từ đại bi, thường hay cứu khổ cứu nạn, lúc nào Ngài cũng lắng nghe âm thanh ở thế gian, nơi nào, lúc nào có tiếng kêu đau khổ của chúng sanh thì Ngài đều đến cứu giúp hoá độ. Trong kinh Pháp Hoa có câu: Khổ não chúng sinh nhứt tâm xưng danh, Bồ Tát tức thì quan kỳ âm thanh, giai đắc giải thoát 苦 惱 眾 生 一 心 稱 名, 菩 薩 即 時 觀 其 音 聲, 皆 得 解 脫, nghĩa là chúng sanh bị khổ não mà nhứt tâm niệm đến tên Bồ Tát, tức thì Ngài nghe âm thanh của chúng sanh mà độ cho được giải thoát.

Đến với thời Tam Kỳ Phổ Độ này, Đức Chí Tôn khai mở nên Đại Đạo cũng lập những lời đại nguyện như sau: “Thầy buộc mình hứa cùng Ngọc Hư cung rằng nếu Đạo còn, thì Thầy cũng theo gìn các con”.

Và nhất là Đức Chí Tôn còn nguyện lãnh hết những tội lỗi, oan nghiệt của chúng sanh như sau: “Mỗi phen Thầy đến lập Đạo thì là phải cam đoan và lãnh các con chẳng khác nào kẻ nghèo lãnh nợ. Các con làm tội lỗi bao nhiêu, oan nghiệt bấy nhiêu, Thầy đều lãnh hết”.

Hồng oai hồng từ vô cực vô thượng,

Đại Thánh Đại Nguyện, Đại Tạo Đại Bi.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

ĐẠI THÁNH ĐẠI TỪ

大 聖 大 慈

Theo bài kinh Nho Giáo, “Đại Thánh Đại từ” là thánh đức của Khổng Tử.

Đại Thánh

Đức Khổng Tử được người đương thời cho là bậc Đại Thánh (hay chí Thánh), chính Sử gia nhà Hán là Tư Mã Thiên đã xuy tụng công đức Ngài như sau: Các quân vương, hiền nhân trong thiên hạ không phải là ít, còn sống thì vinh quang, chết rồi là hết. Duy có Khổng Tử là người áo vải, tới nay đã trên mười đời, vẫn được các Nho gia tôn sùng. Ở Trung Quốc, từ bậc thiên tử vương hầu trở xuống, hễ bàn tới lục nghệ đều lấy Ngài làm tiêu chuẩn. Ngài thật là bậc Chí Thánh. Nhưng Ngài là người rất khiêm tốn, không dám nhận mình là Thánh. Ngài nói rằng: Nhược Thánh dữ nhân, tắc ngô khởi cảm, ức vi chi bất yếm, hối nhân bất quyện, tắc khả vị vân nhĩ dĩ hỹ 若 聖 與 仁, 則 吾 豈 敢, 抑 為 之 不 厭, 誨 人 不 倦, 則 可 謂 云 爾 已 矣, nghĩa là nếu bảo Ta là Thánh, là nhân thì sao Ta dám nhận, nhưng Ta làm việc Thánh việc nhân không chán ngán, dạy người không mỏi mệt, có thể bảo Ta được như thế mà thôi.

Đại từ

Đức Khổng Tử là bậc Đại từ, tức có lòng thương người to lớn. Chính do vì lòng thương người mà Ngài suốt đời phải bôn ba khắp các nước để truyền bá đạo Thánh hiền, mong đất nước được an bình thịnh trị và dân chúng được hiền lương nhơn nghĩa. Ngài muốn giúp đời nên chủ trương chính sách “nhập thế”, khiến trước đây, có một người nước Sở là Tiếp Dư cho Ngài không thức thời, chẳng biết cái lẽ lánh đời.

Khi Khổng Tử sang nước Sở, gặp Lục Thông tên là Tiếp Dư, theo đạo Lão, chủ trương thuyết vô vi, nghĩa là xuất thế, thấy Khổng Tử bôn ba chạy lo đời, nên làm bài hát “Phụng Hoàng” để kích bác Ngài:

Phượng hề! Phượng hề!

Hà kỳ đức chi suy?

Vãng giả bất khả gián;

Lai giả bất khả huy!

Nghĩa là: Phượng ôi! Phượng ôi! Sao đức suy đến thế? Cái gì đã qua rồi thì không thể ngăn được nữa; mà cái gì sẽ tới thì cũng chẳng đuổi được nào!

Người đời sau vì tôn sùng Đức Khổng Tử nên cho Lục Thông là kẻ nói bậy, và đặt cho cái tên hiệu là Sở Cuồng (tức là thằng điên nước Sở).

Đại nhơn, đại hiếu,

Đại Thánh, đại từ.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

ĐẠI THIÊN PHONG

大 天 封

Đại: Lớn. Thiên phong: Tước phong của Trời, chỉ Chức sắc đạo Cao Đài.

Đại Thiên phong là những phẩm Chức sắc cao cấp của đạo Cao Đài do Đức Chí Tôn hay Đức Lý Giáo Tông phong chức.

Chức sắc bên Cửu Trùng Đài từ phẩm Đầu Sư (Đối phẩm với hàng Tiên vị) trở lên, hay bên Hiệp Thiên Đài từ phẩm Thời Quân trở lên, đều được gọi là Chức sắc Đại Thiên phong. Còn chức sắc ơt các phẩm thấp hơn gọi là chức sắc Thiên Phong.

Sau nữa, họ được phong vào hàng Chức Sắc Đại Thiên Phong nơi Hiệp Thiên Đài.

(Giáo Lý).

 

 

ĐẠI THIÊN TÔN

大 天 尊

Đại: To, lớn. Thiên: Trời. Tôn: Kính trọng.

Đại Thiên Tôn là Đấng được kính trọng lớn nhất ở cõi Trời.

Đại Thiên Tôn là một danh hiệu thường được dùng để xưng tụng Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế. Kỳ dư, các Đấng khác nhỏ hơn đều gọi là “Thiên Tôn”.

Huyền Khung Cao Thượng Đế,

Ngọc Hoàng tích phước hựu tội, Đại Thiên Tôn.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

ĐẠI THIÊN THẾ GIỚI

大 千 世 界

Đại: Lớn, to. Thiên: Ngàn. Thế giới: Các quả tinh cầu trong Càn khôn Vũ trụ.

Đại thiên Thế giới, còn gọi Tam Thiên Đại thiên Thế giới, là ba ngàn thế giới, tức ba ngàn quả tinh cầu trong Càn khôn vũ trụ.

Đại thiên Thế giới, dương tụng từ ân,

Vĩnh kiếp quần sanh, ngưỡng kỳ huệ đức.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

ĐẠI THỪA

Đại: Lớn, to. Thừa: Còn đọc “Thặng” là chiếc xe.

Đại Thừa hay Đại Thặng, do tiếng Phạn Mahayana, là chiếc xe lớn, chở được nhiều người.

Giáo pháp của Đức Phật ví như một cỗ xe chở được người tu hành đến bờ giác ngộ giải thoát. Giáo pháp nầy chia làm hai bực:

- Bực thấp dành để độ người hạ trí gọi là Tiểu Thừa.

- Bực cao dành để độ những người Thượng trí, gọi là Đại Thừa.

Do giáo pháp của Đức Phật Thích Ca chia làm hai bực, nên bên Phật giáo chia làm hai nhánh: Phật giáo Đại Thừa và Phật giáo Tiểu Thừa.

Phật giáo Đại Thừa ở miền Bắc Ấn Độ, truyền sang Tây Tạng, qua Trung Hoa, Mông Cổ, Triều Tiên, Nhựt Bổn và từ Trung Hoa truyền xuống Việt Nam.

Vì vậy, Phật giáo Đại Thừa còn được gọi là Phật giáo Bắc Tông.

Trong Đại Thừa chơn Giáo có dạy: Bực Ðại Thừa dạy về vô hình, nên cần tu tánh luyện mạng, muôn việc có như không có.

Xem: Tiểu Thừa.

Ðã vào thọ pháp Ðại Thừa,

Làm sao hạnh đức cho vừa chúng-sanh.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

ĐẠI TRƯỢNG PHU

大 丈 夫

Đại: To, lớn. Trượng phu: Người đàn ông có ý chí và tài giỏi hơn người.

Đại trượng phu là người đàn ông có chí khí và tài giỏi hơn người.

Mạnh Tử đã định nghĩa hai chữ trượng phu như sau: Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di,uy vũ bất năng khuất, thử chi vị Đại Trượng phu 富 貴 不 能 淫, 貧 賤 不 能 移, 威 武 不 能 屈, 此 之 謂 大 丈 夫, nghĩa là giàu sang không làm cho say đắm, nghèo hèn không làm cho đổi dời, oai võ không làm cho khiếp sợ,ấy mới gọi là Đại Trượng phu.

Xem lịch sử vĩ nhân mấy mặt,

Đại trượng phu trước giặc vong thân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ĐẠI XÁ

大 赦

Đại: Lớn. Xá: Tha.

Đại xá: Chỉ cuộc tha tội lớn lao, tha một lần cho một số rất đông người phạm tội, hoặc còn có nghĩa là tha hết tất cả các tội lỗi tội nhân.

Đại xá còn có thể hiểu là không thu thuế.

Theo Giáo lý Cao Đài, trong thời Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn giáng cơ mở đạo ban cho chúng sanh một ân huệ lớn lao là Đại xá (Đại ân xá) kỳ ba ở phương Đông.

Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp về việc giải nghĩa Kinh Phật Mẫu tại Ðài Cửu Long (Báo Ân Từ) lúc 4 giờ chiều ngày rằm tháng 8 năm Ðinh Hợi (1947) có câu: Vì chữ đại xá nên Ðạo Cao Ðài gọi là 3è Amnistie de Dieu en Orient. Chí Tôn ân xá tội tình đem cả con cái về hiệp một cùng Ngài.

Vô Địa ngục, vô Quỷ quan,

Chí Tôn Đại xá nhứt tràng quy nguyên.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

Gầy khối thiên lương ân Đại xá,

Mới mong nhơn loại hưởng hoà bình.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

ĐÁY

Đáy là phần sâu nhất trong lòng một vật có lòng trũng. Như: Đáy thùng, đáy sông, đáy biển, đáy giếng.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Chúng ta đã ngó thấy chán chường, thiên hạ đã nói tìm hoà bình, mà trong hoà bình ấy luật thương yêu không có hiện diện không có kết liễu hình tướng được, thì họ chỉ mò trăng nơi đáy biển mà thôi.

Vàng chìm đáy biển nghĩ khôn tầm,

Biết phận tuỳ thời chốn gửi thân.

(Đạo Sử).

Biết đạo nhà chẳng để hao mòn,

Lựa đem ném đầu non quăng đáy biển.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐÁY BIỂN LÒNG NGƯỜI

Hay “Đáy bể lòng người”.

Đáy biển (bể): Ý chỉ biển có đáy rất sâu. Lòng người: Chỉ lòng dạ của con người.

Đáy biển lòng người, lấy ý từ câu Ca dao Việt: “Dò sông dò biển dễ dò, Nào ai lấy thước mà đo lòng người”, ý muốn nói đáy biển sâu nhưng có thể dò, lòng người hiểm khó đo lường, hiểu biết được.

Cửa Trình dầu đói nên no Ðạo,

Ðáy biển lòng người khó nổi soi.

(Đạo Sử).

 

 

ĐÀY

1.- Đày là tội phải đưa đi giam một nơi ở xa. Như: Đày sang Côn đảo.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Kiếp phù sinh không mấy chốc, đời mộng ảo chẳng là bao, sanh đứng nên người chen vai vào vòng thế cuộc, có khác chi kẻ bị đày vào biển khổ, để làm xong nhân sự đặng chuộc thửa tội tiền khiên.

Độ chúng chở đem đày xứ khác,

Lập chùa mời đến định mưu giam.

(Thơ Thái Phong).

2.- Đày còn dùng để chỉ làm cho khổ sở, điêu đứng. Như: Đày đọa, căn đài kiếp đọa.

Trong Đạo Sử của Bà Hương Hiếu, Thánh giáo Thầy có dạy: Thầy mừng lũ con yêu dấu Thầy. Căn đày của các con hầu mãn. Thầy đến lập một nền chánh Ðạo nầy tại cõi Ðông Dương là cốt làm cho kẻ bị hiếp đáp đặng mạnh mẽ, kẻ hiền lương làm Thầy kẻ hung bạo, ấy là lẽ công bình Thiêng liêng Tạo hoá.

Bước thế chịu đày khơi bạch phát,

Nguồn Tiên ráng lướt rạng thanh mi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Vạc ngã người đày trâu ngựa kéo,

Gia tàn yến rủ gió mưa tuông.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

Ái ân, ân ái là sao?

Đày thân lắm khách má đào gian truân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ĐÀY ĐOẠ

Đày: Làm cho khổ cực điêu đứng. Đoạ: Phạt xuống cõi thấp kém chịu hình phạt khổ sở.

Đày đoạ như chữ “Đoạ đày” là đày ải, bắt phải chịu cảnh sống điêu đứng, khổ nhục.

Thánh giáo Chí Tôn dạy: Còn phẩm trật Quỷ vị cũng như thế ấy. Nó cũng noi chước Thiên cung mà lập thành Quỷ vị, cũng đủ các ngôi, các phẩm, đặng đày đoạ các con, hành hài các con, xử trị các con.

Người lương thiện ra vào thong thả,

Kẻ tội nhiều đày đoạ rất minh.

(Kinh Sám Hối).

Danh lợi là tuồng đày đoạ phận,

Thương thân phải hiểu máy Thiên Ðiều.

(Đạo Sử).

Đày đoạ cha phải chịu khổ thân,

Khổ khắc mẹ chịu phần tôi tớ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐAM MÊ

Đam: Ham thích thái quá. Mê: Say sưa, mãi say đắm theo việc gì.

Đam mê là ham thích thái quá những cái không lành mạnh, đến mức như không còn biết việc gì khác nữa.

Như: Đam mê cờ bạc, rượu chè.

Tu đặng phép nhà Thiền ít kẻ,

Những đam mê theo lẽ dối đời.

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 

ĐÁM

1.- Đám là một vùng. Như: Đám cỏ, đám rừng, đám ruộng, đám mây đen.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Ðạo hữu phải khai phá đám rừng trước miếng đất ấy.

Ở nhà mượn đám mây xanh kịt,

Ðỡ gót nhờ con hạc trắng ngần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Đám chỉ một cuộc tụ tập đông người. Như: Đám cưới, đám ma, đám tiệc, đám người đánh lộn.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Con phải lấy Phật tâm con mà dòm ngó đám sanh linh bị phạt, luân hồi chưa dứt, thì tưởng đến Thầy mà cam chịu nhục nhã, lòng từ bi có vậy mới xứng đáng là tôi con Thầy.

Vú mẹ chưa lìa đám trẻ con,

Ðộ sanh chưa rõ phận vuông tròn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trời thương đâu nệ nhọc công trình,

Chịu nhọc vì lo đám chúng sanh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

ĐÁM TRĂNG HOA

Đám: Tập hợp gồm nhiều người với nhau, hoặc nhiều vật cùng loại. Trăng hoa: Do chữ “Nguyệt hoa 月 花” dùng để chỉ việc tình tự, trai gái.

Đám trăng hoa là chỉ bọn người trai hoặc gái chuyên chơi bời, đàn điếm mà thôi.

Chẳng phải vợ là đồ quơ tạm,

Phòng đi tìm trong đám trăng hoa.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐÀM

1.- Đàm là bàn, nói chuyện. Như: Đàm đạo, đàm luận, đàm phán, đàm tiếu.

Trong Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Trong sự luận đàm với Bần Đạo, Bần Đạo thấy vị Vương Đế yêu nước, yêu dân một cách lạ lùng làm sao, Bần Đạo nói chuyện với Ngài chọn tiếng nào đáng nói mới nói và Bần Đạo lấy làm hữu hạnh được biết Ngài và có thể làm cho hai nước Việt Nam và Miên quốc hiệp với nhau đem hạnh phúc lại cho hai nòi giống.

Thơ từ chúc tặng tình yêu mến,

Đạo lý luận đàm dạ đắm say.

(Thơ Phước Huệ).

2.- Đàm , chữ nhà Phật, là ưu đàm nói tắt, tức một thứ hoa, tương truyền rằng khi nào có Phật xuất thế thì hoa mới nở.

Như: Mượn hoa đàm, đuộc tuệ làm duyên.

Thú vui đuốc tuệ hoa đàm,

Phú thi tửu hứng lòng phàm diệt tiêu.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

ĐÀM ĐẠO

談 道

Đàm: Bàn, nói chuyện. Đạo: Nói.

Đàm đạo là nói chuyện thân mật với nhau. Như: Hai người ngồi đàm đạo về văn chương, thi phú.

Khi rảnh rỗi nghiêm trang khẩn đảo,

Lúc thừa nhàn đàm đạo vong linh.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

ĐÀM LUẬN

談 論

Đàm: Bàn, nói chuyện. Luận: Đưa ra bàn một vấn đề gì, có phân tích lý lẽ.

Đàm luận, như chữ “Bàn bạc”, là trao đổi ý kiến qua lại với nhau về một vấn đề gì. Như: Đàm luận văn thi.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Theo sau xe của Chí Tôn, chúng ta gò cương đứng lại bình tỉnh, nghỉ ngơi, giữa cảnh náo nhiệt của nhơn loại sắp diễn và xuống ngựa xem rõ lại sự sanh hoạt ấy đương nhiên ở vào mực độ nào, rồi ngẫm lại ta ở vào cảnh hư hay thiệt. Ta đàm luận vui vẻ cùng nhau sống, nhảy lên lưng ngựa nắm vững cương, thúc nó chạy theo kịp bước của Ðức Chí Tôn.

Đàm luận ôn hoà, đầy khí phách,

Ngôn từ tao nhã đủ tinh thần.

(Thơ Thông Quang).

 

 

ĐẢM BẢO

擔 保

Đảm: Gánh vác, gánh lấy. Bảo: giữ gìn.

Đảm bảo, như chữ “Bảo đảm 保 擔”, là chịu nhận trách nhiệm gánh vác một việc gì.

Nghĩa rộng: Chắc chắn khỏi phải lo ngại.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Bởi nhơn sanh tự biết mình sang trọng trên vạn vật. Của cải của Chí Tôn để nơi thế nầy đảm bảo sanh mạng con cái Người không đủ, nên có thể nghèo hèn, người sang trọng, kẻ ngu tối, người minh mẫn, có người cho là bất công, mà sự bất công ấy do tại đâu? Do thiếu đạo đức.

Lịnh Mẫu Hậu khai Tông định Đạo,

Ân dưỡng sanh đảm bảo hồn hài.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

 

 

ĐẢM ĐANG

Đảm: Gánh vác. Đang (đương): Gánh lấy việc gì.

Đảm đang, như chữ “Đảm đương 擔 當”, là gánh lấy việc gì để làm với đầy đủ ý thức và trách nhiệm.

Như: Đảm đang mọi công việc, cô ấy là một phụ nữ đảm đang.

Xem: Đảm đương.

Cha Phạm Công Thiện làm công chức,

Mẹ La Thị Đường bực đảm đang.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

ĐẢM ĐƯƠNG

擔 當

Đảm: Gánh vác. Đương: Cáng đáng.

Đảm đương là nhận lấy công việc khó khăn và quan trọng và làm với đầy đủ với ý thức trách nhiệm cao.

Như: Đảm đương việc nước.

Khâm Thành bổ nhiệm đúng vai tuồng,

Ngọc Nhượn tài lành đủ đảm đương.

(Thơ Thượng Sanh).

Đảm đương gánh nặng ơn Sư phụ,

Thành tựu công nhờ gốc Phạm Môn.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

ĐẢM NHIỆM

擔 任

Đảm: Gánh vác.

Đảm nhiệm là gánh vác trách nhiệm, tức là nhận lấy công việc khó khăn và chịu trách nhiệm.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Nếu thân ắt hữu tội chỉ đê đầu cúi xin Ðức Chí Tôn giảm bớt cái nạn ấy trong buổi Bần Ðạo đang đảm nhiệm thì quốc dân Việt Nam đã bị thúc phược muốn làm cũng không đặng, muốn nói cũng không ai nghe, vì nòi giống của chúng ta thiếu tâm đức, thiếu quyền hành chánh trị.

Tiễn bước thân bằng Ngọc Nhượn Thanh,

Giáo Sư vừa đảm nhiệm Khâm Thành.

(Thơ Phạm Mộc Bổn).

Đảm nhiệm xưa cầm quyền Pháp Chánh,

Độ thăng trước rưới giọt Ma ha.

(Cội Đạo Bốn Mùa).

 

 

ĐẠM

Đạm là lạt (nhạt). Như: Đạm bạc, lãnh đạm.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Ðức Lão Tử thì coi thường mọi việc thế tình, cho công danh phú quý là phù vân, nên chủ trương cái thái độ hờ hững lãnh đạm với ngoại giới.

Cặp liễn tang còn câu long ám,

Hạc quy hồi lãnh đạm trần ai.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ĐẠM BẠC

淡 薄

Đạm: Lạt lẽo. Bạc: Mỏng.

Đạm bạc sơ sài, đơn giản, nghĩa bóng là nói sự giản dị, không xa xỉ. Như: Đời sống đạm bạc.

Ăn uống đạm bạc là nói không có thức ăn ngon, đắt tiền, chỉ với nhưng thức ăn đơn giản.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Chúng ta được sống trong vòng đạo đức nghĩa nhơn dưới bóng yêu thương của Ðức Chí Tôn Ðại Từ Phụ, một đời sống của kẻ lánh giả tầm chơn, tuy đạm bạc trong bữa muối dưa nhưng nồng nhuộm nét trong sạch thanh cao...

Đê đầu khấu bái Nương Nương,

Nén hương đạm bạc xin thương chứng lòng.

(Tán Tụng Công Đức).

Lưng vơi xin chứng vài chung rượu,

Đạm bạc kỉnh dâng một tiệc trần.

(Thơ Thanh Thuỷ).

 

 

ĐẠM THANH

淡 清

Đạm: Lạt lẽo. Thanh: Tinh khiết, trong sạch.

Đạm thanh, như chữ “Thanh đạm 清 淡”, ý nói thức ăn đạm bạc, trong sạch.

Gắng đề phòng bả lợi đua tranh,

Cầm hạc giữ đạm thanh khi sớm tối.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

Quả hoa đã vẹn phần cung hiến,

Chay lạt xin mời bữa đạm thanh.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

ĐAN THANH

丹 青

Đan: Màu son đỏ. Thanh: Màu xanh.

Đan thanh tức là màu đỏ và màu xanh, dùng để chỉ nét vẻ khéo của tranh ảnh hay hội hoạ.

Một đôi sắc nước hương trời,

Nét đan thanh khéo vẽ vời Hằng nga.

(Phù Kiều Hận Sử).

Cửa phụng trau tria nguồn phúc hạnh,

Phòng loan tô điểm nét đan thanh.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

ĐÀN

1.- Đàn là bầy, lũ, tức tập hợp số đông động vật cùng loài sinh sống chung với nhau.

Như: Đàn người đi tấp nập, đàn gà, đàn lợn, đàn ong lũ bướm.

Có chi trọng đàn ong xóm bướm,

Nơi phồn ba đậm nhuộm màu gian.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Nầy là hình ảnh của chàng,

Nầy là tiếng khóc của đàn trẻ con.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Đàn, còn đọc là “Đờn”, chỉ loài, bậc. Như: Đàn bà, đàn ông, đàn anh, đàn em, đàn cháu dại.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Ðường thị! Thầy giao phe Nữ cho con lập thành. Chẳng phải vì đàn bà mà sớm nồi cơm, chiều trả cháo hoài.

Dìu dắt đàn em sau nối gót,

Con đường đạo đức bước càng lên.

(Đạo Sử).

Mảng gượng vui cùng đàn cháu dại,

Chỉ lời hay sự phải khuyên răn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

3.- Đàn hay “Đờn” là tiếng gọi chung các thứ nhạc khí có dây, dùng để đánh hay gảy. Như: Đàn nguyệt, đàn bầu, đàn tranh, đàn tỳ bà, gảy đàn.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có đoạn: Tính của Ðức Khổng Tử hay ưa thích đàn và hát. Lúc Ngài ở nước Tề ham học Nhạc thiều, trong ba tháng say mê cho đến đỗi ăn không biết mùi vị.

Bờ dương chừ đặng phong trần rảnh,

Quảy gánh thơ đàn dạo bốn phương.

(Thơ Thượng Sanh).

4.- Đàn là một cái nền đắp cao, dùng để tế lễ, diễn giảng, cầu cơ. Như: Cúng đàn, đàn chay, tiểu đàn, đàn cơ, đàn diễn thuyết.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy: Mấy đứa lễ sanh cốt để sắp đặt sự nghiêm trang trong đàn cầu Thầy, chớ chẳng phải duy để đi lễ mà thôi.

Vô hư quy phục nhơn sanh khí,

Tạo vạn cổ đàn chiếu Phật duyên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðã để vào toà một sắc hoa,

Từ đây đàn nội tỷ như nhà.

(Đạo Sử).

 

 

ĐÀN ÁP

彈 壓

Đàn: Xét trách điều lỗi. Áp: Đè, nén.

Đàn áp là đè ép, chế phục, tức lấy bạo lực hoặc uy quyền để chế phục người. Như: Đàn áp biểu tình.

Thánh giáo Bát Nương Diêu Trì Cung dạy: Phải cho cơm những kẻ thiếu cơm, cho thuốc những kẻ thiếu thuốc, cho hàn những kẻ không hàn chôn, chở che những kẻ bị đàn áp bất công, binh vực những kẻ bị chúng hiếp, an ủi những kẻ buồn rầu, khuyến khích những kẻ toan thối bước, độ những kẻ khổ tâm, lau chùi nước mắt những kẻ cô độc đang khóc trước mặt mình.

Có khi ta quá nhu nhược, thiếu đạo đức để cho dục vọng đàn áp lương tâm.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

ĐÀN BÀ

Đàn (đờn): Một tập hợp số đông người hoặc vật sống chung với nhau. Bà: Từ chỉ người phụ nữ đứng tuổi.

Đàn bà hoặc Đờn bà là tiếng dùng để chỉ người lớn tuổi, thuộc nữ giới.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy Bà Đường Thị có câu: Thầy giao phe Nữ cho con lập thành. Chẳng phải vì đàn bà mà sớm nồi cơm, chiều trả cháo hoài.

Biết con là phận đàn bà,

Biết lời ăn nói thiệt thà hiền lương.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Chọc cho có dịp suy, dịp nghĩ,

Đừng cho gần mấy chị đàn bà.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐÀN BẢY BÀI

Đàn: Gảy đờn. Bảy bài: Bảy khúc nhạc.

Trong Đạo Cao Đài, khi Vía Ðức Chí Tôn và ba rằm lớn: Thượng nguơn, Trung nguơn, Hạ nguơn, thì tại Toà Thánh cúng Đại đàn. Lúc Nhạc Tấu Quân Thiên, nhạc sẽ đờn bảy bài, kể ra sau đây:

- Xàng xê: Đưa qua trộn lại không ở một chỗ, ấy là thời Hỗn Ðộn sơ khai.

- Ngũ Ðối Thượng: Từng trên, có Ngũ Khí thanh nổi lên làm Trời.

- Ngũ Ðối Hạ: Từng dưới, có khí Ngũ Hành nặng trược hạ xuống làm Ðất.

- Long Ðăng: Rồng lên, ấy là Dương.

- Long Ngâm: Rồng xuống, ấy là Âm.

- Vạn Giá: Muôn việc đã định rồi, ấy là muôn loài đều có tên.

- Tiểu Khúc: Sự nhỏ ngắn, ấy là các vật nhỏ ngắn đều có định luật.

Khi nhập lễ, xướng “Khởi Nhạc” thì phải đánh trống và đờn bảy bài cho đủ.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

ĐÀN CƠ

壇 乩

Đàn: Nền đất đắp cao hoặc đài dựng cao để tế lễ. Cơ: Dụng cụ dùng để thông công với các Đấng Thiêng Liêng.

Đàn cơ là một buổi cầu cúng Đức Chí Tôn và các Đấng Thiêng liêng có tổ chức cầu cơ để các Đấng Thiêng liêng giáng.

Xem: Cơ bút.

Một đàn cơ riêng biệt ít khi được thiết lập cho ai, mặc dầu lời thỉnh nguyện có quan hệ cách mấy đi nữa cũng không đặng.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

ĐÀN LỆ

壇 例

Đàn: Chỗ đất đắp cao dùng làm nơi cúng tế, chỉ Đàn cúng tế của Đạo. Lệ: Thường lệ.

Đàn lệ là chỉ đàn cúng theo thường lệ, tức mỗi tháng cúng vào hai ngày: Sóc, tức ngày mùng một, vọng, tức ngày rằm Âm lịch.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Các Giáo Hữu phải lo lắng về phần thuyết đạo cho kịp mỗi đàn lệ, phải trích ra một bài Thánh Ngôn dạy về đạo đức và đọc cho chúng sanh nghe.

Hiền hữu, mỗi đàn lệ, cần phải buộc Nữ phái tới mà nghe thuyết đạo chung với Nam phái.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

ĐÀN NA

檀 那

Đàn na, phiên âm từ Phạn ngữ: Dâna, nghĩa là cúng dường, Hán dịch là Thí hay bố thí.

Như vậy Đàn na có nghĩa là bố thí, nên thí chủ (Người bố thí) còn gọi là Đàn chủ hay Đàn việt.

Bài Kệ Chuông U Minh, lời nguyện thứ 15 có câu: Viễn cận đàn na tăng viên phước thọ 遠 近 檀 那 曾 圓 福 壽, nghĩa là những thí chủ xa gần đều được gia tăng tuổi thọ và hạnh phúc.

Viễn cận Đàn na tăng viên phước thọ.

(Kệ U Minh).

 

 

ĐÀN NỘI

檀 內

Đàn: Nền đất đắp cao hoặc đài dựng cao để tế lễ. Nội: Trong, bên trong.

Đàn nội là trong đàn cúng tế, hoặc trong đàn cầu cơ.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có câu: Thầy dặn các con, như đàn nội chẳng nghiêm, Thầy không giáng, ba con nhớ nghe!

Đã để vào Toà một sắc hoa,

Từ đây đàn nội tỷ như nhà.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

ĐÀN ONG XÓM BƯỚM

Đàn ong: Bầy ong, chỉ bọn tình tự. Xóm bướm: Lũ bướm, chỉ bọn điếm đàng.

Ong bướm là tiếng chỉ trai gái ăn chơi, tình tự.

Đàn ong xóm bướm dùng để nói đám người chuyên trăng hoa, ăn chơi truỵ lạc.

Có chi trọng đàn ong xóm bướm,

Nơi phồn ba đậm nhuộm màu gian.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ĐÀN TIỀN

壇 前

Đàn: Nền đất đắp cao hoặc đài dựng cao để tế lễ. Tiền: Trước, phía trước.

Đàn tiền là phía trước Đàn cúng tế, hoặc phía trước Đàn cầu cơ, ý nói phía trước nơi chánh Điện.

Phút đâu Ngọc Sắc ban truyền,

Phụng thừa Thánh chỉ đàn tiền giáng lai.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Thiên cung: Tinh Tú, Thánh, Tiên,

Địa kỳ: Thần Tướng đàn tiền giáng lâm.

(Xưng Tụng Công Đức).

 

 

ĐÀN TRÀNG

Hay “Đàn trường”.

Đàn: Chỗ đất đắp cao. Tràng (trường): Sân, bãi.

Đàn tràng, như chữ “Đàn trường 壇 場”, là một chỗ đất đắp cao, thường dùng vào việc cúng tế, chỉ đàn cúng của Đạo.

Trong Hán Thư có câu: Hán vương trai giới, lập đàn trường bái Hàn Tín vi tướng 漢 王 齋 戒, 立 壇 場 拜 韓 信 為 將, nghĩa là vua nhà Hán giữ trai giới, lập đàn bái tướng cho Hàn Tín.

Trong Sớ Văn có câu: Chư Thiên phong nghiêm thiết Đàn tràng: Hương, đăng, hoa, trà, quả, thanh chước chi nghi thành tâm hiến lễ.

Đàn tràng viên mãn, Chức sắc quy nguyên vĩnh mộc từ ân phong điều võ thuận.

(Kệ Chuông).

 

 

ĐÀN VĂN ĐẠO ĐỨC

Đàn văn: Như chữ Văn đàn, chỗ hội họp hay diễn đàn của các nhà thơ, văn. Đạo đức: Tên bút nhóm.

Đàn Văn Đạo Đức, tức là “Đạo Đức Văn Đàn 道 德 文 壇”, là một hội thi văn của các nhà thơ trong đạo Cao Đài thuộc Toà Thánh Tây Ninh.

Xem: Đạo Đức Văn Đàn.

Đàn Văn Đạo Đức tiếng vang còn,

Bảo Pháp công Ngài đậm nét son.

(Thơ Thượng Cảnh Thanh).

 

 

ĐẠN

Đạn là viên tròn bằng đất hay chì, sắt, dùng để bắn.

Như: Đạn bắn như mưa, lằn tên mũi đạn.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Hại thay! Trong trường chiến đấu ấy cả các lực lượng Quốc Gia của các con nằm ở giữa, tức nhiên chịu trong cảnh tượng của hai đường tên mũi đạn, sự thống khổ của toàn quốc dân nếu muốn tỏ rõ ra cho hết, ít nữa phải viết một quyển sách, chớ không phải diễn nơi diễn đàn cho rõ hết đặng.

Mua danh cột buộc lằn mưa đạn,

Chác lợi là phăng mối chỉ sầu.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

 

 

ĐÁNG

Đáng là xứng, nên, vừa hợp. Như: Đáng khen, đáng tiền, đáng giá, đáng mặt.

Thánh giáo Quan Âm Như Lai có dạy: Nhiều đạo muội chẳng để trọn lòng về nền Ðạo. Phải rán công thêm nữa đặng làm cho đáng nét yêu dấu của Ðấng Chí Tôn cho nở mày khách quần thoa cõi Việt.

Hồ thỉ vẫy vùng đáng phận trai,

Trời chiều nay đã rạng cân đai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ngoài nữa còn cha còn chú bác,

Làm gương cho đáng mới nên trò.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

ĐÁNG GIÁ

Đáng: Được đánh giá là hợp, xứng với giá trị. Giá: Biểu hiện giá trị bằng tiền.

Đáng giá là có giá trị, đáng được đánh giá cao.

Thánh giáo Lý Giáo Tông dạy Ngài Thượng Trung Nhựt có câu: Lão mừng hiền hữu đó. Lão vì Chí Tôn đã hứa mà lo lập vị cho đáng giá. Vậy hiền hữu cũng phải tận tâm mà chung lo với Lão mới phải.

Ngọc lành đáng giá biết bao lăm,

Ðể mẻ thì ai chẳng tiếc thầm.

(Đạo Sử).

Tại nơi mình dưới bộc trong dâu,

Ra đến thế nài cầu sao đáng giá.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐÁNG KIẾP

Đáng: Được đánh giá là xứng, là hợp với một giá trị, một phẩm chất, hoặc một cách đối xử nào đó. Kiếp: Đời người.

Đáng kiếp, như chữ “Đáng đời”, là không có gì oan ức cả, phải chịu sự trừng phạt nặng nề như vậy cũng đáng, so với tội ác hoặc điều sai trái đã làm.

Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy Bà Lâm Hương Thanh có đoạn: Thầy giữ Nữ phái lại cũng vì con. Thầy kêu nó không đến, Thầy dạy nó không nghe, muốn phạt cho đáng kiếp mà bụng cũng chẳng đành.

Gông kềm khảo kẹp lăng xăng,

Hành cho đáng kiếp tội căn đã làm.

(Kinh Sám Hối).

Mang tội hình đừng chở đừng che,

Để chúng hiếp chúng chê cho đáng kiếp.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐÁNG KHEN

Hay “Đáng khen ngợi”.

Đáng: Được dánh giá là xứng, là đúng với một giá trị, phẩm chất hay một cách đối xử nào đó. Khen: Dùng lời để ca tụng cái hay tốt của người.

Đáng khen hay đáng khen ngợi là xứng đáng được khen hay đúng là phải được khen.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Thời cuộc đương lúc khó khăn, nền tài chánh eo hẹp mà Hội Thánh PhướcThiện đã cố gắng thành công trong việc kiến tạo nói trên thì thật là một công trình đáng khen ngợi.

Cang trực lòng trong cũng đáng khen,

Tuy vân nghèo khó đức không hèn.

(Đạo Sử).

Thành tín nhứt tâm cũng đáng khen,

Không sang tột bực cũng không hèn.

(Đạo Sử).

 

 

ĐÁNG MẶT

Đáng: Được đánh giá là xứng, là hợp với một giá trị, một phẩm chất hoặc một cách đối xử nào đó. Mặt: Biểu tượng cho thể diện, danh dự, phẩm giá.

Đáng mặt là xứng đáng với.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Hôm nay nhơn buổi Lễ Vía Ðức Chí Tôn, tôi có ý nhắc lại phận sự chung của người hành Ðạo là cố tâm thật hành lời giảng của Ðại Từ Phụ, gắng công trau giồi hạnh đức, rèn luyện tánh tình để được xứng đáng với lòng tin cậy của Ðại Từ Phụ và đáng mặt người hướng đạo của nhơn sanh trên đường giải khổ.

Đáng mặt anh hào đâu mấy kẻ,

Xứng danh đạo đức có bao gương.

(Quyền Giáo Tông Giáng).

Phải sao cho đáng mặt hùng anh,

Phải sao đặng nên danh trang tuấn kiệt.

(Phương Tu Đại Đạo).

Mẹ dầu phải suối vàng nhắm mắt,

Vui thấy con đáng mặt làm trai.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ĐÀNG

1.- Đàng, như chữ “Đường”, là lối đi được người ta tạo ra. Như: Lên đàng, sai đàng lạc nẻo, đi một ngày đàng học một sàng khôn.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Ngày xuân gần mòn mỏi, khá sớm biết trau xuân, ấy là phương châm dẫn đàng khách phồn hoa vào nơi Cực Lạc.

Xem: Đường.

Nhớ tình nhả ngọc với gieo vàng,

Bồng đảo trần gian cách trở đàng.

(Đạo Sử).

Từ thứ dân cho đến viên quan,

Vơ vẩn thấy cùng đàng lấp ngõ.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Đàng, như chữ chữ “Đằng”, là bên, phía, chỉ một phạm vi, một vị trí nào đó được xác định. Như: Nói một đàng làm một nẻo, hai đàng đánh nhau.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Rất đỗi Thầy là bực Chí Tôn đây mà còn bị chúng nó mưu lén cho qua Thánh ý Thầy thay! Một đàng trì, một đàng kéo, thảm thay các con chịu ở giữa.

Hễ đôi đàng ý hiệp duyên ưa,

Đừng vội đổ mây mưa trên đảnh giáp.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Đàng, do chữ “Đường 堂”, đọc trại ra, có nghĩa là nhà, nơi làm việc quan, hoặc chỉ cõi (không dùng một mình). Như: Kim mã ngọc đàng, Thiên đàng, địa đàng.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Sự đối đãi lẫn nhau cứ tiến triển mãi trong cảm tình chơn thật và trong niềm hoà khí thân yêu, con người sẽ đi lần tới mức Huynh Ðệ Ðại Ðồng không bao lâu. Ngày đó thiên hạ sẽ cùng nhau trong cảnh Thiên đàng tại thế vậy.

Xem: Đường.

Người thì Ngọc mã với Kim đàng,

Quên kẻ dạ đài mối thảm mang.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

ĐÀNG ĐIẾM

Đàng: Đường. Điếm: Chỉ trai, gái ăn chơi.

Đàng điếm, như chữ “Điếm đàng”, từ chỉ chung hạng người đứng đường, dùng mọi mánh khóe để kiếm tiền.

Điếm đàng còn có nghĩa là lăng nhăng, trai gái bậy bạ, mất nhân cách.

Như: Ăn chơi đàng điếm, quen thói đàng điếm.

Vào đường tu niệm tránh tà dâm,

Đàng điếm hư danh phải hổ thầm.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

ĐÀNG SÁ

Hay “Đường sá”.

Đàng: Đường là lối đi, nối liền hai địa điểm.

Đàng sá, như chữ “Đường sá”, là chỉ đường đi lại trên bộ.

Như: Mưa mấy ngày nay đàng sá lầy lội, hiện nay đàng sá được mở mang giao thông tiện lợi.

Ðàng sá quanh co chật hẹp nầy,

Dò lần cho khéo bước truông mây,

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

ĐẢNG

Đảng là một nhóm người lập thành phe phái riêng.

Đảng còn là một đoàn thể của những người đồng chí kết với nhau.

Thánh giáo Thầy có dạy: Còn cả môn đệ, ai cũng như ai, không đặng gây phe lập đảng, nhược kẻ nào phạm tội thì Thầy trục xuất ra ngoài cho khỏi điều rối loạn.

Trừ đảng dữ tham gian bạo ngược,

Diệt những phường mưu chước cầu vinh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Làm sao cho đảng nịnh hổ ngươi,

Người trung đặng vui cười hớn hở.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐẢNG PHÁI

黨 派

Đảng: Phe, nhóm của nhiều người cùng một chủ nghĩa, một lý tưởng, một hành động chung, thường là nhằm mục đích chính trị. Phái: Nhánh, chi, nhóm.

Đảng phái là chỉ chính đảng, tức đảng chính trị.

Đảng phái còn có nghĩa là phe đảng vì ý kiến khác nhau mà chia ra.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Chẳng lẽ Ðạo Cao Ðài phải nhượng bộ hạ mình trước đảng phái, vì cái tinh thần của Ðạo còn chẳng nhượng ai, huống phải hạ mình làm nô lệ cho đảng phái.

Lập đảng phái chen vào chánh giáo,

Xúi môn đồ phản đạo hại thầy.

(Nguyễn Trung Trực Giáng).

 

 

ĐÁNH

1.- Đánh là lấy tay hay roi, gậy mà đập. Như: Đánh đòn, đánh trống, đánh khảo.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Thánh giáo Thầy có câu: Ðời Hớn, ngươi Lưu Khoan làm quan, hễ dân có tội thì đánh bằng roi lát cho biết nhục vậy thôi.

Cột trói ngược quá kinh rất lạ,

Quỷ Dạ xoa đánh vả kẹp cưa.

(Kinh Sám Hối).

2.- Đánh là dẹp cho yên. Như: Đánh giặc, đánh đuổi xâm lăng, đánh đông dẹp bắc.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Từ xưa biết bao nhiêu bậc anh hùng chí sĩ Việt Nam đã lắm phen cứu vãn tình thế khuynh đảo của nước nhà, đánh đuổi kẻ xâm lăng, xây dựng nền độc lập.

Đánh nhau đổ nước nghiêng thành,

Lưu hồng một trận tan tành nhân gian.

(Thất Nương Giáng Bút).

3.- Đánh là ganh nhau trong cuộc ăn thua.

Như: Đánh bài đánh bạc, đánh cờ tướng, âm thầm tổ chức đánh ghen.

Chị vừa vá manh quần tấm áo,

Ra đá bò đánh đáo rách te.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐÁNH BÀI

Đánh: Ganh nhau trong cuộc ăn thua. Bài: Trò chơi dùng những tấm thẻ mỏng bằng giấy bồi có inh hình hoặc chữ để làm quân.

Đánh bài là chơi trò chơi bằng quân bài.

Như: Tết đến xóm nào cũng có đánh bài.

Chẳng phải giỏi ra tài đánh lú,

Không phải hay bong vụ đánh bài.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐÁNH BÓNG

Đánh: Dùng vật xát đi xát lại cho sạch, láng, bóng. Bóng: Bóng láng, bóng đến mức như nhìn thấy cả sự trơn, láng mượt.

Đánh bóng có nghĩa tô cho có bóng đen để bức vẽ được nổi.

Đánh bóng còn là làm cho láng, cho bóng, nghĩa rộng: Trang điểm cho đẹp đẽ.

Như: Nó ra đường thường hay đánh bóng.

Dưới mắt thấy lắm tay đánh bóng,

Theo gái giàu như bóng theo chàng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐÁNH ĐẬP

Đánh: Làm cho đau, làm tổn thương bằng tác động của một lực. Đập: Đánh mạnh xuống.

Đánh đập là đánh để hành hạ, trừng phạt.

Nói về tánh tình lung lăng của một đứa con quan Thừa tướng, Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Nhưng, trong gia đình cũng không chiều được cậu chỉ kiêng có cha mẹ thôi, ngoài ra không kể ai cả, nổi giận là cậu đánh đập liền.

Đừng phiền rằng: lỗi, phải, oan, ưng,

Nhớ buổi nhỏ cha cưng không đánh đập.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐÁNH ĐÒN

Đánh: Dùng tay hay roi, gậy mà đập. Đòn: Hình thức đánh vào thân thể, coi như hình phạt.

Đánh đòn là trừng phạt, răn dạy bằng roi vọt.

Như: Thằng bé sợ cha mẹ đánh đòn nên chịu đi học.

Đánh đòn khảo kẹp gớm ghê,

Hành hình khổ não chẳng hề nới tay.

(Kinh Sám Hối).

 

 

ĐÁNH ĐỔ

Đánh: Từ biểu thị tính chất cụ thể của hành vi, hành động, mà nội dung do động từ sau biểu đạt. Đổ: Ngã xuống, rớt.

Đánh đổ là làm đổ chất lỏng khỏi vật chứa, làm đổ ngã vật ở tư thế đứng.

Đánh đổ còn là làm cho sụp đổ, mất chỗ đứng. Như: Đánh đổ chế độ độc tài.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có dạy: Các con vì Ðạo là việc công lý, mà công lý đánh đổ cường quyền, thì Ðạo mới phải Ðạo.

Đức tin đánh đổ dị đoan,

Khỏi điều lãng phí tiền ngàn bạc muôn.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

ĐÁNH GHEN

Đánh: Ganh nhau trong cuộc ăn thua, như đánh bài, đánh bạc, đánh ghen. Ghen: Nỗi uất ức vì thấy kẻ khác chiếm người, hoặc vật sở hữu của mình.

Đánh ghen là trong tình cảm thương yêu vì lòng ghen tức mà có hành động thô bạo.

Như: Anh ta có người vợ hay đánh ghen.

Nhỏ thì trọng lớn thì nhường,

Nơi cân quân tử ra trường đánh ghen.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Nghề thầy pháp là nghề tiểu mọn,

Chồng lấy Hồng đừng đón đánh ghen.

(Phương Tu Đại Đạo).

Cần chi phải đánh ghen cấu xé,

Muốn trừng heo dụng kế treo hèm.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐÁNH LIỀU

Đánh: Từ biểu đạt một hành vi, một hoạt động tự làm cho có được trạng thái tâm lý nào đó để làm việc gì. Liều: Hành động táo bạo bất chấp nguy hiểm.

Đánh liều là liều mạng, tức không sợ sự nguy hiểm để làm một công việc gì.

Như: Bị rượt đến bờ sông nó đánh liều nhảy đại xuống nước.

Cho hay chánh nghĩa chưa cân đúng,

Máu mủ vì thương phải đánh liều.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

ĐÀNH

1.- Đành là chịu một cách bất đắc dĩ. Như: Đành vậy, đành lòng, đành đoạn.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Chí Tôn có dạy: Chẳng lẽ ngôi Tiên phẩm Phật là địa vị tối trọng của các chơn linh mà Thầy lại đành bất công, tự nhiên đem các con mà để trên đó.

Nghĩa nhân đành gởi thân trăm tuổi,

Dạy lẫn nhau cho đặng chữ hoà.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trăm đắng ngàn cay đành một kiếp,

Công Hầu Vương Bá dám đâu hơn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Đành là nỡ lòng. Như: Chẳng đành, bệnh nhân quá nghèo thu tiền không đành.

Thánh giáo Thầy dạy Bà Nữ Đầu Sư Hương Thanh có câu: Thầy giữ Nữ phái lại cũng vì con. Thầy kêu nó không đến, Thầy dạy nó không nghe, muốn phạt cho đáng kiếp mà bụng cũng chẳng đành.

Môi cầu chí quyết xua Hiền Thánh,

Lòn lõi vùa sang bụng chẳng đành.

(Đạo Sử).

 

 

ĐÀNH ĐOẠN

Đành: Đang tâm, nỡ lòng. Đoạn: Cắt đứt hẳn quan hệ tình cảm.

Đành đoạn, như chữ “Đành lòng”, là đang tâm, nỡ đành, nỡ lòng, tức ở tình trạng không quan tâm vì theo đuổi một điều gì khác.

Như: Vợ nó rất hiền từ vậy mà vì mê gái nó đành đoạn bỏ vợ con.

Trời già đành đoạn nợ ba sinh,

Bèo nước xẻ hai một gánh tình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

ĐÀNH LÒNG

Đành: Chịu một cách bất đắc dĩ, vừa lòng. Lòng: Bụng dạ, chỉ tâm lý, tình cảm con người.

Đành lòng là chịu, cam chịu, tức là nén lòng chịu đựng làm việc gì bất đắc dĩ.

Đành lòng còn có nghĩa là vừa lòng.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có đoạn: Thầy buộc phải nói rõ cho các con đừng lầm mà trách Thầy. Cha hiền chả biết hành hạ con cái bao giờ. Thầy đã đến mà dìu dắt từ đứa thì lẽ nào lại đành lòng xô đuổi.

Đành lòng nào lại chối lại từ,

Mình dở dạy tội quy ư trưởng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐẢNH

1.- Đảnh, do chữ “Đỉnh” đọc trại ra, có nghĩa là phần cao nhất ở thân thể người hay ở núi.

Như: Đảnh đầu, đảnh núi, mây mưa đảnh giáp.

Xem: Đỉnh.

Biển ái kia bờ lở khó bồi,

Non thề nọ đảnh trôi khôn lấp.

(Phương Tu Đại Đạo).

Hễ đôi đàng ý hiệp duyên ưa,

Đừng vội đổ mây mưa trên đảnh giáp.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Đảnh, như chữ “Đỉnh 鼎”, là cái vạc có ba chân.

Như: Đảnh trầm, đảnh Việt, đảnh Hớn.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bần Đạo nói dầu cho bực Công Khanh Vương Hầu Khanh Tể giá như phú hữu tứ hải thế nào đi nữa nội trong một kiếp sanh là hết, chúng ta ngó thấy trường đời nào là Đài Tần Đảnh Hớn, ngày nay danh thể có còn tồn tại chăng?

Tiết nghĩa trung can Hớn đảnh xây,

Phò Lưu dựng Thục một lòng ngay.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Lọc nước rửa đời Trời để dấu,

Riêng che Nam đảnh một cân đai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

ĐẢNH BỒNG

Hay “Đỉnh Bồng”.

Đảnh (đỉnh): Phần cao nhất ở thân thể người ta hay cao nhất của ngọn núi. Bồng: Núi Bồng Lai, là một trong ba ngọn núi ở biển Bột Hải, nơi có Tiên ở.

Đảnh (đỉnh) Bồng tức đỉnh núi Bồng Lai  蓬 萊, dùng để chỉ cõi Tiên.

Xem: Non Bồng, Bồng Lai.

Đoạn xong oan trái về non Tuý,

Dứt hẳn trần duyên đến đảnh Bồng.

(Thơ Tiếp Đạo).

Tùng cơ phổ độ dìu nhân thế,

Mãn quả siêu thăng lại đảnh Bồng.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

ĐẢNH GIÁP

Hay “Đỉnh Giáp”.

Đảnh (đỉnh): Phần cao nhất ở thân thể người ta hay cao nhất của ngọn núi. Giáp: Núi Vu Giáp.

Đảnh giáp, như chữ “Đỉnh Giáp 頂 甲”, là chỉ đỉnh núi Vu Sơn.

Do điển núi Vu Sơn, Vu Giáp, là hai hòn núi liên tiếp nhau. Dưới chân núi Vu Giáp có một miếu thờ Thần nữ.

Vua Sở Tương Vương nằm ngủ tại Cao Đường, mộng thấy mình chăn gối với Thần nữ núi Vu Sơn, Vu Giáp. Vị thần nữ có nhiệm vụ sáng làm mây, tối làm mưa (Triêu vân mộ võ). Do vậy, các chữ Đỉnh Giáp non Thần, mây mưa, Vu Sơn, Vu Giáp, Cao Đường đều chỉ trai gái chung chạ nhau.

Sông Tương đổ ngọc làm Cam lộ,

Ðảnh giáp trao châu cất Phụng lầu.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

ĐẢNH HẠC

Hay “Đỉnh hạc”.

Đảnh (đỉnh): Phần cao nhất ở thân thể người ta hay cao nhất của ngọn núi. Hạc: Chim hạc.

Đảnh hạc, như chữ “Đỉnh hạc 頂 鶴”. là núi có chim hạc. Hạc là loài chim thích sự thung dung, thong thả, thường được ví với Tiên, nên “Đảnh hạc” tức chỉ cõi Tiên.

Không sắc, sắc không vui đảnh hạc,

Hạc về chốn cũ dựa rừng tòng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Non xế nhành thung oanh nhặt thúc,

Rừng tà đảnh hạc khách trông mong.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Đảnh hạc vầy đoàn tua bước tới,

Mộng hồ bỏ lối chớ dần dà.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

ĐẢNH HỒ

Hay “Đỉnh hồ”.

Đảnh (đỉnh): Cái vạc. Hồ: Trái bầu khô, dùng để đựng rượu hoặc nước.

Sử Ký chép: Vua Hoàng Đế truyền đúc một cái đỉnh ở dưới núi Kinh Sơn. Đỉnh đúc vừa xong, nhà vua cỡi rồng bay lên cõi Tiên. Về sau người ta đặt tên nơi đúc đỉnh là “Đỉnh hồ 鼎 瓠”.

Do chuyện vua cỡi rồng bay lên cõi Tiên nên người ta dùng chữ “Đỉnh hồ” để nói việc vua mất. Sau nầy, gọi chung cho tất cả mọi người chết.

Cổ thi có câu: Vân ám đỉnh hồ, long khứ viễn nguyệt minh hoa biểu hạc quy trì 雲 暗 鼎 湖 龍 去 遠, 月 明 花 表 鶴 歸 遲, nghĩa là mây phủ đỉnh hồ rồng bay khuất bóng, trăng soi trụ hoa, hạc trở lại muộn.

Hiến tuần sơ, hề hiến tuần sơ,

Vân ám đảnh hồ, long viễn tựu.

(Thài Tuần Sơ).

 

 

ĐẢNH KỲ

Hay “Đỉnh Kỳ”.

Đảnh (đỉnh): Phần cao nhất ở thân thể người ta hay cao nhất của ngọn núi. Kỳ: Kỳ Sơn.

Đảnh Kỳ, như chữ “Đỉnh Kỳ 頂 岐”, là chỉ núi Kỳ Sơn, thuộc đất Tây Kỳ, đời Ân Trụ, thuộc nước Trung Hoa, nơi chim phụng hoàng xuất hiện và gáy, báo hiệu vua Văn Vương nhà Châu ra đời, đem lại nền thái bình, thịnh trị cho đất nước.

Xem: Kỳ Sơn phụng gáy.

Câu kinh cửa Khổng dường non Thái,

Tiếng kệ đời Nghiêu giống đảnh Kỳ.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

ĐẢNH LỄ

Hay “Đỉnh lễ”.

Đảnh (đính, đỉnh): Phần cao nhất ở thân thể người ta hay cao nhất của ngọn núi. Lễ: Cách bày tỏ ý tôn trọng.

Đảnh lễ, như chữ “Đỉnh (đính) lễ 頂 禮” là cúi đầu sát đất để làm lễ.

Trong Pháp Chánh Truyền Chú Giải có câu: Còn lễ thì khi vào Đại Điện, tỷ như Giáo Sư Nam phái gặp Phối Sư Nữ phái thì nam phải đảnh lễ nữ trước, lớn nhỏ vẫn đồng, quyền hành tuỳ chức sắc.

Cảm tình đồng Ðạo tri âm,

Cầu Thầy đảnh lễ thành tâm khẩn nguyền.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Đến Cung Đạo đảnh lễ Thầy,

Xong rồi chẫm rãi gót quày tại nghi.

(Cội Đạo Bốn Mùa).

 

 

ĐẢNH NGHIỆP

Đảnh hay đỉnh: Cái vạc có ba chân, tượng trưng cho nước. Nghiệp: Sự nghiệp.

Đảnh nghiệp, như chữ “Đỉnh nghiệp 鼎 業” là cơ nghiệp to lớn, cơ nghiệp của Triều đình, vua chúa.

Do tích Hạ Võ khi trị thuỷ thành công, được vua Thuần truyền ngôi. Vua Hạ võ mới đúc chín cái vạc (cửu đỉnh) lớn, tượng cho chín châu (cửu châu), là báu vật trấn quốc. Nên sau nầy chữ “Đảnh nghiệp” chỉ công nghiệp to lớn và hiển hách của một vì vua.

Trụ tâm nâng đỡ quốc hồn,

Giữ bền đảnh nghiệp vĩnh tồn hậu lai.

(Kinh Thế Đạo).

Nam phong đỡ vững xa thơ Hán,

Bắc tục xô nghiêng đảnh nghiệp Tần.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

ĐẢNH TẦN

Hay “Đỉnh Tần”.

Đảnh (đỉnh): Phần cao nhất ở thân thể người ta hay cao nhất của ngọn núi. Tần: Tên một ngọn núi.

Đảnh (đỉnh) Tần 頂 秦, như chữ “Tần Lãnh 秦 嶺”, là tên một quả núi ở Trung Quốc.

Đảnh (đỉnh) Tần, do thơ Hàn Dũ có câu: Vân hoành Tần Lãnh gia hà tại? 雲 橫 秦 嶺 家 何 在, nghĩa là núi Tần mây phủ nhà đâu nhĩ?.

Vì vậy, “Đảnh (đỉnh) Tần”, “Tần lãnh” hay “Mây Tần” được dùng để nói việc nhớ nhà, nhớ quê hương.

Xem: Mây Tần.

Thanh cao là biết ngon dưa muối,

Hơn ngự lầu Yên ngó đảnh Tần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tranh khoe nguyệt rọi làu sông Vị,

Mây toả sương phơi bạc đảnh Tần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

ĐẢNH TỴ

Hay “Đỉnh Tỵ”.

Đảnh (Đỉnh): Phần cao nhất ở thân thể người ta hay cao nhất của ngọn núi. Tỵ: Còn đọc là Dĩ là núi trọc, không có cây cỏ.

Đảnh (đỉnh) Tỵ, bởi chữ “Tỵ lĩnh 屺 嶺” là đỉnh núi Tỵ, chỉ sự tưởng nhớ bà mẹ.

Do trong Kinh Thi có câu: Trắc bỉ Tỵ (Dĩ) hề, chiêm vọng mẫu hề 陟 彼 屺 兮, 瞻 望 母 兮, nghĩa là trèo lên núi Tỵ (Dĩ) chừ, trông ngóng mẹ chừ.

Gió tuông đảnh Tỵ màu sầu tủi,

Mây phủ cung Càn bạn thảm trông.

(Thơ Thái Quốc Thanh).

 

 

ĐẢNH TỘ

Hay “Đỉnh tộ”.

Đảnh: Cái đỉnh, cái vạc. Tộ: Vận mạng quốc gia.

Đảnh tộ, như chữ “Đỉnh tộ 鼎 祚”, nghĩa thông thường là chỉ về vận nước.

Hoàng đồ toàn bảo thiên thi định,

Đảnh tộ trường lưu tổ nghiệp tồn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Đài Hớn gắn nung hương đảnh tộ,

Thành Tô cố thổi khối biên cương.

(Tôn Sơn Chơn Nhơn).

Giang san gấm vóc bề chơn vạc,

Đảnh tộ Việt Thường vững bốn phương.

(Thơ Thân Dân).

 

 

ĐẢNH THẦN

Hay “Đỉnh Thần”.

Đảnh (đỉnh): Chỉ đỉnh núi. Thần: Thiêng liêng.

Đảnh Thần, như chữ “Đỉnh Thần 頂 神”, chỉ cõi Thần Tiên, tức cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Cành mai thơ thới đượm hơi xuân,

Dìu dắt đem nhau lại đảnh Thần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Buồm trương lái vững chờ sông lệ,

Đưa chiếc thuyền sen dựa đảnh Thần.

(Thượng Phẩm Giáng Bút).

 

 

ĐẢNH VIỆT

Hay “Đỉnh Việt 鼎 越”.

Đảnh (đỉnh): Cái vạc, tượng trưng cho quốc gia, dùng làm vật quan trọng để truyền quốc. Việt: Nước Việt.

Đảnh Việt chỉ đất nước Việt Nam.

Ðảnh Việt chờ qua cơn bão tố,

Muôn năm tỏ rạng mối chơn truyền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Gắng bồi đảnh Việt nền nhân vững,

Rộng chứa vùng Nam cội đức to.

(Cao Tiếp Đạo).

 

 

ĐAO

Đao là con dao to dùng làm binh khí thời xưa.

Như: Đao binh, đao bút, đao kiếm, đao phủ, ngọn thanh long đao của Quan Thánh.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Ðức Chí Tôn có dạy là dân tộc Việt Thường đang ở trong vòng vay trả oan nghiệp, nhưng hơn 20 năm qua đã hứng chịu nạn binh đao thảm khốc, sự đau khổ đã chập chồng trên đất nước, dù là nơi an tịnh tu hành cũng không tránh khỏi thảm hoạ chết chóc, sự nghiệp tiêu tàn, cửa nhà đổ vỡ.

Muốn lấy đạo làm đao hại thế,

Toan dùng văn gọi kế sinh nhai.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Hàng hàng binh ngóng tờ Thiên Chiếu,

Ngũ ngũ quân hầu tướng một đao.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

ĐAO BINH

刀 兵

Đao: Cây đao, nói chung các loại vũ khí thời xưa. Binh: Quân lính.

Đao binh là vũ khí và quân lính, dùng để chỉ chiến tranh, giặc giã.

Trong Điếu văn của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu đọc trước Liên Đài của Đức Thượng Sanh có đoạn: Ðức Ngài đăng Tiên lẽ dĩ nhiên nơi cửa Ðạo từ đây vắng bóng hình, sao khỏi ngậm ngùi thương xót đau buồn, ấy là thường tình thế sự. Nhưng dầu đau xót buồn thương cũng phải nén tấc lòng, mừng cho Ðức Ngài đã giải thoát khỏi cảnh trần tục lụy, chỉ thành tâm cầu nguyện Ơn Trên hai Ðấng Từ Bi đưa linh phan tiếp rước Ðức Ngài càng cao thăng Thiên vị, hầu nơi cõi Thiêng Liêng đủ quyền năng xoay chuyển cơ đời sớm gội nhuần huệ trạch Trời ban, hạnh hưởng cảnh an cư lạc nghiệp, thoát khỏi vòng nghiệt chướng, chấm dứt đao binh, nhơn loại sớm hiệp Ðại Ðồng trong cảnh Trời Nghiêu Ðất Thuấn.

Cõi trần trung giái thinh thinh,

Phàm gian lao khổ đao binh tai nàn.

(Xưng Tụng Công Đức).

Giặc tứ hướng đao binh khởi động,

Dấy can qua các giống giết nhau.

(Ngũ Nương Giáng Bút).

 

 

ĐAO KIẾM

刀 劍

Đao: Dao to dùng làm binh khí thời xưa. Kiếm: Gươm, dùng làm binh khí.

Đao kiếm là dao và gươm, là những thứ binh khí dùng để đánh trận trong thời xưa.

Ngục đao kiếm cầm giam phạm ác,

Tánh gian dâm hành phạt gớm ghê.

(Kinh Sám Hối).

Những vị quốc nhẫng ghê đao kiếm,

Những nô ban tranh biến biên cương.

(Đoàn Thị Điểm Giáng).

 

 

ĐÁO

Đáo là đến. Như: Đáo đầu, đáo tuế.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Mỗi phen đáo đến sở hành ngày giờ ấy, có Hội Giác Tiên là thường tại, từ thử đến giờ chúng ta chưa nghe nói, vì 1.200 năm có một vị Giáo Chủ giáng thế chỉnh Ðạo, bảo thủ tinh thần đạo đức của loài người.

Hy sanh hà xứ đáo Chơn thần,

Tại thế hữu nhơn tất hữu quân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

ĐÁO ĐẦU

到 頭

Đáo: Đến. Đầu: Đầu.

Đáo đầu là đến đầu cùng, có ý nói đến lúc cuối cùng, kết thúc.

Sách Nho có câu: Thiện ác đáo đầu chung hữu báo 善 惡 到 頭 終 有 報, có nghĩa là ăn ở lành hay dữ, rốt cuộc đều có báo ứng.

Trong lòng mưu chước rất sâu,

Mai sau suy sụp đáo đầu ra chi.

(Kinh Sám Hối).

Non chiều ác xế bóng Trời thâu,

Nẻo chánh may nương buổi đáo đầu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Mầu nhiệm dễ chi tìm thấu đáp,

Đáo đầu mới rỏ Đạo là cao.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

ĐÁO ĐỂ

到 底

Đáo: Tới, đến. Để: Đáy, dưới đáy.

Đáo để là đến đáy, đến cùng, đến tận cùng, ý nói quá quắt trong đối xử, không chịu thế kém với bất cứ ai.

Như: Thằng bé đáo để thật không chịu nhường ai.

Hai ông bà cưng đáo để, lớn lên rồi hễ thấy cưng lại thêm nhỏng nhẻo, rồi du côn, rồi hoang đàng chi địa vô giáo dục.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

ĐÁO NHẬM

Hay “Đáo nhiệm”.

Đáo: Đến, tới. Nhậm (nhiệm): Gánh vác, chỉ công việc phải gánh vác.

Đáo nhậm, như chữ “Đáo nhiệm 到 任”, là tới địa phương được bổ nhiệm để nhận nhiệm vụ.

Đáo nhậm (nhiệm) là nói các quan, hay chức sắc Đạo đến nơi làm việc, tức là bắt đầu để nhận chức.

Như: Hiền huynh Giáo Hữu đáo nhậm Ban Đại Diện tỉnh Tiền Giang.

Rồi đây Khâm Trấn bước lên voi,

Ðáo nhậm Biên hoà thấy có mòi.

(Thơ Hiến Pháp).

Vừa tạo chu toàn trường Đạo Đức,

Kế sang đáo nhậm Trấn Biên Hoà.

(Thơ Võ Thành Lượng).

 

 

ĐÁO TUẾ

到 歲

Đáo: Đến. Tuế: Tuổi, năm.

Đáo tuế là đến cái tuổi (Tuổi Âm lịch) mà mình được sinh ra. Đáo tuế đúng 61 tuổi.

Ví dụ: Một người tuổi Ất Dậu, thì đáo tuế của người ấy theo một chu kỳ can chi là 60 năm, tức là đến năm Ất Dậu nữa là đúng 61 tuổi (hay 61 năm).

Đáo tuế mấy ai so sánh kịp,

Lục tuần nào kẻ dám phô trương.

(Bát Nương Giáng Bút).

Đẩy xe linh cảm giữa phong trần,

Đáo tuế nay đà hưởng Thánh ân.

(Thơ Hộ Pháp).

Đáo tuế mừng anh đã đến ngày,

Đạo trời hưởng phước vẹn hoà hai.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

ĐÀO

1.- Đào là dùng thuổng, cuốc lấy đất lên làm thành hố, thành rãnh.

Như: Đào đất, đào huyệt, đào kinh, đào lỗ.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ngài (chỉ Đức Chí Tôn) biểu chúng ta trai giới là cốt yếu Ngài biểu chúng ta đổi đất mà sống, hễ đào đất mà sống thì sống một cách đơn sơ lắm.

Không lẽ đem đào lỗ mà chôn,

Đành nhìn nhận đồng phồn cùng kẻ lạ.

(Phương Tu Đại Đạo).

Thống nhứt ngoại xâm đào hố thẳm,

Bắc Nam tranh chấp khó hùng cường.

(Thơ Nguyệt Quang).

2.- Đào là diễn viên nữ trong các ngành sân khấu, điện ảnh, trái với kép.

Như: Đào kép, đào cải lương, đào xi nê.

Lo điểm trang phấn sắc áo màu,

Coi tương tợ như đào hát bội.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Đào là một loài cây có hoa màu đỏ hồng, quả ăn ngon, hột có nhân, cùng họ với lê, mận, dùng ăn quả hoặc làm cảnh.

Như: Đào lý, hồng đào, hột đào.

E ra nhiều thiếp nhiều hầu,

Rồi tham bẻ lựu, bỏ đào bơ vơ.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Nữ hễ khôn đào lý ngăn rào,

Càng chặt giữ càng cao trọng giá.

(Phương Tu Đại Đạo).

Trong tôn giáo Cao Đài, đào còn gọi là “Bàn đào 蟠 桃”, là một thứ đào trồng ở cõi Tiên, ba ngàn năm mới kết quả một lần, ăn vào có thể trường sinh. Như: Đào Tiên, nguồn đào, Hội yến Bàn đào.

Cái bả vinh huê đời rối rắm,

Nguồn đào thong thả đã là đâu?

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Rượu cúc Bàn đào chờ hội ẩm,

Thuốc Tiên lò tạo giữ sanh tồn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

4.- Đào cây đào dùng với nghĩa rộng chỉ sắc đỏ phơn phớt như màu hoa đào.

Như: Má đào, yếm đào, cờ đào.

Muốn trau chuốt mặt ngần thân dịu,

Vẽ cho hay mày liễu má đào.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Đừng làm cho hổ phận má đào,

Xưng quân tử làm sao đáng mặt.

(Phương Tu Đại Đạo).

5.- Đào là trốn, chạy, không dùng một mình. Như: Đào binh, đào tẩu, đào thoát, nan đào.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Nào hay mạng căn dĩ định, thiên số nan đào, Ngài trở bịnh không mấy ngày, bỗng chốc rời bỏ xác trần quy hồi Tiên cảnh.

Bỏ ngũ tàn quân người mất vía,

Bôn đào bại tướng kẻ hồn kinh.

(Thơ Thành Toại).

6.- Đào là nước dậy sóng, không dùng một mình. Như: Ba đào.

Điếu văn Ngài Hiến Đạo đại diện Hội Thánh Hiệp Thiên Đài đọc trước Liên đài Đức Thượng Sanh có câu: Ðạo gặp phải cơn khảo đảo trầm trọng, khuynh nguy như con thuyền chơi vơi mặt biển, giữa sóng ba đào. Ðức Hộ Pháp lưu vong nước ngoài. Tín hữu Cao Ðài trong vùng Thánh địa không người lãnh đạo, chiu chít như gà.

Ba đào qua, lố bóng Ngân,

Toàn cầu cả thấy nhân quần đắp xây.

(Xuân Hương Giáng Bút).

Ba đào sóng bủa bởi thuyền to,

Lèo lái kiên gan vững phận trò.

(Thơ Thân Dân).

 

 

ĐÀO CÔNG

陶 公

Đào: Học Đào 陶. Công: Ông.

Đào công có nghĩa là ông Đào, chỉ Phạm Lãi, một công thần của vua nước Việt thời Xuân Thu.

Phạm Lãi sau khi về trí sĩ lấy hiệu là Đào Chu, nên người ta còn gọi là Đào công.

Xem: Đào Chu.

Vui thú Đào Công khỏi bận lòng,

Lịch ngưng soạn thảo tạm nghề nông.

(Thơ Huỳnh Bá Tòng).

 

 

ĐÀO CHÂU

Hay “Đào Chu”.

Đào Châu, còn đọc là “Đào Chu 陶 周”, tức là hiệu của Phạm Lãi.

Sau khi giúp vua Việt Vương Câu Tiễn khôi phục đất nước xong, Phạm Lãi rong thuyền chơi Ngũ hồ, rồi đến đất Đào, tự hiệu là “Đào Chu Công”.

Nhờ tài kinh doanh mua bán, ông trở nên người giàu có. Tương truyền ông có viết cuốn “Đào Công Trí Phú”.

Xem: Phạm Lãi.

Dựa bóng dẫn đường thuyền Phạm Lãi,

Treo gương chỉ chữ sách Đào Châu.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

ĐÀO ĐỘN

陶 沌

Đào: Chế tạo, nung đúc. Độn: Trộn qua trộn lại.

Đào độn là rèn luyện và hun đúc.

Nhân vía Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung, Hộ Pháp có câu: Một nền chơn giáo gặp trong thời buổi trí thức tinh thần của con người đã bị tài năng hoá học đào độn không còn cái quyền vi chủ tâm lý của mình.

Long Tu Phiến có thể vận chuyển Càn Khôn Vũ Trụ, do nguơn khí đào độn sanh ra đó vậy.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

ĐÀO HOA

桃 花

Đào: Cây đào. Hoa: Bông.

Trong văn chương, người ta thường ví người con gái có nhan sắc là Hoa đào hay Đào hoa do ở Lệ Tình tập 麗 情 集 có kể lại câu chuyện như sau:

Thôi Hộ là một thi gia đời Đường, nhân ngày lễ thanh minh đi thăm mộ, ghé vào xin chén nước trà của người con gái đương đứng dưới cửa ngõ bên cây đào. Người con gái mời chén trà và có ý nhìn Thôi Hộ bằng một vẻ hữu tình. Năm sau đi lễ thanh minh, lại ghé thì khôngh thấy người con gái ấy. Thôi Hộ bèn đề vào gốc đào một bài thơ: Khứ niên kim nhật thử môn trung, Nhân diện đào hoa tương ánh hồng. Nhân diện bất tri hà xứ khứ, Đào hoa y cựu tiếu đông phong 去 年 今 日 此 門 中, 人 面 桃 花 相 映 紅. 人 面 不 知 何 處 去, 桃 花 依 舊 笑 東 風. Dịch: Cửa này năm ngoái thấy bên trong, Vẻ thắm đào tươi ánh má hồng. Nay chẳng thấy người đâu đó tá? Hoa đào còn cợt với gió đông.

Qua năm thứ ba, Thôi Hộ đi thanh minh lại ghé lần nữa, cửa nhà đóng bên trong có tiếng khóc. Hỏi thăm mới được biết rằng người con gái ấy đã vì bài thơ của Hộ đề, mà đau tương tư, nay mới chết và chưa liệm. Hộ xin vào thăm, đến bên tử thi gọi to lên, người chết bèn sống lại.

Vì thế, người ta thường ví người con gái đẹp là Hoa đào hay Đào hoa.

Đào hoa còn là một ngôi sao trong khoa Tử vi, là vì sao ảnh hưởng đến tình duyên của con người: Nếu nam thì nhiều cô gái yêu thương, nếu nữ thì nhiều tình duyên vương vấn suốt đời.

1.- Đào hoa dùng để chỉ phụ nữ đẹp.

Bóng trời soi nụ đào hoa,

Thơm tho quốc tuý, điều hoà Việt phong.

(Xuân Hương Giáng Bút).

Tươi thắm đào hoa môi thục nữ,

Thướt tha liễu rũ tóc giai nhân.

(Thơ Thuần Đức).

2.- Đào hoa chỉ sự ảnh hưởng sao Đào hoa.

Số mạng đào hoa sức gió dồi,

Tưởng thân đến thế nghĩ thì thôi.

(Đạo Sử).

Mượn kiếp đào hoa răn kiếp trước,

Không tu Thầy dặn khó khi thành.

(Đạo Sử).

 

 

ĐÀO YÊU

桃 夭

Đào: Cây đào. Yêu: Đẹp và sum sê.

Đào yêu là cây đào vào lúc xinh đẹp và sum sê cành lá dùng để ví với người con gái đến tuổi lấy chồng.

Kinh Thi trong bài “Đào yêu” có viết: Đào chi yêu yêu, Chước chước kỳ hoa. Chi tử vu quy, Nghi kỳ thất gia 桃 之 夭 夭, 灼 灼 其 華. 之 子 于 歸, 宜 其 室 家, Dịch vần: Đào tơ mơn mởn xinh tươi, Hoa hồng đơm đặc dưới trời xuân trong. Hôm nay nàng đã theo chồng, Nên bề gia thất ấm nồng thuận vui (Tạ Quang Phát dịch).

Đóng chặt cửa giữ nguyên trinh tiết,

Trọng thân danh bền nét đào yêu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Chẳng như thiếp nhớ ơn giải cấu,

Mến từ khi mở nụ đào yêu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ĐÀO LÝ

桃 李

1.- Đào lý là đào và mận, chỉ chung chốn quan trường, nơi quyền quý, hoặc những người tài ba lỗi lạc.

Tục Thông Chí chép: Địch Nhân Kiệt đời nhà Đường tiến cử lên vua ba mươi người đều là những người tài năng. Người đương thời khen: Thiên hạ đào lý tận tại công môn 天 下 桃 李 盡 在 公 門, nghĩa là người hiền tài trong thiên hạ đều ở tại nhà Ngài (Chỉ nhà Địch Nhân Kiệt) mà ra.

Xem: Mận đào.

Đào lý những mong vầy một cửa,

Làng thi dìu dắt cậy nhau cùng.

(Thơ Thuần Đức).

Chật cửa chi lan hương sực nức,

Đầy sân đào lý khách lân la.

(Thơ Chơn Tâm).

2.- Đào lý còn dùng để ví với người con gái, hay nói về tình yêu nam nữ.

Dạy kế hay đào lý ngăn rào,

Đừng để trống bướm ong xao xuyến giỡn.

(Phương Tu Đại Đạo).

Vườn xuân đào lý buổi liên chi,

Tác hợp cho con lúc thiếu thì.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

ĐÀO LUYỆN

陶 鍊

Đào: Làm đồ gốm. Luyện: Rèn kim khí.

Đào luyện là đào tạo và rèn luyện cho đạt đến hay, tốt. Nghĩa bóng: Nung đúc, rèn luyện trở nên người tài ba để giúp đời.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Chúng ta nhờ tìm mà hay, nhờ học mà hiểu, đào luyện trí lự đặng nối chí tiền nhơn.

Đào luyện môn đồ nơi trướng đỏ,

Kết liên thi hữu bậc tròng xanh.

(Thơ Thuần Đức).

Thực thi tam lập tôn sư dạy,

Đào luyện tinh thần trược hoá thanh.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

ĐÀO NGUYÊN

桃 源

Đào: Cây đào. Nguyên: Suối.

Đào nguyên là Nguồn đào hay Đào hoa nguyên 桃 花 源: Suối hoa đào. Chỉ nơi Tiên ở.

Do bài “Đào hoa nguyên ký 桃 花 源 記” của Đào Uyên Minh hay Đào Tiềm đời nhà Tấn, Trung Quốc. Bài Ký đó được kể lại một người quê ở Võ Lăng làm nghề đánh cá, theo dòng khe mà chèo thuyền đi, quên mất đường về, nên chèo lạc vào một cái động trồng đầy hoa Đào. Trong động ấy, có một nhóm người đang sinh sống, mà trước đây tổ tiên của họ trốn loạn đời nhà Tần, đến đó ở biệt lập hẳn với người đời bên ngoài động đã từ lâu rồi.

Sau khi tìm cách ra khỏi động Đào nguyên, người đánh cá trở về quê có kể lại sự tình cho viên Thái thú. Viên Thái thú sai người đánh cá trở lại, tìm những chỗ trước đã đánh dấu, nhưng không tìm được lối vào nữa.

Do vậy, Động đào, Nguồn đào, Đào nguyên, hay Suối hoa đào đều được chỉ nơi Tiên ở, hay động Tiên.

Trụ nguyên tánh hồn linh nhàn lạc,

Cõi Đào nguyên cỡi hạc thừa long.

(Kinh Thế Đạo).

Bến mê rước khách thuyền đương đợi,

Đưa đến Đào nguyên hưởng phước lành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ngoài áng Đào nguyên sấn bước vào,

Thiên Thai Tiên đảnh trước cao cao.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

ĐÀO TẠO

陶 造

Đào: Rèn luyện. Tạo: Làm.

Đào tạo là nung đúc, rèn luyện để thành tốt đẹp. Ý nói giáo hoá để thành người hữu dụng.

Thánh giáo Đức Thái Thượng Đạo Tổ có đoạn: Hiền hữu chỉ biết hành động của người mà chưa biết đến Thiên thơ của Ðức Chí Tôn. Có biết thạnh suy mà chưa chịu biết để công linh đào tạo thời thế, đặng dìu dắt chúng sanh cho kịp buổi.

Cơ sanh hoá Càn Khôn đào tạo,

Do Âm Dương hiệp đạo biến thiên.

(Kinh Thế Đạo).

Đào tạo Tổ Đình cảnh tốt tươi,

Điểm tô xã tắc cũng tay Người.

(Thơ Thượng Trí Thanh).

 

 

ĐÀO TIỀM

陶 潛

Đào Tiềm còn có tên là Đào Uyên Minh, tự là Nguyên Lượng, quê ở Sài Tang, Tầm Dương, nay thuộc tỉnh Giang Tây. Ông là người thanh cao, học rộng, thơ văn lỗi lạc, lại có hoài bão lớn, muốn cứu đời. Nhưng thời ông là thời loạn, nên càng thương dân lầm than bấy nhiêu, ông lại càng chán đời.

Nhân làm Huyện lệnh ở Bành Trạch, có viên Đốc Bưu (Một chức lại nhỏ đi thâu thuế) đến huyện, nha lại trình với ông nên đeo đai ra đón. Ông than: Ta có thể vì năm đấu gạo mà phải khom lưng ư?, rồi trả áo mão cho triều đình, bỏ về nhà, viết bài “Quy khứ lai từ 歸 去 來 辭” rất nổi tiếng. Về sau mấy lần ông được mời trở lại nhưng ông đều từ chối cả.

Mái tranh Gia Cát đôi chồng sách,

Ngọn suối Đào Tiềm một lưỡi câu.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

ĐÀO TIÊN

桃 仙

Đào tiên: Đào trồng ở cõi tiên.

Tương truyền loại đào tiên này người phàm ăn được một quả sẽ thành tiên. Đào này có ở vườn đào của bà Tây Vương Mẫu. Theo Hán Võ Cố Sự: Đông Phương Sóc qua thỉnh bà Tây Vương Mẫu, bà giáng lâm ban cho vua Hán Võ Đế bốn quả đào tiên và cho biết rằng: Cây đào tiên ba ngàn năm mới nở hoa, ba ngàn năm nữa mới kết quả, ăn được một quả thì sống đời đời.

Đức Hộ Pháp thuyết đạo tại Báo Ân Từ, ngày rằm tháng 8 năm Ðinh Hợi (1947) như sau: Nơi Diêu Trì Cung, Phật Mẫu trụ sanh quang lại thành một khối gọi là quả đào tiên, đủ phép sống vĩnh viễn trường tồn nơi cõi Hư linh. Phật Mẫu cầm quyền phép huờn chơn thần cho ta đạt kiếp nơi cửa Hư Linh.

Xem: Bàn đào.

Diệt tục kiếp trần duyên oan trái,

Chưởng Đào tiên thủ giải trường tồn.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

Mẹ dành để đào Tiên cho trẻ,

Rượu bồ đào tay lẹ con nâng.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

ĐÀO THẢI

淘 汰

Đào: Đãi gạn lựa lấy cái tốt. Thải: Bỏ ra, loại ra, không dùng nữa.

Đào thải là nói về luật tự nhiên loại ra khỏi môi trường vật nào đó, tức đãi gạn những cái kém, vô dụng mà bỏ ra ngoài.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Sống giữa thế kỷ nầy một nền văn minh phát triển máy móc nếu sống mà không có trường hợp tranh đấu đặng bảo vệ sanh mạng, thì thấy cái sống của con người ta khó khăn không biết thế nào, vì lẽ khó khăn ấy, trong trường hợp tranh đấu không có đủ năng lực, nên dường như con người bị đào thải ra khỏi xã hội nhơn quần.

Vạn sự chung quy đều biến dịch,

Thiên nhiên đào thải luật do Trời.

(Thơ Huệ Ngàn).

 

 

ĐÀO THƠ

Đào: Cây đào, thường ví với người con gái. Thơ: Còn trẻ tuổi, còn nhỏ tuổi.

Đào thơ hay đào thư, đồng nghĩa với đào non (đào yêu 桃 夭) là nói người con gái non trẻ.

Xem: Đào non, Đào yêu.

Nuôi con từ lúc đào thơ,

Bao nhiêu máu thịt công chờ bấy nhiêu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Cẩm phong nhuỵ đào thơ nở bóng,

Vẻ trân cam lồng lộng mùi thơm.

(Nhị Nương Giáng Bút).

 

 

ĐÀO THƠ LIỄU YẾU

Đào liễu: Ví với người con gái tơ non, thước tha mềm mại. Thơ yếu: Non và mềm mại yếu đuối.

Đào thơ liễu yếu nói dáng dấp của người phụ nữ trẻ đẹp, yếu ớt và mềm mại.

Xem: Đào non, bồ liễu.

Mỉm miệng đào thơ cười cợt gió,

Nghiêng mình liễu yếu đón chào trăng.

(Thơ Tiếp Pháp).

 

 

ĐÀO VIÊN

桃 園

Đào: Cây đào, trái đào. Viên: Vườn.

Đào viên là vườn đào, chỉ vườn đào kết nghĩa của ba người là Lưu Bị, Quan Võ và Trương Phi.

Do tích vào cuối đời Đông Hán, có ba người thanh niên anh hùng, hảo hán, không hẹn mà gặp nhau ở đất Cối Kê, đó là Lưu Bị, dòng dõi nhà Hán, Quan Vân Trường và Trương Phi. Ba người nguyện kết nghĩa anh em sống chết có nhau tại vườn đào nên người đời gọi là “Đào viên kết nghĩa”.

Xem: Nghĩa Đào Viên.

Nghĩa Đào viên Lưu, Quan, Trương kết,

Tình anh em sống chết không rời.

(Báo Ân Từ).

 

 

ĐẢO

1.- Đảo là lộn trên xuống dưới, dưới lên trên, quay ngược. Như: Đảo huyên, điên đảo.

Thánh giáo Thầy có câu: hoạ Âu tai Á sẽ lần lần thay phiên nhau, dụng luật Thiên đình mà diệt phạt người vô đạo. Càn khôn cũng vì đó mà phải điên đảo.

Phiên thành tạc để danh trung hiếu,

Ðiên đảo khiến rời rã tóc tơ.

(Thơ Huệ Giác).

2.- Đảo là cầu, không dùng một mình. Như: Cầu đảo Đức Chí Tôn, đảo cáo, khẩn đảo.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Lại nữa, Ðức Khổng Tử có dạy một lời thiết thực đáng ghi nhớ là khi Ngài đau, Thầy Tử Lộ xin phép khẩn đảo.

Dầu nghiệt chướng số căn quả báo,

Đừng hãi kinh, cầu đảo Chí Tôn.

(Kinh Tận Độ).

Nhứt tâm khẩn đảo Cam Lồ thuỷ,

Hoà hiệp nhứt tràng bạch lão ông.

(Đạo Sử).

3.- Đảo là cù lao nổi ở bể. Như: Đảo Phú Quốc, Bồng đảo, Doanh đảo.

Thánh giáo Thầy có câu: Nhưng mà buộc phải lập Chánh thể, có lớn nhỏ đặng dễ thế cho các con dìu dắt lẫn nhau, anh trước em sau mà đến nơi Bồng đảo.

Phong trần thương kẻ mang thân đọa,

Bồng đảo vì ai giữ tấc thành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Bồng Lai vắng mặt Tiên buồn nhớ,

Dinh đảo nghiêng tai Thánh khảy đờn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Khi động Thánh, lúc non Tiên,

Sớm thì Hải đảo, tối miền Thiên Thai.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ĐẢO CÁO

禱 告

Đảo: Cầu đảo hay cầu xin. Cáo: Nói cho biết.

Đảo cáo là cầu xin với Trời, hoặc các Đấng Thiêng Liêng về một việc gì.

Ngày xưa, khi phạm tội với Trời người ta thường hay bày lễ để cầu đảo. Tương truyền, Đức Khổng Tử bị đau nặng, học trò là thầy Tử Lộ xin Thầy bày lễ cầu nguyện để mau được khỏi bệnh. Nhưng Ngài lại nói rằng “Khâu chi đảo cửu hỹ 丘 之 禱 久 矣” nghĩa là Ta cầu nguyện đã lâu rồi. Ý Ngài muốn nói chung thân Ngài làm điều nhơn nghĩa, như vậy lúc nào Ngài cũng đã cầu xin rồi.

Theo Ngài nếu ai bất nhân bất nghĩa, làm điều trái đạo, mắc tội với Trời, dù có cầu xin cũng không có ích gì: Hoạch tội ư Thiên, vô sở đảo dã 獲 罪 於 天 無 所 禱 也, nghĩa là phải tội với Trời còn cầu xin vào đâu được.

Lòng sở vọng gắn ghi đảo cáo,

Nhờ Ơn Trên bổ báo phước lành.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

ĐẢO ĐIÊN

倒 顛

Đảo: Lật đổ. Điên: Ngã xuống.

Đảo điên là làm rối trật tự, đang xuôi bỗng nhiên lật ngược, chỉ sự thay đổi lung tung, tráo trở, lừa đảo hay lật lọng.

Đảo điên còn dùng để chỉ sự đảo lộn lớn về trật tự, đạo đức, xã hội. Như: Thời buổi đảo điên.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Buồn là vì có biến chuyển xảy ra trong lúc đầu năm làm cho con cái của Đạo phải chịu thống khổ, nhân tâm ly tán, tình thế đảo điên.

Làm quan tính kế đảo điên,

Gạt thâu gia sản, đất điền của dân.

(Kinh Sám Hối).

Mẹ cha thảm, vợ con phiền,

Nhuốc nhơ danh giá, đảo điên đạo nhà.

(Thơ Bảo Pháp).

Tơ tóc rã rời khiến đảo điên,

Hiếu trung danh để tạc thành Phiên.

(Thơ Chánh Đức).

 

 

ĐẢO HUYỀN

倒 懸

Đảo: Lật ngược. Huyền: Treo.

Đảo huyền là treo ngược.

Sách Mạnh Tử, thiên Công Tôn Sửu có câu: Dân chi duyệt như giải đảo huyền 民 之 悅 如 解 倒 懸, nghĩa là dân vui vẻ như đang bị treo ngược mà có kẻ mở dây.

Đảo huyền nghĩa bóng chỉ sự khốn khổ.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Nếu đời còn ly loạn, nước còn đảo huyền, quốc dân còn chịu khổ sở lầm than là do xã hội Việt Nam còn dẫy đầy những hạng tham vàng bỏ nghĩa, dám vì chút lợi mà quên lấy thân, như miếng ăn chẳng hạn!

Biến chuyển Trời Nam cuộc đảo huyền,

Trả vay cho sạch vết oan khiên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Đời ly loạn nghĩ thôi quá ngán,

Cảnh đảo huyền bày dạng thương đau.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

ĐẢO NGƯỢC

Đảo: Quay ngược, lộn ngược, trái ngược. Ngược: Nghịch, không thuận.

Đảo ngược là thay đổi ngược lại hoàn toàn.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Năng lực của một chơn linh Ðại giác còn có thể làm cho toàn cầu đảo ngược, thì năng lực tinh thần của Thánh Thể Ðức Chí Tôn, nếu nói năng lực đó là của toàn con cái của Ngài hiệp lại tất đoạt được quyền năng mãnh liệt huyền diệu ấy, thì lo gì Thánh Thể của Ngài không tận độ thiên hạ đặng.

Chúng ta biết rằng đời hiện tại là đời mạt kiếp, nên cang thường đảo ngược, luân lý suy đồi.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

ĐẠO

1.- Đạo là đường lối, nguyên tắc mà con người phải noi theo trong cuộc sống xã hội. Như: Đạo làm người, đạo làm con, đạo vợ chồng.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Không vì công lớn mà tỏ vẻ tự đắc, lập thế chuyên quyền làm điều trái đạo cho kẻ ăn oán nuốt hờn, người thở than đau khổ, biết lo chung cho sanh chúng, không cần tiếng bợ lời khen, tự khép mình vào khuôn viên đạo đức, treo tấm gương thanh bạch quyết thực hành tôn chỉ vì Ðạo cứu đời.

Hễ là vào đạo vợ chồng,

Hư nên đều có của ông công bà.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Dạy chừa thói dùng mưu kế xảo,

Dụ gái lành lỗi đạo làm con.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Đạo là tôn giáo. Như: Đạo Thiên Chúa, Đạo Tin Lành, Đạo Phật, Đạo Cao Đài.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Mở một mối đạo chẳng phải là sự thường tình, mà sanh nhằm đời đặng gặp một mối đạo cũng chẳng phải dễ.

Mối đạo từ đây rán vẹn gìn,

Tu là khổ hạnh khá đinh ninh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nguồn đào lạc lối ấy duyên may,

Gặp đạo nương theo bước dặm dài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3,- Đạo là đưa, dẫn. Như: Dẫn đạo, hướng đạo.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Phong hoá tốt đẹp bị bôi dơ, hỏi vậy chúng ta ngày nay đây, ai dẫn đạo tinh thần mà đã biết như vậy thì nên bỏ hay là phải cố thủ? Phải bảo thủ cái thể chất toàn hảo ấy là điều Chí Tôn mong muốn hơn hết.

Xem: Dẫn đạo.

Tam Kỳ độ rỗi người quy thiện,

Dẫn đạo sao ta lắm khổ nàn.

(Thơ Thái Bộ Thanh).

 

 

ĐẠO BẦN THẢNH THƠI

Đạo bần: Hành đạo bị nghèo nàn về tiền bạc. Thảnh thơi: Nhàn nhã, dễ chịu, không phải bận bịu lo nghĩ.

Người hành Đạo thường chủ trương “An bần lạc đạo 安 貧 樂 道”, tức là an phận với cảnh nghèo để vui với mùi đạo. Vì vậy, hành đạo dù gặp nghèo khó nhưng lòng lúc nào cũng thấy thảnh thơi.

Đời bần thì lại khổ thân,

Đạo bần thì lại muôn phần thảnh thơi.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

ĐẠO BẾ

道 閉

Đạo: Tôn Giáo. Bế: Đóng lại.

Người ta thường ví Đạo hay Đạo pháp như một dòng nước chảy hoài chảy mãi từ ngàn xưa đến nay, không bao giờ dứt. Dòng Đạo pháp có lúc cũng bị cây cỏ bao phủ, chận lấp làm tắc nghẽn, thì lúc ấy sẽ có Thánh nhân ra đời khai thông dòng Đạo pháp cho lưu thông trở lại và tiếp tục chảy mãi.

Như vậy, Đạo pháp vẫn luôn tồn tại và vận chuyển không ngừng trong Càn khôn Vũ trụ. Pháp của Đạo được ví như nước biển, nước sông, nước suối nguồn chảy từ thượng lưu đến hạ lưu, để chúng sanh dùng nước Đạo pháp đó rửa sạch những bụi trần, tẩy nhơ những phiền não và gội rửa những khổ nghiệp, làm cho thân tâm an lành.

Như vậy, Đạo hay Đạo pháp không bao giờ mất đi hay tiêu diệt, chỉ có Đạo bị bế mà thôi.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Các nguyên nhân ấy không phương gì tự giải thoát đặng vì quá tội tình, quá mê luyến hồng trần hoặc đào tạo quả kiếp nặng nề quá đổi, vì cớ cho nên tu thì có tu mà thành thì không có thành, tức nhiên từ ngày Đạo bế thì cơ siêu thoát đã mất tại mặt thế này, chính mình Đức Chí Tôn biết rằng không thế gì các nguyên nhân tự mình đạt cơ giải thoát đặng.

Từ ngày Đạo bế, tu thì nhiều mà người đắc đạo rất ít, vì Thần là cơ mầu nhiệm mà lại bị khiếm.

(Thánh Ngôn Chí Tôn).

Cưc Lạc quan thấy không xiết kể,

Nhiều chơn linh Đạo bế nào hay.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

ĐẠO CẢ

Đạo: Tôn giáo. Cả: Lớn.

1.- Đạo cả là nền Đạo lớn, ý chỉ nền nhơn đạo, tức đạo nhơn luân.

Như: Hiếu thảo với cha mẹ làm tròn nền đạo cả.

Ghen sợ chồng thân thể hao mòn,

Ghen sợ bịnh không tròn đạo cả.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Đạo cả còn là Đại Đạo, một nền Đạo lớn, do Đức Chí Tôn giáng cơ khai mở, đó là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Mấy lần nền Ðạo, Thầy cũng đều bị các con mà hư giềng Đạo cả. Thầy buồn đó các con.

Nơi cung Ngọc học thông Đạo cả,

Chốn Hư vô Tạo Hoá tìm cơ.

(Kinh Thế Đạo).

Nền Ðạo của Thầy nền Ðạo cả,

Con con đừng sợ thị hoà phi.

(Đạo Sử).

 

 

ĐẠO CAO NHỨT KHÍ

Đạo cao: Đạo cao thâm, hay đạo pháp cao siêu. Nhứt khí: Một khí, chỉ Hỗn nguơn khí.

Đạo cao nhứt khí, như chữ “Đạo cao nhất khí 道 高 一 氣”, là Đạo cao siêu do một khí sinh ra, đó là Hỗn nguơn nhứt khí, hay Nguyên khí.

Theo bài kinh Tiên Giáo, Đạo Vô vi của Đức Thái Thượng Đạo Quân có trước Trời đất, tức là Đạo Vô vi đó rất cao siêu, huyền diệu là do Hỗn nguơn nhứt khí, hay nguyên khí mà sinh ra từ thời kỳ vô thuỷ.

Đạo cao nhứt khí.

Diệu hoá Tam Thanh.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

ĐẠO CAO VÔ CỰC

道 高 無 極

Đạo cao: Đạo cao thâm, hay đạo pháp cao siêu. Vô cực: Không cùng tận.

Đạo cao vô cực là Đạo cao thâm vô cùng tận.

Đạo pháp bao giờ cũng vi diệu cao thâm, nhưng không phải vì thế mà chúng sanh vói không tới được. Được hay không là tại lòng của chúng sanh vậy. Trong Thánh thi có bài: Đạo cao thâm, Đạo cao thâm, Cao bất cao, thâm bất thâm. Cao khả xạ hề thâm khả điếu, Cao thâm vạn sự tại nhơn tâm 道 高 深, 道 高 深, 高 不 高, 深 不 深. 高 可 射 兮, 深 可 釣, 高 深 萬 事 在 人 心. Nghĩa là: Đạo cao sâu, Đạo cao sâu. Cao chẳng cao, sâu chẳng sâu, Cao có thể bắn, sâu có thể câu, muôn việc lòng người định cao sâu.

Đạo cao vô cực,

Giáo xiển hư linh.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

ĐẠO CỐT TIÊN PHONG

道 骨 仙 風

Đạo cốt: Cốt cách như một Đạo sĩ. Tiên phong: Phong thái như một vị Tiên.

Đạo cốt Tiên phong, như câu “Tiên phong Đạo cốt”, là cốt cách người Đạo, phong thái như Tiên, ý chỉ phẩm cách cao thượng.

Gái lịch, trai thanh, nên Đạo cốt,

Mụ thơ, lão trẻ, rất Tiên phong.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

ĐẠO CHÍCH

盜 跖

Đạo: Ăn trộm. Chích: Tên một người ăn trộm có tài thời xưa.

Theo Sử Ký Tư Mã Thiên, Đạo Chích là tên ăn trộm từ đời vua Hoàng Đế. Nhưng theo Hán Thư thời Xuân Thu ở tại nước Tần có người ăn trộm trâu bò khét tiếng, lại cướp đoạt tài sản đàn bà con gái, hoành hành trong thiên hạ, nên người đời mới đặt tên cho hắn là Đạo Chích.

Bư như Ðạo Chích thế khen khôn,

Khôn giống ông Nhan gọi chẳng hồn.

(Đạo Sử).

Quỷ đói giục lòng tham Đạo Chích,

Ma nghèo lờn mặt bám thi gia.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

ĐẠO CHỒNG VỢ

Đạo: Đường lối hay phép tắc của con người phải theo. Chồng vợ: Chồng và vợ trong gia đình.

Đạo chồng vợ, như chữ “Đạo vợ chồng”, là quy tắc cư xử cho hợp đạo lý của người vợ lẫn người chồng.

Đạo vợ chồng được Nho giáo xếp một trong Tam cang: Đó là Phu thê cang.

Đạo chồng vợ cũng là đạo trượng,

Cuộc trăm năm cực sướng gởi thân nhau.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐẠO DÂU

Đạo: Những phép tắc và lề lối hợp lẽ phải. Dâu: Con dâu, vợ của con trai mình.

Đạo dâu là đạo lý của người con dâu, tức bổn phận của một người con dâu trong gia đình bên chồng.

Như: Người phụ nữ Cao Đài khi về nhà chồng phải giữ phận đạo dâu.

Ở sao đáng phận đạo dâu,

Thờ chồng tiết hạnh mới hầu gái ngoan.

(Kinh Sám Hối).

 

 

ĐẠO ĐỜI TƯƠNG ĐẮC

Đạo: Tôn giáo. Đời: Thế tục, chỉ ngoài Tôn giáo. Tương đắc: Cùng hợp ý với nhau.

Người theo Đạo thì không ham danh lợi, tiền tài, cho vật chất là giả tạm, chạy theo nó thì chịu nhiều phiền não khổ đau. Người Đạo chỉ lo việc tu hành để được giải thoát. Người đời thì ngược lại, chỉ chạy theo danh vọng, tước quyền.

Đạo đời phải tương đắc, tức là cùng trợ giúp nhau. Khi đời trọng Đạo, Đạo dìu đời thì đời sẽ thái bình, dân chúng hạnh phúc. Khi đời khinh Đạo, tìm cách diệt Đạo thì đời sẽ bị loạn lạc luân thường đạo lý suy đồi, loạn lạc khắp nơi.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Trên bước đường hành sự, chúng ta phải làm thế nào cho Ðạo đời tương đắc, nhứt là giúp ích cho quê hương xứ sở về mặt tinh thần, lo giáo hoá nhơn sanh tiến tới đường đạo đức, làm lành lánh dữ, mến chuộng công lý, biết thương yêu giúp đỡ lẫn nhau đặng cùng xây dựng hạnh phúc chung cho đồng bào, chúng ta mới cộng hưởng cảnh thái bình an cư lạc nghiệp.

Đạo đời tương đắc cứ như nhiên,

Đời Đạo đôi bên nắm vững quyền.

(Thơ Hiến Pháp).

Đạo đời tương đắc xây thời thế,

Sứ mạng thiêng liêng luật sẵn dành.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

ĐẠO ĐỨC

道 德

Đạo: Tôn giáo. Đức: Kết quả của những việc làm lợi ích cho người, cho đời.

Đạo đức là những tiêu chuẩn chung mà mọi người phải tuân theo, và những hành vi hợp với tiêu chuẩn đó gọi là hợp đạo đức.

Thiên Khúc Lễ trong Lễ Kinh có viết: Đạo đức nhân nghĩa phi lễ bất thành 道 德 仁 義 非 禮 不 成, nghĩa là đạo đức và nhơn nghĩa không phải lễ thì chẳng thành. Do vậy, lễ là công cụ của đạo đức, cho nên không có lễ thì chẳng thành.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Chúng ta được sống trong vòng đạo đức nghĩa nhơn dưới bóng yêu thương của Ðức Chí Tôn Ðại Từ Phụ, một đời sống của kẻ lánh giả tầm chơn, tuy đạm bạc trong bữa muối dưa nhưng nồng nhuộm nét trong sạch thanh cao, chúng ta thử ngó lại ngoài mặt xã hội còn biết bao nhiêu người xấu số cơ cực bần hàn, bếp trưa vắng khói, áo mỏng đêm đông, vất vả lầm than, mưa chiều nắng sớm, không được một lời an ủi, không một ý nghĩa về kiếp sống thừa, thì cái đau khổ về hình thể lẫn tinh thần của hạng người ấy mới thật là đáng thương xót.

Cửa đạo đức gầy nên hạnh phúc,

Chốn non sông tạo chút nữ hùng.

(Ngũ Nương Giáng Bút).

Đạo đức ví chưa tìm đến chốn,

Lợi danh đâu dễ thoát xa vòng.

(Thơ Thượng Sanh).

Lộc quyền một thuở vinh rồi hết,

Đạo đức muôn năm tiếng vẫn còn.

(Thông Quang).

 

 

ĐẠO ĐỨC HỌC ĐƯỜNG

道 德 學 堂

Đạo Đức Học Đường là một trường Trung Tiểu học, do Hội Thánh Cao Đài lập ra, xây dựng trong Nội Ô Toà Thánh để dạy đạo đức và văn hoá cho con em người trong bổn đạo.

Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt lập lần đầu tiên bằng cây ván vào năm 1928, tại phần đất kế bên Đông Lang Toà Thánh. Các thầy giáo đều là những người làm công quả có trình độ học vấn tốt nghiệp Tiểu học hoặc Thành Chung, ông Đốc Phủ Nguyễn Hữu Đắc làm Giám Đốc đầu tiên.

Hai câu liễn nơi cổng Đạo Đức Học Đường như sau:

Đạo Đức lưu truyền hậu tấn hiếu trung phò xã tắc.

道 德 留 傳 後 進 孝 忠 扶 社 稷

Học Đường giáo hoá thư sinh nhơn nghĩa lập giang san.

學 堂 教 化 書 生 仁 義 立 江 山

Nghĩa là:

Đạo đức lưu truyền cho đoàn hậu tấn, lấy hiếu trung giúp dân giúp nước.

Học đường để giáo hoá học sinh lấy nhơn nghĩa xây dựng quốc gia.

Sau đó Đạo Đức Học Đường dời về góc đường Phạm Hộ Pháp và Oai Linh Tiên, bây giờ là Y Viện Hành chánh. Giám đốc vẫn là ông Nguyễn Hữu Đắc, đến khi Đức Quyền Giáo Tông quy Tiên (19-11-1934), ông Đắc về Sài Gòn, ông Huờn thay thế, rồi sau đó Hội Thánh bổ ông Nguyễn Văn Hợi làm Giám Đốc.

Khi Pháp chiếm đóng Toà thánh, Đạo Đức Học Đường cũng bị đóng của cùng với các cơ quan Đạo. Đến khi Đức Hộ Pháp hồi loan, Đạo Đức Học Đường lại được dời về cơ sở mới ở phần đất nơi đường Cao Thượng Phẩm, gần cửa số 6 Nội Ô, Ông Nguyễn Hữu Lương được Hội Thánh bổ làm Hiệu Trưởng, hai ông Trần Hữu Khuôn làm Giám Đốc và Hạ Chí Khiêm là Phó Giám Đốc.

Ngày nay, Đạo Đức Học Đường được Sở Giáo Dục tỉnh Tây Ninh quản lý và đổi thành trường Phổ Thông Trung Học Lý Tự Trọng.

Hạnh lâm Đạo Đức Học Đường,

Kim Biên Tông Đạo, trầm hương Khách Đình.

(Thơ Huệ Nhật).

 

 

ĐẠO ĐỨC KINH

道 德 經

Hay “Đạo Đức”.

Theo “Lão Quân Nội Truyện” của Doãn Hỷ thì Lão Tử đi về xứ Tây Tạng, khi đến ải Hàm Cốc, gặp Doãn Hỷ, Ngài lưu lại ở đây để viết quyển Đạo Đức Kinh đưa cho ông rồi mới đi về phía tây Trung Quốc. Quyển Đạo Đức Kinh này, nội dung gồm 81 chương, chia làm hai thiên, hơn năm ngàn chữ viết, là một tác phẩm triết học siêu hình luận về Đạo và Đức.

Trong Đạo Đức kinh, Lão Tử đem cái thuyết vô vi (không làm) ra dạy đời, nhưng “không làm” không có nghĩa là chẳng làm chút nào. Câu: “Vi chi ư vị hữu, trị nhi ư vị loạn 為 之 於 未 有, 治 而 於 未 亂”, nghĩa là “làm lúc việc chưa xảy ra, trị lúc nước chưa có loạn” của Lão Tử đã chứng thực điều đó. Như vậy, Ngài chủ trương vô vi thanh tĩnh. Ngài cho tính nước là cái nên theo, nó gần như Đạo: “Thuỷ thiện lợi vạn vật nhi bất tranh, xử chúng nhân chi sở ố, cố cơ ư đạo 水 善 利 萬 物 而 不 爭, 處 眾 人 之 所 惡, 故 幾 於 道”, nghĩa là nước thì hay làm lợi cho vạn vật mà không tranh. Ở chỗ mà người người đều ghét, nên gần với Đạo.

Trong Đạo Đức Kinh, Lão Tử kịch liệt chống chiến tranh, chống bạo lực, chống sưu cao thuế nặng, chống mọi áp bức và ông đả kích các quan tham ô can thiệp vào đời sống nhân dân một cách thái quá.

Ngoài ra, trong Đạo Đức Kinh có một số chương nói về sự huyền bí và tính chất siêu hình của Đạo.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Đức Chí Tôn có câu: Còn phái Lão duy có Đạo Đức Kinh và Huỳnh Đình Kinh là căn bổn.

1.- Đạo Đức Kinh:

Dị đoan chẳng có toàn chơn pháp,

Cảm ứng còn thêm Đạo Đức Kinh.

(Cội Đạo Bốn Mùa).

2.- Đạo Đức (Kinh):

Tử khí đông lai,

Quảng truyền Đạo Đức.

Lưu sa tây độ,

Pháp hoá tướng tông.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

ĐẠO ĐỨC VĂN ĐÀN

道 德 文 壇

Đạo Đức Văn Đàn là một hội thi văn của các nhà thơ trong đạo Cao Đài thuộc Toà Thánh Tây Ninh.

Đạo Đức Văn Đàn được thành lập vào năm 1950, do Ngài Tiếp Đạo Cao Đức Trọng chủ xướng, Văn Đàn hoạt động được hai năm thì tạm ngưng vì Ngài Tiếp Đạo thường bị bịnh hoạn luôn. Đến năm 1957, Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu đứng ra hoạt động lại Văn Đàn và phụ trách Trưởng ban, Phối Sư Thái Đến Thanh Phó ban. Văn Đàn hoạt động chẳng bao lâu, vì Ngài Bảo Pháp già yếu, phải về Sài gòn dưỡng bịnh, nên Văn Đàn cũng tạm ngưng.

Sau đó, Đạo Đức Văn Đàn bầu Ngài Hiến Pháp Trương Hữu Đức làm cố vấn, Ngài Phối Sư Thái Đến Thanh làm trưởng ban và Chơn Nhơn Phạm Mộc Bổn làm Phó ban để hoạt động trở lại.

Môn sinh ngưỡng mộ hằng lưu luyến,

Đạo Đức Đàn Văn mãi tiếp truyền.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

ĐẠO GIÁO

道 教

Đạo: Từ của Đức Lão Tử dùng để chỉ cái định vị trời đất và sinh thành vạn vật. Giáo: Tôn giáo.

Đạo giáo là một tôn giáo do Đức Lão Tử làm giáo chủ, nên còn được gọi là Lão giáo, hay Tiên giáo.

Đạo giáo trước tiên chỉ là một nền triết lý (Giáo pháp) vô vi, hay nói cách khác, là một triết lý ưa thích cái tự nhiên của Trời đất do Đức Lão Tử chủ xướng trong Đạo Đức Kinh. Về sau, thuyết vô vi của Ngài ảnh hưởng rất lớn ở Trung Hoa, các triết gia kế thừa có ông Liệt Tử đã dựa theo triết lý cao siêu của Ngài mà viết nên quyển Xung Hư Chơn Kinh. Và nhất là Trang Tử, là một nhà hùng biện, đem giáo thuyết vô vi của Ngài ra xiển dương trong quyển Nam Hoa Kinh.

Trong giai đoạn này Đạo giáo vẫn còn là triết lý, đến đời Hán, nhờ ông Trương Thiên Sư (Trương Đạo Lăng), Đạo giáo mới bắt đầu truyền bá rộng rãi trong nhơn gian. Đến đời Tấn, triết lý của các Đạo gia mới được ông Nguyễn Bá Đương chỉnh đốn lại hẳn hoi thành hệ thống một tôn giáo. Đạo giáo mới thực sự là một tôn giáo kể từ đó.

Khó mong Đạo giáo dẫn đường,

Phong Thần Nhựt Bổn cũng dường Trung Hoa.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

ĐẠO HẠNH

道 行

Đạo: Những phép tắc và lề lối hợp lẽ phải. Hạnh: Nết tốt, hay đức hạnh của phụ nữ.

Đạo hạnh là đức hạnh của người tu hành, tức những cử chỉ đoan chính, ngôn từ hiền lành, thanh nhã, phù hợp với tánh nết người chơn tu.

Thánh giáo Chí Tôn có câu: Từ đây, Thầy là Ðứng chủ trung dìu dắt các con trong đường đạo hạnh, nhứt nhứt đều tưởng có Thầy bên các con, và đợi nơi Thầy mà thôi.

Vun nền đạo hạnh khá rèn lòng,

Gặp hội đành vui chữ sắc không.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Kỷ tải phàm trần cam nghiệt chướng,

Nhứt thời đạo hạnh thoát oan khiên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðau bước đường xa hầu đến chốn,

Chốn nao đạo hạnh tập tâm cầu.

(Đạo Sử).

 

 

ĐẠO HẰNG

Đạo: Những phép tắc và lề lối hợp lẽ phải. Hằng: Thường, thường hằng.

Đạo hằng tức là đạo thường hằng, một nền đạo lý tự nhiên của con người phải giữ, phải theo, tức là những phép tắc thường tình cần phải noi theo để cư xử với nhau cho phải phép.

Như: Người tu theo pháp môn nào cũng phải gìn giữ đạo hằng.

Lời Thầy đã có dặn rằng,

Hữu chung hữu thuỷ đạo hằng đừng sai.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Tống Hoằng chí trượng phu không đổi,

Giữ nhơn luân sợ lỗi đạo hằng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Ơn cha mẹ sánh tày Trời Đất,

Nỗi hiếu thân đừng thất đạo hằng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐẠO HỒI

Đạo: Chỉ tôn giáo. Hồi: Tức Hồi giáo.

Đạo Hồi, tức “Hồi giáo 回 教”, hay đạo Islam, là một tôn giáo do Muhammad sáng lập ở thế kỷ VII, thờ Đức Thánh Allah, rất thịnh hành ở Trung Á, Tây Á, Bắc Phi, Thổ Nhĩ Kỳ và miền Tây Bắc Trung Quốc.

Tôn Giáo cũng bất đồng tư tưởng,

Ðạo Hồi dùng tín ngưỡng cực nghiêm.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

ĐẠO HUYỀN

道 玄

Đạo: Nền Đạo, nền Tôn giáo. Huyền: Tức là vô vi huyền diệu.

Đạo huyền là mối đạo vô vi, huyền diệu và linh hiển, ý chỉ Đạo Cao Đài.

Tận thế Trời khai mối Đạo huyền,

Thiên thơ xây chuyển lượng vô biên.

(Nguyệt Tâm Chơn Nhơn).

 

 

ĐẠO HUYỀN VI

道 玄 微

Đạo: Nền Đạo, tôn giáo. Huyền vi: Tức là vô vi Huyền diệu, mầu nhiệm.

Đạo huyền vi, như chữ “Đạo huyền 道 玄”, là mối đạo vô vi, mầu nhiệm.

Xem: Đạo huyền.

Biết đạo huyền vi nâng trí thức,

Biết mồi phú quý đoạ thân hình.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

ĐẠO HUYỀN LINH

道 玄 靈

Đạo: Nền Đạo, tôn giáo. Huyền linh: Tức là vô vi và linh hiển.

Đạo huyền linh, như chữ “Đạo huyền 道 玄”, là mối đạo vô vi, thiêng liêng và mầu nhiệm.

Xem: Đạo huyền.

Mới tám thu bao chầy mà vội,

Đạo huyền linh sớm tối cũng thành.

(Xuân Hương Giáng Bút).

Đạo đức dồi mài tâm gắn bó,

Rồi đây sẽ rõ Đạo huyền linh.

(Thượng Phẩm Giáng).

 

 

ĐẠO HUỲNH

Đạo: Nền Đạo, tôn giáo. Huỳnh: Vàng.

Đạo Huỳnh, như chữ “Huỳnh Đạo 黃 道”, là Đạo vàng, chỉ đạo Cao Đài.

Xem: Thiên khai Huỳnh Đạo.

Đạo Huỳnh tế độ chúng-sanh,

Đạo là Thiên-lý lưu hành ngày đêm.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

ĐẠO HƯ VÔ

道 虛 無

Đạo: Nền Đạo, tôn giáo. Hư vô: Trống không nhưng rất thiêng liêng mầu nhiệm.

Đạo hư vô là Đạo không sắc tướng, Đạo không không, nhưng rất mầu nhiệm.

Hiểu theo Hình nhi hạ của Nho giáo, Đạo là đường lối, phép tắc đối nhân xử thế của con người, đó là Nhân đạo. Đến thời Lão Tử, một Đạo gia đầu tiên của Trung Quốc đưa ra thuyết bản căn của Vũ trụ và đề xướng Đạo luận. Từ đó Đạo được hiểu với nghĩa Hình nhi thượng, tức là Thiên đạo.

Theo Lão tử, Đạo là bản căn của Càn khôn Thế giới, là nguyên lý từ đó mà vạn vật được sinh ra, muôn loài noi theo, là cái quy luật chi phối sự sinh thành biến hoá của Trời đất và muôn vật. Như vậy Đạo là hư vô, Đạo tức Hư vô chi khí, Đạo vốn không hình sắc, nhưng muôn vật có hình thể lại do Đạo sinh ra.

Như vậy, về thể, Đạo là hư vô, không hình tướng; về mặt dụng, Đạo là có, vì là nguồn gốc sinh ra muôn vật. Hay nói cách khác, khi Đạo còn ở trạng thái hư vô, thanh tĩnh thì Đạo là không, khi Đạo đã sinh ra vạn vật thì Đạo là có.

Sách Hoài Nam Tử có viết: Phù vô hình giả, vật chi đại tổ dã 夫 無 形 者, 物 之 大 祖 也, nghĩa là cái không có hình sắc là gốc đầu tiên của mọi vật.

Trong Đạo Đức Kinh, Lão Tử cũng nói: Vô danh thiên địa chi thuỷ, hữu danh vạn vật chi mẫu 無 名 天 地 之 始, 有 名 萬 物 之 母, nghĩa là Không, là tên cái đầu tiên của Trời đất, có là tên gọi mẹ muôn vật.

Tóm lại, “Hữu hình xuất vu vô hình 有 形 出 于 無 形” nghĩa là cái có hình là từ cái không hình mà sinh ra. Như vậy, Đạo là hư vô sinh ra Vũ trụ và vạn vật là cái hữu hình.

Đạo hư vô, Sư hư vô,

Reo chuông thoát tục, phất cờ tuyệt sinh.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

ĐẠO HỮU

道 友

Đạo: Tôn giáo. Hữu: Bạn.

1.- Đạo hữu là người bạn cùng một đạo, một tôn giáo, tức bạn đạo với nhau.

Như: Mọi tín đồ trong đạo Cao Đài đều là Đạo hữu với nhau.

Ngày nay đã mất hết một người môn đệ của Thầy, lại là một đạo hữu của các con, đã cùng các con nghiêng vai gánh vác một trách nhậm trong Ðại Ðạo Tam Kỳ.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

2.- Đạo hữu là một tín đồ giữ trọn được 10 ngày chay mỗi tháng và giữ tròn luật Đạo.

Theo Pháp Chánh Truyền, Đạo hữu được đối phẩm với hàng Địa thần, có thể xin ứng cử vào chức Thông Sự hay Phó Trị Sự, hoặc vào phẩm Minh Đức trong Thập Nhị Đẳng Cấp Thiêng Liêng của Cơ Quan Phước Thiện.

Con cũng cho các đạo hữu rõ rằng: Tân Luật đã lập thành, Hội Thánh cứ đó mà ban hành.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

ĐẠO Y

道 衣

Đạo: Chỉ nền tôn giáo. Y: Áo.

Đạo y còn gọi là Đạo phục, là y phục của người Đạo.

Tín đồ của mỗi tôn giáo đều có một lối ăn mặc riêng, còn các chức sắc, tăng ni thì có đạo phục khác nhau.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có nói: Môn đệ của Thầy nhiều đứa muốn bỏ đạo y, ném dép cỏ, lột khăn tu mà mong hồi tục thế.

Nhìn Thiên Nhãn Huyền Khung Thượng Đế,

Mặc Đạo y dụng kế độ đời.

(Lục Nương Giáng Bút).

Nắm huệ kiếm định thâu trái chủ,

Mặc đạo y sạch giũ phồn hoa.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ĐẠO KỲ

道 旗

Đạo: Tôn giáo. Kỳ: Lá cờ.

Đạo kỳ là lá cờ Đạo.

Mỗi tôn giáo đều có Đạo kỳ để tượng trung cho nền tôn giáo mình.

Đạo kỳ của đạo Cao Đài gồm có ba màu: Vàng, xanh, đỏ, nên còn gọi là cờ Tam Thanh.

Lá cờ đạo được treo theo bề đứng, phần trên là màu vàng, trong có thêu sáu chữ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ bằng chữ Nho, màu đen. Phần giữa là màu xanh, trong có thêu Thiên Nhãn và Cổ pháp Tam giáo (Xuân Thu, Phất Chủ, Bát Vu). Phần dưới cùng là màu đỏ.

Đạo kỳ phất phới giăng Sân lễ,

Hương khói thơm tho ngát Điện tiền.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

ĐẠO KINH HẠO KIẾP

道 經 浩 劫

Đạo: Đạo pháp. Kinh: Trải qua. Hạo: Lớn, đây có nghĩa là nhiều. Kiếp: Tiếng Phạn gọi là Kiếp Ba (Kalpa), Hán dịch là trường thời hay thời phận, là đơn vị thời gian của Vũ trụ. Kiếp còn là từng chặng một của vòng luân hồi con người, tức là một đời người.

Đạo kinh hạo kiếp là Đạo trải qua lâu đời nhiều kiếp. Thật vậy, Đạo có trước khi Trời đất và vạn vật được hoá sanh, đến nay trải qua không biết bao nhiêu đời kiếp.

Theo Lão Tử, Đạo Trời sở dĩ đặng trường cửu là bởi vì Đạo không sống cho riêng mình, mà sống vì vạn vật, cho nên Đạo mới trường sanh: “Thiên địa sở dĩ năng trường thả cửu giả, dĩ kỳ bất tự sanh, cố năng trường sanh 天 地 所 以 能 長 且 久 者, 以 其 不 自 生, 故 能 長 生”, nghĩa là Trời đất sở dĩ được bền và lâu là bởi vì không sống cho riêng mình.

Khai Thiên địa, nhơn vật chi tiên.

Đạo kinh hạo kiếp.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

ĐẠO KHAI TÀ KHỞI

道 開 邪 起

Đạo khai: Thời kỳ mở ra nền Tôn giáo. Tà khởi: Tà quái dấy lên.

Đạo khai tà khởi ý muốn nói khi mở ra một nền tôn giáo thì tà quái sẽ dấy lên để khảo người tu hành.

Phải nhớ kỹ Đạo khai tà khởi,

Quỷ Sa Tăng cũng tới đầy đàng.

(Nguyễn Trung Trực Giáng).

 

 

ĐẠO LÀ MẸ ĐẺ MUÔN LOÀI

Đạo: Nguyên lý đầu tiên của Càn khôn Vũ trụ. Mẹ đẻ: Nguồn gốc sinh ra. Muôn loài: Vạn vật.

Thật vậy, Đạo của Lão Tử là Đạo không hình thể, tức là Đạo Vô vi, mà muôn vật có hình sắc lại do Đạo sinh ra, như vậy về thể, Đạo vốn không, không hình tướng, về mặt dụng, thì Đạo là có, vì là nguồn gốc sinh ra muôn vật. Hay nói khác đi, khi Đạo còn ở trạng thái hư vô, thanh tĩnh thì Đạo là không, khi Đạo đã sinh ra vạn vật thì Đạo là có.

Trong Đạo Đức kinh có câu: “Không, là tên cái đầu tiên của Trời đất, có là tên gọi mẹ muôn vật” (Vô danh thiên địa chi thuỷ; hữu danh vạn vật chi mẫu 無 名, 天 地 之 始, 有 名, 萬 物 之 母).

Như vậy, Đạo ở thời đã hình thành là mẹ của muôn loài trong Vũ trụ.

Đạo vô tận, Đạo vô cùng,

Đạo là mẹ đẻ khắp chung muôn loài.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

ĐẠO LỊNH

Hay “Đạo lệnh”.

Đạo: Tôn giáo. Lịnh (lệnh): Trên sai xuống.

Trong tôn giáo Cao Đài, Đạo lịnh, như chữ “Đạo lịnh 道 令”, là một lịnh truyền dạy của Hội Thánh.

Đạo lịnh còn là một tờ bổ nhiệm cho vị chức sắc đi trấn nhậm tại một địa phương của Hội Thánh.

Đạo lịnh xuất sư đã đến ngày,

Đề thi tiễn bạn buổi hôm nay.

(Thơ Ngọc Nhượn Thanh).

Đạo lịnh Khâm Thành Hội Thánh giao,

Nhơn sanh thống khổ bớt kêu gào.

(Thơ Thượng Tý Thanh).

 

 

ĐẠO LÝ

道 理

1.- Đạo: Đạo đức. Lý: Lẽ.

Đạo lý là cái nghĩa lý phù hợp với đạo đức. Như: Đạo lý Thánh hiền.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bây giờ vận mạng nước nhà Nam cũng thế ấy, phải có loạn mới có bình trị, cũng như chúng ta thấy giờ này đạo lý đã xuất hiện, và nhờ đạo lý ấy họ mới nhìn nhận Hội Thánh chúng ta, mà chúng ta có sợ sệt chi chăng?

Học hỏi khép vào khuôn đạo lý,

Lọc lừa mở rộng cửa khoa trường.

(Thơ Bảo Pháp).

Nước bèo vẫn biết tan rồi họp,

Đạo lý xin gìn chỗ thích trung.

(Thơ Thuần Đức).

2.- Đạo: Tôn giáo. Lý: Lẽ phải, lý lẽ.

Đạo lý là giáo lý một nền tôn giáo. Như: Nền đạo lý của tôn giáo Cao Đài rất mới mẻ.

Con tự hy sinh để đem lại cho dân tộc ấy một nền đạo lý chơn chánh. Ðó là công nghiệp dành sẵn cho con.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

ĐẠO LUẬT

道 律

Đạo: Chỉ tôn giáo. Luật: Pháp luật.

Đạo luật là luật pháp của một nền tôn giáo.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Mới đây trước lịch sử 6.000 năm đời Vua Jacob, trước 6.000 năm theo Đạo luật của dân Hébreux (Do Thái) luật giết người lúc hy sinh dâng con người làm của tế Trời, vẫn còn vậy.

Xem: Đạo luật Mậu Dần.

Đạo luật phương châm để bảo toàn,

Quyền hành Hội Thánh chủ cơ quan.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

ĐẠO LUẬT MẬU DẦN

道 律 戊 寅

Đạo luật: Bản luật pháp của Đạo. Mậu Dần: Tức năm Mậu Dần, 1938.

Trong tôn giáo Cao Đài, ngoài Pháp Chánh Truyền và Tân Luật, vào đầu năm Mậu Dần 1938, Đức Hộ Pháp lúc ấy là chưởng quản Nhị Hữu Hình Đài: Hiệp Thiên và Cửu Trùng, ra lịnh Hiệp Thiên Đài dự thảo một bản Đạo luật thông qua Cửu Trùng Đài và các Cơ Quan Chánh Trị Đạo (Hành Chánh, Phước Thiện, Tòa Ðạo, Phổ Tế) thảo luận và sửa đổi rồi Ngài phê chuẩn và ban hành vào ngày rằm tháng giêng năm Mậu Dần. Đạo luật đó gọi là “Đạo luật Mậu Dần”.

Đạo luật năm Mậu Dần gồm có bốn chương, mười bảy điều luật, trong đó quy định những điều luật cho bốn cơ quan Hành Chánh, Phước Thiện, Phổ Tế, Toà Đạo thi hành.

Đạo luật lập năm Mậu Dần,

Thập Nhị Đẳng Cấp góp phần lập công.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

ĐẠO MẦU

Đạo: Đạo giáo. Mầu: Huyền diệu, mầu nhiệm.

Đạo mầu là Đạo mầu nhiệm.

Thánh giáo của Đức Thanh Sơn Đạo Sĩ có câu: Đạo mầu huyền bí cao sâu là phương cứu khổ. Còn nhứt là thói tệ của đời, là mong chiếm cái hư vị để hãm mình vào nơi tội lỗi.

Đạo mầu rưới khắp nơi trần thế,

Ngàn tuổi muôn tên giữ trọn biên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Đạo mầu sớm học noi gương Thánh,

Đảnh tuý sau vuio dựa nệm bồng.

(Thơ Thượng Sanh).

Nhà Phật ngày nay giữ đạo mầu,

Phiền ba ngảnh lại có vui đâu.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

ĐẠO MUỘI

道 妹

Đạo: Tôn giáo. Muội: Em gái.

Đạo muội là chỉ người em gái cùng chung trong một tôn giáo.

Trong Đạo Cao Đài, những người nhập môn vào Đạo, dù nam hay nữ đều xem nhau như anh, chị em một nhà. Người nhỏ tuổi gọi những người cao niên là Đạo huynh (hay Hiền huynh), Đạo tỷ (hay Hiền Tỷ), còn những bậc trưởng thượng gọi những kẻ hậu bối là Hiền đệ, hoặc Đạo muội (hay Hiền muội).

Thánh giáo Đức Quan Âm Như Lai có câu: Nhiều Đạo muội chẳng để trọn lòng về nền Ðạo. Phải rán công thêm nữa đặng làm cho đáng nét yêu dấu của Ðấng Chí Tôn cho nở mày khách quần thoa cõi Việt.

Sau nầy, chừng Lão liệu có Đạo muội nào đáng công tìm học đạo lý, thì sẽ cho thuyết đạo riêng về Nữ phái.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

ĐẠO NĂM BA

Đạo: Những phép tắc và lề lối hợp lẽ phải. Năm ba: Năm hằng và Ba giềng.

Đạo năm ba là mối đạo nhơn luân của Nho giáo, gồm ba giềng, năm hằng, tức Tam cang và Ngũ thường.

Ba giềng tức là tam cang gồm có quân thần cang, phụ tử cang, phu thê cang là đạo vua tôi, đạo cha con và đạo vợ chồng.

Năm hằng là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.

Trung hậu tinh thuần, sau trước vẹn,

Phong trần nắm vững Đạo năm ba.

(Thơ Thuần Đức).

Tấc đất ngọn rau ơn nghĩa nặng,

Làm người phải vẹn Đạo năm ba.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

ĐẠO NGHỊ ĐỊNH

道 議 定

Đạo: Tôn giáo. Nghị định: Bàn thảo rồi quyết định một vấn đề quan trọng để đem ra thi hành.

Đạo Nghị Định là một bản Nghị Định do Đức Lý Giáo Tông hợp cùng Đức Hộ Pháp thảo luận và đồng quyết định ban hành để áp dụng cho toàn đạo.

Đức Lý Giáo Tông cùng Đức Hộ Pháp kể từ ngày Khai Đạo đến nay đã lập ra Bát Đạo Nghị Định và Đạo Nghị Định số 48/PT, tổng số là 9 Đạo Nghị Định theo ba thời kỳ như sau:

- Ngày 3 tháng 10 năm Canh Ngọ, Đức Lý Giáo Tông hiệp cùng Đức Hộ Pháp đồng ký tên lập ra 6 Đạo Nghị Định để chấn chỉnh và phân quyền nền Đại Đạo.

- Ngày 16 tháng 7 năm Giáp Tuất, Đức Lý Giáo Tông hiệp cùng Đức Hộ Pháp tiếp tục lập thêm hai Đạo Nghị Định nữa để trị loạn và ngăn ngừa việc phân chia chi phái sau nầy.

- Ngày 19 tháng 10 năm Mậu Dần, Đức Lý Giáo Tông hiệp cùng Đức Hộ Pháp lập Đạo Nghị Định số 48/PT chánh thức thành lập Cơ Quan Phước Thiện.

1. Không tuân Pháp Chánh Truyền và Đạo Nghị Định.

2. Phản loạn chơn truyền.

3. Chia phe phân phái và lập tả đạo Bàng môn.

(Thập Hình Lý Giáo Tông).

 

 

ĐẠO NGHĨA

道 義

Đạo: Chỉ đạo đức. Nghĩa: Những điều phải làm.

Đạo nghĩa là những việc làm phù hợp với lễ nghĩa, đạo đức. Như: Việc làm nầy trái với đạo nghĩa.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Người lịch sự ấy làm y theo lời mình đã dạy thì quý hoá thế nào, tôi tưởng cả thảy trên mặt địa cầu này, nếu người đàn ông nào để ý lập đời thì mơ mộng có một điều là: Được người vợ nhân từ đạo nghĩa mà lại đẹp thì còn hạnh phúc nào hơn nữa.

Trường thế rạng nêu gương đạo nghĩa,

Công phu vẹn giữ đức chuyên cần.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

ĐẠO NHƠN

道 人

Hay “Đạo Nhân”.

Đạo: Tôn giáo. Nhơn (nhân): Người.

1. Đạo nhơn (nhân) là người theo Đạo giáo.

Đạo Nhơn còn dùng để chỉ các Đấng trong cõi Thiêng liêng. Ví dụ như: Tiếp Dẫn Đạo Nhơn hay Từ Hàng Đạo Nhơn.

Tây phương Tiếp Dẫn Đạo Nhơn,

Phướn linh khai mở nẻo đường Lôi Âm.

(Kinh Thế Đạo).

2. Đạo Nhơn: Trong đạo Cao Đài, Đạo Nhơn là một phẩm Chức sắc trong Thập Nhị Đẳng Cấp Thiêng Liêng thuộc Cơ Quan Phước Thiện.

Đạo Nhơn dưới phẩm Chơn Nhơn, trên phẩm Chí Thiện, đối phẩm với Giáo Sư bên Cửu Trùng Đài.

Đạo phục của Đạo Nhơn là áo tràng trắng, mang dây sắc lịnh xanh có đeo khuê bài trong đó đề hai chữ Đạo Nhơn và đầu đội khăn đóng trắng 7 lớp chữ nhơn.

Đạo Nhơn vun đắp nền nhân chính,

Phước Thiện gieo trồng giống thiện lương.

(Thơ Thuần Đức).

Mừng bác Đạo Nhơn tiệc tiễn hành,

Trên đường sứ mạng độ nhơn sanh.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

ĐẠO NHƠN LUÂN

Hay “Đạo nhân luân”.

Đạo: Đạo đức. Nhân luân 人 倫: Đạo lý mà con người phải tuân theo để giữ phẩm giá của mình.

Đạo nhơn luân, như chữ “Đạo nhân luân”, tức là đường lối cư xử theo đạo lý bình thường giữa con người với nhau trong xã hội.

Đạo nhơn luân còn dùng để chỉ đạo vợ chồng.

Tình phu phụ biết bao nghĩa trọng,

Đạo nhơn luân gầy sống của đời.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Lại e lỗi đạo nhơn luân,

Dở dang gia pháp, vương thần loạn ngôi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Nợ cơm áo sanh lời ra tệ,

Đạo nhơn luân thêm thế dục hư.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

ĐẠO NHO

Đạo Nho, tức là Nho giáo 儒 教, là một Đạo có từ trước khi Khổng Tử ra đời, nhưng phải nhờ đến Ngài, đạo Nho mới được phát huy để trở thành một học thuyết có hệ thống tư tưởng rõ ràng, biện giải các lẽ biến hoá của vũ trụ một cách khúc triết, quy định các nghi thức tế tự Trời đất quỷ Thần một cách minh bạch... Nho giáo còn được gọi là Khổng giáo.

Chữ “Nho 儒” gồm một chữ “Nhân 人” là người, ghép với chữ “Nhu 需” là cần dùng hay chờ đợi. Vậy Nho có nghĩa là người cần dùng đến để giúp ích xã hội, hay người học giỏi chờ đợi người ta biết đến tài mình để đem hết sở năng mình ra giúp ích cho đời. Người đi học đạo của Thánh hiền để thông suốt lẽ Trời, đất, con người để đem thực hành ở xã hội, làm lợi ích quốc gia, xã hội, gọi là Nho gia, hay Nho sĩ.

Đạo Nho truyền dạy nghĩa nhơn,

Văn Tuyên Khổng Thánh khuyến dân răn đời.

(Xưng Tụng Công Đức).

Còn phía tả là Quan Thánh Đế,

Về phần Ngài thay thế Đạo Nho.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

ĐẠO PHÁP

道 法

Đạo: Tôn giáo.

Pháp: Có nhiều nghĩa:

- Quy luật, nguyên lý tự nhiên chi phối sự diễn biến của mọi sự vật trong vũ trụ.

- Giáo pháp hay giao lý của tôn giáo.

- Những lời dạy của ác Đấng Thiêng Liêng.

- Giới luật, giới điều.

- Vạn hữu, mọi hiện tượng...

Đạo pháp thường dùng là pháp luật hay giao lý của một tôn giáo.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ta thử quan sát lại coi đạo pháp, đạo luật mấy vị Giáo Chủ ấy vẫn có một phương pháp kích bác nhau, phản đối nhau, không đồng tâm đồng đức nhau, không đồng tánh, không đồng tư tưởng đạo đức tinh thần, biểu sao nhơn loại không chia rẽ, mà chia rẽ tức nhiên giục loạn, làm cho mặt đời loạn lạc, sự loạn lạc ngày nay cũng vì lẽ ấy.

Đạo pháp đương kim dương chánh giáo,

Linh quang chiếu diệu Ngọc Kinh cung.

(Kệ Trống).

 

 

ĐẠO PHÁP BAO LA

道 法 包 羅

Đạo pháp: Có nhiều nghĩa, ở đây chỉ Pháp luật hay giáo lý của một tôn giáo. Bao la: Rộng lớn đến mức như vô cùng tận.

Đạo pháp bao la là Đạo pháp rộng lớn vô hạn.

Nói về Đạo, Lão Tử có câu: Đại Đạo phiếm hề, kỳ khả tả hữu, vạn vật thị chi nhi sinh, nhi bất từ 大 道 氾 兮, 其 可 左 右, 萬 物 恃 之 而 生, 而 不 辭, nghĩa là Đạo không có hình thể, nhìn không rõ, nghe không tiếng, nắm bắt không được, nhưng muôn vật phải nương nhờ vào Đạo mà sinh. Đạo là mẹ của muôn vật. Vì thế, cái Đạo ấy to lớn, rộng rãi, có thể lan tràn sang bên trái, sang bên mặt. Muôn vật phải nhờ cậy ở nơi đó sinh ra, mà Đạo không chối từ.

Trang Tử thì cho rằng: Phù Đạo, ư đại bất chung, ư tiểu bất di. Cố vạn vật bị quảng. Quảng hồ kỳ vô bất dung dã, uyên hồ kỳ bất khả trắc dã 夫道, 於 大 不 終, 於 小 不 遺. 故 萬 物 備 廣. 廣 乎 其 無 不 容 也, 淵 乎 其 不 測 也, nghĩa là Đạo cũng lớn vô cùng, nhỏ không sót, cho nên muôn vật đầy đủ. Đạo rộng thay! Không cái gì là không chứa được, Đạo sâu thay! Không thể nào lường được.

Đạo pháp bao la,

Cửu hoàng tỷ tổ.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

ĐẠO PHÁP TRƯỜNG LƯU

道 法 長 流

Đạo pháp: Chơn pháp của Đạo. Bất cứ một Tôn giáo nào cũng có một nền Chơn pháp. Như Phật giáo thì có Phật pháp, tức là Đức Phật nhận thấy rằng con nguời vì cứ mãi bị khổ đau trong cõi trần nầy là do trí huệ bị vô minh che lấp, nên pháp của Phật có mục đích đem cái trí huệ giải thoát cho con người.

Còn Đạo pháp trong thời Tam Kỳ Phổ Độ có tôn chỉ là quy nguyên Tam giáo, hiệp nhứt Ngũ chi có mục đích tận độ chúng sanh bằng cách dìu dẫn chúng sanh hướng đến: Sự thương yêu và mở một trường thi công quả để người tu lập vị mình.

Trường lưu: Chảy dài mãi, chảy hoài không dứt.

Đạo pháp trường lưu là Đạo pháp như dòng nước chảy hoài, chảy mãi từ ngàn xưa đến nay, không bao giờ dứt. Dòng Đạo pháp có lúc cũng bị cây cỏ bao phủ, chận lấp làm tắc nghẽn, thì lúc ấy sẽ có Thánh nhân ra đời khai thông dòng Đạo pháp cho lưu thông trở lại và tiếp tục chảy mãi. Như vậy, Đạo pháp vẫn luôn tồn tại và vận chuyển không ngừng trong Càn khôn Vũ trụ.

Pháp của Đạo được ví như nước biển, nước sông, nước suối nguồn chảy từ thượng lưu đến hạ lưu, để chúng sanh dùng nước Đạo pháp đó rửa sạch những bụi trần, tẩy nhơ những phiền não và gội rửa những khổ nghiệp, làm cho thân tâm an lành.

Đức Lão Tử cũng ví Đạo như dòng nước, chảy từ thượng lưu đến hạ lưu để làm lợi cho muôn vật mà không tranh, lại ở chỗ mà người ta đều ghét: “Thuỷ thiện lợi vạn vật nhi bất tranh, xử chúng nhân chi sở ố, cố cơ ư đạo 水 善 利 萬 物 而 不 爭, 處 眾 人 之 所 惡, 故 幾 於 道”.

Đạo Pháp trường lưu,

Khai cửu thập nhị tào chi mê muội.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

ĐẠO PHÁP VÔ BIÊN

道 法 無 邊

Đạo pháp vô biên cùng nghĩa với “Đạo pháp bao la” tức là Đạo pháp rộng lớn vô hạn.

Đạo Pháp Vô Biên được đặt trước mặt tiền của Trí Giác Cung.

Trong Thuyết Đạo, Đức Hộ Pháp có nói: Ấy vậy, Bần Đạo nói, Giáo lý của mỗi nền Tôn giáo đều khác nhau, nhưng nó có hình ảnh của một nền Tôn giáo, cho nên họ xưng mình là Đạo, chúng ta không thể cải chối, duy chúng ta nên biết rằng pháp luân đạo pháp vô biên kia, hình ảnh kia, vô biên vô tận, thì chúng ta chỉ nhìn rằng: Một Tôn giáo nào đã tùng theo khuôn luật tạo đoan đúng mực thước về danh lý của nó, biến tướng của nó theo một khuôn luật tối thiểu, thì chúng ta nhìn.

Đạo Pháp Vô Biên Trí Giác Cung,

Hạ thờ Phật Mẫu thượng Huyền Khung.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

ĐẠO PHỤ CƠ

Đạo: Đường lối phải theo để giao tiếp trong xã hội. Phụ cơ 婦 姬: Chỉ người phụ nữ.

Đạo phụ cơ là đạo lý của người đàn bà, tức đường lối mà người đàn bà phải theo để cư xử trong gia đình cho đúng phép tắc.

Phần nội trợ trăm phiền đeo đẳng,

Đạo phụ cơ đã nặng cho mình.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ĐẠO PHU THÊ NHƯ ĐŨA NÊN ĐÔI

Đạo phu thê: Đạo vợ chồng, là một ba giềng (tam cang) của Nho giáo. Như đũa nên đôi: Ví như hai chiếc đũa, ghép lại thành một đôi.

Đạo phu thê như đũa nên đôi tức là đạo vợ chồng ví như một đôi đũa, gồm hai chiếc bằng và giống nhau. Nếu thiếu một chiếc thì không thể làm được việc.

Như vậy, hai chiếc đũa như nhau, phải cần đủ cả hai, hay nói khác đi, vợ chồng phải bình đẳng như nhau.

Thân lòn cúi, vợ tôi chồng chúa,

Đạo phu thê như đũa nên đôi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ĐẠO PHỤC

道 服

Đạo: Tôn giáo. Phục: Quần áo.

Đạo phục là quần áo của tu sĩ mặc trong tôn giáo.

Tín đồ của mỗi tôn giáo đều có một lối ăn mặc riêng. Trong Đạo Cao Đài, các tín đồ đều có bộ Đạo phục là chiếc áo dài và quần dài trắng, đầu đội khăn đóng đen.

Riêng các phẩm chức sắc, tuỳ theo Hiệp Thiên Đài, Cửu Trùng Đài, hay Phước Thiên mà có những bộ Đạo phục khác nhau.

Xem: Đạo y.

Thay đạo phục bước xăng lánh thế,

Mơi thì kinh, tối kệ giải lòng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ĐẠO QUÂN

道 君

Đạo: Đạo giáo hay Đạo Tiên của đức Lão Tử. Quân: Chỉ Đấng thiêng liêng.

Đạo Quân là nói tắt của Thái Thượng Đạo Quân, hay Thái Thượng Đạo Tổ, là Giáo chủ của Tiên (Đạo) giáo.

Thái Thượng Đạo Quân giáng sinh xuống làm Lão Tử vào ngày rằm tháng hai, nên Lão Tử được tôn làm thuỷ tổ của Đạo gia.

Xem: Lão Tử.

Đạo Quân đức hoá háo sinh,

Rộng quyền máy nhiệm an linh cứu đời.

(Giới Tâm Kinh).

 

 

ĐẠO QUÂN THẦN

Đạo: Bổn phận và nguyên tắc phải theo. Quân: Vua. Thần: Bề tôi.

Đạo quân thần là một trong năm giềng mối (Ngũ luân) của Nho giáo, gọi là quân thần cang.

Xem: Đạo quân vương.

Lựa những mặt tài tình thọ giáo,

Học cho thông mối đạo quân thần.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ĐẠO QUÂN VƯƠNG

Đạo: Bổn phận và nguyên tắc phải theo. Quân vương: Vua.

Đạo quân vương là đạo nghĩa của một bề tôi đối với nhà vua.

Đạo quân vương tức là những phép tắc giữa vua và bề tôi đối xử với nhau cho hợp đạo lý. Đạo này thuộc về một trong ngũ luân là Quân thần cang.

Ơn tấc đất ngọn rau nên nặng,

Đạo quân vương chữ dặn nơi lòng.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

ĐẠO QUYỀN

道 權

Đạo: Tôn giáo. Quyền: Quyền hành.

Đạo quyền là quyền hành của một tôn giáo, ý muốn nói có quyền hành lãnh đạo một tôn giáo.

Thánh giáo Đức Cao Thượng Phẩm có dạy: Cũng vì lẽ quyền hành riêng biệt ấy mà khiến cho hai bên thường có phản khắc Đạo quyền, bởi tánh phàm thường hay có phạm những lỗi lầm mà chẳng chịu phục thiện, đặng cải sửa cho trở nên tận thiện.

Nắm cân giữ lấy Đạo quyền,

Đưa thuyền bát nhã độ duyên cõi trần.

(Nhị Nương Giáng Bút).

Từ lúc đưa tay nắm Đạo quyền,

Nguyện đem thi thố tấm trung kiên.

(Bài Thài Thượng Sanh).

 

 

ĐẠO SĨ

道 士

Đạo: Chỉ nền Đạo giáo, tức Đạo của Đức Lão Tử. Sĩ: Người, người có học thức.

Đạo sĩ là người tu bên phái Đạo giáo, tức tu Tiên.

Về sau, Đạo sĩ dùng với nghĩa rộng chỉ người xuất gia tu hành.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Chí Tôn có dạy: Làm vua, làm thầy, làm công nghệ, làm đạo sĩ, cũng cần phải có cái chí lớn mới mong thành tựu đặng.

Gắng chí dồi mài thành Đạo sĩ,

Bền gan luyện tập đặng Hiền nhân.

(Thơ Khai Đạo).

 

 

ĐẠO SỬ

道 史

Đạo: Chỉ Tôn giáo. Sử: Lịch sử.

Đạo sử là lịch sử của một nền Tôn giáo, hay tiểu sử một vị giáo chủ.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Hôm nay là ngày Vía Đức Thái Thượng Đạo Tổ, mỗi năm đến ngày Vía của Ngài, Bần Đạo và Chư vị đại Thiên Phong đã có thuyết minh Đạo Sử của Người, nếu có thuyết lại cũng không bổ ích, vì cả thảy đều biết.

Xem: Ban Đạo Sử.

Đạo sử phô bày tranh cẩm tú,

Tổ Đình diễn tả nét uy linh.

(Thơ Thượng Sanh).

Công đức phi thường nêu Đạo sử,

Thánh danh muôn thuở vẫn lưu truyền.

(Thơ Võ Thành Lượng).

 

 

ĐẠO TAM KỲ

道 三 期

Đạo: Tôn giáo. Tam Kỳ: Thời kỳ thứ ba.

Đạo Tam Kỳ tức là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, hay Đạo Cao Đài, là một nền Tôn giáo lớn, do Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế dùng huyền diệu cơ bút mở ra vào thời kỳ thứ ba tại Việt Nam, có tôn chỉ quy Tam Giáo, hiệp Ngũ chi, để cứu giúp toàn cả chúng sanh thoát khỏi luân hồi mà trở về cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Vẽ bức tranh sầu thán oán chi?

Rằng: Nay Trời mở Đạo Tam Kỳ.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

ĐẠO TẶC

盜 賊

Đạo: Trộm cắp, tức lấy vật mà mình đáng lý không được lấy. Tặc: Giặc.

Đạo tặc là trộm cắp, hoặc giặc cướp. Như: Bọn đạo tặc hoành hành khắp xóm.

Đại Thừa Chơn Giáo có câu: Ôi! đời đã đến thế thì đời chỉ là một trường tranh đấu kịch liệt, một cuộc tàn sát gớm ghê, nạn khổ dẫy đầy, đao binh chất ngất, đạo tặc lung tung cho đến đỗi cùng chung một bọc, cùng chung một nòi, mà cũng tương tàn, tương sát lẫn nhau cho vừa lòng dục, thì còn chi phong tục, kỷ cương, tình nghĩa!

Kẻ nghèo khó được đỡ nâng, thì đạo tặc phải vắng bóng.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

ĐẠO TÂM

道 心

Đạo: Chỉ nền tôn giáo. Tâm: Lòng.

1.- Đạo tâm là lòng tin theo Đạo, tức là lòng tín ngưỡng vào tôn giáo của mình.

Thánh giáo Thầy dạy: Vậy các con đứa nào đã được thưởng phong cũng chẳng nên vội mừng mà quên phận sự, còn mấy đứa chưa đặng phong thưởng cũng không nên vội buồn mà thất đạo tâm.

Quyền chi đó, tiền duyên đành mất,

Lợi gì đâu mà thất đạo tâm.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

Nếu đạo tâm gìn dạ không không,

Ai vẫn thế mà ta đây cũng thế.

(Thơ Hộ Pháp).

2.- Đạo Tâm còn dùng để chỉ Tịch đạo của các Chức sắc Cửu Trùng Đài, thuộc Đức Giáo Tông kế tiếp.

Tỷ như có Tân Giáo Tông sẽ lên kế vị cho Lý Giáo Tông thì cả tín đồ nam nữ mới nhập môn đều phải lấy Tịch “Đạo Tâm”.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

ĐẠO TỀ MY

Đạo: Đường lối, nguyên tắc xử thế cho phải phép. Tề my: Do điển tích nàng Mạnh Quang ở đời Hậu Hán đối với chồng rất cung kính, mỗi khi dâng cơm, để bát ngang mày nên được gọi “Cử án tề my 舉 案 齊 眉”.

Đạo tề my, như đạo “Nâng khăn sửa trấp”, ý chỉ đạo cung kính của người vợ đối với chồng.

Đời mới sống theo chiều tấn bộ,

Người xưa vẫn trọng đạo tề my.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

ĐẠO TỲ

Đạo Tỳ, bởi chữ “Đô Tuỳ 都 隨” nghĩa là đều đi theo.

Người sau sửa lại là “Đạo Tuỳ 道 隨”, do đọc âm trại đi thành Đạo Tỳ, là những người có nhiệm vụ khiên quan tài đi chôn.

Trước kia, các nhà Nho gọi là “Nhơn quan 堙 棺”, hoặc là “Giang quan 扛 棺” (Nhơn là chôn cất, giang là khiêng, quan là quan tài) tức là những người khiên quan tài đi chôn.

Theo Nội Quy Tài Liệu Thực Hành của Ban Quản Trị Nhà Thuyền Bát Nhã Trung Ương, Đạo Tỳ là nhơn viên trong Ban Nhà Thuyền Bát Nhã được Hội Thánh thành lập vào năm Ất Hợi (1935), có nhiệm vụ tẩn liệm, khiêng quan tài, đẩy thuyền Bát nhã, đào huyệt chôn cất.

Đồng phục của Đạo Tỳ:

- Đầu đội mũ Đồng Tử Quân (Trước cao sau thấp) màu trắng.

- Áo cổ viền trắng 3 phân rưỡi xếp.

- Tay viền trắng 6 phân.

- Hai túi trên viền trắng 4 phân

- Trôn áo viền trắng 2 phân.

- Năm nút trắng đường kính 1 phân rưỡi.

- Quần đen ống 20, viền một sọc trắng 1 phân, hai bên ống có viền trắng 2 phân có giây rút.

- Giầy bố đen cổ cao.

 

Giũ áo quân nhân khoác Đạo Tỳ,

Đài hoa công đức trổ phương phi.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

ĐẠO TÒNG

Hay “Đạo tùng”.

Đạo: Đường lối, nguyên tắc mà con người phải theo trong quan hệ xã hội. Tòng (tùng): Theo.

Đạo tòng, như chữ “Đạo tùng”, là những nguyên tắc mà người đàn bà phải theo trong quan hệ xã hội ngày xưa.

Có ba điều phải theo: Ở nhà thì theo cha, có chồng thì theo chồng, chồng chết thì theo con.

Xem: Đạo Tam tùng.

Trăm năm kim cải cũng chồng,

Trái duyên cũng vẹn đạo tòng mà thôi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Tập biết khôn chiều lụy nhà chồng,

Tập cho hiểu đạo tòng là đạo cả.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐẠO TAM TÙNG

Đạo: Đường lối, nguyên tắc mà con người phải theo trong quan hệ xã hội. Tam tùng (tòng):: Ba điều phải theo.

Đạo Tam tùng là ba nguyên tắc mà người đàn bà con gái giữ theo lễ giáo ngày xưa phải theo, đó là: Tại gia tùng phụ, xuất giá tùng phu, phu tử tùng tử 在 家 從 父, 出 嫁 從 夫, 夫 死 從 子, nghĩa là ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con.

Chuốt trau cho vẹn đạo Tam tùng,

Chẳng quý phận chàng thiếp chịu chung.

(Đạo Sử).

 

 

ĐẠO TƯƠNG TUỲ

Đạo: Đường lối, nguyên tắc mà con người phải theo trong quan hệ xã hội. Tương tuỳ: Cùng theo với nhau. Tương tuỳ do câu thành ngữ “Phu xướng phụ tuỳ 夫 唱 婦 隨” là chồng hát, vợ cùng hát theo.

Đạo tương tuỳ là đạo vợ chồng, ý chỉ sự hoà hợp, yêu thương nhau của đôi vợ chồng.

Hiếu hạnh huờn sanh hiếu hạnh nhi,

Không lo cho vẹn Ðạo tương tuỳ.

(Đạo Sử).

 

 

ĐẠO THÁNH

1.- Đạo Thánh hay “Thánh Đạo 聖 道”, là một nền tôn giáo dạy cho các tín đồ tu hành đắc Đạo thành bực Thánh. Đạo Thánh như Nho giáo, Thiên Chúa Giáo.

Thay Đạo Thánh, Ngài quyền Tam Trấn,

Thường về cơ độ dẫn nhơn sanh.

(Cội Đạo Bốn Mùa).

2.- Đạo Thánh còn là tiếng dùng để tôn xưng mối Đạo Thiêng liêng. Như trường hợp này, Đạo Cao Đài cũng gọi là Đạo Thánh.

Trong bài Văn Tế Đức Cao Thượng Phẩm có câu: Miền Đông Á, vẫn từ đời Bàn Cổ, xưa đã bao phen Đạo Thánh dẫn nhơn sanh, Đất Việt Nam, khai những thuở Hồng Bàng, nay mới gặp lúc thuyền linh đưa bến khổ.

Gội nhuần đức trước rạng thôn lân,

Ðạo Thánh dìu chơn bước khởi lần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Một nhà vầy hội rất mừng thay,

Đạo Thánh từ đây đặng vẹn ngày.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

ĐẠO THIỀN

道 禪

Đạo: Chỉ tôn giáo. Thiền: Do tiếng Phạn là Thiền Na, cũng còn gọi là Thiền định.

Thiền là một tông phái của Phật giáo. Nhưng mọi người hiểu một cách đơn giản, cho rằng Thiền là Đạo Phật. nên những chữ gì liên quan đến Đạo Phật đều gọi là Thiền. Do đó, chữ “Đạo Thiền” là chỉ Đạo Phật.

Chánh pháp bị nơi Thần Tú làm cho ra mất Chánh giáo, lập riêng pháp luật buộc mối đạo Thiền.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

ĐẠO THỜ THÂN

Đạo: Đường lối hay phép tắc của con người phải theo. Thờ thân: Thờ phụng cha mẹ.

Đạo thờ thân, do chữ “Đạo sự thân 道 事 親”, là đạo lý hay cái bổn phận của con đối với cha mẹ, đó là phải nghe lời dạy của cha mẹ, phải phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già, phải thờ kính cha mẹ lúc cha mẹ qua đời.

Thánh xưa dạy từ câu nói hiếu,

Đạo thờ thân chằm khíu nên kinh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ĐẠO TRÀNG

Đạo: Tôn giáo. Tràng (trường): Đám đất rộng dùng làm nơi tụ tập đông người.

Đạo tràng, như chữ “Đạo trường 道 塲” là chỉ nơi mọi người trong tôn giáo tu họp để nghe thuyết pháp hay sinh hoạt học tập.

Đạo tràng nghĩa rộng dùng để chỉ cả nền Đạo.

Làm cho cuộc thế nghi nan,

Nhơn tình náo động Đạo tràng đảo điên.

(Thơ NĐS Hương Thanh).

 

 

ĐẠO TRIỀU

道 朝

Đạo: Chỉ tôn giáo. Triều: Thời đại.

Đạo triều là thời đại của một tôn giáo.

Đạo triều của Đạo Cao Đài là thời đại của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Ngoài ra, “Lễ Đạo triều” là ngày lễ kỷ niệm Khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Đô, tức ngày rằm tháng mười hằng năm.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Lý Giáo Tông có đoạn: Nay vì Lễ Ðạo Triều, nên đến chúc mừng chư hiền hữu. Lão để lời cám ơn Hộ Pháp đã chịu lắm phen nhọc nhằn khổ não làm cho Ðạo ngày nay đặng ra thiệt tướng.

Nghìn thu thể xác dù hư hoại,

Danh tiếng còn nêu cửa Đạo triều.

(Thơ Vạn Năng).

 

 

ĐẠO TRỌNG

道 重

Đạo: Đường lối hay phép tắc của con người phải theo. Trọng: Nặng.

Đạo trọng ý nói đạo nhơn luân của con người rất sâu rất nặng.

Như: Đạo hiếu là đạo trọng hơn hết của con người.

Nối hương lửa nhơn luân đạo trọng,

Con gìn câu chết sống trọn nghì.

(Kinh Thế Đạo).

Chữ hiếu phải lo vẹn phận người,

Sanh thành đạo trọng há đâu chơi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

ĐẠO TRỜI

Đạo: Có nhiều nghĩa: Tôn giáo, nguyên lý đầu tiên của càn khôn vũ trụ, bổn phận và nguyên tắc phải theo.

1.- Đạo Trời, như chữ “Thiên Đạo 天 道”, là nói đạo lý tự nhiên của Trời đất.

Như: Đạo trời tự xoay chuyển, tự biến hoá.

Càng ngày xa lánh đạo Trời,

Đem thân vùi lấp vào nơi bụi trần.

(Thất Nương Giáng Bút).

2.- Đạo Trời, như chữ “Thiên Đạo 天 道”, trái với Đạo người, bao gồm các mối đạo giải thoát, tức là đưa linh hồn con người thoát khỏi luân hồi sinh tử để đến cõi Cực Lạc Niết Bàn.

Buông trôi ví chẳng tròn nhơn đạo,

Còn có mong chi đến đạo Trời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Đạo Trời cao lắm đó con ôi!

Đạo vốn gay go khó cạn lời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Đạo Trời là mối Đạo do ông Trời, tức Thượng Đế lập ra và làm Giáo chủ.

Đạo Cao Đài là Đạo Trời, vì do Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế dùng huyền diệu cơ bút lập ra.

Xem: Thiên Đạo.

Trên theo pháp luật Đạo Trời,

Dưới thương sanh chúng một lời đinh ninh.

(Kinh Thế Đạo).

Đã từng muôn kiếp có tên ta,

Ta bởi Đạo Trời mở cửa ra.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chừng nào Chi Pháp đã ra đi,

Là lúc Đạo Trời gặp vận suy.

(Thanh Sơn Đạo Sĩ).

 

 

ĐẠO TRƯỢNG

Hay “Đạo trọng”.

Đạo: Đường lối hay phép tắc của con người phải theo. Trượng (trọng): Nặng.

Đạo trượng, như chữ “Đạo trọng 道 重”, ý nói đạo nhơn luân của con người rất sâu nặng.

Xem: Đạo trọng.

Đạo chồng vợ cũng là đạo trượng,

Cuộc trăm năm cực sướng gởi thân nhau.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐẠO VỊ

道 味

Đạo: Chỉ chung các tôn giáo. Vị: Mùi vị.

Đạo vị tức là mùi vị của đạo.

Người ta cho rằng nếu có tín ngưỡng và theo một tôn giáo, khi đi hành đạo khiến cho lòng say mê ham thích, cái đó gọi là “Đạo vị” hay “Mùi đạo”.

Chung chén trà thần khuây đạo vị,

Quanh câu thi thánh giải tâm thần.

(Thơ Thành Đức).

 

 

ĐẠO VỢ CHỒNG

Đạo: Đường lối hay phép tắc của con người phải theo. Vợ chồng (chồng vợ): Vợ và chồng trong gia đình.

Đạo vợ chồng hay “Đạo chồng vợ” là quy tắc cư xử cho hợp đạo lý của người vợ lẫn người chồng. Đạo vợ chồng được Nho giáo xếp một trong Tam cang: Đó là Phu thê cang.

Tào Đại gia dạy về đạo vợ chồng như sau: Phu phụ dĩ nghĩa vi thân, dĩ ân vi hiệp, nhược hành sở thát nghĩa dục hà vi? Xí mạ sất sá ân dục hà ân? Ân nghĩa ký tuyệt, tiển bất ly hĩ 夫 婦 以 義 為 親, 以 恩 為 合; 若 行 楚 撻 義 欲 何 為? 詈 罵 叱 詫 恩 欲 何 恩? 恩 義 既 絕, 鮮 不 離 矣, nghĩa là vợ chồng lấy nghĩa làm thân, lấy ơn để hoà hợp, nếu đánh đập nhau thì còn nghĩa gì nữa, chửi mắng quát tháo nhau thì còn ơn gì nữa. Ơn nghĩa đã tuyệt mà không lìa nhau thì thật hiếm có vậy.

Ở trước mặt Hồng Quân định phận,

Đạo vợ chồng đã xứng nợ duyên.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

ĐẠO XUẤT Ư ĐÔNG

道 出 於 東

Hay “Đạo xuất nơi Đông”.

Đạo xuất: Một nền tôn giáo mới ra đời. Ư đông (nơi đông): Ở phương Đông.

Đạo xuất ư Đông, cũng như “Đạo xuất nơi Đông”, là một lời tiên tri, cho rằng sẽ có một nền tôn giáo xuất hiện ở nước phương Đông.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ngài nay Thầy mới đến lập một cái Cao Đài, nghĩa là đền thờ cao hay đức tin lớn tại thế này làm nên nền đạo, lại mượn một sắc dân hèn hạ nhỏ nhít của Á Đông là Việt Nam, đặng cho trọn lời tiên tri: “Đạo xuất ư Đông”.

1.- Đạo xuất ư Đông:

Đạo xuất ư Đông chuyển hướng Tây,

Nhơn sanh muốn hiểu nắm nơi này.

(Thơ Huệ Phong).

2.- Đạo xuất nơi Đông:

Ðặng dạ nhơn sanh chưa phải dễ,

Ðạo mầu khởi lập xuất nơi Ðông.

(Đạo Sử).

 

 

ĐÁP

1.- Đáp là trả lại cho phải lễ. Như: Đáp lễ, đáp tạ, báo đáp, đền đáp.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Ngày nào mấy anh mấy chị dựng lại đặng cả hồn phách Quốc dân Nam, để đền đáp ân sâu của Tổ Phụ rồi mới thoả nguyện, mấy anh mấy chị, có trăm tuổi rủi phần xuống tuyền đài nhìn mặt Tổ Phụ của chúng ta cũng không thẹn, vì đã trả xong mảnh hiếu tâm với Đạo...

Đền đáp phận người dầu chẳng vẹn,

Nợ đời đừng mộng rảnh rồi vay.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Đáp là trả lời. Như: Vấn đáp, kẻ hỏi người đáp, viết thư phúc đáp, hỏi mà không đáp.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ngày hôm kia, Bần Ðạo gặp Ðức Lý Giáo Tông vấn đáp cùng Ngài về một lý thuyết tối trọng yếu trong nền Chánh giáo của Ðức Chí Tôn.

Hạc thong thả dịu dàng đáp lại,

Nầy anh gà anh hảy nghe đây.

(Thơ Hộ Pháp).

Chúc bạn mấy câu đáp hoạ vần,

Vườn xuân rực rỡ đón Đông quân!

(Thơ Thượng Sanh).

3.- Đáp là hạ xuống một nơi nào đó, không bay nữa. Như: Phi cơ đáp xuống sân bay, bầy cò đáp trên cánh đồng hoang.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Ðức Phật Mẫu có nói: “Ðời đã tàn, thuyền Ðạo sắp xa bến”, chúng ta thấy cái hung bạo của đời vật chất cạnh tranh, thấy những con thiêu thân tự thiêu mình vì ham đáp theo ánh sáng, chúng ta nên xung xăng nhặt bước trên đường Ðạo Ðức, đừng bỏ mất thì giờ quý báu, đừng ngó ngoái lại cái bến mê mà chúng ta đã được may duyên xa lánh.

Nhánh cây đáp xuống là đà,

Vội vàng chào hỏi gọi là bạn thân.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

ĐÁP ĐỀN

Đáp: Trả lại. Đền: Bù, báo lại.

Đáp đền, như chữ “Đền đáp”, là tỏ lòng biết ơn bằng việc làm xứng đáng với những gì người khác đã làm cho mình.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Nhưng đối với lòng thương vô biên của Ðức Chí Tôn Ðại Từ Phụ, phận làm con dầu cực nhọc bao nhiêu cũng chưa gọi là xứng đáng đáp đền trong muôn một.

Vái cùng Sư Phụ linh thiêng,

Chứng lòng đệ tử đáp đền ơn xưa.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

ĐÁP TẠ

答 謝

Đáp: Trả lời, trả lại cho phải lễ. Tạ: Có lời nói với ai đó để cảm ơn hay để xin lỗi.

Đáp còn dùng để chỉ sự biểu thị bằng hành động, thái độ, thường là đồng tình trước yêu cầu của người khác.

Đáp tạ là tỏ lời cảm tạ.

Cảm tình ngưỡng vọng không e lệ,

Đáp tạ xin lưu tạm mấy vần.

(Quỳnh Hoa Tiên Nữ).

 

 

ĐẠP

Đạp là dùng bàn chân đẩy mạnh ra hoặc giẫm mạnh xuống làm cho chịu tác động của sức nặng toàn thân để dầy xéo.

Như: Đạp vào người nó, đạp cửa xông vào nhà, đạp cối giã gạo, đạp lúa.

Móc nhọn vắt treo mình nhỏng nhảnh,

Cối đạp đồng rất mạnh giã dần.

(Kinh Sám Hối).

Đạp Thái Sơn nhảy qua Đẩu Suất,

Vịn Kim Câu đến chực Thiên Môn.

(Kinh Tận Độ).

Đạp giày cỏ nương cây gậy bá,

Mặc áo tơi nón lá che thân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ĐẠP ĐỔ

Đạp: Lấy bàn chân giẫm mạnh xuống hoặc tống mạnh ra. Đổ: Ngã xuống, rớt.

Đạp đổ là làm cho hỏng, cho sụp đổ.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Đức Chí tôn có đoạn dạy: Thầy đã sắm sẵn đẳng cấp trật tự, quyền lịnh cho các con mà các con chẳng biết phận sự của mình, biểu sao nền Đạo không bị đạp đổ, khi dể phẩm vị Thiên phong. Cả chư Thần, Thánh, Tiên, Phật chinh lòng, muốn toan phế huỷ. Đạo mới ra loạn lạc dường ấy.

Người ta chạy theo danh vọng tiền tài, chúng ta chạy theo nghĩa nhân đạo đức, người ta đạp đổ lầu đài tinh thần trong sự tranh giành quyền lợi, mưu hại lẫn nhau, chúng ta củng cố đạo tâm, vun trồng cội phúc.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

ĐẠP THANH

踏 青

Đạp: Giẫm, đặt bàn chân đè mạnh lên. Thanh: Màu xanh, chỉ đồng cỏ xanh.

Đạp thanh là đạp lên đồng cỏ xanh.

Ngày xưa vào tiết thanh minh mỗi gia đình từng tốp người mang hoa quả đến nghĩa trang để tảo mộ cho người thân đều phải lội đi trên những bãi cỏ xanh như một ngày hội, gọi là “Hội đạp thanh”.

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du có câu: Thanh minh trong tiết tháng ba, Lễ là tảo mộ, hội là đạp Thanh.

Kìa xóm rẫy nấm mồ lố xố,

Nơi đôi ta tảo mộ đạp thanh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Đạp thanh nô nức khách vầy đông,

Cực Lạc dời chân viếng khắp vòng.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

ĐÁT KỶ

妲 己

Đát Kỷ là con gái của Tô Hộ, được tiến cung cho vua Trụ làm ái phi.

Vua Trụ vì say mê Đát Kỷ nên xa lánh và giết hại tôi trung, bỏ phế triều chính đến nỗi mất nước. Đát Kỷ là người đàn bà gian ác, thường xúi giục nhà vua làm nhũng điều thất đức, nếu vị trung thần nào can gián nhà vua đều bị Đát Kỷ giết hại.

Theo Phong thần, Đát Kỷ bị con yêu Hồ ly tinh giết chết rồi nhập hồn vào thân xác Đát Kỷ phá hoại cơ nghiệp nhà Thương.

Đát Kỷ bày ra tửu trì là hồ chứa rượu, nhục lâm là rừng chả thịt để tha hồ uống rượu ăn thịt. Nghe lời Đát Kỷ, Trụ Vương cho xây lầu Trích Tinh, tàn hại biết bao nhiêu tài sản và xương máu của nhân dân.

Ngoài ra Đát Kỷ còn chế ra bào lạc, cột đồng, đốt lửa cho đỏ rực bắt kẻ nào chống lại triều đình ôm cột đồng cho đến chết. Đát Kỷ còn là những việc tàn ác khác như mổ bụng xem thai, chặt chân xem mỡ.

Sau khi vua Trụ bị Võ Vương và các chư hầu đánh thắng, Đát Kỷ bị bắt chém đầu và vua Trụ phải tự thiêu.

Mỗ bụng xem thai mưu Đát Kỷ,

Chặt chân coi mỡ kế Hồ ly.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

ĐẠT ĐẠO

達 道

Đạt: Thành tựu. Đạo: Con đường thiêng liêng của Đức Chí Tôn dẫn dắt.

Đạt đạo là nói người tu hành trong nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ khi thoát xác sẽ đạt được con đường về cõi Thiêng Liêng Hằng Sống mà Đức Chí Tôn đã dẫn dắt, ý chỉ sự đắc Đạo, hay đắc quả.

Đồng nghĩa với chữ “Đoạt Đạo”.

Thánh giáo Thầy dạy: Sự thương yêu là chìa khoá mở Tam thập lục Thiên, Cực Lạc Thế Giới và Bạch Ngọc Kinh. Nếu các con không biết thương yêu thì cơ đạt đạo cũng đừng mong nắm đặng.

Đạt Đạo chỉ nhờ sự nhứt tâm,

Thuận tùng Thiên mạng há đâu lầm.

(Thơ Thượng Tước Thanh).

 

 

ĐẠT VỊ

達 位

Đạt: Thành tựu. Vị: Phẩm vị, ngôi vị.

Đạt vị là đạt được phẩm vị, tức là thành tựu được ngôi vị nơi cõi Thiêng Liêng.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Ta tu tức là ta tìm phương bảo trọng cho tồn tại đạo đức tinh thần đặng nuôi linh hồn hầu đạt vị Thần, Thánh, Tiên, Phật...

Nhiều Chơn Linh cả kiếp sanh,

Tu không đạt vị họ tranh luận nhiều.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

Cửu phẩm liên hoa tu đạt vị,

Bát hồn nhạc khí tấu huân Thiên.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

ĐAU

1.- Đau là có cảm giác khó chịu ở bộ phận bị tổn thương nào đó của cơ thể. Như: Đụng vào tường rất đau, đau nhói ở tim, bệnh đau yết hầu.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Hễ có một người đau khổ tức là một chỗ trong châu thân bị đau thì toàn thân nhận thấy khó chịu, phải tìm phương thế làm cho chỗ đau được êm dịu.

Nghe trẻ khóc như chì dần dạ,

Thấy con đau như đá đập đầu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Đau là ở trạng thái tinh thần, tình cảm rất xót xa, khó chịu. Như: Lòng đau như cắt, ngậm đau nuốt thảm.

Thánh giáo Thầy có câu: Các con trước đã vì Thiên mạng phải bỏ các ngôi cao đặng đem mình vào nơi khổ não, Thầy chỉ đường vẽ bước, dạy từ nét, dẫn từ dặm đường mà đem các con về chốn Cực Lạc xưa, các con chẳng chịu vầy hiệp nhau cho đặng bền, cho thân ái, đặng tiến bước đường, thì Thầy cũng lắm nỗi thương đau mà nắm cân công bình ngó xem một phần trong các con sa nơi u hiểm.

Tả nỗi thảm thêm đau mấy đoạn,

Mượn bút hoa đắp cạn thành sầu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Thấy cảnh thế mà đau với thế,

Biết thương đời mấy kẻ vì đời.

(Nữ Trung Tùng Phận).

3.- Đau là mắc bệnh, bị ốm, tức cơ thể hoạt động không bình thường.

Như: Đau mới khỏi, đói ăn rau đau uống thuốc.

Thí tiền, thí bạc, chẩn bần,

Người đau thí thuốc, Thánh, Thần phước ban.

(Kinh Sám Hối).

Ai nâng đỡ khi đau lúc ốm,

Ai dù tròn nắng sớm mưa mơi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ĐAU ĐỚN

Đau: Ở trạng thái tinh thần tình cảm rất khó chịu.

Đau đớn là đau trên cơ thể hoặc đau trong tâm hồn hay tình cảm. Như: Nỗi đau đớn trong lòng.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Thầy lấy làm đau đớn hằng thấy gần trót mười ngàn năm, nhơn loại phải sa vào nơi tội lỗi, mạt kiếp chốn A Tỳ.

Câu chọc ruột còn đau đớn bấy,

Huống âm dương hết thấy mặt nhau.

(Kinh Thế Đạo).

Nào có tưởng vợ nhà đau đớn,

Ôm tình si muôn lượng sầu than.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Dạy cho biết những điều đau đớn,

Của phụ nhân đặng tởn trăng hoa.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐAU KHỔ

Đau: Nhức nhối, khó chịu. Khổ: Khổ sở vất vả.

Đau khổ là đau đớn khổ sở. Như: Con người ở thế gian đầy dẫy sự đau khổ.

Thánh giáo Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng có dạy: Vào nơi đạo đức rồi, dầu cho phải cát ái ly gia, chia tình xẻ nghĩa, máu thịt đoạn ly, mà làm cho tròn trách nhậm xứng đáng của mình, để hiến thân chuộc sanh mạng cho muôn ngàn kẻ đồng bào, thì cái đau đớn thường tình, sự khổ tâm ở thế kia, đau khổ nào có tiếc.

Đau khổ rán gìn nhơn nghĩa vẹn,

Tang thương chờ hưởng huệ ân riêng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chiến tranh đất nước còn đau khổ,

Tang tóc nhơn sanh vẫn hãi hùng.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

ĐAU LÒNG

Đau: Nhức nhối, khó chịu. Lòng: Lòng dạ.

Đau lòng, như chữ “Thương tâm 傷 心”, là đau đớn, xót xa trong lòng.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Thích Ca Như Lai có dạy: Lắm kẻ đã chịu khổ hạnh hành đạo. Ôi! Thương thay! Công có công mà thưởng chưa hề có thưởng, vì vậy mà Ta rất đau lòng.

Thống tâm biết bấy lúc đau lòng,

Cơ nghiệp chừng nầy ngó trống không.

(Đạo Sử).

Nếu trước xuân để thẹn má đào,

Hễ càng nhắc đến càng đau lòng bạn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐAU ỐM

Đau: Có cảm giác khó chịu ở bộ phận bị tổn thương của cơ thể. Ốm: Cơ thể bị bịnh.

Đau ốm là đau bịnh. Như: Đề phòng lúc bị đau ốm.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Đức Cao Thượng Phẩm có dạy: Em muốn cho biết rõ việc làm, em cứ thẳng bước sẽ được, chớ đừng ngại, sự đau ốm là do căn số, em cũng hiểu đó.

Ai nâng đỡ khi đau lúc ốm,

Ai dù tròn nắng sớm mưa mơi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Khi đau ốm nào ai gần được,

Lo đỡ nâng thang thuốc hơn chồng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐAU THẢM

Đau: Có cảm giác khó chịu ở bộ phận bị tổn thương của cơ thể. Thảm: Thương xót.

Đau thảm, đồng nghĩa với chữ “Đau sầu”, là đau đớn, sầu thảm.

Thánh giáo Thầy có câu: Mỗi phen Thầy đau thảm khóc lóc các con, phải lén hạ trần, quyết bỏ ngôi Chí Tôn xuống lập Ðạo, lại bị các con bạc đãi, biếm nhẻ, xua đuổi, bắt buộc đến đỗi phải chịu cho các con giết chết!

Con ôi! Thầy biết bao phen săn sóc các con mà chịu đau thảm.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

ĐAU THƯƠNG

Đau: Có cảm giác khó chịu ở bộ phận bị tổn thương của cơ thể. Thương: Cảm thấy đau đớn, xót xa trong lòng trước cảnh ngộ không may.

Đau thương là đau đớn xót thương.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Nỗi đau thương bề ấm lạnh, nào tiếng khóc đến câu cười, co duỗi duỗi co, dở bước đến cảnh sầu, thì thấy chẳng lạ chi hơn là mồ hoang cỏ loán, đồng trống sương gieo,thỏ lặn ác tà, khách trần nào ai lánh khỏi.

Tấc lòng đòi đoạn đau thương,

Chơn mây vái với hương hồn hiển linh.

(Kinh Thế Đạo).

Ru con giọng hát ngập ngừng,

Xuân ơi! Xuân biết mấy lần đau thương?

(Nữ Trung Tùng Phận).

Lấy đau thương làm thuốc cầm duyên,

Pha thảm khổ hương nguyền kia mới đượm.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐẮC

Đắc là được. Như: Đắc chí, đắc dụng, đắc đạo, đắc lực, đắc sách, đắc thế.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Thầy dạy các con một điều là biết tranh đấu cùng Thầy. Hễ nó tấn thì mình chống, cân sức cho bằng hay là trổi hơn mới đắc thắng. Các con chịu nổi thì Ðạo thành, còn các con ngã thì Ðạo suy. Liệu lấy!

Đắc văn sách thông Thiên định Địa,

Phép huyền công trụ nghĩahoá thân.

(Kinh Tận Độ).

Muốn đắc lộc Trời lời chẳng thốt,

Toan thâu của Ðất sức không làm.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

ĐẮC CỬ

得 舉

Đắc: Được. Cử: Lựa chọn ra để chính thức giao cho giữ một trách nhiệm hoặc làm một việc gì.

Đắc cử là được trúng cử, tức được người ta chọn lựa, rồi công cử lên phụ trách một chức vụ nào đó.

Đạo Luật Năm Mậu Dần có câu: Chư Nghị Viên và Phái Viên, sau khi đắc cử rồi, phải có giấy chứng của Đầu Quận, Đầu Họ và Đầu Tỉnh Đạo. Phải nhóm nhau tại Quận Đạo đặng giải quyết những vấn đề trong chương trình rồi lập lời quyết nghị.

Thầy đã định ngôi Giáo Tông thì Đầu Sư và Chưởng Pháp tranh cử đặng, nếu không giảm quyền Đầu Sư thì Chưởng Pháp mong chi đắc cử.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

ĐẮC DUYÊN

得 緣

Đắc: Được, có được. Duyên: Mối dây ràng buộc được định sẵn từ trước.

Đắc duyên là có được mối dây ràng với Phật từ kiếp trước, tức là có duyên lành với Phật.

Dẫn độ Chơn Linh đắc Pháp, đắc Phật, đắc duyên, đắc vị,...

(Di Lạc Chơn Kinh).

 

 

ĐẮC DỤNG

得 用

Đắc: Được, có được. Dụng: Dùng.

Đắc dụng là được dùng với ý coi trọng.

Như: Biết được nghề luyện kim bây giờ rất đắc dụng.

Con người khi gặp nơi đắc dụng được kẻ biết trọng đãi kính nể mình, ban cho vàng bạc đủ đầy...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

ĐẮC ĐẠO

得 道

Đắc: Được, có được. Đạo: Con đường tu hành.

Đắc đạo, cũng như đắc quả, là đạt được kết quả cuối cùng trên đường tu hành, tức là đạt đươc ngôi vị Thần, Thánh, Tiên, Phật nơi cõi Thiêng Liêng.

Thánh giáo Thầy có dạy: Bậc chơn tu khi còn xác phàm nơi mình, như đắc đạo, có thể xuất ra trước buổi chết mà vân du Thiên ngoại.

Một đổi lao thân mà đắc Ðạo,

Thương giùm người kiếp trước bơ thờ.

(Đạo Sử).

Xưa kia các Đấng hiền lương,

Cũng là đắc đạo trong trường khó khăn.

(Thượng Phẩm Giáng Bút).

 

 

ĐẮC KỲ SỞ NGUYỆN

得 其 所 願

Đắc: Được, có được. Kỳ: Cái ấy. Sở: Điều thuộc về mình. Nguyện: Lòng mong ước.

Đắc kỳ sở nguyện là đạt được hay có được cái điều mà lòng mình hằng mong ước.

Trong quyển Đạo Sử của bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có dạy: Chư Ðạo Hữu đừng vì buồn riêng mà làm cho Ðạo phải mang tiếng. Phải ẩn nhẫn nhịn nhục mới đắc kỳ sở nguyện. Chẳng ai phạm đến oai linh Thầy mà thoát khỏi hình phạt.

Con sẽ đắc kỳ sở nguyện của một người làm phải. Lời khẩn nguyện của con sẽ được chấp thuận.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

ĐẮC LỊNH

Hay “Đắc lệnh”.

Đắc: Được, có được. Lịnh (lệnh): Điều truyền bảo của người trên.

Đắc lịnh, như chữ “Đắc lệnh 得 令”, là được lịnh bề trên sai khiến.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn có dạy: Bần đạo khi đắc lịnh làm Chưởng Ðạo lập Hội Thánh giáo đạo tha phương thì tùng lòng bác ái của Chí Tôn, mở rộng thế cho nhơn sanh dâng công đổi vị.

Ðắc lịnh Hư cung chầu Bạch ngọc,

Mới tường căn cội vị mình đâu.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Khâm Châu đắc lịnh trấn Đô Thành,

Tân nhiệm kỳ công kính chúc anh.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

ĐẮC NHÂN TÂM

得 人 心

Đắc: Được. Nhân tâm: Lòng người.

Đắc nhân tâm là được lòng người.

Theo Mạnh Tử, muốn được lòng người phải tâm phục, tức là không lấy quyền lực hay tiền bạc ra để thu phục người, mà phải lấy đức mà cảm phục người.

Xem: Đức phục nhân tâm.

Đạo đắc nhân tâm, đời đắc sách,

Đời do dân ý, đạo dân quyền.

(Thơ Thân Dân).

 

 

ĐẮC PHÁP

得 法

Đắc: Được, có được. Pháp: Giáo pháp của tôn giáo, hay phép mầu.

Đắc pháp là đạt được giáo pháp. Đắc pháp còn có nghĩa là đạt được phép mầu nhiệm.

Trong Đạo Sử Đức Diêu Trì Kim Mẫu có dạy: Hễ đắc thế thì phải tầm pháp đặng cứu chữa, dạy bảo theo pháp; nếu mình hành pháp hiển linh, chúng sanh ứng mộ, thì mình đắc pháp.

Lục bá tam thiên công quả mãn,

Nhứt thời đắc pháp ngộ chơn như.

(Thài-Thái Bộ Thanh).

 

 

ĐẮC QUẢ

得 果

Đắc: Được, có được. Quả: Trái, kết quả.

Đắc quả là đạt được cái kết quả tốt trên đường tu hành, tức là đạt được ngôi vị Thần, Thánh, Tiên, Phật.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có dạy: Vậy muốn đắc quả thì chỉ có một điều phổ độ chúng sanh mà thôi.

Ðắc công đắc quả bởi căn xưa,

Nết dữ từ đây gắng phải chừa.

(Đạo Sử).

Ðọa căn lắm kẻ chê điều hậu,

Ðắc quả ít trang gớm sự tiền.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

ĐẮC SÁCH

得 策

Đắc: Được. Sách: Mưu kế.

Đắc sách là chính sách, kế hoạch hay, đem thi hành ra có hiệu quả tốt.

Như: Làm như thế mới đắc sách.

Đạo đắc nhân tâm, đời đắc sách,

Đời do dân ý, đạo dân quyền.

(Thơ Thân Dân).

 

 

ĐẮC TÁNG

得 喪

Đắc: Được. Táng: Mất.

Đắc táng, đồng nghĩa với chữ “Đắc thất 得 失”, nghĩa là được và mất, được và thua.

Nghĩa bóng: Chỉ thành công hay thất bại.

Đắc táng, cùng thông vui đổi hận,

Hưng vong, thành bại khóc thay cười.

(Thơ Huệ Ngàn).

 

 

ĐẮC THÀNH

得 成

Đắc: Được. Thành: Nên, trở nên.

Đắc thành là có được thành công.

Thánh giáo Đức Chưởng Đạo Nguyệt Tâm Chơn Nhơn có câu: Cả thảy Hội Thánh chưa ai đặng quyền ra khỏi ngoại luật. Chúng ta vâng theo mới đắc thành quyền hành Hội Thánh. Thảng có một người nghịch thì làm rối loạn chơn truyền.

Phước Thiện công quả đắc thành,

Về nơi Cực Lạc trường sanh đời đời.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

ĐẮC THẮNG

得 勝

Đắc: Được. Thắng: Giành được phần hơn trong cuộc đua tài giữa hai bên đối địch.

Đắc thắng là giành được phần thắng.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Cứu cánh của sự xung đột giữa Lương Tâm và Dục Vọng có khi Lương Tâm đắc thắng, đó là Thánh đức thắng tà thần, có khi ta quá nhu nhược, thiếu đạo đức để cho dục vọng đàn áp lương tâm, tức nhiên ta phải sa ngã vào đường tội lỗi.

Hễ nó tấn thì mình chống, cân sức cho bằng hay là trổi hơn mới đắc thắng.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

ĐẮC THẤT

得 失

Đắc: Được. Thất: Mất, thua.

Đắc thất là được và mất, hay được và thua.

Trong quyển Giảng Đạo Chơn Ngôn, Phối Sư Thái Đến Thanh có câu: Xem như lời Thánh-Hiền đã nói, thì sự đắc thất là do sở hành của người cầm quyền có nhân và bất nhân.

Ðắc thất đều do tại máy Trời,

Làm sao qua đặng chốn non khơi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

ĐẮC THẾ

得 勢

Đắc: Được có, có thể. Thế: Quyền, lực, cơ hội.

Đắc thế là gặp thời thế, có được thuận lợi cho việc hành động, hay công việc.

Trong Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Thánh giáo Đức Diêu Trì Kim Mẫu có dạy: Ðạo chia ra ba Chi: Thế, Pháp, Ðạo. Mình tu cho đúng theo luật, hành theo pháp thì chúng sanh nơi thế ca tụng công đức mình, trọng kính mình, ấy là mình đắc thế.

Ðắc thế thì toan chước đắc thời,

Ðừng cho mạnh cũ chịu lưng vơi.

(Đạo Sử).

Huỳnh khuyết dĩ văn tâm khẩn nguyện,

Thành khôi đắc thế hiệp trinh tường.

(Đạo Sử).

Đắc thế khua môi đồ phản ác,

Thức thời kín miệng mới hay hiền.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

ĐẮC THỜI

得 時

Đắc: Được có, có thể. Thời: Giai đoạn thuận lợi cho một hành động.

Đắc thời, như chữ “Hợp thời 合 時”, là đúng lúc, được thời, tức là phù hợp với yêu cầu khách quan vào một thời điểm nhất định.

Như: Đắc thời phải cố gắng phất lên.

Ðắc thế thì toan chước đắc thời,

Ðừng cho mạnh cũ chịu lưng vơi.

(Đạo Sử).

Đắc thời đứa nịnh nghiêng tai ngảnh,

Nghịch thế người ngay mỏi mắt trông.

(Thơ Đào Công).

 

 

ĐẮC TRUYỀN

得 傳

Đắc: Được có, có thể. Truyền: Trao lại, chuyển qua, làm lan rộng ra cho nhiều người, nhiều nơi biết đến.

1.- Đắc truyền là được sự truyền thụ, tức được tiếp nhận những gì do người trên, hay người xưa truyền lại.

Tôn kỉnh thầy cũng bì cha trẻ,

Mới đắc truyền mọi lẽ cao sâu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Đắc truyền còn có nghĩa là được sự truyền bá, tức là có nhiệm vụ phổ biến rộng rãi.

Đắc truyền khai mối Tam Kỳ,

Dưới tay cậy có Diêu Trì Cửu Nương.

(Tán Tụng Công Đức).

Đắc truyền Khai Đạo Tam Kỳ,

Bảo an Toà Thánh đến kỳ cửu niên.

(Văn Tế Quyền Giáo Tông).

 

 

ĐẮC VẬN

得 運

Đắc: Được, có được. Vận: Số mạng, thời vận.

Đắc vận là gặp được thời vận tốt. Thành ngữ Việt Hán thường có câu “Đắc thời đắc vận 得 時 得 運” nghĩa là gặp được thời vận.

Châu lưu tứ hải ngũ hồ,

Thơ hương đắc vận cậy nhờ dân sinh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ĐẮC VỊ

得 位

Đắc: Được, có được. Vị: Ngôi, chỗ ngồi.

Đắc vị là có được ngôi vị ở cõi Thiêng liêng, tức là ngôi xưa vị cũ của mình.

Thuyết Đạo của Ngài Tiếp Pháp Trương Văn Tràng đọc tại Ðền Thánh đêm 30 rạng mùng 1 tháng 3 năm Nhâm Dần (1962) trong dịp Vía Ðức Cao Thượng Phẩm có câu: Nói tóm lại, đời của Ðức Cao Thượng Phẩm lúc tuổi xuân là một vị công chức của Chánh Phủ Pháp, khi vào Ðạo là một vị Ðại Thiên Phong nơi Ðài Hiệp Thiên, ngày công viên quả mãn đắc vị “Kim Tiên” thật công trình cần lao khó nhọc không uổng.

Dẫn độ Chơn Linh đắc Pháp, đắc Phật, đắc duyên, đắc vị, đắc A Nậu Đa La Tam Diệu Tam Bồ Đề chứng quả nhập Cực Lạc Quốc...

(Di Lạc Chơn Kinh).

 

 

ĐẶC BIỆT

Đặc: Chỉ một mình, riêng. Biệt: Khác biệt, riêng.

Đặc biệt là riêng, khác, tức khác hẳn những trường hợp thông thường về tính chất, chức năng hoặc mức độ.

Thánh giáo Thầy có câu: Nhơn loại dùng thế lực mà cắn xé nhau, giành giựt nhau, quên lửng cõi trần nầy, nhơn sanh lãnh mỗi đứa một vai tuồng đặc biệt mà trả cho xong căn xưa quả cũ.

Học đặng định chánh tà giả thiệt,

Học cho thông đặc biệt hư nên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ĐẮM

1.- Đắm là chìm hoàn toàn xuống dưới mặt nước, thuyền đắm, tàu bị đánh đắm, đắm chìm trong biển khổ.

Thánh giáo Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Cũng nơi Thiên tai, ách nước, nhưng rất đau lòng dòm thấy muôn ngàn nhơn loại lặn hụp chới với nơi vực thẳm hang sâu kia, mà con thuyền Bát Nhã cũng còn sóng dập gió dồi, linh đinh trên biển khổ sông mê, khó vớt người bị đắm.

Kinh luân đứt nối khó truyền,

Gãy câu Khương Tử, đắm thuyền Ngư Công.

(Ngụ Đời).

Xôn xao biển khổ bao người đắm,

Hạnh phúc thử tìm mấy kẻ cho.

(Thơ Tiếp Đạo).

2.- Đắm còn dùng để chỉ sự say mê, tức như bị bao phủ hoàn toàn bởi một cái gì có sức chi phối lớn. Như: Đắm mình trong suy nghĩ, đắm say trong danh lợi.

Thánh giáo Thầy có câu: Ðiều Thầy vui hơn hết là muốn cho các con thương yêu giúp lẫn nhau như con một nhà, phải đồng tâm hiệp chí chia vui sớt nhọc cho nhau, nương đỡ dìu dắt nhau, đem lên con đường đạo đức, tránh khỏi bến trần ai khốn đốn nầy, mà cả muôn triệu sanh linh đã chìm đắm vì mồi phú quí, bả vinh hoa.

Bể trần chua chát không nên đắm,

Mùi đạo ngọt ngào khá nếm say.

(Thơ Thông Quang).

 

 

ĐẮM CHÌM

Đắm: Chìm xuống nước, say mê. Chìm: Rớt sâu dưới đáy nước.

Đắm chìm, như chữ “Chìm đắm”, là chìm sau dưới nước, hoặc chỉ sự đam mê.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Nhiều khi phải thất vọng, phải buồn lòng, phải trải qua nhiều nỗi khổ đau vì cơ thử thách, nhưng nếu người chức sắc không vững tâm bền chí, buông xuôi sứ mạng thì lấy ai cứu vớt bao nhiêu ức sanh linh đang đắm chìm nơi bể khổ.

Bỗng chợt thấy anh gà bạn cũ,

Đắm chìm trong lạc thú xa hoa.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

ĐẮM SAY

Đắm: Chìm xuống nước, say mê. Say: Bị rượu, thuốc làm cho ngây ngất, nghĩa bóng là mê đắm.

Đắm say, như chữ “Say đắm”, là say mê đến mức như đã mất lý trí, không còn biết gì chung quanh nữa.

Trong Đại Thừa Chơn Giáo có câu: Nay nhằm thời kỳ tận diệt, cuộc dinh hư tiêu trưởng sắp bày, người người còn mê mẩn đắm say theo tửu, khí, sắc, tài, nào có hay sự sắp khổ bên tai, cơ xáo lộn biến thiên, đó là muôn vật chịu tiêu diệt đoạ đày trong Thiên Ðịa đại luân hồi.

Thơ từ chúc tặng tình yêu mến,

Đạo lý luận đàm dạ đắm say.

(Thơ Phước Huệ).

 

 

ĐẰM THẮM

Đằm: Làm chủ được tình cảm của mình, để cho tình cảm lắng xuống, không có những phản ứng đột ngột. Thắm: Có tình cảm đậm đà.

Đằm thắm là nói tình cảm nồng nàn và có chiều sâu, khó phai nhạt. Như: Mối tình đằm thắm, nết na đằm thắm.

Trong Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Thánh giáo Đức Thượng Phẩm có câu: Công Dung Ngôn Hạnh tức là việc làm cho nhơn sanh thoát khổ, lời nói để đưa đường giáo hoá, hành vi cử chỉ để treo gương mặt thế, tức là phải biết nâng cao giá trị của Thánh Thể Chí Tôn, nết na đằm thắm, giữ trọn thương yêu, tức nhiên là làm nền móng cho Ðại Ðồng Thế Giới.

Cá kia chung phận hơi quen,

Ái ân đằm thắm bởi bền nghĩa nhân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Tập đằm thắm nết đi tướng chạy,

Đừng cà khêu múa nhảy chúng chê.

(Phương Tu Đại Đạo).

Phải dặn chừng con vú đứa chăn,

Chơi vui vẻ nói năng đằm thắm.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐẮN ĐO

Đắn đo là so sánh, cân nhắc xem giữa nên và không nên, chưa quyết định được. Như: Nó muốn làm nhưng vẫn còn đắn đo mãi.

Thánh giáo Đức Hộ Pháp trong Thánh Ngôn Sưu Tập có câu: Nguyệt Tâm Chơn Nhơn rất đỗi đắn đo không chịu tái thủ nhiệm vụ cũ, vì thấy các em không thể thay thế hình ảnh của người để chỉnh sửa cơ truyền giáo tha bang đó.

Mão đai đặng thuở hoạn đường dò,

Mảnh thế nhiều phen chịu đắn đo.

(Đạo Sử).

Duyên hạnh ngộ giữ nguyên Đại Đạo,

Nét khéo khôn hoài bão đắn đo.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

Dầu đắn đo cũng nghĩa đồng bào,

Dầu ngọt dịu người sao hơn thủ túc.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐĂNG

1.- Đăng là đồ đan bằng tre, nứa, hình phên dài, dùng chắn ngang dòng nước mà vây bắt cá. Đăng thường đi đôi với đó.

Như: Cắm đăng để bắt cá, cá vượt qua đăng.

Ðó đăng phải giữ phận nghèo hèn,

Dầu có rách lành vụ tiếng khen.

(Đạo Sử).

Đừng để dạ tham giàu phụ khó,

Mà ra lòng ham đó bỏ đăng.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Đăng là lên. Như: Đăng đài, đăng sơn, đăng đàn, đăng Tiên.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Hôm nay là ngày lễ kỷ niệm đăng Tiên của Ðức Hộ Pháp Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ Toà Thánh Tây Ninh. Trước hết tôi để lời cám ơn toàn thể chức sắc, chức việc và Ðạo Hữu lưỡng phái đã sẳn lòng đến dự đông đảo làm cho cuộc lễ tăng thêm phần long trọng.

Chín năm hành Đạo vội đăng Tiên,

Anh cả nêu gương bậc đại hiền.

(Thơ Thái Đến Thanh).

3.- Đăng là viết lên, chép lên, in lên báo chí. Như: Đăng tên, đăng báo, đăng bạ, đăng bài viết lên báo.

Trong quyển Thiên Đạo, hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh cõ đoạn viết: Có trường thi “công quả”, tất có cơ “khảo thí” theo phép công bình Thiên đạo. Phàm muốn đoạt thủ ngôi vị nơi trường thi ấy, người hành đạo phải có công lao xứng đáng và phẩm hạnh hoàn toàn. Chịu thử thách mà không sa ngã, mới đáng đăng tên vào Tiên tịch.

Việc nầy đã được hoàn cầu đăng khắp mặt báo.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

4.- Đăng là đèn, không dùng một mình. Như: Song đăng, thập niên đăng hoả.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh cũng có câu: Sanh ra nơi trần thế, người hữu học có công thập niên đăng hoả thì ai cũng muốn chen vào trường ốc, mong chiếm bảng vàng hầu lập nên sự nghiệp vẻ vang, làm đẹp mặt nở mày cho cha mẹ.

Chừ sao chong ngọn đèn ngồi,

đăng giỡn bóng, ghẹo người thương tâm.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ĐĂNG CHÚC

燈 爥

Đăng: Cây đèn. Chúc: Cây đuốc.

Đăng chúc là cây đèn và cây đuốc.

Như: Trang hoàng đăng chúc để tế lễ vong linh người quá cố.

Trước án nội lễ nghi chỉnh túc,

Nơi Đình tiền đăng chúc huy hoàng.

(Tuồng Hát Chèo Thuyền).

 

 

ĐĂNG ĐẲNG

Đăng đẳng chỉ lộ trình hoặc thời gian dài quá, không biết bao giờ mới hết. Như: Đường dài đăng đẳng.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Hành trình dài đăng đẳng, mà bước tục hãy còn chờ, chẳng sớm biết mình, hoạ Trời đâu tránh khỏi.

Ngày tháng vẫn mỏi mòn, mà đường Ðạo nhắm còn dài đăng đẳng.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

ĐĂNG ĐIỆN

登 殿

Đăng: Lên. Điện: Nơi ngồi của vua, hay nơi thờ phượng các Đấng Thiêng Liêng.

Đăng điện là nói vua lên ngai vàng.

Trong tôn giáo, các bậc lãnh đạo nhận chức, lên ngồi trên ngai được gọi là “Đăng điện”. Đồng nghĩa với “Đăng quang”.

Pháp Chánh Truyền Chú Giải có quy định về lễ Đăng Điện cho Giáo Tông như sau: Đắc cử quả quyết rồi, nghĩa là khi Hội Thánh đã đủ chứng chắc không điều chi bất công thì Hội Thánh mới xúm nhau làm lễ Đăng Điện cho Ngài.

Xem: Đăng quang.

Khi Hội Thánh đã đủ chứng chắc không điều chi bất công, thì Hội Thánh mới xúm nhau làm lễ đăng điện cho Ngài.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

ĐĂNG KHOA

登 科

Đăng: Lên, ở dưới thấp lên cao, viết lên. Khoa: Cách thức thi chọn lấy nhân tài.

Đăng khoa, như chữ “Đăng đệ 登 第”, là thi đỗ

Ngày xưa, dưới chế độ thi cử mỗi năm đều có xét chọn kẻ sĩ, gọi là khoa thi. Còn những người được tuyển chọn trong kỳ thi cử gọi là “Đăng Khoa”.

Ðăng khoa thì có chức thì không,

Nghĩ đến thẹn cho mặt Tử Phòng.

(Đạo Sử).

 

 

ĐĂNG QUANG

登 光

Đăng: Lên. Quang: Ánh sáng.

Đăng quang tức là một cuộc lễ để vua lên ngôi vị, hay các vị lãnh đạo trong tôn giáo lên ngự trên ngai để thừa hành nhiệm vụ.

Như: Toàn dân mừng lễ đăng quang của nhà vua.

Non nước cũ nay đương sửa mới,

Chốn kinh đô tiến tới đăng quang.

(Đoàn Thị Điểm Giáng).

 

 

ĐĂNG SƠN

登 山

Đăng: Lên, leo lên. Sơn: Núi, non.

Đăng sơn là lên non, lên núi, ý chỉ chịu cảnh gian nan, vất vả.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Những khách đăng sơn khi phải leo lên một đường núi thì trước khi phải kiểm điểm hành lý, bỏ bớt những cái gì nặng nề vô ích, cái gì trở ngại, nhờ vậy mới lên tột đỉnh theo ý định của mình.

Trải bao phen lên ải xuống đèo,

Đã lắm lúc đăng sơn quá hải.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

ĐĂNG TIÊN

登 仙

Đăng: Lên. Tiên: Cõi Tiên.

Đăng Tiên là lên cõi Tiên, đây là tiếng đặc biệt của Đạo Cao Đài dùng để chỉ các chức sắc Đại Thiên phong quy vị.

Trong Bản Tuyên Dương Công Nghiệp Đức Thượng Sanh của Ngài Hiến Pháp có câu: Là một chí sĩ thương dân yêu nước, Ông thường giao du cùng các bạn đồng chí khác như hai Ông Cao Quỳnh Cư và Phạm Công Tắc chẳng hạn. Cả ba Ông là nhạc sĩ lừng danh trong giới âm nhạc tại Thủ Ðô Sài Gòn, hai Ông Cư và Sang được coi như bậc Thầy trong giới nầy, sau khi Ông Cư đăng Tiên rồi, thì Ông Sang được coi như bậc Hậu Tổ.

Cung Trí Giác, trụ tinh thần,

Huờn hư mầu nhiệm thoát trần đăng Tiên.

(Kinh Tận Độ).

Ngày nào giải khổ xác thân,

Là ngày dứt nợ phong trần đăng Tiên.

(Thượng Phẩm Giáng Bút).

 

 

ĐĂNG THẦN NHẬP THÁNH

登 神 入 聖

Đăng Thần: Vượt lên cõi Thần. Nhập Thánh: Đi vào cõi Thánh.

Đăng Thần nhập Thánh có nghĩa là đắc quả được lên cõi Thần hay nhập vào cõi Thánh.

Nẻo Phật đường Tiên Thầy đã dạy,

Đăng Thần nhập Thánh tại nơi trò.

(Thơ Thông Quang).

 

 

ĐĂNG TRÌNH

登 程

Đăng: Lên. Trình: Con đường.

Đăng trình, như chữ “Đăng đồ 登 途”, là lên đường, tức bắt đầu một cuộc hành trình.

Trong tác phẩm Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu có câu: “Đặng cho rõ nỗi sự tình, Ngỏ sau ngàn dặm đăng trình mới an”.

Tổ Đình hội ngộ đã lâu ngày,

Tộc Đạo đăng trình tạm cách nay.

(Thơ Thượng Cảnh Thanh).

 

 

ĐẮNG

Đắng là có mùi vị như bồ hòn, mướp đắng rất khó chịu, trái với ngọt.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Con đã để dạ ưu tư về mối Ðạo, đã lắm lần trưu cay ngậm đắng mà nhuộm nét nâu sồng, mong trau rạng mảnh gương để soi chung bước đàng sau mà lần đến cảnh tự tại thung dung, tránh bớt muôn điều phiền não.

Trăm đắng ngàn cay đành một kiếp,

Công Hầu Vương Bá dám đâu hơn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trăm cay ngàn đắng cũng chiều,

Quý thân quân tử, dám liều với thân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ĐẮNG CAY

Đắng: Có vị khó chịu của mật cá, chỉ cảm giác đau đớn của tinh thần. Cay: Có vị như vị của ớt, chỉ sự đau xót và tức tối vì bị thất bại hoặc thua thiệt.

Đắng cay, như chữ “Tân khổ 莘 苦”, tức là vị cay, vị đắng. Trong văn chương, người ta thường dùng hai chữ “Đắng cay” để chỉ cảnh gian nan, đau khổ.

Xem: Cay đắng.

Chịu cực khổ đắng cay biết mấy,

Cuốc, cày, bừa, gieo, cấy, gặt, đong.

(Kinh Sám Hối).

Có chồng trọn nghĩa cùng chồng,

Đắng cay phải chịu mặn nồng phải cam.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Ấm lạnh không phai lòng sắt đá,

Đắng cay chẳng đổi tấm vàng son.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

ĐẮNG NGỌT

Đắng: Có vị khó chịu của mật cá, chỉ cảm giác đau đớn của tinh thần. Ngọt: Có vị như đường.

Đắng ngọt, như chữ “Cam khổ 甘 苦”. Cam là ngọt, chỉ sự sung sướng, khổ là đắng, nói sự cực nhọc.

Đắng ngọt dùng để chỉ cảnh đời khi khổ sở, lúc sung sướng, hay khi buồn lúc vui.

Dầu hư nên đến sự chơi bời,

Cũng cho hưởng đủ mùi đắng ngọt.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐẰNG

1.- Đằng là đàng, nơi, trong quan hệ đối lập với người hay một nơi khác.

Như: Ngồi đằng trước, phía đằng sau nhà bếp, ngồi ở đằng mũi thuyền.

Con lại để thêm một cái bàn giữa bên cửa sổ, đằng trước ngó vô.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

2.- Đằng là một loại cây có thân là dây leo như mây, sắn, không dùng một mình.

Như: Dây đằng, cát đằng, đằng la.

Dây cát đằng tỉ phận mỏng mành,

Cội tòng bá đã đành nương gởi phận.

(Phương Tu Đại Đạo).

Hễ cát đằng nhảy lá xanh chồi,

Thân tòng bá càng tươi thêm vẻ đẹp.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Đằng , do chữ “Đằng vương 滕 王” là Lý Nguyên Anh, đời nhà Đường, có xây một cái lầu ở Nam Xương, tỉnh Giang Tây bên Tàu.

Thuở ấy Vương Bột đi thuyền, nhờ có gió đưa đến đó dự tiệc rồi làm bài phú nổi tiếng.

Duyên đằng thuận gió đã êm thuyền,

Bốn biển năm hồ đã đậu yên.

(Đạo Sử).

4.- Đằng là bay lên.

Như: Đằng vân giá vũ, đằng giao khởi phụng (rồng bay phụng dậy).

Đợi trông nho sĩ tài vừa,

Đằng giao khởi phụng khó ngừa Tiên thi.

(Tứ Nương Giáng Bút).

 

 

ĐẰNG CÁC

滕 閣

Đằng: Nói tắt chữ “Đằng vương”, tước phong của Lý Nguyên Anh. Các: Cái gác.

Đằng các là một cái gác được xây tại Hàng Châu, do Đằng Vương Lý nguyên Anh đã xây dựng, lấy hàm tước của vua phong để đặt tên gác.

Vương Bột, một thiếu niên đời nhà Đường, đi dự yến, nhờ thuận gió trong một đêm thuyền tới gác Đằng Vương, vừa kịp lúc vào dự yến và làm bài tự nổi tiếng vào thời bấy giờ.

Xem: Đằng Vương.

Đón phước non du mây án đảnh,

Trông duyên Đằng các tiệc đầy mâm.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

ĐẰNG CÁT

藤 葛

Đằng: Loại dây leo, dây mây. Cát: Dây sắn.

Đằng cát là loại dây leo như dây mây, dây bìm bìm hay dây sắn phải nương dựa vào bóng tùng, ví với phận người vợ nương tựa bên chồng.

Đằng cát cũng dùng để chỉ người yếu thế, cô đơn, phải nương dựa vào thế mạnh. Như vợ bé phải nương nhờ vào vợ lớn.

Dìu nhau trở bước lại rừng thung,

Ðằng cát may đưa dựa bóng tùng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cầm loan lỡ điệu chùn tơ phím,

Đằng cát lìa dây quạnh bóng tùng.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

ĐẰNG GIAO KHỞI PHỤNG

騰 蛟 起 鳳

Đằng giao: Rồng bay, giao là một loài giống rồng. Khởi phụng: Chim phụng trở dậy.

Đằng giao khởi phụng là rồng bay phụng dậy.

Do bởi con rồng trở dậy vi vẩy rực rỡ, chim phụng bay lên lông sắc đẹp đẽ, nên người ta dùng thành ngữ “Đằng giao khởi phụng” để diễn tả về chữ viết, hoặc văn chương đẹp đẽ, hoa mỹ.

Đằng giao khởi phụng là con rồng bay, con phượng múa, đồng nghĩa câu thành ngữ Việt nam “Rồng bay phụng múa” để nói về hoa mỹ, đẹp đẽ như văn chương, thư pháp.

Nghĩa bóng: chỉ sự tài hoa xuất chúng.

Đợi trông Nho sĩ tài vừa,

Đằng giao khởi phụng khó ngừa Tiên thi.

(Bài Thài Tứ Nương).

 

 

ĐẰNG VÂN

騰 雲

Đằng: Nhảy lên cao. Vân: Mây.

Đằng vân là một pháp thuật của người đạt được thần thông, tức là nhảy lên mây để bay trên trời cao.

Như: Đằng vân giá võ.

Thời lai gió đẩy đến Ðằng Vân,

Thường biết mình tuy cũng kép bần.

(Đạo Sử).

 

 

ĐẰNG VƯƠNG

滕 王

Đằng: Nói tắt chữ “Đằng vương”, tước phong của Lý Nguyên Anh. Vương: Tước Vương.

Đằng vương là tước phong của Lý Nguyên Anh, ông có xây một cái gác tại Hàng Châu, là nơi danh lam thắng cảnh ở Trung Hoa, được gọi là “Đằng vương các”.

Đô đốc Diêm Bá Tự đặt tiệc tại Đằng Vương Các cho mời các nhà quyền quý cùng các văn sĩ xa gần đến dự yến và yêu cầu mỗi người làm bài tự ngay trong buổi tiệc.

Vương Bột mới 16 tuổi, đi thuyền nhờ thuận gió trong một đêm tới gác Đằng Vương, vừa kịp lúc vào dự yến và làm bài tự nổi tiếng vào thời bấy giờ.

Xem: Đằng vương các.

Con đò bến nước ngược xuôi sang,

Hướng đến Đằng Vương cũng tiện đàng.

(Thơ Thành Đức).

 

 

ĐẰNG VƯƠNG CÁC

滕 王 閣

Đằng: Nói tắt chữ “Đằng vương”, tước phong của Lý Nguyên Anh. Vương: Tước Vương. Các: Cái gác.

Đằng vương các 滕 王 閣 là gác Đằng vương, một cái gác được xây tại Hàng Châu, nơi danh lam thắng cảnh ở Trung Hoa. Gác nầy do Đằng Vương Lý nguyên Anh đã xây dựng, lấy hàm tước của vua phong để đặt tên gác.

Trong bài “Kinh Vào Học” có hai câu:

May duyên gặp hội Long Vân,

Thuyền thơ ngọn gió Các Đằng xuôi đưa.

Chúng ta thử tìm hiểu về hai câu kinh nầy.

Hội Long Vân 龍 雲 會 là Hội rồng mây, một thành ngữ xuất xứ ở Kinh Dịch: “Vân tùng long, phong tùng hổ 雲 從 龍, 風 從 虎”: Mây theo rồng, gió theo cọp. Ý chỉ thời may vận đỏ để tôi hiền gặp chúa Thánh như rồng gặp được mây.

Thuyền thơ, do chữ “Thư thuyền 書 船”, là thuyền chở đầy kinh sách. Ý chỉ thuyền chở người văn tài uyên bác.

Các Đằng, viết tắt của từ “Đằng Vương Các 滕 王 閣”, là một cái gác được xây tại Hàng Châu, nơi danh lam thắng cảnh ở Trung Hoa. Gác này do Đằng Vương Lý Nguyên Anh đã xây dựng, lấy hàm tước vua phong để đặt tên gác: Đằng Vương Các.

Đại ý (Hai câu kinh): Nếu có duyên may mắn mà gặp được hội rồng mây để chọn kẻ anh tài thì nguyện sẽ đem hết tài sức ra thi thố với người mới phỉ dạ.

Câu “Thuyền thơ ngọn gió Các Đằng xuôi đưa” do sự tích sau đây:

Vương Bột 王 勃, tự là Tử An 子 安, người đời Đường, mới 6 tuổi đã biết làm văn, lớn lên thi đậu cao, nhưng tính khí kiêu căng.

Tương truyền, có một vị đô đốc tên là Diêm Bá Tự ở Hồng Châu đặt tiệc tại Đằng Vương Các, muốn khoe tài chàng rễ mình là Ngô Tử Chương, nên biểu làm trước một bài tự rồi mời hết các nhà quyền quý cùng văn sĩ xa gần lại dự yến và yêu cầu mỗi người làm cho một bài tự ngay trong buổi tiệc.

Vương Bột lúc ấy mới 15 hay 16 tuổi, đang ở nơi xa Đằng Vương Các hơn mấy trăm dặm đường, được một ông cụ cho hay tin và khuyên chàng cứ sửa soạn buồm và chèo đi, tự nhiên sẽ có gió nổi dậy giúp cho thuyền tới nơi kịp lúc. Quả nhiên, đêm đó có gió to, chàng cho thuyền khởi hành và hôm sau tới Đằng Vương Các, vừa kịp lúc vào yến tiệc.

Đô đốc Diêm Bá Tự chê chàng là con nít, nhưng miễn cưỡng cấp giấy bút cho chàng làm bài tự, song sai người đứng bên cạnh chàng, hễ chàng viết được câu nào thì chép lại mang cho ông coi.

Mới đọc mấy hàng đầu, ông đã ngạc nhiên vì lời văn già giặn của Vương Bột, tới câu:

“Lạc hà dữ cô vụ tề phi,

落 霞 與 孤 鶩 齊 飛

Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc”.

秋 水 共 長 天 一 色

(Ráng chiều với cò lẻ cùng bay,

Nước thu cùng trời dài một sắc.)

Thì ông khâm phục thiên tài của vị thiếu niên ấy.

Từ đó, danh của Vương Bột vang dậy khắp nơi. Song tiếc thay, đương giữa tuổi xuân, trong khi đi thăm cha làm quan ở Giao Chỉ, chàng bị đắm thuyền, chết ở giữa biển.

Do sự tích ngọn gió đưa chiếc thuyền của Vương Bột đến kịp lúc dự yến và làm bài tự nổi danh, nên có câu: “Thời lai, phong tống Đằng Vương Các 時 來, 風 送 滕 王 閣” (Thời tới thì gió đưa đến gác Đằng Vương) để chỉ sự may mắn của người gặp được thời.

Trong Minh Tâm Bửu Giám, Tích Hiền có câu: Tri mệnh chi nhân kiến lợi bất động, lâm tử bất oán, đắc nhất nhật quá nhất nhật, đắc nhất thời quá nhất thời, khẩn hành mạn hành tiền trình chỉ hữu hứa đa lộ, thời lai phong tống Đằng Vương các, vận khứ lôi oanh Tiến phước bi 知 命 之 人 見 利 不 動, 臨 死 不 怨, 得 一 日 過 一 日, 得 一 時 過 一 時, 緊 行 慢 行 前 程 只 有 許 多 路, 時 來 風 送 滕 王 閣, 運 去 雷 轟 薦 福 碑. Nghĩa là người biết mệnh Trời thấy lợi không động, gặp chết không oán, được một ngày qua một ngày, được một giờ qua một một giờ. Đi mau đi chậm, tiền đồ cũng chỉ bấy nhiêu đường. Thời mình đến, dù gác Đằng Vương xa gió đưa cũng tới, vận mình đi, dù cái bia Tiến phước, sét cũng đánh hư ngã.

Duyên may gặp gió Đằng Vương các,

Cũng ngại danh đồn thơ phú gia.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

ĐẲNG

Đẳng là bậc. Như: Cao đẳng, thượng đẳng, hạ đẳng, đẳng cấp.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Nên để ý là trong các đẳng nhơn sanh, người dầu sang hay hèn, Thánh nhân hay thường nhân, cái tâm của Thiêng Liêng ban cho đều có sự sáng suốt ngang nhau không khi nào chênh lệch.

Nhứt niệm Quan Âm thùy bảo mạng,

Thiên niên đẳng phái thủ sanh tồn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

ĐẲNG CẤP

等 級

Đẳng: Thứ bực, ngang nhau. Cấp: Bực thềm.

Đẳng cấp nghĩa là các tầng lớp, tức là thứ bực trên dưới, cao thấp khác nhau.

Thánh giáo Thầy có câu: Vậy Thầy lại dặn các con: Nếu kẻ không tu, làm đủ phận người, công bình chánh trực, khi hồn xuất ra khỏi xác thì cứ theo đẳng cấp gần trên mà luân hồi lại nữa, thì biết chừng nào đặng hội hiệp cùng Thầy.

Toà Tam Giáo có ngày định lập,

Quyền phân minh đẳng cấp chánh truyền.

(Thất Nương Giáng Bút).

Tượng trưng Cửu phẩm giữa đền,

Chia thành đẳng cấp đôi bên phô bày.

(Cội Đạo Bốn Mùa).

 

 

ĐẶNG

Đặng là được, để. Như: Anh làm đặng công việc ấy à?, Anh xin cái ấy đặng làm gì?

Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy về Chơn Thần có câu: Bậc chơn tu khi còn xác phàm nơi mình, như đắc đạo, có thể xuất ra trước buổi chết mà vân du Thiên ngoại. Cái Chơn thần ấy mới đặng phép đến trước mặt Thầy.

Gắng công ắt đặng công mà chớ,

Buồn bực rồi sau mới có mừng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðặng ngọc mà chê ngọc chẳng lành,

Ðường Tiên chẳng lựa, lựa đường danh.

(Đạo Sử).

 

 

ĐẶNG BỮA CÀY BUÔNG BỮA GIỖ

Đặng bữa cày: Được một buổi cày đất. Buông bữa giỗ: Phải bỏ một bữa ăn giỗ.

Đặng bữa cày buông bữa giỗ ý nói muốn được việc nầy thì phải buông bỏ việc kia.

Tâm lý con người thường có ý “Bắt cá hai tay”, tức là muốn làm chuyện này cùng với việc kia một lúc. Chính vì vậy, tục ngữ ta mới có lời khuyên “Hễ đặng bữa cày thì buông bữa giỗ”.

Hễ đặng bữa cày buông bữa giỗ,

Phân thân đâu đặng hưởng hai bên.

(Đạo Sử).

Than ôi! Hễ đặng bữa cày thì phải buông bữa giỗ,

Chốn gian trường ôi! là biển khổ với sông mê.

(Giác Mê Khải Ngộ).

 

 

ĐẶNG CHIM QUÊN NÁ

Đặng chim: Bắt được chim. Quên: Không nhớ. Ná: Nỏ, loại dụng cụ dùng để bắn chím.

Đặng chim quên ná, do câu tục ngữ Việt Nam: “Đặng chim quên ná, đặng cá quên nôm”, dùng để nói người có tính bội bạc.

Đặng chim quên ná có nghĩa là bắt được chim rồi quên đi công của chiếc ná, ý chỉ người có tính phản phúc, vong ân bội nghĩa.

Ðặng chim trách kẻ toan quên ná,

Buồn bực cho đây vẫn một mình.

(Thất Nương Giang Bút).

 

 

ĐẶNG LÀM NGƯỜI

Đặng: Được. Làm người: Sống làm một con người.

Đặng làm người tức đặng làm một con người. Ý muốn nói làm một con người không phải là dễ, bởi vì con người nằm trong Tam tài: Thiên, địa, nhân.

Theo triết lý tôn giáo, từ vật chất muốn tiến hoá lên thảo mộc phải biết bao nhiêu là kiếp tiến hoá, thế mà từ vật chất, tiến lên thảo mộc, thú cầm rồi đến nhơn loại thì không phải là chuyện dễ. Vì vậy, đặng làm người không phải là một chuyện dễ.

Dễ gì lộn kiếp đặng làm người,

May đặng làm người chớ dể duôi.

(Giới Tâm Kinh).

Trước làm Tiên Phật phải làm người,

Muốn đặng làm người chẳng phải chơi.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

ĐẶNG NHO

Đặng Nho tên tự là Bá Đạo, người đời Tấn. Khi Đặng Nho giữ chức Thái thú đất Hà Đông, gặp năm có biến, vợ con và một đứa cháu (Con người anh) chạy trốn. Giữa đường gặp cướp phải chạy sang sông, ông liệu không thể nào bảo toàn cả con lẫn cháu, mới nói với vợ: Anh ta chỉ có một con, không thể để tuyệt giống, còn chúng ta có thể sinh con khác, vậy ta phải bỏ con lại và đem cháu đi.

Về sau ông được cử làm Thái thú Ngô Quận, nổi tiếng thanh liêm, rất được lòng dân, nhưng vợ ông hết sinh con được.

Bỏ con lo cháu cho tròn,

Đặng Nho khuyên vợ ta còn tương lai.

(Báo Ân Từ).

 

 

ĐẶNG THẤT

Đặng: Được, thắng trong một hoạt động nào đó. Thất: Mất, thua.

Đặng thất là được thua, thắng bại, hay nên hư.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Không lạ gì, chúng ta thấy thế thường, con người không làm thì không có nên hư, còn lãnh trách vụ thì nên hư đặng thất.

Đời vắn ngủn huỳnh lương in giấc,

Kiếp phù sinh đặng thất nơi thân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Đừng tranh phát gia tài đặng thất,

Nếu cha ngu của mất hồi mô.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐẮP

1.- Đắp là phủ lên trên mình, trên mặt. Như: Đắp chăn, đắp mền, đắp mặt.

Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy Ngài Cao Quỳnh Cư có câu: Ðáng lẽ nó (Hộ Pháp) phải sắm khôi giáp như hát bội, mà mắc nó nghèo, Thầy không biểu. Bắt nó lên đứng trên, ngó mặt ngay vô ngôi Giáo Tông, lấy chín tấc vải điều đắp mặt nó lại.

Thương những thuở huyên đường ôm ấp,

Thương những khi co đắp chung mền.

(Kinh Thế Đạo).

Áo trâu đắp đông sương lạnh lẽo,

Cửa hấp gà mở nẻo tiễn phu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Phải phủ che cho ấm tay chơn,

Nơi mỏ ác tốt hơn thường đắp ấm.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Đắp là vun đất lên, phụ thêm đất vào.

Như: Đắp tuyến đê, đắp đường đi, đắp bờ ruộng, đắp nền nhà.

Bắc cầu đắp sửa đường liền,

Kẻ qua người lại bước yên gọn gàng.

(Kinh Sám Hối).

Công dân đắp lũy bồi thành,

Tay mình lại cột lấy mình thảm thay.

(Ngụ Đời).

3.- Đắp là làm cho dày hơn, vững chắc hơn. Như: Xây đắp, bồi đắp.

Thánh giáo có câu: Thầy hằng biết công của các con, nhưng Thầy phải cực lòng chiều ý của mỗi đứa mà xây đắp nền Ðạo. Vì vậy mà nhiều sự xảy ra đều do nơi tâm chí của nhiều đứa.

Bền dạ tua thìn trau đạo Thánh,

Ra công khá gắng đắp nền nhân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Vun bồi cội ái, Đời hưng thịnh,

Xây đắp nền nhân, Đạo thống truyền.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

ĐẮP BỒI

Đắp: Phủ lên thêm. Bồi: Bồi thêm vào.

Đắp bồi, như chữ “Bồi đắp” có nghĩa là đắp thêm cho dày hơn, vững chắc hơn.

Thánh giáo Thầy có câu: Sanh đứng làm người, trót đã mang vào mình một vai tuồng đặc biệt, đã chẳng lo bước hành trình cho xong mà đắp bồi nợ mảnh hình hài, ngọn rau tấc đất, lại chác lắm điều phiền não ưu sầu, lấy Thánh đức gọi là chơi, mượn hành tàng vô nghĩa mà làm cho vừa lòng ái mộ bất lương.

Nhọc đời chưa dễ công đeo đuổi,

Nâng thế tua trau quả đắp bồi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Lòn thân dưới phép quen mùi,

Thương đời thọ khổ, đắp bồi Thánh tâm.

(Thượng Phẩm Giáng Bút).

 

 

ĐẮP CẠN THÀNH SẦU

Đắp cạn: Làm cho vơi bớt. Thành sầu: Nỗi sầu to lớn như bức thành trì.

Đắp cạn thành sầu là làm cho sự sầu thảm cạn đi dần dần.

Xem: Thành sầu.

Tả nỗi thảm thêm đau mấy đoạn,

Mượn bút hoa đắp cạn thành sầu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ĐẮP ĐỔI

Đắp đổi có nghĩa là dùng thứ nầy hoặc thứ khác để sống cho qua ngày trong hoàn cảnh khó khăn thiếu thốn.

Đắp đổi còn là lần hồi hết cái nầy đến cái nó.

Ngài Tiếp Pháp Trương Văn Tràng trong quyển Giáo Lý có viết: Minh Minh Đức tức là khai hoá Trí. Thân dân tức là thực hành đức Nhân, Nhân Trí đắp đổi mà thành tựu lẫn nhau. Minh Minh Đức là học. Thân dân là hành. Tri hành hiệp nhứt sẽ hoàn thành nghĩa vụ làm người.

Ơn Trời lộc đất riêng dành để,

Tháng lại ngày qua đắp đổi xây.

(Thơ Thượng Thường Thanh).

 

 

ĐẮP LUỸ

Đắp: Vun đất lên bề mặt từng lớp cho dầy thêm. Luỹ: Thành đắp bằng đất hay bằng gạch.

Đắp luỹ là đắp công sự để bảo vệ thành, tức đắp đất cao chung quanh thành để bào vệ trong nội thành.

Công dân đắp luỹ bồi thành,

Tay mình lại cột lấy mình thảm thay.

(Ngụ Đời).

Đắp luỹ Cổ Loa chưa mấy mặt,

Lập hồ Hoàn Kiếm bấy nhiêu tên.

(Đạo Sử).

 

 

ĐẮP LUỸ XÂY ĐỒN

Đắp luỹ: Đắp đất cao chung quanh thành để ngăn địch. Xây đồn: Xây dựng nơi đóng quân để phòng vệ.

Đắp luỹ xây đồn là xây đắp đồn luỹ kiên cố, nghĩa là xây dựng vị trí quân sự có thành hào và công sự bền bỉ, vững chắc.

Lập chí ôn nhu là đắp luỹ,

Nung lòng đạo đức ấy xây đồn.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

ĐẮP VUN

Đắp: Vun đất lên bề mặt từng lớp cho dầy thêm. Vun: Gom lại mà đắp thêm cao.

Đắp vun, như chữ “Vun đắp”, là bồi đắp, tức làm cho ngày càng phát triển, bền chắc.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Từ nền Ðạo khai sáng đặng gieo truyền mối Chánh giáo đến nay, thì phần nhiều môn đệ đã có trọn tấc thành mà dìu dắt sanh linh và đắp vun mối Ðạo Trời, ấy là những đứa Thầy đã tin cậy đặng gia công dọn lối chông gai để mở trống nẻo thiêng liêng, dẫn lần dân sanh khỏi sông mê bến khổ, tất là cõi trần vô vị nầy.

Thầy có thế dùng hai con đặng đắp vun nền Ðạo, cứu vớt sanh linh, nhưng đức tín ngưỡng biết có đặng tròn, sự dày công chịu khó vì nhơn sanh biết có đặng bền bỉ chăng?

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

ĐẮP XÂY

Đắp: Vun đất lên bề mặt từng lớp cho dầy thêm. Xây: Dùng vật liệu mà dựng nên.

Đắp xây, như chữ “Xây đắp”, là xây dựng và bồi đắp cho vững chắc thêm.

Ba đào qua, lố bóng ngân,

Toàn cầu cả thấy nhơn quần đắp xây.

(Xuân Hương Giáng Bút).

 

 

ĐẮT

1.- Đắt là cao giá, quý hiếm, trái với rẻ.

Như: Chiếc đồng hồ đắt giá, mua hàng đắt tiền, giá tiền rất đắt.

Bán xuân khi đắt giá xuân,

Thu qua để thẹn hồng quần biết bao.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Đắt là hàng hoá bán ra được nhiều chuộng, nhiều người mua, trái với ế.

Như: Mua may bán đắt, đắt như tôm tươi, cửa hàng đắt khách.

Lời tục ví: Mua xin, bán lạy,

Hễ kết nhiều nhân ngãi đắt hàng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐẶT

1.- Đặt là để vào một chỗ nào. Như: Đặt bình bông lên bàn viết, đặt dưới quyền dạy dỗ của ông thầy.

Thánh giáo Đức Thượng Đế Toàn Năng giáng thế tá danh Cao Đài truyền Chơn lý tại Việt Nam có câu: Vậy Thầy nhờ con truyền bá Giáo lý nầy cho dân tộc đặt dưới quyền bảo hộ của con.

Nền nhân đã đặt nhiều viên gạch,

Bến giác từng xây lắm nhịp cầu.

(Thơ Huệ Ngàn).

2.- Đặt là làm ra, soạn ra, làm thành. Như: Đặt bài thơ, đặt ra lời hát, đặt tên, đặt hiệu, đặt ra dòng họ.

Thánh giáo Bát Nương Diêu Trì Cung có câu: Vậy thì nơi khiếm ánh thiêng liêng là Âm quang, nghĩa là Âm cảnh hay là Ðịa ngục, Diêm đình của chư Thánh lúc xưa đặt hiệu.

Đặt ra có họ, có dòng,

Vua, thầy, cha mẹ, vợ chồng, cháu con.

(Giới Tâm Kinh).

Sách vở xưa đặt đọc cho kêu,

Mình lớn tiếng lời nhiều ai cũng sợ.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Đặt là bày ra, bịa ra.

Như: Đặt chuyện bêu xấu người, đặt điều nói xấu bạn, đặt để thêm nhiều chuyện.

Nghe một việc nói ra trăm cách,

Đặt nên tuồng nhóc nhách nói thêm.

(Phương Tu Đại Đạo).

Gẫm thế sự nực cười muốn sặc,

Khéo trớ trêu ai đặt nên điều.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐẤY

Đấy là cái đó, ở chỗ ấy, trái với đây. Như: Để đấy, Đây chứ không phải đấy.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Ði cúng, điều trọng yếu nhứt là tinh thần, cái huyền vi bí pháp tinh thần ở đấy là Cửu Trùng Ðài rồi Bát Quái Ðài thuộc về Chơn Linh, ấy là linh tâm xuất hiện, nếu mấy em có cảm mới có ứng, mà nếu có ứng, thì mấy em mới hưởng được, thảng không hưởng được là lỗi tại mấy em không trọn tâm thành kính.

Quyền hành từ đấy về tay nắm,

Phải sửa cho nên đáng thế thì.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cửa Phạm dầu xưa xem lạ nẻo,

Ðường Tiên từ đấy hết ngăn rào.

(Đạo Sử).

 

 

ĐẦY

1.- Đầy là lên đến tận bờ, tận miệng, hay hết mức chứa, trái với vơi.

Như: Nước đầy chén, thóc đầy bồ, cái nhìn đầy giận dữ, tinh khí đầy trong cơ thể.

Thánh giáo Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng có câu: Có đèn dầu đầy mà thiếu hơi lửa nhen lên, thì cũng phải mờ mịt thâm u, trông chi soi sáng.

Bụng trống thảnh thơi con hạc nội,

Lúa đầy túng tíu phận gà lồng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nước vốn đầy sông tuỳ kẻ xách,

Lộc kia đầy đất tại người dời.

(Đạo Sử).

Linh dược đầy bầu là cội ái,

Kinh luân nặng túi ấy nguồn nhân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Đầy là nhiều quá, đông quá, ở trạng thái có nhiều và khắp cả. Như: Khách đầy, mực đầy áo, trời đầy sao.

Thánh giáo Thầy có dạy: Ôi! Thầy đã lắm nhọc nhằn vì bầy con dại, muốn ra tay tế độ, vớt trọn cả chúng sanh thoát vòng khổ hải, nhưng chúng nó nhiễm luyến đã đầy mùi trần thế, tâm chí chẳng vững bền, thấy khó đã ngã lòng, mới đạp chông toan trở bước.

Gay chèo thoát khổ đầy linh cảm,

Rạch nước trừ oan đủ diệu huyền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Đầy là trọn, đủ số lượng một đơn vị.

Như: Đầy tháng, đầy năm, hai nhà cách nhau chưa đầy một trăm thước.

Còn đạo mới khai lập, tuy xuất hiện chưa đầy một năm, chớ chư Tiên, chư Phật đã lập cùng cả Năm Châu.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

ĐẦY DẪY

Đầy: Nhiều đến mức không thể chứa, trọn đủ.

Đầy dẫy, như chữ “Đầy rẫy”, là có rất nhiều đến mức gây cảm giác chỗ nào cũng thấy có.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Trên đường đời đầy dẫy những chông gai hiểm trở trong lúc thiên hạ đua nhau tôn thờ tiền tài danh vọng để mặc tâm hồn dật dờ trong vòng tối tăm tội lỗi. Trong lúc người ta chực chờ cấu xé nhau, giết hại nhau để tranh giành lợi lộc, chúng ta lại may mắn được che chở dưới bóng từ bi, được sống một đời an vui thanh đạm.

Thương chàng đầy dẫy mông mênh,

Khối thương khó lấy gáo tình đem đong.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ĐẦY ĐỦ

Đầy: Nhiều đến mức không thể chứa, trọn đủ. Đủ: Không thiếu, vừa.

Đầy đủ là trọn đủ, tức đủ tất cả so với yêu cầu, không thiếu vật gì hay cái gì.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Người tri túc thì dầu nằm trên đất cũng cho là sung sướng, người không biết tri túc dầu nằm trên đống vàng vẫn thấy chưa đầy đủ.

Kìa lố bóng hồng ân bao phủ,

Cả thế gian đầy đủ đạo mầu.

(Kinh Thế Đạo).

Ðầy đủ đức kia mới cận Trời,

Lòng thương đâu lại có lưng vơi.

(Đạo Sử).

Bởi phường bộc lại thân đầy đủ,

Bởi đám nô dân phận khát khao.

(Thơ Chánh Đức).

 

 

ĐẦY VƠI

Đầy: Có nhiều hết chỗ chứa. Vơi: Lưng, không đầy.

1.- Đầy vơi là khi đầy khi vơi, ý chỉ dòng nước mắt lúc khóc lúc nghẹn.

Như: Dòng lệ đầy vơi.

Trêu thảm ngậm sầu khi thức ngủ,

Mưa chiều nắng sớm lệ đầy vơi.

(Thơ Huệ Giác).

Sang hèn biến đổi mây năm sắc,

Vinh nhục đầy vơi nước một dòng.

(Thơ Thuần Đức).

2.- Đầy vơi, cũng như chữ “Doanh hư 盈 虛”, là khi đầy khi vơi, ý chỉ sự bất thường, lúc thịnh lúc suy.

Lòng trần nung nấu trăm mùi khổ,

Biển ái đầy vơi một chiếc thuyền.

(Diêu Trì Nương Nương).

Đầy vơi vui hưởng kiếp nhàn,

Ngảnh trần có khác chi tràng mộng xuân.

(Nhị Nương Giáng Bút).

 

 

ĐẨY

Đẩy là xô mạnh, tức làm cho chuyển động theo một hướng bằng tác dụng của một lực ép thẳng tới.

Như: Đẩy cửa, đẩy xe, bị đẩy vào thế bí.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Một luồng thanh phong thổi tới, áng mây bị đẩy đi xa, ánh trăng cũng trở lại tỏ rạng khắp bốn phương trời.

Buông cương đẩy núi xưa Hạng Võ,

Một kiếp chưa rồi hết lối tranh.

(Đạo Sử).

Đẩy xe linh cảm giữa phong trần,

Đáo tuế nay đà hưởng Thánh ân.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

ĐẨY ĐƯA

Đẩy: Xô mạnh tới. Đưa: Đẩy qua đẩy lại.

1.- Đẩy đưa, như chữ “Đưa đẩy”, là chuyển động qua lại một cách nhẹ nhàng.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Ðời là biển khổ, chúng ta nếu không gặp Ðạo thì cũng ở trong số người đương bị đẩy đưa giữa lượn sóng khổ.

Thuyền Ðạo đẩy đưa lằn sóng biển,

Bước đời dùn thẳng bước thang Trời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Đẩy đưa, như chữ “Đưa đẩy”, có nghĩa là đem tới, mang tới.

Như: Vụ việc nầy làm tới sẽ đẩy đưa đến quan làng.

Đẩy đưa còn dùng để chỉ nói cho xong chuyện, tức nói nhằm để câu chuyện diễn ra tự nhiên, chứ thật ra không có ý nghĩa về nội dung. Như: Nói đẩy đưa.

Bồng Lai Cực Lạc chỉ chừng,

Đẩy đưa xác tục dựa gần cõi linh.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

ĐẨY XÔ

Đẩy: Dùng sức xô mạnh tới. Xô: Đẩy mạnh cho ngã, đỗ hay bật ra.

Đẩy xô, như chữ “Xô đẩy”, tức là vừa đẩy vừa xô. Như: Đẩy xô nhau mà vào cửa.

Đẩy xô còn có nghĩa là dồn vào, đẩy vào một cảnh ngộ. Như: Anh ta bị đẩy xô vào đường truỵ lạc.

Bị đẩy xô hiếp đáp chẳng ai binh,

Chưn nương đất như hình không có đất.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐẬY

Đậy là làm cho kín bằng cách dùng cái nắp hay một vật gì úp, trùm, phủ lên trên. Như: Đậy nắp nồi, đậy mặt, tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Tựu trung cái tâm lý chung của người đời là sợ đau khổ và sợ cả sự nghĩ đến đau khổ, luôn luôn có thái độ lẩn tránh, che đậy hay muốn quên đi bằng cách ẩn mình trong những vui thú nhất thời.

Tưới hoa chạ bên đường vô chủ,

Đậy giậu thưa cúc xủ mai xào.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Khi tuyết trở đêm lo đắp đậy,

Thương đôi thân vì đấy mới ra mình.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐẬY ĐIỆM

Đậy: Làm cho kín bằng cách dùng một vật gì trùm, phủ lên trên cho kín.

Đậy điệm là che đậy cho kín. Như: Thức ăn phải đậy điệm, đậy điệm đồ đạc trong ngoài.

Đậy điệm nghĩa bóng là che giấu, giấu giếm, không để ai thấy, biết sự việc. Như: Đậy điệm những điều tội lỗi của kẻ ăn người ở.

Nhà vẻn van giữ sạch nơi nơi,

Trong bếp núc trách nồi đậy điệm.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐÂM

1.- Đâm là lấy vật nhọn mà chọc vào nhằm làm thủng, làm tổn thương.

Như: Giáo đâm, chém đâm, kim đâm.

Thuyết Đạo Hộ Pháp về Chúa Cứu Thế có đoạn: Còn trái tim yêu ái nhơn sanh vô hạn ấy bị một mũi kiếm vô tình đâm ngay cạnh hông của Ngài, lấy giọt máu cuối cùng đó đặng cứu nhơn loại, một tình ái vô biên ấy để lại cho loài người một tôn chỉ yêu ái.

Giáo gươm bén nhọn tư bề,

Chém đâm máu chảy tràn trề ngục môn.

(Kinh Sám Hối).

Sống thấy chết, miệng cười mắt khóc,

Nịnh lừa trung, lưỡi thọc tay đâm.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Cây, cỏ, thú, người đều trở ngược,

Gươm đâm, tên bắn chết trùng trùng.

(Thiên Thai Kiến Diện).

2.- Đâm là nảy ra từ cơ thể thân thực vật. Như: Đâm chồi, đâm rễ, đâm tược.

Đại Thừa Chơn Giáo có đoạn: Đạo mầu một ngày một mở mang rộng lớn, người tu cũng thế. Luyện đơn nấu thuốc không phải một ngày một buổi chi mà thành, phải tận tâm trì chí cứ lo tu gom thần nhập định, bảo tinh, dưỡng khí, tồn thần, lâu ngày tụ kết lại thành nhị xác thân nhưng phải luyện cho đủ đầy ngày tháng, chớ đừng nóng nảy. Thí như cái cây, gieo hột xuống, nứt mộng lên hai lá, lần lần đâm tược nhảy chồi, đơm hoa trổ trái, là do nơi quyền luật thiêng liêng.

Cây trong rừng hoặc trong vườn bị che khuất còn biết nghiêng mình, nảy chồi đâm tược.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

ĐÂM CHỒI

Đâm: Mọc lên. Chồi: Mầm mới lú ra.

Đâm chồi, đồng nghĩa với chữ “Nảy tược”, là chồi, tược của thân cây vừa lú ra. Thành ngữ “Đâm chồi nảy (trổ) tược” dùng để chỉ sự phát triển.

Trong tôn giáo, người ta thường ví Đạo như cội cây, việc đâm chồi nảy tược là việc phát triển của nền Đạo.

Thánh giáo Lý Giáo Tông có câu: Ðấng Chí Tôn đã gieo giống quý hoá rồi, thì cần phải vun trồng cho cội sởn sơ. Cội sởn sơ mới có đâm chồi trổ tược, nhành lá sum sê, hoa đơm sắc sảo, rồi mới đến trái oằn sai mà thành kết quả xứng đáng.

Nguồn Đạo thể như là cây cỏ,

Hễ gặp sương phới phở đâm chồi,

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

 

 

ĐÂM RA

Đâm: Sinh ra, trở nên trạng thái khác bất thình lình. Ra: Bày, phát sinh.

Đâm ra là trở nên, chuyển sang một trạng thái khác, thường là không hay.

Như: Làm mãi không xong đâm ra nản, tình thế hiện tại đâm ra khó xử.

Ngũ uẩn thạnh khổ, tức là năm yếu tố làm cho người không thấy chân thực, đâm ra triền miên trong ngũ trược và tạo nên khổ.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

ĐẦM ẤM

Ấm: Hơi nong nóng, dễ chịu.

Đầm ấm có tác dụng gây cảm giác ấm cúng do quan hệ gần gũi thương yêu nhau. Như: Gia đình đầm ấm.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng có câu: Bần đạo khuyên khá hết dạ kỉnh thành mà vọng ngưỡng nơi Ðấng Chí Tôn, thì con đường được thung dung đầm ấm, chí ư đem hoạ cỏn con biến đổi trong gia đình mà so sánh trành tròn với đức háo sanh của Tạo hoá, thì đường đạo đức minh quang thế nào trông trờ bước tới nữa, mà vẹt ngút mây xanh, trông vào cảnh tự tại.

Bóng dương tỏ rạng lố chơn mây,

Đầm ấm hơi xuân nở mặt mày.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nay đầm ấm con đường hạnh phúc,

Cõi phong trần gội chút hồng ân.

(Tam Nương Giáng Bút).

Lẫy lừng cánh hộc xông trường võ,

Đầm ấm duyên loan để chí thành.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

ĐẦM ĐÌA

Đầm: Ướt nhiều.

Đầm đìa là ướt nhiều đến sũng nước, như nước mắt chảy đầm đìa.

Tuyên dương công nghiệp của Bà Hương Hiếu trong cuộc lễ Tấn phong Nữ Đầu Sư, Đức Thượng Sanh có câu: Bà chỉ còn một mảnh thân bơ vơ cô độc trong tình cảnh não nùng bi đát, để rồi khi nắng sớm mưa chiều, lúc canh tàn đêm lụn, Bà không thể ngăn được giọt thảm đầm đìa để khóc chồng, khóc con và khóc mẹ.

Giọt ngọc đầm đìa khi rẽ bước,

Lời vàng căn dặn buổi chia gương.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

ĐẪM

Đẫm là ướt sũng, ướt nhẹp.

Như: Làm việc trong mùa nóng bức, áo đẫm mồ hôi, bàn tay nó đẫm đầy máu.

Căm hờn độc lập nồi da xáo,

Tức tối hoàn đồ đẫm máu xương.

(Thơ Thượng Trí Thanh).

 

 

ĐẬM

1.- Đậm là có mùi vị, nồng độ, hoặc màu sắc ở mức trên trung bình, thường gây cảm giác dễ chịu.

Như: Canh nấu đậm, nước trà pha đậm, ngọt đậm, bức tranh chỗ đậm chỗ nhạt, đậm sắc.

Ngựa vàng ruổi gió thoi đưa sáng,

Thỏ ngọc trau gương đậm vẻ làu.

(Lục Nương Giáng Bút).

Tri Thiên rắp đến vô công nghiệp,

Hữu hậu gần xem đậm vẻ màu.

(Bát Nương Giáng Bút).

Khách má phấn môi son đậm sắc,

Đặng đem mồi trêu mặt ác phong.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Đậm còn dùng để chỉ có tình cảm nồng nàn, sâu sắc. Như: Đậm đà, đậm tình quê hương.

Ca dao có câu: Áo đen ai nhuộm cho mình, Cho duyên mình đậm, cho tình anh thương.

Rậm rạp vườn xuân lan quế trổ,

Sui gia ngày tháng đậm tình thân.

(Thơ Vạn Năng).

 

 

ĐẬM NÉT

Đậm: có mùi vị, nồng độ, hoặc màu sắc ở mức trên trung bình. Nét: Đường vạch bằng bút.

Đậm nét là được thể hiện bằng những nét rõ ràng, nỗi bật về màu sắc, hoặc về tình cảm.

Như: Hình tượng Đức Phật rất đậm nét.

Vui có kẻ đùa vui đậm nét,

Mừng có người miệng hét reo mừng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐẬM ĐÀ

Đậm đà chỉ tình cảm thân mật. Như: Mối tình đậm đà, hay câu chuyện đậm đà.

Đậm đà còn dùng để chỉ hương vị ngon, dịu. Như: Món ăn đậm đà.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có nói: Sự đoàn kết đó là mối dây thiêng liêng tạo nên tình thương yêu đậm đà, một căn bản siêu nhiên trên bước đường giải khổ cho nhân loại.

Xa xôi còn giữ tình thâm thuý,

Lần lữa chưa quên nghĩa đậm đà.

(Thơ Thuần Đức).

Bát cơm Phiếu mẫu tình thâm thuý,

Chén nước Mậu Sanh, nghĩa đậm đà.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

ĐẦN ĐỘN

Đần: Kém về trí hiểu biết và thích ứng. Độn: Kém nhận thức, kém hiểu biết.

Đần độn là rất đần, tức kém về khả năng nhận thức và thích ứng với hoàn cảnh.

Như: Thằng nhỏ có vẻ mặt đần độn.

Nếu rủi họ đầu kiếp ở chung cùng mấy em với số phận cùng khổ, mấy em thấy họ hèn mạt đần độn rồi mấy em khi rẻ họ, tức nhiên mấy em sẽ đắc tội với họ.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

ĐẤNG

Đấng là tiếng tôn xưng dùng để gọi bậc Thần, Thánh, Tiên, Phật, hoặc từng cá nhân người được suy tôn về phẩm chất đạo đức, công lao hay sự nghiệp.

Như: Đấng Tạo Hoá, Đấng Chí Tôn, Đấng cứu tinh, Đấng anh hùng.

Thánh giáo Thầy dạy Thượng Trung Nhựt có câu: Con nên biểu Cư nó lấy lời Thầy dạy làm trọng, những sự tranh tụng là những nét của phàm tâm, chẳng đủ chi lay động chí của các Đấng chân thành vì Ðạo.

Cuộc danh lợi là phần thưởng quý,

Đấng hoá Công xét kỹ ban ơn.

(Kinh Sám Hối).

Phải giữ chơn linh đặng trọn lành,

Ngọc Hư toàn ngự Đấng tinh anh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

ĐẤNG CAO ĐÀI

Đấng: Tiếng tôn xưng. Cao Đài: Một cái đài cao ở Linh Tiêu Điện, trong Ngọc Hư Cung ở cõi thiêng liêng, là nơi ngự của Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Đấng Cao Đài là Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế giáng cơ mở Đạo Cao Đài xưng danh là: Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát giáo Đạo Nam phương.

Do vậy, Đấng Cao Đài là chỉ Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Mặt nhựt hồi mô thấy xẻ hai,

Có thương mới biết Đấng Cao Đài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Rạng danh một Đấng Cao Đài,

Chư hiền sẽ gặp nhiều ngày phước duyên.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

ĐẤNG CẦM CÂN

Đấng: Tiếng tôn xưng. Cầm cân: Nắm cây cần, ý chỉ giữ sự công bằng.

Đấng cầm cân là Đấng cầm cân nẩy mực, tức chỉ Đấng Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Để thể hiện sự công bình tuyệt đối của Thiêng liêng, nơi Toà Thánh Tây Ninh, trên cửa bước vào có đấp một bàn tay sơn màu trắng nắm cán cân, tượng trưng bàn tay Chí Tôn cầm cân công bình đo tội phước của chúng sanh.

Do vậy, Đấng cầm cân cũng là tiếng dùng để chỉ Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Xem: Chí công.

Oai linh mầu nhiệm Đấng cầm cân,

Chấp chưởng Phật Tiên lẫn Thánh Thần.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

ĐẤNG CẦM QUYỀN GIEO ĐẠO CẢ

Đấng cầm quyền: Ở đây chỉ cầm quyền Càn khôn Vũ trụ, đó là Đấng Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế. Gieo Đạo cả: Gieo truyền một mối Đạo lớn.

Vào thời Tam Kỳ Phổ Độ, thời kỳ của đời mạt pháp, Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, Đấng cầm quyền Càn khôn Vũ trụ, giáng cơ khai sáng một nền Đạo lớn (Đại Đạo) tại miền Nam nước Việt, đó là Đạo Cao Đài.

Vốn Đấng cầm quyền gieo Đạo cả,

Dầu cho nhựt nguyệt cũng kiêng oai.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

ĐẤNG CHƠN LINH

Hay “Đấng Chân linh”.

Đấng: Từ chỉ sự tôn kính. Chơn (Chân) linh: Chỉ Linh hồn.

1.- Đấng Chơn linh chỉ các bậc có Chơn linh cao trọng như Thần, Thánh, Tiên, Phật. Còn Đại Chơn linh cũng như Đại Linh quang chỉ Đấng Thượng Đế.

Thầy tưởng chẳng cần nói, các con cũng hiểu rõ rằng, Đấng Chơn linh ấy vốn vô tư, mà lại đặng phép giao thông cùng cả chư Thần, Thánh, Tiên, Phật và các Ðấng Trọn lành nơi Ngọc Hư Cung, nhứt nhứt điều lành và việc dữ đều ghi chép không sai, đặng dâng vào Toà Phán Xét.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

2.- Đấng chơn linh là chỉ linh hồn của con người.

Linh hồn của con người là phần thiêng liêng do Trời ban cho. Câu kinh “Cầu khẩn Đấng chơn linh nhập thể”, ý muốn nói cầu cho linh hồn được thiêng liêng, sáng suốt.

Cầu khẩn Đấng Chơn linh nhập thể,

Đủ thông minh học lễ học văn.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

ĐẤNG CHÍ THIÊNG

Đấng: Tiếng tôn xưng. Chí thiêng: Rất thiêng liêng.

Đấng Chí Thiêng, như chữ “Đấng Chí Linh”, là Đấng rất linh thiêng, dùng để chỉ Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Đồng nghĩa với Đấng Chí Công.

Xem: Chí Linh.

Xanh xanh nào có phụ người hiền,

Đã thấy trọn quyền Đấng Chí Thiêng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

ĐẤNG TẠO ĐOAN

Đấng: Tiếng tôn xưng. Tạo đoan 造 端: Mở đầu mối.

Sách có câu: Thiên địa chi đạo, tạo đoan hồ phu phụ 天 地 之 道 造 端 乎 夫 婦, nghĩa là đạo trời đất gây ra cái mối đầu từ đạo vợ chồng.

Như vậy, Đấng Tạo Đoan là Đấng tạo ra các đầu mối, tức chỉ Đấng Tạo Hoá.

Trước từng trải Sài Gòn, Biên Hoà, Gia Định, mới lần qua Cửa Tiểu, đã mấy bữa nắng mưa cam chịu. Đấng Tạo Đoan soi tỏ rõ tấm kiên trinh.

Rồi lại từ Mỹ Tho, Sa Đéc, Long Hồ, mà thẳng tới Bạc Liêu, biết bao phen sương tuyết dãi dầu, ơn Thượng Phẩm đáng ghi vào nơi phế phủ.

(Văn Tế Thượng Phẩm).

 

 

ĐẤNG TRỌN LÀNH

Đấng: Tiếng tôn xưng. Trọn lành: Bởi chữ “Toàn thiện 全 善”, là hoàn toàn trong sạch, tốt lành.

Đấng trọn lành nhằm chỉ các Đấng Thiêng Liêng vào hàng phẩm Tiên, Phật.

Trong Pháp Chánh Truyền chú giải có ghi: “Trong Bát Quái Đài, kể từ Tiên vị trở lên cho tới Thầy thì đã vào địa vị các Đấng trọn lành (Classe des Parfaits ou des Purs), từ Thánh vị trở xuống nhơn vị thì vào hàng Thánh (Classe des Épures), từ thú cầm xuống vật chất thì hàng phàm tục (Classe des Impures).

Nhờ ơn các Đấng trọn lành,

Giáng cơ chỉ bảo mối manh Đạo Trời.

(Xưng Tụng Thanh Sơn).

Quyền Giáo Tông anh cả nhơn sanh,

Kỷ niệm ngùi thương Đấng trọn lành.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

ĐẬP

Đập là đánh, vỗ, ném cho vỡ. Như: Đánh đập, nhịp đập trái tim, đập vỡ chén bát, đập lúa.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Hôm nay đoàn tụ trong bầu êm ấm vui tươi dưới mái gia đình của nền Ðại Ðạo, sự đoàn kết chặt chẽ nầy tiêu biểu một sức mạnh phi thường có thể dời non lấp bể, nếu những quả tim của tất cả các bạn Ðạo đều cùng đập một nhịp yêu đương và cương quyết làm tròn nhiệm vụ.

Phải chăm nom cấy, gặt, đập, dê,

Nuôi công đủ mọi bề đừng thiếu thốn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ĐẬP NÁT CUNG CẦM

Đập nát: Đánh vỗ, ném cho tan nát. Cung cầm: Cung bậc của cây đàn.

Cung bậc đàn cầm hoà điệu với nhau được ví với tình yêu nồng thắm và hoà thuận của đôi trai gái hay vợ chồng.

Đập nát cung đàn tức là đập bể cung cây đàn để nói lên ý phá vỡ tình yêu đằm thắm.

Nên toan đập nát cung cầm,

Vô duyên đành phận, sống làm chi đây.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ĐẤT

1.- Đất là trái đất, trên đó có các loài sinh vật sống, cây cối mọc, trái với trời, nước, biển. Như: Trái đất, trên mặt đất, chôn dưới đất.

Thánh giáo Chí Tôn dạy Ngài Thái Bính Thanh có đoạn: Thầy giao cho con lo một Trái Càn Khôn, con hiểu nghĩa gì không? Cười Một trái như trái đất tròn quay, hiểu không?

Chừng nào đất dậy Trời thay xác,

Chư Phật, Thánh, Tiên xuống ở trần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ách đất rắp nhồi trường náo nhiệt,

Cửa Trời kịp mở vớt quần sinh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Đất là khoảng mặt đất trên đó có thể cày cấy, trồng trọt được.

Như: Đất ruộng, đất gieo trồng, đất bồi, cuốc đất trồng cây.

Gió dậy xao trời mây cuốn ngọc,

Sương lồng ướt đất liễu đeo châu.

(Lục Nương Giáng Bút).

Nước vốn đầy sông tuỳ kẻ xách,

Lộc kia đầy đất tại người dời.

(Đạo Sử).

3.- Đất là chỉ xứ sở. Như: Đất nước, quê cha đất tổ, cõi đất Nam phần.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ là một nền Quốc Ðạo được khai sáng trên đất Nam Phần Việt Nam, nơi mà tinh ba của đất nước đã nung đúc biết bao bậc anh phong chí sĩ, lẽ tất nhiên là Ðại Ðạo có phận sự bảo tồn quốc tuý, giữ cho còn mãi những cái hay, cái đẹp riêng biệt của nước nhà hầu lưu truyền cho đời sau roi dấu.

Vùng Nam Hải uy linh nhứt quốc,

Cỏ rẽ hai chia đất rắp ranh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ĐẤT BẰNG SÓNG DẬY

Đất bằng: Đất yên tĩnh, chỉ sự yên ổn. Sóng dậy: Sóng gió nổi lên, ý nói việc tai nguy xảy đến.

Đất bằng sóng dậy, bởi câu “Bình địa ba đào 平 地 波 濤”, có nghĩa là đang yên lặng bỗng nổi lên phong ba, ý chỉ những tai biến xảy ra một cách đột ngột, bất ngờ không thể nào lường được.

Mới biết sức trời không mấy chốc,

Đất bằng sóng dậy cảnh tang thương.

(Thơ Huỳnh Văn Hưởng).

 

 

ĐẤT BIẾN HÌNH TỰ THỬ QUY CĂN

Đất biến hình: Đất biến nên hình thể con người. Tự thử 自 此: Từ đây, từ đó. Quy căn 歸 根: Trở về gốc.

Đất biến hình tự thử quy căn là đất biến nên hình thể con người, từ đó chết đi sẽ trở về đất (Quy căn).

Thân xác con người là xương thịt do tinh cha huyết mẹ tạo ra nơi cõi thế, nhờ thực vật và động vật là những nguồn được sinh ra từ đất nuôi dưỡng, do vậy, người ta xem như là một khối vật chất do đất biến thành hình hài con người.

Nếu như linh hồn lìa khỏi xác thân thì nó chỉ là một khối vật chất bị chết rồi sẽ tan rã. Hay nói cách khác, Đất tạo nên hình thể con người đến khi chết thì hình thể đó sẽ trở lại với Đất, còn linh hồn thì trở về với cõi giới vô vi.

Khối vật chất vô hồn viết tử,

Đất biến hình tự thử quy căn.

(Kinh Tận Độ).

 

 

ĐẤT CHIẾU TRỜI MÀN

Đất chiếu: Lấy đất làm chiếu nằm. Trời màn: Lấy Trời làm màn che.

Đất chiếu trời màn, như câu thành ngữ “Màn trời chiếu đất”, tức là lấy đất làm chiếu, lấy trời làm màn, dùng để chỉ những người gặp cảnh tai biến, nghèo khổ, sống không nhà không cửa, chỉ lấy trời đất làm màn và chiếu.

Xem: Màn trời chiếu đất.

Nầy thân thiếp chịu gian nan,

Linh đinh đất chiếu, trời màn không nơi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ĐẤT CHỞ TRỜI CHE

Đất chở: Đất đai dùng để chở vạn loại. Trời che: Bầu trời: dùng để che muôn vật.

Đất chở Trời che, bởi chữ “Thiên phú địa tải 天 賦 地 載” tức là trời che đất chở.

Con người sống nơi thế gian đều được trời đất che chở. Trời đất rất công bình, Trời không che riêng ai mà đất cũng không chở riêng ai.

Tươi vui vì bởi tấm thân an,

Đất chở trời che, thoát khỏi nàn.

(Thơ Thuần Đức).

Đất chở trời che đời thiết thực,

Non Bồng nước Nhược cảnh phiêu linh.

(Thơ Vạn Năng).

 

 

ĐẤT ĐIỀN

Đất: Khoảng mặt đất trên đó có thể trồng trọt được. Điền: Ruộng, đất trồng trọt ở ngoài đồng.

Đất điền, như chữ “Điền địa 田 地”, là ruộng đất, tức những thứ bất động sản có tính sinh lợi của con người.

Làm quan tính kế đảo điên,

Gạt thâu gia sản, đất điền của dân.

(Kinh Sám Hối).

 

 

ĐẤT KHÁCH

Đất: Vùng có người ở, trong quan hệ với cộng đồng người sinh sống ở đó. Khách: Người từ xứ khác đến.

Đất khách là chỉ nơi xứ lạ, tức nơi xa quê hương, không có người thân thích.

Nói về Đức Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Ngài đã hy sinh một đời sống lưu vong nơi đất khách, cốt theo đuổi một mục đích, là làm thế nào phục hồi vận mạng Tổ Quốc, độc lập thiệt hiện.

Ðất khách tuy rằng nương náu phận,

Ðồng môn khá nghĩ nghĩa đồng chi.

(Đạo Sử).

Thương thân đất khách dãi dầu,

Thương về cố quốc rầu rầu nước mây.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

ĐẤT LÀNH CHIM ĐẬU

Đất lành: Đất tốt, ý chỉ nơi ở yên lành. Chim đậu: Chim ở, ý chỉ dễ nương thân.

Đất lành chim đậu, đồng nghĩa với câu “Cây lành chim đậu”, là nói nơi nào yên ổn thì chim bay đến đậu, ý chỉ người khôn ngoan tìm chỗ dễ sống mà ở, hay chọn chúa Thánh mà thờ.

Xem: Chim khôn đậu cây lành.

Vườn rộng hoa chào vui hớn hở,

Đất lành chim đậu sống bình yên.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

ĐẤT TỔ

Đất: Chỉ vùng có người ở, trong quan hệ với cộng đồng người sinh sống ở đó. Tổ: Nội, ông bà.

Đất tổ là đất của tổ tiên, ông bà để lại.

Thành ngữ Việt Nam có câu “Quê cha đất tổ”, hay “Đất tổ quê cha”, dùng để chỉ quê từ rất lâu đời, về mặt có sự gắn bó tình cảm sâu sắc.

Xem: Đất tổ quê cha.

Đất tổ xưa còn đương chật hẹp,

Xứ người nay mới đặng thung dung.

(Prasey Hoàng Hậu).

 

 

ĐẤT TỔ QUÊ CHA

Đất tổ: Đất của tổ tiên, ông bà để lại. Quê cha: Quê hương của cha truyền lại.

Đất tổ quê cha là đất của tổ tiên, cha mẹ để lại, ý nói quê từ rất lâu đời, về mặt có sự gắn bó tình cảm sâu sắc.

Như: Sống lưu lạc một thời gian dài, nay được trở về với đất tổ quê cha.

Quý vị có phần may mắn là được chánh quyền Việt Nam Cộng Hoà chiếu cố đưa về đất tổ quê cha, dù phải chịu bao vất vả điêu linh.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

ĐẤT THÁNH

Đất: Chỉ vùng có người ở, trong quan hệ với cộng đồng người sinh sống ở đó. Thánh: Tiếng tôn xưng, hoặc chỉ một tôn giáo.

Đất Thánh, bởi chữ “Thánh địa 聖 地”, là chỉ vùng đất toạ lạc của một tôn giáo.

Đạo Cao Đài lấy Tây Ninh làm nơi Thánh địa, để lập Đền Thánh thờ Đức Chí Tôn, Báo Ân Từ thờ Đức Phật Mẫu và xây dựng các cơ quan hành chánh trung ương để điều hành nền Đạo, nên Tây Ninh gọi là Đất Thánh.

Xem: Thánh địa.

Vùng đất Thánh lục long phò ấn,

Sự nhiệm mầu các Đấng chỉ rành.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

ĐÂU

Đâu là chỗ nào, nơi nào. Như: Ở nơi đâu, biết đâu mà tìm, đi đâu một lát thì về.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Cảnh nhàn chẳng phải đâu xa, chỉ ở nơi địa đàng đây, mà vì nhơn loại không để ý tìm ra, cứ theo một lối thấp hèn mà quên đàng cao thượng.

Trăm đắng ngàn cay đành một kiếp,

Công hầu vương bá dám đâu hơn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Người đâu biết đặng tấc lòng mình,

Hoạ hỏi đến Trời mới biết linh.

(Thánh