TỪ NGỮ ĐIỂN CỐ CAO ĐÀI

 

 

Danh mục vần G

 

Gà hạc

Gà lồng

Gà mái

Gà trống nuôi con

 

GẢ

Gả

 

 

GÁC

Gác

Gác bỏ

Gác Đằng

Gác nguyệt

Gác quyển

Gác tía

Gác tía lầu hồng

Gác tía lầu son

 

GẠC

Gạc

 

GAI

Gai

Gai chông

Gai góc

 

GÁI

Gái

Gái bán thuyền

Gái lịch trai thanh

 

GÀI

Gài

 

GAY

Gay

Gay cấn

Gay chèo

Gay go

Gay trở

 

GÃY

Gãy cành thiên hương

Gãy trâm Lương Ngọc

 

GAN

Gan

Gan óc

Gan sắt dạ đồng

Gan sắt đá

Gan tấc

 

GÀN

Gàn

 

GẠN

Gạn đục lóng trong

Gạn đục lưu thanh

 

GANG

Gang tấc

 

GANH

Ganh

Ganh ghét

Ganh gổ

Ganh tỵ

 

GÁNH

Gánh

Gánh vác

 

GÀNH

Gành

Gành khơi

 

GÁO

Gáo

 

GÀO

Gào

 

GẠO

Gạo

Gạo châu củi quế

 

GẠT

Gạt

Gạt gẫm

Gạt lừa

 

GẮM

Gắm ghé

 

GẮN

Gắn

Gắn bó

Gắn ghi

 

GẮNG

Gắng

Gắng công

Gắng công mài sắt

Gắng chí

Gắng gượng

Gắng học

Gắng lo

Gắng sức

 

GẶP

Gặp

Gặp dịp

Gặp gỡ

 

GẮT

Gắt

Gắt gao

 

GẶT

Gặt

 

GÂY

Gây

Gây cấn

Gây hấn

Gây mầm

Gây oán chác hờn

Gây oán chuốc hờn

Gây rối

Gây sự

Gây thành

Gây thù kết oán

 

GẦY

Gầy

Gầy dựng

Gầy nên

Gầy tạo

 

GẬY

Gậy

Gậy sắt

Gậy vông

 

GẤM

Gấm

Gấm lót đường

Gấm lót ngõ

Gấm nhiễu

Gấm thêu

Gấm thêu hoa

Gấm vóc

 

GẪM

Gẫm

 

GẦN

Gần

Gần điều nên lánh lẽ hư

Gần gũi

Gần kề

Gần xa

 

GẤP

Gấp rút

 

GẬP

Gập ghềnh

Gập ghình

 

GẬT

Gật

 

Gò Kén

 

 

GOÁ

Goá

Goá bụa

Goá phụ

 

GÓC

Góc

Góc biển

 

GÓI

Gói

 

GỌI

Gọi

 

GỌN

Gọn gàng

 

GÓP

Góp

Góp ý

Góp nhặt

Góp nhóp

Góp phần

 

GÓT

Gót

Gót hài

Gót lân

Gót liễu

Gót ngọc

Gót sen

Gót son

 

GỌT

Gọt

 

GỔ

Gổ ganh

 

GỖ

Gỗ

 

GỐC

Gốc

Gốc cội

Gốc tử

 

GỐI

Gối

Gối còn nửa nguyệt

Gối chăn

Gối chiếc chăn đơn

Gối điệp

Gối loan

Gối oan ương

Gối phụng

 

GỘI

Gội

Gội đức

Gội nhuần

Gội ơn

 

GỒM

Gồm

 

GÔNG

Gông

Gông cùm

Gông kềm

Gông tróng

 

GỒNG

Gồng gánh

 

GỘP

Gộp

 

GỠ

Gỡ

Gỡ rối

 

GỞI

Gởi

Gởi gắm

 

GỢI

Gợi

Gợi cảm

 

GỚM

Gớm

Gớm ghê

Gớm ghiếc

 

GỢN

Gợn

 

GỤT

Gụt

 

GỬI

Gửi

 

GƯƠM

Gươm

Gươm giáo

Gươm huệ

Gươm hùng

Gươm thần huệ

Gươm thư

Gươm trí huệ

 

GƯƠNG

Gương

Gương bể đặng lành

Gương bể khó lành

Gương cột đũa

Gương đạo

Gương hạnh

Gương huệ

Gương liệt nữ

Gương loan

Gương mẫu

Gương nêu

Gương nga

Gương nguyệt

Gương tuyết giá

Gương thỏ

Gương thu

Gương vỡ lại lành

Gương xưa lỗi ráp

 

GƯỢNG

Gượng

 

GHE

Ghe

Ghe phen

 

GHẺ

Ghẻ

 

GHEN

Ghen

Ghen ghét

Ghen tương

 

GHẸO

Ghẹo

Ghẹo chọc

 

GHÉT

Ghét

Ghét ghen

 

GHÊ

Ghê

Ghê gớm

Ghê sợ

Ghê tởm

 

GHẾ

Ghế

 

GHI

Ghi

Ghi chép

Ghi lòng

Ghi nhớ

Ghi tạc

Ghi tâm khắc cốt

 

GHÌ

Ghì

 

GHIỀN

Ghiền

 

GIA

Gia

Gia cang

Gia Cát

Gia công

Gia cư

Gia đàng

Gia đạo

Gia đình

Gia kê

Gia nô

Gia nghiêm

Gia nghiệp

Gia pháp

Gia phong

Gia quan

Gia quyến

Gia sản

Gia sự

Gia tài

Gia tăng

Gia tiên

Gia Tô Giáo Chủ

Gia tộc

Gia tư

Gia thất

Gia thế

Gia vô bế hộ

 

GIÁ

Giá

Giá bút

Giá lạnh tầm ngư

Giá lâm

Giá mỏng

Giá ngọc

Giá ngự

Giá tuyết

Giá trị

Giá triệu

Giá trong

 

GIÀ

Già

Già cả

Già đời

Già yếu

Già Lam

Già nua

 

GIẢ

Giả

Giả bộ

Giả cuộc

Giả chơn

Giả dối

Giả đò

Giả lơ

Giả luật

Giả mạo

Giả như

Giả tạm

Giả tâm

Giả tuồng

Giả tướng

Giả thiệt

Giả vay nên nợ

 

GIÃ

Giã

Giã từ

 

GIẠ

Giạ

 

GIÁC

Giác Hải

Giác mê

Giác mê tỉnh ngộ

Giác ngạn

Giác ngộ

Giác tánh

Giác thân

Giác thế

 

GIAI

Giai

Giai cấp

Giai chương

Giai đoạn

Giai kỳ

Giai lão

Giai ngẫu

Giai nhân

 

GIẢI

Giải

Giải căn

Giải căn sinh

Giải cấu

Giải đãi

Giải hoà

Giải kết

Giải khát

Giải khổ

Giải khuây

Giải mê

Giải mộng Nam kha

Giải nàn

Giải nạn

Giải nghệ

Giải nghiệt

Giải oan

Giải phiền

Giải phiền diệt khổ

Giải quả

Giải quả trừ căn

Giải quả trừ khiên

Giải quyết

Giải sầu

Giải tán

Giải thân định trí

Giải thi

Giải thích

Giải thoát

Giải thoát mê đồ

Giải vây

 

GIÃI

Giãi

Giãi bày

 

GIÀY

Giày

Giày cỏ

Giày đạo

Giày sen

Giày vô ưu

 

GIAM

Giam

Giam hãm

 

GIÁM

Giám Đạo

Giám khảo

 

GIẢM

Giảm

Giảm bớt

Giảm tiêu

Giảm thâu

 

GIAN

Gian

Gian dâm

Gian giảo

Gian hùng

Gian lao

Gian manh

Gian mưu

Gian nan

Gian nịnh

Gian nguy

Gian ngược

Gian phi

Gian phu

Gian tà

Gian tặc

Gian tham

Gian thần

Gian trá

Gian truân

Gian xảo

 

GIÁN

Gián nghị

Gián nghinh Phật cốt

 

GIÀN

Giàn

 

GIANG

Giang Cách

Giang hồ

Giang san

Giang san gấm vóc

 

GIÁNG

Giáng ban

Giáng bút

Giáng cấp

Giáng cơ

Giáng đàn

Giáng hạ

Giáng lâm

Giáng linh

Giáng Ma Xử

Giáng sanh

Giáng sinh

Giáng thế

Giáng trần

Giáng truyền

 

GIẢNG

Giảng đài

Giảng đường

Giảng viên

 

GIÀNH

Giành

Giành giựt

Giành én giựt anh

Giành xé

 

GIAO

Giao

Giao bái

Giao bôi

Giao Châu

Giao du

Giao hảo

Giao hoà

Giao hoan

Giao hôn

Giao kèo

Giao kết

Giao long

Giao lưu

Giao nạp

Giao phó

Giao tất

Giao tiếp

Giao tình

Giao thân

Giao thiệp

Giao thông

Giao thừa

Giao ước

 

GIÁO

Giáo

Giáo chủ

Giáo dân

Giáo dân quy thiện

Giáo dĩ lợi sanh

Giáo diệc bất thiện

Giáo dục

Giáo đa thành oán

Giáo đạo Nam phương

Giáo Đạo tha phương

Giáo đường

Giáo gươm

Giáo hoá

Giáo huấn

Giáo Hữu

Giáo lý

Giáo Nhi

Giáo nhi hậu thiện

Giáo pháp

Giáo Sư

Giáo Tông

Giáo Tông Đại Đạo

Giáo Tông Đường

Giáo Tông Em

Giáo Thiện

Giáo xiển hư linh

 

GIÁP

Giáp

Giáp bào

Giáp công

Giáp mã hưu chinh

Giáp mâu

 

GIẠT

Giạt

 

GIÀU

Giàu

Giàu có

Giàu sang

 

GIẶC

Giặc

Giặc giã

 

GIẶM

Giặm

 

GIĂNG

Giăng

Giăng giăng

Giăng lưới đóng nò

 

GIẰNG

Giằng co

 

GIẮT

Giắt

 

GIẶT

Giặt

 

GIẤC

Giấc

Giấc bướm

Giấc điệp

Giấc huỳnh lương

Giấc Hoè

Giấc hồ điệp

Giấc mộng

Giấc mộng Trang Chu

Giấc Nam kha

Giấc ngủ

Giấc ngàn thu

Giấc phong nguyệt

Giấc thiên thu

Giấc Trang

 

GIÂY

Giây giờ

 

GIẤY

Giấy

 

GIẦM

Giầm

 

GIẬN

Giận

Giận hờn

Giận lẫy

 

GIẤU

Giấu

 

GIẬU

Giậu

 

GIÈM

Gièm

Gièm pha

Gièm siểm

 

GIEO

Gieo

Gieo cầu

Gieo hoạ

Gieo rắc

Gieo thảm chất sầu

Gieo truyền

 

GIẸO

Giẹo

 

GIÊ

Giê Su

 

GIỀNG

Giềng

Giềng ba

Giềng mối

 

GIẾT

Giết

Giết chó khuyên chồng

Giết hại

 

GIỄU

Giễu cợt

 

GÌN

Gìn

Gìn giữ

Gìn lòng

Gìn tâm như then gài

 

GIÓ

Gió

Gió bụi

Gió dập mưa dồi

Gió Đằng

Gió đông

Gió hạc

Gió lốc

Gió mây

Gió nhân

Gió tạt sương lồng

Gió túi trăng sân

Gió trăng

Gió vàng

 

GIÒ

Giò

 

GIỎ

Giỏ Hoa Lam

 

GIÒI

Giòi

 

GIỎI

Giỏi

 

GIỌI

Giọi

 

GIONG

Giong ruổi

 

GIÓNG

Gióng

 

GIỌNG

Giọng

Giọng đờn tiếng quyển

Giọng kèn tiếng quyển

Giọng kình

Giọng thài

 

GIỌT

Giọt

Giọt cành dương

Giọt châu

Giọt lệ

Giọt luỵ

Giọt Ma Ha

Giọt máu

Giọt máu mủ

Giọt mưa

Giọt nhành dương

Giọt ngọc

Giọt từ bi

Giọt thảm

 

GIỖ

Giỗ

 

GIỒI

Giồi

Giồi mài

Giồi tâm trau đức

Giồi trau

 

GIÔNG

Giông

Giông gió

Giông tố

 

GIỐNG

Giống

Giống dòng

Giống hệt

Giống Hồng

Giống Lạc Hồng

Giống Hồng dòng Lạc

Giống nòi

 

GIƠ

Giơ

 

GIỜ

Giờ

Giờ khắc

 

GIỚI

Giới

Giới cấm

Giới điều

Giới hạn

Giới luật

Giới nghiêm

Giới sát

Giới Tử Thôi

Giới tửu

 

GIỠN

Giỡn

 

GIŨ

Giũ

 

GIŨA

Giũa

 

GIỤC

Giục

Giục giã

Giục loàn

Giục lòng

Giục thúc

 

GIÙM

Giùm

 

GIÚP

Giúp

Giúp đỡ

Giúp ích

Giúp nghèo trợ khó

Giúp sức

 

GIỮ

Giữ

Giữ bền

Giữ chặt

Giữ dạ

Giữ gìn

Giữ lòng

Giữ tròn

Giữ trọn

Giữ vẹn

 

GIỮA

Giữa

 

GIƯỜNG

Giường

Giường đông

 

GIỰT

Giựt

Giựt giành

Giựt mình

 

 

 

 

 

 

 

 

G

 

là loại gia súc thuộc loài chim, một con vật trong lục súc. Như: Gà trống, gà mái, mèo mả gà đồng.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu dạy: Hại nữa là các con lại bị nó tàng ẩn, xô cho dang nhau, bứt nghiến tình đoàn thể, chặt lìa dây liên lạc, giành xé cắn rứt nhau như kẻ khác nhà, riêng ổ, cho đừng có thế lực chi mà kình chống với chúng nó, rồi rốt cuộc lại thì các con phải lần lần bị manh mún phân chia, sa vào hang sâu vực thẳm.

Dân như cá chậu chuồng,

Tiếng oan trăm họ trêu buồn ngậm than.

(Ngụ Đời).

Bấy lâu đã lạc lầm,

Nay đà thức tỉnh thâm tâm nhẹ nhàng.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

GÀ HẠC

, hạc là hai loài vật được ví là khác địa vị nhau, ý nói người hèn kẻ sang, người ham phóng túng kẻ thích buộc ràng.

Gà hạc. do câu “Lung kê dã hạc 籠 雞 野 鶴”, tức gà lồng hạc nội.

Gà vì ham ăn, phải cam chịu cảnh nhốt lồng, hạc tuy bụng đói, được tự do ngoài đồng nội. Gà hạc được ví với hai hạng người: Kẻ tầm thường, người quý phái, kẻ ham danh, người ẩn dật.

nhà lúa vựa tuy no,

Hạc vui cảnh trí gà lo lửa hồng.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

GÀ LỒNG

Gà: Loại gia súc thuộc loài chim, một con vật trong lục súc. Lồng: Vật đan bằng tre, nứa, dùng để nhốt gà, chim.

Gà lồng là gà bị nhốt trong lồng, ý chỉ bị ràng buộc, mất tự do, hoặc sống trong sự lo sợ, chẳng biết ngày nào bị làm thịt.

Thơ của Đức Lý Giáo Tông có câu: Lung kê hữu mễ thang oa cận 籠 雞 有 米 湯 堝 近, nghĩa là gà lồng có lúa ăn hằng ngày, mà nồi nước sôi cận kề, ý nói không biết cái chết kề bên.

Bụng trống thảnh thơi con hạc nội,

Lúa đầy túng tíu phận gà lồng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

GÀ MÁI

Gà: Loại gia súc thuộc loài chim, một con vật trong lục súc. Mái: Chỉ giống cái về loài cầm.

Gà mái là gà thuộc giống cái, có chức năng để trứng và ấp ra con.

Như: Gà mái, chim mái.

Hễ lấp ló vào buồng làm ngãi,

Thì làm tuồng gà mái, nằm nơi.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

GÀ TRỐNG NUÔI CON

Gà trống: Trái với gà mái, không đẻ và không ấp trứng được. Nuôi con: Nuôi dưỡng con khi còn nhỏ.

Gà trống nuôi con ý chỉ người đàn ông vợ chết phải nuôi dưỡng con cái.

Gà trống nuôi con đau đớn bấy,

Mơ màng nghe trống trở canh thâu.

(Thơ Vạn Năng).

 

 

GẢ

Gả là bằng lòng cho con gái mình lấy người nào đó làm chồng. Như: Gả con, dựng vợ gả chồng.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Bần Đạo đã nói cái Luật Thương Yêu ấy nó không định giới, định hướng đặng, và chúng ta có thể nói, trong một gia đình đương nhiên bây giờ, ta có con trai phải cưới dâu trong Tông Đường khác, ta có con gái phải gả cho Tông Đường khác, thì nó mới sống lụng lại trong gia đình của chúng ta, sự thương yêu nó không định giới định hướng là vậy.

Phải đợi lịnh mẹ cha cưới gả,

Đừng học đòi mèo mả gà đồng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

là từ chỉ người đàn ông nào đó với hàm ý là xa lạ, hoặc không có thiện cảm. Như: Gã lái buôn, gã đồ tể.

Trong Truyện Kiều Nguyễn Du có câu: Chẳng ngờ Mã Giám Sinh, Vẫn là một đứa phong tình đã quen.

Ðạo mầu cậy truyền nhơn sự,

Dạy trẻ cho an lấy Ðạo Ðời.

(Đạo Sử).

Đua tài hai quyết hành hung,

Ai cũng tranh hơn trận khí hùng.

(Thơ Hộ Pháp).

Bởi vì hai tranh vương bá,

Gieo hoạ nhơn sanh chịu đoạ đày.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

GÁC

1.- Gác, như chữ “Các 閣”, là tầng nhà xây dựng liền lên trên tầng khác.

Như: Lầu son gác tía, gác Đằng vương.

Hồng nhạn đưa tin trông vắng dạng,

Phụng lầu gác quyển đợi hoà thinh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chẳng thích buộc ràng nơi gác tía,

Chỉnh ham thong thả chốn rừng tre.

(Thơ Huệ Giác).

2.- Gác, bởi chữ Pháp “Garde”, là canh giữ, trông nom, giữ gìn để bảo đảm an toàn.

Như: Văn phong có lính gác, canh gác vật liệu của cơ quan hằng đêm.

Bao nhiêu người làm việc kia nuôi mình, người ta canh gác giữ trộm cho mình yên ổn, người ta đốn cây tạo nhà cho mình ở.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

3.- Gác còn có nghĩa là bỏ, để sang một bên, không để ý tới, không nghĩ đến.

Như: Việc đời gác bỏ ngoài tai, gác chuyện xây nhà lại đợi làm có tiền.

Cất bước ra đi vắng một ngày,

Nghĩa tình tạm gác kể từ nay.

(Thơ Thái Đến Thanh).

4.- Gác là để cái gì ngang lên trên một người hay một vật nào đó.

Như: Gác chân lên thành ghế, nằm gác tay lên trán, ngủ gác chân lên bụng bạn.

Hi Di thâu núi đòi tờ đứng,

Quỷ Cốc trông vua gác cẳng nằm.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

GÁC BỎ

Gác: Bỏ, không nghĩ đến nữa. Bỏ: Không dùng nữa, không nhìn nhận đến.

Gác bỏ là để sang một bên, không để ý tới.

Như: Việc đời tôi đã gác bỏ từ lâu rồi, Chuyện thị phi nên gác bỏ ngoài tai.

Thị phi gác bỏ ngoài tai,

An lòng vui dạ chẳng nài thiệt hơn.

(Thơ NĐS Hương Thanh).

Lời thị phi gác bỏ ngoài tai,

Tiếng phải trái không màng bày giãi.

(Điếu Văn Thượng Sanh).

 

 

GÁC ĐẰNG

Gác: Tầng nhà ở trên tầng dưới đất. Đằng: Viết tắt của chữ Đằng Vương.

Gác Đằng là một cái gác được xây dựng tại Hàng Châu, một nơi danh lam thắng cảnh của Trung Quốc.

Gác nầy do Đằng Vương Lý Nguyên Anh đã xây dựng, lấy hàm tước vua phong để đặt tên gác: Đằng Vương Các.

Xem: Đằng Vương Các.

Gác Đằng gió thuận chim mừng bạn,

Bến mộng thuyền sang khách tới bờ.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

GÁC NGUYỆT

Gác: Tầng nhà ở trên tầng dưới đất. Nguyệt: Trăng.

Gác nguyệt là cái gác có ánh trăng chiếu vào của các bậc tao nhân mặc khách, lên đó để hóng gió, thưởng trăng.

Gác nguyệt còn dùng để chỉ nơi người đẹp ở.

Phỉ tình gác nguyệt xây cao thấp,

Mặc sức lầu hoa cất dọc ngang.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

GÁC QUYỂN

Gác: Tầng nhà ở trên tầng dưới đất. Quyển: Ống sáo.

Gác quyển là một cái gác của nàng Công chúa Lộng Ngọc, con vua Tần Mục Công thường ngồi thổi sáo, tức là Phụng lầu.

Xem: Phụng lầu.

Hồng nhạn đưa tin trông vắng dạng,

Phụng lầu gác quyển đợi hoà thinh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Phụng lầu gác quyển chờ tiêu,

Gieo cầu cho đáng, nhiễu điều gói gương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GÁC TÍA

Gác: Tầng nhà ở trên cao, có tầng ở dưới đất. Tía: Màu tía, tức màu đỏ thẫm.

Gác tía, như chữ “Tử các 紫 閣”, là gác sơn màu đỏ thẫm, nơi nhà của người cao sang, quyền quý ở.

Gác tía nghĩa rộng: Chỉ người quyền quý. Thành ngữ Việt có câu: Gác tía lầu son.

Chẳng thích buộc ràng nơi gác tía,

Chỉn ham thong thả chốn rừng tre.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

GÁC TÍA LẦU HỒNG

Gác tía: Do chữ “Tử các 紫 閣”, là cái gác màu tía, dùng để chỉ nhà quyền quý. Lầu hồng (hường): Như chữ “Hồng lâu 紅 樓”, do bởi các nhà phú quý ngày xưa thường hay sơn son hoặc sơn màu đỏ dùng để làm nơi phụ nữ ở.

Gác tía lầu hồng (hường), đồng nghĩa với câu Gác tía lầu son, dùng để chỉ chỗ con gái nhà quyền quý cao sang ở.

Coi như gác tía lầu hồng,

Chẳng phen giữa trận tên đồng không nao.

(Bát Nương Giáng Bút).

Dạo chơi gác tía lầu hường,

Vinh sang phú quý gia đường ấm no.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

GÁC TÍA LẦU SON

Gác tía: Do chữ “Tử các 紫 閣”, là cái gác màu tía, dùng để chỉ nhà quyền quý. Lầu son: Như chữ Lầu hồng, do bởi các nhà phú quý ngày xưa thường hay sơn son hoặc sơn màu đỏ dùng để làm nơi phụ nữ ở.

Gác tía lầu son, do chữ “Hồng lâu tử các 紅 樓 紫 閣”, dùng để chỉ chỗ con gái nhà quyền quý cao sang ở.

Đã từng lăn lóc khắp Đông Dương,

Gác tía lầu son bước tới thường.

(Thơ Thuần Đức).

Gác tía lầu son bừng đuốc ngọc,

Thơ mừng rượu chúc đón xe hoa.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

GẠC

Gạc là sừng già đã phân nhánh của các loài vật như rồng, hươu, nai. Như: Gạc nai, gạc hươu, gạc rồng.

Trong Đàn cơ tại Cung Đạo Đền Thánh, đêm 25 tháng 6 năm Nhâm Tý (Dl. 4-8-1972), do hai Ngài Hiến Pháp, Khai Đạo phò loan, Ngài Hồ Bảo Đạo hỏi Đức Hộ Pháp có câu: Ở Địa Linh Động, Thuyền Bát Nhã đưa những vị giữ trường trai được Đức Ngài cho phép treo hai đường lụa đỏ trên gạc rồng để khuyến khích. Điều nầy nên phổ biến cho toàn Đạo hay không?

Tới khi cù đủ gạc vi rồng,

Còn đợi một ngày tiếp sắc phong.

(Đạo Sử).

 

 

GAI

1.- Gai là những ngạnh nhọn mọc ở thân cây. Như: Gai táo, gai hồng, gai bồ kết.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Thánh giáo Đức Thái Thượng Đạo Tổ có day: Bần đạo hỏi bốn hiền hữu có ai đã mang sao đội nguyệt, ăn mật nằm gai, chịu muôn sự khổ hạnh cõi đời để tạo hạnh phúc cho nhơn sanh chưa?

Trăm năm chưa hẳn nên hiền đức,

Tấn nẻo chông gai khá lựa dèo.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tích đức gắng gìn nhơn nghĩa trọn,

Chông gai xa lánh cảnh sầu bi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Gai, nghĩa bóng là chướng, xốn xang, khó chịu.

Như: Ăn mặc nhố nhăng làm gai con mắt, nó trở thành cái gai trước mắt mọi người.

Các con nghe cho rõ, thường ngày các con trông thấy những điều trái tai gai mắt, các con có biết vì tại sao chăng?

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

3.- Gai là một thứ cây lấy vỏ ở thân dùng làm sợi. Như: Giày gai, võng gai, quần bả áo gai.

Thánh giáo có đoạn: Thầy nhớ xưa, kẻ mộ Ðạo chịu ngàn cay muôn đắng, biết có người mà chẳng biết nhọc mình, giày gai áo bả, đội nguyệt mang sao, gió trước lọt chòi tranh, mưa sau hư giậu lá, bần hàn chẳng quản, tay trắng dìu người, một mảy không bợn nhơ, mới có thể lập ngôi cho mình đặng.

Dầu mình sang ngự điện ngồi ngai,

Cũng nhớ thuở mẹ chằm gai cha kết lá.

(Phương Tu Đại Đạo).

Gặp vợ hiền đã đủ kiếp may,

Dầu đương rớ chằm gai cũng đặng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

GAI CHÔNG

Gai: Cây hoặc dây có ngạnh nhọn. Chông: Vật có đầu nhọn sắc để làm bẫy hoặc làm vật chướng ngại.

Gai chông là gai và chông, dùng để ví với những trở ngại, hiểm nguy gặp phải trong quá trình thực hiện một việc gì.

Trong tôn giáo, gai chông dùng để chỉ những chướng ngại, cản trở việc tu hành.

Thánh Gáo Đức Chí Tôn có câu: Các con cứ đường ngay bước tới, đợi ngày sẽ lập chút công trình để lướt khỏi lối gai chông, vẹt ngút mây xanh, tìm vào cảnh thiêng liêng mà rửa sạch bụi hồng.

Xem: Chông gai.

Xuống trần độ kẻ tâm duyên,

Thiên đường trở lại thoát miền gai chông.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Đi con đường thế gai chông,

Lớn gan hiu quạnh thì lòng cũng nao.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Bước thơ sanh đã gần cõi Thánh,

Vẹt gai chông đặng lánh bụi hồng.

(Xuân Hương Giáng Bút).

 

 

GAI GÓC

Gai: Ngạnh nhọn mọc ở cây.

Gai góc, như chữ “Gai chông”, dùng để ví với sự khó khăn, trở ngại.

Thánh giáo Chí Tôn có câu: Thầy vì đó mà cải dẫn bước đường của các con, não phiền thành vui vẻ, đường gai góc hoá ra nẻo êm đềm, lo lắng phải ra tươi cười, mỏi mòn thành phấn chấn.

Gai góc lần đường công trước gắng,

Thảnh thơi có lúc buổi sau dành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðường gai góc gắng lần qua khỏi,

Cảnh rạng ngần tua rán bước vào.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðưa chơn hiềm nỗi đời gai góc,

Khó nỗi đi tu khó ở đời.

(Đạo Sử).

 

 

GÁI

Gái là chỉ người thuộc phái nữ, còn nhỏ hoặc chưa chồng, đối với trai. Như: Trai hiền gái thảo, dâu hiền nên gái rể thảo nên trai.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: Thầy đã chán mắt thấy phái Nữ hành đạo thế nào, biết bao phen Thầy buồn, mà buồn rồi lại giận, muốn chẳng lập Nữ phái mà làm gì, nhưng trai gái cũng đồng con, Thầy không nỡ đành lòng từ bỏ.

Siêu phàm nết gái để hơn trai,

Mượn nước nhành dương rửa cảnh đài.

(Đạo Sử).

Gẫm thân gái trọn đời cực nhọc,

Tính buông câu gọi chút nghỉ ngơi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GÁI BÁN THUYỀN

Gái: Chỉ người đàn bà chưa chồng. Bán: Đổi vật mà lấy tiền. Thuyền: Ví với duyên phận của người con gái.

Gái bán thuyền ý nói người con gái đem cái duyên phận của mình đi bán, chỉ vì tiền, không có tình nghĩa.

Rủi ro gặp gái bán thuyền,

Loạn gia phải chịu thảm phiền lắm cơn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GÁI LỊCH TRAI THANH

Gái lịch: Con gái có nhan sắc đẹp đẽ. Trai thanh: Con trai thanh lịch.

Gái lịch trai thanh ý chỉ trai gái sắc diện bên ngoài đẹp đẽ, lịch sự.

Gái lịch trai thanh nên Đạo cốt,

Mụ thơ lão trẻ rất Tiên phong.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

GÀI

Gài, như chữ “Cài”, là làm cho một vật dính mắc vào một vật khác.

Như: Gài huy hiệu trên túi áo, cửa đóng then gài, gài nút áo cổ.

Thánh giáo Thầy dạy Ngài Thượng Trung Nhựt có câu: Từ đây (25-2-1926, 13 tháng Giêng năm Bính Dần), con phải may riêng bộ áo lễ tay rộng, cổ trịch như áo đạo, nhưng dải gài chín mối, màu xanh da trời.

Sửa tánh cũng như toan vá áo,

Gìn tâm như tối cửa then gài.

(Đạo Sử).

Am tự đóng chặt gài bước tục,

Nước Cam lồ cho phúc tiêu diêu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GAY

Gay là sự gian nan rất khó khắc phục, đến mức thành vấn đề. Như: Việc nầy gay lắm, gay về nhận thức.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có dạy: Lão đây cũng vậy, mà chư hiền hữu cũng vậy, chúng ta đã đến tạo thế sửa đời, vẫn là phận sự của chúng ta đã hẳn, hãy biết phận mình mới an tâm liệu thế chuyển xây, đã có khó ắt có hay, đã có gay thì có thuận, bền chí xem mảy mún cơ đời.

Bên mình sầu vướng khá âu lo,

Bước nhọc đường gay gắng chí dò.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

GAY CẤN

Gay: Gặp điều khó khăn rất khó khắc phục. Cấn: Vướng mắc.

Gay cấn ý chỉ có nhiều khó khăn, trở ngại, vướng mắc đến mức như không thể vượt qua được.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Càng nghĩ nỗi khó khăn gay cấn mà Hội Thánh phải gánh chịu nơi Trung ương trong giai đoạn hiện tại, Hội Thánh càng thông cảm nỗi lo âu ngần ngại của quý vị nơi chốn xa xôi trong khi thi hành phận sự.

Tu là thật sự mà vui,

Chuyện chi gay cấn cũng xuôi cho rồi.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

GAY CHÈO

Gay: Đưa một vòng dây nhỏ tròng vào hai thanh gỗ vặn tréo vào nhau để tạo sự gắn kết giữa hai thanh. Chèo: Vật làm bằng gỗ dẹp, dài, dùng để bơi cho thuyền, ghe đi.

Gay chèo là buộc chặt mái chèo vào cây cộc chèo.

Gay chèo thoát khổ đầy linh cảm,

Rạch nước trừ oan đủ diệu huyền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thuyền huệ gay chèo lau lượn sóng,

Trời thanh ngảnh mặt ngắm đầu non.

(Thơ Võ Thành Lượng).

 

 

GAY GO

Gay: Khó khăn, vất vả.

Gay go là có nhiều khó khăn, trở ngại, vướng mắc đến mức như không vượt qua được.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Chí Tôn có dạy: Thầy rất đẹp lòng đặng môn đệ ái kính như các con yêu dấu nơi Thánh địa nầy. Ðường tân khổ lắm vày vò, buổi an nhàn đâu kẻ hưởng, tuồng thế cũng gay go, mà bước trần càng khốn đốn.

Vào vàm thế sự lắm gay go,

Nửa kiếp hằng lo mỏi sức trò.

(Đạo Sử).

Còn đời chìm nổi lắm gay go,

Tu đặng đâu tua hỡi bớ trò.

(Đạo Sử).

Cửa Ðạo gay go trường khổ hạnh,

Ðường Tiên nhàn rỗi bước thong dong.

(Đầu Sư Hương Hiếu).

 

 

GAY TRỞ

Gay: Khó khăn, vất vả. Trở: Ngăn cản.

Gay trở là có nhiều khó khăn, vất vả làm trở ngại hay vướng mắc đến nỗi không vượt qua được.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Thế thì kẻ hung bạo luống mượn thế lực phàm phu để khuấy rối, làm cho bước đường êm thấm phải hoá ra gay trở. Biển đương lặng, Trời đương thanh, dễ chi sóng khoả nước nhăn, mây ùn non bạc.

Ðường quan lắm nỗi điều gay trở,

Chước lánh nhàn tìm mới chí cao.

(Đạo Sử).

 

 

GÃY CÀNH THIÊN HƯƠNG

Gãy cành: Cành nhánh bị gãy đổ. Thiên hương: Do câu trong Tình Sử: Thiên hương nhất chi 天 香 一 枝, tức là một cành hương thơm của trời. Ý chỉ người đàn bà đẹp đẽ.

Gãy cành thiên hương ý nói người con gái đẹp chết.

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du có câu: Kiếp hồng nhan có mong manh, Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương.

Gia đình đang sống yên lành,

Gió mưa phút bỗng gãy cành thiên hương.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

GÃY TRÂM LƯƠNG NGỌC

Gãy trâm: Cây trâm bị gãy, ví tình yêu tan vỡ. Lương Ngọc: Tên một nhân vật trong tác phẩm Nhị Độ Mai.

Gãy trâm Lương Ngọc, ý nói tình duyên của Lương Ngọc bị gãy đổ.

Do tích: Hạnh Nguơn là con gái của Trần Đông Sơ, đính hôn với Mai Bích, tự là Lương Ngọc, con của Mai Bá Cao. Bá Cao làm quan nhà Đường, tính cương trực nên bị bọn nịnh thần là Lư Kỷ và Hoàng Trung vu cáo vào tội chết, truy bắt cả nhà, nhưng may mắn là mẹ con Lương Ngọc trốn thoát được. Hạnh Nguơn bị đưa đi cống Hồ, để giữ tiết cùng Lương Ngọc, nàng nhảy xuống đầm Lâm Trì tự tử, may nhờ bà Châu Bá Phù cứu sống, rồi nhận làm con nuôi.

Về sau, bọn Lư Kỷ bị vua Đường bắt tội đem chém đầu, minh oan cho Mai Bá Cao, và Lương Ngọc gặp lại Hạnh Nguơn, cả gia đình sum họp.

Cũng như thiếp nặng khối tình,

Gãy trâm Lương Ngọc, bể bình Lý Uyên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GAN

1.- Gan là bộ phận thuộc hệ tiêu hoá có chức năng chính tiết mật để tiêu hoá chất mỡ. Như: Buồng gan, viêm gan, cả gan (gan to).

Thánh giáo Thầy có câu: Các con đã đặng thong dong rồi, rảnh chẳng lo tu đức mà sửa mình, lại còn cả gan trước mặt Thần, Thánh, Tiên, Phật, gây thêm tội lỗi nữa, thiệt là đáng giận!

Con bất hiếu xay cưa đốt giã,

Mổ bụng ra phanh rã tim gan.

(Kinh Sám Hối).

2.- Gan là biểu tượng cho tinh thần, ý chí mạnh mẽ, bền bỉ, không lùi bước trước việc khó khăn.

Như: Tấc gan, bền gan, thi gan cùng tuế nguyệt.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Nếu không gặp thời thì chịu mai một, sống đời ẩn dật, vui thú lâm tuyền bạn với gió trăng, thi gan cùng tuế nguyệt, chớ không màng đến danh lợi đen tối.

Trường Ðời đem thử gan Anh Tuấn,

Cửa Ðạo mới ra mặt Thánh Hiền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Mạnh hiếp yếu lấy gan hung bạo,

Dữ lấn hiền gươm giáo là hơn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Sợ bả gan chưởi tới ông bà,

Lấy trớn chưởi cả nhà ông vải.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

GAN ÓC

Gan: Biểu tượng cho tinh thần, ý chí mạnh mẽ, bền bỉ, không lùi bước trước việc khó khăn. Óc: Chất trắng và mềm ở trong sọ các loài động vật, chủ về tri giác.

Gan óc, do chữ “Can não đồ địa 肝 腦 塗 地”, là đem gan và óc trát xuống đất, ý nói cái chết cực thảm mà cũng không từ.

Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng có câu: Chạm xương chép dạ xiết chi, Dễ đem gan óc đền nghì trời mây!

Như: Thằng bé tỏ ra là đứa gan óc.

Bao kẻ vải bô thay gấm vóc,

Vạn người gan óc dựng quê hương.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

GAN SẮT DẠ ĐỒNG

Gan sắt: Gan cứng cỏi như sắt. Dạ đồng: Lòng dạ bền chặt như đồng.

Gan sắt dạ đồng dùng để chỉ lòng dạ cứng cỏi, bền chặt, đồng nghĩa với thành ngữ: Bền lòng chặt dạ.

Điếu Văn Đức Cao Thượng Phẩm của Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt có câu: Nghe qua dường như sấm nổ, người dầu gan sắt dạ đồng, nghe tin cũng bắt động lòng thương xót, huống chi tôi cùng Ðức Cao Thượng Phẩm trong mấy năm dư cùng nhau keo sơn gắn chặt, thọ Thánh chỉ của Ðức Chí Tôn phổ thông Ðại Ðạo Tam Kỳ.

Chữ đồng môn tình lại mặn nồng,

Ai gan sắt dạ đồng không đổ luỵ.

(Văn Tế Bảo Đạo).

 

 

GAN SẮT ĐÁ

Gan: Biểu tượng cho tinh thần, ý chí mạnh mẽ, bền bỉ, không lùi bước trước việc khó khăn. Sắt đá: Chỉ sự bền, cúng, không thay đổi.

Gan sắt đá ý chỉ người có lòng dạ trung trinh, bền chặt như sắt đá.

Gan sắt đá đồng nghĩa với chữ “Gan vàng”.

Xem: Gan vàng.

Mưa nắng dồi mài gan sắt đá,

Thu về thoả nguyện định phong cương.

(Thượng Phẩm Giáng Bút).

 

 

GAN TẤC

Gan: Chỉ sự bạo dạn, gan dạ. Tấc: Bằng một phần mười thước, dùng để chỉ tấm lòng.

Gan tấc, như chữ “Tấc gan”, là lòng can đảm, bền bỉ, chỉ tấc ý chí mạnh mẽ.

Trong Thánh Ngôn Thầy có câu: Ðiều cần nhứt là mỗi đứa đều lưu tâm ráng lo việc Thánh Thất cho hoàn toàn, mỗi đứa để chút ít gan tấc vào đó.

Nguyện cùng Thất Tổ xin thương,

Cho bền gan tấc noi đường thảo ngay.

(Kinh Thế Đạo).

Dặn mình tua chặt trong gan tấc,

Sau trước lòng son giữ đặng thường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

GÀN

Gàn là gạt đi, ngăn đi, khuyên đừng làm việc đó, hoặc không cho làm.

Như: Việc chưa làm đã có người gàn, đừng gàn anh ấy để anh ta đi cho kịp giờ.

Làm cho bước Đạo lỡ làng,

Đường còn để đó chơn gàn khôn đi.

(Thơ NĐS Hương Thanh).

 

 

GẠN ĐỤC LÓNG TRONG

Gạn đục: Gạn lọc chất cặn để bớt đục. Lóng trong: Làm cho nước trở lại trong.

Gạn đục lóng trong là loại bỏ cặn cáo để nước trong trở lại, ý nói loại bỏ cái xấu để khơi dậy điều tốt.

Thánh giáo trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có viết: Vì vậy thế cuộc phải tuần hoàn, bầu nhơn sự phải luân chuyển vần xây phiêu linh cho đến buổi nhơn loại được vẹn toàn, thế giới cũng vì đó mà phải đổi thay, gạn đục lóng trong mà tạo thành miền Cực Lạc.

Gạn đục lóng trong toan lánh bợn,

Cừu y đành gởi mảnh ca sa.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

GẠN ĐỤC LƯU THANH

Gạn đục: Gạn lọc chất cặn để cho hết đục, hết cái xấu. Lưu thanh: Còn lại trong, cái tốt.

Gạn đục lưu thanh là làm cho hết bợn đục để trở thành sạch trong. Ý nói loại bỏ hết những cái không hay, cái xấu để giữ lại cái hay, cái tốt.

Tu gạn đục lưu thanh tinh khiết,

Thượng phù Thiên trược miệt Ðịa ngưng.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

GANG TẤC

Gang: Khoảng đo từ đầu ngón tay cái thẳng đến đầu ngón tay giữa. Tấc: Bằng một phần mười thước.

Gang tấc tức là một gang tay, một tấc, dùng để chỉ khoảng cách ngắn ngủi. Ý muốn chỉ gần gũi, không xa nhau mấy.

Mình côi cút còn đời như mất,

Chẳng có ai gang tấc đỡ nâng mình.

(Phương Tu Đại Đạo).

Trong ngoài xa cách đôi gang tấc,

Kẻ sáng, người đui gẫm cũng bằng.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

GANH

Ganh là cố hết sức để sao cho mình hơn người và tỏ ra khó chịu khi thấy người hơn mình.

Như: Ganh ăn, ganh chơi, hai bên ganh nhau không ai muốn chịu thiệt.

Đại Từ Phụ ra ơn dìu dẫn,

Diệt trí phàm: Hờn, giận, ghét, ganh.

(Kinh Thế Đạo).

Bởi mến mùi thơm thân cá chậu,

ganh tiếng gáy phận chim lồng.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

GANH GHÉT

Ganh: Tranh đua, ghen ghét. Ghét: Không ưa, có ý xua đuổi.

Ganh ghét là thấy người hơn mình mà sinh ra ghét.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Muốn đoạt cho được mục đích ấy, duy lấy đạo đức tinh thần, muốn kỉnh nhau, hoà nhau, nhìn nhau là ruột thịt, mà thấy nhà bạn mình có của nhiều lại ganh ghét, đứa nầy giành của đứa kia, hỏi vậy hoà được chăng? Nếu còn giành ăn, ở, mặc, sang, giàu, cao trọng thì không thể nào đi đến đại đồng tâm lý được.

Quen trò khi bạn lời ganh ghét,

Nể mặt không kiêng có Ðất Trời.

(Đạo Sử).

 

 

GANH GỔ

Ganh: Tranh đua, ghen ghét.

Ganh gổ là ghen ghét ganh tỵ, tức so thiệt hơn giữa mình với người và thấy khó chịu khi người hơn mình.

Thánh giáo Chí Tôn dạy: Còn cái địa vị cao trọng, nó làm cho nhơn tâm ganh gổ. Con phải lấy Phật tâm con mà dòm ngó đám sanh linh bị phạt, luân hồi chưa dứt, thì tưởng đến Thầy mà cam chịu nhục nhã, lòng từ bi có vậy mới xứng đáng là tôi con Thầy.

Các con, dầu bên nào cũng thương nhau như con một nhà, chớ khá ganh gổ chê bai nhau.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

GANH TỴ

Ganh: Tranh đua, ghen ghét. Tỵ: Tỏ ra không bằng lòng trước cái người khác được hưởng, vì so sánh và cho rằng mình bị thiệt.

Ganh tỵ là so tính hơn thiệt giữa mình với người và khó chịu khi thấy người ta hơn mình.

Huấn từ Đức Thượng Sanh đọc trong dịp Hội Thánh đãi tiệc chư Chức sắc và Nhân viên công quả tại Hạnh Đường ngày 18 tháng Giêng năm Tân Hợi có câu: Trái lại, chúng ta nên để ý lời chỉ trích đúng chỗ, chúng ta nên tự nhận và lập tâm hối cải, ví như lời chỉ trích chỉ do sự ganh tỵ mà ra thì ta nên thản nhiên tiếp tục làm việc phải.

Tánh ích kỷ của phàm phu, lòng ganh tỵ của tục tử không còn có nữa.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

GÁNH

1.- Gánh là một quảy ở trên vai, đeo hai trọng lượng bằng nhau. Như: Một gánh củi, một gánh hàng.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Thế thì cái vui vẫn đi liền với cái khổ chỉ khi nào bỏ gánh xuống thì mới chấm dứt hẳn được vui sướng và khổ đau. Bỏ gánh xuống nghĩa là diệt dục, tức là giải thoát vậy.

Dồn dập tương tư oằn một gánh,

Nỗi mình tâm sự tỏ cùng ai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trong võ trụ mình người sanh đứng đợt,

Ai hiểu mình phòng sang bớt gánh đồ thơ.

(Phương Tu Đại Đạo).

Tiếc thay một gánh cơ đồ,

Xa thơ khuất dấu ngọn cờ bặt tăm.

(Ngụ Đời).

2.- Gánh là quảy vật gì ở trên vai bằng đòn gánh. Nghĩa bóng: Cáng đáng công việc nặng nề.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có đoạn: Bần Ðạo gánh lấy cả thù hận ấy đặng bảo tồn hình thể của Chí Tôn cho trọn thương yêu. Bần Ðạo dùng can đảm gánh lấy cả thù hận của thiên hạ mà bảo tồn khối thương yêu của Chí Tôn vô đối, không cho hoen ố, nhơ bợn.

Đã cùng gánh chung tình hoà ái,

Tua đúc cơm, sửa dải làm duyên.

(Kinh Thế Đạo).

Lộc nước gắng đền công chín tháng,

Nợ nhà tua vẹn gánh hai vai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Vùi sầu nay gắng chung vai gánh,

Hưởng phước sau may hiệp bước đường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

GÁNH VÁC

Gánh: Quảy trên vai với cây đòn gánh. Vác: Để vật trên vai mà vác đi.

Gánh vác là dùng vai để gánh vác vật nặng, ý chỉ cáng đáng mọi công việc khó khăn, nặng nhọc.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy lại hằng gánh vác sự khó khăn, chỉ cậy các con là một lòng yêu thương sanh chúng, gắng công phổ độ.

Nghiêng vai gánh vác đạo nhà Nam,

Gắng khổ chiều tâm độ tánh phàm.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thân hay gánh vác nỗi nhà nên,

Chẳng chịu tìm ra kế vững bền.

(Đạo Sử).

Cứu nước không ai ra gánh vác,

Phong quan chưa định đã giành rồi.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

GÀNH

Gành, như chữ “Ghềnh”, chỗ lòng sông bị thu hẹp và nông khiến cho dòng nước bị dồn lại nên chảy xiết.

Như: Gành suối, đầu gành cuối bãi.

Gành Nam nêu đặng người tên tuổi,

Ðất Bắc mừng an bước lạc loài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Đầu gành lăng líu chim ca hát,

Kẹt núi ro re suối học đờn.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

GÀNH KHƠI

Gành: Ghềnh, chỗ lòng sông bị thu hẹp và nông khiến cho dòng nước bị dồn lại nên chảy xiết. Khơi: Vùng sông nước ở xa bờ.

Gành khơi, như chữ “Ghềnh khơi”, là ngoài ghềnh xa bờ, có dòng nước xoáy mạnh và chảy xiết.

Dường như biển thảm không cầu,

Kẻ thì cuối bãi, người đầu gành khơi.

(Thất Nương Giáng Bút).

Bầy hồng nhạn lao xao vịnh liễu,

Đám cò ngà bận bịu gành khơi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GÁO

Gáo là vật đựng hình chỏm cầu, có cán, dùng để múc chất lỏng. Như: Gáo múc dầu, tưới một gáo nước.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: Ðã vào trọn một thân mình nơi ô trược thì Thầy đây cũng khó mà rửa với một gáo nước cho đặng trong sạch.

Phận sao phận bạc như vôi,

Nước lưng đáy gáo, hương trôi dòng là.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Thương chàng đầy dẫy mông mênh,

Khối thương khó lấy gáo tình đem đong.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GÀO

Gào là kêu to và kéo dài tiếng. Như: Kêu gào, con gào mẹ, bé gào đòi ăn.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Khác với tiếng nói của lẽ phải. Ấy là tiếng kêu gào của xác thịt, của dục vọng, tức là của tà thần.

Lắng giọng Đỗ quyên gào hận tiếc,

Tưởng hồn Thục đế gọi xuân về.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

GẠO

Gạo là lúa đã xay, giã rồi dùng làm lương thực. Như: Xay lúa giã gạo, thóc cao gạo kém.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Vì đó, chúng ta không sợ Ðạo nghèo về tiền bạc mà chỉ sợ Ðạo nghèo về tình thương yêu, cái tình thương yêu quý báu mầu nhiệm rất cần thiết cho tâm hồn của người tu sĩ cũng như cơm gạo cần thiết cho mảnh xác thân và nếu thiếu hẵn đi thì dầu chúng ta có được con số đông đúc bao nhiêu, chúng ta cũng như bị lẻ loi côi quạnh và cơ phổ độ không còn biết dựa vào đâu mà thực hiện được.

Làm ra lúa gạo dày công,

Dầm mưa dan nắng kẻ nông nhọc nhằn.

(Kinh Sám Hối).

Sàng lấy gạo trơn bỏ trấu ra,

Nay quy Tam Giáo cũng in là.

(Đạo Sử).

 

 

GẠO CHÂU CỦI QUẾ

Gạo châu: Hạt gạo quý như châu ngọc. Củi quế: Củi khan hiếm như cây quế.

Gạo châu củi quế, như chữ “Mễ châu tân quế 米 珠 薪 桂”, tức là gạo quý như hạt châu, củi hiếm như cành quế.

Quốc Sách chép: Tân như quế, thực như ngọc, ngôn tân mễ chi đằng quý 薪 如 桂, 食 如 玉, 言 薪 米 之 騰 貴, nghĩa là củi như quế, đồ ăn như ngọc, nói sự quá mắc của củi gạo.

Tô Tần đến nước Sở ba ngày, mới ra mắt vua Tần, rồi lật đật giã từ đi. Vua nói: Sao chẳng ở lại ít hôm nữa? Tô Tần đáp: Nước Sở món ăn quý như ngọc, củi quý như quế!

Nghĩa bóng: Ý chỉ vật giá đắt đỏ.

Gạo châu củi quế gặp thời hư,

Biết bấy lâu chờ gặp thói dư.

(Đạo Sử).

Khi đói gạo châu đừng ái ngại,

Lúc cần củi quế chớ hơn thua.

(Thơ Thông Quang).

 

 

GẠT

1.- Gạt là dùng tay đẩy sang một bên. Như: Dơ tay gạt nước mắt, gạt màn cửa, gạt tàn thuốc.

Điếu văn Đức Thượng Sanh đọc trước Liên đài Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có câu: Sứ mạng của Ngài đã hoàn thành, Ngài đã dứt hết nỗi khổ đau, đã gạt hết bao nhiêu dòng lệ thảm, để rồi bỗng nhiên rời bỏ những bạn đồng hành và đàn em dại đang khao khát Ðạo mầu, nhờ tay dìu dắt.

Đạo dâu con vui chẳng dám cười,

Đôi phen gạt lụy rơi không dám khóc.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Gạt là lường, đánh lừa. Như: Bị gạt mất tiền, gạt người lấy của, gạt tình, dối gạt.

Thánh giáo Thất Nương Diêu Trì Cung có câu: Tiếc thay, Em có dặn trước ngày Em đến, đặng hội hiệp đông đủ cùng nhiều chị, nhưng phò loan trễ nãi, nên Em không phương gặp đặng, nhất là việc Diêu Trì Cung bị mượn danh nơi khác mà dối gạt nhơn sanh.

Sa môn chánh pháp đổi dời,

Con buôn cửa Phạm gạt người thiện tâm.

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 

GẠT GẪM

Gạt gẫm là đánh lừa, tức làm cho người khác bị lầm bằng cách nói dối hoặc dùng mưu chước. Như: Đừng tin lời, hắn thường hay gạt gẫm.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Người có đức chí thành không hề biết dối trá gạt gẫm ai, không biết a dua, bợ đỡ, không vì lợi bỏ nghĩa, không vì mình hại người, cứ thẳng thắn đường ngay tiến bước, thà là chịu thất bại còn hơn là dụng mưu mô bất chánh để dối người, lừa bạn.

Người thông hiểu nẻo lộ gạt gẫm đứa khạo khờ, kẻ côi thế chịu bơ vơ, người quá ham đi mà sa hố, rốt lại cũng quạnh quẽ con đường. Mấy ai hiểu thấu?

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

GẠT LỪA

Gạt: Lường, lừa đảo. Lừa: Nói dối hoặc dùng mưu mẹo để gạt người khác.

Gạt lừa, cũng như chữ “Lừa gạt”, là đánh lừa, gạt gẫm người để mưu lợi cho mình.

Hễ mình hơn ra bợm gạt lừa,

Để mình thiệt cũng chưa đủ phải.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

GẮM GHÉ

1.- Gắm ghé, như chữ “Ngấp nghé”, là đến nhìn một cách kín đáo muốn hành động mà chưa dám.

Như: Thấy chiếc xe mơi mua thằng con gắm ghé muốn hỏi nhưng chưa dám.

Thành Thang gắm ghé giăng tay lưới,

Lữ Vọng sẵn sàng móc lưỡi câu.

(Thơ Hộ Pháp).

2.- Gắm ghé là dòm ngó một cách thèm muốn, chực chiếm lấy.

Gắm ghé còn dùng để chỉ muốn làm quen với người con gái nào đó để đặt quan hệ yêu đương, nhưng còn ngại ngùng chưa dám.

Thánh giáo Thầy có dạy: Nếu buổi sanh tiền, dầu cho một kẻ phàm tục tội lỗi biết đặng cơ quan mầu nhiệm của Ðấng Chí Tôn là Trời đã sắp đặt, thì cũng chẳng dám gây ra tội lỗi mà thôi, lại có thể đắc đạo mà gắm ghé phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật đặng nữa, huống lựa là các Ðấng ấy phải bị đoạ trần mà biết mình hằng giữ, thì mầu nhiệm thử Thần, Thánh, Tiên, Phật, chẳng có nghĩa lý gì hết.

Khách du Tiên đời chẳng mấy người,

Cứ bốn điều tà gắm ghé chơi.

(Đạo Sử).

 

 

GẮN

Gắn là dùng chất dính làm cho hai vật kết chặt nhau. Như: Gắn hai mảnh bát vỡ, gắn phím đàn.

Trong Thiên Đạo, hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có viết: Vậy nên chú trọng điều nầy: ở cõi phàm, con người hành động thể nào, sự hành động ấy, dầu lành dầu dữ, dầu thấp hèn hay cao thượng, cái ấn tượng của các hành vi ấy đều in gắn vào tinh chất (matière astrale) của cõi Thần.

Chồng vợ ví keo sơn gắn chặt,

Càng thương nhau thường nhắc lúc sơ giao.

(Phương Tu Đại Đạo).

Đất nhà cảnh vật ruộng vườn,

Hình chàng như b nẻo đường vô ra.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GẮN BÓ

Gắn: Làm cho hai vật dính cứng lại với nhau. Bó: Buộc nhiều vật lại nhau.

Gắn bó là có quan hệ về tinh thần, tình cảm gần nhau, khó tách rời nhau được.

Như: Hai vợ chồng thương yêu gắn bó nhau.

Dạy kỉnh người lòng dạ từ hoà,

Đừng lựa lịch sắc hoa toan gắn bó.

(Phương Tu Đại Đạo).

Đạo đức dồi mài tâm gắn bó,

Rồi đây sẽ rõ Đạo huyền linh.

(Thượng Phẩm Giáng Bút).

 

 

GẮN GHI

Gắn: Làm cho hai vật dính cứng lại với nhau. Ghi: Đánh dấu, biên khắc vào cho nhớ.

Gắn ghi, đồng nghĩa với chữ “Khắc ghi”, là khắc sâu hay gắn chặt những điều cần ghi nhớ trong lòng.

Lòng sở vọng gắn ghi đảo cáo,

Nhờ Ơn Trên bổ báo phước lành.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

GẮNG

Gắng là đem sức ra nhiều hơn bình thường để làm. Như: Gắng công, gắng sức, gắng chí.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Mỗi bậc phẩm đều đặng một vai tuồng của Ðấng cầm quyền thế giới ban cho, dầu thanh cao, dầu hèn hạ, cũng phải gắng làm cho rồi trách nhậm, hầu buổi chung cuộc, hồn lìa cõi trần, đặng đến nơi khởi hành mà phục hồi công cán.

Bền dạ tua thìn trau đạo Thánh,

Ra công khá gắng đắp nền nhân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Mùi đạo gắng giồi lòng thiện niệm,

Duyên may tìm lại phẩm ngôi xưa.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

GẮNG CÔNG

Gắng: Lấy sức ra nhiều hơn bình thường để làm việc. Công: Việc khó nhọc, công sức.

Gắng công là đem hết công sức ra cố làm việc. Như: Gắng công mài sắt có ngày nên kim.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Có câu nầy nữa: Mọi sự khó khăn Thầy gánh vác, chỉ cậy các con thương yêu, gắng công độ rỗi.

Ví muốn tu thân nhồi quả trước,

Gắng công sau sẽ đến cùng Ta.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tịnh tâm con khá gắng công tu,

Cái nợ duyên kia chớ vận trù.

(Đạo Sử).

Út eo nhưng hiểu giữ bền lòng,

Trinh liệt thờ chồng đã gắng công.

(Đạo Sử).

 

 

GẮNG CÔNG MÀI SẮT

Gắng công: Bỏ công sức nhiều hơn bình thường. Mài sắt: Đem sắt mài thành vật hữu dụng.

Gắng công mài sắt, bởi câu Tục ngữ Việt Nam: “Gắng công mài sắt, có ngày nên kim” dùng để nói người có chí cố gắng thì ắt có ngày sẽ thành công.

Đồng nghĩa với câu thành ngữ “Hữu chí cánh thành 有 志 更 成”.

Do điển: Lý Bạch lúc chưa nên nghiệp, thường muốn bỏ dở việc học. Một hôm, đi đường gặp một bà già đang mài cái dùi sắt, Lý Bạch hỏi mài để làm gì, bà ấy đáp mài để làm cây kim. Lý Bạch liền tỉnh ngộ, trở về tiếp tục học hành lại. Sau trở thành một đại thi hào đời nhà Đường.

Xem: Sắt mài nên kim.

Học hành tua gắng công mài sắt,

Có thuở trong kim, thét đặng vàng.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

GẮNG CHÍ

Gắng: Đem sức ra nhiều hơn bình thường để làm việc. Chí: Ý quyết làm việc gì.

Gắng chí là cố gắng đem hết ý chí ra để làm việc.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy: Cảnh gia đình phải tiên liệu. Thầy để lời con tua gắng chí, chừng sửa luật phải có mặt nơi Thánh Thất.

Tích đức để lòng trau khổ hạnh,

Diệt phàm gắng chí thoát mê tân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Bên mình sầu vướng khá âu lo,

Bước nhọc đường gay gắng chí dò.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Gắng chí tập lần thân cực nhọc,

Bền gan tu luyện mới là nên.

(Đạo Sử).

 

 

GẮNG GƯỢNG

Gắng: Đem sức ra nhiều hơn bình thường để làm. Gượng: Gắng chịu đựng để làm khi không còn đủ sức.

Gắng gượng là gượng gạo để làm, vì thiếu điều kiện, vì sức đang yếu, hoặc vì có tâm trạng buồn.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Cả cái khổ não trong đó nó có trách nhiệm của mấy em tự đào tạo, mấy em gắng gượng đi, đừng cho ngọn thuỷ triều lôi cuốn mấy em thì chính mình chúng Qua cũng có thể tránh khỏi, vì bởi thấy mấy em chìm đắm trong đó chúng Qua mới lội lặn theo, nếu mấy em không chìm đắm ai biểu mấy Qua lội lặn theo mấy em cho được, quyền nào mà biểu đặng.

Càng sợ hở thung huyên phiền muộn,

Thảm bao nhiêu gắng gượng làm vui.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Vui là gắng gượng làm vui,

Cái vui cùng trẻ là hồi ai bi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GẮNG HỌC

Gắng: Đem công sức ra nhiều hơn để làm việc. Học: Thu nhận kiến thức, luyện tập kỹ năng.

Gắng học là cố gắng học tập. Như: Gắng học cho thành tài.

Thánh giáo Thầy trong Thánh Ngôn Sưu Tập có dạy: Trung! Con hiệp với Mỹ Ngọc cho lịnh đặng biểu môn đệ Thầy, đứa nào có thể giúp về Nhạc đặng thì gắng học cho đủ mà dùng, khỏi nhọc lòng cầu nơi ngoài.

Dạy gắng học sáu thao ba lược,

Hầu có ngày rộng bước phong vân.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

GẮNG LO

Gắng: Đem công sức ra nhiều hơn để làm việc. Lo: Suy tính, định liệu công việc.

Gắng lo là cố gắng lo lắng mọi việc.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Hội Thánh hằng để ý chăm nom dìu dắt quý vị, Chức Sắc giảng viên không nài khó nhọc ra công chỉ dẫn, dạy dỗ đàn em cho có đủ tài, đủ hạnh hầu phục vụ đắc lực nhơn sanh trên đường tu hành thì quý vị nên gắng lo trau giồi trí thức cho được minh mẫn sáng suốt để ngày sau có thể lập vị xứng đáng cho mình trong cửa Ðại Ðạo.

Sự nào nên thi hành thì hiệp lòng sanh chúng, gắng lo chung nhau mà làm cho Ðạo đặng có phẩm giá tối cao tối trọng...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

GẮNG SỨC

Gắng: Dùng sức nhiều hơn bình thương để làm việc. Sức: Sức lực, tức sức mạnh của thân thể khi làm việc.

Gắng sức là cố gắng làm việc.

Thánh giáo Thầy có dạy: Sanh ra phận làm người, đã mang vào mình một trách nhậm đặc biệt, phải gắng sức làm cho hoàn toàn, hầu chờ buổi chung quy tương công chiết tội, tiêu quả tiền khiên, mà nâng mình vào địa vị cao thượng hơn phẩm vô vị chốn sông mê nầy.

Mày râu đứng giữa cõi trần gian,

Gắng sức chống cho vững miếu đàng.

(Giới Tâm Kinh).

Gắng sức trau dồi một chữ Tâm,

Ðạo đời muôn việc khỏi sai lầm.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Lòng con nguyện Cao Đài gắng sức,

Diệt khảo lòng nắn đúc chí con.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

GẶP

1.- Gặp là giáp mặt nhau, tức là hai bên cùng có mặt, cùng có tại một nơi nào đó tiếp xúc nhau.

Thanh Tâm Tài Nữ trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Cái oan nghiệt kiếp sanh đáng ghê sợ chưa bằng không gặp mặt Chí Tôn, vì lẽ ấy mà biết bao nhiêu Tiên, Phật hạ trần chịu khổ.

Nhớ con cháu còn lâu kiếp sống,

Dầu gặp hình như bóng sá chi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Hễ thiệt thương ắt gặp người thương,

Khi giao mặt kỉnh nhường câu tuyết ngọc.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Gặp còn có nghĩa là vừa đến, gặp lúc, được lúc, như gặp may, được dịp.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy rằng: Ta nói cho chúng sanh biết rằng: Gặp Tam Kỳ Phổ Ðộ nầy mà không tu thì không còn trông mong siêu rỗi.

Đừng gặp việc câu mâu biếng nhác,

Mà quên lời phú thác dặn dò.

(Kinh Sám Hối).

Gặp được nẻo ngay, đời có mấy?

Thìn lòng khối ngọc tạo nên gương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tu như cỏ úa gặp mù sương,

Ðạo vốn cây che mát mẻ đường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

GẶP DỊP

Gặp: Ở vào khoảng thời gian nào đó. Dịp: Cơ hội.

Gặp dịp là được cơ hội thuận tiện, hay gặp thời.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Thầy dạy Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu có câu: Thượng Phẩm và “con nó”, tuy đã nơi căn xưa, nhưng đã đặng gặp dịp để hy sinh tánh mạng vì nền Đạo cao thượng ở cõi Nam rất quý hoá thay, há chẳng đặng ngàn năm nêu tiếng sao?

Mình biết Đạo hằng ngày gặp dịp,

Đặng dạy con nề nếp làm người.

(Phương Tu Đại Đạo).

Chồng hoang đàng cũng cứ làm thinh,

Chờ gặp dịp cho rinh ống xoáy.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

GẶP GỠ

Gặp: Cùng có mặt, cùng có tại một địa điểm để giáp mặt, tiếp xúc với nhau khi đến từ những hướng khác nhau.

Gặp gỡ là gặp nhau giữa những người có quan hệ ít nhiều thân mật.

Thánh giáo Thầy có câu: Một nhà sau gặp gỡ, ngàn trước vẫn an vui. Ấy là nhứt môn hạnh phúc vậy. Thầy ban ơn các con.

Mừng thay gặp gỡ Ðạo Cao Ðài,

Bởi đức ngày xưa có buổi nay.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Kìa chùa cũ nóc hư muốn sập,

Nơi đôi ta lén gặp gỡ nhau.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Lời vàng trao đổi từ đây dứt,

Giấc mộng hoạ chờ gặp gỡ nhau.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

GẮT

Gắt là dữ dội, ở mức độ cao và có tính chất quyết liệt. Như: Gắt gao, kiểm soát gắt, phê bình gắt.

Hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh trong quyển Thiên Đạo có câu: Thành thật với mình là lấy công tâm xét đoán mình: từng lời nói, từng ý tưởng, từng hành vi của mình, nhứt nhứt phải xét xem gắt gao kỹ lưỡng, để nhận thấy chỗ hay chỗ dở.

Hạnh hiền đức mỗi ngày mỗi nhắc,

Thói bạo tàn làm gắt chẳng nghe.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

GẮT GAO

Gắt: Dữ dội, có tính chất quyết liệt, kịch liệt.

Gắt gao là dữ dội, quyết liệt, ở mức độ khác thường, gây cảm giác căng thẳng.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Vì cớ, nên việc hôn nhân nơi nước ta có vẻ nghiêm khắc, truyền lại làm căn bản Tôn giáo trong nước, dùng khuôn khổ trọng nghiêm ấy đặng định luật, thì ta chẳng còn ngạc nhiên, hỏi bởi cớ sao luật nhơn luân lại gắt gao như vậy?

Chớ hiểm độc dạ lang lần lựa,

Nhơn thất mùa bế dựa gắt gao.

(Kinh Sám Hối).

 

 

GẶT

Gặt là cắt lúa chín, thu hoạch một sản phẩm, hay nhận chịu điều gì xảy đến.

Như: Cánh đồng lúa đã gặt xong, mùa gặt hái, gieo gió gặt bão.

Thanh Tâm có câu dạy: Ruộng sẵn, giống sẵn, cày bừa sẵn, duy có ra công làm cho đất phì nhiêu đặng cho buổi gặt hưởng nhờ mà không chịu làm, thế thì phải diệt tận chơn linh.

Chịu cực khổ đắng cay biết mấy,

Cuốc, cày, bừa, gieo, cấy, gặt, đong.

(Kinh Sám Hối).

Phải chăm nom cấy, gặt, đập, dê,

Nuôi công đủ mọi bề đừng thiếu thốn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

GÂY

Gây là làm cho nảy sinh, phát sinh, nhóm lên. Như: Trồng cây gây rừng, vi trùng gây bệnh.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: hoạ Âu tai Á sẽ vì nơi Thiên thơ mà sát phạt, gieo sầu để thảm cho những giống dân nào đã vì hung bạo mà gây nên điều thán oán khắp cả Càn khôn nầy.

Trần thế hầu gây náo nhiệt trường,

Lánh nguy nguồn Ðạo vẹn tìm phương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Bố hoá người đời gây mối đạo,

Gia ân đồ đệ dựng nền nhân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trăm năm chưa giữ bền thân sống,

Một kiếp đã gây lắm tội đời.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

GÂY CẤN

Gây: Làm cho nảy sinh, phát sinh. Cấn: Vướng, mắc.

Gây cấn là làm cho phát sinh ra chuyện vướng mắc lẫn nhau.

Như: Tình cảm hai người đã gây cấn từ lâu rồi, chuyện nầy nhiều gây cấn lắm.

Tu là thật sự mà vui,

Chuyện chi gay cấn cũng xuôi cho rồi.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

GÂY HẤN

Gây: Tạo nên, làm ra. Hấn: Hiềm khích.

Gây hấn là gây xung đột đổ máu nhằm tạo ra hiềm khích mà sinh ra đánh nhau, hoặc làm nổ ra chiến tranh.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Ban sơ, sau buổi đồ lưu Bần Đạo trở về cố quốc, thấy tình hình của nước nhà đang ở trong một tấn tuồng không thể tưởng tượng được, chủ quyền của nước thì không có, giặc giã chiến tranh tàn phá, lúc đó nước ta ở trong tình trạng chánh thể quốc gia tiêu huỷ, hai dân tộc Pháp Việt đang gây hấn chiến tranh, nhân dân thống khổ trong vòng binh cách, hai lý tưởng chia rẽ thiên hạ là đôi đường chiến đấu đang giành giựt chủ quyền nước nhà vô chủ để mặt cho ai đồ vương tranh bá.

Đời còn gây hấn cạnh tranh,

Đạo thì gió mát trăng thanh bạn cùng.

(Thơ Hộ Pháp).

Hoá giải tỵ hiềm gây hấn dứt,

Phúc Thần tìm đến đúng như lời.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

GÂY MẦM

Gây: Làm cho phát sinh, nảy sinh. Mầm: Bộ phận mới nhú ra từ hạt, củ để về sau trở thành cây.

Gây mầm là làm cho nảy mầm. Như: Ủ hạt giống để gây mầm.

Gây mầm còn có nghĩa làm phát sinh ra sự việc. Như: Gây mầm chia rẽ, gây mầm chiến tranh.

Giáo lý ấy đáng lẽ phải đem lại hoà bình và tương ái cho loài người, nhưng trái lại nó gây mầm chia rẽ và chiến tranh.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

GÂY OÁN CHÁC HỜN

Gây oán: Tạo nên thù oán với nhau. Chác hờn: Rước lấy oán hờn.

Gây oán chác hờn, đồng nghĩa với câu “Gây oán chuốc hờn”, có nghĩa là tạo nên thù oán để rước lấy những điều oán hờn với nhau.

Quanh năm gây oán chác hờn,

Chẳng tin Thiên địa tuần huờn chí công.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

GÂY OÁN CHUỐC HỜN

Gây oán: Tạo nên thù oán với nhau. Chuốc hờn: Rước lấy oán hờn.

Gây oán chuốc hờn ý nói gieo những mối thù oán để phải rước lấy những sự oán hờn.

Đừng ham gây oán chuốc hờn,

Phải hơn đạo đức chớ hơn tài tình.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

GÂY RỐI

Gây: Làm cho nẩy sinh, phát sinh. Rối: Ở tình trạng không yên ổn, không bình thường.

Gây rối là tạo nên sự rối loạn, không yên ổn trong một tập thể.

Như: Vào Đạo mục đích là để tu hành thì không nên gây rối trong Đạo.

Kẻ vào Đạo chỉ mưu việc quấy như vậy là muốn gây rối cho nền Đạo, tức là kẻ nghịch Đạo đó.

(Phương Châm Hành Đạo).

 

 

GÂY SỰ

Gây: Làm cho nảy sinh, phát sinh, gợi lên, nhóm dậy. Sự: Việc, chuyện.

Gây sự là gây ra chuyện, tức làm xảy ra chuyện cãi nhau hoặc đánh nhau. Như: Chuyện nhỏ mà nó cố tình làm ra to để gây sự.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Người ở trong vùng Thánh Ðịa dù là Chức Sắc hay Tín hữu cũng đồng con cái của Ðức Chí Tôn, nên không thể thiếu lòng thương yêu được, mỗi cá nhân không nên chiều theo thị dục mà gây sự tranh chấp hơn thua với nhau, gây nên kiện tụng liên miên, tạo ra cảnh rối loạn như ở bến chợ đời.

Nhằm điều lành dầu lỗi cũng chở che,

Gây sự dữ cứ chê đè cho bỏ ghét.

(Phương Tu Đại Đạo).

Lưỡi liềm chi dễ sánh kim câu,

Gây sự bởi ai tạo buổi đầu.

(Quyền Giáo Tông Giáng).

 

 

GÂY THÀNH

Gây: Phát sinh, tạo ra. Thành: Nên.

Gây thành, như chữ “Tạo nên”, là phát sinh ra, tạo ra.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Tự cổ chí kim, vì không giữ mình được trong sạch cho nên con người phải chịu làm nô lệ cho xác thịt để cho dục vọng lôi cuốn gây thành tam nghiệp, tức là thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp, phải chịu chìm đắm trong vòng sanh tử luân hồi...

Ngày chung quy chỉ đem về Thầy một chữ Tâm và những công nghiệp đã gây thành cho sanh chúng.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

GÂY THÙ KẾT OÁN

Gây thù: Tạo nên mối thù hận. Kết oán: Kết thành điều hờn oán.

Gây thù kết oán là tạo nên mối thù oán.

Như: Người tu hành phải giữ tâm lành không nên gây thù kết oán.

Đời hiếp lẫn nhau bởi chẳng tu,

Gây thù kết oán chác ưu sầu.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

GẦY

1.- Gầy là kém phát triển, ý nói thân thể người hoặc vật ở trạng thái đưa xương ra, do ít thịt, ít mỡ, trái với béo.

Như: Gầy còm, gầy gò, gầy mòn, mai gầy, liễu gầy.

Thánh giáo Thầy có câu: Lần lựa cúc xủ sương tan, mai gầy sen nở, ngày tháng qua chẳng là bao mà thế thái nhơn tình biết bao thay đổi!

Búng cơm nắm thịt tình nên thẳm,

Giọt sữa gầy xương nghĩa quá dài.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Gầy là gây dựng cho thành, tức tạo ra cái cơ sở để từ đó làm tiếp cho thành hình. Như: Gầy sự nghiệp.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có đoạn dạy: Tuỳ theo phong hoá của nhơn loại mà gầy Chánh giáo, là vì khi trước Càn vô đắc khán, Khôn vô đắc duyệt, thì nhơn loại duy có hành đạo nội tư phương mình mà thôi.

Một tiếng than van thân cực nhọc,

Một oan chẳng chịu muốn gầy hai.

(Đạo Sử).

Cột thân ái cậy lòng đạo đức,

Gầy từ tâm gắng sức ôn nhu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GẦY DỰNG

Gầy: Gây dựng cho thành, tức tạo ra cái cơ sở để từ đó làm tiếp cho thành hình. Dựng: Lập thành, xây nên.

Gầy dựng, như chữ “Gây dựng”, là tạo nên cái có cơ sở để từ đó phát triển lên.

Thánh giáo Đức Chơn Cực Lão Sư trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Chư đạo hữu phải lọc lừa lại, tìm người có tâm chí kết liên thân ái, chung hiệp nhau, bỏ sự lãng phí, dụng đồng tài nơi giọt mồ hôi, được tích thiểu thành đa, gầy dựng một cái nhà chung, để ngày phong võ nương dựa được thung dung, ngồi ngắm thế sự và chấn hưng mối Ðạo quý hoá.

Từ thử nước Nam chẳng Ðạo nhà,

Nay Ta gầy dựng lập nên ra.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðầy đủ đừng toan để đến tràn,

Công trình gầy dựng nghiệp nhà an.

(Đạo Sử).

Ngọn lửa tinh trung định Nguyễn Trào,

Nam Bang gầy dựng lắm công lao.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

GẦY NÊN

Gầy: Gây dựng cho thành, cho bắt đầu thật sự tồn tại. Nên: Thành.

Gầy nên, như chữ “Gầy dựng”, là tạo ra cái cơ sở để từ đó phát triển lên.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bần Đạo đã có dịp thuyết minh rằng, con người bao giờ cũng phải sống tập đoàn đặng bảo vệ cái sống cho nhau mới gầy nên quốc gia xã hội, cái đại thể đó nó thành ra toàn thể nhơn loại, Bần Đạo nói giờ phút nầy cả toàn thể nhơn loại lại còn mong rằng họ sống tập đoàn với nhau trong đại thể của nhơn loại mà chớ.

Cao quyền khó kiếm đặng cao ngôi,

Ðạo đức gầy nên đã phải hồi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Sanh tài thì nghiệp cũng gầy nên,

Toan tính ra sao kế vững bền.

(Đạo Sử).

Cửa đạo đức gầy nên hạnh phúc,

Chốn non sông tạo chút nữ hùng.

(Ngũ Nương Giáng Bút).

 

 

GẦY TẠO

Gầy: Gây dựng cho thành, cho bắt đầu thật sự tồn tại. Tạo: Dựng nên, làm ra.

Gầy tạo là tạo ra, gây dựng nên.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Mở đạo nơi Chùa Gò Kén Đại Từ Phụ vẫn để cho quỷ tàn phá giữa đại đàn, Ngài mở rộng cho ba phần chơn hồn ấy. Biểu sao quỷ không trọn quyền dự thí để phá hoại làm cho cả đức tin thiên hạ gây thêm một trường chống báng chê bai khinh rẻ, chẳng khác nào như vừa cất lên một cái đài vinh dự, Ngài cho kẻ nghịch thù của Ngài tàn phá tiêu huỷ, rồi phải lo tu tạo lại như buổi ban sơ, phải mất cả hai năm truyền bá gầy tạo tinh thần của con người lại, vì lẽ ấy cho nên tâm lý của nhơn sanh phải mờ hồ.

Đạo đời tô điểm thêm xinh lịch,

Gầy tạo lửa hương trọn chủ quyền.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

GẬY

Gậy là đoạn tre hay gỗ tròn vừa cầm tay, thường dùng để chống khi đi lại hoặc để đánh.

Như: Cha chết thì chống gậy trúc, mẹ chết thì chống gậy vông, đánh cho nó một gậy.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Hai năm sau, đến tháng tư năm Nhâm Tuất đời vua Kinh Vương tức là năm 478 trước Tây lịch kỷ nguyên, một hôm Ðức Khổng Tử dậy sớm, đi vẩn vơ trước cửa, tay kéo lê cây gậy mà hát rằng: “Núi Thái Sơn có lẽ đổ chăng? Người triết nhân có lẽ nguy chăng? Cây lương mộc có lẽ nát chăng?”

Tanh hôi mình mẩy vấy đầy,

Trồi lên hụp xuống gậy cây đánh đầu.

(Kinh Sám Hối).

Biết phận già không chờ chống gậy,

Nương theo con dại mới ra vầy.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trước thềm có lão ưa nương gậy,

Bên cạnh thêm người đứng vuốt râu.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

GẬY SẮT

Gậy: Đoạn tre hay thanh sắt vừa cầm tay, thường dùng để chống khi đi lại hoặc để đánh. Sắt: Chất kim loại màu xám, cứng.

Gậy sắt là một cây gậy phép của vị Tiên, trong Bát Tiên ở núi Bồng Lai, đó là Lý Ngưng Dương, tục gọi Lý Thiết Quả (Quày).

Xem: Bát tiên.

Bầu linh khổ hải đưa thiêu cạn,

Gậy sắt nhơn sanh chống dắt dìu.

(Quyền Giáo Tông).

Bầu linh gậy sắt ông an thế,

Chày Gián Xử Ma tớ giúp đời.

(Thơ Hộ Pháp).

Gậy sắt tay nâng Thánh thể dìu,

Nam du tròn vẹn quả căn tiêu.

(Thơ Cao Tiếp Đạo).

 

 

GẬY VÔNG

Gậy: Đoạn tre hay gỗ vừa cầm tay, thường dùng để chống khi đi lại hoặc để đánh. Vông: Cây to, có gai thuộc họ đậu, gỗ xốp và nhẹ, lá dùng gói nem.

Gậy vông là cây gậy làm bằng vông đồng, dùng để nương tựa trong những ngày tang lễ cho bà mẹ qua đời.

Mẹ chết người con chống gậy vông là thể hiện tiết hạnh bên trong và đầy lòng từ ái của bà mẹ. Cây gậy dài ngắn tuỳ theo người cao thấp, phải đo từ dưới đất lên chí yếm tâm là được, có ý nghĩa là chủ ở tâm bi ai.

Gậy vông con tựa khơi niềm tục,

Linh cữu thuyền đưa nuốt tiếng than.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

GẤM

1.- Gấm là hàng dệt bằng tơ lụa nhiều màu hoa đẹp.

Như: Gấm lót đường, con gái sang ăn mặc toàn là gấm vóc lụa là.

Thương Tô Huệ hằng ngày dệt gấm,

Dâng tâm trung vào tận đền rồng.

(Thất Nương Giáng Bút).

Dệt gấm Hồi văn chưa, đã mấy,

Hơn ngồi trươu nuốt tấm tình si.

(Thiên Thai Kiến Diện).

2.- Gấm còn dùng để chỉ sự đẹp đẽ, sang trọng. Như: Hoa gấm, đẹp như gấm thêu.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Hôm nay trước khi nhắc lại những võ công oanh liệt của Đức Cao Hoàng, một giọt máu của dòng họ Nguyễn, một bực anh hùng đã không nài vào sanh ra tử, khổ sở gian lao để tạo lên một san hà như hoa như gấm chạy dài từ cửa Nam Quan đến mũi Cà Mau, mà chúng ta con cháu của Ngài được thừa hưởng ngày nay.

Thu nguyệt mây phô tờ gấm trải,

Tà dương vàng rắc lối hoa mơ.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

GẤM LÓT ĐƯỜNG

Gấm: Thứ hàng dệt bằng tơ, có bông hoa và nhiều màu sắc. Lót đường: Trải dài đường dẫn vào nhà.

Gấm lót đường, đồng nghĩa với câu “Gấm lót ngõ”, ý nói nhà giàu sang, có nhiều của cải, chỉ người quý phái.

Xem: Gấm lót ngõ.

Hoa phong nhụy cung Tiên cũng mến,

Gấm lót đường trọng tiếng cũng nhơ.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GẤM LÓT NGÕ

Gấm: Thứ hàng dệt bằng tơ, có bông hoa và nhiều màu sắc. Lót ngõ: Trải dài từ ngoài cửa ngõ dẫn vào nhà để đi.

Gấm lót ngõ là lấy gấm lót từ ngoài ngõ vào nhà, ý chỉ nhà giàu sang, hoặc chỉ người quý phái.

Gấm lót ngõ chưa vừa gót ngọc,

Vàng treo nhà ít học không ưa.

(Bài Thài Tứ Nương).

 

 

GẤM NHIỄU

Gấm: Thứ hàng dệt bằng tơ, có bông hoa và nhiều màu sắc. Nhiễu: Thứ hàng tơ, mặt nổi cát.

Gấm nhiễu là hai loại hàng tơ, quý, sang trọng. Như: Gấm nhiễu lụa là.

Gấm nhiễu kim thời khoe mỹ lệ,

Vải bô cổ tục lựa phô trang.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

GẤM THÊU

Gấm: Thứ hàng dệt, có hoa, nhiều sắc. Thêu: Đính chỉ vào mặt hàng tơ, vải theo các hình.

Gấm thêu, như chữ “Cẩm tú 錦 繡”, tức là gấm thêu hoa, chữ dùng để ca tụng lời nói hoa mỹ hay văn chương đẹp đẽ.

Gấm thêu đồng nghĩa với câu thành ngữ “Cẩm tâm tú khẩu 錦 心 繡 口”, chỉ lời nói văn chương, hoa mỹ.

Xem: Cẩm tâm tú khẩu.

Bảy tháng gấm thêu lời nhỏ nhẹ,

Ghi tâm khắc cốt trọn đời thôi.

(Đạo Sử).

 

 

GẤM THÊU HOA

Hay “Gấm đẹp thêu hoa”.

Gấm: Thứ hàng dệt, có hoa, nhiều sắc. Thêu hoa: Thêu thùa bông hoa.

Gấm thêu hoa hay “Gấm đẹp thêu hoa”, có nghĩa bức gấm đã đẹp lại còn thêu thêm hoa vào đó thì trông càng đẹp hơn. Nghĩa bóng: Đã đẹp lại càng đẹp hơn.

Gấm thêu hoa, đồng nghĩa với thành ngữ “Cẩm thượng thiêm hoa 錦 上 添 花” tức là “Như gấm thêu hoa”.

1.- Gấm thêu hoa:

Gấm thêu hoa càng nhìn càng đẹp,

Đức thêm tài chẳng hẹp đường tu.

(Tứ Nương Giáng Bút).

2.- Gấm đẹp thêu hoa:

Gấm đẹp thêu hoa vẻ tốt tươi,

Thiên tư vốn sẵn có tay Trời.

(Đoàn Thị Điểm Giáng).

 

 

GẤM VÓC

Gấm: Một loại hàng tốt và quý, dùng để may mặc. Vóc: Hàng tơ có hoa nổi.

Gấm vóc dùng để nói những thứ quý giá, đẹp đẽ mà con người thường ham muốn.

Gấm vóc còn dùng để ví vẻ đẹp của đất nước. Như: Cửa hàng toàn lụa là và gấm vóc, non sông gấm vóc.

Giang san gấm vóc bề chơn vạc,

Đảnh tộ Việt Thường vững bốn phương.

(Thơ Thân Dân).

 

 

GẪM

Gẫm là ngẫm, nghĩ ngợi, tức nghĩ đi nghĩ lại kỹ càng để đánh giá hay kết luận. Như: Suy gẫm.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có đoạn: Các con chưa biết sự quý trọng ấy, mà đến ngày biết lại ăn năn đã muộn. Các con phải gẫm những Thánh ngôn của Thầy cho lắm và liệu lấy mà xét mình.

Tử sanh, sanh tử là chi?

Gẫm trong giấc mộng cũng bì như nhau.

(Kinh Thế Đạo).

Nên hư cuộc thế gẫm thường tình,

Ðừng mỗi muôn điều đổ Chí Linh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

GẦN

1.- Gần là liền, giáp, không xa. Như: Đường gần, đứng gần nhau, gần đất xa trời.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Các con hiền mà dữ, các con yếu mà mạnh, các con nhỏ nhoi mà là quyền thế, các con nhịn nhục mà các con hành phạt, cử chỉ các con khá tập sao cho nghịch với cử chỉ thế tình thì là gần ngôi Tiên, Phật đó.

Chi lan mọc lẫn cỏ hoa thường,

Chẳng để mũi gần chẳng biết hương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nâu sòng khổ hạnh phép gần Tiên,

Như bước ướt chơn mới đến thuyền.

(Đạo Sử).

2.- Gần là sắp sửa. Như: Gần đến ngày thi, gần đến bữa ăn, Tết gần đến rồi.

Thánh giáo Thầy có câu: Ngày xuân gần mòn mỏi, khá sớm biết trau xuân, ấy là phương châm dẫn đàng khách phồn hoa vào nơi Cực Lạc.

Cứ mến vinh huê cùng lợi lộc,

Chẳng lo kiếp thác đến gần nơi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðạo hạnh khuyên con gìn tánh đức,

Cửa Cung Bạch Ngọc đã gần khai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Bính niên canh hạn đã gần qua,

Hết buổi lưu linh tới có nhà.

(Đạo Sử).

 

 

GẦN ĐIỀU NÊN LÁNH LẼ HƯ

Trong Nho giáo, Mạnh Tử cho rằng: Nhân chi sơ tính bản thiện, tính tương cận tập tương viễn 人 之 初, 性 本 善. 性 相 近, 習 相 遠, nghĩa là con người sinh ra tính vốn lành, vì tập nhiễm xã hội nên tính của con người trở nên bất thiện.

Do vậy lời kinh mới dạy “Gần điều nên, lánh lẽ hư”, tức là ta phải thân cận với người lành, việc lành, đặng học hỏi những sở hành hay tánh tình của người lành; phải tránh xa những người hung dữ, các thói xấu, trừ bỏ những việc hư tệ.

Tục ngữ Việt Nam cũng có câu: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”, để khuyên ta cẩn thận trong vấn đề giao tiếp, nên thân cận với người tốt, xa lánh với kẻ xấu. Ta thử trộn hai màu đen trắng lẫn nhau, màu trắng sẽ bị màu đen lấn át, Cũng vậy, hai mùi thơm thúi giao nhau, hương thơm sẽ mất mùi. Vì thế, ông Thái Công mới dạy rằng: Cận chu giả xích, cận mặc giả hắc, cận hiền giả minh, cận tài giả trí, cận si giả ngu, cận lương giả đức, cận nịnh giả siểm, cận thâu giả tặc 近 朱 者 赤, 近 墨 者 黑, 近 賢 者 明, 近 才 者 智, 近 癡 者 愚, 近 良 者 德, 近 佞 者 諂, 近 偷 者 賊, nghĩa là gần son thì đỏ, gần mực thì đen, gần người hiền thì sáng, gần người tài thì trí, gần kẻ ngây thì dại, gần người lành thì có đức, gần người trí thì thông minh, gần kẻ ngu thì ám muội, gần kẻ nịnh thì bợ đỡ, gần kẻ trộm thì sinh giặc.

Thánh nhân xưa cho bạn bè là một trong đạo ngũ luân, cho nên người không thể thiếu bạn. Nhưng nếu không kỹ lưỡng kết giao với bạn không có đức hạnh chỉ có hại mà không có ích. Như làm bạn với người không trung thực còn nguy hơn là người thù trước mặt. Người thù ta biết được mà tránh, bạn không trung thực như một quả bơm ở cạnh ta, nổ lúc nào đều không hay.

Thánh nhân cũng thường nói: Dữ hảo nhân xử như vụ lộ trung hành, tuy bất thấp y, thời thời tư nhuận; dữ vô thức giả xử như bào ngư tứ trung toạ, tuy bất ô y, thời thời văn xú 與 好 人 處 如 霧 露 中 行, 雖 不 濕 衣, 時 時 滋 潤, 與 無 識 者 處 如 鮑 魚 肆 中 坐, 雖 不 污 衣, 時 時 聞 臭, nghĩa là ở gần với người tốt, như đi giữa đám mù sương, tuy chẳng ướt át mà dầm thấm mát mẻ. Còn ở chung với người không biết lẽ phải, thì cũng như ngồi giữa hàng cá ươn, dầu chẳng dơ áo, mà nghe mùi hôi thúi. Khổng Tử Gia Ngữ cũng có câu: Dữ thiện nhân cư như nhập chi lan chi thất, cửu bất văn kỳ hương, tức dữ chi lan hoá 與 善 人 居, 如 入 芝 蘭 之 室, 久 不 聞 其 香, 即 與 之 俱 化, nghĩa là cùng ở với người hiền, như vào nhà trồng chi lan, lâu ngày không thấy mùi thơm, đã cùng hoá theo mà không biết.

Người xưa cũng thường nói: Thân cận với người hiền như lấy giấy gói xạ hương. Vì mùi thơm của xạ hương mà giấy được thơm lây. Gần người xấu như dùng giấy gói tôm cá, giấy tuy trong sạch, nhưng cũng đượm mùi hôi tanh.

Tóm lại, trên đời nầy chỉ có hai con đường để đi: Tốt xấu, lành dữ, để cho con người tuỳ ý chọn lựa, song muốn thành công trong sự nghiệp và làm người có tư cách, có phẩm hạnh tốt thì phải “Gần điều nên lánh lẽ hư”.

Gần điều nên, lánh lẽ hư,

Nương gươm thần huệ đặng trừ nghiệt căn.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

GẦN GŨI

Gần: Không xa lắm.

Gần gũi là gần nhau, kế bên cạnh hay ở một bên.

Gần gũi còn đùng để chỉ gần nhau về quan hệ tình cảm hay họ hàng. Như: Có quan hệ họ hàng gần gũi.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thanh Tâm Tài Nữ có giáng cơ như sau: Ðã may duyên gần gũi hình bóng của Người (chỉ Đức Chí Tôn), ráng đặng gặp Người, kẻo sau ăn năn uổng lắm!

Ðạo cao phó có tay cao độ,

Gần gũi sau ra vạn dặm trường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nên hư một kiếp nhờ gần gũi,

Kẻ thiện học gương đặng sửa mình.

(Đạo Sử).

 

 

GẦN KỀ

Gần: Không xa lắm. Kề: Sát bên, cận bên.

Gần kề, như chữ “Cận kề”, là gần bên, gần sát bên.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Đức Thượng Phẩm giáng cơ có dạy: Trong giai đoạn gần kề, Bần đạo khuyên mấy em nam nữ ráng sức phấn đấu đem cả tâm nhiệt thành mà hy sinh cho sự nghiệp của toàn con cái của Đức Chí Tôn, cả cái hạnh phúc tương lai của đoàn hậu tấn cũng đều phải nhờ tay mấy em dày công xây dựng.

Tâm thần mỏi mệt ủ ê,

Khối sanh khi đã gần kề dứt hơi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GẦN XA

Gần: Có khoảng cách ngắn. Xa: Ở một khoảng cách tương đối lớn, trong không gian hoặc thời gian.

Gần xa là gần cũng như xa, chỉ khắp mọi nơi. Gần xa còn có nghĩa là hết chuyện (lẽ) nầy đến chuyện nọ, đủ cả mọi chuyện.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Hội Thánh đã từng nhắc cho bổn đạo ghi nhớ mấy lời nghiêm huấn này và mặc dầu ở trong hoàn cảnh bất túc, Hội Thánh chỉ nhờ nơi lòng trung hậu và sự hảo tâm của bổn đạo gần xa ra tay vùa giúp đỡ nâng.

Thầy lao lực tuỳ vừa trí trẻ,

Dạy cho thông mọi lẽ gần xa.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Sóng trần bể khổ mây mờ mịt,

Nghĩ nỗi gần xa lệ ứa dầm.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

GẤP RÚT

Gấp: Cần được làm trong thời gian ngắn, không được chậm trễ. Rút: Tăng nhịp độ hoạt động để làm giảm bớt thời gian hoàn thành công việc.

Gấp rút là mau vội, tức công việc cần được làm hết sức khẩn trương để có thể xong trong khoảng thời gian ngắn nhất.

Trong Pháp Chánh Truyền Chú Giải có câu: Bất kỳ chức sắc nào, dầu lớn nhỏ cũng vậy, khi Thông Sự có gặp việc cần dùng gấp rút trong khi hành chánh của Đạo thì buộc phải giúp đỡ binh vực.

Kẻ chống người chèo cơn gấp rút,

Em dìu anh dắt nẻo lần dò.

(Thơ Phạm Mộc Bổn).

 

 

GẬP GHỀNH

Gập: Làm cho một vật có nhiều khúc, nhiều lớp. Ghềnh (ghình): Vũng sâu có nước xoáy mạnh.

Gập ghềnh là không bằng phẳng, có những chỗ lồi lõm, khó đi.

Như: Đường lên núi gập ghềnh những đá.

Đường thế gập ghềnh chí cả,

Thuyền từ lắc lẻo vững tay chèo.

(Văn Tế Quyền Giáo Tông).

 

 

GẬP GHÌNH

Gập: Làm cho một vật có nhiều khúc, nhiều lớp. Ghình (ghềnh): Vũng sâu có nước xoáy mạnh.

Gập ghình, như chữ “Gập ghềnh”, là không bằng phẳng, có những chỗ lồi lõm, khó đi.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Môn đệ của Thầy nhiều đứa muốn bỏ đạo y, ném dép cỏ, lột khăn tu mà mong hồi tục thế. Bởi bước Ðạo gập ghình khó tới nên mới ra cớ đỗi. Bởi còn vướng bụi trần, ham mồi phú quý, mê chữ vinh sang mà ngán đạo.

Xem: Gập ghềnh.

Hụt chơn ván lại gập ghình,

Nhào đầu xuống đó cua kình rỉa thây.

(Kinh Sám Hối).

Còn chi hai chữ thái bình,

Ngửa nghiêng chín bệ, gập ghình ba châu.

(Ngụ Đời).

 

 

GẬT

Gật là cúi đầu để chào, để lạy, để gọi hay để tỏ ý ưng thuận, thích ý.

Như: Gật đầu chào bạn, gật đầu ra hiệu, anh ấy gật đầu là đồng ý rồi.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: Con làm lễ trúng, song mỗi gật con nhớ niệm Câu Chú của Thầy: Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.

Rón rén trước Phật ngồi cúi gật,

Mấy lạy trình mấy nấc tương tư.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GÒ KÉN

Gò: Đống đất to nổi cao lên. Kén: Một loại dây leo có lá xanh đậm, trái tròn như hột mít màu chín đỏ.

Gò Kén là một cái gò đất lớn có mọc nhiều cây kén, nên người dân gọi cái gò đất đó là Gò Kén. Gò Kén nằm trên quốc lộ Sài Gòn – Tây Ninh, cách tỉnh lỵ Tây Ninh khoảng 5 cây số.

Hoà Thượng Như Nhãn khi còn trụ trì chùa Giác Hải ở Phú Lâm, Chợ Lớn, có quyên tiền của bổn đạo, đến mua khu đất tại Gò Kén gồm bốn mẫu để cất ngôi Từ Lâm Tự, tục gọi là chùa Gò Kén.

Gò Kén dùng để chỉ ngôi chùa Phật “Từ Lâm Tự” của Hoà Thượng Như Nhãn.

Xem: Từ Lâm.

Hạ nguơn nay lễ đông vầy,

Nhớ xưa Gò Kén ngày nầy Đạo khai.

(Cội Đạo Bốn Mùa).

Từ Lâm Gò Kén điểm ban sơ,

Nơi Đức Cao Đài khởi giáng cơ.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

là lấy ngón tay hay cây dùi đập vào vật gì cho ra thiếng kêu liên tiếp.

Như: Gõ cửa, gõ mõ tụng kinh, gõ theo nhịp đàn.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Không gì khác hơn là bí pháp của Chí Tôn trụ thần, Bần Ðạo dám chắc rằng không ai biết, họ tụng kinh như hát mà thôi, không ai để hết tinh thần vào câu kinh, nên mấy thầy chùa mõ tụng kinh có ăn thua gì, trọng hệ là vị Hoà Thượng trụ trì ngồi hành pháp, nhưng không hiểu họ có biết mà làm y theo đó hay không?

Sách truyện xưa ghi đã lắm điều,

Như chuông tỉnh thế nên kêu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Đồng hồ nhặt canh chầy,

Vẩn-vơ hồn Đạo như say trong lòng.

(Thơ NĐS Hương Thanh).

 

 

GOÁ

Goá là người đàn bà có chồng chết gọi là goá chồng, hoặc người đàn ông có vợ chết, gọi là goá vợ.

Như: Cô ấy là người vợ goá của một thương binh, cô ấy ở goá nuôi con, mẹ goá con côi.

Chàng đã đặng phủi rồi nợ thế,

Xin hiển linh giúp kẻ goá thân.

(Kinh Thế Đạo).

Ngồi quạnh quẽ đèn tàn một bóng,

Chịu goá thân tuyết đóng song thu.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

GOÁ BỤA

Goá: Người đàn bà chết chồng, hay người đàn ông chết vợ.

Goá bụa thường nói riêng về người đàn bà chồng chết, sống cô đơn một mình. Như: Chị ấy là kẻ goá bụa.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Còn về Quân đội thì chúng ta đi làm mướn hy sinh tiện tặng sớt bớt ra để nuôi nấng mấy đứa con côi cút goá bụa, gánh vác học đường đào tạo đám thơ sinh, phải chịu ăn không no, mặc không lành mọi bề thiếu thốn.

Thôi vĩnh biệt cha về nước Chúa,

Mẹ còn đây goá bụa cô liêu.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

GOÁ PHỤ

Goá: Người có chồng hay người có vợ đã chết. Phụ: Đàn bà, con gái.

Goá phụ là người đàn bà có chồng đã chết. Như: Chồng chết ngoài mặt trận, cô ấy thành một goá phụ.

Tiếng dế canh trường buồn goá phụ,

Giọng ve ác xế khổ huyên thung.

(Thơ Thành Toại).

 

 

GÓC

Góc là khoảng không gian ở gần chỗ tiếp giáp của hai cạnh và nằm trong hai cạnh.

Như: Nhà nằm ở góc đường, kê tủ vào góc nhà sau, các ngả đường góc phố.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Viên tướng Tề dừng binh lại, đợi vua Tề đi tới quỳ tâu: “Nước Lỗ chưa thể đánh được. Quân ta mới tới biên giới, đã thấy một kẻ phụ nhơn ở xó rừng góc núi còn biết chẳng vì tình riêng mà hại nghĩa công huống chi là những bậc quan lại sĩ phu trong nước. Vậy xin kéo binh về là hay hơn.”

Tường quang chói rạng góc Trời Nam,

Phải vịn dấu Tiên, bỏ nết phàm.

(Đạo Sử).

Người có vợ chồng con cháu đủ,

Rần rần rộ rộ góc trời Tây.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

GÓC BIỂN

Hay “Góc bể”.

Góc: Khoảng không gian ở gần chỗ tiếp giáp của hai cạnh và nằm trong hai cạnh. Biển: Còn đọc bể, là khoảng rộng trên mặt đất, có nước mặn.

Góc biển (bể) ý chỉ nơi xa quê hương mình.

Thành ngữ Việt Hán có câu: “Hải giác thiên nhai 海 角 天 涯”, là góc biển chân trời, dùng để chỉ nơi xa xôi nhứt ở chơn trời.

Kẻ ở phương trời người góc biển,

Lòng thành nhắn gởi chữ khương ninh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

GÓI

Gói là bọc, bao, tức đùm kính và gọn thành một khối để bảo quản hoặc tiện mang đi.

Như: Gói quần áo, gói thuốc, gói quà, cuốn gói đi.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Cho hay một miếng khi đói bằng một gói khi no, nhà nghiêng nghèo thì lòng con thảo thêm sáng tỏ.

Chưa rõ chánh tà Trời với quỷ,

Cũng như cơm nước gói nên đùm.

(Đạo Sử).

Phụng lầu gác quyển chờ tiêu,

Gieo cầu cho đáng, nhiễu điều gói gương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GỌI

1.- Gọi là lên tiếng để kêu tên người nào hay con vật gì. Như: Kêu gọi, gọi chủ quán, gọi gà, sai người đi gọi công thợ.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Trong những giờ phút khó khăn, điên đảo; trong những hồi đen tối khuynh nguy, nếu vạn đắc dĩ, Hội Thánh phải để lời kêu gọi thì nhân sanh trong cửa Ðạo sẵn sàng hưởng ứng kẻ của người công xúm nhau đem khối nhiệt thành điểm tô cho cơ nghiệp Ðạo.

Câu kinh tiếng kệ gọi hồn,

Kêu thương khách tục, giải lòng người nhân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Vài trai đến gọi nói chi chi,

Vội rước ai ai đến tức thì.

(Thiên Thai Kiến Diện).

2.- Gọi là xưng hô, chỉ tên.

Như: Chỗ đó gọi là cảng, cái cốc trong Nam gọi là ly, miền Trung và Nam gọi ngô là bắp.

Thánh giáo Thầy có câu: Sự chết, thường thế gian gọi chết là hết, là vì dốt không biết đạo nên tưởng lầm.

Ký thành một cuốn gọi Thiên thơ,

Khai Ðạo muôn năm trước định giờ.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thông biết thế thời mới gọi thông,

Thông minh học Ðạo vẹn trau lòng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðược vàng chớ khá gọi là may,

Vàng hết tội kia chất dẫy đầy.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

GỌN GÀNG

Gọn: Không chiếm nhiều chỗ một cách vô ích, và có thứ lớp.

Gọn gàng là rất gọn, có được trật tự, có thứ lớp, không có chỗ nào dư thừa.

Gọn gàng còn có nghĩa là khéo léo, chỉ sự hoàn hảo trong việc thực hiện hoạt động nào đó.

Bắc cầu đắp sửa đường liền,

Kẻ qua người lại bước yên gọn gàng.

(Kinh Sám Hối).

 

 

GÓP

Góp là hợp nhiều phần lại làm một. Như: Góp vốn, góp tiền mua tặng phẩm.

Thánh giáo Thầy có đoạn dạy: Người mà biết Ðạo, ấy kẻ hữu phần, còn người chưa thấu đáo nền Ðạo, ấy là kẻ vô duyên. Hiểu há! Thầy cho phép cầu đạo, góp sớ.

Phàm tiếng giạ thì là một hạng,

Đừng đong non góp xáng giạ già.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

GÓP Ý

Góp: Đưa phần riêng của mình vào để cùng với những phần của người khác tạo thành cái chung. Ý: Ý kiến, tức điều suy nghĩ về việc gì đó.

Góp ý là góp ý kiến của mình vào công việc nào đó. Như: Làm việc gì cũng phải cần có sự góp ý.

Chẫm rãi bước đường xa chớ vội,

Góp ý hay mở lối cang thường.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

GÓP NHẶT

Góp: Họp nhiều phần lại làm một. Nhặt: Lưu từng cái mà nhón lấy.

Góp nhặt là tập hợp dần dần lại từng tí một.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Cái vốn Ðạo Ðức mà quý vị cố gắng góp nhặt và dành dụm, ngày sau sẽ giúp cho quý vị được mãn nguyện, vì quý vị sẽ đạt đến địa vị trọng yếu trong hàng Thánh Thể Ðức Chí Tôn và ngày đó quý vị sẽ không tiếc công học hỏi cần cù nơi Hạnh Ðường mà quý vị đang hiện diện trong cuộc Lễ Khai Giảng hôm nay.

Tấc son phong chặt niềm giao hảo,

Góp nhặt lời quê tạ mấy vần.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

GÓP NHÓP

Góp: Đưa phần riêng của mình vào phần chung với những người khác.

Góp nhóp là tập hợp dần dần lại từng ít một.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Thất Nương Diêu Trì Cung có dạy: Mấy năm công khó, anh em mình góp nhóp lượm lặt được bấy nhiêu Đạo hữu, nay xem dường có vẻ Đạo một ít, lại phải gặp hồi trắc trở, làm cho anh em một lúc bất bình.

Con phải lập cho thành một nền tư bổn, chung lo cùng môn đệ Thầy, ngày ngày hằng góp nhóp, tuỳ sức mỗi đứa...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

GÓP PHẦN

Góp: Hợp nhiều phần lại làm một. Phần: Số ở trong toàn số chia ra.

Góp phần là góp một phần, hay giúp một phần vào việc chung.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Với những nhà hảo tâm trong Ðạo cũng như ngoài mặt đời, để góp phần hỗ trợ cho Hội Thánh, với những Ðạo hữu công thợ trung thành với nhiệm vụ, vui lòng hiến công vào cuộc xây dựng nầy, Hội Thánh xin để lời thành thật cám ơn.

Giáo lý mong đem chỗ thực hành,

Góp phần phổ biến giữa nhơn sanh.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

GÓT

Gót là phần cuối sau bàn chân. Như: Gót chân, gót sen, gót giầy, thúc gót chân vào bụng ngựa.

Nói về bộ Đại phục của Đầu Sư Nữ phái, Thánh giáo có dạy: Cái Kim Cô có choàng từ đầu tới gót, đội mão Phương Thiên, trên chót Phương Thiên ngang đầu tóc có Thiên nhãn Thầy bao quanh một vòng Minh Khí, đi giày Vô ưu màu trắng, trên chót để chữ Hương, nghe à!

Gót chơn đưa rủi như sát mạng,

Vật hữu linh phàm nhãn khôn soi,

(Kinh Thế Đạo).

Ðộng đình trở gót lại ngôi xưa,

Tuổi ấy quy y nhắm đã vừa.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Dìu dắt đàn em sau nối gót,

Con đường đạo đức bước càng lên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

GÓT HÀI

Gót: Phần sau cùng của giày hoặc guốc, tiếp xúc với bàn chân. Hài: Giày.

Gót hài là gót giày, chỉ gót chân, hoặc chỉ sự đứng hay bước đi.

Khi mệt bước đường đời muốn đứng,

Nhờ vợ trinh mới cứng gót hài.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

GÓT LÂN

Gót: Phần sau cùng của bàn chân. Lân: Giống thú thuộc về tứ linh, mình hươu chân ngựa, đầu có sừng.

Gót lân tức là gót chân con kỳ lân.

Gót lân. bởi chữ “Lân chỉ 麟 趾”, trong thiên “Lân chi chỉ”, thuộc phần Chu nam trong Kinh Thi, nói về con cháu vua Văn Vương đều được giáo hoá tốt, chỉ dòng dõi quý phái, hay chỉ sự nối dòng.

Xem: Lân chỉ.

Gót lân nối tiếp truyền con cháu,

Cội quế kế thừa phước tổ tông.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

GÓT LIỄU

Gót: Phần sau cùng của bàn chân. Liễu: Cây dương liễu, một loài cây có cành lá mềm mại, thường được ví với người phụ nữ.

Gót liễu là gót chân của người đàn bà con gái.

Cửa Thánh đã từng đưa gót liễu,

Phòng Ngô lắm lúc đợi roi vàng.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

GÓT NGỌC

Gót: Phần sau cùng của bàn chân. Ngọc: Châu ngọc, chỉ sự đẹp đẽ, quý phái.

Gót ngọc là gót bàn chân như ngọc, chỉ gót chân của những người đàn bà đẹp đẽ, sang trọng, hay quý phái.

Gấm lót ngõ chưa vừa gót ngọc,

Vàng treo nhà ít học không ưa.

(Bài Thài Tứ Nương).

Gót ngọc đài vân còn rõ dấu,

Hương đưa chẳng chút bợn nhơ sầu.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

GÓT SEN

Gót: Phần sau cùng của bàn chân. Sen: Bông sen.

Gót sen chỉ gót chân người con gái quý phái.

Do tích: Thời Nam Bắc triều, vua Nam Tề là Đôn Hôn Hầu có người vợ yêu là bà Phan Phi, Vua truyền lót hình hoa sen bằng vàng trên nền gạch trong cung của bà Phan phi, để mỗi bước chân đi của bà như có bông sen nở vàng dưới đất.

Nhà vàng phận quý khi thơ,

Gót sen dầu lịch cũng nhờ vẻ xuân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Gót sen rày đã vương tơ nguyệt,

Giá ngọc từ lâu chẳng bợn bùn.

(Thơ Chơn Tâm).

Thôi khách hãy về nương bến giác,

Gót sen nhè nhẹ lướt kiều ngân.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

GÓT SON

Gót: Phần sau cùng của bàn chân. Son: Có màu đỏ như son.

Gót son là gót chân đỏ như màu son, chỉ gót chân của người phụ nữ quý phái.

Đồng nghĩa với “Gót sen”.

Phồn tục theo hoài quên trở gót,

Gót son biết đặng mất hay còn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Vầy đoàn du tử đai bầu cúc,

Dở bước giai nhân nối gót son.

(Thơ Cao Liên Tử).

 

 

GỌT

1.- Gọt là cắt bỏ lớp vỏ mỏng bao bên ngoài.

Như: Gọt vỏ, gọt củ khoai tây, gọt cây bút chì, máy gọt kim loại.

Một vật nhỏ cũng mài cũng gọt,

Của dầu hèn cũng mót cũng cằn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Gọt còn có nghĩa là bán hàng với giá đắt, cắt cổ để kiếm được nhiều lời.

Như: Bán món nầy, gọt khách trơn lắm, Đừng mua của hàng đó, nó gọt mầy tới xương.

Người đời có tánh ưa nịnh hót,

Mình mỏng mềm mới gọt cho trơn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

GỔ GANH

Gổ: Gây gổ, tức gây chuyện cãi cọ, xô xát với thái độ hung hăng. Ganh: Tranh đua, ghen ghét.

Gổ ganh, đồng nghĩa với chữ “Ganh tỵ”, hay “Ghen tỵ” là ghen ghét, so bì và khó chịu bực tức, khi thấy người khác hơn mình.

Xem: Ganh gổ.

Đừng tính kế độc sâu trong dạ,

gổ ganh oán chạ thù vơ.

(Kinh Sám Hối).

Đời nhiều kẻ khi Thần, thị Thánh,

Ám muội lòng tánh hạnh gổ ganh.

(Kinh Sám Hối).

 

 

GỖ

Gỗ là phần rắn nằm trong vỏ của thân cây và nhánh của một số cây, dùng làm vật liệu, hoặc nguyên liệu giấy.

Như: Gỗ lim, cột nhà bằng gỗ căm xe, đốn gỗ.

Trong quyển Thiên Đạo, hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có viết: Gỗ là vật trên rừng, chạm thành vật quý báu nhờ sự đục đẽo, trau dồi, chạm trổ của thợ.

Thi hài như gỗ biết gì,

Linh hồn là chủ thông tri việc đời.

(Kinh Sám Hối).

 

 

GỐC

1.- Gốc là phần dưới thân cây ở sát đất, có rễ mọc ra, trái với ngọn.

Như: Bứng gốc, cây bị bật gốc, một gốc sanh ra.

Thánh giáo Bát Nương Diêu Trì Cung có câu: Xin quý anh quý chị ráng nắm gốc cây cho chắc, kẻo gió lớn thổi bay đa! Ví dầu có thổi thế nào thì em xin quý anh quý chị ráng bịn gốc lại nghe.

Cũng là một gốc sanh ra,

Gồm bao nâng đỡ ruột rà thương nhau.

(Kinh Sám Hối).

2.- Gốc là chỉ phần cốt yếu của mọi sự vật.

Như: Học lấy sự chuyên cần làm gốc, vào ngân hàng rút tiền gốc, thay đổi tận gốc.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Các con mà có sức chống chỏi thì lũ ấy phải xa và Toà Thánh hôm nay đã thành một nơi đô hội, mà các con cũng đặng sum vầy một cửa, anh lớn em nhỏ một lòng một dạ, lấy Ðạo làm gốc mà lập nên một Tiểu Thiên Ðịa, há chẳng hơn giàu sang bốn biển sao?

Tri cơ phải kiếm thấu cơ mầu,

Hỏi thử Ðạo nầy gốc bởi đâu.

(Đạo Sử).

 

 

GỐC CỘI

Gốc: Nơi từ đó sinh ra, hay tạo ra. Cội: Gốc cây to, chỉ về nguồn gốc.

Gốc cội, như chữ “Nguồn cội”, là nguồn gốc, nơi từ đó mà nảy sinh ra.

Toà Thánh là gốc cội của Ðạo. Nếu muốn lập công nơi đó, vì Thầy đã dạy, thì nên làm đi.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

GỐC TỬ

Gốc: Phần dưới thân cây, phần cốt yếu của mọi sự vật. Tử: Cây thị.

Gốc tử là gốc cây tử, tức là gốc cây thị, một loại cây ngày xưa thường trồng ở đồng quê, biểu thị làng xóm, chỉ quê hương xứ sở.

Thơ Cao Thích: Đệ huynh mạc tương kiến, thân tộc viễn phần tử 弟 兄 莫 相 見, 親 族 遠 枌 梓, nghĩa là anh em không gặp được nhau, họ hàng thân thích đã xa làng xóm.

Mồ cha mả mẹ còn khi viếng,

Gốc tử, sân Lai hết lối về.

(Thơ Hi Đạm).

 

 

GỐI

1.- Gối là đồ dùng để kê đầu khi nằm ngủ.

Như: Gối bông, gối da, chăn loan gối phụng, gối chiếc chăn đơn.

Nào hơn vui thú đức tài lo,

Sẵn gối sẵn chăn cứ xuống đò.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nghe danh như chất chồng bên gối,

Cổ Phật không duyên khó gặp Người.

(Thanh Tâm Tài Nữ).

2.- Gối là kê đầu lên một vật cho cao hơn khi nằm.

Như: Đầu gối lên quyển sách, gối đầu lên cánh tay.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Ngài (Khổng Tử) nói: “Ăn cơm hẩm, uống nước lã, co tay gối đầu thật là cảnh buồn mà ta có thú vui trong đó, còn làm điều bất nghĩa mà được giàu sang, ý ta coi như đám mây nổi”.

Khi đầu ấp cùng khi tay gối,

Thân thiết nhau sớm tối quen hơi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

3.- Gối tức là đầu gối. Như: Quỳ gối, bó gối, mỏi gối chồn chân.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Chơn Cực Lão Sư có câu: Buồn! Người Ðạo đã bơ thờ như gái mới về nhà chồng ban sơ, ruột trống lổng như thùng không, trí não chưa thấy xa hơn gối.

Dưới gối nhiều lời đưa nọc rắn,

Mài gươm con khá mượn mưu mầu.

(Đạo Sử).

Hay đã sợ thân mòn gối mỏi,

Mến ngày xuân mà tuổi không chờ.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GỐI CÒN NỮA NGUYỆT

Gối: Đồ dùng để kê đầu khi nằm ngủ. Còn nửa nguyệt: Còn lại nửa cái gối, ví như nửa vầng trăng.

Gối còn nửa nguyệt nghĩa là chiếc gối đôi của vợ chồng chỉ còn nửa mảnh (như nửa vầng nguyệt), ý nói người chồng đã ra đi rồi, chỉ còn người vợ với nửa chiếc gối trong cô phòng.

Cổ thi có câu: Thuỳ bả kim bôi phân lưỡng đoạn, Bán trầm thuỷ để bán phù không 誰 把 金 杯 分 兩 斷, 半 沉 水 底 半 浮 空, nghĩa là ai đem chén vàng phân hai mảnh, nữa chìm đáy nước, nửa trên không.

Trường đình giục thảm canh thâu,

Gối còn nửa nguyệt đỡ đầu phòng thu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GỐI CHĂN

Gối: Vật để kê đầu ngủ, hoặc dựa. Chăn: mền đắp.

Gối chăn là cái gối, cái chăn (cái mền).

Trong văn chương người ta thường dùng chữ “Gối chăn” để chỉ tình yêu hoà hợp và việc ân ái giữa vợ chồng.

Còn ta luống những đoạn trường,

Gối chăn tê tái, chiếu giường lạnh tanh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Tuyết khua bủa lạnh then giường,

Gối chăn chia nửa bước đường lạnh tanh.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

GỐI CHIẾC CHĂN ĐƠN

Gối chiếc: Một chiếc gối, chỉ một mình. Chăn đơn: Mền đắp một người, chỉ sự đơn lẻ.

Gối chiếc chăn đơn là một chăn, một gối, ý nói cảnh lẻ loi, ngủ đơn độc một mình.

Ngày vương đêm vấn sầu cô tịch,

Gối chiếc chăn đơn cảnh đoạn tràng.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

GỐI ĐIỆP

Gối: Đồ dùng để kê đầu khi nằm ngủ. Điệp: Nói tắt của hồ điệp, là con bươm bướm.

Gối điệp do tích Trang Châu nằm ngủ thấy mình hoá bướm. Vì vậy chữ “Gối điệp” dùng để chỉ giấc ngủ, hay giấc mộng.

Nhà lan mây tối trông mong mỏi,

Gối điệp canh tàn giấc tưởng mơ.

(Thơ Thuần Đức).

Gối điệp thoảng hơi làn gió hạc,

Hồn thơ lịm bóng ánh sao đêm.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

GỐI LOAN

Gối: Vật để kê đầu ngủ. Loan: Chim loan.

Gối loan là cái gối có thêu hình con chim loan, dành cho người vợ nằm, người chồng thì thêu gối phụng.

Gối loan phụng là cặp gối dành cho vợ chồng mới cưới nhau. Chỉ tình yêu khắng khít.

Gối loan còn dùng để chỉ nỗi nhớ lứa đôi.

Hơi mảnh áo còn cầm đặng ngữi,

Gối loan gìn từ buổi kết duyên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GỐI OAN ƯƠNG

Hay “Gối uyên ương”.

Gối: Vật để kê đầu ngủ. Oan ương: Hay uyên ương là tên loài chim, sống từng cặp, nếu một trong hai con chết thì con còn lại cũng chết theo.

Gối oan ương, như chữ “Gối uyên ương”, chỉ cặp gối trong loan phòng của đôi vợ chồng. Chỉ vợ chồng hoà hợp.

Lạnh gối oan ương chùm ruột thắt,

Chinh mền phỉ tuý tấc gan nung.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

GỐI PHỤNG

Hay “Gối phượng”.

Gối: Đồ dùng để kê đầu khi nằm. Phụng (phượng): Chim phượng, chỉ người đàn ông, người chồng.

Gối thêu hình chim phượng, cùng với gối loan là cặp gối trong loan phòng dành cho vợ chồng nằm để chỉ tình nghĩa vợ chồng khắng khít, bền chặt.

Âu Dương Tu có câu: Tịch mịch phượng chẩm cô nan túc 寂 寞 鳳 枕 孤 難 宿, nghĩa là đêm tịch mịch, lẻ loi gối phượng nên khó ngủ yên.

Chừ sao để lụn canh gà,

Vắng hoe gối phụng, nguyệt tà hoa thưa.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Vừa mới chăn cù chung gối điệp,

Chi cho gối phượng lẽ phòng tiêu.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

GỘI

1.- Gội là làm cho sạch bằng nước.

Như: Tắm gội, gội đầu bằng nước xà phòng, tắm mưa gội gió.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Các con nếu biết đời khổ tâm, biết vày vò tình thế, biết chịu kém sút trong nẻo lợi đường danh, biết thiệt mình mà đặng cho kẻ khác, biết đổ lụy cho kẻ vui cười, biết nhọc nhằn trong kế sinh nhai, biết giữ tâm chí cho thanh bạch, đừng nhơ bợn của chẳng nên dùng, biết động mối thương tâm, thương người hơn kể mình, thì là các con được tắm gội hồn trong mà về cùng Thầy đó.

Cứ nương bóng Chí Linh soi bước,

Gội mê đồ tắm nước Ma Ha.

(Kinh Tận Độ).

Lòng trần gội sạch noi đường chánh,

Nét Ðạo gìn thanh lánh nẻo tà.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Gội, nghĩa rộng là dầm thấm ơn trạch. Như: Gội ơn mưa móc, nhuần gội hồng ân.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Nguồn đạo đã gội khắp sanh linh mà nơi đây vẫn còn mơ màng trong mộng điệp.

Gội đức nhờ khi lằn bụi sạch,

Trau nhân chờ buổi mối căn tiêu.

(Lý Giáo Tông Giáng).

Bịnh trầm kha lâu ngày đã lậm,

Thuốc tiên hoàn gội tẩm cũng trơ trơ.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

GỘI ĐỨC

Gội: Nghĩa rộng là dầm thấm ơn trạch. Đức: Ơn đức.

Gội đức là gội nhuần ân đức, ý nói ân đức của các Đấng Thiêng Liêng ban xuống cho chúng sanh, cũng tợ như mưa móc của Trời đất thấm nhuần khắp cây cỏ.

Gội đức nhờ khi lằn bụi sạch,

Trau nhân chờ buổi mối căn tiêu.

(Lý Bạch Giáng Bút).

 

 

GỘI NHUẦN

Gội: Nghĩa rộng là dầm thấm ơn trạch. Nhuần: Dầm thấm mà được tươi tốt.

Gội nhuần là thấm nhuần, ý nói ơn huệ trên ban xuống ví như hạt mưa hạt móc gội nhuần cho cây cỏ, chỉ ơn nghĩa.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Nếu các con vì Ðạo Thầy là Ðạo gìn công lý mà biết mấy sự đó tránh đi, và rủ nhau hiệp làm mối Ðại đồng, thì chẳng những thuận lòng Trời mà nhân loại đặng gội nhuần ân huệ.

Công danh nước Việt tay đành nắm,

Mưa móc dân sanh gắng gội nhuần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Gội nhuần đức trước rạng thôn lân,

Ðạo Thánh dìu chơn bước khởi lần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Bến đời khuất lấp mùi tân khổ,

Cửa khuyết gội nhuần giọt Thánh ân.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

GỘI ƠN

Hay “Nhuần gội ơn huệ”.

Gội: Tắm gội. Ân: Ơn huệ.

Gội ân (ơn) là nhuần gội ơn huệ, tức ơn huệ trên ban xuống cho con người ví như hạt mưa, hạt móc thấm nhuần cho cây cỏ.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Ðạo Trời khai ba lượt, nguồn Thánh độ muôn người. Thìn lòng để bước vào nẻo thẳng đường ngay mà kiếm cho thấu đáo mối huyền vi Tạo hoá đã sắp bày độ dẫn, nhuần gội ơn huệ cho sanh linh đương buổi Hạ nguơn nầy.

Lòng Trời cảm cứu an lê thứ,

Độ chúng sanh muôn xứ gội ơn.

(Xưng Tụng Công Đức).

Trong đời có đặng điều hơn,

Là nhờ lập chí gội ơn phước lành.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

GỒM

Gồm là kiêm, hợp, có tất cả như là những bộ phận hợp thành.

Như: Cuốn sách gồm năm chương, đoàn du lịch gồm sáu mươi người.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Thưa quý vị, chúng tôi mong rằng sau hồi sóng lặn gió êm, trời quang mây tạnh, chúng ta sẽ hiệp nhau phát hoạ một chương trình gồm cả các điều cần thiết trong lúc này để phục vụ đắc lực nhơn sanh trong cả hai phương diện vật chất và tinh thần đạo đức.

Cũng là một gốc sanh ra,

Gồm bao nâng đỡ ruột rà thương nhau.

(Kinh Sám Hối).

Ðường tâm tự tỉnh chơn ra giả,

Nẻo đức gồm theo thiệt hoá chơi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

GÔNG

Gông là một loại hình cụ ngày xưa bằng tre hay bằng gỗ, dùng để đeo vào cổ người có tội.

Như; Đóng gông tội phạm, cổ bị mang gông, gái có chồng như gông đeo cổ.

Nơi Địa ngục gông kềm sẵn đủ,

Để răn loài dâm phụ gian phu.

(Giới Tâm Kinh).

 

 

GÔNG CÙM

Gông: Vật mang vào cổ để kẹp cổ và hai tay. Cùm: Một loại hình cụ dùng để kềm kẹp.

Gông cùm là gông và cùm, những dụng cụ dùng để trói buộc, tra khảo các tội phạm ở nơi Dương thế, và cũng là những hình cụ dùng cho các tội hồn ở Âm phủ.

Làm sao mọc cánh đại hùng.

Bay ra khỏi chốn gông cùm trói trăng,

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

GÔNG KỀM

Gông: Vật mang vào cổ để kẹp cổ và hai tay. Kềm: Kìm, vật bằng kim loại có hai càng và mỏ, dùng để kẹp.

Gông kềm là cái gông và cây kềm, những dụng cụ dùng để tra khảo tội phạm.

Ngày sau đoạ chốn âm ty,

Gông kềm khảo kẹp ích gì rên la.

(Kinh Sám Hối).

 

 

GÔNG TRÓNG

Gông: Một tấm gỗ nặng có khoét lỗ dùng để tròng vào cổ và tay tội nhân để giải đi. Tróng: Cái cùm để khoá chơn người có tội.

Gông tróng là hình cụ của các quan ngày xưa, dùng để cùm chân để giải tội phạm đi, và cũng là những hình cụ dùng cho các tội hồn ở Âm phủ.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có dạy: Quyền hành Chí Tôn của Thầy, các con nếu hiểu thấu thì các con sẽ thấy nó là một hình phạt rất nặng nề, chẳng khác nào như gông với tróng.

Xem: Tróng gông.

Âm đài gông tróng sẵn sàng,

Chờ khi thác xuống cổ mang hành hình.

(Kinh Sám Hối).

 

 

GỒNG GÁNH

Gồng: Gánh. Gánh: Quảy đồ vật bằng vai.

Gồng gánh hay “Gánh gồng”, là quảy trên vai với gánh đồ vật. Nghĩa bóng: Cáng đáng mọi công việc.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bần Đạo nhấn mạnh một điều này, Đạo Cao Đài vốn là một nền Tôn Giáo để cứu khổ cho nhơn loại, Đạo Cao Đài cốt yếu không phải làm chủ thiên hạ, mà cốt yếu làm tôi đòi tạo hạnh phúc cho thiên hạ, tạo cái hạnh phúc chơn thật, hôm nay Ngài Khai Pháp hưởng đặng nơi cõi Thiêng Liêng Hằng Sống mà Ngài đã hiểu thấu chơn lý ấy là thật sự, nên Bần Đạo cùng Ngài, Đức Cao Thượng Phẩm và Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt đã có công lao chung chịu khổ hạnh cùng nhau nhứt tâm, nhứt đức quyết gồng gánh một nền Tôn Giáo của Đức Chí Tôn và bảo vệ nâng đỡ thiện hiện hình tướng cho cơ quan giải khổ.

Gồng gánh hai vai nặng nợ trần,

Có thân âu hẳn khổ cho thân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

GỘP

Gộp là khối, tảng.

Như: Gộp núi, đường đi có nhiều gộp đá long chong, các gộp núi nhọn chơm chởm.

Nhiều gộp núi như đao chơm chởm,

Thấy dùn mình tán đởm rất ghê.

(Kinh Sám Hối).

 

 

GỠ

Gỡ là làm cho các sợi rời nhau ra để không bị mắc, hay hết bị rối. Như: Gỡ chỉ, gỡ tóc rối, gỡ đám đánh nhau.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Kẻ vô phước dụng tà tâm làm một món lợi riêng, quên cả điều hành phạt đã kế bên mình, chới với cả muôn triệu giữa dòng, mà chẳng chịu sớm tự hối đặng gỡ lần mối hoạ sau.

Trái oan nào khác mối tơ,

Rối rồi không gỡ, bao giờ cho ra.

(Kinh Sám Hối).

Tội lỗi dẫy đầy chưa gỡ đặng,

Vào chi cho nhọc kẻ chào mời.

(Đạo Sử).

Nếu ôm ấp một bên thương nhớ,

Bịnh tương tư khó gỡ cho kham.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Gỡ là lấy lại phần nào bù vào chỗ đã bị thua thiệt.

Như: Cố gắng gỡ hoà, gỡ lại một bàn thắng, gỡ lại danh dự đã bị mất.

Nêu gương tuyết giá hậu lai,

Gỡ trong muôn một những bài sanh ly.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Cuộc cờ Khuông Dẫn chưa xong gỡ,

Mảnh đất Kinh Châu khó liệu hoà.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

GỠ RỐI

Hay “Gỡ rối rắm”.

Gỡ: Tháo rời ra khỏi cái dính mắc, rối rắm.

Rối (rối rắm): Ở trạng thái bị dính mắc, vướng vào nhau chằng chịt.

Thánh giáo Thầy có câu: Trường náo nhiệt Thầy đã định và nói trước, nay đã khởi đầu loán lần ra. Nếu trí các con chẳng lanh lẹ, hạnh các con chẳng hoàn toàn, cách cư xử các con chưa hoà hiệp, đường Ðạo các con chưa liệu chung, nét khiêm cung các con chưa trọn vẹn, cách đối đãi các con chưa ôn hoà, thì nền Ðạo sau nầy e khi phải vì đó mà để một trò cười, dầu đức từ bi của Thầy cũng khó gỡ rối rắm được.

Nơi đây cũng vậy, mà Kim Biên cũng vậy, khá chung lo mà gỡ rối, nghe!

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

Lần lựa chỉ sầu tay gỡ rối,

Trời tây bóng nhựt đã hầu chinh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

GỞI

Hay “Gửi”.

1.- Gởi, như chữ “Gửi”, là đưa vật gì cho ai bằng cách gián tiếp. Như: Gởi hàng, gởi thư, gởi quà.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Bần Ðạo sẽ liệu phương sắp đặt lại là giảng trước giờ hành lễ. Theo trong bài thi của Ðức Chí Tôn gởi cho Hoàng Ðế Bảo Ðại có hai câu yếu trọng cho nền Thánh giáo.

Đạo chồng vợ sống thì gởi nạc,

Nương nhờ nhau đến thác gởi xương.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Gởi, như chữ “Gửi”, còn có nghĩa là thưa hay trình một cách gián tiếp.

Như: Gởi lời thăm hỏi, gởi tâu, nhắn gởi về nhà.

Nhắn mưa gởi gió đưa thương,

Từ đây thiếp tỏ đoạn trường với ai?

(Kinh Thế Đạo).

Kẻ ở phương trời người góc biển,

Lòng thành nhắn gởi chữ khương ninh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Gởi (gửi) là ký thác, tức giao cái của mình cho người khác nhờ giữ, trông coi, bảo quản. Như: Gởi con, gởi của, gởi thân, chọn mặt gửi vàng.

Trong Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bần Đạo nhớ lại khi Đại Từ Phụ mới đến, Ngài gởi con cái của Ngài với sứ mạng thiêng liêng đến thế gian nầy cùng Ngài, đến chung hiệp làm một cùng nhau đặng lập thành thánh thể của Ngài.

Buổi già ước đặng đem thân gởi,

Biển Thánh rán dò lúc tuổi xuân.

(Đạo Sử).

Thôi đành gởi tâm hồn gió tuyết,

Theo nương con cho hết tam tùng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GỞI GẮM

Hay “Gửi gắm”.

Gửi (gởi): Giáo cái của mình cho người khác nhờ giữ, trông coi, bảo quản.

Gởi (gửi) gắm là giao cho người khác giữ gìn, bảo hộ cái mình yêu quý với lòng tin cậy và tình cảm tha thiết.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Trót năm năm, Qua đi vắng đến khi Qua trở về, Qua còn thấy có kẻ đói không ai nuôi, rách rưới không ai bảo dưỡng, thất lạc nơi nầy nơi khác, đoàn em Qua gởi gắm đã xiêu lạc, thủ phận Ðạo không được, nên phải tìm đôi bạn sống theo Ðời, vì nếu ở thủ phận theo Ðạo thì cũng chẳng ai nuôi.

Cho nên chỉ yêu quý thân là khi đem thân vì thiên hạ, như có thế gởi gắm được cho thiên ha.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

GỢI

Gợi là khơi ra, khêu lên. Như: Gợi thảm, gợi chuyện, gió chiều như gợi cơn sầu.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Năm cũ hầu tàn, cúng buổi lễ tất niên tôi có ý bàn bạc với quý Hiền huynh, Hiền tỷ, quý bạn về tình yêu thương của Ðạo để gợi lại trong tâm trí của mỗi vị một yếu tố căn bản mà Ðức Chí Tôn thường dạy phải dùng làm phương châm trên đường phổ độ.

Tiếng u minh tía lia gợi thảm,

Giọng kình khua cửa phạm dập dồn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Chạnh tình non nước tình đau xót,

Nghe tiếng quyên than những gợi sầu.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

GỢI CẢM

Gợi: Khơi ra, khêu lên. Cảm: Nhận biết bằng giác quan, bằng cảm tính.

Gợi cảm là có tác dụng gợi tình cảm, làm cho rung động trong lòng.

Như: Lời văn có sức gợi cảm, giọng hát gợi cảm.

Một câu đờn tao nhã có điêu luyện như một câu thi tuyệt bút có mãnh lực gợi cảm làm cho xúc động tâm hồn.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

GỚM

Gớm là có cảm giác ghê tởm, kính sợ. Như: Bộ dạng trông gớm, thấy bẩn mà gớm, địch thủ đáng gớm.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ấy vậy chúng ta đặng may duyên, nên buổi thế kỷ thứ hai mươi là thế kỷ hỗn loạn, sa ngã vào đường tội lỗi, sự tàn ác của đời đương nhiên chúng ta phải gớm sợ, Chí Tôn lại đến đặng dìu con cái Ngài, tức là các nguyên nhân của Ngài tại thế, từ bấy lâu nay bị sa ngã vào đường tội lỗi.

Sô sa chi xác cũng hôi tanh,

Gớm mặt mà chê dạ chẳng đành.

(Đạo Sử).

Đừng gớm già mặc tiện ăn hèn,

Vì nhớ đã nhiều phen gần ở lỗ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

GỚM GHÊ

Gớm: Ghê tởm, dữ dội, đáng sợ. Ghê: Có cảm giác sợ sệt, khó chịu như muốn rùng mình.

Gớm ghê, như chữ “Ghê gớm”, là ghê lắm, tức những biểu hiện khác thường ở mức độ khiến cho người ta phải sợ sệt, phải nể nang.

Bài Diễn Văn của Ðức Quyền Giáo Tông đọc tại Toà Thánh, ngày mùng 8 tháng 4 năm Giáp Tuất (1934) có đoạn: Lúc Ðạo Gia Tô truyền qua Ðông Pháp thì vua An Nam cũng nhặt cấm, bắt mấy người theo Ðạo Gia Tô quá Thập Tự, ai không bước ngang qua thì bị tử hình. Hình phạt gớm ghê như thế mà cũng có người chí Thánh, thọ tử mà thôi chớ không chịu chối Ðạo.

Đánh đòn khảo kẹp gớm ghê,

Hành hình khổ não chẳng hề nới tay.

(Kinh Sám Hối).

Ngục đao kiếm cầm giam phạm ác,

Tánh gian dâm hành phạt gớm ghê.

(Kinh Sám Hối).

 

 

GỚM GHIẾC

Gớm: Có cảm giác như ghê sợ, không dám lại gần.

Gớm ghiếc là trông thấy phát sợ, phát ghê tởm.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Nếu từ trước đến giờ còn giữ được khuôn khổ tổ chức của tổ phụ để lại, thì Bần Ðạo tưởng chẳng hề thấy sự tồi phong đương nhiên, và cầm chắc sự thống khổ loạn lạc chẳng hề có đặng. Ngày hôm nay, phong hoá quốc gia xã hội ta không còn nguyên hình tướng nữa, đã thay đổi ra thô tục gớm ghiếc quá chừng.

Thành Uổng tử cheo leo gớm ghiếc,

Cầm hồn oan rên xiết khóc than.

(Kinh Sám Hối).

 

 

GỢN

Gợn là nổi lên thành những lằn, những nếp nhăn trên mặt, hoặc những đường sóng rập rềnh trên mặt nước.

Như: Bầu trời gợn mây đen, vầng trán gợn những nếp nhăn, mặt nước sông gợn sóng.

Buồm rộng lèo lơi thêm sóng gợn,

Sông sâu sào sẵn thiếu tay dò.

(Thơ Võ Thành Lượng).

Khuôn mặt ngọc đầy vành trăng sáng,

Gợn thu ba lấp loáng đôi ngươi.

(Phù Kiều Hận Sử).

 

 

GỤT

Gụt, như chữ “Gột”, thấm một ít nước vào chỗ bẩn ở quần áo, vải vóc, để làm cho sạch vết bẩn.

Như: Gụt rửa, gụt bùn bám ở ống quần, ra cầu ao gụt cái vạt áo trắng bị bẩn.

Mong nhờ giọt nước Ma Ha để,

Gụt rửa cho thanh kiếp sống thừa.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

GỬI

Gửi, có khi đọc gởi, là ký thác, tức giao cái của mình cho người khác nhờ giữ, trông coi, bảo quản.

Như: Gửi con cho người nuôi, gửi tiền vào ngân hàng, chọn mặt gửi vàng.

Vàng chìm đáy biển nghĩ khôn tầm,

Biết phận tuỳ thời chốn gửi thân.

(Đạo Sử).

 

 

GƯƠM

Gươm là một thứ binh khí có cán ngắn, lưỡi dài và bén, đầu nhọn, dùng để đâm, để chém.

Như: Gươm ngắn giáo dài, giết người không gươm, gươm đàn nửa gánh.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Nhờ lẽ chơn thật của nó, không có lưỡi gươm bén nào trị tinh thần đặng, thì không có lực lượng nào đè nén đặng.

Dâng gươm huệ kiếm xin cầm,

Chặt lìa trái chủ đặng tầm ngôi Thiên.

(Kinh Thế Đạo).

Giáo gươm bén nhọn tư bề,

Chém đâm máu chảy tràn trề ngục môn.

(Kinh Sám Hối).

 

 

GƯƠM GIÁO

Gươm: Một loại binh khí có cán dài, lưỡi dài và sắc, đầu nhọn dùng để đâm hoắc chém. Giáo: Một loại khí giới thời xưa cán dài mũi nhọn, dùng để đâm.

Gươm giáo là cây gươm và cây giáo, chỉ loại binh khí thời xưa.

Mạnh hiếp yếu lấy gan hung bạo,

Dữ lấn hiền gươm giáo là hơn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GƯƠM HUỆ

Gươm: Một loại binh khí có cán dài, lưỡi dài và sắc, đầu nhọn dùng để đâm hoắc chém. Huệ: Trí huệ.

Gươm huệ, như chữ “Huệ kiếm 慧 劍”, tức cây gươm hay cây kiếm trí huệ.

Theo nhà Phật, Trí huệ được ví như một lưỡi gươm (hay lưỡi kiếm) sắc bén, có thể chiến thắng được giặc thất tình lục dục, và có thể cắt đứt hết mọi phiền não trói buộc vào con người.

Kinh Duy Ma Cật: Dĩ trí huệ kiếm phá phiền não tặc, nghĩa là lấy trí huệ như một lưỡi gươm phá giặc phiền não.

Xem: Huệ kiếm.

Cứ nương dưới máy linh cơ Tạo,

Gươm huệ đưa trị xảo trừ tà.

(Kinh Thế Đạo).

Cầm gươm huệ chặt tiêu oan trái,

Dìu độ quần sanh diệt quả nhân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Quơ gươm huệ trái oan dứt tuyệt.

Dốc một lòng gà quyết vào non,

(Thơ Đức Hộ Pháp).

 

 

GƯƠM HÙNG

Gươm: Một loại binh khí có cán dài, lưỡi dài và sắc, đầu nhọn dùng để đâm hoắc chém. Hùng: Bởi chữ “Hùng kiếm 雄 劍” là thanh gươm trống, trái với “Thư kiếm” là cây gươm mái.

Ngày xưa gươm thư hùng là hai cây gươm trống mái do Can Tương và vợ là Mạc Da rèn. Gươm trống là Hùng kiếm, gươm mái là Thư kiếm.

Ở đây, gươm hùng dùng để chỉ người chồng.

Xem: Thư hùng kiếm.

Gươm thư giúp sức gươm hùng,

Điểm tô nghiệp cả con rồng cháu tiên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GƯƠM THẦN HUỆ

Gươm: Một loại binh khí có cán dài, lưỡi dài và sắc, đầu nhọn dùng để đâm hoắc chém. Thần: Thiêng liêng. Huệ: Trí huệ.

Gươm thần huệ, cũng như chữ “Gươm huệ”, là lấy trí huệ làm một cây gươm thiêng liêng dùng để chặt đứt mọi oan khiên, mọi phiền não và thất tình lục dục đã ràng buộc lấy con người.

Xem: Gươm huệ.

Gần điều nên, lánh lẽ hư,

Nương gươm thần huệ đặng trừ nghiệt căn.

(Kinh Thế Đạo).

Lưng vơi lấy chí anh hùng,

Mượn gươm thần huệ dứt lần trái oan.

(Ngụ Đời).

Trao gươm thần huệ đôi lời dặn,

Chặt đứt oan khiên giữ dạ lành.

(Đạo Sử).

 

 

GƯƠM THƯ

Gươm: Một loại binh khí có cán dài, lưỡi dài và sắc, đầu nhọn dùng để đâm hoắc chém. Thư: Mái.

Gươm thư, bởi chữ “Thư kiếm 雌 劍” là chỉ thanh gươm mái.

Thư hùng kiếm là hai cây gươm trống mái do vợ chồng người thợ rèn giỏi là Can Tương và Mạc Da rèn nên. Gươm trống là gươm hùng, gươm mái là gươm thư. Gươm thư ở đây chỉ người vợ.

Xem: Thư hùng kiếm.

Gươm thư giúp sức gươm hùng,

Điểm tô nghiệp cả con rồng cháu tiên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GƯƠM TRÍ HUỆ

Gươm: Một loại binh khí có cán dài, lưỡi dài và sắc, đầu nhọn dùng để đâm hoắc chém. Trí huệ: Trí sáng suốt nhận biết được chân tướng mọi sự vật.

Gươm trí huệ, như chữ “Huệ kiếm 慧 劍”.

Theo Phật, vì vô minh mà con người phải chịu mãi luân hồi, nên cần trau luyện trí huệ như một cây gươm để chặt đứt thất tình lục dục và diệt những thứ phiền não oan trái.

Xem: Huệ kiếm.

Nhuộm áo nâu sồng về Cực Lạc,

Trau gươm trí huệ phủi đai cân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

GƯƠNG

1.- Gương là mặt phẳng làm bằng kim khí hay thuỷ tinh, đằng sau có tráng thuỷ, dùng để soi. Như: Gương soi, gương loan, gương vỡ lại lành.

Thánh giáo Thầy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có đoạn: Cái hạnh và cái đức của các con, nó phải phù hạp với cái trách nhậm mới đặng. Các con là đèn và gương soi của nhơn loại, phải tập mình cho xứng đáng.

Chia gương căn dặn buổi trường đình,

Vàng đá trăm năm tạc tấm tình.

(Bát Nương Giáng Bút).

Vừng trăng xẻ nửa lưng tròng ngó,

Một mảnh gương treo biếng mắt nhìn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Gương là vật bằng thuỷ tinh, có một mặt nhẵn bóng phản xạ ánh sáng, dùng để tạo ảnh của các vật.

Như: Soi gương, mặt hồ như tấm gương, ngắm mình trong gương.

Nhiễu điều ví đặng phủ gương trong,

Thì mới làm cho cái nghĩa đồng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chia gương căn dặn buổi trường đình,

Vàng đá trăm năm tạc tấm tình.

(Bát Nương Giáng Bút).

3.- Gương có nghĩa bóng là việc trước để cho người sau trông vào mà noi theo. Như: Gương kim cổ, gương thành bại, gương đạo đức.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Hạnh khiêm nhường là hạnh của mỗi đứa con, phải noi theo gương Thầy mới độ rỗi thiên hạ đặng. Các con phải khiêm nhường sao cho bằng Thầy.

Thanh sử từng nêu gương nữ kiệt,

Hồng ân chi kém bạn nam nhi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ngoài nữa còn cha còn chú bác,

Làm gương cho đáng mới nên trò.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

4.- Gương còn dùng để chỉ vật gì tròn như gương, như mặt trời, mặt trăng.

Như: Gương nga, gương ngọc, gương thỏ.

Ngựa vàng ruổi vó thoi đưa sáng,

Thỏ ngọc trau gương dậm vẻ làu.

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 

GƯƠNG BỂ ĐẶNG LÀNH

Gương bể: Tấm gương soi bị chia đôi. Đặng lành: Được nguyên vẹn trở lại.

Gương bể đặng lành, như chữ “Gương vỡ lại lành”, ý nói vợ chồng Từ Đức Ngôn và Lạc Xương Công Chúa bị chia cách, rồi sau gặp lại và sum hợp với nhau.

Xem: Gương vỡ lại lành.

Nhàn trung kiểm điểm sự bình sanh,

Gương bể chưa ai kết đặng lành.

(Đạo Sử).

 

 

GƯƠNG BỂ KHÓ LÀNH

Gương bể khó lành là tấm gương bị vỡ khó mà kết lại cho lành, ý nói tình nghĩa chia đôi, khó mà hợp lại.

Hai vợ chồng Lạc Xương Công Chúa và Từ Đức Ngôn lúc chạy loạn, mỗi người giữ nửa mảnh gương soi, sau nhờ hai nửa mảnh gương ráp lại, vợ chồng mới sum họp nhau.

Còn “Gương bể khó lành” tức là hai mảnh gương ngày xưa không ráp lại được, có ý nói tình duyên không nối lại được nữa.

Xem: Gương vỡ lại lành.

Vần xây trước án bụi công danh,

Gương bể đành cam khó đặng lành.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

GƯƠNG CỘT ĐŨA

Gương: Việc để lại cho người sau trông vào mà noi theo. Cột đũa: Lấy dây buộc lại bó đũa.

Gương cột đũa là lấy sự tích “Cột bó đũa” để làm gương cho việc đoàn kết là sức mạnh.

Do tích có một người cha, muốn dạy các con về tình đoàn kết, bèn lấy bó đũa kêu mỗi đứa con bẻ một chiếc, tất cả đều bẻ gãy được hết. Ông bèn cột lại thành một bó, đưa cho từng đứa con bẻ, thì không ai bẻ gãy được.

Lấy đó, Ông dạy rằng: Từng chiếc đũa các con bẻ gãy được, nếu nhập chung một bó, các con không bẻ nổi. Như vậy, sự cột đũa thành một bó là dạy cho các con gương đoàn kết gây sức mạnh đó.

Của chia tư nhập lại làm công,

Gương cột đũa, gương hay dùng phải dịp.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

GƯƠNG ĐẠO

Gương: Làm mẫu mực tốt để mọi người noi theo. Đạo: Đạo đức.

Gương đạo là tấm gương đạo đức để làm mẫu mực cho mọi người noi theo.

Gương đạo noi theo đời Thuấn Ðế,

Ðế dân vẹn giữ lối Văn Vương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

GƯƠNG HẠNH

Gương: Làm mẫu mực tốt để mọi người noi theo. Hạnh: Hạnh đức, tức tính nết tốt đẹp.

Gương hạnh là tấm gương tốt về đức hạnh, tức lấy nết na đẹp đẽ mà làm gương cho người sau.

Làu soi gương hạnh rạng Nam hoa,

Sau trước rồi đây cũng một nhà.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Soi gương hạnh đức trau lòng tục,

Hứng giọt từ bi rửa bợn sầu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

GƯƠNG HUỆ

Gương: Tấm kính, chỉ sự sáng suốt. Huệ: Trí huệ.

Gương huệ là trí huệ phát ra sáng suốt như tấm gương, soi rọi bước đường để khỏi lầm lạc.

Gương huệ sáng soi đường thánh chúa,

Từ bi mở rộng cửa thiền lâm.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

GƯƠNG LIỆT NỮ

Gương: Việc trước để cho người sau noi theo. Liệt nữ: Người đàn bà có khí tiết mạnh mẽ.

Gương liệt nữ là những trang phụ nữ ngày xưa có khí tiết khẳng khái, có thể dùng làm gương mẫu cho người đời sau noi theo.

Sách Ấu học có kể lại hai trang liệt nữ như sau: “Hàn Cửu Anh khủng tặc uế, nhi tự đầu ư uế; Trần Trọng thê khủng vẫn đức, nhi ninh vẫn ư nhai, thử nữ chi liệt giả 韓 玖 英 恐 賊 穢, 而 自 投 於 穢; 陳 仲 妻 恐 隕 德, 而 寧 隕 於 崖, 此 女 之 烈 者”: Nàng Hàn Cửu Anh sợ cướp làm nhơ mà tự gieo vào chỗ nhơ; vợ anh Trần Trọng sợ chết mất đức hạnh thà chết ở hố, đấy là những trang liệt nữ.

Bộ Đường thư có chép rằng con gái ông Hàn Trọng Thành là nàng Cửu Anh, sợ cướp bắt làm nhục, bèn tự gieo mình vào trong phẩn dơ, lấy miệng hớp phẩn, bọn cướp thấy vậy bèn bỏ đi, không bức hiếp nàng.

Vợ anh Trần Trọng là em gái Trương Thúc Minh, cùng hai người chị dâu gặp cướp, sợ phải chịu nhục với bọn cướp, bèn bảo nhau rằng: Người đàn bà lấy thân người trong sạch làm cao cả, đâu được để thân bị ô nhục ư! Bèn nhảy xuống hố mà chết.

Chở che khỏi kiếp phong trần,

Gìn gương liệt nữ hồng quần để soi.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

GƯƠNG LOAN

Gương: Mặt phẳng bằng thuỷ tinh, sau có tráng lớp thuỷ, dùng để soi. Loan: Chim loan.

Gương loan, do chữ “Loan kính 鸞 鏡”, là tấm kính để soi chim loan.

Theo sách Dị Uyển, Diệm Tân Vương có nuôi một con chim loan, đã ba năm nay mà không bao giờ hót. Vợ của ông bảo muốn chim loan hót thì phải lấy một tấm gương cho nó soi, nó thấy hình trong gương tưởng là gặp đôi bạn bèn hót lên thánh thót. Nhưng đến đêm chim không thấy bạn nữa rồi kêu nhảy buồn bã cho đến chết.

Vương Bột, người đời Đường có câu: Nguyệt khai loan kính, hoài tinh giám dĩ phân hình 月 開 鸞 鏡, 懷 精 鑑 以 分 形, nghĩa là gương mở kính loan, soi bóng tinh tường mà lẻ phân hình dạng.

Chạnh lòng nhạn lạc gương loan vỡ,

Khấn nguyện hồn người nhẹ cửu nguyên.

(Thơ Minh Phát).

 

 

GƯƠNG MẪU

Gương: Việc làm kiểu mẫu cho người khác bắt chước. Mẫu: Mẫu mực, dùng để làm kiểu mẫu.

Gương mẫu là kiểu mẫu cho người ta noi theo.

Trong Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Nơi cửa Đạo, người hành Đạo phải làm gương mẫu cho nhơn sanh và muốn lập chữ tâm phải quên được cái bản ngã thường tình.

Giáo dân quy thiện làm gương mẫu,

Phẩm giá sau này tạc sử xanh.

(Thơ Phạm Mộc Bổn).

Mẹ Mạnh Tử đời cho gương mẫu,

Sợ trẻ quen thói xấu dời nhà.

(Báo Ân Từ).

 

 

GƯƠNG NÊU

Gương: Chỉ việc làm kiểu mẫu cho người khác bắt chước. Nêu: Đưa ra, bày ra cho mọi người biết.

Gương nêu, như chữ “Nêu gương”, là làm gương tốt đẹp nêu lên cho mọi người soi chung.

Xem: Nêu gương.

Phò Lưu Huyền Đức lắm công lao,

Chánh khí gương nêu vạn cổ làu.

(Cội Đạo Bốn Mùa).

 

 

GƯƠNG NGA

Gương: Dùng để chỉ vật gì tròn như gương, như mặt trời, mặt trăng. Nga: Hằng nga, một tiên nữ ở cung nguyệt.

Gương nga là cái gương mặt của Hằng Nga, vợ của Hậu Nghệ.

Tục truyền, Hậu Nghệ xin được thuốc trường sanh của bà Tây Vương Mẫu, Hằng Nga trộm uống, bay lên cung trăng, biến thành vị tiên nữ rất đẹp và trẻ mãi không già. Nghĩa bóng: Mặt trăng, bóng trăng.

Xem: Hằng Nga.

Để chường thân Ngọc thêm huyền ảo,

Cho lộ gương nga ngắm tuyệt vời.

(Thơ Vân Mai).

 

 

GƯƠNG NGUYỆT

Gương: Dùng để chỉ vật gì tròn như mặt trời, mặt trăng. Nguyệt: Mặt trăng.

Gương nguyệt là mặt nguyệt tròn như gương, ý chỉ mặt trăng. Đồng nghĩa với “Gương nga”.

Nẻo hạnh làu soi gương nguyệt thắm,

Sân ngô rạng vẻ cảnh thu đưa.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

GƯƠNG TUYẾT GIÁ

Gương: Làm kiểu mẫu cho người sau noi theo. Tuyết giá: Ý chỉ trong như tuyết, sạch như giá.

Gương tuyết giá ý nói gương trinh liệt của phụ nữ, tức chỉ lòng trong sạch sáng đẹp của người đàn bà đối với chồng, trong như tuyết, sạch như giá.

Nêu gương tuyết giá hậu lai,

Gỡ trong muôn một những bài sanh ly.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GƯƠNG THỎ

Gương: Dùng để chỉ vật gì tròn như gương, như mặt trời, mặt trăng. Thỏ: Do chữ “Ngọc thố 玉 兔”, tức là thỏ ngọc, dùng để chỉ mặt trăng.

Gương thỏ là chỉ mặt trăng.

Thấp thoáng vầng ô chìm khuất dạng,

Thập thò gương thỏ ghé dòm song.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

GƯƠNG THU

Gương: Gương soi để trang sức, chỉ người con gái. Thu: Mùa thu, ví với người lớn tuổi.

Gương thu, đồng nghĩa với chữ “Phòng thu”, chỉ người đàn bà đã luống tuổi.

Xem: Phòng thu.

Rủi duyên gặp phải thường phu,

Nhành xuân thì trọng, gương thu dở cầm.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GƯƠNG VỠ LẠI LÀNH

Gương vỡ: Tấm gương bị cắt vỡ làm hai. Lại lành: Trở lại nguyên vẹn.

Gương vỡ lại lành, bởi điển tích “Phá kính trùng viên 破 鏡 重 圓” nghĩa là gương vỡ ra rồi được hợp lại.

Do điển: Từ Đức Ngôn là phò mã của Lạc Xương Công chúa nước Trần. Khi nước nhà gặp lúc loạn lạc, giặc cướp phá thành, vợ chồng Đức Ngôn phải đi lánh nạn, mỗi người giữ nửa mảnh gương soi mặt, dặn rằng cứ đến ngày nguyên tiêu hai người đều đem nửa mảnh gương ra thành Trường An bán đặng tìm nhau.

Công chúa bị Việt Công bắt ép làm vợ, còn Phò mã thì chạy thoát đặng. Năm sau đến ngày rằm tháng giêng Đức Ngôn đem mảnh kiếng ra chợ Trường An bán, thì thấy có người cũng bán nửa mảnh gương như mình, ráp lại thì hai mảnh ăn khớp nhau như một. Đức Ngôn biết là gương của vợ mình bèn làm một bài thơ gởi cho người bán gương đem về cho vợ. Lạc Xương công chúa đọc xong hoà lên khóc, Việt Công biết được bèn vời Đức Ngôn đến trả vợ lại. Hai vợ chồng sum họp như hai mảnh “gương vỡ lại lành”.

Cao kia chừng thấu oan tình,

Ghép cho gương vỡ lại lành với gương.

(Phù Kiều Hận Sử).

Lòng thành xin nguyện khấn trời xanh,

Gương vỡ làm sao gương lại lành.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

GƯƠNG XƯA LỖI RÁP

Gương xưa: Tấm gương là ngày xưa. Lỗi ráp: Khó ráp nguyên vẹn lại.

Gương xưa lỗi ráp là nói vợ chồng Từ Đức Ngôn và Lạc Xương Công Chúa bị chia cách vì loạn lạc, mỗi người giữ nửa mảnh gương.

Sau nhờ hai nửa mảnh gương ráp lại vợ chồng mới được sum họp nhau.

Còn “Gương xưa lỗi ráp” tức là hai mảnh gương chia ra ngày xưa ráp lại không đúng khớp, có ý nói tình duyên đã lỗi nhịp, không nối lại được nữa.

Xem: Gương vỡ lại lành.

Thân Tiên dầu lỡ gót phàm,

Gương xưa lỗi ráp, ai cầm làm chi?

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GƯỢNG

1.- Gượng là gắng nhẫn tâm chịu đựng để làm việc gì khi sức đã bị yếu.

Như: Bệnh chưa hết hẳn gượng dậy đi làm, thằng bé bị ngã gượng đau đứng dậy.

Ác lố rọi tan lằn gió bụi,

Nguyệt lờ soi gượng bước công khanh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Gượng còn có nghĩa cố làm ra vẻ tự nhiên, bình thường, khi đang có tâm trạng buồn hoặc không thích.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Thấm thoát ngày tháng trôi qua, với trăm hoa đua nở muôn tía ngàn hồng cũng như bao nhiêu Xuân trước, những quang cảnh vô tri thì tươi đẹp theo lệ thường mà tình hình đất nước Việt Nam vẫn còn mịt mờ trong khói lửa, dân chúng vẫn lầm than, cảnh đời còn đen tối; Gượng vui để khoả lấp cái buồn khổ chung của nòi giống.

Mảng gượng vui cùng đàn cháu dại,

Chỉ lời hay sự phải khuyên răn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Thôi đành kiếp nớt non gượng sống,

Sống vì con chẳng sống vì thân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GHE

Ghe là nhiều, lắm, từ biểu thị tình huống thường được lặp lại.

Như: Ghe thuở (nhiều thuở), Ghe phen gặp cảnh nguy hiểm đến tánh mạng.

Lân bang ghe thuở nhường oai võ,

Dị quốc từng phen xếp giáp mâu.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

GHE PHEN

Ghe: Nhiều, lắm. Phen: Lần.

Ghe phen, cùng nghĩa với “Đòi phen”, là nhiều phen, nhiều lần, lắm phen.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Thầy cũng ghe phen muốn phạt những kẻ lấy bực phẩm của phàm mà gây nên rối rắm trong Ðạo, nhưng chẳng nỡ.

Ghe phen cửa rách hiên nhà lủng,

Không quản lao đao giữ tiếng lành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Bước đời chìm nổi bấy nhiêu niên,

Tâm chí ghe phen dập lửa phiền.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

GHẺ

Ghẻ là một thứ bịnh ở ngoài da, làm nổi mụn và ngứa ngáy khó chịu.

Như: Ghẻ ngứa, ghẻ lở, lây ghẻ, ở bẩn sinh ghẻ.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ta thấy phương pháp đương nhiên, hiện giờ còn giữ khuôn khổ ấy, chỉ hại một điều là hương đảng đương nhiên xu hướng tân thời đã hết làm cha mẹ dân, dở thói tham quan ô lại, làm cục bướu làm mụt ghẻ tâm lý của dân.

Thường bồng đặng thăm con nặng nhẹ,

Muốn cho con khỏi ghẻ rán chăm nom.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

GHEN

1.- Ghen là khó chịu, tức tối vì thấy người ta hơn mình về tiền bạc của cải hay về tài năng.

Như: Thấy bạn được khen mà phát ghen, ghen ăn, ghen uống, ghen tức.

Dạy cho biết tánh tình cư xử,

Cùng em chồng tránh sự ghét ghen.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Ghen là khó chịu, tức tối thường biểu lộ ra ngoài, vì biết vợ, chồng hay người yêu mình thiếu thuỷ chung.

Như: Ghen tuông, đàn bà hay ghen, vợ thường ghen bóng ghen gió.

Máu ghen chăn gối dẫy tràn,

Hình mai ủ dột sắc càng héo don.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Nhỏ thì trọng lớn thì nhường,

Nơi cân quân tử ra trường đánh ghen.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GHEN GHÉT

Ghen: Khó chịu, tức tối vì thấy người ta hơn mình về tiền bạc của cải hay về tài năng. Ghét: Không ưa, trái với thương.

Ghen ghét là vì ghen tị mà sinh ra ghét.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bần Đạo nói thật, Bần Đạo lấy làm ngạc nhiên một người đã đứng đầu trong một trường chánh trị đã chịu một ảnh hưởng của tình thế trích điểm cũng có, tôn sùng cũng có, khen cũng có, chê cũng có, buổi ấy bị họ ghen ghét nên chê nhiều hơn khen, chính mình Bần Đạo lấy làm lạ tại sao Đức Chí Tôn biểu Thượng Phẩm và Bần Đạo đến nơi đó?

Khi ghen ghét không cùng hiệp mặt,

Nay thấy nhau mà bắt động tình.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GHEN TƯƠNG

Ghen: khó chịu, tức tối thường biểu lộ ra ngoài, vì biết vợ, chồng hay người yêu mình thiếu thuỷ chung.

Ghen tương, cùng nghĩa với chữ “Ghen tuông”, là nỗi uất ức vì thấy người mình yêu chia sớt tình cảm với người khác, hay chồng (Vợ) mình ngoại tình.

Đừng ham mua bưởi bán bòng,

Nghĩa tình em chị đem lòng ghen tương.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Lo ngại rồi ra cơn mất nết,

ghen tương hết biết thân mình.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Song để lòng thương đến vợ nhà,

Ghen tương vốn đờn bà ai cũng thế.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

GHẸO

Ghẹo là trêu cợt. Như: Ghẹo trẻ con, trêu hoa, ghẹo nguyệt, ghẹo sầu nhắc thảm.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp viết: Có câu chuyện tức cười, bằng cớ hiển nhiên như Ðức Trạng Trình là Nguyễn Bỉnh Khiêm buổi nọ hồi còn bé đi học, có Quan Huyện đến xét trường hay là thăm trường chi đó, nghe nói Ngài nổi danh Thần Ðồng khi thấy Ngài nhỏ người, thân không cao lớn hơn ai, lại bận áo rộng xùng xình, vì bận bính của ai đó lết bết dưới đất tức cười lắm nên ghẹo chơi.

Nỗi niềm ai ghẹo cho đau,

Tình thương coi lại như màu mây tan.

(Tứ Nương Giáng Bút).

Còn thân thiếp chịu cút côi,

Đèn khuya nhắc thảm, gió mơi ghẹo sầu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GHẸO CHỌC

Ghẹo: Trêu cợt, chọc phá. Chọc: Dùng lời nói, cử chỉ làm cho bực tức.

Ghẹo chọc, như chữ “Chọc ghẹo”, là trêu chọc, tức dùng lời nói, cử chỉ để đùa cợt, làm cho xấu hổ hoặc làm cho bực tức.

Tính để viết khuyên rào tiết ngọc,

Thì sợ e ghẹo chọc si tình.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GHÉT

Ghét là không ưa, không có cảm tình khi phải tiếp xúc với đối tượng nào đó và thấy hài lòng khi đối tượng ấy gặp điều không hay.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Bởi vậy cho nên, Thầy chẳng vì ghét mà không lời khuyến dụ; cũng chẳng vì thương mà không sai quỷ dỗ dành.

Đại Từ Phụ ra ơn dìu dẫn,

Diệt trí phàm: Hờn, giận, ghét, ganh.

(Kinh Thế Đạo).

Hễ ghét người thì Trời ghét lại,

Ghét người Trời ghét lẽ nào hơn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

GHÉT GHEN

Ghét: Không ưa, trái với thương. Ghen: Khó chịu, tức tối vì thấy người ta hơn mình về tiền bạc của cải hay về tài năng.

Ghét ghen, như chữ “Ghen ghét”, là vì ghen tỵ mà sinh ra ghét.

Dạy cho biết tánh tình cư xử,

Cùng em chồng tránh sự ghét ghen.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

GHÊ

1.- Ghê là có cảm giác rùng mình khi thần kinh bị kích thích bất thường.

Như: Gió lạnh ghê mình, khế chua ghê răng, thấy tai nạn ghê người.

Nhiều gộp núi như đao chơm chởm,

Thấy dùn mình tán đởm rất ghê.

(Kinh Sám Hối).

2.- Ghê, nghĩa rộng là sợ, tởm. Như: Gớm ghê, trông thấy bẩn mà ghê, tai nạn xảy đến thấy ghê.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bần Đạo suy nghĩ nếu Bần Đạo không đủ đạo đức đặng cứu vãn tình thế nguy ngập, thì ít nữa Bần Đạo cũng phải có phương chi chớ chẳng lẽ khoanh tay ngồi ngó cái tai nạn gớm ghê của nhơn loại.

Nói lời tục tĩu không nhường,

Tội hành cắt lưỡi trăm đường ghê thay!

(Kinh Sám

Mấy mối oan gia còn trước mắt,

Chẳng ghê nghiệp chướng kiếp mình sau.

(Đạo Sử).

Dạy cho ghê bán dạng thuyền quyên,

Đừng đem xác chở chuyên trai bất đức.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

GHÊ GỚM

Ghê: Cảm giác rùng mình khi thần kinh bị kích thích bất thường. Gớm: Tởm, đáng sợ, dữ dội.

Ghê gớm là ghê sợ, gớm ghiếc.

Ghê gớm là chỉ những gì đó ở mức độ khác thường, đáng cho người ta phải ghê. Ví dụ: Phải cố gắng ghê gớm mới được.

Thánh giáo Thầy có câu: Quyền, Thầy cũng ban cho các con in như Thầy đã ban cho chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, hầu cho đủ thế kềm thúc lấy nhau đặng giữ vẹn Thánh chất yêu sanh của Thầy, mà quyền ấy trở nên một cơ thể buộc trói nhơn sanh trong vòng tôi mọi. Ôi! Thảm thay! Cái thất vọng của Thầy nên ghê gớm!

Thấy đi ngang mắt chẳng dám nhìn,

Sợ lầm tưởng bù nhìn ghê gớm mắt.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

GHÊ SỢ

Ghê: Cảm giác rùng mình khi thần kinh bị kích thích bất thường. Sợ: Ở trạng thái không yên vì có điều nguy hiểm, hoặc gây hại.

Ghê sợ là ghê gớm và sợ sệt.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Qua vừa thuyết minh cho mấy em biết trách vụ thiêng liêng trọng hệ hơn hết chẳng phải Qua mà thôi, cả mấy em cũng bị lời hăm he của Ðức Chí Tôn, luôn cả đoàn hậu tấn của chúng ta nữa, đời đời không cùng, đàn Anh của mấy Qua, đến mấy Qua đây rồi đến mấy em, nếu đứa nào trong Thánh Thể của Ðức Chí Tôn thất phận thì Ổng sẽ đến, mà hễ Ổng đến kẻ nào đương cầm quyền không đủ năng lực, mà buộc Ổng phải đến đó, kẻ ấy bị hành phạt, từ xưa đến nay không một đấng chơn hồn nào không ghê sợ.

Đã hay lộng lộng phép Trời,

Mà chưa ghê sợ, buông lời lộng ngôn.

(Đoàn Thị Điểm Giáng).

Bởi vẽ hình tướng tá cùng nhà,

Vợ ghê sợ đẻ ra in dạng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

GHÊ TỞM

Ghê: Làm khó chịu đến thần kinh, sợ. Tởm: Gớm ghiếc, ghê sợ.

Ghê tởm là gớm ghiếc, tức trông thấy thì ghê sợ.

Ghê tởm còn dùng để chỉ có cảm giác không thể chịu nổi, muốn tránh xa vì thấy quá xấu xa.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn có đoạn: Toàn cơ quan bị thâm nhiễm bởi tất cả những thứ hư hỏng, nơi cả nam phái lẫn nữ phái, bằng những thủ đoạn ghê tởm. Nay, một cuộc thanh lọc tận gốc là tuyệt đối cần thiết.

Còn cái cửa Địa Ngục trước kia đã gọi là khảo tội trừng răn, thiên hạ họ đã tả một cái cảnh rất quá đáng, làm cho thiên hạ ghê tởm có sự thật.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

GHẾ

Ghế là đồ dùng để ngồi. Như: Ghế mây, ghế đá, rời ghế nhà trường.

Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy Ngài Thượng Trung Nhựt có câu: Con dời bài vị của Lý Bạch để dưới tượng Thầy, con dọn dẹp trong hết, để một cái ghế kế một bên tran thờ, rồi để lên một cái ghế lớn đặng làm ngôi Giáo Tông, ba cái nữa để sắp hàng theo ở dưới đặng làm ngôi cho ba vị Ðầu Sư.

Nổi tam bành xô hất khỏi mùng,

Chừng ấy khóc lo chung xuống ghế.

(Phương Tu Đại Đạo).

Năng chùi lau, tủ, kiếng, ghế, bàn,

Đừng để đóng làng khan bụi nhện.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

GHI

1.- Ghi là nhớ. Như: Ghi khắc vào lòng, ghi tạc, ghi nhớ, ghi tâm, khắc cốt ghi xương.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy cũng đại lụy mà ngó xem một phần môn đệ xứng đáng của Thầy phải sa vào vực thẳm. Các con nên ghi nhớ mà coi chừng đường lối sau nầy.

Niềm ân ái thân hoà làm một,

Nghĩa sơ giao khắc cốt ghi xương.

(Kinh Thế Đạo).

Con ghi nơi dạ làm lành,

Dốc lòng đoạt đặng bảng danh đại đồng.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

2.- Ghi là chép, dùng chữ hoặc dấu hiệu để lưu giữ một nội dung nào đó.

Như: Ghi địa chỉ, ghi lời nói vào trong quyển sổ, ghi tên vào danh sách.

Thánh giáo Thầy có câu: Nếu Thầy chẳng vì thương tâm thì các Tiên Phật đã ghi lỗi rất trọng hệ của các con mà chẳng khứng cho lập công chiết tội.

Sách truyện xưa ghi đã lắm điều,

Như chuông tỉnh thế gõ nên kêu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Coi gương trước Thánh Hiền ghi lại,

Kết bạn nhau đạo ngãi làm sao.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GHI CHÉP

Ghi là chép, dùng chữ hoặc dấu hiệu để lưu giữ một nội dung nào đó. Chép: Biên vào.

Ghi chép là biên chép lại, Như: Sổ ghi chép của nhà văn, những điều ghi chép lại sau cơn bịnh.

Ngàn thu đạo sử còn ghi chép,

Hiển đạt công phu tại chí thành.

(Thơ Thượng Tước Thanh).

 

 

GHI LÒNG

Ghi: Đánh dấu, biên vào cho nhớ. Lòng: Lòng dạ, biểu tượng cho tâm lý, tình cảm.

Ghi lòng là khắc sâu vào trong lòng, để không bao giờ quên.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Thầy có đoạn: Ôi! Chẳng phải Thầy sợ chi mà tiếc quyền hành để đày đoạ các con Thầy, song chỉn e Thầy đến trần rồi, thì các con lại trở nên côi cút, chẳng ai thương các con cho bằng Thầy mà bảo hộ độ rỗi các con đặng. Các con khá ghi lòng những lời thiết yếu của Thầy đây và giảm lòng tranh đấu.

Nặng phận đạo đời khá gánh xong,

Thêm phương cứu khổ phải ghi lòng.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

GHI NHỚ

Ghi: Đánh dấu, biên vào cho nhớ. Nhớ: Ghi vào trong trí để khỏi quên.

Ghi nhớ là ghi để nhớ lấy, hoặc nhớ sâu trong lòng, không bao giờ quên.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy: Thầy cũng đại luỵ mà ngó xem một phần môn đệ xứng đáng của Thầy phải sa vào vực thẳm. Các con nên ghi nhớ mà coi chừng đường lối sau nầy.

Đường về các trẻ xin ghi nhớ,

Cửa Khuyết hằng ngày Mẹ ngóng trông.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Nhơn sanh biết Đạo Cao Đài,

Muôn năm ghi nhớ ơn Ngài Giáo Tông.

(Văn Tế Quyền Giáo Tông).

 

 

GHI TẠC

Ghi: Đánh dấu, biên vào cho nhớ. Tạc: Ghi sâu.

Ghi tạc là biên chép và khắc vào bia để ghi nhớ.

Ghi tạc còn nghĩa là khắc sâu vào tâm trí để không bao giờ quên. Như: Ghi tạc vào lòng.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Những bậc anh hùng dân tộc như: Phạm Ngũ Lão, Lý Thường Kiệt, Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Trần Hưng Ðạo... những bậc anh thư như: Hai Bà Trưng, Trưng Trắc, Trưng Nhị, mặc dù ngày nay đã khuất bóng, nhưng uy danh vẫn còn ghi tạc sử xanh được muôn đời nhắc nhở ca tụng.

Hiền danh ghi tạc giang san,

Nghĩa trung đi cặp con đàng trượng phu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Nước Việt Thường ghi tạc mặt tài danh,

Nòi Hồng Lạc roi truyền gương tiết nghĩa.

(Văn Tế Tiểu Tường).

 

 

GHI TÂM KHẮC CỐT

Ghi tâm: Ghi nhớ vào lòng. Khắc cốt: Khắc vào xương cốt.

Ghi tâm khắc cốt, như chữ “Khắc cốt minh tâm 刻 骨 銘 心”, là chạm vào xương ghi vào dạ, ý nói ghi nhớ vào lòng mãi mãi, không bao giờ quên.

Bảy tháng gấm thêu lời nhỏ nhẹ,

Ghi tâm khắc cốt trọn đời thôi.

(Thơ Cao Quỳnh Cư).

 

 

GHÌ

Ghì là nắm chặt lấy, giữ lấy, siết chặt lại.

Như: Ghì lấy phím đàn, ôm ghì lấy con vào lòng, trói ghì vào gốc cây.

Ghì phím ngọc thơ chan rỉ rả,

Nhấn đường tơ nhạc toả trùng trùng.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

Xúm nhau kẻ chặt người ghì,

Đôi chân bước lệch lối đi gập ghình...

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

GHIỀN

Ghiền là nghiện, đam mê đến mức thành thói quen khó bỏ được.

Như: Ghiền rượu, ghiền thuốc, ghiền ma tuý, anh ấy có tật ghiền thuốc hút.

Cũng như người ghiền rượu đã quen,

Hễ vừa bắt hơi men thì ngáp vắn.

(Phương Tu Đại Đạo).

May có ngày gặp đặng ông Tiên,

Ông thương buộc mình ghiền cũng chịu.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

GIA

1.- Gia là chỗ ở của một người, một nhà. Như: Tư gia, tại gia tùng phụ, trị gia nghiêm khắc.

Điếu văn của Đức Thượng Sanh đọc trước Liên đài của Ngài Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có câu: Lần chót hết, Ngài về tư gia tại Biên Hoà để dưỡng bịnh vào lúc cuối tháng mười Giáp Thìn (1964).

Đừng phiền cách trị gia cao thấp,

Nhớ thơ ngây cha tập đến trường.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Gia là chỉ về cái gì thuộc nhà của mình.

Như: Gia nghiêm (cha), gia huynh (anh), gia sự (việc nhà), gia dụng (đồ đạc trong nhà).

Thiện tánh tu tâm căn hữu thiện,

Thiên niên gia sự đắc bình an!

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

3.- Gia là thêm. Như: Gia ân, gia hình, gia phong.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Tuy nhiên, cũng nên nhắc cho quý vị nhớ rằng: Ðã gắng công xây dựng về hình thức tức là ngôi thờ thì cũng phải gia tâm trau tria về mặt tinh thần tức là phần đạo đức.

Bố hóa người đời gây mối Ðạo,

Gia ân đồ đệ dựng nền nhân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

4.- Gia là đẹp, tốt. Như: Gia hào 嘉 肴 (đồ ăn ngon), Gia lễ 嘉 禮 (lễ đám cưới), Gia Long, Gia Định.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Tại sao nước nào, dân tộc nào trong thế giới hiện chừ đương mơ mộng tìm phương pháp đại đồng thế giới? Nói thật ra kể từ có Thánh Giáo Gia Tô 聖 教 嘉 蘇, vấn đề ấy chấm một câu hỏi nguyên vẹn và thúc nhặt hơn hết.

Xem: Gia Tô.

Nam Mô Gia Tô Giáo Chủ Cứu Thế Thiên Tôn.

(Kệ U Minh).

 

 

GIA CANG

Gia: Nhà. Cang: Do chữ “Cương 綱” là giềng mối, kỷ cương.

Gia cang, hay “Gia cương 家 綱” là giềng mối kỷ cương tốt đẹp của một gia đình.

Ghen sợ gặp phấn thô hương chạ,

Xui giục chồng hại phá gia cang.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

GIA CÁT

諸 葛

Gia Cát là họ của Khổng Minh, tên Lượng, đời Tam Quốc, trước ở ẩn tại Ngoạ Long Cương, Nam Dương (Vì vậy, Gia Cát Lượng còn có tên là Ngoạ Long).

Lưu Bị, người nước Thục, ba lần thân hành lên rước, Gia Cát Lượng, ông mới chịu về làm quân sư. Học rộng tài cao, thông hiểu thiên văn địa lý, mưu kế không ai sánh kịp, nhưng không gặp thời, phải đành chia ra ba nước, không làm sao thâu về một mối đặng.

Xem: Khổng Minh.

Nên chưa giúp Hớn buổi hưng vong,

Gia Cát xưa kia chẳng khỏi vòng.

(Đạo Sử).

Mái tranh Gia Cát đôi chồng sách,

Ngọn suối Đào Tiềm một lưỡi câu.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

GIA CÔNG

加 功

Gia: Thêm, cho thêm. Công: Công sức, tức là sức lực đêm ra làm việc.

Gia công là thêm công sức vào, có nghĩa là làm việc tăng thêm.

Thánh Ngôn Thầy nói: Ấy là những đứa Thầy đã tin cậy đặng gia công dọn lối chông gai để mở trống nẻo thiêng liêng, dẫn lần dân sanh khỏi sông mê bến khổ, tất là cõi trần vô vị nầy.

Nghén ba trăng phải gắng gia công,

Dạy con trẻ còn trong bụng mẹ.

(Phương Tu Đại Đạo).

Miễn là con gắng sức gia công,

Học thuộc mặt hăm lăm chữ cái.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

GIA CƯ

家 居

Gia: Nhà, chỗ dựng lên bằng cây, lá, có tường bao, có mái che để ở. Cư: Ở.

Gia cư là nhà ở của một gia đình.

Chừ sao vắng dạng tàn đêm,

Gia cư rách cửa, ven thềm cỏ chen.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GIA ĐÀNG

Hay “Gia đường”.

Gia: Nhà, gia đình. Đàng (đường): Cái nhà.

Gia đàng, như chữ “Gia đường 家 堂”, là nhà ở của cả gia đình, trong đó có cha mẹ và có bàn thờ ông bà, tổ tiên.

Cam tâm nín nẩm gia đàng,

Vì con chưa giữ vững vàng quy mô.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GIA ĐẠO

家 道

Gia: Nhà. Đạo: Phép tắc, đường lối.

Gia đạo là những phép tắc, đường lối sinh hoạt trong một gia đình.

Gia đạo còn có nghĩa như chữ “Gia cảnh”.

Trong Đạo Sử, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Trung, có lắm đứa chí quyết đến xin hỏi gia đạo và thử thánh Thầy. Con khuyên chúng đừng vọng động tà tâm lắm vậy mà phải bị tội với Thiên Ðình... nghe.

Rằng quyền thay đổi căn nhân sự,

Gia đạo hưng suy nghĩa bạn bè.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Nỗi lo gia đạo, nỗi lo đời,

Một phút qua mòn một tấc hơi.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

GIA ĐÌNH

家 庭

Gia: Nhà, một nhà. Đình: Cái sân.

Gia đình là chỗ mọi người đoàn tụ, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và huyết thống, thường gồm có vợ chồng, cha mẹ anh em.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Quan Âm Như Lai có dạy: Còn gia đình chẳng hoà thì cha con mích nhau, chồng vợ lìa tan, anh em ly tán. Còn trong lân lý chẳng hoà thì dân cư bất mục. Nước chẳng hoà thì sanh ly loạn. Còn cả thế giới bất hoà thì nhơn loại đấu tranh.

Gia đình oằn oại gánh đôi vai,

Thế cuộc nên hư cũng một tay.

(Đạo Sử).

Cách ở ăn trong chốn gia đình,

Điều lễ nghĩa hết tình sắp đặt.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

GIA KÊ

加 笄

Gia: Thêm vào, thêm lên. Kê: Cái trâm cài đầu của đàn bà, con gái.

Gia kê là lễ cài trâm cho đứa con gái.

Ngày xưa, bên nước Tàu con gái đến 16 tuổi thì làm lễ cài trâm, gọi là lễ “Gia kê”, ý chỉ con gái đã trưởng thành, cha mẹ có thể định lứa đôi được.

Xem: Gia quan.

Trai thời mười tám gia quan,

Gái thời mười sáu hiệp đàng gia kê.

(Quan Hôn Tang Lễ).

 

 

GIA NÔ

家 奴

Gia: Nhà, trong nhà. Nô: Đầy tớ.

Gia nô tức là nô tỳ giúp việc trong nhà, tức đầy tớ trong các gia đình quý tộc thời xưa.

Như: Bọn gia nô trong các nhà quyền quý.

Dầu cho lúc đứng khi ngồi,

Chàng là chúa cả, thiếp thời gia nô.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Kìa đường giải khổ mênh mông,

Cậy cây huệ kiếm đoạn vòng gia nô.

(Xuân Hương Giáng Bút).

 

 

GIA NGHIÊM

家 嚴

Gia: Nhà. Nghiêm: Nghiêm nhặt, từ gọi người cha.

Gia nghiêm là chữ dùng để gọi ông cha trong khi nói chuyện với người khác.

Người ta thường nói: “Mẫu từ phụ nghiêm 母 慈 父 嚴”, vì bà mẹ là người dịu dàng, thương yêu con cái một cách hiền từ, còn cha thì nghiêm trang để tạo vẻ nể sợ cho con cái.

Gia nghiêm còn có nghĩa là gia đình giữ phép tắc nghiêm khắc.

Anh em nhiều cha mẹ dầu thương,

Gia nghiêm giữ thường thường đừng rẻ rúng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

GIA NGHIỆP

家 業

Gia: Nhà. Nghiệp: Cơ nghiệp.

Gia nghiệp, đồng nghĩa với chữ “Sản nghiệp 產 業”, “Cơ nghiệp 基 業”, là chỉ tài sản của một gia đình, tức là toàn bộ của cải, nhà cửa, ruộng vườn của gia đình.

Nghĩa bóng trong tôn giáo: Chỉ sự nghiệp hành đạo.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Thầy có câu: Các con ơi! Rất đỗi là một ông cha phàm, khi chia gia tài cho con cái, còn chưa kể; nên cho nhiều, hư cho ít thay, huống lựa là Thầy, dầu cho đứa khôn ngoan hiếu hạnh cùng Thầy hay là đứa ngu lại phản tâm cùng Đạo, thì hồng ân của Thầy vẫn rưới cho đều. Tự nơi chúng nó biết phương bảo thủ cho toàn gia nghiệp hay là lầm mưu phá nát gia tài, dầu thế nào đi nữa thì Thầy cũng lấy tình thương mà phân định.

Gia nghiệp đã an con cái đủ,

Khá tua cửa Phạm đến cầu duyên.

(Đạo Sử).

Chia gia nghiệp trong cơn khốn khó,

Hiệp đôi nhà con nhỏ làm chung.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GIA PHÁP

家 法

Gia: Nhà. Pháp: Phép tắc.

Gia pháp là phép tắc trong nhà.

Các danh gia vọng tộc có nhiều tôi tớ, nên trong nhà có những thứ hình cụ dùng để trừng phạt những tôi tớ phạm lỗi, cũng gọi là gia pháp.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Gia đình là một phần nhỏ trong xã hội, nếu biết gìn giữ thân thể, tôn trọng danh giá cha mẹ, anh em thảng có đứa du côn không kể gia pháp, làm rối loạn gia đình thì kẻ đó ai cũng muốn bỏ, muốn đưa ra khỏi gia đình tông tổ.

Lại e lỗi đạo nhơn luân,

Dở dang gia pháp, vương thần loạn ngôi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Một nhà gia pháp xưa đâu mất,

Ðể lũ con hoang rất bất bình.

(Đạo Sử).

Đừng buông lời lỗ mãng hài tên,

Nhà gia pháp dưới trên cho phải mặt.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

GIA PHONG

家 風

Gia: Nhà. Phong: Thói, lề lối.

Gia phong là lề thói trong nhà, tức những tập quán nề nếp, phong hoá trong gia đình.

Khi nói về lễ cúng trong nhà thờ Tông đường của ông Kế Hiền Kỷ, Thuyết Đạo Hộ Pháp có đoạn: Bần Ðạo tọc mạch theo coi nghe tiếng đồn mà đến, chớ trong Tông đường của Bần Ðạo gia phong thì lại khác.

Điệu chồng vợ phân phân phải phải,

Nét gia phong để lại cháu con bền.

(Phương Tu Đại Đạo).

Nét gia phong cửa Khổng để bêu gương,

Phương hoá chủng học đường ra huấn giáo.

(Văn Tế Bảo Đạo).

 

 

GIA QUAN

加 冠

Gia: Thêm vào, thêm lên. Quan: Mũ, mão.

Gia quan là lễ đội mũ cho đứa con trai.

Ngày xưa, bên nước Tàu con trai đến 18 tuổi thì làm lễ đội mũ, gọi là lễ “Gia quan”, ý chỉ con đã trưởng thành, cha mẹ có thể định lứa đôi được.

Trai thời mười tám gia quan,

Gái thời mười sáu hiệp đàng gia kê.

(Quan Hôn Tang Lễ).

 

 

GIA QUYẾN

家 眷

Gia: Nhà. Quyến: Thân thuộc.

Gia quyến là những người thân thuộc trong một nhà.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Phần nhiều trong các con chẳng để lòng thờ kính Thầy, tưởng cho đem thờ Thầy vào nhà là chủ ý cầu một việc lợi riêng chi cho gia quyến vậy thôi, chớ chẳng hiểu là một nguồn trong sạch để rửa các lỗi phàm tục của các con.

Thầy để lời cho con rõ, cảnh vui vẻ về sau của gia quyến con, đạo đức soi gương, đem về chung một nẻo.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

GIA SẢN

家 產

Gia: Nhà. Sản: Sinh ra, làm ra, tức những thứ do mình lao động làm ra.

Gia sản là của cải trong nhà, tức chỉ toàn bộ tài sản của một gia đình.

Như: Hắn có tội bị tịch thu gia sản.

Làm quan tính kế đảo điên,

Gạt thâu gia sản, đất điền của dân.

(Kinh Sám Hối).

Gái xướng kỵ, trai thì du đãng,

Phá tan hoang gia sản suy vi.

(Kinh Sám Hối).

 

 

GIA SỰ

家 事

Gia: Nhà. Sự: Việc.

Gia sự là việc nhà, tức những công việc trong và ngoài của một gia đình.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Đức Thượng Phẩm có câu: Anh cũng nên để trọn quyền hành sự cho Chánh Phối Sư, đặng nhẹ bớt cái phần trách nhậm nặng nề đi, đặng anh lo nhiều điều cao thượng của Đạo hơn nữa. Anh nên đem chị về cho thuận Thánh ý Thầy và bớt lo điều gia sự.

Thiện tánh tu tâm căn hữu thiện,

Thiên niên gia sự đắc bình an.

(Đạo Sử).

Mãn nguyện chưa xong gia sự biến,

Còn lo một nỗi sắc còn tươi.

(Đạo Sử).

 

 

GIA TÀI

家 財

Gia: Nhà. Tài: Tiền bạc của cải.

1.- Gia tài là tất cả tài sản như tiền bạc, của cải trong nhà, tức toàn bộ đồ đạc trong gia đình.

Như: Anh là con út được hưởng toàn bộ gia tài, ông ấy đã chia gia tài cho các con trước khi chết.

Nghĩ nhớ gia tài xưa khóc mãi,

Trên đầu chữ “Phú” chiếu như gương.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Đừng tranh phát gia tài đặng thất,

Nếu cha ngu của mất hồi mô.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Gia tài còn là tài sản (chỉ chung vật chất cũng như tinh thần) của người trước để lại cho người sau thừa kế.

Thánh giáo Thầy có câu: Nếu Thầy làm đặng vậy, đạo phổ thông rất lẹ, ngặt gia tài mỗi đứa đều có phần, Thầy không phép lấy cho kẻ khác, trừ ra đứa nào chê bỏ thì mới đặng tuỳ ý Thầy định đoạt mà thôi.

Ðạo là một cái gia tài,

Lưu truyền giữ mãi tháng ngày không hư.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

GIA TĂNG

Gia: Thêm vào. Tăng: Thêm lên.

Gia tăng là tăng thêm, thêm lên.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Nói như thế nghĩa là nếu con người từ nhỏ cho tới lớn được dạy dỗ trong khuôn viên đạo đức và chỉ có gần với kẻ thiện thì cái lòng nhân còn giữ y nguyên có lẽ còn được gia tăng thêm nữa.

Tinh thần tráng kiện, quý thể khương cường, vạn bệnh hồi xuân, gia tăng phước thọ.

(Sớ Văn).

 

 

GIA TIÊN

家 先

Gia: Nhà. Tiên: Trước.

Gia tiên là chỉ những người sinh ra trước trong gia đình mình, như cha mẹ, ông bà...

Gia tiên còn dùng để chỉ tổ tiên của gia đình.

Thường năm Tông tộc lễ gia tiên,

Lời dạy noi gương bậc triết hiền.

(Thơ Vạn Năng).

 

 

GIA TÔ GIÁO CHỦ

Gia Tô (Da Tô) là tên một người Do Thái được tín đồ Thiên Chúa giáo tôn làm Giáo Chủ, hay đức Chúa trời.

Trong đạo Cao Đài, Thánh danh viết đầy đủ của Ngài là “Gia Tô Giáo Chủ Cứu Thế Thiên Tôn”.

Gia Tô

Ngài có tên là Jésus Christ, sanh vào đêm 25 tháng 12 tại thành Bethléem. Mẹ của Ngài là Maria, một nữ tu tại đền thờ Jérusalem. Cha Ngài là Joseph. Hai ông bà rất mộ đạo, tuy bà đang có thai, gần ngày sanh, nhưng hai người vẫn cố gắng tới Đền thờ để chầu lễ. Vì vậy, đúng 12 giờ đêm Noel bà chuyển bụng sanh ra Chúa Jésus nơi máng cỏ trong chuồng chiên.

Năm 30 tuổi, Ngài được Thánh Jean Baptiste làm lễ giải oan tại bờ sông Jourdain. Từ đó, Ngài khởi sự giảng Thánh Kinh ngay trong xứ Galilée và Jérusalem, lập nên đạo Thánh ở Do Thái, rồi truyền bá mạnh mẽ sang Châu Âu. Uy quyền bọn vua quan phong kiến bị lung lay, nên chúng tìm cách giết Ngài.

Bọn chúng mua chuộc một tông đồ của Ngài là Yuda, phản lại Ngài vu cáo cho Ngài mưu việc phản loạn, rồi bắt Ngài lên án tử hình và đóng đinh trên thập tự giá.

Cái chết của Đức Chúa Jésus thật là cao cả, Ngài chuộc tội cho loài người bên xứ Châu Âu, trở thành một vị Chúa Cứu Thế cho toàn nhơn loại.

Ðức Chúa Jésus là Chơn linh của Ðức Phật Christna, một vị Phật trong Tam Thế Phật, giáng sanh để mở đạo Thánh nơi nước Do Thái, cứu độ các sắc dân ở Âu Châu trong thời Nhị Kỳ Phổ Ðộ.

Theo Thuyết đạo của Đức Hộ Pháp trong ngày Vía Ðức Chúa Jésus 25/12/1948 và 25/12/1949, xin trích ra như sau: “Có một Ðấng Chơn linh Tam Thế Chí Tôn, nhơn loại đều biết danh đó: Brahma Phật, tức nhiên là Tạo hoá; Nhị thế Civa Phật, tức Tấn hoá; Tam thế Christna Phật, tức nhiên Bảo tồn; Ðấng trọn quyền bảo tồn ấy là lòng ái tuất thương sanh vậy. Vì cớ cho nên, Ðức Chúa Jésus Christ thương nhơn loại một cách nồng nàn thâm thúy. Ngài đã ngó thấy Nhứt Kỳ Phổ Ðộ, nhơn loại ký Hoà ước với Chí Tôn mà đã bội ước, nên phạm Thiên điều, nhơn quả nhơn loại gớm ghiết. Do nhơn quả ấy mà tội tình nhơn loại lưu trữ đến ngày nay. Thánh giáo gọi “Tội Tổ Tông”. Chính mình Ngài đến, đến với một xác thịt phàm phu, Ngài đến giơ tay để ký Ðệ nhị Hoà ước với Ðức Chí Tôn, chịu tội cho nhơn loại, ký Ðệ nhị Hoà ước đặng dìu dắt chúng sanh trở về cùng Ðấng Cha Lành của họ tức nhiên là Ðức Chí Tôn của chúng ta ngày nay đó vậy. Ðấng ấy vô tận vô biên, thấy nạn của nhơn loại đã dẫy đầy, Ngài chỉ xuống mặt thế nầy làm con tế vật đặng chuộc tội tình cho nhơn loại, mà lại còn đem quyền của Chí Tôn để nơi tay của nhơn loại, bàn tay đó đã ký Ðệ nhị Hoà ước cho nhơn loại, nó làm cho Ngài thế nào? Do tay Ngài ký tờ Hoà ước với Chí Tôn, nên 2 tay của Ngài bị đóng đinh trên cây Thập tự giá.

Nguyên Đức Ngài có tên là “Jésus”, người Tàu đọc âm rồi viết thành hai chữ “耶 蘇”, chúng ta mới phiên âm hai chữ nầy thành “Da Tô” (Da viết phụ âm D theo Tự Điển của Thiều Chửu và Hán Việt Từ Điển của Đào Duy Anh).

Trong bài Kinh Khi Về có đoạn viết:

Dẫy xe trâu Côn Lôn trỗi bánh,

Lý Lão Quân mong lánh phong trần.

Núi Ô Li Vê để dấu chân,

Gia Tô Giáo Chủ giải phần hữu sanh.

Chúng ta thấy câu kinh trên viết Thánh danh của Đức Ngài là “Gia Tô” (Gia viết phụ âm Gi) và nhứt là các bản Sớ văn của Hội Thánh được lưu hành bằng chữ Quốc ngữ đều phiên âm: “Gia Tô Giáo Chủ 嘉 蘇 教 主”. Ngoài ra trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển hay Thuyết Đạo Hộ Pháp cũng đều viết là “Gia Tô Giáo Chủ” (Chữ Gia viết: “Gi”).

Nhưng trong Long vị thờ Đức Ngài tại Đền Thánh lại viết: “DA TÔ Giáo Chủ 耶 蘇 教 主” (Chữ Da viết: D).

Chính Ngài đã giáng cơ dạy Đạo vào năm 1925 khoán thủ trong bài Thánh thi 8 chữ “Da Tô Giáo Chủ Giáng Chứng Kỷ Niệm”, mà câu thi đầu tiên Ngài lấy ý da thịt để khoán thủ chữ Da của Thánh hiệu “Da Tô”. Như vậy tức là xác định cho ta thấy Thánh danh “Da Tô Giáo Chủ” của Ngài phải viết chữ Da bằng chữ “D”.

Bài Thánh thi của Ngài như sau:

Da nồi thịt xáo hại lòng đau,

Tô cả Năm Châu cũng máu đào.

Giáo lý Chân như đồng bản tính,

Chủ trung Thần trí hiệp chung màu.

Giáng đàn nhắc nhở lời kinh Thánh,

Chứng tỏ tiên tri chẳng khác nào.

Kỷ thế hai mươi Ta phục đáo,

Niệm danh Thiên Chúa tại đài cao.

Chúng tôi trình bày hai lối viết Thánh danh của Đức Jésus là có ý mong muốn sau nầy Hội Thánh nghiên cứu và thống nhứt thành một Thánh danh duy nhứt của Ngài.

Giáo Chủ

Giáo chủ là người sáng lập và đứng đầu một tôn giáo.

Ðức Chúa Jésus Christ là Giáo chủ của Thiên Chúa giáo. Thiên Chúa giáo còn được gọi là Công giáo, Ðạo Gia-Tô, là Thánh đạo trong Ngũ Chi Ðại Ðạo, nên Ðức Ngài được gọi là Da Tô Giáo chủ.

Nói về ngôi Giáo chủ của Ngài, Đức Hộ Pháp có thuyết: “Ngài chết như thế ấy, nếu không phải con mắt thiêng liêng oai quyền của Ðức Chí Tôn thì cái chết của Jésus Christ mai một mờ ám mà thôi, không có cái gì gọi là Chí Thánh cả. Không phải vậy, Ðức Chí Tôn đã hứa, đã nhìn nhơn loại là con và chính mình Ngài đã ở trọn hiếu cùng hy sinh tánh mạng của mình làm cho danh của Ðức Chí Tôn cao trọng và làm cho nhơn loại đặng hưởng đặc ân của Ðức Chí Tôn chan rưới, làm cho con cái của Ðức Chí Tôn biết cái hiếu của Ngài đối với Ðức Chí Tôn. Từ thử tới giờ, chưa có một Giáo Chủ nào đã làm. Cái hiếu của Ngài đến giờ chót đối với Ðức Chí Tôn đã trọn. Còn Ðức Chí Tôn, nếu không phải giữ “Nghĩa” với đứa con yêu dấu, con hiếu hạnh của Ngài, thì cái chết của Jésus Christ bất quá như kẻ tù nhân chết mà thôi, có đâu lên phẩm vị Giáo chủ, ngồi trên ngai thiêng liêng vô cùng quý báu trên mặt địa cầu nầy gần 2000 năm. Trong lúc Ðức Chúa Jésus Christ làm con hiếu hạnh có ba năm thôi, mà Ðức Chí Tôn trả lại cái danh dự sang trọng cho Ngài đến 1949 năm là năm nay”.

Cứu Thế

Cứu thế có nghĩa là cứu đời, tức cứu cả toàn nhơn loại.

Chúa Cứu Thế chỉ Đức Chúa Trời, tức Jésus Christ, Giáo Chủ Thiên Chúa Giáo, Người đã có công hy sinh thân xác mình chịu đóng đinh trên Thập Tự giá để chuộc tội cho toàn nhơn loại.

Đức Hộ Pháp giải thích về cái chết của Đấng Jésus Christ như sau: “Cái chết của Ðức Chúa Jésus Christ là gì? Là Ngài đem xác Thánh quý trọng dâng cho Ðức Chí Tôn làm tế vật. Xác Thánh chết trên Thánh giá là tế lễ đồng thể với Tam Bửu của chúng ta dâng cúng Ðức Chí Tôn ngày nay đó vậy. Vậy, Ðức Chúa Jésus Christ đã làm con tế vật cho Ðức Chí Tôn đặng cứu chuộc tội lỗi của loài người, nhứt là các sắc dân Âu Châu, nên danh thể Ngài để hai chữ Cứu Thế chẳng có chi là quá đáng”.

Thiên Tôn

Thiên tôn là một phẩm do Đức Thượng Đế phong thưởng hoặc được vạn linh tôn thờ cho các Đấng có công nghiệp với nhơn loại, trái với Thế Tôn là những bậc có các Đức tánh tốt đẹp để người đời khâm phục kính ngưỡng, như: Đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn.

Trong đạo Cao Đài, Đức Chúa cũng được tôn xưng là một vì Thiên Tôn, là vị Giáo Chủ cầm quyền Thánh giáo trong Ngũ Chi Đại Đạo. Thánh danh của Ngài ghi trong Sớ Văn như sau “Da Tô Giáo Chủ Cứu Thế Thiên Tôn”.

1.- Gia Tô:

Kinh đô gầy dựng ngàn năm lẻ,

Trước Chúa Gia Tô hợp đại hoà.

(Đoàn Thị Điểm Giáng).

2.- Gia Tô Giáo Chủ:

Núi Ô Li Vê để dấu chân,

Gia Tô Giáo Chủ giải phần hữu sanh.

(Kinh Thế Đạo).

3.- Gia Tô Giáo Chủ Cứu Thế Thiên Tôn:

Nam Mô Gia Tô Giáo Chủ Cứu Thế Thiên Tôn.

(Kệ Chuông U Minh).

 

 

GIA TỘC

家 族

Gia: Nhà. Tộc: Họ.

1.- Gia tộc là tập hợp gồm nhiều gia đình có cùng một tổ tiên, cùng họ.

Như: Lễ cúng nầy gồm những người cùng gia tộc, gia tộc của anh ấy ở ngoài bắc.

Mỗi gia tộc đều có tay cứng cổ,

Anh ruột thường coi bộ ít hay ưa.

(Phương Tu Đại Đạo).

Ngoài gia tộc, nước non vầy bạn,

Lựa tài danh giao cạn tâm tình.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Gia tộc, theo Thánh giáo Đức Chí Tôn, còn dùng để chỉ những người đạo do một chức sắc đại Thiên phong độ rỗi, sau nầy về cõi thiêng liêng trở thành một gia tộc của nhau.

Chừng ấy về đến Bạch Ngọc Kinh thì gia tộc mỗi đứa đều phân biệt. Nếu chẳng độ rỗi thì về với hai tay không.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

GIA TƯ

家 資

Gia: Nhà. Tư: Tiền của.

Gia tư là tiền của, hay nói một cách khác, là của cải, tài sản trong gia đình.

Truyện Kiều, Nguyễn Du có câu: Có nhà viên ngoại họ Vương, Gia tư nghĩ cũng thường thường bực trung.

Nại chi xác yếu thịt mòn,

Gia tư miễn đặng vuông tròn giữ duyên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GIA THẤT

家 室

Chữ gia, thất đều có nghĩa chỉ cái nhà. Nghĩa rộng chữ gia chỉ người chồng, chữ thất chỉ người vợ.

Kinh Thi có câu: Chi tử vu quy, nghi kỳ gia thất 之 子 于 歸, 宜 其 家 室, nghĩa là người con gái về bên chồng, hoà thuận cửa nhà.

Do vậy “Gia thất” dùng để chỉ chồng vợ. Như: con cái đã thành gia thất.

Ðiều đình gia thất vẹn nhơn luân,

Cái nẻo Thiền môn giống đám rừng.

(Đạo Sử).

Lập gia thất làm giàu con trẻ,

Định lứa đôi đủ thế cùng đời.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Thi mầng đôi lứa thành gia thất,

Lời chúc ba sinh phỉ ước nguyền.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

GIA THẾ

家 世

Gia: Nhà. Thế: Đời.

Gia thế là thế hệ trong gia tộc. Gia thế còn dùng để chỉ dòng dõi quyền quý.

Bài Điếu Văn Đức Cao Thượng Phẩm của Đầu Sư Thượng Trung Nhựt có câu: Một Từ Huyên bóng xế trăng lờ, lại gặp cuộc mẹ già ngồi khóc trẻ, nhớ con trẻ biết bao tình thắm thiết vợ hiền lương rẽ bạn giữa đường, cuộc gia thế trăm bề quạnh quẽ.

Gia thế kim triêu thừa phúc hậu,

Thiên quang chánh đức dĩ khai minh.

(Đạo Sử).

 

 

GIA VÔ BẾ HỘ

家 無 閉 戶

Gia: Nhà. Vô: Không, chẳng. Bế hộ: Đóng cửa.

Gia vô bế hộ là nhà không đóng cửa, ý chỉ vào thời Thánh đức, thiên hạ thái bình, nhân dân an cư lạc nghiệp, người không tham lam trộm cắp, nên đêm ngủ, nhà không đóng cửa, ngoài đường chẳng ai lượm của rơi (Gia vô bế hộ, lộ bất thập di 家 無 閉 戶, 路 不 拾 遺).

Sử chép rằng: Khổng Tử sau khi giết được Thiếu Chánh Mão là tên đại gian nịnh, bèn giúp vua Lỗ Định Công sửa trị việc nước. Được ba tháng thì biến cải phong tục, ngoài chợ người bán buôn không thách giá, đường đi thì đàn ông bên trái, đàn bà bên phải, phân biệt nhau, không hỗn loạn, thấy của rơi không phải của mình thì không ai thèm lượm.

Xem: Nhà không đóng cửa.

Nhơn dân được vui hưởng hạnh phúc, gia vô bế hộ, lộ bất thập di, trong nước không có nhà tù, vì không có tội nhơn.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

GIÁ

1.- Giá là nước lạnh đông lại mà thành. Như: Tuyết giá, trong như giá.

Thánh giáo Thầy có dạy: Các con, nền Ðạo bề ngoài coi diềm dà sung túc, mà chẳng thấy rõ cái mạch bịnh trong tâm, chẳng khác chi thế Sở chế bạo Tần, ham cái mạnh bề ngoài, biết sợ cái mặt chớ chẳng rõ lòng người ra sao, mà không độ cái mạnh cấp thời đó sẽ dần dần tan như giá mà đổi ra yếu hèn thấp nhược.

Giá trong sạch nữ nhi trượng tiết,

Giữ cho tròn trinh liệt mới mầu.

(Kinh Sám Hối).

Nêu gương tuyết giá hậu lai,

Gỡ trong muôn một những bài sanh ly.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Giá là rét lạnh, buốt lạnh.

Như: Trời đông tháng giá, tiết trời giá lạnh, miền bắc cực đầy băng giá.

Thương người giá lạnh ngoài biên ải,

Chinh phụ ngồi đan áo gởi chồng.

(Thơ Chơn Tâm).

3.- Giá là đồ dùng để treo hoặc gác vật gì lên đó. Như: Giá chuông, giá trống, giá áo túi cơm, giá triệu.

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du có câu: Phong trần mài một lưỡi gươm, Những phường giá áo túi cơm sá gì.

Theo linh xa một gái chơi vơi,

Phò giá triệu bóng trời không kẻ đậy.

(Văn Tế Bảo Đạo).

4.- Giá là một tiếng dùng để nêu một điều kiện thuận lợi, giả thiết.

Như: Giá mà anh đi liền thì còn kịp, giá mà anh cẩn thận thì đâu đến nỗi.

Nghĩa là cái sống ta cũng muốn, điều nghĩa ta cũng muốn, giá ta không thể giữ được cả hai thì ta bỏ cái sống mà giữ lấy điều nghĩa vậy.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

5.- Giá là số tiền tương đương với một vật gì đó.

Như: Quý giá, giá cả từng món hàng, hàng giá rẻ, những vật đáng giá.

Chờ khi lúa phát giá cao,

Khai ra bán mắc Trời nào dung cho.

(Kinh Sám Hối).

Ngọc lành đáng giá biết bao lăm,

Ðể mẻ thì ai chẳng tiếc thầm.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

6.- Giá là đánh xe, hay xe của vua đi. Như: Ngự giá, hộ giá, tiếp giá.

Thánh giáo Đức Chí Tôn phong cho Ngài Hộ Pháp Phạm Công Tắc có câu: Tắc, phong vi Hộ Giá Tiên Ðồng Tá Cơ Ðạo Sĩ.

Chư chúng sanh khá đại tịnh đặng tiếp giá Ðức Từ Bi.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

GIÁ BÚT

Giá: Đồ dùng bằng gỗ để treo, gác hay đỡ vật gì lên. Bút: Cây viết.

Giá bút, như chữ “Bút giá 筆 架”, là giá dùng để gác cán bút.

Từ khi giá bút nhện tơ vương,

Thức ngủ ra sao nếp sống thường?

(Thơ Hi Đạm).

 

 

GIÁ LẠNH TẦM NGƯ

Giá lạnh: Ngày đông giá lạnh lẽo. Tầm ngư 尋 魚: Tìm kiếm cá.

Giá lạnh tầm ngư là ngày mùa đông giá buốt phải đi tìm cá để bắt.

Do tích: Vương Tường người đời Tấn, ngày đông giá, nước đóng thành băng, bà mẹ ghẻ thèm ăn cá tươi, ông mình trần đi tìm cá.

Bỗng nhiên băng nứt đôi, có hai con cá chép nhảy lên, ông bắt về làm món ăn cho bà kế mẫu.

Xem: Nằm giá.

Phòng đông đọc sách ra công mọn,

Giá lạnh tầm ngư đáp nghĩa dày.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

GIÁ LÂM

駕 臨

Giá: Cổ xe của vua hay của chư vị Thiêng Liêng đi. Lâm: Đến nơi nào.

Vua hay chư vị Thiêng Liêng đi đến một nơi nào đó, gọi là “Giá lâm”.

Như: Hoàng thượng giá lâm, Đức Phật Mẫu giá lâm.

Giá lâm Kim Mẫu kỵ thanh loan,

Hội Yến Diêu Cung rỡ ánh vàng.

(Thơ Thành Đức).

 

 

GIÁ MỎNG

Giá: Nước đông cứng lại. Mỏng: Không dầy.

Giá mỏng, như chữ “Lý bạc băng 履 薄 冰”, nghĩa là đi trên giá mỏng.

Giá mỏng ý muốn nói đi trên băng giá mỏng sợ băng giá sẽ tan bị rơi xuống.

Nghĩa bóng: Chỉ cảnh nguy hiểm.

Dò hang há sợ hang sâu cạn,

Nương giá chi lo giá mỏng dày.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

GIÁ NGỌC

Giá: Nược lạnh đông lại thành. Ngọc: Châu ngọc.

Giá ngọc là trong trắng như băng, tinh khiết như ngọc, dùng để chỉ hành vi trong sạch thanh cao.

Băng ngọc còn có thể hiểu “Băng tâm tại ngọc hồ 冰 心 在 玉 壺”, là một mảnh lòng băng tại hồ ngọc, dùng để chỉ tấm lòng thuỷ chung trong trắng.

Xem: Băng ngọc.

Yểu điệu trau mình nên giá ngọc,

Thuyền quyên vẹn phận đẹp thân ngà.

(Bát Nương Giáng Bút).

Nỗi sợ con giá ngọc chẳng gìn,

Sợ nỗi rể đoạn tình chẳng cưới.

(Phương Tu Đại Đạo).

Gắng lập nền nhân gìn giá ngọc,

Bền trau cội phúc vững tâm vàng.

(Thơ Hiến Pháp).

 

 

GIÁ NGỰ

駕 御

Giá: Cỗ xe của vua đi. Ngự: Ngồi lên.

Giá ngự, như chữ “Ngự giá 御 駕”, tức chỉ việc vua đi, hay xe kiệu vua đi.

Trong Tôn Giáo Cao Đài, chữ “Ngự giá” (Hay giá ngự) được dùng để chỉ Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế ngự xuống phàm trần.

Từ Bi giá ngự rạng môn thiền,

Đệ tử mừng nay hữu huệ duyên.

(Bài Dâng Hoa).

 

 

GIÁ TUYẾT

Giá: Băng giá, lạnh. Tuyết: Tinh thể băng nhỏ và trắng kết thành khối rơi xuống ở vùng có khí hậu lạnh.

Giá tuyết, đồng nghĩa với chữ “Băng tuyết 冰 雪”, tức là gìn giữ trinh tiết trong trắng như băng giá.

Giá tuyết chỉ lòng trong sạch của người vợ đối với chồng, sạch như tuyết, trong như giá.

Tầng nghe giá tuyết trong ngần,

Cớ sao bị nhiễm phong trần bởi đâu?

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GIÁ TRỊ

價 值

Giá: Cái giá trị của vật. Trị: Đáng giá.

Giá trị là cái gì làm cho một vật hoặc một người trở nên có ích lợi, cần thiết cho người.

Giá trị còn có thể hiểu là cái giá vật phẩm hay con người tốt hay xấu, quý hay tiện.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Lý Giáo Tông có dạy: Từ đây, Lão hằng gìn giữ chư hiền hữu hơn nữa. Nếu Lão ép lòng cầm quyền thưởng phạt phân minh là có ý muốn giá trị của chư hiền hữu thêm cao trọng nữa. Vậy Lão xin đừng để dạ phiền hà nghe!

Trọng thân con khá biết trọng người,

Cái giá trị mình phải có nơi.

(Đạo Sử).

Nưng cao giá trị của người tu,

Tu luyện tánh tâm vẹt ám mù,

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

GIÁ TRIỆU

Giá: Một cái khung tre đặt trên một cái giá bốn chơn có chỗ cho cháu đích tôn người chết ngồi lên đó và được người ta khiêng đi phía trước xe tang trong ngày di quan ra phần mộ. Triệu: Còn gọi là “Minh sanh” hay “Minh tinh” 銘 旌”, tục gọi là tấm phan, đó là một tấm lụa hay vải đỏ, người ta dùng phấn trắng viết họ tên, tuổi tác và quan chức người chết.

Giá triệu là tấm triệu được treo trên cái giá hay một cần nêu dẫn đi trước linh cữu trong khi đưa ma. Lúc hạ huyệt thì đem tấm triệu ấy phủ lên trên mặt linh cữu hoặc có nơi đốt đi.

Xem: Minh sanh.

Theo linh xa một gái chơi vơi,

Phò giá triệu bóng trời không kẻ đậy.

(Văn Tế Bảo Đạo).

 

 

GIÁ TRONG

Hay “Giá trong sạch”.

Giá: Nước lạnh đông lại mà thành. Trong: Sạch, suốt, không đục.

Giá trong, như chữ “Băng thanh 冰 清”, tức giá trong sạch, ý muốn nói đàn bà phải giữ tiết trong sạch như băng giá, nghĩa là khi có chồng phải giữ lòng ngay thẳng, trong sạch với người chồng.

Thánh giáo Đức Lý giáo Tông có câu: Ðức Từ Bi đã lấy lòng quảng đại mà gieo giọt nhành dương để rửa lỗi phàm gian, hầu đem mình trong giá trắng gương vào nơi Cực Lạc.

1.- Giá trong:

Ngà ngọc chưa phen đổi đức tài,

Giá trong ai dám độ nên hay.

(Đạo Sử).

Gìn sắc ngọc, giá trong, tiết sạch,

Gói vẹn tròn phong cách trung trinh.

(Phù Kiều Hận Sử).

2.- Giá trong sạch:

Giá trong sạch nữ nhi trượng tiết,

Giữ cho tròn trinh liệt mới mầu.

(Kinh Sám Hối).

 

 

GIÀ

1.- Già là lâu ngày, lâu năm, lâu đời, nhiều tuổi, trái với trẻ, với non. Như: Người già, Trời già, gái già, cau già.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Giúp đỡ một người nghèo đói, cứu vớt một kẻ té sông, chia sớt thống khổ của người già cả tật bịnh, đó là làm điều nghĩa.

Hãy có dạ kỉnh già thương khó,

Chớ đem lòng lấp ngõ tài hiền.

(Kinh Sám Hối).

Đừng cải lẽ những điều phải chẳng,

Tấm thân già hiểu đặng cuộc đời hơn.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Già là tiếng người nhiều tuổi tự xưng.

Như: Già nầy chỉ mong được yên thân, già nầy mà ăn được bao nhiêu.

Biết phận, già không chờ chống gậy,

Nương theo con dại mới ra vầy.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thấy trẻ gái dầm dề lụy đổ,

E cho sau chịu số như già.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Đừng ghét già hay chọn kén,

Ấy là phương vun quén nên nhà.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Già là có số lượng vượt quá mức xác định, trái với non.

Như: Đong lúa bằng giạ già, làm việc già nửa ngày mới xong, chai nầy già một lít.

Phàm tiếng giạ thì là một hạng,

Đừng đong non góp xáng giạ già.

(Phương Tu Đại Đạo).

4.- Già là tiếng nhà Phật, do chữ “Già lam 伽 藍”, tức tịnh xá, chùa chiền nói tắt.

Như: Già lam, già chiền.

Già còn dùng để gọi Đức Phật Thích Ca là “Thích Già 釋 伽”.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Thầy Thích Già đặng bốn người, ba người bỏ Thầy còn lại một.

Liên đài may nở thêm hoa,

Lão Đam cũng biết, Thích Già cũng quen.

(Kinh Tận Độ).

 

 

GIÀ CẢ

Già: Người có nhiều tuổi. Cả: Lớn.

Già cả là người già, người cao tuổi.

Trong Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Như thời xưa vợ ông Châu Công, Ngài là Tể Tướng đầu triều mà bà vợ vẫn lo canh cửi làm ăn nuôi mẹ chồng, một vị mạng phụ phu nhơn mà cư xử được như vậy thật đáng quý. Kịp đến khi ông hồi hưu, buổi già cả vợ chồng đối với nhau như chủ khách.

Giúp đỡ một người nghèo đói, cứu vớt một kẻ té sông, chia sớt thống khổ của người già cả tật bịnh, đó là làm điều nghĩa.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

GIÀ ĐỜI

Già: Người có nhiều tuổi. Đời: Khoảng thời gian sống của một sinh vật.

Già đời là lâu năm và sành sỏi trong công việc.

Già đời còn có nghĩa là suốt đời, cho đến hiện tại. Như: Già đời không biết cảm giác trên máy bay.

Nhược không lập chí tu hành,

Già đời mãn kiếp không thành món chi.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

GIÀ YẾU

Già: Nhiều tuổi, tức ở vào giai đoạn cuối trong quá trình sống của con người. Yếu: Không khoẻ, không mạnh.

Già yếu là tuổi già và sức yếu.

Thuyết Đạo về Khổng Thánh Tiên Sư, Đức Thượng Sanh có đoạn: Ngài bỏ nước Lỗ đi đã mười bốn năm, lúc về Ngài đã 68 tuổi. Ngài thấy mình đã già yếu nên không cần ra làm quan nữa.

Thấy già yếu hẹp đường nhượng tránh,

Đừng chỗ đông buông tánh quá vui.

(Kinh Sám Hối).

Khi già yếu cần lo thang thuốc,

Trong gia đình thông thuộc liệu giùm phương.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

GIÀ LAM

伽 藍

Già Lam là nói tắt từ “Tăng Già Lam Ma” dịch từ Phạn ngữ là Sangharâma.

Già Lam có nghĩa là chúng viên, tức là nơi vườn mà tăng chúng ở. Từ gọi chung chỉ chùa chiền, trung tâm tu học, thiền định. Từ “Chốn Già Lam” được dùng để chỉ nơi chùa chiền hay giới Tăng già.

Ngoài ra, Dà Lam còn dùng để chỉ ngôi vị Phật, gọi là Phật Dà Lam.

Dà Lam dẫn nẻo Tây Quy,

Kim chung mở lối kịp kỳ kỵ sen.

(Kinh Tận Độ).

 

 

GIÀ NUA

Già: Ở vào tuổi có những hiện tượng sinh lý suy yếu dần, trong giai đoạn cuối của quá trình sống tự nhiên.

Già nua chỉ người tuổi tác cao, tức người đã già, yếu đuối, chẳng còn sức sống bao nhiêu nữa.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Hiện nay Bần Đạo phân đoán chí lý nội tình của Đạo nhận thấy một bên là Hội Thánh thì mấy ông già nua, còn một bên Quân đội là trai trẻ có tinh thần giục tấn.

Cho mầm son trẻ sương đằm thắm,

Cho cội già nua mốc đượm nhuần.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

GIẢ

1.- Giả là không phải thực mà là được làm bề ngoài giống như thật.

Như: Tiền giả, hàng giả, thực giả, đạo đức giả.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Ðã là người tu hành thì ai cũng có một chí hướng thiết thực, một hoài bão cao siêu là lánh giả tìm chơn, xả thân, diệt bản ngã để tiến tới hoàn thiện.

Học đặng định chánh tà giả thiệt,

Học cho thông đặc biệt hư nên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Thiệt thì bỏ, giả vay nên nợ,

Mãn căn sanh chưa mở dây oan.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Giả làm như thật để người khác tưởng là thật.

Như: Giả bệnh để không đi học, giả ngu, giả điếc, giả nghèo, giả khổ.

Dầu khôn mấy giả ngu cho thuận,

Phải bao nhiêu cũng nhận lỗi lầm.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Chất mối sầu tư ruột nát bầm,

Thời thôi đành phải giả làm câm.

(Thơ Huệ Giác).

3.- Giả là mượn. Như: Giả danh, giả dạng, giả hình, giả làm thầy chùa.

Trong quyển Thiên Đạo, hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có đoạn viết: Nếu Chơn linh chỉ dạy những việc tầm thường, hoặc trái chơn lý, tất nhiên chúng ta đâu tin là bực Đại Tiên. Trái lại, nếu giáng cho đạo lý cao siêu, có tánh cách Tiên gia, không bằng cớ cụ thể, song chúng ta có thể thừa nhận Chơn linh ấy không phải giả danh.

Phải làm một phòng thanh tịnh mà giả làm Hiệp Thiên Ðài. Thập nhị Thời Quân phải có mặt, Thượng Sanh, Thượng Phẩm phải có mặt.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

4.- Giả là tiếng dùng để chỉ người nào, hay sự vật gì. Như: Thức giả, diễn giả, độc giả, tịnh giả, thính giả.

Huấn dụ Đức Thượng Sanh nhân dịp lễ Ân phong phẩm Hiền Tài tại Đền Thánh có câu: Chư quý vị chính là những sứ giả đưa đường cho những nhân vật đó.

Chơn thần cửu biến giáo nhơn gian,

Tịnh giả tâm thanh đắc lạc nhàn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Anh được hưởng phúc hồng sang cả,

Anh là người vương giả công hầu.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

GIẢ BỘ

Giả: Không thật, mà làm với vẻ bề ngoài như thật. Bộ: Điệu bộ bên ngoài.

Giả bộ là làm ra bộ, giả vờ, tức bên ngoài làm bộ tịch như vậy, chứ không thực lòng.

Như: Anh ấy giả bộ ngây thơ đó.

Trước người giả bộ siêng lo,

Sau lưng gian trá so đo tấc lòng.

(Kinh Sám Hối).

Bà rút roi giả bộ theo ôm,

Đưa cán quạt cho bà đơm ít phát.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

GIẢ CUỘC

Giả: Không thật. Cuộc: Chỉ việc bày ra có manh mối, tức tình hình cụ thể.

Giả cuộc, hay “Giả cục 假 局” là cuộc diện giả tạo, không thật để lừa gạt người.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Hại thay! Lũ quỷ là phần nhiều. Nó bày bố ra mỗi nơi một giả cuộc mà dỗ dành các con.

Đã ngán bôn ba theo giả cuộc,

Âu đành mai một giữa thâm san.

(Thơ Thuần Đức).

Nhân sự muôn điều là giả cuộc,

Đời xuân mộng ảo chẳng miên tràng.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

GIẢ CHƠN

Hay “Giả chân”.

Giả: Không thật. Chơn (chân): Thật, ngay.

Giả chơn, như chữ “Giả chân 假 真”, là chỉ chung những điều giả dối và chân thật, điều tà và chánh.

Trong quyển Thiên Đạo, Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có đoạn dạy: Một chơn linh giáng xưng Đại Tiên. Chúng ta nên tin chăng? Tai phàm mắt tục dễ gì phân biệt giả chơn.

Xem: Chân giả.

1.- Giả chơn:

Lưu thanh khử trược mới thuần dương,

Tà chánh, giả chơn đã tỏ tường.

(Thơ Thái Đến Thanh).

2.- Giả chân:

Điềm mộng mị giả chân khó đoán,

Phải duyên trời may mắn mà nên.

(Phù Kiều Hận Sử).

 

 

GIẢ DỐI

Giả: Trái với thực, chẳng đúng sự thật. Dối: Dối trá, không thực.

Giả dối là dối trá, không thực.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Người ngoài xã hội có quyền xảo quyệt, giả dối đê hèn để mưu cầu quyền lợi. Người tu hành phải thành thật, ngay thẳng, trước là tự thành thật với mình, rồi mới có thể thành thật đối với bạn đạo và tín hữu.

Kẻ tham lợi cột mai cột mối,

Chuốt trau lời giả dối ngọt ngon.

(Kinh Sám Hối).

Chánh trực kinh oai loài giả dối,

Công bình vùa sức kẻ chơn thành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Miệng lẻo lự không chừa giả dối,

Lòng tham sang hại lỗi đến chồng.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

GIẢ ĐÒ

Giả: Làm như thật để người khác tưởng là thật.

Giả đò, như chữ “Giả vờ”, tức là làm ra vẻ, hay điệu bộ như thế nào đó để người ta tưởng thật là như vậy.

Ca dao Việt Nam có câu: “Thò tay mà ngắt ngọn ngò, Thương em đứt ruột giả đò ngó lơ”.

Bớt kinh bớt xá dâng thơ,

Mã môn con hát giả đò giải khiên.

(Lục Nương Giáng Bút).

Nếu ông chồng đủ vững tay co,

Vợ đau bịnh giả đò cũng hốt thuốc.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

GIẢ LƠ

Giả: Làm như thật để người khác tưởng là thật. Lơ: Làm lảng, làm bộ không để ý đến.

Giả lơ là giả vờ không biết để lảng tránh, tức làm bộ không hay biết, không để ý đến.

Như: Giả lơ nói sang chuyện khác.

Ðạo đức giả lơ không biết tới,

Sắc tài bàn đến thật là hay.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

GIẢ LUẬT

假 律

Giả: Giả dối, không thực, trái với chơn. Luật: Luật pháp, luật lệ, ở đây chỉ luật tu hành.

Giả luật là luật không thực, ở đây ý chỉ luật tu hành giả dối, không chân thực, chẳng đưa đến sự đắc Đạo. Trái với Giả luật là Chơn luật.

Một tôn giáo quy định về giả luật thì tôn giáo đó chẳng là một “Chơn giáo”.

Chư tăng, chư chúng sanh hữu căn hữu kiếp, đặng gặp kỳ Phổ Ðộ nầy là lần chót, phải ráng sức tu hành, đừng mơ mộng hoài trông giả luật.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

GIẢ MẠO

假 冒

Giả: Không phải thực mà là được làm bề ngoài giống như thật. Mạo: Làm giả.

Giả mạo là dối trá, bịa đặt ra, tức là làm giả để đánh lừa cho có cái vẻ hợp pháp.

Như: Giả mạo giấy tờ, giả mạo chữ ký, anh ta giả mạo người tu hành.

Trong Thập Hình của Đức Lý Giáo Tông, người chức sắc giả mạo văn từ bị khép vào Đệ tam hình thì phạt giáng cấp từ phẩm đương quyền xuống tới 2 hay 1 cấp.

Đệ tam hình:

1. Tham lạm tài chánh.

2. Giả mạo văn từ.

(Thập Hình Lý Giáo Tông).

 

 

GIẢ NHƯ

假 如

Giả: Ví như. Như: Cùng, giống, ví như.

Giả như là giống như, ví dụ như, giả tỷ như, như chữ “Giả sử”, là từ dùng để đưa ra một tình huống so sánh, nhận định.

Ca dao có câu: Bậu giàu mà có ai khen, Giả như châu chấu thấy đèn nhảy vô.

Rồi lựa thứ vật chơi con hảo,

Giả như tuồng khuyên bảo đem cho.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

GIẢ TẠM

假 暫

Giả: Không phải thật mà là được làm ra với vẻ bề ngoài giống như thật. Tạm: Chỉ trong một thời gian nào đó, không bền vững.

Giả tạm là không thực và không bền vững.

Theo triết lý tôn giáo, đời hoặc những thứ vật chất, phẩm tước, danh vọng ở thế gian, đều là giả tạm, còn của cải, tước phẩm nơi cõi thiêng liêng mới là thực và vĩnh viễn trường tồn.

Đời giả tạm như luồng chớp nhoáng,

Mọi sự đều ảo mộng vô thường.

(Thơ Hộ Pháp).

Vay trả, trả vay cũng chẳng rồi,

Việc đời giả tạm đó người ôi!

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

GIẢ TÂM

假 心

Giả: Không thực, gian dối. Tâm: Lòng dạ.

Giả tâm tức là trong lòng xảo trá, gian dối, trái với thực tâm.

Như: Vào chùa giả tâm tu hành.

Thấy đời nhiều kẻ gian tham,

Giết người lấy của giả tâm dối lời.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

GIẢ TUỒNG

Giả: Không phải thật mà là được làm ra với vẻ bề ngoài giống như thật. Tuồng: Vẻ bề ngoài.

Giả tuồng là làm ra vẻ như thế nào đó, nhằm cho người ta tưởng thật là như thế.

Ngoài mặt giả tuồng người trượng nghĩa,

Trong lòng dối kết chút tình chung.

(Giới Tâm Kinh).

 

 

GIẢ TƯỚNG

假 相

Giả: Không thật, giả dối. Tướng: Hình tướng, sắc tướng của sự hay các pháp.

Giả tướng là sắc tướng hay hình tướng giả dối bên ngoài, không thật.

Theo Phật, phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng. Nhược kiến chư tướng phi tướng, tắc tất kiến Như Lai 若 見 諸 相 非 相, 則 必 見 如 來, nghĩa là phàm những gì có tướng đều là hư vọng (Giả dối, không thật). Nếu thấy các tướng trong phi tướng tức thấy Như Lai.

Đã là tướng thì bao giờ cũng là tướng của sự đối đãi: Có đối với không, sinh đối với diệt... mà đã là đối đãi tức là giả dối, vô thường.

Than vì người cả tánh tham,

Ưa bề giả tướng mến ham tục đời.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Chơn thành đạo đức vô thinh sắc,

Giả tướng bàng môn trọng hữu hình.

(Thơ Thông Quang).

 

 

GIẢ THIỆT

Hay “Giả thực”.

Giả: Không phải thật, mà được làm ra với vẻ bề ngoài giống như thật. Thiệt (thực): Có thật.

Giả thiệt, như chữ “Giả thực 假 實”, là điều giả và điều thật.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Muốn thử giả thiệt đặng biết ông Trời là ai, bạn làm ơn cầm cây viết đây, bạn là nhà văn muốn viết chi thì viết, còn Bần Đạo sẽ dâng sớ với Đức Chí Tôn, Bần Đạo làm một bài thi tứ tuyệt cầu xin với Đức Chí Tôn cho biết sự chơn giả các quyền năng của Ngài đặng độ bạn.

Học đặng định chánh tà giả thiệt,

Học cho thông đặc biệt hư nên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GIẢ VAY NÊN NỢ

Giả vay: Vay những cái giả tạo, không bền vững, dễ tiêu mất. Nên nợ: Thành ra mối nợ.

Giả vay nên nợ ý nói con người ở thế gian vì vô minh nên những cái thực (chơn) thì bỏ đi, lại chạy theo những cái giả để mà vay mượn. Vì vay mượn nên phải mang nợ, rồi cứ mãi trầm luân trong cõi trần để vay trả, hết kiếp nầy sang kiếp khác.

Theo triết lý tôn giáo, tất cả danh vọng, của cải nơi thế gian đều là giả tạm, chúng ta chỉ có nó trong kiếp ngắn ngủi của con người, rồi sẽ mất. Còn những cái của cải và danh vọng nơi Trời mới là thực (chơn), vì nó tồn tại mãi với thời gian.

Trong Pháp Cú Kinh của Phật giáo có câu: “Lấy vật chất làm của, của sẽ rời xa ta, lấy phước đức làm của, của sẽ theo ta vạn đời”.

Thiệt thì bỏ, giả vay nên nợ,

Mãn căn sanh chưa mở dây oan.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GIÃ

1.- Giã là bỏ vào cối lấy chày mà đâm. Như: Giã gạo, giã bột, giã cốm dẹp.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Hồi lúc Bần Ðạo còn nhỏ, nhớ nhứt là khi xay lương và giã lương, hễ lúa đem về kho rồi thì dân làng nhứt là phụ nữ, xúm lại giã cho trắng đặng nạp về triều kêu là nạp lương, tục ấy mới bỏ trong thời gần đây.

Nguyện nhớ ơn nông canh nhằn nhọc,

Nguyện ơn người lúa thóc giã xay.

(Kinh Thế Đạo).

Con bất hiếu xay cưa đốt giã,

Mổ bụng ra phanh rã tim gan.

(Kinh Sám Hối).

Nào khi đến cầu Lam chưởng ngọc,

Nào khi lo giã thuốc trường sanh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Giã là từ biệt để ra đi. Như: Giã từ thầy học, giã biệt quê hương, giục giã.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Ngài phải buộc lòng từ giã Paris ra ngoại quốc, mãi đến năm 1870 ngày 4 tháng 9 Ngài mới trở lại trường chánh trị.

Đếm thử tuổi tám mươi đã quá,

Giấc Nam kha giục giã tỉnh mê.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GIÃ TỪ

Giã: Từ biệt. Từ: Kiếu từ để ra đi.

Giã từ, như chữ “Từ giã”, là đến chào người có quan hệ gắn bó, thân thiết để đi xa.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có đoạn: Thầy giã từ các con. Các con sẽ còn học hỏi nhiều việc khác nữa với mấy vị môn đồ của Thầy.

Chiêu Quân chịu giã từ đất Hớn,

Thân cống Hồ ngất ngưởng tha bang.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GIẠ

Giạ là đơn vị đo lường của dân gian miền Nam, Việt Nam để đong những hạt rời như lúa, đậu, bắp, mè... bằng khoảng 35 đến 40 lít.

Như: Giạ lúa bằng 20 ký, một công ruộng thu hoạch 30 giạ lúa tươi.

Làm sao ra mười giạ một công,

Vợ cứ chổng chồng mông cấy gặt.

(Phương Tu Đại Đạo).

Phàm tiếng giạ thì là một hạng,

Đừng đong non góp xáng giạ già.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

GIÁC HẢI

覺 海

Giác: Biết, tỉnh ra mà biết rõ đạo lý. Hải: Biển, chỉ Phật pháp rộng lớn.

Con người vì vô minh che lấp, nên không sáng suốt, đột nhiên tỉnh ngộ thấy rõ mọi việc, gọi là giác.

Phật lấy việc giác ngộ chúng sanh làm tôn chỉ. Người nào vượt lên được tức là qua giác hải, chưa giác ngộ còn ở bến mê.

Hoà Thượng Như Nhãn, trụ trì ngôi Từ Lâm Tự, thường được gọi là Chùa Gò Kén ở Tây Ninh, trước đây có trụ trì ngôi chùa Giác Hải ở Phú Lâm Chợ Lớn, nên còn được gọi là Hoà Thượng Giác Hải.

Khi Đức Chí Tôn dạy Hội Thánh làm Đại lễ khai Đạo, nhưng chưa có địa điểm tổ chức, nhờ ông Nguyễn Ngọc Thơ và bà Lâm Thị Thanh mà Hoà Thượng Giác Hải cho mượn ngôi Từ Lâm Tự tức chùa Gò Kén để Cao Đài làm lễ khai Đạo. Sau vụ quỷ vương gây loạn trong ngày Đại lễ, Hoà Thượng Giác Hải mất niềm tin đòi chùa lại và hẹn trong vòng ba tháng. Hội Thánh Cao Đài mua được đất bèn trả chùa cho Hoà Thượng Giác Hải, rồi dời quả Càn Khôn và cốt Phật về chùa mới.

Giác Hải đòi chùa kỳ mãn hạn,

Cao Quân dời Phật bước truân chuyên.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

Long Thành đất mới mua cùng lúc,

Giác Hải thầy tu khảo bất ngờ.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

GIÁC MÊ

覺 迷

Giác: Hiểu biết, tỉnh ra mà biết rõ đạo lý. Mê: Tối tăm, lầm lạc.

Giác mê là thuyết giảng giáo lý làm cho những người đang mê muội tỉnh ngộ, hiểu rõ được đạo lý.

Trong Đạo Cao Đài, Đức Lý Giáo Tông có giáng cho bài phú “Giác Mê Khải Ngộ”, Ngài lấy chuyện xưa tích cũ để khuyên người đời còn mê muội hãy giác ngộ tu hành vì nơi hồng trần là cõi tạm, chỉ có cõi thiêng liêng mới là cõi vĩnh hằng.

Máy linh cơ tạo nơi tay,

Giác mê cứu đám lạc loài nguyên nhân.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Hồi chuông cảnh tỉnh vang rừng Thánh,

Tiếng trống giác mê nhặt đỉnh Thần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Hồn Nho tỉnh mộng lìa phường tục,

Phép Đạo giác mê sửa nết phàm.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

GIÁC MÊ TỈNH NGỘ

覺 迷 醒 悟

Giác mê: Làm cho hết mê, tỉnh lại. Tỉnh ngộ: Hiểu ra và nhận thấy lỗi lầm của mình.

Giác mê tỉnh ngộ là làm cho người mê muội được giác ngộ, tỉnh thức, thấy được lỗi lầm của mình.

Chỉ tường cội phước nguồn lành,

Giác mê tỉnh ngộ tu hành siêu thăng.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

GIÁC NGẠN

覺 岸

Giác: Hiểu biết, tỉnh ra mà biết rõ đạo lý. Ngạn: Bờ, bến sông hay biển.

Giác ngạn tức là Bến giác, một cảnh giới trong đó chúng sanh đã được giác ngộ.

Muốn đến bến giác, phải có trí tuệ dùng làm thuyền Bát Nhã mới vượt qua biển luân hồi sanh tử để đến bên bờ giác ngộ.

Lịch đại tiên vong đồng đăng giác ngạn.

(Kệ Chuông U Minh).

 

 

GIÁC NGỘ

覺 悟

Giác: Hiểu biết, tỉnh ra mà biết rõ đạo lý. Ngộ: Tỉnh ra mà hiểu rõ.

Giác ngộ là tỉnh thức, hay tỉnh ngộ, không còn sai lầm. Hiểu biết thấu triệt mọi sự vật, mọi chân lý về vũ trụ và nhân sinh. Còn gọi là chứng ngộ.

Giác ngộ cũng là thấy rõ nguyên nhân nguồn gốc của mọi khổ đau, sinh tử và biết rõ con đường giải thoát sinh tử. Giác ngộ là sự tỉnh thức trong đời sống từng giây từng phút của đời mình.

Giác ngộ không phải là cái hiểu biết bằng lý luận hoặc phân tích, mà Giác ngộ cốt ở cái thấy biết như thực các sự vật, không vướng ngờ vực, không kẹt kiến thức hoặc kiến chấp.

Xin Từ Phụ ra ơn cứu độ,

Tăng huyền linh giác ngộ chí thành.

(Kinh Thế Đạo).

Lấy chí Thánh dìu đời giác ngộ,

Dụng bạo tàn đâu phải chỗ an bang.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

GIÁC TÁNH

Hay “Giác tính”.

Giác: Hiểu biết, tỉnh ra mà biết rõ đạo lý. Tánh (Tính): Tính chất biểu hiện ra ngoài.

Giác tánh, như chữ “Giác tính 覺 性”, là cái tánh hiểu biết của con người.

Trong sách Thiên Đạo, hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có dạy: Vạn vật có sự sống rõ ràng, không ai chối cãi được. Lại sự sống ấy còn hàm dưỡng một giác tánh biểu lộ từ cây cỏ thú cầm cho đến loài người thì chuyển thành cái trí khôn linh diệu lạ lùng.

Giác tánh là trí não thô sơ, nó chỉ biết sống như con vật. Tỷ như con thú kia mới sanh ra chưa biết gì mà đã tìm vú mẹ, đặng bảo trọng sanh mạng của mình.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

GIÁC THÂN

覺 身

Giác: Hiểu biết. Thân: Xác thân.

Giác thân là cái thân có ngũ giác quan, tức là có cảm giác, có sự hiểu biết, đó là xác thân bằng xương bằng thịt của thân phàm ở thế gian này.

Như: Chết thì cổi giác thân bỏ lại cõi trần.

Đã thấy đủ Thiên đình huyền pháp,

Cổi giác thân lên đạp Ngân Kiều.

(Kinh Tận Độ).

 

 

GIÁC THẾ

覺 世

Giác: Thức tỉnh. Thế: Đời.

Giác thế là thức tỉnh người đời, tức là đem giáo pháp của chư Phật hay các Đấng thiêng liêng ra thuyết để thức tỉnh người đời.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Nơi cửa Ðạo, chủ nghĩa giác thế độ đời lại cao cả hơn nữa. Nếu tâm vẫn còn chịu khổ để lo cái “của mình” còn hay mất, được hay thua, thêm hay bớt thì phận sự Ðạo làm sao cho trọn?

Mượn thế đặng toan phương giác thế,

Cũng như nương viết của chàng Hồ.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Giác thế muốn trông mấy phép lành,

Khuyên đời chớ mến lợi cùng danh.

(Đạo Sử).

Chịu khổ thế tìm phương giác thế,

Lấy nhọc đời làm kế dìu đời.

(Thơ Đức Hộ Pháp).

 

 

GIAI

Giai là đều. Như: Vạn sự giai do tiền định, giai quỳ.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có đoạn dạy: Nho Giáo dạy rằng: Mục đích của đời người là tu thân theo tiếng gọi của lương tâm, tiến tới hoàn thiện để kết hợp với Thượng Ðế và giáo hoá người khác được hoàn thiện như mình. Vì vậy từ bậc vua chúa cho đến thứ dân, ai cũng lấy sự sửa mình làm gốc (tự thiên tử dĩ chí ư thứ dân, nhứt thị giai dĩ tu thân vi bản).

Khán đắc phù sinh nhứt thế không,

Điền viên sản nghiệp diệc giai không.

(Quan Âm Giáng Bút).

 

 

GIAI CẤP

階 級

Giai: Thềm. Cấp: Bậc.

1.- Giai cấp là từng bậc thềm, chỉ sự cao thấp của âm thanh, tiếng nhạc.

Trong tám tiếng phân tường giai cấp,

Giọng Cung Thương cao thấp tuỳ nhau.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

2.- Giai cấp, nghĩa bóng dùng để chỉ một số đông người có địa vị tương ứng với nhau.

Thí dụ: Giai cấp tư sản, giai cấp vô sản, giai cấp quý tộc, giai cấp bần nông...

Bề giai cấp cũng trang gia thế,

Nếp phong lưu cũng kể hàng cao.

(Phù Kiều Hận Sử).

 

 

GIAI CHƯƠNG

佳 章

Giai: Tốt đẹp. Chương: Văn chương, chỉ bài văn.

Giai chương là tiếng tôn xưng, dùng để chỉ bài thi hay bài văn hay, đẹp.

Vừa tiếp giai chương của bạn hiền,

Vần hoa nét ngọc đượm hương duyên.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

GIAI ĐOẠN

階 斷

Giai: Bực thềm, đẳng cấp. Đoạn: Dứt, một khoảng, như: Một đoạn đường, một đoạn văn.

Giai đoạn là thứ bực hay thời kỳ, tức chỉ một khoảng thời gian.

Thánh giáo Lý Giáo Tông có dạy: Đức Chí Tôn buồn lòng vì giai đoạn nầy mà còn một ít con cái của Ngài phải sa ngã thêm trên đường bất chánh. Đó là tự chiêu kỳ hoạ.

Một giai đoạn nhồi nắn của cơ Thiêng liêng để cho người hy sinh vì Ðạo trở nên một đấng phi thường...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

GIAI KỲ

佳 期

Giai: Tốt đẹp. Kỳ: Hẹn hò, thời hạn.

Giai kỳ là ngày tốt, thường chỉ ngày cưới, hay cuộc hẹn hò tốt đẹp.

Bố chạy lăng xăng lo sính lễ,

Con cười hí hởn đợi giai kỳ.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

GIAI LÃO

偕 老

Giai: Đều. Lão: Già.

Giai lão đây là lời chúc vợ chồng ăn ở hoà thuận với nhau cho đến lúc tuổi già.

Kinh Thi có câu: Chấp tử chi thủ dữ tử giai lão 執 子 之 手, 與 子 偕 老, nghĩa là cầm tay chàng cùng chàng chung sống cho đến già.

Mừng chữ hảo cừu loan sánh phụng,

Mừng câu giai lão gối thêu bông.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

GIAI NGẪU

偕 耦

Giai: Tốt. Ngẫu: Hai người cùng cày ruộng với nhau, nghĩa bóng: Số chẳn, một đôi.

Giai ngẫu là nói vợ chồng hoà thuận, sống đẹp đôi bên nhau.

Trong Tân Luật, Điều thứ sáu về phần Thế luật có quy định: Việc hôn là việc rất trọng đời người. Phải chọ hôn trong người đồng đạo; trừ ra khi nào người ngoài ưng thuận nhập môn thì mới kết làm giai ngẫu.

Chúc mừng đôi trẻ bền giai ngẫu,

Cầm sắc hoà thinh hiệp chữ đồng.

(Thơ Thông Quang).

Rễ hiền buổi trước bền giai ngẫu,

Dâu thảo hôm nay hợp hảo kỳ.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

GIAI NHÂN

佳 人

Giai: Đẹp. Nhân: Người.

Giai nhân là người đàn bà đẹp.

Cổ Thi có câu: Yên, Triệu đa giai nhân, mỹ nhân nhan như ngọc 燕, 趙 多 佳 人, 美 人 顏 如 玉, nghĩa là đất Yên, đất Triệu nhiều giai nhân, người đẹp như ngọc.

Như: Tài tử giai nhân tế ngộ nan.

Ấm lạnh cõi trần ngơ mặc khách,

Ngỡ ngàng động Thánh quạnh giai nhân.

(Lục Nương Giáng bút).

Nung trang trí thức nữ lưu,

Biết thân giữ mặt hảo cừu giai nhân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Tươi thắm đào hoa môi thục nữ,

Thướt tha liễu rũ tóc giai nhân.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

GIẢI

1.- Giải là cổi ra, mở ra, tức là làm cho thoát được cái đang trói buộc, khó chịu.

Như: Giải vây, giải lời thề, giải mối ngờ vực, giải niềm sầu thảm, giải buồn.

Mừng nay Thanh Thuỷ giải dây oan,

Ðường Ðạo từ đây bước vững vàng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nâng khăn trắp giải buồn quân tử,

Hầu tửu trà giấc ngủ không an.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Giải là cắt nghĩa ra cho rõ. Như: Giải nghĩa sách, phân giải sự việc.

Thánh giáo Thầy có dạy: Thầy tìm phương sửa cải cũng đáng đó chút. Nhưng cũng bởi chư Thần, Thánh, Tiên, Phật muốn cho rõ cơ Ðạo của thế gian nầy, nên Thầy không giáng cơ mà phân giải lại nữa.

Phải chiều tánh trí con lanh lẹ,

Hay tối tăm giải lẽ cho vừa.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

GIẢI CĂN

解 根

Giải: Cởi bỏ, thoát khỏi. Căn: Gốc rễ.

Giải căn là cởi bỏ mọi gốc rễ của nghiệp quả.

Những việc làm thiện ác trong kiếp sống này là gốc rễ của những điều hoạ phước cho kiếp sau. Cái gốc rễ ấy tạo thành cái nghiệp, nếu làm lành thì tạo nên thiện nghiệp, đời sống mai sau sẽ tốt đẹp hạnh phúc; còn nếu làm dữ thì gây ra ác nghiệp, làm cho đời sống mai sau sẽ hoạn nạn, đau khổ.

Dìu đường thoát tục nắm phan,

Trông Kinh Bạch Ngọc định thần giải căn.

(Kinh Tận Độ).

Vạn linh trỗi tiếng mầng thầm,

Thiên thơ Phật tạo độ phàm giải căn.

(Kinh Tận Độ).

Lòn thân dưới phép sầu than,

Tìm phương cứu khổ mở đàng giải căn.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

GIẢI CĂN SINH

解 根 生

Giải: Cởi bỏ, thoát khỏi. Căn sinh: Gốc rễ của nghiệp quả trong cuộc sống.

Giải căn sinh, như chữ “Giải căn”, tức là giải bỏ hết cái gốc rễ đã gây ra những nghiệp báo trong cuộc sống.

Xem: Giải căn.

Rủi Thiên số Nam Tào đã định,

Giải căn sinh xa lánh trần ai.

(Kinh Tận Độ).

 

 

GIẢI CẤU

邂 逅

Giải: Tình cờ. Cấu: Gặp gỡ.

Giải cấu là tình cờ không hẹn mà gặp gỡ.

Kinh Thi có câu: Giải cấu tương ngộ thích ngã nguyện hề 邂 逅 相 遇 適 我 願 兮, có nghĩa là tình cờ không hẹn mà gặp, thực thoả lòng ước ao của ta.

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du có câu: May thay giải cấu tương phùng, Gặp tuần đố lá thoả lòng tìm hoa.

Chẳng như thiếp nhớ ơn giải cấu,

Mến từ khi mở nụ đào yêu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Nhớ ơn giải cấu trao gươm huệ,

Chặt mối oan khiên ở động đào.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

GIẢI ĐÃI

懈 怠

Giải: Lười biếng, nhớn nhác. Đãi: Trễ nải.

Giải đãi là lười biếng, chậm rãi, không hăng hái làm để kéo dài công việc.

Như: Độ rày anh ấy giải đãi công việc, không như ngày xưa nữa.

Ðường đạo vững bền, chớ nên bạo tính mà cũng chẳng nên giải đãi bần dùng, gắng công trì chí...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

GIẢI HOÀ

解 和

Giải: Cởi bỏ, thoát khỏi. Hoà: Êm ái, thoả thuận, không sinh sự.

Giải hoà, như chữ “Hoà giải 和 解”, là làm cho hai bên hết xung đột, hoặc chấm dứt xích mích với nhau.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Cái phương pháp đầu tiên của Bần Đạo là Bần Đạo kêu gọi tất cả các Đảng phái Quốc Dân Pháp và Việt, đừng xảo mị mưu chước cùng nhau, phải lấy thuyết tâm chánh đặng cư xử với nhau thì mới có thể giải hoà và đem quyền lợi hạnh phúc cho hai sắc dân được.

Ai kiện thưa tranh đấu mình kiếm chước giải hoà.

(Phương Châm Hành Đạo).

 

 

GIẢI KẾT

解 結

Hay “Giải kiết”.

Giải: Cởi ra. Kết (kiết): Ràng buộc.

Chữ nhà Phật, Giải kết (kiết) tức là “Giải oan kết 解 冤 結”, ý nói oan gia nên giải không nên kết. Chữ giải kết nghĩa bóng ám chỉ về sự chẳng may, chẳng lành.

Khi nói đến sự chẳng lành, thường dùng tiếng “Giải kết” để nói tránh cho khỏi vận vào mình, như Truyện Kiều có câu: “Dù khi giải kết đến điều, Thì đem vàng đá mà liều với thân”.

Biết tu thân ắt cải vận thời,

giải kiết lẽ trời đã định.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

GIẢI KHÁT

解 渴

Giải: Làm cho tan mất cái khó chịu. Khát: Có cảm giác cần uống nước.

Giải khát là uống cho đỡ khát, cho hết khát.

Như: Nghỉ chân vào quán giải khát, giải khát bằng cốc nước trà xanh.

Bàn ngưng chuyển người ra giải khát,

Lúc tái cầu thao tác khoan thai.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

GIẢI KHỔ

解 苦

Giải: Cổi bỏ. Khổ: Đau đớn, cực nhọc.

1.- Giải khổ làm cho tiêu mất sự đau đớn, khổ sở về thể xác và tinh thần.

Đạo Luật Mậu Dần có câu: Phước Thiện là cơ quan bảo tồn sanh chúng trên đường sanh hoạt nuôi sống thi hài, tức là cơ quan giải khổ cho chúng sanh.

Kẻ trí phải lo phương giải khổ,

Tìm thuyền Bát Nhã lánh mê tân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Gắng khổ quyết tâm lo giải khổ,

May duyên kịp buổi hưởng hồng ân.

(Thơ Thượng Sanh).

2.- Theo Đức Hộ Pháp thì tôn chỉ của Phật, Tiên, Thánh xưa nay chỉ dùng chữ khổ để làm đề mục cho con người học hỏi nơi trường đời. Ngài đưa ra như sau:

Phật vì thương đời mà tìm phương giải khổ.

Tiên vì thương đời mà bày cơ thoát khổ.

Thánh vì thương đời mà bày cơ thọ khổ.

Thần vì thương đời mà lập cơ thắng khổ

Hiền vì thương đời mà đạt cơ tùng khổ.

Đường lối giải khổ của Phật là phá bỏ “Vô minh”. Trong kinh Phật dạy: Cái khổ ở trong địa ngục bị thiêu đốt cũng chưa phải là khổ, cái khổ làm ngạ quỷ bị đói khát cũng chưa phải là khổ, cái khổ làm súc sanh kéo cafybij đánh cũng chưa phải là khổ, cái khổ “vô minh” không biết đường đi mới là khổ.

Cho nên đạo Phật chủ trương giải khổ là dạy cho chúng sanh phá được vô minh khiến họ tỉnh giác biết đường tu tập để thoát đường sinh tử luân hồi.

Con đường giải khổ của Phật là Tứ Diệu Đế, tức bốn giáo lý căn bản của Đạo Phật. Đó là:

Khổ đế: Chân lý trình bày cho ta thấy những nỗi khổ đau trên thế gian nầy.

Tập đế: Chân lý trình bày nguyên nhân của sự khổ đau lý do vì sao có những nỗi khổ ấy.

Diệt đế: Chân lý về sự chấm dứt mọi hình thức khổ.

Đạo đế: Chân lý trình bày những phương pháp tu tập có khả năng giải khổ và chứng nhập Niết Bàn.

Ðường Ðạo tìm vào mới rõ cơ,

Cơ mầu giải khổ, chớ chần chờ.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

GIẢI KHUÂY

Giải: Cổi bỏ. Khuây: Nguôi, quên dần nỗi buồn.

Giải khuây là làm cho khuây khoả, tức là làm cho nguôi ngoai phần nào nỗi buồn hay nỗi thương nhớ.

Trong Đạo Sử, Thánh giáo Thầy dạy: Diêu! Con lo giải khuây mẹ con, chi chi cũng có Thầy giúp sức, con nên gần gũi với em con cho thường, vì nó đã cầu nguyện Thầy như vậy.

Vui buồn sớt thảm ơn xưa tạc,

Càng nhớ càng sầu khó giải khuây.

(Thơ Hộ Pháp).

Tưởng Việt xã giải khuây nỗi hận,

Dụng trí mưu lần lấn cường quyền.

(Đoàn Thị Điểm Giáng).

 

 

GIẢI MÊ

解 迷

Giải: Cổi bỏ. Mê: Lầm, không tỉnh.

Giải mê là cổi bỏ những điều mê muội, lầm lẫn.

Do không thấu đáo chân lý, không hiểu sự thật, con người cứ mê lầm nhận những cái lăng xăng trần cảnh là tâm, chứ không biết nó chỉ là vọng tưởng, không phải là chân tâm. Đức Phật ra đời với mục đích “Giải mê” cho chúng sanh, để theo đường giác ngộ.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Thầy đã thường nói và Thầy đã tự nghĩ, nếu như Thầy không có giao nơi tay của các con một cái câu Bảo Sanh Nhơn Nghĩa đặng bảo vệ cho Tổ Quốc, binh vực đoàn em của các con được sống còn và đem vào cửa Đạo, vì cửa Đạo là một cửa Thiêng Liêng Hằng Sống, một cửa để cứu khổ, một cửa để giải mê cho thiên hạ...

Ham phương cứu thế độ nhân,

Giải mê khách tục, cõi trần lánh xa.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GIẢI MỘNG NAM KHA

Giải: Cổi bỏ. Mộng Nam kha: Giấc mộng ở cành cây hướng nam.

Giải mộng Nam kha là tên một bài ký của Lý Công Tá đời Đường chép rằng: Thuần Vu Phần chiêm bao thấy mình đi tới nước Hoè An được vị quốc vương nước này cho làm Thái thú và lại gã Công chúa cho, nên được hưởng mọi sự vinh hiển. Sau đó, Thuần Vu Phần được lệnh nhà vua đi dẹp giặc, bị thua trận, ở cung Công chúa cũng bị bệnh chết, khiến nhà vua nghi kỵ, đuổi đi. Chàng chán nãn, buồn rầu, bèn giựt mình tỉnh giấc, thấy mình ngủ dưới gốc cây hoè, lại dưới cành cây phía nam có một tổ kiến, mới chợt tỉnh ngộ là mình chiêm bao.

Giải mộng Nam kha là tỉnh giấc Nam kha, nghĩa là hiểu biết được cuộc đời như giấc mộng, công danh phú quý tỷ như giấc chiêm bao.

Xem: Giấc Nam kha.

Đã tầng chịu khó khăn kiếp sống,

Định tâm thần giải mộng Nam kha.

(Kinh Thế Đạo).

Ân hồng chan rưới bảo tồn thân,

Giải mộng Nam kha mới định thần.

(Thơ Thông Quang).

 

 

GIẢI NÀN

Giải: Cởi bỏ ra, thoát khỏi. Nàn (nạn): Tai nạn.

Giải nàn, như chữ “Giải nạn 解 難”, là làm cho thoát khỏi tai nạn.

Điếu văn của Ngài Đầu Sư, chưởng quản Cửu Trùng Đài Nam phái thay mặt Hội Thánh Cửu Trùng Đài đọc trước Liên đài Đức Thượng Sanh có câu: Lòng thương đời như bể rộng, ái vật tợ sông sâu, nuôi chí lớn nguyện bắc cầu cứu nhân độ thế. Ðêm ít ngủ ngày chẳng buồn ăn, những tìm phương cứu nước, giúp dân, lòng mong mỏi giải nàn sanh chúng.

Xem: Giải nạn.

Lòng sở vọng lâm dâm tụng niệm,

Xin giải nàn Nam Thiệm Bộ Châu.

(Xưng Tụng Công Đức).

Những tìm phương cứu nước giúp dân,

Lòng mong mỏi giải nàn sanh chúng.

(Điếu Văn Đầu Sư).

 

 

GIẢI NẠN

解 難

Giải: Cởi bỏ ra, thoát khỏi. Nạn (Nàn): Tai nạn.

Giải nạn là làm cho thoát khỏi tai nạn.

Thánh giáo Thất Nương Diêu Trì Cung có câu: Cái hại ấy vốn chẳng vừa về phần tín ngưỡng. Chớ chi thất tại Tà quyền thì có mấy em trừ khử, nhưng tại nơi đồng tử, thì mấy em không phương giải nạn cho mấy người mê tín.

Bớt phương giải nạn tìm ma,

Lập phương danh phận cho nhà quỷ tăng.

(Lục Nương Giáng bút).

 

 

GIẢI NGHỆ

解 藝

Giải: Cởi bỏ, thoát khỏi. Nghệ: Nghề nghiệp.

Giải nghệ là bỏ hoặc nghỉ nghề đang làm, vì tay nghề kém hoặc nghề không chánh đáng, thiếu đạo đức...

Chữ “Giải nghệ” thường dùng với hàm ý cái nghề nghiệp không được xem trọng, thiếu nhân đạo...

Người nào đã lầm lỡ rồi, hãy kiếm thế mà giải nghệ.

(Tân Luật).

 

 

GIẢI NGHIỆT

解 孽

Giải: Cởi bỏ, thoát khỏi. Nghiệt: Mầm ác, là cái gây ra những đau khổ, hoạn nạn sau này.

Giải nghiệt là cởi bỏ hết các mầm ác độc, tức cởi bỏ các nghiệp ác để tránh sự ác báo.

Trường Canh chói rạng loà Kim Khuyết,

Xin ban ơn giải nghiệt cho đời.

(Giới Tâm Kinh).

 

 

GIẢI OAN

解 冤

Giải: Cởi bỏ. Oan: Thù giận. Sự thù giận là nguyên nhân gây ra việc ác hại người, tạo thành ác nghiệp nên được gọi là oan nghiệt.

Giải oan là làm cho hết nỗi oan.

Giải oan còn dùng để chỉ cởi bỏ hết các mối oan khiên nghiệt chướng.

Chí Tôn xá tội giải oan,

Thánh, Thần, Tiên, Phật, cứu nàn độ vong.

(Kinh Tận Độ).

Kìa Cực Lạc Niết Bàn đem đổi,

Lấy thân phàm làm mối giải oan.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

GIẢI PHIỀN

解 煩

Giải: Cởi bỏ, tức làm cho thoát được những cái ràng buộc. Phiền: Buồn bực.

Giải phiền là cởi bỏ những điều phiền muộn.

Như: Ngồi đánh cờ để giải phiền.

Ba sanh dầu toại thửa nguyền,

Hoạ trong giấc mộng giải phiền giao hoan.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GIẢI PHIỀN DIỆT KHỔ

解 煩 滅 苦

Giải phiền: Cởi bỏ những điều phiền muộn. Diệt khổ: Dứt điều khổ sở.

Giải phiền diệt khổ là cổi bỏ những điều phiền não và diệt trừ hết mọi khổ đau.

Muốn giải phiền diệt khổ thì phải sống và hành theo giáo pháp của Tôn giáo, tức là phải theo đạo mà tu hành.

Thiếp nhờ Đạo giải phiền diệt khổ,

Biết may duyên lựa chỗ gởi tâm.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GIẢI QUẢ

解 果

Giải: Cổi bỏ. Quả: Kết quả.

Giải quả là cởi bỏ hết các kết quả xấu, do các hành vi ác đã gây ra từ trong kiếp trước. Muốn giải quả nghiệp, phải nhờ trí tuệ và mượn Phật pháp diệt trừ.

Như: Giải quả trừ căn.

Cung Tận Thức thần thông biến hoá,

Phổ Đà Sơn giải quả Từ Hàng.

(Kinh Tận Độ).

 

 

GIẢI QUẢ TRỪ CĂN

解 果 除 根

Hay “Giải quả diệt căn”.

Giải quả: Cởi bỏ hết các kết quả xấu. Trừ căn (Diệt căn): Trừ diệt cái gốc rễ xấu.

Giải quả trừ căn hay “Giải quả diệt căn” tức là giải trừ căn quả, nghĩa là cỡi bỏ những kết quả xấu do hành vi hung ác gây ra từ kiếp sống trước.

1.- Giải quả trừ căn:

Trung khổ hải độ thuyền Bát nhã,

Phước Từ bi giải quả trừ căn.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

Giữa khổ hải đưa thuyền Bát Nhã,

Giúp tinh thần giải quả trừ căn.

(Thơ Đức Hộ Pháp).

2.- Giải quả diệt căn:

Con đã nắm lái thuyền Bát Nhã,

Đủ quyền hành giải quả diệt căn.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

GIẢI QUẢ TRỪ KHIÊN

解 果 除 愆

Giải quả: Cởi bỏ hết các kết quả xấu. Trừ khiên: Diệt trừ hết các tội lỗi, oan khiên.

Giải quả trừ khiên là giải thoát khỏi những căn quả và oan khiên, tức là diệt trừ những kết quả xấu và tội lỗi do hành vi hung ác của kiếp sống trước gây ra.

Trương thẳng cánh con thuyền Bát Nhã,

Cổi đau thương giải quả trừ khiên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GIẢI QUYẾT

解 決

Giải: Cổi gỡ ra, chia tách. Quyết: Xét định, phán xét.

Thánh giáo Đức Lý có câu: Từ đây, hiền hữu trọn quyền điều khiển Hội Thánh Cửu Trùng Đài, sắp đặt nội bộ, giải quyết các việc hành chánh đạo, trừ phi những việc quan trọng mà Cửu Trùng

Đài không thể liệu định thì quyền quyết đoán do Thượng Sanh hoặc Hội Thánh Hiệp Thiên Đài.

Phải nhóm nhau tại Quận Đạo đặng giải quyết những vấn đề trong chương trình rồi lập lời quyết nghị.

(Đạo Luật Mậu Dần).

 

 

GIẢI SẦU

解 愁

Giải: Cởi, làm cho thoát được cái đang trói buộc. Sầu: Phiền muộn, buồn rầu.

Giải sầu là làm cho quên hết, hay trút bỏ những nỗi buồn rầu trong lòng.

Như: Anh ấy chọn rượu giải sầu.

Kìa nghe tiếng hạc bay hôm,

Giải sầu gởi bóng khuyên hồn chơi Tiên.

(Nhị Nương Giáng Bút).

Dỗ con chỉ bóng giải sầu,

Rằng khuya đèn thắp cha hầu về thăm.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GIẢI TÁN

解 散

Giải: Chia tách ra. Tán: Tan ra.

Giải tán là làm cho lìa tan ra, không còn tụ lại.

Giải tán đám người tức là làm cho không còn tụ họp lại thành đám đông nữa, mà phải tản mác ra mỗi người mỗi ngả.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Phải có một thân phàm tinh khiết mới xuất Chơn thần tinh khiết. Nếu như các con còn ăn mặn, luyện đạo rủi có ấn chứng thì làm sao mà giải tán cho đặng.

Trừ quái khí roi thần chớp nhoáng,

Bộ Lôi Công giải tán trược quang.

(Kinh Tận Độ).

Giải tán quân nhân thật phép mầu,

Kỳ Sơn phụng gáy nghiệp quy châu.

(Lý Giáo Tông).

Phước Thiện giải tán nghịch thù,

Lấy câu hoà thuận vận trù lập công.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

GIẢI THÂN ĐỊNH TRÍ

解 身 定 智

Giải thân: Giải thể xác thân, tức diệt trừ hình thể. Định trí: Làm yên trí não, tinh thần.

Giải thân định trí là cởi bỏ thể xác, định tỉnh trí não tinh thần.

Theo triết lý Cao Đài, Đức Chí Tôn mở Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ và ban cho Ðại Ân Xá Kỳ Ba, nên đóng cửa các cõi Ðịa ngục, giải phóng tất cả tội hồn, cho đi đầu kiếp để trả cho dứt các món nợ oan nghiệt, đồng thời Ðức Chí Tôn mở ra con đường tu hành để độ rỗi tất cả các linh hồn, dầu nguyên sanh,hoá sanh hay quỷ sanh, nếu biết tu hành và lập công quả đầy đủ thì đắc đạo.

Còn những linh hồn nào còn tiếp tục phạm tội thì phạt đến cõi Âm Quang, là nơi “Giải thân định trí”, tức là nơi cởi bỏ xác thân để định tỉnh tinh thần trí não mà ăn năn sám hối tội tình.

Nơi cõi Âm Quang nầy, Ðức Ðịa Tạng Bồ Tát giáo hoá các Nam tội hồn, và Thất Nương Diêu Trì Cung giáo hoá các Nữ tội hồn.

Chớ kỳ thật là nơi để cho các Chơn hồn Giải thân định trí.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

GIẢI THI

解 尸

Giải: Cởi bỏ. Thi: Thi thể, hình hài.

Giải thi là cởi bỏ thi thể, hình hài, ý nói đã chết.

Thi thể hình hài là vật chất hữu hình, mà “Hữu hình tức hữu hoại 有 形 即 有 壞”, nghĩa là có hình thể thì phải hư hoại.

Như vậy, chết là hồn xuất đi, bỏ lại thi thể hình hài theo đất mà hư hoại.

Giải thi lánh chốn đoạ đày,

Chơn linh trong sạch ra ngoài Càn khôn.

(Kinh Tận Độ).

Quản bao thập ác lục hình,

Giải thi thoát khổ diệt hình đoạt căn.

(Kinh Tận Độ).

 

 

GIẢI THÍCH

解 釋

Giải: Làm cho rõ ra. Thích: Giảng cho rõ nghĩa lý.

Giải thích là làm cho hiểu rõ, thuyết minh lý do.

Thánh giáo Thầy dạy một người Pháp tên Latapie có câu: Ngoài ý chí đạo đức của con, con còn có ý tìm hiểu Giáo lý mới mẻ nầy, giáo lý mà một vài đồng bào của con đã giải thích xuyên tạc dưới một hình thức tinh ranh.

Tầm chương giải thích chơn thường Đạo,

Trích cú ẩn vi pháp diệu thâm.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

GIẢI THOÁT

解 脫

Giải: Cởi bỏ. Thoát: Ra khỏi.

Giải thoát tức là không còn cầm giữ. Hoặc không còn bị những điều khổ sở, phiền não vấn vít trong lòng.

Chữ “Giải thoát” trong Tôn giáo có nghĩa là bỏ mê theo giác, hay dứt tục trần để về Cực Lạc.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Há chẳng phải một điều phước hạnh lớn lao hơn mọi sự sao? Há chẳng phải là một nơi giải thoát chung cho nhơn quần xã hội sao? Các con hiểu chăng?

Cảm quang diêu động tâm tu,

Khai cơ giải thoát mở tù Phong Đô.

(Kinh Thế Đạo).

Đường tu gắng bước kịp thì,

Quả xưa giải thoát nữ nhi trọn phần.

(Huỳnh Hoa Tiên Nữ).

Ly gia thưởng thức mùi đạo sự,

Giải thoát dây oan phủi nợ nần.

(Thơ Khai Đạo).

 

 

GIẢI THOÁT MÊ ĐỒ

解 脫 迷 途

Giải thoát: Cởi bỏ để ra khỏi. Mê đồ: Con đường tối tăm, lầm lạc.

Giải thoát mê đồ là cởi bỏ để thoát khỏi con đường lầm lạc, tức là giác ngộ.

Thánh giáo Thất Nương Diêu Trì Cung có câu: Em đã đặng nghe thấy những lời của Ðịa Tạng Vương Bồ Tát than thở rằng: Ngài là Phật nên khó gần gũi các hồn Nữ phái mà khuyến giáo cơ giải thoát mê đồ. Bởi cớ, nơi Âm quang, Nữ hồn còn bị luyện tội nhiều hơn Nam phái bội phần.

Giáng cơ chỉ dẫn điều hư thiệt,

Giải thoát mê đồ khách thiện duyên.

(Thơ Hiến Pháp).

 

 

GIẢI VÂY

Giải: Cởi bỏ, làm cho tiêu mất cái đang khó chịu. Vây: Vòng vây, bị bao quanh bởi một lực lượng, không cho thoát ra ngoài, làm cho cô lập.

Giải vây, như chữ “Giải vi 解 圍”, tức là phá bỏ vòng vây, hoặc phá bỏ điều gì khó khăn bao bọc bên ngoài.

Nói về Đức Quan Thánh, Thuyết Đạo Thượng Sanh có viết: Sau khi Ðức Ngài giải vây thành Bạch Mã giết hai tướng Nhan Lương, Văn Xủ để trả ơn cho Tào Tháo, Ðức Ngài được hay tin Lưu Huyền Ðức đang ở Hà Bắc, Ðức Ngài lật đật đến từ giả Tào Tháo đặng lên đường.

Cương toả đương thời đã giải vây,

Ðừng mơ oan nghiệt một đời nầy.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

GIÃI

Giãi là tỏ ra, tức nói ra cho người khác rõ nỗi lòng của mình. Như: Giãi những nỗi niềm, giãi bày tâm sự.

Trong tác phẩm Kiều, Tố Như Nguyễn Tiên sinh có viết hai câu thơ: “Nhìn càng lã chã giọt hồng, Rỉ tai nàng mới giãi lòng thấp cao.

Gượng gảy năm âm giãi tấm lòng,

Nhắn đưa gió ái đến thu song.

(Bát Nương Giáng bút).

 

 

GIÃI BÀY

Giãi: Tỏ ra. Bày: Phô trương.

Giãi bày là bày tỏ ra cho người khác biết.

Thánh giáo Đức Thái Thượng Đạo Tổ dạy Ngài Bảo Văn Pháp quân có câu: Hiền hữu có nhớ những lời Bần đạo đã giãi bày lúc trước bằng nhiều cách và lấy danh từ khác nhau mà dìu dẫn chăng?

Thiên cơ khó nỗi giãi bày,

May duyên mới gặp Ðạo Thầy kỳ ba.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Giãi bày giáo lý thông chơn pháp,

Dìu dắt nhơn sanh đắc chánh truyền.

(Thơ Thông Quang).

 

 

GIÀY

Giày là đồ dùng bằng cỏ, da thú, cao su hoặc bằng vải để mang vào chân, che kín bàn chân.

Như: Giày cỏ, giày da, nện gót giày.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức chí Tôn dạy về Đại phục của Giáo Sư có câu: Giáo Sư mặc áo ba dải, đội Kim Cô bằng hàng trắng, không đi giày.

Con nhớ mang giày gai đặng hầu Thầy, còn nhứt nhứt đều để chơn không hết.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

GIÀY CỎ

Giày: Đồ bằng vải, da hay cao su dùng để mang ở bàn chân. Cỏ: Cây cỏ, loại cỏ dùng để kết giày.

Giày cỏ, dịch từ chữ Hán là “Thảo hài 草 鞋”, tức giày kết bằng cỏ.

Ngày xưa các đạo sĩ thường mang các loại giày kết bằng cỏ, có hình thô sơ đi lại giản tiện mà lại êm chân.

Giày cỏ dùng để chỉ giày của người tu.

Đạp giày cỏ nương cây gậy bá,

Mặc áo tơi nón lá che thân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GIÀY ĐẠO

Giày: Đồ dùng bằng cỏ, da thú, cao su hoặc bằng vải để mang vào chân, che kín bàn chân. Đạo: Tôn giáo.

Giày đạo là giày của người tu hành.

Ngày xưa, người tu hành thường dùng giày bện bằng sợi gai, cỏ lát, gọi là thảo hài hay giày cỏ.

Xem: Giày cỏ.

Áo dà cũng muốn mặc, giày đạo cũng muốn mang, muốn đứng trước cả nhơn sanh để cho họ biết mình là hướng đạo.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

GIÀY SEN

Giày: Đồ dùng bằng cỏ, da thú, cao su hoặc bằng vải để mang vào chân, che kín bàn chân. Sen: Bông sen.

Giày sen là giày của phụ nữ quý phái.

Do điển tích: Xưa Đông Hôn Hầu cho đúc hoa sen bằng vàng lát lên mặt đất, bảo Phan Phi bước lên mà đi, rồi khen rằng: Bước chân của nàng sinh ra bông sen vàng. Vì thế, sau người ta thường gọi gót chân người con gái đẹp là liên bộ hay gót sen.

Vì vậy, chữ “Giày sen” còn có nghĩa là bước sen hay gót sen.

Muốn đi cho tận trường sanh địa,

Phải đổi giày sen lấy thảo hài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

GIÀY VÔ ƯU

Giày: Đồ dùng bằng da, cao su hay vải dày, có đế, để mang ở chân. Vô ưu 無 憂: Không lo nghĩ.

Giày vô ưu là một loại giày tương tự như giày hàm ếch, nhưng bao luôn phía sau gót.

Trong Tôn giáo Cao Đài, các phẩm Chức sắc cao cấp của Hiệp Thiên Đài hay Cửu Trùng Đài, khi mặc Đại phục thường có mang đôi giày vô ưu.

Chơn đi giày vô ưu toàn bằng hàng trắng, trước mũi có chữ Tịch Đạo Nam Nữ.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

GIAM

Giam là nhà ngục, hoặc giữ ở một nơi nào đó, không cho tự do đi lại, tự do hoạt động. Như: Nhà giam, bắt giam tại ngục thất.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có đoạn: Nhơn dân được vui hưởng hạnh phúc, gia vô bế hộ, lộ bất thập di, trong nước không có nhà tù, vì không có tội nhơn. Nếu vạn bất đắc dĩ phải răn phạt người sái phép, thì nhà cầm quyền chỉ vẽ một vòng tròn nơi một khoản đất nào, rồi bắt người phạm tội vào ngồi trong đó một hay là nhiều ngày, gọi là cách giam phạt tội nhơn.

Hành rồi giam lại Âm cung,

Ngày đêm đánh khảo trăng cùm xiềng gông.

(Kinh Sám Hối).

Nóng quá Trương Phi, Tào lại khiếp,

Hiền như Tây Bá, Trụ còn giam.

(Thơ Thái Phong).

 

 

GIAM HÃM

監 陷

Giam: Giữ ở một nơi nào đó, không cho tự do đi lại, tự do hoạt động. Hãm: Mắc vào.

Giam hãm là nhốt lại, hãm lại, tức bó buộc tù hãm trong một chỗ nào, trong một hoàn cảnh nào.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ngài còn vì lòng thương cả toàn thể nhơn loại bị giam hãm trong lẽ bất công của Xã hội nhơn quần, Ngài vì công lý, vì ái tuất thương sanh nên hy sinh trong một kiếp sống đặng thọ lãnh cây Phướn cứu khổ của Đức Chí Tôn.

Phòng nhốt tự do vuông bốn thước,

Thân còn giam hãm độ bao thằng?

(Thơ Thuần Đức).

Nợ duyên giam hãm lạ lùng,

Chơn trời góc bể đau lòng nước mây.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

GIÁM ĐẠO

監 道

Giám Đạo là một phẩm chức sắc Hiệp Thiên Đài Tiểu Cấp, đứng trên Thừa Sử và dưới Cải Trạng, đối phẩm với Giáo Sư bên Cửu Trùng Đài.

Theo Hiến Pháp Hiệp Thiên Đài, Giám Đạo có nhiệm vụ:

- Thanh tra về luật pháp trong các cơ quan Chánh Trị Đạo từ trung ương đến địa phương.

- Thay mặt Hội Thánh Hiệp Thiên Đài giao tiếp với các tôn giáo khi có lịnh của Chưởng Quản hay Hội Thánh Hiệp Thiên Đài.

- Thay mặt Bộ Pháp Chánh bảo thủ luật pháp nơi các phiên Đại hội Hội Thánh Cửu Trùng Đài và Đại Hội Hội Thánh Phước Thiện.

- Cầm quyền Pháp Chánh một Trấn Đạo khi có thượng lịnh.

- Có quyền điều tra lại các vụ án khiếu nại.

- Được quyền làm giảng viên các khoá huấn luyện chức sắc về mặt luật pháp, khi có yêu cầu của Hội Thánh Cửu Trùng Đài và khi có lịnh của Hội Thánh Hiệp Thiên Đài.

- Được làm Tổng Quản Văn Phòng cho chư vị Thời Quân Hiệp Thiên Đài.

Đại phục của Giám Đạo: mặc trường y trắng có 6 nút, lưng mang dây nịt trắng, đầu đội Khôi Nguyên Mạo, trước mão có thêu Thiên Nhãn, có dấu hiệu Cổ Pháp, trên Cổ Pháp có cán cân Công Bình và hai chữ Giám Đạo bằng Quốc Ngữ.

Lòng ai đoái tưởng xin phò hộ,

Giám Đạo hoạ cùng mấy giọt châu.

(Thơ Khai Đạo).

 

 

GIÁM KHẢO

監 考

Giám: Trông coi, xem xét. Khảo: Kiểm tra, khảo hạch, kiểm soát.

Giám khảo là người phụ trách về việc sát hạch, và chấm thi. Như: Làm giám khảo kỳ thi Trung học.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có câu: Thầy tưởng như nơi thế gian nầy, có đứa con nào Thầy cưng trọng hơn hết thì là các con, nhưng mà chẳng lẽ Thầy làm Giám khảo lại cấp nấp bài thi lén cho mỗi đứa, thì cái đậu của các con có ra chi?

Nắm quyền giám khảo trong tay,

Chọn người đức hạnh học hay chấm vào.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

GIẢM

Giảm là bớt đi, tức làm cho trở nên ít đi về số lượng, mức độ, trái với tăng.

Như: Giảm tội, giảm thuế, giảm giá thành sản phẩm, năng suất giảm.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Các con sẽ bị Thái Bạch quở phạt, liệu lấy mà sửa mình, phải tuỳ theo lịnh dạy của nó, đặng nó giảm nộ chút ít, nghe!

Trình Ta, Ta phải đỡ nâng chơn,

Khuyên một điều con khá giảm hờn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

GIẢM BỚT

Giảm: Bớt, trái với tăng. Bớt: Giảm, kém đi.

Giảm bớt là bớt, tức làm cho ít đi về số lượng, hay mức độ. Như: Làm giảm bớt phiền não.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy dạy về phẩm Giáo Hữu có câu: Giáo Hữu là người để phổ thông Chơn đạo Thầy. Chúng nó đặng quyền xin chế giảm luật lệ Ðạo. 3000 Giáo Hữu chia ra đều, mỗi phái là 1000, chẳng nên tăng thêm hay là giảm bớt.

Muốn khuyên giảm bớt ái ân,

Lại e giục kẻ Tấn Tần chia phôi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Giảm bớt nghề ăn mắm và rau,

Thường thịt cá giải lao trẻ ở.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

GIẢM TIÊU

減 消

Giảm: Bớt, trái với tăng. Tiêu: Tiêu tan, mất.

Giảm tiêu là giảm bớt và tiêu tan.

Trong đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn khai nền Đại Đạo vào thời hạ nguơn mạt pháp, nên cho chúng sanh được hưởng kỳ Đại ân xá, và ban cho những bí tích thiêng liêng để tiêu trừ những oan khiên nghiệp chướng nơi cõi trần, hầu chơn linh được nhẹ nhàng, trong sạch, dễ dàng siêu thăng thoát hoá.

Dầu thương nhắm mắt đưa chơn,

Giờ nay gặp lối nghiệt trần giảm tiêu.

(Tán Tụng Công Đức).

Nay cõi trần nghiệt chướng giảm tiêu,

Ngọc Hư định đã nhiều phép cứu.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

GIẢM THÂU

Giảm: Bớt đi. Thâu: hay Thu, là nhận vào.

Giảm thâu, như chữ “Giảm thu 減 收”, là giảm bớt việc thu vào một lợi tức gì.

Như: Mùa lúa năm nay dản lượng bị giảm thâu.

Làm lành đặng hưởng phước duyên,

Trong lòng nham hiểm, lộc quyền giảm thâu.

(Kinh Sám Hối).

 

 

GIAN

1.- Gian là khoảng. Như: Nhơn gian, trần gian, thế gian, phàm gian, thời gian.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bây giờ phân ra: Tinh là Vật, tức nhiên là con vật là thú, như các con thú khác, nghĩa là hình xác đứng về hàng phẩm thú. Khí là sanh quang trí não ta. Thần là chơn linh sản xuất nơi Chí Tôn. Ba cơ quan tương liên nhau, có Khí làm trung gian.

Cứu thế quyết ngưng quyền Ðịa phủ,

Ðộ đời cố tạo phước nhơn gian.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Đếm ba vạn sáu ngàn ngày,

Cõi Dương gian với cõi Tuyền đài gần nhau.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Gian là căn, khoang nhà, tức phần giới hạn bằng hàng cột hay bức tường ngăn theo bề ngang.

Như: Nhà ba gian hai chái, gian nhà, gian buồng.

Đai vàng khôn đổi gian lều cỏ,

Các tía sao bằng chốn cửa không.

(Thơ Bồng Dinh).

3.- Gian là tà dâm, giả dối. Như: Gian dâm, gian phu dâm phụ, gian thần, mưu gian.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Muốn giữ cái tâm cho chính, sự sợ hãi, sự vui say, sự ưu hoạn, làm cho cái tâm ta chênh lệch xao xuyến vì một khi tâm bị loạn thì mắt không trông thấy, tai nghe không hiểu, ăn không biết mùi, tất nhiên ta chẳng còn phân biệt được tà chánh ngay gian mà xử sự đúng theo đạo lý.

Chuyển luân thế sự đưa kinh Thánh,

Trừ diệt tà gian múa bút Thần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Gặp cơn xúi ác giục loàn,

Người ngay tránh dạng, đứa gian khoe mình.

(Ngụ Đời).

4.- Gian là vất vả, khó nhọc. Như: Gian lao, gian khổ, gian nan, gian truân.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Vận nhà Nguyễn đã đến, nên sản xuất ra một vị anh hùng là Nguyễn Ánh, đã phiêu lưu vô ngằn, khi ở Nam, khi ở Xiêm, khi về nước, Ngài không biết bao gian khổ...

Khổ hạnh từng cam nơi đất Việt,

Gian lao lắm chịu chốn trời Âu.

(Thơ Ngọc Nhượn Thanh).

 

 

GIAN DÂM

奸 淫

Gian: Tà, giả dối, không chính đáng. Dâm: Say mê về sắc dục.

Gian dâm là việc quan hệ thể xác giữa hai người nam nữ không chính đáng như đàn ông lấy vợ người, đàn bà lấy chồng người. Còn gọi là tà dâm.

Gian dâm là phạm vào điều thứ ba của ngũ giới cấm, là không được tà dâm, tà hạnh.

Theo Phật, người hành trì giới tà dâm là không được quan hệ bất chính với người ngoài chồng hay vợ chính thức, tức phải hết lòng trung trinh với người chồng hay người vợ của mình.

Người giữ được giới này thì tạo được hạnh phúc trong gia đình mình, ngoài ra cũng tránh được sự gây ra đổ vỡ, khổ đau trong gia đình và bảo vệ tiết hạnh của kẻ khác.

Còn một nỗi gian dâm đại tội,

Lấy vợ người làm lỗi tiết trinh.

(Kinh Sám Hối).

Ngục đao kiếm cầm giam phạm ác,

Tánh gian dâm hành phạt gớm ghê.

(Kinh Sám Hối).

 

 

GIAN GIẢO

奸 狡

Gian: Dối trá. Giảo: Xảo quyệt, tức khôn ngoan một cách bất chính.

Gian giảo, cùng nghĩa với chữ “gian xảo 奸 巧”, chỉ người gian manh xảo quyệt.

Như: Thằng ấy có thói gian giảo, điêu ngoa.

Bàn chông nhọn liền liền đánh khảo,

Tra tội nhơn, gian giảo ngược ngang.

(Kinh Sám Hối).

 

 

GIAN HÙNG

奸 雄

Gian: Dối trá. Hùng: Tài giỏi hơn người.

Gian hùng là nói người tài giỏi nhưng lại dối trá.

Tào Tháo hỏi một viên tướng rằng: Ta là người thế nào? Viên tướng đáp: Thừa tướng là một vị tôi giỏi thời bình, và gian hùng trong thời loạn.

Làm song ngăn đón lũ gian hùng,

Mạnh yếu đánh thoi cũng gọi hùng.

(Đạo Sử).

Nên Thánh nên Hiền chưa thấy mặt,

Gian hùng đầy quận với đầy trào.

(Đạo Sử).

 

 

GIAN LAO

艱 勞

Gian: Khó khăn. Lao: Nhọc mệt.

Gian lao, đồng nghĩa với “Gian khổ”, chỉ cảnh gian nan khổ nhọc.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Hôm nay trước khi nhắc lại những võ công oanh liệt của Đức Cao Hoàng, một giọt máu của dòng họ Nguyễn, một bực anh hùng đã không nài vào sanh ra tử, khổ sở gian lao để tạo lên một san hà như hoa như gấm chạy dài từ cửa Nam Quan đến mũi Cà Mau, mà chúng ta con cháu của Ngài được thừa hưởng ngày nay.

Cửa Đạo buồn xem trò phản trắc,

Đường tu nào ngại cảnh gian lao.

(Thơ Thuần Đức).

Bao phen khổ hạnh gầy cơ nghiệp,

Mấy lúc gian lao chịu ngục hình.

(Cội Đạo Bốn Mùa).

 

 

GIAN MANH

Gian: Dối trá, xảo quyệt.

Gian manh là gian giảo, chuyên lừa lọc bằng những mánh khoé đê tiện.

Trong Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông dạy Ngài Thượng Trung Nhựt có câu: Hiền Hữu biết rằng Thánh Thất nầy chư Ðạo Hữu cũng có tổn phí, đợi kẻ gian manh làm thế nào mà đòi. Chư Ðạo Hữu thế nào mà trả, trước mặt luật Trời chưa phải dễ sang đoạt nghe à...

Khá kiếm thế đặng gần chánh phủ,

Tìm biết danh trọn lũ gian manh.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

GIAN MƯU

奸 謀

Gian: Dối trá, xảo quyệt. Mưu: Mưu kế.

Gian mưu là mưu kế gian xảo, nghĩa là bày mưu tính kế gian xảo để hại người.

Chớ quyệt ngữ mà khinh kẻ dại,

Đừng gian mưu hãm hại người hiền.

(Kinh Sám Hối).

 

 

GIAN NAN

艱 難

Gian: Khó khăn, lo lắng. Nan: Khó.

Gian nan là ở trong cảnh ngộ gặp nhiều khó khăn, gian khổ phải vượt qua.

Thuyết Đạo của Đức Thượng Sanh có câu: Lúc gặp thời thì đem đức sáng tài hay của mình đặng phụng sự thiên hạ giúp nước trị dân khó nhọc chẳng từ, gian nan không quản.

Người làm việc gian nan lắm nỗi,

Người thảo ngay sớm tối khổ đau.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Nầy thân thiếp chịu gian nan,

Linh đinh đất chiếu, trời màn không nơi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GIAN NỊNH

奸 佞

Gian: Dối trá, lừa lọc để làm những việc bất lương. Nịnh: Ton hót, nịnh nọt.

Gian nịnh là gian xảo, nịnh nọt, ý chỉ kẻ chuyên nịnh hót để làm những việc gian tà, bất chính.

Gian nịnh còn dùng để chỉ bọn gian thần siểm nịnh.

Như: Người lãnh đạo thiếu sáng suốt bọn gian nịnh sẽ hoành hành đất nước.

Ðời không Ðạo, tức là kỷ cương rối loạn, kẻ gian nịnh lộng quyền.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

GIAN NGUY

艱 危

Gian: Khó khăn. Nguy: Hiểm nguy.

Gian nguy là vất vả và nguy hiểm.

Thánh giáo có câu: Ðời cũng vậy, mà Ðạo cũng vậy. Hễ chác danh cao quyền lớn, bực quý phẩm Tiên thì phải dày chịu gian nguy, nặng đeo sầu thảm.

Tu hành chớ ngại bước gian nguy,

Nhờ lửa vàng kia khó lộn chì.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

GIAN NGƯỢC

奸 虐

Gian: Dối trá, xảo quyệt. Ngược: Độc ác, tai hại.

Gian ngược là gian xảo và bạo ngược, tức nói kẻ độc ác và bạo ngược.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bần Đạo nói thật, muốn đánh tiêu cả sự dối trá, gian ngược ấy, chẳng phải dễ, người có thể làm cho thiên hạ mê tín dị đoan được là Bần Đạo, mà Bần Đạo không làm.

Chém vợ để cầu vinh thuở trước,

Ngô Khởi còn gian ngược chi danh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Chồng đạo đức biết cân tội phước,

Đừng sanh tâm gian ngược dối lường.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

GIAN PHI

奸 非

Gian: Tà dâm, dối trá, xảo quyệt.

Gian phi là chỉ người có tính gian trá, chuyên làm việc phi pháp (trái phép).

Như: Những kẻ ban đêm vào nhà người khác mà không báo trước là bọn gian phi.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Ngài (chỉ Khổng Tử) đặt ra luật lệ cứu giúp kẻ nghèo khổ, lập ra phép tắc lớn nhỏ phân biệt, trai gái đều có bổn phận, ngoài đường không lượm của rơi, kẻ gian phi vắng bóng, hình pháp có đặt ra mà không dùng đến.

Đường quanh ngõ tắt khó đi,

Chông gai chớ lội, gian phi chớ làm.

(Thơ NĐS Hương Thanh).

 

 

GIAN PHU

奸 夫

Gian: Dối trá, dâm. Phu: Người đàn ông.

Gian phu là người đàn ông thông dâm với người đàn bà không phải là vợ mình.

Như: Đôi gian phu dâm phụ.

Nơi Địa ngục gông kềm sẵn đủ,

Để răn loài dâm phụ gian phu.

(Giới Tâm Kinh).

 

 

GIAN TÀ

奸 邪

Gian: Dối trá. Tà: Cong, không ngay thẳng.

Gian tà dùng để chỉ người xảo trá, không thành thật và không ngay thẳng.

Thánh giáo có câu: Các con ôi! Thầy thương đến tâm thành chánh trực đạo đức khiêm cung, cũng như Thầy xoá kẻ xảo trá gian tà cầu danh chác lợi.

Người ta kế cấp bấy nhiêu người,

Lánh đứa gian tà đến dựa hơi.

(Bát Nương Giáng Bút).

Chánh trực công bình đường Thánh Phật,

Gian tà xảo mị lối yêu tinh.

(Thơ Thông Quang).

 

 

GIAN TẶC

奸 賊

Gian: Dối trá, trộm cắp. Tặc: Giặc.

Gian tặc là kẻ gian chuyên làm những việc bất lương tày trời.

Gian tặc còn dùng để chỉ bọn giặc cướp.

Quan Thánh Đế Huỳnh cân dẹp giặc,

Trừ nịnh tà gian tặc giúp đời.

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 

GIAN THAM

奸 貪

Gian: Xảo trá, không ngay thật. Tham: Tham lam.

Gian tham là gian giảo và tham lam.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy: Thầy không cần nói, sự gian tham có thể giục các con lỗi đạo cùng Thầy mà bị lắm điều tội lỗi.

Thấy đời nhiều kẻ gian tham,

Giết người lấy của giả tâm dối lời.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

GIAN THẦN

奸 臣

Gian: Dối trá. Thần: Bề tôi.

Gian thần là kẻ bề tôi gian nịnh, dối trá, hoặc có ý làm hại người trung nghĩa, âm mưu cướp đoạt ngôi vua.

Như: Bọn gian thần tẵ tử.

Đòi về đêm ngày sợ gian thần sủng nịnh nó tâu vô tâu ra sợ về mang hại nó mới đồ mưu làm để ổng nằm trong cái hòm rồi đệ tờ sớ nói ổng chết.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

GIAN TRÁ

奸 詐

Gian: Dối trá, xảo quyệt. Trá: Lừa gạt, tráo trở.

Gian trá là nói người có tính xảo quyệt, chuyên dối gạt, lừa gạt người.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Danh vọng thường hay chống lại với đức hạnh. Nó rất ngắn ngủi và thường thành tựu nhờ nơi sự gian trá.

Trước người giả bộ siêng lo,

Sau lưng gian trá so đo tấc lòng.

(Kinh Sám Hối).

 

 

GIAN TRUÂN

艱 迍

Gian: Khó khăn. Truân: Khó tiến tới.

Gian truân chỉ lúc gặp cảnh gian nan vất vả, khó tiến bước được.

Trong quyển Thiên Đạo có đoạn: Người minh triết là người đã đạt được Tâm hư không. Tâm hư không là dứt bỏ được phàm phu tục tánh, nguồn ân bể ái, diệt hết thất tình lục dục, được tánh Phật lòng Tiên, cư trần bất nhiễm trần, lòng trung như vầng nhựt nguyệt, dốc chí dấn thân vào sông mê bể khổ cứu vớt người ra khỏi mê tân, chẳng quản gian truân, coi sự sanh tử nhẹ như mãy lông, miễn giải thoát chúng sanh khỏi vòng hắc ám, dầu phải muôn cay ngàn đắng cũng không thối chí ngã lòng.

Dầu khi gặp lúc gian truân,

Cũng đồng giúp ích chớ đừng mặt ngơ.

(Kinh Sám Hối).

Chiếm công phải gắng Ðạo lo lường,

Thấy phận gian truân Lão cũng thương.

(Đạo Sử).

Ái ân, ân ái là sao?

Đày thân lắm khách má đào gian truân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GIAN XẢO

奸 巧

Gian: Dối trá, xảo quyệt. Xảo: Khéo léo.

Gian xảo là dối trá, lừa gạt một cách khéo léo.

Trong Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp có câu: Muốn chuyển theo chánh sách của Ðức Chí Tôn thì duy có lấy nhơn đức đối với hung bạo, lấy hiền đối với dữ, lấy tâm quảng đại bao la khoan dung tha thứ của Trời Ðất đối với tánh đức hẹp hòi của loài người, lấy tâm bác ái trải ra toàn tâm lý loài người đặng trừ cái tánh gian xảo, hung tàn, quỷ quyệt của họ.

Giỏi mua hạnh phúc tài gian xảo,

Tạo bước truân chuyên kẻ thật thà.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

GIÁN NGHỊ

諫 議

Gián: Khuyên can. Nghị: Bàn bạc để quyết định.

Gián nghị là lời can lỗi vua.

Để tránh những lỗi lầm khi thi hành luật pháp, các bậc vua chúa ngày xưa có đặt ra vị “Gián quan” tức những ông quan có trách nhiệm can gián vua, như quan Ngự sử, Gián nghị Đại phu.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có đoạn: Ấy vậy, nơi tay hiền hữu đủ quyền Chí Tôn mà chuyển thế. Lão bất quá là một Gián Nghị Đại Phu ở gần hiền hữu, chia lao sớt nhọc mà thôi.

Bậc vua chúa đời trước muốn tránh khỏi sai lầm hay muốn sửa mình, có đặt ra quan Gián nghị, đặng can gián những hành động bất chánh của mình.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

GIÁN NGHINH PHẬT CỐT

諫 迎 佛 骨

Gián: Can gián, tức khuyên can vua hoặc người trên. Nghinh Phật cốt 迎 佛 骨: Rước cốt Phật.

Gián nghinh Phật cốt ý chỉ Hàn Dũ can gián vua việc rước cốt Phật nên bị vua bắt lưu đày.

Do tích Hàn Dũ, tên tự là Thoái Chi, sinh năm 768 tại Nam Dương, cha là Trọng Khanh làm quan Huyện lệnh có tiếng về văn chương. Ông mồ côi cha hồi ba tuổi, ở với anh là Hàn Hội, cũng mất sớm. Sau ông ở với chị dâu, tự học. Năm 19 tuổi lên Kinh thi, bị rớt, mặc dầu ông đã nổi danh về cổ văn. Năm 24 tuổi mới đậu tiến sĩ, rồi 29 tuổi mới ra làm quan.

Hàn Dũ có người cháu kêu bằng chú, rất mộ đạo tên là Hàn Tương Tử, sau tu thành Tiên, là một trong Bát Tiên ở núi Bồng Lai. Hàn Tương Tử muốn trở về độ chú mình, nên ngày kia giả một vị đạo sĩ vào trong làng Hàn Dũ để đảo võ. Không bao lâu, mưa đổ tuyết sa xuống đầy đồng, từ đó Dũ mới tin Thần Tiên có phép mầu. Để thúc đẩy lòng tin, nhân lễ chúc thọ cho Hàn Dũ, Hàn Tương Tử dùng thần thông đặt rượu ngon đầy ché và trồng mẫu đơn hoa nở tức thì, đặc biệt trong đoá hoa có hai hàng chữ: “Vân hoành Tần lĩnh gia hà tại, Tuyết ủng Lam Quan mã bất tiền 雲 橫 秦 嶺 家 何 在, 雪 擁 藍 關 馬 不 前”, nghĩa là mây giăng Tần Lĩnh, nhà nơi đâu? Tuyết ngập Lam Quan, ngựa không đi được. Hàn Dũ không hiểu nghĩa hai câu thơ, định hỏi thì Hàn Tương Tử nói: Ngày sau chú sẽ biết.

Hàn Dũ là một người thanh liêm và cương trực. Một lần can vua Đức Tôn về việc xa hoa trong cung mà bị biếm làm Lệnh doãn Dương Sơn; lần khác, can vua Hiến Tôn đừng rước cốt Phật vào cung, suýt bị tử tội, nhờ đình thần xin cho mới được giáng làm Thứ sử Triều Châu. Hàn Dũ bị đày đến chốn nào không biết, nơi ấy chẳng những không thấy nhà cửa mà mây giăng đỉnh núi mịt mù, tuyết rơi lác đác, ngựa không đi đặng. Trong cảnh ấy Hàn Tương Tử lại xuất hiện cầm chổi quét tuyết dọn đường và cho biết hai câu thi ngày xưa ứng vào lúc này, đây là ải Lam Quan, núi nầy tên là Tần Lĩnh.

Từ đó, Hàn Dũ mới tin tưởng vào số Trời và bắt đầu trọng Đạo.

Bên trong hành làng Nữ phải tại Báo Ân Từ có vẽ khuôn hình lấy tích “Hàn Dũ bị đày”.

Xem: Hàn Dũ.

Hàn Tương Tử hết lòng khuyên chú,

Gián nghinh Phật cốt, Dũ bị đày.

Lam Quan ngựa khó bước thay,

Cầm chổi quét tuyết nhắc ngày trồng hoa.

(Báo Ân Từ).

 

 

GIÀN

1.- Giàn là vật gồm nhiều thanh tre, nứa hoặc chà bắc ngang dọc để cho cây leo bám.

Như: Trước nhà có giàn hoa thiên lý, giàn bầu, giàn bí, giàn mướp.

Ca dao Việt Nam có câu: Bầu ơi thương lấy bí cùng, Tuy là khác giống nhưng chung một giàn.

Bầu bí chưa ai bỏ lộn giàn,

Mình quê chưa ắt biết cao sang.

(Đạo Sử).

2.- Giàn còn là một cái giá bằng gỗ dùng để cắm binh khí, hoặc tám bửu pháp của bát Tiên, đặt trước chánh điện thờ thần hay Thờ Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu.

Như: Giàn Lỗ bộ, giàn Bát bửu.

Giàn Lỗ bộ đôi bên Chánh Điện,

Bát Cảnh Cung hiện Kim Bàn.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

GIANG CÁCH

江 革

Giang Cách là một nhân vật trong nhị thập tứ hiếu, sinh vào đời nhà Hán, mồ côi cha từ lúc bé, thờ mẹ rất có hiếu. Gia cảnh nghèo, lại gặp buổi loạn lạc, ông phải cõng mẹ đi lánh nạn, giữa đường gặp bọn giặc toan bắt ông đi, ông khóc lóc van xin với bọn giặc nói là ông còn bà mẹ già, chỉ có hai mẹ con nương tựa nhau, nay bắt ông đi thì không ai nuôi mẹ già.

Bọn giặc nghe nói, nghĩ thương tình, tha không bắt ông đi nữa. Ông cõng mẹ chạy về Hạ Bì, rồi ông cố sức đi làm thuê, làm mướn để có tiền nuôi mẹ được no đủ qua cơn loạn lạc.

Giang Cách cõng mẹ thì gặp giặc,

Khóc vang lên nước mắt chan hoà.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

Giang Cách hiếu khốn chăng thời loạn,

Chạy giặc còn cõng rán mẹ già.

(Báo Ân Từ).

 

 

GIANG HỒ

江 湖

Giang: Con sông. Hồ: Cái hồ.

Giang hồ chỉ người không có định sở, rày đây mai đó. Đối với người đàn ông, “Giang hồ” chỉ sự phiêu lưu nay đây mai đó.

Đối với người đàn bà, con gái, “Giang hồ” có nghĩa là gái trắc nết, lăng loàn, hay gái bán thân.

Tranh đua giũ sạch lằn phi thị,

Gặp buổi giang hồ vớt chúng sinh.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

GIANG SAN

Hay “Giang sơn”.

Giang: Sông. San (sơn): Núi.

Gian san, như chữ “Giang sơn 江 山”, là sông và núi, tài sản của đất nước, nên tượng trưng cho quốc gia.

Vì vậy, Giang sơn có nghĩa là đất nước. Giang sơn đồng nghĩa với sơn hà.

Xem: Sơn hà.

Cổi tấm chơn thành loà nhựt nguyệt,

Phơi gan chí sĩ nhuộm giang san.

(Đạo Sử).

Khởi điểm vinh quang đã vẽ màu,

Giang san đất Việt giá là bao.

(Nguyệt Tâm Chơn Nhơn).

 

 

GIANG SAN GẤM VÓC

Hay “Giang sơn gấm vóc”.

Giang san (sơn): Sông núi, chỉ đất nước. Gấm vóc: Vật quý giá, chỉ sự đẹp đẽ.

Giang san gấm vóc là sông núi của nước nhà như gấm vóc, ý chỉ đất nước đẹp đẽ, quý báu.

Giang san gấm vóc bền chơn vạc,

Đảnh tộ Việt Thường vững bốn phương.

(Thơ Hiến Pháp).

 

 

GIÁNG BAN

降 頒

Giáng: Trên đưa xuống. Ban: Tiếng chỉ người trên cho kẻ dưới.

Giáng ban là nói một cách tôn kính Đấng thiêng liêng ban xuống cho người ở cõi phàm gian.

Như: Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu giáng ban ân hồng cho toàn sanh chúng.

Giáng ban phúc hạnh nhơn đồng lạc,

Thế tạo lương phương thế cộng giao.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

GIÁNG BÚT

降 筆

Giáng: Trên đưa xuống. Bút: Cây viết, ở đây chỉ cây Ngọc cơ, một cây có cán làm bằng mây như cây viết, dùng để các Đấng Thiêng liêng giáng viết.

Giáng bút là Đấng Thiêng liêng giáng điển vào đồng tử cầm ngọc cơ viết ra chữ bóng trên mặt bàn, thành một bài Thánh giáo để khuyên dạy chúng sanh.

Trong Chú Giải Pháp Chánh Truyền có câu: Nhờ Ngài (Chỉ Đức Lý Giáo Tông) và Hội Thánh cầu khẩn, Thầy đã giáng bút truyền các bí pháp ấy cho Hộ Pháp.

Tam Kỳ tự chủ là Trời,

Diệu huyền giáng bút để lời dạy khuyên.

(Lục Nương Giáng Bút).

Xuất thế gia công truyền đạo lý,

Siêu phàm giáng bút độ nhơn sinh.

(Thơ Võ Thành Lượng).

 

 

GIÁNG CẤP

降 級

Giáng: Rơi xuống. Cấp: Bậc.

Giáng cấp là người phạm tội bị Toà án phạt xuống chức thấp hơn.

Khi nói về Toà Tam Giáo, điều 31 của Tân Luật có câu: Toà này (Chỉ Toà Tam Giáo) có quyền xử giáng cấp hay là trục xuất.

Giáng cấp tới tín đồ hay là buộc hành đạo ngoại quốc, trừ ra các xứ lân bang Nam quốc như: Ai Lao, Tần quốc.

(Bát Đạo Nghị Định).

 

 

GIÁNG CƠ

降 乩

Giáng: Trên đưa xuống. Cơ: Ngọc cơ, một cây có cán làm bằng mây như cây viết, dùng để các Đấng Thiêng liêng giáng viết.

Giáng cơ đồng nghĩa với chữ giáng bút, là các Đấng Thiêng Liêng giáng điển vào cây Ngọc cơ viết thành một bài Thánh giáo để dạy Hội Thánh hay chư chúng sanh.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: Bàn Thầy giáng cơ thì để trước bàn vọng Ngũ Lôi, khi giáng cơ rồi thì dời đi cho trống chỗ, đặng nhị Ðầu Sư quỳ mà thề.

Nhờ ơn các Đấng trọn lành,

Giáng cơ chỉ bảo mối manh Đạo Trời.

(Xưng Tụng Thanh Sơn).

Cựu vị quy hồi xong sứ mạng,

Giáng cơ phổ độ khách trần duyên.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

GIÁNG ĐÀN

降 壇

Giáng: Từ trên Trời xuống. Đàn: Nơi tổ chức cúng tế của Đạo, hoặc nơi cầu cơ bút.

Giáng đàn là nói các Đấng Thiêng Liêng giáng thần điển xuống đàn cơ bút, hay đàn cúng tế để chứng lòng thành tín của chư chúng sanh.

Thánh giáo Bát Nương Diêu Trì Cung có câu: Ðức Ðại Tiên Trưởng cho hay rằng: Ngài đã yêu cầu Ðức Chí Tôn bữa Ðại lễ giáng đàn. Vậy ngày kế, quý anh quý chị sẽ đọc kinh cũng như ngày Xuân, song khoản cầu trong Kinh Cứu Khổ, chỗ xưng hô đệ tử, xin quý anh quý chị đổi lại “cầu chung cả cho chúng sanh”.

Thầy lại cũng đã nói: Mỗi khi Chơn linh Thầy giáng đàn thì cả vàn vàn muôn muôn Thần, Thánh, Tiên, Phật theo hầu hạ.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

GIÁNG HẠ

降 下

Giáng: Từ trên Trời xuống. Hạ: Dưới, xuống.

Giáng hạ chỉ việc từ trên rơi xuống, hay nói các đấng thiêng liêng giáng xuống cõi trần.

Nói về Đấng Jesus Christ, Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có nói: Từ ngày đó Ðức Chúa Jésus là chơn linh Ðấng Christna giáng hạ cho nên đi truyền giáo nơi nào, chơn linh Ngài không phải như ngày sanh nhựt nữa, mà đã biến thành Chí Thánh vậy.

Diêu động vân hành giáng hạ lai,

Trì trung thanh tịnh bạch liên khai.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

GIÁNG LÂM

降 臨

Giáng: Từ trên Trời xuống. Lâm: Tới, đến.

Giáng lâm dùng để nói các Đấng Thiêng Liêng xuống viếng hay giáng xuống cõi trần gian.

Giảng về Thánh danh Hộ Pháp, trong Thuyết Đạo có câu: Câu chú mà khi thượng sớ, chúng ta thường nghe đọc “Tam Châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên Tôn”. Thật sự thì như vầy “Tam Thiên Thế Giái Hộ Pháp Giáng Lâm”. Từ trước đến giờ, các bậc tiền bối của chúng ta đã để như nói trên nên không thể sửa cải được, phải để y như vậy.

Thiên cung: Tinh Tú, Thánh, Tiên,

Địa kỳ: Thần Tướng đàn tiền giáng lâm.

(Xưng Tụng Công Đức).

Ân ban trần thế giáng lâm,

Victor là họ, tên nhằm Hugo.

(Xưng Tụng Thanh Sơn).

 

 

GIÁNG LINH

降 靈

Giáng: Từ Trời đi xuống. Linh: Chơn linh.

Giáng linh là chơn linh giáng xuống cõi trần. Đồng nghĩa với giáng sinh.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: các vị Giáo Chủ trong Ðạo toàn là những bác sĩ nghe tiếng đồn danh thần đồng của Chúa Jésus nên khi vô Ðền Thờ, họ xúm nhau lại vấn Ðạo, Ðức Christna giáng linh, ngồi giữa các vị Giáo Chủ ấy, thuyết đạo làm cho thiên hạ ngạc nhiên sự lạ.

Giáng linh Hộ Pháp Di Đà,

Chuyển cây Ma Xử đuổi tà trục tinh.

(Kinh Tận Độ).

Thần Tiên vốn chẳng xa chi,

Có lòng chiêm ngưỡng nhứt thì giáng linh.

(Bài Trời Còn).

 

 

GIÁNG MA XỬ

降 魔 杵

Hay “Giáng Ma Xử”.

Giáng Ma Xử (còn đọc là “chử” cây chày), hay “Giáng Ma”, là một bửu bối của Đức Hộ Pháp, hình giống như một cây chày, dùng để đuổi quỷ trừ yêu bảo vệ nền Chơn pháp Đại Đạo.

Khi ngự trên ngai “Thất đầu xà”, Đức Hộ Pháp mình mặc giáp, choàng mãng bào, tay phải cầm Giáng Ma Xử, tượng trưng cho việc lấy Đời chế ngự Đạo.

Xem: Ma Xử.

1.- Giáng Ma Xử:

Tay hữu cầm Giáng Ma Xử, còn tay tả nắm xâu Chuỗi “Từ Bi” thành ra nửa Đời nửa Đạo.

(Pháp Chánh Truyền CG).

2.- Giáng Ma:

Phong ba mấy độ đà qua khỏi,

Ném thử Giáng Ma đóng Cửu tuyền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tru Tiên nhập trận chẳng hề kinh,

Cầm gậy Giáng Ma thủ hộ mình.

(Thơ Đức Hộ Pháp).

 

 

GIÁNG SANH

Hay “Giáng sinh”.

Giáng: Xuống thế. Sanh (sinh): Sanh ra, ra đời.

Giáng sanh, như chữ “Giáng sinh 降 生”, là tiếng dùng chỉ những Đấng Tiên, Phật ở cõi Thiêng liêng giáng xuống để sinh ra nơi chốn phàm trần.

Thánh giáo Thầy có câu: Từ trước, Ta giáng sanh lập Phật giáo gần sáu ngàn năm thì Phật đạo chánh truyền gần thay đổi.

Xem: Giáng sinh.

Phổ Độ kỳ hai Chúa giáng sanh,

Thái Tây tháng chạp sử ghi rành.

(Thơ Ngọc Nhượn Thanh).

 

 

GIÁNG SINH

降 生

Giáng: Xuống thế. Sinh: Sanh ra, ra đời.

Giáng sinh là tiếng dùng chỉ những Đấng Thần, Thánh, Tiên, Phật ở cõi Thiêng liêng giáng xuống để sinh ra nơi chốn phàm trần.

Như: Đức Thích Ca Mâu Ni giáng sinh tại Ấn Độ, Chúa Cứu Thế giáng sinh tại thành Bethléem.

Quốc khánh cùng ngày lễ Giáng sinh,

Dâng hương Đoan ngọ nguyện hoà bình.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

GIÁNG THẾ

降 世

Giáng: Xuống. Thế: Thế gian, cõi đời.

Giáng thế là giáng linh xuống cõi thế gian.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Thầy hỏi nếu chẳng phải quyền hành Thầy, dầu cho một vị Phật thiệt lớn giáng thế đi nữa, cũng chưa có phương chi độ hơn bốn muôn sanh linh nhờ tay có 6 đứa môn đệ trong một năm cho đặng bao giờ.

Bay đến Hồ Dương phụng gáy chiều,

Thần Tiên giáng thế biết bao nhiêu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Đạo Trời giáng thế lập trường tu,

Đạo để trau tria lánh nẻo sầu.

(Thơ Phạm Mộc Bổn).

 

 

GIÁNG TRẦN

降 塵

Giáng: Xuống. Trần: Trần gian, chỉ cõi thế.

Giáng trần, cùng nghĩa với “Giáng thế 降 世”, là giáng sinh xuống cõi trần.

Giáng trần, Giáng thế, Giáng phàm, đều đồng nghĩa với nhau.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy: Vì vậy mà Thầy phải phế hết Bạch Ngọc Kinh, Huỳnh Kim Khuyết, giáng trần độ rỗi các con, chớ chi Thầy đến mà làm cho giảm sự khổ não các con chẳng đặng nữa thì thôi, lẽ nào còn lập Tân Luật ràng buộc các con thêm nữa.

Kỷ niệm đêm nay Chúa giáng trần,

Hoằng khai Thánh Đạo độ lương dân.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

GIÁNG TRUYỀN

降 傳

Giáng: Xuống. Truyền: Trao lại, sai khiến.

Giáng truyền là giáng xuống để truyền dạy. Giáng truyền có có nghĩa là giáng cơ để truyền dạy đạo đức.

Kim quang chiếu toả tri cơ tạo,

Tiên Phật giáng truyền Thánh bút lâm.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Kỳ ba Ðại Ðạo mở trường,

Trời chọn thí điểm Nam Phương giáng truyền.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

GIẢNG ĐÀI

講 臺

Giảng: Giải thích cho hiểu rõ. Đài: Nơi xây cao.

Giảng đài là một cái đài được xây cao để các vị Chức sắc lên đó thuyết Đạo.

Trong Đền Thánh, hai cây cột ngang hai bên của hông, có xây hai cái Giảng đài hình xoắn ốc uốn theo cột rồng. Dưới Giảng đài là hình đầu rồng há miệng phun ra sáu chia đỡ Giảng đài.

Du khách thấy hai cây cột Rồng hai bên tả và hữu có xây hai cái đài hình khuôn ốc, đó là Giảng Đài...

(Toà Thánh Tây Ninh).

 

 

GIẢNG ĐƯỜNG

講 堂

Giảng: Giải thích cho hiểu rõ. Đường: Nhà.

Giảng đường là nhà để giảng bài dạy học, hay dùng để ngồi nghe diễn thuyết, nghe giảng kinh.

Ngôi Hạnh Đường tại Toà Thánh Tây Ninh là Giảng đường của nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Xem: Hạnh Đường.

Sớm đến Giảng đường nghe giáo lý,

Chiều về Tịnh thất học chơn truyền.

(Thơ Thượng Thời Thanh).

 

 

GIẢNG VIÊN

講 員

Giảng: Dẫn giải cho rõ nghĩa. Viên: Chỉ người giữ một chức vụ nhỏ nào đó.

Giảng viên là tên gọi chung người làm công tác giảng dạy ở các trường học, lớp đào tạo, huấn luyện.

Như: Giảng viên lớp Hạnh Đường.

Hội Thánh đã làm xong phận sự giáo hoá, Ban Giám Ðốc và quý Giảng viên đã tận tâm với nhiệm vụ.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

GIÀNH

Giành là tranh lấy. Như: Tranh giành, giành giựt, giành quyền lợi, giành phần thắng.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Khi ta đi tìm hạnh phúc cá nhân, tất nhiên ta phải đụng chạm đến người khác cũng đi tìm như ta vậy. Thành thử có việc tranh giành, có đụng chạm, tranh chấp, mâu thuẫn giữa người và người để rồi đi đến chỗ thù oán, có khi giết hại lẫn nhau cũng chỉ vì ta làm nô lệ cho dục vọng.

Phú quý lớn là giành với giựt,

Lợi danh cao bởi mượn và xin.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðai cân mảng luyến chưa nên phận,

Danh lợi ham giành khó vẹn ngôi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

GIÀNH GIỰT

Hay “Giành giật”.

Giành: Tranh lấy. Giựt (giật): Giành lấy cho được.

Giành giựt, như chữ “Giành giật”, là tranh một cách dữ dội để đoạt lấy cho bằng được.

Khi nói về bọn Quỷ vương, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Cái quyền hành lớn lao ấy do Thầy ban cho nó, nên đặng quyền cám dỗ các con, xúi biểu các con, giành giựt các con mà làm tay chơn bộ hạ trong vòng tôi tớ nó.

Giành giựt cho xong mùi mặn lạt,

Chẳng vì chánh giáo của Thiên công.

(Đạo Sử).

Chanh ranh vạn thế ở trong vòng,

Giành giựt lẫn nhau miếng đỉnh chung.

(Lục Nương Giáng Bút).

Tuồng đời mộng ảo có chi mong,

Giành giựt càng thêm lắm bụi hồng.

(Thơ Cao Liên Tử).

 

 

GIÀNH ÉN GIỰT ANH

Hay “Giành én giật anh”.

Giành giựt (giật): Tranh nhau dữ dội. Én anh: Chim én chim anh, dùng để ví mối duyên tình.

Giành én giựt anh ý nói sự tranh đua giành giựt về tình duyên.

Hơn chi giành én giựt anh,

Thước cưu khuất bóng dựa cành chung nhau.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GIÀNH XÉ

Giành: Tranh lấy. Xé: Làm cho rách từng mảnh.

Giành xé là tranh giành và xâu xé nhau.

Thánh giáo Thầy có câu: Cang thường điên đảo, phong hoá suy vi, những mảng ghét lẫn nhau, giành xé nhau, mối tôn giáo phân chia, đạo nước nhà chẳng đoái, chánh tà tà chánh nan phân, còn chút hơi thở ở cõi trần mà tính tình dọc ngang chưa chịu dứt, một mai hồn xuống Diêm Ðài, khổ A Tỳ bảo sao không buộc trói.

Rồi đây, các con cũng chưa chắc hết tranh cạnh giành xé nhau mà làm cho nền Ðạo phải chia tan tành.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

GIAO

1.- Giao là đưa cho, trao cho. Như: Giao tiền, giao việc, giao phận sự.

Thánh giáo Chí Tôn có dạy: Thầy nhứt định đến chính mình Thầy độ rỗi các con, chẳng chịu giao Chánh giáo cho tay phàm nữa.

Nếu đặng thật lòng lo cứu chúng,

Thầy đành giao đứt một Tiên chu.

(Đạo Sử).

Nhớ những vật người ta ưng bụng,

Tính tiền bằng cho đúng kỳ giao.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Giao là qua lại nhau, kết hợp với nhau. Như: Giao bôi, giao kết, giao ước, giao du, giao hiếu, giao tình.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Theo thế thường thì giàu đổi bạn sang đổi vợ, con người khi gặp nơi đắc dụng được kẻ biết trọng đãi kính nể mình, ban cho vàng bạc đủ đầy gái tốt hầu hạ sớm khuya, yến tiệc linh đình, tước cao lộc quý thì cho anh em ruột cũng quên được, vợ mình tấm mẳn cũng dứt tình, chúa cũ cũng không màng huống chi là kết nghĩa giao bằng hữu.

Ðã cùng nhau trót mấy lời giao,

Cách mặt mà lòng chẳng lãng xao.

(Thất Nương Giáng Bút).

3.- Giao là nơi làm lễ tế Trời của nhà vua. Lễ tế giao hay tế Nam giao ở nước ta có lệ cứ ba năm một lần.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Nhà Vua thì thờ Ðức Chí Tôn tức là Ngọc Hoàng Thượng Ðế, ta thấy sự tế tự Ðấng Chí Tôn ấy lưu truyền từ đời thượng cổ, nên hằng niên mới có tế Nam giao, đó là tế Ðức Chí Tôn vậy.

Non sông nhuộm một màu sầu,

Nền giao cỏ láng sân chầu sương phong.

(Ngụ Đời).

4.- Giao là con vật cùng loại với rồng, thường làm cho giữa biển sinh sóng gió. Phụng giao, như chữ long phụng, dùng để chỉ vợ chồng.

Đợi chi xinh mày liễu má đào,

Mới bền giữ phụng giao chung gối.

(Phương Tu Đại Đạo).

5.- Giao là keo. Như: Tất giao (sơn và keo), là hai thứ kết dính với nhau rất khắn, dùng để chỉ sự giao tình gắn bó, bền chặt, không thể chia lìa nhau được.

Xem: Giao tất.

Đài mây rẽ bước lòng bao nả,

Nỡ vội đừng quên nghĩa tất giao.

(Thơ Mỹ Ngọc).

 

 

GIAO BÁI

交 拜

Giao: Qua lại nhau, kết hợp với nhau. Bái: Lạy.

Giao bái là lạy lẫn nhau. Như: Phu thê giao bái.

Theo hôn lễ xưa ở Trung Hoa, khi rước dâu về, chàng rể và cô dâu lạy trời đất trước, gọi là nhất bái thiên địa, kế lạy ông bà, gọi nhị bái Cao đường, rồi hai vợ chồng cùng quay mặt lạy nhau, gọi là phu thê giao bái. Giao bái xong vợ chồng mới dự tiệc hợp cẩn.

Hoà minh loan phượng dâng lời nhạc,

Giao bái con dâu cạn chén đồng.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

GIAO BÔI

交 盃

Giao: Qua lại với nhau. Bôi: Chén uống rượu.

Giao bôi là vợ chồng trao đổi chén rượu cùng chung uống trong lễ hợp cẩn.

Theo nghi thức hôn lễ của Trung Hoa, hay Việt Nam, sau khi làm lễ nghinh hôn về, chàng rể và cô dâu cùng ăn mâm tơ hồng, cùng uống chung một chén rượu với nhau, gọi là lễ giao bôi.

Nâng chén giao bôi ngày khánh hạ,

Cùng nhau tô điểm áng thơ thần.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

GIAO CHÂU

交 州

Theo Việt Nam Sử Lược, quốc hiệu nước Việt Nam về đời Hồng Bàng gọi là Văn Lang, đời Thục An Dương Vương thì gọi là Âu Lạc. Đến đời nhà Tần lược định phía nam thì đặt làm Tượng Quận, sau nhà Hán dứt nhà Triệu, chia đất Tượng Quận ra làm ba quận là Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Đến cuối đời Đông Hán, vua Hiến Đế đổi Giao Chỉ làm Giao Châu.

Như vậy, Giao Châu là hiệu và tên đất của nước ta vào cuối đời Đông Hán.

Nam Hải trổ nhiều tay Thánh đức,

Giao Châu sanh lắm mặt Anh hùng.

(Đạo Sử).

 

 

GIAO DU

交 遊

Giao: Hai bên đi lại hoà hợp với nhau. Du: Đi chơi.

Giao du là đi lại, có quan hệ bạn bè, thân thiết nhau.

Trong Bản Tuyên Dương Công Nghiệp Đức Thượng Sanh của Ngài Hiến Pháp có câu: Là một chí sĩ thương dân yêu nước, Ông thường giao du cùng các bạn đồng chí khác như hai Ông Cao Quỳnh Cư và Phạm Công Tắc chẳng hạn. Cả ba Ông là nhạc sĩ lừng danh trong giới âm nhạc tại Thủ Ðô Sài Gòn, hai Ông Cư và Sang được coi như bậc Thầy trong giới nầy, sau khi Ông Cư đăng Tiên rồi, thì Ông Sang được coi như bậc Hậu Tổ.

Xác phàm còn ở nơi trần thế,

Linh tánh giao du chốn Phật đường.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

GIAO HẢO

交 好

Giao: Hai bên đi lại hoà hợp với nhau. Hảo: Tốt.

Giao hảo là nói hai cá thể, hai làng hoặc hai nước kết ước hoà hiếu với nhau.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Quan niệm của vạn vật đối với con người rất nên mật thiết, dầu vật ấy hung tàn đối với con người, tình thân ái giao hảo vẫn liên quan mật thiết.

Tấc son phong chặt niềm giao hảo,

Góp nhặt lời quê tạ mấy vần.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

GIAO HOÀ

交 和

Giao: Qua lại với nhau. Hoà: Hợp nhau.

Giao hoà là có quan hệ hoà hợp, đối xử tử tế, không gây sự với nhau.

Như: Hai nước ngưng chiến, giao hoà nhau.

Lời nguyện dĩ nhiên trời đất chứng,

Trước sau vẫn vẹn mối giao hoà.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

GIAO HOAN

交 歡

Giao: Qua lại với nhau. Hoan: Vui vẻ.

1.- Giao hoan là cùng vui vẻ với nhau.

Truyện Kiều, Nguyễn Du có câu: Thêm nến giá nối hương bình, Cùng nhau lại chuốc chén quỳnh giao hoan.

Nghẹn ngào trong buổi giao hoan,

Cười qua nước mắt, tuôn tràn rèm my.

(Thơ Thuần Đức).

2.- Giao hoan còn dùng để chỉ trai gái, hay vợ chồng ăn nằm với nhau.

Khi giao hoan có độ có lường,

Vợ bịnh yếu chớ thường lân cận.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

GIAO HÔN

交 婚

Giao: Hai bên qua lại với nhau. Hôn: Lấy vợ.

Giao hôn là hai nhà kết hôn với nhau, tức bên nầy cưới vợ cho con trai, bên kia gả chồng cho con gái.

Chẳng phải nhủ gái trai theo Khổng,

Cuộc giao hôn trân trọng sửa đôi điều.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

GIAO KÈO

Giao: Hai bên qua lại với nhau. Kèo: Nài xin.

Giao kèo là hai bên cùng làm giấy giao ước với nhau, gọi là tờ hợp đồng để cam kết thực hiện đúng điều giao ước, gọi là giấy giao kèo.

Như: Hai bên ký giấy giao kèo với nhau.

Mới giao kèo đổi chữ với xu,

Thuộc thì thưởng hễ ngu trừ cấn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

GIAO KẾT

交 結

Giao: Hai bên qua lại với nhau. Kết: Ràng buộc.

Giao kết là thắt chặt tình thân thiện với nhau. Giao kết còn có nghĩa bắt buộc giữ lời hứa lẫn nhau.

Thánh giáo Đức Quan Thánh Đế Quân có câu: Muốn học mùi Ðạo mà lại kèo nài giao kết thì dầu cho bậc phẩm nào đi nữa, cái ân đức từ bi cũng khó chiều theo được.

Phước Trời gieo sẵn còn giao kết,

Lợi thế chưa nên xúm giựt giành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trên Từ Phụ chứng minh soi xét,

Con ký tên giao kết tại Toà.

(Thơ NĐS Hương Thanh).

 

 

GIAO LONG

蛟 龍

Giao: Một loài rồng nhưng nhỏ. Long: Rồng. Giao long là loài rồng và loài giao. Hai loài vật này rất hung dữ.

Giao long là loài vật dưới nước, nên khi gặp được nước thì vẫy vùng. Vì vậy, chữ “Giao long đắc thuỷ” dùng để ví với người anh hùng gặp thời.

Túng tíu lại cầu người chẳng tiếp,

Giao long chín miệng cắn nhai thây.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

GIAO LƯU

交 流

Giao: Hai bên qua lại nhau. Lưu: Dòng nước, chảy.

Giao lưu là có sự tiếp xúc và trao đổi qua lại giữa hai dòng, hai luồng khác nhau.

Như: Hàng hoá giao lưu giữa các nước.

Mở cửa giao lưu tìm ngẫu hứng,

Vạch đường tất yếu đến thành công.

(Thơ Hàn Sinh).

Giao lưu thế giới vô hình,

Thi văn trao đổi cao minh khôn lường.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

GIAO NẠP

交 納

Giao: Đưa cho để nhận lấy và chịu trách nhiệm. Nạp: Đưa cho người có trách nhiệm thu giữ.

Giao nạp là nộp cho, tức đưa cho người có trách nhiệm thu giữ hoặc quản lý.

Như: Giao nạp thuế má, giao nạp phạm nhân.

Những người đã có công nhưng đắc tội cùng Hội Thánh, thì phải giao nạp cho Hiệp Thiên Ðài.

(Bát Đạo Nghị Định).

 

 

GIAO PHÓ

交 付

Giao: Qua lại với nhau. Phó: Giao cho.

Giao phó là đem một trách nhiệm hay một công việc giao cho người nào đó.

Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp có câu: Ngày nay là ngày vui mừng của Bần Đạo hơn hết, là Bần Đạo còn sức khoẻ đầy đủ cầm Bí Pháp của Đức Chí Tôn đã giao phó, ấy là phận sự đặc biệt của Bần Đạo đó vậy.

Con đến đây với tấm lòng thành thật để làm việc phải cho giống dân biết phục thiện hiện đang giao phó cho con.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

GIAO TẤT

膠 漆

Giao: Chất keo. Tất: Sơn.

Giao tất là keo sơn, hai chất khi hoà với nhau thì dính rất khắng, không bao giờ tách lìa nhau được.

Nghĩa bóng: Chỉ sự giao tình bền chặt, không lìa nhau được.

Thơ xưa có câu: Dĩ giao đầu tất trung, thuỳ năng biệt ly thử 以 膠 投 漆 中, 誰 能 別 離 此, nghĩa là lấy keo bỏ vào trong sơn, ai làm cho chia rẻ được.

Lại có điển Lôi Nghĩa và Trần Trọng là hai người bạn thiết, cùng nhau đi thi. Lôi đậu mà Trần rớt. Lôi nhường lại cho Trần đậu thì quan không cho. Lôi mới giả điên không nhận chức, chừng sau hai người cùng thi đậu, Lôi mới bằng lòng nhận. Nên có câu: Giao tất vi kiên, bất như Lôi dữ Trần 膠 漆 為 堅, 不 如 雷 與 陳, Keo sơn bảo là bền, chẳng bền bằng Lôi Trần.

Nặng tình giao tất trao lời ngọc,

Cảm nghĩa chi lan chuốc chén quỳnh.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

GIAO TIẾP

交 接

Giao: Qua lại với nhau. Tiếp: Nhận lấy, đón, như tiếp khách, tiếp xúc.

Giao tiếp là tiếp xúc với nhau.

Thánh giáo Đức Lý Thái Bạch dạy Quyền Giáo Tông có câu: Lão để lời cho hiền hữu biết rằng, trong môn đệ của Ðức Từ Bi phần nhiều đã chẳng giữ lời Thầy mà xử cho tròn phần Nhơn đạo, giao tiếp cùng nhau cho có nét yêu dấu, tạc thù trong niềm đạo hữu, lại có dạ ghét lẫn tương phân.

Chưa đặng bao lâu mà lời dạy bảo chẳng còn chút nét kính tuân, thế thì sau nầy có ngày phải khuất hết dấu Thánh truyền, thì cách giao tiếp của chư đạo hữu phải ra sao nữa?

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

GIAO TÌNH

交 情

Giao: Qua lại với nhau. Tình: Sự yêu mến, gắn bó.

1.- Giao tình là tình cảm bạn bè giao tiếp nhau, hay giữa hai người có sự yêu mến, gắn bó qua lại với nhau.

Thêm duyên chước quý giao tình,

Mỹ ngôn nương ý gia đình an vui.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Giao tình còn dùng để chỉ sự chăn gối, ái ân của đôi vợ chồng.

Đây còn nỗi bế bồng thêm trẻ,

Hễ giao tình chẳng lẽ không con.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Hằng bữa trau tánh đức minh minh,

Lúc chồng vợ giao tình tua để dạ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

GIAO THÂN

交 親

Giao: Qua lại với nhau. Thân: Thân thiết.

Giao thân là giao tiếp nhau một cách thân thiết.

Trong Pháp Chánh Truyền Chú Giải có câu: Nếu Giáo tông muốn gần với nhơn sanh thì phải cần mẫn giao thân cùng giáo hữu.

Giao thân cứ gần kề kẻ thiết,

Ép nhớ thương làm điếc làm đui.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GIAO THIỆP

交 涉

Giao: Qua lại với nhau, kiết hợp nhau. Thiệp: Trải qua, có liên quan nhau.

Giao thiệp là thương lượng để giải quyết những vấn đề quan hệ với nhau.

Giao thiệp còn là trao đổi tình thân thiện với nhau.

Diễn văn Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung có câu: Người phải thương nhau như con một cha. Cả hoàn cầu là đại chánh chung cả nhơn loại, không hại lẫn nhau, lấy lễ phép mà giao thiệp cùng nhau, lấy công bình mà đối đãi cùng nhau.

Người lý tưởng của Ngài là người sống trong cảnh tịch mịch, cách biệt vời người đời, đóng cửa, rấp ngõ không giao thiệp với ai...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

GIAO THÔNG

交 通

Giao: Qua lại với nhau. Thông: Suốt, nối liền với nhau một mạch từ nơi nầy đến nơi kia.

Giao thông là việc đi lại từ nơi nầy đến nơi khác của người và phương tiện chuyên chở.

Giao thông còn dùng để chỉ sự liên lạc với nhau.

Thánh giáo Thầy giải về Bất vọng ngữ có câu: Thầy tưởng chẳng cần nói, các con cũng hiểu rõ rằng, đấng chơn linh ấy vốn vô tư, mà lại đặng phép giao thông cùng cả chư Thần, Thánh, Tiên, Phật và các Ðấng Trọn lành nơi Ngọc Hư Cung, nhứt nhứt điều lành và việc dữ đều ghi chép không sai, đặng dâng vào Toà Phán Xét.

Phước Thiện nay chuyển đại đồng,

Phá tan giặc giã giao thông hoàn cầu.

(Thất Nương Giáng Bút).

Học cho rộng giao thông tứ xứ,

Học cho cùng xủ sự ngoại lân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

GIAO THỪA

交 承

Giao: Trao cho. Thừa: Nhận lấy.

Giao thừa ý nói năm cũ giao lại năm mới tiếp nhận lấy. Đêm giao thừa là đêm năm mới năm cũ gặp nhau.

Đức Hộ Pháp có thuyết: Đêm nay, đêm giao thừa năm Ất Mùi. Cũng như các năm trước, Bần Đạo đã nhớ dường như Đức Chí Tôn khi mở Đạo ngày 15 tháng 10 năm Bính Dần tại Chùa Từ Lâm Tự (Gò Kén).

Hồi chuông trừ tịch khai đời mới,

Tiếng trống giao thừa phá giấc mê.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

GIAO ƯỚC

交 約

Giao: Qua lại lẫn nhau. Ước: Hẹn hò.

Giao ước tức là cam kết với nhau, ý nói những lời ước hẹn giữa hai bên khi mới gặp nhau.

Thuyết Đạo về Đức Quan Thánh Đế Quân, Thượng Sanh có câu: Ðức ngài thế cùng lực tận, muốn bảo hộ nhị tẩu được vẹn toàn nên vạn bất đắc dĩ Ðức Ngài phải chịu đầu Tào nhưng với ba điều giao ước. Một là Ðức Ngài chỉ quy hàng Hớn Ðế chớ không quy hàng Tào Công, hai là chỗ của nhị tẩu ở cấm bất kỳ quan chức nào cũng không cho đến cửa, ba là khi nghe tin Lưu Huyền Ðức ở nơi nào thì dù xa ngàn dặm, Ðức Ngài cũng từ giả ra đi.

Chuông ngân luống nhắc lời giao ước,

Trống giục càng mong buổi hiệp vầy.

(Thơ Huệ Giác).

Phấn son để thẹn lời giao ước,

Tơ tóc thêm buồn nỗi vấn vương.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

GIÁO

1.- Giáo là một thứ binh khí thời xưa, có cán dài, mũi sắt nhọn, dùng để đâm.

Như: Cây gươm ngọn giáo, gươm vắn giáo dài, nối giáo cho giặc.

Giáo gươm bén nhọn tư bề,

Chém đâm máu chảy tràn trề ngục môn.

(Kinh Sám Hối).

Ruộng dâu, giáo đóng dầy hơn rạo,

Biển hoạn, nước xao dẫy quá bờ.

(Thiên Thai Kiến Diện).

2.- Giáo là dạy. Như: Giáo huấn, giáo khoa, thọ giáo, học trò phải kính trọng thầy giáo.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có dạy: Như trong trường thầy giáo dạy học trò, bỏ lơ thì làm biếng, nghiêm phạt thì nó oán ghét ấy là lẽ thường.

Lựa những mặt tài tình thọ giáo,

Học cho thông mối đạo quân thần.

(Nữ Trung Tùng Phận).

3.- Giáo là tôn giáo. Như: Phật giáo, Tam giáo, Cao Đài giáo, Da Tô Giáo Chủ.

Đức Thích Ca Như Như Lai trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Chánh pháp bị nơi Thần Tú làm cho ra mất chánh giáo, lập riêng pháp luật buộc mối đạo Thiền.

Hình nầy phạt kẻ dại ngây,

Khinh khi Tam giáo đoạ đày thế ni.

(Kinh Sám Hối).

 

 

GIÁO CHỦ

教 主

Giáo: Tôn giáo. Chủ: Chỉ người cầm đầu.

Giáo chủ là người sáng lập và đứng đầu một tôn giáo.

Như: Thích Ca Mâu Ni là Giáo chủ Phật giáo, Khổng Thánh Tiên Sư là Giáo chủ Nho giáo.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp đã nói: Chí Tôn sai các vị Giáo Chủ đại diện Ngài đến lập Ðạo do danh thể của Ngài, vâng mạng lịnh nơi Ngài, đến thay thế giáo hoá con cái của Ngài. Chưa vị nào an ủi được sự đau thảm cho trọn vẹn cái khổ của đời.

Hỗn Nguơn Thiên dưới quyền Giáo Chủ,

Di Lạc đương thâu thủ phổ duyên.

(Kinh Tận Độ).

Rỡ mặt lập đời ngôi Giáo Chủ,

Đẹp hình cứu thế Đức Giê Du.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

GIÁO DÂN

教 民

Giáo: Dạy dỗ. Dân: Quần chúng, chỉ người sống trong một khu vực.

Giáo dân dạy dỗ nhân dân.

Giáo dân còn dùng để chỉ những người dân thường theo đạo Thiên Chúa, không phải là giáo sĩ hay tu sĩ, tức những con chiên của đạo.

Đức Quyền Giáo Tông cầu xin Đức Lý tái nhậm quyền, Ngài có dạy: À há! Thì cũng bởi Chí Tôn nài xin nhiều phen rằng chư hiền hữu chư hiền muội chưa đủ tư cách giáo dân. Lão cũng rộng nghe theo. Đã trót năm để đủ cơ đời dạy ngoan chư hiền hữu, chư hiền muội.

Một chức giáo dân tua lãnh lịnh,

Làm cho đời tệ hoá ra hay.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Giáo dân tuy chẳng mặc đai cân,

Chớ phẩm linh quang lớn cũng gần.

(Đạo Sử).

Dìu Đạo xứng bì trang hạnh đức,

Giáo dân thừa sẵn tánh hiền lương.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

GIÁO DÂN QUY THIỆN

教 民 歸 善

Giáo dân: Dạy dỗ, khuyên dạy nhân dân. Quy thiện: Trở về điều lành, quay lại điều thiện.

Giáo dân quy thiện là dạy nhân dân để trở về với đường lương thiện.

Như: Bất cứ tôn giáo nào cũng đều có mục đích là giáo dân quy thiện.

Quyền do đức giáo dân quy thiện,

Mặt huyền linh biến chuyển đạo mầu.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

Giáo dân quy thiện làm gương mẫu,

Phẩm giá sau này tạc sử xanh.

(Thơ Phạm Mộc Bổn).

Giáo dân quy thiện đền ơn nước,

Độ chúng tùng lương dựng đạo nhà.

(Thơ Thông Quang).

 

 

GIÁO DĨ LỢI SANH

教 以 利 生

Giáo: Dạy, dạy dỗ. Dĩ lợi sanh: Để làm lợi ích cho sanh chúng.

Giáo dĩ lợi sanh là dạy dỗ để mà làm lợi ích cho chúng sanh.

Giáo dĩ lợi sanh ý nói Đức Chí Tôn vì lòng từ bi đem những giáo điều diệu mầu để làm lợi ích cho chúng sanh.

Thực vậy, chúng sanh vì vô minh, sống nơi cõi trần lao giả tạm nầy, lại còn gây nhiều nhân ác nghiệt, nên bị nhiều nghiệp chướng chất chồng mà phải chịu biết bao luân hồi sinh tử, không thể nào giải thoát được.

Những lời dạy của Tam Giáo Tổ Sư, từ xưa đến nay không đủ đưa hết con người trở về Thánh Thiện. Đến thời Hạ Nguơn mạt Pháp nầy, con người càng xu hướng theo văn minh vật chất, càng chìm sâu vào tội lỗi. Vì vậy, Đức Chí Tôn mới giáng cơ mở Đạo tại nước Việt Nam ta hầu mong dạy dỗ và dìu dắt chúng sanh mau thoát vòng khổ não.

Linh oai mạc trắc,

Thường thi Thần giáo dĩ lợi sanh.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

GIÁO DIỆC BẤT THIỆN

教 亦 不 善

Giáo: Dạy dỗ. Diệc: Cũng. Bất: chẳng. Thiện: Lành.

Giáo diệc bất thiện là dù có dạy cũng chẳng lành, ý chỉ người thuộc hàng hạ phẩm.

Trong Minh Tâm Bửu Giám có câu: Thượng phẩm chi nhân bất giáo nhi thiện, trung phẩm chi nhân, giáo nhi hậu thiện, hạ phẩm chi nhân, giáo diệc bất thiện. Bất giáo nhi thiện, phi Thánh nhi hà? Giáo nhi hậu thiện, phi Hiền nhi hà? Giáo diệc bất thiện, phi ngu nhi hà? 上 品 之 人, 不 敎 而 善, 中 品 之 人, 教 而 後 善, 下 品 之 人, 教 亦 不 善. 不 教 而 善, 非 聖 而 何? 教 而 後 善, 非 賢 而 何? 教 亦 不 善, 非 愚 而 何?, nghĩa là bậc thượng phẩm, chẳng cần ai dạy cũng lành, bậc trung phẩm nhờ có người dạy mới lành, bậc hạ phẩm, dù có người dạy cũng chẳng lành. Không dạy mà lành, chẳng phải bậc Thánh là gì? Dạy rồi mới lành, chẳng phải bậc hiền là gì? Dạy cũng chẳng lành, chẳng phải người ngu là gì?

Thánh nhơn đã có nói: “Thánh” bất giáo nhi thiện, “Hiền” giáo nhi hậu thiện, “Ngu” giáo diệc bất thiện...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

GIÁO DỤC

教 育

Giáo: Dạy. Dục: Nuôi nấng, dạy bảo.

Giáo dục là dạy dỗ để phát triển khả năng thể chất, trí thức và đạo lý.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Ðời Tiền Lê có ông Thừa Tướng đầu triều không có con. Hai ông bà thường đến chùa này miễu kia cầu tự. “Nhơn hữu thiện niệm, thiên tất tùng chi”, nên bà vợ hạ sanh được một đứa con trai. Quan Thừa Tướng đã niên cao kỷ trưởng mà có một đứa con trai thì nỗi mừng vui đó không thể luận được. Người Nam mình hay ví trứng mỏng cũng không ví bằng cậu công tử đó nữa. Từ khi nhỏ đến lớn, trong gia đình đối với cậu thì ai cũng là tôi đòi nô lệ hết. Hai ông bà cưng đáo để, lớn lên rồi hễ thấy cưng lại thêm nhỏng nhẻo, rồi du côn, rồi hoang đàng chi địa vô giáo dục.

Hễ biết mình trọng trách thần dân,

Thì phải biết ân cần bề giáo dục.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

GIÁO ĐA THÀNH OÁN

教 多 成 怨

Giáo: Dạy, dạy dỗ. Đa: Nhiều. Thành: Trở nên. Oán: Thù hận, oán ghét.

Giáo đa thành oán ý nói dạy nhiều, nhắc nhở nhiều chẳng đặng ơn nghĩa, mà khiến người thêm oán ghét.

Nhưng chẳng phải vì đó mà chúng tôi sờn lòng nản chí, dựa theo câu “Giáo đa thành oán” mà không làm tròn sứ mạng thiêng liêng.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

GIÁO ĐẠO NAM PHƯƠNG

教 道 南 方

Giáo: Dạy. Đạo: Tôn giáo. Nam phương: Phương nam, chỉ nước Việt Nam.

Giáo đạo Nam phương ý nói Đức Chí Tôn mở và dạy đạo cho chúng sanh ở Nam phương (tức Việt Nam).

Khi giáng cơ dạy đạo, Đức Chí Tôn luôn mở đầu bằng câu: Ngọc Hoàng Thượng Đế viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát, Giáo đạo Nam phương.

Ngọc Hoàng Thượng Đế viết Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát giáo đạo Nam phương.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

GIÁO ĐẠO THA PHƯƠNG

教 道 他 方

Giáo Đạo: Lấy giáo lý tôn giáo ra để giảng dạy. Tha phương: Địa phương khác, ý chỉ nước khác, ngoại quốc.

Giáo Đạo tha phương là đi truyền bá giáo lý cho dân chúng ở các nước ngoài (ngoại quốc).

Bần đạo khi đắc lịnh làm Chưởng Ðạo lập Hội Thánh giáo đạo tha phương thì tùng lòng bác ái của Chí Tôn, mở rộng thế cho nhơn sanh dâng công đổi vị.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

GIÁO ĐƯỜNG

教 堂

Giáo: Tôn giáo. Đường: Nhà.

Giáo đường nói chung là nhà thờ của các tôn giáo.

Ngoài ra Giáo đường có là từ riêng dùng để chỉ nhà thờ bên Công Giáo.

Trong đạo Cao Đài, nhà thờ Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế tại trung ương Toà Thánh, được gọi là Toà Thánh hay Đền Thánh, còn tại các địa phương, được gọi là Thánh Thất.

Náo nức vừa nghe chốn Giáo đường,

Khép khuôn chức sắc nét thuần cương.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

GIÁO GƯƠM

Giáo: Khí giới thời xưa, cán dài mũi nhọn, dùng để đâm. Gươm: Một loại binh khí có cán ngắn, lưỡi dài và sắc bén, đầu nhọn dùng để đâm chém.

Giáo gươm là giáo và gươm, chỉ những hình cụ dùng để đâm chém người có tội.

Giáo gươm bén nhọn tư bề,

Chém đâm máu chảy tràn trề ngục môn.

(Kinh Sám Hối).

 

 

GIÁO HOÁ

教 化

Giáo: Dạy dỗ. Hoá: Thay đổi.

Giáo hoá là dạy dỗ để làm thay đổi con người từ dỡ hoá hay, từ xấu trở nên tốt.

Thánh giáo Thầy có câu: Vậy rán dồi Thánh đức, lấy đạo hạnh mà giáo hoá đám dân sanh, phần nhiều đã mơ màng trong giấc mộng. Thầy trông mong nơi con, khá cải sửa chút ít phàm tâm, thì đức tánh mới đặng trọn vẹn.

Dạy trẻ con toan trước dạy mình,

Cái công giáo hoá cũng đồng sinh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thanh nhàn muốn vẹn buổi chung quy,

Giáo hoá nhân sanh đức phải vì.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

GIÁO HUẤN

教 訓

Giáo: Dạy dỗ. Huấn: Răn dạy.

Giáo huấn là dạy bảo.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ngài (Chỉ Đức Lý Giáo Tông) biểu Bần Đạo phải nghe lời Ngài thì mới cứu vãn tình thế, bằng không thì tiêu diệt nền chánh trị Đạo buổi đó, có mạnh mẽ duy nhứt nào cả, bên nầy là lời giáo huấn của Đức Chí Tôn, bên kia là lời dạy của Anh Cả, hai bên không biết đường nào mà đi, làm cho Bần Đạo ngơ ngẩn trong 6 tháng trường, cứ thơ thẩn đi tới đi lui nơi rừng thiên nhiên mà suy nghĩ, làm cho Bần Đạo bối rối cả đầu óc.

Những chuyện thăng trầm dài một kiếp,

Mấy lời giáo huấn nặng hai vai.

(Thơ Hàn Sinh).

Nhớ lời giáo huấn lòng ghi mãi,

Ôn lại hình dung lúc đứng ngồi.

(Thơ Vạn Năng).

 

 

GIÁO HỮU

教 友

Giáo Hữu là một phẩm Chức sắc Cửu Trùng Đài, dưới phẩm Giáo Sư và đứng trên phẩm Lễ Sanh.

Giáo Hữu Nam phái có 3000 người, mỗi phái gồm 1000 người. Riêng Giáo Hữu Nữ phái thì vô hạn định. Giáo Hữu đối phẩm với hàng Địa Thánh.

Quyền hành và Đạo phục của Giáo Hữu được quy định trong Pháp Chánh Truyền.

Phong làm Giáo Hữu lo truyền Đạo,

Dạy dỗ nhơn sanh một dạ lành.

(Đạo Sử).

 

 

GIÁO LÝ

教 理

Giáo lý của một tôn giáo được hiểu như là một phương tiện hướng dẫn thực tập của chư tín đồ, tựa như chiếc bè đưa người tu tập qua sông, mà không phải như một chủ thuyết hay một giáo điều triết học.

Sở dĩ con người cứ mãi đau khổ trong cuộc đời này là vì trí huệ thường hằng, thanh tĩnh của mình bị vô minh che lấp, nên giáo pháp của Đức Chí Tôn nhằm mục đích đem đến ánh sáng trí huệ để biết chọn con đường giải thoát.

Giáo lý là một Đạo học, nghĩa là không thể dùng trí mà phải dùng cả tâm để hiểu và sống với nó. Thánh giáo Đức Chí Tôn không phải chỉ là một đạo để học, mà phải là cái đạo để hành, để tập với cái điều mình đã hiểu, đã ngộ được.

Chúng ta là người tu học cần phải học hỏi và thực tập một cách khôn khéo, đừng cố chấp để không bị lầm lạc. Trong Kinh Viên giác dạy: Tất cả những giáo lý giảng giải trong Kinh sách đều là ngón tay chỉ mặt trăng. Chân lý coi như mặt trăng, giáo lý ví như ngón tay chỉ về mặt trăng, như thế ngón tay cũng như giáo lý chỉ là những phương tiện mà thôi, chính mặt trăng mới là cứu cánh mà ta cần đạt tới. Đừng lầm ngón tay với mặt trăng, tức là giáo lý với chân lý.

Giáo lý dồi dào nung khách trí,

Nho phong nhuần gội vững can trường.

(Quyền Giáo Tông Giáng).

Giáo lý mong đem chỗ thực hành,

Góp phần phổ biến giữa nhơn sanh.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

GIÁO NHI

教 兒

Giáo: Dạy, truyền dạy. Nhi: Trẻ nhỏ, chỉ về Đồng nhi, là những em nhỏ được Hội Thánh huấn luyện để tụng đọc kinh đúng nhịp và đúng giọng.

Theo sắc lịnh thành lập Lễ Sĩ và Giáo nhi của Đức Hộ Pháp ký ngày 9 tháng 11 năm Bính Tý, 1936, Hội Thánh sẽ mở khoa mục tuyển chọn Giáo nhi, là những em Đồng nhi nữ trên 20 tuổi, có giấy chứng nhận Toà Thánh và phải biết đọc viết. Có hai hạng Giáo nhi:

Hạng trọn hiến thân cho Hội Thánh, tuyên thệ thủ trinh hành đạo thì được bổ nhiệm hành đạo trong các Thánh Thất, bất cứ nơi nào, được năm năm công nghiệp sẽ thăng Lễ sanh, khỏi phải cầu phong lại.

Hạng Giáo nhi có gia đình không đặng vào Hành đạo trong Thánh Thất nào hết, chỉ hành đạo nơi xóm làng của mình thôi.

Giáo nhi mặt đại phục như Lễ sanh nữ phái nhưng không đặng giắt bông sen trên đầu tóc, còn tiểu phục cũng vậy, nhưng trước ngực có choàng một tấm choàng đen.

Xem: Đồng Nhi.

Giáo Nhi dụng ngón đàn trôi chảy,

Thuộc nằm lòng, gắng dạy Tân Kinh.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

Giáo Nhi mừng đã đúng năm năm,

Thánh lịnh Lễ Sanh chắc mẻm cầm.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

GIÁO NHI HẬU THIỆN

教 而 後 善

Giáo: Dạy. Nhi: Mà. Hậu: Sau. Thiện: Lành.

Giáo nhi hậu thiện là nhờ nghe lời dạy bảo mà sau đó trở nên người lành.

Những người “Giáo nhi hậu thiện” là hạng trung bình trong xã hội, biết nghe lời giáo hoá của bề trên để sửa đổi nên người lành.

Trong Minh Tâm Bửu Giám có câu: Thượng phẩm chi nhân bất giáo nhi thiện, trung phẩm chi nhân, giáo nhi hậu thiện, hạ phẩm chi nhân, giáo diệc bất thiện. Bất giáo nhi thiện, phi Thánh nhi hà? Giáo nhi hậu thiện, phi Hiền nhi hà? Giáo diệc bất thiện, phi ngu nhi hà? 上 品 之 人, 不 敎 而 善, 中 品 之 人, 教 而 後 善, 下 品 之 人, 教 亦 不 善. 不 教 而 善, 非 聖 而 何? 教 而 後 善, 非 賢 而 何? 教 亦 不 善, 非 愚 而 何?, nghĩa là bậc thượng phẩm, chẳng cần ai dạy cũng lành, bậc trung phẩm nhờ có người dạy mới lành, bậc hạ phẩm, dù có người dạy cũng chẳng lành. Không dạy mà lành, chẳng phải bậc Thánh là gì? Dạy rồi mới lành, chẳng phải bậc hiền là gì? Dạy cũng chẳng lành, chẳng phải người ngu là gì?

Thánh nhơn đã có nói: “Thánh” bất giáo nhi thiện, “Hiền” giáo nhi hậu thiện, “Ngu” giáo diệc bất thiện...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

GIÁO PHÁP

教 法

Giáo: Dạy dỗ. Pháp: Phép tắc, phương pháp, giáo lý, luật pháp.

Giáo pháp là phương pháp dạy học, tức lề lối áp dụng trong việc dạy học.

Ngoài ra, giáo pháp tức là giáo lý của Đức Phật, hay một tôn giáo. Người đã giác ngộ quy luật nói trên. Đó là giáo pháp diễn bày sự thật tuyệt đối bao quát tất cả.

Giáo pháp Chí Tôn quy vạn chủng,

Cộng đồng nhơn loại một ông Cha.

(Thơ Huệ Phong).

Giáo pháp Chí Tôn năng phổ cập,

Là làn sanh khí cứu muôn loài.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

GIÁO SƯ

教 師

Giáo Sư là một phẩm Chức sắc Cửu Trùng Đài, dưới phẩm Phối Sư và đứng trên phẩm Giáo Hữu.

Giáo Sư Nam phái có 72 người, mỗi phái gồm 24 người. Riêng Giáo Sư Nữ phái thì vô hạn định. Giáo Sư đối phẩm với hàng Nhơn Thánh.

Quyền hành và Đạo phục của Giáo Sư được quy định trong Pháp Chánh Truyền.

Năm vần mừng tặng Ngọc Nhơn Thanh,

Phẩm vị Giáo Sư sớm đạt thành.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

GIÁO TÔNG

教 宗

Giáo: Dạy, tôn giáo. Tông: Thường đọc là “Tôn”, chỉ về tôn giáo.

Giáo Tông là phẩm chức sắc cao cấp nhứt, làm chưởng quản bên Cửu Trùng Đài, và là anh cả của toàn chư chức sắc, và tín đồ của đạo Cao Đài.

Hồi mới khai nền đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn dự định phong phẩm Giáo Tông cho Ngài Ngô Văn Chiêu, nên trong Đàn cơ ngày 17 tháng 4 năm 1926, Đức Chí Tôn giáng cơ dạy ba ông Lê Văn Trung, Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc đến nhà Ngô Văn Chiêu bảo ông phải may một bộ Thiên phục Giáo Tông và dạy Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu lãnh nhiệm vụ may bộ Đại phục đó cho hoàn thành.

Nhưng năm ngày sau, tức là ngày 22 tháng 4 năm 1926, Đức Chí Tôn giáng cơ bảo Bà Hương Hiếu: Hiếu! Dâng mão Giáo Tông cho Thầy xem. Trúng, mà ai đội con phòng lật đật.

Thánh giáo trên của Đức Chí Tôn tiên đoán rằng ông Chiêu sẽ không nhận chức Giáo Tông. Quả thật ông Ngô Văn Chiêu không lãnh vì theo một hướng tu khác, nên đến gần ngày Khai Đạo, Đức Chí Tôn mới giao chức Giáo Tông cho Đức Lý Đại Tiên Trưởng, Nhứt Trấn Oai Nghiêm kiêm nhiệm, theo tịch đạo là Thanh, Hương.

Như vậy, vị Giáo Tông đầu tiên của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Toà Thánh Tây Ninh là Đức Lý Thái Bạch, chính Ngài đã cho biết trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển như sau: “Lão hạ mình bỏ quyền Nhứt Trấn lãnh việc Giáo Tông mà lập vị cho đoàn em bước tới”.

Trong thời gian đầu Đức Lý Đại Tiên nắm quyền Giáo Tông, cơ Đạo bị phân chia, một số Chức sắc tách khỏi Toà Thánh Tây Ninh như: Giáo Hữu Ngọc Chính Thanh lập phái Tiên Thiên ở Cai Lậy, Phối Sư Thái Ca Thanh lập phái Minh Chơn Lý ở Cầu Vỹ (Mỹ Tho), và Ngài Chưởng Pháp Trần Ðạo Quang, Giáo Sư Thượng Kỳ Thanh lập phái Cầu Kho ở Thánh Thất Cầu Kho Sài gòn.

Ðức Lý Giáo Tông muốn dùng quyền của mình để trục xuất những vị Chức sắc phân chi lập phái, nhưng Ðức Chí Tôn cản không cho, ý muốn để Ngài cố gắng kêu gọi quý Chức sắc ấy trở về Toà Thánh. Vì vậy, Đức Lý không điều hành được nền Ðạo nên xin từ chức Giáo Tông.

Sau đó, Ðức Chí Tôn đành triệu Ðức Lý trở lại cầm quyền Giáo Tông để xử trị các Chức sắc ấy. Đức Lý Giáo Tông đồng ý trở lại tái thủ quyền hành và Ðức Chí Tôn bèn giáng cơ dạy Hội Thánh phải làm lễ Ðăng điện cho Ðức Lý thật long trọng để chào mừng Ngài trở lại làm việc.

Trong Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông cho biết nguyên do Ngài trở lại cầm quyền ngôi Giáo Tông như sau: Ấy vậy, Lão đến mà gieo hột Thánh cốc nơi lòng kẻ tà tâm, mong cho đơm bông kết quả, đặng liệu thế hồi tâm, chớ chẳng phải đến rước người hiền ngõ.

Chư hiền hữu, chư hiền muội xem trong năm Khai Ðạo, biết bao khổ não truân chuyên. Lão, vì đã thấy rõ, nên không nỡ ngồi an xem cơ thắng bại. Lão nhứt định đứng chung vai đâu cật cùng chư hiền hữu, chư hiền muội, mà chia bớt khổ tâm.

Lão chẳng phải sợ, vì chưa có quyền hành hữu vi nào mà phạm đến Lão đặng, chỉ sợ giùm cho chư hiền hữu, chư hiền muội mang nặng thi phàm, mà chịu cường quyền đè nén. Chư hiền hữu, chư hiền muội có đạt được phép tiên tri như vậy đâu mà mong tránh khỏi.

Lão nghĩ như thế nên nhứt định tái thủ quyền hành, đem cặp nhãn thiêng liêng thay vì cặp nhãn của Thầy, đặng thấy giùm mọi điều cho chư hiền hữu, chư hiền muội, đặng quyết thắng chúng sanh trong kỳ Khai Ðạo nầy, thì Lão tưởng khi Lão chưa phải là người vô dụng vậy.

Trước đây, trong một Đàn cơ ngày 23 tháng 12 năm 1931 tại Thảo Xá Hiền Cung, Đức Chí Tôn có giải thích về quyền của Giáo Tông và Hộ Pháp như sau:

“Các con hãy nhớ rằng toàn Thế giới Càn khôn có hai quyền: quyền hành Chí Tôn của Thầy, dưới là quyền của chúng sanh. Thầy đã lập hình thể hữu vi của Thầy là Hội Thánh của Đại Đạo, rồi Thầy cũng phải ban quyền hành trọn vẹn của Thầy cho hình thể ấy, đặng đủ phương tiện tận độ chúng sanh, dưới quyền hành chuyển thế của đời; nghĩa là toàn thể nhân loại đồng quyền cùng Thầy, mà Tạo Hoá, Vạn linh vốn con cái của Thầy. Vậy Vạn linh cũng có thể đạt vị Thần, Thánh, Tiên, Phật đặng.

Thầy nói rõ: Quyền Chí Tôn là Thầy, quyền Vạn linh là chúng sanh. Ngày nào quyền lực Chí Tôn đặng hiệp cùng Vạn linh thì Đạo mới ra thiệt tướng. Thầy đã ban quyền hành Chí Tôn của thầy cho hai đứa làm đầu Hội Thánh là Giáo Tông và Hộ Pháp. Vậy quyền hành Chí Tôn của Thầy đặng trọn vẹn khi Giáo Tông cùng Hộ Pháp hiệp một. Quyền hành Chí Tôn của Thầy duy chỉ có quyền hành Vạn linh đối phó mà thôi”.

Như vậy, quyền của Giáo Tông và quyền của Đức Hộ Pháp thống nhứt lại thành quyền của Chí Tôn tại thế. Vì vậy, Luật pháp do hai vị cầm đầu nền Đại Đạo là Giáo Tông và Hộ pháp ban hành ra là quyền Chí Tôn, tức Thiên điều tại thế thì tất cả toàn Đạo nhất nhất phải tuân hành.

Chính vì vậy, vào ngày 3 tháng 10 năm Canh Ngọ (Dl. 22/11/1930), Đức Lý Giáo Tông hợp cùng Đức Phạm Hộ Pháp ký tên ban hành ra tám Đạo Nghị Định (Bát Đạo Nghị Định) để chỉnh đốn, ngăn ngừa, và trừ khử những kẻ giục loạn, chia phe lập phái trong nền Đạo.

Từ đó, Đức Lý Đại Tiên là Đấng vô hình cầm quyền Giáo Tông để điều khiển Cửu Trùng Đài là cơ quan hữu hình, nên Ngài phải thông qua cơ bút nơi Hiệp Thiên Đài. Trong tình hình nghiêm trọng của nền Đạo, nhứt là với chánh quyền Pháp thời đó, sự đối phó không được mau lẹ, cho nên ngày 3 tháng 10 năm Canh Ngọ (Dl. 22/11/1930), Đức Lý Giáo Tông mới ban quyền cho Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt cầm quyền Giáo Tông hữu hình tại thế. Như: vậy quyền của Gíáo Tông lúc nầy được chia làm hai quyền:

Quyền vô vi do Đức Lý Giáo Tông nắm giữ.

Quyền hữu hình tại thế do Ngài Lê Văn Trung nắm giữ. Do vậy, trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Toà Thánh Tây Ninh, Ngài Lê Văn Trung được toàn Đạo gọi là “Đức Quyền Giáo Tông”.

Mãn rồi lại hiệp cùng Thầy,

Giáo Tông sắc mạng tại nầy năm châu.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Đầu Sư ba chiếc hàng ngoài,

Kế ba Chưởng Pháp đến Ngài Giáo Tông.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

GIÁO TÔNG ĐẠI ĐẠO

教 宗 大 道

Giáo Tông: Vị Chức sắc cao cấp nhứt của Cửu Trùng Đài. Đại Đạo: Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, tức đạo Cao Đài.

Giáo Tông Đại Đạo là Giáo Tông của đạo Cao Đài, một phẩm Chức sắc cao nhứt và làm chưởng quản Cửu Trùng Đài, cũng là vị anh cả của toàn thể chư chức sắc và tín đồ.

Giáo Tông Đại Đạo trong Tịch đạo Thanh, Hương do Nhứt Trấn Oai Nghiêm Lý Đại Tiên Trưởng kiêm nhiệm.

Như vậy, Giáo Tông Đại Đạo là chỉ Đức Lý Đại Tiên, kiêm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Nhứt Trấn Oai Nghiêm Lý Đại Tiên,

Giáo Tông Đại Đạo ngự Thiêng Liêng.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

GIÁO TÔNG ĐƯỜNG

教 宗 堂

Giáo Tông: Vị Chức sắc cao nhứt của Đạo Cao Đài, chưởng quản Cửu Trùng Đài, là anh cả của chư Chức sắc và nhơn sanh. Đường: Cái nhà.

Giáo Tông Đường là toà nhà dành nơi làm việc của Đức Giáo Tông. Từ trước đến nay, Giáo Tông Đại Đạo do Đức Lý Đại Tiên kiêm nhiệm, mãi đến ngày 3 tháng 10 năm Canh ngọ 1930, Đức Lý mới ban quyền cho Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt, cầm quyền Giáo Tông hữu hình tại thế.

Do vậy, Giáo Tông Đường hiện nay dành để làm nơi tiếp khách.

Nhơn sanh đón tết Giáo Tông Đường,

Lễ bái tâm thành khối huệ hương.

(Thơ Huệ Phong).

Ngôi thờ phượng đời đời sáng tỏ,

Giáo Tông Đường hai ngõ vô ra.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

GIÁO TÔNG EM

Giáo Tông Em là tiếng dùng để chỉ phẩm Phó Trị Sự phụ trách một Hương đạo.

Theo Pháp Chánh Truyền, Phó Trị Sự là một phẩm do Đức Lý Giáo Tông lập thành, được đồng quyền với Chánh Trị Sự trong địa phận, nhưng chỉ có quyền về chính trị, chớ không có quyền vầ luật lệ, tức đặng phép sửa đương, giúp đỡ, dạy dỗ chư tín đồ trong địa phận trấn nhậm, mà không được phép xử đoán.

Quyền hành của Phó Trị Sự giống như quyền của Giáo Tông, nhưng quyền của Giáo Tông trong phạm vị toàn Đạo, còn quyền hành của Phó Trị Sự chỉ trong phạm vị một Hương đạo mà thôi.

Vì vậy, Pháp Chánh Truyền cho Phó Trị Sự là Giáo Tông Em.

Phó Trị Sự là Giáo Tông Em.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

GIÁO THIỆN

教 善

Giáo Thiện là một phẩm chức sắc trong Thập Nhị Đẳng Cấp Thiêng Liêng thuộc Cơ Quan Phước Thiện của Đạo Cao Đài.

Giáo Thiện đứng trên phẩm Hành Thiện, dưới phẩm Chí Thiện, đối phẩm với Lễ Sanh bên Cửu Trùng Đài.

Đại phục của Giáo Thiện là một chiếc áo tràng trắng, mang dây sắc lịnh màu đỏ, choàng qua tay mặt, trên dây sắc lịnh có gắn khuê bài đề chữ Giáo Thiện, đầu đội khăn đóng đen chữ nhơn bảy lớp.

Hành đạo xưa tròn gương Giáo Thiện,

Về Thầy nay tiễn gót nguyên nhân.

(Thơ Hoàn Nguyên).

Đàn văn Cai Lậy tài hoa rạng,

Chức sắc Cao Đài Giáo Thiện phong.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

GIÁO XIỂN HƯ LINH

教 闡 虛 靈

Giáo: Dạy, dạy đỗ. Xiển: Làm sáng tỏ, mở rộng ra. Hư linh: Trống không mà thiêng liêng huyền diệu.

Giáo xiển hư linh là dạy cho con người hiểu được lẽ hư vô mầu nhiệm của Đạo pháp.

Đạo tuy cao thâm vô cùng tận, nhưng nhờ Phật dạy cho con người sáng tỏ mà hiểu được lẽ hư vô mầu nhiệm của Đạo.

Đời là hữu hình hữu tướng, mà hữu hình thì bị hoại diệt, nên là giả tạm. Đạo thì huyền diệu, cao thâm bởi vì xuất từ vô vi, mà vô vi thì vĩnh cửu, thường hằng, nên là Chân thực.

Đức Phật dạy chúng sanh bỏ giả tầm chơn. Đức Chí Tôn mở Đạo kỳ ba cũng khuyên chúng sanh hướng theo đường vô vi, nhưng Đạo mà không có hữu hình, tức không có thể pháp thì cũng không đặng. Ví như Ngọc Hoàng Thượng Đế là Đấng vô hình vô ảnh, nếu chẳng mượn Thiên Nhãn để tượng Đức Chí Tôn thì Đạo làm sao có thể pháp. Nhưng nếu vì hình thể thái quá thì Đạo sẽ xa rời chánh pháp. Điều nầy, Đức Chí Tôn cũng dạy:

Bạch Ngọc từ xưa đã ngự rồi,

Chẳng kỳ hạ giới vọng cao ngôi.

Bần sang trối mặc, tâm là quý,

Tâm ấy toà sen của Lão ngồi.

Thầy Cũng đã dạy Ngài Thái Thơ Thanh như sau: “Thời kỳ mạt pháp nầy, khiến mới có Tam Kỳ Phổ Độ, các sự hữu hình phải phá tiêu diệt.

Thầy đến chuyển Đạo, lập lại vô vi, các con coi thử bên nào chánh lý: Hữu hình thì bị diệt đặng, chớ vô vi chẳng thể nào diệt đặng.

Th... Thầy đã khiến con đi “Đế Thiên Đế Thích” đặng xem cho tạn mặt hữu hình, nội thế gian nầy, ngày nay ai cũng nhìn nhận cho là tối đại, mà con đã thấy nó còn bền vững đặng chăng? Lòng Đạo đức con Thầy thấy rõ, nhưng thời giả dối đã qua, thời kỳ chân thật đã đến, Thầy không muốn cho con hao tài, tốn của, mà gìn giữ sự giả dối.

Chẳng cần con lo lập Thánh Thất của Thầy và sùng tu Phật tượng chi hết. Con hiểu bổn nguyên BẢO SANH là bổn nguyên Thánh Chất của Thầy.

Thầy khuyên con để dạ lo cho nhơn sanh mà thôi...”.

Rõ ràng Đức Chí Tôn dạy nhơn sanh phải xem nhẹ hữu hình mà hướng trọn tâm linh về với vô vi, tức là về với Đạo vậy.

Đạo cao vô cực,

Giáo xiển hư linh.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

GIÁP

1.- Giáp là sát gần, bên cạnh. Như: Hai nhà ở giáp tường nhau, hai người giáp mặt, đi giáp vòng.

Thánh giáo Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng có đoạn: Ðã lâu, Bần đạo không được giáp mặt chư đạo hữu để luận một vài câu chuyện về đạo đức. Hôm nay, Bần đạo cũng để dạ khen một ít hiền hữu đã để hết tâm chí trau giồi Thánh chất, mà cũng buồn nhiều đạo hữu còn chăm nom bước thế hơn đường tu.

Mở kho giúp đói đây trề miệng,

Ta quảy hồng ân rải giáp vòng.

(Thơ Hộ Pháp).

2.- Giáp là loại áo bằng da, bằng sắt để tướng sĩ ngày xưa mặc ra trận. Như: Áo giáp, thiết giáp, khôi giáp.

Thánh giáo Thầy có dạy: Ấy vậy, Ðạo là vật rất hữu ích, như giáp hữu ích cho thân các con. Nếu các con bỏ giáp thì thân các con ra trần lỗ, còn bỏ Ðạo thì các con ở dưới phép tà thần.

Khí võ hùng hào mang mão giáp,

Oai phong lẫm liệt xách qua mâu.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

GIÁP BÀO

甲 袍

Giáp: Áo mặc để ra đánh giặc. Bào: Áo dài.

Giáp bào là áo giáp, một loại áo mặc ra chiến trận để phòng tên đạn.

Như: Mặc giáp bào xông ra trận.

Máu trung thà đẫm giáp bào,

Hồn thiêng sông núi đang gào có nghe.

(Phù Kiều Hận Sử).

 

 

GIÁP CÔNG

夾 攻

Giáp: Kẹp vào giữa. Công: Đánh.

Giáp công tức là tấn công quân địch để kẹp vào ở giữa, không thể thoát ra được.

Giáp công còn có thể chỉ hai bên quân địch xáp gần nhau mà đánh.

Ngưng Dương cầm gậy giáp công,

Hào quang Chúa quỷ tủa trong đen thùi.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

GIÁP MÃ HƯU CHINH

甲 馬 休 征

Giáp mã: Áo giáp và ngựa, chỉ sự chiến tranh. Hưu chinh: Chấm dứt chiến chinh.

Giáp mã hưu chinh ý chỉ chấm dứt giặc giã.

Trong Đạo Cao Đài, bài Kệ Chuông U Minh, lời nguyện thứ 10 có câu: Can qua vĩnh tức, giáp mã hưu chinh 干 戈 永 息, 甲 馬 休 征, nghĩa là giặc giã mãi ngưng, chiến tranh chấm dứt.

Can qua vĩnh tức, giáp mã hưu chinh.

(Kệ U Minh).

 

 

GIÁP MÂU

甲 矛

Giáp: Loại áo bằng da, bằng sắt để tướng sĩ ngày xưa mặc ra trận. Mâu: Một thứ binh khí có cán dài mũi nhọn.

Giáp mâu là áo giáp và ngọn mâu, dùng để chỉ giặc giã hoặc chiến tranh.

Xếp giáp mâu ý nói ngưng chiến.

Lân bang ghe thuở nhường oai võ,

Dị quốc từng phen xếp giáp mâu.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

GIẠT

Giạt là bị sóng, gió xô đẩy đi.

Như: Thuyền bị sóng đánh giạt vào bờ, trời mưa lũ giạt cả ao bèo, hoa trôi bèo giạt.

Ngược gió thuyền đầy cơn gió dập,

Xuôi dòng nước lớn giạt bèo trôi.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

GIÀU

1.- Giàu là có nhiều tiền của, trái với nghèo.

Như: Ai giàu ba họ ai khó ba đời, giàu đổi bạn sang đổi vợ, nước giàu dân mạnh.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Cái khổ là một sự thực hiển nhiên, mỗi người không ai tránh khỏi. Dầu giàu nghèo sang hèn ai cũng có cái khổ riêng của mình nhưng người đời ít ai dám nhìn thẳng vào đó.