TỪ NGỮ ĐIỂN CỐ CAO ĐÀI

 

 

Danh mục vần H

 

 

Hà Bá

Hà chính

Hà đồ

Hà hải

Hà hoa sinh nhật

Hà lạm

Hà lương

Hà Ngân

Hà tiện

Hà thanh

Hà xứ

 

HẠ

Hạ

Hạ bạc

Hạ cấp

Hạ cố

Hạ cơ

Hạ chỉ

Hạ đẳng

Hạ đơn điền

Hạ giới

Hạ Hầu Đôn

Hạ huyệt

Hạ mình

Hạ nguơn

Hạ ốc thất thập nhị địa

Hạ tiện

Hạ thế

Hạ thọ

Hạ thừa

Hạ trần

Hạ Võ

 

HẠC

Hạc

Hạc cầm

Hạc nội

Hạc nội gà lồng

Hạc về huê biểu

 

HAI

Hai

 

HÁI

Hái

 

HÀI

Hài

Hài cốt

Hài gai

Hài hoà

 

HẢI

Hải

Hải đảo

Hải đường

Hải giác thiên nhai

Hải hà

Hải hồ

Hải yến hà thanh

Hải ngoại

Hải thệ

Hải thệ sơn minh

Hải Thượng

 

HÃI

Hãi

Hãi hùng

Hãi kinh

 

HẠI

Hại

Hại vật

 

HAM

Ham

Ham đó bỏ đăng

Ham muốn

 

HÁM

Hám

Hám lợi xu danh

Hám vọng

 

HÀM

Hàm

Hàm hồ

Hàm oan

Hàm phong

Hàm súc

Hàm tiếu

Hàm thiếc

 

HÃM

Hãm

Hãm hại

 

HAN

Han

 

HÁN

Hán Chiêu Quân

Hán Võ Đế

 

HÀN

Hàn

Hàn huyên

Hàn Lâm Viện

Hàn mặc

Hàn ôn

Hàn Tín

Hàn Tín lòn trôn

Hàn Tín nạp bạn

Hàn vi

 

HÃN

Hãn mã

 

HẠN

Hạn

Hạn định

Hạn đói

Hạn kỳ

 

HANG

Hang

Hang sâu vực thẳm

Hang thẳm

 

HÀNG

Hàng

Hàng bông

Hàng lụa

Hàng ngũ

Hàng rào

Hàng xóm

 

HẠNG

Hạng

Hạng Thác

Hạng Thác làm thầy Trọng Ni

Hạng Võ

Hạng Võ Cai Hạ thất thủ

Hạng Vương

 

HANH

Hanh thông

 

HÀNH

Hành

Hành biến

Hành chánh

Hành chánh đạo

Hành Đạo

Hành đạo khó khăn gay trở

Hành đạo tha phương

Hành động

Hành hạ

Hành hài

Hành hình

Hành hoá

Hành hung

Hành hương

Hành khách

Hành khất

Hành lang

Hành lễ

Hành lý

Hành pháp

Hành pháp độ thăng

Hành phạt

Hành phép xác

Hành sử

Hành tàng

Hành thiện

Hành trang

Hành trình

Hành vân lưu thuỷ

Hành vi

Hành xác

 

HẠNH

Hạnh

Hạnh chất

Hạnh đàn

Hạnh đức

Hạnh Đường

Hạnh hưởng

Hạnh lâm

Hạnh ngộ

Hạnh Nguơn

Hanh phúc

Hạnh phùng

 

HAO

Hao

Hao hớt

Hao mòn

Hao tài

 

HÁO

Háo

Háo danh

Háo sinh

Háo thắng

 

HÀO

Hào

Hào gia

Hào hiệp

Hào hoa

Hào kiệt

Hào nhoáng

Hào phóng

Hào phú

Hào quang

 

HẢO

Hảo

Hảo cừu

Hảo phùng

Hảo tâm

 

HÃO

Hão huyền

 

HẠO

Hạo kiếp

Hạo nhiên

 

HÁP

Háp

 

HẠP

Hạp

Hạp thời

 

HÁT

Hát

Hát bội

Hát Giang

 

HẠT

Hạt

Hạt nhân

Hạt giống

Hạt châu

 

HAY

Hay

Hay dở

 

HẮC

Hắc

Hắc ám

Hắc bạch

Hắc Phong đoạt của báu

 

HĂM

Hăm

Hăm bốn gương xưa

Hăm doạ

Hăm hở

 

HẲN

Hẳn

Hẳn hòi

 

HĂNG

Hăng hái

 

HẰNG

Hằng

Hằng Đại

Hằng hà

Hằng hà sa số Phật

Hằng Nga

Hằng sanh

Hằng sống

Hằng tâm

 

HẮT

Hắt hiu

 

HẦM

Hầm

 

HẨM

Hẩm hút

 

HẬM

Hậm hực

 

HÂN

Hân hạnh

Hân hoan

Hân hủi

 

HẬN

Hận thù

 

HẪNG

Hẫng hờ

 

HẤP

Hấp hối

Hấp tấp

Hấp thụ

 

HẤT

Hất

Hất hủi

 

HẦU

Hầu

Hầu cận

Hầu chung

Hầu đàn

Hầu gần

Hầu hạ

Hầu kề

Hầu mãn

Hầu thiếp

 

HẬU

Hậu

Hậu bạc

Hậu duệ

Hậu đại

Hậu Điện

Hậu hoạn

Hậu kiếp

Hậu lai

Hậu Nghệ

Hậu quả

Hậu sinh

Hậu tấn

Hậu tình

Hậu thế

Hậu Thổ

Hậu thuẫn

Hậu vận

 

 

 

HÈM

Hèm

 

HÈN

Hèn

Hèn yếu

Hèn lâu

Hèn sang

 

HẸN

Hẹn

Hẹn biển thề non

 

HEO

Heo

Heo may

 

HÉO

Héo

Héo don

Héo hắt

 

HẸP

Hẹp

Hẹp đường nhượng tránh

Hẹp hòi

 

HÉT

Hét

 

HỀ

Hề

 

HỄ

Hễ

 

HỆ

Hệ lụy

Hệ trong

 

HỀM

Hềm nghi

 

HÊN

Hên

 

HẾT

Hết

Hết lòng

Hết sức

 

HỆT

Hệt

 

HI

Hi Di

 

HIẾM

Hiếm

Hiếm chi

Hiếm hoi

 

HIỀM

Hiềm

Hiềm nghi

Hiềm thù

 

HIỂM

Hiểm

Hiểm độc

Hiểm hoạ

Hiểm nghèo

Hiểm trở

 

HIÊN

Hiên

Hiên đoài

Hiên Kỳ

Hiên ngang

Hiên Tiên

Hiên Viên

 

HIẾN

Hiến

Hiến Đạo

Hiến lễ

Hiến pháp

Hiến thân

Hiến Thế

 

HIỀN

Hiền

Hiền bảy lão

Hiền đồ

Hiền đức

Hiền hiền là công

Hiền hữu

Hiền lành

Hiền lương

Hiền muội

Hiền nữ kỉnh phu

Hiền ngõ

Hiền nhơn

Hiền sĩ

Hiền tài

Hiền từ

Hiền thăng ác đoạ

Hiền thần

Hiền triết

Hiền vong ác thạnh

 

HIỂN

Hiển

Hiển đạt

Hiển hích

Hiển hiện

Hiển linh

Hiển nhiên

Hiển tổ

Hiển tông môn

Hiển Thánh

Hiển vinh

 

HIỆN

Hiện

Hiện diện

Hiện tượng

 

HIẾP

Hiếp

Hiếp bức

Hiếp cô

Hiếp chúng

Hiếp đáp

 

HIỆP

Hiệp

Hiệp Âm Dương biến sanh

Hiệp cẩn

Hiệp Chưởng

Hiệp đạo

Hiệp đồng

Hiệp gia ly khổ nạn

Hiệp hoà

Hiệp lực

Hiệp Ngũ Chi

Hiệp nhứt Ngũ Chi

Hiệp Phố châu về

Hiệp quần

Hiệp quy

Hiệp sức

Hiệp tác

Hiệp tan

Hiệp Thiên Ðài

Hiệp Thiên Đài vốn Chơn Thần

Hiệp Thiên đứng Trị

Hiệp vầy

 

HIẾU

Hiếu

Hiếu đạo

Hiếu đễ

Hiếu đút mồi ô thước

Hiếu hạnh

Hiếu hạnh huờn sanh hiếu hạnh nhi

Hiếu kinh

Hiếu kính

Hiếu kỳ

Hiếu nam

Hiếu nghĩa

Hiếu quyến

Hiếu tâm

Hiếu thảo

Hiếu thân

Hiếu thân nổi dậy tuổi tên

Hiếu trọng tình sâu

Hiếu trung

Hiếu vi tiên

 

HIỂU

Hiểu

Hiểu biết

Hiểu thấu

 

HIỆU

Hiệu lực

Hiệu quả

 

HÌNH

Hình

Hình ảnh

Hình chất

Hình dạng

Hình ma bóng quỷ

Hình thô dạng lỗ

Hình dung

Hình hài

Hình hoa

Hình khổ

Hình liễu

Hình luật

Hình mai

Hình nộm

Hình Nhi Hạ

Hình Nhi Thượng

Hình phạt

Hình tướng

Hình tượng

Hình thể

Hình thù

Hình thức

Hình vóc

 

HÍT

Hít

 

HIU

Hiu hắt

Hiu hiu

Hiu quạnh

 

HY

Hy hữu

Hy sinh

Hy vọng

 

Hý tràng

Hý trường

 

HỶ

Hỷ xả

 

Hò hét

Hò lơ

 

HỌ

Họ

Họ Dương

Họ Đạo

 

HOA

Hoa

Hoa bốn mùa

Hoa bốn mùa thơm chỗ nhớp nhơ

Hoa cỏ

Hoa cười

Hoa Đà

Hoa đàm

Hoa đào

Hoa đăng

Hoa đọng ngọc

Hoa ép liễu nài

Hoa khôi

Hoa lam

Hoa lìa cội

Hoa nguyệt

Hoa phong nhuỵ

Hoa quả

Hoa Quả Sơn xuất hầu vương

Hoa râm

Hoa sen

Hoa tàn nhuỵ rữa

Hoa tiên

Hoa tường buôn ong

Hoa tường liễu ngõ

Hoa trôi bèo giạt

 

HOÁ

Hoá

Hoá công

Hoá chúng

Hoá dân

Hoá dân quy thiện

Hoá dục quần sanh

Hoá duyên

Hoá giải

Hoá nhơn

Hoá nhi

Hoá sanh

Hoá thân

Hoá trưởng

 

HOÀ

Hoà

Hoà ái

Hoà bình

Hoà Bình Chung Sống

Hoà giải

Hoà hảo

Hoà huỡn

Hoà hiệp

Hoà hợp

Hoà ky

Hoà minh loan phượng

Hoà mình

Hoà nam khể thủ

Hoà nhã

Hoà nhẫn

Hoà thi

Hoà thuận

Hoà Thượng

Hoà viện

 

HOẢ

Hoả

Hoả hoạn

Hoả pháo

Hoả tai

Hoả táng

Hoả tinh Tam muội

 

HOẠ

Hoạ

Hoạ Âu tai Á

Hoạ gởi tai bay

Hoạ kín

Hoạ lây vạ tràn

Hoạ may

Hoạ phúc

Hoạ phước

Hoạ phước vô môn

Hoạ tai

Hoạ Thiên điều

Hoạ vô đơn chí

 

HOẠCH

Hoạch

Hoạch tội ư Thiên

 

HOÀI

Hoài

Hoài bão

Hoài cảm

Hoài cổ

Hoài công

Hoài mong

Hoài niệm

Hoài thai

Hoài vọng

 

HOẠI

Hoại

 

HOAN

Hoan

Hoan hỷ

Hoan lạc

Hoan nghinh

Hoan tâm

 

HOÁN

Hoán

Hoán cải

Hoán cựu nghinh tân

Hoán đàn

 

HOÀN

Hoàn

Hoàn bị

Hoàn cảnh

Hoàn cầu

Hoàn đồ

Hoàn hảo

Hoàn nguyên

Hoàn toàn

Hoàn tục

Hoàn thành

Hoàn thiện

Hoàn võ

Hoàn vũ

Hoàn xá lợi

 

HOÃN

Hoãn huợt

 

HOẠN

Hoạn

Hoạn hải

Hoạn hoạ

Hoạn lộ

Hoạn nạn

 

HOANG

Hoang

Hoang dâm

Hoang đàng

Hoang liêu

Hoang mang

Hoang phế

Hoang vu

 

HOÀNG

Hoàng cung

Hoàng Đình Kiên

Hoàng đồ

Hoàng Hà

Hoàng hôn

Hoàng Hương

Hoàng oanh

Hoàng Tử sang sa mạc

Hoàng thành

Hoàng Thiên

Hoàng Thiên bất phụ

Hoàng Thiên chẳng phụ

Hoàng Thiên hữu nhãn

Hoàng triều

 

HOẢNG

Hoảng hồn

 

HOÀNH

Hoành hành

Hoành Sơn

 

HOẠNH

Hoạnh tài

 

HOÁT

Hoát

 

HOẠT

Hoạt

Hoạt động

 

HOẶC

Hoặc

 

HOẰNG

Hoằng đạo

Hoằng hoá

Hoằng khai

Hoằng khai Đại Đạo

Hoằng nhơn

 

HÓC

Hóc

 

HỌC

Học

Học đòi

Học hỏi

Học lễ học văn

Học tập

Học trò

Học vấn

Học Viện

 

HOÈ

Hoè quế

 

HOEN

Hoen ố

 

HOI

Hoi hóp

 

HỎI

Hỏi

Hỏi hạch

Hỏi han

 

HÒM

Hòm

 

HÒN

Hòn

 

HONG

Hong

 

HÒNG

Hòng

 

HỎNG

Hỏng hẻo

 

HỌP

Họp

 

HÓT

Hót

 

Hô hào

 

HỐ

Hố

 

HỒ

Hồ

Hồ bao

Hồ bi thố tử

Hồ cầm

Hồ cừu

Hồ Địch

Hồ điệp

Hồ đồ

Hồ hải

Hồ Hớn

Hồ Kiếm

Hồ lô

Hồ man

Hồ mị

Hồ nghi

Hồ Tiên

Hồ thỉ

 

HỔ

Hổ

Hổ hang

Hổ lang

Hổ ngươi

Hổ nhục

Hổ phận

Hổ phận má đào

Hổ thẹn

 

HỖ

Hỗ trợ

 

HỘ

Hộ

Hộ Đàn Pháp Quân

Hộ giá

Hộ Pháp

Hộ Pháp Di Đà

Hộ Pháp du Tiên

Hộ Pháp Đường

Hộ Pháp Em

Hộ trì

Hộ Viện

 

HỘC

Hộc hồng

 

HÔI

Hôi

Hôi tanh

 

HỐI

Hối

Hối cải

Hối hả

Hối hận

Hối lộ

Hối mại quyền thế

Hối ngộ

Hối tiếc

 

HỒI

Hồi

Hồi chuông cảnh tỉnh

Hồi đầu

Hồi hương

Hồi hướng

Hồi loan

Hồi môn

Hồi nguyên

Hồi phục

Hồi quang

Hồi quang phản chiếu

Hồi sinh

Hồi tâm

Hồi tục thế

Hồi văn

Hồi xuân

 

HỘI

Hội

Hội ẩm

Hội Công Đồng

Hội diện

Hội đàm

Hội hiệp

Hội họp

Hội Bàn Đào

Hội Yến Diêu Trì Cung

Hội kiến

Hội Long Hoa

Hội Long vân

Hội mây rồng

Hội ngộ

Hội nguơn

Hội Nhơn Sanh

Hội phong vân

Hội rồng mây

Hội Thanh Niên

Hội Thanh Vương

Hội Thánh

Hội Thánh Đường Nhơn

Hội Thánh hữu hư vô thiệt

Hội Thánh Em

Hội Thánh Kim Biên

Hội Thánh Ngoại Giáo

Hội Thánh Phước Thiện

 

HÔM

Hôm

Hôm sớm

 

HÔN

Hôn

Hôn mê

Hôn nhân

Hôn phối

Hôn quân

Hôn tang

 

HỒN

Hồn

Hồn bướm

Hồn điệp

Hồn hài

Hồn lìa trần gian

Hồn linh

Hồn ma bóng quế

Hồn nước

Hồn nhiên

Hồn oan

Hồn phách

Hồn phách chẳng nơi về

Hồn Trời hoá trở về Thiên cảnh

Hồn xác

 

HỖN

Hỗn

Hỗn độn

Hỗn Độn Tôn Sư

Hỗn hào

Hỗn Nguơn Thiên

Hỗn nguơn khí

Hỗn Nguơn mạo

Hỗn tạp

 

HÔNG

Hông

 

HỒNG

Hồng

Hồng ân

Hồng Bàng

Hồng cấu

Hồng chung

Hồng Hài thử lửa

Hồng hộc

Hồng Lạc

Hồng mông

Hồng nhan

Hồng nhạn

Hồng oai hồng từ

Hồng phước

Hồng Quân

Hồng quần

Hồng thệ

Hồng thư

Hồng trần

Hồng Vương Đại Hội

 

HỐT

Hốt

Hốt thuốc

 

HỘT

Hột

 

Hơ hỏng

Hơ hải

 

HỜ

Hờ hững

Hờ hẫng

Hờ ơ

 

HỞ

Hở

 

HƠI

Hơi

Hơi đâu

Hơi đồng

Hơi hám

Hơi men

Hơi sắt tiếng cầm

 

HỜI

Hời hợt

 

HỠI

Hỡi

 

HƠN

Hơn

Hơn thua

 

HỚN

Hớn Chung Ly

Hớn Hồ

Hớn hở

Hớn rước Diêu Trì

Hớn trào

 

HỜN

Hờn

Hờn đời Lam hát

Hờn giận

 

HỚP

Hớp

 

HỢP

Hợp quần

Hợp sức

Hợp tan

 

 

HỦ

Hủ

Hủ Nho

 

HÙA

Hùa

 

HUÂN

Huân ấm

Huân trì

 

HUẤN

Huấn

Huấn dụ

Huấn giáo

Huấn lịnh

Huấn luyện

Huấn từ

 

HUÊ

Huê

Huê biểu

Huê đào

Huê lợi

Huê nguyệt

Huê quả

Huê tiên

Huê tình

 

HUỆ

Huệ

Huệ cố

Huệ chiếu

Huệ duyên

Huệ đăng

Huệ kiếm

Huệ Mạng

Huệ Năng

Huệ nhãn

Huệ phúc

Huệ quang

Huệ trạch

 

HUY

Huy hoàng

 

HUỶ

Huỷ

Huỷ báng

Huỷ bỏ

Huỷ hoại

Huỷ phá

 

HUYÊN

Huyên

Huyên đình

Huyên đường

 

HUYỀN

Huyền bí

Huyền công

Huyền cơ

Huyền cơ diệu bút

Huyền diệu

Huyền diệu Tiên gia

Huyền Khung Cao Thượng Đế

Huyền linh

Huyền môn

Huyền phạm quảng đại

Huyền pháp

Huyền Quan

Huyền thiên

Huyền Trang

Huyền vi

 

HUYỄN

Huyễn khu

Huyễn mộng

 

HUYỆN

Huyện nha

Huyện quan

 

HUYẾT

Huyết

Huyết chiến

Huyết khí

Huyết khí đúc hình

Huyết lệ

Huyết mạch

Huyết mạch đồng môn

Huyết phẩn

Huyết quản

Huyết thống

 

HUYỆT

Huyệt

 

HUYNH

Huynh

Huynh đệ

Huynh đệ như thủ túc

Huynh đệ tương tàn

Huynh trưởng

 

HUỲNH

Huỳnh

Huỳnh cân

Huỳnh Đế

Huỳnh Đình

Huỳnh Kim Khuyết

Huỳnh Kim Khuyết Bạch Ngọc Kinh

Huỳnh lương

Huỳnh tuyền

Huỳnh Thạch Công

Huỳnh Thiên

 

HUN

Hun hít

 

HÙN

Hùn

 

HUNG

Hung

Hung ác

Hung bạo

Hung dữ

Hung đồ

Hung hăng

Hung hoang

Hung tàn

Hung tang

Hung tâm

 

HÚNG

Húng hiếp

 

HÙNG

Hùng

Hùng anh

Hùng cường

Hùng hổ

Hùng kiếm

Hùng khí

Hùng oai

Hùng tráng

Hùng vĩ

Hùng Vương

 

HUỐNG

Huống

Huống hồ

 

HUỜN

Huờn

Huờn đáo

Huờn đáo bổn nguyên

Huờn hình

Huờn hồn

Huờn hư

Huờn xá lợi

 

HỤP

Hụp

 

HÚT

Hút

Hút xách

 

HỤT

Hụt

Hụt hơi

 

Hư ảo

Hư danh

Hư hao

Hư hoại

Hư không

Hư linh

Hư nát

Hư nên

Hư nguỵ

Hư sinh

Hư thiệt

Hư vinh

Hư vô

Hư vô chi khí

Hư vô tịch diệt

Hư Vô Thiên

 

HỨA

Hứa Do

Hứa Hành

Hứa hẹn

Hứa nhập khai môn

Hứa Sào

 

HỬI

Hửi

 

HƯNG

Hưng bái

Hưng bình thân

Hưng Châu diệt Trụ

Hưng Đạo

Hưng Nho

Hưng phế

Hưng suy

Hưng thạnh

Hưng thịnh

Hưng vong

Hưng vượng

 

HỨNG

Hứng

Hứng chí

Hứng gió

 

HỪNG

Hừng

 

HỮNG

Hững hờ

 

HƯƠI

Hươi

 

HƯƠNG

Hương

Hương án

Hương đảng

Hương Đạo

Hương đượm lửa nồng

Hương hoả

Hương hoả ba sinh

Hương hoả tông đường

Hương hồn

Hương khói

Hương lý

Hương lửa

Hương lửa ba sanh

Hương nguyền

Hương sắc

Hương Tâm

Hương thề

Hương thề tắt ngọn

Hương trôi dòng là

Hương trời sắc nước

Hương vị

 

HƯỚNG

Hướng

Hướng dân quy thiện

Hướng dương

Hướng đạo

Hướng thiện

 

HƯỞNG

Hưởng

Hưởng an nhàn

Hưởng nhàn

Hưởng thọ

Hưởng ứng

 

HƯƠU

Hươu Tần

 

HƯU

Hưu

Hưu trí

 

HỮU

Hữu

Hữu ban

Hữu bằng

Hữu cảm tắc thông

Hữu căn

Hữu cầu tắc ứng

Hữu công

Hữu chí cánh thành

Hữu chung hữu thuỷ

Hữu duyên

Hữu dụng

Hữu giao

Hữu hạnh

Hữu hình

Hữu ích

Hữu kiếp

Hữu Ngu

Hữu nghị

Hữu Nghĩa Trần Ân

Hữu Phan Quân

Hữu phần

Hữu phước

Hữu Phước Lệ Dung

Hữu Sào

Hữu sanh

Hữu thỉ

Hữu thỉ vô chung

Hữu vi

Hữu xạ tự nhiên hương

 

HỰU

Hựu tội

 

 

 

 

 

 

 

 

H

 

là có đâu thế, tức không có lẽ nào như thế. Như: Ta há chịu bó tay sao, há dám phụ lòng.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy là Ðấng Chí Tôn cầm quyền thưởng phạt, lại không quyền hành mà làm mọi việc một mình Thầy đặng sao, lại phải sở cậy tay phàm, chẳng qua là đạo đức thiếu kém các con đó, nó làm cho các con bị phạt.

Phòng cơn biển nọ hoá cồn dâu,

Chưa hết quan viên hết chầu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðông tàn cảnh ướm trở nên xuân,

Xuân nở vườn mai mấy lần?

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

1.- Hà là nào, sao, không dùng một mình.

Như: Hà nhựt, hà thủ tạo (tay ai tạo hoá ra), hà tằng, hà tất, hà thời đáo.

Ngã vấn chư nhu thủ tạo?

Kỉnh Ngô vi chủ, Ðạo như hà?

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cẩm tú văn chương khách đạo?

Thi Thần tửu Thánh vấn thùy nhân?

(Nhị Nương Giáng Bút).

2.- Hà là sông. Như: Hoàng hà, ngân hà, hải hà, sơn hà xã tắc, Hằng hà (sông Hằng).

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Chúng ta ngước mặt lên trời, mắt ta thấy hằng sa số là địa giới, ta gọi là sao, mỗi vì tinh tú ấy là một quả địa cầu có người ta ở, cho nên Ðức Chí Tôn mới nói rằng: Càn Khôn Võ Trụ nầy chứa đầy Vạn Linh.

Còn tinh vệ lấp phiền biển ái,

Đòi trả chồng hải sóng chôn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

3.- Hà là độc dữ, cay nghiệt, không dùng một mình. Như: Hà chính, hà hiếp, hà khốc, hà lạm.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Hồi còn thơ ấu, Bần Đạo nói thiệt, đường liêm khiết cả một đời làm việc chưa biết lạm ăn của ai một đồng xu nhỏ, dầu cho nghèo cũng vậy.

Nói tóm lại, nhà chính trị phải cần có đạo đức, không đạo đức là chính trị khốc...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

HÀ BÁ

河 伯

Hà Bá là tên một vị thần coi về sông biển.

Xưa kia có người tên là Phùng Di chuyên việc trị thuỷ. Một hôm vào tháng tám, ông có việc phải sang sông, rồi đi đến giữa sông bị chết chìm. Trời thương tình phong ông làm Hà Bá, coi về miền sông biển.

Người xưa thường có lời nói: Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá.

Nếu không Hà Bá lưu giùm tạm,

Bà Thuỷ cũng chôm của giữa đàng.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

HÀ CHÍNH

苛 政

Hà: Hà khắc, khắc nghiệt với nhân dân. Chính: Chính sách, chính trị.

Hà chính là chính sách hà khắc, tức là áp dụng nền chính trị khắc nghiệt đối với dân chúng, người ta gọi đó là chính sách hà khắc.

Từ xưa đến nay, nước nhà hưng hay vong, được hoà bình hay loạn lạc đều do nơi người cầm quyền hành chánh. Người cầm quyền biết theo lòng dân, lấy dân làm gốc, lo cho dân được cơm no áo ấm, biết lấy đường ngay chính, đạo đức mà cảm hoá dân thì nước nhà yên ổn, bền vững, đời được thái bình, thịnh trị. Trái lại, người cầm quyền không biết thương dân, không lấy đạo đức ra để trị dân, mà chỉ thi hành chính sách hà khắc, thì lòng dân không phục, nước nhà phải chinh nghiêng loạn lạc.

Xưa những người theo Nho giáo, có trách nhiệm trị dân, trị nước đều cho rằng: “Dân tâm Thiên ý 民 心 天 意”, nghĩa là “Lòng dân ấy là lòng Trời”, như vậy làm trái lòng dân tức là làm trái mạng trời, mà trái mạng trời thì nhân dân sẽ ly tán, đất nước sẽ khuynh nguy.

Người cầm quyền phải có đạo đức, lúc nào cũng phải sửa tâm mình cho liêm chính, nghiêm minh, biết thương dân mới có thể thu phục được lòng dân. Như ta biết, Chính sách nhà nước dù có hay cỡ nào mà giao về người cầm quyền không có lòng nhân, không có đạo đức thì cái chính sách ấy cũng hoá ra dở.

Lẽ dĩ nhiên, Người trị dân không làm cho dân mến yêu, tin cậy, mà có hành động độc tài, độc đoán, chỉ lo cho bản thân mình được sung sướng ngoài ra mặc kệ dân khốn khổ lầm than, thì khiến cho trăm họ oán ghét, căm thù, thì người cầm quyền tự rước cái hoạ cho mình đó.

Người cầm quyền cần phải lấy dân làm gốc, biết tâm lý của dân, dân thà sống đối mặt với những sự hiểm nguy với tánh mạng, nhưng rất sợ chính sách hà khắc và sưu thuế nặng nề. Câu chuyện sau cho thấy điều đó.

Một hôm, Khổng Tử và học trò đi qua nước Tề, khi ngang núi Thái Sơn, thấy một người đàn bà ôm mộ khóc.

Khổng Tử bảo Tử Lộ đến hỏi nguyên do, thì người đàn bà ấy nói rằng: Trước đây ông già chồng tôi chết vì cọp ăn, sau đó chồng tôi chết bị cọp ăn, nay con tôi chết cũng bị cọp ăn tại làng nầy.

Tử Lộ thắc mắc hỏi: Nếu những người thân của bà bị cọp ăn tại làng nầy, sao bà không dời đi làng khác? Người đàn bà ấy nói: Làng nầy bị đe doạ bởi cọp, nhưng ở đây chính sách không hà khắc.

Tử Lộ thưa lại với Đức Khổng Tử, Ngài bèn lấy việc đó dạy các đệ tử rằng: Các con thấy không, người ta sợ chính trị hà khắc còn hơn sợ cọp nữa.

Cái Hà chính gớm ghê hơn cọp.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

HÀ ĐỒ

河 圖

Hà: Sông. Đồ: Bức hoạ, bức vẽ.

Hà đồ, do câu “Long mã phụ Hà đồ 龍 馬 附 河 圖”, nghĩa là con long mã mang bức Hà đồ.

Tương truyền đời vua Phục Hy thời Thượng cổ, tại sông Hoàng Hà có xuất hiện một con long mã, trên lưng có mang bức Hà đồ.

Trong bức Hà Đồ có 55 điểm đen trắng, vua Phục Hy nhân đó mới tạo ra Tiên Thiên Bát Quái và Lục thập tứ quái (sáu mươi bốn quả).

Bảy năm Dũ lý nhọc nhằn,

Hà Ðồ Bát Quái dịch thành Lạc Thơ.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Tìm hiểu Hà Đồ có Phục Hy,

Thiên lương ta sống phải làm gì.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

HÀ HẢI

河 海

Hà: Sông, dòng nước tự nhiên chảy thường xuyên trên mặt đất, thuyền bè đi lại được. Hải: Biển, vùng có nước mặn rộng lớn trên bề mặt trái đất.

Hà hải là sông và biển, dùng để nói việc phiêu lưu đi đến nơi xa xôi.

Hà hải, như chữ “Hải hà 海 河”, còn ví cái rộng lớn, bao la, thường nói về độ lượng.

Lòng thương ví như dưòng hà hải,

Đem dung nghi làm giải trừ mê.

(Bát Nương Giáng Bút).

Trượng phu hà hải đã đành,

Nỡ nào đày thiếp một mình tương tư.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

HÀ HOA SANH NHỰT

荷 花 生 日

Hay “Hà hoa sinh nhật”.

Hà hoa: Bông sen. Sinh nhựt (sinh nhật): Ngày được sinh ra.

Hà hoa sinh nhật, theo Hán Việt Tự Điển của Đào Duy Anh, là ngày bông sen nở, tức là ngày 24 tháng 6 Âm lịch. Ngày nầy, theo đạo Cao Đài cũng là ngày lễ vía Đản sinh của Đức Quan Thánh Đế Quân, Tam Trấn Oai Nghiêm Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Hà hoa sanh nhựt gió đưa hương,

Nhằm vía Dà Lam lễ Thánh Đường.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

HÀ LẠM

苛 濫

Hà: Độc dữ, cay nghiệt. Lạm: Vượt lấn quá phạm vi, giới hạn được quy định.

Hà lạm là tham lấy của công hay của dân.

Như: Thủ kho cơ quan hà lạm công quỷ nhà nước, hà lạm tiền thuế của dân.

Ông thân trả lời: Võ nó không biết kiếm thế hà lạm, bên văn nó hay hà lạm tôi không chịu...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

HÀ LƯƠNG

河 梁

Hà: Sông. Lương: Cầu bắc trên sông.

Hà lương là cây cầu, chỉ nơi tống biệt.

Ngày xưa, người ta tiễn nhau thường đến chốn cầu sông. Sách Văn Tuyển chép bài thơ của Lý Lăng gửi cho Tô Võ đời Hán như sau: Huề thủ thượng Hà Lương, du tử mộ hà chi 攜 手 上 河 梁, 遊 子 暮 何 之, nghĩa là dắt tay nhau lên cầu sông, kẻ du tử chiều nay đi đâu?

Do câu thơ này người đời sau dùng chữ “Hà lương” để chỉ nơi tống biệt.

Bút hoạ vần thơ tình hữu nghị,

Tay trao nhánh liễu bến Hà Lương.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

HÀ NGÂN

河 銀

Hà: Sông. Ngân: Màu bạc, trắng như bạc.

Hà Ngân tức là “Ngân Hà 銀 河”, một dải ngôi sao nơi bầu trời màu bạc trắng như một dòng sông, được gọi là sông Ngân Hà.

Xem: Ngân Hà.

Cung Ðẩu vít xa gươm xích quỷ,

Thiềm cung mở rộng cửa Hà Ngân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

HÀ TIỆN

Hà tiện là không dám tiêu pha, chỉ muốn dành dụm, nên rất bủn xỉn. Như: Hà tiện từng đồng từng cắc.

Nói về Đức Quan Thánh, Thuyết Đạo Thượng Sanh có đoạn: Tào Tháo nhơn thấy Ðức Ngài mặc áo chiến bào cũ quá bèn lấy gấm tốt may một cái chiến bào mới ban cho Ðức Ngài, Ðức Ngài lãnh lấy đem về mặc vào trong rồi cũng cứ mặc cái áo cũ ra ngoài. Tào Tháo thấy hỏi sao Ðức Ngài hà tiện như vậy, Ðức Ngài đáp: Không phải là tôi hà tiện, nhưng cái áo cũ này là của Lưu Hoàng Thúc ban cho, tôi mặc nó ra ngoài như là thấy anh tôi vậy.

Hễ tốt phân thì gặt lúa nhiều,

Đừng hà tiện bỏ liều lúa thất.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

HÀ THANH

河 清

Hà: Sông Hoàng hà. Thanh: Trong.

Hà thanh là sông Hoàng hà nước trong, ý chỉ có thánh nhân xuất hiện, thiên hạ thái bình.

Con sông Hoàng Hà của Trung Quốc nhiều bùn lầy nên thường đục. Khi nào nước sông trở nên trong thì người ta cho là điềm lành, có thánh nhân xuất hiện, hoặc thiên hạ thái bình.

Đời nhà Tần, năm thứ ba vua Trang Tương Vương sông Hoàng Hà đột nhiên trong, năm ấy Lưu Bang (sau là Hán Cao Tổ) được sanh ra ở đất Bái.

Một nguyền hải yến an tha chủng,

Hai khẩu hà thanh thịnh bổn bang.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

HÀ XỨ

何 處

Hà: Sao, nào, không dùng một mình. Xứ: Chốn, nơi, miền, vùng.

Hà xứ là nơi nào, chốn nào, xứ sở ở đâu. Như: Hà xứ đáo, bất tri hà xứ.

Hy sanh hà xứ đáo Chơn thần,

Tại thế hữu nhơn tất hữu quân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thiên Ðịa vô ngôn thường tại thế,

Bất tri hà xứ kiến tinh quang.

(Đạo Sử).

 

 

HẠ

1.- Hạ là dưới. Như: Bộ hạ, trướng hạ, thượng hạ.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Cả thảy đều con của Thầy, trừ ra tôn ty thượng hạ nơi việc hành chánh, thì đồng một bậc cả, chẳng ai đặng vì quyền mà lấn lướt, chẳng ai đặng vì mạng lịnh mà đè ép xua đuổi ai.

Bạch Ngọc từ xưa đã ngự rồi,

Há cần hạ giới dụng cao ngôi?

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

Tâm ái nhơn sanh an bốn biển,

Tâm hoà thiên hạ trị muôn năm.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

2.- Hạ là xuống, ban xuống. Như: Hạ trần, hạ mã, hạ mình, hạ lệnh, hạ chiếu chỉ.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có câu: Mỗi phen Thầy đau thảm khóc lóc các con, phải lén hạ trần, quyết bỏ ngôi Chí Tôn xuống lập Ðạo, lại bị các con bạc đãi, biếm nhẻ, xua đuổi, bắt buộc đến đỗi phải chịu cho các con giết chết!

Ðường trào hạ thế hưởng Tam quan,

Chẳng vị công danh chỉ hưởng nhàn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ăn nằm nín nẳm đợi Chơn Quân,

Ta quyết sẽ cho kẻ hạ trần.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

3.- Hạ là mùa hè, mùa nóng, mùa thứ hai trong bốn mùa: Xuân, hạ, thu, đông.

Như: Hạ chí, tháng tư đầu mùa hạ, mưa xuân nắng hạ, hết hạ sang thu.

Bóng trải diềm dà xuân đợi chúa,

Tiết nồng thơ thới hạ khoe sen.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nồng hạ Trời thương đưa gió quạt,

Nắng thu đất cảm đổ mưa chan.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

4.- Hạ là nhàn rỗi, thong thả. Như: Nhàn hạ.

Rừng thiền trở gót mới thung dung,

Nhàn hạ riêng vui cảnh bá tùng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

HẠ BẠC

Hạ bạc là nghề đánh cá ở sông hồ.

Như: Lấy chồng hạ bạc thì quanh năm suốt tháng phải theo mang lưới mang chài.

Nghề xưa hạ bạc đã nhàm,

Nay dân đói khó ra làm không no.

(Ngụ Đời).

 

 

HẠ CẤP

下 級

Hạ: Dưới, thấp. Cấp: Bậc, gọi chung các thứ bậc.

Hạ cấp là cấp dưới hay cấp thấp.

Hạ cấp còn dùng để chỉ loại thấp kém.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Nhà Vua buổi nọ muốn thưởng công các quan duy có đong lương mà thôi, vị nào cao cấp mấy hộc, trung cấp mấy hộc, hạ cấp mấy hộc; ngoài ra lương ấy nhà Vua có phương pháp kêu là ban thưởng đặc biệt về công nghiệp vĩ đại, ân tứ cho ngựa bốn cặp, sáu cặp hay mười cặp, hay xe đôi chục, năm chục mà thôi, sự khéo léo của quốc gia là giục tâm cho dân cày cấy, ngoài ra sự chăn nuôi súc vật, rồi vì sau nầy việc canh điền nặng nề thì lại bày ra việc thưởng trâu bò thay thế cho đầu ngựa.

Tuy ở vào địa vị hạ cấp của guồng máy Hành Chánh Ðạo, nhưng quý vị có nhiệm vụ trọng yếu không kém gì các Chức Sắc cao cấp của Hội Thánh.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

HẠ CỐ

下 顧

Hạ: Từ trên xuống. Cố: Đoái tưởng đến.

Hạ cố là nói người trên đoái tưởng đến người dưới. Hoặc chữ dùng một cách khiêm nhường.

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du có câu: Mấy lòng hạ cố đến nhau, Mấy lời hạ tứ ném châu gieo vàng.

Thâm tạ tôn huynh lòng hạ cố,

Lời vàng khuyến miễn đến ngô nhi.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

HẠ CƠ

下 乩

Hạ: Xuống, để xuống. Cơ: Dụng cụ để thông công với các Đấng thiêng liêng.

Hạ cơ nghĩa là xuống cơ, tức là các Đấng Thiêng liêng giáng bút để có hình phạt.

Ấy là thể lòng từ bi của Ðức Chí Tôn, bằng chẳng thì Lão đã hạ cơ trục xuất cả thảy.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

HẠ CHỈ

下 旨

Hạ: Từ trên xuống dưới. Chỉ: Mệnh lệnh của vua, hay mệnh lệnh của Thượng Đế.

Hạ chỉ là vua xuống chỉ dụ cho các quan hay thần dân. Trong Đạo Cao Đài, hạ chỉ là nói Đức Chí Tôn ban chỉ cho chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, hay chư chúng sanh.

Kể từ hỗn độn sơ khai,

Chí Tôn hạ chỉ trước đài Linh Tiêu.

(Tán Tụng Công Đức).

Từ Hỗn độn Chí Tôn hạ chỉ,

Cho Thiếp quyền quản Khí Hư Vô.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

HẠ ĐẲNG

下 等

Hạ: Dưới, thấp. Đẳng: Thứ bực.

Hạ đẳng là bực dưới, bực thấp, ý chỉ bậc thấp nhứt trong xã hội.

Như: “Hạ đẳng nhơn sanh” là những người thuộc bực thấp trong xã hội, ý chỉ những hạng người bình dân nghèo khổ, thiếu học.

Bực hạ đẳng nhơn sanh thường bị hiếp đáp vì mất lẽ công bằng hơn hết.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

HẠ ĐƠN ĐIỀN

下 丹 田

Hạ: Dưới. Đơn điền: Tên một cái huyệt ở dưới rún.

Hạ đơn điền là bên dưới huyệt đơn điền, tức ở phía dưới rún, cách rún chừng 15 phân.

Bộ tiểu phục cũng toàn bằng hàng trắng, có thêu chữ Bát quái bằng vàng, cung khảm ngay hạ đơn điền...

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

HẠ GIỚI

下 界

Hạ: Dưới, thấp. Giới (giái): Cõi.

Hạ giới, còn đọc “Hạ giái”, là cõi dưới, cõi thấp kém, chỉ cõi thế gian, nơi nhơn loại đang sống.

Theo cách phân chia vũ trụ của người xưa thì có ba cõi giới: Hạ giới, Trung giới và Thượng giới.

Bạch Ngọc từ xưa đã ngự rồi,

Chẳng cần hạ giới vọng cao ngôi.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

 

 

HẠ HẦU ĐÔN

夏 侯 惇

Hạ Hầu Đôn tự là Nguyên Nhượng (元 讓) là khai quốc công thần nhà Ngụỵ của Tào Tháo, thời Tam Quốc.

Hạ Hầu Đôn và Tào Tháo có quan hệ họ hàng với nhau. Ông là một trong những tướng trung thành với Tào Tháo, góp công trong những trận đánh với Lưu Bị, Tôn Quyền, Lã Bố.

Hạ Hầu Đôn là một mãnh tướng anh dũng. Trong một trận chiến vào năm 198, Hạ Hầu Đôn bị mất mắt trái và từ đó có biệt danh Manh Hạ Hầu (Hạ Hầu mù).

Truyện sách lưu lại rằng Ngài suýt bị Hạ Hầu Ðôn giết vì nó biết cái sở yếu của Ngài mà lợi dụng, nếu không Trương Liêu đến cứu.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

HẠ HUYỆT

下 穴

Hạ: Xuống. Huyệt: Cái hố đề chôn người chết.

Hạ huyệt là đem quan tài đặt xuống huyệt mộ.

Kinh Hạ Huyệt là bài kinh của Đạo Cao Đài dùng để Đồng nhi tụng trước khi hạ huyệt.

Trong quyển Quan Hôn Tang Lễ, phần Tang lễ của chức sắc Đại Thiên phong có câu: Đồng nhi tụng Kinh Hạ Huyệt và chú Vãng Sanh khi dứt niệm câu chú của Thầy ba lần.

Thượng hương khó nổi ngăn dòng lệ,

Hạ huyệt còn đâu thấy dáng hình.

(Thơ Tam Lập).

 

 

HẠ MÌNH

Hạ: Chuyển vị trí từ trên cao xuống dưới thấp. Mình: Bản thân mình.

Hạ mình là tự đặt mình xuống địa vị thấp, hoặc tự hạ thấp phẩm giá của mình để làm một việc gì.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Các con coi bậc Chí Tôn như Thầy mà hạ mình đặng độ rỗi nhơn sanh là thế nào, phải xưng là một vị Tiên Ông và Bồ Tát là hai phẩm chót của Tiên, Phật.

Muốn còn phước dựa kề quân tử,

Phải hạ mình đặng xử vuông tròn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Chẳng biết trọng lấy mình khéo giữ,

Lại hạ mình làm thứ trò chơi.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

HẠ NGUƠN

Hay “Hạ nguyên”.

1.- Hạ nguơn (Hạ nguyên 下 元) là một trong ba nguơn của một năm, và là nguơn cuối cùng trong ba nguơn đó.

Như ta biết, một năm theo Âm lịch được chia làm ba nguơn, tức là có ba cái rằm lớn nhất: Thượng nguơn là rằm tháng giêng, Trung nguơn là rằm tháng bảy, và Hạ nguơn là rằm tháng mười.

Hạ nguơn mừng lễ Đạo hoằng khai,

Tứ ngũ chu niên kỷ niệm ngày.

(Thơ Chơn Tâm).

2.- Hạ nguơn còn là nguơn cuối của một chuyển.

Một chuyển có ba nguơn: Thượng nguơn, Trung nguơn và Hạ nguơn.

Hiện nay, địa cầu 68 của nhân loại đang ở vào cuối Hạ nguơn của chuyển thứ ba, gọi là Hạ nguơn tam chuyển, sắp bước qua Thượng nguơn tứ chuyển.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu dạy: Nay là Hạ nguơn hầu mãn, phải phục lại như buổi đầu, nên phải phản tiền vi hậu.

Tái tạo Hạ nguơn quy Thượng cổ,

Thiên thơ biến chuyển khắp hoàn cầu.

(Thơ Thái Đến Thanh).

Hạ nguơn nay đã mãn rồi,

Bảo tồn quy cổ cơ trời chuyển luân.

(Thơ Thông Quang).

 

 

HẠ ỐC THẤT THẬP NHỊ ĐỊA

下 握 七 十 二 地

Hạ ốc: Dưới nắm giữ, dưới cai quản. Thất thập nhị Địa: Bảy mươi hai Địa cầu.

Hạ ốc thất thập nhị địa, đây là một câu trong bài Ngọc Hoàng Kinh, ý muốn nói Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế dưới thì nắm giữ bảy mươi hai Địa cầu.

Xem: Thất thập nhị Địa.

Hạ ốc Thất thập nhị địa,

Tứ Đại Bộ Châu.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

HẠ TIỆN

下 賤

Hạ: Dưới. Tiện: Hèn kém, ty tiện.

Hạ tiện, đồng nghĩa với chữ “Đê tiện 低 賤”, là hèn kém, ty tiện đến mức đáng khinh bỉ.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Ðời càng tỏ ra đê hèn, hạ tiện, chúng ta càng tỏ ra chơn chánh, siêu phàm, thiên hạ cúi mình bò lết trong chỗ nhơ bẩn vì chút ít lợi quyền, chúng ta phải vươn mình lên cao để đón hứng mùi hương thanh thoát, làm cho trí óc trở nên phi thường và tâm hồn thơ thới.

Thế lực cầu vinh càng hạ tiện,

Tinh thần ái tuất mới cao thâm.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

HẠ THẾ

下 世

Hạ: Dưới, xuống dưới. Thế: Đời, thế gian.

Hạ thế là xuống cõi thế gian, ý chỉ các Đấng Thiêng liêng đầu kiếp xuống cõi trần để thi hành sứ mạng là cứu nhân độ thế.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có dạy: Kẻ phàm dầu ly hương thuở ấu xuân đi nữa, lòng hằng hoài vọng. Chí Thánh dầu bị đoạ trần, lòng hỡi còn nhớ hoài nơi Tiên cảnh. Nếu chẳng vậy, ai còn dám ưng thuận hạ thế cứu đời?

Ðường trào hạ thế hưởng Tam quan,

Chẳng vị công danh chỉ hưởng nhàn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tuy quyền Thầy chí Thánh mà rằng,

Không hạ thế, xác thân đâu chiếu dụ.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

 

 

HẠ THỌ

下 壽

Hạ: Dưới, thấp. Thọ: Sống lâu.

Tuổi thọ con người có nhiều thuyết phân chia:

Theo Trang Tử, trên sáu mươi tuổi là Hạ thọ, trên bảy mươi tuổi là Trung thọ và trên tám mươi tuổi là Thượng thọ.

Theo Ấu Học Quỳnh Lâm thì bách tuế viết Thượng thọ, bát thập viết Trung thọ, lục thập viết Hạ thọ. Bát thập viết Điệt, cửu thập viết Mạo, bách tuế viết kỳ hy 百 歲 曰 上 壽, 八 十 曰 中 壽, 六 十 曰 下 壽. 八 十 曰 耋, 九 十 曰 耄, 百 歲 曰 奇 希, nghĩa là trăm tuổi là Thượng thọ, tám mươi tuổi là Trung thọ, sáu mươi tuổi là Hạ thọ. Người tám mươi tuổi gọi là Điệt, người chín mươi tuổi gọi là Mạo, người một trăm tuổi gọi là Kỳ hy.

Hôm nay Hạ thọ mừng chưa mấy,

Trung, Thượng sau vui gấp bội phần.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

HẠ THỪA

下 乘

Hạ: Dưới, thấp. Thừa: Bực.

Hạ thừa là bực dưới, bực thấp. Theo Tân Luật, trong hàng tín đồ của Đạo Cao Đài được chia làm hai bực: Hạ thừa và Thượng thừa.

Hạ thừa là người còn ở thế, có vợ, hoặc chồng, phải ăn chay từ 6 đến 10 ngày một tháng, giữ Ngũ Giới cấm, luật pháp Đại Đạo.

Thượng thừa là một tín đồ giữ trường trai, giới sát, giữ Tứ Đại Điều Quy và luật pháp của Đại Đạo.

Trong hàng hạ thừa, ai giữ trai kỳ từ mười ngày sắp lên được thọ truyền bửu pháp, vào Tịnh thất có người chỉ luyện Đạo.

(Tân Luật).

 

 

HẠ TRẦN

下 塵

Hạ: Xuống. Trần: Cõi trần, tức cõi thế gian.

Hạ trần là đầu kiếp xuống cõi trần. Đồng nghĩa với chữ “Hạ thế 下 世”.

Thánh giáo Thầy có câu: Mỗi phen Thầy đau thảm khóc lóc các con, phải lén hạ trần, quyết bỏ ngôi Chí Tôn xuống lập Ðạo, lại bị các con bạc đãi, biếm nhẻ, xua đuổi, bắt buộc đến đỗi phải chịu cho các con giết chết!

Ăn nằm nín nẩm đợi Chơn Quân,

Ta quyết sẽ cho kẻ hạ trần.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

HẠ VÕ

夏 禹

Hay “Hạ Vũ”.

Hạ Võ là vị vua đời nhà Hạ thời Thượng cổ của Trung Quốc, lên ngôi 2205 trước kỷ nguyên, làm vua được tám năm.

Trước ông là vị quan đại thần của vua Thuấn, trị được nạn lụt của sông Hoàng Hà, sau được vua Thuấn truyền ngôi cho.

Hạ Võ là vị vua hiền minh, rất chuộng hiền tài, nên thường treo tại trước sân chầu năm thứ nhạc khí: Chung, cổ (Trống lớn), khánh, đạc (Mõ dài), đào (Trống nhỏ) và kèm theo lời bố cáo: Ai dẫn mở điều đạo đức xin đánh trống lớn, luận điều nghĩa xin đánh chuông, cho biết sự chi xin đánh mõ, có chuyện ưu buồn xin đánh khánh, có việc kiện thưa xin đánh đào (Trống nhỏ).

Ái vật Thành Thang quên dở ná,

Yêu dân Hạ Võ mặc hài gai.

(Bát Nương Giáng Bút).

Vua Hạ Võ chăn dân trị thuỷ,

Đào sông Lương sông Vị lưu thông.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

HẠC

Hạc là một loài chim cao cẳng, mỏ nhọn, cổ dài, thường dùng tượng trưng cho sống lâu.

Như: Trong như tiếng hạc bay qua, sớm khuya tiếng hạc tiếng đàn tiêu dao.

Thánh giáo Thầy có dạy: Ðạo mầu tìm đến, lấy hạnh đức giồi tâm, mượn nâu sồng lánh thế, càng dìu sanh chúng, càng bước bước càng cao, lên tột mây xanh, vẹt ngút trông vào cảnh cực lạc an nhàn, non chiều hạc gáy, động tối quy chầu, ấy là khách Tiên gia lánh khỏi đoạ luân hồi nơi cõi thế vậy.

Lộc Hớn từ vinh Trương học chước,

Cầm đường tiếng hạc phủi muôn chung.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cặp liễn tang còn câu long ám,

Hạc quy hồi lãnh đạm trần ai.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

HẠC CẦM

鶴 琴

Hạc: Chim hạc. Cầm: Cây đờn.

Hạc cầm có nghĩa là con chim hạc và cây đàn.

Hạc cầm, bởi tích Triệu Thanh Hiến đời nhà tống được triều đình cho trấn giữ đất Thục.

Khi đi phó nhậm, ông không đem theo vợ con hay đầy tớ chi cả, mà chỉ đi một mình cùng với một cây đàn và một con chim hạc.

Hạc cầm dùng để chỉ làm quan phong lưu nhàn hạ.

Nương bóng hạc cầm vui ít kẻ,

Hay chi quỳ lạy đứng ngoài sân.

(Đạo Sử).

Túi gió trăng thinh thinh rộng mở,

Vui hạc cầm hay dở thú riêng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

HẠC NỘI

鶴 內

Hạc: Chim hạc. Nội: Đồng nội.

Hạc nội là hạc tung bay trong đồng nội, có ý chỉ sự phiêu bạc, rày đây mai đó, không bị ràng buộc, hoặc chỉ sự nhàn nhã, thung dung tự tại.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng có dạy: Có mối Ðạo dìu mình được tự do thiêng liêng, mà cái tự do thiêng liêng ấy, ta hãy làm con hạc nội mới mong chiếm được.

Non núi trời mây sao chẳng nhớ,

Lo theo hạc nội với quy đồng.

(Đạo Sử).

Lánh nẻo công danh bước nhẹ mình,

Thong dong hạc nội giữa trời xanh.

(Thơ Thuần Đức).

Tỉnh giấc mộng vàng làm hạc nội,

Mùi hương Cực Lạc mới thơm tho.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

HẠC NỘI GÀ LỒNG

Hạc nội: Hạc ở ngoài đồng nội. Gà lồng: Gà bị nhốt trong lồng.

Hạc nội gà lồng, do chữ “Lung kê dã hạc 籠 雞 野 鶴”, tức là hạc thì tung bay ngoài đồng nội, còn gà thì bị nhốt trong lồng, ý muốn ví kẻ bị danh lợi ràng buộc như gà lồng, còn người thì thoát tục được tự do như hạc nội.

Đức Lý Thái Bạch có câu: Lung kê hữu mễ thang oa cận, Dã hạc vô lương thiên địa khoan 籠 雞 有 米 湯 堝 近, 野 鶴 無 糧 天 地 寬, nghĩa là gà lồng có lúa ăn hằng ngày, mà nồi nước sôi cận kề, không biết bị giết ngày nào; chim hạc ở nội đồng, tuy bữa đói bữa no, nhưng trời đất rộng thinh, mặc tình bay lượn.

Bụng trống thảnh thơi con hạc nội,

Lúa đầy túng tíu phận gà lồng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

HẠC VỀ HUÊ BIỂU

Hay “Hạc về hoa biểu”.

Hạc về huê (hoa) biểu là chim hạc bay về đậu trên trụ Hoa biểu, ý nói người đã quy vị.

Do tích: Đinh Lệnh Uy ngày xưa chết đi, hồn hoá ra con chim hạc, thường đêm bay về đậu trên cây Hoa biểu. Trong cổ thi lại có câu: Vân ám đỉnh hồ, long khứ viễn, Nguyệt minh hoa biểu, hạc quy trì 雲 暗 鼎 湖, 龍 去 遠; 月 明 華 表, 鶴 歸 遲, nghĩa là mây phủ đỉnh hồ rồng bay khuất bóng trăng soi trụ hoa, hạc bay về muộn.

Xem: Hoa biểu.

Hạc về để tủi lòng huê biểu,

Nhạn lạc kêu sầu nỗi tóc tơ.

(Thơ Cao Liên Tử).

Hạc về huê biểu tủi ngùi ngùi,

Nhạn lại hoành dương trông thẳm thẳm.

(Tuý Sơn Vân Mộng).

 

 

HAI

Hai là một số đếm, đứng sau số một, trước số ba. Như: Hai sương một nắng, đầu hai thứ tóc.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Các con coi bậc Chí Tôn như Thầy mà hạ mình đặng độ rỗi nhơn sanh là thế nào, phải xưng là một vị Tiên Ông và Bồ Tát là hai phẩm chót của Tiên, Phật.

Lộc nước gắng đền công chín tháng,

Nợ nhà tua vẹn gánh hai vai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cơm ngày hai bữa vừa no dạ,

Bạc chứa vàng chôn chẳng ích gì.

(Đạo Sử).

 

 

HÁI

Hái là ngắt, tức dùng tay làm cho hoa, quả, cành, lá đứt lìa khỏi cây để lấy về.

Trong quyển Giáo Lý Ngài Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có viết: Nhơn chỉ về hạt giống, Quả chỉ về trái mới sanh. Tóm lại, Nhơn Quả có nghĩa đen là gieo giống nào thì hái trái ấy.

Bắt ốc hái rau phương đỡ dạ,

Dầm mưa chải gió tái tê lòng.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

HÀI

1.- Hài là kể hết ra, nói rõ ra, hoặc liệt kê ra với hàm ý phê phán, chỉ trích.

Như: Hài danh, hài tánh, hài tên cha mẹ anh ấy, hài tội lỗi của nó đã làm.

Đừng buông lời lỗ mãng hài tên,

Nhà gia pháp dưới trên cho phải mặt.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Hài là hoà, thoả. Như: hài lòng, duyên hài.

Trong Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Thầy lấy làm hài lòng và vẫn bố hoá tâm trí các con luôn. Thầy chỉ khuyên các con phải giữ thế nào cho Ðạo được trong sạch, phần cá nhơn của các con cũng phải được hoàn toàn trong sạch. Ðạo trong sạch, người trong sạch thì tôn chỉ của mối Chánh truyền mới thật hành châu đáo đúng theo lẽ huyền vi.

Nhiều trai gái duyên hài lỡ dở,

Tại chim xanh dụng mở mối đường.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Hài là bộ xương người, thường dùng cho người chết. Như: Thể hài, thi hài, hài cốt.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có dạy: Tâm Thánh là ngôi vị của Ðấng thiêng liêng, không lo trau giồi thì cũng còn tự nhiên vì vẻ đẹp, còn vẻ đẹp thiên nhiên đã mang nặng thi hài nơi khổ cảnh nầy mà không mất thì đoạt vị đã đặng rồi, lại cần ai nâng đỡ.

Thi hài như gỗ biết gì,

Linh hồn là chủ thông tri việc đời.

(Kinh Sám Hối).

Cực với trẻ nghĩa nhơn càng nặng,

Hình hài con há đặng xẻ chia đôi.

(Phương Tu Đại Đạo).

4.- Hài là giầy, loại giầy thời xưa. Như: Áo bả hài gai, hài văn lần bước dặm xanh.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Còn về mặt thế, nó giống như Vua David vì tội tình nhơn loại mà buổi nọ ra đồng Sa mạc cầu đảo, xin giải pháp cứu khổ cho dân Y sơ Ra Ên, giống như Vua Hạ Võ mặc hài gai đội nón lá, chịu phong trần đặng cầu đảo cho quốc dân khỏi tội.

Hài gai đội nguyệt lòng trong sạch,

Áo bả mang sao, dạ trắng ngần.

(Thơ Phạm Mộc Bổn).

 

 

HÀI CỐT

骸 骨

Hài: Nói chung về hình thể. Cốt: Xương.

Hài cốt cũng như cốt hài, là bộ xương con người. Hài cốt còn dùng để chỉ bộ xương khô của người chết.

Lời căn dặn của Đức Hộ Pháp có câu: Có một điều nên để ý là làm sao ngày quy liễu, gởi thánh cốt tại đất Thánh Địa vì trái địa cầu 68 nầy không có chổ đất nào quý hoá cho bằng đất Thánh Địa, nếu để được cốt hài nơi đây rồi thì rất hạnh phúc cho tương lai con cháu.

1.- Chỉ bộ xương hình thể con người:

Dầu hài cốt trăm năm cũng vậy,

Khối tình thương chẳng lấy chi nhiều.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Đôi mặt cách mà lòng vẫn một,

Khác tông môn hài cốt hoà chung.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Cữ hoa nguyệt bớt đi thì tốt,

Tinh khí đầy hài cốt trẻ tráng cường.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Chỉ bộ xương người chết:

Công nghiệp còn ghi rạng chốn đài vân,

Hài cốt dẫu chôn vùi miền quan tái.

(Chiêu Hồn Tử Sĩ).

Hài cốt tuy mai tam xích thổ,

Tinh thần siêu thoát Cửu Trùng Thiên.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

HÀI GAI

Hài: Giày. Gai: Một loại cây dùng vỏ làm sợi.

Hài gai là giày kết bằng sợi gai.

Thành ngữ Việt có câu: “Áo bả hài gai” là nói việc ăn mặc tiện tặn, đơn giản như mặc áo bằng vải thô, mang giày sợi gai, ý chỉ việc ăn mặc của người tu hành, ẩn dật.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy nhớ xưa, kẻ mộ Ðạo chịu ngàn cay muôn đắng, biết có người mà chẳng biết nhọc mình, hài gai áo bả, đội nguyệt mang sao, gió trước lọt chòi tranh, mưa sau hư giậu lá, bần hàn chẳng quản, tay trắng dìu người, một mảy không bợn nhơ, mới có thể lập ngôi cho mình đặng.

Ái vật Thành Thang quên dở ná,

Yêu dân Hạ Võ mặc hài gai.

(Bát Nương Giáng Bút).

Vui say mùi Đạo chán tuồng đời,

Áo bả hài gai chí thảnh thơi.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

HÀI HOÀ

諧 和

Hài: Thoả, hoà nhau. Hoà: Không cạnh tranh nhau.

Hài hoà là có sự cân đối giữa các yếu tố, các thành phần, gây ấn tượng về cái hoàn hảo, cái đẹp.

Như: Mọi người hài ho à nhau, bức tranh rất đẹp có màu sắc hài hoà.

Tông đường quyến thuộc gần xa,

Hài hoà gia đạo mới là vui tươi...

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

HẢI

Hải là biển. Như: Hải cảng, hải đảo, hải ngoại, Tứ hải ngũ hồ, khổ hải.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Thầy vì đức háo sanh, nên chẳng kể bực Chí Tôn cầm quyền thế giới, đến lập Ðại Ðạo Tam Kỳ trong lúc hạ nguơn nầy mà vớt sanh linh khỏi vòng khổ hải.

Tang thương đã biến cuộc hầu gần,

Bắc hải rồi sau lại hoá sân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Hào hiệp lòng quen kết nghĩa cùng,

Anh hùng tứ hải bước thung dung.

(Đạo Sử).

Không toan sớm đói chiều no,

Lựa là tứ hải ngũ hồ giúp nhau.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

HẢI ĐẢO

海 島

Hải: Biển. Đảo: Khoảng đất rộng lớn, có nước bao quanh, ở sông hồ biển.

1.- Hải đảo tức là hòn cù lao, hoặc khoảng đất rộng lớn nhô cao nổi giữa mặt biển.

Giảng về Đạo Cao Đài Hy Sinh Vì Chủ Nghĩa, Hộ Pháp có câu: Có lẽ toàn cả con cái Đức Chí Tôn cũng còn nhớ, cái ngày mà Bần Đạo ở Hải Đảo trở về đây sau năm năm bị đồ lưu nơi hải ngoại.

Lúc Chánh quyền Pháp đày ra Hải đảo Madagascar. Trong đó nhiều vị Chức Sắc Đại Thiên Phong cũng chung chịu ảnh hưởng.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

2.- Hải đảo còn dùng để chỉ nơi ở của các vị Tiên.

Khi động Thánh, lúc non Tiên,

Sớm thì hải đảo, tối miền Thiên Thai.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Ngư ông nhàn nhã thú câu thuyền,

Hải đảo làm quen những Tán Tiên.

(Thơ Thái Phong).

 

 

HẢI ĐƯỜNG

海 棠

Hải đường là tên một loài hoa đẹp, có thân cây to, lá hình trứng, hoa đỏ không hương, đến đêm thì lả ngọn.

Hoa Hải đường có nhiều tên: Tây phủ, Thuỳ ty, Niêm ngạnh... có hoa màu cung phấn đỏ nhạt, không hương, hoa nở rất đẹp thường ví với người con gái đẹp.

Theo Thái Chân Ngoại Truyện, một hôm vua Đường Minh Hoàng ngự lên Trầm Hương đình cho vời Dương Quý Phi, Quý Phi còn hơi men chưa tỉnh. Minh Hoàng bảo thị nữ dìu đến, Minh Hoàng cười bảo: Khải thị phi tử tuý, chân hải đường thuỵ vị túc nhỉ 豈 是 妃 子 醉, 真 海 棠 睡 未 足 耳, nghĩa là sao lại bảo phi tử say, chính thật là hoa hải đường ngủ chưa đầy giấc đấy!

Vườn thu giấu dạng Hằng Nga,

Hải đường nở muộn mặn mà ái phong.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Khăn mây che khuất Chương đài liễu,

Quạt gió lay rung đoá hải đường.

(Lục Nương Giáng Bút).

Ác xế nâng cao bóng hải đường,

Xa tên nhờ bởi nặng cung trương.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

HẢI GIÁC THIÊN NHAI

海 角 天 涯

Hải giác: Góc biển, lục địa ví như từ dưới biển nổi lên, chung quanh có góc, gọi là góc biển. Thiên nhai: Bên trời, chỉ chỗ xa xôi nhất của trời.

Thành ngữ nầy được dịch sang Việt ngữ là “Góc bể chơn trời”, dùng để chỉ nơi xa xôi nhứt.

Xem: Gốc bể chơn trời.

Dấu nhạn khôn tìm nơi hải giác,

Cánh hồng khó gặp chốn thiên nhai.

(Thơ Hoàng Thu Phong).

 

 

HẢI HÀ

海 河

Hải: Biển. Hà: Sông.

Hải hà là chỉ biển và sông.

Hải hà còn dùng để chỉ tấm lòng rộng rãi, bao la như sông dài biển rộng. Hải hà thường nói về lòng độ lượng.

Tây phương cõi Phật chói loà,

Từ bi Phật Tổ hải hà độ dân.

(Xưng Tụng Công Đức).

 

 

HẢI HỒ

海 湖

Hải: Biển. Hồ: Vũng nước sâu và rộng.

1.- Hải hồ, như chữ “Hồ hải 湖 海”, là biển và hồ, ý nói đi lang bạt khắp mọi nơi.

Hải hồ đưa bước đã cùng nơi,

Ngặt nỗi chưa hay biết mặt Trời.

(Đạo Sử).

2. Hải hồ còn dùng với nghĩa bóng là có chí khí kẻ anh hào.

Ta trôi nửa kiếp duyên bình thuỷ,

Bạn lộng ngàn phương chí hải hồ.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

HẢI YẾN HÀ THANH

海 晏 河 清

Hải yến: Biển yên lặng. Hà thanh: Sông Hoàng Hà trong. Hải yến hà thanh là biển lặng sông trong.

Hải yến hà thanh, như chữ “Hà thanh hải yến 河 清 海 晏”, là sông trong biển lặng, ý chỉ thiên hạ thái bình, dân cư an lạc.

Do sách Ấu Học Quỳnh Lâm có câu: Hà thanh hải yến, triệu thiên hạ chi thăng bình 河 清 海 晏, 兆 天 下 之 升 平, nghĩa là sông trong biển lặng, ứng điềm trong thiên hạ được thái bình.

Một nguyền hải yến an tha chủng,

Hai khẩu hà thanh thịnh bổn bang.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

HẢI NGOẠI

海 外

Hải: Biển. Ngoại: Ngoài.

Hải ngoại là ngoài biển khơi.

Hải ngoại còn dùng để chỉ nước ngoài, như: Bôn ba hải ngoại.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Thật vậy, Giáo Lý đã được Cơ Quan Phát Thanh phổ truyền sâu rộng từ quốc nội đến hải ngoại mà tiếng nói đó là tiếng nói của Hội Thánh.

Cơn gió vụt thuyền bong hải ngoại,

Phải lẹ tay bịn lấy dây lèo.

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 

HẢI THỆ

海 誓

Hải: Biển. Thệ: Thề.

Hải thệ là thề với biển, tức là lời thề về tình duyên keo sơn bền chặt.

Thành ngữ thường có câu: “Hải thệ sơn minh 海 誓 山 盟” là biển thệ non nguyền.

Xem: Hải thệ sơn minh.

Nhấn ngón dường khêu lời hải thệ,

Búng dây như thúc dải tâm đồng.

(Thơ Mỹ Ngọc).

Vợ yếu, đâu quên lời hải thệ,

Mẹ già, cũng đoái nghĩa hoài thai.

(Thơ Mỹ Ngọc).

 

 

HẢI THỆ SƠN MINH

海 誓 山 盟

Hải thệ: Thề với biển. Sơn minh: Nguyền với núi.

Hải thệ sơn minh tức là biển thệ non nguyền.

Ngày xưa, mỗi khi trai gái thề nguyền về nhân duyên, thường bày bàn hương án giữa trời, chỉ sông núi mà thề hẹn với nhau. Ngụ ý lời thề bền chặt như có biển và núi ghi tạc.

Xem: Thệ hải minh sơn.

Vì chàng thiếp kết bố kinh,

Giữ câu hải thệ sơn minh với nàng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

HẢI THƯỢNG

海 上

Hải Thượng tức là Hải Thượng Lãn Ông 海 上 懶 翁, là hiệu của vị danh y nước ta đời nhà Lê, tên thật là Lê Hữu Trác.

Ông là người ở Liêu Xá, huyện Đường Hào (nay thuộc huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên), đỗ Hương cống, nhưng không thích công danh, vào ở ẩn trong núi thuộc huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tỉnh.

Ông là tác giả pho sách giá trị khảo cứu về y học và thảo dược học, gồm 63 quyển, soạn năm 1772 gọi là “Hải Thượng Y Tông Tâm Tĩnh” (Gọi tắt là Lãn Ông Y Tập).

Hoa Đà tái thế nêu tài đức,

Hải Thượng độ đời rạng nghĩa nhân.

(Thơ Chơn Tâm).

Âu, Á lừng danh bao thế hệ,

Pasteur, Hải Thượng tấm gương ngời.

(Thơ Thành Toại).

 

 

HÃI

Hãi là sợ, khiếp. Như: Sợ hãi, kinh hãi, hãi hùng.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Muốn giữ cái tâm cho chính, sự sợ hãi, sự vui say, sự ưu hoạn, làm cho cái tâm ta chênh lệch xao xuyến vì một khi tâm bị loạn thì mắt không trông thấy, tai nghe không hiểu, ăn không biết mùi, tất nhiên ta chẳng còn phân biệt được tà chánh ngay gian mà xử sự đúng theo đạo lý.

Chúng ta đã ngó thấy, từ cổ chí kim có cái cường lực hình thể nào làm cho họ khủng khiếp, sợ hãi chăng?

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

HÃI HÙNG

Hãi: Kinh sợ, kinh hãi. Hùng: Dữ tợn.

Hãi hùng là sự kinh hãi đến mức khủng khiếp. Ví dụ như: Trận động đất đã xảy ra hãi hùng.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Có khi người trái chủ đó đầu kiếp một lượt thì họ có phương thế làm đặng trả, là may duyên cho họ lắm; nếu rủi người chủ trái không đến thì họ phải đầu kiếp mãi tìm cho đặng người chủ nợ ấy, làm tôi mọi cho họ đặng trả nợ, ấy là một phương pháp mà các chơn linh hãi hùng sợ sệt hơn hết.

Tiêu tàn tận thế ắt đời rồi,

Nghe sợ hãi hùng phải nín hơi.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Chiến tranh đất nước còn đau khổ,

Tang tóc nhơn sanh vẫn hãi hùng.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

HÃI KINH

駭 驚

Hãi: Sợ sệt. Kinh: Khiếp.

Hãi kinh, như chữ “Kinh hãi 驚 駭”, hãi hùng kinh sợ, ý muốn nói khiếp sợ đến nỗi không còn hồn vía.

Như: Sau trận chiến, vườn ruộng tiêu tan, nhà cửa nghiêng sụp thấy mà hãi kinh.

Dầu nghiệt chướng số căn quả báo,

Đừng hãi kinh, cầu đảo Chí Tôn.

(Kinh Tận Độ).

Lập trận tru Tiên thấy hãi kinh,

Thần Tiên vào đó cũng ghê mình.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

HẠI

Hại là thiệt thòi, hao tổn. Như: Hại nhà, hại sức.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Ðạo phát trễ một ngày là một ngày hại nhơn sanh. Thầy nôn nóng nhưng mà Thiên cơ chẳng nghịch đặng, nên phổ thông trắc trở.

Cao lương mỹ vị hại thân phàm,

Hỏi thử thế đời mấy món tham?

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Liền nhành xưa đã thệ cùng nhau,

Sao nỡ để gương kép hại đào.

(Đạo Sử).

 

 

HẠI VẬT

害 物

Hại: Hao tổn, thiệt thòi, giết. Vật: Tiếng chỉ chung các loài, các thứ có hình trong trời đất.

Hại vật là làm hại các sinh vật, tức tiêu diệt mạng sống của các loài sinh vật.

Như: Sát sanh hại vật.

Kể từ ngày ban hành luật nầy, người bổn đạo chẳng nên chuyên gì làm cho sát sanh, hại vật...

(Tân Luật).

 

 

HAM

Ham là thích đến mức lúc nào cũng nghĩ đến. Như: Hàm danh lợi, ham tiền tài.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Ðứa thì mê tài, đứa thì ham cận sắc, đứa bị biếm vào lối lợi quyền, đứa bị xô vào nơi thất đức. Mỗi đứa mỗi nẻo, đều quăng sạch chất thiêng liêng, lầm lủi đưa tay theo mấy mươi động.

Ðai cân mảng luyến chưa nên phận,

Danh lợi ham giành khó vẹn ngôi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Bởi ham bóng sắc hơn chì,

Mỹ nhân thấy dạng kể gì đến duyên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

HAM ĐÓ BỎ ĐĂNG

Đó đăng: Hai thứ dụng cụ dùng để bắt cá, thường ví với người đàn bà.

Đó là một vật được đan bằng tre có hình ống, hay hình nón trong có hom để cá chun vào được, nhưng không ra được.

Đăng là bện tre thành hàng cắm dưới sông theo hình phểu để chận cá vào cái đó mà bắt.

Ham đó bỏ đăng ý nói ham mê cái mới, bỏ bê cái cũ, tức là có mới nới cũ.

Nghĩa bóng: Chỉ người thay lòng đổi dạ, vợ chồng không chung thuỷ nhau.

Xem: Tham đó bỏ đăng.

Đừng để dạ tham giàu phụ khó,

Mà ra lòng ham đó bỏ đăng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

HAM MUỐN

Ham: Thích đến mức hầu như lúc nào cũng nghĩ đến. Muốn: Mong mỏi, thích cho được.

Ham muốn là ham thích và mong mỏi cho được. Như: Lòng ham muốn tiền bạc.

Thánh giáo Thầy có dạy: Các con, phần nhiều chư Môn Ðệ ham muốn phong tịch, nhưng chưa hiểu phong tịch là gì? Thầy để lời cho các con biết rằng: Nhiều Thánh, Tiên, Phật, xuống phàm nếu căn quả tiền khiên không mấy trọng hệ, nghĩa là kiếp trần duyên không chi phải nhơ bợn nhiều, thì dầu không Thiên Phong hễ gắng tâm thiện niệm thì địa vị cũng đạt hồi đặng.

Tróng gông nô lệ sao ham muốn?

Hình bóng quan viên xúm giựt giành.

(Đạo Sử).

 

 

HÁM

Hám là tham muốn. Như: Hám lợi, hám danh, hám vọng, hám lợi xu danh.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Mãi đến ngày 27-7-1941 Bần Ðạo bị đồ lưu nơi Hải ngoại, chính mình làm đầu Thánh Thể mà tự nghĩ xét làm không tròn phận sự đối với Ðời với Ðạo, trong tâm có nuôi hám vọng là vui chịu bắt lưu đày, để gánh khổ cho nước nhà thoát đọa.

Công khó hay than cho nỗi khó,

Ðiều sang tánh lại hám mùi sang.

(Đạo Sử).

Lợi hám danh ưa tua lánh chốn,

So đo sang trọng với Bồng Lai.

(Đạo Sử).

 

 

HÁM LỢI XU DANH

噉 利 趨 名

Hám lợi: Muốn lợi, ham muốn đến mức không còn phân biệt đáng với không đáng, nên với không nên. Xu danh 趨 名: Chạy theo danh.

Hám lợi xu danh là ham muốn lợi lộc, chạy theo tiếng tăm, không phân biệt việc phải hay không phải.

Như: Tâm còn hám lợi xu danh thì không thể nào tu bền vững được.

Tâm trí bất định, đạo hạnh không hoàn toàn thì con đường hám lợi xu danh tới hang sâu vực thẳm đó...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

HÁM VỌNG

噉 妄

Hám: Tham, muốn. Vọng: Càn bậy.

Hám vọng là ham muốn những cái càn bậy.

Trong quyển Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Thánh giáo Thầy có dạy: Ừ, nhưng mà Liêm, Thầy phải bỏ phế cho Ca thay thế cho nó, nhưng hạnh đức chẳng hoàn toàn vì lo hám vọng, Thái Bạch chưa định, nghe Thầy.

Nước nhà ta bị trên tám mươi năm lệ thuộc, giờ đây thấy trước mắt mà họ còn đương mê muội đang hám vọng.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

HÀM

1.- Hàm là ngậm, không đứng một mình.

Như: Hàm ân, hàm mai, hàm oan, hàm tiếu.

Nói ra thêm nghẹn.. chẳng thà câm,

Đành chịu hàm oan há chịu lầm.

(Thơ Thái Phong).

2.- Hàm là bậc quan, tức phẩm trật trong quan chế. Như: Quan hàm, phẩm hàm, hàm tri phủ.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có câu: Mỗi đứa con đều có tên trong Thiên thơ cả, chức phận cũng đã tiền định, chớ chẳng phải tước hàm trần thế dâng cho kẻ lễ nhiều.

Nọ binh lính Tổng làng chộn rộn,

cũng lũ ngu ăn hỗn.

Mua phẩm hàm tước hộ cầu tôn,

tiền ngàn không sợ tốn.

(Ngụ Đời).

3.- Hàm là chức vụ về danh nghĩa, chứ không có quyền hành chánh trong quan chế ngày xưa.

Đối với tôn giáo Cao Đài, những vị Chức sắc vì tuổi già sức yếu không thể tiếp tục hành Đạo nữa, thì được Hội Thánh cho hàm phong, tức vẫn mang phẩm vị cũ, nhưng không có quyền hành chánh.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập Thánh giáo Đức Quan Âm Như Lai có câu: Những vị chẳng có Minh thệ khá tỷ như Chức sắc hàm mà thôi, chẳng nên giao Pháp Chánh của Đạo, ấy là cơ thể để trừ tuyệt sự rối loạn của Đạo.

Nên nhớ, Hội Thánh Phước Thiện không có hàm chức như Hành Chánh, phải đi theo lên cho tới tột phẩm Phật Tử.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

HÀM HỒ

Hàm hồ là chỉ về sự nói năng thiếu căn cứ, không phân rõ đúng sai, hay không đúng với sự thật.

Như: Nó ăn nói hàm hồ.

Quân vọng ngoại hàm hồ nối giáo,

Bọn xâm lăng ngụy tạo giấu tờ.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

HÀM OAN

含 冤

Hàm: Ngậm. Oan: Oan ức.

Hàm oan là những nỗi oan ức đành ôm ấp trong lòng, chớ không kêu cầu ai được.

Trong Pháp Chánh Truyền Chú Giải có viết: Khi nào có Toà Tam Giáo Cửu Trùng Đài xử đoán rồi mà người bị cáo còn uất ức, hàm oan thì mới kêu nài đến Toà Tam Giáo Hiệp Thiên Đài.

In như Tề phụ chịu hàm oan,

Nết Thánh mà ai cũng gọi phàm.

(Đạo Sử).

Trong chín năm lo toan gầy Đạo,

Chịu hàm oan khảo đảo thị phi.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

HÀM PHONG

銜 封

Hội Thánh Hàm Phong”.

Hàm: Nghỉ chức vụ (quyền hành), nhưng còn giữ phẩm tước. Phong: Vua hay Hội Thánh ban phẩm tước.

Trong Tôn Giáo Cao Đài, Chức sắc Hàm phong là những vị Chức sắc vì tuổi già sức yếu nên xin ngưng việc hành Đạo, song vẫn mang phẩm vị cũ.

Các vị Chức sắc Hàm phong nam nữ nằm trong Hội Thánh Hàm Phong, vẫn còn có thể lập công, nếu công quả xứng đáng thì đúng lệ 5 năm cũng đặng dự cầu thăng Hàm phong theo đẳng cấp, nhưng liễu đạo trước ngày cầu thăng thưởng cũng đặng Hội Thánh xét công nghiệp cầu truy phong thăng thưởng.

Hội Thánh Hàm Phong là một tổ chức của Đạo gồm tất cả các chức sắc hàm phong nam nữ. Hội Thánh Hàm Phong hoạt động theo nội quy riêng, được Đức Hộ Pháp giao phó cho nhiệm vụ giáo hoá và kiểm tra nền Đạo.

Văn phòng Hội Thánh Hàm Phong được xây dựng trong Nội Ô Toà Thánh, trên đại lộ Phạm Hộ Pháp, gần Y viện Hành chánh. Ngoài cổng có đề hai đôi liễn như sau:

Thánh Hội niên cao, cố vấn Cửu Trùng, tâm bất quyện.

聖 會 年 高 顧 問 九 重 心 不 倦

Hàm Phong đức thiệu, chấp trung nhứt quán, vị hà ưu.

銜 封 德 邵 執 中 一 貫 位 何 憂

Nghĩa là:

Chức sắc lão thành của Hội Thánh, làm cố vấn cho Cửu Trùng Đài, lòng không mỏi.

Bậc Hàm Phong đức trọng, nắm giữ Đạo Nhứt quán của Khổng Tử, lo gì không đạt được ngôi vị.

 

Những vị nào đủ công nghiệp mà đã quá lục tuần đặng đem vào thông quy cầu Hàm phong...

(Đạo Luật Mậu Dần).

 

 

HÀM SÚC

涵 蓄

Hàm: Dung nạp. Súc: Chứa, cất.

Hàm súc là có ý tứ mà không lộ ra, nói khác đi là có chứa đựng bên trong nhiều ý sâu sắc.

Sách Giáo Lý của Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có câu: Tử Hạ nói rằng: “Bác học nhi đốc chi; Thiết vấn nhi cận tư. Nhân tại kỳ trung”, nghĩa là: Sự học hỏi phải rộng rãi; chí hướng phải dày dặn, sự hỏi han cần thiết; sự suy nghĩ phải có dính dấp với mình. Trong những việc ấy hẳn có hàm súc đức “Nhân” vậy.

Chữ nhân vẫn hàm súc luôn cái nghĩa của chữ Ái, có nhân mới có ái, có ái mới có lòng thương người yêu vật...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

HÀM TIẾU

含 笑

Hàm: Ngậm, không dùng một mình. Như: Hàm ân, hàm oan, hàm tiếu. Tiếu: Cười.

Hàm tiếu là ngậm cười, hoặc chỉ cái bông hoa vừa hé nở. Như: Hoa hàm tiếu.

Em gái út thước tha yểu điệu,

Má đào xinh hàm tiếu nụ cười

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

HÀM THIẾC

Hàm: Phần xương ở vùng miệng, có chức năng cắn, giữ và nhai thức ăn. Thiếc: Một thứ kim loại, sắc trắng như bạc, mềm, nấu dễ chảy.

Hàm thiếc là bộ phận bằng sắt đặt giữa hai hàm răng của ngựa để buộc dây cương.

Con ngựa ấy là con kỵ vật tức là Tinh, Pháp là dây cương con ngựa, mà trọng yếu hơn hết là đồ bắt kế con ngựa là hàm thiếc, chưn đưng kềm con ngựa chạy ngay con đường mình muốn tức là Tinh.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

HÃM

1.- Hãm là làm cho không thể tự do hoạt động, hành động được.

Như: Hãm địch quân lâm vào thế bí, quân địch bao vây để hãm thành.

Thói đời hãm chặt vào khuôn,

Ðương còn cá chậu chim chuồng khổ lao.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Biết bao chức sắc điêu linh,

Ngậm cay nuốt đắng hãm mình một nơi.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

2.- Hãm là mắc vào tội lỗi.

Như: Sao con không can ngăn em để nó hãm vào điều bất nhân bất nghĩa.

Em đã liệu nhiều phương thế cho từ đây mấy chơn hồn có bề dễ tránh khỏi cửa Âm quang hãm tội.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

HÃM HẠI

陷 害

Hãm: Mưu hại, mắc vào. Hại: Làm thiệt hại cho người khác.

Hãm hại là làm cho bị hại, bị giết bằng những thủ đoạn ám muội.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Sưu Tập có câu: Thầy nỡ nào mà xô đuổi các con, vì các con đứa lại có lòng hiểm, đứa lại khẩu Phật tâm xà, xen vào các con thì lấy tình riêng mà trông mong hãm hại các con, nên Thầy chẳng dùng kẻ ấy, Thầy mới đuổi nó ra khỏi vòng đạo đức.

Chớ quyệt ngữ mà khinh kẻ dại,

Đừng gian mưu hãm hại người hiền.

(Kinh Sám Hối).

 

 

HAN

Han là thăm hỏi để bày tỏ sự quan tâm, chăm sóc. Như: Hỏi han sức khoẻ.

Truyện Kiều của Nguyễn Du có câu: Trước xe lơi lả han chào, Vâng lời nàng mới bước vào tận nơi.

Sách Giáo Lý của Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có câu: Tử Hạ nói rằng: “Bác học nhi đốc chi; Thiết vấn nhi cận tư. Nhân tại kỳ trung”, nghĩa là: Sự học hỏi phải rộng rãi; chí hướng phải dày dặn, sự hỏi han cần thiết; sự suy nghĩ phải có dính dấp với mình. Trong những việc ấy hẳn có hàm súc đức “Nhân” vậy.

Dầu chẳng kẻ tay trao cơm vắt,

Trông có người biết mặt hỏi han mình.

(Phương Tu Đại Đạo).

Gặp điều chi ví muốn hỏi han,

Cứ cửa giữ chun ngang định liệu.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

HÁN CHIÊU QUÂN

漢 昭 君

Hán (Hớn): Đời nhà Hán. Chiêu Quân: Tên Vương Tường, một cung nhân đời Hán.

Hán Chiêu Quân là nàng Chiêu Quân, một cung nhân đời nhà Hán, họ Vương tên Tường, tiểu tự là Hạo Nguyệt Chiêu Quân, con gái của quan Tri Phủ Việt Châu, mẹ là Diêu Thị.

Chiêu Quân là người con gái đẹp, vì không hối lộ cho Mao Diên Thọ, nên khi được tuyển vào nội, bị bắt nhốt vào lãnh cung, sau Lâm Hoàng Hậu biết được, tâu với vua, nàng mới được phong làm Tây Phi.

Khi quân Hung Nô sang đánh, vua Hán muốn cầu hoà bèn đem Chiêu Quân cống Hồ.

Xem: Chiêu Quân cống Hồ.

Thương trời rạng lao xao cánh nhạn,

Đến đưa tin cửa Hán Chiêu Quân.

(Thất Nương Giang Bút).

 

 

HÁN VÕ ĐẾ

漢 武 帝

Hay “Hán Vũ Đế”.

Hán Võ Đế, hay Hán Vũ Đế, là vị vua trị vì từ năm 140 đến năm 87 trước Công nguyên, một vị vua hùng tài, nhiều mưu lược, sùng Nho học. Vua sai tu chỉnh tất cả các sách Khổng giáo, nhứt là những sách mới tìm lại được.

Sau vua say mê việc tu tiên, cất lâu đài cung điện cho các đạo sĩ ở, nên kho tàng hao hụt, dân tình khốn đốn, loạn lạc khắp nơi.

Cuối cùng vua hối hận, suy xét lại việc đã qua, lo chỉnh đốn lại chính sự, trong nước mới được yên ổn.

Có lần vua cất Hoa Điện để tiếp rước Đức Diêu Trì Kim Mẫu. Sau đó, vào nửa đêm Trung thu, chim thanh loan đưa Đức Phật Mẫu giáng lâm xuống Hoa Điện và ban cho vua Hán Võ Đế bốn quả Đào Tiên.

Hán Võ Đế xưa, nay Việt Quốc,

Hồng ân, Đức Mẹ diệu huyền ban.

(Thơ Thành Đức).

 

 

HÀN

Hàn là lạnh, rét. Như: Cơ hàn (đói rét), bần hàn, hàn huyên, hàn vi.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Chúng ta phải thành tâm cầu nguyện cho những bạn trẻ ấy, ngoài ra nếu có dư dả, nên giúp đỡ những quả phụ cô nhi của tử sĩ đang sống trong cảnh cơ hàn vất vả còn có ý nghĩa hơn là phung phí ăn chơi trong ngày Tết.

Khi hồn lìa khỏi trần gian,

Hoá ra ngạ quỷ cơ hàn khổ thân.

(Kinh Sám Hối).

Đau nhìn thôn dã thương ai đó,

Nghèo đói thân không áo ngự hàn.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

HÀN HUYÊN

寒 暄

Hàn: Lạnh. Huyên: Ấm.

Hàn huyên là lạnh và ấm.

Người xưa do khí hậu của trời đất khi ấm khi lạnh làm cho con người hay mắc phải bịnh tật, cho nên khi gặp gỡ người ta thường hỏi thăm nhau về sức khoẻ, gọi là “Hàn huyên”.

Những từ như: Hàn huyên, hàn ôn đều có nghĩa tương tự chỉ sự thăm hỏi, chuyện trò...

Ấm lạnh dốc tròn gương phấn đại,

Vui buồn chưa vẹn nỗi hàn huyên.

(Đạo Sử).

Hàn huyên một nỗi vừa êm một,

Trung hiếu hai bề, gánh nặng hai.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

HÀN LÂM VIỆN

翰 林 院

Hàn: Lông cánh chim dùng làm cây bút. Lâm: Rừng cây. Viện: Toà nhà lớn.

Hàn lâm là rừng bút, chỉ nơi hội tụ các nhà văn chương, văn học, còn gọi là “Hàn Lâm Viện”.

Đời Đường, đời Tấn, các quan trong nội đình đều nằm trong Hàn lâm. Đến đời Minh, Hàn lâm mới được tuyển bổ những người có tài và tiếng tăm về văn học.

Nghĩa bóng: Chỗ văn học.

Ngày nay, Hàn Lâm Viện là cơ quan tối cao về văn học, khoa học của một nước.

Trong Đạo Cao Đài, Hàn Lâm Viện do Đức Chí Tôn lập thành, dưới quyền chưởng quản của Giáo Tông và Hộ Pháp, có nhiệm vụ bảo tồn và phát huy về văn hoá Cao Đài mà Chí Tôn tạo ra cho toàn nhơn loại.

Hàn Lâm Viện Cao Đài là một cơ quan đặc biệt nằm ngoài Cửu Trùng Đài và Hiệp Thiên Đài, gồm mười hai Viện sĩ gọi là thập nhị Bảo Quân, mỗi vị chuyên môn một ngành, được kể theo Lời Phê Đức Hộ Pháp như sau:

 

1.- Bảo Huyền Linh Quân.

 

2.- Bảo Thiên Văn Quân.

 

3.- Bảo Địa Lý Quân.

 

4.- Bảo Học Quân.

 

5.- Bảo Cô Quân.

 

6.- Bảo Sanh Quân.

 

7.- Bảo Phong Hoá Quân.

 

8.- Bảo Văn Pháp Quân.

 

9.- Bảo Y Quân.

 

10.- Bảo Nông Quân.

 

11.- Bảo Công Quân.

 

12.- Bảo Thương Quân.

Như theo Ngài Khai Pháp, trong quyển Chánh Trị Đạo, thì vị Bảo Phong Hoá Quân được thế là Bảo Sĩ Quân.

Lần hồi tên tuổi của Ngài đã nêu danh nơi Hàn Lâm Viện và Ngài trở nên một Đại Công Thần danh dự của Pháp Triều buổi ấy.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

HÀN MẶC

翰 墨

Hàn: Bút lông. Mặc: Mực.

Hàn mặc là ngọn bút lông và thoi mực, chỉ những dụng cụ của nhà thơ và nhà văn.

Hàn mặc, nghĩa bóng chỉ về văn chương, thi phú, hoặc chỉ người trí thức hay văn nhân thi sĩ.

Hàn mặc xây nên niềm thiết cốt,

Huệ lan kết chặt nghĩa đồng thanh.

(Thơ Hoài Tân).

Thú vui hàn mặc đầy thanh nhã,

Mai trúc vườn xuân lá mượt mà.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

HÀN ÔN

寒 溫

Hàn: Lạnh. Ôn: Ấm áp.

Hàn ôn là lạnh và ấm, cũng như chữ “Hàn huyên 寒 暄”, dùng để hỏi thăm nhau, trò chuyện tâm tình khi gặp nhau sau thời gian xa cách.

Như: Gặp lại bạn hàn ôn suốt buổi tối.

Xem: Hàn huyên.

Cách biệt thoả trao niềm luyến nhớ,

Hàn ôn cạn tỏ nỗi xa gần.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

HÀN TÍN

韓 信

Hàn Tín là người Hoài Âm, hồi còn hàn vi phải đi câu cá để đổi gạo ăn, lắm khi thiếu ăn phải nhờ nơi bà Phiếu Mẫu.

Những người hàng thịt ở chợ Hoài Âm, có tên trẻ tuổi thấy Tín hay mang gươm nhưng nhát gan bèn trêu chọc, buộc Tín lòn trôn hắn. Vì mang chí cả, Hàn Tín đành nhẫn nhịn mà chung qua háng tên bán thịt.

Lúc đầu Hàn Tín tìm đến Hạng Lương để phò tá, Lương không muốn dùng, nhưng nể lời Phạm Tăng, Lương mới cho Tín làm Chấp Kích Lang để sai khiến như lính hầu. Sau vì không nghe lời Hàn Tín khuyên, Hạng Lương mới bị Chương Hàm giết chết. Hạng Võ mới lên thay Hạng Lương.

Phạm Tăng biết Hàn Tín là người tài, nhiều lần tiến cử cho Hạng Võ dùng, nếu không dùng thì giết đi, để khỏi gây hoạ về sau. Nhưng Hạng Võ chê Tín là kẻ lòn trôn, không có khí phách anh hùng, nên cũng không có ý dùng, cũng không giết.

Quân sư của Hán Lưu Bang là Trương Lương biết Hàn Tín là kẻ kỳ tài, có chí lớn, viết thư tiến cử Tín cho Lưu Bang dùng, phong làm Phá Sở Đại Nguyên Soái.

Nhờ vậy, Hàn Tín phò Lưu Bang, đánh thắng Sở Bá Vương Hạng Võ lập nên nghiệp nhà Hán.

Tuỳ đời chẳng bỏ mưu Hàn Tín,

Trị thế hằng toan kế Tử Phòng.

(Thơ Lý Đại Tiên).

Khuyên lập chí trượng phu Hàn Tín,

Khuyên em gìn tâm nhịn là hơn.

(Bát Nương Giáng Bút).

Nọ chước Tử Phòng nêu sử thắm,

Kìa gương Hàn Tín tạc bia son.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

HÀN TÍN LÒN TRÔN

Hàn Tín lòn trôn tức là Hàn Tín chịu nhục chun qua háng của người bán thịt.

Do tích Hàn Tín là người ở huyện Hoài Âm, mồ côi cha mẹ, thuở nhỏ rất nghèo, thường ăn bám ở nhà vị Đình trưởng Nam Xương làng Hạ Hương. Vợ Đình trưởng sau không cho Tín ăn nữa, Tín phải câu cá dưới thành để đổi gạo. Có bà Phiếu mẫu là người đàn bà đập vải thuê, thấy Tín đói nên thương tình cho Tín ăn.

Tín có thói quen là ra khỏi nhà thường mang gươm, do vậy mới có một tên côn đồ bán thịt ở chợ Hoài Âm, muốn làm nhục Hàn Tín, bắt phải lòn trôn nó ở giữa chợ.

Vì mang chí cả, Hàn Tín đành nhẫn nhục mà chung qua háng tên bán thịt. Sau Hàn Tín phò Hán Bái Công, thống nhứt thiên hạ, lập nên công nghiệp to lớn, được phong làm Hoài Âm Hầu. Hàn Tín chẳng những không trả thù tên bán thịt, trái lại còn sai người đi tìm anh hàng thịt khi xưa bắt Hàn Tín lòn trôn đem về phong quan chức.

Để nêu gương người thà chịu nhục để thực hiện chí lớn, nơi Báo Ân Từ bên trong hành lang có khuôn tranh vẽ “Hàn Tín lòn trôn”.

Hàn Tín lòn trôn chưa hẳn nhục,

Trương Lương dâng dép há cầu vinh.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

HÀN TÍN NẠP BẠN

Hàn Tín nạp bạn ý nói Hàn Tín đem đầu của bạn là Chung Lý Muội dâng cho Hán Cao Tổ.

Hàn Tín và Chung Ly Muội xưa kết làm bạn với nhau, Hàn Tín thì theo phò Hán Vương còn Chung Ly Muội là tướng giỏi của Sở Bá Vương Hạng Võ.

Khi Hán Vương diệt được Sở Bá Vương Hạng Võ, lên ngôi Hoàng đế, xưng hiệu là Hán Cao Tổ, phong Hàn Tín làm Tề Vương. Có người vu cáo Hàn Tín chứa Chung Ly Muội, có ý làm phản nhà Hán. Hàn Tín được tin, báo cho Chung Ly Muội biết, có ý buộc Chung Ly Muội trong thế kẹt phải tự sát để Hàn Tín đem đầu Muội dâng cho Hán Cao Tổ hầu tỏ lòng trung với nhà Hán. Nhưng Hán Cao Tổ vẫn lập mưu bắt Hàn Tín đem về kinh đô, tước hết binh quyền, cho làm Hoài Âm Hầu. Sau, Lữ Hậu mưu với Tiêu Hà, bắt Hàn Tín giết chết.

Người Hàn Tín xưa, nếu chẳng trở lòng nạp bạn thì chẳng bị thác vô cớ.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

HÀN VI

寒 微

Hàn: Lạnh. Vi: Nhỏ.

Hàn vi là nói người còn trong cảnh nghèo hèn vất vả, không có thế lực gì. Như: Anh ta sống thời hàn vi khổ cực.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Người tại sao sanh ra nằm trên đống vàng, giàu có sang trọng, thong dong, còn người đẻ ra trong cảnh hàn vi cơm không đủ bữa...

Nhớ buổi hàn vi còn họp mặt,

Nay vừa sang cả bỗng chia tay.

(Thơ Vạn Năng).

 

 

HÃN MÃ

汗 馬

Hãn: Mồ hôi. Mã: Ngựa.

Hãn mã (có người đọc hạn mã) là mồ hôi ngựa, đây nói về chiến công, bởi người chiến sĩ và ngựa đều phải chiến đấu đến nỗi đẵm ướt cả mồ hôi.

Trong tôn giáo Cao Đài, chữ “Hãn mã” cũng dùng để chỉ công sức phục vụ cho đạo pháp (công quả).

Như: Công lao hãn mã.

Nhớ tổ tiên xưa thời mở nghiệp,

Công lao hãn mã chẳng dừng chân.

(Thơ Hoàn Nguyên).

Tướng quốc đời dành công hãn mã,

Tao đàn đạo chuộng khách văn tài.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

HẠN

1.- Hạn là tình trạng thiếu nước do nắng lâu, không mưa gây ra.

Như: Vườn cây bị khô hạn, năm nay trời nắng hạn, tát nước chống hạn.

Nắng hạn trông mưa trông mắt mỏi,

Ðắng cay mộ nước một lòng chờ.

(Đạo Sử).

2.- Hạn là kỳ, chừng. Như: Hết hạn thuê nhà, hạn định, hạn chế, giới hạn.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Cái tình đoàn kết đó chẳng nên có giới hạn trong khuôn khổ địa phương. Nó phải được lan rộng cùng khắp trong Châu Thành Thánh Ðịa. Ðó là điều trước tiên, vì sau nầy nó phải được thực hành trên toàn cõi Việt Nam và trong đại gia đình bao la của con cái Ðức Chí Tôn tại thế.

Mua Sở bán Tần nương cảnh thế,

Ngàn muôn giàu lớn hạn nơi Trời.

(Đạo Sử).

 

 

HẠN ĐỊNH

限 定

Hạn: Ngăn trở, giới hạn. Định: Xếp đặt.

Hạn định là định giới hạn hoặc kỳ hạn, tức định một chừng mực nào đó.Như: Hạn định của một công việc.

Điếu văn Đức Thượng Sanh đọc trước Liên đài Ngài Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có câu: Ngài làm việc Ðạo khác hẳn hơn các bạn, vì Ngài thấy Ðạo thiếu người chung lo, nên Ngài muốn gồm hết một mình bao nhiêu nhiệm vụ, để rồi phải lao tâm tiêu tứ, chịu vất vả thân hình. Sức người có hạn định, sự tận tâm của Ngài có lẽ đã làm cho Ngài ngọa bịnh.

Nên biết rằng, mỗi việc chi đều có hạn định, có căn nguyên, dầu các bậc tiền bối cũng vậy.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

HẠN ĐÓI

Hạn: Không mưa, nắng lâu thiếu nước, làm cho ruộng rẫy thất mùa. Đói: Lâm vào tình trạng thiếu lương thực, nhiều người bị đói.

Hạn đói là đói do thiếu lương thực, vì hạn hán kéo dài làm cho mùa màng thất bát.

Hành người bế địch, trợ hoang,

Thừa năm hạn đói mưu toan bức nghèo.

(Kinh Sám Hối).

 

 

HẠN KỲ

限 期

Hạn: Ngăn trở, giới hạn. Kỳ: Chỉ khoảng thời gian nhứt định.

Hạn kỳ là định một khoảng thời gian nhứt định không thể vượt qua.

Đạo Luật Năm Mậu Dần có câu: Trong mỗi hạn kỳ 6 tháng, xin Hội Thánh phái một Ban Thanh Tra đi xem xét các sự hành động trong Đạo, nào là Hành Chánh, Phước Thiện, Phổ Tế và Toà Đạo đặng am hiểu các cơ quan trong nền Chánh Trị Đạo, hầu tìm phương giúp hay cho Hội Thánh chấn chỉnh lại cho đặc sắc.

Ngày nào trôi chảy như ngày nấy,

Kiếp sống trong giam chẳng hạn kỳ.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

HANG

Hang là hốc núi, hoặc khoảng trống sâu tự nhiên hay được đào trong lòng đất. Như: Hang núi, hang chuột.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có đoạn dạy: Hại thay! mà cũng tiếc thay! Căn xưa quả trước chẳng chịu lo đền bồi, lại tự dẫn mình vào nơi hang thẳm, sau kết cuộc ra thế nào sẽ thấy.

Chớ lầm tưởng trong hang vắng tiếng,

Mà dể duôi sanh biến lăng loàn.

(Kinh Sám Hối).

Dò đến hang Thần nghe hạc gáy,

Gáy non Nam Việt có Trời lo.

(Đạo Sử).

 

 

HANG SÂU VỰC THẲM

Hang sâu: Hang, hay hốc núi sâu. Vực thẳm: Chỗ thung lủng trong núi sâu thẳm.

Hang sâu vực thẳm là hang vực sâu thẳm, ý chỉ nơi đoạ đày thấp kém, tối tăm, ô trược, khó mong vượt thoát.

Thánh giáo Thầy có câu: Tâm cứng cỏi, Ðạo điều hoà thì cứ bước tới Thầy; tâm trí bất định, đạo hạnh không hoàn toàn thì con đường hám lợi xu danh tới hang sâu vực thẳm đó, vì sức các con đã rã rời thì tài nào níu kéo đỡ nâng khuyên nhủ nhau được.

Công Thầy bố hoá bị lũ học trò tham lam ngu xuẩn dục lợi cầu danh, làm cho Tà quái lẫn vào, dìu dắt vào chốn hang sâu vực thẳm.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

HANG THẲM

Hang: Lỗ dưới đất hoặc hốc núi. Thẳm: Sâu thẳm.

Hang thẳm là hang hốc sâu thẳm, thường ví với chỗ thấp kém, khó mong vượt thoát được. Đồng nghĩa với Hang sâu vực thẳm.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có dạy: Căn xưa quả trước chẳng chịu lo đền bồi, lại tự dẫn mình vào nơi hang thẳm, sau kết cuộc ra thế nào sẽ thấy.

Xem: Vực thẳm hang sâu.

Tánh kiêu căng tự đại là hang thẳm chôn lấp trọn thân hình hồn phách đó.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

HÀNG

1.- Hàng là những sản phẩm bày thành dãy để bán. Như: Khách hàng, giảm giá hàng, hàng bánh, hàng rau.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Ðạo chẳng phải một món hàng mà nay đem cầu người nầy, mai đem nài kẻ kia cho họ biết mà nhìn nhận, thật nên nhục thể Ðạo quá!

Trên chẳng đặng nương vin khúc giữa,

Ðừng cho sụt giá bán nài hàng.

(Đạo Sử).

Cửa Sàigòn tính bán áp chế nội hàng,

Gạo bắp chở ngoại bang giành phần xuất cảng.

(Ngụ Đời).

2.- Hàng là tiệm, chỗ bày các sản phẩm ra để bán.

Như: Cửa hàng bánh, quầy hàng bán đồ điện, ngôi hàng mỹ phẩm.

Trau chuốt nền nhơn con gắng vó,

Thầy đây sẽ để một ngôi hàng.

(Đạo Sử).

3.- Hàng là một dãy dài, đường dài.

Như: Xếp hàng, dàn hàng ngang, cây thẳng hàng, hai hàng nước mắt chảy dầm dề.

Nuốt tiếng than đôi hàng lã chã,

Tưởng đến điều nhơn quả mà đau.

(Kinh Thế Đạo).

Hàng hàng binh ngóng tờ Thiên Chiếu,

Ngũ ngũ quân hầu tướng một đao.

(Thiên Thai Kiến Diện).

4.- Hàng là bậc, xếp theo địa vị, vị trí. Như: Ngang hàng, hàng chú bác, hàng bạn bè, hàng Thánh thể, hàng môn đệ.

Trong quyển Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Thánh giáo Thầy có câu: Thầy buồn lắm, các con cái biết nhơn sanh lắm chịu đau đớn khổ não, Thầy muốn làm thế nào giảm bớt cái kiếp đày các con, lại còn quyết đóng cửa luân hồi cho tuyệt lối sanh sanh tử tử, nhưng mà trong hàng Môn Ðệ có đứa phản Thầy.

Dầu kén chọn vào hàng bạn lữ,

Nên cho em hạng thứ trên người.

(Phương Tu Đại Đạo).

Nhìn văn độ phẩm hàng khuê các,

Xót bạn tri âm cõi dạ đài.

(Thơ Thượng Phẩm).

5.- Hàng là đồ dệt mỏng bằng tơ, lụa, trái với vải.

Như: Quần hàng áo lụa, chiếc áo hàng, lụa.

Đòi quần hàng áo lụa cho xinh,

Đồ trang sức đeo mình cho đáng giá.

(Phương Tu Đại Đạo).

Người ta giàu cái quần cũng đũi, cái áo cũng đũi,

Ðôi đứa mình nghèo đốn củi, đốt than.

Nghèo hèn xin bậu chớ than,

Rảnh đồng công mối nợ, anh mua lụa hàng may cho.

(Trích Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

HÀNG BÔNG

Hàng: Những sản phẩm bày thành dãy để bán. Bông: Hoa quả, rau cải.

Hàng bông là chỉ chung các mặt hàng bày bán rau cải, hoa quả ở chợ, ý chỉ mặt hàng rẻ tiền.

Như: Cửa hàng nầy bán toàn đồ quý giá chứ đâu phải đồ hàng bông.

Ðạo mắc mỏ thay tầm kiếm mãi,

Ðạo đâu rẻ rúng tợ hàng bông?

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Hòn ngọc quý giá dầu giữ trọn,

Ai lại đem làm món hàng bông.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

HÀNG LỤA

Hàng: Đồ dệt mỏng bằng tơ, dùng để may mặc. Lụa: Hàng dệt bằng tơ mỏng mềm và mịn.

Hàng lụa là hai loại sản phẩm quý giá dùng để may quần áo cho người sang trọng, giàu có.

Trong Tân Luật, Điều thứ hai mươi mốt về phần Thế đạo có quy định: Người bổn đạo ăn mặc phải cần kiệm, tuỳ phận tuỳ dươn; cũng nên dùng đồ vải bô và giảm bớt hàng lụa.

Áo quần hàng lụa bóng dờn,

Năm thê bảy thiếp tình nhơn cũng nhiều.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

HÀNG NGŨ

行 伍

Hàng: Bày ra từng dãy, thứ tự. Ngũ: Hàng năm người lính, nói chung về tập thể nhà binh, được sắp xếp thành đội hình.

Hàng ngũ là chỉ tập thể những người được sắp xếp theo đội hình nhất định hoặc được tổ chức chặt chẽ.

Hàng ngũ còn dùng để chỉ quân đội.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Đức Chí Tôn có dạy: Nhớ biểu Nam phái đứng chẳng hết ở giữa thì qua bên tả của Thầy, song phải phân hàng ngũ đẳng cấp chúng nó cho tử tế, chớ không đặng lộn xộn.

Quân lịnh nghiêm trang hàng ngũ chỉnh,

Ngựa voi rần rộ trót giờ lâu.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

HÀNG RÀO

Hàng: Dãy, đường dài. Rào: Hàng cây trồng chung quanh nhà, hay vườn.

Hàng rào là dãy tre, nứa, hoặc cây, cọc, trồng bao quanh một khu vực để phân ranh, che chở, bảo vệ. Như: Hàng rào kẽm gai quanh vườn, hàng rào giăm bụt.

Hàng rào còn có nghĩa bóng bao quanh để tiếp đón, hay bảo vệ, như hàng rào danh dự, hàng rào thuế quan.

Bần Đạo ngó thấy một cái hay của họ hơn hết là những điều chi ngoài họ chỉ để ngoài, lại với cái hàng rào kín đáo, cái chi ở trong họ giữ một cách đáo để kỹ lưỡng ở trong.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

HÀNG XÓM

Hàng: Tập hợp người sinh sống trong cùng một đơn vị hành chánh. Xóm: Khu dân cư nhỏ nhứt ở nông thôn, gồm nhiều nhà liền với nhau.

Hàng xóm là người ở cùng một xóm hoặc nói chung người láng giềng trong quan hệ với nhau.

Như: Những người hàng xóm thân tình.

Lại còn ưa cặp bạn kết bè,

Đến hàng xóm ngồi lê đôi mách.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

HẠNG

1.- Hạng là bậc, thứ, tức tập hợp người hoặc vật cùng loại. Như: Hạng người xấu, vé hạng nhất, xếp hạng.

Thánh giáo Thầy có câu dạy: Còn có một hạng người cũng có tánh thiêng liêng ấy, nhưng lại không để trí khôn vào lối cao thượng, mà cứ quen thói hung hăng, nghĩ những việc bạo tàn, làm điều tội lỗi, ấy là những kẻ nghịch Thiên, không biết luân hồi là chi cả.

Hễ bỏ qua bên đám nữ lưu,

Giống như hạng đồ lưu ra ngoại bộ.

(Phương Tu Đại Đạo).

Một hạng nữa lại thêm quá tệ,

Đời ngạo kêu là bọn ế chồng.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Hạng là họ Hạng, hoặc nước Hạng. Như: Hạng Bá, Hạng Võ, Hạng Trọng Sơn (người nước Hạng).

Xem: Hạng Trọng Sơn, Hạng Võ.

Ẩm mã đầu tiền Hạng Trọng Sơn,

Chung quy hữu phúc hạnh tao phùng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thà núp thú quê nghề phó nghị,

Thà theo Hạng Võ đỡ nâng ngôi.

(Đạo Sử).

 

 

HẠNG THÁC

項 橐

Hạng Thác là một thần đồng trong thời Xuân Thu.

Quốc Sách chép: Cam La nói rằng: “Ôi! Hạng Thác sinh ra bảy tuổi đã làm thầy Khổng Tử”.

Sách xưa có chép: Hạng Thác đang ngồi đắp một cái thành bằng đất ở giữa đường, Khổng Tử đi nước Trần ngang qua đó, thấy xe Khổng Tử vẫn không tránh, Khổng Tử bảo: Sao cậu không tránh xe? Cậu bé thản nhiên đáp: Xưa nay xe tránh thành chứ thành nào có tránh xe.

Nghe xong Khổng Tử phục đứa bé, bèn xuống xe, cùng cậu bé đàm luận. Hạng Thác đặt nhiều điều hỏi Khổng Tử, khiến ông chịu thua, phải nhận Hạng Thác làm thầy.

Trọng Ni nhận vi sư Hạng Thác,

Học tinh thần khai phát Nho tông.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

HẠNG THÁC LÀM THẦY TRỌNG NI

Hạng Thác: Tên một vị Thần đồng thời Xuân Thu. Làm thầy Trọng Ni: Làm thầy Đức Khổng Tử.

Hạng Thác làm thầy Trọng Ni ý nói Đức Khổng Tử nhận Thần đồng Hạng Thác làm bậc thầy.

Sách xưa có chép: Đức Khổng Tử đi qua nước Trần cùng với một số học trò, giữa đường, gặp một đám trẻ nhỏ chơi đùa. Ngài ngồi trên xe nhìn thấy có một cậu bé cặm cụi lấy cát đắp một cái thành nhỏ mà không đùa nghịch với lũ trẻ khác.

Đức Khổng Tử dừng lại hỏi đứa bé: Sao cậu không chơi đùa với những đứa trẻ kia?

Cậu bé đáp: Đùa giỡn không có ích lợi, có thể làm rách quần áo, nhọc công khâu vá của mẹ và làm buồn lòng đến cha, nên tôi không đùa nghịch.

Nói xong, cậu tiếp tục đắp thành. Khổng Tử lại hỏi: Cậu không tránh cho xe của tôi đi sao?

Cậu bé thản nhiên đáp: Từ xưa đến giờ, xe phải tránh thành, chớ có bao giờ thành tránh xe.

Đức Khổng Tử nghe cậu bé trả lời hay quá, thấy cậu bé nầy có vẻ khác lạ, liền xuống xe đến gần cậu bé bàn luận nhiều việc xa xôi.

Ngài bèn hỏi: Cậu ở xóm nào, làng nào, cha mẹ ở đâu?

Đứa bé trả lời: Tôi sanh tại đây, họ Hạng tên Thác, chưa có tên tự.

Khổng Tử lại hỏi: Trong xe ta có sẵn 32 con cờ, ta muốn cùng cậu đánh cờ, cậu có bằng lòng không?

Cậu bé trả lời: Thiên tử mê cờ thì bốn biển không người gìn giữ, chư Hầu mê cờ thì chính sự không an, nho sĩ mê cờ thì việc học đình trệ, nông phu mê cờ thì quên việc cày cấy, vì thế tôi không đánh cờ.

- Khổng Tử lại hỏi: Ta muốn cùng cậu đàm luận việc bình trị thiên hạ, cậu có bằng lòng không?

Đứa bé trả lời: Chuyện thiên hạ khỏi phải bình, vì hoặc như núi cao, hoặc như sông hồ, hoặc như vương hầu, hoặc như nô tỳ. Nếu san bằng núi thì chim chóc không nơi trú ngụ, lấp bằng sông hồ thì cá nhờ đâu bơi lội, bỏ chức vương hầu thì dân không người trị, bỏ nô tỳ thì chủ nhân không có người để sai khiến, thế nên tôi không bình luận việc thiên hạ.

Hạng Thác đã trả lời các câu hỏi của Đức Khổng Tử. Bây giờ cậu bé xin thỉnh giáo Đức Khổng Tử đôi điều: Thưa Ngài, vịt ngỗng sao nổi trên mặt nước? Chim hồng chim nhạn sao lại kêu to? Tùng bách sao ngày Đông vẫn xanh lá?

Đức Khổng Tử đáp rằng: Vịt ngỗng vì chân nó có màng giữa các móng banh ra mà nổi bơi trên mặt nước. Chim hồng chim nhạn kêu to là vì cổ nó dài. Tùng bách ngày Đông xanh lá là vì ruột nó đặc.

Cậu bé Hạng Thác cười nói rằng: Chắc không hẳn như vậy đâu. Tôm cá vẫn nổi trên mặt nước mà chân nó có banh ra đâu. Ễnh ương, ếch nhái kêu to mà cổ của nó có dài đâu. Cây trúc rổng ruột mà ngày Đông vẫn xanh lá.

Sau khi trả lời các câu hỏi của Đức Khổng Tử, Thần đồng Hạng Thác hỏi tiếp: Trên bầu Trời có sao lấp lánh, vậy thưa Ngài có tất cả bao nhiêu vì sao?

Đức Khổng Tử không trả lời thẳng mà nói rằng: Chuyện dưới đất không thiếu gì sao lại hỏi chuyện trên Trời.

Cậu bé bèn hỏi: Vậy dưới đất nhà cửa san sát có bao nhiêu ngôi nhà?

Đức Khổng Tử lại nói rằng: Ta nên nói ngay chuyện trước mắt có phải là thực tế hơn không, cần gì nói chuyện Trời Đất.

Nghe thế, cậu bé liền hỏi: Vậy thưa Ngài nếu bàn chuyện trước mắt thì Ngài cho biết lông mày có bao nhiêu sợi?

Đức Khổng Tử không trả lời, chỉ biết cười mà thôi.

Ngài quay lại nói cùng các học trò rằng: “Hậu sanh khả úy 後 生 可 喂.” (kẻ sanh sau đáng sợ thật). Đó là kẻ rất khó tìm thấy trong thiên hạ.

Nói xong Ngài trở lên xe đi thẳng.

Học cho suốt lý đủ đầy,

Thí như Hạng Thác làm thầy Trọng Ni.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

HẠNG VÕ

項 羽

Hạng Võ tên là Hạng Tịch, người đất Cối Kê nước Sở, mồ côi cha mẹ từ nhỏ, ở với chú là Hạng Lương. Hạng Võ không thích học chữ, chỉ ham học binh pháp, ông có sức mạnh đánh muôn người, cử đảnh nặng năm ngàn cân trước miếu Võ Vương, chiêu mộ binh lính, khởi binh ở Bành Thành cùng Hán Bái Công đánh Tần. Sở Hoài Vương lập giao ước với Hạng Võ và Lưu Bang: Nếu ai lấy được Hàm Dương, kinh đô nước Tần, trước thì người ấy làm vua. Hán Bái Công vào trước, nhưng sợ oai Hạng Võ phải rút quân đóng ở Bái Thượng.

Hạng Võ đốt A Phòng cung, lửa cháy ba tháng mới tắt. Ông xưng là Sở Bá Vương.

Về sau Hạng Võ và Lưu Bang tranh nhau ngôi vua, cuộc chiến kéo dài năm năm, Hạng Võ mới bị bại trận, từ biệt vợ là Ngu Cơ, chạy đến bến Ô Giang cắt đầu tự tử.

Thà núp thú quê nghề phó nghị,

Thà theo Hạng Võ đỡ nâng ngôi.

(Đạo Sử).

Buông cương đẩy núi xưa Hạng Võ,

Một kiếp chưa rồi hết lối tranh.

(Đạo Sử).

 

 

HẠNG VÕ CAI HẠ THẤT THỦ

Hạng Võ Cai Hạ thất thủ ý nói Hạng Võ bị thất thủ thành Cai Hạ.

Do tích: Lưu Bang nhờ có Quân Sư Trương Lương và các tướng giỏi nên đem quân lấy Hàm Dương trước Hạng Võ. Còn Hạng Võ khi đem binh tới, thế quân rất mạnh, buộc Lưu Bang đem Hàm Dương giao cho Hạng Võ. Hạng Võ vào hàm Dương giết sạch quân Tần, đốt hết cung điện, nhà cửa, dân chúng vô cùng oán hận. Hạng Võ bội ước, tự lập làm vua, xưng là Sở Bá Vương, đóng đô ở Bành Thành.

Nghe lời Trương Lương, Hán Vương phong Hàn Tín làm Phá Sở Đại Nguyên Soái, trao hết binh quyền. Hàn Tín cầm quân, đi tắt ngã Trần Thương, đánh úp Chương Hàm, lấy được Hàm Dương. Các chư hầu khác lần lượt bị Hàn Tín đánh dẹp hết, chỉ còn Hạng Võ ở Bành Thành. Sau đó bị thua trận ở Bành Thành, Hạng Võ phải chạy về cố thủ ở thành Cai Hạ.

Trong thành Cai Hạ binh ít, lương cạn, nhưng còn nhiều dũng tướng như Quý Bố, Chung Ly Muội, Chu Lan... nhứt là Hạng Võ quyết tâm cố thủ.

Trương Lương mới dùng kế, chờ vào một đêm thu thanh vắng, lên núi Kê minh lấy ống tiêu ra thổi, tiếng tiêu vang lên giọng thê lương, áo não làm cho tướng sĩ Hạng Vương buồn chán, bỏ đi gần hết, tám ngàn quân mà chỉ còn lại mấy trăm người.

Hạng Võ bày rượu tiễn biệt nàng ái phi là Ngu Cơ, rồi đem tàn binh đánh với quân Hán mấy trận, mới thoát thân chạy đến bờ Ô Giang, đợi ông Đình Trưởng đưa thuyền trốn qua sông thoát nạn.

Trước cảnh đường cùng của bậc anh hùng cái thế, Hạng Võ hứa tặng thủ cấp của mình cho viên Đình Trưởng để nạp cho Hán Vương lãnh thưởng. Vì vậy, ông tự cắt đầu, hưởng dương 41 tuổi.

Nơi bên trong hành lang tại Báo Ân Từ có vẽ khuôn hình lấy tích “Hạng Võ thất thủ thành Cai Hạ”.

Hạng Võ dụng uy quyền hơn hết,

Ngỡ ba quân dầu chết cũng liều.

Tám ngàn đệ tử lòng xiêu,

Cai Hạ thất thủ do tiêu Tử Phòng.

(Báo Ân Từ).

 

 

HẠNG VƯƠNG

項 王

Hạng: Họ Hạng, chỉ Hạng Võ. Vương: Vua.

Hạng Võ tên là Tịch, người đất Cối Kê, chiêu mộ binh lính, khởi nghĩa ở Bành Thành, cùng với Hán Bái Công đánh Tần.

Sau khi diệt được Tần Thuỷ Hoàng, Hạng Võ lên ngôi xưng hiệu là Sở Bá Vương, vì vậy người đời thường gọi là Hạng Vương.

Xem: Hạng Võ.

Oai hùm ai ví Hạng Vương xưa,

Hớn đảnh gầy nên thế đón ngừa.

(Đạo Sử).

Thiền cao chưa đủ đỡ muôn linh,

Như thuở Hạng Vương ở Bành Thành.

(Đạo Sử).

 

 

HANH THÔNG

亨 通

Hanh: Thông suốt. Thông: Đi suốt qua, hiển đạt.

Hanh thông là suôn sẻ. Như: Công việc hanh thông, hoặc vận mạng hanh thông.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Riêng về Chức sắc, Chức việc Nam Nữ ở địa phương, tôi cầu chúc Chư quý vị được hành trình yên ổn và tất cả công việc Ðạo trong năm đều được hanh thông, có kết quả hoàn toàn tốt đẹp.

Có khó có nên chớ ngại lòng,

Lo sao cho Đạo được hanh thông.

(Hộ Pháp Giáng Bút).

 

 

HÀNH

1.- Hành là những hình thức làm cho đau đớn, khổ sở. Như: Hành hạ, chủ hành tớ.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có đoạn: Thầy nói cho các con hiểu rằng, muốn xứng đáng làm môn đệ Thầy là khổ hạnh lắm. Hễ càng thương bao nhiêu thì Thầy lại càng hành bấy nhiêu.

Sống dương thế hành thì căn bịnh,

Xui tai nàn dấp dính theo mình.

(Kinh Sám Hối).

Tưởng bà mẹ có lòng khổ khắc,

Chưa hành con thắt ngặt dường này.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Hành là làm. Như: Hành động, hành chánh, hành hung, hành phạt.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có câu: Học, con khá nghe lời dạy dỗ của mấy anh con mà hành bổn phận.

Ai dám xả thân hành chánh Ðạo?

Ðạo mầu theo dõi hết trần ai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trách nhiệm thiệt hành cho vẹn phận,

Hồng ân chung hưởng buổi âu ca.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Hành còn có nghĩa là đi.

Như: Hành trình gian khổ, hành hương chùa Thiên Mụ, hành trang trở về, du hành.

Du hành là kẻ bỏ đường tu,

Con sáng đừng nghe phỉnh lù mù.

(Đạo Sử).

Thích Đạo tỉ như hành bộ khách,

Nền Nho ví tợ chiếc đò qua.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

HÀNH BIẾN

行 變

Hành: Làm, thực hành. Biến: Thay đổi, tức tuỳ theo tình hình mà quyền biến.

Hành biến là làm việc một cách linh động, thay đổi phương pháp cho thích hợp để đạt được thành công.

Các con đặng tự do mà hành biến cho xong việc.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

HÀNH CHÁNH

行 政

Hành: Làm. Chánh: Việc sắp đặt trị an.

Hành chánh là thi hành chánh sách và pháp luật trong việc cai trị dân chúng.

Trong đạo Cao Đài, Hành Chánh được thi hành nơi Toà Nội Chánh Cửu Trùng Đài, để phân biệt với Phước Thiện, Phổ Tế.

Hành Chánh là cơ quan trị thế sửa đời cho được thuần phong mỹ tục, cầm quyền chánh trị toàn Đạo, thi hành theo khuôn viên Luật pháp của Hội Thánh, nghĩa là buộc chúng sanh phải tuân y luật pháp mà đi trên đường đạo đức cho đặng hoà bình, trật tự và hạnh phúc.

Hành chánh khi thường nên chấp kích,

Thức thời lúc biến phải tùng quyền.

(Thơ Thông Quang).

Cầm cân công lý nơi tay,

Hành chánh, Phước Thiện trong ngoài được an.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

HÀNH CHÁNH ĐẠO

行 政 道

Hành chánh: thi hành chánh sách và pháp luật trong việc cai trị dân chúng. Đạo: Tôn giáo.

Hành chánh đạo là cơ quan của đạo Cao Đài để thi hành các luật, lệnh của Hội Thánh, hoặc của nhân sanh dâng lên, mà đã có quyền Chí Tôn phê chuẩn.

Cầm quyền Hành chánh đạo là phận sự của Cửu Trùng Đài, thay mặt cho Chí Tôn mà thực thi nhơn nghĩa đạo đức, để phục vụ cho nhơn sanh, về phần vật chất hay phần Đời. Còn bảo thủ chơn truyền thuộc về Hiệp Thiên Đài, có nhiệm vụ giữ nền Chánh giáo để khỏi rơi vào phàm giáo, lo về phần tinh thần, tức là phần Đạo.

Mục đích của Hành chánh đạo là phục vụ nhơn sanh trong tinh thần giáo hoá để giác ngộ, hầu lo lắng, hướng dẫn nhơn sanh lập công bồi đức để giải thoát tiền khiên, quy hồi cựu vị.

Hệ thống tổ chức Hành chánh đạo của đạo Cao Đài gồm hai cấp: Hành chánh đạo địa phương và Hành chánh đạo trung ương. Đơn vị nhỏ nhất của Hành chánh địa phương là Hương đạo.

Nhiều Hương đạo làm thành Tộc đạo, nhiều Tộc đạo thành Châu đạo, nhiều Châu đạo thành Trấn đạo. Các Trấn đạo trực tiếp với Cửu viện.

Như vậy, từ Trấn đạo trở xuống thuộc về Hành chánh địa phương, còn từ Cửu viện trở lên thuộc Hành chánh trung ương, là những cơ quan trọng yếu, cầm quyền nền Đạo tại Toà Thánh Tây Ninh.

Trong đạo Cao Đài nền tảng hành chánh Đạo ở nơi Ấp và Hương đạo, rồi kế đến Tộc đạo hay Phận đạo.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

HÀNH ĐẠO

行 道

Hành: Làm, đi. Đạo: Tôn giáo.

Hành Đạo là đi làm Đạo, tức là đắc lịnh Hội Thánh đi truyền bá giáo lý để mọi người biết được chơn lý mà đến cầu Đạo và có nhiệm vụ hướng dẫn, giúp đỡ, bảo vệ những tín đồ của tôn giáo mình.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Tuỳ theo phong hoá của nhơn loại mà gầy Chánh giáo, là vì khi trước Càn vô đắc khán, Khôn vô đắc duyệt, thì nhơn loại duy có hành đạo nội tư phương mình mà thôi.

Dồn dập mối sầu thân thảm thiết,

Thầy khuyên hành Đạo sẽ vui lòng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Hành Đạo đâu cần dụng ngựa voi,

Miền Đông Khâm Trấn đã nên mòi.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

HÀNH ĐẠO KHÓ KHĂN GAY TRỞ

Hành Đạo: Đi làm Đạo, tức là đắc lịnh Hội Thánh đi truyền bá giáo lý để mọi người biết được chơn lý mà đến cầu Đạo và có nhiệm vụ hướng dẫn, giúp đỡ, bảo vệ những tín đồ của tôn giáo mình. Khó khăn gay trở: Có điều khó, nhiều trở ngại.

Hành đạo khó khăn gay trở ý chỉ Ngài Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung khi nhận nhiệm vụ đi truyền Đạo gặp nhiều khó khăn gay trở.

Như ta biết, vào tháng 11 năm Ất Sửu (1926), quý Ngài Cao Quỳnh Cư và Phạm Công Tắc theo lịnh Đức Cao Đài Thượng Đế, đem Đại ngọc cơ đến nhà Ngài Lễ Văn Trung ở Chợ Lớn cho Đức Chí Tôn giáng cơ thâu phục Ngài Trung làm môn đệ, và đến ngày 17 tháng 12 năm Ất Sửu (Dl. 30/1/1926) Ngài Lê Văn Trung xin thượng Tượng thờ Đức Chí Tôn. Kể từ đó Ngài thu xếp việc nhà để theo lịnh Đức Chí Tôn đi hành Đạo.

Đêm 12 tháng 3 năm Bính Dần (Dl. 23/4/1926), Ngài Lê Văn Trung được Đức Chí Tôn ân phong phẩm Đầu Sư phái Thượng, Thánh danh là Thượng Trung Nhựt, cùng lượt với Ngài Đầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt.

Sau khi thọ phẩm Đầu Sư rồi, Ngài Lê Văn Trung được Đức Chí Tôn dạy phải lập Hội Thánh và hiệp cùng chư vị Thời Quân với Đức Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh đi khắp mọi nơi để cầu cơ phổ độ.

Trong giai đoạn nầy, có lúc các Ngài đang ở Sài Gòn mà Đức Chí Tôn giáng cơ bảo xuống miền Tây không chừng, tức là đang ở chỗ này vừa xong, cơ lại bảo ngày mai đến chỗ mới, chỗ mà cơ chỉ điểm trước để ngày mai đến có khi cách xa hằng trăm cây số.

Điều nầy Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn viết: Từ khi Đức Chí Tôn đến độ Đức Quyền Giáo Tông rồi mới xuất hiện ra Hội Thánh. Nếu chúng tôi làm chứng, thì chúng tôi có thể nói rằng: Do nới Đức Quyền Giáo Tông mới xuất hiện ra Hội Thánh Cửu Trùng Đài đó vậy. Ngôi vị của Ông Saint Pière Giáo Hoàng của Thiên Chúa Giáo ở La Mã như thế nào, thì ngôi vị của Đức Quyền Giáo Tông ngày nay cũng thế. Bởi vì chính mình Đức Chí Tôn đến thâu Ngài, biểu Ngài lập thành Hội Thánh. Ngài đi đến đâu, tôi và Đức Cao Thượng Phẩm theo Phò Loan để Đức Chí Tôn thâu môn đệ, thâu được bao nhiêu thì giao cho Đức Quyền Giáo Tông giáo hoá, chính do nơi Ngài cầu khẩn Đức Chí Tôn thâu môn đệ, Ngài luôn luôn đi các nơi để phổ độ chúng sanh, nhứt là trước ngày mở Đạo, Đức Chí Tôn sai hết chúng tôi, tức Thập Nhị Thời Quân đi Phò Loan cùng hết không chỗ nào không có Cơ Bút, người thì xuống Miền Tây, người đi Miền Trung, đi cùng hết.

Vào thờ đó, ban đêm tập trung đông đảo người tại một điểm ở vùng nông thôn để cầu cơ là một điều rất đáng ngại, thế mà hằng đêm Ngài chẳng nệ khó khăn, nguy hiểm đi cùng khắp để mong phổ độ tất cả chúng sanh.

Câu chuyện sau đây cho chúng ta thấy công lao phổ độ của Đức Quyền Giáo Tông vào thời đó trở ngại, gian nguy là thế nào.

“Một hôm nọ, ở một vùng của miền Tây, trong khi cầu cơ tại nhà một người đạo hữu, số người tham dự quá đông vì họ nghe đồn cầu cơ là họ hiếu kỳ. Sự tiếp xúc với cõi vô hình là điều mà mọi thời, mọi người lúc nào cũng mong một lần chứng kiến để biết thật hư. Chính vì thế hai chữ “Cao Đài” làm họ mê lắm, vì nghe đồn Đạo Cao Đài cầu cơ giảng Đạo, trị bệnh. Đức Quyền Giáo Tông và quý Thời Quân luôn dẫn dắt nhơn sanh vào Đạo. Người nầy rủ người kia, dẫn nhau đến, xem cho biết cũng có, nhập môn vào Đạo cũng có, nghe ngóng dò xét cũng có. Tài diễn thuyết của Đức Quyền Giáo Tông có sức hấp dẫn, thuyết phục mạnh mẽ nên số người tập trung ngày nọ đông quá mức quy định, chánh quyền sở tại cho là bất hợp pháp. Thế là Đức Quyền Giáo Tông bị bắt ngay.

Hương Quản giao lên cai Tổng, cai Tổng giao lên Huyện, đi bằng xuồng ghe ngay trong đêm đó qua 3 chỗ. Trời còn tờ mờ, vị quan Huyện có dịp đi ra ngoài đứng bên trên nhìn xuống, thấy chiếc xuồng cấm sào (Ông biết là giải tội phạm, vì thường là vậy, có một người bị trói. Nhưng thấy người này quen quen. Bọn lính lui cui cho ghe vào chỗ an toàn, thì ngay lúc ấy ông quan Huyện đến, ông giựt mình vì nhìn kỷ người bị trói không ai khác hơn là Ngài Thượng Nghị viên nổi tiếng, thọ Bắc Đẩu Bội Tinh Lê Văn Trung. Ông thi lễ và bảo cởi trói ngay, dìu Ngài lên bờ, ông khiển trách đám thuộc hạ. Đức Quyền Giáo Tông vào nhà ông quan Huyện tắm rửa, rồi vào bàn khách nói chuyện. Khởi đầu, ông quan Huyện hỏi: Vì cớ nào mà Ngài nên nỗi? Đức Quyền Giáo Tông, trầm tĩnh, thong thả đáp: – Tôi vâng lịnh Đức Chí Tôn đi thuyết Đạo cho người ta nghe vì số người tụ họp quá đông đảo vượt mức quy định, nên Hương quản cho là bất hợp pháp, bắt giao về dây. Quay sang Hương quản hỏi tự sự. Ông quan Huyện quở cấp dưới, rổi nói tiếp: – Người mà ông dẫn giao về đây, tôi cũng phải quỳ dưới trướng, vì ông là Thượng Nghị viên thọ Bắc Đẩu Bội Tinh lừng lẫy tiếng tăm mà ông không biết hay sao? – Ông Hương quản bấy giờ xanh mặt vì biết mình đã lỡ xúc phạm đến quan lớn rồi. Ông rối rít xin lỗi và cầu xin được tha thứ.

Đức Quyền Giáo Tông ôn tồn nói: – Không! Em không có lỗi gì đâu! Làm quan giữ phép nước vậy là đúng. Chớ phải chi đêm hôm qua em cho tôi một chiếc chiếu hay một chiếc đệm thay vì chưởi mắng thì đỡ cho tôi biết chừng nào.

Ông Hương quản gục đầu sau lời rầy dạy hiền hậu đó. Ông cảm thấy thẹn lòng vì tất cả sự việc mà ông đối với Đức Ngài, ông nghĩ là phải trả giá, nhưng ngược lại Đức Ngài lại không hề oán trách mà còn dạy dỗ thêm”.

Đức nhẫn nại rất cần ích cho mọi người, nhứt là cho người hành Đạo, vì người hành Đạo thường hay gặp điều khó khăn gay trở, nào là kẻ nầy vấn nạn, nào là người kia công kích...

(Phương Châm Hành Đạo).

 

 

HÀNH ĐẠO THA PHƯƠNG

Hành đạo: Đi làm việc đạo. Tha phương: Những xứ hay vùng ở xa.

Hành đạo tha phương là thay mặt Hội Thánh đi truyền bá giáo lý, phổ độ nhơn sanh ở những vùng xa xôi ngoài các cơ quan trung ương của đạo Cao Đài tại Toà Thánh Tây Ninh.

Trong Đạo Luật năm Mậu Dần có câu: Phần châu cấp cho Thiên phong đi hành đạo tha phương thì chiếu theo châu tri số 9 mà thi hành.

Hành đạo tha phương mãi đến nay,

Nắm quyền Hoà Viện, chúc mừng Ngài.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

HÀNH ĐỘNG

行 動

Hành: Làm. Động: Chuyển động, cử động.

Hành động là cử động để làm việc, hay tỏ ra bằng việc làm. Như: Anh có hành động dũng cảm.

Đức Lý Đại Tiên có lời dạy Đức Quyền Giao Tông như sau: Hiền hữu có mang trách nhiệm lớn lao của Ðại Từ Bi đặng phổ thông điều đình mối Ðạo, hiệp với Hội Thánh mà trù nghĩ suy tính cách thức hành động về bước đường của chư Thiên phong và đạo hữu trong buổi nầy.

Lời Phật thuyết cảm hoài hành động,

Lúa dùng làm hạt giống đức tin.

(Báo Ân Từ).

 

 

HÀNH HẠ

Hành: Làm khổ, đối xử tệ.

Hành hạ là làm cho khổ sở. Như: Hành hạ tù phạm.

Thánh giáo Chí Tôn có câu: Thầy đã sai Allan Kardec, Flammarion, cũng như Élie và Thánh Jean Baptiste, là những bực tiền Thánh báo tin ngày giáng sinh chấn động của Chúa Cứu Thế Jésus Christ, nhưng chúng nó, đứa thì bị hành hạ, đứa khác bị giết chết.

Cha hiền chả biết hành hạ con cái bao giờ.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

HÀNH HÀI

Hành: Những hình thức làm cho đau đớn, khổ sở. Hài: Hình hài, thể xác.

Hành hài là làm cho thể hài, thân xác chịu sự đau đớn khổ sở.

Nó cũng noi chước Thiên cung mà lập thành Quỷ vị, cũng đủ các ngôi, các phẩm, đặng đày đoạ các con, hành hài các con...

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

HÀNH HÌNH

行 刑

Hành: Làm. Hình: Hình phạt.

Hành hình là thi hành hình phạt, tức đem tội nhân ra áp dụng hình phạt.

Hành hình thường dùng với nghĩa thi hành tội chết (tử hình) đối với tội nhân.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có nói: Khi lập đạo Thánh thì đặng mười hai môn đệ, song đến khi bị bắt và hành hình thì chúng nó đều trốn hết, lại còn bán xác Thầy nữa.

Âm đài gông tróng sẵn sàng,

Chờ khi thác xuống cổ mang hành hình.

(Kinh Sám Hối).

Đánh đòn khảo kẹp gớm ghê,

Hành hình khổ não chẳng hề nới tay.

(Kinh Sám Hối).

 

 

HÀNH HOÁ

行 化

Hành: Làm, đi. Hoá: Dạy dỗ để từ người xấu thành người tốt.

Hành hoá là nhiệm vụ của những tu sĩ đi dạy dỗ nhơn sanh để làm cho những kẻ xấu trở thành tốt, những kẻ hung bạo trở thành hiền lương, đạo đức.

Nơi Cửu Trùng Đài có Đức Giáo Tông là người thay mặt cho các Đấng Thiêng Liêng đặng hành hoá.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

HÀNH HUNG

行 凶

Hành: Làm, thực hành. Hung: Hành động thô bạo, dữ tơn mà không tự kềm chế nổi.

Hành hung là làm những điều hung ác, xâm phạm đến người khác, như đánh đập phá phách.

Tánh con nít thì hay láo táo,

Hễ nghe cha chế nhạo nổi hành hung.

(Phương Tu Đại Đạo).

Đua tài hai gã quyết hành hung,

Ai cũng tranh hơn trận khí hùng.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

HÀNH HƯƠNG

行 香

Hành: Làm, đi. Hương: Nhang, dùng để cúng tế.

Hành hương là đi đến chùa miếu đốt nhang lễ bái. Quan lại ngày xưa vào đình miếu đốt hương cũng gọi là hành hương. Ngày nay dùng để nói việc đi đến chùa, nơi linh thiêng để sùng bái, hay cúng tế.

Hành hương còn có nghĩa là nghi thức thắp hương cúng Phật. Bên Phật giáo, người chủ lễ đi quanh Đạo trường rồi bỏ trầm vào lư, thắp hương cắm lên bát, hoặc các Đạo sư cầm lư hương đi quanh các trai đàn.

Ngoài ra, chữ “Hành hương còn dùng để chỉ người đến chùa hiến tiền bạc để giúp về nhang đèn hay cúng phẩm, còn gọi là “Tiền hành hương”. Vì vậy, những cái tủ đặt nơi điện thờ của các chùa chiền cũng được gọi là “Tủ hành hương”.

Hộ Pháp Hiền Hữu bảo hộ há?... Kêu Hành Hương quỳ ngay cơ.

(Đạo Sử).

 

 

HÀNH KHÁCH

行 客

Hành: Làm, đi. Khách: Người ở xứ khác.

Hành khách là chỉ người đi đường, hoặc chỉ những khách đi xe, đi tàu.

Trong quyển Thiên Đạo, Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có viết: Biết bao người, ở đời, ngày đêm, cứ lo sao cho mình sung sướng, tìm hoài kiếm mãi, nhưng chẳng thấy chi đáng gọi là chơn hạnh phúc. Thì chẳng khác nào một hành khách bơ vơ trong sa mạc. Đương hồi nắng nôi khao khát thấy trước mặt một vũng nước, cố mau đến nơi mà giải khát. Song le, càng tiến tới, vũng nước càng cách xa.

Bắc cầu bồi lộ cho hành khách tiện bề qua lại; in thí kinh điển, thiên thơ cho mọi người coi theo hầu cải tà quy chánh,...

(Phương Châm Hành Đạo).

 

 

HÀNH KHẤT

行 乞

Hành: Đi. Khất: Xin.

Hành khất là đi xin ăn, hoặc chỉ người ăn xin.

Hành khất còn là một Tông phái của Phật giáo nguyên thuỷ, gọi là Tăng già khất sĩ chuyên đi khất thực để nuôi thân. Cách nuôi thân này có mục đích và lợi ích như sau:

- Tâm trí không bận rộn việc lo ăn như sinh kế, nấu nướng, thức ăn, mà để dành thời giờ tu học.

- Hành khất để phá trừ ngã mạn, trừ lòng tham ăn.

- Tạo điều kiện cho dân chúng có cơ hội bố thí, cúng dường.

- Có cơ hội liên hệ, thân cận để giáo hoá, khuyên dạy mọi người tu hành.

Bát vu hành khất bữa mơi chiều,

Nương nưởng mình to giống kẻ thiêu.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

HÀNH LANG

行 廊

Hành: Đi. Lang: Dãy nhà dài đi thông mọi nhà.

Hành lang là dãy nhà chạy dài ở đền đài cung điện, hoặc hai bên ngôi nhà chính của chùa.

Hành lang còn dùng để chỉ lối đi chạy dài trong nhà.

Như: Hành lang chùa, miếu, câu chuyện bên ngoài hành lang (ý nói câu chuyện không chính thức).

Nơi nội sảnh trầm hương phưng phức,

Dọc hành lang hoa sực nức mùi.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

HÀNH LỄ

行 禮

Hành: Làm. Lễ: Nghi thức cúng tế.

Hành lễ là làm lễ, tức là thực hành các nghi thức cúng tế.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bần Ðạo xin nhắc lại một phen nữa, khi nào hành lễ lúc dâng Tam Bửu. Hễ dâng Bông lên là dâng cái thể hình của chúng ta đó...

Chúng nó (chỉ Giáo Hữu) đặng phép hành lễ khi làm chủ các chùa trong mấy tỉnh nhỏ.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

HÀNH LÝ

行 李

Hành: Đi. Lý: Đồ mang theo.

Hành lý là đồ dùng mang theo để đi đường xa.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Những khách đăng sơn khi phải leo lên một đường núi thì trước khi phải kiểm điểm hành lý, bỏ bớt cái gì nặng nề vô ích, cái gì trở ngại, nhờ vậy mới lên tột đỉnh theo ý định của mình.

Bỏ hết chức phẩm cùng các cuộc giàu sang của Chư vị tạm hưởng, đến ngày chung cuộc hành lý của Chư vị đem theo được nghĩ rất hiếm hoi là phước đức hay là tội lỗi.

(Đạo Sử).

 

 

HÀNH PHÁP

行 法

Hành: Làm, thi hành. Pháp: Pháp luật, hoặc các Phép Bí tích.

1.- Hành pháp là thi hành pháp luật.

Lão e cho, một là Lão đã cho, không lẽ lấy lại, hai là hành pháp thì dễ, hành hình thì khó...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

2.- Trong Đạo Cao Đài, Hành pháp có nghĩa là thi hành những phép Bí tích, như phép Tắm Thánh, phép Giải Oan, phép Hôn Phối, phép Đoạn Căn...

Đức Hộ Pháp thọ lãnh nơi Đức Chí Tôn các Phép Bí tích, sau Ngài truyền lại cho các Chức sắc đi hành đạo tại địa phương.

Hành pháp dìu đời qua nẻo khổ,

Nên công giúp thế lánh cơn nguy.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

HÀNH PHÁP ĐỘ THĂNG

行 法 度 升

Hành pháp: Làm bí pháp. Độ thăng: Cứu giúp cho linh hồn người mất được siêu thăng Tịnh độ.

Hành pháp độ thăng là một bí tích của nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, nhằm trợ giúp linh hồn của vị chức sắc quy vị được siêu thăng lên cõi Thiêng Liêng Hằng Sống. Vị chức sắc Hành pháp độ thăng phải được thọ truyền bí pháp và được Hội Thánh cho phép hành pháp.

Chỉ Hành pháp độ thăng cho những vị chức sắc vào hàng Thánh, tức từ phẩm Giáo Hữu đến phẩm Chánh Phối Sư, còn chức sắc hàng Tiên vị đổ lên không Hành pháp độ thăng.

Phẩm Thần vị (Địa Thần, Nhơn Thần, Thiên Thần) quy liễu cũng không làm phép Độ thăng, chỉ làm phép xác và cắt dây oan nghiệt mà thôi.

Hành pháp độ thăng cho Giáo Hữu Thượng Sang Thanh tại Đền Thánh ngày 19 tháng 7 năm Canh Dần.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

HÀNH PHẠT

行 罰

Hành: Làm, làm cho khổ sở. Phạt: Trị tội.

Hành phạt là xử trị người có tội.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có đoạn dạy: Ðã bị tội cùng Thiên đình thì bị hành phạt. Nơi kiếp sống nầy, nếu không biết tu, buổi chung quy sẽ mắc tội nơi Thiên đình.

Ngục đao kiếm cầm giam phạm ác,

Tánh gian dâm hành phạt gớm ghê.

(Kinh Sám Hối).

Lỗi lầm một phút đà ân hận,

Hành phạt bao lâu mới tận cùng?

(Thơ Thuần Đức).

 

 

HÀNH PHÉP XÁC

Hành phép: Làm bí pháp. Xác: Thể xác người quy vị.

Hành phép xác nói chung còn gọi là “Hành pháp độ hồn” cho người quy liễu.

Tại sao phải Hành phép xác (tức hành pháp độ hồn)?

Trong Kinh Giải Oan có câu:

Dòng khổ hải dễ thường chìm đắm,

Mùi đau thương đã thấm Chơn linh.

Dây oan xe chặt buộc mình,

Nhớp nhơ lục dục thất tình nhiễm thân.

cho chúng ta thấy rằng làm con người mang lấy mảnh hình hài xác thịt, lại phải lặn hụp trong biển khổ của thế gian này, nên khổ sở lo ăn, vất vã kiếm mặc, lại còn bị sự đòi hỏi của thân xác, càng ngày càng gây nhiều oan nghiệt, rồi chìm sâu trong luân hồi sanh tử, tử sanh, khiến những nỗi đau thương thấm sâu vào Chơn linh, làm ô trược nặng nề. Do vậy, con người muốn thoát khỏi oan nghiệt để lo tu hành cũng phải nhờ phép Tắm Thánh, Giải Oan Cắt Dây Oan Nghiệt... hầu gột rửa những oan nghiệp chất chồng đã nhiều kiếp.

May duyên cho chúng sanh, gặp thời Tam kỳ Phổ Độ, Chí Tôn giáng huyền cơ, khai mở nền Đại Đạo đại ân xá cho các Chơn linh tội lỗi, giải trừ oan khiên nghiệp quả nhằm mục đích cho chúng sanh dễ bề tu hành, hầu có thể phản bổn huờn nguyên, quy hồi cựu vị. Hơn nữa, đạo Cao Đài là một tôn giáo ra đời nhằm để cứu vớt người có tội lỗi như lời Thánh giáo đã dạy: “Buổi lập Thánh Đạo, Thầy đến độ rỗi kẻ có tội lỗi. Nếu đời không có tội lỗi, đâu nhọc đến công Thầy.

Ấy vậy, các con rán độ kẻ tội lỗi là công lớn làm cho Thầy vui hơn hết”.

Chính vì thế trong nền Đạo Cao Đài, Đức Hộ Pháp vâng lịnh Chí Tôn truyền cho các Chức sắc hàng Thánh thể của Cửu Trùng Đài, Hiệp Thiên Đài và Phước Thiện những Chơn pháp bí truyền để hỗ trợ cho các Chức Sắc ấy khi đi hành Đạo tại các địa phương dùng để cứu giúp cho nhơn sanh và độ hồn cho các Chơn linh quá cố.

Muốn được hành bí pháp độ hồn cho Chơn linh thì người quá cố lúc sinh tiền buộc phải ăn chay mười ngày trong một tháng đổ lên, trẻ em từ 10 tuổi trở lên nếu trường trai hoặc thập trai cũng được thi hành theo nghi lễ này. Còn dưới 10 tuổi thì chỉ thượng sớ và Cầu siêu mà thôi.

Chức sắc Hành pháp Độ hồn sẽ hành phép xác, phép đoạn căn và phép độ thăng cho Chơn hồn trong nghi lễ Cầu siêu.

Hành Phép xác:

Khi đồng nhi tụng bài Kinh Cầu siêu và bài Kinh Khi Đã Chết Rồi ở hiệp một thì vị Chức sắc hành pháp tay trái bắt Ấn Hộ Pháp, để chén nước Cam lồ trên Ấn, tay mặt lấy nhành dương đi giáp vòng quan tài người chết để dùng nhành dương nhúng vào nước Cam Lồ mà rải lên khắp mình người chết. Làm phép xác nhằm ý nghĩa là tẩy rửa Chơn Thần người chết cho hết ô trược để được nhẹ nhàng siêu thăng thoát hoá.

Hành Phép đoạn căn:

Khi tụng Kinh Cầu siêu hiệp thứ nhì thì vị Chức sắc hành pháp tay cầm cây kéo đi giáp vòng quan tài tìm 7 sợi dây oan nghiệt nơi xác người chết để cắt. Đó là hành phép đoạn căn với ý nghĩa là cắt cho đứt hết 7 sợi dây oan nghiệt để không còn ràng buộc Chơn Thần người chết nữa.

Hành Phép độ thăng:

Khi tụng Kinh Cầu siêu hiệp thứ ba thì vị hành pháp tay trái bắt Ấn, tay mặt cầm 9 cây nhang vẻ bùa rồi triệu Chơn Thần người chết lên ngồi trên ngọn nhang để người hành pháp đưa vào cõi Hư linh. Đây là bí pháp độ thăng tức phép độ hồn người chết được siêu thăng lên chín từng Trời (Cửu Trùng Thiên).

Tóm lại, Hành phép xác nói chung (độ hồn) cho một người chết là lấy quyền năng điển lực vô hình luyện Ma Ha thủy để tẩy trừ những mối oan khiên, ô trược, kế tiếp dùng kéo thiêng liêng đoạn lìa bảy mối oan nghiệt cho Chơn Thần được nhẹ nhàng, rồi nhờ Thần lực của chức sắc Hành pháp để đưa lên cõi Hư Linh.

Trong Bí Truyền Chơn Pháp, Ngài Đầu Sư Thượng Sáng Thanh có viết: Ấy vậy, làm phép xác cốt yếu là tắm gội xác tục và hồn với giọt nước Cam Lồ, cắt đứt bảy dây oan nghiệt cho Chơn thần lìa khỏi xác rồi đưa Chơn thần vào cõi Hư linh, nghĩa là Thanh Tịnh Đại Hải Chúng, Tứ Đại Bộ Châu và Tam Thập Lục Thiên.

Việc hành pháp độ hồn đòi hỏi vị Chức sắc được thọ truyền bí pháp phải có một đời sống tu hành nghiêm mật, một năng lực tinh thần mạnh mẽ mới có đủ quyền năng linh hiển để truyền vào Chơn thần người chết cho được thanh thoát, nhẹ nhàng.

Việc hành pháp độ hồn chỉ giúp phần nào cho Chơn thần người quá cố, bởi vì Chơn thần của họ tùy thuộc vào nghiệp quả mà lúc sanh tiền đã làm thiện hoặc ác. Nếu sinh thời gây nhiều ác nghiệp, thì việc hành pháp độ thăng và năng lực cảm ứng của những người đến cầu siêu chỉ giúp đỡ phần nào cho Chơn linh người chết được nhẹ nhàng mà thôi, nếu sinh thời lập nhiều công đức thì việc hành pháp độ thăng và năng lực cảm ứng của những người đến cầu siêu sẽ dễ dàng đưa Chơn linh người chết vào cõi Tịnh Độ.

Chức vị trên đây nếu giữ trường trai hoặc thập trai thì được hành phép xác...

(Quan Hôn Tang Lễ).

 

 

HÀNH SỬ

行 使

Hành: Làm. Sử: Sai khiến.

Hành sử là sai khiến để làm một việc gì, hay dùng vào để một việc gì.

Như: Sai phái hay hành sử nhân viên cho chính đáng.

Tuỳ phương giáo hoá cơ hành sử,

Luận lý Trung dung thuyết trị bình.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

HÀNH TÀNG

行 藏

1.- Hành: Việc làm thấy rõ được. Tàng: Việc làm còn ẩn kín, không thấy rõ.

Hành tàng là những hành vi hiển hiện hay ẩn kín, tức những việc làm thấy rõ hay không thấy rõ.

Minh Tâm Bửu Giám có câu: Hành tàng hư thực tự gia tri, hoạ phúc nhân do cánh vấn thùy? Thiện ác đáo đầu chung hữu báo chỉ tranh lai tảo dữ lai trì 行 藏 虛 實 自 家 知, 禍 福 因 由 更 問 誰? 善 惡 到 頭 終 有 報, 只 爭 來 早 與 來 遲 nghĩa là hành tàng của mình (tất cả những việc làm thấy rõ, hoặc giấu kín), dù hư dù thực tự nơi nhà mình biết, cái hoạ phước bởi đâu mà ra, thì phải hỏi làm chi? Hễ lành dữ rốt lại cũng có trả, chỉ trả kíp hay chầy mà thôi.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Thánh giáo Thầy có câu: Thầy đã lấy lòng từ bi và đức háo sanh mà dìu dắt các con của Thầy, chẳng dụng sự khinh trọng mà làm cho chinh lòng các con, chẳng lấy hành tàng bất chánh mà làm cho mất điều hoà nhã.

Khi dương thế không phân phải quấy,

Nay Hư linh đã thấy hành tàng.

(Kinh Thế Đạo).

Nhơn là đầu hết các hành tàng,

Cũng bởi vì nhơn, dân hoá quan.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Hành tàng hư thiệt tại cha Trời,

Đông Mậu năm hồ hoả khắp nơi.

(Thơ Hộ Pháp).

2.- Hành: Ra làm quan. Tàng: Không ra làm quan.

Hành tàng nghĩa như chữ “Xuất xử”, tức là ra làm quan hoặc ở ẩn.

Thiên Thuật Nhi trong sách Luận ngữ có câu: Dụng chi tắc hành, xả chi tắc tàng 用 之 則 行, 舍 之 則 藏, nghĩa là dùng thì đem ra làm việc, không được dùng, thì lui về.

Hành tàng hay xuất xử thường chỉ hai thái độ, hai hành động của kẻ sĩ ngày xưa: Làm quan và không làm quan tức là tiến hay thoái.

Sách kinh là đuốc rọi đàng,

Dạy đời học đạo hành tàng thế nao.

(Thánh Giáo Dạy Đạo).

 

 

HÀNH THIỆN

行 善

Hành: Làm. Thiện: Lành, thiện.

1.- Hành thiện là làm điều lành, điều thiện.

Sách Minh Tâm Bửu Giám có câu: Hành thiện chi nhân như xuân viên chi thảo, bất kiến kỳ trưởng, nhựt nhựt sở tăng 行 善 之 人 如 春 園 之 草, 不 見 其 長 日 日 所 曾, nghĩa là người làm lành như cỏ trong vườn xuân, không thấy lớn mà mỗi ngày vẫn tăng.

Từ bi hành thiện gương Tiên Phật,

Bác ái khoan dung chí Thánh Hiền.

(Thơ Khai Đạo).

2.- Hành Thiện còn là phẩm chức sắc trong Thập Nhị Đẳng Cấp Thiêng Liêng thuộc Cơ Quan Phước Thiện của Đạo Cao Đài.

Phẩm Hành Thiện dưới Giáo Thiện, trên Thính Thiện, đối phẩm với Chánh Trị Sự bên Cửu Trùng Đài.

Hành Thiện mặc áo tràng trắng, choàng ngang vai một dây Sắc Lịnh màu đỏ, bỏ mối qua tay mặt, trên đai dây Sắc Lịnh có gắn khuê bài đề chữ Hành Thiện bằng chữ Quốc Ngữ, đầu đội khăn đóng đen 7 lớp chữ nhơn.

Từ bực Hành Thiện muốn lên Giáo Thiện, phải tạo nghiệp cho đủ mười hai gia đình theo chơn pháp.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

HÀNH TRANG

行 裝

Hành: Đi. Trang: Các thứ vật dụng cần thiết, như quần áo mang theo.

Hành trang cũng như chữ “Hành lý 行 李”, là những thứ vật dụng mang theo của hành khách.

Đối với Tôn giáo, hành trang chỉ những điều như công quả, phước đức hay âm chất tạo ra trong cõi trần để chơn linh mang theo về với cõi thiêng liêng.

Hành trang hạnh phúc khởi duyên hài,

Bốn đức, ba giềng gánh một vai.

(Thơ Hoàn Nguyên).

Sắp xếp hành trang âm chất đủ,

Lên đường trực chỉ lại ngôi xưa.

(Thơ Tử Quy).

 

 

HÀNH TRÌNH

行 程

Hành: Đi, trải qua. Trình: Con đường.

Hành trình là đường đi, đường đi định rõ từ nơi nầy đến nơi kia.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy: Sanh đứng làm người, trót đã mang vào mình một vai tuồng đặc biệt, đã chẳng lo bước hành trình cho xong mà đắp bồi nợ mảnh hình hài, ngọn rau tấc đất, lại chác lắm điều phiền não ưu sầu...

Vì đạo mới sang đến cảnh nầy,

Hành trình lướt gió với tuông mây.

(Thơ Thái Đến Thanh).

Phô trương cho cả dân sinh,

Trông vào mới nhớ hành trình Nho Gia.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

HÀNH VÂN LƯU THUỶ

行 雲 流 水

Hành vân: Mây bay. Lưu thuỷ: Nước chảy.

Hành vân lưu thuỷ là thành ngữ dùng để nói về âm thanh tiếng nhạc réo rắt như mây bay nước chảy.

Hành vân réo rắt theo hơi bổng,

Lưu thuỷ du dương nói giọng trầm.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

HÀNH VI

行 為

Hành: Làm. Vi: Làm.

Hành vi là chỉ việc làm của một người, hay những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra ngoài của một người.

Như: Nó thể hiện hành vị hung bạo.

Thánh giáo Thầy có câu: Nay tuy các con chẳng thấy đặng hành vi mầu nhiệm mà chính mình Thầy đã đến nói, các con cũng nên tin nơi Thầy mà cho rằng lời Thầy dạy là chơn thật.

Các vật dục xảy qua một buổi,

Cả hành vi lầm lỗi khôn ngừa.

(Kinh Thế Đạo).

Đã khó trở day từng cử động,

Còn thêm thận trọng mọi hành vi.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

HÀNH XÁC

Hành: Làm cho đau đớn, khổ sở. Xác: Thân xác.

Hành xác là hành hạ thân xác.

Trong quyển Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Thầy chẳng phải sợ chi cho Ðạo, ngặt lòng thương yêu Thầy nó làm cho Thầy đau đớn, thấy tên tuổi nhiều đứa yêu dấu Thầy đã bị treo tại cửa Phong Ðô đợi ngày hành xác.

Quỷ Vương đến trước Bạch Ngọc Kinh xin hành xác và thử thách các con.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

HẠNH

1.- Hạnh là một thứ cây thuộc về loại mơ, loại đào, trái tròn, ở trong có lõm, hột ăn ngon.

Tại huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông có một nơi xung quanh trồng nhiều cây hạnh, là nơi xưa kia Đức Khổng Tử dạy học, nên người sau dựng bia khắc chữ “Hạnh Đàn”, dùng để chỉ trường học của Nho gia.

Xem: Hạnh Đàn.

Vườn hạnh nữa sau hoè quế trổ,

Phước nhà đức trạch hưởng triền miên.

(Thơ Hoài Tân).

2.- Hạnh là nết na, cách cư xử. Như: Nết hạnh, đạo hạnh, hạnh kiểm, hạnh đức.

Thánh giáo Thầy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Hạnh khiêm nhường là hạnh của mỗi đứa con, phải noi theo gương Thầy mới độ rỗi thiên hạ đặng. Các con phải khiêm nhường sao cho bằng Thầy.

Cải hạnh đố ngươi về tập thử,

Tháng sau sẽ đến trước trình Ta.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Khổ hạnh chí mong quy nẻo chánh,

Ngoài tai chớ chác miếng hư vinh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Hạnh là may mắn, không dùng một mình. Như: Hữu hạnh, bất hạnh, hạnh ngộ.

Thánh giáo Thầy có câu: Con lấy làm hữu hạnh gặp đặng Thầy dìu bước trong nẻo Ðạo nhiệm mầu lúc non chiều bóng xế.

Ẩm mã đầu tiền Hạng Trọng Sơn,

Chung quy hữu phúc hạnh tao phùng.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

Hạnh phùng bình thuỷ thân an tại,

Nhược ngộ phong ba phận đảo huyền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

HẠNH CHẤT

行 質

Hạnh: Nết tốt của con người. Chất: Bản thể của sự vật, phẩm chất.

Hạnh chất có nghĩa là nết hạnh và phẩm chất đạo đức của con người.

Khá kiếm hiểu cho đích xác, chớ tưởng lầm rằng dầu hạnh chất của các con dường bao, Ðạo cũng thạnh hành mà dìu dắt các con đến tận chốn được.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

HẠNH ĐÀN

杏 壇

Hạnh: Cây hạnh, một loại cây cao lá to đầu nhọn, hoa nở vào mùa xuân, màu trắng hồng, giống như hoa mai. Đàn: Cái nền đắp cao.

Hạnh đàn là cái nền cao có trồng nhiều cây hạnh, nơi Đức Khổng Tử giảng dạy học trò còn di tích trước Khổng Miếu tại huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông.

Hạnh đàn dùng để chỉ trường học.

Hữu phước may duyên nhập Hạnh đàn,

Thiệt hành Tam bửu hiệp tam cang.

(Thơ Thái Đến Thanh).

Đem tài sư biểu khêu đèn huệ,

Dìu đám môn sinh mở hạnh đàn.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

HẠNH ĐỨC

行 德

Hạnh: Nết na, cách cư xử. Đức: Có lòng nhân, ăn ở hợp với đạo lý.

Hạnh đức là người có nết na, có lòng thương người và ăn ở hợp với đạo lý.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy dạy: Nét hạnh đức là phương hay để dìu dắt các con bước lên con đường Cực Lạc, tránh khỏi đoạ tam đồ.

Hạnh đức điểm tô non nước Việt,

Muôn năm bia tạc tiếng còn ghi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Biết Đạo khá lo trau hạnh đức,

Dữ lành đợi buổi cũng cân phân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Hạnh đức làm gương dắt lũ sau,

Một nhà đạo đức khá thương nhau.

(Đạo Sử).

 

 

HẠNH ĐƯỜNG

杏 堂

Hạnh: Do chữ Hạnh đàn là chỗ nền cũ của Đức Khổng Phu Tử dạy học. Nền này toạ lạc trước Khổng Miếu thuộc huyện Khúc Phụ tỉnh Sơn Đông. Đường: Ngôi nhà.

Trong Đạo Cao Đài, Hạnh Đường là ngôi nhà dùng để dạy học, tức là ngôi trường để Hội Thánh tổ chức lớp học đào luyện những chức sắc, chức việc về các môn như Giáo lý, Hành chánh đạo, Luật pháp, Nghi lễ... để có kiến thức và hạnh đức để đi hành đạo địa phương lo phổ độ chúng sanh.

Đạo Luật năm Mậu Dần có viết: Phải lập Hạnh Đường nơi Toà Thánh và Văn phòng Đầu Tỉnh Đạo đặng giáo hoá Chức sắc Thiên phong và Chức việc.

Hội Thánh giao cai quản Hạnh Đường,

Ân cần lo lập kỷ trần cương.

(Thơ Bảo Pháp).

Hạnh Đường lớp học từng đeo đuổi,

Sứ mạng lòng son gắng miệt mài.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

HẠNH HƯỞNG

幸 享

Hạnh: May mắn, tốt đẹp. Hưởng: Được về phần mình, nhận lấy.

Hạnh hưởng là may mắn mình được hưởng.

Thánh giáo Đức Diêu Trì Kim Mẫu có câu: Mẹ ban ơn cho các con. Toà sen ngôi báu rực rỡ chói ngời, hạnh hưởng tiêu diêu, đời đời khoái lạc. Chớ các con ở chi trần thế mà bụi tục vấn vương cho tấm thân đày đọa.

Đương sanh hạnh hưởng phước duyên,

Trong nhà già trẻ miên miên thái bình.

(Kinh Sám Hối).

Hạc trắng bay về hội hướng Tây,

Cùng nhau hạnh hưởng cuộc vui vầy.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

HẠNH LÂM

杏 林

Hạnh: Cây hạnh. Lâm: Rừng.

Hạnh lâm là rừng cây hạnh.

Đời Tam Quốc có một người thầy thuốc trị bịnh người không lấy tiền, chuyên làm phước giúp đời, tên là Đổng Phụng. Mỗi khi ông chữa lành bịnh cho một người nào thì người đó trồng một cây hạnh trước nhà để đền ơn.

Chẳng bao lâu, chung quanh nhà Đổng Phụng thành một rừng cây hạnh, người đương thời gọi “Đổng tiên hạnh lâm” (Rừng hạnh của vị tiên sanh họ Đổng).

Do vậy, người ta dùng chữ “Hạnh lâm” để xưng tụng nhà của ông thầy thuốc giỏi.

Y nghiệp thuật Kỳ Hiên diệu dược hạnh lâm trừ vạn bệnh,

Viện đường thâm võ lộ tế nhơn công đức phục hồi xuân.

(Liễn Y Viện).

 

 

HẠNH NGỘ

幸 遇

Hạnh: May mắn. Ngộ: gặp gỡ.

Hạnh ngộ là sự gặp gỡ nhau một cách may mắn.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có dạy: Ðó là một ân huệ thiêng liêng cao quý mà các em quá đổi may duyên mới được phần hưởng thụ. Có thể nói là một cơ hội thiên thu hạnh ngộ làm cho các em được rạng mày nở mặt đối với xã hội cũng như đối với gia đình và chủng tộc.

Hạnh ngộ Cao Ðài truyền Ðại Ðạo,

Hảo phùng Ngọc Ðế ngự trần gian.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tu thân bất viễn sanh môn nhập,

Thạnh khí cường chơn hạnh ngộ thần.

(Đạo Sử).

 

 

HẠNH NGUƠN

Hay “Hạnh Nguyên”.

Hạnh Nguơn hay “Hạnh Nguơn 杏 元”, là tên một người con gái đẹp đời nhà Đường, hứa hôn với chàng Mai Lương Ngọc.

Thái Sư Lư Khỉ trong triều có hiềm khích với cha Hạnh Nguyên, nên nhân dịp quân Phiên sang đánh, ông tâu với vua bắt nàng Hạnh Nguyên cống hồ để cầu hoà với Phiên quốc.

Hạnh Nguyên lên thuyền cống hồ, khi đi đến Lạc Nhạn Nhai, nàng bèn nhào đầu xuống đầm Lâm Tri tự tử. May nhờ thần linh cứu khỏi chết, sau được trở về quê kết hôn cùng Mai Lương Ngọc. Còn Thái Sư bại lộ cơ mưu bị xử trảm chết.

Thương Hạnh Nguơn đã nhào xuống ngựa,

Theo tình chung trước cửa ải Đồng.

(Thất Nương Giang Bút).

Nơi Phiên quốc xôn xao lượng thảm,

Hạnh Nguơn xưa đã dám hy sinh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

HẠNH PHÚC

幸 福

Hạnh: May mắn. Phúc: Những điều tốt đẹp.

Hanh phúc là vận may phúc tốt, tức là được toại nguyện về mọi phương diện. Như: Gia đình hạnh phúc.

Thánh giáo của Đức Thái Thượng Đạo Tổ có dạy: Bần đạo hỏi bốn hiền hữu có ai đã mang sao đội nguyệt, ăn mật nằm gai, chịu muôn sự khổ hạnh cõi đời để tạo hạnh phúc cho nhơn sanh chưa?

Cửa đạo đức gầy nên hạnh phúc,

Chốn non sông tạo chút nữ hùng.

(Ngũ Nương Giáng Bút).

Những là khổ nhọc chịu cơ đời,

Hạnh phúc thử nhìn đặng mấy mươi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tạo dựng cơ đồ cho chánh nghĩa,

Rưới chan hạnh phúc bởi lòng tin.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

HẠNH PHÙNG

幸 逢

Hạnh: May mắn. Phùng: Gặp gỡ.

Hạnh phùng, như chữ “Hạnh ngộ 幸 遇”, là may mắn mà gặp được.

Như: Hạnh phùng Đại Đạo khai.

Xem: Hạnh ngộ.

Hạnh phùng bình thuỷ thân an tại,

Nhược ngộ phong ba phận đảo huyền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cửu tử kim triêu đắc phục huờn,

Hạnh phùng Thiên mạng đáo khai Nguơn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cẩm tịch Diêu Cung Tiên vị đắc,

Hạnh phùng vũ lộ sắc Thiên ban.

(Nhị Nương Giáng Bút).

 

 

HAO

Hao bị giảm đi một phần, giảm dần từng ít một. Như: Hao sức lực, hao tài tốn của.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: Ôi! Xuân tàn xuân đến, cái xuân của người đã sắp lụn hao, mà rồi cái xuân của Trời Ðất nước non cũng chưa chắc là vô cùng vô tận.

Ấy làm phước khỏi hao khỏi tốn,

Chẳng có đâu mòn vốn thâm tiền.

(Kinh Sám Hối).

Mầng duyên nhân loại đường tu vững,

Mầng phước nguyên hồn chẳng chút hao.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ham buộc nhiều ngoai thêm khó mở,

Ðến nhiều phận phải mất hao phần.

(Đạo Sử).

 

 

HAO HỚT

Hao: Bị giảm đi một phần, giảm dần từng ít một. Hớt: Lấy về mình cái đáng lẽ thuộc người khác.

Hao hớt, như chữ “Hao hụt”, là hao mất dần, bị giảm đi một phần về số lượng.

Như: Hàng cứu trợ đến tay dân thì bị hao hớt nhiều.

Hội Thánh có quyền buộc bồi thường những của cải của Đạo bị hao hớt và trộm cắp...

(Đạo Luật Mậu Dần).

 

 

HAO MÒN

Hao: Bị giảm dần về số lượng. Mòn: Bị mất dần, tiêu hao dần do không bổ xung, củng cố thường xuyên.

Hao mòn là bị giảm sút dần từng ít về chất lượng, giá trị ban đầu trong quá trình hoạt động hay sử dụng.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Một năm đã qua là một tuổi chồng chất, kiếp sống một hao mòn.

Lo danh vọng hao mòn thân thể,

Ham làm giàu của để bằng non.

(Kinh Sám Hối).

Chẳng cho đạo đức hao mòn,

Chẳng cho mực lộn với son đổi màu.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Còn con nòi giống chồng còn,

Mảnh thân đành chịu hao mòn với ai?

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

HAO TÀI

耗 財

Hao: Bị giảm dần từng ít một về số lượng do nguyên nhân nào đó. Tài: Tiền bạc.

Hao tài là hao tốn tiền của, tức bị mất tiền bạc hay của cải vì một lý do bất ngờ nào đó.

Như: Bệnh khiến cho người bị hao tài tốn của.

Thầy không muốn cho con hao tài tốn của mà gìn giữ sự giả dối.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

HÁO

Hay “Hiếu”.

Háo, như chữ “Hiếu 好”, là ham, muốn, thích. Như: Háo kỳ, háo nghĩa, háo sắc, háo sinh.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Thầy vì đức háo sanh, nên chẳng kể bực Chí Tôn cầm quyền thế giới, đến lập Ðại Ðạo Tam Kỳ trong lúc hạ nguơn nầy mà vớt sanh linh khỏi vòng khổ hải.

Một chung háo nghĩa bằng vàng nén,

Phòng sau hội ngộ chỉ đường tu.

(Đạo Sử).

 

 

HÁO DANH

Hay “Hiếu danh”.

Háo (hiếu): Ham thích. Danh: Tiếng tăm.

Háo danh, như chữ “Hiếu danh 好 名”, là ham thích tiếng tăm, quyền tước mà hãnh diện với xã hội.

Thánh giáo có câu: Thầy những buồn trông thấy các con chưa gì mà vội phân tay chia nẻo! Mỗi đứa đều lấy sự háo danh cầu tiến mà quên cả nghĩa vụ xứng đáng của Thầy đã lắm phen phú thác.

Nhưng vì còn nhiều đứa háo danh và ham làm một vị chủ tướng trong Ðạo, nên cần phải nói cho mà xét mình.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

HÁO SINH

Háo (hiếu): Ham thích. Sinh: Sự sống.

Háo sinh, như chữ “Hiếu sinh 好 生”, là thích sự sống, nghĩa là có lòng nhân ái, không muốn giết hại ai.

Kinh Thi có câu: Hiếu sinh chi đức hiệp vu nhân tâm 好 生 之 德 合 于 人 心, nghĩa là đức hiếu sinh hoà hợp với lòng người.

Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy: Thầy đã lấy lòng từ bi và đức háo sanh mà dìu dắt các con của Thầy, chẳng dụng sự khinh trọng mà làm cho chinh lòng các con, chẳng lấy hành tàng bất chánh mà làm cho mất điều hoà nhã.

Lòng Trời Đất thương đều muôn vật,

Đức háo sanh Tiên, Phật một màu.

(Kinh Sám Hối).

Hớn trào Quan Thánh bia danh,

Trung can nghĩa khí háo sanh giúp đời.

(Xưng Tụng Công Đức).

Chim khôn biết kiếm đậu cây lành,

Người thiện phải ngừa đức háo sanh.

(Đạo Sử).

 

 

HÁO THẮNG

Hay “Hiếu thắng

Háo (hiếu): Ham thích. Thắng: Hơn.

Háo thắng, như chữ “Hiếu thắng 好 勝”, là có tính thích hơn người.

Như: Anh ta có tính háo thắng.

Không háo thắng, không khoe mình, lúc nào cũng lễ độ, khiêm tốn, hoà hưởn, nhún nhường...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

HÀO

1.- Hào là tài trí hơn người.

Như: Anh hào, anh hùng hào kiệt, binh tướng Lê Lợi có chí khí hào hùng.

Ðầu xanh chí khí lập danh cao,

Phải ở sao ra mặt khí hào.

(Đạo Sử).

Bởi bo bo chuộng nết yêu đào,

Chẳng đếm bực thư hào đồng phẩm vị.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Hào là rộng rãi, phòng túng. Như: Hào hoa, hào nhoáng, hào phóng.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Trước sự tiến triển của văn minh vật chất, trước sự đổ vở của Ðạo lý luân thường, trường đời là một trận mê hồn, mà sự xa hoa hào nhoáng có thể gây tai hoạ lớn lao cho kẻ tu hành.

Trong sạch đáng bì trang Thánh đức,

Khéo khôn rất mực khách hào hoa.

(Thơ Thái Minh).

3.- Hào , trong phép cân đo gọi hào là phần mười của ly, chỉ sự nhỏ nhít.

Như: Ly hào, mảy hào, bán đúng giá chứ không kém một hào một ly nào.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Trong Nho Giáo có câu: “Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu”, nghĩa là: Trời cao lồng lộng mà mảy hào nào cũng không qua khỏi tay Ngài và lưới thiêng liêng của Ngài, nên xưng tụng Ngài là Thiên Tôn cầm quyền Vạn Linh mực thước như một ông Toà trị thế.

Vì chưng tựu thiểu thành đa,

Hoạ tai báo ứng chẳng qua mảy hào.

(Kinh Sám Hối).

Ðầu nhà xem rõ cơ Trời Ðất,

Trời Ðất không sai một mảy hào.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

4.- Hào là tia sáng. Như: Hào quang.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Hình ảnh Chí Tôn đẹp đẽ vô cùng không bút mực nào tả được. Hào quang của Ngài rọi sáng khắp Ðền.

Sáng loà sấm nổ hào quang chiếu,

Luân chuyển khí dồi trận gió giông.

(Thiên Thai Kiến Diện).

5.- Hào là kêu to, gào khóc. Như: Hô hào.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Lúc bấy giờ Ðạo đương hồi chia rẽ, người thì ra lập chi phái riêng, kẻ thì hô hào bất hợp tác, tìm phương phá rối nội bộ làm cho nhân tâm ly tán.

Trong lòng chất chứa điều đê tiện,

Ngoài miệng hô hào chí đởm đương.

(Thơ Võ Thành Lượng).

6.- Hào là đường đào bao bọc chung quanh thành dưới có nước, dùng để ngăn chặn quân địch không để xâm nhập vào thành.

Như: Đào hào đắp luỹ, hào luỹ kiên cố.

Càng nhìn càng thảm càng đau dạ,

Hỡi khách đơn tâm lấp luỹ hào.

(Nhị Nương Giáng Bút).

 

 

HÀO GIA

豪 家

Hào: Kẻ mạnh thế hơn người. Gia: Nhà.

Hào gia là nhà phú hào, tức nhà có thế lực tiền bạc hay quyền hành lớn trong xã hội.

Như: Hạt nầy có vài nhà thuộc hàng hào gia.

Hào gia hữu sở thiên niên đọa,

Bất dĩ nhơn sanh, bất dĩ Thần.

(Đạo Sử).

 

 

HÀO HIỆP

豪 俠

Hào: Tài giỏi hơn người. Hiệp: Người hay lấy tài sức để giúp đỡ.

Hào hiệp dùng để chỉ người có khí phách, độ lượng, hay giúp đỡ kẻ khác.

Như: Tấm lòng hào hiệp, cử chỉ hào hiệp.

Hào hiệp lòng quen kết nghĩa cùng,

Anh hùng tứ hải bước thung dung.

(Đạo Sử).

 

 

HÀO HOA

豪 華

Hào: Chỉ sự phong lưu, phóng túng, rộng rãi. Hoa: Rực rỡ, xa xỉ.

Hào hoa là hào phóng, xa xỉ, nói người rộng rãi và lịch sự trong cách cư xử, giao thiệp.

Như: Anh ấy là con người hào hoa.

Hai chục ngoài xưa thừa tuấn tú,

Sáu mươi mốt hiện vẫn hào hoa.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

HÀO KIỆT

豪 傑

Hào kiệt: Người có tài năng xuất chúng.

Theo sách Hoài Nam Tử: Trí hơn vạn người thì gọi là Anh, hơn nghìn người gọi là Tuấn, hơn trăm người gọi là Hào, hơn mười người gọi là Kiệt.

Như: Bậc anh hùng hào kiệt.

Giang san tô điểm tay hào kiệt,

Đất nước trị bình đức Thánh quân.

(Thơ Hiến Đạo).

 

 

HÀO NHOÁNG

Hay “Hào nháng”.

Hào: Rộng rãi, phóng túng. Nhoáng (nháng): Loáng, bóng lộn.

Hào nhoáng, hay “Hào nháng” là có cái vẻ phô trương bên ngoài, đẹp bề ngoài.

Như: Hắn chỉ được cái hào nhoáng bên ngoài.

Trường đời là một trận mê hồn, mà sự xa hoa hào nhoáng có thể gây tai hoạ lớn lao cho kẻ tu hành.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

HÀO PHÓNG

豪 放

Hào: Không keo lận, chật hẹp. Phóng: Phóng túng, tức buông thả ra, không bó buộc.

Hào phóng là chỉ người không bị cái gì bó buộc, hoặc chỉ người rộng rãi về mặt chi tiêu trong quan hệ đối xử.

Như: Anh ta rất hào phóng với bạn bè.

Xiêm áo chỉnh tề tân học giả,

Dung nghi hào phóng cựu viên quan.

(Thơ Vạn Năng).

 

 

HÀO PHÚ

豪 富

Hào: Tài trí hơn người, hoặc chỉ người có thế lực. Phú: Giàu có.

Hào phú, như chữ “Phú hào”, là chỉ người giàu sang và có thế lực.

Như: Làng nầy, ông ấy là một nhà hào phú.

Hào phú chưa ai dám sánh bằng,

Dầu nghèo mà giữ Ðạo làm ăn.

(Đạo Sử).

 

 

HÀO QUANG

毫 光

Hào: Cái lông dài và nhọn. Quang: Ánh sáng.

Hào quang là ánh sáng rực rỡ toả ra từ các vật Thiêng liêng hay nhân thân của các Đấng Thần, Thánh, Tiên, Phật, toả ra bốn bên như lông tua ra.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Đức Cao Thượng Phẩm có câu: Phật Mẫu là người đã chuyển Thập Thiên Can mà tạo thành mọi hình thể của cơ hữu vi, tức là Mẹ Sanh của vạn vật. Còn chơn thần tức là ánh hào quang do chơn khí trong sạch mới có.

Đẹp xinh cảnh vật đòi ngàn,

Hào quang chiếu diệu khai đàng thăng Thiên.

(Kinh Tận Độ).

Hào quang chiếu diệu Cao Đài,

May duyên nay đã gặp ngày siêu sanh.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

HẢO

1.- Hảo là ham thích một vật gì đó, hay ưa ăn một thức ăn nào đó.

Như: Anh ấy rất hảo du lịch, nó chỉ hảo cái món canh chua cá lóc.

Rồi lựa thứ vật chơi con hảo,

Giả như tuồng khuyên bảo đem cho.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Hảo là tốt, không dùng một mình. Như: Hảo hán, hảo hạng, hảo sự, hảo tâm, hoà hảo.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Hỷ chư đạo hữu, chư đạo muội, chư chúng sanh, hảo hội hiệp.

Hảo Nam bang! Hảo Nam bang!

Tiểu quốc tảo khai Hội Niết Bàn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Huyền hư tác thế Thần Tiên Nữ,

Nữ hảo thiện căn đoạt Cửu Thiên.

(Thài Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

HẢO CỪU

Hảo: Tốt. Cừu (cầu): Kết đôi.

Hảo cừu, như chữ “Hảo cầu 好 逑”, là đẹp đôi.

Kinh Thi có câu: Yểu điệu thục nữ, Quân tử hảo cầu 窈 窕 淑 女, 君 子 好 逑. Nghĩa là người con gái tươi tắn, dịu dàng đẹp đôi với người quân tử.

Ngày xuân gọi thế hảo cừu,

Trăm duyên phước tục khó bù buồn Tiên.

(Bài Thài Thất Nương).

Nung trang trí thức nữ lưu,

Biết thân giữ mặt hảo cừu giai nhân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Thân yểu điệu chịu danh thục nữ,

Để cho ai rộng chữ hảo cừu.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

HẢO PHÙNG

好 逢

Hảo: Tốt đẹp. Phùng: Gặp gỡ.

Hảo phùng là gặp gỡ một cách tốt đẹp, ý muốn nói may duyên mới có cơ hội gặp gỡ nhau.

Xem: Hạnh Ngộ.

Hạnh ngộ Cao Ðài truyền Ðại Ðạo,

Hảo phùng Ngọc Ðế ngự trần gian.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

HẢO TÂM

好 心

Hảo: Tốt. Tâm: Lòng dạ.

Hảo tâm là tốt bụng hay lòng tốt.

Sách Minh Tâm Bửu Giám có câu: Hoàng thiên bất phụ hảo tâm nhân 皇 天 不 負 好 心 人, nghĩa là Trời không phụ lòng người tốt.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Hội Thánh đã từng nhắc cho bổn đạo ghi nhớ mấy lời nghiêm huấn này và mặc dầu ở trong hoàn cảnh bất túc, Hội Thánh chỉ nhờ nơi lòng trung hậu và sự hảo tâm của bổn đạo gần xa ra tay vùa giúp đỡ nâng.

Với những nhà hảo tâm trong Ðạo cũng như ngoài mặt đời, để góp phần hỗ trợ cho Hội Thánh...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

HÃO HUYỀN

Hão: Không được việc gì cả vì không thiết thực, không có cơ sở thực tế. Huyền: Cao xa.

Hão huyền là nói hoàn toàn không có cơ sở thực tế, không thể có thật hoặc không thể thành sự thật.

Như: Chị hy vọng một cách hão huyền.

Xoa tay tính nhẩm tuồng luân chuyển,

Bó gối ngồi mơ chuyện hão huyền.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

HẠO KIẾP

浩 劫

Hạo: Lớn, đây có nghĩa là nhiều. Kiếp: Một đời người, kiếp sống.

Hạo kiếp ý nói lâu đời vì nó trải qua nhiều kiếp.

Trong bài kinh Tiên giáo có câu: Đạo kinh hạo kiếp, tức là Đạo trải qua lâu đời nhiều kiếp. Thật vậy, Đạo có trước khi Trời đất và vạn vật được hoá sanh, đến nay trải qua không biết bao nhiêu đời kiếp.

Đạo kinh hạo kiếp,

Càn khôn hoát vận.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

HẠO NHIÊN

浩 然

1.- Hạo Nhiên, bởi câu “Hạo nhiên chi khí 浩 然 之 氣”, chữ dùng trong sách Mạnh Tử, chỉ cái chính khí.

Mạnh Tử có câu: Ngã thiện dưỡng ngô hạo nhiên chi khí 我 善 養 吾 浩 然 之 氣, nghĩa là ta khéo nuôi cái khí chính đại, cương trực.

Tâm Ðạo tịnh tịnh thanh thanh,

Cướp cơ Tạo-Hoá vận hành hạo nhiên.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

2.- Hạo Nhiên Thiên 浩 然 天 là tầng Trời thứ bảy trong Cửu Trùng Thiên do Đức Chuẩn Đề Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát chưởng quản.

Tầng Hạo Nhiên Thiên này Bà Thất Nương Diêu Trì Cung cũng có nhiệm vụ dẫn dắt các chơn hồn.

Cầm Hoa Sen Thất Nương nguyện rỗi,

Cõi Hạo Nhiên mở lối vĩnh tồn.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

Nhẹ phơ phới dồi dào không khí,

Hạo Nhiên Thiên đã chí môn quan.

(Kinh Tận Độ).

3.- Theo Kinh Đệ Thất Cửu, tầng Hạo Nhiên Thiên có cung Chưởng Pháp nắm về pháp luật, vì vậy trong Di Lạc Chơn Kinh mới gọi tầng Trời này là Hạo Nhiên Pháp Thiên 浩 然 法 天.

Hạo Nhiên Pháp Thiên hữu: Diệt Tướng Phật, Đệ Pháp Phật, Diệt Oan Phật, Sát Quái Phật...

(Di Lạc Chơn Kinh).

 

 

HÁP

Háp là khô héo, mất nhựa sống, mất khả năng sinh trưởng. Như: Buồng chuối háp, lửa háp mặt.

Háp còn dùng để chỉ dấu hiệu già nua, gầy còm. Như: Mặt háp, già háp.

Nhiều gái lại tánh ưa vụng lựa,

Hong mặt hoa bếp lửa háp đen thui.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

HẠP

Hạp, như chữ “Hợp 合”, là hợp nhau, hoặc có những đặc điểm, tính chất vừa ý nhau, có thể chơi chung được với nhau, không có sự mâu thuẫn, cãi vã.

Như: Anh em hạp tánh nhau, thức ăn nầy hạp với khẩu vị, tôi hạp với không khí Đà Lạt.

Thánh giáo Thầy có câu: Bị hàng phẩm Nhơn tước phải phù hạp với hàng phẩm Thiên tước, đáng lẽ Thầy cũng nên cho các con chịu số phận bần hàn mà không nỡ, nên ngày nay mới có kẻ như vậy.

Hễ gần hiền, lành đặng tự nhiên,

Mới hạp tánh Thiêng Liêng tạo thế.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

HẠP THỜI

Hay “Hợp thời”.

Hạp (hợp): Đúng với đòi hỏi, với yêu cầu, không mâu thuẫn. Thời: Lúc, thời kỳ.

Hạp thời, như chữ “Hợp thời 合 時”, là đúng lúc, đúng với thời kỳ hiện tại.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Hộ Pháp có đoạn dạy: Thấm thoát đã mấy mươi năm, cũng may hiền hữu không quên cây cội nước nguồn. Hiền hữu đã đến thì rất hạp thời. Vậy hãy nghiêng vai chung gánh Đạo Trời với chúng tôi, vì đó là sứ mạng thiêng liêng của chúng ta.

Đang lúc quốc dân bồng bột giành giựt vì sanh kế, mà đem vấn đề Tu Thân ra bàn bạc thiết tưởng cũng một sự rất hạp thời.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

HÁT

Hát là ngâm nga theo điệu, theo nhịp để biểu hiện tư tưởng, tình cảm.

Như: Hát chèo, hát cải lương, lời ca tiếng hát.

Nói về Đức Khổng Tử, Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Tính của Ðức Khổng Tử hay ưa thích đàn và hát. Lúc Ngài ở nước Tề ham học Nhạc thiều, trong ba tháng say mê cho đến đỗi ăn không biết mùi vị.

Hờn đời Lam hát tay khua ngọc,

Chê thế Trang ca phép vỗ bồng.

(Bát Nương Giáng Bút).

Kìa là vua, nọ là quan,

Cũng như bọn hát hý tràng bán vui.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

HÁT BỘI

Hát: Dùng âm thanh theo nhịp điệu để biểu diễn tư tưởng tình cảm. Bội (bộ): Điệu bộ.

Hát bội, còn gọi “Hát bộ”, là lối hát có lớp lang diễn theo các truyện tích xưa mà đào kép dùng điệu bộ đặc biệt để diễn tả nội dung của tuồng tích.

Tuồng Hát bộ thường mang chung quanh đề tài Trung hiếu tiết nghĩa.

Thánh giáo Thầy dạy Ngài Thượng Phẩm có câu: Ðáng lẽ nó (Hộ Pháp) phải sắm khôi giáp như hát bội, mà mắc nó nghèo, Thầy không biểu.

Trường đổ bác cũng đừng léo tới,

Phường trăng hoa hát bội khá từ.

(Giới Tâm Kinh).

Trăm nghề nghiệp dầu nghề hát bội,

Tập ông chồng nói lối cho hay.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

HÁT GIANG

Hát Giang là con sông thuộc xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, ngoại thành Hà Nội.

Tại xã Hát Môn, Hai Bà Trưng đã lập đàn và tuyên đọc lời thề xuất quân khởi nghĩa để chống lại quân Mã Viện, và dòng Hát giang cũng là nơi Hai Bà gieo mình tự vẫn để bảo toàn khí tiết khi bị yếu thế trước quân giặc vào ngày 6 tháng 3 năm Quý Mão (năm 43 sau Công Nguyên).

Sau thua Mã Viện binh ròng,

Hồn thiêng mang hận theo dòng Hát Giang.

(Báo Ân Từ).

 

 

HẠT

1.- Hạt, như chữ “Hột”, dùng để chỉ phần ở trong một loại quả nào đó và có nhân.

Như: Hạt lúa giống, hạt cam quít có vị the đắng, cửa hàng bán hạt giống.

Lời Phật thuyết cảm hoài hành động,

Lúa dùng làm hạt giống đức tin.

(Báo Ân Từ).

2.- Hạt, nghĩa rộng chỉ những cái gì hình tròn giống như cái hạt.

Như: Hạt mưa rơi ngoài đồng nội, hạt ngọc sáng long lanh, hai hạt châu rơi, hạt chuỗi.

Lần hạt tu tâm thìn nét Đạo,

Biển trần độ chúng vững con thoàn.

(Lam Thể hoà).

 

 

HẠT NHÂN

Hạt: Vật tròn như hạt. Nhân: Nhân nguyên tử.

Hạt nhân là phần trung tâm của nguyên tử, nơi tập trung hầu hết khối lượng, mang điện tích dương, chỉ loại vũ khí nguyên tử.

Như: Chiến tranh hạt nhân sẽ gây ra tận thế.

Hoà bình cương lĩnh kêu chung sống,

Thế chiến hạt nhân chịu nạn đành.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

HẠT GIỐNG

Hạt (hột): Phần để làm giống ương cây. Giống: Hột để trồng làm giống.

Hạt giống là hạt dùng làm giống để gieo trồng.

Trong tôn giáo người ta lấy đức tin làm hạt giống để gieo trồng hầu thu hoạch thiện quả.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Vì đó, lòng nhân ái là cái vốn vô hình của người hành Ðạo, cái vốn đó rất cần thiết, vì người tu hành mà thiếu cái vốn nhân ái thì cũng như người muốn đi buôn mà trong tay không có sẳn tiền, người muốn làm ruộng mà không có sẳn hạt giống, người muốn đi biển mà khôngcó sẳn ghe...

Lập thành Hội Thánh nơi Tần quốc,

Hạt giống Cao Đài gốc vững chăm.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

HẠT CHÂU

Hạt: Lượng nhỏ chất lỏng có hình giống như hạt gạo, hạt ngô. Châu: Ngọc.

Hạt châu như chữ “Châu lệ 珠 淚”, chỉ nước mắt long lanh như hạt trai ngọc rơi.

Trong văn chương, người ta thường ví nước mắt như hạt châu do điển: Giao nhân 蛟 人 đến cuối năm về thuỷ phủ để chầu vua. Lúc từ biệt gia đình, họ khóc rất thảm thiết, mà khóc bao nhiêu thì nước mắt hoá thành những hạt châu bấy nhiêu.

Xem: Châu lệ.

Hạt châu lã chã vừa tan tạnh,

Tiếng nhạn kêu chầm vẳng vẳng xa.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

HAY

1.- Hay là siêng, chăm, năng, thường. Như: Hay làm, hay ăn, hay chơi, hay chọn.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Như kẻ bên Phật giáo hay tặng Nhiên Ðăng là Chưởng giáo, Nhiên Ðăng vốn sanh ra đời Hiên Viên Huỳnh Ðế.

Tài mạng thường hay ghét lẫn nhau,

Hễ là có nhọc mới danh cao.

(Đạo Sử).

Thầy hay thương mến lũ con hoang,

Song chớ ỷ y phải ngỡ ngàng.

(Đạo Sử).

2.- Hay là giỏi, tốt, trái với dở. Như: Hay chữ, hay âm nhạc, hay thơ ca.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Thầy khuyên các con theo sau Thầy mà đến phẩm vị mình thì hay hơn tuông bờ lướt bụi, đi quanh kiếm quất, nghe à.

Cao bay xa chạy đã hay chi,

Chưa biết loạn bình lúc trợ nguy.

(Đạo Sử).

3.- Hay là biết, hiểu rõ, nghe. Như: Hay tin mẹ về, Anh nói lại câu chuyện cho tôi hay.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy đã nói cho các con hay trước rằng, nếu các con không tự lập ở cõi thế nầy, là cái đời tạm của các con, thì Thầy cũng không bồng ẵm các con mà đỡ lên cho đặng.

Cho hay Trời Phật chí công bình,

Trước mắt ngờ ngờ thấy phép linh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chim Hồng thuận gió mới xa bay,

Thánh đức mới hay Ðạo nhiệm bày.

(Đạo Sử).

4.- Hay còn có nghĩa hoặc là. Như: Đường xa hay gần, nhà ngói hay nhà lá, đi hay ở.

Day về cơ bút, Thánh giáo Thầy có câu: Thủ cơ hay là Chấp bút phải để cho thần, tâm tịnh mới xuất Chơn thần ra khỏi phách đặng hầu Thầy nghe dạy.

Mau bước lui lần qua cõi tục,

Cười than vui khóc, thấy hay chưa?

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

HAY DỞ

Hay: Có tác dụng đem lại sự tốt lành. Dở: Không đạt yêu cầu, không mang lại kết quả.

Hay dở là giỏi và vụng, tốt và xấu.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Ngoài ra hằng ngày ta đã nghe và thấy các tấn tuồng của đời diễn ra từ lớp, hay dở tốt xấu, lành dữ, hư nên ta mới lấy đó mà kinh nghiệm kỹ càng rồi mới lọc lược cái hay, cái khéo ở trong đó mới lập lại làm với một quyển sách của cha mẹ dạy ta từ thử.

Lẽ hay dở phải lo định liệu,

Cả anh em nương níu lấy nhau,

(Phương Tu Đại Đạo).

Sắc son nhuộm tánh đượm màu tươi,

Hay dở khen chê để miệng người.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

HẮC

Hắc là đen, trái với “Bạch” là trắng. Màu đen thường dùng để chỉ về sự mờ ám, đen tối, hoặc xấu xa.

Như: Hắc ám. hắc bạch, hắc vận, hắc khí.

Giảng Đạo Yếu Ngôn, Nguyễn Văn Kinh có viết: Lại còn lưu luyến hồng trần, làm các điều hung ác, hại tổn cho đời hắc khí xung thiên, chơn dương thất chánh, nên Tạo hoá lập định Tam Nguơn Long Huê Kỳ Hội.

Xem: Hắc bạch.

Hắc bạch phú cho vầng nhựt nguyệt,

Thị phi chờ thoát bóng quang âm.

(Thơ Huệ Giác).

Ðảnh xanh lửa cháy phun muôn ngọn,

Sông hắc nước lưng đựng một gào.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

HẮC ÁM

黑 暗

Hắc: Màu đen. Ám: Tối tăm.

Hắc ám là đen tối, không rõ ràng.

Hắc ám còn có nghĩa việc ác không dám công khai.

Thánh giáo Chí Tôn có câu: Thầy đã là Ðấng lập khổ hình, chiếu theo phép công bình của Tạo hoá, nhưng thấy nhơn sanh càng ngày càng bước vào con đường hắc ám, để đem số phận buộc vào đó, thì Thầy cũng bắt đau lòng, nhưng chẳng lẽ bỏ phép công vì sanh chúng.

Từ nay thế giới phải chịu trong vòng hắc ám.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

Vùng vẫy thoát ra màn hắc ám,

Chống đương lũ quỷ bước cho nhanh.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

HẮC BẠCH

黑 白

Hắc: Đen. Bạch: Trắng.

Hắc bạch là đen trắng hay trắng đen. Ý muốn nói sự phân minh hay rõ ràng: Như hắc bạch phân minh.

Hắc bạch còn dùng để chỉ sự xấu tốt hay tà chánh.

Đời đã đóng thành tuồng thành sách,

Dạy cho nên hắc bạch màu thương.

(Bát Nương Giáng Bút).

Dầu xử thế cũng cho biết cách,

Đạo vợ chồng hắc bạch cứ phân minh.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

HẮC PHONG ĐOẠT CỦA BÁU

Hắc Phong đoạt của báu ý chỉ con yêu tinh ở động Hắc Phong cướp đoạt áo ca sa báu Tam Tạng.

Theo truyện Tây Du Ký, hai thầy trò Tam Tạng và Ngộ Không trên đường đi thỉnh Kinh, ngày kia trời sắp tối, xin vào tá túc nơi Quan Âm Thiền Viện. Do lòng tham chiếc áo Ca sa quý của Đường Tăng, các vị sãi trong Thiền Viện lén chất củi nơi phòng ngủ của hai thầy trò định đốt chết để cướp áo. Ngộ Không biết được quỷ kế, chẳng những không chữa lửa, trái lại còn hoá thêm gió, khiến cho ngọn lửa cháy tiêu ngôi chùa.

Đêm đó, có một con yêu tinh là Hắc Phong đến thấy chiếc áo Ca sa, biết là vật quý nên cướp về Động Hắc Phong. Sau Ngộ Không nhờ Quan Âm Bồ Tát thu phục con yêu tinh Hắc Phong mà lấy lại chiếc áo Ca sa.

Trên hành lang Báo Ân Từ, Hội Thánh có cho vẽ sự tích “Yêu tinh Hắc Phong trộm áo Ca sa”.

Hắc Phong đoạt của báu mà,

Người tu nhờ có Phật Bà cứu nguy.

(Báo Ân Từ).

 

 

HĂM

1.- Hăm là đe doạ gây ra tai hoạ. Như: Hăm doạ, hăm he, hăm đánh.

Trong Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Thánh giáo Thầy có câu dạy: Các con, đáng kiếp cho mấy con nhé, phải có hình phạt như vậy các con mới biết sợ, chớ dỗ dành ngon ngọt các con không sợ, còn Thái Bạch hăm trừng thì các con đều kinh khủng. Khi Thầy và Thái Bạch khác nhau xa lắm con há?

Cò ngao mãi để dành phần thắng,

hăm ngao trời nắng ba ngày.

(Bao Ân Từ).

2.- Hăm là số hai mươi, tiếng dùng để đếm từ hai mươi mốt trở đi.

Như: Hăm mốt, năm lần năm là hăm lăm, tháng thiếu có hăm chín ngày.

Hễ thuộc đặng hăm lăm chữ cái,

Muôn điều chi cũng phải vào vòng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

HĂM BỐN GƯƠNG XƯA

Hăm bốn gương xưa ý chỉ hai mươi bốn gương hiếu thảo của người xưa.

Do tích trong tác phẩm “Nhị thập tứ hiếu 二 十 四 孝” kể lại hai mươi bốn gương người con hiếu thảo, đó là Ngu Thuấn, Hán Văn Đế, Tăng Sâm, Mẫn Tử Khiên, Tử Lộ, Diễm Tử, Lão Lai Tử, Đổng Vĩnh, Quách Cự, Khương Thi, Thái Thuận, Đinh Lan, Lục Tích, Giang Cách, Hoàng Hương, Vương Thôi, Ngô Mãnh, Vương Tường, Dương Hương, Mạnh Tông, Sưu Kiềm Lâu, Đường Thị, Chu Thọ Xương, Hoàng Đình Kiên.

Xem: Hai mươi bốn hiếu.

Hăm bốn gương xưa lắm mặn mòi,

Hổ mình chưa đặng chút chi noi.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

HĂM DOẠ

Hăm: Đe, doạ. Doạ: Nộ nạt, đe lời, làm cho sợ.

Hăm doạ là đe, doạ sẽ gây ra tai hoạ nếu không chịu khuất phục.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Mặc dầu nước Việt Nam của chúng ta đang bị hăm doạ bởi nạn xâm lăng, nhưng Đức Cao Hoàng một Đấng anh quân đã dày công gầy dựng san hà, thì theo chân Ngài cái chí phục quốc ấy phải có ở mỗi người dân Việt. Ngày nay, phải cần có một Đấng anh quân như vậy để bảo tồn nòi giống, gầy dựng giang san, người anh hùng ấy, bực anh quân ấy là ai Bần Đạo còn đang trông đợi.

Đừng cố oán thầm lo gây hoạ,

Đem lòng thù hăm doạ rắp đường.

(Kinh Sám Hối).

 

 

HĂM HỞ

Hăm hở là tỏ ra hăng hái tham gia vào một công việc chung nào đó với tất cả nhiệt tình, không tiếc công sức.

Như: Cái hăm hở của tuổi hai mươi, đoàn người du lịch hăm hở lên đường.

Vẫn còn thoáng lạnh hơi sương,

Mọi người hăm hở tay bươn quơ giầm.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

HẲN

Hẳn là chắc, nhất định, tức có tính chất hoàn toàn, dứt khoát như vậy, không có nửa nọ, nửa kia.

Như: Việc ấy hẳn là làm được, điều đó đã hẳn, đứng hẳn về một phía, quên hẳn.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có câu: Thầy trông mong nơi các con, chớ nên vì chuyện nhỏ mọn phàm tục mà bứt hẳn mối tương thân tương ái, thì chẳng phải là đức tánh của tu hành đó.

Trăm năm chưa hẳn nên hiền đức,

Tấn nẻo chông gai khá lựa dèo.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Gồng gánh hai vai nặng nợ trần,

Có thân âu hẳn khổ cho thân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

HẲN HÒI

Hẳn: Có thể khẳng định là như vậy, dứt khoát như vậy, không còn có gì là nghi ngờ.

Hẳn hòi, như chữ “Hẳn hoi”, là tươm tất, tức có được đầy đủ các yêu cầu, đúng tiêu chuẩn như đòi hỏi.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Sự biến chuyển của Quốc Gia Việt Nam, giờ phút nầy chưa có đến mức quyết định của nó hẳn hòi, nên nó còn biến thiên không thể gì nói cho được.

Hùng binh điệp điệp trông oanh liệt,

Dõng tướng trùng trùng thấy hẳn hòi.

(Quyền Giáo Tông Giáng).

Giữ trang nghiêm nết hạnh hẳn hòi,

Đặng em gái thường coi bắt chước.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

HĂNG HÁI

Hăng: Dữ dội, quyết liệt.

Hăng hái là người ở trạng thái nhiệt tình, biểu lộ bằng thái độ tích cực trong công việc.

Thánh giáo Đức Cao Thượng Phẩm có câu: Các em nhỏ lúc nào cũng sẵn bầu nhiệt huyết, song sự hăng hái ấy cần phải có sự dẫn dắt kềm chế của đàn anh mới thiệt là tận thiện tận mỹ.

Bao nhiêu nguồn tinh lực hăng hái của tuổi xuân sẽ bị cuốn mất theo giòng thời gian của võ trụ.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

HẰNG

1.- Hằng là thường, luôn luôn, từ biểu thị tính liên tục của một hoạt động diễn ra trong suốt thời gian dài.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Thầy lấy làm đau đớn hằng thấy gần trót mười ngàn năm, nhơn loại phải sa vào nơi tội lỗi, mạt kiếp chốn A Tỳ.

Đời hằng đổi, nước non không đổi,

Giữ nhơn luân nhờ mối Đạo truyền.

(Ngụ Đời).

Tiếng đời hằng nói phước do lành,

Con chẳng biết tu cứ cạnh tranh.

(Đạo Sử).

2.- Hằng viết tắt của chữ “Hằng Nga 姮 娥”, dùng để chỉ mặt trăng.

Như: Chị Hằng trên cung ngọc, ả hằng.

Đổ ngọc chị Hằng cười ngả ngớn,

Trông hoa dì gió ngủ thiu thiu.

(Lục Nương Giáng Bút).

Thương cung Quảng, Hằng ngồi ngó thế,

Đợi tin chàng Hậu Nghệ đến thăm.

(Thất Nương Giang Bút).

 

 

HẰNG ĐẠI

Hằng Đại là tên vua Văn Đế nhà Hán, con thứ của vua Hán Cao Tổ, em của vua Huệ Đế.

Huệ Đế mất, không con, đình thần mới rước Văn Đế về nối ngôi. Mẹ Văn Đế là Bạc Hậu, vợ lẽ của vua Hán Cao Tổ, bị bịnh trong ba năm trời, Văn Đế lúc nào cũng mũ áo đai cân đứng hầu mẹ, thức suốt đêm không dám ngủ, thuốc thang dâng đến, Ngài tự nếm trước, rồi mới dâng cho mẹ uống, vì sợ có thuốc độc. Văn Đế là một trong hai mươi bốn người con hiếu thảo.

Hằng Đại hay Hán Văn Đế được xếp vào một trong Nhị thập tứ hiếu và được Hội Thánh Cao Đài vẽ bức tranh nơi mặt tiền Báo Ân Từ.

Hằng Đại xưa cũng hàng Thiên Tử,

Sắc thuốc rồi nếm thử mới dâng.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

Hằng Đại Vương bữa hầu bịnh mẹ,

Thái Hậu còn lắm kẻ gia nhân.

(Báo Ân Từ).

 

 

HẰNG HÀ

恆 河

Hằng: Con sông Hằng, tức là sông Gange ở bên Ấn Độ. Hà: Con sông.

Hằng hà là sông Hằng, nghĩa bóng do chữ “Hằng hà sa số 恆 河 沙 數”, dùng để chỉ số nhiều không thể đếm được như số cát ở dưới đáy sông Hằng.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Ôi! Tuy vân, hồng ân của Ðại Từ Phụ như thế mà vẫn thấy các chơn hồn sa đoạ hằng hà, mỗi ngày xem chẳng ngớt, là tại thiếu đức tin và lòng trông cậy nơi Thầy.

Dẫn Kinh sách:

Thấy lỗi mọn chớ nghi chẳng hại,

Thường dạn làm tội lại hằng hà.

(Kinh Sám Hối).

 

 

HẰNG HÀ SA SỐ PHẬT

恆 河 沙 數 佛

Hằng hà sa số: Nhiều như cát sông Hằng. Phật: Bụt, chỉ người giác ngộ hoàn toàn viên mãn.

Hằng Hà Sa Số Chư Phật là Phật nhiều như số cát nơi sông Hằng, ý chỉ nhiều không thể đếm được.

Mỗi khi muốn nói đến con số rất nhiều, không cách nào hình dung nổi, Phật thường dùng lượng cát trong sông Hằng để làm tỷ dụ.

Theo Kinh bên phái Đại Thừa cho biết trong một trụ kiếp có hằng nghìn vị Phật giáng thế để thuyết pháp mà cứu độ chúng sanh. Vì thế có rất nhiều vị Phật ở đời quá khứ, đời hiện tại và đời vị lai, cho nên gọi chung là hằng hà sa số Phật.

Như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật.

(Di Lạc Chơn Kinh).

 

 

HẰNG NGA

姮 娥

Hằng Nga là tên một nàng con gái đẹp đẽ ở trên cung trăng (cung nguyệt).

Tục truyền Hằng Nga là vợ của Hậu Nghệ. Khi Hậu Nghệ xin được thuốc trường sanh của bà Tây Vương Mẫu, Hằng Nga trộm uống, bay lên cung trăng, biến thành vị tiên nữ rất đẹp và trẻ mãi không già.

Nghĩa bóng: Chỉ người con gái đẹp, chỉ mặt trăng.

Xem: Hậu Nghệ.

Vườn thu giấu dạng Hằng Nga,

Hải đường nở muộn mặn mà ái phong.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Thiềm cung rạng tỏ bốn phương trời,

Vẻ mặt Hằng Nga giọi khắp nơi.

(Thơ Thuần Đức).

Xuống khe rồng, lên đảnh hạc,

Mơ màng cung Nguyệt bóng Hằng Nga.

(Tuý Sơn Vân Mộng).

 

 

HẰNG SANH

Hay “Hằng sinh”.

Hằng: Lâu bền, mãi mãi. Sanh (sinh): Sống.

Hằng sanh, như chữ “Hằng sinh 恆 生”, là hằng sống, tức sống mãi.

Trong tôn giáo Cao Đài, Hằng sanh dùng chỉ cõi Thiêng Liêng Hằng Sống, mà Công Giáo gọi Thiên đường hay nước Chúa, Phật giáo gọi Niết bàn hay Cực Lạc.

Thế gian là cõi tạm, nên con người xuống như một khách trần, gởi thân để chờ ngày trở về cõi Thiêng Liêng, đó mới là cõi Hằng sống hay cõi Vĩnh hằng.

Xem: Vĩnh sanh.

Ngồi trông con đặng phi thường,

Mẹ đem con đến tận đường Hằng sanh.

(Tán Tụng Công Đức).

Nhờ hưởng khí trời nên được sống,

Nương theo vị đất đặng Hằng sanh.

(Thượng Phẩm Giáng).

 

 

HẰNG SỐNG

Hằng: Thường thường, mãi mãi. Sống: Trái với chết.

Hằng sống, bởi chữ “Hằng sanh 恆 生”, tức là sống mãi mãi. Hằng Sống còn dùng để chỉ cõi Thiêng Liêng Hằng Sống, một cõi giới của chư Thần, Thánh, Tiên, Phật.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Nếu kẻ nào biết hiểu Thánh Ngôn của Thầy nơi miệng các con mà tỉnh ngộ thì số hằng sống nó vốn còn, còn chẳng thì thôi, để cho chúng nó theo tà quái.

Xem: Hằng sanh.

Nhờ Đức Chí Tôn thương xá tội,

Hướng về Hằng sống huệ ân ban.

(Thơ Huệ Phong).

Một giấc huỳnh lương mừng đã mãn,

Con đường hằng sống rộng thinh thinh.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

HẰNG TÂM

恆 心

Hằng: Thường thường, mãi mãi. Tâm: Lòng.

Hằng tâm là lòng chẳng bị dao động vì lý do bên ngoài, lòng luôn luôn nghĩ đến điều thiện.

Mạnh Tử nói: Vô hằng sản nhi hữu hằng tâm giả, vi sĩ vi năng 無 恆 產 而 有 恆 心 者, 維 士 為 能, nghĩa là không có hằng sản mà có hằng tâm, chỉ riêng kẻ sĩ mới được như vậy mà thôi.

Mấy anh nên lấy nó làm phép hằng tâm, thì bước vinh diệu thiêng liêng không lạc nẻo.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

HẮT HIU

Hắt: Gió tạt nhẹ. Hiu: Ở trạng thái êm nhẹ, yếu ớt hoặc có sắc thái mờ nhạt, gây cảm giác buồn, vắng lặng.

Hắt hiu, như chữ “Hiu hắt”, dùng để chỉ trạng thái mong manh, yếu ớt, gây cảm giác buồng vắng, cô đơn, cảm giác của một việc sắp tàn.

Như: Ngọn đèn cháy hắt hiu giữa đêm mưa gió.

Xem: Hiu hắt.

Hắt hiu cứ tưởng trăng cùng gió,

Mà để cho ai đến lỡ thì.

(Đạo Sử).

 

 

HẦM

1.- Hầm là hố rộng, tức khoảng trống đào ngầm trong lòng đất, hay đục xuyên qua núi.

Như: Hầm chông, giặc đào hầm để ẩn núp, đường hầm xuyên qua núi, băng qua sông.

Cũng như ác thú nhốt hầm,

Ăn nhau cho đã nào cần mệnh nhau.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Hầm là để thức ăn vào cái nồi rồi đậy kín mà nấu cho thật chín nhừ.

Như: Gà hầm thuốc bắc, thịt hầm trứng vịt, hầm vôi.

Nhớ khi dao khứa máu trào,

Nhớ khi bằm xắt nấu xào hầm kho.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

HẨM HÚT

1.- Hẩm: Mất đi một phần, không tròn vẹn. Hút: Hiếm, ít có, có số lượng nhỏ hơn so với nhu cầu.

Hẩm hút là hẩm hiu và heo hút, chỉ sự thiếu thốn, hoặc cảnh buồn tẻ và cô độc.

Tháng ngày hẩm hút thay lòng tục,

Khuya sớm kệ kinh đổi tánh thần.

(Thơ Mai Ngọc Nhiễu).

2.- Hẩm: Biến màu, xuống chất. Hút: Gạo xấu.

Hẩm hút còn có nghĩa là gạo xấu, không trắng, chỉ thức ăn của người nghèo.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Từ ban sơ Qua chịu nhọc nhằn hẩm hút, ăn từ miếng tương rau hiệp cùng nhau gầy dựng lập Phạm Môn, Qua chịu khó nhọc như mấy em cho đến ngày Cơ Quan Phước Thiện ra thiệt tướng, đã tạo đủ lực lượng cho mấy em thi hành nhiệm vụ.

Hẩm hút muối dưa an phận khó,

Thung dung ngày tháng đắp nền nhân.

(Thơ Thượng Sanh).

Đói no hẩm hút lòng không nại,

Rách rưới cơ hàn dạ chẳng than.

(Thơ Ngọc Tứ Thanh).

 

 

HẬM HỰC

Hậm hực là có thái độ bực tức, khó chịu trong lòng vì không được như ý, không thể nói ra, và không thể phản ứng lại.

Như: Đuối lý đành hậm hực ngồi im, Bước ra khỏi phòng mà trong lòng còn hậm hực.

Quan Thống Đốc uất hơi hậm hực,

Mời Hộ Pháp chọc tức tại dinh.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

HÂN HẠNH

欣 幸

Hân: Vui mừng. Hạnh: May mắn.

Hân hạnh là tiếng dùng trong đối thoại với người khác, có nghĩa may mắn và lấy làm vui mừng được dịp có quan hệ, tiếp xúc.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Như vậy Hội Thánh thật hân hạnh được sự ủng hộ triệt để của bổn Ðạo về mọi phương diện, kẻ đem công, người giúp của, chia sớt nỗi âu lo, đắp bồi chỗ thiếu thốn.

Thiếp lấy làm hân hạnh được trông thấy lòng thành kỉnh của chư đạo muội.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

HÂN HOAN

欣 歡

Hân: Mừng. Hoan: Vui vẻ.

Hân hoan là vui mừng, thường biểu lộ trên cả nét mặt, hay cử chỉ.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có dạy: Ngày mùng năm tháng giêng năm Canh Dần đến đây toàn thể Quốc Dân Việt Nam sẽ hân hoan thế nào, nếu ai có biết vui sướng hân hạnh.

Đời còn lắm lúc lầm than,

Đạo thì lắm lúc hân hoan tinh thần.

(Thơ Hộ Pháp).

Một lòng quyết chí tấc gan,

Ngày kia hầu được hân hoan cõi Trời.

(Thất Nương Giáng bút).

 

 

HÂN HỦI

Hân hủi, như chữ “Hắt hủi”, là tỏ thái độ ghét bỏ, không cần quan tâm đến.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Trái lại, Chức Sắc Thiên Phong là người cầm phướn chiêu hồn dìu dắt chúng sanh thoát khổ, mà đi đến đâu đều bị họ chê bai, biếm nhẻ, kích bác, hân hủi đủ thứ, Chức Sắc Hội Thánh đem hồng ân của Ðức Chí Tôn rải khắp các nơi cho nhơn sanh chung hưởng, mà họ coi như vật thường, không có giá trị gì, họ đã mài miệt chạy theo khoa học, chú trọng về văn minh vật chất, chớ không hấp thụ được đạo đức tinh thần, họ đeo đuổi theo nguồn tranh đấu là cơ tự diệt, chớ nào rõ biết cơ bảo tồn quy cổ là gì, mãi đến ngày nay mà họ cũng chưa tỉnh.

Xem: Hất hủi.

Kẻ nghịch lắm phen hân hủi Đạo,

Đến chừng Tận Thế mới rồi than.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

 

 

HẬN THÙ

恨 讎

Hận: Oán giận. Thù: Thù hằn, tức là nuôi ý định trị kẻ đã gây tai hại cho mình.

Hận thù, như chữ “Thù hận 讎 恨”, tức là thù hằn và oán giận.

Thánh giáo Đức Hộ Pháp có dạy: Thời nào theo nấy, khi Bần đạo còn mang phàm thể thì cũng oán ghét như ai nên mới có ngày Đạo Hận, nhưng khi về thiêng liêng vị thì cởi mở tất cả, chớ để hận thù làm gì trong cửa Đạo.

Duyên nợ vẹn đền toan dạ gắng,

Hận thù chung trả trọn lòng thờ.

(Thơ Huệ Giác).

Trường đình nhìn bạn ngán đường cu,

Nợ nước chàng lo trả hận thù.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

HẪNG HỜ

Hẫng: Có cảm giác mất đi hứng thú một cách đột ngột. Hờ: Tạm bợ, không chắc chắn, không cố định.

Hẫng hờ, như chữ “Hờ hẫng”, là lãnh đạm, lạnh nhạt trong quan hệ tình cảm, không chút chăm nom, lưu ý đến.

Như: Tánh anh thường hẫng hờ với vợ con.

Xem: Hờ hẫng.

Thương ai chớ có hẫng hờ,

Rồi đây ân hận một giờ gió trăng.

(Ngũ Nương Giáng Bút).

So mình nắm dễ tóc tơ,

Ngoài ra còn lắm hẫng hờ lứa đôi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Còn đâu lưu thuỷ cao san nữa?

Mà khách tri âm chẳng hẫng hờ.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

HẤP HỐI

Hấp hối là tình trạng sắp tắt thở, sắp chết.

Trong tang lễ Cao Đài có nghi cúng Cầu Hồn Khi Hấp Hối cho người sắp chết.

Nghi cầu hồn khi hấp hối phải được thân nhân người bệnh báo cho Bàn Trị Sự đến để tụng kinh hấp hối.

Nếu trong khi cầu hấp hối mà bịnh nhân tắt hơi tiếp tụng luôn bài Kinh Khi Đã Chết Rồi.

(Hạnh Đường).

 

 

HẤP TẤP

Hấp tấp là vội vã, muốn công việc chóng xong.

Như: Làm từ từ đừng có hấp tấp mà hư công việc, ăn quá hấp tấp nên mắc nghẹn.

Chúng ta phải kiên nhẫn và từ hoà, nếu chúng ta hấp tấp hay lật đật, thì chẳng hề khi nào chúng ta để thời gian đến trước mặt chúng ta đặng.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

HẤP THỤ

吸 受

Hấp: Hút vào. Thụ: Nhận.

Hấp thụ là hút vào, hay chịu ảnh hưởng.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Chức Sắc Hội Thánh đem hồng ân của Ðức Chí Tôn rải khắp các nơi cho nhơn sanh chung hưởng, mà họ coi như vật thường, không có giá trị gì, họ đã mài miệt chạy theo khoa học, chú trọng về văn minh vật chất, chớ không hấp thụ được đạo đức tinh thần, họ đeo đuổi theo nguồn tranh đấu là cơ tự diệt, chớ nào rõ biết cơ bảo tồn quy cổ là gì, mãi đến ngày nay mà họ cũng chưa tỉnh.

Con vì tâm tình cao thượng mà cứu vãn sự sụp đổ của một dân tộc đã hấp thụ một nền văn minh tối cổ.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

HẤT

Hất là gạt mạnh ra.

Như: Hất chén bát xuống bàn, lấy chân hất vỏ chuối xuống rãnh, hất bỏ tô nước.

Nổi tam bành xô hất khỏi mùng,

Chừng ấy khóc lo chung xuống ghế.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

HẤT HỦI

Hất hủi, còn có thể viết “Hắt hủi”, là tỏ thái độ ghét bỏ, đuổi xua, khinh khi.

Như: Dì ghẻ hất hủi còn chồng, bị bạn bè hất hủi, vì bị bịnh cùi nên gia đình hất hủi nó.

Qua cho biết liệu nuôi nổi thì nuôi, nếu không nuôi nổi thì giao lại cho Qua, chớ không quyền hất hủi nó...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

HẦU

1.- Hầu là chầu chực, thường xuyên ở bên cạnh để cho người trên sai bảo. Như: Hầu quan, hầu thầy, hầu cha mẹ, hầu đàn.

Thánh giáo Thầy dạy về cơ bút có câu: Thủ cơ hay là Chấp bút phải để cho thần, tâm tịnh mới xuất Chơn thần ra khỏi phách đặng hầu Thầy nghe dạy.

Biết Ðạo dù ai toan muốn hiếp,

Lòng trong e lệ giống hầu quan.

(Đạo Sử).

Nâng khăn trắp giải buồn quân tử,

Hầu tửu trà giấc ngủ không an.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Tóm quyền thế một tay chấp chánh,

Bắt chồng hầu như lính hầu quan.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Hầu là từ biểu thị mức gần, sắp là như thế. Như: Đêm đã hầu tàn, mặt trời đã hầu chinh, được lòng hầu hết mọi người, hầu vơi lại đầy.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có lời dạy: Nếu chẳng mau chân, ngày giờ hầu cận, chư Tiên, Phật hội Tam Giáo xin bế lại thì dầu Ta muốn cứu vớt thêm cũng chẳng qua số Thiên cơ đặng.

Ðạo đức gắng theo đỡ ít nhiều,

Ngày thâu bóng nhựt đã hầu xiêu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Xa thơ hầu ngã nước nhà nghiêng,

Ai giữ phong cương đặng vững bền.

(Đạo Sử).

Dỗ con chỉ bóng giải sầu,

Rằng khuya đèn thắp cha hầu về thăm.

(Nữ Trung Tùng Phận).

3.- Hầu còn dùng để chỉ người vợ bé. Như: Cưới hầu, hầu thiếp, ép thiếp đòi hầu.

Theo Tân Luật, Điều thứ chín phần Thế Luật có quy định: Cấm người trong Đạo, từ ngày ban hành luật nầy về sau, không được cưới hầu thiếp. Rủi có chích lẻ giữa đường thì được chấp nối.

Thả tôi tớ thôn lân húng hiếp,

Bức gái lành, ép thiếp đòi hầu,

(Kinh Sám Hối).

Đừng sang trọng phụ phàng nghèo khó,

Gặp hầu xinh vội bỏ thê hèn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

4.- Hầu là tước thứ hai trong năm tước quan lớn trong triều đình. Đó là Công, Hầu, Bá, Tử, Nam.

Như: Vương hầu, hầu tước, công hầu khanh tướng.

Mê tân là chốn đoạ con người,

Vương bá công hầu lụy mấy mươi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Bằng bảy công hầu chưa sánh kịp,

Phong làm Giáo Hữu thoảlòng chăng?

(Đạo Sử).

 

 

HẦU CẬN

1.- Hầu: Chầu chực, thường xuyên ở bên cạnh để cho người trên sai bảo. Cận: Gần, bên, cạnh.

Hầu cận là thường xuyên chầu chực bên cạnh để chờ lịnh trên sai bảo.

Như: Người hầu cận quan Thừa tướng.

Cặp phò loan lo làm túi bụi,

Hầu cận Thầy cặm cụi ngày đêm.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

2.- Hầu: Từ biểu thị mức gần. Cận: Gần, bên, cạnh.

Hầu cận là hầu gần, sắp đến, ý nói sắp sửa đến gần. Như: Ngày tết đã hầu cận mà công việc lại chưa hoàn tất.

Nếu chẳng mau chân, ngày giờ hầu cận, chư Tiên, Phật hội Tam Giáo xin bế lại thì dầu Ta muốn cứu vớt thêm cũng chẳng qua số Thiên cơ đặng.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

HẦU CHUNG

Hầu: Đứng chầu chực kế một bên, chờ tới phận sự. Chung: Chuông, vật từ khí trong đình, chùa.

Hầu chung là đứng kế bên cái chuông, chờ tới phận sự đánh chuông làm hiệu trong nghi tiết cúng Đài tại Thánh Thất hoặc Điện thờ Phật Mẫu.

Ðánh chuông phải sắp đặt cho có một vị đứng Hầu chung cho sẵn, đến khi xưng tên thì mới hầu chung.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

HẦU ĐÀN

Hầu: Đứng chầu chực kế một bên. Đàn: Đàn cúng.

Hầu đàn là nhập vào đàn cúng nơi Toà Thánh, Báo Ân Từ hoặc Thánh Thất, Điện Thờ Phật Mẫu địa phương.

Vì vậy mà Lý Thái Bạch định cho làm đại lễ nơi Thánh Thất Cầu Kho cho các môn đệ đó có thế hầu đàn đủ mặt.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

HẦU GẦN

Hầu: Gần, sắp. Gần: sắp sửa, không xa.

Hầu gần, như chữ “Hầu cận”, là sắp đến nơi, không còn xa nữa.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có câu: Nạn tiêu diệt hầu gần, hết chém giết lẫn nhau tới buổi bịnh chướng sát hại. Lão thấy hình phạt phải châu mày, nhưng ôm lòng ráng chịu, lạy lục khẩn cầu.

Tang thương đã biến cuộc hầu gần,

Bắc Hải rồi sau lại hoá sân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

HẦU HẠ

Hầu: Thường xuyên ở bên cạnh để người trên sai bảo. Hạ: Dưới, ở dưới.

Hầu hạ là kẻ dưới làm mọi việc lặt vặt phục vụ sinh hoạt hằng ngày cho chủ, cho người trên.

Trong Thánh Ngôn HIệp Tuyển Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Thầy lại cũng đã nói: Mỗi khi Chơn linh Thầy giáng đàn thì cả vàn vàn muôn muôn Thần, Thánh, Tiên, Phật theo hầu hạ.

Binh khí quanh mình khua rổn rổn,

Mỗi viên hầu hạ một vài trai.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Thê cùng thiếp sớm chiều hầu hạ,

Phán một lời kẻ dạ người thưa.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

HẦU KỀ

Hầu: Gần, sắp. Kề: Một bên, kế bên.

Hầu kề, như chữ “Hầu gần”, là sắp đến nơi, kề một bên, không còn xa nữa.

Như: Ngày thi đã hầu kề mà nó chưa chịu ôn tập.

Các con có biết chăng hiện nay vì thế gian rất hung bạo nên thời kỳ tận diệt đã hầu kề.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

HẦU MÃN

Hầu: Gần, sắp. Mãn: Hết, dứt.

Hầu mãn là gần hết, sắp chấm dứt.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Ðạo Trời mở ra cho một nước tất là ách nạn của nước ấy hầu mãn.

Nay là hạ nguơn hầu mãn, phải phục lại như buổi đầu, nên phải phản tiền vi hậu.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

HẦU THIẾP

Hầu: Người con gái đi ở để hầu hạ trong gia đình nhà quyền quý thời xưa. Thiếp: Vợ kế, vợ lẽ.

Hầu thiếp là vợ lẽ theo hầu hạ người chồng.

Hầu thiếp còn là từ dùng để chỉ chung các bà vợ.

Thời xưa còn chế độ đa thê, các bậc danh gia vọng tộc có quyền cưới nhiều vợ, trong đó một chánh thê, nhiều thứ thiếp và các nàng hầu.

Cấm người trong đạo, từ ngày ban hành luật nầy về sau, không được cưới hầu thiếp.

(Tân Luật).

 

 

HẬU

1.- Hậu là sau. Như: Cửa hậu, hậu điện, hậu học, lạc hậu, thối hậu.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ở thế nầy dầu một vị Phật cũng không chê ai, không hạng nào chê, hạng nào khen, vì Phật đã biết con đường đi trước kia, dầu ai phàm, dầu ai lạc hậu cũng tới sau, họ chỉ biết một điều là chỉ từ nẻo quanh co, vui vẻ chỉ cho bạn đi cùng đường đạt lên Phật vị.

Giữ cho trong sạch linh hồn,

Rèn lòng sửa nết đức tồn hậu lai.

(Kinh Sám Hối).

Tỉnh ngộ xá thân tại Phạm môn,

Khuyến tu hậu nhựt độ sinh hồn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Hậu là dầy, trái với bạc. Như: Nhân hậu, ở hậu gặp hậu, tiếp đãi trọng hậu.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Lòng người quân tử vốn hậu mà cái sở kiến chỉ ở sự thiện cho nên thấy ai làm điều hay thì khuyến khích cho người ta cố gắng làm hay hơn nữa, hoặc thấy ai làm điều ác thì can ngăn không để cho làm điều ác được.

Các con khá để ý đến, ấy là các con hiến cho Thầy một sự thành kính trọng hậu đó.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

HẬU BẠC

Hậu: Dày, dồi dào. Bạc: Mỏng, ít ỏi.

Hậu bạc là dồi dào và ít ỏi, ý nói sự đối xử một cách long trọng, tử tế, hay đơn sơ bạc bẽo.

Như: Nhận tình hậu bạc của người nào là do ta cư xử thế nào với người đó.

Có rủi mới hay tình hậu bạc,

Không ngơ đâu rõ giá thanh cao.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

HẬU DUỆ

後 裔

Hậu: Sau. Duệ: Con cháu.

Hậu duệ là chỉ con cháu đời sau. Như: Hậu duệ của các vị công thần thời xưa đều được hưởng tập ấm.

Tiền nhân dường đã thừa công quả,

Hậu duệ còn đang kém đức tài.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

HẬU ĐẠI

後 代

Hậu: Sau. Đại: Đời.

Hậu đại là người đời sau, tức chỉ những người thuộc thế hệ sau nầy.

Như: Tiền nhân khai cơ, hậu đại bảo nghiệp.

Tiền nhân bố đức khai cơ nghiệp,

Hậu đại nhớ ơn dựng thổ cương.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

HẬU ĐIỆN

後 殿

Hậu: Phía sau. Điện: Nơi thờ Phật. Trong Cao Đài nơi thờ Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu.

Hậu Điện là một ngôi nhà xây dựng phía sau Toà Thánh, Thánh Thất hay Điện Thờ Phật Mẫu, là nơi thờ chư Tiên Linh và cũng là nơi làm việc hoặc nơi hội họp của Chức sắc, Chức việc trong địa phương. Hậu Điện còn gọi là Thiên Phong Đường.

Những Thánh Thất hay Điện Thờ có mặt bằng rộng, thường xây thêm hai dãy Đông Lang và Tây Lang nối dọc hai bên Hậu Điện thành hình chữ U.

Giáp vòng Hậu Điện đôi bên,

Trung nghĩa hiền đức danh nên khuyến đời.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

HẬU HOẠN

後 患

Hậu: Ở phía sau, về sau. Hoạn: Mối lo nghĩ, sự việc không may, gây đau khổ lớn cho con người.

Hậu hoạn là mối lo về sau, tức những hoạn nạn đáng lo, có thể xảy ra về sau.

Như: Phòng ngừa hậu hoạn.

Khuyên anh sớm lánh lần hậu hoạn,

Tránh những điều tai nạn về sau.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

HẬU KIẾP

後 劫

Hậu: Sau. Kiếp: Đời người.

Hậu kiếp là kiếp sau, tức những kiếp sống được tái sinh sau này.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ta thấy hồi sáu tướng của Hạng Võ đem lòng phản bội, đầu nhà Hớn rượt Hạng Võ đến bến Ô Giang phải cắt đầu, trao cho Ðình Trưởng, chú là Hạng Bá trở lại phản cháu đã đầu lụy Hớn Bái Công còn trở lại phạt Sở. Tiền căn hậu kiếp vay trả, quả báo y nhiên.

Ðài các chưa từng miếng ngọt ngon,

Rán công hậu kiếp đặng vuông tròn.

(Đạo Sử).

 

 

HẬU LAI

後 來

Hậu: Sau. Lai: Đến, tới.

Hậu lai là sẽ đến, chỉ thời gian sắp đến (tương lai), hay chỉ những người sanh sau.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Đức Cao Thượng Phẩm có dạy: Ấy là trước qua sau tới, từ xưa các nước được nêu danh trong truyện sử, để uy tín với đời là chỉ nhờ thật hành đạo đức mới lập nền hạnh phúc cho kẻ hậu lai.

Trụ tâm nâng đỡ quốc hồn,

Giữ bền đảnh nghiệp vĩnh tồn hậu lai.

(Kinh Thế Đạo).

Giữ cho trong sạch linh hồn,

Rèn lòng sửa nết đức tồn hậu lai.

(Kinh Sám Hối).

Nêu gương tuyết giá hậu lai,

Gỡ trong muôn một những bài sanh ly.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

HẬU NGHỆ

后 羿

Hậu Nghệ, người đời Hạ, có vợ là Hằng Nga, xin được thuốc trường sanh của bà Tây Vương Mẫu, để Hằng Nga trộm uống, bay lên cung trăng.

Theo Hoài Nam Tử: Hậu Nghệ ở Vào thời vua Nghiêu, là người bắn cung rất giỏi, tương truyền lúc bấy giờ có mười mặt trời cùng xuất hiện một lúc, nên nóng bức khó chịu, vua Nghiêu sai Hậu Nghệ bắn rớt hết chín mặt trời, chỉ còn lại một mặt trời mà thôi.

Sau Hậu Nghệ cũng lên cung trăng sống với Hằng Nga. Xem: Hằng Nga.

Thương cung Quảng, Hằng ngồi ngó thế,

Đợi tin chàng Hậu Nghệ đến thăm.

(Thất Nương Giang Bút).

Ấm lạnh Quảng Hàn chen vóc tố,

Có chăng Hậu Nghệ buộc dây oan.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

HẬU QUẢ

後 果

Hậu: Sau, sau này. Quả: Trái, kết quả.

Hậu quả là kết quả không tốt về sau.

Do cái nguyên nhân của đời trước, gọi là “Tiền nhân 前 因” thì sẽ cho kết quả đời sau, gọi là “Hậu quả 後 果”.

Thánh giáo Đức Thượng Phẩm dạy: Mặc dầu chư hiền hữu không thể cản ngăn được cái mưu mô của họ, cũng chẳng thể cãi luật Trời được. Cái hậu quả về hành động bất chánh đó sẽ lớn lao thế nào, sau sẽ rõ. Thiên điều, trốn sao khỏi!

Nên hay hư thì tự mình gánh chịu trách nhiệm hay hậu quả, không liên hệ gì đến người khác.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

HẬU SINH

後 生

Hậu sinh là kẻ sinh sau, chỉ hàng con cháu, sau dùng để nói giới trẻ.

Luận Ngữ có câu: Hậu sinh khả uý 後 生 可 畏, nghĩa là kẻ sinh sau đáng sợ.

Như: Đừng nên khinh thường đám hậu sinh.

Bần Đạo muốn làm phương nào để giải thoát lệ thuộc đám hậu sinh đó cho đặng là hạnh phúc trong kiếp sống của Bần Đạo đó vậy.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

HẬU TẤN

Hậu: Sau. Tấn (còn đọc Tiến): Đi tới, tiến lên.

Hậu tấn là bước lên sau.

Hậu tấn, như chữ “Hậu tiến 後 進”, cùng nghĩa với “Hậu bối 後 輩” tức là lớp người đến sau.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy mầng cho các con đã chịu lao tâm tiêu tứ mà nền Ðạo, làm cho mối tương thân tương ái càng khắng khít vững bền, ráng công thêm nữa mà đi cho cùng bước đường của các con đã chịu lắm nhọc nhằn, vạch lối chông gai, dìu chơn hậu tấn.

Gương sáng phước Trời soi hậu tấn,

Chờ xuân khải chiết đắc mai chi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

HẬU TÌNH

厚 情

Hậu: Đối xử đậm đà, nồng hậu. Tình: Lòng yêu thương, ở tốt với nhau.

Hậu tình lấy cái tình cảm tốt đẹp mà đối xử một cách đẹp đẽ, nồng hậu.

Như: Bạn bè cư xử hậu tình như anh em ruột.

Luyến ái hậu tình khuynh thủ đảo,

Thâu hồi chủng tử thoát hồng trần.

(Đạo Sử).

 

 

HẬU THẾ

後 世

Hậu: Sau. Thế: Đời.

Hậu thế là đời sau. Như: Danh lưu hậu thế.

Thánh giáo Thầy có câu: Dầu cho sang vinh trăm mối, tiền của muôn chung, mấy kẻ đặng tìm đến địa vị an nhàn, xủ áo phồn hoa, để gương soi hậu thế.

Lập Ðạo dầu nên ngàn thuở để,

Nêu danh hậu thế tiếng bền dai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chước lánh tìm Tiên đời để dấu,

Gương soi hậu thế rạng nam trung.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nên danh khai quốc công thần,

Nêu tên hậu thế xa gần tặng phong.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

HẬU THỔ

后 土

Hậu: Vua. Thổ: Đất.

Hậu Thổ là từ chỉ về vua cõi đất, cũng như Hoàng Thiên là tiếng chỉ về vua Trời.

Theo tín ngưỡng dân gian, Hậu thổ là vị Thần cai quản đất đai một vùng lớn. Thổ địa là vị Thần cai quản một khu vực nhỏ.

Trong lời thề của hai vị Đầu Sư Thượng Trung Nhựt và Ngọc Lịch Nguyệt có câu: Tôi là Lê Văn Trung tự Thiên ân là Thượng Trung Nhựt, và Lê Văn Lịch tự Thiên ân là Ngọc Lịch Nguyệt, Thề Hoàng Thiên, Hậu Thổ trước bửu pháp Ngũ Lôi rằng làm trọn Thiên đạo mà dìu dắt cả mấy em chúng tôi đều là môn đệ của Cao Ðài Ngọc Ðế, nhứt nhứt do lịnh Thầy phân định, chẳng dám chuyên quyền mà lập thành tả đạo, như ngày sau hữu tội thì thề có Ngũ Lôi tru diệt.

Nhờ Hậu thổ xương tàn gìn giữ,

Nghĩa Chí Tôn tha thứ tiền khiên,

(Kinh Tận Độ).

Xác tục gởi nhờ ơn Hậu thổ,

Hồn thiêng nương tựa bóng tường vân.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

HẬU THUẪN

後 盾

Hậu: Sau, phía sau. Thuẫn: Cái mộc, một loại binh khí thời xưa, dùng để đỡ tên đạn.

Hậu thuẫn là cái mộc che ở phía sau, ý chỉ cái sức làm chỗ nương dựa ở phía sau.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Hội Thánh rất may mắn được có một hậu thuẫn tận tâm, trung thành như vậy mới có thể thực thi sứ mạng Thể Thiên Hành Hoá, đem đạo cứu đời, dìu dắt nhơn sanh nâng cao giá trị nền Chánh giáo.

Người hậu thuẫn tâm hồn mẫn tuệ,

Kỳ Ngoại Hầu Cường Để vì dân.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

HẬU VẬN

後 運

Hậu: Sau. Vận: Xoay vần, chỉ những sự biến chuyển xoay vần trong đời con người.

Hậu vận là vận mệnh sau này của con người.

Số mạng của con người thường được người xưa chia ra làm tiền vận, trung vận và hậu vận.

Hậu vận là vận mạng của con người vào lúc tuổi già.

Tiền duyên hậu vận rất vừa nhau,

Chẳng có một ai gọi khởi đào.

(Đạo Sử).

 

 

1.- Hé là mở ra một khoảng nhỏ.

Như: Hé mắt nhìn, mở hé cửa sổ, hé màn, không dám hé miệng nói nửa lời.

Rỡ rỡ sen đưa gót ngọc,

Dịu dàng tay rèm châu.

(Tuý Sơn Vân Mộng).

Lầu xanh giặm màu tu trở vẻ,

Cửa không môn mở chơn hồng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Hé là cho thấy một phần nhỏ, vừa đủ để làm lộ ra.

Như: Mặt trời đã hé nắng, mùa xuân hé lên tia ấm áp, nó đã hé lên niềm hy vọng.

Xuân đã hay cơn ác lố,

Ðông tàn khá biết lúc Trời chinh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Rừng tòng xuân điểm tươi cành,

Tâm chí rèn trau đượm vẻ thanh.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

1.- Hè là mùa hạ, một trong bốn mùa, ở vào giữa mùa xuân và mùa thu.

Như: Học sinh đã nghỉ hè, mùa xuân đi mùa hè lại đến, nắng hè oi bức.

Lần lựa xuân năm tháng lụn,

Thôi thôi đến thế, thế thì thôi.

(Thơ Huệ Giác).

Tường đông văng vẳng tiếng xa nghe,

Réo rắt năm canh quốc gọi .

(Thơ Thuần Đức).

2.- Hè là ra hiệu bảo nhau cùng rán sức làm việc gì.

Như: Hè nhau đẩy chiếc thuyền ra khỏi bãi, hè nhau chạy cho nhanh.

Nhiều cây mới kết nên bè,

Anh em chung trí đồng nhau tu.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

HÈM

Hèm là bã rượu, phần xác còn lại của nếp, gạo sau khi đã đun lấy hết chất nước cốt làm rượu. Như: Nuôi heo bằng hèm.

Ca dao ta có câu: Trách ai dụm miệng nói dèm, Cho heo bỏ máng chê hèm không ăn.

Cần chi phải đánh ghen cấu xé,

Muốn trừng heo dụng kế treo hèm.

(Phương Tu Đại Đạo).

Nào phải người nghèo ngặt chết thèm,

Phòng hưởng chút hơi hèm cho đỡ đói.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

HÈN

1.- Hèn là ở địa vị thấp kém trong xã hội, bị coi thường vì nghèo, hoặc vì yếu thế. Như: Hèn kém, hèn hạ.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Trong cảnh hèn sang, vui khổ, phải chia sớt với tất cả bạn đồng hành, sự tương thân, tương ái mới được trọn vẹn.

Thành tín nhứt tâm cũng đáng khen,

Không sang tột bực cũng không hèn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Sanh nhằm buổi khổ khá lo lường,

Biết phận mình hèn chúng mới thương.

(Đạo Sử).

Chồng sang đặng, ta hèn chẳng quản,

Chồng đẹp hình, ta mảng lo âu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Hèn là kém bảnh lĩnh, thường do nhát sợ.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Ðạo tuy cao, song nên biết sức Quỷ cũng chẳng hèn. Nếu không ngăn ngừa, dằn lửa nóng trong tâm thì lửa Tam muội của Quỷ vương đốt cháy.

Biết thốn thiếu thôi đừng gây nên nợ,

Phận yếu hèn mong đỡ nâng ai.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

HÈN YẾU

Hèn: Rất kém, thiếu bản lĩnh và nhân cách. Yếu: Không mạnh mẽ.

Hèn yếu là kém cỏi cả về tinh thần lẫn thể chất, không đủ sức làm những việc quan trọng.

Khi nói về Hội Yến Diêu Trì Cung, Đức Hộ Pháp có dạy: Bần Đạo dám quả quyết nơi Đền Thờ của Đại Từ Mẫu chúng ta, Bà không kể con cái sang trọng cao sang của con Bà đâu, trái ngược lại Bà lại thương yêu binh vực những đứa con nào nó thiệt thà hèn yếu hơn hết.

Ông (Chí Tôn) đến với một cây Cơ thôi. Ông đến với một xác thân hèn yếu, nghèo nàn.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

HÈN LÂU

Hèn lâu là còn lâu, lâu lắm, từ biểu thị một khoảng thời gian chờ đợi quá với yêu cầu, có phần gây sốt ruột.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có dạy: Lão là người đã đứng ngoài vòng thế sự hèn lâu, nên đòi phen bợ ngợ, phải tìm tàng lượng tri lý mỗi người, ôi! nghĩ nên rất khó!

Cha chả hèn lâu chẳng viếng thăm,

E chư Huynh trưởng trách em thầm.

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 

HÈN SANG

Hèn: Ở địa vị thấp kém trong xã hội và bị coi thường vì nghèo khó. Sang: Có tiền tài, danh vọng được nhiều người trong xã hội kính trọng.

Hèn sang, như chữ “Sang hèn”, là nghèo hèn và sang trọng, chỉ hai hạng người có địa vị thấp, cao, đối nghịch trong xã hội.

Trong Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Trong cảnh hèn sang, vui khổ, phải chia sớt với tất cả bạn đồng hành, sự tương thân, tương ái mới được trọn vẹn.

Hèn sang trối kệ tâm là quý,

Tâm ấy toà sen của Lão ngồi.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

Đã vợ chồng đừng kể hèn sang,

Dầu chồng kẻ bần hàn cũng chúa.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

HẸN

Hẹn là hứa làm việc gì.

Như: Hứa hẹn, lỗi hẹn, sai lời hẹn, hẹn đến nhà chơi, nguyện giữ lời đã hẹn.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Bởi thế nên nay chính Thầy phải đến để đem lại cho các con nền hoà bình đã từng hứa hẹn.

Dần dà những hẹn với căn tu,

Ðau mắt không lo để đợi mù.

(Đạo Sử).

Khối thảm chất tràn trề bể hẹn,

Giọt đau thương quá chén hiệp phu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

HẸN BIỂN THỀ NON

Hay “Hẹn bể thề non”.

Hẹn biển thề non, do thành ngữ Hán “Thệ hải minh sơn 誓 海 盟 山”, tức là chỉ biển mà thề, chỉ núi mà nguyền.

Hẹn biển thề non hay “Thề non hẹn biển”, đều có ý nói dầu cho biển cạn non mòn, tình yêu đôi lứa vẫn không phai lợt.

Xem: Thệ hải minh sơn.

Là nơi lúc đứng khi ngồi,

Trông trăng hẹn biển, ngó trời thề non.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

HEO

Heo là con lợn. Như: Heo nái, heo rừng, thịt heo, treo đầu heo bán thịt chó.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có đoạn: Đức Chí Tôn đến biểu chúng ta dâng ba báu vật ấy cho Ngài, Ngài không đòi hỏi dâng cho Ngài cái gì khác. Giả tỷ như đời Thượng Cổ nhơn loại dâng cho Ngài tới sanh mạng con người, nên người ta phải giết người để làm tế vật. Sau đó thay thế mạng sống con người, nhơn loại lại dâng Tam sanh tức nhiên bò, trâu, heo...

Lập kế đồ mưu âm hại chúng,

Kiếp sau mang lấy lốt heo trâu.

(Giới Tâm Kinh).

Tục che miệng tiếng rằng cưới gả,

Chớ kỳ trung thiệt quá bán heo.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

HEO MAY

Heo may là cơn gió hiu hắt lạnh.

Gió heo may là những cơn gió thổi vào mùa thu. Như: Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão.

Xem: Gió vàng.

Heo may lại đến mấy hôm rồi,

Nàng bế con, buồn ngắm lá rơi.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

HÉO

1.- Héo là cây, lá, hoa, quả bị mềm rũ ra và teo tóp lại vì thiếu nước, trái với tươi.

Như: Cây tàn bông héo, đồng khô lúa héo, rừng cây khô héo vì nắng hạn.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có đoạn dạy: Nếu không có chất sanh thì thế nào tươi tắn đặng mà chứa sự sống. Như nó khô rũ thì là nó chết, mà các con nào ăn vật khô héo bao giờ; còn như nhờ lửa mà nấu thì là phương pháp tẩy trược đó thôi, chớ sanh vật bị nấu chưa hề phải chết.

Vườn Ngạn Uyển sanh hoa đã héo,

Khối hình hài đã chịu rã tan.

(Kinh Tận Độ).

Nắng hạ héo khô vườn bá tánh,

Dắt nhau tìm núp bóng Cao Ðài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Héo là đau đớn trong lòng, hoặc có vẻ mặt buồn rầu, không tươi tỉnh.

Như: Nó đau buồn đến héo mặt, chuyện phải lo đến héo ruột héo gan.

Chấn động Thần Tiên xem héo mặt,

Hai nhà xiển triệt lộ nguyên hình.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

HÉO DON

Héo: Hết tươi, mềm rũ ra và teo tóp lại vì thiếu nước.

Héo don, như chữ “Héo hon”, là mất vẻ tươi tắn như bị khô kiệt sức sống từ bên trong.

Héo don còn dùng để chỉ sự buồn rầu, đau đớn.

Sầu đã cháy mặt hoa ủ dột,

Thảm đã tràn hình cốt héo don.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

HÉO HẮT

Héo: Hết tươi, mềm rũ ra và teo tóp lại vì thiếu nước.

Héo hắt là mất hết vẻ tươi, như bị khô kiệt sức sống.

Như: Nụ cười héo hắt, gặp việc chẳng may anh ta héo hắt cả ruột gan.

Trải dài nỗi nhơ mênh mông,

Niềm đau héo hắt tiếng lòng bi thương...!

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

HẸP

Hẹp là có kích thước chật về bề ngang, không rộng. Như: Đường hẹp, nhà hẹp, lòng hẹp lượng.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Nho Giáo có câu: “Ðạo đại nhân tự tiểu chi, Ðạo công nhân tự tư chi, Ðạo quảng nhân tự hiệp chi”, nghĩa là: Ðạo lớn tự người làm nó ra nhỏ, Ðạo công tự người làm nó ra tư, Ðạo rộng tự người làm nó ra hẹp.

Thuyền nan sợ sóng dòng khơi,

Khúc quanh co hẹp, chiều thời khúc quanh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Phàm trí gái thì là hẹp độ,

Ghen điên cuồng ra khổ thân hình.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

HẸP ĐƯỜNG NHƯỢNG TRÁNH

Hẹp đường: Đường chật hẹp. Nhượng tránh: Tránh qua một bên để nhường lối đi.

Hẹp đường nhượng tránh ý nói thấy người già yếu hay người tàn tật đi đường, đạo lý của con người là phải nép tránh một bên để họ đi trước.

Cổ Linh Trần Tiên Sinh cũng có dạy: Hành giả nhượng lộ, canh giả nhượng bạn; ban bạch giả bất phụ đái ư đạo lộ, tắc vi lễ nghĩa chi tục hĩ 行 者 讓 路, 耕 者 讓 畔; 頒 白 者 不 負 戴 於 道 路, 則 為 禮 義 之 俗 矣, nghĩa là đi đường phải nhường bước, cày bừa phải nhường bờ. Chớ để người đầu bạc phải gánh đội đi ngoài đường phố, có thế mới thành phong tục lễ nghĩa vậy.

Thấy già yếu hẹp đường nhượng tránh,

Đừng chỗ đông buông tánh quá vui.

(Kinh Sám Hối).

 

 

HẸP HÒI

Hẹp: Chật. Nghĩa bóng là không rộng rãi.

1. Hẹp hòi là chật hep, không được rộng rãi, không nhiều. Như: Nhà cửa hẹp hòi, lương bổng hẹp hòi (ý nói lương thấp).

Lương bổng hẹp hòi thân bộc lại,

Thuế sưu oằn oại phận tôi đòi.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

2.- Hẹp hòi còn có nghĩa là không rộng rãi, ý chỉ người khắc khe, ít độ lượng.

Thánh giáo Chí Tôn có dạy: Các con đừng sợ nghèo, cái nghèo thanh đạm cao siêu thì đổi với giá nào cũng không chịu đổi. Được vậy, các con mới xứng đáng là con yêu quý của Thầy. Đạo phải trải qua lúc gay go là để trau giồi Chức sắc cho minh mẫn trong xét đoán, cũng như nhận định và học hỏi, nâng cao trí thức, bỏ óc hẹp hòi, lánh đường xa hoa, ích kỷ.

Đừng lòng nham hiểm hẹp hòi,

Buông lời chửi rủa đòn roi không từ.

(Kinh Sám Hối).

Có tình phải nghĩ đến câu duyên,

Mình hẹp hòi xưa mới để phiền.

(Đạo Sử).

Người phụ nhơn trí hoá hẹp hòi,

Mình quân tử bao đành ngồi ngó dại.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

HÉT

Hét là kêu to, tức phát ra những tiếng rất to và cao từ trong cổ họng.

Như: Trẻ con đùa bỡn la hét, gọi như hét vào tai, hét ầm lên trong giờ nghĩ trưa.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Hại thay! Nước Việt Nam chúng ta lại là một trường chiến địa của hai khối sẽ đối chọi nhau, hai khối ấy đang gầm hét nhau, nơi địa giới Việt Nam.

Vui có kẻ đùa vui đậm nét,

Mừng có người miệng hét reo mừng.

(Phương Tu Đại Đạo).

Biển Đông sấm sét ra oai thử,

hét vang lên trỗi tiếng rền.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

HỀ

1.- Hề là dính dáng, từng qua, tức có quan hệ trực tiếp làm chịu ảnh hưởng, chịu tác động.

Như: Chẳng hề nói dối bao giờ, nhà sập nhưng không ai hề gì, như thế có hề chi.

Đánh đòn khảo kẹp gớm ghê,

Hành hình khổ não chẳng hề nới tay.

(Kinh Sám Hối).

2.- Hề là đầy tớ, thường gọi “Hề nô 奚 奴”, nhân vật pha trò trong phường tuồng, phường chèo ngày xưa.

Hiện nay, hề là vai pha trò, vai giễu trong các tuồng hát, trong các gánh xiếc.

Út eo một phận chịu người chê,

Chẳng phải nên quan chẳng phải hề.

(Đạo Sử).

 

 

HỄ

Hễ, như chữ “Nếu mà”, “Mỗi lần”, là từ biểu thị về điều kiện trong quan hệ giữa điều kiện và hệ quả, cứ mỗi khi có sự việc, hiện tượng nầy thì tất yếu có sự việc, hiện tượng kia. Như: Hễ tham thì thâm, hễ nói thì làm.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Trong các con có nhiều đứa lầm tưởng, hễ vào Ðạo thì phải phế hết nhơn sự, nên chúng nó ngày đêm mơ tưởng có một điều rất thấp thỏi là vào một chỗ u nhàn mà ẩn thân luyện đạo.

Hễ ghét người thì Trời ghét lại,

Ghét người Trời ghét lẽ nào hơn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Hễ đặng bữa cày, buông bữa giỗ,

Phân thân đâu đặng hưởng hai bên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

HỆ LUỴ

繫 累

Hệ: Mắc, vướng, dính dáng. Lụy: Vướng vít, bận bịu.

Hệ lụy là vướng víu, tức mối quan hệ ràng buộc. Như: Những hệ lụy của cuộc đời nghèo khổ.

Đâu lẽ phải cân bằng chân lý?

Đâu bất công hệ luỵ tộc tôn...

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

HỆ TRỌNG

繫 重

Hệ: Mắc, vướng, dính dấp. Trọng: Nặng, quan trọng.

Hệ trọng là quan trọng.

Hệ trọng còn có nghĩa là có ý nghĩa, tác dụng hoặc ảnh hưởng lớn, đáng được coi trọng.

Như: Việc nầy rất nên hệ trọng.

Trong sách “Giáo Lý”, Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có câu: Vậy phải lấy Kính làm chủ để xét cho kỹ cái mầm của tư ý thường bởi đâu mà sanh, rồi cứ chỗ hệ trọng mà răn giữ lâu ngày thành ra thuần thục thì tự khắc kiến hiệu.

Nhưng nếu người không hy sinh cho Ðạo, chỉ lo cho cá nhân mình thì chẳng những không mở rộng Ðạo mà còn làm cho danh Ðạo bị tổn thương, cái trách nhiệm ấy quá ư hệ trọng đối với quyền Thiêng Liêng!

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

HỀM NGHI

Hay “Hiềm nghi”.

Hềm (hiềm): Nghi ngờ. Nghi: Ngờ, không tin.

Hềm nghi, như chữ “Hiềm nghi 嫌 疑” là nghi ngờ, ngờ vực.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Nhờ lấy lý soi dẫn cái tâm cho chánh, cái khí cho thanh, nên vật ở ngoài không làm chênh lệch, đủ định được điều phải quấy, quyết được việc hiềm nghi, vả lại tâm là của hình thể, chỉ ra lịnh khiến chớ không chịu lịnh sai.

Các con được tin cậy nhau, dìu dắt nhau, nâng đỡ nhau, mà phủi hết sự hềm nghi nhau theo thế tình, ấy là các con hiến cho Thầy một sự vui vẻ lớn lao hơn hết đó.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

HÊN

Hên là may, gặp vận đỏ, gặp thuận lợi.

Như: Ra đường gặp hên, kỳ thi nầy hên gặp được giám khảo dễ, năm nay hên làm gì cũng trúng.

Chẳng cần kể ra chi nhiều món,

May chồng hên vợ bón cũng no.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

HẾT

Hết là không còn, không sót, tất cả, trọn vẹn. Như: Hết tiền, hết đời, hết duyên, hết lòng.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Thầy vì thương nhơn loại, muốn cứu hết nên thường thâu thập nhiều đứa vô tâm, cũng muốn cho chúng nó ăn năn chừa lỗi, ngõ hầu hưởng phước, mà chúng nó không biết tự hối thì làm sao mong rỗi đặng.

Ham hết công danh mòn mỏi đức,

Cũng như ham chở khẳm khuôn thuyền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Mười trăng có lẽ phận không yên,

Năm tới hoạ may hết lúc phiền.

(Đạo Sử).

 

 

HẾT LÒNG

Hết: Không còn, không sót, tất cả, trọn vẹn. Lòng: Lòng dạ, biểu tượng cho tâm lý tình cảm.

Hết lòng, như chữ “Tận tâm 盡 心”, là đem lòng thành thật ra mà phục vụ, hoặc đối xử.

Thánh giáo Thầy có dạy: Các con chớ ngại, ngày nay, Ðạo khai tức Tà khởi. Vậy thì các con phải hết lòng hết sức mà gìn giữ lấy mình, đã chẳng phải giữ mình các con mà thôi, lại còn gìn giữ cả môn đệ Thầy nữa.

Lại đây Ta hỏi hết lòng thờ,

Hay đến cầu xin hỏi bá vơ.

(Đạo Sử).

 

 

HẾT SỨC

Hết: Không còn, không sót, tất cả, trọn vẹn. Sức: Sự mạnh mẽ hăng hái của tinh thần.

Hết sức, như chữ “Tận lực 盡 力”, là dốc toàn lực, toàn sức ra để làm việc.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có câu: Vậy các đạo hữu khá hết lòng lo lắng nền đạo cho vững vàng, hiệp ý với Thiên cơ mà bước lần lên địa vị cao thượng, chớ sụt sè ôm thói mờ hồ thì đã uổng công trình cực nhọc từ bấy lâu nay, lại thêm chẳng đặng theo Thánh ý của Thầy, là bậc Chí Tôn đã hết sức nhọc nhằn cùng sanh chúng.

Cùng lân lý, hay thương người thất thủ, hằng ra tay tế độ bạc tiền.

Với mẹ cha, thường để tấc lòng thành, gắng hết sức đáp đền ơn nhũ bộ.

(Văn Tế Thượng Phẩm).

 

 

HỆT

Hệt là giống in, giống hoàn toàn, không khác một chút nào. Như: In hệt, giống hệt.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ta có thể so sánh một phong hoá của một nước nào nó có thể cao thượng hơn của ta mà ta không có thể gì nhìn nó rằng giống hệt của ta.

Cũng có lúc giống mình như hệt,

Tiến hoá nâng khí phách nên hiền.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

HI DI

Hi Di là biệt hiệu của Trần Đoàn, người đời Tống, tu thành một vị Đại Tiên, có nhiều thần thông biến hoá, ở ẩn trong Hoa Sơn.

Tương truyền rằng xưa ông Hi Di ngủ luôn một giấc đến một trăm ngày mới dậy.

Xem: Trần Đoàn.

Khoẻ thân chẳng kẻ học Hi Di,

Biết luận theo khi biết tính thì.

(Đạo Sử).

Hi Di thâu núi đòi tờ đứng,

Quỷ Cốc trông vua gác cẳng nằm.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

HIẾM

Hiếm là rất ít có, rất ít xảy ra. Như: Dịp may hiếm có, người tốt không phải là hiếm.

Thánh giáo Đức Thích Ca Như Lai, kiêm viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát có câu: Ta đến chẳng phải cứu một mình chư tăng mà thôi, vì trong thế hiếm bậc Thần, Thánh, Tiên, Phật phải đoạ hồng trần, Ta đương lo cứu vớt.

Trong đời rất hiếm võ phu,

Lường cân, tráo đấu, dối tu cúng chùa.

(Kinh Sám Hối).

 

 

HIẾM CHI

Hiếm: Rất ít có, thiếu. Chi: Gì.

Hiếm chi, cũng như “Hiếm gì”, ý chỉ là không hiếm, thiếu gì, tức có nghĩa là nhiều.

Như: Ở Thánh địa hiếm chi người hiền lành đạo đức.

Hiếm chi bậc Thánh bị đày vào chốn trần ai khổ nhọc, chìm đắm nơi bến khổ sông mê...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

HIẾM HOI

Hiếm: Rất ít có, rất ít xảy ra.

Hiếm hoi ý chỉ người lập gia đình đã lâu mà chưa có con, hiếm con. Như: Vợ chồng nó cưới nhau lâu mà vẫn hiếm hoi.

Hiếm hoi còn có nghĩa là hiếm có. Như: Chuối già lùn ở xứ nầy rất hiếm hoi.

Ðạo minh chơn lý đời thông suốt,

Ðạo pháp luyện thành rất hiếm hoi.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

HIỀM

1.- Hiềm còn có nghĩa là ngại.

Như: Muốn đến chơi nhưng hiềm vì đường xa, muốn qua sông nhưng hiềm chẳng có đò.

Ðưa chơn hiềm nỗi đời gai góc,

Khó nỗi đi tu khó ở đời.

(Đạo Sử).

Trông chừng gió thuận với mưa nhuần,

Non nước hiềm chưa rạng vẻ xuân.

(Thơ Hiến Đạo).

2.- Hiềm là có điều không bằng lòng, bất mãn đến mức ghét nhau sâu sắc. Như: Tỵ hiềm, hiềm khích, hiềm oán.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Nếu con người trên thế gian thực thi đầy đủ nhân nghĩa, bỏ sự oán ghét tư hiềm, bỏ sự vì mình hại chúng, thương người khác thể thương thân, giúp đỡ lẫn nhau trong khi khốn khó thì trong xã hội đâu còn thấy cảnh ngang trái đau lòng, mạnh hiếp yếu, giàu hiếp nghèo, làm cho thế sự đầy dẫy tuồng đau khổ.

Tỵ hiềm chi những tiếng gièm pha,

Ngó vách chưa hay đã khỏi nhà.

(Đạo Sử).

 

 

HIỀM NGHI

Hiềm: Có ý bất bình, bất mãn.

Hiềm nghi là bị nghi ngờ, tức ở vào tình trạng đáng bị ngờ vực.

Như: Quan Vân Trường cầm đước ngồi suốt sáng ngoài cửa để tránh mọi sự hiềm nghi.

Om sòm nghị luận khắp nơi,

Người thời kích bác, kẻ thời hiềm nghi.

(Thơ NĐS Hương Thanh).

 

 

HIỀM THÙ

嫌 讎

Hay “Hiềm thù”.

Hiềm: Ghét bỏ. Thù: Oán hờn giữ trong lòng.

Hiềm thù, còn có thể nói “Hềm thù”, là thù hằn giận ghét nhau.

Thánh giáo Lý Giáo Tông có câu: Sự ghét lẫn và sự vô tình, nếu đem vào nền Ðạo mà gieo truyền cho nhau, thay vì làm cho sanh linh thương mến dìu dắt nhau, lại làm cho chúng sanh càng hềm thù nhau, rồi rốt cuộc lại thì một trường náo nhiệt phải làm cho tánh mạng của chúng nó vì đó mà phải bỏ liều, đem giọt máu vô tâm nhuộm cả tinh thần, bị đày vào biển khổ đời đời kiếp kiếp đó.

Trong các con chẳng có đứa nào lãnh phần chế biến, làm cho hoà thuận chung vui, để cho đến đỗi hiềm thù oán ghét nhau...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

HIỂM

1.- Hiểm là thế đất khó đi lại, dễ gây nguy hại một cách khó lường.

Như: Con đường rất hiểm, quan ải nằm ở vị thế hiểm, núi non u hiểm.

Thánh giáo Thầy có câu: Các con trước đã vì Thiên mạng phải bỏ các ngôi cao đặng đem mình vào nơi khổ não, Thầy chỉ đường vẽ bước, dạy từ nét, dẫn từ dặm đường mà đem các con về chốn Cực Lạc xưa, các con chẳng chịu vầy hiệp nhau cho đặng bền, cho thân ái, đặng tiến bước đường, thì Thầy cũng lắm nỗi thương đau mà nắm cân công bình ngó xem một phần trong các con sa nơi u hiểm.

Trợ nguy tế hiểm con ra sức,

Ðạo đức chung lo trọn tấc lòng.

(Đạo Sử).

2.- Hiểm là nói tánh người sâu độc, hiểm ác. Như: Lòng nham hiểm.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Ðạo trải qua bao nhiêu nỗi thăng trầm, lướt qua bao phen bão bùng, giông tố gây nên bởi lòng tham hiểm của thế tình, nhưng chánh khí trung can của con cái Ðức Chí Tôn không bao giờ sờn mẻ.

Chớ sanh chước hiểm hẹp eo,

Lời tăng quá vốn kẻ nghèo xiết than.

(Kinh Sám Hối).

Làm lành đặng hưởng phước duyên,

Trong lòng nham hiểm lộc quyền giảm thâu.

(Kinh Sám Hối).

 

 

HIỂM ĐỘC

險 毒

Hiểm: Tà ác, nói tính người sâu độc. Độc: Hung dữ, độc địa.

Hiểm độc là chỉ người có lòng nham hiểm và tánh tình độc ác.

Như: Những người có lòng dạ hiểm độc.

Lại còn có tánh tình hiểm độc,

Xúi phân chia thân tộc ruột rà.

(Kinh Sám Hối).

Chớ hiểm độc dạ lang lần lựa,

Nhơn thất mùa bế dựa gắt gao.

(Kinh Sám Hối).

 

 

HIỂM HOẠ

險 禍

Hiểm: Tà ác, nói tính người sâu độc. Hoạ: Tai vạ.

Hiểm hoạ là tai hoạ lớn gây nguy hại sâu sắc đến đời sống con người.

Huấn từ Đức Thượng Sanh đọc trong buổi lễ Tấn phong Hiền Tài khoá 3 có đoạn: Theo trào lưu tiến bộ của văn minh vật chất hiện tại nhứt là trước hiểm hoạ của lằn sóng vô thần quá khích, con người dù là hạng trí thức dễ bị lôi cuốn vào cảnh bê tha trụy lạc, hoặc bị đưa đẩy vào vòng lợi danh đen tối, làm tôi tớ cho thế lực kim tiền, bán rẻ lương tâm, không còn kể nghĩa nhân và lẽ phải nữa.

Toàn thể chức sắc đã nhìn thấy bao nhiêu giả dối của tuồng đời, đã thấm nhuần lời Thánh Huấn của Ðức Chí Tôn, tôi tin chắc rằng không một ai để mình bị lôi cuốn vào nơi hiểm hoạ ấy.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

HIỂM NGHÈO

Hiểm: Dễ gây nguy hại một cách khó lường. Nghèo: Nguy bách.

Hiểm nghèo là nguy hiểm đến mức khó thoát khỏi tai hoạ. Như: Anh ta bị vướng một căn bịnh hiểm nghèo.

Trong quyển Đạo Sử, Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu có nói: Biết đâu cả bầy hổ báo làm sao mà không sợ, nhưng vì quá lo cho Ðạo mà bớt sợ sự hiểm nghèo, nên mỗi buổi sáng đều đi xe ngựa ra chợ Tây Ninh.

Nam bang gặp đặng Ðạo Trời gieo,

Phương pháp thoát ra chốn hiểm nghèo.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

HIỂM TRỞ

險 阻

Hiểm: Thế đất khó đi. Trở: Ngăn cản.

Hiểm trở là có nhiều trở ngại nguy hiểm, tức là địa hình có nhiều điểm không thuận lợi cho việc đi lại, dễ xảy ra tai nạn. Như: Đường đi hiểm trở.

Thánh giáo của Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng có dạy: Nếu là một Thánh thể mang Thiên tước vào mình thì trách nhậm dầu đi đến đâu chông gai hiểm trở, vẫn có các Đấng hộ trì, công nghiệp đầu tiên sẽ đặng trọn hưởng.

Quý vị không tu thân khắc kỷ thì trên bước đường đời chông gai hiểm trở, quý vị không thể tránh khỏi những cạm bẫy...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

HIÊN

Hiên là mái hè, tức dãy nền có mái che, không có tường ở trước hoặc quanh nhà.

Như: Thanh nhàn ngồi tựa mái hiên, hiên tà gác bóng nghiêng nghiêng (Kiều).

Ghe phen cửa rách hiên nhà lủng,

Không quản lao đao giữ tiếng lành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trước Ðiện lai rai ba chú Ðạo,

Sau hiên meo mốc mấy pho kinh.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

HIÊN ĐOÀI

Hiên: Mái hè, tức dải nền có mái che, không có tường ở trước hoặc quanh nhà. Đoài: Tên một quẻ trong tám que của Kinh Dịch, chỉ về phương Tây.

Hiên đoài, như chữ “Tây hiên”, là một cái hiên nhà nằm về phía Tây.

Ác lặn hiên Đoài già nhắc nhỏm,

Nguyệt trầm non Thái trẻ thon von.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

HIÊN KỲ

軒 岐

Hiên: Hiên Viên, tên một vị vua thời thượng cổ, tức vua Hoàng Đế. Kỳ: Một cái gò hay Kỳ Bá.

Hiên Kỳ là một cái gò tên là Hiên Viên nay thuộc tỉnh Hà Nam, nơi mà vua Hoàng Đế được sinh ra.

Ngoài ra Hiên Kỳ còn có thể hiểu là Hiên Viên 軒 轅, hiệu của vua Hoàng Đế và Kỳ Bá 岐 伯, bề tôi của vua Hoàng Đế.

Tương truyền, Hoàng Đế và Kỳ Bá hỏi đáp nhau về y học, những lời đối đáp này được ghi lại thành nội kinh gồm hai phần Linh khu và Tố vấn, là bộ sách căn bản của đông y.

Thánh Tổ Hiên Kỳ đưa chiếu triệu,

Thần thơ Lý Đỗ có tin mời.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

HIÊN NGANG

軒 昴

Hiên: Chỗ cao ở đàng trước một cái xe, dáng tự đắc. Ngang: Ngẫng cao lên.

Hiên ngang ý chỉ người cao kỳ, khác người thường, tức người tỏ ra đường hoàng, tự tin, không chịu cúi đầu khuất phục trước những sự đe doạ.

Như: anh ta hiên ngang mà trở về.

Thôi thôi nín nẩm xem thời thế,

Cái chí hiên ngang chẳng rã rời.

(Thơ Thuần Đức).

Quản chi tuế nguyệt dày mưa gió,

Khí phách hiên ngang chẳng đổi dời.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

HIÊN TIÊN

軒 仙

Hiên: Mái hè, tức dải nền có mái che, không có tường ở trước hoặc quanh nhà. Tiên: Cõi Tiên.

Hiên Tiên là mái nhà che ở cõi Tiên, ý muốn chỉ cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Cái tâm gắng gởi nơi thanh tịnh,

Mong nép hiên Tiên, dựa cửa Thần.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

HIÊN VIÊN

軒 轅

Hiên Viên tức là vua Hiên Viên Hoàng Đế, vị Thánh Vương đời thượng cổ nước Trung Quốc.

Vua Hoàng Đế họ Công Tôn, tên là Hiên Viên, vì Ngài được sinh ở gò Hiên Viên, nay thuộc tỉnh Hà Nam. Ngài có công sáng chế ra la bàn, bày ra nghề làm thuốc để trị bịnh cho con người.

Vua Hiên Viên và Hoàng Hậu lúc ở ngôi thường trau dồi tâm tánh, lo việc tu hành nên được Đức Nguơn Thuỷ Thiên Tôn sai Quảng Thành Tử xuống truyền Đạo. Vua Hiên Viên sai người làm một cái đỉnh đốt lư trầm bằng đồng, gọi là “Đỉnh hồ” để trên lầu cao, mỗi khi vua có việc đến đó cầu nguyện thì vị Tiên Quảng Thành Tử sẽ đến.

Một ngày kia Vị Tiên Quảng Thành Tử đến báo cho biết trong ba ngày nữa là Vua Hiên Viên và Hoàng Hậu sẽ đạt Đạo. Quả thật, sang đến ngày thứ ba, hương bay sực nức, từ trên lầu cao, vua Hiên Viên và Hoàng Hậu cỡi rồng vàng bay đi mất biệt.

Do chuyện vua cỡi rồng bay lên cõi Tiên, nên người ta dùng chữ “Đỉnh hồ” để nói việc vua Hiên Viên đạt đạo (Hay vua mất). Sau nầy, chỉ chung cho tất cả mọi người chết.

Cổ thi có câu: Vân ám đỉnh hồ, long khứ viễn nguyệt minh hoa biểu hạc quy trì 雲 暗 鼎 湖 龍 去 遠, 月 明 花 表 鶴 歸 遲, nghĩa là mây phủ đỉnh hồ rồng bay khuất bóng, trăng soi trụ hoa, hạc trở lại muộn.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có câu: Như kẻ bên Phật giáo hay tặng Nhiên Ðăng là Chưởng giáo, Nhiên Ðăng vốn sanh ra đời Hiên Viên Huỳnh Ðế.

Xem: Hoàng Đế.

Cửu kiếp Hiên Viên thọ sắc thiên,

Thiên thiên cửu phẩm đắc cao huyền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Vua Hiên Viên nhờ tu nhân đức,

Hoàng Hậu người hết sức hiền hoà.

Triều thần cảm mến ân ba,

Mừng ngày chứng quả, ông bà thừa long.

(Báo Ân Từ).

 

 

HIẾN

1.- Hiến là dâng. Như: Hiến thân hành đạo.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có đoạn dạy: Thầy vui muốn cho các con thuận hoà cùng nhau hoài, ấy là lễ hiến cho Thầy rất trân trọng. Phải chung lo cho danh đạo Thầy.

Hiến mình cho Đạo buổi sơ khai,

Thế cuộc càng xây dạ chẳng nài.

(Bài Thài Hiến Thế).

2.- Hiến là phép nước, không dùng một mình.

Như: Quân chủ lập hiến, Hiến chương Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, hiến pháp Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà.

Văn hiến tạo nền còn chói rạng,

Lạc Hồng roi giống há khinh thường?

(Thơ Huệ Giác).

 

 

HIẾN ĐẠO

獻 道

Hay “Hiến Đạo Chơn Quân”.

Hiến Đạo là một phẩm chức sắc của đạo Cao Đài, một trong Thập nhị Thời quân thuộc chi Đạo Hiệp Thiên Đài, dưới quyền của Thượng Phẩm.

Hiến Đạo Chơn Quân 獻 道 真 君 là một vị chức sắc Đại Thiên phong thuộc chi Đạo Hiệp Thiên Đài được Đức Chí Tôn phong cho Ngài Phạm Văn Tươi.

Theo Hiến pháp Hiệp Thiên Đài, Hiến Đạo là người có trách nhiệm lo tìm kiếm những phương hay để hiến cho Đạo và truyền bá những điều cần ích cho Đạo. Ngoài ra, Pháp Chánh Truyền chú giải cũng có quy định: Hiến Đạo khi đặng tờ chi của Khai Đạo dâng lên, tức cấp phải tìm biết căn nguyên cho rõ ràng, câm không cho Hiến Đạo thông đồng cùng Hiến Pháp và Hiến Thế.

Sự chi đã vào tay Hiến Đạo rồi thì đã ra bí mật, dầu cho chức sắc Hiệp Thiên Đài cũng không đặng biết tới nữa. Hiến Đạo phải dâng nội vụ lên cho Bảo Đạo.

Đạo phục của Ngài Hiến Đạo Chơn Quân theo Pháp Chánh Truyền gồm có hai bộ:

Bộ Đại phục của Hiến Đạo toàn hàng trắng, cổ trịch, viền kim tuyến bạc, đầu đội mão Nhựt Nguyệt mạo màu trắng, lưng đeo dây sắc lịnh, thả mối bên hong mặt (Thuộc Đạo), chân đi giầy vô ưu trắng.

Bộ Tiểu phục cũng toàn hàng trắng, lưng mang dây sắc lịnh y như Đại phục, đầu đội Hỗn Nguơn mạo, trên mão có Long Tu Phiến và Phất Chủ (Cổ pháp Thượng Phẩm), chân đi giầy vô ưu màu trắng.

Hiến Đạo Hiệp Thiên Đài được Đức Chí Tôn phong cho Ngài Phạm Văn Tươi trong đàn cơ ngày 13 tháng 02 năm 1927 tại chùa Gò Kén.

Ngài Phạm Văn Tươi sinh ngày 15 tháng 12 năm Bính Thân (Dl. 17/01/1897 tại Cần Giuộc, Chợ Lớn. Hiền nội của Ngài là bà Nguyễn Thị Quận, sinh 1899, tại Cần Giuộc. Hai ông bà có được bảy người con, sáu gái một trai, người con trai thứ tư tên là Phạm Duy Ninh, sinh năm 1925 và chết ngày 1990 tại Cần Giuộc.

Lúc thiếu thời Ngài theo Tây học, khi đỗ được bằng Tiểu học rồi, Ngài thi đậu vào trường Sư Phạm. Sau khi tốt nghiệp Sư Phạm, Ngài được bổ về dạy học tại Trường Tiểu học Cần Giuộc. Về sau Ngài xin đổi về trường Pestrus Ký.

Ngài Phạm Văn Tươi nhập môn năm 1926 và đắc phong Hiến Đạo trong đàn cơ Đức Chí Tôn lập Pháp Chánh Truyền Hiệp Thiên Đài ngày 12 tháng 01 năm Đinh Mão tại chùa Gò Kén.

Ngài Phạm Văn Tươi và Ngài Bảo Đạo Ca Minh Chương là một cập phò loan tại Đàn cơ ở Tân Kim (nhà Hội Ðồng Nguyễn Văn Lai, xã Tân Kim, Cần Giuộc), do quan phủ Nguyễn Ngọc Tương và Lê Văn Lịch luân phiên chứng đàn.

Chính Ngài Phạm Văn Tươi có đọc một bài diễn văn nhắc lại lúc Đạo Cao Đài mới mở tại Cần Giuộc, trong dịp Lễ Khánh Thành Thánh Thất Cần Giuộc ngày 21 tháng 2 năm Nhâm Tý (Dl. 4/4/1972), như sau:

“Hồi ức lại hơn 45 năm về trước, lúc Đạo mới phôi thai, cố Tri Phủ Nguyễn Ngọc Tương, lúc bấy giờ làm Quận Trưởng Quận Cần Giuộc, là người có trọng trách truyền đạo nơi đây.

Ông Phạm Tấn Đãi, ông Trương Thế Ngộ và tôi được Đức Chí Tôn thâu nhận làm môn đệ, để hiệp cùng ông Nguyễn Ngọc Tương phổ thông Chơn đạo.

Kế đến ông Ca Minh Chương, cựu giáo chức, cũng được đứng vào hàng ngũ chúng tôi.

Chính nơi đây, Đạo được khai mở trước nhứt và thâu nhận một số tín đồ đông nhứt.

Chúng tôi là những người trong giáo giới, ban ngày thì đi dạy học, ban đêm mới rảnh việc, cùng đi với ông Nguyễn Ngọc Tương khai đàn thượng tượng, thâu nhận tín đồ. Suốt một năm trường, đêm nào cũng như đêm nấy, chẳng quản gió sương, bùn lầy nước lội, gai gốc cũng qua, chúng tôi từ xã ấp nầy sang xã ấp kia, một niềm tin tưởng mãnh liệt, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng, khuyên nhủ đồng bào theo đường Chánh giáo, mở rộng Đạo Trời.

Âu cũng là cơ duyên hiếm có giúp chúng tôi lập được công quả và sớm lập vị mình.

Ngày qua tháng lại, Đạo dần dần mở rộng như vết dầu loang, từ quận Cần Giuộc đến Rạch Kiến, Rạch Đào, Rạch Núi, Gò Đen, Cần Đước trong tỉnh Chợ Lớn, rồi tràn qua tỉnh Gò Công, Mỹ Tho, Bến Tre.

Lẽ cố nhiên chánh quyền Pháp không muốn Đạo được bành trướng mau chóng với một số tín đồ quá đông, bèn đặt kế hoạch bài trừ. Một mặt phân tán mấy người có nhiệm vụ trọng yếu trong Đạo, một mặt khủng bố tín đồ, làm khó dễ trăm bề, hăm he dọa nạt đủ điều.

Chúng tôi vốn là công chức, cùng chung số phận với Ông Quận trưởng Nguyễn Ngọc Tương, bị đổi đi xa, một người một nơi, cách trở gia đình.

Âu cũng là cái may cho Đạo, hột giống Đạo được đem rải trên đất mới. Thế là Đạo được mở rộng châu vi hoạt động. Thiệt là “tình cờ chẳng hẹn mà nên”.

Rồi bắt đầu từ đó, Đạo càng ngày càng tiến mãi, mặc dầu gặp nhiều khó khăn trở ngại cũng vượt qua khỏi, là do tinh thần nhẫn nại và lòng hy sinh vô bờ bến của phần nhiều chư Đạo hữu”.

Vì Cửu Trùng Đài thiếu vị Chức sắc cầm quyền Chưởng quản, nên Ngài Hiến Đạo được giao cho Quyền Chưởng Pháp Cửu Trùng Đài do Đạo Nghị Định ngày 9 tháng 02 năm Quý Dậu (Dl. 4/3/1933) của Đức Quyền Giáo Tông và Đức Hộ Pháp.

Cuối năm 1946, Ngài Phạm Văn Tươi được Đức Hộ Pháp bổ làm Thống Quản Cơ Quan Phước Thiện.

Đến khi Đức Thượng Sanh về làm Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài thì Ngài Hiến Đạo được giao nhiệm vụ Phó Thống Quản Hội Thánh Phước Thiện Nam Nữ.

Năm Tân Hợi, 1971, Ngài Hiến Pháp nắm Quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài ký Thánh Lịnh số 02/TL ngày 26 tháng 5 năm Tân Hợi (Dl. 18/6/1971) bổ nhiệm Ngài Hiến Đạo vào các chức vụ:

- Thống Quản Hội Thánh Phước Thiện Nam Nữ.

- Thống Quản các cơ quan Tang Tế Sự như Nhạc, Lễ, Giáo Nhi, Ban Tổng Trạo, Ban thuyền Bát Nhã.

- Thống Quản Trí Huệ Cung.

- Trưởng Ban Cứu Thương và Ban Phòng hoả.

Ngài Phạm Văn Tươi nhận lãnh nhiệm vụ nầy hành Đạo cho đến năm 1976 thì Ngài đăng Tiên vào đêm mùng 8 tháng 4 năm Bính Thìn (Dl. 6/5/1976), hưởng thọ 80 tuổi tại tư gia 21 đường Lý Nam Đế, Quận 5, Sài Gòn.

Ngài có để lại di chúc cho con an táng Ngài tại quê nhà ở xã Quy Đức, quận Cần Giuộc, tỉnh Long An.

Trong bài Điếu Văn ngày 11 tháng 4 năm Bính Thìn (Dl. 9/5/1976) đọc trước phần mộ của Ngài Hiến Đạo Phạm Văn Tươi, Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa, quyền Chưởng quản Hiệp Thiên Đài có nói lý do tại sao việc an táng Đức Ngài không theo nghi thức hàng phẩm Thời Quân. Đoạn Điếu văn như sau:

Kính Quý vị, Trước cảnh đau khổ của toàn đạo trong thời gian có mấy tháng, phải chịu đến ba cái đại tang trong hàng Thập nhị Thời Quân, trước là hai Anh lớn Hiến Pháp và Khai Đạo, hiện nay lại đến phiên Anh lớn Hiến Đạo Chơn Quân, thì không có người đạo nào khỏi ngậm ngùi mến tiếc. Lẽ ra Hội Thánh phải rước Thánh hài của Anh lớn Hiến Đạo về Toà Thánh hành lễ theo hàng Thập nhị Thời Quân để tri ân một vị Chức sắc Đại Thiên phong có công lớn góp sức xây dựng nền Đại Đạo buổi sơ khai.

Nhưng với đức độ khiêm tốn và vì không muốn làm cực khổ và tốn hao cho Hội Thánh trong lúc Đạo đang gặp cảnh khó khăn. Anh đã di chúc xin để cho gia đình hành lễ đơn giản nơi quê nhà, nên Hội Thánh không thể làm trái ý muốn cuối cùng của người quá cố.

Vì vậy mà hôm nay, tôi xin thay mặt toàn Hội Thánh Hiệp Thiên, Cửu Trùng, Phước Thiện Nam Nữ cùng với một phái đoàn đại diện Hội Thánh tiễn đưa Anh lớn đến nơi an nghỉ cuối cùng.

Ngài Hiến Đạo Phạm Văn Tươi có bút hiệu là “Lạc Nhân”, nhưng Ngài rất ít làm thơ, chúng tôi sưu tập được ba bài thất ngôn bát cú mà Ngài hoạ vận lại những bài thơ Xuân của các tác giả khác như sau:

1.- Hoạ vận lại bài “Mừng Xuân Tân Hợi 1971” của Hội Thánh Cửu Trùng Đài

Đất nước Xuân về mấy độ qua,

Toàn dân trông ngóng cảnh bình hòa.

Ruộng dâu hóa bể đầy kinh ngạc,

Dòng nước chưa thanh chảy bến hà.

Thương kẻ tuổi xanh còn nặng nợ,

Xót vì nhiệm vụ phải ly gia.

Ước mong đến buổi hoà ngưng chiến,

Cho vợ gặp chồng, con gặp cha.

(Xuân Tân Hợi 1971).

2.- Hoạ vận bài Chúc Xuân của nhà thơ Huệ Phong:

Trông chừng gió thuận với mưa nhuần,

Non nước hiềm chưa rạng vẻ xuân.

Lối cũ vẫn còn lề lối cũ,

Canh tân nào thấy bóng canh tân.

Giang san tô điểm tay hào kiệt,

Đất nước trị bình đức Thánh quân.

Nô nức thần dân vui nếp sống,

Mừng xuân dường ấy đáng nên mừng.

(Xuân Canh Tuất 1970).

3.- Hoạ vận bài “Chúc Xuân” của nhà thơ Chơn Tâm Nguyễn Hoà Hiệp:

Noi dấu hiền xưa giữ tánh lành,

Việc đời chi nhọc sức đua tranh.

Ăn ngay ở thật, đường tu dưỡng,

Nghĩa trả ơn đền nợ kiếp sinh.

Đối xử với người cùng một mặt,

Kết giao bè bạn chẳng hai tình.

Sông trong biển lặng, xuân năm mới,

Hết lúc phong ba đến thái bình.

(Xuân Tân Hợi 1971).

Ngoài ra, ông Tổng Quản Văn Phòng Hiến Đạo Hiệp Thiên Đài là Giáo Hữu Thượng Tư Thanh cùng các nhân viên trực thuộc, gom góp các bài Giảng Đạo, các bài Diễn văn và Huấn từ của Ngài Hiến Đạo Phạm Văn Tươi kết thành một quyển sách, có tựa đề là “Tiêng Gọi”.

Chúc Ngài Hiến Đạo gội ân lành,

Thần bút xuân về gấm dệt tranh.

(Thơ Chơn Tâm).

Non nước xinh tươi cảnh đượm nhuần,

Chúc Ngài Hiến Đạo bước sang xuân.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

HIẾN LỄ

獻 禮

Hiến: Dâng. Lễ: Chỉ lễ vật.

Hiến lễ là dâng hiến lễ vật, tức là sắp đặt tất cả các lễ phẩm trên đàn cúng tế để thành kính dâng hiến lên các Đấng Thiêng liêng.

Trong Sớ văn có câu: Chư Thiên phong nghiêm thiết Đàn tràng: Hương, đăng, hoa, trà, quả, thanh chước chi nghi thành tâm hiến lễ.

Phỉ thay gặp khách từ chương,

Nghiêm trang hiến lễ mọi đường thành tâm.

(Huỳnh Hoa Tiên Nữ).

 

 

HIẾN PHÁP

 

1. HIẾN PHÁP 憲 法

Hiến: Pháp luật, phép nước. Pháp: Luật pháp.

Hiến pháp là pháp luật căn bản của một quốc gia, quy định quyền hạn, nghĩa vụ của chính phủ và nhân dân, làm quy mô cho pháp luật thường.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Luật thuyết ấy có đủ lời lẽ rất nên hiển nhiên để lập một nền chánh trị có hiến pháp có chánh giới, có quân bị, đủ như nền chánh trị quốc gia kia vậy.

Pháp Chánh Truyền giống như Hiến pháp,

Hiệp Thiên Đài Hộ Pháp cầm cân.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

2. HIẾN PHÁP 獻 法

Hay “Hiến Pháp Chơn Quân”.

Hiến Pháp là một phẩm chức sắc của đạo Cao Đài, một trong Thập Nhị Thời Quân thuộc chi Pháp Hiệp Thiên Đài, dưới quyền của Hộ Pháp.

Hiến Pháp Chơn Quân 獻 法 真 君 là một vị chức sắc Đại Thiên phong thuộc chi Pháp Hiệp Thiên Đài được Đức Chí Tôn phong cho Ngài Trương Hữu Đức.

Theo Hiến pháp Hiệp Thiên Đài, Hiến Pháp là người có trách nhiệm lo tìm kiếm những phương hay để hiến cho luật pháp của Đạo tiện việc thi hành và truyền bá những tư tưởng cần ích cho Đạo về phương diện pháp luật.

Ngoài ra, Pháp Chánh Truyền chú giải cũng có quy định: Hiến Pháp khi đặng tờ chi của Khai Pháp dâng lên, tức cấp phải tìm biết căn nguyên cho rõ ràng, cấm không cho Hiến Pháp thông đồng cùng Hiến Đạo và Hiến Thế.

Sự chi đã vào tay Hiến Pháp rồi thì đã ra bí mật, dầu cho chức sắc Hiệp Thiên Đài cũng không đặng biết tới nữa. Hiến Pháp phải dâng nội vụ lên cho Bảo Pháp.

Đạo phục của Ngài Hiến Pháp Chơn Quân theo Pháp Chánh Truyền gồm có hai bộ:

Bộ Đại phục của Hiến Pháp toàn trắng, cổ trịch, viền kim tuyến bạc, đầu đội mão Nhựt Nguyệt mạo màu trắng, lưng đeo dây sắc lịnh, thả mối ngay giữa bụng mặt (thuộc Chi Pháp), chân đi giầy vô ưu trắng.

Bộ Tiểu phục cũng toàn hàng trắng, lưng mang dây sắc lịnh y như Đại phục, đầu đội Hỗn Nguơn mạo, trên mão có Cổ Pháp Tam Giáo của Hộ Pháp (Xuân Thu, Phất Chủ, Bát vu), chân đi giầy vô ưu màu trắng.

Hiến Pháp Hiệp Thiên Đài được Đức Chí Tôn phong cho Ngài Trương Hữu Đức trong đàn cơ ngày 13 tháng 02 năm 1927 tại chùa Gò Kén.

Ngài Trương Hữu Đức sinh ngày mùng 2 tháng 2 năm Canh Dần (1890), con ông Trương Văn Tựu (chết), cựu Cai Tổng Cầu An Thượng, làng Hiệp hoà (Chợ Lớn), thọ phong Giáo Sư phái Ngọc và bà Lê Thị Nhụy tức Sót (chết).

Hiền nội Ngài Trương Hữu Đức là bà Nguyễn Thị Sanh, nhập môn vào Đạo Cao Đài và được Đức Chí Tôn phong phẩm Lễ Sanh, do kỳ phong Thánh Nữ phái lần thứ nhứt ngày 14 tháng giêng năm Đinh Mão (Dl. 15/2/1927).

Ngài Trương Hữu Đức nhập môn vào Đạo từ năm Ất Sửu (1925), Ngài là một trong số mười hai môn đệ đầu tiên của Đức Chí Tôn được nêu tên trên bài thi tứ tuyệt trong quyển Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, quyển I.

Trong phần tiểu sử do Ngài tự viết có đoạn cho biết như sau: Trong lúc các Ông Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc và Cao Hoài Sang bày cuộc xây bàn thì Đức còn hoài nghi cho rằng mấy bạn ấy giả ngộ chơi nên không tin; về nhà, Đức đem bàn ra, đặt tay lên xây thử để xin thi, tức thì có vong linh người Anh nhập, nhưng thay vì cho thi, lại cho hai vị thuốc. Đức uống thuốc ấy lành bịnh hậu trên hai mươi năm.

Qua bữa kế đó, vào lúc đúng ngọ, trong khi thanh tịnh, Đức bắt chước Ông Tắc, chấp bút một mình và cầu nguyện xin thi. Có vị Minh Nghĩa Tiên Ông giáng bút cho bài thi như sau:

Minh Đức mừng nay đã gặp Thầy,

Chẳng còn ao ước cái không hay.

Mừng cầu Âu Á càng thêm mặt,

Mừng nậu côn đồ đã chịu chay.

Đức chỉ xin được một bài thi đó thôi, sau chấp bút hoài cũng không được. Từ đó, Đức hết lòng tin tưởng, ăn chay luôn, phụng thờ Đức Cao Đài và hiệp cùng các đồng đạo đi phổ độ các nơi.

Sau khi được phong làm Hiến Pháp Hiệp Thiên Đài, Ngài Trương Hữu Đức hiệp cùng Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu thành cặp phò loan truyền Đạo tại Thánh Thất Cầu Kho.

Khi đã thọ phong rồi, Ngài Trương Hữu Đức thường lên xuống Toà Thánh Tây Ninh để hành Đạo trong lúc rảnh rang, vì lúc ấy Ngài còn giúp việc cho chánh phủ Pháp, tùng sự tại sở hoả Xa Sài Gòn.

Sau đó Ngài Trương Hữu Đức được ông Chánh Sở Mật thám Nam kỳ là Nadau giao cho chức vụ Thông dịch viên của Sở. Vì thấy Sở mật thám thường dân chúng không có cảm tình, Ngài không muốn giúp việc, nên Ngài có cầu cơ thỉnh giáo Đức Chí Tôn. Đức Chí Tôn dạy Ngài cứ qua đó giúp việc vì sẽ có cơ hội giúp Đạo.

Ngài kể lại việc giúp Đạo như sau: Quả thật như lời Đức Chí Tôn nói, chẳng bao lâu Ông Cao Quỳnh Cư (tức Cao Thượng Phẩm ), có ra bản “Phổ Cáo Chúng Sanh” để truyền bá Đạo Cao Đài, trên bìa Bản Phổ Cáo ấy có tựa đề “Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ”. Lần đầu tiên Bản Phổ Cáo ấy không có kèm thêm chữ Hán, nhưng lần sau, Ông Cư có thêm mấy chữ Hán. Để tượng trưng Tam giáo quy nguyên, ngoài bìa Phổ Cáo Chúng Sanh có vẽ hình ba vị Giáo chủ là Đức Thích Ca, Đức Lão Tử, và Đức Khổng Tử.

Bản Phổ Cáo Chúng Sanh in lần đầu được gởi ra Nha Tổng Giám Đốc Mật Thám Hà Nội để dịch ra Pháp văn. Nhưng người thông dịch viên ngoài ấy lại dịch câu tựa: Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là Đạo lớn cứu vớt ba Kỳ.

Lúc đó là lúc nhà cầm quyền Pháp để ý theo dõi hành vi Đạo Cao Đài rất gắt, nên Hà Nội gởi bài dịch văn ấy vào Nam hỏi Ông Chánh Sở Mật Thám Nadau, có phải Đạo Cao Đài làm chánh trị không, để họ giải tán.

Nhằm lúc ấy, Ông Nadau tin dùng Đức, nên Ông mới đến hỏi bài dịch văn ấy có đúng nghĩa không?

Đức trả lời rằng: Không đúng, vì nguyên văn câu ấy có nghĩa là Đại Đạo mở lần thứ ba để độ rỗi, chớ không phải cứu vớt ba Kỳ (trong Liên bang Pháp là Nam kỳ, Trung kỳ và Bắc kỳ). Để trưng bằng cớ cụ thể, Đức đem trao cho Ông Nadau Bản Phổ Cáo Chúng Sanh có in chữ Hán. Ông liền phúc trình ra Hà Nội giải thích rõ việc ấy. Nhờ đó mà Đạo khỏi bị giải tán và người Đạo cũng đỡ khổ. Đó là bằng chứng Đức cứu Đạo.

Đến tháng 8 năm Ất Mùi (1955), Ngài Trương Hữu Đức mới về Toà Thánh hiệp cùng các vị chức sắc khác để lo gỡ rối cho đạo. Ngài quyết chí phế đời hành đạo, mong cứu vãn tình thế, vì lúc ấy là lúc hỗn loạn. Có nhiều chức sắc và đạo hữu bị giam cầm do Ban Thanh Trừng điều khiển. Năm Bính Thân (1956), Ngài cùng Hội Thánh ký kết Thoả Ước với Chánh phủ Cộng Hoà, cam kết không làm chính trị. Sau đó vì phong trào hoà Bình Chung Sống, Ngài bị cấm cư trú hai năm tại Sài Gòn, nên lui về với gia đình an dưỡng tuổi già.

Đến tháng 9 năm Nhâm Dần (1962), Ngài về Toà Thánh tái thủ phận sự tại Hiệp Thiên Đài với nhiệm vụ: Tuyển soạn Thánh Ngôn và viết Đạo Sử. Từ đó, Ngài cộng tác với Đức Thượng Sanh.

Ngoài nhiêm vụ trên, Ngài còn kiêm nhiệm thêm Bộ Pháp Chánh, Ban Kiểm Duyệt, Ban Đạo Sử và thư Viện.

Sau khi Đức Thượng Sanh đăng Tiên ngày 26 tháng 3 năm Tân Hợi (Dl. 21/4/1971), Ngài Trương Hữu Đức được Đại Hội Hội Thánh Hiệp Thiên Đài công cử lên cầm Quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài và cuộc lễ Tấn Phong được tổ chức vào ngày chúa nhựt ngày 21 tháng 5 năm Tân Hợi.

Tháng 4 năm Quý Sửu (1973) trong đàn cơ tại Cung Đạo Đền Thánh, Đức Lý Giáo Tông và Đức Hộ Pháp đồng ý thăng nhiệm cho Ngài Hiến PhápTrương Hữu Đức lên Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài để đủ quyền năng thi hành trọng trách bảo thủ luật pháp chơn truyền.

Trong khoảng thời gian Ngài cầm quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài, đất nước Việt Nam ta rơi vào cảnh loạn lạc và nội chiến ác liệt, Ngài thay mặt cho toàn Đạo ban hành một bức Thông Điệp kêu gọi Hoà bình đến các chánh phủ liên hệ trong cuộc chiến và yêu cầu đặt vùng Thánh địa Toà Thánh Tây Ninh ra ngoài vòng chiến tranh. (Xin tìm xem bức Thông Điệp của Hội Thánh Cao Đài Toà Thánh Tây Ninh về hoà bình ở Việt Nam).

Ngài Trương Hữu Đức, sau cơn bịnh nặng, đăng Tiên vào lúc 20 giờ 15 phút ngày 15 tháng 12 năm Ất Mão (Dl. 15-01-1976), hưởng thọ 87 tuổi.

Bài Thài hiến lễ Ngài Hiến Pháp Trương Hữu Đức:

Hữu Đức mừng nay đã gặp Thầy,

Chẳng còn mong ước cái không hay.

Mừng nay gặp Đạo lòng mong muốn,

Chí quyết cùng nhau để hiệp vầy.

1.- Hiến Pháp:

Hiến Pháp Thời Quân bậc sĩ phu,

Soạn biên Đạo Sử chiếm công đầu.

(Thơ Thượng Sanh).

2.- Hiến Pháp Chơn Quân:

Hiến Pháp Chơn Quân nắm mối giềng,

Tấn phong sứ mạng bảo cung Thiên.

(Thơ Phạm Mộc Bổn).

 

 

HIẾN THÂN

獻 身

Hiến: Dâng lên. Thân: Thân mình.

Hiến thân là đem thân mình hy sinh vì đại nghĩa.

Trong tôn giáo Cao Đài, hiến thân là dâng trọn thân mình để sẵn sàng phụng sự cho đạo pháp.

Vì thế, nhũng chức sắc thọ phong đều phải làm tờ hiến thân trọn đời hành đạo, tức phải cát ái ly gia, lãnh lệnh Hội Thánh đi hành đạo bất cứ nơi nào.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Vào nơi đạo đức rồi, dầu cho phải cát ái ly gia, chia tình xẻ nghĩa, máu thịt đoạn ly, mà làm cho tròn trách nhậm xứng đáng của mình, để hiến thân chuộc sanh mạng cho muôn ngàn kẻ đồng bào, thì cái đau đớn thường tình, sự khổ tâm ở thế kia, đau khổ nào có tiếc.

Hiến thân cho Ðạo son sắc một lòng,

Nương bút thủ cơ tuyết sương mấy độ.

(Văn Tế Thượng Phẩm).

Anh hùng chí khí tùng chơn đạo,

Bốn biển xa gần phải hiến thân.

(Thượng Phẩm Giáng Bút).

 

 

HIẾN THẾ

獻 世

Hay “Hiến Thế Chơn Quân”.

Hiến Thế là một phẩm chức sắc của đạo Cao Đài, một trong Thập Nhị Thời Quân thuộc chi Thế Hiệp Thiên Đài, dưới quyền của Thượng Sanh.

Hiến Thế Chơn Quân là một vị chức sắc Đại Thiên phong thuộc chi Thế Hiệp Thiên Đài được Đức Chí Tôn phong cho Ngài Nguyễn Văn Mạnh.

Theo bản Hiến pháp Hiệp Thiên Đài, Hiến Thế là người lo tìm kiếm những phương hay để hiến cho đời và truyền bá những tư tưởng cần ích cho Đạo.

Ngoài ra, Pháp Chánh Truyền chú giải cũng có quy định: Khi tiếp nhận giấy tờ do Khai Thế dâng lên, Hiến Thế phải đi tra xét tìm biết biết căn nguyên cho rõ ràng, cấm không được thông đồng cùng Hiến Đạo và Hiến Pháp. Sự chi vào tay Hiến Thế rồi thì đã ra bí mật, dầu cho Chức sắc Hiệp Thiên Đài cũng không đặng biết tới nữa.

Hiến Thế phải dâng nội vụ cho Bảo Thế.

Đạo phục của Ngài Hiến Thế Chơn Quân theo Pháp Chánh Truyền gồm có hai bộ:

Bộ Đại phục của Hiến Thế toàn trắng, cổ trịch, viền kim tuyến bạc, đầu đội mão Nhựt Nguyệt mạo màu trắng, lưng đeo dây sắc lịnh, thả mối bên hông trái (Thuộc chi Thế), chân đi giầy vô ưu trắng.

Bộ Tiểu phục cũng toàn hàng trắng, lưng mang dây sắc lịnh y như Đại phục, đầu đội Hỗn Nguơn mạo, trên mão có để cổ pháp Thượng Sanh (Thư Hùng Kiếm, Phất chủ), chân đi giầy vô ưu màu trắng.

Hiến Thế Hiệp Thiên Đài được Đức Chí Tôn phong cho Ngài Nguyễn Văn Mạnh trong đàn cơ ngày 12 tháng 01 năm Đinh Mão (Dl. 13-2 1927) tại chùa Gò Kén.

Ngài Nguyễn Văn Mạnh, sinh năm Giáp Ngọ 1894, tại làng Tân Niên Trung, tỉnh Gò Công. Thân phụ Ngài là Nguyễn Văn Chợ, làm Xã Trưởng, và thân mẫu là cụ Lê Thị Liễu, làm giáo viên.

Thời thiếu niên ở với cha mẹ đi học, đỗ bằng Tiểu Học ở Gò Công, rồi lên Sài Gòn ngụ nơi nhà người cậu là Đốc phủ Lê Quang Liêm học trường Tabert, thi đỗ bằng Trung Học Phổ Thông và bằng Tú Tài.

Sau khi ra trường, Ngài làm công chức tại Toà Tân Đáo tức Sở Ngoại Kiều ngày nay. Ngài ảnh hưởng truyền thống đạo đức của ông bà, nên làm việc một cách tận tuỵ, liêm chính, được quan yêu dân chuộng, đường hoạn lộ của Ngài thăng lần lên Thông Phán, Tri Huyện, Tri Phủ.

Đầu năm Bính Dần, Đức Chí Tôn mở Đạo tại Sài Gòn, thì Ngài được chọn làm môn đệ đầu tiên để phổ thông chơn đạo, đến ngày rằm tháng 3 năm Bính Dần, 1926 Ngài được Đức Chí Tôn phong làm Tiên Đạo Phò Cơ Đạo Sĩ.

Đến ngày 13 tháng 2 năm 1927, Ngài được Đức Chí Tôn phong chức Hiến Thế thuộc Thập Nhị Thời Quân cùng với chư vị Thời Quân khác.

Nhân ngày rước tro Hiến Thế Nguyễn Văn Mạnh về Toà Thánh, Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa có nói về Ngài như sau: “Đắc phong Thời Quân, Đại huynh càng hăng say thêm, chẳng quản nhọc nhằn, quên ăn quên ngủ, đêm nào cũng như đêm nấy, thức gần suốt sáng, ôm cơ phổ độ cùng với chư vị Thời Quân khác, khai đường mở lối đến ngày hôm nay, nền Đạo mới đặng huy hoàng đẹp đẽ để cho chúng ta thọ hưởng.

Tiếc một điều là Đại huynh có một thể xác không được tráng kiện mà lại phải quá lao tâm lao lực trong lúc Đạo mới phôi thai, nên Đại huynh thường hay bịnh hoạn, không thể hành đạo một cách liên tục như chư vị Thời Quân khác. Nhưng lúc nào Đại huynh cũng một lòng hoài bão với sứ mạng thiêng liêng, luôn luôn lưu tâm về đại nghiệp Đạo”.

Khi Đức Thượng Sanh về cầm quyền nơi Toà Thánh, Ngài cũng về cùng nhau hiệp lực cầm giềng mối Đạo. Ngài lãnh chức vụ Phó Thống Quản Cơ Quan Phước Thiện, do Thánh Lịnh số 26/TL ngày 19 tháng 8 năm Ất Tỵ (Dl. 14-9-1965). Ít lâu sau, Ngài được thăng lên cầm quyền Thống Quản Phước Thiện do Thánh Lịnh số 47/TL ngày 20 tháng 12 năm Ất Tỵ (Dl. 11-01-1966).

Ngài Nguyễn Văn Mạnh, vì cơn bịnh hoành hành, nên ngày 10 tháng 2 năm 1966, phải xin nghỉ một thời gian để qua Tích Lan và Thái Lan trị bịnh, nhưng chỉ thuyên giảm một đôi phần.

Cho đến ngày rằm tháng giêng năm Canh Tuất (Dl. 20/02/1970), Ngài Hiến Thế Nguyễn Văn Mạnh đăng Tiên, hưởng thọ 77 tuổi.

Bài Thài hiến lễ Ngài Hiến Thế như sau:

Hiến mình cho Đạo buổi sơ khai,

Thế cuộc càng xây dạ chẳng nài.

Chơn chánh quyết tâm lo lập đức,

Quân thần vẹn nghĩa cảm bi ai.

1.- Hiến Thế:

Thượng Sanh thì lo về phần Ðời: Bảo Thế thì Phước, Hiến Thế: Mạnh, Khai Thế: Thâu, Tiếp Thế: Vĩnh.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

2.- Hiến Thế Chơn Quân:

Hiến mình cho Đạo buổi sơ khai,

Thế cuộc càng xây dạ chẳng nài.

Chơn chánh quyết tâm lo lập đức,

Quân thần vẹn nghĩa cảm bi ai.

(Bài Thài Hiến Thế).

 

 

HIỀN

1.- Hiền là không độc hại, không gây bệnh.

Như: Khoai lang ăn hiền không độc như khoai mì, cá kho tiêu là món hiền cho thai phụ.

Nếm đồ ăn miếng dở vật ngon,

Xem từ món, món hiền, món độc.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Hiền là lành, không hung dữ. Như: Hiền như cục đất, ở hiền gặp lành, con vật hiền lành.

Thánh giáo Thầy có dạy: Thử nghĩ, lập một nước còn dễ hơn dạy một người dữ đặng hiền, huống chi trong Tam Kỳ Phổ Ðộ nầy, các con phải độ rỗi cả nhơn loại khắp cả Năm Châu, thì trách nhậm ấy lớn lao là bực nào.

Dữ đoạ hiền thăng ấy luật Trời,

Lánh đường tà vạy hưởng an vui.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tìm hiền lắm lúc gieo nguồn đạo,

Cải dữ đòi phen cổi mạch sầu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Hiền là tốt, ăn ở phải đạo, hết lòng làm tròn bổn phận của mình đối với người khác. Như: Mẹ hiền, vợ hiền, bạn hiền, con hiền dâu thảo.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có đoạn dạy: Thầy buộc phải nói rõ cho các con đừng lầm mà trách Thầy. Cha hiền chả biết hành hạ con cái bao giờ. Thầy đã đến mà dìu dắt từ đứa thì lẽ nào lại đành lòng xô đuổi.

Gởi Tổ Phụ Anh hiền cung phụng,

Gởi sắp em còn sống nơi đời.

(Kinh Thế Đạo).

Đại quân tử tang bồng gánh nợ,

Nhờ vợ hiền mới đỡ đôi vai.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

HIỀN BẢY LÃO

Hiền: Kẻ có tài năng và đức hạnh hơn người. Bảy lão: Nói đến bảy ông già ở rừng Trước.

Hiền bảy lão là bảy vị hiền nhân đời nhà Tấn, sống ẩn dật ở rừng trước (trúc) mà người đời gọi là “Trúc lâm thất hiền 竹 林 七 賢”.

Đó là Sơn Đào, Nguyễn Tịch, Kê Khang, Hướng Tú, Lưu Linh, Nguyễn Hàm, Vương Nhung.

Xem: Trúc lâm.

Thà đọc sách xưa hiền bảy Lão,

Tại nơi rừng trước hưởng khương bình.

(Đạo Sử).

 

 

HIỀN ĐỒ

賢 徒

Hiền: Tiếng dùng tôn xưng với ý yêu mến thân thiết. Đồ: Người học trò.

Hiền đồ là tiếng gọi người học trò thân mến.

Từ ngày dùng Thánh chất nắn đúc Thánh thể của chư hiền đồ, Tệ Thiếp những mong cho khỏi phụ lòng Thượng Đế.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

HIỀN ĐỨC

賢 德

Hiền: Lành, có đức tốt. Đức: Đạo đức.

Hiền đức là hiền lành và có đạo đức.

Kê Khang có câu: Hung hiểm chi nhơn, kính nhi viễn chi; hiền đức chi nhơn, thân nhi cận chi 凶 險 之 人, 敬 而 遠 之; 賢 德 之 人, 親 而 近 之, nghĩa là đối với kẻ hiểm độc hung dữ, nên kính mà xa ra; còn đối với người hiền đức, nên thân thiết và gần gũi.

Khi giải thích về phẩm Hiền Tài trong Đạo Cao Đài, Đức Thượng Sanh có nói: Một đấng Hiền Tài tức là một nhơn vật xuất chúng ít ai sánh được, phải là người vừa Hiền đức vừa có chân tài.

Ức lòng dễ tỏ đặng cùng ai,

Hiền đức mà sao chịu khổ hoài?

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trăm năm chưa hẳn nên hiền đức,

Tấn nẻo chông gai khá lựa dèo.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Hạnh hiền đức mỗi ngày mỗi nhắc,

Thói bạo tàn làm gắt chẳng nghe.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

HIỀN HIỀN LÀ CÔNG

Hiền hiền: Hiền lương, nhân nghĩa. Là Công: Là một công phu.

Hiền hiền là công là rèn tập trở nên hiền lương, nhân nghĩa là một công phu của con người.

Theo Dịch học, cái đức lớn của Trời đất là sự sinh, thì đạo người phải theo đạo Trời đất mà bồi dưỡng sự sinh. Đạo Trời có bốn đức: Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh (元, 亨, 利, 貞); Đạo người cũng bởi đó mà có bốn đức là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí (仁, 義, 禮, 智). Như vậy, Nhân (hay hiền) là đầu hết các điều thiện, là gốc lớn của sự sinh hoá trong Trời đất. Vậy hợp với cái đức sinh là hiền là thiện, trái với đức sinh là ác.

Đã gan dốc kiếm diệu huyền,

Sanh sanh là phận, hiền hiền là công.

(Kinh Tận Độ).

 

 

HIỀN HỮU

賢 友

Hiền: Tiếng dùng với ý tôn trọng trong phép xã giao. Hữu: Bạn, bạn bè.

Hiền hữu là bạn hiền.

Trong Đạo Cao Đài, những người nhỏ tuổi hay cấp thấp xưng tụng bậc trưởng thượng là “Hiền huynh” và người lớn gọi kẻ nhỏ bằng “Hiền hữu” hoặc “Hiền đệ”.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Các bạn Hiệp Thiên Đài, nhứt là Cao Tiếp Đạo những lời châu ngọc của Hiền Hữu nó đã ăn sâu trong tâm hồn của Bần Đạo thật vậy, nếu kiếp sanh nầy may duyên nó có thể nói rằng: Kiếp sanh tại thế nầy nó là con vật, mà con vật ấy có thể hữu dụng được cũng là hạnh phúc cho kiếp sanh của Bần Đạo đó vậy.

Chư hiền hữu, chư hiền muội có đạt được phép tiên tri như vậy đâu mà mong tránh khỏi.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

HIỀN LÀNH

Hiền: Lành, không hung dữ. Lành: Tốt, hiền.

Hiền lành là người tỏ ra rất hiền trong quan hệ đối xử với người khác, không hề có những hành động gây hại cho bất kỳ ai.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Con người của ta duy có tu, chơn tu của mình có thể đầu kiếp lên trong cảnh hiền lành chất phác, còn những kẻ không tu thì hung hăng bạo ngược. Con vật kia cũng thế, hễ nó có thiện căn của nó, nó hiền lương, kêu là lương vật.

Hiền lành là phước dẫn nguồn Tiên,

Chưa đặng trọn chưng khách cửu tuyền.

(Đạo Sử).

Tánh hạnh hiền lành, tánh tình nhỏ nhẹ,

Trên lớn thương yêu, dưới bé kỉnh nhường.

(Văn Tế Bảo Đạo).

 

 

HIỀN LƯƠNG

賢 良

Hiền: Lành, không dữ. Lương: Tốt, lành.

Hiền lương là hiền lành và lương thiện, tức là người tỏ ra rất hiền trong quan hệ đối xử với người khác, không có hành động gây hại cho bất kỳ ai.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Thầy có câu: Thầy mầng lũ con yêu dấu của Thầy. Căn dày của các con hầu mãn. Thầy đã đến lập một nền Chánh Đạo nầy tại cõi Đông Dương là cốt làm cho kẻ bị hiếp đáp đặng mạnh mẽ, kẻ hiền lương làm thầy kẻ hung bạo.

Nhỏ dại Thầy nuôi mùi Ðạo hạnh,

Lớn khôn bây xứng mặt hiền lương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nghe nghe thì lắm tiếng hiền lương,

Ðạo đức con tua giữ một đường.

(Đạo Sử).

Biết con là phận đàn bà,

Biết lời ăn nói thiệt thà hiền lương.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

HIỀN MUỘI

賢 妹

Hiền: Tiếng dùng với ý tôn trọng trong phép xã giao. Muội: Em, em gái.

Hiền muội là tiếng gọi người em gái với ý thân mật.

Chư hiền hữu, chư hiền muội có đạt được phép tiên tri như vậy đâu mà mong tránh khỏi.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

HIỀN NỮ KỈNH PHU

Hay “Hiền nữ kính phu”.

Hiền nữ: Người con gái ngoan hiền. Kỉnh (kính) phu: Kính trọng chồng mình.

Hiền nữ kỉnh phu, như chữ “Hiền nữ kính phu 賢 女 敬 夫”, ý nói người con gái ngoan hiền lúc nào cũng kính trọng chồng mình.

Trong Minh Tâm Bửu Giám, Thái Công có câu: Si nhân uý phụ, hiền nữ kính phu 癡 人 畏 婦, 賢 女 敬 夫, nghĩa là người ngu thì sợ vợ, gái hiền thì kính chồng.

Noi tiết phụ đời xưa thanh sử,

Sách có câu: Hiền nữ kỉnh phu.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

HIỀN NGÕ

Hiền: Không dữ, lành. Ngõ: Cho được, để mà, tiếng mong ước về sau.

Hiền ngõ là từ thông dụng ở Nam bộ, nghĩa là người hiền lành, đạo đức.

Thánh giáo Lý Giáo Tông, trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Ấy vậy, Lão đến mà gieo hột Thánh cốc nơi lòng kẻ tà tâm, mong cho đơm bông kết quả, đặng liệu thế hồi tâm, chớ chẳng phải đến rước người hiền ngõ.

Hiền ngõ rủi sanh đời bạo ngược,

Dầu trong Thánh đức cũng ra thường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Võ môn định cấp tài hiền ngõ,

Văn miếu huờn hình đức Thánh nhân.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

HIỀN NHƠN

Hay “Hiền Nhân”.

Hiền: Người tài giỏi đức độ. Nhơn (nhân): Người.

1.- Hiền nhơn, như chữ “Hiền nhân 賢 人”, là người có tài năng, có đức hạnh. Như: Hiền nhơn quân tử.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Chư quý vị cũng giữ được cái tiết tháo của bậc hiền nhơn để soi gương cho đàn hậu tấn.

Khí thiêng un đúc bậc hiền nhơn,

Đáng mặt Nho phong Công Dã Tràng.

(Thơ Thuần Đức).

2.- Hiền Nhơn, trong đạo Cao Đài là một phẩm chức sắc cao cấp trong Thập Nhị Đẳng Cấp Thiêng Liêng thuộc Cơ Quan Phước Thiện, đứng dưới phẩm Thánh Nhơn và trên phẩm Chơn Nhơn. Hiền Nhơn đối phẩm Phối Sư bên Cửu Trùng Đài.

Đạo phục của Hiền Nhơn: Áo tràng trắng, mang dây sắc lịnh màu vàng, bỏ mối qua hông mặt (Đạo), trên có gắn khuê bài ghi chữ Hiền Nhơn, đầu đội khắn đóng màu vàng 9 lớp chữ nhứt, chơn đi giầy bố trắng.

Từ bậc Hiền Nhơn tới Phật Tử, thì lo bảo thủ bí pháp tâm truyền và nhập cùng Hiệp Thiên Đài làm một.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

HIỀN SĨ

賢 士

Hiền: Người tài giỏi đức độ. Sĩ: Người trí thức.

Hiền sĩ, đồng nghĩa với “Hiền tài”, là người có tài ba, đức độ hơn người trong xã hội.

Như: Nhiều bậc hiền sĩ không tham danh lợi, lui về với cuộc sống ẩn dật.

Xem: Hiền tài.

An dân buồn thiếu trang hiền sĩ,

Bảo quốc vui nhờ Đức Thánh nhân.

(Thanh Sơn Chơn Nhơn).

 

 

HIỀN TÀI

賢 才

Hiền: Người có tài năng và đức hạnh. Tài: Tài năng, tài giỏi.

1.- Hiền tài là chỉ người có đức hạnh và tài năng trong xã hội.

Thói thường, người ta lấy kẻ dưới kính trọng người trên, chứ ít khi lấy trên kính dưới, nên Mạnh Tử mới nói: “Dụng thượng kính hạ, vị chi tôn hiền 用 上 敬 下, 謂 之 尊 賢”, nghĩa là lấy người trên kính kẻ dưới gọi là tôn kính bậc hiền tài.

Vua Nghiêu nghe tiếng hiền tài,

Toan nhường ngôi báu cho Ngài trị dân.

(Lược Thuật Toà Thánh).

2.- Hiền Tài, trong đạo Cao Đài còn là một phẩm Chức sắc Ban Thế Đạo, thuộc chi thế của Hiệp Thiên Đài, do Đức Hộ Pháp lập ra để độ những bậc trí thức, nhân tài trong xã hội vào lập công với Đạo. Sau đó, Ban Thế Đạo được Đức Lý Giáo Tông lập thêm ba phẩm trên Hiền Tài là Quốc Sĩ, Đại Phu, Phu Tử.

Hiền Tài đối phẩm với Lễ Sanh bên Cửu Trùng Đài.

Huấn Dụ Đức Thượng Sanh nhơn dịp lễ ân phong phẩm Hiền Tài tại Đền Thánh có câu: Hiền Tài tuy là phẩm sơ khởi trong cấp bực Ban Thế Đạo, nhưng nếu hiểu theo ý nghĩa của danh từ thì nó có một tầm quan trọng chẳng phải tầm thường.

Một đấng hiền tài là một nhơn vật xuất chúng ít ai sánh được, phải là người vừa hiền đức vừa có chân tài.

Ban Thế Đạo đang xây bên tả,

Những Hiền Tài nay đã thọ phong.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

HIỀN TỪ

Hiền: Lành, có đức tốt. Từ: Lòng thương người.

Hiền từ là rất hiền và giàu lòng thương người.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Ðối với những người chưa nhập Ðạo, chúng ta chịu kém về phần học thức, về tiền bạc, về cách phục sức và cả hình thức bên ngoài. Nhưng chúng ta nhứt định không chịu kém về phần tâm Ðạo, về hiền từ và đức tính.

Gặp lắm đứa du côn tánh nóng,

Mình bãi buôi trở giọng hiền từ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

HIỀN THĂNG ÁC ĐOẠ

賢 升 惡 墮

Hiền thăng: Làm hiền thì được siêu thăng. Ác đoạ: Làm ác thì bị đoạ.

Hiền thăng ác đoạ ý nói người tu hành làm những việc hiền lương thì sau nầy sẽ được siêu thăng, còn làm những điều ác đức thì sẽ bị đoạ lạc.

Công thưởng tội trừng phương nhiệm nhặt,

Hiền thăng ác đoạ pháp tinh anh.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

HIỀN THẦN

賢 臣

Hiền: Người có tài năng và đức hạnh hơn người. Thần: Bầy tôi.

Hiền thần là những vị tôi thần hiền đức và trung cang của nhà vua.

Như: Gặp thời hôn quân cầm quyền, hiếm có hiền thần ra phò tá.

Thánh chúa hiền thần phò tổ nghiệp,

Khải ca định phận tại thu phân.

(Lý Giáo Tông Giáng).

Thiên địa tối linh sanh Thánh chất,

Quân vương háo nghĩa tác Hiền thần.

(Đạo Sử).

 

 

HIỀN TRIẾT

賢 哲

Hiền: Người có tài năng và đức hạnh hơn người. Triết: Học thức rộng, khôn ngoan và đạo đức.

Hiền triết là chỉ người có học thức cao sâu và đạo đức, được người đời tôn sùng.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Ðưa nhau bằng lời nói, đó là phẩm cách của những bậc hiền triết ngày xưa. Hội Thánh xin để lời khuyên nhủ quý bạn nên thận trọng gìn giữ phận sự.

Ðức hạnh chẳng như đời hiền triết,

Chưa lo ích chúng tính thân nhàn.

(Đạo Sử).

Muôn đời còn để danh hiền triết,

Dầu chẳng nên Tiên cũng chức Hiền.

(Đạo Sử).

 

 

HIỀN VONG ÁC THẠNH

賢 亡 惡 盛

Hiền vong: Người hiền thì mất. Ác thạnh: Người ác thì nhiều.

Hiền vong ác thạnh ý muốn nói thời mạt pháp, đời quá sức hung bạo, người hiền lương thì tiêu mất, người ác đức lại quá nhiều.

Sanh gặp lúc ruộng dâu hoá bể, phong di tục diệt.

Nhìn nước non tha thiết tấm trung thành,

Ở phải hồi dĩ Lữ diệt Dinh, hiền vong ác thạnh,

Tìm công môn xa lánh cửa công khanh.

(Văn Tế Tiểu Tường).

 

 

HIỂN

1.- Hiển là sáng tỏ, rõ rệt. Như: Hiển hách, hiển hiện, hiển linh, hiển lộ, hiển nhiên.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có đoạn: Cái khổ là một sự thực hiển nhiên, mỗi người không ai tránh khỏi. Dầu giàu nghèo sang hèn ai cũng có cái khổ riêng của mình nhưng người đời ít ai dám nhìn thẳng vào đó.

Sao đó hiển, sao đó linh,

Phải chăng trước cũng lụy tình như ta?

(Nữ Trung Tùng Phận).

Cớ hiển hiện nào ai nói hiếp,

Phòng toan phương ứng tiếp binh lời.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Hiển là vẻ vang, có danh vọng. Như: Hiển dương, hiển đạt, vinh hiển.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy lại thường nói rằng, sự sang trọng vinh hiển của các con chẳng phải nơi thế giới nầy. Thầy lại đến lập trong nước các con một nền Chánh đạo đủ tư cách độ rỗi chúng sanh.

Chia vinh hiển cùng là sỉ nhục,

Cơn khó khăn một phút chẳng rời nhau.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Hiển là chữ dùng để tôn xưng những bậc như ông bà, cha mẹ đã chết rồi.

Thí dụ: Hiển khảo, hiển tỷ, hiển tổ khảo.

Kỉnh tổ hiển nỗi thờ nỗi phụng,

Tế tông đường lo cúng lo đơm.

(Nữ Trung Tùng Phận).

4.- Hiển do nghĩa đen là sáng tỏ, rõ rệt, nên còn dùng để chỉ cõi dương gian, trái với chữ “U 幽” là tối tăm, chỉ cõi Địa ngục.

U hiển là cõi địa ngục và dương gian.

U hiển Tiên phàm tuy thoả nguyện,

Nhưng làm sao tránh nỗi buồn riêng.

(Thơ Vạn Năng).

 

 

HIỂN ĐẠT

顯 達

Hiển: Có danh vọng, địa vị. Đạt: Thông suốt.

Hiển đạt là đạt đến một địa vị cao trong xã hội.

Trong bài giảng về “Hội Thánh là gì?”, Đức Hộ Pháp có nói: Người anh nghe cha di chúc thì lo tìm phương dạy dỗ em thế nào cho nên người và đến một ngày kia các con ấy sẽ trở nên hiển đạt đi rồi, thiết tưởng gia đình ấy hạnh phúc biết chừng nào.

Ngàn thu đạo sử còn ghi chép,

Hiển đạt công phu tại chí thành.

(Thơ Thượng Tước Thanh).

 

 

HIỂN HÍCH

Hay “Hiển hách”.

Hiển: Có địa vị, danh vọng. Hích (hách): Chói sáng, thịnh vượng.

Hiển hích, như chư “Hiển hách 顯 赫”, là rực rỡ, lừng lẫy. Như: Chiến công hiển hách.

Sách Bửu Đức viết: Quyền quý hiển hách khuynh động kinh đô 權 貴 顯 赫 傾 動 京 都, nghĩa là giàu sang rực rỡ lay động cả kinh thành.

Muôn kiếp anh linh trang tuấn kiệt,

Ngàn thu hiển hích bậc cao ngôi.

(Thơ Khai Pháp).

Ở thế trung can danh chí sĩ,

Về Tiên hiển hích dấu anh linh.

(Thơ Thượng Tuy Thanh).

 

 

HIỂN HIỆN

顯 現

Hiển: Rõ ràng. Hiện: Có trước mắt.

Hiển hiện là hiện ra rất rõ ràng.

Pháp Chánh Truyền Chú Giải có câu: Ấy vậy chẳng buộc ai vào Địa ngục, mà cũng chẳng nâng đỡ ai đến Thiên đàng. Đôi đường hiển hiện, tự quyền người lựa chọn, siêu đoạ tại nơi mình, các Đấng thiêng liêng duy có thương mà chỉ dẫn.

Cớ hiển hiện nào ai nói hiếp,

Phòng toan phương ứng tiếp binh lời.

(Phương Tu Đại Đạo).

Kìa tả hữu mắt trông hiển hiện,

Hai khán đài đối diện rất xinh.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

HIỂN LINH

顯 靈

Hiển: Hiện rõ ra. Linh: Linh thiêng.

Hiển linh là hiện rõ sự thiêng liêng, mầu nhiệm.

Trong Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Đức Diêu Trì Kim Mẫu có dạy: Hễ đắc thế thì phải tầm pháp đặng cứu chữa, dạy bảo theo pháp; nếu mình hành pháp hiển linh, chúng sanh ứng mộ, thì mình đắc pháp.

Đã đành bẻ gãy chữ đồng,

Hiển linh chứng chiếu tấm lòng tiết trinh.

(Kinh Thế Đạo).

Phật, Trời phép lạ hiển linh,

Hành cho tan giác huờn hình như xưa.

(Kinh Sám Hối).

Chàng đã đặng phủi rồi nợ thế,

Xin hiển linh giúp kẻ goá thân.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

HIỂN NHIÊN

顯 然

Hiển: Hiện rõ ra. Nhiên: Vậy rồi, vốn sẵn.

Hiển nhiên là rõ ràng dễ thấy.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Lão chẳng nói rõ, hiền hữu cũng thấy hiển nhiên rằng từ thử, thảng Lão có muốn nên cho Ðạo đi nữa thì cũng không thi thố chi đặng với một Hội Thánh hữu hư vô thiệt, như vậy có phải?

Khăn tang mấy thước đo tường tận,

Công nghiệp bao nhiêu thấy hiển nhiên.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

HIỂN TỔ

顯 祖

Hiển: Có danh vọng, tiếng để kính người đã qua đời. Tổ: Tổ tiên, ông bà.

Hiển tổ là làm vẻ vang Tổ tiên, ông bà.

Hiển tổ còn là tiếng kính xưng ông, bà đã qua đời, như: Hiển tổ khảo 顯 祖 考, hiển tổ tỷ 顯 祖 妣.

Muốn hiển tổ vinh tông báo hiếu,

Học cho hay trọng yếu miếu đường.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

HIỂN TÔNG MÔN

顯 宗 門

Hiển: Làm vẻ vang. Tông môn: Chỉ dòng họ.

Hiển tông môn tức là làm cho rạng rỡ, vẻ vang cả dòng họ.

Như: Đạo hiếu ngoài việc phụng dưỡng cha mẹ còn làm hiển tong môn.

Con ví biết trọng nghì phụ tử,

Hiển tông môn khá giữ nơi lòng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Phải hiểu rõ hai điều vinh xú,

Hiển tông môn quy củ nghiệp nhà.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

HIỂN THÁNH

顯 聖

Hiển: Hiển hiện lên. Thánh: Bậc Thánh, hàng Thánh.

Hiển Thánh ý chỉ linh hồn được siêu thoát lên vào bậc Thánh.

Nói về Quan Thánh Đế quân, Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Một vị hiển Thánh đời Hớn, thời Tam Quốc, ngày nay đạt phẩm vị đến Tam Trấn Oai Nghiêm trong nền Chánh Giáo của Ðức Chí Tôn, sự vinh hiển cao trọng đó ta thấy giá trị vô đối.

Ðến sau Ðức Ngài thường hiển Thánh nơi Ngọc Tuyền Sơn mà bảo hộ nhơn dân.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

HIỂN VINH

顯 榮

Hiển: Có danh vọng, địa vị. Vinh: Vẻ vang.

Hiển vinh hay Vinh hiển, là vẻ vang, có tiếng tăm, danh vọng được người ngưỡng mộ.

Như: Qua cơn nghèo khó đến hồi hiển vinh.

Xem: Vinh hiển.

Khuyên về để chữ lại thơ đình,

Chừng đến ngựa mời đặng hiển vinh.

(Đạo Sử).

 

 

HIỆN

1.- Hiện là đang có trong thời điểm mình nói. Như: Hiện việc ấy đang xét, vấn đề hiện đang được nghiên cứu.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Nhơn loại hiện chịu đau khổ bởi nhiều cuộc tai biến.

Ly hận ngày qua, non ngó khóc,

Trùng hưng buổi hiện, gió reo cười.

(Thơ Tiếp Đạo).

2.- Hiện là tự nhiện rõ rệt ra, có thể nhìn thấy được.

Như: Ma hiện hình, sự thật hiện ra, mặt trăng khi ẩn khi hiện, chiếc xe hiện rõ dần.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có đoạn: Nếu không bỏ vọng tâm thì chân tâm diệu minh không hiện phát ra được. Xoá bỏ vọng tâm tức là để cho chơn tâm phát hiện, người tu hành mới thoát khỏi thất tình lục dục hiểu thấu chơn lý và thắng được mọi sự khổ.

Lân hiện châu U chơn Thánh xuất,

Tự quân vấn đắc chiếm hà phương.

(Đạo Sử).

Tiêu binh cảnh vật hiện chơn hình,

Thiên hạ thái bình dứt chiến tranh.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

HIỆN DIỆN

現 面

Hiện: Có trước mặt. Diện: Mặt.

Hiện diện là có mặt tại đó.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Trong bữa tiệc ủy lạo nầy, sự hiện diện đông đủ của toàn thể Chức sắc các cấp bậc và nhơn viên Công quả chứng tỏ mối dây thân ái đã thắt chặt tình huynh đệ thiêng liêng giữa con cái Ðức Chí Tôn.

Anh cả chúng ta thiên hạ tưởng là chết, nhưng vẫn sống... Chết gì còn nói được, chết gì mà để khối tinh thần trong đầu óc anh em còn hiện diện tại đây?

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

HIỆN TƯỢNG

現 象

Hiện: Tỏ bày, rõ ràng. Tượng: Hình trạng.

Hiện tượng là bày ra trước mắt rõ ràng.

Theo triết học, hiện tượng là cái trạng thái của vật mà người ta có thể cảm và biết được, tức là hình tượng và trạng thái đang biến chuyển hiện ra trong ý thức cái mình cảm biết được về phương diện vật chất cũng như tinh thần. Thí dụ như hiện tượng tâm lý.

Thánh giáo Đức Cao Thượng Phẩm có dạy: Em coi lại Thánh Ngôn thì thấy cả lời tiên tri của Thầy đều hiện tượng. Thầy đã nói Thầy thả một lũ hổ lang ở lộn cùng và hằng xúi cắn xé mình, và lại hứa cho mình mặc thiết giáp đạo đức mà che chở lấy thân.

Ít hiện tượng vào phần tưởng tượng,

Phép hồi quang biến tướng hữu hình.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

HIẾP

Hiếp là dùng sức mạnh mà bắt người ta phải chịu. Như: Hiếp dân lành, hiếp người lấy của.

Thánh giáo Đức Chí Tôn giáng cơ trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển bằng Pháp văn được Hội Thánh dịch ra Việt ngữ có câu: Thánh đạo của Ðức Chúa Cứu Thế (vì sự hiểu lầm) làm tăng gia dục vọng của kẻ mạnh đối người yếu và giúp giáo cho bọn trên hiếp dưới.

Ðời hiếp lẫn nhau nỡ chẳng thương,

Thương đời nên mới đến đem đường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cang cường quen tánh hiếp dân nghèo,

Nghe Ðạo Phật Trời cũng muốn theo.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Đừng kể nể kẻ hơn người hiếp,

Xúm xích nhau chung hiệp làm bè.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

HIẾP BỨC

脅 逼

Hiếp: Dùng quyền thế hay sức mạnh đe doạ người. Bức: Ép buộc.

Hiếp bức, như chữ “Bức hiếp”, là dùng sức mạnh hay quyền lực bắt buộc người tùng phục theo mình.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Coi dân như con đỏ, làng như cha mẹ dân thay thế cho triều đình, mà muốn nên phận cha mẹ dân thì vị chủ quyền đó không tư tâm, tư kỷ, hễ tư tâm tư kỷ tức bốc lột dân, trộm cướp của dân, hiếp bức dân.

Như kẻ làm quan ỷ quyền hiếp bức dân lành, đứa ngu nghịch cha phản bạn, làm rối luân thường...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

HIẾP CÔ

脅 孤

Hiếp: Dùng quyền thế hay sức mạnh đe doạ người. Cô: Đơn độc một mình.

Hiếp cô là hiếp đáp người cô thế. Thành ngữ có câu: “Ỷ chúng hiếp cô 倚 眾 脅 孤”, nghĩa là dựa theo đông mà hiếp người cô thế.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Giữa xã hội người ta thấy bao nhiêu nỗi bất bình bực tức: mạnh lấn yếu, chúng hiếp cô, vì lẽ cái thế lực kim tiền được tôn thờ kính phục. Cái khổ của dân vì đó càng ngày càng chồng chất mà không biết kêu ca vào đâu?

Ham lợi hiếp cô đâu phải Ðạo,

Còn gầy oan nghiệt Ðạo chi mong.

(Đạo Sử).

 

 

HIẾP CHÚNG

脅 眾

Hiếp: Đe doạ. Chúng: Đám đông, nhiều người.

Hiếp chúng là đe doạ, hiếp đáp người.

Thuyết Đạo đức Thượng Sanh có nói: Có kẻ làm giàu trên xương máu của đồng bào, có kẻ mượn Đạo tạo đời tư, cậy quyền toan hiếp chúng.

Có lợi cho danh thường hiếp chúng,

Vì điều oan nghiệt tổ tiên truyền.

(Đạo Sử).

 

 

HIẾP ĐÁP

Hiếp: Dùng sức mạnh, dùng quyền lực bắt người phải chịu. Đáp: Trả lại.

Hiếp đáp là dùng uy quyền hay sức mạnh để ép bức người phải chịu.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có nói: Lễ Sanh là người có hạnh, lựa chọn trong chư môn đệ mà hành lễ. Chúng nó đặng quyền đi khai đàn cho mỗi tín đồ. Thầy dặn các con hiểu rõ rằng Lễ Sanh là người Thầy yêu mến, chẳng nên hiếp đáp chúng nó.

Dưới thế hiếm người toan hiếp đáp,

Thương thay một mạng bỏ nơi nhàn.

(Đạo Sử).

Bị đẩy xô hiếp đáp chẳng ai binh,

Chưn nương đất như hình không có đất.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

HIỆP

1.- Hiệp, như chữ “Đợt”, “Lần”, “Lượt”, là chỉ từng đơn vị thời gian ngắt ra một cách đều đặn.

Như: Tụng ba hiệp kinh Cứu Khổ, một trận đấu chia làm hai hiệp, gà gáy hiệp nhất.

Ba hiệp trời vừa qua tối sáng,

Bốn phương mây lại biến thành lầu.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Còn làm hơi dính cứng sân si,

Méc bả tụng đại bi ít hiệp.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Hiệp, như chữ “Hợp 合”, là giống nhau, đối chiếu nhau. Như: Hiệp cách, hiệp nhất, hiệp vầy.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có câu: Chư hiền hữu đã đặng phép tự biến tự liệu mà hành đạo, thế thì hiệp vầy chung lo, thảo thuận cùng nhau, còn chi hơn nữa đặng?

Xem: Hợp.

Nương dựa con tua vầy hiệp bạn,

Ðường đời cũng thế chẳng bao xa.

(Đạo Sử).

Nầy là buổi hiệp rồi ly,

Nầy là khi khóc khi thì cười mơn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

3.- Hiệp là hợp, giúp. Như: Hiệp biện, hiệp hội, đồng tâm hiệp lực.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Chúng sanh chưa rõ nền Ðạo quý trọng là dường nào. Ðạo cũng do nơi phàm mà phát ra và tiếp lấy cái thiêng liêng của Thầy mà hiệp đồng, mới sanh sanh hoá hoá, thấu đáo Càn khôn.

Trau tâm hiệp sức vun nền Thánh,

Dưỡng tánh chờ khi sạch bợn trần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tình chung nào trọng chung đôi vú,

Nghĩa hiệp chi hơn hiệp một sàng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

HIỆP ÂM DƯƠNG BIẾN SANH

協 陰 陽 變 生

Hiệp Âm dương: Hợp hai khí nguyên thuỷ là Âm quang và Dương quang. Biến sanh: Biến hoá sanh ra.

Trong bài Phật Mẫu Chơn Kinh cho biết hai khí Âm quang (Phật Mẫu) và Dương quang (Chí Tôn) hiệp lại làm một để biến hoá sanh ra Càn khôn Vũ trụ và vạn vật.

Thiên cung xuất Vạn linh tùng pháp,

Hiệp Âm Dương hữu hạp biến sanh.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

 

 

HIỆP CẨN

Hay “Hợp cẩn”.

Hiệp (hợp): Cùng chung. Cẩn: Lấy quả bầu làm chén uống rượu trong lễ cưới gọi là chén cẩn.

Hiệp cẩn, như chữ “Hợp cẩn 合 巹”, là lễ hai vợ chồng uống chung một chén rượu trong đêm tân hôn, theo phong tục ngày xưa.

Nghĩa thông thường: Vợ chồng thành hôn.

Hỏi ai thoả chí ai ơi?

Tra phòng hiệp cẩn, bao hồi khóc riêng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

HIỆP CHƯỞNG

Hay “Hợp chưởng”.

Hiệp (hợp): Hợp lại, gồm cả, đúng phép, đúng khớp. Chưởng: Bàn tay.

Hiệp Chưởng 合 掌 là một loại mão đội lên đầu của chức sắc đạo Cao Đài, có hình dáng giống như hai bàn tay úp lại.

Theo Pháp Chánh Truyền Chú Giải, những chức sắc sau đầy đội mão Hiệp chưởng:

Đức Giáo Tông khi mặc Tiểu phục thì đầu đội mão Hiệp Chưởng bằng hàng trắng.

Thái Chưởng Pháp khi mặc Đại phục thì đầu cũng đội mão Hiệp Chưởng hoà Thượng.

Thượng Chưởng Pháp khi mặc Đại phục thì đầu cũng đội mão Hiệp Chưởng màu trắng y như mão Tiểu phục của Giáo Tông.

Giáo Sư phái Thái khi mặc Đại phục cũng đội mão Hiệp Chưởng của nhà Thiền.

Duy có Giáo Sư phái Thái phải choàng ngoài một Tiểu Bá Nạp Quang, gọi là Khậu, đầu đội mão Hiệp Chưởng của nhà thiền, hai bên có thêu Thiên Nhãn.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

HIỆP ĐẠO

Hay “Hợp đạo”.

Hiệp (hợp): Hợp lại, gồm cả. Đạo: Con đường.

Hiệp đạo, như chữ “Hợp đạo 合 道”, là hợp hai con đường lại làm một, tức hợp khí âm và khí dương với nhau.

Phàm đã nói biến hoá, thì cái đơn nhất, không biến đổi được, mà phải có hai cái tương đối, tương hoà thì mới sinh hoá được. Hai thể tương đối tương điều hoà như: Âm dương, động tĩnh, cứng mềm, mới có thể đun đẩy nhau, điều hoà nhau mà sinh ra thiên hình vạn trạng, cho nên Dịch có nói rằng: Cương nhu tương thôi nhi sinh biến hoá 剛 柔 相 推 而 生 變 化. Cứng mềm đun đẩy nhau mà sinh ra biến hoá.

Cơ sanh hoá Càn khôn đào tạo,

Do Âm Dương hiệp đạo biến thiên.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

HIỆP ĐỒNG

協 同

Hiệp: Hợp với nhau. Đồng: Cùng nhau.

Hiệp đồng do chữ “Hiệp lực đồng tâm 協 力 同 心”, là hiệp sức cùng một lòng làm việc.

Thánh giáo Thầy dạy: Còn nay thì nhơn loại đã hiệp đồng, Càn Khôn dĩ tận thức, thì lại bị phần nhiều đạo ấy mà nhơn loại nghịch lẫn nhau, nên Thầy mới nhứt định quy nguyên phục nhứt.

Tam giáo hiệp đồng cơ tận độ,

Kỳ ba trổ mặt giống Tiên Rồng.

(Thơ Hộ Pháp).

Chớ bỏ trôi xa mối hiệp đồng,

Muốn thành Đạo cả phải dày công.

(Thơ Thông Quang).

 

 

HIỆP GIA LY KHỔ NẠN

Hay “Hợp gia ly khổ nạn”.

Hiệp (hợp) gia: Gồm cả nhà. Ly khổ nạn: Lìa khỏi tai nạn khổ sở.

Hiệp gia ly khổ nạn như “Hợp gia ly khổ nạn 合 家 離 苦 難”, gồm hết cả nhà đều được thoát khỏi tai nạn khổ sở.

Nhược hữu nhơn tụng đắc nhất thiên biến, nhứt thân ly khổ nạn, tụng đắc nhứt vạn biến, hiệp gia ly khổ nạn.

(Kinh Cứu Khổ).

 

 

HIỆP HOÀ

協 和

Hiệp: Hợp với nhau. Hoà: Không xung đột, êm xuôi đằm thấm.

Hiệp hoà ý nói hoà hợp với nhau. Kinh Thư có câu: Hiệp hoà vạn bang 協 和 萬 邦, nghĩa là muôn nước trong thiên hạ đều được hoà hiệp nhau.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Chúng ta ngó thấy hành tàng tạo đoan trước mắt ta là sự điều hoà trong thân thể. Và triết lý Ðạo Giáo ta biết rằng: Nếu ta không đoạt đặng bảy khối sanh quang thiêng liêng kia đặng tạo thành xác thịt thì ta không có. Ta không sanh ở đây, nói gần hơn nữa nếu nhứt điểm tinh thần của cha ta không hiệp với huyết bổn của mẹ ta, thì tức nhiên không có sự hiệp hoà cả khuôn luật tạo đoan như trong bài thuyết pháp của Bần Ðạo hôm nay.

Ấy là nhờ tánh chất mẹ cha,

Gặp phải phép hiệp hoà sanh đặng vậy.

(Phương Tu Đại Đạo).

Khi gia đạo hiệp hoà hạnh phúc,

Thì anh nên ngừa lúc quạnh hiu.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

HIỆP LỰC

Hay “Hợp lực”.

Hiệp (hợp): Cùng chung. Lực: Sức.

Hiệp lực, như chữ “Hợp lực 合 力”, là hiệp sức nhau, tức là cùng chung sức lực để làm một việc gì. Như: Đồng tâm hiệp lực.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Các con phải đồng tâm hiệp lực, bỏ hết các điều tệ theo thường tình, thì mới dễ thành Ðạo.

Xuân khuyên hiệp lực toàn thiên hạ,

Xuân dạy đồng tâm cả quốc dân.

(Thơ Thông Quang).

 

 

HIỆP NGŨ CHI

Hiệp (hợp): Hiệp lại làm một. Ngũ Chi: Năm nhánh, tức Ngũ Chi Đại Đạo.

Hiệp Ngũ Chi, như chữ “Hợp nhất Ngũ chi 合 一 五 支”, là đem năm nhánh gom lại hiệp làm một, tức là đem Nhơn Đạo, Thần Đạo, Thánh Đạo, Tiên Đạo, Phật Đạo hiệp lại làm một, gọi là Đại Đạo.

Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế khai nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ trong thời kỳ thứ ba với tôn chỉ là Quy nguyên Tam giáo, Phục nhứt Ngũ chi.

1.- Chúng thử tìm hiểu tại sao lại phải Phục nhứt Ngũ Chi?

Phục nhứt Ngũ chi hay “Hiệp Ngũ chi” là đem năm nhánh đạo là Nhơn đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo, Phật đạo gom trở lại hiệp thành một đạo gọi là Đại Đạo.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có dạy: “Vốn từ trước Thầy lập Ngũ Chi Ðại Ðạo là: Nhơn đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo, Phật đạo.

Tuỳ theo phong hoá của nhơn loại mà gầy Chánh giáo, là vì khi trước Càn vô đắc khán, Khôn vô đắc duyệt, thì nhơn loại duy có hành đạo nội tư phương mình mà thôi. Còn nay thì nhơn loại đã hiệp đồng, Càn Khôn dĩ tận thức, thì lại bị phần nhiều đạo ấy mà nhơn loại nghịch lẫn nhau, nên Thầy mới nhứt định quy nguyên phục nhứt”.

Theo ý nghĩa của Thánh ngôn trên, do thời xưa, nhơn loại chưa được văn minh, nên Đức Chí Tôn mở ra mỗi địa phương một mối đạo để độ rỗi nhơn sanh vùng đó. Vì vậy mới có nhiều mối đạo khác nhau trên thế giới.

Chính do những mối đạo đó, trải qua nhiều đời, bị người phàm canh cải, trở nên phàm giáo, rồi các mối đạo chống đối nhau tạo thành chiến tranh tôn giáo.

Ngày nay nhơn loại đã văn minh tiến bộ, xem thế giới như nhà, nên Đức Chí Tôn chỉ cần mở một nền Đại Đạo duy nhứt, bằng cách quy hiệp các đạo lập thành từ trước thành năm nấc thang tiến hoá cho nhơn sanh đắc đạo.

Điều nầy chính Đức Hộ pháp có giải thích như sau: “Vì năm Đạo phân chia làm nhơn tâm bất nhứt, nhơn loại nghịch lẫn nhau. Chí Tôn đến đặng hiệp lại một nhà, ước cho con cái của Người biết thương yêu hoà thuận”.

2.- Ý nghĩa của việc hiệp Ngũ chi Đại Đạo.

Như ta biết con người do Đức Chí Tôn cho xuống trần để học hỏi tại trường đời, hầu mở mang Thiên tánh Ngài đã ban, nhưng vì chơn linh nhập thế, mang nặng xác phàm bị thất tình lục dục sai khiến, làm cho con người trở nên vô minh, quên hết căn nguyên bổn tánh của mình. Do vậy, con người mới phải chịu trăm cay ngàn đắng, đau đớn, khổ sở.

Trước cảnh khổ nơi trần gian, các bậc cứu thế độ đời đã tùy trình độ chúng sanh mà đề ra nhiều phương pháp xử trí với cảnh khổ khác nhau, mục đích giúp con người biết xử dụng nó để làm nấc thang thăng tiến.

Theo bài Diễn văn của Đức Hộ Pháp đọc tại Toà Thánh, ngày 14 tháng 2 năm Mậu Thìn (Dl. 5/3/1928), Ngài cho rằng: Thầy hiệp Ngũ chi đặng làm một trường học năm lớp cho mình tu luyện chẳng khác một trường học phàm kia vậy, lần lần bước đến đặng đoạt thủ địa vị của mình. Hễ ngồi đặng phẩm nào thì địa vị mình nơi ấy chẳng ai còn tranh giành ngược ngạo không nhìn nhận cho đặng.

Hiệp Ngũ chi chính là hợp nhứt năm cách thức hành đạo của Ngũ chi Đại Đạo là:

- Tùng khổ (Nhơn đạo).

- Thắng khổ (Thần đạo).

- Thọ khổ (Thánh đạo).

- Thoát khổ (Tiên đạo).

- Giải khổ (Phật đạo).

- Sống trong cõi thế gian là nơi sông mê bể khổ, người tín hữu của nền Đại Đạo phải cùng chịu sự đau khổ của nhơn sanh, và phải hoà mình trong mọi cảnh khổ của họ đó gọi là Tùng khổ.

- Sau đó người tín hữu phải giúp đỡ nhơn sanh chiến thắng sự đau khổ bằng cách lấy giáo lý của Thánh Hiền giải thích, chỉ rõ đường lối đạo đức cho nhơn sanh biết để họ khỏi sa vào cạm bẫy của quỷ vương, khỏi bị mê hoặc bởi những tà đạo, tức là Thắng khổ.

- Người tín hữu Đại Đạo lại còn sẵn sàng chịu đựng, gánh vác, hoặc hiến thân cho sự khổ não để nâng đỡ và xây dựng hạnh phúc cho nhơn sanh đây là sự Thọ khổ của người tín đồ Đại Đạo.

- Trách nhiệm của người tín hữu còn phải dìu dắt, chỉ dẫn đường đi nước bước cho nhơn sanh để họ tu hành, tham thiền nhập định mà thoát khỏi cảnh khổ ở trần gian, tức là Thoát khổ.

- Đường lối giải khổ của Phật là phá bỏ “Vô minh”.

Trong kinh Phật dạy: Cái khổ ở trong địa ngục bị thiêu đốt cũng chưa phải là khổ, cái khổ làm ngạ quỷ bị đói khát cũng chưa phải là khổ, cái khổ làm súc sanh kéo cày bị đánh cũng chưa phải là khổ, cái khổ “vô minh” không biết đường đi mới là khổ.

Cho nên người tín đồ Đại Đạo phải dạy cho chúng sanh phá được vô minh, cắt đứt mọi dục vọng thấp hèn khiến họ tỉnh giác biết đường tu tập để thoát đường sinh tử luân hồi, đó Giải khổ.

Người tín hữu nào đã được hoàn thành năm phương thức năm hành đạo nầy là đã đạt được sự tuyệt khổ của nền Đại Đạo vậy.

Thầy hiệp Ngũ Chi đặng làm một trường học năm lớp cho mình tu luyện, chẳng khác một trường học phàm kia vậy, lần lần bước đến đặng đoạt thủ địa vị của mình.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

HIỆP NHỨT NGŨ CHI

Hay “Hợp nhất Ngũ Chi”.

Hiệp nhứt (hợp nhất): Hiệp lại làm một. Ngũ Chi: Năm nhánh, tức Ngũ Chi Đại Đạo.

Hiệp nhứt Ngũ Chi, như chữ “Hợp nhất Ngũ chi 合 一 五 支”, là đem năm nhánh gom lại hiệp làm một, tức là đem Nhơn Đạo, Thần Đạo, Thánh Đạo, Tiên Đạo, Phật Đạo hiệp lại làm một, gọi là Đại Đạo.

Xem: Hiệp Ngũ chi.

Quy nguyên Tam giáo Huyền Khung ngự,

Hiệp nhứt Ngũ Chi Phật Mẫu khai.

(Thơ Tử Quy).

 

 

HIỆP PHỐ CHÂU VỀ

Hay “Hợp Phố châu về”.

Hiệp Phố: Hay Hợp Phố 合 浦 là tên một xứ ngày xưa thuộc về Giao Châu, nay thuộc Châu Khâm, Châu Liêm, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.

Châu về: Hạt châu trai trở về.

Hiệp Phố châu về, như chữ: “Châu Về Hiệp Phố”, tức là hạt châu trai trở về đất Hiệp Phố.

Hiệp Phố châu về dùng để chỉ những vật đã mất mà tìm lại được.

Xem: Châu về Hiệp Phố.

Hiệp Phố châu về trang trọng giữ,

Cảm ơn cháu Nhiệm chép bài thơ.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

HIỆP QUẦN

Hay “Hợp quần”.

Hiệp (hợp)“ Hợp lại. Quần: Bầy, nhiều người.

Hiệp quần, như chữ “Hợp quần 合 群”, là nhiều người hiệp lại, ý chỉ hợp thành bầy, thành đoàn thể.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Vạn vật đồng sinh với ta tức nhiên bạn đồng sanh với ta trên mặt thế này, nó có cái khuôn luật hiệp quần. Hiệp quần cốt yếu để bảo thủ cái sanh mạng của mình với một năng lực đa số, tức nhiên cái năng lực mạnh mẽ hơn cái năng lực cá nhân mình, dầu cho ong kiến hay các thú vật, hiển nhiên trước mắt của chúng ta đã ngó thấy cái khuôn luật ấy nó buộc mình phải sống hiệp quần với nhau mà thôi.

Xem: Hợp quần.

Thiên thời địa lợi đôi điều sẵn,

Chỉ thiếu hoà nhân để hiệp quần.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

HIỆP QUY

合 歸

Hay “Hợp quy”.

Hiệp (hợp)“ Hợp lại. Quy: Trở về.

Hiệp quy, như chữ “Hợp quy”, trở về hoà hợp lại.

Trong Giảng Đạo Chơn Ngôn, Ngài Phối Sư Thái Đến Thanh có viết: Ðức Chí Tôn dùng huyền diệu cơ bút giáng trần giáo đạo, tá danh là Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát, hiệp quy Tam-giáo thống nhứt Ngũ chi, gọi là cơ quan cứu thế chủ nghĩa giáo dân quy thiện, thật hành Bác ái, Công bình, đề xướng cho nhơn loại hoà bình, đại đồng thế giới.

Xuân Thu, Phất Chủ, Bát Vu,

Hiệp quy Tam Giáo hữu cầu chí chơn.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

 

 

HIỆP SỨC

Hay “Hợp sức”.

Hiệp (hợp)“ Hợp lại. Sức: Sự mạnh của thân thể, chỉ khả năng tinh thần hay vật chất.

Hiệp sức, như chữ “Hợp sức”, là cùng chung sức lực để làm việc gì đó. Hiệp sức đồng nghĩa “Hợp lực 合 力”.

Thánh giáo Lý Giáo Tông có dạy: Vậy chư hiền hữu cũng phải cầu khẩn với Lão, nội hạ tuần tháng nầy thì khởi nguyện, dặn các Thánh Thất, các đạo hữu phải để lòng thành khẩn, hiệp sức làm một với Lão mà nài xin Thánh luật, nghe à!

Xem: Hợp sức.

Trau tâm hiệp sức vun nền Thánh,

Dưỡng tánh chờ khi sạch bợn trần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Giang sơn hiệp sức tay tô điểm,

Dìu bước quần sinh vẹn trả vay.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Hiệp sức đã cùng thệ nhứt tâm,

Đạo mầu vun quén há sai lầm.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

HIỆP TÁC

Hay “Hợp tác”.

Hiệp (hợp): Hợp lại. Tác: Làm.

Hiệp tác hay “Hợp tác 合 作”, là hợp lại mà làm việc với nhau.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông trong Thánh Ngôn Sưu Tập có câu: Sự hiệp tác của Hiệp Thiên và Cửu Trùng làm cho Chí Tôn đặng vui và Lão cũng vì Đạo mà châm chế một phần để cho người có lỗi tự xét mình sửa cải đường lối theo khuôn khổ Thiên định.

Đồng chí sẵn chờ tay hiệp tác,

Nương nhau dặm tối gắng lần mò.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

HIỆP TAN

Hay “Hợp tan”.

Hiệp (hợp): Hội lại, tụ lại. Tan: Rã rời.

Hiệp tan, như chữ “Hợp tan”, là lúc hội lại khi tan rã, ý nói lúc đoàn tụ, gặp gỡ, khi chia lìa, xa cách.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Hiệp tan không mấy chốc, sự chung vui nơi cõi dinh hoàn nầy không mấy khi bền lâu được, duy có tình thương yêu chơn thật là vĩnh viễn trường tồn.

Hiệp tan trách bấy ai xui khiến,

Gây mối thương tâm luống ngậm ngùi.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

Hiệp tan đã có cơ tiền định,

Sanh tử đều do Đấng Hoá Công.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

HIỆP THIÊN ĐÀI

協 天 臺

Hay “Hiệp Thiên”.

Theo bài Thánh giáo của Đức Chí Tôn giáng cơ vào ngày 12 tháng giêng năm Đinh Mão (Dl. 13/02/1927) phân quyền hạn hiệu lực Hiệp Thiên Đài như sau:

Cả chư môn đệ khá tuân mạng.

Hiệp Thiên Ðài là nơi Thầy ngự cầm quyền thiêng liêng mối Ðạo. Hễ Ðạo còn thì Hiệp Thiên Ðài vẫn còn.

Thầy đã nói Ngũ Chi Ðại Ðạo bị quy phàm là vì khi trước Thầy giao Chánh giáo cho tay phàm, càng ngày càng xa Thánh giáo mà lập ra Phàm giáo, nên Thầy nhứt định đến chính mình Thầy đặng dạy dỗ các con mà thôi, chớ không chịu giao Chánh giáo cho tay phàm nữa.

Lại nữa, Hiệp Thiên Ðài là nơi của Giáo Tông đến thông công cùng Tam thập lục Thiên, Tam thiên Thế giới, Lục thập bát Ðịa cầu, Thập Ðiện Diêm Cung, mà cầu siêu cho cả nhơn loại.

Như vậy, Hiệp Thiên Đài là một trong ba đài của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ: Bát Quái Đài, Hiệp Thiên Đài và Cửu Trùng Đài.

Hiệp Thiên Đài làm trung gian giữa Bát Quái Đài và Cửu Trùng Đài, tức là giữa vô vi và hữu hình, vì Cửu Trùng Đài cầm quyền độ rỗi, còn Bát Quái Đài cầm quyền siêu rỗi. Hiệp Thiên Đài là cơ quan tư pháp của Đạo, có nhiệm vụ bảo vệ luật pháp chơn truyền của Đạo.

Hiệp Thiên Đài có hai nhiệm vụ: Nhiệm vụ thiêng liêng và nhiệm vụ phàm trần.

1.- Nhiệm vụ thiêng liêng.

Hiệp Thiên Đài là nơi để Giáo Tông (Cửu Trùng Đài) đến thông công cùng Đức Chí Tôn và chư Thần, Thánh, Tiên, Phật. Hiệp Thiên Đài cũng chính là nơi Đức Chí Tôn và các Đấng Thiêng Liêng thường ngự đến để giáng cơ ban hành Thánh giáo hoặc các luật pháp đại đạo.

Hai đài Hiệp Thiên và Cửu Trùng phải tương quan, liên hiệp mật thiết lẫn nhau, phải gắn liền nhau như bóng với hình. Hiệp Thiên Đài là cơ quan bán hữu hình, thuộc nửa đời nửa đạo, tức chơn thần của đạo, do Đức Hộ Pháp Chưởng Quản, còn Cửu Trùng Đài tượng trưng cho Đời, tức là xác thân, do Đức Giáo Tông chưởng quản. Chơn thần và thể xác phải hiệp lại làm một, mới đúng theo cơ tạo hoá.

2.- Nhiệm vụ phàm trần:

- Hiệp Thiên Đài còn là cơ quan tư pháp của Đạo, tức lo truyền bá giữ gìn tất cả giáo pháp, luật lệ của đạo mà Bát Quái Đài truyền ra hầu tránh được tình trạng chơn truyền bị sửa đổi, canh cải, khiến chánh giáo thành phàm giáo. Với nhiệm vụ vô cùng quan trọng nầy, chức sắc Hiệp Thiên Đài phải thật vô tư hành đạo.

Đôi liễn được viết nơi mặt tiền Đền Thánh, trước lầu Hiệp Thiên, phía dưới hai chữ “Nhơn 仁”, “Nghĩa 義” với nội dung như sau:

協 入 高 臺 百 姓 十 方 歸 正 果

Hiệp nhập Cao Đài bá tánh thập phương quy Chánh quả.

天 開 黃 道 五 支 三 教 會 龍 華

Thiên khai Huỳnh đạo ngũ chi Tam giáo hội Long hoa.

Giải nghĩa:

Hiệp nhau nhập vào đạo Cao Đài thì bá tánh trong mười phương sẽ trở về ngôi chánh quả.

Trời mở Đạo huỳnh, các Đấng trong Ngũ chi Tam giáo tham dự vào Đại Hội Long Hoa.

Trong quyển “Chánh Trị Đạo”, Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa có cho biết Hiệp Thiên Đài có hai Cơ quan Pháp Chánh và Phước Thiên.

Pháp Chánh:

Pháp Chánh là cơ quan bảo thủ Chơn truyền, giữ gìn luật pháp, dìu dẫn và lập vị cho con cái Chí Tôn, trong khuôn viên luật pháp của Ðạo đã thành lập, giữ cân công bình thể Thiên hành hoá, có trách vụ nặng nề để bênh vực kẻ cô thế, yếu hèn bị áp chế, để sửa răn những kẻ phạm pháp luật, hầu tránh khỏi Thiên Ðiều trừng trị, nếu bị thế trị thì mới mong giảm tội Thiêng Liêng, bằng không bị thế trị thì Thiên Ðiều không mong gì cầu rỗi.

Vậy Pháp Chánh rất cần thiết để giữ gìn phẩm trật và địa vị của mỗi con cái Chí Tôn, và quyền hành phân minh cho nền Chánh Trị Ðạo, y theo khuôn khổ Chơn truyền.

Phước Thiện:

Phước Thiện là cơ quan tận độ, cốt để mở đường Thánh đức cho toàn sanh chúng có đủ phương thế nhập vào Thánh Thể, người ngoại giáo có thể nhờ nơi cửa Phước Thiện mà hiệp cùng Hội Thánh. Phước Thiện là phương bảo tồn sanh chúng, tế khổn phò nguy, vì trong đời người không có sự khổ não nào bằng sanh, lão, bịnh, tử. Muốn thi hành cơ tận độ, những con cái của Ðức Chí Tôn sẵn có tài tình học thức đã được lập công nơi cơ quan khác, còn sót lại những kẻ dốt, kém, thật thà thì do nơi đâu mà lập công đoạt vị? Chỉ có cơ quan Phước Thiện mới có đủ phương thâu nhập toàn thể con cái Chí Tôn quy về cửa Ðạo, nên gọi là cơ “Bảo Tồn”.

Muốn thật hành chánh nghĩa Phước Thiện, con cái Chí Tôn đói phải nuôi, rách cho mặc, tật nguyền phải bão dưỡng, cô thế phải chở che, châu cấp người già cả, săn sóc kẻ bịnh hoạn.v.v... Nói tóm tắt là phải gánh mọi sự khổ trên đời nầy.

Vả lại, đời là một trường tranh đấu vì miếng ăn, chỗ ở. Muốn sống phải: no, ấm, mạnh. Phước Thiện cứu kẻ khổ, giúp kẻ nguy, dìu dắt cho có phương sanh sống, tuy không giàu mà tự toại, không sang mà thung dung, mới có thể tránh được sự tranh đấu vì lẽ sống, tức là nâng đỡ bảo sanh cho hạng tam dân (Nông, Công, Thương) hưởng đủ quyền lợi mà mỗi người được quyền sống hưởng theo luật tự nhiên của Tạo Hoá.

Phước Thiện là phương pháp làm cho bình đẳng giữa hai hạng người: vô sản và tư sản, hay nói cho đúng là dung hoà quyền lợi chung hưởng chánh đáng, bất phân giai cấp, sang, hèn, tức là huờn thuốc tự do, bình đẳng, bác ái.

Chơn truyền của Phước Thiện lại còn phải thay thế cho Chí Tôn và Phật Mẫu thật hành cơ cứu khổ bằng phương pháp là: làm cha những kẻ không cha, làm mẹ những kẻ không mẹ, làm anh những kẻ không anh, làm bạn những kẻ thiếu bạn, làm chồng làm vợ những kẻ không chồng, không vợ, trong sự thương yêu cao quý và trong sự giúp đỡ chơn thành. Như thế mới có thể thực hành cơ quan cứu khổ để nơi mặt thế.

Nếu cơ quan Phước Thiện bảo đảm được con cái Chí Tôn dường ấy, thì ân đức của Ðại Ðạo có thể sánh cùng Trời Ðất, làm cho đời khổ trở nên đời hạnh phúc, đời loạn trở nên đời an cư lạc nghiệp, thì sự hoà bình của Ðại Ðồng Thế Giới mới mong thành tựu đặng.

Tóm lại, hiện tướng của Hiệp Thiên Ðài chính là hai cơ quan Pháp Chánh và Phước Thiện vậy.

1.- Hiệp Thiên Đài:

Luật pháp chơn truyền buổi Đạo khai,

Quyền năng bảo thủ Hiệp Thiên Đài.

(Thơ Xích Quang).

2.- Hiệp Thiên:

Cửu Trùng không kế an thiên hạ,

Phải để Hiệp Thiên đứng trị vì.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Gương chói Hiệp Thiên loà bút Thánh,

Ân chan Phước Thiện tạo nhơn hiền.

(Thơ Võ Thành Lượng).

 

 

HIỆP THIÊN ĐÀI VỐN CHƠN THẦN

Hiệp Thiên Đài: Một trong ba đài của đạo Cao Đài, gồm: Bát Quái Đài, Hiệp Thiên Đài và Cửu Trùng Đài. Vốn: Vẫn, nguyên. Chơn Thần: Đệ nhị xác thân, đây là một xác thân thiêng liêng do Phật Mẫu dùng nguơn khí tạo thành.

Đức Chí Tôn khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ lần này không giáng trần, mà dùng huyền diệu cơ bút, nên Đạo Cao Đài chẳng có hình tướng Chí Tôn tại thế, chỉ mượn ba đài là Bát Quái Đài, Hiệp Thiên Đài và Cửu Trùng Đài của Đạo làm hình thể Chí Tôn.

Hiệp Thiên Đài là Chơn Thần, Bát Quái Đài là hồn và Cửu Trùng Đài là xác thân của Đạo. Cả ba đài đó do chính Đức Chí Tôn làm chủ, và thể hiện sự giáng trần của Đức Chí Tôn trong thời Tam Kỳ Phổ Độ.

Bát Quái Đài là Hồn tinh khiết,

Hiệp Thiên Đài vốn thiệt Chơn Thần.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

HIỆP THIÊN ĐỨNG TRỊ VÌ

Hiệp Thiên: Tức Hiệp Thiên Đài, là một trong ba đài của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ: Bát Quái Đài, Hiệp Thiên Đài và Cửu Trùng Đài. Trị vì: Ở ngôi vua để cai trị hay trong tôn giáo, nắm quyền điều hành nền Đạo.

Hiệp Thiên đứng Trị vì là người Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài đứng ra cầm quyền nền Đạo.

Theo Thánh giáo của Bát Nương Diêu Trì Cung ngày 29 tháng 12 năm Quý Dậu (Dl. 12/2/1934) trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có cho biết: “Em nhớ lại, khi Ngọc Hư định cho Hiệp Thiên Ðài cầm số mạng nhơn sanh, lập thành Chánh giáo thì Ðại Từ Phụ lại trở pháp, giao quyền ấy cho Cửu Trùng Ðài.

Cả Ngọc Hư chư Thần, Thánh, Tiên, Phật đều ngạc nhiên sự lạ. Ðại Từ Phụ phổ giáo rằng: Hay! Hay! Không lẽ để phận hèn, ngày sau sẽ rõ Thánh ý Người quyết liệu”.

Như vậy, khi đạo Cao Đài mới khai sáng năm Bính Dần, Ngọc Hư Cung dự định giao đạo quyền cho Hiệp Thiên Đài, nhưng sau đó Đức Chí Tôn lại trở pháp, không giao cho Hiệp Thiên Đài mà lại giao cho Cửu Trùng Đài nắm quyền Đạo.

Vì vậy, từ năm mới khai Đạo 1926 cho đến năm Đức Quyền Giáo Tông quy Thiên 1934, chúng ta thấy các vị chức sắc Đại Thiên Phong bên Cửu Trùng Đài nắm Đạo quyền, như Ngài Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung, Ngài Ngọc Lịch Nguyệt, và sau ba vị Quyền Đầu Sư Thái Thơ Thanh, Thượng Tương Thanh và Ngọc Trang Thanh.

Trong giai đoạn nầy nội bộ chức sắc Cửu Trùng Đài bị chia rẽ trầm trọng, nhiều vị chức sắc không tuân lịnh cấp trên, đã tách ra khỏi Toà Thánh Tây Ninh để lập thành chi phái. Như Ngài Phối Sư Thái Ca Thanh lập thành phái Minh Chơn Lý ở Cầu Vỹ. Sau đó, hai Ngài Quyền Đầu Sư Thượng Tương Thanh và Ngọc Trang Thanh lập Ban Chỉnh Đạo, rồi tách ra lập chi phái Bến Tre.

Qua tình trạng chia rẽ trong nội bộ và chức sắc Cửu Trùng Đài cai trị nền Đạo không hiệu quả, các Đấng thiêng liêng mới chuyển pháp, giao Đạo quyền lại cho Hiệp Thiên Đài như bài Thi Văn dưới đây đã dạy:

Bắt ấn trừ yêu đã tới kỳ,

Ngọc Hư định sửa mối Thiên thi.

Cửu Trùng không kế an thiên hạ,

Phải để HIỆP THIÊN ĐỨNG TRỊ VÌ.

Thành pháp dìu đời qua nẻo khổ,

Nên công giúp thế lánh cơn nguy.

Quyền hành từ đấy về tay nắm,

Phải sửa cho nên đáng thế thì.

Do vậy, khi Đức Quyền Giáo Tông quy Thiên vào ngày 13 tháng 10 năm Giáp Tuất