TỪ NGỮ ĐIỂN CỐ CAO ĐÀI

 

 

Danh mục vần K-KH

 

Ké né

 

KẺ

Kẻ

Kẻ cày voi

Kẻ giựt người giành

Kẻ Hán người Hồ

Kẻ Hồ người Hớn

Kẻ sĩ

Kẻ Tần người Việt

 

KÉM

Kém

 

KÉN

Kén

Kén chọn

 

KÈN

Kèn

 

KEO

Keo

Keo loan

Keo rã sơn rời

Keo sơn

Keo sơn rã rời

 

KÉO

Kéo

 

KÈO

Kèo nài

 

KẺO

Kẻo

 

KÉP

Kép

 

KẸP

Kẹp

 

KẸT

Kẹt

 

 

KẾ

Kế

Kế cận

Kế chí

Kế hoạch

Kế mẫu

Kế mưu

Kế nghiệp

Kế nhiệm mưu mầu

Kế sanh nhai

Kế tự

Kế thế

Kế thừa

Kế vãng

Kế vị

 

KỀ

Kề

Kề vai

 

KỂ

Kể

Kể lể

Kể nể

 

KỆ

Kệ

Kệ chuông

Kệ kinh

Kệ sám

Kệ trống

Kệ U minh

 

KỀM

Kềm

Kềm chế

Kềm giữ

Kềm sửa

Kềm thúc

 

KẾT

Kết

Kết án

Kết bạn

Kết bè

Kết cánh liền cành

Kết cỏ ngậm vành

Kết cuộc

Kết chặt

Kết chứng

Kết dải đồng

Kết duyên

Kết đoàn

Kết giao

Kết liên

Kết lũ vầy đoàn

Kết nguyền

Kết nghĩa

Kết oán

Kết oán thù

Kết phe lập đảng

Kết quả

Kết tóc

Kết tóc xe tơ

Kết thân

 

KÊU

Kêu

Kêu ca

Kêu gào

Kêu nài

Kêu réo

Kêu sương

 

KIA

Kia

 

KÌA

Kìa

 

KÍCH

Kích bác

Kích nhưỡng

 

KỊCH

Kịch

Kịch cợm

Kịch liệt

 

KIÊM

Kiêm

 

KIẾM

Kiếm

Kiếm cung

Kiếm thư hùng

 

KIỂM

Kiểm dượt

 

KIỆM

Kiệm

Kiệm cần

 

KIÊN

Kiên

Kiên cố

Kiên gan

Kiên nhẫn

Kiên tâm

Kiên tâm nhẫn tánh

Kiên trinh

 

KIẾN

Kiến

Kiến công lập vị

Kiến cơ

Kiến diện

Kiến Diện Thiên Thai

Kiến giá

Kiến tánh

Kiến tạo

Kiến thân

Kiến thiết

Kiến thức

Kiến trúc

 

KIỆN

Kiện

Kiện cáo

Kiện toàn

Kiện tụng

Kiện thưa

 

KIÊNG

Kiêng

Kiêng dè

Kiêng nể

Kiêng oai

Kiêng vì

 

KIẾNG

Kiếng

 

KIỂNG

Kiểng

Kiểng vật

 

KIẾP

Kiếp

Kiếp căn

Kiếp duyên

Kiếp dương môn

Kiếp đoạ

Kiếp đoạ đày

Kiếp khiên

Kiếp khiên Phật dượt

Kiếp luân hồi

Kiếp ngựa trâu

Kiếp người

Kiếp oan

Kiếp phù dung

Kiếp phù sinh

Kiếp quả

Kiếp sanh

Kiếp sinh

Kiếp số

Kiếp sống

Kiếp tằm

Kiếp trái

Kiếp trần

 

KIẾT

Kiết

Kiết hung

Kiết nhật lương thần

 

KIỆT

Kiệt

Kiệt lực

Kiệt quệ

Kiệt sức

Kiệt Trụ

 

KIÊU

Kiêu

Kiêu căng

Kiêu hãnh

Kiêu hùng

Kiêu xa

 

KIỀU

Kiều

Kiều bào

 

KIỂU

Kiểu

Kiểu mẫu

Kiểu vở

 

KIỆU

Kiệu

 

KIM

Kim

Kim Bàn

Kim Bàn Phật Mẫu

Kim Bản

Kim bảng

Kim bằng

Kim Biên

Kim Biên Tông Đạo

Kim cải

Kim câu

Kim cô

Kim cổ

Kim chi ngọc điệp

Kim đơn

Kim đồng

Kim giai

Kim khí

Kim khôi

Kim khuyết

Kim lan

Kim mã ngọc đường

Kim Mao Hẩu

Kim Mẫu

Kim môn

Kim Ngư Tinh

Kim ngưỡng cổ ngưỡng

Kim nhơn biểu tợ nhơn

Kim ong nọc rắn

Kim ô

Kim phong

Kim quang

Kim quang kiệu

Kim Quang Sứ

Kim rời cải rụng

Kim Sa Đại Điện

Kim Tiên

Kim tiền

Kim Tinh

Kim tuyến

Kim thạch

Kim thân

Kim thể

Kim Thiên

Kim thời

Kim Tra Mộc Tra Na Tra

 

KÌM

Kìm

 

KÍN

Kín

Kín đáo

Kín nhiệm

 

KINH

Kinh

Kinh bang tế thế

Kinh bố

Kinh Cầu Siêu

Kinh Cứu Khổ

Kinh Châu thất thủ

Kinh Di Lạc

Kinh dịch

Kinh dinh

Kinh điển

Kinh đô

Kinh hoàng

Kinh hồn

Kinh kệ

Kinh kỳ

Kinh khủng

Kinh lân

Kinh Lễ

Kinh luân

Kinh luật

Kinh nghiệm

Kinh nhạc

Kinh quyền

Kinh sách

Kinh Sám Hối

Kinh sợ

Kinh sử

Kinh tài

Kinh tâm

Kinh Tận Độ

Kinh tế

Kinh Thánh

Kinh thánh truyện hiền

Kinh thành

Kinh Thi

Kinh Thư

Kinh Vô Tự

Kinh Xuân Thu

 

KÍNH

Kính

Kính bái

Kính cẩn

Kính gởi

Kính nể

Kính nhường

Kính phục

Kính tuân

Kính thành

 

KÌNH

Kình

Kình ngạc

Kình chống

 

KỈNH

Kỉnh

Kỉnh già thương khó

Kỉnh lễ

Kỉnh nhường

Kỉnh phục

Kỉnh Tâm chịu hàm oan

Kỉnh tin

Kỉnh thờ

Kỉnh thờ Thần Thánh

 

KÍP

Kíp

 

KỊP

Kịp

Kịp thì

Kịp thời

 

KỊT

Kịt

 

Ký kỳ

Ký tên

Ký thác

Ký thành

Ký ức

 

KỲ

Kỳ

Kỳ ba

Kỳ công

Kỳ cùng

Kỳ cựu

Kỳ dư

Kỳ hạn

Kỳ Hiên

Kỳ hình

Kỳ hoa dị thảo

Kỳ ký

Kỳ lão

Kỳ lân

Kỳ Ngoại Hầu Cường Để

Kỳ ngộ

Kỳ quan

Kỳ San phụng gáy

Kỳ thật

Kỳ thị

Kỳ trân

Kỳ truyền

Kỳ trung

 

KỶ

Kỷ

Kỷ cang

Kỷ cương

Kỷ luật

Kỷ niệm

Kỷ nguyên

Kỷ sợ bất dục vật thi ư nhân

Kỷ vật

 

KỸ

Kỹ

Kỹ càng

Kỹ lưỡng

 

KỴ

Kỵ

Kỵ đầu xà

Kỵ hạc

Kỵ hạc quá Dương Châu

Kỵ kim quang

Kỵ Long mã

Kỵ sen

Kỵ vật

 

KHÁ

Khá

 

KHẢ

Khả

Khả dĩ

Khả điếu

Khả năng

Khả quan

Khả xạ

 

KHÁC

Khác

Khác thường

 

KHÁCH

Khách

Khách ăn rau chê bệ ngọc

Khách đình

Khách đàng

Khách má hồng

Khách phàm

Khách quan

Khách quần thoa

Khách tục

Khách thuyền quyên

Khách trần

 

KHAI

Khai

Khai cơ

Khai cơ nghiệp

Khai cửu thập nhị tào chi mê muội

Khai dẫn

Khai đàn

Khai Đạo

Khai giải

Khai hoá

Khai Kinh

Khai kinh chú

Khai kinh kệ

Khai khiếu

Khai lập

Khai mạc

Khai minh Đại Đạo

Khai mối Tam Kỳ

Khai nguơn

Khai nhơn tâm tất bổn ư đốc thân chi hiếu

Khai phá

Khai Pháp

Khai phát Nho tông

Khai quốc

Khai sáng

Khai tạo

Khai tông định Đạo

Khai thác

Khai thới

Khai Thế

Khai Thiên địa

Khai Thiên địa nhơn vật chi tiên

Khai Thiên lập Địa

Khai thông

Khai trương

 

KHẢI

Khải

Khải ca

Khải chiết mai chi

Khải hoàn

Khải ngộ

 

KHAY

Khay trầu

 

KHẢY

Khảy

 

KHAM

Kham

 

KHÁM

Khám

Khám trần

 

KHÁN

Khán

Khán đài

 

KHANG

Khang

Khang an

 

KHANH

Khanh Nho

Khanh tể

Khanh tướng

 

KHÁNH

Khánh chúc

Khánh chúc Tam Kỳ

Khánh chuông

Khánh đản

Khánh hạ

Khánh hỷ

Khánh tiết

 

KHAO

Khao khát

 

KHẢO

Khảo

Khảo cứu

Khảo duyệt

Khảo duợt

Khảo đảo

Khảo kẹp

Khảo tội

Khảo thí

Khảo tra

 

KHÁT

Khát

Khát khao

Khát vọng

 

KHẮC

Khắc

Khắc cốt ghi xương

Khắc kỷ

Khắc kỷ phục lễ

Khắc khoải

Khắc lậu

 

KHẲM

Khẳm

 

KHĂN

Khăn

Khăn đóng

Khăn sô

Khăn tang

 

KHẮNG

Khắng khít

 

KHẲNG

Khẳng định

 

KHẮP

Khắp

Khắp chốn

 

KHẮT

Khắt khe

 

KHÂM

Khâm

Khâm Châu

Khâm phục

Khâm tai

Khâm thành

Khâm thừa

Khâm Trấn

 

KHẤN

Khấn

 

KHẨN

Khẩn

Khẩn bái

Khẩn cấp

Khẩn cầu

Khẩn đảo

Khẩn nguyền

Khẩn nguyện

Khẩn trương

Khẩn vái

 

KHẤT

Khất

Khất thực

 

KHẬT

Khật khờ

 

KHẤU

Khấu bái

Khấu cung

Khấu đầu

 

KHẨU

Khẩu khẩu tương truyền

Khẩu khí

Khẩu nghiệp

Khẩu Phật tâm xà

Khẩu thọ tương truyền

 

KHE

Khe

Khe khắt

 

KHẼ

Khẽ khầm

 

KHEN

Khen

Khen chê

Khen dồi

Khen ngợi

Khen thưởng

 

KHÉO

Khéo

Khéo khôn

 

KHÉP

Khép

Khép nép

 

KHÉT

Khét

 

KHẾ

Khế

Khế hữu

 

KHÊU

Khêu

Khêu đuốc Đạo đầu

Khêu gợi

Khêu khích

 

KHI

Khi

Khi bạc

Khi bần

Khi dể

Khi lịnh

Khi ngạo

Khi nhơn tức khi tâm

Khi thị

Khi tan khi hiệp

 

KHÍ

Khí

Khí cụ

Khí chất

Khí giới

Khí hạo nhiên

Khí huyết

Khí hùng

Khí Hư vô

Khí khái

Khí nộ

Khí phách

Khí phân Tứ tượng

Khí sinh

Khí Sanh quang

Khí số

Khí tiết

Khí tịnh

Khí tượng

Khí Thần

 

KHỈ

Khỉ

Khỉ dạo dòm nhà

 

KHÍCH

Khích lệ

 

KHIÊM

Khiêm

Khiêm cung

Khiêm nhường

Khiêm tốn

Khiêm từ

 

KHIẾM

Khiếm

Khiếm đức

Khiếm khuyết

 

KHIÊN

Khiên

 

KHIẾN

Khiến

 

KHIỂN

Khiển

Khiển điện

Khiển hứng

Khiển trách

 

KHIẾP

Khiếp

Khiếp nhược

Khiếp sợ

Khiếp oai

 

KHIẾT

Khiết

Khiết kỷ

 

KHIÊU

Khiêu khích

 

KHIẾU

Khiếu

Khiếu huệ quang

Khiếu lương tri lương năng

Khiếu nại

 

KHINH

Khinh

Khinh bần trọng phú

Khinh dể

Khinh khi

Khinh khinh

Khinh nghĩa

Khinh tài

Khinh thường

Khinh trọng

 

KHÍT

Khít rịt

 

KHO

Kho

Kho lương

 

KHÓ

Khó

Khó chịu

Khó dễ

Khó khăn

Khó nhọc

 

KHỎ

Khỏ

 

KHOA

Khoa

Khoa bảng

Khoa học

Khoa môn

Khoa mục

Khoa thi

Khoa tràng

Khoa trương

Khoa trường

Khoa võ môn

 

KHOÁ

Khoá lợi

 

KHOẢ

Khoả

Khoả lấp

Khoả rèm

Khoả vén

 

KHOÁC

Khoác

 

KHOÁI

Khoái chí

Khoái lạc

 

KHOAN

Khoan

Khoan dung

Khoan hoà

Khoan hồng

Khoan khoái

Khoan thai

 

KHOÁNG

Khoáng sản

 

KHOẢNG

Khoảng

Khoảng khoát

 

KHOANH

Khoanh

Khoanh tay

 

KHOÁT

Khoát nạt

 

KHÓC

Khóc

Khóc lân

Khóc măng

Khóc roi

Khóc than

 

KHOE

Khoe

Khoe khoang

 

KHOẺ

Khoẻ

Khoẻ khoắn

Khoẻ mạnh

 

KHÓI

Khói

Khói lửa

Khói tan

 

KHỎI

Khỏi

 

KHOM

Khom

 

KHÓM

Khóm

 

KHÔ

Khô

Khô héo

Khô khan

Khô queo

 

KHỐ

Khố

 

KHỔ

Khổ

Khổ ách

Khổ cực

Khổ đau

Khổ hải

Khổ hạnh

Khổ Hiền Trang

Khổ hình

Khổ khắc

Khổ luỵ

Khổ nàn

Khổ nạn

Khổ não

Khổ nguy

Khổ nhọc

Khổ phận

Khổ sở

Khổ tâm

Khổ thân

Khổ thân hình

Khổ thuỷ

 

KHÔI

Khôi giáp

Khôi khoa

Khôi khoa mạo

Khôi phục

Khôi tinh

 

KHỐI

Khối

Khối đức tin

Khối tình

Khối vật chất vô hồn viết tử

 

KHÔN

Khôn

Khôn còn dại mất

Khôn dại

Khôn khéo

Khôn lanh

Khôn lớn

Khôn ngoan

Khôn vô đắc duyệt

 

KHỐN

Khốn cùng

Khốn đốn

Khốn khó

Khốn khổ

Khốn nàn

Khốn nạn

 

KHỔN

Khổn trần

 

KHÔNG

Không

Không giáng thế

Không khí

Không môn

Không Sắc

Không tư chẳng vì

Không trung

 

KHỐNG

Khống

 

KHỔNG

Khổng Minh

Khổng Tử

Khổng Tử tác Xuân Thu

Khổng tước

Khổng Thánh

Khổng Thánh Tiên Sư

Khổng Trình

 

KHỜ

Khờ

Khờ khạo

Khờ ngây

 

KHƠI

Khơi

 

KHỞI

Khởi

Khởi chế

Khởi đầu

Khởi động

Khởi lập

Khởi nguyện

Khởi nhạc

Khởi hành

 

KHU

Khu

 

KHUA

Khua

Khua động đồng tiền

Khua môi

Khua môi múa mỏ

 

KHUÂY

Khuây

Khuây khoả

Khuây lãng

 

KHUẤY

Khuấy

Khuấy nước chọc trời

Khuấy phá

Khuấy rối

 

KHUÂN

Khuân

 

KHUẤT

Khuất

Khuất bóng

Khuất lấp

Khuất mặt

Khuất phục

 

KHÚC

Khúc

Khúc cầu hoàng

Khúc khuỷu

Khúc mắc

Khúc nôi

Khúc phượng hoàng

 

KHUÊ

Khuê

Khuê các

Khuê môn

Khuê phòng

Khuê tinh

 

KHUYA

Khuya

Khuya sớm

 

KHUYÊN

Khuyên

Khuyên bảo

Khuyên can

Khuyên dạy

Khuyên dỗ

Khuyên giải

Khuyên lơn

Khuyên nhủ

Khuyên răn

 

KHUYẾN

Khuyến chúng

Khuyến dạy

Khuyến dân

Khuyến dụ

Khuyến giáo

Khuyến khích

Khuyến nhơn

Khuyến nhủ

Khuyến răn

Khuyến thế

Khuyến thiện

 

KHUYỂN

Khuyển

 

KHUYẾT

Khuyết

Khuyết điểm

 

KHUYNH

Khuynh

Khuynh đảo

Khuynh hướng

Khuynh nguy

Khuynh thành

 

KHÙNG

Khùng

Khùng điên

 

KHỦNG

Khủng

Khủng hoảng

Khủng khiếp

Khủng kinh

 

KHUÔN

Khuôn

Khuôn hồng

Khuôn khổ

Khuôn linh

Khuôn luật

Khuôn mẫu

Khuôn phép

Khuôn vàng thước ngọc

Khuôn viên

Khuôn xanh

 

KHUÔNG

Khuông Dẫn

Khuông phò

 

KHỨ

Khứ

 

KHỬ

Khử

Khử ám tựu minh

Khử loạn

Khử quỷ trừ ma

Khử tiêu

Khử tội

Khử trừ

Khử trược lưu thanh

 

KHỨA

Khứa

 

KHỨNG

Khứng

 

KHƯƠI

Khươi

 

KHƯỢI

Khượi

 

KHƯƠNG

Khương Công

Khương ninh

Khương Tử

Khương Thi

Khương Thượng

 

 

 

 

 

 

 

 

K-KH

 

KÉ NÉ

Né: Tránh, trốn, lánh mặt không để người khác thấy, giấu mình vào chỗ kín để khỏi bị phát hiện.

Ké né là bẽn lẽn, khép nép, rụt rè, sợ sệt, tức có những cử chỉ quá giữ gìn trước mắt người khác, do e sợ, hoặc để tỏ ra tôn kính.

Như: Nó kéo ghế ngồi ké né một bên.

Mình ra có quân hô tướng ré,

Nhớ lúc cha ké né cửa nha môn.

(Phương Tu Đại Đạo).

Đừng thấy khó mà ra ké né,

Vì hổ ngươi hai lẽ nhục vinh.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

KẺ

Kẻ là tiếng chỉ trống về người. Như: Kẻ chợ người quê, kẻ quý người sang, kẻ cúi người lòn.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy rất đẹp lòng đặng môn đệ ái kính như các con yêu dấu nơi Thánh địa nầy. Ðường tân khổ lắm vày vò, buổi an nhàn đâu kẻ hưởng, tuồng thế cũng gay go, mà bước trần càng khốn đốn.

Kẻ ở phương trời người góc biển,

Lòng thành nhắn gởi chữ khương ninh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Bủa lưới Càn Khôn lừa lọc khách,

Chơn trời chẳng kẻ thoát cao bay.

(Đạo Sử).

 

 

KẺ CÀY VOI

Kẻ: Tiếng chỉ trống về người. Cày voi: Dùng voi để cày ruộng.

Kẻ cày voi tức chỉ ông Thuấn, là một người con hiếu thảo nổi tiếng, được vua Nghiêu nghe danh mời đến truyền ngôi.

Sách “Nhị Thập Tứ Hiếu” viết: Khi cha Thuấn bắt đi cày ở đất Lịch Sơn là cốt tìm cách trừ đi, vì nơi đây có tiếng là nhiều thú dữ hay ăn thịt người. Nhưng tấm lòng hiếu thảo và hoà mục của Thuấn động đến lòng trời, cả đàn voi ra giúp Thuấn cày đất và muông chim vô số đáp xuống nhặt cỏ hộ.

Hiếu con dầu ví kẻ cày voi,

Không đạo hạnh đừng coi là trọng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

KẺ GIỰT NGƯỜI GIÀNH

Hay “Kẻ giật người giành”.

Kẻ giựt (giật): Có kẻ đến cướp giựt. Người giành: Có người đến tranh giành.

Kẻ giựt người giành ý nói mọi người xúm lại giành giựt với nhau.

Danh lợi và quyền thế là những món mồi ngon khiến con người xúm lại giựt giành với nhau.

Cũng là do kẻ giựt người giành,

Giành quyền thế, giành danh giành lợi.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

KẺ HÁN NGƯỜI HỒ

Kẻ Hán: Người ở Trung nguyên. Người Hồ: Người ở Hung nô, phía bắc Trung Quốc.

Kẻ Hán người Hồ ý nói người ở Trung nguyên kẻ ở Bắc địch (Hung nô), chỉ sự xa cách nhau.

Do tích thời nhà Tống, Hung nô đem quân đánh vào Trung nguyên, buộc vua Hán phải đem nàng Chiêu Quân là ái phi của vua Hán, nạp cho vua Hung nô. Từ ấy vua và nàng Chiêu Quân xa cách nhau kẻ bắc người nam, hay kẻ Hán người Hồ, chỉ sự xa cách nhau.

Chừ sao kẻ Hán người Hồ,

Để cho phòng hạnh ra mồ quạt duyên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

KẺ HỒ NGƯỜI HỚN

Kẻ Hồ: Kẻ ở Hung nô (phía Bắc Trung Quốc). Người Hớn (Hán): Người thuộc nhà Hán.

Kẻ Hồ người Hớn ý muốn nói kẻ ở miền Bắc Hung nô, người lại thuộc nhà Hán Trung nguyên, ý chỉ sự xa cách nhau.

Xem: Kẻ Hán người Hồ.

Chút nghĩa sơ giao đã phụ rồi,

Kẻ Hồ người Hớn đoạn chia phôi.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

KẺ SĨ

Kẻ: Tiếng để chỉ trống về người. Sĩ: Người học trò, người có tài nghệ.

Kẻ sĩ là chỉ người có học thức.

Trong Giảng Đạo Chơn Ngôn của Phối Sư Thái Đến Thanh có câu: Thiết tưởng kẻ sĩ vào trường học, cũng phải có chí phấn đấu, là siêng năng cần mẫn thức khuya dậy sớm, chuyên lo nấu sử xôi kinh thập niên đăng hoả, mới đậu cấp bằng tốt nghiệp ra làm quan giúp nước trị dân.

Hay cho kẻ sĩ biết tu hành,

Hành ấy thì thân chẳng mến danh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

KẺ TẦN NGƯỜI VIỆT

Kẻ Tần: Kẻ ở nước Tần. Người Việt: Người ở đất Việt. Tần Việt là hai nước ở rất xa nhau.

Do đó “Kẻ Tần người Việt”, đồng nghĩa với “Kẻ Hán người Hồ”, dùng để nói sự xa xôi cách trở hoặc sự khác biệt nhau.

Cất bước ra đi lệ sụt sùi,

Kẻ Tần người Việt dạ nào nguôi.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

KÉM

Kém là không bằng, có ít, thấp, trái với hơn. Như: Thua chị kém em, kém văn minh.

Thánh giáo Tiêu Sơn Tráng Sĩ trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Ðạo chưa yên là tại người hành đạo kém bề hạnh đức; kẻ được hạnh mất phần minh mẫn; người thông hiểu Ðạo kém đức, thiếu khiêm cung; kẻ trọn tâm thành, mạnh phần ham danh lợi.

Quyền đời hoá chúng còn phô đức,

Cửa Thánh độ người khá kém phương.

(Quyền Giáo Tông Giáng).

Góp mặt tầng nêu cơ lập Đạo,

Kém tài đâu dễ sức xây thành.

(Thơ Thanh Thuỷ).

 

 

KÉN

1.- Kén là lựa, chon kỹ theo tiêu chuẩn đã định, không hạ thấp yêu cầu.

Như: Cô ấy còn đang kén chồng, kén giống lúa, kén cá chọn canh.

Đừng ghét già hay chọn kén,

Ấy là phương vun quén nên nhà.

(Phương Tu Đại Đạo).

Đạo vợ chồng dạy chớ xem thường,

Hễ kén bạn độ lường nhà đạo đức.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Kén là tên một loại dây leo, lá xanh đậm, trái chín đỏ, tròn như hột mít.

Trong lịch sử của Đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn dạy Hội Thánh khai đạo tại Từ Lâm Tự tức chùa Gò Kén, một ngôi chùa của Hoà Thượng Như Nhãn cất trên một cái gò mọc đầy dây kén, nên gọi là chùa Gò Kén.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Sự quyết chí về tương lai như thế nên phải bỏ chùa Gò Kén, tức là chùa Từ Lâm Tự, đề về đây, về làng Long Thành Tây Ninh để lập nên Toà Thánh bây giờ đây.

Hạ nguơn nay lễ đông vầy,

Nhớ xưa Gò Kén ngày nầy Đạo khai.

(Cội Đạo Bốn Mùa).

 

 

KÉN CHỌN

Kén: Tìm chọn kỹ theo tiêu chuẩn đã định, không hạ thấp yêu cầu. Chọn: Xem xét, so sánh lấy cái hợp yêu cầu trong nhiều cái cùng loại.

Kén chọn là tìm tòi, chọn lựa một cách kỹ lưỡng.

Như: Mua đồ phải kén chọn kỹ lưỡng.

Mặt anh hùng ở tại nơi đâu,

Phải kén chọn gieo cầu cho đáng.

(Phương Tu Đại Đạo).

Dầu kén chọn vào hàng bạn lữ,

Nên cho em hạng thứ trên người.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

KÈN

Kèn là một loại nhạc cụ phát ra âm thanh bằng cách dùng hơi thổi làm rung các dăm hoặc làm rung cột không khí trong ống.

Như: Kèn tây, kèn trống, kèn đám ma.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Mỗi Chức sắc nên vui với nhiệm vụ thiêng liêng, khép mình vào khuôn viên đạo đức, để ngoài tai những lời quyến rũ bất lương, những giọng huyễn kèn xảo mị, coi lợi danh là miếng mồi xô đẩy con người vào vực thẳm thì may ra mới tránh khỏi vòng lửa đỏ đang thiêu đốt biết bao nhiêu tâm hồn sa đoạ nơi cạm bẫy.

Thanh thao nhạc phụng trên dương liễu,

Chát chúa kèn nai dưới bá tòng.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

KEO

Keo là chất dính lấy từ nhựa cây, hay nấu bằng da trâu bò, dùng để dán, gắn kết lại. Như: Keo dán gỗ.

Keo, nghĩa bóng nói tình nghĩa gắn bó, thân mật.

Trong bài điếu văn Đức Thượng Phẩm, Ngài Thượng Trung Nhựt có viết: Nghe qua dường như sấm nổ, người dầu gan sắt dạ đồng, nghe tin cũng bắt động lòng thương xót, huống chi tôi cùng Ðức Cao Thượng Phẩm trong mấy năm dư cùng nhau keo sơn gắn chặt, thọ Thánh chỉ của Ðức Chí Tôn phổ thông Ðại Ðạo Tam Kỳ.

Hai chữ keo sơn bền tuế nguyệt,

Tấc lòng anh, chị tạc vàng son.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

KEO LOAN

Keo loan làm bằng máu chim loan có độ dính rất cao, được dùng để nối dây đàn, phím đàn hay dây cung đứt. Chữ này dùng để diễn tả sự bền chặt như keo loan.

Thái Bình Quảng Ký chép: Vương Mẫu phái sứ giả dâng cho vua Hán Võ Đế một gói linh giao và một chiếc áo lông. Sau đó, vua Võ Đế đi săn, dây cung bị đứt, sứ giả tâu xin lấy keo thấm nước nối lại, vua kinh ngạc, bảo võ sĩ nắm hai đầu dây kéo, dây không đứt, suốt ngày bắn vẫn không sao. Thứ keo này có tên là Tập huyền giao.

Cầm sắt năm cung dầu xứng nhịp,

Keo loan thử chấp mối tơ mành.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

KEO RÃ SƠN RỜI

Keo sơn: Do chữ “Giao tất 膠 漆”, chỉ sự giao tình bền chặt, không lìa nhau được. Keo sơn còn dùng để chỉ sự gắn bó giữa vợ chồng. Rã rời: Chia lìa, không kết dính lại với nhau.

Keo rã sơn rời chỉ tình nghĩa vợ chồng không còn gắn bó thương yêu nhau nữa.

Xem: Keo sơn.

Khi lịch sắc trao trâm đáng giá,

Cơn tàn hoa keo rã sơn rời.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

KEO SƠN

Keo: Chất dính lấy từ nhựa cây, nấu bằng da trâu bò, hoặc pha chế, dùng để dán, gắn. Sơn: Cây sơn có nhựa dùng để làm nước sơn.

Keo sơn, bởi chữ “Tất giao 漆 膠”, là hai chất kết dính chặt với nhau, trong văn chương dùng để chỉ tình nghĩa vợ chồng, anh em hoà hợp nhau một cách khắng khít, không rời rã.

Sách xưa có câu: Dĩ giao đầu tất trung, Thuỳ năng biệt ly thử? 以 膠 投 漆 中, 誰 能 別 離 此, nghĩa là lấy keo mà bỏ vào trong sơn, ai làm cho chia rẽ được nữa.

Xem: Tất giao.

Keo sơn chẳng nhớ một lời thề,

Sau trước chẳng dè để đến chê.

(Đạo Sử).

Chồng vợ ví keo sơn gắn chặt,

Càng thương nhau thường nhắc lúc sơ giao.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

KEO SƠN RÃ RỜI

Keo sơn: Hai chất kết dính chặt với nhau, chỉ tình gắn bó, khắng khít với nhau. Rã rời: Rã ra thành từng phần, từng mảnh, không kết dính lại với nhau.

Keo sơn rã rời, đồng nghĩa với câu “Keo rã sơn rời”, chỉ tình nghĩa anh em hoặc vợ chồng không còn gắn bó thương yêu nhau nữa.

Xem: Keo rã sơn rời.

Tơ chùng phím lạc cung đờn,

Tình ta tan tác keo sơn rã rời.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

KÉO

1.- Kéo là dụng cụ để cắt gồm hai lưỡi thép chéo nhau, gắn với nhau bằng một đinh chốt.

Như: Kéo may, kéo cắt thép, cắt vải bằng kéo.

Phải cho khéo mới ra tài khéo,

Liệu vụng đừng nắm kéo cắt đồ.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Kéo là co lại, dùng sức mà lôi đi. Như: Kéo cày, kéo gỗ, kẻ kéo người trì.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Rất đỗi Thầy là bực Chí Tôn đây mà còn bị chúng nó mưu lén cho qua Thánh ý Thầy thay! Một đàng trì, một đàng kéo, thảm thay các con chịu ở giữa.

Đạo vợ chồng như thể sợi dây,

Kéo thẳng quá có ngày phải đứt.

(Phương Tu Đại Đạo).

Sợi thừng kéo nhẵng ra dài,

Người sau kẻ trước khó sai lạc đường.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

KÈO NÀI

Nài: Khẩn khoản xin, yêu cầu.

Kèo nài là nài xin, khẩn khoản yêu cầu.

Như: Kèo nài mãi cho được việc mới thôi, anh ta kèo nài mua chiếc xe cho bằng được.

Muốn học mùi Ðạo mà lại kèo nài giao kết thì dầu cho bậc phẩm nào đi nữa, cái ân đức từ bi cũng khó chiều theo được.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

KẺO

Kẻo là e, nếu không, không thế thì.

Như: Phải giữ gìn kẻo nữa mang tiếng, đi nhanh kẻo lỡ tàu, đi cẩn thận kẻo té.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Thánh giáo Thầy có dạy: Thầy cấm không cho dị nghị việc người, nhứt là đạo hữu của các con thì đừng phạm đến kẻo tội nghiệp.

Biển khổ chơi vơi lằn sóng dập,

Mau chơn kẻo trễ bước con đò.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðường tu, ví biết hồi lui bước,

Kẻo để ngày qua hết một ngày.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

KÉP

1.- Kép là gấp đôi, gấp hai, trái với đơn.

Như: Chữ kép, gió kép mưa đơn, mùa đông lạnh nên mặc áo kép.

Dầu cho gió kép mưa đơn,

Khuyên em gắng chịu trong cơn dãi dầu.

(Bát Nương Giáng Bút).

2.- Kép là người đàn ông đóng vai trong tuồng hát dân tộc hay kịch nghệ.

Như: Một đào một kép, xứng đôi đào kép.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Trong khuôn khổ phương pháp làm con cái của Chí Tôn thì lắm kẻ nói được mà làm không được, cũng như tuồng hát viết hay mà không có kép tài đặng hát.

Liền nhành xưa đã thệ cùng nhau,

Sao nỡ để gương kép hại đào.

(Đạo Sử).

Tay trượng phu cầm mảnh má đào,

Tranh vai kép vai đào chi cho rộn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

KẸP

Kẹp là một loại hình cụ làm bằng hai mảnh gỗ hay hai thanh tre, dùng để kẹp bàn tay người có tội.

Như: Khảo kẹp tội nhân, tra tội nhân bằng cách kẹp vào bàn tay.

Ngày sau đoạ chốn âm ty,

Gông kềm khảo kẹp ích gì rên la.

(Kinh Sám Hối).

Cột trói ngược quá kinh rất lạ,

Quỷ Dạ xoa đánh vả kẹp cưa.

(Kinh Sám Hối).

 

 

KẸT

1.- Kẹt là góc nhỏ hẹp thường bị đồ vật che lấp.

Như: Kẹt đá trên núi, cái bàn xếp lại để trong kẹt tủ, thằng bé trốn trong kẹt cửa.

Nói về Giới Tử Thôi, Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Tử Thôi cả mừng, bèn cõng mẹ lên Miêng Thượng cất lều trong kẹt núi mà ở, cỏ làm áo, trái làm cơm!

Khi kẹt đá vài câu hứng chí,

Giải lòng ẩn sĩ một chung chè.

(Thơ Hộ Pháp).

Đầu gành lăng líu chim ca hát,

Kẹt đá ro re suối khảy đờn.

(Thơ Hộ Pháp).

2.- Kẹt là mắc vào chỗ nào, hay việc gì đó mà ra không được.

Như: Thợ cưa bị kẹt trong hốc đá, vị thầy giáo không đến do kẹt công việc, hôm nay kẹt tiền.

Ngài tìm phương pháp để tận độ chúng sanh, cơ tận độ ấy chưa thành tựu, họ còn bị kẹt vào vòng tội lỗi tại thế nầy cửu nhị ức nguyên nhân...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

1.- Kê là cây trâm cài đầu người đàn bà con gái.

Cập kê là đến tuổi cài trâm. Theo tục cổ bên Trung Hoa, con gái đến tuổi 15 thì cho cài trâm.

Như: Tuổi cập kê, Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê.

Luật của Ðền Thánh buộc hễ con gái đến tuổi cập cho ra xuất giá.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

2.- Kê là con gà. Như: Kể lể chuyện con cà con kê.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Thầy rút ra trong Tam Tự Kinh, Thầy chỉ rõ rằng: Không phải học thức để đặng làm nhà triết học, mà cốt yếu học thức đặng phục vụ cho Tổ quốc và giống nòi “Khuyển thủ dạ, tư thần, tàm thổ tư, phong nhưỡng mật, nhơn bất học bất như vật”.

Lung hữu mễ thang oa cận,

Dã hạc vô lương Thiên Ðịa khoan.

(Lý Bạch Giáng Bút).

 

 

KẾ

1.- Kế là ở ngay vị trí liền bên cạnh. Như: Nhà kế, ngồi kế bên, trường kế bên nhà.

Thánh giáo có câu: Kẻ vô phước dụng tà tâm làm một món lợi riêng, quên cả điều hành phạt đã kế bên mình, chới với cả muôn triệu giữa dòng, mà chẳng chịu sớm tự hối đặng gỡ lần mối hoạ sau.

Chợt xem bên trái kế trong,

Trai Đường liền với trù phòng kho lương.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

2.- Kế là nối, tiếp theo liền, ngay khi một hoạt động, một quá trình khác kết thúc. Như: Vụ nọ kế vụ kia, nghỉ học, về nhà ôn bài ít hôm, kế đó lại đi thi.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Ngày qua thấm thoát, nhặt thúc bóng quang âm, xuân mãn kế xuân về, nước non màu cũng vẫn như xưa mà tâm hạnh nhơn tình biết bao thay đổi.

Ngọ chưa thấy bóng kế Mùi sang,

Trông đặng vinh huê hưởng chữ nhàn.

(Đạo Sử).

Tánh đức ôn nhu tua tập tánh,

Ngừa cơn xuân mãn kế qua hè.

(Đạo Sử).

3.- Kế là mưu chước. Như: Bày mưu lập kế.

Thánh giáo Thầy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Thầy thấy nhiều đứa trong các con có ý theo Ðạo đặng toan kế làm nhiều việc chẳng lành.

Cửu Trùng không kế an thiên hạ,

Phải để Hiệp Thiên đứng trị vì.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thân hay gánh vác nỗi nhà nên,

Chẳng chịu tìm ra kế vững bền.

(Đạo Sử).

 

 

KẾ CẬN

繼 近

Kế: Tiếp nối, đến nối sau. Cận: Gần.

Kế cận là bên cạnh, gần nhau. Như: Nhà kế cận.

Thánh giáo Đức Quan Thánh Đế Quân có dạy: Thời thế đã đổi dời, hoạ Thiên điều hầu kế cận. Từ Nam chí Bắc, khắp Ðông qua Tây, thỉnh thoảng trường náo nhiệt khởi động, diệt tàn kẻ vô đạo.

Ðặng một việc chi chớ vội mừng, thất một việc chi chớ vội buồn, vì sự mừng vui và buồn tủi thường pha lẫn kế cận nhau.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

KẾ CHÍ

繼 志

Kế: Nối theo. Chí: Chí hướng, tức là quyết tâm theo đuổi một điều gì.

Kế chí tức là nối theo chí của bậc tiền nhân. Con mà noi theo chí của cha ông để lại làm rạng danh tổ tông thì được gọi là con hiếu.

Sách Trung Dung chép: Phù hiếu giả thiện kế nhân chi chí 夫 孝 者 善 繼 人 之 志, nghĩa là phàm người có hiếu thì khéo noi được chí của người.

Thánh giáo Bát Nương có câu: Quý anh quý chị đều ăn mặc sung sướng, ngày nay đổi lại chịu phận nâu sồng, cũng khá thương đó, nhưng chưa nghèo phải học nghèo, chưa khổ phải học khổ, kế chí quân tử, cư bất cầu an, thực bất cầu bảo...

Nguyện vọng như Anh đã thoả rồi,

Cố tâm kế chí có thằng tôi.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

KẾ HOẠCH

計 劃

Kế: Mưu chước. Hoạch: Bày ra, vẽ ra.

Kế hoạch là mưu tính sắp đặt trước, tức toàn bộ nói chung những điều vạch ra một cách có hệ thống về những công việc dự định làm trong một thời gian nhất định, với cách thức, trình tự, thời hạn tiến hành.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Tìm hiểu nhơn loại để tự giác mình, còn nhiều bậc trí thức cao siêu hơn nhơn loại, cầm vận mạng các quốc gia trù tính kế hoạch đặng bảo vệ hoà bình và bảo tồn sanh mạng cho loài người tức là bảo tồn sanh mạng cho nhơn loại.

Nước non giàu mạnh con hai đứa,

Kế hoạch gia đình sẵn cẩm nang.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

KẾ MẪU

繼 母

Kế: Nối theo, tiếp theo. Mẫu: Mẹ.

Kế mẫu là mẹ kế, tức người mẹ nối tiếp sau mẹ ruột đã qua đời, tục gọi là mẹ ghẻ.

Nói về vua Thuấn, Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Khi tìm đặng ông Thuấn đem hai người con gái gã hết, Nga Hoàng, Nữ Anh, mà ta thử nghĩ ông Thuấn ổng là gì, tên ít học, cày ruộng, cha là Cổ Tẩu, em là Tượng ghét đáo để, nhứt là Bà kế mẫu của Ngài.

Ngu Thuấn thật hiếu tâm kế mẫu,

Tượng là em, Cổ Tẩu thương hơn.

(Báo Ân Từ).

Vương Tường quyết đem thân nằm giá,

Kế mẫu thèm được cá chép dùng.

(Báo Ân Từ).

 

 

KẾ MƯU

計 謀

Kế: Kế hoạch. Mưu: Mưu chước.

Kế mưu, như chữ “Mưu kế 謀 計”, là kế hoạch và mưu chước, tức tìm cách khôn khéo được tính toán kỹ, để đánh lừa đối phương nhằm đạt mục đích của mình.

Quyền biến dầu dùng khi buổi ngặt,

Dằn lòng nhớ tránh kế mưu gian.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Đời tàn bạo chẳng thương nhân loại,

Tìm kế mưu sát hại lẫn nhau.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

KẾ NGHIỆP

繼 業

Kế: Nối tiếp, tức ở vị trí nối liền bên cạnh. Nghiệp: Sự nghiệp, cơ nghiệp.

Kế nghiệp tức là nối tiếp sự nghiệp của người xưa, hoặc của cha ông.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Ta thử nghĩ vì lẽ gì Vua Nghiêu chọn ông Thuấn làm Vua kế nghiệp cho Ngài, chỉ vì ông Thuấn là hiếu mà thôi, với cái lịch lãm Vua Nghiêu Ngài cho tính đức hiếu nghĩa đó là đủ hết rồi.

Khuôn hồng trước thấy trời quang đãng,

Kế nghiệp mai sau vẫn có người.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

KẾ NHIỆM MƯU MẦU

Kế nhiệm: Kế sách hay, khéo. Mưu mầu: Mưu chước khôn ngoan, khéo léo.

Kế nhiệm mưu mầu là mưu kế mầu nhiệm, tức kế sách hay và khéo léo như Thần.

Học hay kế nhiệm mưu mầu,

Học nên tài đặng giải sầu quốc gia.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

KẾ SANH NHAI

Hay “Kế sinh nhai”.

Kế: Mưu mẹo, phương cách. Sanh (sinh): Sống, Nhai: Cái bờ nước.

Kế sanh nhai, như chữ “Kế sinh nhai 繼 生 涯”, phương cách làm ăn, kiếm tiền để nuôi sống băn thân và gia đình hằng ngày.

Đây tới sáng xôn xao với thế,

Nhẫng đua chen kiếm kế sanh nhai.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

KẾ TỰ

繼 嗣

Kế: Nối, tiếp nối, kế tiếp. Tự: Nối dõi, chỉ con cháu nối dòng, nối dõi.

Kế tự là nối dõi, tức con cháu kế tiếp nối dõi ông bà tổ tiên.

Như: Người không có con trai lấy con người anh hay người em để kế tự.

Tức nhiên Hoàng Đồ đất Việt Nam phải giao dưới quyền lãnh đạo của nhà Vua Bảo Đại là người kế tự cho các Đế Vương ta.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

KẾ THẾ

繼 世

Kế: Nối tiếp theo. Thế: Đời.

Kế thế là đời nầy nối tiếp đời khác, tức như đời cha nối tiếp đời ông nội, đời con kế đời cha.

Kế thế xây thêm nền đạo đức,

Xen vào phẩm cũ khá cần cù.

(Đạo Sử).

 

 

KẾ THỪA

繼 承

Kế: Nối tiếp theo. Thừa: Vâng theo.

Kế thừa, như chữ “Thừa kế 承 繼”, là thừa hưởng, giữ gìn và tiếp tục phát huy sự nghiệp của người trước để lại.

Như: Kế thừa những di sản của tổ tiên để lại.

Gót lân nối tiếp truyền con cháu,

Cội quế kế thừa phước tổ tông.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

KẾ VÃNG

繼 往

Kế: Nối tiếp theo. Vãng: Những cái đã qua.

Kế vãng là tiếp nối những cái quá khứ, tức nối tiếp những việc mà tiền nhân đã để lại.

Đức Khổng Thánh Tiên Sư nhứt hoán tinh vi, trung hoà Chánh Đạo, kế vãng Thánh khai, hậu lai phát huy triết học...

(Sớ Văn).

 

 

KẾ VỊ

繼 位

Kế: Nối tiếp theo. Vị: Chỗ ngồi, ngôi vị.

Kế vị là nói Thái tử được vua chọn để thay vua, tiếp tục lên ngôi để trị nước.

Kế vị còn có nghĩa là những người sau tiếp nối ngôi vị của người trước.

Pháp Chánh Truyền Chú giải có câu: Tỷ như có Tân Giáo Tông sẽ lên kế vị cho Đức Lý Giáo Tông thì cả tín đồ nam nữ mới nhập môn đều phải lấy tịch Đạo, Tâm.

Khi xong việc về chầu Thánh chỉ,

Thấy ngai vàng kế vị Tỳ Văn.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

KỀ

Kề là ở vị trí gần bên cạnh, không còn có khoảng cách. Như: Ngồi kề một bên, vai kề vai.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có đoạn: Dần qua Mẹo lại, Thìn đến Tỵ về, xuân đổi lại xuân thay, năm kề rồi năm mãn. Ôi! Tấc bóng quang âm nhặt thúc, mà xem lại tâm hạnh của mỗi con của Thầy thì nét Ðạo vẫn kém hơn, đức chưa thêm được, tâm chí mòn mỏi lối đường ngay mà nấu nung về nẻo vạy, e cho nền tảng thiêng liêng đồ sộ phải nghiêng ngửa.

Thành dạ trau gương sanh chúng độ,

Thuyền kề gió lướt thoát mê tân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Mái tóc điểm sương chưa học Ðạo,

Hoạ kề dầu hối khó than van.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

KỀ VAI

Kề: Ở vị trí rất gần, không còn khoảng cách nữa. Vai: Phần cơ thể nối liền hai tay.

Kề vai là hai vai cùng sát nhau, ý chỉ cùng chung sức lại với nhau để làm việc, nhằm một mục đích chung.

Thành ngữ ta có câu: “Kề vai sát cánh”.

Kề vai hai nước mựa hồ nghi,

Thống nhứt ngày nay đã đến kỳ.

(Bát Nương Giáng Bút).

Buồn có người buồn dựa kề vai,

Khóc có kẻ lau mày chia giọt thảm.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

KỂ

1.- Kể là nói lại, thuật lại, tức nói có đầu đuôi cho người khác biết.

Như: Kể câu chuyện đời xưa, kể điều mắt thấy tai nghe, kể ơn, kể công, kể lể.

Gây sự nghiệp sang hèn vinh nhục,

Đừng cho ai kể chút công gì.

(Phương Tu Đại Đạo).

Lắm mồm mép so đo từ chút,

Hằng kể ơn lúc giúp chọn đôi.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Kể là để ý đến, coi là có ý nghĩa, là đáng quan tâm. Như: Không kể lớn nhỏ, một số lượng đáng kể.

Thánh giáo Thầy có dạy: Thầy vì đức háo sanh, nên chẳng kể bực Chí Tôn cầm quyền thế giới, đến lập Ðại Ðạo Tam Kỳ trong lúc hạ nguơn nầy mà vớt sanh linh khỏi vòng khổ hải. Ai biết đạo tức là có duyên phần, ai vô đạo tức là số chịu hình khổ luân hồi.

Vào bếp núc chỗ nhơ không kể,

Phơi áo quần chẳng nể Tam quan.

(Kinh Sám Hối).

Chẳng kể công khanh bỏ ấn quan,

Bồng Lai vui đạo hưởng an nhàn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Phủi sạch bụi hồng cho rảnh kiếp,

Thân còn chẳng kể, kể chi duyên.

(Đạo Sử).

3.- Kể còn có nghĩa là tính ra. Như: Kể từ, đông lắm kể có nghìn người, gặp nhau kể đã hai năm.

Thánh giáo Thầy có câu: Nền Ðạo cao thâm là mấy, chí phàm không thấu lý sâu, nếu các con chẳng ra khỏi vòng trần tục thì các con chẳng là luống công theo Thầy kể đã đầy năm.

Kể từ thuở Ta khai Đại Đạo,

Chẳng một ai nào mạo danh Ta.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

Kể từ trước Thiếp là hình bóng,

Biết thương con chẳng mộng con thương,

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

KỂ LỂ

Kể: Nói lại, thuật lại, tức nói có đầu đuôi cho người khác biết.

Kể lể là kể lại chuyện của mình hoặc dính líu đến mình một cách tỉ mỉ, dài dòng để mong có sự chú ý, sự đồng cảm.

Như: Ngồi kể lể công lao nuôi dưỡng từ bấy đến nay.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có đoạn: Các cơ quan khi nãy kể lể công nghiệp của Bần Đạo mà các Ngài có biết thiệt tướng nó là gì chăng. Cả cơ nghiệp hữu hình ngày hôm nay tượng hình của khối thương yêu vô đối đó, chớ Bần Đạo không có chi trong đó hết, cái thiệt tướng nó là vậy.

Đem tâm sự vân vi kể lể,

Cho bõ ngày quạnh quẽ chờ mong.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

KỂ NỂ

Kể: Nói có đầu có đuôi cho người khác biết.

Kể nể, cũng như chữ “Kể lể”, là nói đi nói lại câu chuyện của mình hoặc có dính líu đến mình một cách tỉ mỉ, dài dòng.

Như: Lâu ngày mới gặp lại, ngồi kể nể mọi việc cho nhau nghe.

Xem: Kể lể.

Đừng kể nể kẻ hơn người hiếp,

Xúm xích nhau chung hiệp làm bè.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

KỆ

Kệ là những bài thi ngắn hay dài, dùng để tóm tắt đại ý một đoạn kinh, một bài thuyết pháp, hoặc để ca ngợi công đức Phật, Bồ Tát.

Kệ cũng là những bài ca chứng đạo của các vị thiền sư bên Phật giáo.

Như: Kinh kệ, kệ sám, Kệ chuông bãi đàn.

Câu kinh tiếng kệ gọi hồn,

Kêu thương khách tục, giải lòng người nhân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

KỆ CHUÔNG

Kệ: Bài kệ (Xem: Kệ). Chuông: Cái chuông.

Kệ chuông là những bài kệ dùng để ngâm đọc trước khi dọng chuông U minh.

Trong đạo Cao Đài, có những bài kệ chuông, như Kệ chuông Đại, Tiểu đàn và Kệ chuông Cúng Tứ Thời.

1.- Kệ chuông Đại đàn, Tiểu đàn:

Thần chung thinh hướng phóng phong đô,

 

神 鐘 聲 向 放 酆 都

Địa Tạng khai môn phóng xá cô.

 

地 藏 開 門 放 赦 辜

Tam Kỳ vận chuyển kim quang hiện,

 

三 期 運 轉 金 光 現

Sám hối âm hồn xuất u đồ.

 

懺 悔 陰 魂 出 幽 途

Giải nghĩa:

- Tiếng chuông thiêng liêng hướng đến cõi Phong đô.

- Đức Địa Tạng Vương mở cửa phóng thích các tội hồn.

- Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ vận chuyển làm hiện ra lằn Kim quang.

- Những âm hồn ở Phong đô sám hối được ra khỏi con đường tối tăm.

2.- Kệ chuông Cúng Tứ Thời:

a. Kệ chuông nhứt:

Văn chung khấu hướng huệ trưởng càn khôn,

 

聞 鐘 叩 向 惠 長 乾 坤

Pháp giới chúng sanh đồng đăng bỉ ngạn.

 

法 界 眾 生 同 登 彼 岸

Án Dà Ra Đế Dạ Ta bà Ha.

 

按 伽 羅 帝 夜 娑 婆 訶

Giải nghĩa:

- Nghe tiếng chuông vang lên, cúi mình hướng về ân huệ lớn của Trời đất,

- Chúng sanh trong pháp giới (Cõi trần) cùng lên bờ bỉ ngạn (Giải thoát).

b. Kệ chuông nhì:

Nhứt vi u ám tất giai văn,

 

一 圍 幽 暗 必 皆 聞

Nhứt thiết chúng sanh thành Chánh giác.

 

一 切 眾 生 成 正 覺

Án Dà Ra Đế Dạ Ta Bà Ha.

 

按 伽 羅 帝 夜 娑 婆 訶

Giải Nghĩa:

- Tất cả âm hồn trong cõi Phong đô tất đều nghe biết,

- Tất cả chúng sanh đều thành Phật.

c. Kệ chuông bãi đàn:

Đàn tràng viên mãn, Chức sắc quy nguyên,

 

壇 場 圓 滿, 職 色 歸 元

Vĩnh mộc từ ân, phong điều võ thuận,

 

永 沐 慈 恩, 風 調 雨 順

Thiên phong hải chúng, quốc thới dân an,

 

天 封 海 眾, 國 泰 民 安

Hồi hướng đàn trường, tận thâu pháp giới,

 

回 向 壇 場, 盡 收 法 界

Án Dà Ra Đế Dạ Ta Bà Ha.

 

按 伽 羅 帝 夜 娑 婆 訶

Giải nghĩa:

- Đàn cúng đã trọn vẹn, chức sắc trở lại chỗ cũ, luôn được gội nhuần ân Chí Tôn, Phật Mẫu, được mưa hoà gió thuận.

- Trời ban cho dân chúng nước thịnh dân an, hồi hướng công đức nơi đàn cúng, thâu hết các pháp giới (tức các cõi giới).

 

Chúng sanh đang ngủ trong mơ,

Kệ chuông vang dậy báo giờ công phu.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

KỆ KINH

偈 經

Kệ là bài thi ngắn tóm tắt đại ý một đoạn kinh, một bài thuyết pháp, hoặc để răn dạy đệ tử, hoặc để ca ngợi công đức Phật, Bồ Tát... Kinh là nền tảng của một triết thuyết hay một Tôn giáo. Ví dụ như: Ngũ kinh trong Nho giáo, Đạo Đức kinh trong Lão giáo, Tam Tạng kinh trong Phật giáo và Kinh Thánh của Công giáo.

Kệ kinh là chữ dùng chung để chỉ việc khai kệ, tụng kinh trong một thời công phu.

Để chuông mõ dựa kề son phấn,

Chất nhơn tình chồng cận kệ kinh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Lèo lái tay gìn tuôn Nhược thuỷ,

Kệ kinh miệng niệm thấu Trùng thiên.

(Thơ Tiếp Pháp).

 

 

KỆ SÁM

偈 懺

Kệ: Bài thơ ngắn, bài văn vần tóm tắt đại ý một đoạn hay một bài kinh, một bài thuyết pháp để ca ngợi công đức của Bồ Tát, chư Phật. Kệ còn là một bài ca chứng đạo của các vị Thiền sư. Sám: Ăn năn những điều lầm lỗi và thật lòng hối cải.

Lời kệ sám là những lời kinh kệ hay những lời dạy để sám hối ăn năn. Ở đây chỉ bài kinh “Sám Hối” của đạo Cao Đài.

Lời kệ sám di truyền khuyến thiện,

Câu văn từ luận biện thật thà.

(Kinh Sám Hối).

Tuồng hát giọng đờn làm kệ sám,

Phồn hoa xây lấp khắp trong ngoài.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

KỆ TRỐNG

Kệ: Bài kệ (Xem Kệ kinh). Trống: Cái trống lớn được đặt ở Lôi Âm Cổ Đài trong Toà Thánh Tây Ninh, còn gọi là Lôi Âm Cổ.

Kệ trống là bài kệ để đọc lên trước khi đánh trống.

Trong nghi thức cúng đàn của Đạo Cao Đài ở Toà Thánh hay các Thánh Thất địa phương, bài kệ trống như sau:

Lôi Âm Thánh cổ triệt hư không,

 

雷 音 聖 鼓 徹 虛 空

Truyền tấu Càn khôn thế giới thông.

 

傳 奏 乾 坤 世 界 通

Đạo pháp đương kim dương chánh giáo,

 

道 法 當 今 揚 正 教

Linh quang chiếu diệu Ngọc Kinh Cung.

 

靈 光 照 耀 玉 京 宮

Giải nghĩa:

- Tiếng trống Lôi Âm nơi Toà Thánh vang lên thấu suốt các cõi Hư không.

- Truyền đi để bày tỏ cho toàn cả Càn khôn Thế Giới thông rõ.

- Đạo pháp của Đại Đạo hiện nay nêu lên cho chúng sanh biết là một nền chánh giáo.

- Ánh sáng Kim quang chiếu sáng rực rỡ Toà cung Bạch Ngọc.

 

Lôi Âm Cổ Đài vang kệ trống,

A Di Đà giải mộng Nam kha.

(Thơ Huệ Nhật).

 

 

KỆ U MINH

Kệ: Bài thi ngắn hay dài, dùng để tóm tắt đại ý một đoạn kinh, một bài thuyết pháp, hoặc để ca ngợi công đức Phật, Bồ Tát.

Kệ cũng là những bài ca chứng đạo của các vị thiền sư bên Phật giáo.

U minh 幽 暝, như chữ “U minh địa”, chỉ cõi u tối, tức là cõi Âm phủ, cõi Diêm cung, cõi Địa phủ, mà hiện nay đạo Cao Đài gọi là cõi Âm quang.

Thánh giáo Thầy có câu: Ai giữ trọn bực phẩm thì đặng Toà Nghiệt Cảnh tương công chiết tội, để vào địa vị cao hơn chốn Ðịa cầu 68 nầy; ai chẳng vẹn trách nhậm nhơn sanh phải bị đoạ vào nơi U Minh địa, để trả cho xong tội tình căn quả cho đến lúc trở về nẻo chánh đường ngay mà phục hồi ngôi cũ, bằng chẳng biết sửa mình thì luật Thiên điều chồng chập, khổ A Tỳ phải vướng muôn muôn đời đời mà đền tội ác.

Chuông U minh: Một loại chuông lớn, thường gọi là Đại hồng chung, vì loại chuông này được treo trên một cái giá, miệng quay xuống đất, khi đánh lên, tiếng chuông vang dội truyền đến cõi U minh (Địa phủ) để giác ngộ các tội hồn nơi đó, nên người ta đặt tên là U minh chung (hay chuông U minh).

Kệ U minh, hay “Kệ Chuông U Minh” là một bài kệ gồm 34 câu cầu nguyện trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ để ngâm lên kèm theo tiếng Đại hồng chung thấu đến cõi U minh (Âm phủ), hầu thức tỉnh các tội hồn, biết ăn năn sám hối cầu nguyện với Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu và các Đấng thiêng liêng cứu độ cho.

Trong Đạo Cao Đài, vào ba tháng của ba nguơn trong một năm là tháng giêng (thượng nguơn), tháng bảy (trung nguơn) và tháng mười (hạ nguơn), tại Toà Thánh và các Thánh Thất cũng như Điện Thờ Phật Mẫu tại địa phương đều phải phân công trực dộng chuông U minh suốt ngày đêm, liên tục suốt tháng.

Sau đây xin chép ra nguyên văn 35 câu kệ bằng Việt Hán, kèm theo lời giải nghĩa:

A. Đoạn I (từ câu 1 đến câu 18):

1.-

Hồng chung sơ khấu, bảo kệ cao ngâm

洪 鐘 初 扣 寶 偈 高 吟,

có nghĩa là bắt đầu dộng vào hồng chung và cao giọng ngâm bài kệ quý báu.

2.-

Thượng thông Thiên đàng, hạ triệt Địa phủ

上 通 天 堂, 下 徹 地 府,

nghĩa là trên thì thông suốt đến các cõi trời, dưới thì thấu suốt đến cõi Âm Quang.

3.-

Khánh chúc Tam Kỳ hoằng khai Đại Đạo

慶 祝 三 期 弘 開 大 道,

có nghĩa là chúc mừng cho nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ mở rộng cửa để truyền bá khắp nơi.

4.-

Càn khôn đại thống, phổ cập ngũ châu

乾 坤 大 統, 普 及 五 洲,

nghĩa là thống quản cả Càn khôn Thế giới để phổ biến khắp cả năm châu.

5.-

Ân đức hoá thâm cao thăng Thiên vị

恩 德 化 深 高 升 天 位,

nghĩa là ơn đức giáo hoá sâu nặng làm cho phẩm vị được tăng cao.

6.-

Tam thế tứ sanh chi nội các miễn luân hồi

三 世 四 生 之 內 各 免 輪 迴,

nghĩa là tất cả các loài vật tứ sanh trong thời gian ba đời đều khỏi phải bị luân hồi chuyển kiếp.

7.-

Cửu u thập loại chi trung tất ly khổ hải

九 幽 十 類 之 中 必 離 苦 海,

nghĩa là mười loại chơn hồn trong chín cửa Địa ngục ắt được lìa khỏi biển khổ.

8.-

Ngũ phong thập võ miễn tạo cơ cẩn chi tai

五 風 免 造 饑 饉 之 災,

nghĩa là năm gió mười mưa xin thoát khỏi tai nạn mất mùa.

9.-

Nam mẫu Đông giao cu triêm Nghiêu Thuấn chi nhựt

南 畝 東 郊 俱 霑 堯 舜 之 日,

nghĩa là đất đai khắp trong nước đều thấm nhuần thời thái bình an lạc của Nghiêu Thuấn.

10.-

Can qua vĩnh tức, giáp mã hưu chinh

干 戈 永 息, 甲 馬 休 征,

nghĩa là giặc giã mãi ngưng, chiến tranh chấm dứt.

11.-

Trận bại thương vong Câu sanh Tịnh độ

陣 敗 傷 亡 俱 生 淨 土,

nghĩa là những người thương tích hay chết vì bại trận đều được sanh về cõi Tịnh độ (Cõi Cực Lạc Thế giới).

12.-

Phi cầm tẩu thú, la võng bất phùng

飛 禽 走 獸 羅 網 不 逢,

nghĩa là chim bay thú chạy, không gặp lưới rập đánh bắt.

13.-

Lãng tử cô nhi tảo hồi hương lý

浪 子 孤 兒 早 回 鄉 里,

nghĩa là những kẻ lang thanh hay những đứa mồ côi sớm trở lại quê hương xứ sở.

14.-

Vô biên thế giới Địa cửu Thiên trường

無 邊 世 界 地 久 天 長,

nghĩa là Càn khôn thế giới rộng lớn vô biên, Trời đất trường cửu.

15.-

Viễn cận đàn na tăng viên phước thọ

遠 近 檀 那 曾 圓 福 壽,

nghĩa là những thí chủ xa gần đều được gia tăng tuổi thọ và hạnh phúc.

16.-

Thánh Toà trấn tịnh, đạo pháp hưng thịnh

聖 座 鎮 淨, 道 法 興 盛,

nghĩa là Toà Thánh được giữ gìn yên tịnh, đạo pháp được hưng thịnh lâu dài.

17.-

Thổ địa Long thần an tăng hộ pháp

土 地 龍 神 安 僧 護 法,

nghĩa là các vị Thần cai quản đất đai và thần giữ gìn vùng biển giúp an cho kẻ tu hành và hộ trì đạo pháp.

18.-

Phụ mẫu, sư trưởng, lục thân quyến thuộc,

父 母 師 長, 六 親 眷 屬,

nghĩa là cha mẹ, thầy và bậc trưởng thượng, sáu người thân yêu trong thân tộc.

19.-

Lịch đại tiên vong đồng đăng giác ngạn

歷 代 先 亡 同 登 覺 岸,

nghĩa là tổ tiên quá vãng lâu đời đều được vượt lên bờ giác, thoát khỏi luân hồi.

B.- Đoạn II (từ câu 20 đến câu 31):

Sau đây từ câu 20 cho đến câu 31 gồm 11 câu cầu nguyện danh hiệu Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu, Tam vị Đạo Tổ, Tam Trấn Oai Nghiêm, các Đấng trong Ngũ Chi Đại Đạo và chư Thần Thánh Tiên Phật mà trong Sớ Văn có tâu trình.

20.-

Nam Mô Huyền Khung Cao Thượng Đế, Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn

南 無 玄 穹 高 上 帝, 玉 皇 大 天 尊.

21.-

Nam Mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn

南 無 瑤 池 金 母 無 極 天 尊.

22.-

Nam Mô Tây Phương Giáo Chủ Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn

南 無 西 方 教 主 釋 伽 牟 尼 世 尊.

23.-

Nam Mô Thái Thượng Đạo Tổ Tam Thanh Ứng Hoá Thiên Tôn  南 無 太 上 道 祖 三 清 應 化 天 尊.

24.-

Nam Mô Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn 南 無 孔 聖 先 師 興 儒 盛 世 天 尊.

25.-

Nam Mô Thường Cư Nam Hải Quan Âm Như Lai

南 無 常 居 南 海 觀 音 如 來.

26.-

Nam Mô Lý Đại Tiên Trưởng Kiêm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ

李 大 仙 長 兼 教 宗 大 道 三 期 普 度

27.-

Nam Mô Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân

南 無 協 天 大 帝 關 聖 帝 君

28.-

Nam Mô Gia Tô Giáo Chủ Cứu Thế Thiên Tôn

南 無 嘉 蘇 教 主 救 世 天 尊

29.-

Nam Mô Thái Công Tướng Phụ Quản Pháp Thiên Tôn

南 無 太 公 相 父 管 法 天 尊

30.-

Nam Mô Tam Châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên Tôn

南 無 三 洲 八 部 護 法 天 尊

31.-

Nam Mô Thập Phương Chư Phật vạn chưởng chư Tiên, liên đài chi hạ

南 無 十 方 諸 佛, 萬 掌 諸 仙, 蓮 臺 之 下.

C. Đoạn III (từ câu 32 đến câu 35):

Cuối cùng, ba câu 32, 33 và 34 là cầu nguyện ba Đấng Chưởng Giáo mở ba thời kỳ Đại hội Long Hoa: Đó là:

32.-

Nam Mô Sơ hội Long Hoa Thanh Vương Đại Hội, Nhiên Đăng Cổ Phật Chưởng Giáo Thiên Tôn

南 無 初 會 龍 花 青 王 大 會, 燃 燈 古 佛 掌 教 天 尊.

Nghĩa là Nam Mô Sơ hội Long Hoa là một Đại Hội ở Nhứt Kỳ Phổ Độ, gọi là Thanh Vương Đại Hội, do Đức Nhiên Đăng Cổ Phật làm Giáo Chủ.

33.-

Nam Mô Nhị Hội Long Hoa Hồng Vương Đại Hội, Di Đà Cổ Phật Chưởng Giáo Thiên Tôn

南 無 二 會 龍 花 紅 王 大 會 彌 陀 古 佛 掌 教 天 尊.

Nghĩa là Nhị Hội Long Hoa là một Đại Hội ở vào Nhị Kỳ Phổ Độ, gọi là Hồng Vương Đại Hội, do Đức A Di Đà Phật làm Giáo Chủ.

34.-

Nam Mô Tam Hội Long Hoa Bạch Vương Đại Hội, Di Lạc Cổ Phật Chưởng Giáo Thiên Tôn

南 無 三 會 龍 花, 彌 勒 古 佛 掌 教 天 尊.

Nghĩa là Tam Hội Long Hoa là Đại Hội lần thứ ba vào Tam Kỳ Phổ Độ, gọi là Bạch Vương Đại Hội do Đức Di Lạc Vương Phật làm Giáo Chủ.

35.-

Nam Mô liệt Thánh đàn tràng hoà nam khể thủ

南 無 烈 聖 壇 塲 和 南 稽 首,

nghĩa là cầu nguyện với chư vi Thánh nơi đàn cúng tế chứng minh, xin cúi đầu lạy xuống.

 

Đời vọng tam dương ca kích nhưỡng,

Đạo hành ngũ nguyện Kệ U minh.

(Thơ Huệ Phong).

Trời Nam chiếu rực ánh linh quang,

Chuông Kệ U minh chuyển địa hoàn.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

KỀM

1.- Kềm, như chữ “Kìm”, là đồ bằng kim loại có hai mỏ và càng dùng để kẹp.

Như: Kềm cặp vào da, kềm kẹp để tra khảo, dùng kềm để nhổ đinh.

Ngày sau đoạ chốn âm ty,

Gông kềm khảo kẹp ích gì rên la.

(Kinh Sám Hối).

Nơi Địa ngục gông kềm sẵn đủ,

Để răn loài dâm phụ gian phu.

(Giới Tâm Kinh).

2.- Kềm, như chữ “Kìm”, hãm lại, giữ lại. Như: Kềm chế, kềm sửa, kềm cương ngựa.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Tôn chỉ đạo là khêu ngọn đuốc thiêng liêng để dìu đời thoát tục, nếu Tâm không đủ sáng suốt, không nhận định chánh tà, chính mình không tự kềm nỗi với vật dục thì thế nào đi vững bước đường tu để độ chúng?

Bao nhiêu lỗi trước tua kềm sửa,

Căn mạng nên Ta phải để lời.

(Đạo Sử).

3.- Kềm hay “Kìm”, còn là thứ nhạc cụ gồm có hai phần: cần đàn và thùng đàn. Thùng đàn thường làm bằng gỗ ngô đồng, có hai mặt đều nhau, tròn như mặt trăng nên còn gọi là đàn nguyệt hay nguyệt cầm.

Hễ muốn cho hoà tiếng tranh kìm,

Kìm sửa phím tranh lên cho đúng bực.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

KỀM CHẾ

Hay “Kiềm chế”.

Kềm (Kiềm): Kềm cặp, tức kềm giữ lại không cho hoạt động tự do. Chế: Trị, ngăn giữ.

Kềm chế, như chữ “Kiềm chế 鉗 制”, là lấy thế lực mà ngăn giữ, tức giữ ở một chừng mực nhứt định, không để cho tự do hoạt động, tự do phát triển.

Diễn văn của Đức Quyền Giáo Tông đọc vào ngày vía Đức Thích Ca Mâu Ni có câu: Trước đây, Tệ Huynh có nói Thầy lập Ðạo kỳ nầy phù hạp với dân trí ngày nay đã tăng tiến khỏi Nguơn Tấn Hoá đến địa vị tối cao, cho nên chủ nghĩa Cựu Luật của các Tôn Giáo hiện thời không đủ sức kềm chế đức tin của toàn nhơn loại.

Phải có một Giáo lý mới mẻ đủ khả năng kềm chế nhân loại trong sự thương xót chúng sanh.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

KỀM GIỮ

Kềm: Vật bằng kim loại có hai mỏ và càng dùng để giữ chặt. Giữ: Gìn, không bỏ, không rời.

Kềm giữ là giữ chặt lại không cho hoạt động, phát triển hay bộc lộ ra.

Chỉ có cách đó mới có thể kềm giữ nhơn loại trong tình yêu sanh chúng và đem lại cho con một cuộc đời hoà bình bền bỉ.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

KỀM SỬA

Kềm (kìm): Kẹp chặt bằng kìm, giữ lại. Sửa: Chữa lại cho ngay ngắn, tốt đẹp.

Kềm sửa hay Kìm sửa, là kềm giữ để không cho vi phạm và sửa lại những điều lỗi.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Thầy phải ép lòng chịu tư vị với các con mà thố lộ chút ít. Vậy nên biết mà kềm sửa bước đường đặng cứu chữa căn bịnh cho nhau và ngăn ngừa bước đường cho những đứa sẽ đến.

Bao nhiêu lỗi trước tua kềm sửa,

Căn mạng nên Ta phải để lời.

(Đạo Sử).

 

 

KỀM THÚC

Kềm: Vật bằng kim loại có hai càng và mỏ dùng để giữ hoặc kẹp chặt. Thúc: Bó buộc.

Kềm thúc là kềm lại không để cho có được sự hoạt động tự do, hoặc không để cho diễn ra, bộc lộ ra.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Quyền, Thầy cũng ban cho các con in như Thầy đã ban cho chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, hầu cho đủ thế kềm thúc lấy nhau đặng giữ vẹn Thánh chất yêu sanh của Thầy, mà quyền ấy trở nên một cơ thể buộc trói nhơn sanh trong vòng tôi mọi.

Thầy cho các con biết trước đặng sau đừng trách rằng quyền hành Thầy không đủ mà kềm thúc trọn cả môn đệ.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

KẾT

1.- Kết, như chữ “Két”, là tủ sắt kiên cố chuyên dùng để đựng tiền bạc hay vàng ngọc.

Như: Kết bạc đem giấu trong phòng ngủ, nó bỏ trốn vì thụt kết của công ty.

Trung hậu thế thường đời ít có,

Ham chi kết bạc gọi là lân.

(Đạo Sử).

2.- Kết là đan, bện lại.

Như: Kết lá làm nhà, cổng chào kết bằng hoa, kết tóc thành bím.

Kìa cầm điểu bẻ cành kết ổ,

Nọ thú trùng moi lỗ làm hang.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Dầu mình sang ngự điện ngồi ngai,

Cũng nhớ thuở mẹ chằm gai cha kết lá.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Kết là buộc lại, thắt lại. Như: Kết dây, kết lá, kết chùm, kết án.

Thánh giáo Đức Chơn Cực Lão Sư có câu: Chư đạo hữu phải biết rằng, Ðạo trước khi gieo truyền cho ngoại quốc, phải dìu dắt kết chặt dân sanh nơi vùng Nam nầy, đặng cùng nhau chung hợp trên con đường hoà bình, chậm rãi lần ra khỏi lối khốn khổ lao lung nơi cõi trần nầy, rồi tự tại ngâm câu thái bình.

Tan tành khó nỗi kết làm nguyên,

Như chỗ non cao muốn quá thuyền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

KẾT ÁN

Kết: Thắt, buộc lại. Án: Vụ phạm pháp hoặc tranh chấp quyền lợi cần được xét xử trước toà.

Kết án là kết luận về án xử những kẻ tội phạm, tức là định tội, hay tuyên bố hình phạt.

Như: Toà kết án tử hình.

Tội trước sờ sờ chưa kết án,

Ðạo đâu há chịu để người nương.

(Đạo Sử).

Hiểu cuộc sống ta hầu phê phán,

Lối chưng thờ kết án bàng môn.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

KẾT BẠN

結 伴

Kết: Tập họp lại làm cho gắn chặt nhau. Bạn: Người thân thiết, nhưng không phải bà con.

Kết bạn là kết làm anh em bạn lứa với nhau.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Ngặt nỗi con người tuỳ theo hoàn cảnh gia đình, tuỳ theo địa vị xã hội của cha mẹ, tuỳ theo người lân la kết bạn, tuỳ theo sự hữu học hay vô học nên phần nhiều bị biến đổi, lôi cuốn trở nên khác hẳn với con người toàn thiện của Trời sanh.

Thi, rượu, đờn, cờ, không kết bạn,

Quanh năm khuây lãng thế phui pha.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

Coi gương trước Thánh Hiền ghi lại,

Kết bạn nhau đạo ngãi làm sao.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Dầu phải nợ ba sanh hương lửa,

Kết bạn nhau phải lựa khách tâm đầu.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

KẾT BÈ

Kết: Tập họp lại làm cho gắn chặt nhau. Bè: Nhóm người, hay phe, đảng.

Kết bè là tụ tập lại thành nhóm, hay bè phái.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Xem như giống vật đừng nói chi hơn cái bọn kiến nhọt kết bè lại, con vật khác vô đó còn phải chạy thay, huống hồ chi phải giống người, nếu biết kết bè lại mà sống, anh ngã em đỡ, em té anh nâng, thân cô độc giữa đời kia nó còn thê thảm lắm lắm.

Lại còn ưa cặp bạn kết bè,

Đến hàng xóm ngồi lê đôi mách.

(Phương Tu Đại Đạo).

Cũng đừng ham kết bạn kết bè,

Theo cờ bạc bài me phá của.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

KẾT CÁNH LIỀN CÀNH

Kết cánh: Cánh hai con chim phải kết lại với nhau. Liền canh: Cành hai cây mọc gần liền với nhau.

Kết cánh liền cành, do câu “Tỷ dực điểu liên lý chi 比 翼 鳥 連 裏 枝”, tức là chim kết cánh, cây liền cành, ý muốn nói vợ chồng gắn bó không rời xa nhau được.

Kết cánh do Sách Sơn Hải Kinh của Đông Phương Sóc nói: Có một loài chim chỉ có một bên cánh và một con mắt, nên lúc nào con trống và con mái phải kết cánh lại thì mới bay được, gọi là Tỷ dực điểu (Tỷ dực là kết cánh lại).

Liền cành do điển: Hàn Bằng có vợ là Hà Thị bị Tống Khang Vương ép làm vợ, Hà Thị cự tuyệt rồi tự tử. Hàn Bằng bị bắt cũng tự sát. Lúc Hà Thị chết có để lại một bức xin được chôn cùng mộ với chồng. Khang Vương tức giận, đem hai người chôn riêng ra và cách xa nhau. Sau đó, gần mỗi ngôi mộ có mọc lên một cây cành giao nhau, và rể ăn liền nhau.

Xem: Liền cánh liền cành.

Chim kết cánh, cây liền cành,

Còn thân thiếp chịu một mình đơn cô.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

KẾT CỎ NGẬM VÀNH

Kết cỏ ngậm vành, do điển “Kết thảo hàm hoàn 結 草 含 環”, dùng để chỉ sự báo ơn.

Kết cỏ, bởi tích: Nguỵ Thù là người nước Tấn đời Đông Châu, có một nàng hầu rất đẹp, còn trẻ tuổi. Khi gần chết ông dặn con là Nguỵ Khoả phải đem nàng hầu ấy chôn theo ông. Nhưng Nguỵ Khoả thương tình không chôn, mà lại cho nàng đi lấy chồng khác.

Sau Nguỵ Khoả làm quan, được triều đình sai đi trừ giặc nhà Tần là Đỗ Hồi rất hung tợn, khó bề đánh thắng đặng. Không dè, trong lúc xáp trận những bụi cỏ kết lại với nhau quấn vào chân ngựa của Đỗ Hồi, làm cho Hồi tới lui không được, bị Nguỵ Khoả đâm chết. Tối lại, Khoả mộng thấy một ông già xưng là cha nàng hầu của Nguỵ Hùng, vì cảm ơn Khoả đã không chôn con gái ông, lại còn gả lấy chồng, nên kết cỏ quấn vào chân ngựa Đỗ Hồi để báo ân đức đó.

Ngậm vành, do điển: Dương Bảo đời Hán, đi chơi bắt được một con chim sẻ màu vàng bị thương, lượm đem về nuôi dưỡng, đến khi chim khoẻ mạnh thì thả bay. Đêm ấy, Bảo thấy một người con trai mặc áo vàng, miệng ngậm bốn cái vòng (Vành) tới đền ơn và nói: Nhờ ơn cứu mạng, ơn ấy tôi không bao giờ dám quên, xin tặng bốn chiếc vòng, ông hãy giữ, sau nầy ông và ba đời con cháu ông sẽ hưởng được phú quý.

Kết cỏ bạn vừa thi đức độ,

Ngậm vành mình há phụ cơ duyên.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

KẾT CUỘC

Kết: Kết quả, tựu lại, tóm lại. Cuộc: Bởi chữ “Cục 局” đọc trại ra, là cái hình, cái thế bày ra.

Kết cuộc, hay “Kết cục 結 局” là rốt cuộc, tóm lại sau hết, tức là kết quả cuối cùng của một công việc.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có câu: Căn xưa quả trước chẳng chịu lo đền bồi, lại tự dẫn mình vào nơi hang thẳm, sau kết cuộc ra thế nào sẽ thấy.

Kết cuộc ăn năn than đã muộn,

Chi bằng hướng thiện sớm hồi đầu.

(Thơ Thái Đến Thanh).

Dữ lành kết cuộc vay rồi trả,

Khuyên nhủ lương tâm lánh bợn trần.

(Thơ Thông Quang).

 

 

KẾT CHẶT

Kết: Buộc, thắt lại. Chặt: Vững chắc, chặt chẽ.

Kết chặt là kết lại với nhau một cách chặt chẽ.

Thánh giáo Chơn Cực Lão Sư có câu: Chư đạo hữu phải biết rằng, Ðạo trước khi gieo truyền cho ngoại quốc, phải dìu dắt kết chặt dân sanh nơi vùng Nam nầy, đặng cùng nhau chung hợp trên con đường hoà bình, chậm rãi lần ra khỏi lối khốn khổ lao lung nơi cõi trần nầy, rồi tự tại ngâm câu thái bình.

Dải đồng kết chặt qua vùng khổ,

Buồm hạnh trương cao kết sóng to.

(Thơ Thượng Sanh).

Hàn mặc xây nên niềm thiết cốt,

Huệ lan kết chặt nghĩa đồng thanh.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

KẾT CHỨNG

結 證

Hay “Kiết chứng”.

Kết: Còn đọc là kiết, buộc lại, cuối cùng. Chứng: Nhận thực.

Kết chứng hay Kiết chứng là tờ chứng thật sự việc đã xảy ra.

Trong Đạo Cao Đài, có tờ Kiết chứng công nghiệp, tức là bản văn chứng nhận công nghiệp hành Đạo của một vị chức sắc là đúng sự thật.

Trong Đạo Luật năm Mậu Dần có ghi: Chiếu theo Thánh Giáo của Đức Chưởng Đạo Nguyệt Tâm Chơn Nhơn, thì Chánh Trị Sự phải có 5 năm công nghiệp đầy đủ với chức trách của mình, sau nữa phải có tờ kiết chứng công nghiệp, tờ tánh hạnh, trường trai, đạo đức, đủ tư cách và phải độ đặng 300 người nhập môn (chẳng kể số Đạo Hữu của cựu Chánh Trị Sự đã độ đặng) thì mới đặng đem vào sổ cầu phong.

Một cớ là các báo trên hoàn cầu đã đăng và khi ấy có Vi bằng kiết chứng, không phải là ngụy biện.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

KẾT DẢI ĐỒNG

Kết: Thắt, buộc lại. Dải đồng: Do chữ “Đồng tâm đái”, là sợi dây thắt lưng có hai dải lụa buộc lại với nhau, biểu hiệu sự kết hợp vợ với chồng cùng một lòng với nhau.

Kết dải đồng là dải gấm, lụa thắt nhiều vòng nối tiếp ngụ ý chỉ lòng khắng khít, gọi là “Đồng tâm kết 同 心 結”.

Kết dải đồng là nói thương yêu gắn bó giữa vợ chồng với nhau.

Xem: Đồng tâm đái.

Thề nhau trọn kết dải đồng,

Cám ơn chàng giúp mặn nồng nghĩa nhân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

KẾT DUYÊN

結 緣

Kết: Thắt buộc lại với nhau. Duyên: Mối duyên ràng buộc lại với nhau giữa trai gái.

Kết duyên là trai gái kết hợp về tình duyên, tức lấy nhau làm vợ chồng.

Hơi mảnh áo còn cầm đặng ngữi,

Gối loan gìn từ buổi kết duyên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

KẾT ĐOÀN

結 團

Kết: Thắt, buộc lại. Đoàn: Bọn, lũ, tròn.

Kết đoàn, như chữ “Đoàn kết”, là lại thành một khối thống nhất, cùng hoạt động vì mục đích chung.

Như: Toàn thể nhân dân kết đoàn lại với nhau.

Quả nan địch chúng xưa nay hẳn,

Xin nhớ kết đoàn mới dễ đương.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

KẾT GIAO

結 交

Kết: Thắt buộc lại với nhau. Giao: Qua lại nhau.

Kết giao là kết bạn, tức giao tiếp tình cảm giữa bè bạn với nhau.

Như: Anh ấy kết giao với đủ mọi thành phần.

Đối xử với người cùng một mặt,

Kết giao bè bạn chẳng hai tình.

(Thơ Hiến Đạo).

 

 

KẾT LIÊN

結 連

Kết: Thắt buộc lại với nhau. Liên: Liền nhau.

Kết liên, như chữ “Liên kết 連 結”, là kết lại với nhau.

Thánh giáo Đức Chơn Cực Lão Sư có câu: Chư đạo hữu phải lọc lừa lại, tìm người có tâm chí kết liên thân ái, chung hiệp nhau, bỏ sự lãng phí, dụng đồng tài nơi giọt mồ hôi, được tích thiểu thành đa, gầy dựng một cái nhà chung, để ngày phong võ nương dựa được thung dung, ngồi ngắm thế sự và chấn hưng mối Ðạo quý hoá.

Đào luyện môn đồ nơi trướng đỏ,

Kết liên thi hữu bậc tròng xanh.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

KẾT LŨ VẦY ĐOÀN

Kết lũ: Kết nhóm lại thành bè lũ. Vầy đoàn: Tụ tập lại thành đoàn.

Kết lũ vầy đoàn là nói đám thanh niên nhiều đứa tụ tập lại đi ăn chơi, hay quậy phá làng xóm.

Đừng quen kết lũ vầy đoàn,

Cửa thanh lâu những rộn ràng gió trăng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

KẾT NGUYỀN

Kết: Thắt chặt, gắn bó với nhau bằng quan hệ tình cảm thân thiết. Nguyền (nguyện): Thề nguyền.

Kết nguyền, cũng như chữ “Kết nguyện 結 願”, là thề nguyền để kết tình anh em bạn với nhau, hoặc trai gái kết duyên vợ chồng.

Anh em bằng hữu kết nguyền,

Một lòng tin cậy phải kiêng phải vì.

(Kinh Sám Hối).

Muốn qua sông mà để lựa thuyền,

Tới rút cuộc kết nguyền cùng chú lái.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

KẾT NGHĨA

結 義

Kết: Thắt chặt, tức thắt buộc lại với nhau. Nghĩa: Tình nghĩa.

Kết nghĩa là vì tình nghĩa mà kết làm anh em.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Theo thế thường thì giàu đổi bạn sang đổi vợ, con người khi gặp nơi đắc dụng được kẻ biết trọng đãi kính nể mình, ban cho vàng bạc đủ đầy gái tốt hầu hạ sớm khuya, yến tiệc linh đình, tước cao lộc quý thì cho anh em ruột cũng quên được, vợ mình tấm mẳn cũng dứt tình, chúa cũ cũng không màng huống chi là kết nghĩa bằng hữu.

Hào hiệp lòng quen kết nghĩa cùng,

Anh hùng tứ hải bước thung dung.

(Đạo Sử).

Đạo phòng mỹ ý toan truyền bá,

Kết nghĩa gồm thâu trọng đạo Thầy.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

KẾT OÁN

結 怨

Kết: Buộc, thắt lại. Oán: Giận và thù hận trong lòng, người đã gây hại cho mình.

Kết oán, như chữ “Kết oán thù 結 怨 讎”, là gây ra những điều thù oán.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Nếu ta thấy được cõi Hư Linh kia, cái tinh của vạn loại bị giết chóc một cách tàn nhẫn, bởi loài người kết oán thù thâm với nó, chực chờ thù ghét, vì vậy mà có vay trả luân hồi mãi mãi đoạ đày, bất năng thoát tục.

Tùng Thiên an mạng rán làm lành,

Ðừng kết oán đời chác lợi danh.

(Đạo Sử).

Giữ lễ nghi mọi kẻ không riêng,

Nào có chọc ai phiền phòng kết oán.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

KẾT OÁN THÙ

Kết: Buộc, thắt lại. Oán thù: Oán hận đến mức thôi thúc phải trả thù.

Kết oán thù là gây ra những điều thù oán.

Hễ thù oán rồi thì sẽ kéo dài mãi không bao giờ dứt. Vì vậy, người xưa thường khuyên: Oan gia nghi giải bất nghi kết 冤 家 宜 解, 不 宜 結, nghĩa là thù oán nên cởi bỏ chớ không nên kết buộc.

Gây oan nghiệt bởi lòng tư dục,

Kết oán thù vì chút đỉnh chung.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

KẾT PHE LẬP ĐẢNG

Kết phe: Tập hợp người cùng đứng về một phía với nhau. Lập đảng: Tạo thành nhóm riêng.

Kết phe lập đảng là ý nói lôi kéo một nhóm người trong tập thể tạo thành phe đảng với nhau.

Trong quyển Giảng Đạo Chơn Ngôn, Phối Sư Thái Đến Thanh có viết: Nhập môn vào Ðạo đặng làm lành lánh dữ, dưỡng tánh tu tâm lập công bồi đức cứu độ nhơn sanh, chớ không phải vào Ðạo rồi cậy lấy phần đông, kết phe lập đảng ỷ chúng hiếp cô, kẻ vào Ðạo mà chỉ mưu việc quấy như vậy, là kẻ lợi dụng danh Ðạo mà làm cho rối loạn chơn-truyền, tức là kẻ phản nghịch với chánh lý của Ðạo vậy.

Chớ không phải vào Đạo để lấy phần đông, rồi kết phe lập đảng mà ỷ chúng hiếp cô cùng là xui mưu làm loạn.

(Phương Châm Hành Đạo).

 

 

KẾT QUẢ

結 果

Kết: Thắt buộc lại với nhau. Quả: Trái cây, kết cục của sự, việc.

Kết quả là cái đạt được, thu được trong một công việc hoặc một quá trình tiến triển của một sự vật.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có dạy: Nền Ðạo lập nên là nhờ có lòng đạo đức và tánh khiêm cung của mỗi môn đệ của Ðức Từ Bi. Nếu đạp vào nẻo Ðạo mà còn bôn chôn tranh lướt theo thói thường tình thì dầu có bao nhiêu đạo hữu, bao nhiêu công quả đi nữa, mối Ðạo chẳng qua là một trường ngôn luận của thế gian đó thôi, chớ công quả đạo đức mong chi thấy sự kết quả xứng đáng đặng.

Đã biết vào vòng tua lấn bước,

Cái công kết quả chẳng bao lăm.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

 

 

KẾT TÓC

Kết: Thắt buộc lại. Tóc: Lông mọc ở phần trên và sau của đầu người từ trán vòng đến gáy.

Kết tóc, như chữ “Kết phát 結 髮”, là theo tục lệ xưa, trong ngày thành hôn, đêm hiệp cẩn, đôi vợ chồng mới cưới thường kết tóc cho nhau.

Do vậy, ông Tô Thức (tức Tô Đông Pha) mới viết hai câu: Kết phát vi phu phụ, ân nghĩa lưỡng bất nghi 結 髮 為 夫 婦, 恩 義 兩 不 宜, nghĩa là kết tóc làm vợ chồng, ân nghĩa trọn đôi đường.

Kết tóc, nghĩa bóng là kết duyên vợ chồng.

Cơn nghèo khó chia lao sớt nhọc,

Cuộc tử sanh kết tóc chẳng rời.

(Phương Tu Đại Đạo).

Kim thạch đồng tâm bách tuế giai,

Trần Trương kết tóc đặng lâu dài.

(Thơ Thông Quang).

 

 

KẾT TÓC XE TƠ

Kết tóc do tục lệ xưa, trong ngày thành hôn, đêm hiệp cẩn, đôi vợ chồng mới cưới thường kết tóc cho nhau.

Xe tơ chỉ việc xe duyên cho nên vợ chồng, do tích Vi Cố đi chơi gặp một ông già ngồi xem sách dưới trăng, tay cầm sợi chỉ đỏ. Vi Cố hỏi, ông đáp: Sách để ghi chép tên tuổi vợ chồng, sợi chỉ để buộc duyên phận.

Kết tóc xe tơ là ý muốn nói kết duyên nợ hay kết duyên vợ chồng với nhau.

Nhìn non chỉ nước trao lời hẹn,

Kết tóc xe tơ vẹn tiếng thề.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

KẾT THÂN

結 親

Kết: Thắt buộc với nhau. Thân: Gần gũi, thân thiết.

Kết thân có nghĩa là hai người cùng kết bạn thân thiết với nhau, hoặc trai gái kết duyên vợ chồng cùng nhau.

Mâm rượu kết thân thành sui nghĩa,

Khay trầu vầy cuộc hiệp hôn nhân.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

KÊU

1.- Kêu là phát ra tiếng tự nhiên do bản năng hoặc do kích thích. Như: Chim kêu, dế kêu, chuông kêu, kêu đau.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Con hạc lạc hồi quê, nhìn không nhớ tổ, xem nước non đổi vẻ thay màu, thảm thiết nơi lòng tuôn châu đổ ngọc, sắp muốn kêu cùng cuối một tiếng nỉ non giục kẻ tri âm hồi đáp.

Ve kêu hạ như dường trêu thảm,

Mưa sầu tuôn mấy dặm biệt ly.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Kêu là gọi để người khác đến với mình. Như kêu đò, kêu tên, kêu cửa.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Thầy giữ Nữ phái lại cũng vì con. Thầy kêu nó không đến, Thầy dạy nó không nghe, muốn phạt cho đáng kiếp mà bụng cũng chẳng đành.

Thiên Cơ đã lộ lúc khai Trời,

Kêu khách phàm trần đã hụt hơi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Với thế sự muốn cho no đủ,

Phải cậy công kêu hú ông tiền.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Kêu là than van, khiếu nại, nài xin. Như: Kêu Trời, kêu oan, kêu xin, kêu gào.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Thầy vì lòng từ bi thương môn đệ phong tịch lần nầy là lần chót, vì Tân Luật đã hoàn toàn, nếu chẳng do theo đó thì Lý Bạch hằng kêu nài, Quan Thánh và Quan Âm cũng hiệp sức mà dâng sớ kêu về sự ấy.

Câu kinh tiếng kệ gọi hồn,

Kêu thương khách tục, giải lòng người nhân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Tích xưa nhắc đến Đề Oanh,

Thương cha nên phải bán mình kêu oan.

(Nữ Trung Tùng Phận).

4.- Kêu là đọc hay nghe có vẻ hay, hấp dẫn, nhưng không có nội dung.

Như: Lời văn rất kêu, thích dùng chữ thật kêu.

Sách vở xưa đặt đọc cho kêu,

Mình lớn tiếng lời nhiều ai cũng sợ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

KÊU CA

Kêu: Nói để mọi người biết, hoặc cầu xin giải quyết cho điều oan ức.

Kêu ca có nghĩa là kêu xin.

Kêu ca còn dùng để chỉ sự kêu rêu để tỏ thái độ không bằng lòng.

Cái khổ của dân vì đó càng ngày càng chồng chất mà không biết kêu ca vào đâu?

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

KÊU GÀO

Kêu: La to, than van, nài nỉ. Gào: Kêu to, la lớn.

Kêu gào là gào to vì đau đớn, tức giận hoặc phẫn uất.

Thuyết về Lương Tâm, Đức Thượng Sanh có đoạn: Nhưng khi tiếng nói ấy dứt thì một tiếng nói khác tiếp theo, tiếng nói sau này chẳng phải dịu dàng. Khác với tiếng nói của lẽ phải. Ấy là tiếng kêu gào của xác thịt, của dục vọng, tức là của tà thần.

Kiếp ngựa trâu Việt chủng vận kêu gào,

Đá tinh vệ chừ bao cho lấp bể.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

KÊU NÀI

Kêu: Than van, nài nỉ. Nài: Yêu cầu, khẩn khoản xin.

Kêu nài là kêu ca nài nỉ, tức cầu xin bằng những lời lập lại nhiều lần thành khẩn.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Quan Thánh Đế Quân có dạy: Nền Ðạo chưa lập thành mà bên trong thì người biếng trau Thánh chất, nơi ngoài người lại muốn kêu nài so đo với các Ðấng Thiêng liêng, đặng làm cho rõ mình là thấy xa hiểu rộng.

Bị yêm ẩn hay là vì một duyên cớ nào khác mà phải bị lọt sổ, thì đặng quyền kêu nài đến Toà Đạo minh xét cho.

(Đạo Luật Mậu Dần).

 

 

KÊU RÉO

Kêu: Gọi để người khác đến với mình. Réo: Gọi, kêu lên to tiếng.

Kêu réo là vừa kêu vừa réo gọi.

Như: Làm gì đứng ngoài cửa kêu réo um xùm.

Cuộc hành tàng dòm thấy bắt gớm ghê!

Người kêu réo mãi không hề đếm xỉa.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

KÊU SƯƠNG

Kêu: Phát ra tiếng tự nhiên do bản năng hay do tự nhiên. Sương: Hơi nước ban đêm ở trên không rơi xuống.

Kêu sương là tiếng kêu trong màn sương.

Mùa đông đến thì nhạn vừa bay vừa kêu, nên người ta thường nói tiếng nhạn “kêu sương”.

Sách Cổ Kim Thi Thoại nói: Nhạn ở phương bắc đến kêu, là báo tin sương sẽ xuống. Đồng nghĩa với “Tin sương”, dùng để chỉ sự báo tin mùa đông đến.

Xem: Tin sương.

Mượn vận lương nhân xin nhắn nhủ,

Vườn xưa tiếng nhạn luống kêu sương.

(Bát Nương Giáng Bút).

Lỡ dỡ cung đàn, quyên nhắn bạn,

Ngập ngừng chung rượu, nhạn kêu sương.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

KIA

1.- Kia là tiếng chỉ người hay vật ở xa vị trí người nói, nhưng trong phạm vi có thể nhìn thấy cụ thể.

Như: Kẻ kia, nơi kia, chỗ kia.

Sai lầm một thuở biết ăn năn,

Năn nỉ lòng kia tự xét rằng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chầy ngày tuy chẳng thăm nhau đặng,

Mà tấm lòng kia vẫn luống gần.

(Thất Nương Giáng Bút).

Hồi nao chàng hỏi chị bên kia,

Sảng sốt day qua, ủa lạ kìa!

(Thiên Thai Kiến Diện).

2.- Kia là từ dùng để chỉ một thời điểm nào đó không được xác định.

Như Ngày kia, trước kia nó còn khờ, mai kia mốt nọ.

Lỡ buổi trước kia chưa thấy Phật,

Còn nay công tội có người biên.

(Đạo Sử).

 

 

KÌA

Kìa là tiếng dùng để chỉ vật gì ở xa vị trí người nói.

Như: Kìa nó đã đến, xem kìa có ngôi sao băng.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Lần lựa cúc xủ sương tan, mai gầy sen nở, ngày tháng qua chẳng là bao mà thế thái nhơn tình biết bao thay đổi! Kìa đai cân nhuộm nước màu thiền, nọ danh lợi xủ lằn trí huệ!

Kìa những gái lẫy lừng hạnh xấu,

Bỏ vạc đồng đốt nấu thảm kinh.

(Kinh Sám Hối).

Kìa lóng non Kỳ reo tiếng phụng,

Nầy xem nước Lỗ biến hình lân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

KÍCH BÁC

擊 駁

Kích: Tấn công, bài xích. Bác: Phản đối, không chịu, không chấp nhận.

Kích bác là nêu ra những điều xấu xa, sai lầm của người khác để hạ uy tín.

Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy: Nhiều đứa nhờ công quả chút ít mà đặng Thầy trọng dụng, là có ý để cho chúng nó đặng vui lòng mà bước tới, dè đâu đã chẳng trông sợ nơi lịnh Thầy, lại lấy ý riêng mà làm cho có lời kích bác trong đạo. Thầy hỏi: Có đáng tội chăng?

Chưa ai thấu đáo cơ Trời,

Rồi ra kích bác lắm lời dị đoan.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Om sòm nghị luận khắp nơi,

Người thời kích bác, kẻ thời hiềm nghi.

(Thơ NĐS Hương Thanh).

 

 

KÍCH NHƯỠNG

擊 攘

Kích nhưỡng là một trò chơi thời cổ, chỉ cảnh yên vui thời thái bình thạnh trị.

Vào đời vua Nghiêu, đất nước thanh bình, nhân dân an lạc, thường có những cụ già kích nhưỡng mà ca rằng: Nhật xuất nhi tác, nhật nhập nhi tức, tạc tỉnh nhi ẩm, canh điền nhi thực. Đế lực ư ngã hà hữu tai! 日 出 而 作, 日 入 而 息. 鑿 井 而 飲, 耕 田 而 食. 帝 力 於 我 何 有 哉, nghĩa là mặt trời mọc thì làm, mặt trời lặn thì nghỉ. Đào giếng mà uống, làm ruộng mà ăn. Công sức của vua nào có đối với ta.

Sinh thời cộng hưởng vui xâu thuế,

Kích nhưỡng nhi ca khỏi chiến chinh.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

KỊCH

1.- Kịch, như chữ “Kệch”, là thô, không bóng bẩy, nhìn không thích mắt.

Như: To kịch, lời thô tiếng kịch, người xem quê kịch, chiếc vali kịch cợm.

Sắm vật liệu trong nhà đẹp đẽ,

Đừng kịch thô mất vẻ thanh nhàn.

(Phương Tu Đại Đạo).

Nên chẳng quản lời thô tiếng kịch,

Cầu đàn bà con nít đọc cho nhiều.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Kịch là một môn nghệ thuật dùng sân khấu để trình diễn tuồng tích.

Như: Màn kịch, bi hài kịch, xảy ra một thảm kịch.

Hại nỗi, hạnh phúc đâu chẳng thấy, chỉ gây cho nhân loại một tấm thảm kịch tương sát, tương tàn.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

KỊCH CỢM

Kịch: Như chữ kệch, là thô, không bóng bẩy, nhìn không thích mắt.

Kịch cợm như chữ “kệch cỡm”, không có sự hài hoà giữa các bộ phận, yếu tố.

Như: Thân hình to lớn kịch cợm.

Xưa kia có người lính cầm lọng cho Yến Tử là quan Tể Tướng. Ông nầy thì nhỏ người, còn chú lính cầm lọng thì to lớn kịch cợm.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

KỊCH LIỆT

劇 烈

Kịch: Rất mạnh. Liệt: Bạo tợn.

Kịch liệt là rất dữ tợn, chỉ mạnh mẽ và quyết liệt.

Đại Thừa Chơn Giáo có câu: Ôi! đời đã đến thế thì đời chỉ là một trường tranh đấu kịch liệt, một cuộc tàn sát gớm ghê, nạn khổ dẫy đầy, đao binh chất ngất, đạo tặc lung tung cho đến đỗi cùng chung một bọc, cùng chung một nòi, mà cũng tương tàn, tương sát lẫn nhau cho vừa lòng dục, thì còn chi phong tục, kỷ cương, tình nghĩa!

Thấy đôi bên đánh nhau kịch liệt,

Bửu bối ta quả thiệt thần thông.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

KIÊM

Kiêm là gồm. Như: Kiêm nhiệm, Lý Đại Tiên Trưởng kiêm Giáo Tông Đại Đạo.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bần Đạo giảng giải nhơn dịp ngày lễ của Ngài (Lý Đại Tiên Trưởng), Bần Đạo cũng nên nhắc công nghiệp của Ngài, đã cầm quyền Nhứt Trấn Oai Nghiêm, còn phải chịu vì Đạo, buộc mình kiêm luôn chức Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, tức là anh cả toàn Thánh Thể của Đức Chí Tôn.

Thiên Ðịa Càn Khôn kiêm vạn loại,

Nhơn quần thảo mộc cập chư hoa.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thay Lão Giáo cầm quyền Nhứt Trấn,

Kiêm Giáo Tông độ dẫn nguyên nhân.

(Cội Đạo Bốn Mùa).

 

 

KIẾM

1.- Kiếm là tìm. Như: Tìm kiếm, kiếm thế làm ăn, kiếm lời, kiếm trẻ bị lạc.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Sanh nhằm đời có một Ðạo chánh chẳng phải dễ, mà bước lên con đường chông gai, lần vào non thẳm kiếm ngọc lại càng khó. Khó dễ nơi lòng, chớ đem thói ám muội mờ hồ vào đường đạo đức, sau ăn năn rất muộn.

Chim khôn biết kiếm đậu cây lành,

Người thiện phải ngừa đức háo sanh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cao quyền khó kiếm đặng cao ngôi,

Ðạo đức gầy nên đã phải hồi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Kiếm là cây gươm. Như: Đấu kiếm, múa kiếm, huệ kiếm, long tuyền kiếm.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Cái khổ nhục của anh (chỉ Quyền Giáo Tông) đó, các em đã dùng nó đặng tạo nghiệp Thiêng liêng cho thế gian này, cái khổ nhục của anh nó làm ngọn huệ kiếm đặng bảo trợ đoàn em của anh, đem cái công lý, cái bác ái làm chúa của mặt địa cầu đặng chuyển lại cơ tận diệt trở nên một cái cơ tận độ.

Ngục đao kiếm cầm giam phạm ác,

Tánh gian dâm hành phạt gớm ghê.

(Kinh Sám Hối).

Nắm huệ kiếm định thâu trái chủ,

Mặc đạo y sạch giũ phồn hoa.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

KIẾM CUNG

劍 弓

Kiếm: Gươm đao. Cung: Khí giới thời xưa, gồm một thanh gỗ uốn cong, hai đầu nối với nhau bằng sợi dây căng, dùng sức bật để bắn tên.

Kiếm cung là cây kiếm và cây cung, là binh khí thời xưa, dùng để chỉ con nhà võ, hay nghề võ.

Nên thì an phận kiếm cung,

Hư thì khổ vợ tội chồng chung nhau.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Đã toan lãnh phận kiếm cung,

Đường tên mũi đạn để dùng bia danh.

(Xuân Hương Giáng Bút).

 

 

KIẾM THƯ HÙNG

Kiếm: Gươm. Thư hùng: Trống, mái.

Kiếm thư hùng là một cặp kiếm báu, gồm cây trống và cây mái, tức là cây âm và cây dương.

Sách Ngô Địa Chí có chép: Can Tương ngày xưa có đúc hai thanh kiếm cho vua Ngô, một cây kiếm trống, tên là Can tương và một cây kiếm mái, tên Mạc da gọi chung là “Thư hùng kiếm 雌 雄 劍”. Nhưng Can Tương chỉ dâng thanh hùng kiếm, còn giấu thanh thư kiếm. Thanh thư kiếm còn lại thỉnh thoảng réo lên những tiếng đau thương.

Có bản khác chép gươm trống là Long Tuyền kiếm, gươm mái là Thái A kiếm.

Trong tôn giáo Cao Đài, cổ pháp của Đức Thượng Sanh gồm cặp thư hùng kiếm và cây phất chủ.

Xem: Can Tương.

Chẳng ai nắm kiếm Thư Hùng,

Thành nghiêng khôn đở, vạt rùng khôn nâng.

(Ngụ Đời).

Bảo tồn đại nghiệp trong cơ khảo,

Chuyển kiếm thư hùng diệt ác ma.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

KIỂM DƯỢT

Hay “Kiểm duyệt”.

Kiểm: Xét, tra. Dượt (duyệt): Xem xét.

Kiểm dượt, như chữ “Kiểm duyệt 檢 閲”, là tra xét kỹ lưỡng.

Kiểm duyệt còn có nghĩa là xem xét kinh sách, báo chí trước khi cho in. Trong Đạo Cao, Hội Thánh giao phó nhiệm vụ kiểm duyệt kinh sách cho một Ban, gọi là Ban Kiểm Duyệt.

Pháp Chánh Truyền Chú Giải có câu: Nói rằng có quyền xem xét kinh điển trước lúc phổ thông thì tức phải kiểm duyệt các kinh điển ấy trước khi xuất bản.

Như điều chi mơ hồ thì chúng nó (Chỉ Giáo Hữu) là kẻ sai đi kiểm duợt.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

KIỆM

Kiệm là dành dụm, dè dặt, không hoang phí. Như: Tiết kiệm, cần kiệm, người khó của kiệm.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Các con đã hiểu Thánh ý Thầy, phải cần kiệm, mỗi sự chi vì phương tiện mà thôi.

Thà tiết kiệm hằng ngày no đủ,

Tánh siêng năng lam lũ làm ăn.

(Kinh Sám Hối).

Dầu giàu sang ăn kiệm ở cần,

Nhịn mớ áo che thân cho kẻ khó.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

KIỆM CẦN

儉 勤

Kiệm: Tằn tiện, không tiêu xài hoang phí. Cần: Siêng năng, cần mẫn.

Kiệm cần, như chữ “Cần kiệm 勤 儉”, có nghĩa là tiện tặn, không phung phí và siêng năng cần mẫn.

Xem: Cần kiệm.

Trọng câu phước đức dạ lo nhân,

Phải mặt thanh liêm giữ kiệm cần.

(Đạo Sử).

Thìn lòng ẩn nhẫn đợi đôi năm,

Con khá từ đây biết kiệm cần.

(Đạo Sử).

 

 

KIÊN

Kiên là bền. Như: Kiên nhẫn, kiên tâm, kiên chí.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có đoạn: Ðành rằng tìm ra mối Ðạo là do nơi ba vị Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh. Nhưng nếu không có Ðức Hộ Pháp là người có sứ mạng đặc biệt về mặt bí pháp và có sẳn kiên tâm trì chí thì Ðạo Cao Ðài cũng không thể lập thành.

Ngọc không trau chuốt khó nên hình,

Người chẳng kiên tâm trọng hoá khinh.

(Đạo Sử).

Vàng lửa cùng chung một giống nòi,

Làm gương kiên nhẫn để người soi.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

KIÊN CỐ

堅 固

Kiên: Bền. Cố: Vững.

Kiên cố là chắc chắn và bền vững, khó có thể hư hỏng, phá vỡ được.

Huấn từ Đức Thượng Sanh có dạy: Chúng ta phải cố gắng giữ gìn cái sức mạnh tinh thần đó còn nguyên mãi vẹn mãi mãi, để làm nền tảng kiên cố cho cơ quan phổ độ tồn tại đến thất ức niên...

Kiên cố hai hàng song cửa sắt,

Lạnh lùng bốn mặt vách tường vôi.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

KIÊN GAN

Kiên: Bền, cứng. Gan: Gan của người, biểu tượng cho tinh thần, ý chí mạnh mẽ, bền bỉ, không lùi bước trước khó khăn.

Kiên gan là bền gan, ý muốn nói bền lòng.

Như: Kiên gan trì chí.

Phước lành nhuần gội bởi công tu,

Khó nhọc kiên gan trải dặm cù.

(Thơ Thượng Sanh).

Ba đào sóng bủa bởi thuyền to,

Lèo lái kiên gan vững phận trò.

(Thơ Thân Dân).

 

 

KIÊN NHẪN

堅 忍

Kiên: Bền vững. Nhẫn: Chịu đựng.

Kiên nhẫn là bền lòng làm việc gì khó khăn mà không thối chí, hoặc bền lòng chịu đựng những nỗi khổ đau, vất vả.

Thánh giáo Đức Hộ Pháp trong Thánh Ngôn Sưu Tập có câu: Bần đạo đã lắm nhọc nhằn và hết sức kiên nhẫn mới để lại chút ít công nghiệp, thì các bạn cũng nên vì Thầy vì Đạo mà giữ gìn sự nghiệp ấy cho được trường tồn, thì Bần đạo rất vui lòng và cám ơn các bạn.

Đòi phen kiên nhẫn dìu hồn nước,

Lắm lúc truân chuyên giữ đạo nhà.

(Thơ Hộ Pháp).

Kiên nhẫn noi gương mưu Phạm Lãi,

Phuông tranh học lấy kế Trương Lương.

(Thượng Phẩm Giáng Bút).

 

 

KIÊN TÂM

堅 心

Kiên: Bền bỉ, cứng cỏi. Tâm: Lòng.

Kiên tâm là bền lòng, vững lòng, có nghĩa là giữ lòng thật vững chắc và bền bỉ.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Mặc dầu đạt tới chỗ hoàn thiện là một việc quá khó, nhưng nếu muốn tự giải thoát, chúng ta phải ráng sức, bền chí kiên tâm, chịu hy sinh cuộc đời vật chất xa hoa, lánh bả lợi danh, sống hoàn toàn trong mặt Đạo...

Ngọc không trau chuốt khó nên hình,

Người chẳng kiên tâm trọng hoá khinh.

(Đạo Sử).

Dạy cho biết kiên tâm nhẫn tánh,

Đoán hư nên nết hạnh đờn bà.

(Phương Tu Đại Đạo).

Thuyền từ đang buổi sóng nhồi to,

Dìu Đạo kiên tâm mới phải trò.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

KIÊN TÂM NHẪN TÁNH

堅 心 忍 性

Kiên tâm: Bền lòng. Nhẫn tánh: Giữ tánh kiên trì, bền bỉ chịu đựng những khó khăn, vất vả.

Kiên tâm nhẫn tánh là giữ tâm tánh kiên trì, bền bỉ chịu đựng những khó khăn vất vả.

Dạy cho biết kiên tâm nhẫn tánh,

Đoán hư nên nết hạnh đờn bà.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

KIÊN TRINH

堅 貞

Kiên: Cứng rắn, cương quyết. Trinh: Tiết trinh, tức là lòng trong sạch của người đàn bà hay người vợ.

Kiên trinh là người có tinh thần giữ vững lòng trung thành, trước sau như một.

Kiên trinh còn dùng để chỉ giữ bền lòng trinh tiết, nghĩa là lòng trong sạch bền vững của người đàn bà đối với chồng.

Văn Tế Thượng Phẩm của chức sắc HiệpThiên Đài có đoạn: Trước từng trải Biên hoà, Sài Gòn, Gia Ðịnh, mới lần qua cửa Tiểu, đã mấy buổi nắng mưa cam chịu, Ðấng Tạo Ðoan soi tỏ rõ tấm kiên trinh, rồi lại từ Mỹ Tho, Sa Ðéc, Long Hồ, mà thẳng tới Bạc Liêu, biết bao phen sương tuyết dãi dầu, ơn Thượng Phẩm đáng ghi vào nơi phế phủ.

Để lời nhủ bạn quần thoa,

Kiên trinh liệt nữ phẩm nhà chớ quên.

(Bát Nương Giáng Bút).

Nhớ chồng thấy trẻ não nồng,

Đông ơi! Đông biết tấm lòng kiên trinh?

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

KIẾN

1.- Kiến là một loại côn trùng ở dưới đất, có lưng eo, thường sống thành từng đàn.

Như: Kiến lửa, kiến cánh, người đông như kiến, kiến tha lâu đầy tổ.

Kìa ong kiến tha mồi dành để,

Cơn khốn cùng có thể nuôi thân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Mới bày đặt chia đường rẽ ngõ,

Ong lìa bầy kiến nọ bỏ hang.

(Thơ NĐS Hương Thanh).

2.- Kiến là thấy, gặp, tiếp xúc.

Như: Kiến giải, kiến thức, kiến văn, kiến nghĩa bất vi vô dõng dã, ý kiến, cao kiến, tiếp kiến.

Thánh giáo Đức Thái Thượng Đạo Tổ có câu: Cơ Trời mầu nhiệm đối với Ðời, mà máy Thiên cơ đối với Ðạo, lại càng huyền vi thâm trọng hơn nữa, có lẽ tâm phàm dầu cao kiến đến đâu cũng chưa đạt thấu được.

Năm Rồng đỡ nổi đầu thuyền,

Vào cung Tuyệt Khổ kiến Huyền Thiên Quân.

(Kinh Tận Độ).

Kỵ kim quang kiến Lão Quân,

Dựa xe Như Ý oai thần tiễn thăng.

(Kinh Tận Độ).

 

 

KIẾN CÔNG LẬP VỊ

建 功 立 位

Kiến công: Gây dựng nên công quả, hay công nghiệp. Lập vị: Tạo lập nên ngôi vị.

Kiến công lập vị là tìm cách gây dựng công quả để tạo lập phẩm vị nơi cửa Đạo, hay tạo dựng quả vị nơi cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Ðường đời khúc mắc chông gai là lẽ Thiên cơ đã định vậy; cái nơi để cho cả chư Thần, Thánh, Tiên, Phật đến kiến công lập vị.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

KIẾN CƠ

見 機

Kiến: Thấy. Cơ: Máy móc, cơ hội then chốt của mọi công việc).

Kiến cơ là thấy rõ trước mọi biến chuyển, hoạ phúc, lợi hại để phòng tránh hay hưởng lợi.

Trong Kinh Dịch có nói: Quân tử kiến cơ nhi tác. Nghĩa là người quân tử cần phải quan sát thấy được điềm báo trước, cơ hội tốt mà hành động thì mới đạt được thành công chắc chắn.

Kiến cơ thì khá biết dùng cơ,

Tu luyện nay xem đã phải giờ.

(Đạo Sử).

 

 

KIẾN DIỆN

見 面

Kiến: Thấy. Diện: Mặt mày.

Kiến diện là thấy mặt.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Duy dân Tây Tạng họ được hạnh phúc kiến diện Thiên Nhan còn chúng ta chưa. Ước ao cả toàn sắc dân yêu ái chơn chánh nhứt tâm nhứt đức giữ hiếu cùng Ngài, giữ trung cùng Ðạo, may ra sau nầy sẽ có Ngài ngự thì hạnh phúc ấy sẽ ghi tạc sử xanh, để ngàn đời như Ðền Lama.

Chí Ðồng đắc kiến diện Thần Nông,

Bác ái tương tâm khấn bạch hồng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tiếc nuối khi đây chưa kiến diện,

Trễ tràng thì đó mệnh an bài.

(Thơ Ngọc Cội Thanh).

 

 

KIẾN DIỆN THIÊN THAI

Kiến Diện Thiên Thai, bởi chữ “Thiên Thai Kiến Diện 天 台 見 面”, là tên một tác phẩm bằng thơ Đường của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, viết tại Hộ Pháp Đường vào năm Đinh Mão 1927.

Tác phẩm gồm 77 bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú, ghi lại những điều mắt thấy tai nghe, khi Ngài xuất chơn thần lên du trên miền Thiên Thai.

Xem: Thiên Thai Kiến Diện.

Kiến Diện Thiên Thai lòng hớn hở,

Tắm ao Thất Bửu gội trong nần.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

KIẾN GIÁ

見 駕

Kiến: Thấy, gặp gỡ. Giá: Xe của vua đi.

Kiến giá là đến trước xe để gặp vua.

Trong tôn giáo Cao Đài chữ “Kiến giá” dùng để chỉ chư chức sắc và tín đồ chầu lễ Đức Chí Tôn.

Chư hiền hữu chỉnh tề đợi kiến giá Chí Tôn.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

KIẾN TÁNH

見 性

Hay “Kiến tính”.

Kiến: Thấy. Tánh (Tính): Bản tánh của con người, tánh nầy vốn lành, nên được gọi là Thiên tánh hay Phật tánh.

Kiến tánh là “Thấy tánh”, là thấy được tự tánh của mình, thấy được bản thể chân thật của mình vốn sáng suốt trong lặng, tức là thấy được Thiên tánh, Phật tánh hay Viên minh tánh.

Chúng ta hiện diện trên cõi đời này mỗi người đều mang sẵn một “Chơn tánh”, nhưng vì xa rời nó để đi vào sanh tử rồi thì cứ theo dòng mê mà trôi nổi bềnh bồng chịu mọi khổ đau như lời Sám “Quy mạng” của Phật viết: “Đệ tử chúng đẳng tự di chơn tánh, uổng nhập mê lưu, tuỳ sanh tử dĩ phiêu trầm...”. Từ bỏ Chơn tánh là mất tánh sáng suốt thì phiền não trần lao sẽ phát sinh làm khổ luỵ thân tâm và mãi mãi luân hồi.

Kiến tánh tức là cùng Phật đồng tánh, thấy sáng Đạo nhiệm mầu, các điều vọng niệm thảy điều tiêu tan, sống ở chơn tâm hoàn toàn giải thoát.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

KIẾN TẠO

建 造

Kiến: Xây dựng. Tạo: Làm ra.

Kiến tạo là làm nên, hay tạo ra.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bần Đạo thấy Ngài (chỉ Ngài Khai Pháp) buồn kiếm chước cho vui đỡ, và lần lượt kiến tạo Trí Giác Cung được khuyên Ngài vào ở cho an tịnh cho bớt cảnh thảm hoạ trên diễn mãi trước mắt hằng ngày.

Sơ khai kiến tạo nhớ công Thầy,

Đồ Đệ tuân hành sự nghiệp đây.

(Thơ Hộ Pháp).

Rường cột đạo mầu chung kiến tạo,

Bao đành phân nẻo cách đông tây.

(Thơ Võ Thành Lượng).

 

 

KIẾN THÂN

見 親

Kiến: Thăm viếng, gặp gỡ. Thân: Cha mẹ.

Kiến thân là thăm viếng, gặp gỡ chăm nom cha mẹ.

Theo Đạo lý xưa, người con hiếu thảo hằng ngày phải thăm viếng để chăm nom cha mẹ gọi là “Thần hôn định tỉnh” có nghĩa Sớm thăm tối viếng.

Kiến thân viếng sớm thăm hôm,

Chua cay rõ miếng cơm ngon cá bùi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

KIẾN THIẾT

建 設

Kiến: Xây dựng. Thiết: Sắp đặt.

Kiến thiết là xây dựng theo một quy mô lớn, tức sắp đặt, tổ chức để xây dựng một công trình.

Diễn văn Đức Thượng Sanh đọc khi tiếp rước quốc Trưởng có đoạn: Bệnh viện nầy dùng cho chư thiện tín, phần nhiều ở giai cấp vô sản, khi lâm bịnh có nơi chỗ nằm điều trị khỏi tốn kém. Công việc kiến thiết này sắp được thực hiện và toàn thể Ðạo hữu sẽ được chung hưởng cái đặc ân của Quốc Trưởng trong ngày gần đây.

Thánh Toà xưa khởi lợp tranh xanh,

Kiến thiết tròn đêm chóng lập thành.

(Bảo Văn Pháp Quân).

Kiến thiết quốc gia đời chí hướng,

Hoà bình thế giới đạo tâm nguyền.

(Thông Quang).

 

 

KIẾN THỨC

見 識

Kiến: Nhận định ý thức. Thức: Hiểu biết.

Kiến thức là những điều hiểu biết có được do từng trải, hoặc nhờ học tập.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Muốn tự sửa mình trước phải giữ lòng dạ cho ngay thẳng, muốn giữ lòng dạ ngay thẳng trước phải luyện ý mình được thành thật, muốn cho ý mình thành thật, trước phải có kiến thức chu đáo và muốn có kiến thức chu đáo phải học và tìm biết suốt tới chỗ uyên thâm của sự vật.

Bố hoá chư Đệ tử tu chơn luyện tánh, đào tạo tinh thần trí não, kiến thức quang minh.

(Sớ Văn).

 

 

KIẾN TRÚC

建 築

Kiến: Xây dựng. Trúc: Xây đắp.

Kiến trúc là xây cất, hay xây dựng nhà cửa, chùa chiền, Thánh Thất...

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Ðã bao lâu rồi Hội Thánh có ý định xây cất Chánh môn Toà Thánh theo sự trù hoạch của Ðức Hộ Pháp từ trước. Nhưng vì tài chánh eo hẹp, lại nữa trong vùng nội ô có nhiều sự kiến trúc và tu bổ cấp bách cần phải lo trước, nên không thể thực hành ý định sớm hơn được.

Xem: Ban Kiến Trúc.

Hình Tứ linh chung quanh đắp nổi,

Kiến trúc đều mỗi mỗi dày công.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

KIỆN

1.- Kiện là đem nhau lên thưa ở cửa quan hoặc toà án cho rõ phải trái. Như: Thưa kiện, đem đơn kiện ra toà.

Dạy về giới tà dâm, Thánh giáo Đức Chí Tôn có đoạn: Khi các con thoát xác, thì nó đến tại Nghiệt Cảnh Ðài mà kiện các con. Các con chẳng hề chối tội đặng. Phải giữ gìn Giới Cấm ấy cho lắm!

Gặp thây nuốt sống ăn tươi,

Vì bày thưa kiện móc bươi xúi lời.

(Kinh Sám Hối).

Xúm kiện Long Vương rằng ác nghiệt,

Ðều thưa Lôi Chấn ở không ngay.

(Thiên Thai Kiến Diện).

2.- Kiện là gói, bao, điều kiện, sự kiện.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Phật giáo cho rằng điều kiện cần thiết của sự giải thoát là Tự lực nghĩa là phải có sự nổ lực cố gắng của chính con người muốn giải thoát, bằng không thì dụng phương pháp nào cũng chỉ là vô ích.

Thương Dương giống một chân ở biển,

Nó múa là điều kiện đề phòng.

Ba hôm trời bão mưa dông,

Nước Lỗ biết trước nên không thất mùa.

(Báo Ân Từ).

3.- Kiện là khoẻ, mạnh. Như: Kiện tướng, kiện tỳ, kiện khương, tráng kiện.

Thánh giáo Thầy có câu: Phương chi ràng buộc hình hài, thần hao trí mệt cả ngày, rốt lại còn chi tráng kiện mà xa lo rộng nghĩ?

Con cầu xin mảnh hình tráng kiện,

Giúp nên công xây chuyển cơ Đời.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

KIỆN CÁO

Kiện: Nạp đơn yêu cầu xét xử người đã làm thiệt hại cho mình. Cáo: Báo trình, tố giác.

Kiện cáo là làm đơn thưa ra trước toà án.

Kiện cáo đồng nghĩa với kiện tụng.

Trong Tân Luật, Điều thứ hai Thế luật có quy định: Nhập Đạo rồi phải quên những việc oán thù nhau khi trước; phải tránh việc ganh ghét tranh đua và kiện cáo; phải nhẫn nhịn và hoà thuận với nhau. Rủi có điều chi xích mích, phải vui nghe người làm đầu trong Họ phân giải.

Ngặt đời lại ưa điều hung bạo,

Mảng tranh giành kiện cáo phải hư nhà.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

KIỆN TOÀN

健 全

Kiện: Mạnh mẽ. Toàn: Trọn vẹn, hoàn toàn.

Kiện toàn là mạnh mẽ bình an.

Kiện toàn còn có nghĩa làm cho có đầy đủ bộ phận về mặt tổ chức để có thể hoạt động bình thường.

Muốn kiện toàn sức khoẻ, phải giữ vệ sinh thân mình, phải ăn uống có điều độ, tránh xa tửu sắc làm cho thân thể con người phải tiều tuỵ.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

KIỆN TỤNG

Kiện: Đem nhau lên thưa ở cửa quan hoặc toà án cho rõ phải trái. Tụng: Kiện, thưa ra quan, hay toà án.

Kiện tụng là nói chung về sự thưa kiện ra cửa quan hoặc toà án.

Mỗi cá nhân không nên chiều theo thị dục mà gây sự tranh chấp hơn thua với nhau, gây nên kiện tụng liên miên, tạo ra cảnh rối loạn như ở bến chợ đời.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

KIỆN THƯA

Kiện: Yêu cầu xét xử người đã làm thiệt hại mình. Thưa: Bày tỏ nỗi oan ức, tức tối của mình với cấp trên.

Kiện thưa, như chữ “Thưa kiện”, là đưa đơn thưa trước Toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền xét xử.

Trong Tân Luật, Điều Ngũ Bất Vọng Ngữ có câu: là cấm xảo trá láo xược, gạt gẫm người, khoe mình, bày lỗi người, chuyện quấy nói phải, chuyện phải thêu dệt ra quấy, nhạo báng, chê bai, nói hành kẻ khác; xúi giục người hờn giận, kiện thưa xa cách; ăn nói lỗ mãng, thô tục, chửi rủa người; huỷ báng tôn giáo, nói ra không giữ lời hứa.

Những sự kiện thưa, những điều sái luật đạo, đã đặng tin quả quyết, thì chẳng đặng phép yêm ẩn, ngó lơ, buộc phải giao cho Thông Sự phán xử.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

KIÊNG

1.- Kiêng là tránh không dùng những thức ăn nào đó, hoặc không làm những việc gì đó, vì cho rằng có hại cho sức khoẻ.

Như: Ăn kiêng, kiêng quét nhà vào sáng mồng một tết, kiêng con số mười ba.

Vợ tốt rượu ngon và thịt béo,

Ham ưa vật chất chẳng hề kiêng.

(Đạo Sử).

Lưỡi lừa miếng nhai cơm lũ trẻ,

Kiêng vật ăn đặng để nuôi con.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Kiêng là tránh động chạm đến, vì nể sợ, hoặc vì kính trọng.

Trong Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn viết: Chức vị sang trọng của mình sống như cọp vậy, bắt được thịt ăn cho đã rồi nằm ỳ ra đó ngủ mà chúng cũng kiêng cũng sợ, nhưng chúng chưa biết thương, sống như cá Ông không ai thấy, mà chiếc ghe nào chìm thì cá Ông cũng đỡ. Cái sống con cọp không có ai thờ, còn cái sống của cá Ông có người ta thờ.

Đừng có cậy giàu sang chẳng nể,

Không kiêng chồng khi dể công cô.

(Kinh Sám Hối).

Thế đời càng dữ càng kiêng đức,

Võ lực hùng oai cũng chẳng màng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Quen trò khi bạn lời ganh ghét,

Nể mặt không kiêng có Ðất Trời.

(Đạo Sử).

 

 

KIÊNG DÈ

Kiêng: Tránh động chạm đến vì nể sợ. Dè: Tự hạn chế trong hành động, tránh không đụng đến.

Kiêng dè, như chữ “Kiêng nể”, là không dám động đến, vì kính trọng hoặc nể sợ.

Tường đông bóng nguyệt xế đầu nhành,

Con đã kiêng dè sợ Ðấng sanh.

(Đạo Sử).

 

 

KIÊNG NỂ

Kiêng: Tránh động chạm đến vì nể sợ. Nể: Cảm thấy khó có thể làm trái ý, làm mất lòng vì tôn trọng.

Kiêng nể là không dám động chạm đến vì kính trọng, hay nể sợ.

Pháp Chánh Truyền Chú Giải có đoạn dạy: Quyền hành chánh trị về phần Đầu Sư, mà quyền hành sự về Chánh Phôi Sư, bằng chẳng vậy thì ngôi Giáo Tông, Đầu Sư cũng không kiêng nể, vì đã nhứt thống quyền chánh trị và luật lệ.

Thảng như, không có quyền hành ấy ta nói mặt thế gian này không ai biết sợ ai, không ai biết kiêng nể ai, thì sống như vật vậy.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

KIÊNG OAI

Kiêng: Tránh động chạm đến vì nể sợ. Oai (uy): Có dáng vẻ tôn nghiêm hoặc uy quyền, khiến người ta nể sợ.

Kiêng oai là thấy cái uy lực của người mà kính nể, kiêng sợ.

Trùm đời trung nghĩa chúng kiêng oai,

Trời khiến thay quyền Khổng Thánh nay.

(Quan Thánh Đế Quân).

Vốn Đấng cầm quyền gieo Đạo cả,

Dầu cho nhựt nguyệt cũng kiêng oai.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

KIÊNG VÌ

Kiêng: Tránh không phạm đến, hay động chạm đến, vì kính trọng, nể sợ. Vì: Nể.

Kiêng vì, như chữ “Kiêng nể”, là không dám động đến vì kính nể.

Như: Ăn nói không kiêng vì một ai.

Khi nào anh được kiêng vì,

Thì anh nên nhớ những khi tan hình.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

KIẾNG

1.- Kiếng là kính đeo vào mắt. Kiếng còn dùng để chỉ tấm gương soi.

Như: Kiếng cận thị, mắt đeo kiếng, đứng soi mình trước tủ kiếng.

Năng chùi lau, tủ, kiếng, ghế, bàn,

Đừng để đóng làng khan bụi nhện.

(Phương Tu Đại Đạo).

Tỷ khác nào tấm kiếng chụp hình,

Có bóng chói đã in mọi vật.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Kiếng, do chữ “Kính ” đọc trại ra, có nghĩa là tôn trọng ở trong lòng.

Như: Cúng kiếng (do chữ cúng kính mà đọc trại ra), kiếng lão đắc thọ (Kính lão đắc thọ).

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Quan Âm Bồ Tát có dạy: Các em phải lo cúng kiếng thường.

Tình huynh đệ tày non tợ biển,

Nghĩa hữu bằng phải kiếng phải tin.

(Giới Tâm Kinh).

 

 

KIỂNG

Kiểng là cảnh, hay cây, hoa được tạo dáng để nhìn, ngắm, giải trí.

Như: Cây kiểng, hoa kiểng, kiểng vật.

Ca dao có câu: Bồn hư nên kiểng vội tàn, Đó đừng sầu não khiến đây càng sầu thêm.

Lấy ba ton vòng kiểng hai nơi,

Hai một ngả ba thời một ngả.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

KIỂNG VẬT

Kiểng: Cây cảnh bày ra trước mắt. Vật: Tiếng gọi chung các loài trong trời đất.

Kiểng vật, như chữ “Cảnh vật 景 物”, là phong cảnh và hình tượng các vật, nói cách khác, cảnh thiên nhiên bày ra trước mắt.

Như: Kiểng vật quanh nhà dường như ủ rũ.

Xem: Cảnh vật.

Kiểng vật thường tưới nước cho tươi,

Có cây cối thở hơi tinh khiết.

(Phương Tu Đại Đạo).

Dùng kiểng vật đá cây làm bảng,

Dạy đếm cho biết đặng đến mười.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

KIẾP

1.- Kiếp chỉ khoảng thời gian sống của một con người từ lúc sinh ra cho đến lúc chết. Như: Kiếp trước, kiếp nầy, mối thù truyền kiếp, ăn đời ở kiếp.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Thánh giáo Thầy có dạy: Ðã bị tội cùng Thiên đình thì bị hành phạt. Nơi kiếp sống nầy, nếu không biết tu, buổi chung quy sẽ mắc tội nơi Thiên đình.

Một kiếp muối dưa muôn kiếp hưởng,

Ðôi năm mệt nhọc vạn năm bường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Kiếp tu xưa tiếc chưa nên Ðạo,

Oan trái phủi rồi phép Phật thông.

(Đạo Sử).

2.- Kiếp chỉ thân phận của con người, coi như một định mệnh, một sự đày đoạ khổ sở. Như: Kiếp đoạ đày, kiếp phong trần.

Thánh giáo Thầy có câu: Còn như biết khôn thì ẩn núp tại thế mà làm một bậc Nhân Tiên thì kiếp đoạ trần cũng còn chưa mãn.

Cái kiếp hồng nhan kiếp đoạ đày,

Phải làm cho gái hoá ra trai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thôi đành kiếp nớt non gượng sống,

Sống vì con chẳng sống vì thân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

KIẾP CĂN

劫 根

Kiếp: Kiếp sống, nghĩa là đời người. Căn: Gốc rễ.

Kiếp căn là cái gốc rễ của kiếp sống, tức là những việc làm thiện hay ác của kiếp trước, tạo thành cái gốc rễ (Còn gọi là nghiệp) ảnh hưởng đến kiếp này, làm cho kiếp này sung sướng hay khổ sở, giàu sang hay nghèo hèn. Kiếp căn đồng nghĩa với “Căn sanh”.

Gởi hồn phách cho chàng định số,

Gởi kiếp căn chàng mở dây oan.

(Kinh Thế Đạo).

Lành dữ kiếp căn gần ngàn lượt,

Một phen lau sạch nợ thờ ơ.

(Đạo Sử).

Thấy nhi nữ kiếp căn mỏng mảnh,

Muốn binh lời làm mạnh đỡ nâng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

KIẾP DUYÊN

劫 緣

Kiếp: Kiếp sống, một đời người. Duyên: Mối dây ràng buộc từ kiếp trước.

Theo Đạo Phật, “Kiếp duyên” hay “Duyên kiếp” là kiếp sống hiện tại có được là do nhân duyên từ một hay nhiều kiếp trước.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Gọi là kiếp duyên hay là cái căn tu của chúng ta đã đạt đến một địa vị Thiêng Liêng của chúng ta gọi là siêu thoát, thì ta tái kiếp đặng mà đạt cái phẩm vị ấy nơi cõi này, tại mặt địa cầu này.

Khuyên đời mau tỉnh giấc mê,

Lo tu sau khỏi não nề kiếp duyên.

(Nhứt Nương Giáng Bút).

Đáng làm môn đệ mới lưu truyền,

Những kẻ bội sư uổng kiếp duyên.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

KIẾP DƯƠNG MÔN

Kiếp: Kiếp sống, một đời người. Dương môn 陽 門: Cửa Dương trần, chỉ cõi trần.

Kiếp dương môn là nói kiếp sống ở nơi cửa trần gian, ý chỉ kiếp trần.

Tỉnh say trong kiếp dương môn,

Nửa thì thấy cảnh hoàng hôn mộng hình.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

KIẾP ĐOẠ

劫 墮

Kiếp: Kiếp sống, một đời người. Đoạ: làm cho sa vào kiếp sống cực khổ.

Kiếp đoạ, như chữ “Kiếp đoạ đày”, là kiếp sống bị đày ải, làm cho khổ nhục, điêu đứng.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Còn như biết khôn thì ẩn núp tại thế mà làm một bậc Nhân Tiên thì kiếp đoạ trần cũng còn chưa mãn.

Bỏ đức bỏ nhân bao kiếp đọa,

Khuyên con giữ Ðạo đến cùng Thầy.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chuộc tội mua oan đưa kiếp đọa,

Thành thân khá nhớ lợi danh thiêu.

(Đạo Sử).

 

 

KIẾP ĐOẠ ĐÀY

Kiếp: Kiếp sống, một đời người. Đoạ đày: Bắt phải chịu cảnh sống đau khổ, cực nhục.

Kiếp đày đoạ là kiếp sống bị đoạ đày, tức bị đày ải, làm cho khổ nhục, điêu đứng.

Cái kiếp hồng nhan kiếp đoạ đày,

Phải làm cho gái hoá ra trai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

KIẾP KHIÊN

劫 愆

Kiếp: Khoảng thời gian dài, chỉ một đời người. Khiên: Tội lỗi, lỗi lầm.

Kiếp khiên là những tội lỗi đã gây ra trong kiếp sống của con người.

Như: Những tai nạn dồn dập xảy đến là trả cho mãn kiếp khiên.

Thâu các Đạo hữu hình làm một,

Trường thi Tiên, Phật dượt kiếp khiên.

(Kinh Tận Độ).

Quý sang mặc kẻ võng dù riêng,

Phận bạc lo cho hết kiếp khiên.

(Đạo Sử).

 

 

KIẾP KHIÊN PHẬT DƯỢT

Kiếp khiên 劫 愆: Những tội lỗi đã gây ra trong kiếp sống trước nơi cõi thế gian. Phật Dượt: Sự khảo duyệt 考 閲 của Đức Phật, nghĩa là thử thách để đánh giá trị cao hay thấp.

Kiếp khiên Phật dượt là Đức Phật duyệt xét những tội tình của chúng sanh ở kiếp sống, hầu chọn lựa người đậu rớt trong trường thi công quả.

Xem: Phật dượt kiếp khiên.

Nhập Thánh Thể kiếp khiên Phật duợt,

Cửu phẩm dành đậu rớt do ta.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

KIẾP LUÂN HỒI

劫 輪 迴

Kiếp: Khoảng thời gian dài, chỉ một đời người. Luân hồi: Chết đi rồi lại tái sinh một kiếp khác.

Kiếp luân hồi là kiếp sống của chúng sanh bị xoay chuyển trong sáu cõi (Lục đạo), sanh tử, tử sinh tiếp nối không ngừng cho đến khi đạt được giải thoát.

Chúng sinh sở dĩ chịu kiếp luân hồi sinh tử là tại nghiệp. Nghiệp là động cơ chính trong cuộc luân hồi lục đạo của chúng sinh, nghĩa là hết nghiệp là hết luân hồi. Đạo là chủ trương thoát ly kiếp luân hồi, vì còn kiếp luân hồi là còn khổ đau.

Cầu siêu thoát kiếp luân hồi,

Nguyện xin phước Phật ơn Trời ban cho.

(Thơ Thông Quang).

 

 

KIẾP NGỰA TRÂU

Kiếp: Khoảng thời gian dài, chỉ một đời người. Ngựa trâu: Ngựa, trâu, hai loài gia súc chịu nhọc nhằn với chủ.

Kiếp ngựa trâu là cái kiếp làm thân trâu ngựa, ý chỉ kiếp bị đòn roi và chịu gian lao, khổ nhọc.

Kiếp ngựa trâu Việt chủng vận kêu gào,

Đá tinh vệ chừ bao cho lấp bể.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

KIẾP NGƯỜI

Hay “Kiếp con người”.

Kiếp: Khoảng thời gian dài, chỉ một đời người. Người: Con người.

Kiếp người là kiếp sống của con người.

Theo triết lý Tôn giáo, kiếp con người là kiếp luân hồi, do bị nghiệp lực cuốn hút vào vòng sống chết, không bao giờ dừng nghỉ, chỉ khi nào đạt giải thoát mới thôi.

Thánh giáo Thầy có dạy: Còn có một hạng người cũng có tánh thiêng liêng ấy, nhưng lại không để trí khôn vào lối cao thượng, mà cứ quen thói hung hăng, nghĩ những việc bạo tàn, làm điều tội lỗi, ấy là những kẻ nghịch Thiên, không biết luân hồi là chi cả. Chúng nó lại tưởng rằng, kiếp người là kiếp sống chỉ có giây giờ rồi tiêu mất, nên tìm những chước sâu kế độc cho đặng của nhiều, no lòng sướng dạ, trối kệ luân hồi.

1.- Kiếp người:

Hồ Tiên vội rót tức thì,

Nước Cam Lồ rửa ai bi kiếp người.

(Kinh Tận Độ).

Mùi đời biết đặng lắm chua cay,

Cay đắng kiếp người khổ ớ ai!

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Kiếp con người:

Ngán thay cái kiếp con người,

Thôi đành bến Phạm kiếm lời Phật răn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

KIẾP OAN

Hay “Kiếp oan khiên”.

Kiếp: Kiếp sống của con người. Oan: Oan trái, nợ mình mắc nơi kiếp trước. Oan khiên: Tội lỗi bị oan ức.

Kiếp oan là kiếp phải trả những oan trái tạo nên từ tiền kiếp. còn Kiếp oan khiên là kiếp tội lỗi đã gây ra từ kiếp sống trước.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bảo cứ giữ đạo đức làm căn bản, thoát mình ra khỏi thúc phược thế tình lên non phủi kiếp oan khiên nơi tịch mịch an nhàn thân tự tại. Nếu không thế ấy thì đừng mơ mộng gì thoát khổ được.

Chưa no buổi sớm, lo nồi tối,

Cái kiếp oan kia khá dứt lần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

KIẾP PHÙ DUNG

劫 芙 蓉

Kiếp: Khoảng thời gian dài, chỉ một đời người. Phù dung 芙 蓉: Một loại hoa đẹp, dùng để ví với sắc đẹp của người con gái. Hoa phù dung nở vào sáng sớm màu vàng, buổi trưa biến thành màu hồng, đến chiều thì đổi sang màu đỏ rồi tàn.

Kiếp phù dung tức là kiếp sống của người con gái đẹp đẽ, nhưng ngắn ngủi ví như loài hoa phù dung sớm nở tối tàn.

Hễ xấu dạng thì nhơ mặt thiếp,

Còn đẹp hình, nhát kiếp phù dung.

(Nữ trung Tùng phận).

 

 

KIẾP PHÙ SINH

劫 浮 生

Kiếp: Khoảng thời gian dài, chỉ một đời người. Phù sinh: Cuộc sống trôi nổi như cánh bèo bọt nước giữa dòng sông, linh đinh không nhất định và dễ tan biến.

Kiếp phù sinh là cái kiếp sống của con người ngắn ngủi, mỏng manh, dễ hoại diệt.

Trong thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy: Chung đỉnh mảng tranh giành, lợi danh thường chác buộc, kiếp phù sinh không mấy lát, đời giả dối chẳng là bao.

Xem: Phù sinh.

Đời vắn ngủn huỳnh lương in giấc,

Kiếp phù sinh đặng thất nơi thân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Chen mình đứng giữa bụi tro bay,

Xét kiếp phù sinh ngán ngẩm ngày.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

KIẾP QUẢ

劫 果

Kiếp: Một đời người, tức đời sống từ lúc sinh ra cho đến lúc chết. Quả: Kết quả.

Kiếp quả, như chữ “Quả kiếp 果 劫”, là do những việc làm thiện hoặc ác đã gây ra ở kiếp trước tạo nên kết quả trong kiếp sống hiện tại.

Kiếp quả theo chơn lý của Phật đã nói rõ rằng: Cái nhơn quả của ta nó làm cho chúng ta sanh nơi cõi trần này.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

KIẾP SANH

Hay “Kiếp sinh”.

Kiếp: Một đời người, tức đời sống từ lúc sinh ra cho đến lúc chết. Sanh (sinh): Sống.

Kiếp sanh, như chữ “Kiếp sinh 劫 生”, là kiếp sống, tức sự sống trong một đời người.

Thánh Giáo Chí Tôn dạy: Ðạo Trời soi gương rạng, khá biết tỉnh mộng hồn, kiếp sanh chẳng bao lâu, đừng đợi đến ngày cùng tận. Nơi trường thi công quả, nên cân lấy phước phần, chẳng sớm trau thân, rừng chiều ác xế.

Xem: Kiếp sinh:

Ăn ngay ở thật đường tu dưỡng,

Nghĩa trả ơn đền nợ kiếp sinh.

(Thơ Hiến Đạo).

 

 

KIẾP SINH

劫 生

Kiếp: Một đời người, tức đời sống từ lúc sinh ra cho đến lúc chết. Sinh: Sống.

Kiếp sinh là kiếp sống, tức sự sống trong một kiếp làm con người.

Như: Kiếp sinh nhiều đau khổ.

Cầm bút ngọc đề thi tự thuật,

Một kiếp sanh của bậc văn tài.

(Nư Trung Tùng Phận).

Chịu phận gái kiếp sanh đã rủi,

Đành ép mình lòn cúi nhà người.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

KIẾP SỐ

劫 數

Kiếp: Một đời người, tức đời sống từ lúc sinh ra cho đến lúc chết. Số: Số mệnh, vận mệnh.

Kiếp số, như chữ “Số kiếp 數 劫”, tức là số mệnh của một đời người.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Đức Chí Tôn có câu: Dầu rằng Thầy đã hiểu rõ mạng căn kiếp số của mỗi đứa mang thi hài xác tục mê muội thế tình, chưa phân biệt trọng khinh kiếp sống.

Ôi, xấu kiếp số, thảm cho kiếp số,

Gẫm sự đời đáng hổ kiếp hồng nhan.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

KIẾP SỐNG

Kiếp: Một đời người, tức đời sống từ lúc sinh ra cho đến lúc chết. Sống: Có sinh khí và sinh hoạt.

Kiếp sống là chỉ khoảng thời gian sống của một con người, tức một đời người.

Thánh giáo Thầy có dạy: Ðã bị tội cùng Thiên đình thì bị hành phạt. Nơi kiếp sống nầy, nếu không biết tu, buổi chung quy sẽ mắc tội nơi Thiên đình.

Đã tầng chịu khó khăn kiếp sống,

Định tâm thần giải mộng Nam kha.

(Kinh Thế Đạo).

Mong nhờ giọt nước Ma Ha để,

Gụt rửa cho thanh kiếp sống thừa.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

KIẾP TẰM

Kiếp: Một đời người, tức đời sống từ lúc sinh ra cho đến lúc chết. Tằm: Một loại ấu trùng ăn lá dâu, nhả ra tơ.

Kiếp tằm là cái kiếp của con tằm, ý nói vì nợ ơn dâu nên thân tằm trọn kiếp phải vương tơ.

Cái kiếp tằm vương là thế đấy,

Ăn dâu phải trả nợ cùng dâu.

(Thơ Hàn Sinh).

Vuông tròn nghĩa vụ há rằng chơi,

Cái kiếp tằm dâu gắng vẹn mười.

(Thơ Vạn Năng).

 

 

KIẾP TRÁI

劫 債

Kiếp: Đời người, tức khoảng thời gian sống của một người. Trái: Nợ nần, vay nợ.

Kiếp trái, do chữ “Trái kiếp 債 劫”, tức là nợ nần đã gây ra từ kiếp sống trước.

Nước mắt chưa lau cơn kiếp trái,

Có công phổ độ giải tiền khiên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Lựa chọn những gì riêng kiếp trái,

Đớn đau chỉ nặng mối thâm tình.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

KIẾP TRẦN

Hay “Kiếp trần ai”.

Kiếp: Đời người, tức khoảng thời gian sống của một người. Trần: Chỉ cõi trần, cõi thế gian.

Kiếp trần, như chữ “Trần kiếp 塵 劫”, là kiếp sống ở cõi trần gian.

Theo Thánh giáo, cõi trần là cõi đoạ, nên cõi này có nhiều ác trược và phiền não dành cho con người xuống trả quả, nếu ai biết tu hành, lập công bồi đức, khi mãn quả thì có thể đắc đạo.

Thánh giáo Thầy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Tương mãn phần cũng nơi số mạng tiền định. Nó có phước là vì đặng về Thầy trong mấy ngày rốt của kiếp trần ai của nó.

Có thân có khổ, khổ vì thân.

Nào có sướng chi cái kiếp trần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Gần nơi Tiên cảnh phải xa phàm,

Cái kiếp trần nầy trẻ chớ ham.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

KIẾT

Kiết, còn đọc “Cát”, là điều lành, điều tốt.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có dạy: Vì vậy Ðức Thái Thượng dạy rằng: Trong lòng vừa khởi tưởng đến việc lành, việc lành tuy chưa làm mà vị thần lành đã theo mình, hoặc trong lòng vừa khởi tưởng đến việc dữ tuy chưa làm ra mà vị thần dữ đã kế bên mình (Phù tâm khởi ư thiện, thiện tuy vị vi nhi kiết thần dĩ tuỳ chi, hoặc tâm khởi ư ác, ác tuy vị vi nhi hung thần dĩ tuỳ chi).

Phục vọng Vô Trung Từ Phụ phát hạ hồng ân chuyển hoạ vi phước, tập kiết nghinh tường...

(Sớ Văn).

 

 

KIẾT HUNG

吉 凶

Kiết (cát): Tốt, lành. Hung: Xấu, hung dữ.

Kiết hung, hay “Cát hung”, là tốt xấu, hoặc lành dữ.

Nói về Dịch lý, Sách Giáo Lý của Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có câu: Kinh Dịch là sách bói toán, định việc kiết hung, nhưng bên trong lại còn ẩn một học lý rất thâm trầm, giải thích lẽ âm dương biến hoá và tạo dựng Vũ trụ và sanh hoá muôn loài, chủ ý là để cho người ta xem đó mà biết cách lui tới trong phép xử đời, Dịch lý khó nhứt là chỗ tuỳ thời, cho nên có câu “Tuỳ thời chi nghĩa đại hỷ tai”, cái ý nghĩa của sự tuỳ thời lớn vậy thay.

Chí từ huệ giúp an lê thứ,

Thông rõ đời nhơn sự kiết hung.

(Xưng Tụng Công Đức).

 

 

KIẾT NHẬT LƯƠNG THẦN

吉 日 良 辰

Kiết nhật: Ngày lành. Lương thần: Giờ tốt.

Kiết nhật lương thần là ngày lành giờ tốt, ý nói ngày giờ đều tốt hoàn toàn.

Kim vì kiết nhựt lương thần, thành lập Thiên Bàn thỉnh an Thánh Tượng chi lễ.

(Sớ Văn).

 

 

KIỆT

1.- Kiệt là hết sạch, sau một quá trình bị tiêu hao dần.

Như: Nước sông nay đã kiệt, rừng bị phá kiệt, làm việc đến kiệt sức.

Trên giường sức kiệt dần dà,

Nên mình tự hiểu sắp xa dương trần.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

2.- Kiệt là tài giỏi hơn người. Như: Hào kiệt, Anh hùng hào kiệt.

Thánh giáo Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng có câu: Cơ quyết thắng, Ngọc Hư đã sẵn định, có chiến đấu mới có mưu tận diệt tà gian, mặt anh hùng giữa chốn chiến tràng, hễ nhăn mặt mất gan hào kiệt.

Thanh sử từng nêu gương nữ kiệt,

Hồng ân chi kém bạn nam nhi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Kỳ ba độ chúng Ðạo hoà khai,

Phải đủ địa linh mới kiệt tài.

(Đạo Sử).

 

 

KIỆT LỰC

竭 力

Kiệt: Cạn, hết. Lực: Sức lực, tức là sự khoẻ mạnh của thân thể.

Kiệt lực tức là “Kiệt sức”, có nghĩa là sức lực của con người đã mòn dần, sắp hết.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Phần thì kiệt lực vì trường trai khổ hạnh, chư Chức Sắc Thiên Phong không chịu nỗi phải bỏ mình chẳng phải chư Chức Sắc mà thôi, mà toàn cả con cái của Chí Tôn cũng vậy.

Xem: Kiệt sức.

Trên Chí Tôn rưới đức nhiêu sinh,

Dưới tôi nguyện tận tâm kiệt lực.

(Tuồng Hát Chèo Thuyền).

 

 

KIỆT QUỆ

Kiệt: Cạn, hết sạch sau một quá trình bị tiêu hao dần.

Kiệt quệ là suy sút tới mức tột cùng.

Như: Sức của bệnh nhân bị kiệt quệ, vì chiến tranh nền kinh tế đất nước bị kiệt quệ.

Như Chư quý vị đã rõ, năm vừa qua Hội Thánh đã trải qua nhiều cơ thử thách buồn phiền, tài chánh của Ðạo vì đó phải bị kiệt quệ...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

KIỆT SỨC

Kiệt: Cạn, hết. Sức: Sự mạnh của thân thể.

Kiệt sức, như chữ “Kiệt lực”, là sức lực của con người bị tiêu mòn, cạn kiệt hết.

Trong quyển Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp, lời trần thuyết của Ban Tốc Ký có câu: Trong khi quyển tài liệu nầy đến tay quý vị thì cũng đã có người vì quá hăng say trong công việc thực hiện lý tưởng mà phải lao tâm kiệt sức hoá ra người thiên cổ.

Kiệt sức thân tàn vì nợ Đạo,

Nhả tơ tằm vẹn trả ơn dâu.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

KIỆT TRỤ

桀 紂

Kiệt Trụ là hai vị vua hoang dâm vô độ của nhà Hạ và Thương, Trung Quốc.

Vua Kiệt nhà Hạ (2205-1782 trước Công nguyên), tên là Lý Quý, say mê Muội Hỷ, cho xây dựng hồ chứa rượu, xung quanh dọn thịt. Hễ vua ra lịnh thì ba ngàn cung phi nhào xuống hồ ấy ăn uống.

Nhà vua hoang dâm vô độ, bỏ nát cang thường, nên bị mất nước về tay Thành Thang và bị đày chết năm 1768 trước Công nguyên.

Vua Trụ là vị vua cuối cùng nhà Thương, con vua Đế Ất, tên Thụ Tân, thiên hạ gọi là Trụ Vương.

Vua Trụ hoang dâm, bạo ngược, sau bị Võ Vương đánh bại, tự thiêu mà chết, chấm dứt nhà Thương.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có đoạn: Vua không chánh, tôi chẳng ngay, người quân tử chẳng lẽ không giữ cái khí tiết trong sạch, cùng ra chen vai với đám tiểu nhơn, nên tự lui bước để sửa mình. Vì đó mà luân thường điên đảo, tà chánh bất phân, mối nước chinh nghiêng, muôn dân đồ thán, ấy là đời ly loạn của Kiệt Trụ vậy.

Chằng mắt rán nhìn hưng Kiệt Trụ,

Dằn lòng nán đợi mạt Di Tề.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

KIÊU

Kiêu là khoe mình, lên mặt. Như: Kiêu căng, tự kiêu, anh ấy có tính kiêu lắm.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Có nhiều hạng người được vinh vang thì lên mặt phách xấc, không nhớ đến căn bổn hèn hạ của mình khi trước, phải biết rằng chúng ta đứng đợt với thiên hạ được là nhờ Chí Tôn tô mày vẽ mặt cho đó, hạng nầy rất nhiều, phụ nữ nên để ý sửa dạy cho họ bớt tâm tự kiêu đôi chút.

Chỉ trích thành tự kiêu tự đại,

Tu đừng cho vấp phải điều này.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

KIÊU CĂNG

驕 矜

Kiêu: Ngạo mạn. Căng: Khoe khoang.

Kiêu căng là khoe khoang ngạo mạn, tức là lên mặt tài giỏi, khinh người.

Trong Thánh Ngôn, Thầy dạy: Ôi! mà hại thay! thảm thay! đau đớn thay! Hòn ngọc đẹp đẽ quý báu dường nầy, Thầy đến cho các con, các con lại học kiêu căng trề nhún.

Lòng chừa biếng nhác kiêu căng,

Của tiền lãng phí không ngằn phải tiêu.

(Kinh Sám Hối).

Lễ kinh đã dạy kính nhường người,

Cái thói kiêu căng chẳng khó noi.

(Đạo Sử).

 

 

KIÊU HÃNH

驕 倖

Kiêu: Tự mình cho tài giỏi nên có ý khinh người. Hãnh: Sung sướng lộ ra mặt.

Kiêu hãnh là kiêu căng và hãnh diện.

Đức Chí Tôn dạy về lòng kiêu hãnh như sau: Kiêu hãnh thái thậm, vào muốn có người trình, ra muốn có kẻ cúi, khoát nạt, đè ép, biết mình mà chẳng màng biết đến người, hay ỷ sức mà chẳng dòm xem thời thế chẳng thâu phục nhân tâm, chẳng biết dùng khiêm từ mà đãi khách, là những nét của các bậc Vương Bá xưa dùng mà phải tan tành vũ trụ đó.

Đừng lòng kiêu hãnh cậy mình tài,

Nên nhớ chữ tài cận chữ tai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Giọng kiêu hãnh hỏi sao anh hạc,

Bấy lâu nay trôi giạt nơi nào.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

KIÊU HÙNG

驕 雄

Kiêu: Ngạo mạn, không chịu phục tùng. Hùng: Dũng cảm, mạnh mẽ.

Kiêu hùng là người mạnh mẽ không chịu phục ai.

Chí kiêu hùng là ý chí của kẻ dũng sĩ ngang tàng, không chịu khuất phục ai.

Đem lòng son sắt rèn gươm báu,

Lấy chí kiêu hùng nổi lửa thiêng.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

KIÊU XA

驕 奢

Kiêu: Ngạo mạn, không chịu phục tùng. Xa: Hoang phí tiền bạc, vô độ.

Kiêu xa là kiêu căng và xa xỉ.

Huấn từ Đức Thượng Sanh, đọc trong dịp Hội Thánh đãi tiệc Chư Chức sắc và Nhân viên công quả, tại Hạnh Ðường ngày 18 tháng Giêng năm Tân Hợi (Dl. 13/2/1971) có câu: Bực phi thường tức là người đã vượt khỏi mức thường tình không sân, si, hỷ, nộ như kẻ phàm phu, phải đi ngược với thế tình, tức là trọng tinh thần, khinh vật chất, ham nhơn nghĩa, lánh vạy tà, bỏ thói kiêu xa, bỏ lòng tự ái, đó là giữ đúng mức siêu nhiên của một phần tử trong Thánh thể Ðức Chí Tôn.

Là người tu hành, chúng ta không nên so sánh với mặt đời, không nên se sua lãng phí, kiêu xa, cờ bạc.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

KIỀU

1.- Kiều là cầu, công trình bắc qua sông suối.

Như: Đoạn Trần kiều, ngân kiều.

Ca dao có câu: Muốn sang thì bắc phù kiều, Muốn con hay chữ hãy yêu lấy thầy.

Quá giang sớm phải bắc kiều,

Giống nòi ta phải thuận chìu bắt tay.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

2.- Kiều là ở, ngụ, ở nhờ. Như: Việt kiều, Hoa kiều, Mỹ kiều.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bần Đạo không thấy mà đã nghe Đồng Bào Việt kiều ở Đông Kinh thuật điều ấy làm cho Bần Đạo khóc, và chính mình Bần Đạo chỉ biết khóc mà thôi.

Tương lai gởi lại tay tha chủng,

Mai một thương cho đám Việt kiều.

(Thơ Hộ Pháp).

3.- Kiều là đẹp, xinh. Như: Diễm kiều, yêu kiều, Nhị Kiều.

Nhị Kiều là hai nàng con gái xinh đẹp thời Tam Quốc, tên Đại Kiều 大 嬌 và Tiểu Kiều 小 嬌, là vợ của Tôn Sách và Châu Du.

Noi gương đức tánh Nhị Kiều,

Dở dang Du Sách, giữ điều tiết trinh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

KIỀU BÀO

僑 胞

Kiều: Ở, ngụ, ở nhờ. Bào: Cái nhau.

Kiều bào là chỉ người dân nước mình ra sinh sống ở nước ngoài.

Như: Ngày tết kiều bào về thăm quê rất đông.

Lo phổ độ kiều bào Việt quốc,

Giúp nhơn sanh chủng tộc Hoa kiều.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

KIỂU

Kiểu là mẫu, gương mẫu. Như: Kiểu áo, kiểu nhà, bàn ghế đủ kiểu, học kiểu hiếu hạnh của người xưa.

Trong quyển Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy Bà như sau: Hiếu lấy chén nước lạnh, Thầy vẽ kiểu mão cho con coi.

Mình đủ trí gìn lòng thủ hiếu,

Đặng cho em thấy kiểu học đòi.

(Phương Tu Đại Đạo).

Nhơn tâm gầy khối đều nên mặt,

Tình thế trau nên kiểu vỡ đầu.

(Quyền Giáo Tông Giáng).

 

 

KIỂU MẪU

Kiểu: Đồ dùng để làm mẫu. Mẫu: Kiểu để cho người tá theo mà bắt chước.

Kiểu mẫu là mẫu cụ thể để theo đó có thể tạo ra hàng loạt những cái khác cùng một kiểu như nhau.

Kiểu mẫu còn có nghĩa là làm gương mẫu để những cái khác, người khác noi theo.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Nòi giống Việt Nam thời giờ định vận mạng, định tương lai của họ đã đến một chiều hướng kiến thiết thì Quân Đội Cao Đài phải làm gương, phải hy sinh hơn nữa, phải làm kiểu mẫu đem cái lòng ái quốc nồng nàn trước kia thế nào thì giờ phút nầy cũng thế ấy.

Ðó là những bậc đáng làm kiểu mẫu cho đời, có thể dìu dắt nhân sanh trên con đường tấn hoá.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

KIỂU VỞ

Kiểu: Đồ dùng để làm mẫu. Vở: Tập giấy đóng lại để viết, bản, vở tuồng.

Kiểu vở là kiểu cách, theo khuôn mẫu hoặc cách thức nhứt định.

Kiểu vở là đúng theo sách vở, theo những gì đã được ghi chép.

Trong Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Thánh giáo Thầy có câu: Thơ, Thầy giao cho con góp tư bổn trong một tháng cho rồi, dặn các em con rằng: Danh thể của Ðạo nơi Toà Thánh nghe à! Sau Thái Bạch sẽ dạy con kiểu vở.

Những kiểu vở thợ hay coi lén,

Thấy chi hay quen tiếng khen dồi.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

KIỆU

Kiệu là phương tiện của thời xưa, có ghế ngồi và đòn khiêng để rước hay đưa đi đường.

Như: Kiệu hoa dùng để đưa dâu, phu khiêng kiệu, kim quang kiệu.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bởi biết ông Kế Hiền Kỷ còn theo Nho lắm, trong lúc ấy Bần Ðạo ngạc nhiên thấy trong con cháu, dầu nhỏ, dầu lớn, dầu trọng, dầu khinh, mỗi đứa đều đem tới một món, đi thôi rần rộ, độ 7 giờ cúng thì lối 5 giờ đi rước ông Trưởng tộc, các con cháu xúm khiêng ông, ba bốn chục người giành mà khiêng, còn bao nhiêu đi theo sau kiệu.

Đẩu tinh chiếu thấu Nguyên Tiêu,

Kim quang kiệu đỡ đến triều Ngọc Hư.

(Kinh Tận Độ).

 

 

KIM

1.- Kim là đồ bằng kim loại, dùng để khâu, may, một đầu nhọn, một đầu có lỗ để xâu chỉ.

Như: Kim chỉ, kim chích, có công mài sắt có ngày nên kim, kim cải.

Mũi kim chẳng lọt xưa nay hẳn,

Biết sợ xin khuyên cẩn thận mình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Đắc Thánh thân phàm bền sức luyện,

Thành kim khối sắt chí công mài.

(Thơ Thái Đến Thanh).

2.- Kim là vàng, loài kim thuộc, một trong ngũ hành, như kim tiền (tiền và vàng), kim loại, hành kim.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Trong xã hội kim tiền nầy, có người bỏ ra hàng mấy chục muôn đồng một đêm để thoả thích trong sòng đổ bác, có kẻ phú túc kinh dinh dám phí cả trăm ngàn trong cuộc vui chơi trụy lạc, nhưng thí ra một số tiền cỏn con để giúp kẻ khổ đau thì chưa dễ gì họ chịu làm.

Câu tích kim lời đã đáng lời,

Cơ nan thủ phép Trời đã định.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Kim là nay, hôm nay, trái với cổ là xưa.

Như: Kim ngưỡng cổ ngưỡng, kim cổ kỳ quang, từ cổ chí kim, cổ vãng kim lai.

Quốc Ðạo kim triêu thành Ðại Ðạo,

Nam phong thử nhựt biến nhơn phong.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

KIM BÀN

金 盤

Hay “Kim Bồn”.

Kim: Vàng. Một thứ kim loại quý. Bàn: Cái mâm.

Theo sách Ngọc Lộ Kim Bàn, Kim Bàn là một cái mâm vàng Thiêng liêng nơi Diêu Trì Cung mà Đức Phật Mẫu dùng để chứa các nguyên chất.

Khi Trời đất đã được hình thành, Phật Mẫu mới đem Chơn tánh phân ra một hột. Từ một hột đó, Ngài mới thổi hơi chân khí biến thành một trăm ức Linh căn Chân tánh (tức Nguyên nhân), rồi Ngài đem chứa trong Kim Bàn, hay nói một cách khác, Kim Bàn là nơi chứa các bậc Nguyên nhân.

Chính vì vậy, trong bài Kinh Đệ Cửu Cửu, Đức Diêu Trì Kim Mẫu có giải thích: Nơi Kim Bồn (Bàn) vàn vàn nguơn chất, Tạo hình hài các bậc nguyên nhân.

Kim Bàn còn dùng để chỉ Thánh hiệu Đức Phật Mẫu hay nơi ngụ xứ của Đức Ngài.

Nhục thể làm thuyền qua khổ hải,

Chơn thần hoá hạc đến Kim Bàn.

(Thơ Tiếp Đạo).

Triết lý trên nhìn vào Ðạo giáo,

Chính Kim Bàn nơi tạo Nguyên nhân.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

KIM BÀN PHẬT MẪU

金 盤 佛 母

Kim Bàn: Chậu vàng, mâm vàng. Phật Mẫu: Vị Phật, làm mẹ của vạn linh.

Đức Phật Mẫu còn gọi Diêu Trì Kim Mẫu ở nơi Diêu Trì Cung, là nguồn gốc hoá thân đầu tiên của Đức Chí Tôn để làm chủ khí Âm Quang.

Phật Mẫu lại chưởng quản Kim Bàn, là cái chậu vàng nơi Diêu Trì Cung dùng chứa nguyên chất để tạo ra chơn thần cho các bậc nguyên nhân, nên còn được gọi là Kim Bàn Phật Mẫu.

Xem: Phật Mẫu.

Như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, tùng lịnh Kim Bàn Phật Mẫu...

(Di Lạc Chơn Kinh).

 

 

KIM BẢN

金 版

Kim: Vàng, chỉ sự thiêng liêng, tôn quý. Bản: Tấm thẻ, ở đây chỉ tấm thẻ mỏng tựa như cái hốt của các quan ngày xưa.

Kim Bản là một thẻ vàng, là một Bửu Pháp của Tứ Nương Diêu Trì Cung, làm giám khảo tuyển chọn người tài giỏi và hiền đức.

Cô Tứ Nương cầm riêng Kim Bản,

Cõi Huỳnh Thiên điểm rạng văn tài.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

Cầm Kim Bản trọn quyền định phận,

Ghi hiền danh dục tấn trí tài.

(Báo Ân Từ).

 

 

KIM BẢNG

金 榜

Kim: Vàng. Bảng: Tấm bảng.

Kim bảng là “Bảng vàng”, tức là bảng có thếp vàng, đề tên những vị tân khoa đỗ Tiến sĩ trong thời khoa cử ngày xưa của Việt Nam.

Thôi Triệu bị bịnh, hồn xuống Âm phủ, thấy có ba tấm bảng: Bảng vàng, bảng bạc và bảng sắt. Bảng vàng ghi tên các vị Tể tướng, bảng bạc các vị quan lớn, bảng sắt để ghi tên các quan châu huyện và các quan nhỏ.

Sau này chữ Kim bảng dùng để chỉ những người thi đỗ tiến sĩ.

Đối với đạo Cao Đài, kim bảng dùng để nói tạo công nghiệp, hay chỉ sự đắc Đạo.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có nói: Ôi! Thầy vì mấy chục ức nguyên nhân, không nỡ để cho ngôi phẩm tan tành, chớ lấy luật Thiên thơ thì không một ai dự vào kim bảng.

Số phận Thiêng liêng chớ vội phiền,

Thiên thơ kim bảng đã dành biên.

(Thơ Thượng Hào Thanh).

 

 

KIM BẰNG

金 朋

Kim: Vàng. Bằng: Bạn bè.

Kim bằng là bạn bè quý nhau như vàng. Như: Kết nghĩa kim bằng.

An Giang đáo nhậm những mơ ngày,

Kết nghĩa kim bằng trước đến nay.

(Thơ Võ Thành Lượng).

Một bước đưa nhau một bước ngùi,

Kim bằng gần gũi bỗng xa xuôi.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

KIM BIÊN

金 邊

Kim Biên tức là nước Cao Miên (Campuchia), còn gọi là Tần Quốc, có thủ đô là Phnom Penh phiên âm Việt ngữ là Nam Vang.

Khi Đức Hộ Pháp được bổ lên Nam vang làm việc, Ngài đã độ được một số chức sắc tại đây, rồi thành lập Cơ Quan Truyền Giáo Hải Ngoại, thường gọi là Hội Thánh Ngoại Giáo, đặt trụ sở tại Thánh Thất ở Nam Vang, nên còn gọi là Thánh Thất Kim Biên.

Bản di ngôn trước đệ đến vua Miên,

Gởi hài cốt Kim Biên còn phụng tự.

(Cội Đạo Bốn Mùa).

 

 

KIM BIÊN TÔNG ĐẠO

金 邊 宗 道

Sau khi Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn từ bỏ chức vụ Chưởng Đạo Hội Thánh Ngoại Giáo, Đức Hộ Pháp bèn giải tán Hội Thánh Ngoại Giáo và thành lập Kim Biên Tông Đạo tại Nam Vang.

Văn Phòng Tông Đạo Tần Nhơn hay Kim Biên Tông Đạo được xây dựng nơi Nội Ô, trước cổng có đôi liễn: Tần Quốc lân bang phổ độ chúng sanh quy thiện giáo, Kim Biên Tông Đạo ngoại giao dân tộc chánh nhơn tâm. 秦 國 鄰 邦 普 度 眾 生 歸 善 教, 金 邊 宗 道 外 交 民 族 正 人 心, nghĩa là nước Tần láng giềng cứu giúp nhơn sanh khắp nơi trở về nền tôn giáo tốt đẹp, Tông Đạo Kim Biên giáo hoá dân ngoại quốc làm cho lòng người chơn chánh.

Hạnh lâm Đạo Đức Học Đường,

Kim Biên Tông Đạo, trầm hương Khách Đình.

(Thơ Huệ Nhật).

 

 

KIM CẢI

Kim: Cây kim. Cải: Hạt cải.

Kim cải là cây kim và hột cải, chỉ tính tình hoà hợp nhau mà tìm đến nhau, tình vợ chồng hoà thuận.

Sách Bách Vật Chí có ghi: Hổ phách thập giới, từ thạch dẫn châm, các dĩ loại cảm 琥 珀 拾 芥, 磁 石 引 針, 各 以 類 感, nghĩa là hổ phách hút hột cải, đá nam châm hút kim, đều tuỳ theo loại mà cảm nhau.

Hai vật đồng cảm thì tìm nhau, chỉ duyên vợ chồng khắng khít nhau như nam châm hút cây kim, hổ phách hút hột cải.

Trăm năm kim cải cũng chồng,

Trái duyên cũng vẹn đạo tòng mà thôi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Kim rời, cải rụng lòng ngao ngán,

Đá nát vàng phai dạ ngậm ngùi.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

KIM CÂU

金 鉤

Kim: Vàng. Câu: Cái móc.

1.- Kim câu là một cái móc, tức cái móc câu bằng sắt hay bằng vàng, dùng treo, móc đồ vật.

Như: Dùng kim câu để buộc dây kéo đồ vật lên cao.

Lưỡi liềm chi dễ sánh kim câu,

Gây sự bởi ai tạo buổi đầu.

(Quyền Giáo Tông).

2.- Kim Câu là một cái lịnh bài bằng vàng gọi là Kim Câu Bài của Thái Thượng Lão Quân dùng để điều khiển chư Tiên.

Nếu một Chơn hồn được Kim Câu Bài thì có thể vào cửa Thiên môn.

Đạp Thái Sơn nhảy qua Đẩu Suất,

Vịn Kim Câu đến chực Thiên Môn.

(Kinh Tận Độ).

3.- Theo Đức Hộ Pháp thuyết về “Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống”, Kim Câu còn là một bửu pháp của Phục Linh Tánh Phật, có công năng làm tỉnh lại một kiếp sanh của các chơn linh khi bước vào Cung Phục Linh.

Hộ Pháp bắt ấn trợ thần,

Phục Linh Tánh Phật quơ ngần Kim Câu.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

KIM CÔ

金 箍

Kim: Vàng. Cô: Cái vòng đặt trên đầu.

Kim cô là cái vòng phép bằng vàng đặt lên đầu.

Trong truyện Tây Du, Tam Tạng không thể sai khiến được học trò là Tề Thiên Đại Thánh. Sau nhờ Quan Âm Bồ Tát đặt chiếc vòng Kim Cô lên đầu của Tề Thiên, nên Tề Thiên mới phục và tuân lịnh thầy là Tam Tạng, bởi nếu Tề Thiên chẳng tuân lịnh thì Tam Tạng sẽ niệm Kim Cô chú, khiến chiếc vòng xiết cứng vào đầu, phải đau đớn mà nghe theo.

Ta đã biết, Linh quang là điểm Chơn linh nhẹ nhàng, trong sạch được chiết ra từ Đại Linh quang của Thượng Đế. Nhưng bởi oan khiên, nghiệp quả, làm cho Chơn thần bị trọng trược trì níu, sai khiến Chơn linh, tỷ như vòng Kim cô trói buộc chặt Chơn linh vậy.

Đến Hạo Nhiên Thiên, Chơn linh được các Đấng dở cái Kim cô, tức như cởi sự trói buộc để Linh quang được nhẹ nhàng mà tiếp tục bay lên.

Động Phổ Hiền Thần Tiên hội hiệp,

Dở Kim Cô đưa tiếp linh quang.

(Kinh Tận Độ).

 

 

KIM CỔ

今 古

Kim: Nay, hôm nay. Cổ: Xưa, ngày xưa.

Kim cổ, như chữ “Cổ kim 古 今”, là xưa nay, hoặc từ xưa cho đến nay.

Gương kim cổ để soi chung,

Ngàn năm rõ mặt con rồng cháu Tiên.

(Ngũ Nương Giáng Bút).

Nào những khách đoạn trường kim cổ,

Bởi trái duyên nên lỡ gót trần.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

KIM CHI NGỌC ĐIỆP

Hay “Kim chi ngọc diệp”.

Kim chi: Cành vàng. Ngọc điệp (diệp): Lá ngọc.

Kim chi ngọc điệp, như chữ “Kim chi ngọc diệp 金 枝 玉 葉”, là cành vàng lá ngọc, dùng để chỉ người trong họ nhà vua, hoặc chỉ người của nhà quyền quý, cao sang.

Kim chi ngọc điệp nhà noi dấu,

Thổ võ huyền môn đức rạng ngời.

(Đoàn Thị Điểm Giáng).

 

 

KIM ĐƠN

Hay “Kim Đan”.

Kim: Quý báu như vàng. Đơn (Đan): Thuốc.

Kim đơn, như chữ “Kim đan 金 丹”, là loại thuốc tiên, uống vào có thể trường sanh bất tử, được các vị đạo sĩ luyện trong lò kim đan hay lò bát quái.

Thánh giáo Bát Nương có câu: Mãi đeo sầu sự khổ não mà khó tầm phương giải khổ, chỉ có mượn đạo đức để tiêu sầu và giải khổ, đó là phương thuốc kim đơn vậy...

Phước Thiện chứa thuốc kim đơn,

Phước Thiện cứu thế khỏi cơn thảm sầu.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

KIM ĐỒNG

金 童

Kim: Quý báu như vàng, tôn xưng. Đồng: Đứa trẻ.

Kim đồng theo nghĩa đen là những đứa bé nhỏ vừa đẹp vừa quý giá như vàng ngọc.

Theo truyền thuyết về truyện thần tiên, nơi Thượng giới các vị tiên thường được các tiểu đồng hầu hạ, trai thì được gọi là Kim đồng, gái thì được gọi là Ngọc nữ.

Lên Vân Xa ngồi nhìn thấy rõ,

Hữu Ngọc nữ tả có Kim đồng.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

Công đức kỳ ba nhờ Ngọc nữ,

Quả nhân quy nhất cậy Kim đồng.

(Thơ Minh Phát).

 

 

KIM GIAI

金 階

Kim: Vàng, sơn màu vàng. Giai: Bậc thềm.

Kim giai là bậc thềm sơn màu vàng, chỉ thềm trong cung điện nhà vua, tức là thềm vua.

Trong tôn giáo Cao Đài, kim giai dùng để chỉ nơi bệ ngọc của Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Bởi sợ nhiễm trần xa ngọc điện,

Vì lo độ chúng lánh kim giai.

(Thơ Thanh Tùng).

 

 

KIM KHÍ

金 器

Kim: Vàng, kim loại. Khí: Đồ dùng.

Kim khí là khí cụ bằng kim loại, tức là đồ dùng được chế tạo từ kim loại.

Thánh giáo của Đức Chí Tôn bằng Pháp ngữ, được Hội Thánh dịch trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Của cải ấy gồm những gì? Vàng bạc chỉ là loại kim khí tầm thường.

Tìm lửa nấu nướng lưu truyền,

Rèn đồ kim khí bày yên cửa nhà.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

KIM KHÔI

金 盔

Kim: Vàng. Khôi: Cái mũ quan võ đội lúc ra trận.

Kim Khôi là cái mũ bằng vàng của các quan võ thời xưa đội khi ra trận. Chiếc mũ nầy có cái chóp hình giống như cây chĩa có ba ngạnh.

Trong đạo Cao Đài, khi cúng Đại Đàn, hoặc vào dịp Đại lễ, Đức Hộ Pháp ngự trên ngai, mặc giáp bên trong, choàng mãng bào bên ngoài, đầu đội Kim Khôi, trên thể Tam sơn, giống như cái chĩa ba ngạnh, tượng trưng chưởng quản Tam Thiên bên Cực Lạc Thế Giới.

Bộ Đại phục, Người (Hộ Pháp) phải mặc giáp, đầu đội Kim khôi toàn bằng vàng...

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

KIM KHUYẾT

金 闕

Kim: Vàng. Khuyết: Cái cửa cổng.

1. Kim khuyết là cái cửa sơn màu vàng trong cung vua. Vì vậy, nơi ngự của vua cũng gọi là Kim khuyết.

2. Kim khuyết còn là cổng nơi Toà Bạch Ngọc kinh, cõi thượng giới, gọi là “Huỳnh Kim Khuyết 黃 金 闕”.

3. Kim Khuyết chỉ cõi Tiên, cõi Trời.

Trường Canh chói rạng loà Kim khuyết,

Xin ban ơn giải nghiệt cho đời.

(Giới Tâm Kinh).

Bao nhiêu công khó vun nền Đạo,

Kim Khuyết xin tròn hưởng huệ ân.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

KIM LAN

金 蘭

Kim: Vàng. Lan: Hoa lan.

Kim lan tức là hoa lan vàng, dùng để chỉ tình bằng hữu thân thiết, bền chặt.

Kinh Dịch có câu: Nhị nhân đồng tâm kỳ lợi đoạn câm (Kim). Đồng tâm chi ngôn kỳ xú như lan 二 人 同 心 其 利 斷 金. 同 心 之 言, 其 嗅 如 蘭, nghĩa là hai người đồng lòng, lợi có thể cắt đứt được vàng. Lời nói đồng tâm thơm như hoa lan.

Đây đấy cùng gieo một điệu đàn,

Năm dồn tháng dập nghĩa kim lan.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

KIM MÃ NGỌC ĐƯỜNG

金 馬 玉 堂

Kim Mã: Tên một cái cửa ở cung Vị Ương đời nhà Hán, có một con ngựa lớn bằng đồng, nên người ta còn gọi là “Kim mã môn 金 馬 門”. Nơi đó thường có các quan Hàn lâm đứng chờ chực.

Kim mã môn cũng do câu trong Hán Thư chép: Hán Võ Đế sử học sĩ đãi chiếu Kim mã môn 漢 武 帝 使 學 士 待 詔 金 馬 門, nghĩa là vua Hán Võ Đế cho những người có văn học chực ở cửa Kim mã, để khi có điều gì thì vua han hỏi. Sau người ta lấy chữ “Kim mã” mà nói chỗ để tiếp các bậc văn học.

Ngọc đường (đàng): Nhà ngọc, tức là dùng để chỉ nhà phú quý. Trong cổ Nhạc phủ có chép: Hoàng kim vi quân môn, bạch ngọc vi quân đường 黃 金 為 君 門, 白 玉 為 君 堂, nghĩa là lấy vàng làm cửa, lấy ngọc làm nhà.

Kim mã ngọc đường, cũng có thể đọc “Kim mã ngọc đàng”, dùng để chỉ nơi quan quyền vinh hiển.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, có câu: Hiếm chi bậc Thánh bị đày vào chốn trần ai khổ nhọc, chìm đắm nơi bến khổ sông mê, dan díu lấy sự say vui mùi thế tục, bước đến cảnh kim mã ngọc đàng mà phủi hết lòng đạo đức, khiến cho ngôi cựu vị phải chịu trôi phủi dòng sông, mà vì đó, thuyền Bát Nhã khó nương cứu vớt đặng.

Rỡ ràng thay kim mã ngọc đường,

Lịch xinh bấy Đẩu cung giáp sĩ.

(Văn Tế Đốc Học).

 

 

KIM MAO HẨU

金 毛 犼

Kim: Màu vàng. Mao: Lông. Hẩu: Một loại thú cùng loài với sư tử.

Kim Mao Hẩu, còn gọi “kim Hẩu”, là một con thú linh nơi cõi thiêng liêng, hình giống con sư tử lông màu vàng, theo kinh sách thì Kim Mao Hẩu chỉ có ở nơi cõi thiêng liêng, chứ không có nơi cõi trần.

Trong các chùa Phật, tượng Ngài Văn Thù Bồ Tát thường được đắp hình Ngài ngồi trên bửu toà hoa sen, cỡi con Kim Mao Hẩu (có người nói là sư tử lông vàng).

Trong đạo Cao Đài, bài Kinh Đệ Bát Cửu có câu:

Cỡi Kim Hẩu đến Tịch San,

Đẩu vân nương phép Niết Bàn đến xem.

Tại Toà Thánh Tây Ninh, Đức Hộ Pháp cho đắp hình hai con Kim Mao Hẩu đứng day đầu ra trong tư thế giữ cửa nơi hai bên cầu thang đi vào Đền Thánh ở khoảng Cửu Trùng Đài và Hiệp Thiên Đài.

Điều đặc biệt là bốn con Kim Mao Hẩu ở hai bên cầu thang lên Bát Quái Đài đều là con đực, còn hai con ở cầu thang lên Cửu Trùng Đài nam phái là con cái, hai con ở cầu thang lên Cửu Trùng Đài nữ phái là con đực.

Theo tiểu sử Đức Hộ Pháp kể lại, thuở nhỏ Ngài xuất chơn thần lên cõi thiêng liêng thấy nơi Bạch Ngọc Kinh có 8 con Kim Mao Hẩu và khi Ngài trở về Đức Chí Tôn ban cho một con.

Kim Mao Hẩu mới vừa xin,

Khi về cõi tục ngỡ mình mang theo...

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

KIM MẪU

金 母

Kim: Vàng. Mẫu: Mẹ.

Kim Mẫu là tiếng nói tắt của danh hiệu “Kim Bàn Phật Mẫu”, hay “Diêu Trì Kim Mẫu”, nghĩa là Đức Phật Mẫu chưởng quản Kim Bàn (Kim Bồn), là nơi chứa các nguyên chất để tạo ra chơn Thần cho vạn linh.

Xem: Phật Mẫu.

Riêng thương Kim Mẫu khóc thầm,

Biển trần thấy trẻ lạc lầm bấy lâu.

(Tán Tụng Công Đức).

 

 

KIM MÔN

金 門

Kim: Vàng, quý báu như vàng. Môn: cửa.

Kim môn tức “Kim Mã Môn 金 馬 門”, tên một cái cửa cung đời Hán, bên cửa có tượng ngựa đồng, nên đặt tên là kim mã môn. Chỉ nơi quan trường vinh hiển.

Xem: Kim mã.

Quy phục kim môn thân ngọc mã,

Chỉ tồn hư thiệt bất quang minh.

(Đạo Sử).

Nhu phong chánh pháp nhủ truyền gia,

Ngọc mã kim môn đắc địa hoà.

(Đạo Sử).

 

 

KIM NGƯ TINH

金 魚 精

Kim: Vàng. Ngư: Cá. Tinh: Yêu quái.

Kim Ngư Tinh là một con cá vàng ở trong hồ sen của Đức Quan Âm Bồ Tát, trốn thoát xuống sông Thông Thiên ở cõi trần làm yêu quái.

Kim Ngư Tinh giả ra một vị thần hiệu là Linh Cảm Đại Vương, đòi nhân dân hằng năm phải cúng một đồng nam và một đồng nữ cho nó.

Khi thầy trò Đường Tam Tạng đi thỉnh kinh ngang qua khúc sông Thông Thiên, Tôn Hành Giả và Trư Bát Giới bèn đánh con yêu quái này, nhưng nó trốn biệt nơi thuỷ phủ, dùng kế hoá sông thành băng tuyết để gạt thầy trò Đường Tăng đi ngang qua mà bắt Tam Tạng.

Sau Tôn Hành Giả phải nhờ Phật Quan Âm thâu con yêu tinh về núi Phổ Đà nhốt ở ao sen.

Trong hành lang nơi Báo Ân Từ có vẽ một khuôn hình lấy tích “Kim Ngư Tinh bắt Tam Tạng”.

Kim Ngư Tinh lý là thử thách,

Sông thành băng phương cách dối đời.

(Báo Ân Từ).

 

 

KIM NGƯỠNG CỔ NGƯỠNG

今 仰 古 仰

Kim ngưỡng: Ngày nay vẫn ngưỡng vọng hay kính ngưỡng. Cổ ngưỡng: Ngày xưa rất ngưỡng vọng.

Kim ngưỡng cổ ngưỡng là một câu trong bài kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế, ý nói Đấng Thượng Đế từ ngày xưa cho đến ngày nay đều được nhơn loại tôn thờ và ngưỡng vọng.

Thật vậy, từ xưa con người đã thừa nhận có một Đấng với quyền năng sáng tạo ra Càn khôn Vũ trụ và vạn vật. Đấng Tạo Hoá ấy là Trời, được tôn vinh là Ngọc Hoàng Thượng Đế mà con người đã từ lâu tôn sùng và kính ngưỡng.

Nhưng thời xưa, còn chế độ Quân chủ, vua là Thiên Tử, tức con Trời, nên mới có quyền thay cho toàn dân để lập đàn tế Trời đất, cáo quỷ thần, gọi là tế giao.

Trong Lễ Ký, thiên Khúc Lễ có chép: Thiên tử tế Thiên địa, tế tứ phương, tế sơn xuyên, tế ngũ tự; chư hầu phương tự, tế ngũ tự; đại phu tế ngũ tự; sĩ tế kỳ tiên 天 子 祭 天 地, 祭 四 方, 祭 山 川, 祭 五 祀; 諸 侯 祭 方 祀, 祭 五 祀; 大 夫 祭 五 祀; 士 祭 其 先, nghĩa là nhà vua tế Trời đất, tế bốn phương, tế núi sông, tế ngũ tự, chư hầu tế phương mình ở, tế ngũ tự; quan đại phu tế ngũ tự; kẻ sĩ tế tổ tiên.

Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp cũng có giải thích điều nầy: Ông cha trong nhà thì thờ Tiên Tằng Tổ Khảo của Tông Môn, ông là giáo sư, là thầy cả trong gia đình. Ông Hương Chủ thì thờ Chư Thần tức là cả Công Thần vì nước mà hy sanh tánh mạng, được nhà Vua ân tứ làm chủ hương lân, nên trong làng ta chỉ thấy có đình thờ Thần thiên thu phụng tự mà thôi, nên ông Hương Chủ là thầy Cả của làng. Nhà Vua thì thờ Ðức Chí Tôn tức là Ngọc Hoàng Thượng Ðế, ta thấy sự tế tự Ðấng Chí Tôn ấy lưu truyền từ đời thượng cổ, nên hằng niên mới có tế Nam Giao, đó là tế Ðức Chí Tôn vậy.

Ở Việt Nam, lễ tế Trời, hay gọi là tế giao được các vua nhà Nguyễn tổ chức vào mùa xuân hàng năm, thuộc địa phận phường Trường An, thành phố Huế. Đàn Nam Giao, gồm có một nền tròn xây trên một nền vuông, biểu hiện cho Trời, Đất đạo lý Âm, Dương ngũ hành sinh hoá.

Lễ tế Nam Giao là nghi lễ quan trọng bậc nhất dưới chế độ quân chủ vì chỉ nhà vua mới có quyền làm lễ tế Giao, tức là tế Trời Đất, nhằm khẳng định tính chính thống của triều đại, uy quyền của Hoàng Đế tuân theo mệnh trời mà cai trị dân chúng.

Đến thời kỳ Công giáo được truyền bá từ Châu Âu sang Việt Nam, dân chúng mới có dịp đến Thánh Đường để kính lễ Đức Chúa Trời (Thượng Đế), còn những người không theo Công giáo, với sự tự do tôn giáo, ai có tín ngưỡng Trời đều được lập bàn thờ tại tư gia để thờ cúng.

Trước năm 1975, ở các vùng quê Nam Bộ, hầu như nhà nào cũng có đặt một bàn Thiên trước nhà (nhiều khi gọi là bàn thờ Ông Thiên). Đó là tín ngưỡng thờ Trời phổ biến ở dân gian miền Nam nước ta. Theo tín ngưỡng dân gian, Trời được xếp trước Phật trong các đối tượng được thờ, theo thứ tự “Trời, Phật. Thánh, Thần”, nên việc thờ Trời là việc đầu tiên của mỗi người, mỗi nhà.

Bàn thờ thường được làm bằng gỗ đơn sơ, gồm một cây cột cao khoảng 1,5m, phía trên đặt một tấm ván hình vuông, mỗi cạnh dài khoảng 0,4m, khá giả thì đổ cột bê tông và dán gạch men. Trên bàn thờ lúc nào cũng có một lư hương và mấy ly nước.

Kể từ năm 1926, Đức Chí Tôn giáng huyền cơ khai sáng đạo Cao Đài tại miền Nam nước Việt, thì hầu hết những tín đồ đều may duyên được vào Đền Thánh và các Thất Thất địa phương để sùng bái Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng.

Mỗi tín hữu khi đã nhập môn quy tùng chánh pháp Cao Đài, đều được Hội Thánh buộc phải lập ngôi thờ Thầy (Thượng Đế) tại tư gia, để chơn linh có nơi quy hướng. Mỗi năm vào những đàn vía hay sóc vọng, người tín đồ phải trọn tâm thành kính quy tụ về chầu lễ Đức Chí Tôn tại Đền Thánh hay Thánh Thất, Đức Mẹ Diêu Trì tại Báo Ân Từ hay Điện Thờ Phật Mẫu địa phương.

Kim ngưỡng cổ ngưỡng,

Phổ tế tổng Pháp Tông.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

KIM NHƠN BIỂU TỢ NHƠN

Hay “Kim nhơn biểu tự nhân”.

Kim nhơn: Người ngày hôm nay. Biểu tợ nhơn (biểu tự nhân): Bề ngoài tựa là người.

Kim nhơn biểu tợ nhơn, như chữ “Kim nhân biểu tự nhân 今 人 表 似 人”, nghĩa là người nay nhìn bên ngoài thật là người, ý nói con người ngày nay nhờ thời đại văn minh, nên ăn diện kiểu cách đúng là con người.

Do câu trong sách Nho: Cổ nhơn hình tợ thú, tâm hữu đại Thánh đức, kim nhơn biểu tợ nhơn, thú tâm an khả trắc 古 人 形 似 獸, 心 有 大 聖 德, 今 人 表 似 人, 獸 心 安 可 測, nghĩa là người xưa có hình dạng như thú, nhưng có tâm thánh đức, người ngày nay có bề ngoài là con người, nhưng lòng thú không lường được.

Chúng ta có thể nói theo Tiên Nho rằng: “Cổ nhơn hình tợ thú, tâm hữu đại Thánh đức, kim nhơn biểu tợ nhơn, thú tâm an khả trắc”.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

KIM ONG NỌC RẮN

Kim ong: Kim chích của loài ong. Nọc rắn: Nọc độc của giống rắn.

Kim ong nọc rắn ý muốn nói lòng người độc địa như kim của loài ong, nọc của loài rắn.

Miệng mật gươm lòng che độc ác,

Kim ong nọc rắn giả hiền lương.

(Thơ Thượng Thời Thanh).

 

 

KIM Ô

金 烏

Kim: Vàng. Ô: Con quạ.

Kim ô là con quạ vàng, dùng để chỉ mặt trời.

Hàn Dũ có câu: Kim ô hải để sơ phi lai 金 烏 海 底 初 飛 來, nghĩa là ác vàng đáy bể vừa bay lại.

Trông gương bạch thố gìn ngôi trước,

Ngó bóng kim ô giữ nghĩa sau.

(Tiêu Diêu Đạo Sĩ).

 

 

KIM PHONG

金 風

Kim: Vàng, là một trong ngũ hành kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ. Phong: Gió.

Theo thuyết ngũ hành, mùa thu thuộc hướng tây, hành kim, nên gió thu được gọi là kim phong.

Kim phong là gió vàng thuộc mùa thu, chỉ gió thu.

Kim phong đưa đẩy linh đình phận,

Ngọc tỉnh đầy vơi chất chứa sầu.

(Thơ Thuần Đức).

Cầu xây Ô thước đêm lồng lộng,

Gót chuyển Kim phong lá lượn lờ.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

KIM QUANG

金 光

Kim: Màu vàng. Quang: Dãy ánh sáng, tia sáng.

Kim quang là hào quang màu vàng.

Kim quang hay hào quang màu vàng thường được các Đấng Thiêng liêng dùng để đưa hoặc biến thành chiếc kiệu để đỡ các chơn linh lên cõi Thiêng liêng Hằng sống.

Xem: Kim quang kiệu.

Kỵ kim quang kiến Lão Quân,

Dựa xe Như Ý oai thần tiễn thăng.

(Kinh Tận Độ).

Tam Kỳ vận chuyển kim quang hiện,

Sám hối âm hồn xuất U đồ.

(Kệ Chuông).

 

 

KIM QUANG KIỆU

金 光 轎

Kim: Màu vàng. Quang: Dãy ánh sáng, tia sanh sáng. Kiệu: Vật để khiêng người đi.

Theo nghĩa các bài kinh Tận Độ, nơi cõi Thiêng liêng Kim quang làm thành chiếc kiệu, gọi là “Kim quang kiệu” dùng để đưa chơn linh ra khỏi cõi U minh hay đưa về cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Đẩu Tinh chiếu thấu Nguyên Tiêu,

Kim Quang kiệu đỡ đến triều Ngọc Hư.

(Kinh Tận Độ).

 

 

KIM QUANG SỨ

金 光 使

Kim quang: Ánh sáng màu vàng. Sứ: Sứ quân, chữ dùng để gọi sứ giả.

Kim Quang Sứ là Quỷ Vương (Chúa quỷ) A tu La tức là Cù Tán Đởm, bên Thiên Chúa Giáo gọi là Satan, Lucifer phản nghịch.

Trong thời Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, Ðức Chí Tôn cho Quỷ Vương làm Giám khảo để thử thách người tu, ai xứng đáng thì được Ngọc Hư Cung rước, ai chưa xứng đáng thì luân hồi để tu hành và lập công bồi đức.

Đức Hộ Pháp thuyết Đạo về Kim Quang Sứ như sau: Các Chơn Linh, từ bậc Hữu Tử Thiên trở xuống biết bao nhiêu mà nói. Họ không đáng gì là Thầy ta mà họ mơ vọng dạy ta, biểu ta làm học trò họ, đám chơn linh đó nhứt là ở trong Đại Hải Chúng, đệ nhứt nguy hiểm hơn hết là Kim Quang Sứ tự là Quỷ Vương, nếu chúng ta đã tu rủi lầm nghe người thì làm đầy tớ cho người, làm môn sanh của người. Có một điều Bần Đạo thấy hiển nhiên trước mắt, khi Đạo mới mở, Thánh Thể Đức Chí Tôn còn thương yêu hoà ái với nhau, chưa đến đỗi chia rẽ, chưa đến nỗi thù địch, kế người đến, Kim Quang Sứ đến cầm cơ cây viết câu này:

– Chín phẩm Thần Tiên nể mặt ta.

Ông Giáo Sư B... ở Kim Biên nói: “Ông nào đây chắc lớn lắm”, bước ra quỳ xuống lạy. Cơ viết luôn:

– Thích Ca dầu trọng khó giao hoà,

Kế ông C... bước ra quỳ xuống lạy nữa. Cơ viết tiếp:

– Lấy chơn đem giả tô thiên vị,

– Thắng bại, phàm tâm liệu thế à?

Tới chừng ký tên Kim Quang Sứ mới biết là Quỷ vương, là Tà Giáo. Hai người này đã theo nó, bằng cớ hiển nhiên các bạn ngó thấy các bạn của ta đã lầm cái thiệt ra cái giả. Nếu không giải quyết được cái hư thiệt chúng ta phải theo Tà Giáo mà chớ.

Thánh giáo Đức Chí Tôn, trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, cũng có dạy: Từ khai Thiên, Thầy đã sanh ra các con, sự yêu mến của một Ông Cha nhân từ thế quá lẽ, làm cho đến đỗi con cái khinh khi, phản nghịch lại, cũng như Kim Quang Sứ là A Tu La, Thánh giáo gọi là Lucifer phản nghịch náo động Thiên cung.

Ngoại ô còn những chơn hồn,

Chính Kim Quang Sứ Chí Tôn cho quyền.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

KIM RỜI CẢI RỤNG

Kim cải là cây kim và hột cải, chỉ tính tình hoà hợp nhau mà tìm đến nhau, nói tình vợ chồng gắn bó.

Do câu: Hổ phách thập giới, từ thạch dẫn châm, các dĩ loại cảm 琥 珀 拾 芥, 磁 石 引 針, 各 以 類 感, nghĩa là hổ phách hút hột cải, đá nam châm hút kim, đều tuỳ theo loại mà cảm nhau, chỉ tình trai gái hay vợ chồng khắng khít nhau, như nam châm hút cây kim, hổ phách hút hột cải.

Kim rời cải rụng ý nói duyên tình đổ vỡ, không còn gắn bó nhau nữa.

Kim rời cải rụng lòng ngao ngán,

Đá nát vàng phai dạ ngậm ngùi.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

KIM SA ĐẠI ĐIỆN

金 沙 大 殿

Hay “Kim Sa”.

Kim: Vàng. Sa: Cát.

Theo Đức Hộ Pháp trong “Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống”, Kim Sa Đại Điện là nơi ngự của Đức Phật Thích Ca, trong Lôi Âm Tự.

Kim Sa là hạt cát vàng do phép Phật tạo ra, tượng trưng cho hiệu lịnh của Đức Phật.

Trong bài Kinh Đệ Lục Cửu, khi Chơn hồn vào cung Lập Khuyết phải đến lãnh Kim sa lịnh của Phật để được gặp Đức Như Lai.

1.- Kim Sa Đại Điện:

Thích Ca ngự Kim Sa Ðại Ðiện,

Ðịnh kỳ trong Tam chuyển Hạ Nguơn.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

2.- Kim Sa:

Cung Lập Khuyết tìm duyên định ngự,

Lãnh Kim sa đặng dự Như Lai.

(Kinh Tận Độ).

 

 

KIM TIÊN

 

1. KIM TIÊN 金 仙

Kim: Vàng. Tiên: Bậc Tiên.

Kim Tiên là một bậc đại Tiên, cao hơn hết trong hàng phẩm Tiên.

Trên Động Linh Sơn, núi Điện Bà xưa có vị Đạo Nhỏ tu đạt được Thần Thông, nên thường xuống núi cứu giúp người đời. Khi quy liễu, Ông đắc đạo thành bực Kim Tiên, hiệu là Huệ Mạng Trường Phan, nên thường gọi là Huệ Mạng Kim Tiên.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có dạy: Vì vậy cho nên các con coi thử lại, từ hai ngàn năm nay, bên Á Ðông nầy đã đặng bao nhiêu Tiên, Phật. Các con duy biết có một mình Huệ Mạng Kim Tiên mà thôi.

Bát Chuyển đức thanh cao thấm nhuận,

Ðến bực này thì chứng Kim Tiên,

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

2. KIM TIÊN 金 鞭

Kim: Vàng. Tiên: Cây roi.

Kim tiên là cây roi vàng.

Theo truyện Phong Thần, Kim Tiên là một bửu pháp của Thái sư Văn Trọng vào thời Trụ Vương. Ngài được phong chức Cửu Thiên Cảm Ứng Lôi Thinh Phổ Hoá Thiên Tôn, chưởng quản về Lôi bộ.

Trong Đạo Cao Đài, Kim tiên là một Bửu pháp của Đức Hộ Pháp dùng để diệt quỷ trừ ma, bảo toàn cho chánh pháp của Đức Chí Tôn.

Đức Hộ Pháp đem cây Kim Tiên và cây Long Tu Phiến của Đức Cao Thượng Phẩm trấn pháp tại Trí Huệ Cung, Thiên Hỷ Động. Trong bài Thuyết Đạo Ngài nói: Ấy là Bí Pháp trấn tại Thiên Hỷ Động Trí Huệ Cung. Toàn thể ngó thấy không có gì hết, mà trong đó có quyền pháp vô biên, vô giới. Giải thoát đặng cùng chăng là do bao nhiêu đó.

Quyền năng Ngọc Đế cơ quy hợp,

Điển lực Kim Tiên pháp trị loàn.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

KIM TIỀN

金 錢

Kim: Vàng. Tiền: Tiền bạc, vật in bằng giấy hay đúc bằng kim loại dùng làm phương tiện giao dịch.

Kim tiền là vàng và tiền, tiếng dùng để gọi chung về tiền bạc.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Thế mà người đời chưa thức tỉnh, vẫn còn say mê trong giấc mộng kim tiền, cũng hung hăng bạo ngược, cũng gian xảo trăm bề, cũng chước quỷ hại nhơn, tham vàng bỏ nghĩa.

Vợ không tham nhũng kim tiền,

Chồng lo trọn đạo nắm quyền chăn dân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Giải ách cậy kim tiền làm kế,

Thích tình xem khanh tể là mưu.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

KIM TINH

金 星

Kim: Một trong ngũ hành. Tinh: Ngôi sao.

Kim Tinh là một trong năm ngôi sao thuộc ngũ hành kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ, và chín đại hành tinh thuộc Thái Dương hệ, hành tinh xếp thứ hai trong thứ tự gần mặt trời, có quỹ đạo giữa Thuỷ Tinh và Địa Cầu, nên từ Địa Cầu nhìn thấy Kim tinh rất sáng. Người ta còn gọi Kim Tinh bằng Trường Canh, Thái Bạch.

Theo cơ bút đạo Cao Đài, Lý Đại Tiên Trưởng thọ lịnh Đức Chí Tôn làm Nhứt Trấn Oai Nghiêm, cầm quyền Tiên Giáo trong thời Tam Kỳ Phổ Độ, kiêm Giáo Tông Đạo Cao Đài.

Ngài giáng linh nơi nước Trung Hoa là Đại thi hào Lý Thái Bạch vào năm 702 đời vua Trần Huyền Tông nhà Đường. Mẹ Ngài nằm mộng thấy sao Kim, tức Trường Canh hay sao Thái Bạch Kim Tinh sa xuống mình Bà, nên đặt tên là Lý Thái Bạch, gọi tắt là Lý Bạch.

Xem: Lý Bạch.

Ánh Thái Cực biến sanh Thái Bạch,

Hiện Kim Tinh trọng trách Linh Tiêu.

(Đạo Sử).

 

 

KIM TUYẾN

金 線

Kim: Vàng. Tuyến: Sợi chỉ, sợi dây.

Kim tuyến là sợi dây kim loại mỏng như sợi chỉ, màu óng ánh, thường dùng để trang trí. Như: Chỉ kim tuyến, bức vẽ thêu kim tuyến.

Trong đạo Cao Đài, đạo phục của Chánh Trị Sự có viền chỉ kim tuyến vàng, đạo phục của Phó Trị Sự thì viền chỉ kim tuyến bạc.

Áo cổ trịt viền chỉ kim tuyến vàng, nơi tay trái có ba sắc đạo...

(Pháp Chánh Truyền CG}

 

 

KIM THẠCH

金 石

Kim: Vàng. Thạch: Đá.

Kim thạch là vàng đá, hai thứ cứng rắn, bền lâu, nên được dùng để ví với sự kiên trinh, tiết tháo, bền vững tình nghĩa vợ chồng, bè bạn.

Đường Thi có câu: Duy hữu đồng tâm nhân, khả đương kim thạch luận 維 有 同 心 人, 可 當 金 石 論, nghĩa là duy có người cùng lòng, mới nên bàn chuyện vàng đá.

Kim thạch đồng tâm bách tuế giai,

Trần Trương kết tóc đặng lâu dài.

(Thơ Thông Quang).

Thắm nhuận chi lan vòng gắn bó,

Thiết tha kim thạch điệu dồi mài.

(Thơ Huệ Ngàn).

 

 

KIM THÂN

金 身

Kim: Vàng bạc. Thân: Hình tượng, thể xác.

Kim thân dùng để chỉ tượng Phật bằng vàng, vì ngày xưa các vị vua chúa sùng Đạo Phật, thường dùng vàng, đồng hoặc bạc để đúc tượng Phật thờ.

Kim thân còn dùng để chỉ xác thân thiêng liêng, hay chơn thần quý báu của Đức Phật hay các bậc đắc Đạo.

Ánh Xá lợi sáng ngời Cực Lạc,

Hiển kim thân Bồ Tát hoá duyên.

(Xưng Tụng Công Đức).

 

 

KIM THỂ

金 體

Kim: Vàng bạc. Thể: Hình thể, thân thể.

Kim thể, đồng nghĩa với chữ “Kim thân 金 身”, là hình thể thiêng liêng của Đức Phật, cũng là chơn thần quý báu của Phật.

Kim thể còn dùng để chỉ xác thân thiêng liêng của các bậc đắc đạo.

Xem: Kim thân.

Bồ liễu nhứt thân sanh biến hoá,

Tác thành kim thể đắc trường sanh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

KIM THIÊN

金 天

Kim: Vàng. Thiên: Tầng Trời.

Kim Thiên là tầng Trời thứ sáu trong Cửu Trùng Thiên. Trên tầng Trời này có miền Bạch Y Quan ánh sáng đều màu trắng.

Tầng Trời này do Lục Nương Diêu Trì Cung trông coi và Bà có nhiệm vụ cầm phướn Truy Hồn tiếp dẫn các Chơn hồn lên cõi Kim Thiên.

Bạch Y Quan mở đàng rước khách,

Cõi Kim Thiên nhẹ tách Tiên xa.

(Kinh Tận Độ).

Cõi Kim Thiên, Khổng tước kề,

Hữu căn tiếp dẫn hồn về Tây Phương.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

KIM THỜI

今 時

Kim: Nay. Thời: Giờ, thời kỳ.

Kim thời là thời nay, tức thời buổi ngày nay, hay thời hiện tại chúng ta đang sống.

Lời tựa Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Bậu bạn lỗi câu tín nghĩa, vợ chồng quên đạo tào khương; mãng vụ chữ kim thời mà phong dời tục đổi.

Nhơn vật khác vời,

Vị chữ kim thời,

Phong dời tục đổi,

Ðiền viên đất nổi lên vàng,

Oằn vai nông chịu muôn ngàn thuế sưu.

(Ngụ Đời).

Gấm nhiễu kim thời khoe mỹ lệ,

Vải bô cổ tục lựa phô trang.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

KIM TRA MỘC TRA NA TRA

Kim Tra, Mộc TraNa Tra là tên ba anh em ruột, con của Lý Tịnh, quan Tổng Binh giữ ải Trần Đường đời vua Ân Trụ.

Người con lớn là Kim Tra, học trò của Văn Thù ở núi Ngũ Long, động Vân Tiêu. Người con thứ hai là Mộc Tra, theo học đạo với Phổ Hiền ở núi Cửu Cung, động Bạch Hạc. Còn người con thứ ba là Na Tra, học trò của Thái Ất ở núi Càn Nguơn, động Kim Quang.

Sau cả ba anh em được thầy cho xuống núi giúp Khương Tử Nha đánh Trụ dựng cơ nghiệp nhà Châu.

Kim Tra, Mộc Tra và Na Tra là ba vị trong Thất Thánh, được đạo Cao Đài khắc tượng nơi bao lam phía bên tả tại Đền Thánh.

Xem: Thất Thánh.

Kim Tra, Mộc tra, Na Tra,

Chấn Tử, Vi Hộ, cùng là họ Dương.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

KÌM

Kìm là một loại đàn có hai dây, cần dài, phím cao, thùng đờn hình tròn.

Đờn kìm còn gọi là đờn nguyệt.

Như: Trong các loại đờn cổ nhạc, cây kìm là loại nhạc cụ tôi ưa thích nhứt.

Hễ muốn cho hoà tiếng tranh kìm,

Kìm sửa phím tranh lên cho đúng bực.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

KÍN

Kín là không hở, không lộ. Như: Che lấp kín, kín cổng cao tường, cất kín trong tủ.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Người tu sĩ Cao Ðài phải biết vì Ðời mà chịu khổ, thật hành chủ nghĩa vị tha dám quên mình thì mới thật là xả thân cầu Ðạo, đem đời sống hiến trọn cho Ðạo và cho nhân sanh, sự quả quyết hy sinh do nơi lòng trắc ẩn trước mọi đau khổ trên thế gian tình thương phải được lan tràn vây kín đám nhân sanh là đám dân bần hàn khốn khổ để thực hiện câu đem Ðạo cứu Ðời.

Non Thái dầu cao, cao hoá thấp,

Chậu kia dầu kín thấy thông thương.

(Đạo Sử).

Che đậy kín tường đông ong bướm,

Giấu nhặt nghiêm nhụy tướng hương hình.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

KÍN ĐÁO

Kín: Che dấu, không để lộ ra.

Kín đáo là kín để có thể tránh được những tác động bên ngoài, tránh được điều nào đó không có lợi.

Kín đáo còn dùng để chỉ không để cho tư tưởng, tình cảm biểu hiện ra làm người ngoài biết được.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có đoạn: Chúng ta thử nghĩ trong xã hội của chúng ta, dầu một cái yến tiệc, hay là dầu một cái cơ thể hội hiệp nào mà rủi cho chúng ta có cử chỉ không đặng kín đáo nó không đúng mực thước giữa cả thảy. Nếu trong lúc đó có kẻ khó tánh họ đã trích điểm và họ cho rằng ta không đáng đứng giữa xã hội với họ.

Trải cật phòng loan che kín đáo,

Căm gan đoàn muỗi hết buông lung.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

KÍN NHIỆM

Kín: Không để cho lộ ra bên ngoài có thể thấy, biết được. Nhiệm: Sâu, kín.

Kín nhiệm là sâu kín trong lòng, tức không để lộ ra những điều cần giữ bí mật.

Bảo Pháp thì gìn giữ sự bí mật ấy cho kín nhiệm, làm tờ đoán xét và định án chiếu y luật đạo, rồi dâng lên cho Hộ Pháp đặng người phân xử.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

KINH

1.- Kinh là đạo thường, phép thường, không thể biến đổi được, trái với quyền.

Như: Kinh quyền, chấp kinh tùng quyền.

Biết tùng quyền hiểu chấp kinh,

Tìm phương hay gởi lấy mình cửa tu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Kinh là sách chép những lời của Thánh hiền, hoặc Tiên Phật để làm khuôn phép tu sửa. Như: Tứ thư ngũ kinh, Kinh truyện, Kinh cúng Tứ thời.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Còn về sự làm cho rỡ ràng trong đạo hữu, các con nên liệu tính cho kíp. Sự cầu kinh thì do nơi đám táng của mẹ Hậu, đều khác hơn một thí.

Câu kinh cửa Khổng dường non Thái,

Tiếng kệ đời Nghiêu giống đảnh Kỳ.

(Thất Nương Giáng Bút).

Thay đạo phục bước xăng lánh thế,

Mơi thì kinh, tối kệ giải lòng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Dạy gắng học sử kinh lảu thuộc,

Thấy gương hay trau chuốt lấy thân mình.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Kinh là chỗ vua đóng đô, hoặc nơi Đức Thượng Đế ngự triều.

Như: Sĩ tử lên Kinh ứng thí, kinh Bạch Ngọc là triều nghi của Đức Chí Tôn.

Đạo pháp đương kim dương chánh giáo,

Linh quang chiếu diệu Ngọc Kinh cung.

(Kệ Trống).

4.- Kinh là sợ. Như: Kinh hãi, kinh tâm.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy lại cũng đã nói: Mỗi khi Chơn linh Thầy giáng đàn thì cả vàn vàn muôn muôn Thần, Thánh, Tiên, Phật theo hầu hạ. Các con nếu mắt phàm thấy đặng phải khủng khiếp kinh sợ vô cùng, nhưng thấy chẳng đặng, nên tội cũng giảm nhẹ đó chút.

Chánh trực kinh oai loài giả dối,

Công bình vùa sức kẻ chơn thành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tà mị phàm rung rinh chất Thánh,

Mùa màng sâu phá hoại hồn kinh.

(Thơ Thượng Phẩm).

5.- Kinh là một thứ cây gai. Như: Bố quần kinh thoa, kinh cức (gai góc), kinh bố.

Bố kinh như chữ “Bố quần kinh thoa” tức là quần bằng vải, thoa bằng gai, ý chỉ người đàn bà tiết kiệm.

Xem: Kinh bố.

Nếu gặp phước bố kinh đáng khách,

Biết yêu hoa dưới ngạch phòng thu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

KINH BANG TẾ THẾ

經 邦 濟 世

Kinh bang: Sửa sang việc nước, hay trị nước. Tế thế: Cứu đời, giúp đời.

Kinh bang tế thế là giúp đời trị nước, ý chỉ người có tài trông coi việc nước, cứu giúp người đời.

Như: Ông ấy là người có tài kinh bang tế thế.

Những bậc hiền thời xưa là những người tài kinh bang tế thế và có một tiết tháo đáng kính.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

KINH BỐ

荊 布

Kinh: Một thứ cây gai, dùng để dệt vải. Bố: Vải.

Kinh bố, bởi câu thành ngữ “Kinh thoa bố quần 荊 釵 布 裙”, nghĩa là trâm cài đầu bằng gai, quần bằng vải bô dùng để chỉ người vợ giản dị, hiền đức.

Lấy điển tích nàng Mạnh Quang khi về nhà chồng lột bỏ hết đồ gấm lụa, trang sức quý giá để mặc áo vải bô, dùng gai làm thoa giắt tóc (Kinh thoa bố quần), rồi theo chồng làm việc.

Cùng nhau giữ trọn hương nguyền,

Cái duyên kinh bố là duyên Châu Trần.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

KINH CẦU SIÊU

Kinh: Kinh sách.

Cầu siêu 求 超: Cầu siêu là cầu xin các Đấng Thiêng Liêng cứu giúp cho vong hồn người chết được thoát khỏi Âm Quang, siêu thăng lên cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Nguồn gốc bài Kinh Cầu Siêu của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ nguyên là bài “Sám Cầu Siêu” được Hội Thánh Cao Đài thỉnh từ Chi Minh Lý, tức chùa Tam Tông Miếu bây giờ.

Bài Kinh này, Chi Minh Lý cầu Đức Chuẩn Đề Bồ Tát giáng cơ ban cho và Ngài dạy phải truyền kinh để phổ độ. Khi Đạo Cao Đài được khai sáng, Hội Thánh Cao Đài cử một phái đoàn gồm bốn Ngài: Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung, Đức Thượng Phẩm Cao Quỳnh Cư, Giáo Sư Vương Quang Kỳ và Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc đến Minh Lý Đạo thỉnh sáu bài Kinh, trong đó có bài Kinh Cầu Siêu.

Kinh Cầu Siêu là bài Kinh dùng để tụng cho các Chơn linh mới chết hay các tuần Cầu Siêu bạt tiến trong đạo Cao Đài để cầu xin Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu và các Đấng Thiêng liêng Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thất Nương Diêu Trì Cung ân xá cho vong hồn người chết thoát khỏi Âm quang, được siêu thăng Tịnh độ.

Trong thời gian hành tang lễ tại nhà, tang gia hiếu quyến phải giữ chay lạt và nhứt là trước khi thực hiện lễ Cầu siêu, những người thân trong tang quyến (con cháu) và thân bằng quyến thuộc phải tập trung để thành tâm cầu nguyện cho linh hồn người chết được nhẹ nhàng siêu thoát.

Trong quyển “Thiên Đạo”, hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có nói đến sự tác dụng của Kinh Cầu siêu như sau: “Kinh Cầu Siêu rất linh nghiệm vì mỗi tiếng tụng lên vốn có sức rung động huyền diệu vô cùng. Sức rung động ấy, hiệp với sức tư tưởng mạnh mẽ và thành kỉnh của người tụng kinh gây thành một mảnh lực phi thường đánh tan Chơn thần của âm nhơn, giúp cho họ mau giải thoát đau khổ và hình phạt Thiêng Liêng đặng đi đầu thai sớm được”.

Thực hiện lễ Cầu siêu là nhằm cầu xin Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu, Địa Tạng Vương Bồ Tát cứu giúp phần nào cho vong linh người chết được nhẹ nhàng, chứ không hẳn nhiên cầu là được siêu thoát, vì nó còn tùy thuộc vào nghiệp quả nặng nhẹ mà kiếp sanh người chết đã gây tạo.

Nhưng sự siêu thoát của cha mẹ ông bà có thể trợ giúp được phần nào bằng việc làm của con cháu, vì con cháu có liên hệ huyết thống và chịu chung những oan trái với người mất. Nếu con cháu biết lo tu hành, lập công bồi đức để có thừa âm chất mà đem hiến dâng cho cha mẹ, ông bà thì những Chơn linh này có thể được nhẹ nhàng trở về ngôi xưa vị cũ, như lời bài Kinh Tụng Cha Mẹ Đã Quy Liễu có câu: “Thong dong cõi thọ nương hồn, Chờ con lập đức giúp huờn ngôi xưa”.

Kinh Cầu Siêu rất linh nghiệm vì mỗi tiếng tụng lên vốn có sức rung động huyền diệu vô cùng.

(Thiên Đạo).

 

 

KINH CỨU KHỔ

Kinh: Kinh sách. Cứu khổ 救 苦: Giúp cho thoát khỏi sự khổ sở.

Kinh Cứu Khổ là một bài kinh tụng để cầu Đức Quan Thế Âm Bồ Tát cứu khổ, cứu nạn cho chúng sinh khi gặp tai ương hay bệnh tật. Bởi vì Đức Quan Thế Âm là vị Bồ Tát có hạnh nguyện “Tầm thinh cứu khổ 尋 聲 救 苦”, tức là nơi nào chúng sanh có sự khổ đau, tai ách mà có lòng thành cầu xin cứu giúp, thì Đức Ngài liền ban ơn cho tiêu tai miễn hoạ.

Theo Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, phẩm Phổ Môn, hễ ai thờ Ngài ắt được phước đức, ai cầu nguyện và niệm danh hiệu Ngài thì được Ngài chở che cứu giúp qua khỏi nạn tai.

Đạo Cao Đài thường tụng bài kinh Cứu khổ để cầu siêu cho Cửu Huyền Thất Tổ, Thượng Tượng, cầu an (An vị Thánh Tượng), hay cầu giải bệnh cho người bịnh tật.

Thầy Sải ngồi ca kinh Cứu Khổ,

Học trò xúm tụng kệ Huỳnh đình.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Lau lệ thảm câu kinh Cứu Khổ,

Giải oan cừu giọt nước Ma Ha.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

KINH CHÂU THẤT THỦ

陘 州 失 守

Kinh Châu: Tên một quan ải của nước Thục đời Tam Quốc. Thất thủ: Không giữ được.

Kinh Châu thất thủ hay Thất thủ Kinh Châu 失 守 陘 州, là nói ải Kinh Châu do Quan Võ trấn giữ, sau bị Tôn Quyền, dùng mưu kế của Lữ Mông phục binh đánh chiếm, rồi chận đường bắt sống giết chết.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Ðến sau Ðức Ngài lầm gian kế của Lử Mông thất thủ Kinh Châu bị binh Ngô bắt được, Ðức Ngài tận trung với Hớn thất nên cam chịu chết chứ không chịu đầu.

Kinh Châu thất thủ nơi Thiên định,

Khiến Hớn vận suy mới đổi thay.

(Đạo Sử).

 

 

KINH DI LAC

Kinh: Kinh sách.

Di Lac (Di Lạc 彌 勒): Vị Phật còn đang ở trên tầng trời Đâu Suất thuyết pháp, đợi đến ngày giáng sinh làm người ở trần gian để tu thành Phật, tức là một vị Phật tương lai, sau Đức Thích Ca Mâu Ni vậy.

Kinh Di Lạc tức là Di Lạc Chơn Kinh (Di Lạc Chân Kinh 彌 勒 真 經) là một bài kinh do Đức Thích Ca Mâu Ni Văn Phật giáng cơ ban cho chúng sanh đạo Cao Đài vào tháng 8 năm 1935.

Theo bài kệ, Di Lạc Chơn Kinh là một bài kinh tận độ do Đức Thích Ca Mâu Ni Văn Phật thuyết giảng về tầng trời Hỗn Nguơn Thiên và Hội Nguơn Thiên của Đức Di Lạc Vương Phật cai quản cho chúng sanh trong thời Tam Kỳ Phổ Độ tụng đọc.

Hỗn Nguơn Thiên có các vị Phật: Brahma Phật, Civa Phật, Christna Phật, Thanh Tịnh Trí Phật, Diệu Minh Lý Phật, Phục Tưởng Thị Phật, Diệt Thể Thắng Phật, Phục Linh Tánh Phật và Hội Nguơn Thiên có các vị Phật: Trụ Thiện Phật, Đa Ái Sanh Phật, Giải Thoát Khổ Phật, Diệu Chơn Hành Phật, Thắng Giái Ác Phật. Tất cả các vị Phật theo lịnh Di Lạc Vương Phật cứu giúp tam tai, cứu giúp bịnh tật, cứu độ và dẫn dắt chúng sanh thoát hết các nghiệp chướng, ắt được giải thoát.

Xem: Di Lạc Chơn Kinh.

Hai Ngài tận sức thành toàn,

Nên Kinh Di Lạc được ban tuyệt vời.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

KINH DỊCH

Kinh: Sách của các bậc Thánh hiền viết. Dịch: Sự biến dịch, thay đổi.

Kinh dịch, hay “Dịch kinh 易 經”, là một trong Ngũ kinh của Nho gia, do đức Khổng Tử san định lại, là quyển sách giải thích về sự thay đổi, biến hoá trong trời đất.

Kinh Dịch có thể đem áp dụng qua y học và lý số, nên sau này người dùng vào việc bói toán.

Kinh Dịch có tám quẻ chính gọi là bát quái, do vua Phục Hy đặt ra, sau đó Khổng Tử giải thích các quẻ ấy thành kinh dịch.

Trong sáu bộ kinh chỉ còn lại có ngũ kinh là Kinh Dịch, Kinh Thư, Kinh Thi, Kinh Lễ và Kinh Xuân Thu.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

KINH DINH

Hay “Kinh doanh”.

Kinh: Hoạch định. Dinh (doanh): Chỉ việc làm ăn mua bán.

Kinh dinh, như chữ “Kinh doanh 經 營”, là gây dựng, mở mang thêm.

Kinh dinh (doanh) còn có nghĩa là trù hoạch để tổ chức việc làm ăn mua bán hay sản xuất sinh ra lợi lộc.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Ðã thọ phẩm vị của Ðạo, nhưng chư quý vị còn vướng bận vai tuồng thế sự là vai tuồng mà mỗi người đều phải đảm nhiệm để làm tròn nhơn Ðạo, thì phương pháp hay nhất là quý vị nên lấy tinh thần Ðạo Ðức để xử kỷ tiếp nhân và dựa vào tinh thần đó mà làm cho êm dịu phần nào cái khổ nhọc của kiếp nhân sanh, đồng thời cũng dụng cái biệt tài hoặc chí kinh doanh của mình mà lập chút công chi đối với Ðạo.

Dòm thấy cuộc kinh dinh dưới mắt,

E trở tâm tánh bắt đổi thay.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

KINH ĐIỂN

經 典

Kinh: Sách Thánh Hiền. Điển: Sách vở.

Kinh điển dùng để chỉ các loại sách Thánh Hiền, Giáo lý các tôn giáo, sách về luân thường đạo lý, sách tài liệu về học thuyết hay chủ nghĩa.

Thánh giáo Thầy có câu: Kinh điển giúp đời siêu phàm nhập Thánh, chẳng khác chi đũa ăn cơm, chẳng có đũa, kẻ có cơm bốc tay ăn cũng đặng.

Lợi quyền say đắm vinh thành nhục,

Kinh điển trau giồi dở hoá hay.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

KINH ĐÔ

京 都

Kinh: Thủ đô, to lớn. Đô: Một khu vực lớn, nơi chính phủ làm cơ quan trung ương.

Kinh đô là đô thành to lớn trong một nước, hay thủ phủ của một nước.

Trong “Con đường Thiêng Liêng Hằng Sống” Đức Hộ Pháp gọi Cực Lạc Thế Giới là một Kinh đô. Ngài nói: Chúng ta rủ nhau về đến Niết Bàn Cảnh, bởi Niết Bàn Cảnh cũng như Kinh đô Cực Lạc Thế Giới vậy, chúng ta sẽ ngó thấy Đức Phật Thích Ca nơi Kim Sa Đại Điện...

Kinh đô gầy dựng ngàn năm lẻ,

Trước Chúa Gia Tô hợp đại hoà.

(Đoàn Thị Điểm Giáng).

Non nước cũ nay đương sửa mới,

Chốn Kinh đô tiến tới đăng quang.

(Đoàn Thị Điểm Giáng).

 

 

KINH HOÀNG

驚 惶

Kinh: Hoảng kinh. Hoàng: Sợ sệt.

Kinh hoàng là sợ sệt quá sức, đến mức như người mất hồn, mê sảng.

Như: Chứng kiến cảnh kinh hoàng nên tâm trí anh ấy gbij thất thần.

Cồn dâu hoá biển nghĩ kinh hoàng,

Phàm thể dụng quyền chủ tạo đoan.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

KINH HỒN

驚 魂

Kinh: Sợ sệt, sợ hãi. Hồn: Linh hồn, phần tinh thần của con người.

Kinh hồn tức là sợ hãi như mất cả hồn vía, có ý nói sợ dữ dội.

Như: Nghe tiếng nổ khiến mọi người kinh hồn.

Dệt thảm lê dân Trời cám cảnh,

Thêu sầu xã tắc đất kinh hồn.

(Thất Nương Giáng Bút).

Tai Trời đến mới kinh hồn mất vía,

Nhớ lại Thầy, Thầy đã đi đâu!

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

KINH KỆ

經 偈

Kinh: Nền tảng của một triết thuyết hay một Tôn giáo. Ví dụ như: Ngũ kinh trong Nho giáo, Đạo Đức kinh trong Lão giáo, Tam Tạng kinh trong Phật giáo và Kinh Thánh của Công giáo. Kệ: Những bài thơ ngắn hay dài để tóm tắt đại ý một bài thuyết pháp hay một đoạn kinh, hoặc để ca ngợi công đức Phật, hoặc để cầu nguyện, hoặc là một bài dùng để kệ chuông, kệ trống...

Kinh kệ là chữ dùng chung trong việc tụng kinh và khai kệ trong thời công phu.

Trong Di Lạc Chơn Kinh có câu: Khai kinh kệ vô thượng thậm thâm vi diệu pháp, Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ, Ngã kim thính văn đắc thọ trì, Nguyện giải Tân kinh chơn thiệt nghĩa 開 經 偈 無 上 甚 深 微 妙 法, 百 千 萬 刧 難 遭 遇. 我 今 聽 聞 得 受 持, 願 解 新 經 真 實 義, nghĩa là Bài Kệ khai “Di Lạc Chơn Kinh”: Những giáo pháp vô thượng của Đức Phật lắm cao sâu, huyền vi và mầu nhiệm. Dù trăm ngàn muôn kiếp không có duyên phần cũng rất khó mà gặp đặng. Ngày nay Ta nghe biết, được thọ lấy và gìn giữ, Nguyện giải thích bài Tân kinh nầy với ý nghĩa chơn thiệt của Phật.

Vui kinh kệ tạo đầy phúc hậu,

Vui ngang tàng chớ thấu lẽ minh.

(Bát Nương Giáng Bút).

Câu kinh tiếng kệ gọi hồn,

Kêu thương khách tục, giải lòng người nhân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

KINH KỲ

京 畿

Kinh: Thủ đô một nước. Kỳ: Đất của nhà vua, sau dùng để chỉ chốn Kinh đô, kinh sư.

Kinh kỳ là chỉ đất ở thủ đô một nước. Như: Thứ nhứt kinh kỳ, thứ nhì phố Hiến.

Cố hương cách khoảng Kinh kỳ,

Hết mong năm thuở mười thì... Hết mong.

(Phù Kiều Hận Sử).

Lệ Dung lén giúp sách tiền,

Kinh kỳ mở hội Trạng nguyên đỗ đầu.

(Báo Ân Từ).

 

 

KINH KHỦNG

驚 恐

Kinh: Sợ hãi. Khủng: Khiếp sợ.

Kinh khủng, như chữ “Khủng khiếp 恐 怯”, là hoảng sợ ở một mức độ rất cao, dường như không chịu đựng nổi.

Trong Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có đoạn dạy: Lão mới để dạ lo lường; nếu Lão nói rõ ra, e cho chư Hiền Hữu phải kinh khủng sợ sệt nên dặn rằng: Ðạo vốn nơi Cơ Bút mà phát thành. Vậy Lão khuyên cẩn thận cho lắm.

Em nói thiệt rằng, mấy anh hiểu thấu, thì kinh khủng chẳng cùng.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

KINH LÂN

Kinh: Kinh sách. Lân: Con kỳ lân.

Kinh lân, như chữ “Lân kinh 麟 經”, tức chỉ kinh Xuân Thu của Đức Khổng Tử.

Tương truyền Khổng Tử chép kinh Xuân Thu, khi nghe có người bắt được con kỳ lân què thì ngưng, không chép nữa, vì cho rằng đạo của mình đã cùng.

Vì thế, người đời sau gọi kinh Xuân Thu là “Kinh Lân” hay “Lân kinh”.

Giấc mộng phù sanh thức tỉnh lần,

Cảnh chiều thư thả đọc Kinh Lân.

(Thơ Thuần Đức).

Dưới ánh đèn trời quên thế sự,

Ngày ngày khoác áo đọc Kinh Lân.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

KINH LỄ

Kinh: Sách của các bậc Thánh hiền viết. Lễ: Cách bày tỏ lòng kính, tên sách ngày xưa.

Kinh Lễ, như chữ “Lễ Kinh 禮 經”, là một bộ sách trong Ngũ Kinh, chép những lễ nghi để giữ trật tự lớn nhỏ cho phân minh, hay để hàm dưỡng những tình cảm tốt đẹp, và để tiết chế tình dục.

Kinh Lễ có Châu Lễ, Nghi Lễ và Lễ Ký, nhưng chỉ có Lễ Ký mới liệt vào Ngũ Kinh mà thôi.

Châu Lễ và Nghi Lễ của ông Châu Công soạn ra, trong đó ghi lại những điển chương chế độ để cai trị thiên hạ. Còn Lễ Ký của Hán Nho, lượm lặt những phép tắc trong đời Ngu, Hạ, Thương, Châu và những lời của Thánh hiền gom lại thành sách.

Trong Lễ Ký chép lại những phép tắc cư xử, quan, hôn, tang, tế trong nhà, ở ngoài làng xã và tại triều đình. Kinh Lễ gồm tất cả 46 thiên, nhưng chung quy không có điều gì là “Vô bất kính 無 不 敬”, tức là không có điều gì là không kính.

Trong sáu bộ kinh chỉ còn lại có ngũ kinh là Kinh Dịch, Kinh Thư, Kinh Thi, Kinh Lễ và Kinh Xuân Thu.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

KINH LUÂN

經 綸

Kinh: Chia ra từng mối tơ. Luân: So những mối tơ cho bằng để gộp lại với nhau.

Kinh luân được ví như người thợ dệt phải khéo léo chia các sợi tơ ra gọi là kinh, so các dây tơ lại bằng đầu thì gọi là luân.

Kinh luân theo nghĩa đen sắp xếp dây tơ để khỏi bị rối rắm.

Nghĩa bóng: Sắp đặt sửa sang các việc chính trị trong nước một cách khéo léo, tài giỏi.

Kinh luân đứt nối khó truyền,

Gãy câu Khương Tử, đắm thuyền Ngư Công.

(Ngụ Đời).

Dụng văn hoá trau tria nữ phách,

Lấy kinh luân thúc thách quần hồng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Nhắp cần thao lược dò sâu cạn,

Nương sợi kinh luân sửa mối giềng.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

KINH LUẬT

經 律

Kinh: Kinh sách. Luật: Luật pháp.

Kinh luật là từ dùng trong tôn giáo, chỉ kinh sách và luật pháp.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Ngày nay, chúng ta đã thấy tưởng chừng như Chí Tôn đã khiến mấy vị phóng viên bên Mỹ đến lấy hình trọn vẹn của Ðạo, đủ cả chi tiết, kinh luật đem về xứ để truyền bá, thì mấy vị nầy chẳng khác như Ðức Tam Tạng ngày xưa đến Ấn Ðộ thỉnh kinh.

Như thảng có kinh luật chi làm hại phong hoá thì chúng nó (Chỉ ba vị Chưởng Pháp) phải trừ bỏ, chẳng cho xuất bản.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

KINH NGHIỆM

Kinh: Trải qua, từng qua.

Kinh nghiệm là những điều hiểu biết có được do sự tiếp xúc với thực tế, do từng trải qua.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Giờ đây đã đến lúc thi hành sứ mạng Hiền huynh đã nhiều kinh nghiệm trên đường hành Ðạo, tôi tin nơi chí cương trực và tinh thần xây dựng của Hiền huynh và cầu chúc cho Hiền huynh được thành công trong nhiệm vụ mới với sự ủng hộ triệt để của toàn thể Chức sắc và Chức việc.

Linh hồn được mở mang thông thái,

Kinh nghiệm đời quấy phải phân minh.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

KINH NHẠC

Kinh: Các sách của các Thánh hiền. Nhạc: Âm nhạc.

Kinh nhạc, như chữ “Nhạc kinh 樂 經”, là một trong Lục kinh của Nho gia.

Ngày nay, Kinh nhạc không còn, nên còn có “Ngũ kinh 五 經”.

Vì Nhạc có cái thế lực quan trọng như vậy nên Ðức Khổng Tử soạn ra bộ Kinh Nhạc và cho đứng vào hàng Ngũ kinh...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

KINH QUYỀN

經 權

Kinh: Đạo thường, phép thường, không thể biến đổi được, trái với quyền. Quyền: Đạo dùng khi biến.

Kinh quyền là nói cách xử sự khi thường và khi biến. Kinh thì cứng ngắt như luật, không thể thay đổi được. Quyền tuỳ trường hợp mà biến đổi, nên gọi là quyền biến.

Cổ ngữ có câu: Xử thường chấp kinh, ngộ biến tùng quyền 處 常 執 經, 遇 變 從 權, nghĩa là trong cảnh thường giữ đạo thường, gặp khi biến phải theo tình thế mà đối phó (Không câu chấp).

Kinh quyền hai lẽ phải cân phân,

Cư xử sao cho vẹ mọi phần.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

KINH SÁCH

Kinh: Các sách của các Thánh hiền, hoặc lời của chư Tiên Phật. Sách: Nói chung về các loại sách.

Kinh sách là kinh truyện (Sách của Thánh hiền ngày xưa hoặc lời Các Đấng Tiên Phật) và sách vở.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có đoạn: Ðời sống của người hành Ðạo là một đời học tập không ngừng. Không phải vì mãn khoá học mà các em sanh viên chấm dứt hẳn sự học, người ta chẳng những học nơi nhà trường mà còn phải học nơi kinh sách của Thánh Hiền, học theo gương sáng của đấng Vĩ nhân, học với bậc cao thấp của thế thái nhân tình, học theo đức tính ôn nhu của người thân hữu.

Bền công kinh sách xem coi,

Vô can sát mạng thiệt thòi rất oan.

(Kinh Sám Hối).

Kinh sách đầy đầu chưa thoát tục,

Đơn tâm khó định lấy chi mong.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Kinh sách cha ông để lại đâu,

Mà con chữ viết chẳng nên câu.

(Đạo Sử).

 

 

KINH SÁM HỐI

Nguồn gốc:

Bài kinh Sám Hối gồm 444 câu thơ song thất lục bát, được nhiều Đấng Thiêng Liêng lần lượt giáng cơ ban cho chi Minh Lý (tức Tam Tông Miếu) vào năm Ất sửu 1925.

Theo ông Âu Minh Chánh, người lập ra Chi Minh Lý Đạo, bài kinh Sám Hối này do Đức Thái Thượng Lão Quân giáng cơ ban một đoạn đầu bài kinh trong một đàn cơ cầu bịnh tại Thủ Thiêm.

Sau đó, lần lần có các Đấng như Quan Âm Bồ Tát, Nam Cực Chưởng Giáo, Quan Thánh Đế Quân, Nhiên Đăng Cổ Phật, Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thập Điện Minh Vương... giáng tiếp, mỗi vi ban cho một đoạn kinh, cuối cùng Đức Vân Trung Tử giáng cơ ban cho 4 câu kinh cuối, trọn thành bài kinh Sám Hối.

Ngay khi dứt bài Kinh Sám Hối, Đức Đông Phương Lão Tổ lại ban cho bài “Khen Ngợi Kinh Sám Hối” để kết thúc một giai đoạn giáng cơ ban Kinh Sám Hối kéo dài hơn 7 tháng (từ 19/4/1925 đến 21/11/1925).

Khi ban cho bài kinh xong, Đức Văn Tuyên Vương giáng dạy các tín đồ chi Minh Lý phải đến chùa trong các ngày sóc vọng để dâng hương và sám hối theo bài kinh này.

Đến khi Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ đã được khai sáng, Đức Chí Tôn giáng cơ dạy Hội Thánh cử một phái đoàn gồm bốn người: Ngài Thượng Đầu Sư Lê Văn Trung, Hộ Pháp Phạm Công Tắc, Thượng Phẩm Cao Quỳnh Cư và Giáo Sư phái Thượng Vương Quang Kỳ đến Minh Lý Đạo thỉnh kinh, trong đó có bài Kinh Sám Hối và bài Khen Ngợi Kinh Sám Hối.

Bài Kinh Sám Hối này được Hội Thánh dạy phải tụng vào những ngày sóc vọng, còn như ngày thường nếu có lầm lỗi điều chi thì tụng để xin tội.

Ý nghĩa:

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: “Nơi trần khổ này, dầu cho bậc Chí Thánh cũng khó tránh sự lỗi lầm đặng, nhưng sự ăn năn tự hối là quý báu vô giá. Các Tiên, Phật xưa cũng nhiều bậc đứng đặng địa vị cao thượng, thiêng liêng là nhờ có sự cải quá mà nên chánh quả”.

Do vậy, khi mở nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Đức Chí Tôn dạy phải độ những người có tội lỗi, là hạng người nhiều nhứt trong thế gian, và nhứt là thời kỳ hạ nguơn mạt pháp này. Ngài dạy: “Thầy lại nói, buổi lập Thánh Đạo, Thầy đến độ rỗi kẻ có tội lỗi. Nếu đời không tội lỗi, đâu nhọc đến công Thầy. Ấy vậy, các con rán độ kẻ tội lỗi là công lớn làm cho Thầy vui hơn hết”.

Độ người có tội không có nghĩa là ơn Trên tha thứ hết các lỗi lầm đã gây thành nghiệp báo trong hiện kiếp, mà chính do tự tâm phải biết ăn năn hối cải và làm lành.

Thực ra, Đức Chí Tôn và chư Phật không bao giờ thay đổi nghiệp lực của chúng sanh, mà chỉ có thể giáo hoá chúng sanh tự mình nỗ lực sám hối ăn năn để thay đổi nghiệp lực hay vận mệnh của chính mình. Trời Phật chỉ dùng giáo pháp để dìu dắt chúng sanh tu thiện, tu phước để được trừ tai, miễn hoạ. Vì vậy, nói rằng do mình sám hối nên Trời Phật rộng tình tha thứ cho, điều đó là ý muốn nói trước nhứt tự bản thân chúng sanh phải biết ăn năn sám hối, tức là tự mình độ rỗi cho mình, nếu không thì làm trái với quy luật nhân quả tự nhiên. Như chính lời Thánh giáo của Đức Chí Tôn đã than: “Than ôi! Thầy đã là Đấng lập khổ hình, chiếu theo phép công bình của Tạo Hoá, nhưng thấy nhơn sanh càng ngày càng bước vào con đường hắc ám, để đem số phận buộc vào đó, thì Thầy cũng bắt đau lòng, nhưng chẳng lẻ bỏ phép công vì sanh chúng”.

Những người có tội sở dĩ được sự quan tâm của Đức Chí Tôn cũng vì Ngài quá thương yêu chúng sanh còn khờ dại, nên đến dạy dỗ, dìu dắt trở về nẻo chánh đường chơn, hầu sau này có thể quy hồi cựu vị. Trước những sự ưu ái của Ngài, chúng ta, những người mới cải tà quy chánh phải biết các tội tình đã sai phạm và xin nguyện ăn năn sửa đổi, chừa bỏ việc quấy, từ nay về sau không bao giờ tái phạm nữa. Như thế mới thực sự là sám hối để tu hành.

Muốn thực hiện lễ sám hối, chúng ta phải thiết đàn cúng Đức Chí Tôn và tụng kinh Sám Hối. Nhưng chúng ta cần nên hiểu rằng tâm là nguồn gốc tác động nên tội lỗi, do đó muốn dứt tội thì tất yếu phải sám hối ở tự tâm, chứ không có nghĩa là cầu xin Đức Chí Tôn tha tội, mà phải nhờ Ngài chứng giám để ta phát tâm ăn năn chừa cải. Có như thế, chúng ta mới quyết tâm sửa chữa những lỗi lầm để trở thành con người mới, có nội tâm trong sạch, thanh tịnh.

Sở dĩ, trong Kinh Sám Hối các Đấng Thiêng Liêng bày ra những cảnh tượng ghê gớm của tội hình cũng nhằm mục đích răn dạy kẻ sơ cơ. Người ta thường nói luật hình nơi Dương gian không khiến người ta ghê sợ bằng nhơn quả nơi Địa ngục. Chính vì vậy khi ban bài kinh nầy, các Đấng Thiêng Liêng đề tựa là “Kinh Nhơn Quả”, trong ấy các Đấng chỉ dạy những điều tội lỗi và các thứ hình phạt nơi cõi Diêm Cung tương ưng với những tội tình đã gây ra ở thế gian. Nhứt là nhấn mạnh đến luật luân hồi nhơn quả, nhằm cho chúng sanh ghê sợ mà tránh xa tội lỗi.

Nhơn quả tức là cái nguyên nhơn của đời trước, gọi là tiền nhơn 前 因 thì sẽ có kết quả đời sau, gọi là hậu quả 後 果. Trong Truyền Đăng Lục của nhà Phật nói: “Dục tri tiền thế nhân, kim sinh thụ giả thị, dục tri lai sinh quả, kim sinh tác giả thị 欲 知 前 世 因, 今 生 受 者 是; 欲 知 來 生 果, 今 生 作 者 是” nghĩa là muốn biết nguyên nhân đời trước ta thế nào, thì cứ xem hưởng thụ của ta đời nay; muốn biết sự kết quả đời sau thế nào, ta cứ xem việc ta làm đời nay đó. Biết được việc luân hồi nhơn quả như thế, con người mới sớm ăn năn làm phước để chuộc tội tiền khiên, nếu đợi đến ngày mãn số thì ăn năn sao kịp?

Bài Kinh Sám Hối nói về cõi Địa ngục hay Âm quang dù có hình phạt đau đớn như thế nào, ở đây chúng ta chỉ cần biết tránh ác làm lành để khỏi bị đọa vào cõi ấy, như lời khuyên của Bà Bát Nương Diêu Trì Cung: “Chớ chi nhơn sanh biết xét mình trước khi thoát xác thì tự nhiên tránh khỏi Âm quang”. Như thế, bài kinh Sám Hối có thể nói là bài kinh nhằm muc đích: Đưa thuyết luân hồi nhân quả để răn kẻ làm ác, khuyên người làm lành:

Tóm lại, bài kinh Sám Hối của đạo Cao Đài, như tựa kinh khi xưa, là một bài kinh dạy về nhơn quả, để khuyên chúng sanh phải kiêng sợ quả báo mà cải quá tự tâm, là mục đích quan trọng trong giáo pháp Cao Đài.

Bất cứ ai phạm một tội lỗi gì, dù là tội nặng nề, mà hễ thành tâm sám hối, tinh tấn tu hành, thảy đều được cứu độ. Trong các kinh điển thường có câu: Bồ Tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả. Bồ Tát là bậc giác ngộ cho nên không dám tạo nhân, còn chúng sanh vì không sáng suốt cho nên chỉ khi nào quả khổ hiện ra mới lo sợ, chứ trong lúc gây nhân khổ thì chẳng nhận thấy. Gây nhân khổ thì tất phải chịu quả khổ; tạo duyên lành thì tất phải hưởng nghiệp lành. Đó là luật nhơn quả, cũng là mục đích khuyên dạy người đời của các Đấng Thiêng Liêng.

Kinh Sám Hối phải lo tụng niệm,

Khi lỗi lầm kiểm điểm tự tâm.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

KINH SỢ

Kinh: Có cảm giác sợ đến mức rùng mình không thể chịu đựng khi nhìn thấy. Sợ: Đem lòng e dè, sợ hãi.

Kinh sợ là sợ hãi đến mức chỉ muốn lánh xa đi.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có câu: Các con nếu mắt phàm thấy đặng phải khủng khiếp kinh sợ vô cùng, nhưng thấy chẳng đặng, nên tội cũng giảm nhẹ đó chút.

Chưa kinh sợ cứ hoạ gây hoài,

Khuyên bảo dường như nó đã chai.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

KINH SỬ

經 史

Kinh: Các sách của Thánh hiền. Sử: Truyện cũ

Kinh là sách do các bậc thánh hiền viết ra, như Tứ thư, Ngũ kinh... còn sử là sách chép lại các sự kiện xảy ra trong nước theo thời gian.

Kinh sử dùng để chỉ chung các loại sách học, hoặc các loại sách nghiên cứu...

Năm xe kinh sử đưa rồng Hớn,

Ba lượt thi văn chiến hổ bài.

(Bát Nương Giáng Bút).

Nấu kinh sử ra mùi son phấn,

Cầm bút nghiên đặng thắm má đào.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

KINH TÀI

經 財

Kinh: Kinh tế. Tài: Tài chánh.

Kinh tài, do hai nhóm từ “Kinh Tế” và “Tài Chánh” tỉnh lược lại.

Kinh tài ý muốn nói áp dụng phương sách kinh tế và tài chánh để làm kinh doanh.

Kinh tài khoáng sản đời khai thác,

Đại nghiệp tinh thần đạo phổ truyền.

(Thơ Thông Quang).

 

 

KINH TÂM

驚 心

Kinh: Khiếp sợ. Tâm: Lòng, dạ.

Kinh tâm là lòng kinh sợ.

Thánh giáo Đức Quan Âm Bồ Tát có dạy: Nếu Bần đạo nói tận cùng thì thiện tín phải kinh tâm mà chớ. Thật cõi trần gian là nơi giam hãm con người vào vòng trụy lạc, lại là kiếp khổ tái sinh nếu không ngộ Tam Kỳ.

Kinh tâm có nhớ lúc xưa chăng?

Mà đến không lo nết sửa răn.

(Đạo Sử).

Dường như con vịt mẹ gà,

Trẻ thơ vội phản, mụ già kinh tâm.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

KINH TẬN ĐỘ

Kinh Tận Độ là những bài Kinh nhằm mục đích cứu giúp tất cả nhơn sanh, không bỏ sót một người nào. Kinh Tận Độ của Đạo Cao Đài được Đức Chí Tôn và các Đấng Thiêng Liêng giáng cơ ban cho vào năm 1935 như lời nói đầu của Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo:

“Từ khi mở Đạo, Chí Tôn duy giáng cơ truyền cho Phật giáo, Minh Sư, Minh Đường, Minh Lý dạy dâng Kinh cho Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, song Kinh Tận Độ vong linh chưa hề giáng cơ cho nơi nào tất cả.

Đức Quyền Giáo Tông (khi còn tại thế) và Đức Hộ Pháp, trót mười năm trường nghĩa là từ ngày mở Đạo, đã nhiều phen dâng sớ cho Đại Từ Phụ và các Đấng Thiêng Liêng đặng xin Kinh Tận Độ, nhưng mà Chí Tôn cùng chư Thần, Thánh, Tiên, Phật vẫn chưa định ban ân cho toàn sanh chúng.

Mãi đến ngày 23 tháng 7 tới mùng 4 tháng 8 Ất Hợi (Dl. 21 đến 31-8-1935) mới giáng cho Tân Kinh. Ấy là một giọt nước Cam Lộ của Đức Từ Bi rưới chan đặng gội nhuần cho các đẳng linh hồn của toàn Thế giới.

Chúng ta thầm xét thì đủ hiểu rằng: Đã trải qua mười năm Chí Tôn mới mở cơ tận độ. Cơ tận độ nhơn sanh duy kể từ ngày ban Tân Kinh này mà thôi”.

Kinh Tận Độ gồm 22 bài kinh, từ Kinh Giải Oan cho đến Di Lạc Chơn Kinh.

Ban vạn loại pho Kinh Tận Độ,

Cứu Nguyên nhân mãn số siêu thăng.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

Giải thoát phàm trần Kinh Tận Độ,

Hoà bình thế giới phước sanh tồn.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

KINH TẾ

Kinh: Sợi dọc, đường dọc. Tế: Giúp.

Kinh tế, do câu “kinh bang tế thế 經 邦 濟 世” nói tắt, là việc sắp đặt về chính trị, làm cho dân được an cư lạc nghiệp, nước giàu mạnh.

Kinh tế là tất cả các tổ chức công việc thuộc về đời sống vật chất của con người.

Nền kinh tế của mỗi nước có tương liên với quốc tế, nền kinh tế lý tài vững thì quốc tế mới vững.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

KINH THÁNH

Kinh: Các sách của các Thánh hiền, hoặc lời của Thánh Tiên Phật. Thánh: Tiếng tôn xưng, bực Thánh.

Kinh Thánh, như chữ “Thánh kinh 聖 經”, là quyển sách chép lại những lời dạy của Đức Chí Tôn và các Đấng Thiêng Liêng Thần, Thánh, Tiên, Phật.

Người ta dùng Kinh Thánh để làm căn bản cho giáo lý, triết lý, hay nghi lễ của một tôn giáo.

Trong Đạo Thiên Chúa, Kinh Thánh là quyển Thánh Kinh Tân Ước là lời dạy của Đức Jésus Christ.

Còn Thánh Ngôn Hiệp Tuyển là những lời dạy bảo của Chí Tôn, các Đấng Thiêng Liêng, do Hội Thánh chọn lựa và ấn hành cũng được coi là quyển kinh Thánh của Đạo Cao Đài.

Chuyển luân thế sự đưa kinh Thánh,

Trừ diệt tà gian múa bút Thần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

KINH THÁNH TRUYỆN HIỀN

Kinh thánh: Những sách của các vị Thánh hiền. Truyện hiền: Lời giải thích để truyền lại ý nghĩa sách của các bậc Hiền.

Sách Bác Vật Chí: Thánh nhân làm ra thì gọi là “Kinh”, còn hiền nhân trước thuật thì gọi là “Truyện”.

Kinh thánh truyện hiền là tiếng dùng chung để chỉ kinh truyện của thánh hiền soạn ra.

Kinh Thánh lần qua đến truyện hiền,

Đều đem hiếu nghĩa chép vi tiên.

(Thơ Huệ Ngàn).

 

 

KINH THÀNH

京 城

Kinh: Rộng lớn. Thành: Thành thị.

Kinh thành tức là nơi vua ở, tại Kinh đô thời phong kiến, chỉ thành phố nhiều ngựa xe.

Như: Anh ấy nổi danh khắp kinh thành.

Lui tới Kinh thành lối ngựa xe,

Đỉnh chung xạo xự ngán như chè.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

KINH THI

經 詩

Kinh: Sách của các bậc Thánh hiền viết. Thi: Thơ, tên bộ sách trong Ngũ Kinh.

Kinh Thi, như chữ “Thi Kinh 詩 經”, là một bộ sách trong Ngũ Kinh, trong đó ghi lại toàn những câu ca dao rất cổ ở đời Thương, Châu của Trung Quốc.

Ngày xưa triều đình đặt ra chức quan thu thập ca dao, đồng dao để xem xét phong tục tập quán của nhân dân. Hán Thư chép: Cổ hữu thái thi chi quan, vương giả sở dĩ quan phong tục, tri đắc thất 古 有 採 詩 之 官, 王 者 所 以 觀 風 俗, 知 得 失, nghĩa là xưa có chức quan phụ trách việc đi nhặt ca dao để bậc vương giả lấy đó mà xem xét phong tục, biết được sự đắc thất về chính trị. Lúc nhà Châu còn hưng thịnh, trên từ chốn giao miếu triều đình, dưới các nơi thôn xóm làng mạc, chỗ nào cũng có thơ ca, nên Thánh nhân mới lấy các bài đó lựa vào âm luật, dùng làm khúc nhạc để dạy dân.

Kinh Thi gồm có 300 thiên, phân làm bốn thể loại: Quốc phong, Đại Nhã, Tiểu Nhã, Tụng, là những lời dạy về việc chánh thì làm, việc tà thì xa lánh, nên có thể nói: “Thi tam bách, nhất ngôn dĩ tế chi: Tư vô tà 詩 三 百, 一 言 以 蔽 之: 思 無 邪”, nghĩa là 300 bài trong Kinh Thi, lấy một lời mà nói trùm cả là không nghĩ bậy.

Trong sáu bộ kinh chỉ còn lại có ngũ kinh là Kinh Dịch, Kinh Thư, Kinh Thi, Kinh Lễ và Kinh Xuân Thu.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

KINH THƯ

經 書

Kinh: Sách của các bậc Thánh hiền viết. Thư: Sách, tên một bộ sách trong Ngũ Kinh.

Kinh Thư là một bộ sách trong Ngũ Kinh, trong đó ghi chép những Điển, Mô, Huấn, Cáo, Thệ, Mệnh tức là các việc chánh trị và các lời khuyên răn dạy bảo của các bậc Thánh Đế, Hiền thần đời Đường Ngu, Tam đại.

Sau cuộc đốt sách của Tần Thuỷ Hoàng, Kinh Thư bị thiêu mất, đến đời nhà Hán, mới có quan bác sĩ của nhà Tần là Phục Sinh, thuộc lòng lời trong Kinh Thư mà đọc cho chép lại được 29 thiên, gọi là Kim văn. Sau nầy ở nước Lỗ, tìm được trong vách nhà của Đức Khổng Tử một tập gồm 25 thiên viết bằng chữ cổ, gọi là Cổ văn.

Đến đời Đông Hán, Khổng An Quốc xếp cả Kim văn lẫn cổ văn làn thành quyển Kinh Thư truyền đến ngày nay.

Trong sáu bộ kinh chỉ còn lại có ngũ kinh là Kinh Dịch, Kinh Thư, Kinh Thi, Kinh Lễ và Kinh Xuân Thu.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

KINH VÔ TỰ

Kinh: Lời của các bậc Thánh hiền, hoặc chư Tiên Phật để lại. Vô tự: Không có chữ viết.

1.- Kinh Vô Tự, hay “Vô Tự Kinh 無 字 經”, là một quyển Kinh, trong ấy không có chữ viết.

Đài Chiếu Giám cảnh minh nhẹ bước,

Xem rõ ràng tội phước căn sinh.

Lần vào cung Ngọc Diệt Hình,

Khai KINH VÔ TỰ đặng nhìn quả duyên.

Trường hợp nầy Kinh Vô Tự là một quyển kinh rất huyền diệu nơi cõi thiêng liêng, trong đó không có chữ viết để bất cứ một chơn hồn nào khi đứng trước quyển kinh nầy, thì chữ mới bắt đầu hiện ra, để chơn hồn xem cái quả duyên của mình.

Theo bài Đệ Ngũ Cửu, Chơn hồn đến cõi Xích Thiên, đi vào Cung Ngọc Diệt Hình để mở quyển “Kinh Vô Tự” ra xem thì chữ viết mới hiện ra, trong đó ghi rõ lý lịch của chơn hồn và ghi những hành tàng thiện ác của chơn hồn trong kiếp đương sanh ở nơi cõi thế gian.

Quyển Kinh Vô Tự nầy được Đức Hộ Pháp nói đến trong Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống, đêm 26 tháng Giêng năm Kỷ Sửu (Dl. 23/2/1949) như sau: “Nếu khi về được rồi thân nhân của chúng ta dắt chúng ta đến một Cung có một quyển sách Thiên thơ để trước mặt ta, dở ra xem thấy tên mình và kiếp sanh của mình đã làm gì thì trong quyển Thiên thơ ấy nó hiện tượng ra hết. Chúng ta tự xử chúng ta, mình làm toà để xử cho mình, hoặc mình phải đầu kiếp hay là đoạt đến địa vị nào, mình đứng đến mức nào, thì cũng do mình định đoạt lấy.

Lần vào cung Ngọc Diệt Hình,

Khai kinh Vô Tự đặng nhìn quả duyên.

(Kinh Tận Độ).

2.- Kinh Vô Tự, hay “Vô Tự Kinh 無 字 經”, là kinh không chữ viết, hiểu theo nghĩa bóng tức là những lời thuyết giáo, thuyết pháp.

Trong bài “Làm người đứng giữa xã hội phải tìm phương lập vị mình”, Đức Hộ Pháp có thuyết: Chúng ta mang danh ra trước thời kỳ ngộ Đạo, đứng giữa con đường Đức Chí Tôn đi ngang qua đầu chớ không thấy hình ảnh của Ngài, nhưng chúng ta cũng hưởng được mùi vị sống, mùi vị thiêng liêng của Ngài chỉ biết được điều mượn mảnh hình hài xác thịt này làm con thuyền Bát Nhã độ thế cứu đời, lấy cả khối trí óc tinh thần này làm câu Kinh Vô tự đặng chuyển cả tinh thần loài người tiến triển trên mặt nhơn đạo của họ, đặng bảo thủ cái sống còn trên mặt thế gian nầy, đem mảnh thân nầy đưa trong tay Đức Chí Tôn cho Ngài lập phương cứu khổ, chẳng phải sống của đời mà thôi, chúng ta còn đảm nhiệm cái sứ mạng thiêng liêng quý hoá hơn trước, chúng ta còn lấy linh hồn chúng ta làm mực thước đặng cứu vớt các linh hồn sa đọa làm cho họ có danh giá cao trọng.

Và trong bài “Dạy Phương Pháp Giảng Đạo”, Đức Hộ Pháp cũng có nói như sau: Tôi buộc mấy anh em, chị em, tập cho quen dạn, Ðạo sau nầy muốn truyền ra thiên hạ cần phải thuyết. Ðó là Vô tự kinh, viết sách truyền bá không bằng thuyết giảng, cần phải có niêm luật.

Trong thời kỳ Hạ nguơn, nhơn loại mãi đua theo văn minh vật chất, nên có xu hướng trọng thực tiển, ít để tâm đến đạo đức tinh thần trong kinh sách. Vì vậy, khi đạo Cao Đài khai mở, Chí Tôn thường dạy các bậc tiền khai hãy đem lời Thánh giáo Chí Tôn truyền đạt cho sanh chúng bằng những đàn thuyết đạo. Ngài nói: “Dầu cho sắt đá cỏ cây mà nghe Thánh ngôn của Thầy nơi con nói ra cũng hoan nghinh, huống lựa là người”.

Đây chính là Vô Tự kinh trong thời Tam Kỳ Phổ Độ, một phương cách rất thuận lợi cho việc phổ độ trong thời bấy giờ.

Thuận nhơn tâm ắt thuận Trời,

Câu kinh Vô Tự độ người thiện duyên.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

KINH XUÂN THU

經 春 秋

Kinh: Sách của các bậc Thánh hiền viết. Xuân Thu: Mùa xuân và mùa thu, dùng để chỉ một thời đại.

Kinh Xuân Thu là bộ sách do Đức Khổng Tử làm để phê bình những việc đã xảy ra từ các đời trước. Ngài theo lối văn sử mà chép truyện nước Lỗ, từ Lỗ Ẩn Công đến Lỗ Ai Công, trong ấy chép cả truyện của nhà Châu và các nước chư Hầu.

Như ta biết Khổng Tử sinh nhằm nhà Châu đã suy tàn, vua mất quyền hành, năm Bá thay đổi nhau cầm quyền hành chánh. Thời suy bĩ, thì kỷ cương đổ nát, đạo lý suy đồi, nào con giết cha, nào tôi thí chúa, luân thường đảo ngược... Khổng Tử thấy đời suy, đạo sụp, tà thuyết dấy lên, nên mới soạn ra bộ Kinh Xuân Thu để định cái chính thể, chủ ở sự chính danh, định phận cho hợp đạo lý và cho rõ sự thưởng phạt.

Trong sáu bộ kinh chỉ còn lại có ngũ kinh là Kinh Dịch, Kinh Thư, Kinh Thi, Kinh Lễ và Kinh Xuân Thu.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

KÍNH

1.- Kính, hay “Kỉnh”, là tôn trọng ở trong lòng. Như: Kính trọng, kính Thần Thánh, thờ cha kính mẹ,...

Thánh giáo Đức Chí Tôn có đoạn: Nhiều đứa đi truyền đạo mà trong lòng kính sợ kẻ thọ giáo. Thầy hỏi: Phải nghịch chơn lý chăng?

Nhơn nghĩa gắng gìn dạ sắt son,

Thờ cha kính mẹ hiếu lo tròn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Phải tôn kính cành mai đương nở,

Đừng xa hoa làm mớ hàng chơi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Kính là tấm gương soi, dùng sang tiếng Nôm để chỉ mặt thuỷ tinh.

Như: Đứng soi trước kính, cửa kính, kính hiển vi, cổ kính tàn y.

Soi kính cũ mặt hoa đã nhíu,

Tóc hoa râm mày liễu ướm sương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

KÍNH BÁI

敬 拜

Kính: Cung kính, tôn trọng. Bái: Lạy.

Kính bái là kính cẩn lễ bái, tức cung kính làm lễ một cách trang nghiêm.

Như: Vào chùa phải kính bái Phật và chư Bồ Tát.

Lễ kính bái chị em thương tưởng,

Nhớ nhau không cân lượng dễ sầu.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

KÍNH CẨN

敬 謹

Kính (Kỉnh): Cung kính, tôn trọng. Cẩn: Cẩn thận, kính nể.

Kính cẩn là tôn trọng và cẩn thận.

Kính cẩn còn có thể hiểu là tỏ ra sự kính trọng bằng cử chỉ, điệu bộ hay nét mặt nghiêm trang.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Xưa những người có trách nhiệm trị nước trị dân lúc nào cũng phải kính cẩn, hằng lo sửa mình cho ngay chính để được có kẻ hiền tài theo giúp mình, rồi lấy nhân mà trị, lấy đức mà hoá, cái kết quả trong việc chính trị mới tốt đẹp.

Kính cẩn so dây, chọn phím loan,

Đón chào Kim Mẫu, tiết thu vàng.

(Thơ Hàn Sinh).

Thiệp hoa kính cẩn đôi vần gởi,

Gót ngọc xin dời mấy dặm xa.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

KÍNH GỞI

Hay “Kính gửi”.

Kính: Từ biểu thị thái độ coi trọng đối với người trên. Gởi (gửi): Làm cho đến người khác, nơi khác.

Kính gởi, như chữ “Kính gửi”, là thành kính gửi đi. Như: Cho tôi kính gởi lời thăm hỏi đến bác nhé.

Cha ở đâu, mẹ nơi đâu?

Tâm tang kính gởi một bầu lệ châu.

(Kinh Thế Đạo).

Lạc bước dò chừng tình cốt nhục,

Cứu đời kính gởi chữ đồng bào.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

KÍNH NỂ

Kính: Cung kính, tôn trọng. Nể: Kiêng dè.

Kính nể là coi trọng, do thừa nhận có những điểm tốt đẹp hơn mình. Như: Được mọi người kính nể.

Thánh giáo Đức Lý Thái Bạch có dạy: Học Đạo cốt yếu là nâng mình lên cao hơn tính chất của thường tình, phải cho phi thường thì giá trị của người học đạo và dìu đạo mới được người kính nể.

Những Ông Hiền được đời kính nể mến phục vì những đấng ấy có tư tưởng cao siêu, hành vi xuất chúng...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

KÍNH NHƯỜNG

Kính: Tôn kính. Nhường: Bởi chữ “Nhượng 讓” là nhường cho nhau, nhún nhường.

Kính nhường, như chữ “Kính nhượng 敬 讓”, là tôn trọng mà nhường nhịn cho người.

Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy: Sự kính nhường ba con (Chỉ ba ông Phạm Công Tắc, Cao Quỳnh Cư và Cao Hoài Sang) có bằng Cửu Nương chăng? Phải học.

Thứ dung mấy lượt Phật Trời thương,

Cứ thói lung lăng chẳng kính nhường.

(Đạo Sử).

Lễ kinh đã dạy kính nhường người,

Cái thói kiêu căng chẳng khó noi.

(Đạo Sử).

 

 

KÍNH PHỤC

敬 服

Kính: Tôn trọng, cung kính. Phục: Theo.

Kính phục, hay còn đọc là “Kỉnh phục”, là tôn trọng mà cảm phục.

Huấn từ của Đức Thượng Sanh có câu: Nếu quý vị tuân hành đúng theo lề lối, tôi tin chắc quý vị sẽ thành công mỹ mãn và sẽ được người Đạo cũng như người Đời kính phục.

Hạnh đoan chánh thì em kính phục,

Tập đoàn em mỗi chút cậy nương mình.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

KÍNH TUÂN

敬 遵

Kính: Tôn trọng, cung kính. Tuân: Làm đúng theo lời dạy bảo của người trên.

Kính tuân là tôn kính và tuân theo lời chỉ bảo của người trên.

Thánh giáo của Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt có câu: Ðứng vào hàng Tín Ðồ cần phải kính tuân chư Chức Sắc Thiên Phong, vì chư Thiên Phong là người đã thọ lãnh nơi Thượng Ðế một cái Thiên chức đặc biệt để thông truyền Chánh Giáo.

Chưa đặng bao lâu mà lời dạy bảo chẳng còn chút nét kính tuân thế thì sau nầy có ngày phải khuất hết dấu Thánh truyền...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

KÍNH THÀNH

敬 誠

Hay “Kỉnh thành”.

Kính (kỉnh): Kỉnh, tôn kính, kính trọng. Thành: Thành thật.

Kính thành, hay “Kỉnh thành”, là lòng kính cẩn và thành thật.

Tin tưởng Trời Phật, quỷ thần thì phải lấy tấm lòng kính cẩn và thành thực mà thờ phụng các Ngài.

Trong thiên Thái giáp hạ của kinh Thư có nói rằng: Duy thiên vô thân, khắc kính duy thân... quỷ thần vô thường hưởng, hưởng vu khắc thành 惟 天 無 親, 克 敬 惟 親... 鬼 神 無 常 享, 享 于 克 誠, nghĩa là Trời không thân với ai, chỉ thân với người hay kính... quỷ thần không thường chứng giám cho ai, chỉ chứng giám cho kẻ có lòng thành.

Người tin Trời Phật thì phải có lòng Kính 敬 và Thành 誠: Có lòng kính thì mới giữ được bản tính của mình cho thuần nhất và có lòng thành thì người và các Đấng mới tương cảm với nhau được.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Tài mọn, đức hèn, mượn chước khoe mình, việc kỉnh thành Thánh giáo, hư thiệt, thiệt hư, đâu qua máy hành tàng của Tạo hoá.

Mùi hương lư ngọc bay xa,

Kính thành cầu nguyện Tiên gia chứng lòng.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

Ngặt có kẻ tưởng Trời tin Phật,

Mà trong lòng chẳng thật kính thành.

(Kinh Sám Hối).

 

 

KÌNH

Kình là cá voi, một loài động vật có vú ở biển, thân rất lớn, mình giống như con cá, có vây ngực, vây đuôi.

Như: Kình ngạc, kình nghê, cua kình rỉa thây, kình chìm ngạc lặn.

Hụt chơn ván lại gập ghình,

Nhào đầu xuống đó cua kình rỉa thây.

(Kinh Sám Hối).

Ngạc kình đâu dễ đem nuôi chậu,

Hồng hộc không ưa để nhốt lồng.

(Thơ Hộ Pháp).

Thú quê riêng chuộng miền sơn cước,

Bể hoạn buồn đua sức ngạc kình.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

KÌNH NGẠC

鯨 鱷

Kình: Cá voi, một loài động vật có vú ở biển, thân rất lớn, mình giống như con cá, có vây ngực, vây đuôi. Ngạc: Cá sấu.

Kình ngạc là cá voi và cá sấu, hai loài cá có thân mình to lớn và hung dữ.

Kình ngạc được dùng để chỉ bọn hung tợn, hay giặc cướp. Như: Dẹp tan kình ngạc.

Kình ngạc vong đuôi ngoài bể rộng,

Hộc hồng vỗ cánh trước môn đài.

(Thượng Phẩm Giáng Bút).

Ruộng dâu hoá bể đầy kình ngạc,

Dòng nước mưa thanh chảy bến Hà.

(Thơ Hiến Đạo).

 

 

KÌNH CHỐNG

Kình: Đua, chống nhau. Chống: Cự lại.

Kình chống là chống lại nhau. Như: Hai thằng kình chống lẫn nhau.

Thánh giáo Thầy dạy: Hại nữa là các con lại bị nó tàng ẩn, xô cho dang nhau, bứt nghiến tình đoàn thể, chặt lìa dây liên lạc, giành xé cắn rứt nhau như kẻ khác nhà, gà riêng ổ, cho đừng có thế lực chi mà kình chống với chúng nó, rồi rốt cuộc lại thì các con phải lần lần bị manh mún phân chia, sa vào hang sâu vực thẳm.

Người trong Ðạo phần nhiều mong hiệp thế riêng cho mình mà kình chống trở mặt với mỗi con.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

KỈNH

Kỉnh, do chữ “Kính ” đọc trại ra, có nghĩa là tôn trọng ở trong lòng. Như: Thờ kỉnh quỷ thần, kỉnh tổ tiên.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy về cách lạy có câu: Lạy là gì? Là tỏ ra bề ngoài lễ kỉnh trong lòng.

Xem: Kính.

Hãy có dạ kỉnh già thương khó,

Chớ đem lòng lấp ngõ tài hiền.

(Kinh Sám Hối).

Kỉnh tổ hiển nỗi thờ nỗi phụng,

Tế tông đường lo cúng lo đơm.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

KỈNH GIÀ THƯƠNG KHÓ

Hay “Kính già thương khó”.

Kỉnh (kính) già: Trọng kỉnh người có tuổi tác, già cả. Thương khó: Thương mến kẻ nghèo gặp khó khăn.

Kỉnh già thương khó, như chữ “Kính già thương khó”, là kính trọng người già cả và thương xót kẻ nghèo khó.

Hãy có dạ kỉnh già thương khó,

Chớ đem lòng lấp ngõ tài hiền.

(Kinh Sám Hối).

 

 

KỈNH LỄ

Hay “Kính lễ”.

Kỉnh (Kính): Cung kính, tôn trọng. Lễ: Phép tắc, hay dâng cúng phẩm vật.

Kỉnh lễ, như chữ “Kính lễ 敬 禮”, là phép tắc tỏ sự tôn trọng.

Kỉnh lễ còn có nghĩa dâng cúng phẩm vật lên các Đấng Thiêng Liêng để bày tỏ lòng kính trọng.

Năm sắc hoa tươi xin kỉnh lễ,

Cúi mong Thượ ng Đế rưới ân Thiên.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

KỈNH NHƯỜNG

Kỉnh: Như chữ “Kính 敬” là tôn trọng. Nhường: Chịu thiệt, chịu kém để tỏ lòng tử tế, khiêm tốn với người.

Kỉnh nhường, như chữ “Kính nhường”, là tôn trọng mà nhường nhịn cho người.

Xem: Kính nhường.

Gặp quan cũng đãi đằng tử tế,

Gặp dân thì thủ lễ kỉnh nhường.

(Phương Tu Đại Đạo).

Tánh hạnh hiền lành, tánh tình nhỏ nhẹ,

Trên lớn thương yêu, dưới bé kỉnh nhường.

(Văn Tế Bảo Đạo).

 

 

KỈNH PHỤC

Hay “Kính phục”.

Kỉnh (kính): Tôn trọng, cung kính. Phục: Theo.

Kỉnh phục, như chữ “Kính phục 敬 服”, là tôn trọng và cảm phục, tức xét về giá trị, uy tín của người mà kính trọng và tùng phục.

Xem: Kính phục.

Anh rể thường ít dối ít thừa,

Thương kỉnh phục nên chừa không dể mặt.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

KỈNH TÂM CHỊU HÀM OAN

Kỉnh Tâm là pháp danh của Thị Kính khi nàng giả trai vào chùa quy y theo Phật pháp.

Do tích Thị Kính là con của hai ông bà nhà họ Mãng ở nước Cao Ly, có chồng là Thiện Sĩ, con nhà họ Sùng. Hai vợ chồng sống với nhau thuận hoà, êm ấm.

Một ngày kia, Thị Kính đang ngồi may vá, còn chồng nàng vì đọc sách mỏi mệt, nằm ngủ quên bên cạnh nàng đang ngồi may. Nàng thấy nơi càm chồng có một sợi râu dài bay lất phất, sẵn cầm kéo định đưa tay cắt đứt. Bỗng Thiện Sĩ giựt mình, thấy vợ đang cầm kéo đưa ngay vào cổ, bèn la hoảng lên. Cha mẹ chồng chạy đến cũng cho rằng Thị Kính mưu giết chồng, buộc Thiện Sĩ thôi vợ và mời hai ông bà nhà họ Mãng lãnh con gái về.

Thị Kính vô tình phải chịu hàm oan, nên quyết tâm xuất gia tìm nơi tu hành. Nàng cải nam trang trốn khỏi nhà, vào một ngôi chùa xin sư cụ cho thọ pháp quy y và nhận pháp danh là Kỉnh Tâm.

Thị Kính là gái giả trai nên dung mạo rất đẹp đẽ, khiến cho nàng Thị Mầu, con một vị trưởng giả vùng ấy phải lòng, nhiều lần trêu ghẹo, nhưng Kỉnh Tâm đều từ khước. Sau đó, Thị Mầu tư thông với đứa đầy tớ có thai, bị làng tra hỏi, nàng khai tư tình với sãi Kỉnh Tâm. Làng bắt Kỉnh Tâm tra tấn, máu đổ thịt rơi, mấy lần bất tỉnh, nhưng nàng vẫn một mực kêu oan. Sư cụ thương tình xin bảo lãnh nàng. Thời gian trôi qua, Thị Mầu sinh một đứa bé trai, bèn đem đến giao cho Kỉnh Tâm bắt nuôi dưỡng.

Một ngày kia, Kỉnh Tâm thọ bịnh ngặt, ráng viết một bức thư gởi sư cụ, cho biết mình là gái và tỏ nỗi oan tình bấy lâu nay. Lúc Kỉnh Tâm tắt thở, làng biết hết mọi sự việc, bèn bắt tội Thị Mầu, khiến nàng xấu hổ phải quyên sinh.

Khi an táng sãi Kỉnh Tâm, tức là nàng Thị Kính, dân làng đều thấy Đức Phật ngự toà sen hiện ra ở trên mây, rước hồn Thị Kính về cõi Tây Phương.

Nơi hành lang Báo Ân Từ Đức Hộ Pháp cho người đắp sự tích “Kỉnh Tâm thọ hàm oan”.

Xem: Quan Âm Thị Kính.

Gái Kỉnh Tâm cửa thiền đổi dạng,

Thị Mầu thương, dâm loạn khai mang.

Giả trai vui chịu hàm oan,

Vì tình bác ái, sẵn sàng nhận con.

(Báo Ân Từ).

 

 

KỈNH TIN

Kỉnh: Tôn trọng, cung kính. Tin: Đức tin, tin tưởng.

Kỉnh tin là tin tưởng một cách tôn kính.

Trong Thiên Đạo, hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có viết: Nếu cha mẹ bảo con phải kỉnh tin Trời Phật mà tự mình không tỏ ra điều gì để cụ thể hoá sự kỉnh tin, thì con cái biết dựa vào đâu mà tin?

Cao minh thưởng phạt rất công bình,

Ðài Ðạo độ người biết kỉnh tin.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

KỈNH THỜ

Kỉnh (kính): Tôn trọng. Thờ: Tỏ lòng tôn kính các Đấng Thiêng Liêng hoặc linh hồn người chết bằng hình thức lễ nghi, cúng bái.

Kỉnh thờ, như chữ “Kính thờ”, là thờ phụng một cách kính trọng.

Thánh giáo Thầy có câu: Khắp trong nhân loại trên mặt địa cầu nầy, phần đông vì kỉnh thờ Tà quái, mà Tà quái vốn chứa sự chết, thì tức nhiên chúng nó ở trong vòng sự chết là phải tiêu diệt, thì bao giờ biết đặng sự hằng sống là gì.

Làm người phải kỉnh thờ Thần Thánh,

Giữ lời nguyền tâm tánh tưởng tin.

(Kinh Sám Hối).

 

 

KỈNH THỜ THẦN THÁNH

Kỉnh thờ: Thờ phụng các Đấng Thiêng liêng một cách kính trọng. Thần Thánh: Bậc Thần và bậc Thánh.

Kỉnh thờ Thần Thánh là kỉnh thờ các Đấng Thiêng liêng vào bậc Thần Thánh.

Đối với Nho giáo, Thần Thánh là cái khí thiêng liêng trong Trời đất, tuy mắt người không trông thấy, tai người không nghe thấy, nhưng thể được muôn loài vạn vật, không sót một vật nào: Đâu đâu cũng hình như trên đầu ta, ở bên tả, ở bên hữu ta (Dương dương hồ như tại kỳ thượng, như tại kỳ tả hữu 洋 洋 乎 如 在 其 上, 如 在 其 左 右).

Chính trong tôn giáo Cao Đài, bài Kinh Sám Hối cũng có câu:

Trên đầu có bủa giăng Thần, Thánh,

Xét xem người tánh hạnh dữ hiền.

Cho ta thấy chung quanh ta có vô vàn Thần Thánh giữ nhiệm vụ tra xét, chép biên những điều thiện lành hay tội lỗi của con người dưới thế gian. Điều nầy Thánh giáo Thầy có dạy: Thầy lại cũng đã nói: “Mỗi khi Chơn linh Thầy giáng đàn thì cả vàn vàn muôn muôn Thần, Thánh, Tiên, Phật theo hầu hạ. Các con nếu mắt phàm thấy đặng phải khủng khiếp kinh sợ vô cùng, nhưng thấy chẳng đặng, nên tội cũng giảm nhẹ đó chút.

Thất lễ là đại tội trước mắt các Ðấng Chơn linh ấy. Thầy phải thăng cho các con khỏi bị hành phạt”.

Thật vậy, Thần Thánh là những bậc công minh chánh trực, thường chứng giám những hành vi thiện ác của con người trong thế gian này. Thánh giáo Thầy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy cho ta thấy rõ điều đó: “Phải quấy Thần Thánh chỉnh chép biên, thưởng phạt duy đợi ngày chung cuộc. Khá biết lấy!”.

Và Thi Văn Dạy Đạo cũng có câu:

Một nét vạy tà Thần Thánh chép,

Rèn lòng trong sạch thoát mê tân.

Còn nếu chúng ta có lòng thành thì Thần Thánh chứng chiếu cho:

Cõi thế tìm nơi đạo đức vào,

Lòng thành Thần Thánh chứng công lao.

Như vậy, kỉnh thờ Thần Thánh là kỉnh thờ các Đấng do Đức Chí Tôn hoá sinh ra, để thay mặt cho Ngài lo cho chúng sanh. Thần Thánh là các bậc có lòng từ bi, có oai nghi, đức độ và công lao đối với con người. Thờ phụng và kỉnh lạy Thần Thánh nhằm thể hiện lòng quy ngưỡng, tri ân công đức, và noi theo những gương lành của các bậc thiêng liêng ấy.

Thần Thánh không phải là những Đấng mà con người có thể cầu khẩn, van xin đút lót để được tha tội, cũng chẳng phải vì cầu mong ban ơn được giàu sang, mạnh giỏi... Sự thờ kỉnh Thần Thánh không phải là một lễ lo lót, vì các Đấng ấy rất công minh, vô tư, chẳng bao giờ thiên vị.

Đông Nhạc Thánh Đế có lời dạy: Thiên địa vô tư, Thần minh ám sát, bất vị tế hưởng nhi giáng phước, bất vị thất lễ nhi giáng hoạ 天 地 無 私, 神 明 暗 察, 不 為 祭 享 而 降 福, 不 為 失 禮 而 降 禍, nghĩa là Trời đất không tư riêng, có Thần minh soi xét, chẳng vì cúng tế mà cho phước, chẳng vì thất lễ mà giáng hoạ.

Kỉnh Thờ Thần Thánh chỉ là những hình tướng biểu lộ bên ngoài của một nội tâm kính trọng, và muốn quy ngưỡng cùng các Đấng ấy.

Hình tướng bên ngoài việc kỉnh thờ Thần Thánh cũng có mục đích dẫn dắt tâm linh của con người đến gần với các Đấng ấy, không phải vì lời cầu nguyện van xin mà các Đấng thương tình chứng chiếu, nhưng chính do tâm hồn của con người trong giờ phút quy ngưỡng ấy đặt trọn đức tin và mở rộng cửa để đón nhận các Đấng thiêng liêng, nên thường là được sự cảm ứng.

Kỉnh thờ Thần Thánh còn phải có sự tĩnh tâm mà tưởng niệm danh hiệu các Đấng. Mục đích niệm danh hiệu các Đấng là để trói buộc cái tâm mình vào danh hiệu các Đấng, lúc đó các vọng tưởng hết, chân tâm thanh tịnh hiện bày. Nhưng điều cần nhứt là niệm đến chỗ nhứt tâm bất loạn 一 心 不 亂, tức là tâm không bị loạn động, chí thành, không để các tạp niệm xen vào, miệng niệm mà trong lòng không có vọng tưởng.

Tâm con người bị vô minh, vọng tưởng làm điên đảo, bất tịnh, kỉnh thờ Thần Thánh và niệm danh hiệu các Đấng thiêng ấy có công năng phá trừ vọng niệm, làm cho tâm mê lầm trở nên sáng tỏ, tinh tấn.

Làm người phải kỉnh thờ Thần Thánh,

Giữ lời nguyền tâm tánh tưởng tin.

Hễ là niệm Phật tụng kinh,

Rèn lòng sửa nết khá in như nguyền.

(Kinh Sám Hối).

 

 

KÍP

Kíp là vội, gấp đến mức phải làm ngay, không thể để chậm trễ.

Nói về đám tang của Chưởng Pháp Thượng Tương Thanh, Thánh giáo Thầy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Còn về sự làm cho rỡ ràng trong đạo hữu, các con nên liệu tính cho kíp. Sự cầu kinh thì do nơi đám táng của mẹ Hậu, đều khác hơn một thí.

Tiên cảnh một màu bao thuở lợt,

Đường ngay tua kíp lập công đầu.

(Lý Đại Tiên Giáng).

Kíp giải nàn tua mượn nước Nhành Dương,

Thì mới gặp chánh đường là Đại Đạo.

(Giác Mê Khải Ngộ).

Duyên dầu đặng tâm đầu ý hiệp,

Cũng ngại lo chầy kíp phụ phàng nhau.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

KỊP

Kịp là vừa đủ thời giờ để làm một việc gì trước khi không còn điều kiện để làm hoặc hết thời hạn làm.

Đạt đến mức, đến trình độ ngang hàng hoặc tương ứng với yêu cầu.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Khắp trong nhân loại trên mặt địa cầu nầy, phần đông vì kính thờ Tà quái, mà Tà quái vốn chứa sự chết, thì tức nhiên chúng nó ở trong vòng sự chết là phải tiêu diệt, thì bao giờ biết đặng sự hằng sống là gì. Cười, nếu Thầy không đến kịp thì các con cũng vẫn bị trong vòng sự chết.

Phước gặp Tam Kỳ Trời cứu độ,

Gắng tu kịp buổi lướt Ðài Vân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Gắng khổ quyết tâm lo giải khổ,

May duyên kịp buổi hưởng hồng ân.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

KỊP THÌ

Kịp: Vừa tới, đúng lúc,có đủ thời giờ để làm việc. Thì (thời): Khoảng thời gian không có giới hạn.

Kịp thì, như chữ “Kịp thời”, là đúng lúc, đúng thời, không để chậm trễ, hoặc dùng để chỉ đúng lúc lấy vợ, lấy chồng.

Thánh giáo Thầy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Ðáng lẽ Trái ấy phải bằng chai, đút trong một ngọn đèn cho nó thường sáng, ấy là lời cầu nguyện rất quý báu cho cả nhơn loại Càn khôn Thế giới đó. Nhưng mà làm chẳng kịp thì con tuỳ tiện, làm thế nào cho kịp Ðại Hội.

Xem: Kịp thời.

Toan lo cho Đạo kịp thì,

Đỡ nâng nhơn loại chung quy một trường.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

Tức y tức thực khỏi lo chi,

Tu tánh tu tâm khá kịp thì.

(Đạo Sử).

 

 

KỊP THỜI

Kịp: Vừa tới, đúng lúc,có đủ thời giờ để làm việc. Thời: Khoảng thời gian không có giới hạn.

Kịp thời là đúng lúc, đúng thời, không để chậm trễ, hoặc dùng để chỉ đúng lúc lấy vợ, lấy chồng.

Như: Nhờ phát hiện sớm nên giải quyết kịp thời.

Biển khổ lỡ đã chơi vơi,

Nắm tay bợ đỡ kịp thời quy nguyên.

(Thất Nương Giáng Bút).

Thuận buồm xuôi gió thuyền từ lướt,

Độ chúng kỳ ba trọn kịp thời.

(Thơ Thượng Sanh).

Dầu chưa trọn nghĩa Thiên thơ định,

Giác ngộ vui theo cũng kịp thời.

(Khai Pháp Giáng Bút).

 

 

KỊT

Kịt là rất kín, rất đậm màu sắc, đến mức như hoàn toàn không thể chen, hoặc thêm màu được nữa.

Như: Người đến thăm bịnh đông kịt cả nhà, bầu trời xanh kịt, trời sắp mưa mây kéo đen kịt.

Ở nhà mượn đám mây xanh kịt,

Ðỡ gót nhờ con hạc trắng ngần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

1.- Ký là ghi chép, một thể văn.

Như: Đi du lịch về làm bài ký, ký giả nhà báo, bài ký sự vượt Trường Sơn.

thành một cuốn gọi Thiên thơ,

Khai Ðạo muôn năm trước định giờ.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Ký là chính tay viết tên mình vào. Như: Ký tên xác nhận lý lịch, thị thực chữ ký.

Ðạo Nghị Ðịnh thứ 6, ngày 3 tháng 10 năm Canh Ngọ (1930) có câu: “Hai vị Thiên phong Giáo Tông và Hộ Pháp phải điều đình Hiến Pháp, sửa trị Ðài mình cho hiệp Pháp Chánh Truyền, nên đồng tờ nầy mà ước hẹn.”

Như luật lệ nào Giáo Tông đã truyền dạy mà cả ba đều tên không tuân mạng thì luật lệ ấy phải trả lại cho Giáo Tông.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

3.- Ký là gửi, uỷ thác. Như: Sanh ký tử quy.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Ðã biết sanh là tử là quy, lại có câu tử sanh hữu mạng, nhưng ai còn ở thế, còn mang xác trần, gặp cơn vĩnh biệt ngàn năm, sao cho khỏi bồi hồi trong dạ, vừa thấy đó, bỗng đâu mất đó, hình bóng còn đây mà người hãy về đâu?

Sanh ấy , tử là quy,

Diệu quyền cơ tạo chẳng gì gọi hơn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

4.- Ký là một loại ngựa hay, ngựa tốt. Như: Ngựa kỳ ký, ruổi dong vó ký.

Thánh giáo Thầy có câu: Trường công quả đã hầu mãn, các con lại phải đến cảnh gay go, vó ướm ngập ngừng mà cánh hồng toan lướt gió.

Quanh đường chớ cậy chơn Kỳ ,

Ngược gió tài chi sức Hộc Hồng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Dài đường chớ ngán con Kỳ ,

Ngược gió đừng nao cánh Hộc Hồng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

KÝ KỲ

驥 騏

Ký: Giống ngựa chạy giỏi, một ngày chạy hằng nghìn dặm. Kỳ: Giống ngựa có lông màu xanh đậm.

Ký kỳ là ngựa ký và ngựa kỳ, hai loại ngựa hay, còn dùng để chỉ người tài ba, gánh vác được những việc khó khăn của đời.

Xem: Kỳ ký.

Dặm vó Ký Kỳ xông gió buộc,

Đài mây cù cá thoát biên đình.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

KÝ TÊN

Ký: Ghi, ký tên.

Ký tên là tự ghi tên mình vào một văn kiện để làm cho có tính pháp lý, có hiệu lực.

Như: Ký tên vào đơn xin phép, mọi người đồng ký tên vào biên bản buổi họp.

Trên Từ Phụ chứng minh soi xét,

Con ký tên giao kết tại Toà.

(Thơ NĐS Hương Thanh).

 

 

KÝ THÁC

寄 扥

Ký: Gửi, uỷ thác. Thác: Gửi, nhờ.

Ký thác là giao phó cho ai trông nôm, giữ gìn.

Ký thác còn có nghĩa gởi gắm nỗi niềm tâm sự.

Như: Ký thác việc gia đình cho người bạn thân, tâm sự của tác giả được ký thác trong tác phẩm.

Do đó chúng tôi quyết định quây ra làm nhiều bản để gởi đến và ký thác vào những tâm hồn trung kiên với Ðạo...

(Lời Trần Thuyết).

 

 

KÝ THÀNH

既 成

Ký: Đã, xong việc. Thành: Nên, thành công.

Ký thành là đã xong, đã thành công, tức là công việc đã được hoàn thành.

Ký thành một cuốn gọi Thiên thơ,

Khai Ðạo muôn năm trước định giờ.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

KÝ ỨC

記 憶

Ký: Ghi nhớ. Ức: Nhớ.

Ký ức là ghi nhớ những việc đã qua. Như: Hình ảnh không phai trong ký ức.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập có câu: Cũng như chúng ta lúc nào cũng là trọng tài của thời cuộc, bảo sao không khổ lo cho được hử? Đó là một trang ký ức tâm lý để chúng ta kinh nghiệm mà tiến hành.

Rồi ký ức lần phai theo ngày tháng,

Cố quên đi những u ám thời qua.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

KỲ

1.- Kỳ là thửa. Như: Kỳ dư, kỳ truyền, kỳ trung, toại kỳ sở nguyện.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Thánh giáo Thầy có câu: Thầy cũng có phép răn trị kẻ vạy tà, các con duy có trông cậy nơi Thầy, bước đường cứ thủng thẳng đi lần tới, đừng gấp quá, mà cũng chớ thối lui, thì một ngày kia sẽ đặng toại kỳ sở nguyện.

Kỳ tâm đã sẵn tánh ôn nhu,

Ðưa bước rừng văn đã tối mù.

(Đạo Sử).

2.- Kỳ là thời kỳ, thời hạn. Như: Kỳ thi, lương tháng trả làm hai kỳ.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Ta, vì lấy đức háo sanh, mượn giọt từ bi, hội Tam Giáo, mà rưới khắp Càn khôn, để độ rước những bậc Chí Thánh đoạ trần trước kỳ Thiên điều hành phạt.

Nhớ những vật người ta ưng bụng,

Tính tiền bằng cho đúng kỳ giao.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Kỳ là hẹn cho, hạn cho.

Như: Thầy kỳ cho ngày nay phải làm xong bài vở, Kỳ cho cuối tháng phải trả nhà lại.

Lão kỳ cho hết năm nay, nếu chưa có vẻ gì khởi công mà tạo Tổ Ðình thì nền Ðạo chớ trông gì lập thành thiên niên được.

(Đạo Sử).

4.- Kỳ là lạ lùng, quái gở, tức lạ đến mức làm người ta phải ngạc nhiên.

Như: Kỳ lạ, tánh tình kỳ dị, ăn ở kỳ khôi.

Thế thượng dục tri Thiên sứ đáo,

Tam Kỳ Phổ Ðộ lập kỳ công.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tranh bồi trước cửa kẻ kỳ hình,

Bị đoạt lại rồi tính muốn xin.

(Thiên Thai Kiến Diện).

5.- Kỳ là cuộc cờ.

Như: Cầm kỳ thi tửu, những thú vui của người phong lưu là cầm, kỳ.

Miệng chào lại nhủ mặc Tiên Y,

Mời đến Rừng Tre hội cuộc kỳ.

(Thiên Thai Kiến Diện).

6.- Kỳ là tên núi, núi Kỳ Sơn, ngã ba.

Như: Phân kỳ, kỳ lộ.

Ngọc ẩn thạch kỳ ngọc tự cao,

Hoàng Thiên bất phụ chí anh hào.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Kìa lóng non Kỳ reo tiếng phụng,

Nầy xem nước Lỗ biến hình lân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

7.- Kỳ là ngựa kỳ, một loại thiên lý mã, chạy giỏi, đi mau và xa.

Như: Ngựa kỳ ký.

Quanh đường chớ cậy chơn Kỳ Ký,

Ngược gió tài chi sức Hộc Hồng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

KỲ BA

Kỳ: Thời kỳ, thời hạn. Ba: Số tiếp theo số hai trong dãy số tự nhiên.

Kỳ ba, do chữ “Tam kỳ 三 期”, tức là thời kỳ thứ ba.

Theo Cao Đài, từ Thái cổ đến nay trên quả Địa cầu này Đức Thượng Đế đã mở ra ba thời kỳ phổ độ, nhứt kỳ ứng với thời Thượng nguơn, Nhị kỳ ứng với thời Trung nguơn và Tam kỳ ứng với thời Hạ nguơn.

Xem: Tam kỳ.

Kỳ ba độ chúng Ðạo hoà khai,

Phải đủ địa linh mới kiệt tài.

(Đạo Sử).

Kỳ Ba mở đạo cứu đời,

Chiêu an thế giới khắp nơi hoà bình.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

KỲ CÔNG

奇 功

Kỳ: Lạ lùng, ít thấy. Công: Công nghiệp.

Kỳ công là công nghiệp lạ lùng, tức công nghiệp to lớn, vĩ đại.

Trong bản Tuyên dương công nghiệp Đức Thượng Sanh, Chưởng quản Hiệp Thiên Đài của Ngài Hiến Pháp đọc tại Toà Thánh có câu: Kỳ công nầy, một phần lớn là nhờ Ðức Thượng Sanh hy sinh đời công chức mình để đi phổ độ các nơi trong toàn quốc.

Thế thượng dục tri Thiên sứ đáo,

Tam Kỳ Phổ Ðộ lập kỳ công.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nhờ Ngài lập đại kỳ công,

Làm cho quyền lợi non sông dồi dào.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

KỲ CÙNG

其 窮

Kỳ: Chữ dùng để chỉ cái gì. Cùng: Cuối hoặc chót hết, không còn gì nữa.

Kỳ cùng là ý nói sự việc lo đến cùng mới thôi, không bỏ dở nửa chừng.

Như: Đã làm thì phải làm đến kỳ cùng.

Tại sao Đức Chí Tôn phải căn dặn Bần Đạo hủy bỏ án tử hình, và tranh đấu đến kỳ cùng cho kết liễu điều ấy.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

KỲ CỰU

耆 舊

Kỳ: Tuổi già, tức những người tuổi trên sáu mươi trở lên. Cựu: Cũ, xưa.

Kỳ cựu là chỉ những người già thuộc lớp cũ.

Kỳ cựu còn dùng để gọi những người lâu năm trong nghề nghiệp, hoặc trong nhóm, hay làng xã.

Như: Anh ta là hạng kỳ cựu trong nghề.

Thiên phong kỳ cựu gương còn tạc,

Vĩnh biệt nghìn thu đức rạng ngần.

(Thơ Phạm Mộc Bổn).

 

 

KỲ DƯ

其 餘

Kỳ: Chữ dùng để chỉ cái gì. Dư: Thừa.

Kỳ dư là thừa ra, tức còn những cái khác.

Kỳ dư còn dùng với nghĩa là ngoài ra.

Thánh giáo Đức Lý Đại Tiên Trưởng có đoạn dạy: Trừ ra vợ chồng hay là chị em ruột, anh em ruột đặng chuyện vãn nhau nơi Tịnh đàn. Còn kỳ dư, như hai đàng muốn chuyện vãn nhau, phải có hai người chứng, một bên Nam, một bên Nữ.

Kỳ dư Thầy phong thưởng riêng mới đi khỏi ngả ấy mà thôi, nghe à! Chư môn đệ tuân mạng.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

KỲ HẠN

期 限

Kỳ: Thời hạn định trước. Hạn: Giới hạn.

Kỳ hạn là thời giờ nhất định, tức chỉ khoảng thời gian quy định cho một công việc.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Thầy có dạy: Thầy đã giao trọn quyền cho các con cư xử lấy, Thiên ý như vậy, song chẳng thấy đứa nào đứng ra giành phần. Còn nơi đây, con Tương, cũng nên đợi mãn kỳ hạn, rồi sẽ chung lo với các môn đệ của Thầy.

Những người làm nghề nghiệp phạm nhằm luật cấm thì được kỳ hạn một năm phải giải nghệ.

(Tân Luật).

 

 

KỲ HIÊN

岐 軒

Kỳ: Kỳ Bá là một tôi thần của vua Hoàng Đế. Hiên: Vua Hiên Viên Hoàng Đế, một vị vua thời Thượng cổ.

Kỳ Hiên là nói ông Kỳ Bá và vua Hoàng Đế.

Tương truyền “Nội Kinh” là quyển sách ghi lại lời đối đáp về y học của Kỳ Bá và Hoàng Đế. Người đời sau dùng quyển “Nội Kinh” làm sách căn bản của nền đông y.

Y nghiệp thuật Kỳ Hiên diệu dược hạnh lâm trừ vạn bệnh, Viện đường thâm võ lộ tế nhơn công đức phục hồi xuân.

(Liễn Y Viện).

 

 

KỲ HÌNH

奇 形

Kỳ: Lạ lùng, ít thấy. Hình: Hình dáng, hình thể.

Kỳ hình là hình thể lạ thường, kỳ dị.

Như: Tướng mạo kỳ hình, kỳ hình quái trạng.

Tranh bồi trước cửa kẻ kỳ hình,

Bị đoạt lại rồi tính muốn xin.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

KỲ HOA DỊ THẢO

奇 花 異 草

Kỳ hoa: Hoa lạ, tức những loại hoa thơm hiếm có. Dị thảo: Cỏ lạ lùng.

Kỳ hoa dị thảo là hoa thơm cỏ lạ, ý chỉ những loại hoa cỏ quý hiếm, có lợi ích cho mọi người.

Như: Vườn Thượng uyển của nhà vua thường có trồng những loại kỳ hoa dị thảo.

Sanh ra như cây bá cây tùng, những cây danh mộc, hoặc kỳ hoa dị thảo mới thật có ích trên thế gian.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

KỲ KÝ

騏 驥

Kỳ: Giống ngựa có lông màu xanh đậm. Ký: Giống ngựa chạy giỏi, một ngày chạy hằng nghìn dặm.

Kỳ ký là loài ngựa hay, chỉ người tài ba vượt bực.

Chiến Quốc Sách chép: Kỳ ký thanh tráng chi thời, nhất nhật nhi trì thiên lý 騏 驥 青 壯 之 時, 一 日 而 馳 千 里, nghĩa là ngựa kỳ ký lúc trẻ mạnh, một ngày chạy được cả nghìn dặm.

Kỳ ký được dùng để chỉ người hiền tài, gánh vác được việc khó khăn của đời.

Quanh đường chớ cậy chơn Kỳ Ký,

Ngược gió tài chi sức Hộc Hồng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Dài đường chớ ngán con Kỳ Ký,

Ngược gió đừng nao cánh Hộc Hồng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

KỲ LÃO

耆 老

Kỳ: Người già trên sáu mươi tuổi. Lão: Già.

Kỳ lão là tiếng dùng để chỉ những người già trên sáu mươi tuổi.

Khi lập vị thờ Tiền vãng của Phạm Môn, Hiến Đạo hỏi Đức Hộ Pháp phải để tại Phạm Nghiệp hay là lập nhà thờ trong ba Cung: Trí Huệ, Trí Giác và Vạn Pháp?

Thánh giáo Ngài dạy: Hiền hữu hiệp với Ban Kỳ Lão mà tính việc ấy.

Chẳng khác chi một vị tân quan đến trấn nhậm xứ nào, cũng phải nhờ mấy ông kỳ lão, mới rõ thông xứ ấy đặng...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

KỲ LÂN

麒 麟

Kỳ lân là tên loài thú linh thời xưa, rất hiền lành, con đực gọi là kỳ, con cái gọi là lân.

Tương truyền, Kỳ lân có hình dáng giống như nai, mình có vằn, đuôi trâu, vú ngựa, có một sừng trên đầu. Bước chân Kỳ lân đi có quy cũ, không đạp côn trùng, không làm nát cỏ cây, nên người ta gọi Kỳ lân là con thú nhân đức (Nhân thú).

Kỳ lân là một vật trong tứ linh: Long, lân, quy, phụng. Kỳ lân xuất hiện mang đến điềm đất nước thái bình, hoặc Thánh nhân xuất hiện.

Trước khi Đức Khổng Tử ra đời, mẹ là bà Nhan Thị thấy kỳ lân nằm phục trước mặt, nhả ra ngọc xích có chữ viết rằng: Con nhà thuỷ tinh nối đời Châu suy mà làm vua không ngai.

Khi Đức Khổng Tử viết về kinh Xuân Thu, khi nghe có người bắt được con kỳ lân què một chân thì ngưng, không chép nữa, vì cho rằng đạo của mình đã cùng.

Trị loạn Nam Thiên trừ mãnh hổ,

Thừa bình Bắc Địa kiến kỳ lân.

(Lý Giáo Tông Giáng).

 

 

KỲ NGOẠI HẦU CƯỜNG ĐỂ

畿 外 侯 彊 柢

Kỳ Ngoại Hầu Cường Để tên là Nguyễn Phúc Đan 阮 福 單, sinh ngày 11 tháng Giêng năm Nhâm Ngọ, (Dl. 28/02/1882), tại Huế, là con của Hàm hoá Hương công Tăng Du. Ông là cháu đích tôn bốn đời của vua Gia Long, là cháu trực hệ của Hoàng Tử Cảnh. Do Hoàng Tử Cảnh mất sớm, tổ phụ ông là Hoàng Tôn Đán bấy giờ còn nhỏ tuổi, ngôi vua truyền cho dòng thứ hai là hoàng tử Đảm, tức vua Minh Mạng.

Vì là dòng dõi chính thống trong hoàng tộc nên nhiều nhà ái quốc như Phan Bội Châu đã có kế hoạch liên lạc với gia đình ông để lập lại ngôi vua, thay cho vua Khải Định vì vị vua này hợp tác với thực dân Pháp. Tuy nhiên vì lý do tuổi già, cha ông từ chối, nhưng giới thiệu ông thay mặt gia đình tham gia phong trào. Biệt danh Nguyễn Trung Hưng 阮 中 興 của ông có từ đó. Khi Phan Đình Phùng mất, khả năng đấu tranh bằng lực lượng vũ trang cũng không còn, ông chuyển sang hoạt động chính trị.

Năm 1906, ông trốn sang Nhật và cùng với Phan Bội Châu cổ động phong trào Đông du.

Ông mất ngày 6 tháng 4 năm 1951 tại Tokyo, Nhật Bản, hưởng thọ 69 tuổi.

Người hậu thuẫn tâm hồn mẫn tuệ,

Kỳ Ngoại Hầu Cường Để vì dân.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

KỲ NGỘ

奇 遇

Kỳ: Lạ lùng. Ngộ: Gặp gỡ.

Kỳ ngộ là cuộc gặp gỡ tình cờ, không hẹn nhau mà gặp, tức cuộc hội ngộ bất ngờ, hay may mắn.

Như: Đôi vợ chống ấy là duyên kỳ ngộ.

Kỳ ngộ lịch phùng mãn trí tư,

Vô lao nan đắc thủ vinh hư.

(Đạo Sử).

 

 

KỲ QUAN

奇 觀

Kỳ: Lạ lùng. Quan: Xem.

Kỳ quan là những vật lạ lùng người ta trông thấy, tạo một mỹ cảm đặc biệt, hay những hiện tượng lạ lùng.

Kỳ quan còn dùng để chỉ những công trình kiến trúc, hoặc cảnh vật đẹp đến mức kỳ lạ hiếm thấy.

Như: Vịnh Hạ Long là một kỳ quan của Việt Nam.

Thánh Điện kỳ quan chói Ngọc Đài,

Chầy năm tái thiết đạo hoằng khai.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

KỲ SAN PHỤNG GÁY

Kỳ San (Kỳ Sơn): Một ngọn núi ở Tây Kỳ đời Trụ Vương. Phụng gáy: Chim phượng hót.

Kỳ San phụng gáy, hay “Kỳ Sơn phụng gáy”, là chim phụng gáy trên núi Kỳ Sơn.

Do điển vua Văn Vương nhà Châu ra đời thì có chim phụng đậu trên Kỳ Sơn gáy, báo cho biết là một điềm lành, Ngài là bậc Thánh quân. Sau vua Văn Vương được Khương Tử Nha phò tá, diệt vua Trụ, dựng nghiệp nhà Châu, mở ra một thời bình trị.

1.- Kỳ San phụng gáy:

Kỳ San chờ phụng gáy kêu về,

Đời chẳng ưa mà cũng chẳng chê.

(Thơ Hộ Pháp).

2.- Kỳ Sơn phụng gáy:

Giải tán quân nhân thật phép mầu,

Kỳ Sơn phụng gáy nghiệp quy châu.

(Lý Giáo Tông).

Nêu rõ tinh trung thật phép mầu,

Kỳ Sơn phụng gáy nghiệp quy Châu.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

KỲ THẬT

Hay “Kỳ thực”.

Kỳ: Cái ấy. Thật (thực): Không dối, có thật, đúng với sự có hẳn.

Kỳ thật, như chữ “Kỳ thực 其 實”, có nghĩa thật ra là, thực tế là, tức điều sắp nêu ra mới chính là sự thật.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Các bạn có biết Phật Mẫu là ai? Ngài dùng bảy nguơn khí tạo chơn thần ta, tức nhiên tạo phách ta. Nhà Phật gọi là thất phách. Kỳ thật khí phách ấy làm chơn thần, tức là nhị xác thân chúng ta, khi chúng ta bỏ xác trần, xác Thiêng Liêng ấy vẫn còn tồn tại.

Nhiều kẻ dụng thế để cầu Thầy, chớ kỳ thật là chúng nó muốn tìm cách dòm hành mong các con lầm mà bại lộ cơ quan mật yếu mà thôi.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

KỲ THỊ

奇 視

Kỳ: Lạ lùng. Thị: Xem, nhìn.

Kỳ thị là nhìn bằng cặp mắt lạ, khinh thường hay phân biệt đối xử.

Ở xã hội có nhiều loại kỳ thị xảy ra: Kỳ thị chủng tộc và kỳ thị tôn giáo, đảng phái, kỳ thị giai cấp...

Kỳ thị chủng tộc là có sự phân biệt đối xử giữa màu da, như dân da trắng khinh miệt dân da đen; Kỳ thị tôn giáo là sự khinh miệt, chống đói giữa các tôn giáo.

Nhơn loại khổ đủ điều kỳ thị,

Tìm lẽ sống chuẩn bị chiến tranh.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

Toàn cầu tôn giáo đang kỳ thị,

Triết thuyết Cao Đài hiệp nhứt gia.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

KỲ TRÂN

奇 珍

Kỳ: Lạ lùng. Trân: Quý báu.

Kỳ trân là quý báu lạ lùng. Như: Dự tiệc cưới của anh ấy được thưởng thức những món ăn kỳ trân.

Mình khoe tú cẩm kề mai biệu,

Sắc chói kỳ trân dựa liễu ve.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

KỲ TRUYỀN

其 傳

Kỳ: Cái ấy. Truyền: Trao lại.

Kỳ truyền là tiếng thường dùng trong tôn giáo để chỉ cái giáo lý chơn thật ấy được truyền lại.

Thất kỳ truyền là cái giáo pháp chơn truyền của một tôn giáo đã bị mất, hay sai lệch.

Thánh giáo Đức Thích Ca Như Lai dạy: Kỳ truyền đã thất, chư sơn chưa hề biết cái sai ấy do tại nơi nào, cứ ôm theo luật Thần Tú, thì đương mong mỏi về Tây phương mà cửa Tây phương vẫn cứ bị đóng, thì cơ thành Chánh quả do nơi nào mà biết chắc vậy.

Cũng bởi thất kỳ truyền nên tu hữu công mà thành Ðạo chưa hề thấy.

(Đạo Sử).

 

 

KỲ TRUNG

其 中

Kỳ: Ấy. Trung: Ở trong, ở giữa.

Kỳ trung là ở trong ấy.

Khi giải thích về tội tà dâm, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Phàm xác thân con người, tuy mắt phàm coi thân hình như một, chớ kỳ trung nơi bổn thân vốn một khối chất chứa vàn vàn muôn muôn sanh vật.

Trong thế còn người mong thoát tội,

Kỳ trung chưa lọt kẻ ra ngoài.

(Đạo Sử).

Tục che miệng tiếng rằng cưới gả,

Chớ kỳ trung thiệt quá bán heo.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

KỶ

Kỷ là chỉ về mình. Như: Ích kỷ, vị kỷ, kỷ sở bất dục vật thi ư nhân.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Ðã thọ phẩm vị của Ðạo, nhưng chư quý vị còn vướng bận vai tuồng thế sự là vai tuồng mà mỗi người đều phải đãm nhiệm để làm tròn nhơn Ðạo, thì phương pháp hay nhất là quý vị nên lấy tinh thần Ðạo Ðức để xử kỷ tiếp nhân và dựa vào tinh thần đó mà làm cho êm dịu phần nào cái khổ nhọc của kiếp nhân sanh, đồng thời cũng dụng cái biệt tài hoặc chí kinh doanh của mình mà lập chút công chi đối với Ðạo.

Hớn Lưu Khoan trách dân bồ tiên thị nhục,

Hạng Trọng Sơn khiết kỷ ẩm mã đầu tiền.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

Không vị kỷ nào sờn luật lịnh,

Tỉ không mua ai tính đòi tiền.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

KỶ CANG

Kỷ: Giềng mối. Cang (cương): Giềng mối.

Kỷ cang, như chữ “Kỷ cương 紀 綱”, là phép tắc, lễ nghi, luật lệ trong một nước.

Như: Mọi người giữ vững kỷ cang của gia đình.

Xem: Kỷ cương.

Hữu phước sẵn Thầy năng cải số,

Kỷ cang liệu để tánh ôn hoà.

(Đạo Sử).

 

 

KỶ CƯƠNG

紀 綱

Kỷ: Giềng mối. Cương: Giềng mối.

Kỷ cương có nghĩa là phép tắc, lễ nghi, luật lệ trong một nước.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ngài (Đức Chí Tôn) còn sắp đặt một kỷ cương để cho tinh thần nó vi chủ hình hài của nó, còn để cho thân thể nó vi chủ tâm hồn của nó, nó sẽ ngây cuồng ngu dại, nó sẽ đi đến chỗ tự diệt nó mà thôi.

Hoan nghinh đại nghiệp ơn khai sáng,

Tưởng niệm công trình lập kỷ cương.

(Thơ Thân Dân).

Gầy dựng cho con có thất gia,

Để lo nối nắm kỷ cương nhà.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

KỶ LUẬT

紀 律

Kỷ: Kỷ cương. Luật: Pháp luật.

Kỷ luật là luật lệ của một tổ chức cho mọi người noi theo để giữ gìn trật tự.

Thánh giáo Lý Giáo Tông có câu: Lão nhận thấy còn những Chức sắc khinh thường kỷ luật Đạo, tức là khinh thường Đức Chí Tôn.

Ðức Chí Tôn lập nên Thánh thể của Người cốt để giữ gìn cái kỷ luật ấy được trường tồn mãi.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

KỶ NIỆM

紀 念

Kỷ: Ghi. Niệm: Nhớ.

Kỷ niệm là cái hiện tại trong trí óc về những sự việc đáng ghi nhớ đã qua. Như: Kỷ niệm của tuổi thơ.

Kỷ niệm còn có nghĩa là gợi lại cho nhớ những sự việc đáng ghi nhớ. Như: Dựng đài kỷ niệm.

Thánh giáo Chí Tôn dạy: Thầy dạy các con nhớ ngày nầy là ngày kỷ niệm. Trung, con phải lấy tên của Chư Môn Ðệ có mặt tại đây ngày nay mà giữ gìn để lưu lại cho hậu thế biết...

Bài nầy Mẹ chép bút son,

Để làm kỷ niệm cho con học đòi.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Kỷ niệm đề thi chúc tỷ nương,

Vui say lễ thọ rất phi thường.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

KỶ NGUYÊN

紀 元

Kỷ: Ghi, biên chép. Nguyên: Đầu.

Mỗi một ông vua lên ngôi đều lấy năm đầu tiên làm “Kỷ nguyên”, ý nói bắt đầu từ năm đó.

Sau dùng chữ “Kỷ nguyên’ để chỉ thời kỳ đánh dấu một sự kiện khởi đầu quan trọng có ảnh hưởng đến xã hội sau này.

Đối với Dương lịch, người ta dùng kỷ nguyên của Công Giáo, nên còn gọi Công nguyên, là năm giáng sinh của Chúa Jésus khởi tính là năm thứ nhứt.

Đối với Phật lịch, kỷ nguyên là năm Đức Phật Thích Ca tịch diệt khởi tính là năm thứ nhứt.

Còn tôn giáo Cao Đài, kỷ nguyên là năm khai Đạo, tức là năm Bính Dần, ứng với Dương lịch năm 1926. Tính đến năm Quý Tỵ (2013) là 87 năm. Như vậy Đạo lịch là Bát thập thất niên.

Đức Chí Tôn kịp đến mà hoằng khai Đại Đạo hầu dung hợp cả tôn chỉ triết lý Âu Á mới có thể lập thành một kỷ nguyên đại đồng thế cuộc.

(Thánh Giáo Thượng Phẩm).

 

 

KỶ SỞ BẤT DỤC VẬT THI Ư NHÂN

己 所 不 欲 勿 施 於 人

Kỷ: Ta, mình. Sở: việc ấy, cái đó. Bất dục: Không muốn. Vật thi: Chẳng thi hành. Ư nhân: Cho người khác.

Câu “Kỷ sợ bất dục vật thi ư nhân” có nghĩa là điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác.

Đây là câu nói của Khổng Tử, mà Đức Thượng Sanh có lập lại trong bài thuyết đạo như sau: Thầy Trọng Cung hỏi nhân, Ngài nói rằng: “Xuất môn như kiến đại tân, xử dân như thừa đại tế, kỷ sở bất dục vật thi ư nhân”, nghĩa là: Ra cửa phải như tiếp khách lớn, trị dân phải làm tế lễ lớn, điều gì mình không muốn ai làm cho mình thì mình đừng làm cho ai.

Tóm lại, cái sở hành chơn pháp công bình chỉ dùng một câu “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân”.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

KỶ VẬT

紀 物

Kỷ: Ghi nhớ, kỷ niệm. Vật: Đồ vật.

Kỷ vật là đồ vật dùng làm kỷ niệm. Như: Nhìn lại kỷ vật tưởng nhớ đến người đã khuất.

Cổ kính, tàn y tức là gương cũ, những bộ quần áo của người đã chết để lại, là món kỷ vật cho những người thân còn sống.

Kỷ vật còn đây người vắng dạng,

Ai ơi! Xin thấu tấm lòng mơ.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

KỸ

Kỹ là làm việc có sự chú ý đầy đủ đến tận từng chi tiết, không hoặc rất ít để có sự sai sót, trái với dối.

Như: Xem kỹ từng chữ một, nhìn kỹ mới thấy rõ có vết, nhai kỹ mới nát.

Thánh giáo đức Nhàn Âm Đạo Trưởng có câu: Nên hiểu kỹ lời, bằng chẳng thấu thì tu có ích chi!

Chàng dầu đặng thảnh thơi cảnh trí,

Hộ dâu con giữ kỹ nhơn luân.

(Kinh Thế Đạo).

Hễ làm vợ để lòng xét kỹ,

Nhọc thân chồng càng nghĩ trọng ân tình.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

KỸ CÀNG

Kỹ: Làm việc có sự chú ý từng chi tiết ít có sự sai sót, trái với dối.

Kỹ càng là tỏ ra thật kỹ, không để có sự sai sót.

Về việc in Thánh Ngôn và Văn Thi, Đức Chí Tôn có dạy như sau: Ðược, nhưng Thánh Ngôn và Văn Thi đều phải trích lục cho kỹ càng, phải có Hội Thánh phê nhận rồi sẽ in thì khỏi điều sơ sót quan hệ.

Trâu cày cấy bớt điều đòn bọng,

Nuôi kỹ càng nó sống mình giàu.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

KỸ LƯỠNG

Kỹ: Làm việc có sự chú ý từng chi tiết ít có sự sai sót, trái với dối.

Kỹ lưỡng là làm việc không để cho sự sai sót, tức cân nhắc từng ly từng tý.

Thánh giáo Đức Cao Thượng Phẩm có dạy: Mỗi việc, các em phải khá suy nghiệm cho kỹ lưỡng, phải luôn nhớ rằng: Mình là người của chúng sanh chớ chẳng phải chúng sanh là người của mình.

Vậy nên nhớ mấy lời Thầy, chẳng phải đọc sơ qua mà coi làm chơi, cần chiêm nghiệm kỹ lưỡng mà hiểu, nghe!

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

KỴ

1.- Kỵ là kiêng, khắc, không ưa, không hợp.

Như: Kiêng kỵ, hai loại thuốc nầy kỵ nhau, dầu xăng kỵ lửa, năm nay kỵ tuổi.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Vì đó một người mà nắm trọn quyền thống nhất trong tay thế nào tránh khỏi lạm quyền và độc đoán là điều tối kỵ đối với Ðạo.

Thế trung kỵ tử hà tri tử?

Tử giả hà tồn chủ tịch Hương?

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

2.- Kỵ là cỡi, không dùng một mình.

Như: Kỵ hạc, đội binh kỵ mã, lính kỵ binh, kỵ hạc thừa long, kỵ kim quang.

Kỵ kim quang kiến Lão Quân,

Dựa xe Như Ý oai thần tiễn thăng.

(Kinh Tận Độ).

 

 

KỴ ĐẦU XÀ

騎 頭 蛇

Kỵ: Cỡi lên. Đầu xà: Đầu rắn.

Kỵ đầu xà là cỡi lên đầu rắn.

Trong Đền Thánh đạo Cao Đài, ngai của Đức Hộ Pháp được đặt trên thất đầu xà, nên “Kỵ đầu xà” có nghĩa là Hộ Pháp ngồi lên ngai rắn bảy đầu.

Phía trên vách tạc rành chữ Khí,

Ngay dưới chân lại kỵ đầu xà.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

KỴ HẠC

騎 鶴

Kỵ: Cỡi. Hạc: Chim hạc.

Kỵ hạc là cỡi chim hạc, ý chỉ sự lên Tiên, sự chết.

Do tích trong Liệt Tiên Truyện chép: Vương Tử Kiều là người đời Đông Hán, thường ngày thích thổi ống sanh, âm thanh của loại nhạc khí nầy phát ra như tiếng chim phụng gáy.

Ngày kia, Tử Kiều bảo với người nhà rằng sau khi ông ra đi thì đến ngày mùng 7 tháng 7 nên đến đầu núi Hầu Thị để đón ông. Đúng ngày nói trên, người nhà đến nơi hẹn thì thấy Tử Kiều đưa tay giã từ mọi người rồi cỡi hạc trắng bay bổng lên không trung mất dạng.

Kỷ niệm ngày viên tịch Giáo Tông,

Đăng Tiên kỵ hạc trở về tòng.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

KỴ HẠC QUÁ DƯƠNG CHÂU

騎 鶴 過 楊 州

Kỵ hạc: Cỡi chim hạc. Quá: Qua. Dương Châu: Tên một vùng đất thịnh vượng, và phồn hoa của Trung Quốc ngày xưa.

Kỵ hạc quá Dương Châu là nói hai thầy trò Tân Dân Tử và Tôn Võ Tử cỡi hạc đến Dương Châu.

Do tích: Xưa kia Tân Dân Tử dạy Tôn Võ Tử học Đạo Tiên. Ngày nọ, hai Thầy trò cỡi hạc vân du, Tân Dân Tử dặn Tôn Võ Tử: Thầy dặn con một điều, nếu lòng con còn mến tiếc việc phàm, nhứt là khi hạc bay qua chợ Thiên Vương là quê hương của con, nếu lòng con tưởng trần thì chim bay không nổi, sẽ đáp xuống, con phải ở lại cõi trần, không về cùng Thầy được.

Tôn Võ Tử đã đạt phẩm Nhơn Tiên, mà tránh không khỏi nét phàm, nên khi hạc bay ngang chợ Thiên Vương, thấy quê cũ lòng bắt ngậm ngùi, chim hạc liền đáp xuống. Tôn Võ Tử ở lại chợ Thiên Vương, lòng buồn bã, tìm lại người vợ xưa thì đã quá 70 tuổi rồi. Ông nghĩ muốn tạo lại sự nghiệp thì đã muộn, muốn tái lập đạo nhơn luân thì vợ đã già, bèn than rằng: Ta đã theo Thầy học đạo Tiên trên 30 năm, nếu bây giờ ở luôn tại đây thì uổng công tu luyện, muốn theo Thầy thì chim hạc không cất cánh nổi. Ôi! Lỡ Đạo lỡ Đời, ấy cũng vì ta không nghe lời Thầy, mà không nên Đạo.

Thầy trò kỵ hạc quá Dương Châu,

Cơ Thánh lâm phàm thể hiện lâu.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

KỴ KIM QUANG

騎 金 光

Kỵ: Cỡi. Kim quang: Ánh sáng màu vàng, tức hào quang màu vàng.

Kỵ kim quang là cỡi lên hào quang vàng.

Trong Kinh Tận Độ của Đạo Cao Đài, ánh sáng kim quang thường dùng để các chơn linh cỡi hoặc làm kiệu về cõi Thiêng Liêng, như câu: Kim quang kiệu đỡ đến triều Ngọc Hư.

Kỵ kim quang kiến Lão Quân,

Dựa xe Như Ý oai thần tiễn thăng.

(Kinh Tận Độ).

 

 

KỴ LONG MÃ

Kỵ: Cỡi, ở đây nói đặt Liên đài lên Long mã. Long Mã: Một chiếc xe tang bông hình con Long mã, dành để đặt liên đài của Chức sắc Đại Thiên phong.

Trong Đạo Cao Đài, khi các vị chức sắc Đại Thiên phong quy liễu, Hội Thánh dùng Long mã để chở Liên đài các vị ấy đến nơi tế lễ và di chuyển Liên đài đến Bửu tháp, đó gọi là Liên Đài kỵ Long mã.

Xem: Long mã.

Niêm phong Thánh thể, an ngự Liên đài,

Kỵ Long mã đưa đưa đường về Cực Lạc.

(Ai Điếu Hương Lự).

Nương Đài sen thẳng chốn Đào nguyên,

Kỵ Long mã dạo miền Tây Vức.

(Điếu Văn Nữ Đầu Sư).

 

 

KỴ SEN

Kỵ: Cỡi. Sen: Bông sen

Kỵ sen là cỡi lên bông sen thiêng liêng để được đưa đi lên các tầng trời.

Dà Lam dẫn nẻo Tây Quy,

Kim chung mở lối kịp kỳ kỵ sen.

(Kinh Tận Độ).

 

 

KỴ VẬT

騎 物

Kỵ: Cỡi. Vật: Con vật.

Kỵ vật là con vật dùng để cỡi.

Theo triết lý tôn giáo, người ta thường ví thể xác như con ngựa, chơn thần như sợi dây cương, linh hồn như người cỡi ngựa.

Vì vậy, thể xác là con kỵ vật của linh hồn.

Trong bài “Hội Yến Diêu Trì”, Đức Hộ Pháp có nói: Tam Bửu là ba khí chất tạo nên hình hài xác thịt, cái xác là con kỵ vật, thiên hạ lầm tưởng hễ xác chết là mất, vậy thì thử hỏi Trời Ðất vạn vật một khi đã hoại thì tan nát không còn sanh hoá nữa hay sao?

Chính Đạo giáo nhà Phật có nói con người chúng ta là con kỵ vật để cho Vạn linh cỡi nó đi đường từ mặt địa cầu nầy qua mặt địa cầu khác...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

KHÁ

1.- Khá là vừa, được, gần đủ, gần tốt, ở mức độ vừa hoặc cao tương đối.

Như: Bài văn khá, làm ăn khá, người trông cũng khá, công việc khá vất vả, kha khá.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Đêm nay cũng khá đông nhưng Bần Đạo để đợi đôi ba phen coi thử, nếu quả như con cái Đức Chí Tôn siêng năng biết lo liệu học hỏi đạo đức, Bần Đạo sẽ thuyết về bí pháp, để đợi kỳ giảng nữa coi.

Hàng ngày kiếm kiểu hay mới lạ,

Dục cho chồng nghề khá nghiệp hay.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Khá là nên, đáng, phải. Như: Khá thương, khá khen, khá lo đường đạo đức.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Các con hiền mà dữ, các con yếu mà mạnh, các con nhỏ nhoi mà là quyền thế, các con nhịn nhục mà các con hành phạt, cử chỉ các con khá tập sao cho nghịch với cử chỉ thế tình thì là gần ngôi Tiên, Phật đó.

Tìm Ðạo mà chi khá hỏi mình,

Bến mê mới vững vớt quần sinh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Biết Ðạo khá lo trau hạnh đức,

Dữ lành đợi buổi cũng cân phân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nâng đời khá gắng trau nhơn đức,

Học Ðạo tua năng luyện tánh tình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

KHẢ

Khả là khá, đáng, nên. Như: Khả dĩ, khả năng, khả tùng ngã mạng.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Thích Ca Mâu Ni có dạy: Khả tùng giáo Ngọc Ðế viết Cao Ðài Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát.

Diệu huyền chơn đạo tu tông hướng,

Mê hoặc tà mưu khả tự phòng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

KHẢ DĨ

可 已

Khả: Khá, đáng, nên. Dĩ: Lấy. dùng.

Khả dĩ là có thể. Như: Người siêng năng khả dĩ làm được việc lớn.

Trong quyển Giáo Lý, Ngài Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có đoạn viết: Vô dục nghĩa là không ham muốn vật chất. Vô dục là phép tu Tâm, cũng như Mạnh Tử nói: “Tiết dục khả dĩ tồn Tâm”.

Cứu được những linh hồn như vậy là một công nghiệp phi thường, khả dĩ nâng cao thinh danh của Đạo đúng theo câu Nhân năng hoằng Đạo.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

KHẢ ĐIẾU

可 釣

Khả: Khá, đáng, nên. Điếu: Câu cá.

Khả điếu là có thể câu được.

Sách Minh Tâm Bửu Giám có câu: Thuỷ để ngư, thiên biên nhạn, cao khả xạ hề đê khả điếu 水 底 魚, 天 邊 雁, 高 可 射 兮 低 可 釣, nghĩa là cá ở đáy nước, nhạn bên trời, cao có thể bắn được, thấp có thể câu được.

Cao khả xạ, hề thâm khả điếu,

Cao thâm vạn sự tại nhơn tâm.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

KHẢ NĂNG

可 能

Khả: Khá, nên. Năng: Sức làm việc, có thể làm được, gánh nổi việc.

Khả năng là năng lực, tức sức có thể làm được.

Khả năng là cái có thể xuất hiện, có thể xảy ra trong điều kiện nhất định.

Trong bài Thánh giáo Đức Chí Tôn bằng Pháp văn do Hội Thánh dịch ra Việt ngữ có câu: Phải có một Giáo lý mới mẻ đủ khả năng kềm chế nhân loại trong sự thương xót chúng sanh.

Xả thân hành đạo vì quan niệm,

Mua đất cất chùa với khả năng.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

KHẢ QUAN

可 觀

Khả: Có thể, khá, tốt. Quan: Xem.

Khả quan là xem được, dễ coi.

Khả quan còn có nghĩa là tương đối tốt đẹp, đáng được hài lòng.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Lý Giáo Tông có đoạn: Mặc dầu Đạo trải qua lắm chuyện não lòng, Lão vẫn nhận thấy tinh thần đạo đức của tín đồ được khả quan. Còn về phía Chức sắc Thiên phong thì có một phần không trụ vững đức tin đối với Đức Chí Tôn nên kém hẳn sáng suốt nhận định và tinh thần phục vụ.

Có bền chí như vậy sự học mới có kết quả khả quan.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

KHẢ XẠ

可 射

Khả: Khá, đáng, nên. Xạ: Bắn.

Khả xạ là có thể bắn.

Sách Minh Tâm Bửu Giám có câu: Thuỷ để ngư, thiên biên nhạn, cao khả xạ hề đê khả điếu 水 底 魚, 天 邊 雁, 高 可 射 兮 低 可 釣, nghĩa là cá ở đáy nước, nhạn bên trời, cao có thể bắn được, thấp có thể câu được.

Cao khả xạ, hề thâm khả điếu,

Cao thâm vạn sự tại nhơn tâm.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

KHÁC

1.- Khác là không giống, không đồng. Như: Khác họ, khác làng, khác nước, khác dân tộc.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có đoạn: Thánh tâm dầu phải chịu khổn trần đi nữa thì chất nó cũng vẫn còn. Các con khác hơn kẻ phàm là duy tại bấy nhiêu đó mà thôi.

Trái oan nào khác mối tơ,

Rối rồi không gỡ, bao giờ cho ra.

(Kinh Sám Hối).

Lòng đây nào có khác chi phàm,

Biết đặng Ðạo rồi mới biết ham.

(Đạo Sử).

2.- Khác còn có nghĩa đối với nầy. Như: Chỗ nầy chỗ khác, người nầy kẻ khác, nghĩ một cách khác.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Cốt để ban thưởng các con, thì các con hưởng phần hơn đã đáng, lẽ nào Thầy đã để phần nhiều cho các nước khác sao!

Chia sướng sớt vui ai khác hưởng,

Trêu hờn nuốt thảm một mình ta.

(Đạo Sử).

 

 

KHÁC THƯỜNG

Khác: Không giống, không đồng. Thường: Không có gì khác lạ, không có gì đặc biệt.

Khác thường là khác với bình thường, tức khác với điều thường thấy.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Tánh liêm khiết nâng cao giá trị con người và làm cho người được thơ thới, dầu cho ở trong cảnh nghèo khó người ta cũng hảnh diện tự tìm sự vui trong chỗ thanh cao khác thường của mình, vì ngó lên không thẹn với Trời, dòm xuống không hổ với thiên hạ.

Vương hầu lê thứ, ai là chí,

Chí quyết làm cho thế khác thường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

KHÁCH

1.- Khách là “Hát khách”, một điệu hát tuồng của ngày xưa, dùng những câu phú chữ Nho để hát.

Như: Hát khách, chồng rao nam vợ hát khách.

Chồng rao nam hơi chẳng đặng dài,

Vợ hát khách bằng hai giúp sức.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Khách là người ở ngoài, đến chơi hoặc đến ăn ở nhà mình.

Như: Hôm nay nhà có khách, chủ khách thù tạc với nhau, anh ấy đến làm khách.

Cung đờn đợi khách còn đang khảy,

Cánh thước về non bóng xế chiều.

(Lục Nương Giáng Bút).

Đối với khách đồng bàn đồng tuổi,

Nhớ cho hay lời nói giọng cười.

(Nữ Trung Tùng Phận).

3.- Khách dùng để chỉ kẻ, hoặc người nào đó.

Như: Khách văn chương, khách đi đường, khách hồng quần, khách đoạn trường.

Nào những khách đoạn trường kim cổ,

Bởi trái duyên nên lỡ gót trần.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Nếu gặp phước bố kinh đáng khách,

Biết yêu hoa dưới ngạch phòng thu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

4.- Khách chỉ người ở cõi thế gian. Như: Khách tục, khách trần, khách phàm.

Theo triết lý Cao Đài, con người sinh ra nơi cõi trần, mang cái hình hài xác thịt chính là người khách tạm, bởi vì nguồn gốc của con người là quê hương của chơn linh tức cõi Thiêng liêng. Vì vậy, người xưa mới có câu “Sinh ký tử quy”, hay “Sống gửi thác về” để chỉ con người sống ở thế gian làm khách tạm, chờ ngày trở về quê xưa vĩnh viễn ở chốn Thiêng liêng.

Thánh giáo Thầy có đoạn dạy: Phủi hết muôn sự ở cõi trần vô vị nầy, ấy là một sự khó thi hành của khách phàm tục. Mấy ai nong nả tìm đến cảnh thiêng liêng, mà nhiều kẻ lại tìm vào vực thẳm.

Rừng tòng thanh nhã say mùi Ðạo,

Bể khổ mênh mang vớt khách trần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

KHÁCH ĂN RAU CHÊ BỆ NGỌC

Khách ăn rau: Chỉ người thà chịu ăn rau để ẩn dật. Chê bê bệ ngọc: Ý nói không ham ngai vàng điện ngọc.

Khách ăn rau chê bệ ngọc là khách thà chịu ăn rau, chứ chê ngai vàng bệ ngọc, ý muốn nói thà sống ẩn dật, chứ không màng danh lợi.

Do tích: Anh em Bá Di, Thúc Tề, là hai người con vua Cô Trúc ở cuối đời Thương, đầu đời Chu. Bá Di là anh cả, Thúc Tề là em út. Vua Cô Trúc yêu Thúc Tề, lập di mệnh cho Thúc Tề nối ngôi. Quốc dân theo di mệnh lập Thúc Tề, Thúc Tề không chịu, nhường lại cho Bá Di cho phải lẽ. Bá Di cũng không chịu, nhường lại cho Thúc Tề để tuân lệnh cha. Không ai chịu nhận, quốc dân phải lập người con giữa, rồi cả hai trốn vào núi Thú Dương hái rau vi ăn để mà sống.

Xem: Di Tề.

Nhượng vinh huê trong buổi sang giàu,

Khuyên học khách ăn rau chê bệ ngọc.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

KHÁCH ĐÌNH

客 停

Khách: Người khách, người ở nơi khác đến. Đình: Nhà trạm dùng làm nơi nghỉ chân của khách.

Khách đình, nghĩa đen là cái nhà trạm dùng làm chỗ tạm dừng chân của khách lữ hành.

Trong tôn giáo Cao Đài, Khách Đình là cái nhà tang lễ dành cho chức sắc và toàn tín đồ, là nơi để quan tài người liễu đạo đặng tế lễ và cầu siêu.

Tại sao lại gọi con người sống ở cõi Trần là “Khách”?

Người xưa quan niệm rằng cõi tục là cõi sống tạm, cõi Thiêng Liêng mới là cõi vĩnh hằng, vì vậy mới có câu “Sanh ký tử quy 生 寄 死 歸” nghĩa là “sống gửi thác về”, tức là sống thì gửi tạm làm khách nơi cõi tục, thác thì về chốn thiêng liêng, quê hương.

Thánh giáo Đức Chí Tôn cũng có dạy: Các con, Cõi trần là chi? Khách trần là sao? Sao gọi là khách? Trần là cõi khổ để đọa bậc Thánh Tiên có lầm lỗi. Ấy là cảnh sầu để trả xong quả, hoặc về ngôi cũ, hoặc trả không xong quả phải mất cả chơn linh là luân hồi. Nên kẻ bị đọa trần là Khách trần.

Do đó triết lý của đạo Cao Đài cho rằng con người sống ở cõi Trần là “Khách trần” (hay khách tục, khách phàm). Dùng chữ “Khách” để chỉ con người ở thế gian là có ý nói cõi trần là không phải nơi ở vĩnh viễn, mà chỉ là cõi ở tạm một thời gian rồi sẽ về với quê hương thực sự là cõi Thiêng liêng hằng sống.

Khi có người vừa mới chết, thân nhân có thể đưa vào “Khách Đình” như một trạm để dừng chân lại để nghỉ ngơi, trước khi trở về sống nơi cõi Hư vô.

Nơi Nội ô Toà Thánh Tây Ninh, Khách Đình là một Toà nhà nằm đối diện với Ban Nhà thuyền, mặt tiền có đề hai chữ “Khách Đình 客 停” ở giữa và hai bên cột có câu liễn như sau:

Khách quán từ bi trừ trái chủ.

 

客 館 慈 悲 除 債 主

Đình thuyền Bát Nhã độ mê tân.

 

亭 船 般 若 渡 迷 津.

Nghĩa là:

Nơi quán trọ của khách trần, từ bi trừ hết nợ oan trái.

Trạm thuyền Bát nhã giúp qua khỏi bến mê.

Và mặt tiền của Khách Đình lại có hai câu:

Sanh dã tạo đắc thiện duyên.

 

生 也 造 得 善 緣

Tử dã thoát lý khổ kiếp.

 

死 也 脫 離 苦 劫.

Nghĩa là:

Sống thì tạo được duyên lành.

Chết thì thoát khỏi nghiệp quả của kiếp sống.

Bên trong Khách Đình là một gian nhà rộng, có ngăn một bức vách, phía trước là một khoảng trống dành để đặt quan tài của người chết khi hành lễ tang. Phía sau Đức Hộ Pháp có lập một bàn thờ để thờ Thiên Nhãn, tức là thờ Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế quay mặt ra cửa sau.

Theo lời “Tiểu Dẫn” về cách thờ phượng và cúng kiếng trong quyển Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo có viết: Lập vị Thượng Đế thì phải lựa nơi nào cho tinh khiết, tốt hơn hết là ở giữa nhà, lập trang thờ cho cao, treo màn cho khuất chỗ thờ phượng.

Thế mà tại sao Khách Đình là nơi để quàn các xác người chết, chỗ nhiều âm khí nặng nề, ô trược mà tại sao lập Bàn thờ Thầy?

Và nếu thờ Thiên Nhãn thì thường có thờ Tam vị Giáo Chủ và Tam Trấn Oai Nghiêm mà tại sao nơi Khách Đình chỉ thờ duy nhất là Thiên Nhãn?

Điều nầy, trong bài Thuyết đạo của Đức Hộ Pháp vào ngày rằm tháng 7 năm Nhâm Thân (1932) có giải thích như sau:

Đức Chí Tôn Đại Từ Phụ, vì quá thương yêu con cái của Ngài, nên Ngài lén Thiên đình (Tam Giáo Chủ và Tam Trấn không hay biết) đi xuống Khách Đình để cứu độ con cái của Ngài trở về.

Bấy lâu nay, con cái của Ngài say đắm thế trần, lao vào các dục vọng thể xác, không còn nhớ đến ông Cha thiêng liêng đang ngày đêm trông đợi, cũng có khi con cái có nhớ tới, nhưng vì thân mang nhiều tội lỗi nên không dám đến gần ông Cha thiêng liêng, cứ chạy trốn hoài. Ngày giờ nầy, xác thân đã được đưa đến Khách Đình thì hết còn trốn tránh, và Đại Từ Phụ lén xuống đây để cứu độ con cái của Ngài trở về, thể hiện một tấm lòng thương yêu vô bờ bến của một ông Cha quá khổ cực vì các con.

Lo cho nó nên Phật, nó cứ muốn làm ma,

Lo cho nó thành Trời, nó cứ ham làm quỉ.

Nỗi buồn tình ấy tả sao cho nổi,

Gần hung ác tập rèn quen tánh.

Chỉnh lấy thân yếu mạnh so đời,

Không lương tâm, nào biết ngó Trời.

Theo thân thể trọn đời làm quỉ,

Thấy như thế, già tuôn giọt lệ.

Lại hiểu con chẳng nghĩ đến mình,

Gạt lệ rơi về tạm Khách Đình.

Chẳng cho trẻ biết hình biết dạng...”.

Như vậy, thờ Thiên Nhãn nơi Khách Đình: Về mặt hình thể là để tiện việc cho chức sắc hành pháp, thỉnh nước âm dương, luyện thành Cam lộ thủy để làm phép xác (phép độ hồn).

Về mặt vô vi Đức Chí Tôn vì quá thương yêu con cái nên một mình Ngài rời Thiên Đình xuống trần gian, không nệ chỗ uế trược đến độ rỗi con cái của Ngài lúc quá cố hồn lìa khỏi xác, để trở về cùng Ngài mà Tam vị Giáo Chủ và Tam Trấn Oai Nghiêm không hay biết.

Bên kia lộ thấy liền một nóc,

Dãy Khách Đình nằm dọc ra sau.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

Đôi cửa song song đó Khách Đình,

Chư vong vào nghỉ để nghe kinh.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

KHÁCH ĐÀNG

Hay “Khách đường”.

Khách: Người ở nơi khác đến, trái với chủ. Đàng (đường): Nhà, căn nhà.

Khách đàng, như chữ “Khách đường 客 堂” là nhà khách, phòng tiếp khách.

Nơi phòng ngủ mùng màn giặt diệm,

Chốn khách đàng trang điểm đồ dùng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

KHÁCH MÁ HỒNG

Khách: Chỉ kẻ, người nào đó. Má hồng: Như chữ “Hồng kiểm 紅 臉”, tức là gò má đỏ hồng của những người đàn bà, con gái.

Khách má hồng là tiếng dùng để chỉ những người phụ nữ đẹp đẽ.

Kìa thương những khách má hồng,

Đẹp xinh tô đậm bụi nồng thế gian.

(Tứ Nương Giáng Bút).

 

 

KHÁCH PHÀM

Khách: Chỉ người ở cõi thế gian. Phàm: Nói tắt của chữ Phàm trần, Phàm gian.

Khách phàm, như chữ “Khách phàm gian”, “Khách phàn tục”, hay “Khách trần gian”, là những người khách ở sống cõi thế gian.

Thánh giáo Thầy có câu: Phủi hết muôn sự ở cõi trần vô vị nầy, ấy là một sự khó thi hành của khách phàm tục. Mấy ai nong nả tìm đến cảnh thiêng liêng, mà nhiều kẻ lại tìm vào vực thẳm.

1.- Khách phàm:

Vóc Thánh thanh cao treo khó vói,

Khách phàm ao ước ngắm mà chơi.

(Thơ Hoàng Nguyên).

2.- Khách phàm gian:

Gầy nền Phật giáo noi chơn tánh,

Dìu khách phàm gian thoát ái hà.

(Thơ Huệ Phong).

3.- Khách phàm trần:

Thiên Cơ đã lộ lúc khai Trời,

Kêu khách phàm trần đã hụt hơi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

KHÁCH QUAN

客 觀

Khách: Ở ngoài, đối với chủ. Quan: Xem xét, hay quan niệm.

Khách quan là căn cứ vào sự thật đang diễn tiến ở bên ngoài của hiện tượng mà quan sát, suy nghĩ, rồi đưa ra những quyết định thích hợp.

Trái với khách quan là chủ quan.

Cái biết nầy là cái biết Trực giác toàn diện, không phân biệt năng tri và sở tri, không phân biệt chủ quan và khách quan...

(Giáo Lý).

 

 

KHÁCH QUẦN THOA

Khách: Chỉ kẻ, người nào đó. Quần thoa: Do chữ “Bố quần kinh thoa 布 裙 荊 釵”, nghĩa là quần bằng vải bô, trâm cài đầu bằng gai, dùng để chỉ người đàn bà giản dị, hiền đức.

Khách quần thoa là chỉ hạng phụ nữ hiền thục, giản dị và cần kiệm.

Phải rán công thêm nữa đặng làm cho đáng nét yêu dấu của Ðấng Chí Tôn cho nở mày khách quần thoa cõi Việt.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

KHÁCH TỤC

Khách: Người ở ngoài, đối với chủ. Tục: Tầm thường thấp kém, chỉ cõi thế gian.

Khách tục, hay “Tục khách 俗 客”, là chỉ con người sống nơi cõi trần tục.

Sở dĩ gọi là khách, bởi vì người xưa quan niệm cõi tục là cõi sống tạm, cõi Thiêng Liêng mới là cõi vĩnh hằng, vì vậy mới có câu “Sanh ký tử quy 生 寄 死 歸” là sống gửi thác về, tức là sống gửi tạm (làm khách) nơi cõi tục, thác về chốn thiêng liêng.

Thánh Giáo Đức Chí Tôn cho biết: Ðạo Trời khai ba lượt, khách tục lỗi muôn phần. Khách trần ai vẫn lấy sự vui vẻ vô vị chốn sông mê nầy mà quên trọn các điều đạo đức của các Ðấng Thánh trước Hiền xưa.

Biển mê lắt lẻo con thuyền,

Chở che khách tục, cửu tuyền ngăn sông.

(Bài Thài Tam Nương).

Câu kinh tiếng kệ gọi hồn,

Kêu thương khách tục, giải lòng người nhân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Ham phương cứu thế độ nhân,

Giải mê khách tục, cõi trần lánh xa.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

KHÁCH THUYỀN QUYÊN

Khách: Chỉ kẻ, hay người nào đó. Thuyền quyên 嬋 娟: Người con gái xinh, yểu điệu.

Khách thuyền quyên là chỉ hạng phụ nữ đẹp đẽ, yểu điệu, dịu dàng.

Lấy thân rửa thảm lau phiền,

Đem công chuộc khách thuyền quyên lụy tình.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

KHÁCH TRẦN

Hay “Khách trần gian”.

Khách: Chỉ người ở cõi thế gian. Trần: Cõi Trần

Khách trần, như chữ “Khách phàm”, “Khách tục” tức khách ở cõi phàm tục.

Khách trần hay khách trần gian, là nói con người sống ở cõi thế gian như một khách lữ hành nghỉ đêm tạm bợ nơi quán tục.

Thánh Giáo Thầy có giải thích khách trần như sau: Trần là cõi khổ để đoạ bậc Thánh Tiên có lầm lỗi. Ấy là cảnh sầu để trả xong quả, hoặc về ngôi cũ, hoặc trả không xong quả phải mất cả chơn linh là luân hồi. Nên kẻ bị đoạ trần là Khách trần.

Xem: Khách tục.

1.- Khách trần:

Mơ màng chưa tỉnh huỳnh lương,

Sóng xao biển khổ nên thương khách trần.

(Lục Nương Giáng Bút).

Biển khổ khách trần bơi ngược nước,

Thuyền từ bỉ ngạn lướt xuôi dòng.

(Thơ Thông Quang).

2.- Khách trần gian:

Lời vàng nhắn hỏi khách trần gian,

Một nẻo đường Tiên đáng mấy ngàn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Mở rộng đường mây đón khách trần,

Bao nhiêu tình gởi nhắn nguyên nhân.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

KHAI

1.- Khai là mở, khơi. Như: Khai trương, khai Đạo, khai sông, khai ấn.

Thánh giáo Thầy dạy Ngài Thái Thơ Thanh có câu: Thơ, con phải khai rộng Thánh Thất cho chúng sanh cầu đạo, đừng phân sang hèn, ai ai đều cũng con Thầy. Con khá khuyên chư nhu đến Thánh Thất cầu đạo nghe!

Thiên Cơ đã lộ lúc khai Trời,

Kêu khách phàm trần đã hụt hơi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðạo hạnh khuyên con gìn tánh đức,

Cửa Cung Bạch Ngọc đã gần khai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Khai là trình bày, kể rõ ra. Như: Khai sinh, khai tử, lời khai của người có tội.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn có câu: Bần đạo đã chán thấy kẻ bất lực rất nhiều. Vậy Bần đạo để lịnh cho mỗi vị Thiên phong xét mình, khai tội cùng Giáo Tông và Hộ Pháp, rồi sau mới định rõ điều thưởng phạt.

Nếu mình không tự hạ mình và không đủ can đảm cung khai thì chịu lấy.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

KHAI CƠ

開 基

Hay “Khai cơ nghiệp

Khai: Mở ra, mở đầu, mở mang, bắt đầu. Cơ: Nền móng căn bản, cơ nghiệp.

Khai cơ, như chữ “Khai cơ nghiệp”, là tạo lập nền móng để xây dựng sự nghiệp.

Nhớ đức khai cơ danh chói rạng,

Tưởng ân truyền giáo nghĩa nào phai.

(Thượng Cảnh Thanh).

Hùng Vương quốc tổ đấng khai cơ,

Nòi giống rồng Tiên trước đến giờ.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

KHAI CƠ NGHIỆP

開 基 業

Khai: Mở ra, mở đầu, mở mang, bắt đầu. Cơ nghiệp: Những thứ tài sản đã gây dựng được làm cơ sở cho việc làm ăn.

Khai cơ nghiệp, như chữ “Khai cơ lập nghiệp”, là gây dựng cơ nghiệp, tức tạo lập nền móng để xây dựng sự nghiệp. Đồng nghĩa với “Khai cơ”.

Xem: Khai cơ.

Tiền nhân bố đức khai cơ nghiệp,

Hậu đại nhớ ơn dựng thổ cương.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

KHAI CỬU THẬP NHỊ TÀO CHI MÊ MUỘI

開 九 十 二 曹 之 迷 昧

Khai: Mở mang, khai hoá. Cửu thập nhị: Chín mươi hai. Theo ý câu kinh là chỉ 92 ức nguyên nhân. Tào: Bọn, đám, chỉ số nhiều. Mê muội: Mê mờ, tối tăm, không phân biệt được chân giả, chánh tà...

Khai cửu thập nhị tào chi mê muội tức là khai mở chín mươi hai ức nguyên nhân còn đang mê muội bị trầm luân nơi cõi trần.

Đạo Pháp trường lưu,

Khai cửu thập nhị Tào chi mê muội.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

KHAI DẪN

開 引

Khai: Mở cho thông lối, bắt đầu hoạt động. Dẫn: Dẫn dắt, dìu dắt.

Khai dẫn là mở đường dẫn nẻo.

Thánh giáo Thầy có câu: Lằn tang thương gần khởi, đường đạo đức chớ dần dà, công vẹt ngút mây xanh của các con sẽ làm cho sáng sủa bạch minh, cho bước đàng sau nầy do theo dấu ấy mà lần đến cõi vô ưu, để bước khỏi lối nhọc nhằn ban sơ khai dẫn.

Ðạo Trời khai dẫn bước lỗi lầm, đem kẻ hữu căn lánh vòng phiền não.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

KHAI ĐÀN

開 壇

Khai: Mở ra, mở đầu, mở mang, bắt đầu. Đàn: Đàn cúng Đức Chí Tôn hay Đức Phật Mẫu và các Đấng Thiêng Liêng.

Khai đàn là bắt đầu một đàn cúng Đức Chí Tôn hay Đức Phật Mẫu và các Đấng Thiêng Liêng theo nghi lễ của Tôn giáo.

Trong Đạo Cao Đài, những vị tín đồ mới nhập môn muốn lập Thiên Bàn thờ Đức Chí Tôn thì phải mời Bàn Cai Quản hay Bàn Trị Sự địa phương đến thiết đàn làm Lễ “Khai đàn thượng Tượng”.

Trong Pháp Chánh Truyền Chú Giải có câu: Lễ Sanh phải đi thăm viếng các nhà Đạo Hữu. thượng tượng khai đàn; dạy cho biết lễ nghi cúng tế Thầy, thay quyền cho Giáo Hữu.

Xem: Thượng Tượng.

Ðạo Quang, con cứ khai đàn cho chúng nó, và chỉ cách thờ Thầy theo Tân Luật...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

KHAI ĐẠO

 

1. KHAI ĐẠO 開 道

Khai: Mở ra, mở đầu, mở mang, bắt đầu. Đạo: Chỉ nền Tôn giáo.

Khai Đạo là khai nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, tức đạo Cao Đài.

Vào năm Bính Dần (1926), Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế dùng huyền diệu cơ bút, mở ra một nền tân Tôn giáo gọi là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ tại miền Nam nước Việt Nam, để cứu vớt tất cả chúng sanh trong thời Hạ nguơn mạt kiếp.

Ngài Lê Văn Trung được Đức Chí Tôn giáng cơ ban cho phẩm Đầu Sư, Thánh danh là Thượng Trung Nhựt thay mặt Hội Thánh nạp Tờ Khai Đạo vào ngày 01-9-Bính Dần (Dl. 7-10-1926) cho Thống Đốc Nam Kỳ là Ông Le Fol. Kể từ ngày đó, các vị Chức sắc lo truyền Đạo, thâu nhận tín đồ, mượn ngôi chùa Phật là Từ Lâm Tự của Hoà Thượng Như Nhãn ở Gò Kén, tỉnh Tây Ninh để xúc tiến xây dựng cơ sở và tổ chức Lễ Khai nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Thánh giáo Lý Giáo Tông có câu: Chư hiền hữu, chư hiền muội xem trong năm Khai Ðạo, biết bao khổ não truân chuyên. Lão, vì đã thấy rõ, nên không nỡ ngồi an xem cơ thắng bại. Lão nhứt định đứng chung vai đâu cật cùng chư hiền hữu, chư hiền muội, mà chia bớt khổ tâm.

Ký thành một cuốn gọi Thiên thơ,

Khai Ðạo muôn năm trước định giờ.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Đức Quyền Giáo Tông dày công Khai Đạo,

Chí trung thành hoà hảo từ bi.

(Thơ Hộ Pháp).

Vừa hồi Khai Đạo, ưa lối nâu sồng,

Gặp lúc phế đời, giải đường hoạn lộ.

(Văn Tế Thượng Phẩm).

 

2. KHAI ĐẠO 開 道

Hay “Khai Đạo Chơn Quân”.

Khai Đạo là một phẩm chức sắc trong Thập Nhị Thời Quân, thuộc chi Đạo Hiệp Thiên Đài, dưới quyền trực tiếp của Đức Thượng Phẩm.

Khai Đạo Chơn Quân 開 道 真 君 là một vị chức sắc Đại Thiên phong thuộc chi Đạo Hiệp Thiên Đài được Đức Chí Tôn phong cho Ngài Phạm Tấn Đãi.

Theo Hiến pháp Hiệp Thiên Đài, Khai Đạo là người có trách nhiệm lo nghiên cứu những điều cần ích cho chúng sanh trong đường Đạo. Ngoài ra, Pháp Chánh Truyền chú giải cũng có quy định: Khi đặng tờ kêu nài cầu rỗi thì liệu như đáng rỗi, phải tư tờ cho Toà Tam Giáo Cửu Trùng Đài xin đình án bao lâu tuỳ ý, song chẳng đặng phép quá 15 ngày, nhứt diện dâng sớ cho Hộ Pháp cầu nhóm đại hội Hiệp Thiên Đài đặng định liệu, như bào chửa thì Khai Đạo phân giải giữa hội cho ra lẽ oan ưng, Hiệp Thiên Đài cho lịnh thì mới dâng nội vụ lên cho Hiến Pháp.

Đạo phục của Ngài Khai Đạo Chơn Quân theo Pháp Chánh Truyền quy định gồm có hai bộ:

Bộ Đại phục của Khai Đạo toàn trắng, cổ trịch, viền kim tuyến bạc, đầu đội mão Nhựt Nguyệt mạo màu trắng, lưng đeo dây sắc lịnh, thả mối bên hong mặt (Thuộc Đạo), chân đi giầy vô ưu trắng.

Bộ Tiểu phục cũng toàn hàng trắng, lưng mang dây sắc lịnh y như Đại phục, đầu đội Hỗn Nguơn mạo, trên mão có Long Tu Phiến và Phất Chủ (Cổ pháp Thượng Phẩm), chân đi giầy vô ưu màu trắng.

Khai Đạo được Đức Chí Tôn phong cho Ngài Phạm Tấn Đãi trong đàn cơ ngày 12 tháng 01 năm Đinh Mão (Dl. 13-02 1927).

Ngài Phạm Tấn Đãi, tộc danh là Thuộc, sinh ngày 28 tháng 7 năm Tân Sửu (Dl. 10/9/1901), tại làng Mỹ Lệ, quận Cần Đước, tỉnh Chợ Lớn. Thân phụ là ông Phạm Thành Thiệt có nhập môn theo Đạo, được Thiên phong Giáo Hữu phái Thượng, sau thăng lần đến phẩm Phối Sư. Thân mẫu là bà Nguyễn Thị Ruộng, cũng được thọ Thiên ân Giáo Hữu, quê quán ở Chợ Trạm làng Mỹ Lệ.

Thuở thiếu thời, Ngài theo học các trường: Chợ Trạm, Cần Giuộc, Trường Richaud, trường Xã Tây Chợ Lớn, Trung học Chasseloup Laubat và trường Trung học Nguyễn Xích Hồng.

Năm 1920, Ngài xin vào ngạch giáo viên, được bổ dạy ở trường Phú Lâm, Chợ Lớn. Năm 1921 đổi về dạy tại Cần Giuộc. Năm 1923 sang dạy ở Rạch Kiến.

Vào ngày 4 tháng 11 năm Ất Sửu, (Dl. 19/12/1925), Ngài được ông Phủ Nguyễn Ngọc Tương mời đến dự lễ khai đàn, Đức Chí Tôn giáng dạy ban cho Ngài bốn câu thi:

Dằn lòng len lỏi hãy quy y,

Nay gặp ta đây đã đến kỳ.

Oanh liệt hồng trần e phải khổ,

Tầm đường đạo đức tránh đường nguy.

Đúng một tuần sau, Ngài nhập môn cầu Đạo, và thường cùng với ông Đốc học Phạm Văn Tươi tập cầm cơ hằng tháng. Sau đó Ngài được Đức Chí Tôn phong làm Khai Đạo Hiệp Thiên Đài.

Từ ấy, Ngài cùng với Hiến Đạo Phạm Văn Tươi cầm cơ cho các Đấng thâu nhận nhơn sanh nhập môn cầu Đạo, dưới sự chứng đàn của ông Thượng Chánh Phối Sư Thượng Tương Thanh, Đầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt cùng nhiều vị Chức sắc khác.

Ngày 9 tháng giêng năm Quý Dậu (Dl. 4-3-1933) Ngài Khai Đạo Phạm Tấn Đãi được Hội Thánh đưa qua lãnh phận sư Thái Chánh Phối Sư bên Cửu Trùng Đài.

Ngày 5 tháng 4 năm 1945, sau khi Pháp bị Nhựt đảo chánh, Ngài ở luôn Toà Thánh hành đạo, quy tụ chư Chức sắc lo sửa chữa các dinh thự bị hư sập.

Cuối năm 1945, Nhựt đầu hàng Đồng Minh, Pháp trở lại Việt Nam, đem quân chiếm Tây Ninh. Ngài hiệp cùng ông Phối Sư Thái Khý Thanh, người Đường Nhơn, lo giữ Toà Thánh để khỏi sự chiếm đóng của Pháp. Thánh 8 năm Bính Tuất (1946), Đức Hộ Pháp hồi loan, liền giao chức vụ Quyền Ngọc Chánh Phối Sư cho Ngài và kiêm Thống Quản Cơ Quan Phước Thiện.

Từ đó Ngài được giao nhiều trách vụ quan trọng như: Giao tiếp với nhà cầm quyền Pháp, làm Giám Đốc Hạnh Đường, rồi một lần nữa qua Cửu Trùng Đài lãnh trách vụ Ngọc Chánh Phối Sư.

Khi Đức Hộ Pháp rời Toà Thánh đi Kim Biên, và Đức Thượng Sanh về cầm quyền, Ngài được đưa qua lãnh nhiệm vụ Ngọc Chánh Phối Sư lần thứ ba và sau đó Ngài lần lượt nhận các Đạo lịnh phụ trách nhiều nhiệm vụ khác.

Cho đến năm 1971, Ngài được phân công làm Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị Viện Đại Học Cao Đài, rồi Quyền Viện Trưởng Viện Đại Học Cao Đài.

Đầu năm 1976, Ngài Khai Đạo Phạm Tấn Đãi được Hội Thánh giao nhiệm vụ Quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài thay thế cho vị Thời Quân Hiến Pháp vừa đăng Tiên. Ngài cầm quyền chỉ vỏn vẹn được một tháng thì Ngài Đăng Tiên lúc 9 giờ 10 tối ngày 19 tháng 2 năm Bính Thìn (Dl. 19-3-1976).

Qua hôm sau, ngày 20 tháng 2 năm Bính Thìn (Dl. 20/3/1976), hồi 15 giờ 20, tại Giáo Tông Đường, Tiếp Dẫn Đạo Nhơn Nguyễn Văn Hợi - Chưởng Ấn Nguyễn Văn Kiết phò loan, Hầu đàn: Bảo Đạo, Ngọc Đầu Sư, Quyền Nữ Chánh Phối Sư, và chư Chức sắc Hiệp Thiên Đài, Ngài Khai Đạo Phạm Tấn Đãi giáng cơ cho bài Thánh giáo như sau:

Xin chào Bảo Đạo, Đầu Sư, chư Chức sắc nam nữ có mặt nơi đây.

Bần tăng được lịnh về gấp. Các bạn chớ thắc mắc vì sự qui Tiên gấp của Bần tăng, bởi có lịnh Ngọc Hư.

Một điều đáng tiếc là Bần tăng đã lãnh lịnh của Ngự Mã Thiên Quân Hộ Pháp Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài mà chưa thực hành gì cả. Như vậy, hiền huynh Bảo Đạo và Hiến Đạo tiếp tục chung tâm hiệp trí lãnh đạo Hiệp Thiên Đài y theo lời dạy của Đức Hộ Pháp.

Nếu Hiến Đạo vì bịnh không thể thường trực tại Tòa Thánh Tây Ninh thì hiền huynh Bảo Đạo nhận phần Quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài thế cho Bần tăng và cứ thực hành y như lời chỉ giáo của Đức Ngài tại Cung Đạo.

Đức Hộ Pháp căn dặn chư Thời Quân còn tại thế cố bảo thủ chơn truyền và Đạo pháp, vì chư Chức sắc lưỡng Đài hành đạo ngoài lời dạy của Đức Chí Tôn và các Đấng từ ngày khai Đạo, vi phạm Thiên điều và bị chư Thần Thánh lánh xa không ủng hộ, bằng cớ cho Kim Quang Sứ cho lịnh Quỷ vương cám dỗ và thâu làm môn đệ là khác! Chừng ấy, công nghiệp khổ hạnh của chư Chức sắc đều bị phế bỏ hết.

Vậy, Bảo Đạo hiền huynh cần mạnh dạn nhắc nhở Chức sắc Hiệp Thiên Đài cố gìn giữ luật pháp. Đó là đặc ân đối với Chức sắc nam nữ, chớ có gì e ngại.

Đức Hộ Pháp dặn Bảo Đạo và Hiến Đạo cố dìu dẫn Hội Thánh Phước Thiện và bắt buộc họ phải thi hành phước thiện theo Đạo Luật đã định. Nếu sai lạc chủ nghĩa phước thiện là chư Chức sắc “Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng” phế vong trách nhiệm, bị Thiên điều trừng trị mà còn bị án bất tuân lịnh của Hộ Pháp mà chớ! Bần tăng bảo rằng chúng cố thật hành cho chín chắn, sau nầy sẽ thấy thành công mỹ mãn mà cũng chính Đức Hộ Pháp tuyên dương công nghiệp tại Ngọc Hư Cung đó.

Về bài thài, đợi Bần tăng thương lượng rồi rồi sẽ gởi.

Sau đó Tái cầu, Thánh Hiển vâng lịnh Ngài Khai Đạo cho bài Thài như sau:

Khai mở Cao Đài độ chúng sanh,

Đạo mầu giải thoát giống dân lành.

Chơn truyền cố vẹn Đạo nhà vững,

Quân chủ dân quyền dứt chiến tranh.

Thuở sinh tiền Ngài Khai Đạo Phạm Tấn Đãi ít làm thơ. Sau đây là những bài thơ của Ngài mà chúng tôi đã sưu tầm được:

TỰ VỊNH

Tùy thời hành động thuận chiều thôi,

Dìu dẫn nhơn sanh hiểu Đạo Trời.

Ngược đậu, xuôi đi, theo bực nước,

Gió buồm, dông núp, thế tình đời.

Quan san dặm thẳng toan lừa bước,

Tòng bá vườn xưa đã định người.

Tạo hóa đổi xây bầu khí vận,

Tùy thời hành động thuận chiều thôi.

HỌA

Đạo Trời thử thách buổi chinh nghiêng,

Quyết chí tầm phương giữ vững thuyền.

Rán sức trở day theo máy tạo,

Tận tâm chèo chống đáp ân thiên.

Từ bi hành thiện gương Tiên Phật,

Bác ái khoan dung chí Thánh Hiền.

Mừng thấy thời cơ nhiều thuận tiện,

Muôn năm nghiệp Đạo để lưu truyền.

Bài trên là bài thi mà Ngài Khai Đạo Phạm Tấn Đãi họa lại bài “Về Toà Thánh Hành Đạo” của Đức Thượng Sanh Cao Hoài Sang.

1.- Khai Đạo:

Thượng Phẩm thì quyền về phần Ðạo, dưới quyền: Chương là Bảo Ðạo, Tươi là Hiến Ðạo, Ðãi là Khai Ðạo, Trọng là Tiếp Ðạo,

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

2.- Khai Đạo Chơn Quân:

Khai mở Cao Đài độ chúng sanh,

Đạo mầu giải thoát giống dân lành.

Chơn truyền cố vẹn, Đạo Trời vững,

Quân chủ dân quyền dứt chiến tranh.

(Bài Thài Khai Đạo).

 

 

KHAI GIẢI

開 解

Khai: Mở ra, mở đầu, mở mang, bắt đầu. Giải: Cởi bỏ, giải thoát.

Khai giải là mở ra và giải thoát.

Cứu khổ nàn Thái Ất Thiên Tôn,

Miền Âm cảnh ngục môn khai giải.

(Kinh Tận Độ).

 

 

KHAI HOÁ

開 化

Khai: Mở ra, mở đầu, mở mang, bắt đầu. Hoá: Dạy dỗ cho xấu trở nên tốt.

Khai hoá là mở mang văn hoá cho một dân tộc lạc hậu. Nghĩa về Tôn giáo, khai hoá là mở ra một học thuyết hay giáo lý để dạy dân bỏ dữ theo lành, bỏ xấu theo tốt.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Ấy là những môn đệ vô phần, đã chẳng giữ nét thanh cao lại mượn thói vạy tà để làm cho bợn nhơ mối Ðạo quý báu của Thầy đã lấy đức háo sanh mà khai hoá.

Vương Tân sách phụ,

Nho Tông khai hoá,

(Kinh Cúng Tứ Thời).

Lâm phàm khai hoá Đạo Cao,

Ban truyền chánh pháp, luyện trau tinh thần.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

KHAI KINH

開 經

Hay “Khai kinh chú”.

Khai: Mở ra, mở đầu, mở mang, bắt đầu. Kinh: Lời của Thánh hiền hoặc chư Tiên Phật.

Khai Kinh là mở đầu bài kinh.

Khai Kinh, hay “Khai Kinh Chú”, là một bài Kinh trong Kinh Cúng Tứ Thời của đạo Cao Đài, dùng để tụng mở đầu cho bốn bài kinh: Ngọc Hoàng và Tam giáo Kinh.

Xem: Khai kinh chú.

Khai Kinh thấy rõ khổ phàm trần,

Hướng ánh thái dương hiện Lão Quân.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

KHAI KINH CHÚ

開 經 咒

Khai: Mở ra, mở đầu, mở mang, bắt đầu. Kinh: Lời của Thánh hiền hoặc chư Tiên Phật. Chú: Bài chú.

Khai kinh hay “Khai kinh chú”. là một bài chú dùng để tụng mở đầu trước khi tụng các bài kinh khác.

Bài “Khai kinh chú” nầy do Đức Lữ Tổ dịch ra Nôm từ bài Hán văn tựa là “Khai Kinh Kệ 開 經 偈” trong kinh Huyền Môn Nhựt Tụng bên Trung Hoa, và giáng cơ ban cho Chi Minh Lý. Hội Thánh Cao Đài được Chí Tôn dạy các vị chức sắc Thiên phong thỉnh về làm kinh nhựt tụng.

Nguyên văn bài Khai Kinh Kệ như sau:

 

Trần hải mang mang thuỷ nhựt đông,

 

塵 海 茫 茫 水 日 東,

 

Vãn hồi toàn trượng chủ nhơn công.

 

挽 回 全 仗 主 人 公.

 

Yếu tri Tam giáo tâm nguyên hiệp,

 

要 知 三 教 心 源 合,

 

Trung thứ Từ bi cảm ứng đồng

 

忠 恕 慈 悲 感 應 同.

Giải nghĩa:

Bể trần mênh mông bát ngát, mặt trời giọi xuống ở phương đông.

Làm cho hết sự là hoàn toàn nhờ vào Đức Thái Thượng Đạo Quân.

Cần biết điều quan trọng của Tam giáo là cái tâm làm gốc cho sự hoà hợp.

Trung thứ của Đức Khổng Tử, Từ bi của Đức Phật, Cảm ứng của Đức Thái Thượng, tất cả đều đồng như nhau.

 

Thành kỉnh tụng Khai Kinh Chú.

(Nghi Tiết Cúng Đàn).

 

 

KHAI KINH KỆ

開 經 偈

Khai: Mở ra, mở đầu, mở mang, bắt đầu. Kinh kệ: Nói chung là kinh và kệ.

Khai kinh kệ là bài kệ ngắn để tụng mở đầu trước khi tụng bài Di Lạc Chơn Kinh.

Bài Khai Kinh Kệ đó như sau:

 

Khai Kinh Kệ

 

 

 

Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp,

 

無 上 甚 深 微 妙 法,

 

Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ.

 

百 千 萬 劫 難 遭 遇,

 

Ngã kim thính văn đắc thọ trì,

 

我 今 聽 聞 得 受 持,

 

Nguyện giải Tân kinh chơn thiệt nghĩa.

 

願 解 新 經 真 實 義.

 

THÍCH CA MÂU NI VĂN PHẬT thuyết:

 

釋 迦 牟 尼 文 佛 說 彌 勒 真 經

Giải nghĩa:

Giáo pháp của Phật rất cao siêu, sâu xa, và mầu nhiệm,

Tram ngàn muôn kiếp khó mà gặp đặng.

Ta nay nghe biết nhận lấy và gìn giữ,

Nguyện giải thích bài Tân Kinh với nghĩa chơn thật.

Đức Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng Di Lạc chơn Kinh.

 

Khai Kinh Kệ: Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp, Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ...

(Di Lạc Chơn Kinh).

 

 

KHAI KHIẾU

開 竅

Khai: Mở ra, mở đầu, mở mang, bắt đầu. Khiếu: Cái khả năng thông minh của con người còn tìm ẩn.

Khai khiếu là khai mở năng khiếu.

Con người ai cũng có những năng khiếu đặc biệt thiên phú còn tiềm ẩn, chưa có điều kiện bộc phát ra. Khi được mở khiếu hay gặp cơ duyên, những khả năng tài giỏi mới được bộc lộ ra ngoài.

Đại Từ Phụ xin thương khai khiếu,

Giúp trẻ thơ học hiểu văn từ.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

KHAI LẬP

開 立

Khai: Mở ra, mở đầu, mở mang, bắt đầu. Lập: Tạo ra, gầy dựng.

Khai lập có nghĩa là khai cơ lập nghiệp, tức khai mở và gầy dựng nên sự nghiệp.

Đạo Cao Đài được khai lập vào năm Bính Dần, nhưng trước đó, Ðức Chí Tôn đã cho các Ðấng dùng huyền diệu cơ bút mở đạo ở các nơi trên thế giới như: Thần Linh Học ở Âu Mỹ Châu, Thông Thiên Học ở Mỹ và Ấn Ðộ, đạo Minh Sư ở Trung Hoa...

Còn đạo mới khai lập, tuy xuất hiện chưa đầy một năm, chớ chư Tiên, chư Phật đã lập cùng cả Năm Châu.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

KHAI MẠC

開 幕

Khai: Mở ra, mở đầu, mở mang, bắt đầu. Mạc: Cái màn che trên sân khấu.

Khai mạc là mở màn, ý nói bắt đầu buổi biểu diễn, buổi triển lãm hoặc một cuộc hội nghị.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Nhờ Ðức Chí Tôn ban ơn nên từ ngày khai mạc cho đến nay Ðại Hội Nhơn Sanh đã làm việc trong không khí điều hoà êm ấm.

Bần Đạo xin toàn cả nam, nữ tịnh tâm để nghe lời thuyết minh khai mạc hội nhơn sanh của Quyền Vạn Linh.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

KHAI MINH ĐẠI ĐẠO

開 明 大 道

Khai minh: Mở ra làm cho sáng. Đại Đạo: Nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Đạo của Đức Chí Tôn.

Khai minh Đại Đạo là mở ra nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ của Đức Chí Tôn và làm cho sáng lạn để chúng sanh thấy được mà theo.

Ngưỡng vọng Từ Bi gia tế phước,

Khai minh Đại Đạo hộ thanh bường.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

KHAI MỐI TAM KỲ

Hay “Khai Đạo Tam Kỳ 開 道 三 期”.

Khai mối (khai đạo): Cũng như Khai Đạo, mở ra mối Đạo. Tam Kỳ: Thời kỳ thứ ba.

Khai mối Tam Kỳ, cũng đồng nghĩa với từ “Khai đạo Tam Kỳ”, tức là khai mở mối Đạo trong thời ân xá kỳ ba. Đó là nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ 大 道 三 期 普 度 hay gọi tắt là Đạo Cao Đài.

1.- Khai mối Tam Kỳ:

Đắc truyền khai mối Tam Kỳ,

Dưới tay cậy có Diêu Trì Cửu Nương.

(Tán Tụng Công Đức).

2.- Khai Đạo Tam Kỳ:

Đắc truyền Khai Đạo Tam Kỳ,

Bảo an Toà Thánh đến kỳ cửu niên.

(Văn Tế Quyền Giáo Tông).

 

 

KHAI NGUƠN

Hay “Khai nguyên”.

Khai: Mở ra, mở đầu, mở mang, bắt đầu. Nguơn (nguyên): Ban đầu.

Khai nguơn, như chữ “Khai nguyên 開 元”, là mở ra một kỷ nguyên mới.

Năm Khai nguyên của Công Giáo là năm giáng sinh của Đức Chúa Jésus Christ.

Năm Khai nguyên của Đạo Cao Đài là năm Bính Dần, Dương lịch năm 1926.

Riêng trong tôn giáo, chữ “Khai nguơn” cũng có nghĩa là chuyển qua một nguơn mới, như hiện nay nhân loại ở vào thời Hạ nguơn Tam chuyển, mở ra một nguơn mới là Thượng nguơn Tứ chuyển.

Thánh giáo Đức Thanh Sơn Đạo Sĩ có câu: Bần đạo rất vui được thấy chư môn đệ đã lập nhiều công trạng buổi chuyển thế khai nguơn, bởi trách nhậm của đệ tử Bạch Vân đã lãnh phần lo cải thời chuyển thế.

Cửu tử kim triêu đắc phục huờn,

Hạnh phùng Thiên mạng đáo khai nguơn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tam giáo một nhà xem chẳng lạ,

Khai nguơn tái tạo chuyển tông Nho.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

KHAI NHƠN TÂM TẤT BỔN Ư ĐỐC THÂN CHI HIẾU

開 人 心 必 本 於 篤 親 之 孝

Khai nhơn tâm: Mở mang cái lương tâm của con người. Tất bổn: Cái căn bản. Ư: Ở tại. Đốc: Dốc lòng. Thân chi hiếu: Hiếu với cha mẹ.

Khai nhơn tâm tất bổn ư đốc thân chi hiếu là khai hoá cái tâm của con người là gốc ở tại sự hết lòng hiếu thảo với cha mẹ.

Muốn khai hoá nhơn tâm thì phải lấy hiếu thảo làm gốc, bởi vì trong “Bá hạnh, hiếu vi tiên 百 行, 孝 爲 先”, nghĩa là trăn nết hạnh, hiều làm đầu.

Ngoài ra còn dạy thực hành theo phương cách của Nho Giáo như sau: “Khổng Tử thi giáo dã, tiên chi dĩ Thi Thư, nhi đạo chi dĩ Hiếu Đễ, thuyết chi dĩ Nhân Nghĩa, quan chi dĩ Lễ Nhạc, nhiên hậu thành chi dĩ Văn Đức 孔 子 施 教 也, 先 之 以 詩 書, 而 導 之 以 孝 悌, 說 之 以 仁 義, 觀 之 以 禮 樂, 然 後 成 之 以 文 德” nghĩa là Đức Khổng Tử đặt nặn