TỪ NGỮ ĐIỂN CỐ CAO ĐÀI

 

 

Danh mục vần L

 

LA

La

La đà

La làng

La lết

La lối

La Mã

La võng

 

Lá bối

Lá hồng

Lá lành đùm lá rách

Lá ngọc cành vàng

Lá ngô

Lá ngô đồng

Lá thắm

 

Là đà

 

LẢ

Lả lơi

 

Lã chã

 

LẠ

Lạ

Lạ lùng

Lạ thường

 

LÁC

Lác đác

 

LẠC

Lạc

Lạc bước

Lạc cung

Lạc đạo an bần

Lạc đường

Lạc hậu

Lạc hoan

Lạc Hồng

Lạc hứng

Lạc lầm

Lạc loài

Lạc Long

Lạc nẻo

Lạc nẻo đường

Lạc nghiệp

Lạc nhạn ngư trầm

Lạc quan

Lạc quyên

Lạc thơ

Lạc thú

Lạc xiêu

 

LÁCH

Lách tách

 

LẠCH

Lạch

 

LAI

Lai

Lai láng

Lai rai

Lai vãng

 

LÁI

Lái

Lái buôn

 

LẠI

Lại

Lại nhũng quan gian

Lại Viện

 

LAY

Lay

Lay chuyển

Lay động

 

LÁY

Láy

 

LẠY

Lạy

Lạy là gì

Lạy Vong Phàm

 

LAM

Lam

Lam điền

Lam lũ

Lam lụ

Lam sơn chướng khí

 

LÀM

Làm

Làm ăn

Làm biếng

Làm bộ

Làm chủ

Làm gương

Làm lành

Làm lành lánh dữ

Làm lụng

Làm mướn

Làm nhục

Làm phải làm lành

Làm phước có khi mắc nạn

Làm phước khỏi hao khỏi tốn

Làm quan hai miệng

Làm reo

Làm thinh

 

LÃM

Lãm thuý

 

LẠM

Lạm

Lạm dụng

Lạm dự

Lạm quyền

 

LAN

Lan

Lan can

Lan đình

Lan quế

Lan thất

Lan tràn

 

LÀN

Làn

 

LÃN

Lãn Ông

 

LẠN

Lạn Tương Như

 

LANG

Lang

Lang quân

Lang Sa

Lang thang

 

LÁNG

Láng giềng

 

LÀNG

Làng

Làng văn

Làng xóm

 

LẢNG

Lảng

Lảng trí

Lảng xẹt

 

LÃNG

Lãng

Lãng phí

Lãng quên

Lãng tử

Lãng Uyển

Lãng xao

 

LANH

Lanh

Lanh lẹ

Lanh lợi

 

LÁNH

Lánh

Lánh bợn tục

Lánh chơn

Lánh dữ làm lành

Lánh giả tầm chân

Lánh Hớn Tử Phòng chưa phải dại

Lánh tục

Lánh thân

Lánh thế

Lánh trần

Lánh xa

 

LÀNH

Lành

Lành dữ

Lành dữ nơi minh chiêu phước hoạ

Lành mạnh

Lành phước

Lành siêu dữ đoạ

Lành thăng dữ đoạ

Lành vay trả

 

LẢNH

Lảnh lót

 

LÃNH

Lãnh

Lãnh cung

Lãnh đạm

Lãnh đạo

Lãnh hội

Lãnh lịnh

Lãnh mạng

Lãnh noãn

Lãnh tụ

Lãnh thất

Lãnh thổ

 

LẠNH

Lạnh

Lạnh lẽo

Lạnh lùng

Lạnh nồng

Lạnh ngắt

Lạnh tanh

 

LAO

Lao

Lao công hạn mã

Lao đao

Lao động

Lao khổ

Lao khổ phận

Lao lý

Lao lung

Lao lực

Lao nhao

Lao nhọc

Lao rao

Lao tâm

Lao tâm trí

Lao tâm tiêu tứ

Lao tù

Lao thân

Lao xá

Lao xao

 

LÁO

Láo

Láo táo

Láo xược

 

LÃO

Lão

Lão bạng sinh châu

Lão Đam

Lão giáo

Lão Lai

Lão luyện

Lão Quân

Lão Tô

Lão Tử

Lão thành

Lão Trang

 

LÁT

Lát

 

LẠT

Lạt

Lạt lẽo

 

LAU

Lau

Lau thanh trái chủ

 

LÀU

Làu

Làu làu

 

LẢU

Lảu

Lảu thuộc

Lảu thông

 

LẮC

Lắc lẻo

Lắc lở

 

LĂM

Lăm

 

LẮM

Lắm

Lắm lúc

Lắm phen

 

LĂN

Lăn líu

Lăn lóc

Lăn lộn

 

LẰN

Lằn

Lằn mưa đạn

 

LẶN

Lặn

Lặn hụp

Lặn lội

Lặn suối trèo non

 

LĂNG

Lăng điện

Lăng líu

Lăng loàn

Lăng miếu

Lăng xăng

 

LẮNG

Lắng

 

LẰNG

Lằng xanh

 

LẲNG

Lẳng lặng

 

LẶNG

Lặng

Lặng lẽ

Lặng nước êm thuyền

Lặng trang

 

LẮT

Lắt lẻo

 

LẤC

Lấc khấc

 

LẤY

Lấy

Lấy khảo trừ công

Lấy ngao lường biển

Lấy thúng úp voi

 

LẪY

Lẫy

Lẫy lừng

 

LÂM

Lâm bịnh

Lâm chung

Lâm dâm

Lâm Hương Thanh

Lâm ly

Lâm nàn

Lâm nguy

Lâm phàm

Lâm toàn

Lâm tuyền

 

LẤM

Lấm

 

LẦM

Lầm

Lầm đàng

Lầm đường

Lầm đường lạc nẻo

Lầm lạc

Lầm lỗi

Lầm lỡ

Lầm lũi

Lầm mê

Lầm tưởng

Lầm than

 

LẪM

Lẫm đẫm

Lẫm liệt

 

LẬM

Lậm

 

LÂN

Lân

Lân ái

Lân bang

Lân cận

Lân la

Lân lý

Lân mẫn

Lân Ngọc

Lân ra ắt có Thánh Quân

Lân tuất thương sanh

 

LẤN

Lấn

Lấn chen

Lấn hiếp

Lấn lướt

 

LẦN

Lần

Lần chuỗi

Lần dò

Lần hồi

Lần lựa

Lần mò

 

LẨN

Lẩn

Lẩn bẩn

Lẩn quẩn

Lẩn tránh

 

LẪN

Lẫn

Lẫn lộ

Lẫn lộn

 

LẬN

Lận

Lận đận

 

LÂNG

Lâng

Lâng lâng

 

LẤP

Lấp

Lấp bể

Lấp chôn

Lấp ló

Lấp lóe

Lấp lửng

Lấp ngõ tài hiền

Lấp thảm vùi sầu

 

LẬP

Lập

Lập công

Lập công bồi đức

Lập công tạo đức

Lập công chiết quả

Lập công chiết tội

Lập công chuộc tội

Lập chí

Lập Đạo

Lập đức

Lập đức bồi công

Lập kế

Lập lệ

Lập loà

Lập luận

Lập luật

Lập ngôn

Lập nghiệp

Lập pháp

Lập quốc

Lập Tiên gia xưng Lão Tử

Lập thân

Lập thân danh

Lập thân hành đạo

Lập thân trả hiếu

Lập thệ

Lập trường

Lập vị

 

LẬT

Lật bật

Lật đật

 

LÂU

Lâu

 

LẦU

Lầu

Lầu các

Lầu đài

Lầu hồng

Lầu phụng

Lầu son

Lầu Tần quán Sở

Lầu xanh

 

LẬU

Lậu hạng

 

LE

Le lưỡi

 

Lè tè

 

LẺ

Lẻ

Lẻ loi

Lẻ tẻ

 

LẼ

Lẽ

 

LẸ

Lẹ

Lẹ làng

 

LEM

Lem luốc

 

LÉN

Lén

 

LEO

Leo

Leo nheo

Leo trèo

 

LÉO

Léo tới

 

LÈO

Lèo

Lèo lái

Lèo nhèo

 

LẺO

Lẻo lự

 

LẼO

Lẽo đẽo

 

LÉP

Lép

 

Lê dân

Lê hoắc

Lê Lễ rước Gia đình

Lê thứ

Lê Văn Lịch

Lê Văn Trung

 

LỀ

Lề

Lề lối

 

LỄ

Lễ

Lễ bái

Lễ bái thườnng hành

Lễ châm chước

Lễ Đạo triều

Lễ độ

Lễ đưa chư Thánh

Lễ giáo

Lễ Hôn phối

Lễ Kinh

Lễ muối dưa

Lễ nghi

Lễ nghi phong hoá

Lễ nghĩa

Lễ phép

Lễ Sanh

Lễ Sĩ

Lễ sính

Lễ thọ

Lễ triều Chí Linh

Lễ vật

Lễ Viện

Lễ Vu lan

 

LỆ

Lệ

Lệ châu

Lệ nô

Lệ ngọc

Lệ Quân

Lệ sa

Lệ thuộc

 

LỆCH

Lệch

 

LÊN

Lên

Lên ải xuống đèo

Lên voi xuống chó

Lên võng xuống dù

 

LÊNH

Lênh đênh

 

LỆNH

Lệnh

 

LẾT

Lết

 

LẾU

Lếu

 

LỀU

Lều cỏ

Lều tranh

Lều tranh ba lượt

 

LI

Li bì

 

Lí lắc

 

 

LIA

Lia lia

 

LÌA

Lìa

Lìa tan

Lìa trần

 

LỊCH

Lịch

Lịch duyệt

Lịch đại

Lịch lãm

Lịch sắc

Lịch Sơn

Lịch sử

Lịch sự

Lịch xinh

 

LIẾC

Liếc

 

LIÊM

Liêm

Liêm chính

Liêm khiết

Liêm sỉ

Liêm trực

 

LIẾM

Liếm láp

 

LIÊN

Liên can

Liên chi

Liên đài

Liên hiệp

Liên hoa

Liên hoà

Liên hoan

Liên huê

Liên lạc

Liên ngâm

Liên quan

Liên tiếp

Liên toà

Liên toạ

Liên thần

Liên trì

 

LIẾN

Liến

 

LIỀN

Liền

Liền cánh liền cành

Liền liền

Liền nhành

 

LIỄN

Liễn

 

LIỆNG

Liệng

 

LIỆT

Liệt

Liệt cường

Liệt nữ

Liệt quốc

Liệt sĩ

Liệt Thánh

 

LIỀU

Liều

Liều mạng

Liều mình

Liều thân

 

LIỄU

Liễu

Liễu bồ

Liễu Chương Đài

Liễu đạo

Liễu hoa

Liễu yếu

Liễu yếu đào thơ

Liễu mai

Liễu ngõ hoa tường

Liễu trần

 

LIỆU

Liệu

Liệu biện

Liệu chừng

Liệu chước

Liệu định

Liệu lường

Liệu lượng

Liệu phương

Liệu phương thế

Liệu sức

Liệu tính

Liệu toan

Liệu thế

 

LỊM

Lịm

 

LINH

Linh

Linh cảm

Linh căn

Linh cữu

Linh chinh

Linh diệu

Linh dược

Linh đài

Linh địa

Linh đinh

Linh đình

Linh đơn

Linh Đức

Linh hiển

Linh hồn

Linh hồn Thiên tứ

Linh khí

Linh oai

Linh oai mạc trắc

Linh phan

Linh phù

Linh phụng gáy Tây Chu

Linh quang

Linh quang chiếu diệu

Linh sàng

Linh Sơn

Linh tâm

Linh Tiêu Điện

Linh tánh

Linh toạ

Linh thiêng

Linh thông

Linh ư phụng lãnh

Linh ứng

Linh vị

Linh xa

 

LỊNH

Lịnh

Lịnh bài

 

LIU

Liu hiu

 

LÍU

Líu lo

 

LY

Ly

Ly biệt

Ly cung

Ly gia

Ly gia cát ái

Ly gián

Ly hận

Ly hiệp

Ly hương

Ly loạn

Ly rượu trăm thi

Ly tán

Ly tình

Ly trần

 

Lý Bạch

Lý Đại Tiên Trưởng

Lý đoán

Lý Đỗ

Lý Lão Quân

Lý lẽ

Lý Ngư Tinh

Lý Ngưng Dương

Lý Nhĩ

Lý tài

Lý tưởng

Lý Thiên Vương

Lý thú

Lý Uyên

 

LỲ

Lỳ

 

LO

Lo

Lo âu

Lo cúng kiếng thường

Lo lắng

Lo liệu

Lo lót

Lo lường

Lo ngại

Lo sợ

Lo tính

Lo toan

Lo xa

 

 

Lò cừ

Lò Hoá công

 

LỌ

Lọ

 

LOÀ

Loà

 

LOÃ

Loã lồ

 

LOÀI

Loài

Loài ong tay áo

 

LOẠI

Loại

 

LOAN

Loan

Loan chạ

Loan chung phụng chạ

Loan phòng

Loan phụng

Loan phụng chia lìa

Loan phượng

 

LOÁN

Loán

 

LOẠN

Loạn

Loạn gia

Loạn hàng thất thứ

Loạn lạc

Loạn ly

Loạn luân

Loạn quốc khuynh thành

Loạn thần

 

LOANG

Loang

 

LỌC

Lọc

Lọc lừa

Lọc trược lưu thanh

 

LOÈ

Loè loẹt

 

LÒI

Lòi

 

LOM

Lom lom

 

LÒN

Lòn

Lòn cúi

Lòn lỏi

Lòn thân

Lòn trôn

 

LONG

Long

Long ám hạc quy

Long bào

Long cu

Long cung

Long chu

Long đong

Long Hoa Hội

Long Mã phụ Hà Đồ

Long Mã và Ngọc Kỳ Lân

Long mạch

Long Nữ

Long Tu

Long Tuyền

Long trọng

Long vân

Long vị

Long vương

 

LÓNG

Lóng

Lóng kình

Lóng phèn

 

LÒNG

Lòng

Lòng cha mẹ

Lòng dạ

Lòng đơn

Lòng háo sanh

Lòng lang

Lòng lành

Lòng nhơn

Lòng quỳ

Lòng son

Lòng tà

Lòng tin

Lòng tục

Lòng từ bi

Lòng thành

Lòng thành tín

Lòng thương ghét

Lòng trần

Lòng trong sạch tụng cầu Thánh Kinh

 

LỎNG

Lỏng chỏng

Lỏng lẻo

 

LỌNG

Lọng tàn

 

LÓT

Lót

Lót tót

 

LỌT

Lọt

Lọt lòng

Lọt sổ

 

LỐ

Lố

Lố mòi

Lố nhố

Lố xố

 

LỔ

Lổ đổ

 

LỖ

Lỗ

Lỗ Ban

Lỗ bộ

Lỗ mãng

Lỗ vốn

 

LỘ

Lộ

Lộ bất thập di

Lộ Hộ Pháp

Lộ thượng

Lộ trình

 

LỘC

Lộc

Lộc Hơn từ vinh

Lộc quyền

Lộc thế

Lộc vị

 

LÔI

Lôi

Lôi Âm

Lôi Âm Cổ

Lôi Âm Cổ Đài

Lôi Âm Tự phá cổ

Lôi Công

Lôi cuốn

Lôi Chấn Tử cứu cha thoát nạn

Lôi điển

Lôi đình

Lôi kéo

Lôi thôi

 

LỐI

Lối

 

LỖI

Lỗi

Lỗi bậc cung cầm

Lỗi đạo

Lỗi lạc

Lỗi lầm

Lỗi mọn chớ nghi chẳng hại

Lỗi thệ

Lỗi thời

 

LỘI

Lội

Lội lặn

 

LỘN

Lộn

Lộn chồng

Lộn mèo

Lộn ngầu

Lộn nhào

Lộn xộn

 

LÔNG

Lông

Lông hồng

Lông ngỗng

Lông sừng

 

LỒNG

Lồng

Lồng lộng

 

LỘNG

Lộng

Lộng chương

Lộng lẫy

Lộng lộng

Lộng ngôn

Lộng quyền

Lộng sắc

 

LỐP

Lốp cốp

 

LỐT

Lốt

Lốt cọp

 

LỘT

Lột

 

Lơ là

Lơ lãng

Lơ láo

Lơ lửng

 

LỜ

Lờ

 

LỞ

Lở

 

LỠ

Lỡ

Lỡ bước

Lỡ dở

Lỡ duyên

Lỡ đường

Lỡ làng

Lỡ lầm

Lỡ lối

Lỡ lời

Lỡ nhịp

Lỡ phận

Lỡ thì

Lỡ thời

 

LƠI

Lơi

Lơi bước

Lơi dạ

 

LỜI

Lời

Lời châu ngọc

Lời dạy

Lời nguyền

Lời nói

Lời ra phải nhìn

Lời răn

Lời thệ

Lời vàng tiếng ngọc

 

LỢI

Lợi

Lợi danh

Lợi dụng

Lợi khí

Lợi lấn danh chen

Lợi lộc

Lợi mượn danh mua

Lợi quyền

Lợi sanh

Lợi toả danh cương

 

LỚN

Lớn

Lớn khôn

Lớn lao

Lớn tiếng

Lớn tuổi

 

LỜN

Lờn

Lờn dể

Lờn mặt

 

LỢN

Lợn

 

LỚP

Lớp

Lớp lang

 

LỢP

Lợp

 

LỢT

Lợt

 

Lù mù

 

Lũ kiến chòm ong

Lũ lụt

Lũ lượt

Lũ truyền bửu kinh

 

LÚA

Lúa

Lúa đầy phận gà lồng

Lúa gạo

Lúa làm hạt giống đức tin

 

LÙA

Lùa

 

LỤA

Lụa

 

LUÂN

Luân

Luân chuyển

Luân hồi

Luân lý

Luân thường

 

LUẬN

Luận

Luận bàn

Luận biện

Luận đàm

Luận lý

Luận nhảm bàn khùng

Luận thuyết

 

LUẬT

Luật

Luật Đạo

Luật điều

Luật định

Luật đời

Luật hình

Luật lệ

Luật lịnh

Luật nhơn quả

Luật pháp

Luật sự

Luật thương yêu

 

LÚC

Lúc

Lúc thúc

 

LỤC

Lục

Lục căn

Lục dục

Lục đạo

Lục độ

Lục hình

Lục Kinh

Lục lạc

Lục Lâm

Lục long

Lục long phò ấn

Lục Nương Diêu Trì Cung

Lục nga

Lục phủ

Lục tặc

Lục Tích

Lục Tổ

Lục tuần

Lục thân quyến thuộc

Lục thông

Lục thức

Lục trầm

Lục trần

 

LUI

Lui

Lui bước

Lui gót

Lui tới

 

LỤI

Lụi hụi

 

LUY

Luy tiết

 

LŨY

Lũy

Luỹ đồn

Luỹ hào

 

LUỴ

Luỵ

Luỵ đến sông Tương

Luỵ mình

Luỵ ngọc

Luỵ phiền

Luỵ sa

Luỵ tình

 

LUYẾN

Luyến ái

Luyến thế

Luyến trần

 

LUYỆN

Luyện

Luyện đạo

Luyện đơn

Luyện tập

 

LÚM

Lúm khúm

 

LỤM

Lụm cụm

 

LỤN

Lụn

Lụn canh gà

 

LUNG

Lung

Lung kê

Lung lạc

Lung lay

Lung lăng

Lung linh

 

LÚNG

Lúng

Lúng túng

 

LỦNG

Lủng

Lủng lẳng

 

LUỘC

Luộc

 

LUỒN

Luồn cúi

 

LUÔNG

Luông tuồng

 

LUỐNG

Luống

 

LỤT

Lụt

 

Lư hương

Lư ngọc

 

LỪ

Lừ nhừ

 

LỮ

Lữ Đồng Tân

Lữ hành

Lữ khách

Lữ Mông

Lữ thứ

Lữ Vi

Lữ Vọng

 

LỰ

Lự

 

LỨA

Lứa đôi

 

LỪA

Lừa

Lừa đảo

Lừa lọc

Lừa phỉnh

 

LỬA

Lửa

Lửa binh

Lửa hương

Lửa lòng

Lửa lòng dập tắt

Lửa phiền

Lửa thành cá ao

Lửa tinh trung thiêu mình Võ Tánh

 

LỰA

Lựa

Lựa chọn

Lựa dèo

Lựa là

 

LỰC

Lực

Lực bất tòng tâm

Lực quyền

Lực Sĩ tháo hài

 

LƯNG

Lưng

Lưng cong

Lưng vơi

 

LỪNG

Lừng

Lừng danh

Lừng lẫy

 

LỬNG

Lửng

Lửng lơ

 

LỮNG

Lững chững

Lững đững

Lững thững

 

LƯỢC

Lược

Lược giải

Lược thao

 

LƯỚI

Lưới

Lưới rập

Lưới Thang

Lưới thưới

Lưới trần

Lưới trời

 

LƯỜI

Lười biếng

 

LƯỠI

Lưỡi

Lưỡi câu

Lưỡi không xương

Lưỡi liềm

Lưỡi thọc tay đâm

 

LƯỢM

Lượm

Lượm lặt

 

LƯỜN

Lườn

 

LƯỢN

Lượn sóng

 

LƯƠNG

Lương

Lương bổng

Lương dân

Lương điền

Lương Hạo

Lương y

Lương y từ mẫu

Lương Mạnh

Lương mộc

Lương năng

Lương nhân

Lương sanh

Lương tâm

Lương tể

Lương tháng

Lương thần

Lương thiện

Lương tri

Lương tri lương năng

Lương vật

Lương viện

Lương Vương

 

LƯỜNG

Lường

Lường cân tráo đấu

Lường gạt

Lường tài cân sắc

 

LƯỠNG

Lưỡng

Lưỡng nghi

Lưỡng phái

Lưỡng toàn

Lưỡng thiệt

 

LƯỢNG

Lượng

 

LƯỚT

Lướt

 

LƯỢT

Lượt

 

LƯU

Lưu

Lưu Bang

Lưu chiếu

Lưu danh

Lưu đày

Lưu hại

Lưu hồng bạch cốt

Lưu Huyền Đức

Lưu ý

Lưu Khoan

Lưu lạc

Lưu ly

Lưu linh

Lưu luyến

Lưu nhiệm

Lưu oan

Lưu Quan Trương

Lưu sa tây độ

Lưu tâm

Lưu thông

Lưu thuỷ

Lưu thủy cao sơn

Lưu trú

Lưu truyền

 

LỰU

Lựu

 

 

 

 

 

 

 

 

L

 

LA

1.- La là kêu ó hay phát ra những tiếng rất to. Như: La làng, la xóm, hoảng sợ la thất thanh.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Còn bây giờ đã có dạy dỗ khuyên lơn, rầy la thì kỳ cào, quạo quọ, ở trong cửa Đạo nầy Bần Đạo xin đứt cả thảy mấy em thanh niên rán giữ chữ Hiếu làm gương mẫu.

Thây người máu chảy dầm dề,

Tiếng la than khóc tư bề rùm tai.

(Kinh Sám Hối).

Đừng thấy lẫn rầy la mà phụ,

Phải nhớ hồi còn bú tới thôi nôi.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- La là tấm lưới. Như: Thiên la địa võng, Đại la.

Người xưa thường quan niệm rằng Trời như một tấm lưới tròn, rộng lớn phủ xuống thế gian, bao trùm cả nhựt, nguyệt, tinh, nên gọi Trời là Đại La, và Thánh hiệu Đức Chí Tôn là Đại La Thiên Đế.

Thiên la trên án màu u ám,

Địa võng dưới giăng gió chập chùng.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

LA ĐÀ

La đà, như chữ “Là đà”, là sà xuống thấp một cách nhẹ nhàng, lả lướt.

La đà còn dùng để chỉ là lảo đảo, choáng váng vì uống rượu say.

Như: Bướm lượn la đà, rượu say la đà.

Xem: Là đà.

Rạng vẻ yêu kiều dáng thướt tha,

Nhẹ nhàng chiếc bướm lượn la đà.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

LA LÀNG

La: kêu ó hay phát ra những tiếng rất to. Làng: Một khu vực tự trị của dân, cấp xã, có lý trưởng hay xã trưởng đứng đầu.

La làng là cất tiếng thật to để kêu cứu với làng xóm.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bần Đạo còn nhớ cái năm 9 tuổi, không biết thất mùa ra sao, mà cả thảy thiên hạ đều đói, Bần Đạo nghe được một cái tình trạng rất khổ não lương tâm là có một gia đình con nhiều lắm không đủ nuôi con, bị lúa cao gạo kém, buổi nọ con nó đã nhịn đói đôi ba bữa, mà thứ con nít nhịn đói thử như thế đó không la làng la xóm sao được.

Đừng để ai ỷ của làm ngang,

Hễ quá phép la làng đến bắt.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LA LẾT

La lết, như chữ “Lê lết”, là không nhắc nổi thân mình, phải lê chân đi từng bước một cách nặng nhọc.

La lết còn có nghĩa là đến chỗ nầy hay chỗ khác, bạ chỗ nào cũng đến, không có chủ định.

La lết mà theo cũng cuối đường,

Thấy người tâm Ðạo chạnh lòng thương.

(Đạo Sử).

 

 

LA LỐI

La: Kêu ó hay phát ra những tiếng rất to.

La lối là kêu la, làm ầm ĩ lên.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Chậm rải từng bước một, nhưng đi được bước nào vững bước nấy, không ham tranh giành, không muốn phô trương, không la lối để khoe danh, không ham quyền chác lợi, không thấy việc làm của người rồi bắt chước chạy theo, vì Hội Thánh quan niệm sứ mạng cứu độ người nơi bể khổ là cao trọng hơn cả mọi việc khác.

Tôn giáo không có thể xoay chuyển vận nước được, cũng như Chánh quyền không thể điều khiển Tôn giáo, thế thì chúng ta kêu gọi, la lối để làm gì?

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

LA MÃ

羅 馬

La Mã, do tiếng Tàu dịch nguyên âm chữ “Roma”, là tên nước ngày xưa, gốc ở Ý Đại Lợi, đầu là vương quốc, sau thành nước cộng hoà, sau nữa thành nước đế quốc, đến khi suy chia ra hai đế quốc đông và tây.

Tây đế quốc lại chia thành các nước Pháp, Đức. Đông đế quốc bị người Thổ Nhĩ Kỳ đánh diệt.

Hiện nay La Mã (Rome) là thủ đô Ý Đại Lợi.

Giu Đa nghịch Đạo dân ly loạn,

La Mã tùng chơn nước thạnh hành.

(Thơ Phạm Mộc Bổn).

 

 

LA VÕNG

羅 網

La: Lưới đánh chim. Võng: Lưới bẫy thú.

La võng, do chữ “Thiên la địa võng 天 羅 地 網” là lưới giăng trên trời và bẫy dưới đất. Nghĩa bóng chỉ những điều người ta bày ra để đánh bẫy mình.

Trong Đạo Cao Đài, bài Kệ Chuông U minh, lời nguyện thứ 12 có câu: Phi cầm tẩu thứ la võng bất phùng 飛 禽 走 獸 羅 網 不 逢, nghĩa là loài chim bay, loài thú chạy không gặp lưới giăng trên trời, dưới đất đánh bắt.

Phi cầm tẩu thứ la võng bất phùng.

(Kệ U Minh).

 

 

1.- Lá là bộ phận của cây, mọc ở cành con, hình dáng to nhỏ mỏng, dày tuỳ theo loại cây. Như: Lá chuối, lá cam.

Thánh giáo của Đức Lý Giáo Tông trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Cội sởn sơ mới có đâm chồi trổ tược, nhành sum sê, hoa đơm sắc sảo, rồi mới đến trái oằn sai mà thành kết quả xứng đáng.

Biệt cành rụng đầy rừng,

Con thuyền Bát Nhã lỡ chừng độ duyên.

(Ngụ Đời).

2.- Lá lấy từ một loại cây dùng để kết thành tấm để lợp nhà, làm vách hoặc chằm thành giỏ xách, hay nón đội.

Như: Chòi lá, nhà lá, cột tre mái lá, nhà tranh vách lá, nón lá bài thơ.

Đạp giày cỏ nương cây gậy bá,

Mặc áo tơi nón che thân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Con gậy tay cầm, râu tóc bạc,

Cái nhà lợp, cửa song thưa.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Dầu mình có thiếp hầu trăm ả,

Cũng nhớ nơi chòi mẹ ru con.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Lá là từ dùng để chỉ từng đơn vị vật có hình tấm, mảnh nhẹ hoặc giống như hình chiếc lá. Như: Lá cờ, lá gan, lá thư, là bùa.

Thánh giáo Thầy dạy Ngài Thượng Trung Nhựt có câu: Ngay chỗ bàn ngự của Thầy, phải để một cái ghế trước ngôi ba vị Ðầu Sư, vọng một bài vị, biểu Lịch viết như vầy: “Cửu Thiên Cảm Ứng Lôi Thinh Phổ Hoá Thiên Tôn”, lại vẽ thêm một bùa “Kim Quang Tiên” để thòng ngay giữa, ai ai ngó vào cũng đều thấy đặng.

Chức Nữ khóc thầm biệt Ngưu Lang,

Trăng soi thêm chạnh gan vàng.

(Đạo Sử).

 

 

LÁ BỐI

Lá: Bộ phận của cây mọc ở cành con hay ở trên ngọn, mỏng và phẳng, sắc xanh. Bối: Cây bối đa.

Ngày xưa ở bên xứ Ấn Độ khi chưa có giấy viết, kinh điển của Phật giáo được ghi chép trên lá bối.

Do vậy, lá bối được dùng để chỉ kinh sách, ngoài ra còn gọi là “Bối kinh”, “Bối văn” hay “Bối diệp”.

Nắng giọi tờ mờ kinh Lá bối,

Mưa sa ướt át cốt Thần tiên.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

LÁ HỒNG

Lá: Bộ phận của cây mọc ở cành con hay ở trên ngọn, mỏng và phẳng, sắc xanh. Hồng: Màu đỏ.

Lá hồng, như chữ “Hồng diệp 紅 葉” là lá đỏ, hay lá thắm dùng để chỉ nhân duyên vợ chồng.

Do tích: Đời Đường có cung nữ họ Hàn, viết vào chiếc lá đỏ một bài thơ, rồi thả theo dòng nước trong cung cho trôi ra. Vu Hựu nhặt được, hoạ lại bài thơ viết vào chiếc lá khác, rồi thả cho trôi trở vào, cung nữ họ Hàn cũng nhặt được.

Về sau vua Hy Tông thả hơn ba ngàn cung nữ, trong đó có nàng cung nữ họ Hàn, khi về nhà nàng tình cờ kết duyên với Vu Hựu. Trong đêm thành hôn hai người trao lá cho nhau xem mới biết nhơn duyên do chiếc lá kia làm mối. Người cung nữ họ Hàn có câu thơ như sau: Phương tri hồng diệp thị lương môi 方 知 紅 葉 是 良 媒, nghĩa là mới biết lá thắm là người mối tốt.

Xem: Thả lá doành câu.

Trông tin nhạn về đông mòn mỏi,

Thả lá hồng biết hỏi nơi ai?

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

LÁ LÀNH ĐÙM LÁ RÁCH

Lá lành: Lá cây còn nguyên, ý chỉ người khá giả. Đùm: Cưu mang, che chở. Lá rách: Lá cây bị rách nát, chỉ người nghèo khó.

Lá lành đùm lá rách là câu tục ngữ Việt Nam, có nghĩa người khá giả, giàu có giúp đỡ, đùm bọc người đói rách, nghèo hèn.

Nhớ chữ lá lành đùm lá rách,

Xin người lòng thiện mở lòng nhơn.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

LÁ NGỌC CÀNH VÀNG

Lá cành: Những bộ phận của cây. Ngọc vàng: Ý chỉ sự quý phái.

Lá ngọc cành vàng, bởi câu thành ngữ “Kim chi ngọc điệp 金 枝 玉 葉”, là cành vàng lá ngọc, dùng để chỉ người trong dòng họ nhà vua, hay người quý phái.

Sách Tiêu Phong Nhạc Từ có câu: Kim chi phồn mậu, Ngọc diệp diên trường 金 枝 繁 茂, 玉 葉 延 長, nghĩa là cành vàng sum sê, lá ngọc dài tốt.

Lá ngọc cành vàng, đáng tiếc thay,

Vì sao nên nỗi phải lưu đày?

(Thơ Thiên Vân).

 

 

LÁ NGÔ

Lá: Bộ phận của cây mọc ở cành con hay ở trên ngọn, mỏng và phẳng, sắc xanh. Ngô: Cây ngô đồng.

Lá ngô, cùng nghĩa với “Lá đồng”, tức chỉ lá cây ngô đồng, một loại cây có thân cao, cành lá xanh biếc, nhưng đến mùa thu thì lá vàng rụng.

Lá ngô chỉ thời gian dần trôi qua, hay chỉ mủa thu.

Xem: Ngô đồng.

Chiếc lá ngô rơi khắp phố phường,

Tin thu như nhắc cảnh phong sương.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

LÁ NGÔ ĐỒNG

Lá: Bộ phận của cây mọc ở cành con hay ở trên ngọn, mỏng và phẳng, sắc xanh. Ngô đồng: Cây ngô đồng, một loại cây có thân cao, cành lá xanh biếc, nhưng đến mùa thu thì lá vàng rụng.

Lá ngô đồng là lá cây ngô đồng, chỉ thời gian trôi qua hay chỉ mùa thu.

Xem: Ngô đồng.

Sông mai lạc lối dặm hồng,

Đề thơ cậy lá ngô đồng rơi tin.

(Nhứt Nương Giáng Bút).

 

 

LÁ THẮM

Lá: Bộ phận của cây mọc ở cành hay ở trên ngọn, mỏng và phẳng, màu xanh. Thắm: Đỏ.

Lá thắm, cũng như “Lá hồng”, do chữ “Hồng diệp 紅 葉”, lấy tích Vưu Hựu đời Đường, kết duyên với cung nữ họ Hàn Thị, mới biết rằng nhân duyên hai người do chiếc lá kia làm mối.

Xem: Lá hồng.

Lá thắm vớt nhằm duyên túc trái,

Lời vàng trót hẹn buổi ban sơ.

(Thơ Hoàng Nguyên).

Khéo đề lá thắm thơ Vu Hựu,

Khen chọn vợ hiền gái Mạnh Quang.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

, tiếng dùng để chỉ nghĩa gì, ra sao, hoặc người hay sự vật thế nào.

Như: Cao Đài là một tôn giáo mới khai sinh, ông ấy là vị chức sắc Hiệp Thiên Đài.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Ðạo quý, của quý chẳng bán nài, các con đừng thối chí.

Chín Trời mười Phật cũng Ta,

Truyền Ðạo chia ra nhánh nhóc ba.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Danh vốn bùa mê muội thế,

Thế không đạo đức thế không thành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

LÀ ĐÀ

Là đà là sà xuống thấp một cách nhẹ nhàng, lả lướt.

Như: Cành liễu là đà trên mặt hồ, Khói bay là đà.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Ðạo và Ðời khác nhau ở chỗ một cao, một thấp, một trắng một đen. Nếu Ðạo cũng là đà nơi chỗ thấp hèn như ở bến chợ đời thì Ðạo có ích gì cho chúng sanh? Và Ðạo lấy gì để làm gương mẫu và cảnh tỉnh thiên hạ?

Nhánh cây đáp xuống là đà,

Vội vàng chào hỏi gọi là bạn thân.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

LẢ LƠI

Lả lơi là tỏ ra suồng sã, không đứng đắn trong quan hệ nam nữ, hoặc đùa cợt có tính cách khêu dâm.

Dạy về Tứ đức, trong Giáo Lý của Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có câu: Bởi có tư tưởng trong lòng mới tỏ ra ngoài lời nói, thành thử, lời nói năng phải cẩn thận. Không nói lả lơi, không nói hoa nguyệt, không nói xằng, không nói bậy; không ngồi lê, đôi mách, không nói dối.

Ngăn ngừa cái thói lả lơi tình,

Ðừng động tâm mình thấy sắc xinh.

(Đạo Sử).

 

 

LÃ CHÃ

Lã chã là tiếng dùng để chỉ nước mắt hay mồ hôi rơi, chảy thành giọt nhiều và không dứt.

Ví dụ: Mồ hôi lã chã trên trán, nước mắt tuôn rơi hai hàng lã chã.

Nuốt tiếng than đôi hàng lã chã,

Tưởng đến điều nhơn quả mà đau.

(Kinh Thế Đạo).

Hạt châu lã chã vừa tan tạnh,

Tiếng nhạn kêu chầm vẳng vẳng xa.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

LẠ

1.- Lạ là không quen, chưa từng biết.

Như: Khách lạ, đi con đường lạ, nhà lạ khó ngủ, trước lạ sau quen.

Không cha mẹ như người đi cảnh lạ.

Thân cô đơn lạc ngả bơ vơ,

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Lạ còn có nghĩa khác thường, ít có, không thường có, không thường trông thấy.

Thánh giáo Thầy có câu: Ngôi vị Bạch Ngọc Kinh chẳng ưa chứa kẻ hung hăng, mà lạ một điều là kẻ hung hăng đạo đức thường phá cửa lúng đặng vào, địa vị phần nhiều đoạt bởi kẻ ấy.

Miền Âm cảnh nhiều thay hình lạ,

Cõi dương trần tội quá dẫy đầy.

(Kinh Sám Hối).

Thấy mọi vẻ của đời mới lạ,

Bán mẹ cha rẻ giá sắm cho vừa.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LẠ LÙNG

Lạ: Khác thường, không quen biết.

Lạ lùng là rất lạ, khác thường, thấy khó hiểu, hoặc làm cho phải ngạc nhiên.

Lạ lùng còn có nghĩa là chưa từng quen biết, xa lạ.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Phái nam được hưởng một đặc ân của Đức Chí Tôn, ngày nay lập quyền Cửu Trùng Đài nam phái là nhờ đức tin lạ lùng của Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt buổi nọ lưu lại họ hưởng đó vậy.

Dìu dắt tìm ra lối lạ lùng,

Bóng Trời xúm xít đỡ nương chung.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tình lãnh noãn lạ lùng thay,

Càng lắm gần nhau lắm dể mày.

(Bát Nương Giáng Bút).

Biển trần đắm khách nhiều trôi nổi,

Đường Đạo thương ai bước lạ lùng.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

LẠ THƯỜNG

Lạ: Khác thường, ít có, hiếm, không thường có. Thường: Luôn luôn, không đổi, bình thường.

Lạ thường là khác thường đến mức phải ngạc nhiên.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo của Thất Nương Diêu Trì Cung có dạy: Em mới để dạ lo lường, cả lòng lân ái đến đó. Em đã chán thấy nhiều tội tình chẳng trọng hệ, song có hồn chịu sầu thảm lạ thường. Em đã liệu nhiều phương thế cho từ đây mấy chơn hồn có bề dễ tránh khỏi cửa Âm quang hãm tội.

Trong ngày mười tám vẫn an khương,

Tối lại bão to rất lạ thường.

(Thơ Thái Đến Thanh).

Dừng chân thưởng ngoạn quanh sau trước,

Dị thảo kỳ hoa đẹp lạ thường.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

LÁC ĐÁC

Lác đác là thưa thớt, rải rác đó đây, tức thưa và rời nhau, mỗi chỗ, mỗi lần có một ít, không tập trung, không gom lại thành cụm.

Như: Xóm nầy nhà cửa lác đác, chắc là ít dân cư lắm.

Mặt trời lố mọc nhành dương,

Mưa sa lác đác mùi hương nực nồng.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Cành dương lác đác sương sa,

Bóng quang âm ướm thoát qua biển trần.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

LẠC

1.- Lạc là lầm, lạc, mất, không theo được đúng đường, đúng hướng phải đi. Như: Lạc lối, đánh lạc hướng.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu dạy: Nếu chẳng phải do theo Ðạo thì các bậc ấy đều lạc bước mà mất hết ngôi phẩm.

Rừng thiền ngàn dặm Trời soi bước,

Biển khổ muôn chia khách lạc đường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Khỏi vòng mê tín lại đường ngay,

Lạc nẻo mau chơn liệu trở quày.

(Đạo Sử).

2.- Lạc là rơi xuống, rơi rụng. Như: Bay hồn lạc phách, truỵ lạc.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Thương người như thế tức là thương mình đó. Chí ư thương mình theo đời phù phiếm xa hoa tức là để cho dục vọng lôi cuốn theo mồi danh bả lợi, thâu của hoạnh tài làm điều phi nghĩa đễ rồi sa vào cảnh trụy lạc vướng lấy tội tình, rốt cuộc thân thể bị đoạ đày nơi hang sâu vực thẳm.

Quan Thế Âm lân mẫn ân cần,

Vớt lê thứ khổ trần đoạ lạc.

(Kinh Tận Độ).

3.- Lạc là vui. Như: Khoái lạc, nhàn lạc, hoan lạc.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Nên Thầy cho một quyền rộng rãi cho cả nhơn loại Càn Khôn Thế Giái nếu biết ngộ kiếp một đời tu đủ trở về cùng Thầy đặng. Mà hại thay, mắt Thầy chưa đặng hữu hạnh hoan lạc thấy đặng kẻ ấy.

Bạch Vân nhàn lạc khoẻ thân già,

Thương kẻ nặng mang nợ quốc gia.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cảnh vui thú đẹp người hiền hậu,

Nghiệp khéo nghề hay nước lạc nhàn.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

LẠC BƯỚC

Lạc: Không theo đúng đường, đúng hướng phải đi. Bước: Đi, bước đi.

Lạc bước là đi lạc, đi sai đường, sai hướng. Như: Sa chân lạc bước.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có dạy: Nếu chẳng phải do theo Ðạo thì các bậc ấy đều lạc bước mà mất hết ngôi phẩm.

Hay là lạc bước nguồn Đào,

Để thương cho mặt anh hào đeo mang.

(Kinh Thế Đạo).

Tây đoài ác xế chín chiều,

Rừng hoang lạc bước ắt nhiều thú hung.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

Thương người lạc bước lỡ đường,

Tìm nơi Cung Tốt, lạc đường Bích Cung.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

LẠC CUNG

Lạc: Đi lệch ra. Cung: Cung đàn.

Lạc cung là cung đàn lạc điệu, tức cung điệu của tiếng đàn bị lỗi nhịp, ý chỉ vợ chồng đổ vỡ, không hoà hợp với nhau.

Phòng đào giữ rủi rơi trâm,

Sợ lơi hơi sắt, tiếng cầm lạc cung.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

LẠC ĐẠO AN BẦN

樂 道 安 貧

Lạc đạo: Vui với mùi đạo. An bần: An vui với cảnh nghèo nàn.

Lạc đạo an bần là nói người vui theo mùi đạo và yên phận với cảnh nghèo.

Như: Người tu lúc nào cũng lạc đạo an bần.

Tranh danh đoạt lợi cho rằng trí,

Lạc đạo an bần cũng chẳng ngu.

(Thơ Thành Toại).

Lạc đạo an bần noi Thánh triết,

Chữ nghèo thanh bạch, chẳng phân trần.

(Thơ Tử Quy).

 

 

LẠC ĐƯỜNG

Lạc: Không theo đúng đường, đúng hướng phải đi. Đường: Lộ, nẻo đi.

Lạc đường là đi không đúng đường, tức đi sai đường.

Lạc đường còn có nghĩa là đi sai chánh pháp, theo đường tà giáo.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Gặp được mối Ðạo mầu, chúng ta rất hữu phước được Ðức Chí Tôn dìu dắt và giáo hoá, chúng ta nên gắng công trau giồi tâm chí hầu nâng cao danh thể Ðạo và thức tỉnh những kẻ sai bước lạc đường.

Đỉnh chung là miếng treo gương,

Khiến nên trẻ dại lạc đường quên ngôi.

(Tán Tụng Công Đức).

Rừng thiền ngàn dặm Trời soi bước,

Biển khổ muôn chia khách lạc đường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

LẠC HẬU

落 後

Lạc: Rơi, rớt. Hậu: Phía sau.

Lạc hậu là đi phía sau người, ý nói kém văn minh, chậm tiến bộ hơn người.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ở thế nầy dầu một vị Phật cũng không chê ai, không hạng nào chê, hạng nào khen, vì Phật đã biết con đường đi trước kia, dầu ai phàm, dầu ai lạc hậu cũng tới sau, họ chỉ biết một điều là chỉ từ nẻo quanh co, vui vẻ chỉ cho bạn đi cùng đường đạt lên Phật vị.

Lại cùng sống trên quả địa cầu, tại sao dân nầy văn minh, dân tộc kia lạc hậu?

(Thiên Đạo).

 

 

LẠC HOAN

樂 歡

Lạc: Vui vẻ. Hoan: Mừng vui.

Lạc hoan, như chữ “Hoan lạc 歡 樂”, dùng để chỉ việc rất vui mừng.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Dưới tiềm lực yêu thương, những gì đắng cay đều biến thành dịu ngọt, những sự đau khổ sẽ biến thành nguồn lạc hoan.

Lạc hoan chưa phải buổi cho mình,

Nghĩa mặn tình nồng chớ dể khinh.

(Đạo Sử).

 

 

LẠC HỒNG

貉 鴻

Lạc: Lạc Long Quân. Hồng: Họ Hồng Bàng.

Lạc Hồng, do chữ “Hồng Lạc 鴻 貉”, tức là họ Hồng Bàng sinh ra Lạc Long Quân là vị vua đầu tiên nhất của nước Việt Nam.

Lạc Long Quân mới lấy bà Âu Cơ đẻ ra một trăm người con (có sách nói đẻ ra trăm cái trứng) là giòng giống của dân tộc ta, nên ghép chung “Lạc Long Quân” và “Hồng Bàng” là “Lạc Hồng”.

Xem: Hồng Lạc

Nước nhà ta có tiếng anh phong,

Vẻ đẹp trời Ðông sắc Lạc Hồng.

(Đạo Sử).

Máu xương ví để tô Nam đảnh,

Tình nghĩa hằng nâng đỡ Lạc Hồng.

(Thơ Hộ Pháp).

Dày công dựng nghiệp giữa trời đông,

Non nước xinh tươi vẻ Lạc Hồng.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

LẠC HỨNG

樂 興

Lạc: Vui mừng. Hứng: Lòng phấn phát.

Lạc hứng là hứng thú vui mừng.

Thánh giáo Lục Nương Diêu Trì Cung có câu: Phải có dạ chí thành, phải có tâm cương quyết, muôn việc đồng thanh tương ứng, hiệp với nhau làm một khối khư chặt, một như mười, mười như một, sớt thảm chia nồng với nhau mỗi khi lạc hứng, khuyên đừng tư kỷ, chi chi cũng có cậy nhờ Bề trên chỉ dẫn.

Lạc hứng khấu cung giai miễn lễ,

Thoát tai bá tánh ngưỡng Ân sinh.

(Bài Dâng Rượu).

Lương tâm thơ thới chí an bần,

Lạc hứng đạo mầu đặng khoẻ thân.

(Thơ Mai Ngọc Nhiễu).

 

 

LẠC LẦM

Lạc: Sái đường. Lầm: Làm sai, nghĩ không đúng.

Lạc lầm là phạm lỗi lầm do không nhận ra lẽ phải, tức là lầm đường lạc bước, ý nói đi không đúng đường.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Chừng ấy không phương thuốc gì trị được cả, tâm lý phải chia lìa thì tình kia phải xa cách, mới dễ bỏ nhau thay chồng đổi vợ, con cái sanh ra thấy tấn tuồng ấy tập tánh học theo, biểu sao tương lai không hư hèn và tánh đức không lạc lầm phàm tâm lìa đạo đức.

Phong trần quen thú cung âm,

Cảnh thăng ngơ ngẩn lạc lầm Phong đô.

(Kinh Tận Độ).

Người ở thế mấy ai khỏi lỗi,

Biết lạc lầm sám hối tội căn.

(Kinh Sám Hối).

Chúng ta từ thử bạn đồng tâm,

Dìu bước nhơn sanh khỏi lạc lầm.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

LẠC LOÀI

Lạc: Lầm, lầm đường. Loài: Giống, đồng loại.

Lạc loài chỉ sự bơ vơ, không có chỗ dựa, do cuộc sống bị tách khỏi thân thích, đồng loại.

Như: Kiếp sống cô ta lạc loài tha phương cầu thực.

Máy linh cơ tạo nơi tay,

Giác mê cứu đám lạc loài nguyên nhân.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Gành Nam nêu đặng người tên tuổi,

Ðất Bắc mừng an bước lạc loài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tẻ vui đã hưởng mùi dưa muối,

Nơi thế dường như khách lạc loài.

(Đạo Sử).

 

 

LẠC LONG

貉 龍

Lạc Long tức là “Lạc Long Quân 貉 龍 君”, ý chỉ tổ tiên của dân tộc Việt Nam.

Theo truyền thuyết: Vua Đế Minh cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương nam, đến núi Ngũ Lĩnh, tỉnh Hồ Nam gặp một nàng tiên lấy làm vợ, sinh ra Lộc Tục. Đế Minh có hai người con: Con lớn là Đế Nghi được cho làm vua ở phương bắc, còn Lộc Tục làm vua phương nam, lấy hiệu là Kinh Dương Vương.

Kinh Dương Vương lấy nàng long nữ, con gái Động Đình Quân, sinh ra Sùng Lãm. Sùng Lãm nối ngôi hiệu là Lạc Long Quân.

Lạc Long Quân mới lấy bà Âu Cơ, con của Đế Lai, sinh ra một trăm trứng, nở ra trăm người con trai, là tổ tiên nòi giống của dân tộc ta, nên được coi như “Cha rồng mẹ tiên” (Long phụ tiên mẫu).

Xem: Con rồng cháu tiên.

Bảo tồn giống Lạc Long chuyển thế,

Ánh sao Khuê đã xế sân rồng.

(Xuân Hương Giáng Bút).

Lạc Long tạc để non sông Việt,

Thanh sử nêu loà khắp tứ phương.

(Thơ Huỳnh Bá Tòng).

 

 

LẠC NẺO

Lạc: Lầm, mất. Nẻo: Đường đi.

Lạc nẻo là lầm đường, tức là đi không đúng đường.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Thượng Phẩm có câu: Nhưng chừng bỏ xác phàm, được nhãn huệ quang rồi, Em lại thương đau thương đớn, dường như sợ cho họ sái đường lạc nẻo, thì phải mất một bạn thiêng liêng rất quý trọng vậy.

Khỏi vòng mê tín lại đường ngay,

Lạc nẻo mau chơn liệu trở quày.

(Đạo Sử).

Dụ khách phồn hoa xa nẻo tục,

Dẫn đường cho lạc nẻo về Trời.

(Đạo Sử).

 

 

LẠC NẺO ĐƯỜNG

Lạc: Lầm, mất. Nẻo đường: Đường đi.

Lạc nẻo đường, như chữ “Lạc nẻo”, là lầm đường, tức là đi không đúng đường.

Như: Đi lạc nẻo đường tồi phải quay trở lại.

Xem: Lạc nẻo.

Nam kia ví bẳng nhiều hàng mặc,

Ðạo đức chưa ai lạc nẻo đường.

(Đạo Sử).

 

 

LẠC NGHIỆP

樂 業

Lạc: Vui vẻ. Nghiệp: Nghề nghiệp.

Lạc nghiệp là cùng nhau vui với nghề nghiệp.

Trong Sớ Văn có câu: Phục hồi thượng cổ Thánh đức, lạc nghiệp âu ca, cộng hưởng thanh bình, an ninh hạnh phước 復 回 上 古 聖 德, 樂 業 謳 歌, 共 享 清 平, 安 寧 幸 福, nghĩa là xây dựng lại đời Thượng cổ Thánh đức, cùng ca hát để xuy tụng lạc nghiệp, cùng nhau hưởng cảnh thanh bình, an ninh hạnh phước.

Đất đai rộng mở cõi bờ,

Muôn dân lạc nghiệp may nhờ phước trên.

(Phù Kiều Hận Sử).

 

 

LẠC NHẠN NGƯ TRẦM

落 雁 魚 沉

Lạc nhạn: Con nhạn bị rơi xuống. Ngư trầm: Con cá bị chìm xuống nước.

Lạc nhạn ngư trầm là chim nhạn bị rơi, con cá bị chìm dưới nước, ý nói bị chìm đắm nơi biển khổ, biết bao giờ mới thoát ra được.

Ta than lỗi bậc cung cầm,

Nàng sầu lạc nhạn ngư trầm biển mê.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

LẠC QUAN

樂 觀

Lạc: Vui vẻ. Quan: Xem, nhìn.

Lạc quan là nhìn đời bằng con mắt tin yêu, vui vẻ, tức có thái độ tin tưởng ở tương lai tốt đẹp.

Như: Nhìn cô gái thấy vẻ lạc quan yêu đời, tình hình hiện tại rất lạc quan.

Nhà lan cửa hạnh vui đoàn tụ,

Vườn đạo hoa lòng nở lạc quan.

(Thơ Thuần Đức).

Sum vầy cửa Đạo tâm thư thới,

Hội hiệp đường Đời chí lạc quan.

(Thơ Ngọc Triệu Thanh).

 

 

LẠC QUYÊN

樂 捐

Lạc: Vui vẻ. Quyên: Vận động người giúp đỡ tiền bạc, vật hạng.

Lạc quyên là vui vẻ bỏ tiền ra giúp đỡ người, hoặc tổ chức vận động mọi người đóng góp tiền bạc, vật chất để giúp đỡ người tàn tật, hay đói khổ.

Như: Lạc quyên để giúp đồng bào bị nạn.

Ty giáo huấn nên lập cuốn sổ lạc quyên dưới quyền của Thượng Chánh Phối Sư...

(Đạo Luật Mậu Dần).

 

 

LẠC THƠ

Hay “Lạc thư”.

Lạc: Sông Lạc bên Trung Hoa. Thơ (thư): Sách.

Lạc thơ, như chữ “Lạc thư 洛 書”, là cuốn sách ghi những dấu chấm trên lưng con rùa linh xuất hiện khi vua Hạ Võ trị thuỷ ở nơi sông Lạc.

Theo truyền thuyết, khi vua Hạ Võ trị thuỷ, nước lụt có con rùa nổi lên, trên mai rùa có vằn số từ 1 đến 9, do đó Thánh nhân mới vạch ra cửu trù hồng phạm.

Hệ Từ Thượng Truyện viết: Thư xuất hiện ở sông Lạc, đến đời nhà Tống, noi theo đó người ta mới vẽ ra lạc thư hay “Lạc thơ”.

Sau Trần Đoàn, căn cứ theo Hà đồ và Lạc thư mà soạn thành một quyển lý số, gọi là Hà đồ lạc thư.

Bảy năm Dũ lý nhọc nhằn,

Hà Ðồ Bát Quái dịch thành Lạc Thơ.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

LẠC THÚ

樂 趣

Lạc: Vui vẻ. Thú: Điều làm cho mình ưa thích.

Lạc thú là những cái cái thú vui làm cho lòng mình cảm thấy ham thích, vui vẻ.

Nói về mục đích của nhạc, hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh trong quyển Thiên Đạo có câu: Tả đặng tánh tình u ẩn của con người, vì hễ lòng phiền muộn thì tiếng nhạc ai oán bi thương, còn lòng thơ thới vui vẻ, thì tiếng nhạc ôn hoà lạc thú.

Bỗng chợt thấy anh gà bạn cũ,

Đắm chìm trong lạc thú xa hoa.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

LẠC XIÊU

Lạc: Thất lạc, mất. Xiêu: Nghiêng lệch.

Lạc xiêu, như chữ “Xiêu lạc”, có nghĩa là xiêu bạt, xiêu giạt, tức bị hoàn cảnh bắt buộc phải rời bỏ quê nhà đến những nơi xa lạ.

Đã mê đắm tục quen chừng,

Lạc xiêu ngoại đạo máng chưn bẫy dò.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

LÁCH TÁCH

Lách tách là từ mô phỏng những tiếng nhỏ, gọn, liên tiếp, như tiếng nổ của muối rang.

Thí dụ: Mưa rơi lách tách trên mái hiên, than nổ lách tách trong bếp.

Lách tách mưa thưa đêm bứt rứt,

Bùi ngùi trống gióng tiếng đìu hiu.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

LẠCH

Lạch là đường nước chảy hẹp và nông, ít dốc, thông được ra sông hồ. Như: con lạch ven xóm.

Lạch còn có nghĩa là chỗ sâu nhứt trong dòng sông. Như: Lội sống mới biết lạch nào cạn sâu.

Thông tường nguồn lạch cội nhành,

Là phương hoà hiệp mới rành trước sau.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

LAI

Lai là lại, tới. Như: Lai kinh, lai lịch, lai sinh, hậu lai, tương lai.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Thầy há chẳng có lời tiên tri rằng Thần Linh Học là một nền đạo tương lai sao?

Giữ cho trong sạch linh hồn,

Rèn lòng sửa nết đức tồn hậu lai.

(Kinh Sám Hối).

 

 

LAI LÁNG

1.- Lai láng là tràn đầy khắp cả như đâu cũng đều có.

Như: Nước nguồn đổ về lai láng, trời mưa lớn hôm qua ngập sân lai láng.

Càng hung lai láng cả hoàn cầu,

Nhơn loại lao mình xuống hố sâu.

(Thơ Hộ Pháp).

2.- Lai láng còn dùng để chỉ tinh thần, tình cảm dâng đến mức chứa chan, tràn ngập.

Trong Đạo Sử, bài Bia Kỷ niệm Đức Cao Thượng Phẩm có đoạn: Thương thay! Tiếc thay! Song nghĩ lại, tuy thể phách tách rời trần thế mà tinh thần còn lai láng như xưa, muôn năm theo độ rỗi chúng sanh, ngàn thuở vẫn mặc phò Ðại Ðạo.

Ve dáo dác xa gần rủ bạn,

Nhớ chị em lai láng lòng trông.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Tình tôi lai láng lụy tuôn dầm,

Vừa ngoái lại nhìn cảnh tối tăm.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

LAI RAI

Lai rai là vừa vừa, chừng chừng, tức không tập trung vào một thời gian mà rải ra mỗi lúc một ít, kéo dài như không muốn dứt.

Như: Trước sân chùa lai rai vài chú đạo, mưa lai rai suốt ngày trời, ngồi lai ra với xị rượu.

Trước Ðiện lai rai ba chú Ðạo,

Sau hiên meo mốc mấy pho kinh.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

LAI VÃNG

來 往

Lai: Đến, tới. Vãng: Đi

Lai vãng là qua lại, lui tới.

Như: Nơi đây ít người lai vãng, nơi cấm không ai được lai vãng.

Xưa Toà Thánh dập dìu lai vãng,

Nay Bửu Ðình hiu quạnh lụy nhìn.

(Thơ Thượng Phẩm).

 

 

LÁI

1.- Lái là bộ phận dùng để điều khiển các phương tiện vận tải làm cho đi đúng hướng.

Như: Bánh lái, thuyền đi đúng hướng nhờ tay lái.

Cười như Lữ Vọng lúc suy thời,

Chẳng lái chẳng chèo khó nổi bơi.

(Đạo Sử).

Phải noi gương cha giữ lái giữ lèo,

Phương tiện tặn làm theo đâu thốn thiếu.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Lái còn có nghĩa điều khiển các phương tiện vận tải. Như: Lái xe, lái thuyền, lái tàu.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Ngày nay về đảm đương việc Ðạo, chúng tôi quyết tôn trọng tinh thần tập thể, nghĩa là sẽ chung trí mà lái con thuyền Ðạo giữa cơn sóng gió bão bùng.

Bát Nhã từ đây vững lái thuyền,

Tuông pha khổ hải độ nhơn duyên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cười như Lữ Vọng lúc suy thời,

Chẳng lái chẳng chèo khó nổi bơi.

(Đạo Sử).

Thanh bạch quyết gìn ra sức lái,

Sắc son bao quản nhọc công dò.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

LÁI BUÔN

Lái: Người chuyên buôn chuyến một loại hàng hoá nhứt định. Buôn: Mua hàng rồi bán lại kiếm tiền lời.

Lái buôn là người chuyên nghề buôn bán lớn và buôn bán đường dài.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Nếu Bần Ðạo không vi chủ đặng đè nén con vật nầy, chỉ biết sống như con vật thì đã quên hẳn mình là gì, chẳng cần luận, đương nhiên nhơn loại lâm vào cảnh vay trả như anh lái buôn bị gian lận nhiều nên bán lỗ, ấy là nhơn.

Nếu lái buôn biết kế đút lòn,

Hại lúa phải nảy con ra mộng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LẠI

1.- Lại là tới, trở về. Như: Khách lại nhà chơi, kẻ qua người lại, hắn sẽ trở lại.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Bởi thế nên nay chính Thầy phải đến để đem lại cho các con nền hoà bình đã từng hứa hẹn.

Tình ái nhành dương đem rưới tắt,

Nắm tay dìu lại cõi Tiên bang.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ngày lại tháng qua đời chóng chạy,

Chạy quanh chưa mệt đã qua ngày.

(Đạo Sử).

2.- Lại là thêm một lần nữa. Như: Đã nói rồi lại nói nữa, Anh ấy đi rồi lại đi nữa.

Thánh giáo Thầy có câu: Vậy thì các con phải hết lòng hết sức mà gìn giữ lấy mình, đã chẳng phải giữ mình các con mà thôi, lại còn gìn giữ cả môn đệ Thầy nữa.

Ðào Nguyên lại trổ trái hai lần,

Ai ngỡ Việt Thường đã thấy lân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Vui nhơn vui Ðạo lại vui thiền,

Vui một bước đường một bước yên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Lại là người ty thuộc ở các nha môn ngày xưa.

Như: Quan lại, quan tham lại nhũng.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Về phần quan lại, Phụ mẫu chi dân quyền hành rất rộng rãi, một tay sanh sát, ra có kẻ bẩm, người trình, đối với dân đen là bậc thánh thần bất khả xâm phạm, nếu chẳng giữ tâm chánh, để dục vọng lôi cuốn, thì trăm họ lầm than muôn dân khổ sở.

Phạt những kẻ sửa ngay ra vạy,

Tớ phản thầy, quan lại bất trung.

(Kinh Sám Hối).

 

 

LẠI NHŨNG QUAN GIAN

吏 冗 官 奸

Lại nhũng: Chức lại quấy rối, nhũng nhiễu dân, như câu: Quan tham lại nhũng. Quan gian: Chức quan gian tham.

Lại nhũng quan gian là nói quan lại gian dối, tham nhũng tiền của và nhiễu hại nhân dân.

Thất xã tắc, dân mình nghịch chủng,

Quen nghề tham, lại nhũng quan gian.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

LẠI VIỆN

吏 院

Lại: Quan lại, làm việc quan. Viện: Nơi làm việc.

Theo đạo Cao Đài, Lại Viện là một cơ quan trong Cửu Viện Cửu Trùng Đài, có nhiệm vụ thuyên bổ Chức sắc đi hành đạo ở các địa phương, ban hành các luật lịnh của Hội Thánh, tiếp nhận văn thư của các địa phương gửi về, quản lý hồ sơ hành chánh của các Chức sắc.

Nắm quyền Lại Viện là một vị Thượng Thống, phẩm Phối Sư phái Ngọc, có các vị Phụ Thống, Quản Văn Phòng và Thư ký giúp việc. Lại Viện chịu dưới hệ thống của Ngọc Chánh Phối Sư.

Còn Lại Viện nữ phái do vị Nữ Chánh Phối Sư đứng đầu, chỉ điều hành bên nữ phái mà thôi.

Nhưng có lần Bần đạo luận rằng, Ngọc Chánh Phối Sư phải có làm Lại Viện mới được công cử, điều ấy mâu thuẫn với luật định do quyền Đức Lý Giáo Tông.

(Thánh Giáo Hộ Pháp).

 

 

LAY

Lay là làm rung động, tức ở trạng thái lắc qua lắc lại, không còn giữ được thế ổn định ở một vị trí.

Như: Gió lay cành cây, lay bật cọc hàng rào, không lay nổi ý chí sắt đá.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Rèn trau cho thuần tâm mỹ tánh rồi mới lần đến bề ngoài, trọn cả ngoài lẫn trong thì chừng ấy thân hình tâm trí chắc khư nào ai chuyển lay cho được.

Thử sánh ngọn đèn cùng bóng nguyệt,

Gió lay đèn tắt, nguyệt làu làu.

(Giới Tâm Kinh).

Ðức trước hưởng thừa tâm vẹn giữ,

Nhân sau để dấu chí đừng lay.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

LAY CHUYỂN

Lay: Làm rung rinh, không còn giữ được thế ổn định ở một vị trí. Chuyển: Rung, động đậy, thay đổi.

Lay chuyển là làm rung động, cảm động, tức làm cho không còn giữ được nguyên vị trí, trạng thái ổn định.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Bần Đạo nói quả quyết mỗi sự khó khăn gay trở, mọi sự khổ hạnh, mà Thánh Thể Đức Chí Tôn đã chịu mà có thể thắng được mọi trở lực là nhờ khối thương yêu của Đức Chí Tôn đã dành để cho chúng ta, nếu chúng ta lấy khối thương yêu cứng rắn ấy làm căn bản, thì không có quyền năng nào dưới thế gian nầy làm cho khối ấy lay chuyển, tiêu diệt được.

Dũng là giữ niềm hoà khí, lúc nào cũng sống với đạo lý của mình, ý chí không thể bị lay chuyển dù là lúc bình thường hay trong hồi nguy biến.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

LAY ĐỘNG

Lay: Làm rung chuyển. Động: Động đậy, nhúc nhích.

Lay động là làm rung động, hay chuyển động.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Mấy chuyện con tính đều được. Tâm chí các con lay động ưu tư tất là Thần, Thánh dẫn đường để chỉ cho con ra khỏi lối mịt mờ, nhưng đặng cùng không, nên hay hư, đều tại nơi tấc thành của mỗi đứa nữa.

Những sự tranh tụng là những nét của phàm tâm, chẳng đủ chi lay động chí của các đấng chân thành vì Ðạo.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

LÁY

Láy là nói đi nói lại nhiều lần. Như: Láy lại mãi câu chuyện xưa cũ.

Láy còn dùng để chỉ làm dấu hiệu để người khác nhận biết một điều gì đó.

Như: Nó láy tôi ra ngoài.

Thừa dịp đặng treo giò chú Lía,

Láy vợ hiền người xỉa miệng vô.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LẠY

Lạy là chắp tay, quỳ gối và cúi gập mình để tỏ lòng cung kính, theo lễ nghi tôn giáo. Như: Lạy Thần, Thánh, Tiên, Phật, cúi lạy, lạy bốn lạy.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Phải thường hỏi lấy mình, khi đem mình vào lạy Thầy buổi tối, coi phận sự ngày ấy đã xong chưa, mà lương tâm có điều chi cắn rứt chăng?

Danh hư đáng trọng cũng đôi khi,

Chưa phải cân đai chịu lạy quỳ.

(Đạo Sử).

Đừng chê tánh già hay thờ lạy,

Bởi nuôi con khấn vái biết bao phen.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LẠY LÀ GÌ

Lạy là gì, câu hỏi nầy có nghĩa là lạy như thế nào, nhằm mục đích gì.

Cách lạy:

Theo nghi thức đạo, lạy là chấp hai bàn tay, quỳ gối và cúi đầu xuống thật thấp để tỏ lòng thành kỉnh.

Trong Đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn dạy về cách lạy như sau: Chấp hai tay lạy là tại sao? Tả là nhựt, hữu là nguyệt, vị chi âm dương. Âm dương hiệp nhứt phát khởi Càn khôn, sanh sanh hoá hoá, tức là Ðạo.

Lạy kẻ sống 2 lạy là tại sao? Là nguồn cội của nhơn sanh lưỡng hiệp âm dương mà ra. Ấy là Ðạo.

Vong phàm lạy 4 lạy là tại sao? Là vì hai lạy của phần người, còn một lạy Thiên, một lạy Ðịa.

Lạy Thần, lạy Thánh 3 lạy là tại sao? Là lạy Ðấng vào hàng thứ ba của Trời và cũng chỉ rằng lạy Tinh, Khí, Thần hiệp nhứt. Ấy là Ðạo.

Lạy Tiên, lạy Phật 9 lạy là tại sao? Là tại chín Ðấng Cửu Thiên Khai Hoá.

Còn lạy Thầy 12 lạy là tại sao?

Các con không hiểu đâu.

Thập nhị Khai Thiên là Thầy, chúa cả Càn khôn Thế giới, nắm trọn Thập nhị Thời Thần vào tay. Số 12 là số riêng của Thầy.

Ý nghĩa:

Có nhiều người trong xã hội, vì không có đức tin với tôn giáo thấy ai tin Trời tưởng Phật, thường đi cúng lạy thì cho là mê tín. Tại sao phải quỳ lạy làm mất đi cái nhân cách của mình.

Chúng ta nên biết, cử chỉ bên ngoài của chúng ta có ảnh hưởng đến tâm hồn chúng ta sâu xa vì cái cử chỉ hành động bên ngoài gắn liền, kết hợp với cái ý nghĩa chứa đựng bên trong tâm hồn. Do đó, nếu cử chỉ bên ngoài chúng ta trang nghiêm thì tâm hồn chúng ta cũng trang nghiêm và nếu bên ngoài ngưỡng mộ, tôn kính thì tâm hồn chúng ta cũng ngưỡng mộ, tôn kính.

Ngược lại, tâm hồn bên trong cũng ảnh hưởng đến cử chỉ hành động bên ngoài chúng ta. Hai điều ấy luôn đi đôi mật thiết nhau. Thế nên, nếu chỉ có lòng kính trọng bên trong tâm hồn mà không có thể hiện cử chỉ bên ngoài thì rồi sự kính trọng ấy cũng mất đi.

Do vậy, để tỏ lòng ngưỡng mộ tôn kính, cảm tạ cái ân đức bao la của Đức Chí Tôn hay các bậc Thần, Thánh, Tiên, Phật, chúng ta có thể giữ sự cung kính chí thành nơi tâm hay dùng lời nói để thể hiện không? Chắc hẳn là không, vì nếu chỉ dùng lời nói suông thôi thì e rằng chưa đủ, còn nếu chúng ta chỉ ngưỡng mộ cung kính nơi tâm chúng ta thôi thì người ta không thấy rõ cái tâm ấy ra sao. Theo ý người xưa thì chỉ có dùng lễ bái mới thấy rõ được sự tôn kính bên trong tâm đó.

Chính sách Phật có câu: Lễ Phật giả kính Phật chi đức 禮 佛 者 敬 佛 之 德, nghĩa là lạy Phật là kỉnh cái đức của Phật.

Và trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn cũng có dạy: Lạy là tỏ ra bên ngoài, lễ kỉnh trong lòng.

Vậy lạy Đức Chí Tôn và chư Thần, Thánh, Tiên, Phật là nhằm biểu lộ đức tính khiêm tốn và để tỏ bày lòng tôn kính tri ân, tưởng niệm ân đức cao dày và phát nguyện hướng về các Đấng để tiến tu đạo nghiệp, kính trọng hạnh nguyện, tâm lượng từ bi hỷ xả, trí huệ rộng lớn của các Đấng ấy.

Mục đích của lễ bái các Đấng thiêng liêng không vì van xin tha tội, không vì cầu mong ban ơn được giàu sang phú quý... Chỉ ví kính công đức tròn lành, giác ngộ trí huệ từ bi viên mãn. Lễ bái các Đấng chính vì chúng ta muốn học tập noi theo gương của các Đấng ấy để được giác ngộ, giải thoát và đồng thời cũng là cơ hội để chúng ta dẹp bỏ tâm ngạo mạn và những ngã chấp của thế gian nhằm diệt phiền não, loại bỏ tánh kiêu mạn, tăng trưởng đạo lực trong nội tâm của người tu tập.

Khi cúi mình xuống lạy cũng là để mình nhìn sâu vào nội tâm, quán chiếu vô thường, vô ngã hầu cải hối những lỗi lầm đã phạm phải như lời Đức Chí Tôn đã dạy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển như sau:

“Phải thường hỏi lấy mình, khi đem mình vào lạy Thầy buổi tối, coi phận sự ngày ấy đã xong chưa, mà lương tâm có điều chi cắn rứt chăng?

Nếu phận còn nét chưa rồi, lương tâm chưa đặng yên tịnh thì phải biết cải quá, ráng sức chuộc lấy lỗi đã làm, thì các con có lo chi chẳng bì bực Chí Thánh”.

Như vậy việc lễ bái hằng ngày cũng là một phương pháp để chúng ta xét nét những hành vi xấu xa của mình để cải quá mà trở nên cao thượng. Nhờ lễ bái hằng ngày mà chúng ta tự thánh hoá con người mình và làm cho đạo tâm của mình được phát triển, như câu: “Lễ bái thường hành tâm đạo khởi 禮 拜 常 行 心 道 起”.

Tóm lại, lạy Đức Chí Tôn hay các Đấng Thần Thánh Tiên Phật là vì cung kính các đức hạnh của các Đấng ấy và cũng nhằm để biểu lộ lòng thành kính, tri ân Người đã chỉ dạy và soi sáng cho mình con đường dẫn đến hạnh phúc thật sự là giải thoát.

Lạy là gì? Là tỏ ra bề ngoài lễ kỉnh trong lòng.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

LẠY VONG PHÀM

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đàn cơ ngày 13 tháng 1 năm Bính Dần (Dl. 25/2/1926), Đức Chí Tôn có dạy Ngài Lê Văn Trung cách bái lễ như sau: Khi bái lễ, hai tay con chấp lại, song phải để tay trái ấn Tý, tay mặt ngửa ra nằm dưới, tay trái chụp lên trên.

Điều nầy, mặc dù Đức Chí Tôn không nói, nhưng chúng ta nghĩ rằng trong thời Tam Kỳ Phổ Độ, người đạo Cao Đài khi lạy phải bắt ấn Tý, nói cách khác ấn Tý là cái ấn đặc biệt của thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Cũng trong bài Thánh giáo trên, khi dạy về cách lạy, Đức Chí Tôn có giải thích ý nghĩa từng trường hợp lạy:

“Lạy là gì? Là tỏ ra bề ngoài lễ kỉnh trong lòng.

Chấp hai tay lạy là tại sao? Tả là nhựt, hữu là nguyệt, vị chi âm dương. Âm dương hiệp nhứt phát khởi Càn khôn, sanh sanh hóa hóa, tức là Ðạo.

Lạy kẻ sống hai lạy là tại sao? Là nguồn cội của nhơn sanh lưỡng hiệp âm dương mà ra. Ấy là Ðạo.

Vong phàm lạy bốn lạy là tại sao? Là vì hai lạy của phần người, còn một lạy Thiên, một lạy Ðịa.

Lạy Thần, lạy Thánh ba lạy là tại sao? Là lạy Ðấng vào hàng thứ ba của Trời và cũng chỉ rằng lạy Tinh, Khí, Thần hiệp nhứt. Ấy là Ðạo.

Lạy Tiên, lạy Phật chín lạy là tại sao? Là tại chín Ðấng Cửu Thiên Khai Hóa.

Còn lạy Thầy mười hai lạy là tại sao?

Các con không hiểu đâu.

Thập nhị Khai Thiên là Thầy, chúa cả Càn khôn Thế giới, nắm trọn Thập nhị Thời Thần vào tay. Số 12 là số riêng của Thầy”.

Như vậy, qua những lời Thánh giáo trên, chúng ta nhận thấy Đức Chí Tôn dạy về cách bắt ấn Tý, rồi giải thích chung cách lạy người sống, vong phàm, Thần, Thánh, Tiên, Phật và Đức Chí Tôn mà Ngài không phân biệt việc có bắt ấn Tý hay không giữa lạy vong phàm và các Đấng Thiêng Liêng.

Thế mà trong Đạo có người phân biệt cách lạy vong phàm và các Đấng Thiêng Liêng. Theo những người nầy, ấn Tý chỉ dành để lễ bái Đức Chí Tôn và chư Thần, Thánh, Tiên, Phật mà thôi, còn vong phàm không bắt ấn Tý, mà hai tay nắm lại, hai ngón cái đặt song song nhau.

Chúng tôi còn nhớ, vào những năm 1960, khi đi cúng liên gia, thường được nghe các vị chức việc dạy: Ấn Tý dùng để lạy Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu, và các Đấng Thần, Thánh, Tiên, Phật, còn lạy vong phàm thì không bắt ấn Tý.

Sau nầy chúng tôi có thấy được một văn bản, không biết có phải thực lời dạy của Đức Hộ Pháp hay không, trong đó, có lời dạy như sau: Xá người sống hay lạy vong phàm không bắt Ấn Tý. Ấn Tý dành để lạy chư Thần, Thánh, Tiên, Phật hoặc Chí Tôn mà thôi.

Do vậy, trước đây khi lạy vong phàm (hay lạy ông bà) có một số người bắt ấn Tý, một số khác lại không.

Chính vì quan niệm lạy vong không bắt ấn Tý, nên những người nầy trong nghi lễ Cầu Siêu các vong linh, họ chỉ đứng khoanh tay mà thôi (tay không bắt ấn Tý).

Sự việc nầy kéo dài rất nhiều năm trước đây trong đạo Cao Đài. Mãi đến năm 1970, Hội Thánh muốn nghi lễ được đồng nhứt, bèn cử ra một Ủy Ban Hỗn Hợp Tu Chỉnh để soạn thảo Quan Hôn Tang Lễ thống nhứt.

Quyển Quan Hôn Tang Lễ nầy do các Quyết Nghị Hội Thánh Lưỡng Đài theo các vi bằng như sau:

1. Vi Bằng số 6/VB ngày 29 tháng Giêng, mùng 4 và mùng 6 tháng 2 Nhâm Tý (Dl. 14, 18 và 20.3.1972).

2. Vi Bằng số 3/VB ngày mùng 7 tháng 11 Nhâm Tý (Dl. 12.12.1972).

3. Vi Bằng số 11/VB ngày mùng 8 và mùng 9 tháng 5 Ất Mão (Dl. 17 và 18.6.1975).

4. Vi Bằng số 17/VB ngày mùng 4 tháng 9 Ất Mão (Dl. 8.10.1975).

5. Vi Bằng số 1/VB ngày mùng 7 tháng 11 Ất Mão (Dl. 9.12.1975).

Sau cùng quyển Quan Hôn Tang Lễ nầy được sự chung quyết của Hội Thánh Hiệp Thiên Đài gồm có quý vị:

- Thời Quân Hiến Pháp

- Thời Quân Bảo Đạo

- Thời Quân Hiến Đạo

- Thời Quân Khai Đạo

- Chưởng Ấn Nguyễn Văn Hợi

- Cải Trạng Huỳnh Hữu Lợi

- Cải Trạng Nguyễn Văn Kiết.

Cuối cùng, Hội Thánh lưỡng Đài Hiệp Thiên, Cửu Trùng và Phước Thiện có dâng lên Đức Lý Đại Tiên kiêm Giáo Tông Đại Đạo Tam Ký Phổ Độ phê chuẩn.

Hội Thánh Cửu Trùng Đài do ba vị Đầu Sư Thái Bộ Thanh, Thượng Sáng Thanh, Ngọc Nhượn Thanh ký tên đóng ấn ban hành ra toàn Đạo.

Nội dung quyển Quan Hôn Tang Lễ nầy, có điều nói về lạy vong phàm được ghi như sau:

LỄ BÁI CHÍ TÔN, THẦN, THÁNH, TIÊN, PHẬT VÀ VONG PHÀM (xin chép lại nguyên văn).

Người Đạo Cao Đài hễ khi lạy thì tay chấp bắt ấn Tý.

Lạy Thần, Thánh, Tiên, Phật hay vong phàm tay cũng đều bắt ấn Tý.

Lạy Chí Tôn 12 lạy, lấy dấu Phật, Pháp, Tăng (3 lạy, mỗi lạy 4 gật).

Lạy Phật, Tiên 9 lạy, không lấy dấu Phật, Pháp, Tăng (3 lạy, mỗi lạy 3 gật).

Lạy Thánh, Thần 3 lạy suông (không có gật).

Lạy Vong Phàm 4 lạy (2 lạy quỳ, 2 lạy đứng).

Lạy người sống 2 lạy (lạy đứng).

Khi quyển Quan Hôn Tang Lễ được ban hành, thì phần đông Hương Đạo, Tộc Đạo ở các địa phương áp dụng theo, tức là cầu siêu hay lạy vong phàm đều phải bắt Ấn Tý.

Nhưng hiện nay, trong lễ Cầu Siêu tại tư gia một số địa phương hay tại Châu Thành Thánh Địa, tại Khách Đình hoặc Báo Ân Từ, chúng ta vẫn thấy có một số đông người chỉ đứng khoanh tay Cầu Siêu, chứ không bắt ấn Tý.

Điều nầy, chính ông Tiếp Lễ Nhạc Quân, Nhạc Sư Võ Thành Tươi có một văn bản thỉnh giáo có nội dung như sau:

Theo thông lệ mỗi khi có cầu siêu nơi Đền Thánh thì toàn thể chức sắc và Đạo Hữu đều bắt Ấn Tý.

Riêng tại Báo Ân Từ và Khách Đình cả thảy đều khoanh tay đọc kinh, đến khi dứt kinh, niệm câu chú Thầy cả thảy mới bắt Ấn Tý.

Hai trường hợp nêu trên có được đúng hết hay không?

Dưới văn bản, có Lời phê của Ngài Ngọc Đầu Sư, Ngọc Nhượn Thanh như sau đây:

Kính chuyển đến Hiền Huynh Bảo Đạo Quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài xin có ý kiến.

Hội Đồng Chưởng Quản hôm phiên họp ngày 18 tháng 12 năm Kỷ Mùi có ý kiến: Tạm thời đình lại chờ khi điều chỉnh và bổ túc thêm quyển Tang Lễ thống nhất sẽ quyết định. Hiện tại cứ giữ theo tình trạng cũ.

Ngày 19 tháng 12 năm Kỷ Mùi. (Dl. 05/02/1980).

Ngọc Đầu Sư. (Ấn Ký).

Sau cùng Ngài Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa, Quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài cũng phê như sau:

Đồng ý với Hiền huynh Ngọc Đầu Sư Cửu Trùng Đài. Sự việc nầy là một thủ tục từ khi tôi mới về Đạo đến nay.

Vậy chờ khi bổ túc quyển tang lễ hoặc khi có cơ bút thỉnh giáo sự quyết định sau.

Ngày 21 tháng 12 năm Kỷ Mùi.

Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa.

Tóm lại, theo những văn bản pháp lý trên, hiện nay việc Cầu Siêu cho vong linh giữ nguyên theo tình trạng cũ, nghĩa là đứng khoanh tay hay bắt Ấn Tý gì cũng được. Chờ Hội Thánh chỉnh đốn lại quyển Tang Lễ hay sau nầy cầu hỏi các Đấng Thiêng Liêng.

Lạy Vong Phàm 4 lạy (2 lạy quỳ, 2 lạy đứng).

(Quan Hôn Tang Lễ).

 

 

LAM

1.- Lam là tham lam, tức có lòng tham đến mức muốn lấy hết về cho mình.

Thánh giáo Thầy có câu: Công Thầy bố hoá bị lũ học trò tham lam ngu xuẩn dục lợi cầu danh, làm cho Tà quái lẫn vào, dìu dắt vào chốn hang sâu vực thẳm.

Chớ oán chạ tham lam ngược ngạo,

Bội nghĩa ân trở tráo chước sâu.

(Kinh Sám Hối).

2.- Lam là cái giỏ xách tay để đựng các thứ đồ mua bán cho tiện.

Như: Hoa lam là cái giỏ đựng hoa, còn là một bửu bối của Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh.

Múa kiếm thư linh che chủng loại,

Quăng Hoa Lam báu cứu đồng bào.

(Quyền Giáo Tông Giáng).

3.- Lam là màu xanh. Lam do chữ “Dà lam”, dùng để chỉ nơi thờ Phật, hoặc chỉ một quả vị Phật.

Như: Nương chốn Dà lam, danh lam thắng cảnh, Phật Dà Lam, Dà Lam Chơn Tể.

Ao Thất Bửu gội mình sạch tục,

Ngôi liên đài quả phúc Dà Lam.

(Kinh Tận Độ).

4.- Lam là khí độc bốc lên ở vùng rừng núi, khiến người dễ sinh bịnh sốt rét.

Như: Lam khí, lam chướng, lam sơn chướng khí.

Biết bao điều nguy hiểm trong sự phá rừng và sự khai thác: nào lam sơn chướng khí, nào nước độc muỗi mòng, nào thú dữ chực hờ...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

LAM ĐIỀN

Lam điền, do câu “Lam điền chủng ngọc 藍 田 種 玉, tức là ruộng Lam trồng ngọc.

Tích trong Bộ Sưu Thần Ký chép: Nhà Dương Ung Bá có để một lu nước làm nghĩa, giúp người đi đường đỡ khát. Một hôm, có người bộ hành uống xong nước, lấy ở trong bọc đưa ra một thăng hạt giống cho Ung Bá và nói: Trồng hạt ngọc này, sẽ sinh ra ngọc tốt, sau lại được vợ đẹp. Ung Bá đem trồng hạt đó.

Về sau, Ung Bá cầu hôn con gái nhà họ Từ ở xứ Bắc Bình. Nhà họ Từ nói: Nếu có đôi bạch bích (ngọc trắng), sẽ gả cho. Ung Bá về nhà, tình cờ đến chỗ trồng ngọc thì thấy được năm đôi bạch bích, đem làm lễ nói con gái nhà họ Từ. Vua nghe chuyện cho là kỳ dị, triệu Ung Bá vào cung, phong làm quan Đại phu và đặt tên chỗ đất ấy là “ngọc điền” (Ruộng ngọc).

Tỷ nhạc thân đòi ngọc Lam Điền,

Mình phải đủ phép Tiên trồng đặng ngọc.

(Phương Tu Đại Đạo).

Đấu ngọc Lam Điền nghiêng mắt ghé,

Nhành hoa Thượng Uyển ướm tay vin.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

LAM LŨ

襤 褸

Lam lũ là quần áo rách rưới, hôi hám.

Lam lũ chỉ người chịu đựng sự rách rưới, khổ sở, và vất vả để lo kiếm tiền nuôi sống.

Thơ Bàng Đức Công dạy về cờ bạc có câu: Y sam lam lũ thân bằng tiếu 衣 衫 襤 褸 親 朋 笑, nghĩa là quần áo tả tơi bạn bè cười nhạo.

Thà tiết kiệm hằng ngày no đủ,

Tánh siêng năng lam lũ làm ăn.

(Kinh Sám Hối).

 

 

LAM LỤ

Lam lụ, như chữ “Lam lũ 襤 褸”, là ăn mặc rách rưới, bẩn thỉu, hôi hám.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Bần Đạo còn nhớ lại Đức Quyền Giáo Tông có nói với Bần Đạo một chuyện rất ngộ nghĩnh, Bần Đạo minh tả ra đây cho tất cả bên phái nữ để ý cho lắm, để làm một bài học hay, khi Bà thân của Người đã qua đời, thì cả trong làng thương yêu một cách không thể nói được, Chức Sắc làm bàn đưa linh mà trong bài châm ấy để mấy chữ như vầy: “Tích Mạnh Mẫu” tức nhiên toàn thể nhận tang cả, chẳng khác gì Mạnh Mẫu cho lắm, chỉ biết mình là hạng bần hàn nên con mắt của người không bao giờ ngó đến kẻ nghèo khổ, lam lụ như Ngài thuở ấu xuân vậy.

Xem: Lam lũ.

Nên hư trối mặc đời phi thị,

Lam lụ buồn cười bấy lũ trâu.

(Lục Nương Giáng Bút).

Vợ Châu Công đình thần mạng phụ,

Ở thôn quê lam lụ làm ăn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Rủi nghèo hèn đói khó hỏi ai xin,

Cũng một mảnh thân hình chồng lam lụ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LAM SƠN CHƯỚNG KHÍ

嵐 山 瘴 氣

Lam sơn: Khí độc ở rừng núi bốc lên. Chướng khí: Cái khí thấp nhiệt ở rừng núi có thể làm cho người sinh bịnh.

Lam sơn chướng khí ý chỉ khí thấp độc ở rừng núi thường làm cho người ta sinh bịnh.

Biết bao điều nguy hiểm trong sự phá rừng và sự khai thác: Nào là lam sơn chướng khí, nào nước độc muỗi mòng...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

LÀM

1.- Làm là hành động, tạo tác.

Như: Làm ăn, làm việc, việc làm ổn định, tay làm hàm nhai, nói mà không làm.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Thầy có dạy: Lại nữa, buổi loạn thần ấy, để cửa trống cho Tà mị xung đột vào, giục các con làm việc tội tình mà phải chịu phận luân hồi muôn kiếp.

Miệng ăn quá sức tay làm,

Thê nhi thiếu kém thân phàm chẳng no.

(Ngụ Đời).

2.- Làm là gây dựng nên, tức dùng công sức tạo ra cái trước đó không có. Như: Làm nhà, làm hang, chim làm tổ, làm loạn, làm phúc, làm ân gây oán, làm điều ác độc.

Thánh giáo có đoạn: Người dưới thế nầy muốn giàu có phải kiếm phương thế mà làm ra của. Ấy là về phần xác thịt. Còn Thần, Thánh, Tiên, Phật, muốn cho đắc đạo phải có công quả.

Làm lành sau cũng lành vay trả,

Chác dữ âu hay dữ vốn lời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Kìa cầm điểu bẻ cành kết ổ,

Nọ thú trùng moi lỗ làm hang.

(Nữ Trung Tùng Phận).

3.- Làm là chuyên về một nghề gì. Như: Làm quan, làm thợ, làm thầy, làm đạo sĩ.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: Làm vua, làm thầy, làm công nghệ, làm đạo sĩ, cũng cần phải có cái chí lớn mới mong thành tựu đặng.

Làm quan tính kế đảo điên,

Gạt thâu gia sản, đất điền của dân.

(Kinh Sám Hối).

Mẹ dầu phải suối vàng nhắm mắt,

Vui thấy con đáng mặt làm trai.

(Nữ Trung Tùng Phận).

4.- Làm là tỏ ra thái độ.

Như: Làm dáng, làm cao, nó có tiền hay làm phách, thấy bất công khó mà làm thinh.

Giao thân cứ gần kề kẻ thiết,

Ép nhớ thương làm điếc làm đui.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Thương Ðạo mến Thầy xin sớm liệu,

Cộng tâm chung trí chớ làm thinh.

(Thơ Thượng Phẩm).

5.- Làm là làm những việc thuộc nhiệm vụ hoặc quyền hạn gắn với một tư cách, địa vị, chức vụ nào đó nói chung. Như: Làm chủ, làm mẹ, làm con, làm dâu, làm rể, làm môn đệ.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: Những kẻ nào đã làm môn đệ của Tà Thần Tinh Quái thì không thế gì làm môn đệ Thầy đặng.

Làm con phải trau dồi hiếu đạo,

Trước là lo trả thảo mẹ cha.

(Kinh Sám Hối).

Phận làm tớ thật thà trung tín,

Với chủ nhà trọn kính trọn ngay.

(Kinh Sám Hối).

Khanh Tể sao bằng tên Ðạo Sĩ,

Hết đời ai giữ chức làm ông.

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 

LÀM ĂN

Làm: Dùng công sức vào những việc nhứt định để đổi lại có được những gì cần thiết cho đời sống. Ăn: Tự cho vào cơ thể những thức ăn để nuôi sống.

Làm ăn là làm việc, lao động để kiếm tiền sinh sống.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Ví dụ cờ bạc gây ra cái quả thiếu hụt, nợ nần, vì thiếu hụt phải lường gạt hay trộm cắp; trộm cắp gây ra cái quả lao tù. Bây giờ bỏ dứt sự cờ bạc, lo làm ăn lương thiện thì tất nhiên phải được an thân, khoẻ trí.

Về ai một cái nghiệp nhà tan,

Chẳng chịu làm ăn cứ điếm đàng.

(Đạo Sử).

Vợ Châu Công đình thần mạng phụ,

Ở thôn quê lam lụ làm ăn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

LÀM BIẾNG

Làm: Tỏ thái độ. Biếng: Lười, không thiết làm việc.

Làm biếng, như chữ “Lười biếng”, là lười, ở trạng thái không thích, không muốn làm việc, ít chịu cố gắng.

Làm biếng còn có nghĩa làm cầm chừng lấy có.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Ðạo là trường học đạt đại gia đình, Ðạo là trường thi lập vị, sao lại làm không được? Tại làm biếng học! Học đặng hành. Nên hư do tại mình, không phải do Chí Tôn và cũng không phải tại Ðạo.

Xem: Lười biếng.

Muốn sửa bịnh các em làm biếng,

Thì toan bề sai khiến lượng phương làm.

(Phương Tu Đại Đạo).

Dụ ăn học đừng cho làm biếng,

Lập thân danh nên tiếng con nhà.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LÀM BỘ

Làm: Tỏ thái độ. Bộ: Những cái lộ ra bên ngoài của một người qua cử chỉ, dáng vẻ...

Làm bộ là giả bộ, giả vờ, làm ra vẻ như thế nào đó, để người khác tưởng thật là như vậy.

Làm bộ còn có nghĩa là ra dáng vẻ, ra điệu bộ, ra kiểu cách. Như: Làm bộ vất vả.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Bề ngoài họ cũng làm bộ thương nước thương dân để lừa dối bề trên mà bên trong thì họ lo cho đầy túi tham là đủ!

Trước mặt thì làm bộ sụt sè,

Sau lưng vốn cua ngoe đi ngược.

(Phương Tu Đại Đạo).

Ghét có người làm bộ giả đò,

Ra giễu cợt làm trò thương hết ghét.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LÀM CHỦ

Làm: Ý chỉ ở vào địa vị nào, như làm chủ, làm con. Chủ: Người đứng đầu, người cai quản.

Làm chủ là thể hiện quyền hành, hoặc hành vi với tư cách của người chủ.

Thánh giáo Thầy có câu: Cái nhánh các con là nhánh chính mình Thầy làm chủ, sau các con sẽ hiểu.

Phận làm chủ lấy lời nhỏ nhẹ,

Mà nghiêm trừng mấy kẻ tôi đòi.

(Kinh Sám Hối).

 

 

LÀM GƯƠNG

Làm: Có tác dụng hoặc dùng như là, coi như là. Gương: Việc để cho người sau trông vào mà noi theo.

Làm gương là làm cái mẫu mực để cho người khác, hoặc người sau nầy trông vào đó mà noi theo.

Thánh giáo Thầy có câu: Phải giồi lòng trong sạch, lấy sự nhẫn nhịn làm gương soi mình hằng bữa, phải thương yêu nhau, giúp đỡ nhau dường như con một nhà, rồi cái thương yêu, sự giúp lẫn ấy sẽ dìu chung các con vào tận chốn Cực Lạc thiêng liêng, để tránh khỏi nơi khổ cùng tiều tuỵ.

Ngoài nữa còn cha còn chú bác,

Làm gương cho đáng mới nên trò.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trau hạnh làm gương dắt kẻ sau,

Một nhà đạo đức khá thương nhau.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

LÀM LÀNH

Làm: Gây dựng nên. Lành: Hiền lành, tốt.

Làm lành, đồng nghĩa với chữ “Làm thiện”, là làm những việc thiện, việc tốt.

Làm lành còn có nghĩa là làm cho quan hệ trở lại thân thiết như cũ, sau khi giận dỗi.

Thánh giáo Thầy có câu: Một điểm quang minh là một hồn người, là vật tối linh của Thầy trân trọng. Nếu con muốn làm lành thì gắng dạy mấy hồn ấy đặng hiền.

Làm lành sau cũng lành vay trả,

Chác dữ âu hay dữ vốn lời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

LÀM LÀNH LÁNH DỮ

Làm lành: Làm việc thiện lành. Lánh dữ: Xa lánh điều dữ.

Làm lành lánh dữ là nói người tu hành, chuyên làm việc hiền lành, lánh điều hung dữ.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Trên bước đường hành sự, chúng ta phải làm thế nào cho Ðạo đời tương đắc, nhứt là giúp ích cho quê hương xứ sở về mặt tinh thần, lo giáo hoá nhơn sanh tiến tới đường đạo đức, làm lành lánh dữ, mến chuộng công lý, biết thương yêu giúp đỡ lẫn nhau đặng cùng xây dựng hạnh phúc chung cho đồng bào, chúng ta mới cộng hưởng cảnh thái bình an cư lạc nghiệp.

Làm lành lánh dữ ấy phương tu,

Khổ hạnh dày công cá hoá cù.

(Thơ Bảo Pháp).

Khuyên ai thức tỉnh lo tu,

Làm lành lánh dữ nghìn thu thanh nhàn.

(Thơ Thông Quang).

 

 

LÀM LỤNG

Làm: Thực hành các công việc.

Làm lụng là làm việc có vẻ vất vả. Như: Ở nhà anh ta làm lụng tối ngày.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Nhà giàu làm lụng cực nhọc cốt yếu làm cho có của tô điểm danh giá của mình; tôi không được sang mà đều tôi có của tôi làm oai cũng được vậy.

Làm lụng công trình ra sức trẻ,

Giữ gìn cho vẹn đạo tào khương.

(Đạo Sử).

Nhịn ăn mặc ngừa cơn thiếu thốn,

Làm lụng nhiều nuôi dưỡng sắp con.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Tập em dại biết ham làm lụng,

Đừng nêu gương phóng túng chơi bời.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LÀM MƯỚN

Làm: Thực hành các công việc. Mướn: Thuê, hoặc cho thuê sức lao động.

Làm mướn, như chữ “Làm thuê”, là làm việc cho người khác để lấy tiền công. Như: Làm mướn kiếm tiền.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Nhà Đại Minh Hùng Võ có một người học trò khó mẹ goá con côi học giỏi lắm, duy có nghèo, lớp nào lo học, lớp nào lo làm mướn nuôi mẹ với nuôi thân.

Dạy căn cớ làm thân cực sướng,

Người ngồi ăn người làm mướn bởi nơi nào.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LÀM NHỤC

Làm: Gây tạo ra. Nhục: Xấu hổ đến mức chịu đựng không nổi vì bị xúc phạm danh dự.

Làm nhục là làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Gia đình là một phần nhỏ trong xã hội, nếu biết gìn giữ thân thể, tôn trọng danh giá cha mẹ, anh em thảng có đứa du côn không kể gia pháp, làm rối loạn gia đình thì kẻ đó ai cũng muốn bỏ, muốn đưa ra khỏi gia đình tông tổ. Sợ e gia đình nào mực thước, thảng có điều vô phúc ấy sẽ xử đứa làm nhục đó, hình phạt nặng nề hơn kẻ tha nhơn.

Dạy đừng dùng tiếng ngọt lời ngon,

Làm nhục kẻ lòng son gìn tiết hạnh.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LÀM PHẢI LÀM LÀNH

Làm phải: Làm việc phải, lấy luân thường đạo đức làm căn bản để ứng xử với đời. Làm lành: Làm những điều thiện.

Làm phải làm lành là không làm những điều tà quấy, mà làm những việc thiện lành.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Tiếc thay cho nhơn sanh, chớ chi trong thời kỳ Ðại Ðạo hoằng khai, mà để tâm tín ngưỡng chung thờ một Tôn Giáo, tròn giữ theo Luật Pháp của Ðạo, lo trau giồi đức hạnh, làm phải làm lành, liên lạc thương yêu, thuận hoà cùng chung, thì nay đâu có lâm nạn đao binh như thế.

Trong Tam Giáo có lời khuyến dạy,

Gốc bởi lòng làm phải làm lành.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

LÀM PHƯỚC CÓ KHI MẮC NẠN

Làm phước: Làm những việc thiện, việc có tính cách tạo ra phước đức. Có khi: Có lúc. Mắc nạn: Bị tai nạn.

Con người sống ở thế gian, ai cũng bị chi phối của luật nhơn quả. Hễ có nguyên nhân tất nhiên phải có kết quả tương thích với nguyên nhân ấy, đó là luật nhân nào quả nấy.

Luật nhân quả không bị hạn chế bởi thời gian, có khi nhanh cũng có khi chậm. Có nhiều loại nhân quả:

Nhân quả hiện tại gọi là Hiện báo 現 報: Nghiệp nhân trong đời này đưa đến quả báo ở hiện kiếp.

Nhân quả trong hai đời gọi là Sanh báo 生 報: Đời trước tạo nhân đời nay mới thọ quả. Đời này gây nhân đời sau nhận quả.

Nhân quả trong nhiều đời gọi là Hậu báo 後 報: Từ rất nhiều đời trước gây nhân, đời nay mới gặt quả, hoặc đời này tạo nhân nhưng mãi nhiều đời sau mới thọ quả.

Hiện báo thì dễ thấy, dễ hiểu, nhưng hậu báo là quả báo do nghiệp nhân tạo ra từ những kiếp sống trước, đến nay mới có kết quả thì khó tin, khó hiểu. Ví dụ người lương thiện mà vẫn gặp chuyện không may.

Người làm phước có khi mắc nạn cho ta thấy việc tai nạn, khổ sở là bởi nghiệp quả, tức do kiếp trước hay nhiều đời trước gây nhân, kiếp này phải đền trả. Việc làm phước làm lành trong hiện kiếp chưa đủ trả những oan nghiệt đã tạo ra ở tiền kiếp.

Như vậy, không phải người làm phước mà mắc nạn, nếu không làm phước thì người ấy vẫn phải mắc nạn, có thể tai nạn còn nhiều và nặng hơn nữa, bởi việc làm phước có thể làm giảm bớt một số tai nạn.

Còn những kẻ lăng loàn đặng mạng giàu sang là vì kiếp nầy tuy có những hành vi không tốt, nhưng nhờ còn hưởng phước đức từ nơi kiếp trước, khi nào phước đức của người ấy hết thì họ sẽ lãnh những quả báo ngay.

Chúng ta đừng tưởng rằng làm những hành vi hung ác mà vẫn được giàu sang đâu, vì bởi quả báo chưa đến. Luật nhân quả như lưới Trời lồng lộng, quả báo như mũi kim không bao giờ lọt đặng.

Trong sách Minh Tâm Bảo Giám, Từ Thần Ông có nói rằng: Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo; nhược hoàn bất báo, thời thần vị đáo 善 有 善 報, 惡 有 惡 報; 若 還 不 報, 時 辰 未 到, nghĩa là làm lành có lành báo, làm ác có ác báo, hiện thời chưa thấy báo là chưa đến lúc vậy.

Thực vậy, Thánh xưa có câu: Thiện ác đáo đầu chung hữu báo, chỉ tranh lai tảo dữ lai trì 善 惡 到 頭 終 有 報, 只 爭 來 早 與 來 遲, nghĩa là việc lành việc dữ chung cuộc rồi cũng có báo, có điều là trả kíp hay chầy mà thôi.

Câu chuyện sau đây cho ta thấy một nhà từ thiện suốt đời làm việc lành mà vẫn không siêu thoát là do bởi tội lỗi kiếp trước nặng hơn việc làm phước của ông nên còn trả quả.

Ông Tiếp Dẫn Đạo Nhơn Gariel Gobron là một người Pháp, vào một hôm ngồi chấp bút có một chơn linh giáng cơ xưng tên họ và nhờ ông tiến dẫn về Hội Thánh Cao Đài để cầu rỗi cho ông, vì ông chưa được siêu thoát.

Ông Gobron nghe qua tên tuổi của vị này thì biết ngay, vì sanh tiền vị này là một nhà từ thiện nổi tiếng trong nước mà ai cũng biết. Cả một đời người chuyên đi bán đồ chơi trẻ em và đem số tiền lời được về giúp các trại cô nhi. Ông lại thường xin những đứa bé bị bỏ rơi đem về viện cô nhi để nuôi dưỡng. Những đứa bé do ông đem về thì ông lãnh phần trợ cấp cho trại cô nhi. Chính việc làm cao cả ấy, công nghiệp dường ấy mà lại không được siêu thoát làm cho ông Gobron thêm thắc mắc, mới hỏi: Xin mạn phép hỏi ông: Cả một đời làm việc thiện như ông, thế sao không được siêu rỗi vậy?

Chơn linh ấy bùi ngùi trả lời rằng: Nhiều kiếp trước, tôi vốn là một quan đại thần, có quyền lực lớn, luôn luôn kề cận bên vua. Vì tôi có một thành kiến đối với phụ nữ là kẻ ngoại tình, người làm điếm hoặc không chồng mà có con, gái lang chạ. Tôi không muốn những đứa trẻ vốn sanh ra do những bà mẹ như vậy, nên quyết định diệt cho tuyệt; tôi cũng nghĩ những đứa trẻ ấy có sống cũng không làm lợi ích gì.

Tôi tâu cùng đức vua và dâng bản luật ban hành khắp nơi bài trừ cho sạch cái nạn tồi bại nói trên để giữ nền đạo đức cho đất nước. Sau khi vua ký và đóng ấn ban hành; vì bản luật quá khắc nghiệt nên có nhiều phụ nữ có thai sợ quá mà phá bỏ thai nhi. Chính vì thế mà cả một kiếp sanh của tôi phải đi lượm và tìm trẻ mồ côi để nuôi. Tất cả việc làm của kiếp ấy, không có ngày nào nghỉ, vậy mà cũng chưa đủ đền trả tội lỗi của tiền kiếp đã gây ra, vì còn thiếu nên chưa siêu rỗi được; lại không còn dịp để tái sanh làm người nữa. Nay tôi nhờ Ngài cầu xin với Hội Thánh mà siêu độ giúp cho tôi.

Khi hiểu rõ việc như thế, ông Tiếp Dẫn Đạo Nhơn biên thư kể rõ nội dung và cầu xin Hộ Pháp và Đức Quyền Giáo Tông từ bi độ dẫn cho chơn linh ấy được sớm siêu rỗi.

Câu chuyện trên cho ta thấy rằng “Người làm phước có khi mắc nạn”, vì bởi công đức làm từ thiện suốt đời của Chơn linh trên không đủ tiêu trừ những tội lỗi mà chơn linh ấy đã gây ra ở nhiều kiếp trước.

Người làm phước có khi mắc nạn,

Kẻ lăng loàn đặng mạng giàu sang.

(Kinh Sám Hối).

 

 

LÀM PHƯỚC KHỎI HAO KHỎI TỐN

Làm phước: Làm những việc thiện, việc có tính cách tạo ra phước đức. Khỏi hao khỏi tốn: Nghĩa là không tốn hao gì hết.

Sống trên đời này có nhiều cách làm việc để tạo ra phước đức, trong đó có cách làm phước mà chẳng hao tốn về tiền bạc, của cải chi hết, chỉ lấy công sức ra để giúp đỡ cho người mà thôi. Ví dụ như khi đi trên đường gặp miểng bát miểng chai... hoặc là có những vật bén nhọn, chông gai thì nên lượm lấy để tránh những người đi sau đạp phải. Đó là làm phước khỏi hao khỏi tốn.

Ngoài ra còn có thể bắc cầu qua kênh rạch hay đắp sửa đường đi cho liền lạc bằng phẳng để người qua lại cho được yên ổn thuận lợi.

Ấy làm phước khỏi hao khỏi tốn,

Chẳng có đâu mòn vốn thâm tiền.

(Kinh Sám Hối).

 

 

LÀM QUAN HAI MIỆNG

Làm quan: Làm một viên chức có quyền hành trong bộ máy nhà nước. Hai miệng: Ý nói hai lời phán quyết.

Làm quan hai miệng ý muốn nói kẻ làm quan phán quyết một vụ việc theo mình và đôi khi, do sự hối lộ còn phán quyết theo lời của vợ.

Lời tục ví: Làm quan hai miệng,

Ngoài miệng ông trong khiến miệng bà.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LÀM REO

Làm reo là một hình thức đấu tranh có tổ chức bằng cách nghỉ việc, ngưng việc, bãi công, bãi khóa...

Như: Công nhân làm reo phản đối chủ, thằng bé làm reo với cha mẹ nó.

Đem lòng ghét ngõ ghen hiền,

Đồn ra ngưng chức ngưng quyền làm reo.

(Thơ NĐS Hương Thanh).

 

 

LÀM THINH

Làm: Tự tạo cho mình một dáng vẻ như thế nào đó để tỏ thái độ. Thinh: Tiếng.

Làm thinh là cố ý im lặng, không nói năng hay bày tỏ thái độ gì.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có đoạn: có một vị Vương Hầu đi săn, rượt theo con nai, con nai chạy ngang gần chỗ Ngài (chỉ Đức Thích Ca) ngồi, nó tách qua nơi khác, vị Vương Hầu ấy rượt đến không thấy con nai, chỉ thấy Ngài ngồi dưới gốc Bồ Ðề mà thôi. Vị Vương Hầu ấy mới hỏi Ngài có thấy con nai chạy ngang qua đây không? Ngài suy nghĩ nếu ta chỉ chỗ thì vị hung thần nầy giết nó, thì ta có liên quan tới sát sanh, nếu ta nói không thấy thì ta nói dối tốt hơn là ta làm thinh.

Dạy không nghe chẳng đặng làm thinh,

Can chẳng đặng nài xin em phải thuận.

(Phương Tu Đại Đạo).

Rường cột Ðạo mầu bao thuở dựng,

Sụt sùi để bước khó làm thinh.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

LÃM THUÝ

覽 翠

Lãm: Xem. Thuý: Xanh lục, chỉ cây cỏ.

Lãm thuý là ngắm cỏ hoa. Hiên Lãm thuý là mái hiên để đến đó ngắm cảnh tươi tốt của hoa cỏ.

Mái Vân lâu vắng lạnh lùng,

Buồn hiên Lãm thuý, nhạc trùng tiếng tơ.

(Phù Kiều Hận Sử).

 

 

LẠM

Lạm là vượt lấn quá phạm vi, giới hạn được quy định hoặc cho phép.

Như: Lạm quyền, lạm phát, lạm dụng, anh ấy chi tiêu lạm tiền công quỷ.

Ông thân trả lời: Võ nó không biết kiếm thế hà lạm, bên văn nó hay hà lạm tôi không chịu...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

LẠM DỤNG

濫 用

Lạm: Vượt lấn quá phạm vi, giới hạn được quy định hoặc cho phép. Dụng: Dùng.

Lạm dụng là dùng hay sử dụng quá mức hoặc quá giới hạn đã được quy định.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Chúng ta đã ngó thấy các nền Tôn Giáo xưng mình là Đạo, chúng ta thấy họ lạm dụng Đạo quá lẽ, nhưng chúng ta không thể gì cải chối được tại lý do nào?

Tu lập đức bồi công độ chúng,

Tu khuyên đừng lạm dụng Phật tông.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

LẠM DỰ

濫 預

Lạm: Vượt lấn quá phạm vi, giới hạn được quy định hoặc cho phép. Dự: Tham dự vào.

Lạm dự là lạm dụng để tham dự vào, tức không đủ tư cách mà lại tham dự vào.

Vì phần nhiều người lạm dự vào cuộc Thiên phong, lấy tà tâm bả bai, biếm nhẻ,...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

LẠM QUYỀN

濫 權

Lạm: Lấn vào, làm quá giới hạn. Quyền: Quyền hành, tức những thứ mình được phép làm.

Lạm quyền là làm những việc vượt quá quyền hạn của mình.

Thuyết về Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống, Hộ Pháp có câu: Bần Đạo tưởng toàn cả Quốc dân giờ phút này, họ khôn ngoan không để cho kẻ nào lạm quyền hạng ấy nữa.

Vì đó một người mà nắm trọn quyền thống nhất trong tay thế nào tránh khỏi lạm quyền và độc đoán là điều tối kỵ đối với Ðạo.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

LAN

1.- Lan là rải rộng ra, ăn rộng ra, tức mở rộng phạm vi ra trên một bề mặt.

Như: Cỏ mọc lan ra đường, lửa cháy lan sang nhà kế bên, phổ biến lan rộng ra ngoài.

Chớ giống cỏ chạ lan mọc bên đường, ví có bị bước tục vầy bừa cũng không ai màng ngó tới.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

2.- Lan là một thứ cỏ quý có hoa thường dài và hẹp, cánh hoa không đều, có loại có hương thơm.

Như: Hoa lan, quế trạo lan tương.

Huệ lan chung đứng mái Tây hiên,

Biết phải cùng nhau dữ hoá hiền.

(Đạo Sử).

Cúc, Trước, Mai, Lan hầu thiết đãi,

Tiêu thiều nhạc trổi khách nâng ly.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

LAN CAN

闌 干

Lan can là hàng rào thấp có tay vịn, thường đặt ở hiên, ban công, hoặc hai bên thành cầu... để giữ cho người khỏi ngã ra ngoài.

Như: Chung quanh Toà Thánh, hai bên có hai dải lan can, ngồi trên lan can trước hiên nhà.

Khoan khoan noi thềm quế bước vào, thưa rằng thiếp đến chầu quân tử.

Rón rén dựa lan can ngồi xuống, hỏi sao chàng nỡ phụ cố nhơn.

(Tuý Sơn Vân Mộng).

 

 

LAN ĐÌNH

蘭 亭

Lan: Hoa lan, loại hoa quý, đẹp và có mùi rất thơm. Đình: Nhà để nghỉ mát.

Lan Đình là một cái đình ở trên sông Lam Chử, thuộc phía Tây nam tỉnh Triết Giang, Trung Quốc.

Xưa ông Vương Hy Chi cùng mấy bạn tụ họp ở đấy (Lan Đình) để ngâm thơ uống rượu, có làm bài “Lan Đình Tập Tự”.

Vương Hy Chi vốn là người viết chữ rất đẹp, nên những tờ thiếp ghi chép bài “Lan Đình Tập Tự” được người đời sau truyền tụng là “Thiếp Lan Đình”.

Chữ Lan đình cũng có nghĩa là chữ viết đẹp.

Đôi sợi đờn lòng run một nhịp,

Duyên thơ mơ ước hội Lan đình.

(Thơ Thuần Đức).

Chào mai nguyên đán tươi hồn nước,

Mở thiếp Lan đình đẹp ý dân.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

LAN QUẾ

蘭 桂

Lan: Hoa lan, loại hoa quý, đẹp và có mùi rất thơm. Quế: Thứ cây quý, võ thơm cay, dùng làm thuốc.

Lan quế, do câu “Lan tôn tử quế 蘭 孫 桂 子”, nghĩa là con cháu thơm tho, ví với con cháu đông và hiển đạt.

Lại có câu: Tử tôn phát đạt, vị chi lan quế đằng phương 子 孫 發 達, 謂 之 蘭 桂 騰 芳, nghĩa là con cháu phát đạt, gọi là cành lan, cành quế thơm tho.

Lan quế còn được hiểu là con cháu quý giá.

Sách Lễ Ký viết: Ông Tạ Huyền lấy cỏ chi, cỏ lan ví với con cháu. Năm người con ông Đậu Quân hiển đạt, được người đời gọi là ngũ quế. Vì vậy, con cháu được vinh hiển gọi là “Lan quế đằng phương”.

Xem: Quế lan.

Lan quế sớm sanh nhuần phúc hậu,

Tương lai ngưỡng cửa huệ quang ngần.

(Thơ Huệ Phong).

Hoà ái trăm năm xin kính chúc,

Đầy sân lan quế trỗ sum sê.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

LAN THẤT

蘭 室

Lan: Hoa lan, loại hoa quý, đẹp và có mùi rất thơm. Thất: Nhà, phòng.

Lan thất tức là nhà lan, có ý nói nhà đức vọng, thơm tho như chi lan, còn ví với người có tài đức.

Sách Gia Ngữ chép: Dữ thiện nhân cư, như nhập chi lan chi thất, cửu nhi bất văn kỳ hương, tức dữ chi hoá hỹ 與 善 人 居, 如 入 芝 蘭 之 室, 久 而 不 聞 其 香, 即 與 之 化 矣, nghĩa là ở với người tốt, như vào nhà có cỏ chi lan, ở lâu đến lúc không thấy mùi thơm, thì tức đã cùng hoá với nó.

Gió trăng kho tạo để dành riêng,

Lan thất xa nghe tiếng cửa hiền.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

LAN TRÀN

Lan: Mở rộng dần phạm vi ra trên một bề mặt. Tràn: Di chuyển từ nơi khác đến với số lượng lớn trên diện rộng.

Lan tràn là ăn rộng ra, tức là lan nhanh và mạnh trên phạm vi rộng.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Chủ nghĩa duy vật đã lan tràn khắp trong đất nước và đầu độc hết chín phần mười dân tộc Việt Nam, nền luân lý cổ truyền đã đổ vỡ, người ta đã vứt bỏ hết mọi căn bản đạo đức và họ đã chơi vơi lưu lạc trong đêm dài mờ mịt, chỉ vì đời sống của họ thiếu hẳn quân bình giữa vật chất và tinh thần, tức là thiếu luồng điện hoà hợp, thiếu cái biết trí tri của tâm linh hay là ánh sáng dẫn đến trực giác.

Hận nước lan tràn nợ máu xương,

Đem thân đày đoạ luống can trường.

(Quyền Giáo Tông Giáng).

Nạn tương sát Thần sầu quỷ khốc,

Nạn thuỷ tai động đất lan tràn.

(Nguyễn Trung Trực Giáng).

 

 

LÀN

Làn là lớp, tức chỉ những loại có bề mặt phẳng di chuyển nối tiếp nhau liên tục và đều đặn.

Như: Làn sóng biển, làn mây bay, làn khói bốc lên cao, làn gió đưa mát mẻ, làn ác khí.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Ngày nay từ Âu sang Á, làn sóng văn minh tràn ngập khắp nơi, vật chất lấn áp tinh thần khiến cho nền luân lý cổ truyền cõi Á đông phải luân lạc.

Buông ngọn viết vào làn mây trắng,

Hễ có thương nhớ dạng là hơn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Một làn ác khí bao ràng rịt,

Muôn xác tinh ma nhảy dập dìu.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

LÃN ÔNG

懶 翁

Lãn Ông là hiệu của vị danh y đời nhà Lê của Việt Nam, tên thật là Lê Hữu Huân hay Lê Hữu Trác.

Ông là tác giả pho sách giá trị khảo cứu về y học, đó là bộ: Tân Huê Hải Thượng Y Tông Tâm Tỉnh, gọi tắc là “Lãn Ông Y Tập”.

Xem: Hải Thượng.

Tay nghề chúc được nâng cao mãi,

Nối nghiệp Lãn Ông giúp xóm làng.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

LẠN TƯƠNG NHƯ

Lạn Tương Như là một chính khách nước Triệu thời Chiến Quốc, nổi tiếng là người giỏi ứng xử để giữ uy tín của nước Triệu trong chư hầu.

Vào đời Chiến Quốc, Vua Tần sai sứ giả sang nước Triệu đề nghị Vua Triệu đổi viên ngọc Biện Hoà (viên ngọc quý) lấy mười lăm thành của Tần. Vua Triệu đồng ý đổi, nhưng sợ Tần nuốt lời không giao thành, nên chẳng biết phải sai người nào nhận nhiệm vụ đó.

Lạn Tương Như vốn là người nước Triệu, đang làm xá nhân cho viên Thái giám trưởng là Mậu Hiền.

Có một hôm, Mậu Hiền bị tội, định chạy trốn sang nước Yên. Khi đó Lạn Tương Như can rằng: Ngài làm sao mà biết vua Yên?

Mậu Hiền đáp: Ta từng theo vua Triệu họp với vua Yên ở biên giới, vua Yên nắm tay ta mà nói: “Xin kết làm bạn!” Vì vậy ta biết, nên muốn trốn sang nước ấy.

Tương Như bảo Mậu Hiền: Vì nước Triệu mạnh, nước Yên yếu, cho nên vua Yên muốn kết bạn với ngài. Nay ngài bỏ Triệu trốn sang Yên thì Yên sợ Triệu, nhất định không dám giữ ngài mà sẽ trói ngài nộp cho Triệu. Chi bằng ngài hãy cởi trần, phục bên lưỡi rìu mà xin tha tội, may ra được thoát thân!

Mậu Hiền nghe lời Lạn Tương Như, đến tạ tội với Triệu Huệ Văn Vương, được vua Triệu tha tội.

Khi Mậu Hiền đứng ra tiến dẫn Lạn Tương Như lên cho vua Triệu để đem ngọc bích đổi lấy mười lăm thành của Tần.

Vua Triệu liền cho mời ông đến, hỏi: Vua Tần đem 15 thành đổi lấy viên ngọc của quả nhân, nên cho hay không?

Tương Như nói: Tần mạnh, Triệu yếu, không cho không được.

Vua Triệu nói: Họ lấy ngọc ta mà không cho ta thành thì làm thế nào?

Lạn Tương Như nói: Tần đem thành đổi lấy ngọc mà Triệu không cho, thì điều trái là ở Triệu. Triệu cho ngọc mà Tần chẳng cho thành thì điều trái là ở Tần. Xét lại kế đó thì thà cho ngọc để Tần chịu phần trái.

Vua Triệu hỏi: Ai có thể sai đi sứ?

Lạn Tương Như nói: Nếu nhà vua thiếu người, thần xin mang ngọc bích đi sứ. Thành có về tay nước Triệu thì ngọc mới ở lại đất Tần. Nếu thành không về, thần xin giữ nguyên vẹn viên ngọc đem về Triệu.

Triệu Vương bèn sai Tương Như mang ngọc sang đất Tần.

Vua Tần đón tiếp Tương Như ở Chương đài. Ông mang ngọc bích dâng vua Tần. Vua Tần nhận ngọc nhưng không có ý giao thành, Tương Như phải dùng mưu đánh lừa được vua Tần, lấy lại ngọc bích đem về trả cho Triệu. Nhờ có công ấy, khi về triều Lạn Tương Như được thăng chức Thượng khanh.

Cùng triều với Lạn Tương Như lúc đó có viên võ tướng là Liêm Pha, đã từng đánh nam dẹp bắc mà chức nhỏ hơn Tương Như, nên lòng không phục, thường mong gặp mặt Tương Như để mắng cho đã giận, Tương Như biết được, nên thường xuyên tìm cách lánh mặt.

Kẻ thủ hạ của Lạn Tương Như thấy thế mới hỏi, thì Tương Như nói rằng: Uy quyền như vua Tần mà ta còn chưa sợ, ta há lại sợ Liêm Pha hay sao? Sở dĩ Ta tránh mặt Liêm Pha là sợ Tần, nhân dịp ta và Liêm tướng quân hiềm khích và ăn thua nhau như lưỡng hổ cộng đấu, thế bất cụ toàn, sau này việc nước hư thì có phải tại việc oán vặt thù riêng của ta chăng?

Liêm Pha nghe được câu chuyện, biết Lạn Tương Như nhẫn nhục là vì muốn bảo toàn đất nước, nên ông ăn năn hối hận, đến xin tạ tội, và kết làm anh em với Lạn Tương Như.

Chẳng vẹn nghiệp nhà đừng thối chí,

Ðợi thời noi chước Lạn Tương Như.

(Đạo Sử).

 

 

LANG

1.- Lang là chó sói, loài chó rất hung dữ ở trong rừng. Thường dùng để ví với kẻ độc ác, tàn bạo, mất hết tính người. Như: Hổ lang, lòng lang dạ thú.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Chung quanh các con, dầu xa dầu gần, Thầy đã thả một lũ hổ lang ở lộn với các con.

Lòng lang độc vui cười hớn hở,

Chốn Diêm đình phạt quở trừng răn.

(Kinh Sám Hối).

2.- Lang là dãy nhà chạy dài ở đền đài cung điện.

Như: Đông lang, Tây lang, hành lang, lang miếu.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Chùa Từ Lâm Tự chưa xong gì hết, có Chánh điện, còn Đông lang, Tây lang thì chưa có, đàng này mấy anh Lớn họp nhau xuất tiền ra làm cho xong.

Đầu Sư nam nữ cân phân,

Tây lang một tháp, tháp gần Đông lang.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

LANG QUÂN

郎 君

Lang: Con trai, đàn ông. Quân: Tiếng dùng để gọi nhau như: Con gọi cha mẹ, cháu gọi ông bà, vợ gọi chồng, ngang hàng gọi nhau bằng “Quân” đều được cả.

Lang quân dùng để tôn xưng con em người khác, hoặc tiếng vợ gọi chồng, hoặc chỉ người chồng.

Đừng chê chồng phận thiệt thòi,

Đáng danh quân tử phải người lang quân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Tơ đỏ nhờ tay Nguyệt lão,

Cửa vàng trộm sánh Lang quân.

(Tuý Sơn Vân Mộng).

Ví được lang quân chiều chuộng lắm,

Chữ tòng khuyên gắng chớ bê tha.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

LANG SA

郎 沙

Người Trung Hoa dịch âm chữ “Françe” ra là “郎 沙”. Người mình phiên âm hai chữ “郎 沙” sang quốc ngữ là “Lang sa”.

Như vậy, Lang Sa là một danh từ riêng dùng để chỉ nước Pháp hay người Pháp.

Còn tiếng Lang Sa có nghĩa là tiếng Pháp. Thước Lang Sa là thước Tây.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có dạy: Lão lại dặn, từ cây nọc bên phía miếng đất, phải đo vô Bàu Cà Na 27 thước Lang Sa, nghe à!

Các con phần nhiều biết tiếng Lang Sa.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

LANG THANG

Lang thang là đến chỗ nầy rồi lại bỏ đi chỗ khác, không dừng lại ở một nơi nào nhất định.

Như: Lang thang đầu đường xó chợ.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Nếu Cửu Trùng Ðài là cơ quan hành chánh có nhiệm vụ đem Ðạo đến cho nhơn sanh, độ người cải tà quy chánh, thức tỉnh kẻ mê luyến hồng trần thì cơ quan Phước Thiện có sứ mạng cứu giúp những kẻ vô phước ở cõi đời, tức là những kẻ cô độc tật nguyền, những cô nhi quả phụ, những kẻ thất vận nhứt thời phải chịu vất vả lang thang bị mọi người ruồng bỏ.

Một gánh một bưng chi tưởng dễ,

Ðeo mình cho nặng lết lang thang.

(Đạo Sử).

 

 

LÁNG GIỀNG

Láng giềng là những nhà chung quanh ở gần ngôi nhà mình, tức nhà hàng xóm.

Như: Bán anh em xa mua láng giềng gần, quan hệ láng giềng giữa hai nước.

Trái đất này chúng ta sánh lại với Càn Khôn Vũ Trụ, dám chắc không có bằng hàng xóm láng giềng chớ đừng nói đến một thành thị hay một xã hội gì được.

(Con Đường Thiêng Liêng).

 

 

LÀNG

1.- Làng là xã, một khu vực tự trị của dân ở nông thôn, là đơn vị hành chánh thấp nhất trong nước.

Như: Phép vua thua lệ làng, luỹ tre quanh làng, người cùng xóm làng.

Thánh giáo Thầy có dạy: Thầy đã ban sắc cho Thần Hoàng Long Thành thăng lên chức Văn Xương, vào trấn nhậm làng Hiệp Ninh, dạy dỗ dân về Ðạo, Thầy ban trọn quyền thưởng phạt đặng răn làng ấy cho đến ngày biết ăn năn cải quá...

Quý là tánh hạnh chẳng khoe khoang,

Cười kẻ trong lân tới cửa làng.

(Đạo Sử).

Kìa cuối xóm mấy hàng trước tử,

Nọ đầu làng chày lữ phơi sương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Làng chỉ những người cùng một nghề nghiệp, hay cùng làm chung một việc nào đó.

Như: Làng báo, làng thơ, làng văn, làng chơi.

Ðồ thơ oằn oại gánh nghiêng vai,

Mặc khách làng văn nhọc chớ nài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thuần văn chất Ðức tài cao,

Tên tuổi làng thơ đã đứng vào.

(Đạo Sử).

3.- Làng là mắt mờ trông không được rõ.

Như: Già cả đôi mắt đã làng, coi sách không được rõ.

Già mập mờ đôi mắt có làng,

Dâu rán chỉ rõ ràng cho thấy thiệt.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LÀNG VĂN

Làng: Địa hạt theo nghề nghiệp của một nhóm người, như làng báo, làng thơ. Văn: Văn chương.

Làng văn là địa hạt của người viết văn, tức chỉ nơi của một nhóm người viết văn.

Ðồ thơ oằn oại gánh nghiêng vai,

Mặc khách làng văn nhọc chớ nài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Học hỏi làng văn rất nhọc nhằn,

Cũng như đường Ðạo bước xung xăng.

(Đạo Sử).

 

 

LÀNG XÓM

Làng: Xã, một khu vực tự trị của dân ở nông thôn, là đơn vị hành chánh thấp nhất trong nước. Xóm: Khu dân cư nhỏ nhất ở nông thôn, gồm nhiều nhà ở liền với nhau.

Làng xóm là làng và xóm, nghĩa bóng chỉ những người cùng ở chung trong làng và xóm với mình.

Như: Ở đây làng xóm thưa thớt.

Chưa phải thời lai con ẩn nhẫn,

Dầu sao làng xóm cũng ngồi trên.

(Đạo Sử).

 

 

LẢNG

1.- Lảng là lẩn đi, lén đi, hoặc có nghĩa chuyển sang chuyện khác nhằm tránh việc gì đó hoặc làm ra vẻ không nhìn thấy, không hay biết gì.

Như: Lơ lảng, đuối lý tìm cách nói lảng đi, lảng sang chuyện khác.

...dầu đứa con có lơ lảng không nghe đi nữa, chớ rồi nó cũng hằng để vào tâm cái huyền diệu vô đoán ấy...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

2.- Lảng là nghễnh ngãng, tai không còn thính nữa vì tuổi đã già, hay đau bịnh.

Như: Lảng tai, ông ấy nghe không rõ tai hơi lảng.

Mắt mờ thêm nỗi lảng tai,

Thất tuần đã quá từ ngày ấu xuân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

LẢNG TRÍ

Lảng: Chuyển sang chuyện khác nhằm tránh việc gì đó. Trí: Khả năng về nhận thức, suy nghĩ, phán đoán.

Lảng trí, như chữ “Đãng trí”, là hay quên, không để trí đến, tức không tập trung chú ý vào việc trước mắt, do mãi nghĩ về những việc nào khác.

Trong quyển Giảng Đạo Yếu Ngôn, Nguyễn Văn Kinh có viết: Còn người phò cơ chấp bút cũng bị cái thần điển nó nhập vào choán cái chơn thần của đồng tử, thì chơn thần của người phò cơ chấp bút, càng ngày càng suy giảm thối vị lần lần. Có khi nó choán hết chơn thần, còn lại thức-thần phải điên cuồng lảng trí là khác nữa.

Chính giữa ba quân không lảng trí,

Việc nhà lại chịu nỗi tầm phào.

(Đạo Sử).

 

 

LẢNG XẸT

Lảng: Vô duyên, vớ vẩn, không hợp lý hợp tình.

Lảng xẹt là rất lảng, chen vào một việc gì không thích hợp với chung quanh.

Lảng xẹt đồng nghĩa với các chữ: Lảng nhách, lảng òm, lảng ồ.

Tình chồng vợ ra mòi lảng xẹt,

Muôn sự chi hễ mét xử chìm xuồng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LÃNG

1.- Lãng là lợt (lạt), mờ dần.

Như: Chuyện cũ tôi đã quên lãng từ lâu rồi, mối tình đầu đã phai lãng trong tôi.

Các con phải tự đặt nhiệm vụ của mình cho phải phép, đừng phai lãng lập trường đã sẵn có.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

2.- Lãng là sóng, không dùng một mình. Như: Lãng mạn, lãng nhân, lãng tử, lãng bạc.

Ngài Tiếp Pháp Trương Văn Tràng trong quyển Giáo Lý có viết: Có người không giữ được Chơn tâm thanh tịnh, để cho Vọng tâm phóng túng theo cơ duyên bên ngoài, sanh vật dục thấp hèn; tư tưởng lãng mạn lại đổ tội cho Tâm là một năng lực bất chánh?

Thạch đảo lãng xâm phong khí hoại,

Từ tâm đức vượng thạnh kỳ phòng.

(Đạo Sử).

Đem lòng lãng tử vui trăng gió,

Lấy tứ phong trần cợt bướm hoa.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

LÃNG PHÍ

浪 費

Lãng: Phóng túng. Phí: Tiêu xài.

Lãng phí là tiêu xài một cách phóng túng, tức là ăn mặc, tiêu pha hoang phí, không tiết kiệm.

Thánh giáo Thầy có dạy: Vì bô vải là tấm gương đạo đức, các con đã rõ đạo thì biết đức cần kiệm là đức hạnh đầu trong lúc các con còn ở thế gian nầy. Như sự lãng phí se sua ở đời nầy, Thầy cũng cho là một việc tổn đức vậy.

Lòng chừa biếng nhác kiêu căng,

Của tiền lãng phí không ngằn phải tiêu.

(Kinh Sám Hối).

Đức tin đánh đổ dị đoan,

Khỏi điều lãng phí tiền ngàn bạc muôn.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

LÃNG QUÊN

Lãng: Lợt, lạt. Quên: Không còn nhớ, không còn lưu giữ lại trong trí nhớ nữa.

Lãng quên, như chữ “Quên lãng”, là quên mất đi, không còn chú ý đến nữa.

Trong quyển Giáo Lý, Ngài Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có đoạn viết: Còn một lẽ nữa, chúng ta cũng chẳng khá lãng quên là: Văn tự chỉ ghi chép được những tư tưởng thô sơ, thiển cận mà thôi. Trên đường học vấn chúng ta dùng kinh sách để khỏi màn suy gẫm cho mình, còn biết được Chơn lý là nhờ công phu suy gẫm.

Chúng ta lãng quên nền phong hoá tốt đẹp của ta mặc dầu, nhưng tự cổ chí kim chưa nước nào có đặng.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

LÃNG TỬ

浪 子

Lãng: Sóng, chỉ sự phóng túng. Tử: Người.

Lãng tử là chỉ người sống tự do, không có nghề nghiệp, đi chơi nay đây mai đó chẳng có gì ràng buộc.

Trong Kệ chuông U minh có câu: Lãng tử, cô nhi tảo hồi hương lý, nghĩa là kẻ lang thang, trẻ mồ côi sớm trở về với quê hương, xóm làng.

Kìa đường cũ bước mòn lãng tử,

Đám thú nhà dụ dự bước chiều.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Kẻo kẹt luỹ tre đàn lãng tử,

Dập đồn dặm liễu khách nhàn du.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

LÃNG UYỂN

閬 苑

Đời nhà Đường, Vương Nguyên Anh trấn nhậm Lãng Châu, có xây một cái vườn rất đẹp đẽ, gọi là Long Uyên, về sau vì tránh tên huý của vua Đường Minh Hoàng là Long Cơ, nên đổi tên ngôi vườn ấy thành Lãng Uyển.

Ngôi vườn nầy có phong cảnh u tịch, nên người sau cho là nơi thần tiên ở.

Lý Thương Ẩn đời Đường có câu: Bồng đảo yên hà Lãng Uyển chung 蓬 島 煙 霞 閬 苑 鐘, nghĩa là khói mù Bồng đảo, tiếng chuông Lãng Uyển.

Nghĩa bóng: Cảnh tiên ở.

Dừng chân du khách say nhìn,

Tưởng chừng Lãng uyển phô hình cửa không.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

LÃNG XAO

Lãng: Lợt, lạt. Xao: Chao động, lay động, động nhẹ.

Lãng xao, bởi chữ “Xao lãng”, có nghĩa là quên đi, không chú ý tới nhiều, không dồn công sức vào công việc.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Thầy Tăng Tử xưa là một bậc hiền triết mà còn “Nhứt nhựt tam tỉnh ngộ thân”, tức là hằng ngày xét mình trong ba điều:

– Một là lo việc cho người không hết lòng bằng việc mình, có thế chăng?

– Hai là giao du với bạn bè mà đem lòng giả dối, có vậy chăng?

– Ba là nghe lời Thầy dạy bảo mà hay lãng xao, có thế chăng?

Ước mong mỗi Chức Sắc hằng ngày chỉ xét mình trong một điều duy nhứt thì nền Ðại Ðạo lấy làm may mắn mà nhơn sanh cũng lấy làm hữu phước.

Xem: Xao lãng.

Đặng xong phận sự mọi bề,

Tâm tu lại vững chẳng hề lãng xao.

(Kinh Thế Đạo).

Ðã cùng nhau trót mấy lời giao,

Cách mặt mà lòng chẳng lãng xao.

(Đạo Sử).

 

 

LANH

1.- Lanh là nhanh nhẹn có tốc độ, nhịp độ trên mức trung bình, tinh ranh, sắc sảo.

Như: Tay chèo rất lanh, làm việc lanh lợi, lanh chân chạy mất.

Nếu cầm chèo đẩy mái không lanh,

Thì cũng chịu đã đành phận dốt.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Lanh còn có nghĩa là ranh, lắm mồm, hay nói và có lý lẽ trong nói năng.

Như: Khuôn mặt trông rất lanh, cặp mắt lanh, cô ấy lanh mồm mép.

Nho nhã con tua tập tánh tình,

Dưới đời đừng tưởng một mình lanh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Sách dầu muôn cuốn dạy câu lành,

Nào kẻ học cao gọi thế lanh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

LANH LẸ

Lanh: Lẹ làng, nhanh, mau hiểu, thông minh. Lẹ: Mau, nhanh.

Lanh lẹ, cũng như chữ “Mau lẹ”, có nghĩa là nhanh và gọn, chỉ một thoáng là đâu đã vào đấy hết.

Lanh lẹ còn có nghĩa là thông minh, hiểu biết mau lẹ.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Nếu trí các con chẳng lanh lẹ, hạnh các con chẳng hoàn toàn, cách cư xử các con chưa hoà hiệp, đường Ðạo các con chưa liệu chung, nét khiêm cung các con chưa trọn vẹn, cách đối đãi các con chưa ôn hoà, thì nền Ðạo sau nầy e khi phải vì đó mà để một trò cười, dầu đức từ bi của Thầy cũng khó gỡ rối rắm được.

Phải chiều tánh trí con lanh lẹ,

Hay tối tăm giải lẽ cho vừa.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LANH LỢI

Lanh: Lẹ làng, nhanh, mau hiểu, thông minh.

Lanh lợi là linh lợi, nhanh nhẹn, sắc sảo, có sự tháo vát, khôn khéo trong cuộc sống.

Như: Thằng bé bị bịnh ban từ nhỏ, tưởng nó lù khù nhưng lanh lợi lắm.

Ðời lanh lợi khôn ngoan mau chết,

Ðời chừng nào diệt hết oan khiên.

 

 

LÁNH

Lánh là tránh xa, rời xa. Như: Lánh xa kẻ xấu.

Thánh giáo Thầy có câu: Sanh đứng vào vòng thế cuộc, chưa biết mình đã lãnh một vai tuồng đặng chờ lúc kết quả, hồn quy Thiên ngoại, lánh khỏi xác phàm, trở về nơi khởi hành mà phục các điều đã thi hành giữa sân khấu là chốn trần ai khốn đốn nầy.

Thành pháp dìu đời qua nẻo khổ,

Nên công giúp thế lánh cơn nguy.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Lánh đường trần tục đến non Tiên,

Lấy nước nhành dương tưới lửa phiền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

LÁNH BỢN TỤC

Lánh: Tránh xa. Bợn tục: Những thứ dơ bẩn, ô trược nơi trần tục, chỉ cõi thế gian.

Lánh bợn tục là lánh xa những thứ bụi trần ô trược của cõi thế tục.

Lánh bợn tục tình thâm cũng tránh,

Trốn đau thương xa cảnh trần gian.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

LÁNH CHƠN

Hay “Lánh chân”.

Lánh: Rời xa đi để tránh một cái gì đó coi là không hay cho mình. Chơn (chân): Bộ phận dưới cùng của con người dùng để đi, đứng.

Lánh chơn, như chữ “Lánh chân”, đồng nghĩa với chữ “Lánh thân”, là bước chân đi để tránh xa một nơi nào đó.

Đưa tay vịn phép diệu huyền,

Ngọc Hư lập vị Cửu tuyền lánh chơn.

(Kinh Tận Độ).

Ðịnh thế nên hư lòng chẳng đổi,

Ðoán thời cách bức lánh chơn ra.

(Đạo Sử).

Riêng lo tài sắc hồng quần,

Không nhơ bợn tục nợ trần lánh chơn.

(Tứ Nương Giáng Bút).

 

 

LÁNH DỮ LÀM LÀNH

Lánh dữ: Gặp điều ác thì tránh. Làm lành: Thấy điều lành thì làm.

Lánh dữ làm lành, như câu thành ngữ “Tỵ ác hành thiện 避 惡 行 善”, là tránh những điều hung dữ, tích cực làm các việc lành.

Như: Người tín đồ phải lánh dữ làm lành, giữ gìn tam quy ngũ giới và còn phải lập công bồi đức.

Lời Thầy dạy Thánh ngôn ghi chữ,

Biểu chúng ta lánh dữ làm lành.

(Thơ NĐS Hương Thanh).

Khá tua lánh dữ làm lành,

Đừng toan mưu độc chớ ganh tôi hiền.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

LÁNH GIẢ TẦM CHÂN

Hay “Lánh giả tầm chơn”.

Lánh giả: Tránh những điều giả dối, tạm bợ. Tầm chân 尋 真: Hay tầm chơn, tìm những thứ chơn thật.

Lánh giả tầm chân ý chỉ người tu hành nên lánh xa vật chất hay cõi trần là những thứ giả tạm, mà phải tạo công đức để được về cõi Thiêng liêng là thứ chân thật và vĩnh hằng.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh dạy: Chúng ta sống trong vòng đạo đức nghĩa nhơn dưới bóng yêu thương của Đức Chí Tôn Đại Từ Phụ, một đời sống của kẻ lánh giả tầm chơn, tuy đạm bạc trong bữa dưa muối nhưng nồng nhuộm nét trong sạch thanh cao.

Cõi trần là chốn mê tân,

Dìu nhau lánh giả tầm chân tiếc gì.

(Thất Nương Giáng bút).

 

 

LÁNH HỚN TỬ PHÒNG CHƯA PHẢI DẠI

Lánh Hớn (Hán), Tử Phòng chưa phải dại ý muốn nói đến Trương Tử Phòng lánh hoạ giết hại công thần của nhà Hán là một điều khôn.

Do tích Tử Phòng tức Trương Lương theo phò Lưu Bang để chống Tần và Sở Bá Vương Hạng Võ để lập nên nhà Hán. Sau khi diệt được Sở, Lưu Bang lên ngôi, xưng hiệu là Hán Cao Tổ, rồi phong cho Trương Lương lãnh chức Lưu Hầu.

Trương Lương là người theo Đạo giáo, hiểu rõ triết lý “Công thành thân thối 功 成 身 退”, nên xin trả chức để trở về ẩn dật. Đó là mưu kế khôn ngoan của Trương Tử Phòng lánh hoạ nhà Hán giết hại công thần.

Xem: Phòng xưa lánh Hán.

Lánh Hớn, Tử Phòng chưa phải dại,

Về Tào, Từ Thứ cũng là khôn.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

LÁNH TỤC

Lánh: Tránh xa. Tục: Chỉ cõi phàm tục.

Lánh tục là lánh khỏi cảnh trần tục, tức tránh xa cõi có nhiều bụi bặm, ô trược.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Tu tâm, Luyện tánh là thuyết của Lão Giáo dạy người mộ đạo muốn tầm tiên lánh tục.

Kỳ ba Ðại Ðạo mở đưa lời,

Lánh tục đem thân đến cảnh Trời.

(Đạo Sử).

Thương người lánh tục tìm nhàn,

Trễ chơn mà bị phụ phàng tình duyên.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

LÁNH THÂN

Lánh: Rời xa để tránh người nào hay vật gì. Thân: Chỉ thân mình, xác thân.

Lánh thân là đem thân mình tránh xa một nơi nào đó. Hay có thể hiểu: Đem thân mình vào nơi nào đó để tránh xa một việc gì.

Như: Về quê lánh thân một thời gian.

Lánh thân khóm bá rừng tòng,

Tiều chưa thoát khỏi trong vòng tôi con.

(Ngụ Đời).

 

 

LÁNH THẾ

Lánh: Rời xa để tránh người nào hay vật gì. Thế: Đời, cõi thế gian.

1.- Lánh thế là xa lánh đời, tức là lìa bỏ cõi đời (thế gian) để đi theo đường tu niệm.

Như: Vào chùa tu tức là lánh thế.

Thay đạo phục bước xăng lánh thế,

Mơi thì kinh, tối kệ giải lòng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Lánh thế còn có nghĩa là lìa bỏ cõi thế gian, tức chỉ sự chết, sự qua đời.

Như: Người tu khi lánh thế, mong trở về với cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Từ lánh thế theo Thầy về Bạch Ngọc, lúc ấy thơ thới cảnh Tiên, nhìn lại cõi trần rồi thêm chán ngán.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

LÁNH TRẦN

Lánh: Rời xa để tránh người nào hay vật gì. Trần: Cõi trần, là cõi của con người đang sống.

1.- Lánh trần, đồng nghĩa với chữ “Lánh tục”, là xa lánh cõi trần tục, tức cõi thế gian.

Khổ hạnh để lòng công quả gắng,

Lánh trần chi nệ nỗi cay chua.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Lánh trần còn là tiếng dùng để chỉ sự chết.

Như: Những vị chức sắc Đại Thiên phong đã làm tròn phận sự đều đã lánh trần hết.

Ðã từng cực nhọc đắp nền nhân,

Chưa toại ước mong vội lánh trần.

(Thơ Thượng Sanh).

Chánh Đức Tiên Sanh đã lánh trần,

Vườn thơ ngùi nhớ bóng thi nhân.

(Thơ Huệ Ngàn).

 

 

LÁNH XA

Lánh: Rời xa, lìa khỏi để tránh. Xa: Ở trong khoảng cách về không gian, thời gian tương đối lớn, trái với gần.

Lánh xa, như chữ “Xa lánh”, có nghĩa là tránh xa, tránh mọi sự tiếp xúc, mọi quan hệ.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có đoạn: Càn khôn càng náo nhiệt, ngày tận diệt đã hầu kề. Kẻ hữu phần đặng nắm mối Ðạo Trời, dựa chiếc thuyền sen lần vào non cao suối lặng, để rửa bớt chút bợn trần, dưỡng tánh tu thân, để nâng lên địa vị thanh cao, lánh xa đoạ luân hồi trong lúc hồn lìa khỏi xác.

Xem: Xa lánh.

Lánh xa trược chất bụi hồng,

Cung Tiên sớm tối vui vòng thung dung.

(Kinh Thế Đạo).

Việc chi cũng có chánh tà,

Làm điều phải nghĩa lánh xa vạy vò.

(Kinh Sám Hối).

 

 

LÀNH

1.- Lành là tốt, thiện, hiền từ, trái với ác dữ. Như: Người lành, nước lành, làm điều lành.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Nhơn loại đã thâm nhiễm vào tình luyến ái tà mị trên mười ngàn năm, thì thế nào cổi Thánh đức trong một lúc chẳng tới một năm cho trọn lành đặng.

Làm lành sau cũng lành vay trả,

Chác dữ âu hay dữ vốn lời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tiếng đời hằng nói phước do lành,

Con chẳng biết tu cứ cạnh tranh.

(Đạo Sử).

2.- Lành là không rách, không vỡ, không hỏng, nguyên vẹn. Như: Áo lành, bát lành, ngọc lành.

Thánh giáo Thầy có câu: Ôi! Thầy sanh ra các con thì phải yêu trọng các con chẳng cùng, mà Thầy cho các con đến thế giới nầy với một Thánh thể thiêng liêng, y như hình ảnh của Thầy, không ăn mà sống, không mặc mà lành, các con lại không chịu, nghe điều cám dỗ, mê luyến hồng trần, ăn cho phải bị đọa, dâm cho phải bị đày, nên chịu nạn áo cơm, dục quyền cầu lợi.

Ngọc lành đáng giá biết bao lăm,

Ðể mẻ thì ai chẳng tiếc thầm.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nhàn trung kiểm điểm sự bình sanh,

Gương bể chưa ai kết đặng lành.

(Đạo Sử).

 

 

LÀNH DỮ

Lành: Thiện, hiền, tốt. Dữ: Hung tợn, dữ, người hay gây việc ác.

Lành dữ là điều thiện hay điều ác, hoặc việc tốt hay việc xấu.

Trên đời chỉ có hai đường để đi: Lành dữ, tốt xấu để cho con người tuỳ ý chọn lựa, song muốn con người có tư cách, phẩm hạnh tốt thì phải thi hành theo việc lành, lẽ phải, hay lẽ đạo đức.

Thánh giáo Đức Quan Âm Như Lai có câu: Ta phải mở lòng bác ái, thương xuống đến các vật yếu hèn, một là tránh khỏi sa vào luật quả báo, vì luật Thiên điều chẳng hề vị ai. Tuy mắt thịt không bao giờ thấy được, chớ kỳ thiệt, một mảy lành dữ không qua được.

Lành dữ hai đường vừa ý chọn,

Lành như tòng, dữ tợ hoa tươi.

(Giới Tâm Kinh).

Nhà nên cũng tại gái lòng lành,

Lành dữ khuyên ai chớ cạnh tranh.

(Đạo Sử).

 

 

LÀNH DỮ NƠI MÌNH CHIÊU PHƯỚC HOẠ

Lành dữ nơi mình: Việc lành, việc dữ là do tự nơi mình gây ra. Chiêu phước hoạ 招 禍 福: Rước lấy hoạ hay phước.

Lành dữ nơi minh chiêu phước hoạ, bởi trong Tả Truyện có câu: Hoạ phước vô môn duy nhân tự triệu 禍 福 無 門, 惟 人 自 召, nghĩa là việc hoạ, việc phước không có cửa, chính do người vời nó đến.

Lành dữ nơi mình chiêu phước hoạ ý nói lành dữ mà mình nhận được là do mình tự rước nó đến mà thôi.

Lành dữ nơi mình chiêu phước hoạ,

Thành tâm ắt thấy hết thần minh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

LÀNH MẠNH

Lành: Không bịnh, tốt, không có khả năng hại đến người, vật. Mạnh: Có sức lực, không đau ốm.

Lành mạnh là ở trạng thái không có bệnh tật.

Lành mạnh còn có nghĩa là không có những mặt, những biểu hiện xấu.

Trong Thiên Đạo, hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có viết: Lại như những người trường trai rủi lâm bịnh hoạn mà lương y buộc phải dùng sữa và trứng thì cũng nên tạm dùng trong lúc bịnh, đợi lành mạnh sẽ thôi, chẳng nên quá câu chấp mà hại thân.

Vẫn gánh non sông đến tuổi già,

Đơn tâm lành mạnh thế tài ba.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

LÀNH PHƯỚC

Hay “Lành phúc”.

Lành: Hiền lành, tốt. Phước (phúc): Phước đức, tức điều hay, điều tốt.

Lành phước, như chữ “Phước lành”, là điều lành và điều phước.

Lành phước ý muốn nói hễ làm lành thì hưởng phước, do câu nói của Đức Khổng Tử: Vi thiện giả thiên báo chi dĩ phúc, 為 善 者 天 報 之 以 福, nghĩa là người làm việc lành thì Trời ban phước đức.

Như nhiên lành phước dữ tai ương,

Một trả một vay cũng lẽ thường.

(Đạo Sử).

 

 

LÀNH SIÊU DỮ ĐOẠ

Lành siêu: Làm lành được siêu thăng. Dữ đoạ: Làm dữ bị đoạ.

Chơn linh siêu đoạ là do nơi hành vi thiện ác của người ấy trên thế gian, nếu người ấy mãn kiếp làm việc lành thì sẽ được siêu thăng thoát hoá, nếu người ấy làm điều hung dữ thì sẽ bị đoạ vào cõi Âm Quang, đó gọi là “Lành siêu dữ đoạ”.

Hoá công xem xét đền bồi,

Lành siêu dữ đoạ thêm nhồi tội căn.

(Kinh Sám Hối).

 

 

LÀNH THĂNG DỮ ĐOẠ

Lành thăng: Làm lành được siêu thăng. Dữ đoạ: Làm dữ bị đoạ.

Lành thăng dữ đoạ, đồng nghĩa với “Lành siêu dữ đoạ”, nghĩa là làm lành thì được siêu thăng làm dữ thì bị đoạ lạc.

Xem: Lành siêu dữ đoạ.

Nghĩa là phải tương đắc cùng nhau đặng định quyết phép công bình lành thăng dữ đoạ.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

LÀNH VAY TRẢ

Lành: Điều thiện, điều tốt. Vay trả: Hễ có vay (mượn) thì phải có trả.

Lành vay trả tức là làm lành quả báo điều lành.

Sách Nho có câu: Vi thiện giả thiên báo chi dĩ phúc 為 善 者 天 報 之 以 福, nghĩa là người làm lành thì trời sẽ ban cho điều phước.

Hoặc: Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo 善 有 善 報, 惡 有 惡 報, nghĩa là lành có lành báo, dữ có dữ báo.

Như vậy, hễ chúng ta làm việc lành thì sẽ được báo trả điều thiện, tức lành vay trả.

Làm lành sau cũng lành vay trả,

Chác dữ âu hay dữ vốn lời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

LẢNH LÓT

Lảnh: Như lanh lảnh, âm thanh cao, trong và vang, phát ra với giọng gắt.

Lảnh lót là nói về âm thanh có giọng cao, trong và âm vang xa. Như: Tiếng ca lảnh lót, chim kêu lảnh lót.

Đại Thừa Chơn Giáo có câu: Tai nghe giọng phù trầm, lảnh lót thanh tao mà lòng không vọng động. Mắt thấy việc lạ lùng, xinh đẹp, tốt tươi mà ý chẳng say mê.

Cảnh trí dập dìu bầy én luyện,

Rừng thiêng lảnh lót tiếng oanh vàng.

(Thơ Thượng Cảnh Thanh).

 

 

LÃNH

1.- Lãnh là lĩnh, hàng dệt bằng tơ nõn, mặt bóng mịn, các sợi dọc phủ kín sợi ngang nên nhìn rất bóng và mịn.

Như: Người sang thì quần hàng áo lãnh, quần lãnh đen bóng mượt.

Hễ họ muốn hay so hay sánh,

Mình lại thường khoe lãnh, khoe hàng.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Lãnh , còn đọc “Lĩnh”, là nhận lấy. Như: Lãnh lịnh, lãnh ý, lãnh tiền, lãnh lương.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy ước sao các con biết tự lập thì Thầy mới vui lòng, chớ các con nhập môn cho đông, lãnh Thiên phong cho nhiều mà không đủ tư cách thì các con phải tự hỏi mình coi có bổ ích vào đâu chăng?

Lãnh chức Lễ Sanh lo phận sự,

Ngày sau chức trọng sẽ dành ban.

(Đạo Sử).

3.- Lãnh là lạnh, có nhiệt độ thấp, trái với nóng.

Như: Anh ta đối xử người khác hết sức lãnh đạm, bị đày vào lãnh cung.

Nay tuyết đóng song hồ động lãnh,

Đành cửa không gởi mảnh tâm hồn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

LÃNH CUNG

冷 宮

Lãnh: Lạnh lẽo. Cung: Cung điện, nơi vua ở.

Lãnh cung là một cái cung mà vua không bao giờ đi đến, nên nơi đó vắng vẻ, lạnh lẽo.

Lãnh cung dùng để chỉ nơi ở của các vị phi, tần bị vua ghét bỏ, hoặc nơi đó dùng để giam lỏng các cung phi phạm tội.

Như: Cung phi có tội bị đày vào lãnh cung.

Còn con ô thước bắc cầu,

Mất con là cửa vô lầu lãnh cung.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Đường về, bỗng sáng hôm sau,

Chiếu theo gọi bắt giam vào lãnh cung.

(Phù Kiều Hận Sử).

 

 

LÃNH ĐẠM

冷 淡

Lãnh: Lạnh lẽo. Đạm: Lạt, trái với nồng.

Lãnh đạm là lạnh lùng và lạt lẽo, ý chỉ không có biểu hiện tình cảm, tỏ ra không muốn quan tâm đến.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Ðức Lão Tử thì coi thường mọi việc thế tình, cho công danh phú quý là phù vân, nên chủ trương cái thái độ hờ hững lãnh đạm với ngoại giới.

Cặp liễn tang còn câu long ám,

Hạc quy hồi lãnh đạm trần ai.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Khoe nét huy hoàng, khoe nét mới,

Biết ai lãnh đạm, biết ai màng?!

(Thơ Hoài Tân).

 

 

LÃNH ĐẠO

Hay “Lĩnh đạo”.

Lãnh (lĩnh): Nhận lấy, thống suất cả. Đạo: Đem đường, mở lối.

Lãnh đạo, như chữ “Lĩnh đạo 領 導”, là dẫn đường, dìu dắt, tức đề ra chủ trương, đường lối và tổ chức, động viên thực hiện.

Thánh giáo Đức Cao Thượng Phẩm giáng cơ dạy cho nữ phái có câu: Chỉ ở trong cửa Đạo Cao Đài mới đào tạo và lãnh đạo phong trào nữ phái được thuần tuý và chánh đáng mà thôi.

Thọ mệnh... lo tròn vai lãnh đạo,

Xây nền phổ độ lắm gian lao.

(Thơ Huệ Ngàn).

Thoát trần vẹn để gương từ ái,

Lãnh đạo năng gìn thuyết vị tha.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

LÃNH HỘI

Hay “Lĩnh hội”.

Lãnh (lĩnh): Nhận lấy. Hội: Hiểu.

Lãnh hội, như chữ “Lĩnh hội 領 會”, là nhận được và hiểu thấu, tức tiếp thu và hiểu rõ một cách thấu đáo.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Một chơn linh cao trọng tự nhiên có một chơn thần cao trọng, bởi cả hai vẫn đi đôi đồng đường với nhau, cùng tấn triển trong con đường Thánh đức của Chí Tôn, cả hai có liên quan mật thiết, nên hễ chừng nào đạt pháp đặng có đủ quyền năng định vận mạng, nghĩa là nó đã tấn tới đúng mức rồi, dầu quyền của Ngọc Hư Cung cũng không còn lãnh hội nó nữa, quyền tự chủ đã đạt đặng như các cơ quan hiển vi tấn triển tới mục đích tới giới định hiển nhiên ta thấy nơi mặt thế đây vậy.

Nếu biết là sự học hỏi không có phạm vi giới hạn, trí huệ càng mở mang thì sự học càng tiến thêm mãi và nếu được lãnh hội mau chóng là nhờ có suy nghĩ nhiều.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

LÃNH LỊNH

Hay “Lĩnh lệnh”.

Lãnh (lĩnh): Nhận lấy cái được ban cho, phát cho. Lịnh (lệnh): Điều cấp trên truyền xuống cấp dưới phải thi hành.

Lãnh lịnh, như chữ “Lĩnh lệnh 領 令”, là nhận lấy mệnh lệnh.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Những đạo hữu nào không vì hạnh đức mà chung hiệp nhau lo hành Chánh giáo, thì đã có Thần, Thánh lãnh lịnh biên ghi vào Sổ Công Quả, đợi ngày chung quy đặng đem vào cân Thiên điều mà phán đoán.

Một chức giáo dân tua lãnh lịnh,

Làm cho đời tệ hoá ra hay.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

LÃNH MẠNG

Hay “Lĩnh mệnh”.

Lãnh (lĩnh): Quản lý, nhận lấy. Mạng (mệnh): Lịnh của cấp trên.

Lãnh mạng, như chữ “Lĩnh mệnh 領 命”, là nhận lãnh mạng lịnh của cấp trên truyền xuống.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy: Trước khi lãnh mạng Tam Giáo Toà xuống chịu mình với chúng sanh lúc Tam Kỳ Phổ Ðộ nầy, đều có cam đoan hứa làm tròn phận sự.

Ðạo Thánh mở phú một tay truyền bá,

Lãnh mạng Trời bố hoá khắp hoàn cầu.

(Văn Tế Thượng Phẩm).

 

 

LÃNH NOÃN

冷 暖

Lãnh (lĩnh): Lạnh. Noãn: Ấm.

Lãnh noãn là lạnh và ấm, ý chỉ lòng người thay đổi như thời tiết khi lạnh lúc nồng.

Tình lãnh noãn lạ lùng thay,

Càng lắm gần nhau lắm dể mày.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

LÃNH TỤ

Hay “Lĩnh tụ”.

Lãnh (Lĩnh): Cổ áo. Tụ: Tay áo.

Lãnh tụ, như chữ “Lĩnh tụ 領 袖”, là cổ áo và tay áo, là hai bộ phận quan trọng nhứt của chiếc áo, được dùng để ví với “Lãnh tụ” là người đứng đầu một đoàn thể hay một đảng phái.

Như: Ông ấy là lãnh tụ của phong trào.

Vậy có câu: “Dĩ đức phục nhơn” lập hoà bình bằng nhơn đức, mà chính các vị lãnh tụ không thật hành được mảy may nào cả...

(Thánh Giáo Thượng Phẩm).

 

 

LÃNH THẤT

冷 室

Lãnh: Lạnh, lạnh lẽo. Thất: Cái nhà.

Lãnh thất là ngôi nhà lạnh lẽo.

Sớm tối thừa nhàn nơi lãnh thất,

Năm cung thường trỗi giọng Hồ cầm.

(Thơ Bảo Văn Pháp Quân).

 

 

LÃNH THỔ

Hay “Lĩnh thổ”.

Lãnh (lĩnh): Trông coi tất cả. Thổ: Đất đai.

Lãnh thổ, như chữ “Lĩnh thổ 領 土”, là đất đai do một quốc gia trông coi tất cả, tức là đất thuộc quyền của một quốc gia.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Cái nạn qua phân lãnh thổ, Bần Đạo nói sẽ làm cho nhơn loại đau khổ và nguy hiểm không thể tưởng tượng vì năng lực tàn phá của võ khí tối tân nhứt là bom nguyên tử.

Tạo oán đồng bào giành lãnh thổ,

Gây thù huynh đệ hại quê hương.

(Thượng Trí Thanh).

Dư đồ xẻ nửa buồn pha hận,

Lãnh thổ chia đôi sử thúc trang.

(Thơ Thượng Tuy Thanh).

 

 

LẠNH

Lạnh là không có hơi nóng, tức có nhiệt độ thấp hơn so với mức được coi là trung bình.

Như: Trời lạnh, tay lạnh cóng, không khí lạnh tràn về, bị cảm lạnh.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ấy là hình tướng thiên nhiên của tạo đoan, nên Chí Tôn nói có Âm ắt có Dương, có nóng ắt có lạnh.

Ngồi ngai biết phận ấy ngồi chông,

Giữa tuyết lạnh đông buộc tưởng nồng.

(Đạo Sử).

Mơ hồn hồ điệp đêm trăng lạnh,

Thương cái dã tràng bãi cát xây.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

LẠNH LẼO

Lạnh: Thiếu hơi ấm, có nhiệt độ thấp hơn trung bình, tỏ ra không chút tình cảm trong quan hệ với người.

Lạnh lẽo là rất lạnh, làm cho con người cảm giác muốn run.

Lạnh lẽo còn có nghĩa là tỏ ra không chút tình cảm, trong quan hệ đối xử. Như: Thái độ lạnh lẽo.

Áo trâu đắp đông sương lạnh lẽo,

Cửa hấp gà mở nẻo tiễn phu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Lạnh lẽo đã từng ở cảnh Thiên,

Trần gian âu rửa thử ưu phiền.

(Đoàn Thị Điểm Giáng).

 

 

LẠNH LÙNG

Lạnh: Có cảm giác lạnh, tỏ ra không chút tình cảm trong quan hệ với người.

Lạnh lùng là lạnh, làm tác động mạnh đến tâm hồn hay tình cảm.

Lạnh lùng còn có nghĩa là tỏ ra thiếu hẳn tình cảm trong quan hệ tiếp xúc với người, với việc.

Thấy cơn tử biệt não nùng,

Hương thề tắt ngọn lạnh lùng tơ duyên.

(Kinh Thế Đạo).

Chừ sao chăn chiếu lạnh lùng,

Phím loan nín bặt, tranh tòng đứt dây.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Cuộc thế lạnh lùng làn gió lọt,

Ðường đời ngán ngẩm bụi trần lồng.

(Thơ Quý Cao).

 

 

LẠNH NỒNG

Lạnh: Có nhiệt độ thấp, gây cảm giác khó chịu. Nồng: Nóng ẩm, lặng gió, cảm giác ngột ngạt.

Lạnh nồng, bởi chữ “Hàn ôn 寒 溫”, là lạnh và ấm, ý chỉ thăm hỏi về sức khoẻ, tức có sự quan tâm với nhau.

Khi tối sớm lạnh nồng có kẻ,

Thân mật con đặng dễ giữ con.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

LẠNH NGẮT

Lạnh: Có nhiệt độ thấp, gây cảm giác khó chịu. Ngắt: Từ dùng để chỉ một tính chất có cảm giác không ưa thích.

Lạnh ngắt là lạnh đến mức có cảm giác như không có một chút hơi ấm nào hết. Như: Bàn tay lạnh ngắt.

Trong Thuyết Đạo Hộ Pháp nói về Bà Lâm Hương Thanh có câu: Hay là Đạo của Phật Thích Ca và công nghiệp của Bà Nữ Đầu Sư bị có cơn mưa rồi lạnh ngắt, đã lạnh trước rồi bị trận mưa nữa nó lạnh luôn.

Khi để bước phòng đào lạnh ngắt,

Mảnh tàn y dường nhắc nghi dung.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

LẠNH TANH

Lạnh: Có nhiệt độ thấp hơn nhiều so với mức trung bình gây cảm giác khó chịu.

Lạnh tanh là rất lạnh lẽo, không thấy có một chút hơi ấm nào cả, hoặc không thấy có một bóng người hết.

Như: Ngôi nhà lạnh tanh, không có bóng người.

Thương người đeo thảm chác phiền,

Nỗi duyên lỡ dở hương nguyền lạnh tanh.

(Thất Nương Giáng Bút).

Còn ta luống những đoạn trường,

Gối chăn tê tái, chiếu giường lạnh tanh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

LAO

1.- Lao là khó nhọc. Như: Lao động, lao khổ, lao tâm, lao lực, công lao, cù lao.

Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy: Thầy biết có những chơn linh, vì lãnh mạng tá phàm, mà dìu dắt các con của Thầy, nên chẳng nại công lao khó nhọc, yêu cầu cùng Tam Giáo nới tay cho Thầy cứu rỗi các con.

Cơn nghèo khó chia lao sớt nhọc,

Cuộc tử sanh kết tóc chẳng rời.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Lao là nhà giam, nhà ngục, khám nhốt tù tội. Như: Lao lý, nhốt vào lao.

Thánh giáo Thầy có câu: Than ôi! Ðiều vui sướng lao trần chẳng ai buộc mà nhiều kẻ tìm tới, mối đạo đức trau thân là phương châm thoát tục mà lắm kẻ trốn lánh, bài bác mối Ðạo Trời, khua môi uốn lưỡi, mà tưởng cho mình hơn đặng các phẩm nhơn sanh, chớ chẳng dè là một hình phạt rất nặng nề đã chực chúng nó nơi chốn A Tỳ.

Ðai cân đã có vẻ chi chưa,

Hay phận tù lao kiếp sống thừa.

(Đạo Sử).

Phải thường viếng tù lao nơi khám,

Mà khuyên lơn kẻ phạm răn mình.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LAO CÔNG HẠN MÃ

勞 功 汗 馬

Lao công: Công lao khó nhọc. Hạn (hãn) mã: Ngựa đổ mồ hôi, ý chỉ nhọc nhằn vì đánh giặc nơi chiến trường.

Lao công hạn (hãn) là nói công lao cực nhọc của các tướng sĩ ra dẹp giặc nơi chiến trường.

Nào tật đố hiền tài, hữu thỉ vô chung, nghe lời sàm tấu, giết người lao công hạn mã...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

LAO ĐAO

Lao đao là choáng váng vì mệt nhọc.

Lao đao còn có nghĩa là lận đận, vất vả vì gặp phải mạng vận khổ cực.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Thầy có câu: Thầy đã cho hay trước rằng: Thầy thương bấy nhiêu thì cũng cho chư Tiên, chư Thánh thử bấy nhiêu, chịu khổ tâm, song đạo hạnh gìn tròn, còn trái lại ham sung sướng trong một thời gian ngắn ngủi, đến khi hưởng tận, thân phải chịu khổ não lao đao.

Ghe phen cửa rách hiên nhà lủng,

Không quản lao đao giữ tiếng lành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Phàm thân thương kẻ lắm lao đao,

Bởi kiếp tiền khiên trả chớ sao.

(Đạo Sử).

 

 

LAO ĐỘNG

勞 動

Lao: Khó nhọc. Động: Hoạt động.

Lao động là lấy sức lực đem ra làm việc. Lao động còn có nghĩa là người làm thuê cho nhà tư bản.

Thánh giáo Thầy dạy về “Bất tửu nhục” có câu: Như rượu vào tỳ vị, nó chạy vào ngũ tạng lục phủ hết, thì trái tim con người chẳng khác nào như cái máy chánh để trữ sự sống, cũng phải bị thâm nhập vào làm cho sự lao động quá chừng đỗi thiên nhiên đã định, thôi thúc huyết mạch phải vận động một cách vô chừng, mà làm cho sanh khí nơi phổi chẳng đủ ngày giờ nhuận huyết tinh sạch cho đặng.

Hồn trí ngao du trên đảnh núi,

Xác linh lao động cuối đầu triền.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

LAO KHỔ

勞 苦

Lao: Nhọc mệt. Khổ: Lo lắng, cực nhọc.

Lao khổ là nhọc mệt lo lắng.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Vì cớ cho nên mỗi đứa chúng ta, dầu lao khổ, truân chuyên, dầu nhiều phen bị khảo đảo khổ hạnh, mà dường như tinh thần ta thấy khoái lạc hơn nữa, là tại sao vậy? Tại ta biết rằng sự khảo đảo hình xác nầy không phương gì mà động chạm đến phạm vi đại nghiệp của ta kia đặng, bất quá là bóng dáng mà thôi...

Cõi trần trung giái thinh thinh,

Phàm gian lao khổ đao binh tai nàn.

(Xưng Tụng Công Đức).

Dưỡng nuôi lao khổ đắng cay,

Lửa hương chỉn ước có ngày nối xa.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

LAO KHỔ PHẬN

勞 苦 分

Lao khổ: Vất vả, cực nhọc. Phận: Phần trời định cho mỗi người.

Lao khổ phận, như chữ “Khổ phận 苦 分”, là cái số phần khó nhọc vất vả, tức là cái số phận do Trời định phải chịu nhọc nhằn, khổ sở.

Xem: Khổ phận.

Thạnh bỏ suy đương lao khổ phận,

Cũng như Bạch Khỉ đến hôn mê.

(Thánh Thi Hiệp tuyển).

 

 

LAO LÝ

牢 裏

Lao: Nhà giam, nhà ngục. Lý: Chỗ, nơi, trong.

Lao lý là chỉ nơi giam cầm, đồng nghĩa với Lao lung.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy: Từ khai Thiên lập Ðịa, Thầy cũng vì yêu mến các con mà trải bao nhiêu điều khổ hạnh, mấy lần lao lý, mấy lúc vang mày, nuôi nấng các con hầu lập nền Ðạo, cũng tưởng cho các con lấy đó làm đuốc soi mình đặng cải tà quy chánh.

Nhìn thấy trẻ trong vòng lao lý,

Muốn các con một ý một lòng.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Thầy còn đang chịu cơn lao lý,

Tớ lại màng chi phận thảm sầu.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

LAO LUNG

牢 籠

Lao: Chuồng nuôi thú, nhà ngục. Lung: Cái lồng nhốt súc vật.

Lao lung là cái chuồng và cái lồng để nhốt súc vật. Nghĩa bóng chỉ sự giam cầm tù tội, sự mất tự do.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Nếu trong nước mà cầu lợi như thế, thì bá tánh phải chịu lao lung, muôn dân đồ thán, trong nước thế nào bình trị được?

Thượng Hoàng sánh đức Chí Công,

Mặc phò lê thứ khỏi vòng lao lung.

(Kinh Thế Đạo).

Ghe phen cửa rách hiên nhà lủng,

Chẳng quản lao lung giữ tiếng lành.

(Đạo Sử).

Trong đục hỏi lòng, lòng khá gội,

Chờ ngày lánh gót thoát lao lung.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

LAO LỰC

勞 力

Lao: Nhọc mệt. Lực: Sức lực.

Lao lực là sức chịu sự mệt nhọc.

Thánh Giáo Thầy có câu: Có nhiễm trần, có lăn lóc mơi sương chiều gió, có kim mã ngọc đàng, có đai cân rực rỡ, có lấn lướt tranh đua, có ích kỷ hại nhân, có vui vẻ với mùi đỉnh chung lao lực, mới thấy đặng tỏ rõ bước đời gai chông khốn đốn, mới thấy cuộc nhục vinh, buồn vui không mấy chốc, chẳng qua là trả vay vay trả đồng cân, chung cuộc lại thì mối trái oan còn nắm, mà cũng vì đó mới thấy đặng đường hạnh đức trau mình, trò đời chẳng qua một giấc huỳnh lương.

Lao lực thế tình chi xạo xự,

Rửa tai chờ lóng nhạc năm cung.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chưa thành tua gắng chút công lao,

Lao lực đem nhau cảnh tịnh vào.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

LAO NHAO

Lao nhao là đông đúc, ồn ào lên tiếng cùng một lúc, gây sự lộn xộn, mất trật tự.

Như: Mọi người cười nói lao nhao.

Thánh giáo Đức Quan Âm Như Lai có câu: Trước khác, nay thì khác, đã mang Thiên mạng nơi mình, phải so quyền liệu sức mà hành chánh, cả chúng sanh đương lao nhao lố nhố trông cậy nơi chư hiền hữu, phải làm sao cho xứng phận thì làm.

Thầy cũng buồn lòng mà thấy bầy con lao nhao lố nhố lặn hụp chìm đắm giữa cõi hư sanh nầy.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

LAO NHỌC

Lao: Khó nhọc. Nhọc: Mệt.

Lao nhọc là lao khổ và nhọc mệt.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Chức sắc đã hiến thân cho Đạo, quyết xả thân để phụng sự nhơn loại thì bản thân không còn là của mình nữa, phải chết về mặt đời, sống về mặt Đạo, tận tuỵ với nhiệm vụ, không nệ khó khăn lao nhọc thì mới đúng với sự hiến thân của mình.

Gắng chí tu hành đã lắm phen,

Không nề lao nhọc tấm thân hèn.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

LAO RAO

Lao rao là từ mô phỏng âm thanh tiếng gió thổi tương đối mạnh, tạo thành tiếng lào xào qua cành cây kẽ lá.

Ca dao Việt Nam có câu: Gió lao rao tàu cau nhỏng nhảnh, Em thương anh rồi thọ lãnh đôi bông.

Đợi chừng gió bấc thổi lao rao,

Em chắp cánh bay đến nước Tàu.

(Quyền Giáo Tông).

Rúc rắc mưa sa run bất luận,

Lao rao gió thổi rét vô phương.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

LAO TÂM

勞 心

Hay “Lao tâm trí”.

Lao: Nhọc mệt. Tâm: Phần tinh thần, lòng.

Lao tâm là nhọc mệt trong lòng.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Có nghề đòi hỏi sự lao lực, có việc cần nơi sự lao tâm. Lập công quả bằng sự lao tâm hay lao lực đều có giá trị như nhau và đều hướng về chủ đích phụng sự cho Đạo và cho chúng sanh.

Ðã nhiều danh lợi bước đua tranh,

Nhọc xác lao tâm hỏi có thành?

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Gặp cảnh khổ cho con bớt khổ,

Dầu lao tâm ấy số tiền căn.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

LAO TÂM TRÍ

智 勞 心

Lao: Nhọc mệt. Tâm trí: Phần tinh thần và trí não.

Lao tâm trí, như chữ “lao tâm 勞 心”, là nói người làm việc quá sức về trí óc gây sự căng thẳng, hay người gặp cảnh lo lắng, buồn rầu.

Như: Anh bị lao tâm trí vì phải lo mẹ già.

Thương đời chẳng quản lao tâm trí,

Tùng vận lòng thành tặng mấy câu.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

LAO TÂM TIÊU TỨ

勞 心 消 思

Lao tâm: Nhọc mệt trong lòng. ý chỉ mệt nhọc về tinh thần. Tiêu tứ: Trí óc hao mòn.

Lao tâm tiêu tứ lòng lo lắng vất vả, trí não hao mòn, ý chỉ nhọc mệt về tinh thần.

Thuyết Đạo Đức Quyền Giáo Tông có câu: Ấy vậy, dầu cho sự xung đột của quyền Ðạo với quyền Ðời thoảng đã làm cho lao tâm tiêu tứ của những trang chấp chánh Ðạo quyền đi nữa, là phương chước tô điểm vẽ vời cho lịch xinh mặt Ðạo.

Thầy mầng cho các con đã chịu lao tâm tiêu tứ mà vun đắp nền Ðạo, làm cho mối tương thân tương ái càng khắng khít vững bền,...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

LAO TÙ

牢 囚

Lao: Nhà giam, nhà ngục, khám nhốt tù tội. Tù: Bị cần hãm một chỗ, không được tự do.

Lao tù là khám, nhà giam, nhà ngục.

Lao tù còn có nghĩa là bị giam hãm trong khám, không được tự do đi lại.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Ví dụ cờ bạc gây ra cái quả thiếu hụt, nợ nần, vì thiếu hụt phải lường gạt hay trộm cắp; trộm cắp gây ra cái quả lao tù.

Chịu trong khám tối mây mù,

Sa chơn vào chỗ lao tù ngàn năm.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

LAO THÂN

勞 身

Lao: Khó nhọc, vất vả, mệt nhọc. Thân: Xác thân, thân mình.

Lao thân ý nói thân thể người gặp hoàn cảnh khổ sở, vất vả mà sinh ra mệt nhọc.

Một đổi lao thân mà đắc Ðạo,

Thương giùm người kiếp trước bơ thờ.

(Đạo Sử).

Mẹ cả đời chịu phận cửi canh,

Cha mãn kiếp lao thân, thuê mướn.

(Phương Tu Đại Đạo).

Lao thân khổ phận là bao nả?

Lỡ bước sa chơn giỏi mặc dầu.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

LAO XÁ

牢 舍

Lao: Chuồng nuôi súc vật, nhà ngục. Xá: Nhà.

Lao xá là nhà giam, tức nơi nhốt những người phạm luật pháp nhà nước.

Giam chức sắc mưu toan đe dọa,

Nhốt môn đồ lao xá Tây Ninh.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

LAO XAO

1.- Lao xao là từ gợi tả những âm thanh, tiếng động nhỏ, rộn lên xen lẫn với nhau không đều.

Như: Tiếng cành lá lao xao ngoài đồng.

Thương trời rạng lao xao cánh nhạn,

Đến đưa tin cửa Hán Chiêu Quân.

(Thất Nương Giáng Bút).

Bầy hồng nhạn lao xao vịnh liễu,

Đám cò ngà bận bịu gành khơi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Lao xao còn có nghĩa là lay động.

Như: Mặt nước hồ gợn lao xao, bức màn ngoài hiên lao xao trước gió.

Chẳng biết tu tâm thân đến thế,

Như ao mắc gió mặt lao xao.

(Đạo Sử).

 

 

LÁO

1.- Láo là hổn, sấc, vô lễ, không kể gì với khuôn phép trong quan hệ đối với người trên.

Như: Kẻ dưới không được láo với người trên, nói láo là mang tội vọng ngữ.

Kẻ biết Ðạo Ðời thì ít mặt,

Những quân xảo láo hiếm phàm phu.

(Đạo Sử).

2.- Láo còn có nghĩa là bậy, không thực.

Như: Đặt điều nói láo, làm láo để kiếm công, làm thì láo báo cáo thì hay.

Đừng ỷ mình trứng mỏng mẹ cha,

Bị đòn bọng thiết tha méc láo.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LÁO TÁO

Láo táo là nghịch ngợm, rắn mắt, có những hành động, cử chỉ biểu hiện sự tinh nghịch, thường dùng để chỉ tính của trẻ nhỏ.

Như: Nó ở nhà thì láo táo ra đường tỏ ra nhu mì, tánh tình thằng bé láo táo khó dạy.

Tánh con nít thì hay láo táo,

Hễ nghe cha chế nhạo nổi hành hung.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LÁO XƯỢC

Láo: Bậy, không thực. Xược: Láo, hỗn hào.

Láo xược là vô lễ, xúc phạm đến người khác.

Như: Thằng đó ăn nói láo xược lắm, hành động nó thách thức láo xược.

Cấm xảo trá láo xược, gạt gẫm người, khoe mình, bày lỗi người,...

(Tân Luật).

 

 

LÃO

1.- Lão là người già, thường chỉ người vào khoảng bảy mươi tuổi trở lên.

Như: Ông lão, bà lão, sống lâu lên lão làng.

Thà đọc sách xưa hiền bảy Lão,

Tại nơi rừng trước hưởng khương bình.

(Đạo Sử).

Từ xanh tóc đến khi ra lão,

Phải cùng nhau hoà hảo cho bền.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Lão là tiếng tự xưng của người già. Như: Con trai lão đã từ trần hôm qua, ngày mai lão sẽ ra đi.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có câu: Nghe dạy: Lão giao luật nầy cho Nhị vị Chưởng Pháp xem xét lại nữa, trong một tháng phải rồi mà giao lại cho Hộ Pháp cầu Lão sửa Luật.

Thổi thẳng cánh buồm thì Lão thủ,

Nâng an lòng bản cậy Thần, Tiên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thử để hỏi tâm, tâm sẽ dạy,

Rằng trong thế giới Lão cao quyền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Lão dùng để chỉ những người thuộc lớp người già trong các ngành nghề, hoặc có hàm ý coi trọng.

Như: Lão nông, lão mục, lão tiều, lão nghệ nhân, các cụ lão ông lão bà.

Thân trâu phải chịu nhọc nhằn,

Ðòn roi lão mục, tiếng dằn thằng chăn.

(Ngụ Đời).

 

 

LÃO BẠNG SINH CHÂU

老 蚌 生 珠

Lão bạng: Con trai già, loài vật sống ở đáy nước có vỏ cứng gồm hai mảnh. Sinh châu: Sanh ra ngọc.

Lão bạng sinh châu là con trai già sinh ra ngọc.

Thành ngữ nầy dùng để chỉ những người tuổi già mới sinh ra con quý.

Xem: Trai già nở châu.

Lão bạng sanh châu” lời mến chúc,

Cảnh già đầm ấm nợ ba sinh.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

LÃO ĐAM

老 聃

Lão Đam là tên thụy của Đức Lão Tử. Ngài họ Lý, tên Nhĩ, tự là Bá Dương làm quan giữ Tàng thất (Kho sách) ở Kinh đô Lạc Dương của nhà Châu.

Về gia thế thì sử sách không có nói đến, nhưng theo truyền thuyết thì nói rằng mẹ của Lão Tử mang thai có đến 80 năm mới sinh ông do hông bên trái dưới cội cây lý. khi ông được sinh ra thì râu tóc dài và bạc trắng, mới gọi ông là Lão Tử. Lão Tử chỉ cây lý mà bảo rằng đó là họ của ông.

Ở tại Lạc Dương phía đông nhà Châu một thời gian lâu, sau thấy nhà Châu suy, nên Lão Tử cỡi trâu đi về hướng tây, khi đi đến cửa ải Hàm Cốc, quan lệnh là Doãn Hỷ. Biết Lão Tử là một Thánh nhân nên quan Doãn tôn ông là Thầy để xin theo học Đạo.

Lão Tử ở lại Hàm Cốc dạy Đạo cho Doãn Hỷ và soạn ra bộ sách nói về Đạo Đức, sách phân làm hai thiên, gồm có trên 5000 chữ. Sau này được gọi là “Đạo Đức Kinh”.

Rồi từ đó, Lão Tử cỡi trâu đi về hướng tây mất dạng, người ta không biết ông đi về đâu.

Theo Kinh Tiên Giáo, Lão Tử là chơn linh của Đức Thái Thượng Đạo Quân hoá sinh ra, là giáo chủ của Đạo Tiên.

Xem: Lão Tử.

Liên đài may nở thêm hoa,

Lão Đam cũng biết, Thích Già cũng quen.

(Kinh Tận Độ).

Kẻ gọi là Nhan, kẻ gọi Tăng,

Lão Đam nghèo khó cũng chưa bằng.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

LÃO GIÁO

老 教

Lão: Chỉ Đức Lão Tử. Giáo: Tôn giáo.

Lão giáo là một tôn giáo thờ Đức Lão Tử làm Giáo chủ, có mục đích tu luyện thành Tiên. Vì thế, Lão giáo còn gọi là Tiên giáo hay Đạo giáo.

Xem: Đạo giáo.

Thay Lão Giáo cầm quyền Nhứt Trấn,

Kiêm Giáo Tông độ dẫn nguyên nhân.

(Cội Đạo Bốn Mùa).

 

 

LÃO LAI

老 萊

Lão Lai, hay “Lão Lai Tử 老 萊 子”, là một trong hai mươi bốn người con hiếu thảo. Ông là người nước Sở đời Xuân Thu, đã quá 70 tuổi hãy còn cha mẹ.

Ông thờ cha mẹ rất có hiếu, không muốn để cha mẹ thấy ông đã già mà lo buồn, ông thường mặc áo sặc sỡ, nhảy múa trước cha mẹ, lại có khi giả bộ té, rồi khóc oà lên, làm như đứa trẻ lên ba vậy. Ý ông là cốt làm cho cha mẹ lúc nào cũng vui vẻ trong lòng.

Lão Lai mặc áo quần như trẻ,

Hát múa cho cha mẹ nôn cười.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

Lão Lai tuổi vào hàng thất thập,

Cha mẹ còn, tràn ngập hiếu ân.

(Báo Ân Từ).

 

 

LÃO LUYỆN

老 煉

Lão: Già, già dặn. Luyện: Rèn, ý chỉ từng trải nhiều lần để nâng cao dần khả năng, kỹ năng.

Lão luyện là từng trải, sành sỏi, tức có nhiều kinh nghiệm, già dặn, thành thạo trong nghề nghiệp hay trong chuyên môn.

Như: Anh ta có tay nghề thuộc hàng lão luyện.

Lão luyện chơn thân huờn chánh giác,

Tổ truyền tâm pháp khả cần phanh.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

LÃO QUÂN

老 君

Lão Quân tức Thái Thượng Lão Quân, là vị tổ của Đạo Giáo, hay Tiên giáo.

Tương truyền, Lý Nhĩ, thuỵ là Đam, tự là Bá Dương, là hậu thân của của Thái Thượng Lão Quân, vì mới sinh ra đã đầu bạc, nên người đương thời mới gọi là Lão Tử.

Kỵ kim quang kiến Lão Quân,

Dựa xe Như Ý oai thần tiễn thăng.

(Kinh Tận Độ).

Lão Quân ứng hoá Tam thanh,

Khuyến răn nhơn vật lòng lành chớ xao.

(Xưng Tụng Công Đức).

 

 

LÃO TÔ

老 蘇

Lão: Ông già. Tô: Họ Tô, chỉ Tô Đông Pha.

Lão Tô tức là ông già họ Tô.

Ở đây muốn nói đến Tô Thức, tự là Tử Chiêm, biệt hiệu là Đông Pha, quán Mi Sơn, tỉnh Tứ Xuyên, người đời Tống. Thân phụ ông là Tô Tuân, em là Tô Triệt, tất cả đều nổi tiếng hay chữ, người đương thời gọi ba người là “Tô gia tam kiệt 蘇 家 三 傑” hay Tam Tô.

Năm 20 tuổi, Tô Thức đậu Tiến sĩ. Lúc Vương An Thạch lên cầm quyền, thi hành cải cách chính trị, Tô Thức công kích biến pháp, nên bị đổi ra đất Hàng Châu, tỉnh Hồ Bắc. Ông làm một cái nhà ở bãi phía đông và lấy biệt hiệu là Đông Pha cư sĩ.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Lão Tô là Tô Ðông Pha, ông Tổ của nòi giống Phù Tang, ai dè ngoài biển có Tô Ðông Pha nghĩa là có sắc dân bên Phù Tang. Ai từng gặp mà gặp là có đa.

Xem: Đông Pha.

Phong Thần đừng tưởng chuyện mờ hồ,

Giữa biển ai từng gặp Lão Tô?

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

LÃO TỬ

老 子

Theo sử ký Tư Mã Thiên, Lão Tử là người nước Sở, huyện khổ, làng Lệ, xóm Khúc nhân, ở tỉnh Hồ Nam bây giờ.

Ông họ Lý, tên là Nhĩ, tự là Bá Dương, thụy là Đam, làm quan giữ Tàng thất (Kho sách) ở Kinh đô Lạc Dương của nhà Châu.

Về gia thế thì sử sách không có nói đến, nhưng theo truyền thuyết thì nói rằng mẹ của Lão Tử mang thai có đến 80 năm mới sinh ông do hông bên trái dưới cội cây lý. khi ông được sinh ra thì râu tóc dài và bạc trắng, mới gọi ông là Lão Tử. Lão Tử chỉ cây lý mà bảo rằng đó là họ của ông.

Ở tại Lạc Dương phía đông nhà Châu một thời gian lâu, sau thấy nhà Châu suy, nên Lão Tử cỡi trâu đi về hướng tây, khi đi đến cửa ải Hàm Cốc, quan lệnh là Doãn Hỷ. Biết Lão Tử là một Thánh nhân nên quan Doãn tôn ông là Thầy để xin theo học Đạo.

Lão Tử ở lại Hàm Cốc dạy Đạo cho Doãn Hỷ và soạn ra bộ sách nói về Đạo Đức, sách phân làm hai thiên, gồm có trên 5000 chữ. Sau này được gọi là “Đạo Đức Kinh”. Rồi từ đó, Lão Tử cỡi trâu đi về hướng tây mất dạng, người ta không biết ông đi về đâu.

Nơi hành lang Báo Ân Từ có vẽ khuôn hình lấy tích “Lão Tử giáng sinh 老 子 降 生”.

Xưa lập Tiên gia xưng Lão Tử,

Buổi truyền Thích Giáo tá Như Lai.

(Thơ Cao Liên Tử).

Lọt lòng mẹ khuya rằm nhị ngoạt,

Dưới cội lý tóc bạc tai dài.

Lão Tử Lý Nhĩ danh Ngài,

Hoá độ Doãn Hỷ đông lai còn truyền.

(Báo Ân Từ).

 

 

LÃO THÀNH

老 成

Lão: Người già. Thành: Nên, nên người.

Lão thành là người tuổi cao, già cả nhưng có nhiều kinh nghiệm và từng trải trong đường đời.

Thánh giáo Thầy dạy Ngài Lê Văn Trung có câu: Con phải cậy hai vị lão thành Minh Ðường hầu trong đặng tiếp lễ Thượng Ðàn, Ngọc Ðàn thì Kinh và Chương, còn Thái Ðàn ngày ấy Thầy lựa.

Tuổi xanh con đặng trí già,

Còn thơ con học hoá ra lão thành.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

LÃO TRANG

老 莊

Lão Trang là Lão Tử và Trang Tử.

Lão Tử, người nước Sở, tỉnh Hồ Bắc, họ Lý tên Nhĩ, tự Bá Dương, còn gọi là Lý Đam. Lão Tử làm quan tới chức Trụ hạ sử,, khi nhà Châu suy, Ngài bỏ chức về soạn bộ Đạo Đức Kinh, cả thảy hơn năm nghìn chữ. Lão Tử là người truyền ba ra Đạo giáo.

Trang Tử tự là Tử Hưu, biệt hiệu là Tất Viên, cũng gọi là Trang Châu, người đời Chiến Quốc, thường giao du với Huệ Tử. Ông là người chịu ảnh hưởng tư tưởng của Lão Tử và Dương Tử, nên có đời sống thanh bạch, ghét danh lợi, chủ trương trở về với tự nhiên.

Trang Tử có một tư tưởng rất lãng mạn, lại là người không màng thế tục, không ham sống cũng chẳng sợ chết, coi cuộc đời như một giấc mộng lớn, chết đi là tỉnh giấc mộng. Ông có soạn ra bộ Nam Hoa Kinh.

Triết lý của Lão và Trang có ảnh hưởng rất lớn đối với văn gia, tư tưởng gia sau nầy. Có thể nói các nhà Nho lỗi lạc như Đào Uyên Minh, Lý Bạch ở Trung Hoa, Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến ở Việt Nam là những người tiêm nhiễm vào tâm hồn về thú say sưa bên chén ruợu cuộc cờ, hay cảnh hưởng nhàn của phong, hoa, tuyết, nguyệt.

Mầm nhân, giống nghĩa gieo rồi gặt,

Co duỗi bốn mùa thú Lão Trang.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

LÁT

Lát chỉ một khoảng thời gian rất ngắn. Như: Lát nữa sẽ đi, làm lát nữa sẽ rồi, đi không mấy lát là trở về.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Chung đỉnh mảng tranh giành, lợi danh thường chác buộc, kiếp phù sanh không mấy lát, đời giả dối chẳng là bao.

Bể hoạn đã từng vinh mấy lát,

Cõi trần chi dễ sống trăm năm.

(Thơ Thái Đến Thanh).

Một kiếp phù sinh không mấy lát,

Thật hành cho vẹn Thích Tiên Nho.

(Thơ Đỗ Quang Hiển).

 

 

LẠT

1.- Lạt, như chữ “Nhạt”, là có hàm lượng đường, muối ít, có độ ngọt, mặn thấp, so với khẩu vị bình thường. Như: Canh nấu lạt, cam lạt, mắm lạt, chén rượu lạt.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có đoạn: Ôi! Hai chữ Quốc Ðạo là một vật mà Bần Ðạo tiềm tàng rồi mới hiểu, khởi điểm biết thương nòi giống, biết thương tổ quốc, đeo đuổi mất còn với cái điều khát khao từ buổi thanh xuân đó vậy. Tự biết khôn dĩ chí gặp Ðạo, năm 35 tuổi, Bần Ðạo thấy sao mà phải khao khát thèm lạt, tại làm sao Chí Tôn biết thiếu thốn nơi tinh thần điều ấy mà cho Bần Ðạo.

Dầu gặp cơn lạt mắm tèm hem,

Phải biết chước biến quyền khi túng tíu.

(Phương Tu Đại Đạo).

Nghèo dầu lễ cưới nhau sơ sịa,

Miếng trầu thô chung rượu lạt cũng nên tình.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Lạt, còn đọc là “Lợt”, là nói cái độ đậm của màu sắc không như màu bình thường mà bị phai dần đi.

Như: Lạt (lợt) phấn phai hương, màu sắc lạt (lợt) bớt.

Chừng cơn phấn lạt hương tàn,

Núm mồ bạc mệnh bên đàng cỏ chôn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

3.- Lạt còn dùng để chỉ những thực phẩm chế biến bằng rau đậu, không dùng thịt, trứng động vật, dành cho người tu hành.

Như: Ngày rằm ăn lạt, tu hành phải chay lạt.

Nhơn đạo rày đã suy vi,

Chay lạt dời đổi còn chi tu hành.

(Thất Nương Giáng Bút).

Chay lạt đặng ngừa lằn khí độc,

Mê man bất tỉnh trận kỳ ba.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

LẠT LẼO

Lạt: Có độ mặn, hoặc ngọt thấp so với khẩu vị, không còn nồng ấm mặn mà.

Lạt lẽo, như chữ “Nhạt nhẽo”, có cảm giác vô vị, buồn chán.

Lạt lẽo còn có nghĩa là không có chút biểu hiện nào của tình cảm.

Đủ hiểu tâm phàm lòng lạt lẽo,

Dư xem bước tục chí cao sâu.

(Quyền Giáo Tông).

 

 

LAU

Lau là dùng khăn chùi cho ráo, cho sạch.

Trong Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Thánh giáo Thầy có dạy: Thầy lau giọt nước mắt mừng lòng tâm Ðạo của các con, vậy các con ôi! Ðạo Thánh ba lượt khai, quỷ mị muôn lần phá, Thầy đau lòng biết mấy!

Nước mắt chưa lau cơn kiếp trái,

Có công phổ độ giải tiền khiên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Lau giọt lệ, giải tai ương,

Chia cơm nhịn muối đỡ đường khó khăn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

LAU THANH TRÁI CHỦ

Lau thanh: Lau sạch. Trái chủ 債 主: Chủ nợ.

Lau thanh trái chủ là rửa sạch những nợ nần oan gia nghiệp báo từ một hay nhiều kiếp trước.

Từ bi hứng giọt nhành dương,

Lau thanh trái chủ, lấp đường nghiệt căn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

LÀU

1.- Làu, hay “Lảu” có nghĩa là đọc thuộc lòng một cách trơn tru, không chút vấp váp.

Như: Tôi thuộc làu Nữ Trung Tùng Phận từ đầu đến cuối, Nó làu thông kinh sử.

Viết thuộc làu với tấm bảng sân,

Mình mới dạy viết lần vô giấy.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Làu ở tình trạng sáng trong, không gợn một vết nhơ hay một chút bẩn nào.

Như: Nước sông sạch làu, hình ảnh làu trong gương, vẻ trinh bạch làu làu một áng.

Làu soi gương hạnh rạng Nam hoa,

Sau trước rồi đây cũng một nhà.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tranh khoe nguyệt rọi làu sông Vị,

Mây toả sương phơi bạc đảnh Tần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

LÀU LÀU

Làu làu là có thể thuộc lòng thật trơn tru, không chút ngập ngừng, vấp váp.

Làu làu còn có nghĩa là sáng rỡ, không chút mây đen, hoặc sạch trơn, không gợn chút bẩn.

Thử sánh ngọn đèn cùng bóng nguyệt,

Gió lay đèn tắt, nguyệt làu làu.

(Giới Tâm Kinh).

Làu làu một tấm tợ đài gương,

Trung, hiếu, tiết, trinh vẹn mọi đường.

(Giới Tâm Kinh).

 

 

LẢU

Lảu. như chữ “Làu”, là thuộc lòng một cách trơn tru, không ngập ngừng, vấp váp.

Như: Lảu thuộc tất cả thi thơ, đọc sách nhiều nên lảu thông kinh sử.

Xem: Làu.

Hễ A, B thuộc lảu tới nơi,

Làm vần ngược vần xuôi ráp lại.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LẢU THUỘC

Lảu (làu): Có thể đọc lại một cách trơn tru, không bị vấp. Thuộc: Ghi nhớ trong trí có thể nhắc lại hay nhận ra dễ dàng và đầy đủ.

Lảu thuộc, như chữ “Thuộc làu”, là thuộc, không vấp không quên từ đầu chí cuối, chỉ sự học hiểu thông suốt.

Nguyện các Đấng đương chầu Bạch Ngọc,

Giúp thông minh lảu thuộc văn từ.

(Kinh Thế Đạo).

Dạy gắng học sử kinh lảu thuộc,

Thấy gương hay trau chuốt lấy thân mình.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LẢU THÔNG

Lảu (làu): Có thể đọc lại một cách trơn tru, không bị vấp. Thông: Hiểu biết thông suốt.

Lảu thông, như chữ “Làu thông”, là hiểu biết một cách thông suốt, không bao giờ quên.

Trong quyển Thiên Đạo, hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có viết: Con đường “Công quả” là dễ đi hơn hết. Người hành đạo không buộc phải thông minh trí thức, không buộc lảu thông kinh điển, miển là chí thành với đạo sẵn lòng phụng sự chúng sanh mà không cầu danh cầu lợi. Chỉ cần có đức tin và kiên tâm trì chí là chắc được đến nơi cứu cánh, khỏi sợ lầm đường lạc nẻo.

Muốn phổ thông chơn Đạo của Thầy, buộc Giáo Hữu phải học cho lảu thông chơn Đạo của Thầy.

(Pháp Chánh Truyền CG).

Ai là bực anh hào quân tử?

Ai lảu thông kinh sử Thánh-Hiền?

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

LẮC LẺO

Lắc: Làm chuyển động qua lại nhiều lần trong khoảng cách ngắn.

Lắc lẻo là chao đảo, nghiêng qua nghiêng lại đều đều và liên tục. Như: Cầu tre lắc lẻo gập ghình khó đi.

Điếu văn của Bà Nữ Đầu Sư đọc trước Liên đài Đức Thượng Sanh có câu: Ðến lúc sau nầy, khi thuyền Ðạo gặp buổi chinh nghiêng, Ðức Hộ Pháp quy Thiên nơi Miên Quốc, nền Ðạo thiếu người lèo lái con thuyền Bát Nhã lắm chịu sóng dập gió dồi bao phen lắc lẻo, nhơn sanh không biết nương nơi đâu tìm cơ giải khổ, thì Ðức Ngài chẳng nệ khổ nhọc nguy nan, tái thủ Ðạo quyền, đưa tay giữ lái con thuyền Ðại Ðạo, lướt qua bao sóng to gió lớn, lần lần đem vào bến vinh quang, dẫn dắt chúng sanh an vui trên nẻo Ðạo cho đến ngày hôm nay đã trót 45 năm dư.

Biển mê lắc lẻo con thuyền,

Chở che khách tục cửu tuyền ngăn sông.

(Tam Nương Giáng Bút).

Đường thế gập ghềnh chí cả,

Thuyền từ lắc lẻo vững tay chèo.

(Văn Tế Quyền Giáo Tông).

 

 

LẮC LỞ

Lắc: Làm chuyển động qua lại nhiều lần trong khoảng cách ngắn.

Lắc lở, như chữ “Lắc lư”, là nghiêng qua nghiêng lại đều đều và liên tục.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Gương sáng đã dồi nên, mà con thuyền Bát Nhã phải tuỳ máy Thiên cơ lắm phen lắc lở, đắm chìm biết bao khách. Ấy là những môn đệ vô phần, đã chẳng giữ nét thanh cao lại mượn thói vạy tà để làm cho bợn nhơ mối Ðạo quý báu của Thầy đã lấy đức háo sanh mà khai hoá.

Dập dồi bể hoạn thương bầy trẻ,

Lắc lở thuyền du hổ phận già.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

LĂM

Lăm là rắp, toan, tức có ý định và sẵn sàng, có dịp là làm ngay.

Nguyễn Đình Chiểu trong Lục Vân Tiên có câu: Chí lăm bắn nhạn vén mây.

Lăm còn có nghĩa là năm, từ dùng để đếm, sau số hàng chục. Như: Mười lăm, hai mươi lăm.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bần Đạo chỉ sợ có một điều là ách nô lệ 80 năm, với một quốc dân hai mươi lăm triệu này chưa có thể chiến thắng đặng, sợ e cho những kẻ quả quyết dùng thuyết duy vật ngoại bang đem vào đây cho nòi giống Việt Nam phải điêu tàn, sẽ trở nên người Mườn, Mán, Mọi hay là Lô Lô chẳng hạn.

Hễ thuộc đặng hăm lăm chữ cái,

Muôn điều chi cũng phải vào vòng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LẮM

Lắm là nhiều, rất, tức có số lượng lớn, nhiều. Như: Lắm của nhiều tiền, lắm lời, lắm con.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Thầy đã lắm nhọc nhằn vì bầy con dại, muốn ra tay tế độ, vớt trọn cả chúng sanh thoát vòng khổ hải, nhưng chúng nó nhiễm luyến đã đầy mùi trần thế, tâm chí chẳng vững bền, thấy khó đã ngã lòng, mới đạp chông toan trở bước.

Chưa rồi nửa kiếp lắm lo lường,

Thấy kẻ lòng thành Lão cũng thương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Phàm thân thương kẻ lắm lao đao,

Bởi kiếp tiền khiên trả chớ sao.

(Đạo Sử).

 

 

LẮM LÚC

Lắm: Có số lượng được đánh giá là lớn, nhiều. Lúc: Thời, buổi.

Lắm lúc, đồng nghĩa với “Lắm phen”, là nhiều lần, nhiều lúc, nhiều phen.

Thánh giáo Thầy có dạy: Thầy đã lắm lúc nhọc nhằn chiều theo thế mà dẫn bước đường, nhưng nhiều đứa dụng thời thế ở trần mà phạm thượng đến Thầy, và dằn thúc chư môn đệ và chư chúng sanh.

Tìm hiền lắm lúc gieo nguồn đạo,

Cải dữ đòi phen cổi mạch sầu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Lắm lúc ngậm ngùi bầy trẻ dại,

Đòi phen nhắc nhở đám con Rồng.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Phép nước đòi cơn mây gió thảm,

Nghiệp nhà lắm lúc nước non sầu.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

LẮM PHEN

Lắm: Có số lượng được đánh giá là lớn, nhiều. Phen: Lần, lượt.

Lắm phen là nhiều phen, nhiều lần, nhiều lượt.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có đoạn: Thầy đã thường nói: Hai đầu cân không song bằng thì tiếng cân chưa đúng lý. Luật công bình thiêng liêng buộc phải vậy. Thầy lắm phen bị mất, bị giựt con cái của Thầy vì chúng nó.

Biết bao Thánh đức tâm hèn,

Trời đã buộc lắm phen cứu độ.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

Lừa lọc lắm phen tìm cảnh quý,

Rộn ràng nhiều buổi kiếm đường mây.

(Đạo Sử).

 

 

LĂN LÍU

Lăn líu có nghĩa là dan díu, có quan hệ yêu đương với nhau thường là không chính thức.

Trong Ca dao Việt nam có câu: Chẳng ưng thì nói buổi đầu, Để chi lăn líu nửa chầu lại thôi.

Lăn líu còn là từ chỉ chim hót, hoặc chỉ sự nói năng huyên thuyên, tỏ vẻ thích, mến nhau.

Ca dao cũng có câu: Chim quyên lăn líu nhành dâu, Đêm nằm thăm thẳm canh thâu nhớ chàng.

Tích phước cho con, Tích hởi con,

Con còn lăn líu lắm nghe con!

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Đầu gành lăn líu chim ca hát,

Kẹt đá ro re suối khảy đờn.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

LĂN LÓC

Lăn: Xông vào, như lăn vào cuộc đời. Lóc: Nhảy.

Lăn lóc là dấn mình vào, lăn lộn khắp mọi nơi.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Có nhiễm trần, có lăn lóc mơi sương chiều gió, có kim mã ngọc đàng, có đai cân rực rỡ, có lấn lướt tranh đua, có ích kỷ hại nhân, có vui vẻ với mùi đỉnh chung lao lực, mới thấy đặng tỏ rõ bước đời gai chông khốn đốn, mới thấy cuộc nhục vinh, buồn vui không mấy chốc, chẳng qua là trả vay vay trả đồng cân, chung cuộc lại thì mối trái oan còn nắm, mà cũng vì đó mới thấy đặng đường hạnh đức trau mình, trò đời chẳng qua một giấc huỳnh lương.

Mới lạ bước trẻ thường sợ khóc,

Nhờ mẹ thương lăn lóc đi theo.

(Phương Tu Đại Đạo).

Đã từng lăn lóc khắp Đông Dương,

Gác tía lầu son bước tới thường.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

LĂN LỘN

Lăn: Di chuyển bằng cách quay vòng toàn khối trên bề mặt, nghĩa bóng: Xông vào. Lộn: Đảo ngược.

Lăn lộn là lăn qua lật lại nhiều lần.

Lăn lộn còn dùng để chỉ lao vào để làm, vật lộn với khó khăn vất vả.

Như: Nằm lăn lộn trên giường, lăn lộn nhiều năm trong nghiệp.

Càn Khôn đặng rạng danh khắp chốn,

Chẳng uổng công lăn lộn cơ đời.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

Vận hành mãi trở day lăn lộn,

Soi sáng cùng chốn chốn nơi nơi.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

LẰN

Lằn là vệt dài in hoặc nổi trên bề mặt một vật do tác động nào đó.

Như: Lằm roi, những lằn chớp nháng trên bầu trời, lằn bụi trên tủ kiếng.

Thánh giáo Bát Nương Diêu Trì Cung có câu: Lằn Âm khí ấy là Diêu Trì Cung chứa để tinh vi vạn vật, tỷ như cái Âm quang của phụ nữ có trứng cho loài người.

Kinh Bạch Ngọc muôn lằn điển chiếu,

Kêu Chơn hồn vịn níu Chơn linh.

(Kinh Tận Độ).

Vẹt ngút mây xanh Trời tỏ rõ,

Quét lằn bụi đỏ thế phui pha.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ác lố rọi tan lằn gió bụi,

Nguyệt lờ soi gượng bước công khanh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

LẰN MƯA ĐẠN

Lằn: Vệt dài in hoặc nổi trên bề mặt một vật do tác động nào đó. Mưa đạn: Đạn bắn ra như mưa.

Lằn mưa đạn là những đường đạn bay ra như mưa, ý nói đạn bay khắp nơi khó mà tránh khỏi.

Như: Nơi chiến trường ai có phước đức mới tránh khỏi lằn mưa đạn.

Mua danh cột buộc lằn mưa đạn,

Chác lợi là phăng mối chỉ sầu.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

 

 

LẶN

1.- Lặn là hụp sâu và di chuyển dưới mặt nước.

Như: Lặn một hơi dài là tới bờ, thợ lặn tìm ngọc trai, chiếc tàu lặn.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Giá trị của nhơn loại thử trong cảnh khổ của họ tìm, Bần Đạo không chối là do sự cố gắng miệt mài của họ, đã đo được bước đường tấn hoá, họ đạt đến thời đại văn minh, thời kỳ nguyên tử lực, họ bay lên Trời được, lặn xuống nước được, họ có thể tiêu diệt trái địa cầu này được.

Ao rộng lớn chứa đầy huyết phẩn,

Xô người vào, lội lặn nhờm thay!

(Kinh Sám Hối).

2.- Lặn, nghĩa rộng là khuất đi, biến đi. Như: Trăng lặn, lặn mất tiêu, mặt trời lặn khuất núi, thỏ lặn ác tà.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Nỗi đau thương bề ấm lạnh, nào tiếng khóc đến câu cười, co duỗi duỗi co, dở bước đến cảnh sầu, thì thấy chẳng lạ chi hơn là mồ hoang cỏ loán, đồng trống sương gieo, thỏ lặn ác tà, khách trần nào ai lánh khỏi.

Rừng chiều ác lặn con trăng lố,

Chậm rãi đường về bước trở thu.

(Đạo Sử).

Nguyệt tà bóng lặn ngã Tây hiên,

Hỏi cớ gì đâu chịu nỗi phiền.

(Đạo Sử).

 

 

LẶN HỤP

Lặn: Lội xuống dưới mặt nước sâu. Hụp: Tự làm cho chìm hẳn đầu xuống dưới mặt nước.

Lặn hụp, như chữ “Lặn ngụp”, là ngoi lên hụp xuống dưới nước sâu để tắm sông, hoặc vì không biết lội.

Lặn hụp còn có nghĩa là làm ăn chật vật, lúc được lúc không, lúc lên lúc xuống.

Thánh giáo Nhàn Âm Đạo Trưởng có dạy: Cũng nơi Thiên tai, ách nước, nhưng rất đau lòng dòm thấy muôn ngàn nhơn loại lặn hụp chới với nơi vực thẳm hang sâu kia, mà con thuyền Bát Nhã cũng còn sóng dập gió dồi, linh đinh trên biển khổ sông mê, khó vớt người bị đắm.

Thầy cũng buồn lòng mà thấy bầy con lao nhao lố nhố lặn hụp chìm đắm giữa cõi hư sanh nầy.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

LẶN LỘI

Lặn: Hụp xuống nước, nghĩa rộng khuất đi, biến đi. Lội: Đi dưới nước.

Lặn lội là làm việc vất vả nơi ruộng đồng sông nước.

Lặn lội còn dùng để chỉ vượt khoảng đường xa, khó khăn vất vả.

Trong Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Sanh ra như cây bá cây tùng, những cây danh mộc, hoặc kỳ hoa dị thảo mới thật có ích trên thế gian, dù ở chốn non cao rừng thẳm cũng có kẻ lặn lội đi tìm, chớ giống cỏ chạ lan mọc bên đường, ví có bị bước tục vầy bừa cũng không ai màng ngó tới.

Cõi trần tục hỡi ai còn lặn lội,

Kíp quày đầu trở lại bến xưa.

(Giác Mê Khải Ngộ).

 

 

LẶN SUỐI TRÈO NON

Lặn suối: Lặn lội qua dòng suối, ý chỉ đi xa xôi vất vả. Trèo non: leo trèo qua non, ý chỉ đường đi thăm thẳm, gian nan.

Lặn suối trèo non là lặn lội qua suối, leo trèo lên non, một thành ngữ dùng để diễn tả đường đi xa xôi, gặp cảnh gian nan vất vả.

Đâu màng lặn suối với trèo non,

Nguyệt rạng trời thu nửa phiến tròn.

(Thơ Cao Liên Tử).

 

 

LĂNG ĐIỆN

陵 殿

Lăng: Mồ mả người quyền quý chết, chỉ mồ mả vua, hay các quan đại thần. Điện: Cung điện.

Lăng điện là nơi điện thờ vua đã mất và nơi chôn cất nhà vua.

Lăng điện phá hoại, Văn miếu bỏ hoang,

Trí quân lánh mặt, hồn nước điêu tàn.

(Ngụ Đời).

 

 

LĂNG LÍU

Lăng líu dùng để chỉ tiếng nói hay giọng hót có nhiều âm thanh cao và trong lẫn vào nhau nghe vui tai.

Lăng líu đồng nghĩa với “Líu lo”.

Như: Chim trên cành lăng líu hót vang, giọng em bé lăng líu suốt ngày.

Đầu gành lăng líu chim ca hát,

Kẹt núi ro re suối học đờn.

(Thơ Hộ Pháp).

Ác lố vầng đông ánh rọi làu,

Chim cành lăng líu giọng thanh tao.

(Thơ Cao Liên Tử).

 

 

LĂNG LOÀN

Lăng: Xúc phạm đến. Loàn: Chống cự lại, làm loạn, làm rối trật tự.

Lăng loàn, do chữ “Lăng loạn 凌 亂”, là không chịu phục tùng ai, chống cự lại một cách hỗn xược.

Như: Dâu lăng loàn với mẹ chồng, thói lăng loàn.

Dầu chồng sanh thói lăng loàn,

Thay đen đổi trắng làm đàng mây mưa.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Người làm phước có khi mắc nạn,

Kẻ lăng loàn đặng mạng giàu sang.

(Kinh Sám Hối).

 

 

LĂNG MIẾU

陵 廟

Lăng: Mồ mả của vua chúa. Miếu: Nơi thờ Thần, hoặc chỉ Tông miếu là nơi thờ các đấng tiền nhân của vua.

Lăng miếu nơi chôn vua, hoặc chỉ nơi chôn và thờ người chết.

Như: Lăng miếu các vịn vua nhà Nguyễn.

Rước voi phá mả đào lăng miếu,

Thả rắn xua ong nhiễu điện tà.

(Đạo Sử).

 

 

LĂNG XĂNG

Lăng xăng là quấn quít, chộn rộn. Lăng xăng còn có nghĩa làm ra vẻ bận rộn, vội vã.

Như: Làm điệu bộ lăng xăng.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Trò đời lăng xăng, cõi thế biết bao người chìm đắm vào biển khổ, mang nặng xác phàm, miếng đỉnh chung, mồi danh lợi, giành giựt phân chia, mà chẳng kể đạo lý, luân thường, khiến cho mối Ðạo quý báu ngàn năm, đã thành nấc thang để dắt người xuống hang sâu vực thẳm.

Gông kềm khảo kẹp lăng xăng,

Hành cho đáng kiếp tội căn đã làm.

(Kinh Sám Hối).

Nực cười kẻ dại lăng xăng múa,

Thánh đức đành đem đổi hận sầu.

(Lý Giáo Tông).

Vòng cương toả buộc ràng danh lợi,

Chốn hý trường lui tới lăng xăng.

(Đại Đạo Truy Nguyên).

 

 

LẮNG

Lắng là để yên cho cặn, bã chìm xuống đáy.

Như: Đánh phèn để lắng nước, để cho bột lắng rồi hãy chắt bỏ nước.

Bổn tâm Thầy ngự người trau hạnh,

Nguyên lý đạo khai nước lắng phèn.

(Thơ Huệ Phong).

2.- Lắng, nghĩa bóng là để tai mà nghe.

Như: Lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha, lắng nghe tiếng gào thét của sóng biển.

Rừng tòng tìm đến lánh cay chua,

Đêm lặng lắng nghe tiếng khánh chùa.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

LẰNG XANH

Lằng: Ruồi, vật nhỏ bay đậu thức ăn, hay chỗ dơ bẩn. Xanh: Màu xanh.

Lằng xanh, như chữ “Thương nhặng 蒼 蠅”, là ruồi xanh, một loại côn trùng bay nhanh, thường có tiếng vang dậy nơi chúng bu đậu, nơi chỗ sình lầy hôi thúi.

Trong Kinh Thi có câu: Thương nhặng chi thanh 蒼 蠅 之 聲, nghĩa là tiếng con ruồi xanh, dùng để ví với kẻ tiểu nhân, ty tiện, có tánh tham lam, nhỏ mọn.

Lằng xanh ưa hửi mùi đồng,

Ham thân nô lệ mến vòng tôi con.

(Ngụ Đời).

 

 

LẲNG LẶNG

Lặng: Ở trạng thái yên tĩnh, không động.

Lẳng lặng là một cách lặng lẽ, không nói một tiếng, không một tiếng động.

Như: Thằng bé lẳng lặng mà bước ra khỏi phòng, vợ tôi cứ ngồi lẳng lặng suy nghĩ.

Dâu ngọc nát châu chìm cũng gắng,

Tổ Đình đang lẳng lặng chờ mong.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

LẶNG

Lặng là ở trạng thái yên, tĩnh, không động, như biển lặng, gió lặng, đêm lặng, nín lặng.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Có vì chúng sanh mà khổ tâm hành đạo, có khó nhọc, có dãi dầu sương mơi nắng xế, mà quên bậc phẩm vô vị ở cõi trần nầy, có vày vã nẻo gai chông lần theo bước đường hạnh đức, mới có ngày vui vẻ bất tận, mới có buổi an hưởng địa vị thiêng liêng, tránh điều phiền não, thoát đoạ luân hồi, mới có lúc rảnh nợ phong trần, nhàn xem sự thế, non cao suối lặng, động mát rừng thanh, là chỗ con lấy đạo đức làm thang để bước lên cho cùng tột.

Công khanh xạo xự cũng vai tuồng,

Ðêm lặng rừng thiền lóng tiếng chuông.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Còn am tự, còn chùa mây,

Mà chàng đâu vắng, chốn nầy lặng trang.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

LẶNG LẼ

Lặng: Ở trạng thái yên tĩnh, không động.

Lặng lẽ là không có tiếng động, hoặc còn dùng để chỉ không lên tiếng.

Trong Thiên Đạo, hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có viết: Bổn tánh của Đạo là hư không lặng lẽ, xem chẳng thấy, lóng chẳng nghe, rờ chẳng đụng, không thể dùng lời nói mà diễn được, hoặc đem sự vật mà so sánh. Đạo hoá sanh trời đất, lưu hành trong võ trụ, tàng ẩn trong muôn vật, cho nên vật nào cũng có phần linh diệu bên trong để điều hoà trưởng dưỡng cho nó.

Dòng là ánh nguyệt chiếu trong veo,

Lặng lẽ thuyền côi lỡ nhịp chèo.

(Bát Nương Giáng Bút).

Mảng vui say khách thảy về nhà,

Riêng lặng lẽ mình ta ngồi đấy.

(Tuý Sơn Vân Mộng).

 

 

LẶNG NƯỚC ÊM THUYỀN

Lặng nước: Nước chảy êm, không xao động. Êm thuyền: Thuyền đi êm ả.

Lặng nước êm thuyền là nước sông chảy một cách yên lặng, thuyền lướt đi êm ả, ý muốn ví với công việc được êm xuôi, trôi chảy.

May gặp cơn lặng nước êm thuyền,

Mình dễ thế giao nguyền cùng thục nữ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LẶNG TRANG

Lặng: Ở vào tình trạng yên tĩnh, không nói năng, cử động gì. Trang: Nghiêm trang.

Lặng trang là im lặng và trang nghiêm.

Lặng trang còn có nghĩa là im phăng phắc, không có một tiếng động nhỏ, tức im lặng hoàn toàn.

Còn am tự, còn chùa mây,

Mà chàng đâu vắng, chốn nầy lặng trang.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

LẮT LẺO

Lắt lẻo là ở trạng thái đung đưa trên cao hoặc dưới nước, do không được cố định chắc vào điểm tựa.

Thí dụ: Con thuyền lắt lẻo, cầu tre lắt lẻo, ngồi lắt lẻo ở trên ngọn cây.

Biển mê lắt lẻo con thuyền,

Chở che khách tục, cửu tuyền ngăn sông.

(Tam Nương Giáng Bút).

Giữa biển khơi lắt lẻo chiếc thuyền con,

Cơn sóng gió liệu cho còn hay để mất.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

LẤC KHẤC

Lấc khấc, như chữ “Lấc cấc”, tỏ ra thiếu lễ độ, vô lễ, hoặc chỉ người có tính tình không bình thường, có dấu hiệu khật khùng.

Như: Anh ấy có tính lấc khấc, gặp thằng lấc khấc đó hơi sức đâu chấp nhứt.

Bần Đạo cũng là còn giữ tật,

Quen ba lơn lấc khấc ghẹo đời.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LẤY

1.- Lấy là cầm, nắm trong tay cái đã sẵn có và đem để ở đâu đó. Như: Lấy tiền trong ví, lấy bút viết thư.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông dạy hai Ngài Hộ Pháp và Thượng Phẩm có câu: Nội trưa nầy phải cắm một cây viết vào đầu cơ, lấy một miếng giấy lớn vào Ðiện phò loan cho Lão vẽ.

Hòn ngọc khó đem trau Thánh chất,

Cân vàng khôn lấy nện chày kình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trần tục là nơi lo lấy của,

Cảnh Tiên là chốn hưởng vinh sang.

(Đạo Sử).

2.- Lấy là dùng cái vốn có hoặc có thể có ở đâu đó để xử dụng. Như: Lấy tài liệu để viết bài, lấy ý kiến, lấy ý riêng phán đoán, lấy chữ ký.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Thầy dặn các con một điều, nhứt nhứt đều đợi lịnh Thầy, chẳng nên lấy tứ riêng mà phán đoán chi hết.

Lánh đường trần tục đến non Tiên,

Lấy nước nhành dương tưới lửa phiền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Lấy là tự mình, chính mình hành động do chủ thể tự làm bằng sức lực khả năng của riêng mình. Như: Tôi làm lấy, giữ gìn lấy mình, tự lo lấy, dặn lấy mình.

Thánh giáo Thầy có câu: Vậy thì các con phải hết lòng hết sức mà gìn giữ lấy mình, đã chẳng phải giữ mình các con mà thôi, lại còn gìn giữ cả môn đệ Thầy nữa.

Mình dặn lấy mình, mình lại biết,

Mặc ai chung hưởng phận cao sang.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thường kỉnh lấy thân thì kỉnh kẻ,

Chẳng ưa nhiều khóc với nhiều cười.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

LẤY KHẢO TRỪ CÔNG

Lấy khảo: Lấy sự khảo đảo. Trừ công: Trừ bớt đi công quả.

Lấy khảo trừ công có nghĩa là thay vì có tội trong kiếp sống trước mà bị khảo đảo cho đau đớn khổ sở ở kiếp sống nầy, nhưng vì lòng thương, Ðức Chí Tôn hay các Đấng thiêng liêng chỉ lấy bớt công quả để trừ tội mà thôi.

Trong trường hợp nầy “Lấy khảo trừ công” đồng nghĩa: “Lấy công chuộc tội”, hay “Tương công chiết tội”.

Thầy lại thương con nên đã lắm phen lấy khảo trừ công cho con trở lại phẩm cũ...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

LẤY NGAO LƯỜNG BIỂN

Lấy: Dùng. Ngao: Hến, loài sống ở bãi cát ven biển. Lường: Đong chẩt lỏng bằng vật đựng. Biển: Bể.

Lấy ngao lường biển là dùng vỏ con ngao để đo lường nước biển.

Như ta biết, vỏ ngao nhỏ, chứa rất ít nước mà nước biển thì mênh mông không bao giờ lường hết được.

Lấy ngao lường biển ý nói làm cái việc mất thời giờ, thất công vô ích.

Ðạo Trời khó dễ lường đo,

Lấy ngao lường biển để cho mãn ngày.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

LẤY THÚNG ÚP VOI

Lấy thúng: Xử dụng cái thúng. Úp voi: Đậy hoặc che khuất con voi.

Lấy thúng úp voi là một câu tục ngữ ví như lấy vật nhỏ mà che đậy vật lớn thì không thể nào kín được, ý nói hành động cố che đậy, bưng bít một cách vô ích, vì việc đã quá lộ liễu.

Làm bên gái mẹ cha nghi bụng,

Sợ khó bề lấy thúng úp voi.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LẪY

Lẫy là dỗi, hờn dỗi. Như: Giận lẫy, nói lẫy.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Đức Chí Tôn có lời dạy: Các con có trách nhậm thắp đuốc dẫn đường cho kẻ u ám, nếu lẫy mà tắt đuốc thì còn dẫn ai nữa. Các con hiểu chăng?

Cha chẳng phép để lòng hờn giận,

lẫy đương bỏ lẫn con hư.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LẪY LỪNG

Lừng: Chỉ tiếng tăm vang xa, ai cũng biết đến.

1.- Lẫy lừng dùng để chỉ mùi thơm hoặc mùi hôi thúi xông lên nồng nặc.

Như: Trong phòng mùi nước hoa lẫy lừng, chiến trường lẫy lừng mùi thuốc súng.

Ao rộng sâu chứa đầy giòi tửa,

Hơi tanh hôi thường bữa lẫy lừng.

(Kinh Sám hối).

2. Lẫy lừng, như chữ “Lừng lẫy”, là nói tiếng tăm (xấu hoặc tốt) vang lên khắp mọi nơi, ai nấy đều biết.

Như: Thi kỳ nầy cô ấy lẫy lừng tên tuổi, tiếng xấu xa lẫy lừng khắp thôn xóm.

Kìa những gái lẫy lừng hạnh xấu,

Bỏ vạc đồng đốt nấu thảm kinh.

(Kinh Sám Hối).

Chí nam nhi dầu đặng lẫy lừng,

Cũng nhờ cậy dưới chân nâng bởi vợ.

(Phương Tu Đại Đạo).

3. Lẫy lừng, còn có nghĩa như chữ “Dữ dội”, hết sức mạnh mẽ, có tác động đáng sợ.

Như: Chí khí anh hùng lẫy lừng trong trận chiến.

Đem chơn chánh phô bày trừ mị,

Nâng niu cho dân khí lẫy lừng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Hễ lẫy lừng làm dữ cho vừa,

Cha mẹ giận không ưa ra để bỏ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LÂM BỊNH

Hay “Lâm bệnh”.

Lâm: Đang lúc, sắp sửa. Bịnh (bệnh): Trạng thái cơ thể hoạt động không bình thường.

Lâm bịnh, như chữ “Lâm bệnh 臨 病”, là mắc bệnh.

Như: Anh ấy mấy tháng nay không đi làm được vì lâm bịnh nặng.

Người người lâm bịnh ngây ngô,

Chúng ta hiệp lại lấp xô khó gì!

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

LÂM CHUNG

臨 終

Lâm: Đang lúc, sắp sửa. Chung: Trọn, chết.

Lâm chung là sắp chết, gần chết.

Khi rước di hài cụ Cường Để, Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Thê thảm thay! Trước nửa giờ lâm chung, Ngài còn rán ngồi dậy nhắn cùng tất cả Thanh Niên Việt Nam hãy cương quyết phục cường cứu quốc, rồi Ngài nằm thiêm thiếp.

Hồi trống Lôi Âm vội điểm thùng,

Báo tin rằng chị sớm lâm chung.

(Thơ Hoàn Nguyên).

Hạc nội reo vang thấu chín trùng,

Mừng Ngài Bảo Pháp buổi lâm chung.

(Thơ Thiện Tâm).

 

 

LÂM DÂM

Lâm dâm, như chữ “Lâm râm”, là từ mô phỏng tiếng nói nhỏ, đều đều, nghe không rõ lời.

Lâm dâm (râm) là chỉ đau ầm ỉ và kéo dài thành cơn.

Lâm dâm (râm) còn dùng để chỉ mưa nhỏ hạt và kéo dài, không thành cơn.

Lòng sở vọng lâm dâm tụng niệm,

Xin giải nàn Nam Thiệm Bộ Châu.

(Xưng Tụng Công Đức).

 

 

LÂM HƯƠNG THANH

林 香 清

Lâm Hương Thanh tức Bà Nữ Đầu Sư Hương Thanh, tên là Lâm Ngọc Thanh, sinh năm Giáp Tuất (1874) tại làng Trung Tín, quận Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

Bà Lâm Ngọc Thanh kết hôn với ông huyện Huỳnh Ngọc Xây, nên người đương thời gọi bà Huyên Xây. Bà là một nghiệp chủ giàu có, tiếng tăm tại Vũng Liêm.

Sau đó, ông huyện Xây chết, bà gá nghĩa với ông Nguyễn Ngọc Thơ là một vị huyện hàm, cũng là một nghiệp chủ lớn ở Sài Gòn. Hai ông bà đều quy y theo Phật, thọ giáo với Hoà Thượng Như Nhãn tại chùa Giác Hải, ở Phú Lâm Chợ Lớn.

Khi Đức Chí Tôn giáng cơ khai nền Đại Đạo, bà Lâm Ngọc Thanh được độ nhập môn vào đạo ngày 6 tháng 6 năm Bính Dần (Dl. 16-7-1926). Từ đó, bà thường xuất tiền bạc giúp đỡ cho Đạo trong buổi sơ khai để có điều kiện hoằng dương mối đạo Trời.

Nhờ hai ông bà Lâm Ngọc Thanh, nên Hoà Thượng Như Nhãn bằng lòng hiến ngôi chùa Từ Lâm Tự ở Gò Kén, Tây Ninh cho đạo Cao Đài để làm Thánh Thất tạm.

Bà Lâm Ngọc Thanh trong đàn cơ ngày 15 tháng 10 năm Bính Dần (Dl. 19-11-1926) được Thiên phong Nữ Giáo Sư, Thánh danh là Hương Thanh. Sau đó trong đàn cơ phong Thánh nữ phái lần thứ I ngày 14 tháng 1 năm Đinh Mão (Dl. 15-2-1927), Đức Chí Tôn giáng cơ thăng lên phẩm Nữ Phối Sư, cầm đầu Nữ phái.

Sau khi Hoà Thượng Như Nhãn đòi chùa Từ Lâm lại, hai ông bà Lâm Hương Thanh cho Hội Thánh mượn số tiền 25.000 đồng để mua thủa đất rừng, rồi khai phá, cất Toà Thánh tạm bằng cây ván.

Ngày mùng 9 tháng 3 năm Kỷ Tỵ (Dl. 16- 4-1929), bà được thăng lên Nữ Chánh Phối Sư, làm Chưởng Quản Nữ Phái.

Bà có công trong việc thay mặt Hội Thánh giao thiệp với chánh quyền Pháp. Những thánh thất nào trước đây bị chánh quyền áp chế đóng cửa, bà liên hệ với chánh quyền đều được mở cửa lại.

Bà quy vị tại quê nhà ở Vũng Liêm vào ngày mùng 8 tháng 4 năm Đinh Sửu (Dl. 17-5-1937), hưởng thọ 64 tuổi. Sau đó trong đàn cơ ngày 25 tháng 4 năm Đinh Sửu (Dl. 3-6-1937) bà được Đức Chí Tôn ân tứ lên phẩm Nữ Đầu Sư.

Về sau Hội Thánh di hài cốt của bà từ Vũng Liêm về Tây Ninh, đặt vào bửu tháp Nữ Đầu Sư xây ở phía Tây Lang Toà Thánh, và tạc tượng của bà ở mặt tiền Đền Thánh, phía Lôi Âm Cổ Đài để nhơn sanh chiêm ngưỡng một bậc đại công với nền Đạo.

Phối Sư chánh vị, Lâm Hương Thanh,

Hộ Pháp truy phong phẩm trọn lành.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

LÂM LY

淋 漓

Lâm: Rải nước lên trên. Ly: Nước Thấm vào đất.

Lâm ly là thấm dần, nước chảy có giọt xuống.

Như: Giọt nước mắt chảy lâm ly.

Lâm ly còn dùng để chỉ thấm thía, buồn thảm, gây thương cảm. Như: Tiếng khóc nghe lâm ly não nuột.

Thương đồng chủng lâm ly giọt ngọc,

Luống vì đời phải nhọc thân mai.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

LÂM NÀN

Lâm: Đang lúc. Nàn (nạn): Tai nạn.

Lâm nàn, như chữ “Lâm nạn 臨 難”, là gặp tai nạn.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Thầy có đoạn: Các con ôi! Các con sầu một, Thầy đây lại thương mười. Thương thương ghét ghét, các con đặng biết, trong khi các con lâm nàn tai ách, các con vì Đạo mà phải buộc ràng tay chân trong quan lại.

Trên thương dưới xét xem kẻ nhỏ,

Lúc lâm nàn chớ bỏ tránh xa.

(Kinh Sám Hối).

 

 

LÂM NGUY

臨 危

Lâm: Đang lúc. Nguy: Hiểm nguy.

Lâm nguy nghĩa là đang lúc nguy hiểm.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có dạy: Phải vui xuân với ý nghĩa thanh bai trong tinh thần đạo đức và trong mặc tưởng hướng về tổ quốc đang lâm nguy và nhơn sanh đang quằn quại khổ đau khắp trên đất nước.

Lâm nguy nguyện vái làm lành,

Tai qua rồi lại dạ đành phụ vong.

(Kinh Sám Hối).

Chẳng vì gót ngọc phân vân,

Mảng lo cho kẻ thế trần lâm nguy.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

LÂM PHÀM

臨 凡

Lâm: Đang xuống. Phàm: Cõi phàm tục.

Lâm phàm là xuống phàm gian, ý nói việc các Đấng Thiêng liêng nơi thượng giới lãnh nhiệm vụ xuống cõi phàm (thế gian) để cứu giúp chúng sanh.

Như: Các Đấng lâm phàm để cứu dân độ thế.

Mấy kiếp lâm phàm mấy kiếp xong,

Vẹn lời nguyện ước đặng thành công.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Cơ Thánh lâm phàm từ giải thể,

Đức Ngài trị loạn chuyển Kim tiên.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

LÂM TOÀN

Lâm: Rừng. Toàn (tuyền): Suối.

Lâm toàn, như chữ “lâm tuyền 林 泉”, là rừng cây và khe suối, là nơi tĩnh mịch, thanh cao, dành làm nơi ẩn dật.

Như: vui thú lâm toàn.

Xem: Lâm tuyền.

Lợi danh chung đỉnh nhộn nhàng,

Rốt cuộc tầm chốn lâm toàn lo tu.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

LÂM TUYỀN

林 泉

Lâm: Rừng. Tuyền: Còn đọc “Toàn”, là suối.

Lâm tuyền là rừng cây và khe suối, chỗ thanh nhàn của bậc trốn đời, nơi trú ngụ của những kẻ ẩn dật, lánh nơi phồn hoa, thành thị.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Nếu không gặp thời thì chịu mai một, sống đời ẩn dật, vui thú lâm tuyền bạn với gió trăng, thi gan cùng tuế nguyệt, chớ không màng đến danh lợi đen tối.

Vun trồng cội Đạo, lấy chí trượng phu,

Trẩy sạch lâm tuyền, dựng toà Thánh Tổ.

(Văn Tế Thượng Phẩm).

 

 

LẤM

Lấm là bị dính dơ vì bùn, đất hay các loại vật gây nhơ bẩn như lọ nồi, dầu nhớt.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Tỷ như hạng gái kia đi ra đường mà có một bệt lọ lấm trên mặt thì nó đã dị hợm khó coi rồi.

Ngôi Tiên đã lấm gót phàm,

Kẻ chăn dân lại ra làm con buôn.

(Ngụ Đời).

Đừng cho nhiễm lấm thân thục nữ,

Chốn phòng the cứ xủ rèm là.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

LẦM

Lầm là làm sai, sai lầm, nghĩ không đúng, lẫn lộn. Như: Hành động lầm, nghe lầm.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có câu: Sự chết, thường thế gian gọi chết là hết, là vì dốt không biết đạo nên tưởng lầm.

Ngọc sáng non Côn đà gặp nẻo,

Lối mòn động Bích chớ lầm đường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cao niên biết tuyển hiền đáng mặt,

Khỏi lầm mưu kẻ giặc phong tình.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

LẦM ĐÀNG

Lầm: Nhận thức không đúng, do sơ ý hay không biết. Đàng (đường): Nẻo, con lộ.

Lầm đàng, như chữ “Lầm đường”, là đi sai đường, hoặc vì lầm lạc mà đi vào con đường sai trái, tội lỗi. Như: Lầm đàng lạc nẻo.

Xem: Lầm đường.

Sĩ mê hoạn lộ sĩ lầm đàng,

Cái bóng dáng đời há phải quan.

(Đạo Sử).

 

 

LẦM ĐƯỜNG

Lầm: Nhận thức không đúng, do sơ ý hay không biết. Đường: Nẻo, con lộ.

Lầm đường là lạc đường, đi không dúng đường.

Lầm đường là vì lầm lạc mà đi vào con đường sai trái, tội lỗi.

Ngọc sáng non Côn đà gặp nẻo,

Lối mòn động Bích chớ lầm đường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thảm cho con dại lầm đường,

Nay Thầy mở Đạo, buồm trương rước về.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

LẦM ĐƯỜNG LẠC NẺO

Lầm đường: Đi vào con đường sai lầm. Lạc nẻo: Lạc bước vào nẻo khác.

Lầm đường lạc nẻo là đi vào con đường lầm lạc, tức là đi vào nẻo đường đầy lỗi lầm do đã không nhận ra sự thật, lẽ phải.

Nói về đức chí thành, Đức Thượng Sanh có dạy: Người hành Ðạo mà thiếu chí thành cũng chẳng khác chi người băng rừng lúc ban đêm mà trong tay không có ngọn đuốc để chỉ đường dẫn hướng, vì chí thành là căn bản của con người thuần tuý. Có cái căn bản đó, người ta mới mong trau dồi hạnh đức chí quyết tự giác nhi giác tha, không thể lầm đường lạc nẻo.

Lầm đường lạc nẻo, bởi vô minh,

Gây tạo oan gia, lắm tội tình.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

LẦM LẠC

Lầm: Làm sai, nghĩ không đúng. Lạc: Lầm.

Lầm lạc là phạm lỗi lầm do không nhận ra lẽ phải. Lầm lạc cũng có nghĩa là lầm đường lạc nẻo.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Thầy đã chỉ rõ hai nẻo Tà Chánh, sang hèn rồi, vậy Thầy cũng chỉ phương hướng cho các con đi cho khỏi lầm lạc.

Xem: Lầm đường lạc nẻo.

Thiệt thiệt hư hư thế lộn hoài,

Từ xưa lầm lạc dễ ai hay.

(Đạo Sử).

 

 

LẦM LỖI

Lầm: Làm sai, nghĩ không đúng. Lỗi: Sai lầm, tội.

Lầm lỗi, như chữ “Lỗi lầm” là làm điều sai lầm.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: Trần là cõi khổ để đoạ bậc Thánh Tiên có lầm lỗi. Ấy là cảnh sầu để trả xong quả, hoặc về ngôi cũ, hoặc trả không xong quả phải mất cả chơn linh là luân hồi.

Xem: Lỗi lầm.

Trai trung hiếu sửa trau ba mối,

Đừng buông lung lầm lỗi năm hằng.

(Kinh Sám Hối).

Từ bỏ lần hồi lầm lỗi trước,

Tự nhiên bể khổ lánh xa vời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

LẦM LỠ

Lầm: Làm sai, nghĩ không đúng. Lỡ: Do sơ suất làm xảy ra điều không hay, phải lấy làm tiếc, làm ân hận.

Lầm lỡ là phạm điều sai lầm do thiếu thận trọng.

Trong Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Thánh giáo Đức Lý Đại Tiên có đoạn: Cây trường tráng mộc, tục gọi là cây trai dầu để trăm ngàn năm đem ra dùng thì nó vẫn còn tươi như khi mới đốn. Người Thổ nhơn gốc con cái nhà Tần, biết Ðạo Phật, chẳng biết Ðạo Nho, một phen lầm lỡ phải đoạ muôn đời.

Dầu lầm lỡ phận anh ở sái,

Cứ chơn thành đừng ngại thọ tội hình.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LẦM LŨI

Lầm lũi là cúi đầu, hay cắm cúi trong im lặng.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Ðứa thì mê tài, đứa thì ham cận sắc, đứa bị biếm vào lối lợi quyền, đứa bị xô vào nơi thất đức. Mỗi đứa mỗi nẻo, đều quăng sạch chất thiêng liêng, lầm lũi đưa tay theo mấy mươi động.

Như: Nó lầm lũi đi, không thèm ngó lại.

Lầm lũi ai đi mình cũng bước,

Mau chơn tới trước chửa chi cao.

(Đạo Sử).

Hít vào thì ngây cuồng mê muội,

Mất trí khôn lầm lũi đường tà.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

LẦM MÊ

Lầm: Nhận thức cái đó ra cái kia, do sơ ý hay không biết. Mê: Say sưa, mãi đắm theo việc gì.

Lầm mê, như chữ “Mê lầm”, là mê muội và lầm lạc. tức phạm lỗi lầm do sự mê muội, không nhận ra được lẽ phải, trái, chánh tà.

Tức thì bờ giác cận kề,

Tức nhiên nghiệp chướng lầm mê chẳng còn.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

LẦM TƯỞNG

Lầm: Do sơ ý hay không biết mà nhận thức sai. Tưởng: Nghĩ và tin chắc.

Lầm tưởng là tưởng, nghĩ một cách sai lầm.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Trong các con có nhiều đứa lầm tưởng, hễ vào Ðạo thì phải phế hết nhơn sự, nên chúng nó ngày đêm mơ tưởng có một điều rất thấp thỏi là vào một chỗ u nhàn mà ẩn thân luyện đạo.

Chớ lầm tưởng trong hang vắng tiếng,

Mà dể duôi sanh biến lăng loàn.

(Kinh Sám Hối).

Thấy đi ngang mắt chẳng dám nhìn,

Sợ lầm tưởng bù nhìn ghê gớm mắt.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LẦM THAN

Lầm: Bùn hay bụi cuộn lên làm đục, làm bẩn. Than: Than nóng.

Lầm than, như chữ “Đồ thán 塗 炭”, là bùn và than nóng, chỉ cảnh bùn lầy than lửa để nói lên nỗi cơ cực, vất vả của người dân trong nước.

Trong Kinh Thư có câu: Hữu hạ hôn đức, dân truỵ đồ thán 有 夏 昏 德, 民 墜 塗 炭, nghĩa là nhà Hữu Hạ đức tối tăm, khiến dân phải rơi vào cảnh bùn than.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Vì vậy mà người hành chánh dầu có tài mà thiếu phần đạo đức thì nước cũng loạn lạc, dân cũng lầm than.

Trị theo đời mà dân chúng vẫn lầm than,

Đó là dìu chúng đến con đàng tự diệt.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

Đời còn lắm lúc lầm than,

Đạo thì lắm lúc hân hoan tinh thần.

(Thơ Hộ Pháp).

An vui sao đặng buổi lầm than,

Nhìn thấy nhơn sanh luỵ ứa tràn.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

LẪM ĐẪM

Lẫm đẫm, như chữ “Lẫm chẫm”, là đi chưa vững, đi bước ngắn và không đều.

Như: Thằng bé bắt đầu đi lẫm đẫm.

Lẫm đẫm còn cùng nghĩa với chữ “Lẩm rẩm”, là thấm thoát, chẳng mấy chốc. Như: Lẫm đẫm mà mình học đã được hai năm rồi.

Như mỏi gối chân đi lẫm đẫm,

Dâu chuyển gân chẩm hẩm dắt dìu.

(Phương Tu Đại Đạo).

Chừng đến lúc biết đi lẫm đẫm,

Có tập đi đừng nắm mạnh tay chơn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LẪM LIỆT

凜 冽

Lẫm: Lạnh lẽo, run sợ. Liệt: Mạnh, hung dữ.

Lẫm liệt nghĩa đen là rất lạnh, nghĩa bóng chỉ người có dáng bộ oai nghiêm, khiến người khác phải sợ sệt mà kính trọng. Như: Oai phong lẫm liệt.

Xem: Oai phong lẫm liệt.

Khói toả chập chờn gương khí phách,

Tượng thờ lẫm liệt nét dung nhan.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

LẬM

Lậm là tích luỹ lâu ngày dần dần thành thói quen, hoặc nặng thêm.

Như: Bệnh lâu ngày đã lậm vào tạng phủ, uống hoài coi chừng lậm thuốc.

Huệ phong nguyệt nhập vào nhung thắm,

Điệu phong ba đã lậm màu trần.

(Lục Nương Giáng Bút).

Bịnh trầm kha lâu ngày đã lậm,

Thuốc tiên hoàn gội tẩm cũng trơ trơ.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

LÂN

1.- Lân là láng giềng, gần.

Như: Nhất cận lân, nhị cận thân, lân cận, lân gia, kết chặt tình lân bang.

Nỗi nhà, nỗi bếp, nỗi lân,

Nỗi trong thân tộc, nỗi gần, nỗi xa.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Nhà tranh xiêu sập cùng lân ấp,

Tường gạch vỡ tan khắp phố phường.

(Thơ Thái Đến Thanh).

2.- Lân cũng đọc là “Liên” có nghĩa là thương xót, thương tiếc.

Như: Lân ái, lân mẫn, lân tuất 憐 恤 (thương xót).

Em mới để dạ lo lường, cả lòng lân ái đến đó.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

3.- Lân còn dùng để chỉ giống thú thuộc về loại tứ linh, mình huơu chân ngựa, đầu có sừng. Tục truyền khi có lân xuất hiện thì có thánh chúa ra đời.

Kìa lóng non Kỳ reo tiếng phụng,

Nầy xem nước Lỗ biến hình lân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

LÂN ÁI

憐 愛

Hay “Liên ái”.

Lân (liên): Thương hại, thương tiếc. Ái: Yêu, thương.

Lân (liên) ái là thương xót, thương tiếc.

Hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh trong quyển Thiên Đạo dẫn lời Đức Chí Tôn có đoạn: Các con đừng thầm tính rằng nên cầu Thầy cùng chư Phật Thánh Tiên mà nghe Thánh giáo dạy bảo cho rõ Thiên Cơ, ấy là ở trong đó, có một cái lẽ Đại hại ẩn vi, nó dìu dắt các con đi sai đường, lạc ngõ. Có phải vậy không các con? Vì cơ bút là cơ quan rất tối cao, tối trọng. Vả lại cơ bút là cơ vận chuyển, theo thời thế mà tấn hoá, dìu dắt các con chung hoà như một sợi dây để buộc đàng liên ái, đúng với luật thiên nhiên đó thôi.

Em mới để dạ lo lường, cả lòng lân ái đến đó. Em đã chán thấy nhiều tội tình chẳng trọng hệ, song có hồn chịu sầu thảm lạ thường.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

LÂN BANG

鄰 邦

Lân: Láng giềng, gần. Bang: Nước.

Lân bang là nước ở bên cạnh đất nước mình, tức là nước láng giềng.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bần Đạo xin nghiêng mình chào các nước lân bang đã có tình thân hữu cho các vị lãnh sự Sứ thần đến dự cuộc lễ này, Bần Đạo xin để lời cảm tạ thâm tình ấy.

Lân bang ghe thuở nhường oai võ,

Dị quốc từng phen xếp giáp mâu.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

LÂN CẬN

鄰 近

Lân: Ở gần, hàng xóm. Cận: Kề nhau, gần.

Lân cận là ở gần, ở bên cạnh.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có dạy: Nam nữ bất thân. Hai bên không lân cận nhau. Nam theo Nam, Nữ theo Nữ. Cấm cười cợt trửng giỡn với nhau.

Khi giao hoan có độ có lường,

Vợ bịnh yếu chớ thường lân cận.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LÂN LA

Lân la là dần dần làm thân, tức tìm cách quan hệ, tiếp xúc, gần gũi để nhằm mục đích của mình.

Như: Lân la đến làm quen.

Trong Truyện Kiều Nguyễn Du có câu: Sớm đào tối mận lân la, Trước còn trăng gió sau ra đá vàng.

Tu thì việc thế bỏ qua,

Tu thì mựa chớ lân la kẻ tà.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

LÂN LÝ

鄰 里

Lân: Láng giềng, lối xóm. Lý: Làng, thôn.

Lân lý là người hàng xóm, láng giềng.

Thánh giáo Đức Quan Âm Bồ Tát có câu: Còn gia đình chẳng hoà thì cha con mích nhau, chồng vợ lìa tan, anh em ly tán. Còn trong lân lý chẳng hoà thì dân cư bất mục. Nước chẳng hoà thì sanh ly loạn. Còn cả thế giới bất hoà thì nhơn loại đấu tranh.

Cùng lân lý, hay thương người thất thủ, hằng ra tay tế độ bạc tiền,

Với mẹ cha, thường để tấc lòng thành, gắng hết sức đáp đền ơn nhũ bộ.

(Văn Tế Thượng Phẩm).

 

 

LÂN MẪN

憐 憫

Lân (liên): Thương xót, thương tiếc. Mẫn: Có lòng lành, thương người.

Lân mẫn là có lòng thương xót.

Quan Thế Âm lân mẫn ân cần,

Vớt lê thứ khổ trần đoạ lạc.

(Kinh Tận Độ).

 

 

LÂN NGỌC

麟 玉

Lân: Kỳ lân, loài thú linh thời xưa, rất hiền lành, người ta gọi là nhân thú. Kỳ là con đực, Lân là con cái. Ngọc: Tiếng tôn xưng, chỉ sự quý báu.

Lân Ngọc tức là “Ngọc Kỳ Lân 玉 麒 麟”, là một con lân của đạo Cao Đài dùng trong nghi thức tiếp rước Hội Thánh và quan khách ở các địa phương, như lễ đặt viên gạch, lễ an vị hay lễ khánh thành Thánh Thất hoặc Điện Thờ Phật Mẫu ở các địa phương. Còn tại Nội Ô Toà Thánh, nghi thức tiếp rước Hội Thánh và quan khách thì dùng Long Mã.

Ngọc Kỳ Lân, cũng như con “Kỳ lân”, có hình dáng giống như con nai, mình dài, đuôi trâu, vú ngựa, có một sừng trên đầu. Trên lưng Ngọc Kỳ Lân có mang quyển Xuân Thu, do tích Kỳ lân xuất hiện hai lần trong cuộc đời Đức Khổng Tử.

Lần thứ nhất, mẹ Khổng Tử là Bà Nhan Thị còn đang mang thai, nằm mộng thấy con Kỳ lân nhả ra ngọc xích có chữ viết rằng: Con nhà Thuỷ Tinh nối đời suy Châu mà làm vua không ngai. Sau đó sanh ra Khổng Tử, tức là điềm báo: Thánh nhân ra đời.

Lần thứ nhì, Đức Khổng Tử đang viết quyển Xuân Thu, thì nghe tin người thợ săn bắt được Kỳ lân què một chân, Khổng Tử có đến xem rồi bưng mặt khóc. Về nhà Ngài than với học trò: Đạo ta cùng rồi. Ba năm sau đó Ngài mất.

Nhạc Tần đánh rước âm dồn dập,

Lân Ngọc múa nghinh điệu nhịp nhàng.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

LÂN RA ẮT CÓ THÁNH QUÂN

Lân ra: Kỳ lân xuất hiện. Ắt có: Chắc chắn sẽ có. Thánh Quân: Vua Thánh.

Lân ra ắt có Thánh Quân có nghĩa là Kỳ lân ra đời thì có Thánh quân xuất hiện.

Người xưa cho rằng kỳ lân là một loài thú linh trong bốn loài: Long, lân, quy, phụng.

Kỳ lân rất quý hiếm, nên khi xuất hiện thì có điềm vua Thánh ra đời.

Khi Khổng Tử sắp ra đời thì có kỳ lân xuất hiện.

Lân ra ắt có Thánh quân ra,

Nhiều gốm vòng Nam hiệp một nhà.

(Đạo Sử).

 

 

LÂN TUẤT THƯƠNG SANH

Hay “Lân tuất thương sinh”.

Lân tuất: Đồng nghĩa với “Lân mẫn 憐 憫”, là thương xót. Thương sanh (sinh): Dân chúng nghèo khổ.

Lân tuất thương sanh, như chữ “Lân tuất thương sinh 憐 恤 蒼 生”, là thương xót những hạng dân chúng nghèo khổ.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ngài là chơn linh Thánh sống trước mắt cả thiên hạ đạt cả Ðạo Giáo, Ngài quan sát nơi mặt thế nầy, Ðức Jésus Christ không kém hơn ai trong hàng Giáo Chủ. Ngài để nhứt tâm lân tuất thương sanh, yêu ái người thật nồng nàn chơn chất.

Lân tuất thương sanh khách đón chờ,

Gặp thuyền tế độ cứ hò lơ.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

LẤN

Lấn là mở rộng phạm vi, xâm chiếm phạm vi chỗ khác, việc khác. Như: Lấn bờ cõi, lấn đất, càng nhân nhượng càng lần tới.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Thầy nhớ xưa, kẻ mộ Ðạo chịu ngàn cay muôn đắng, biết có người mà chẳng biết nhọc mình, giày gai áo bả, đội nguyệt mang sao, gió trước lọt chòi tranh, mưa sau hư giậu lá, bần hàn chẳng quản, tay trắng dìu người, một mảy không bợn nhơ, mới có thể lập ngôi cho mình đặng; có đâu lấy của lấn nhân, mượn quyền xua đức, kẻ chân thành lánh mặt, đứa tà mị áp vào, rồi cúm núm mang hơi tà, lại đua nói rằng thờ Chánh giáo. Thầy hỏi: Ai chứng cho?

Lý diệp chờ xuân nhánh trổ bông,

Thị thành chen lấn lại rừng tòng.

(Đạo Sử).

Rủi gặp trẻ tranh lời lấn lẽ,

Phải nhớ em bập bẹ nói từ lời.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LẤN CHEN

Lấn: Xâm phạm, hay chen qua chỗ khác, việc khác, vượt quá. Chen: Len, lẫn vào giữa đám đông.

Lấn chen, như chữ “Chen lấn”, dùng sức hay quyết tâm chen vào để chiếm chỗ, chiếm lối.

Như: Lấn chen vào đám đông, tu hành vẫn còn lấn chen vào danh lợi.

Hơn thua trối mặc đời bao biếm,

Nửa kiếp dầu qua hết lấn chen.

(Đạo Sử).

Niên canh chẳng hiệp mạng nghèo hèn,

Bởi đạo đức nhiều mới lấn chen.

(Đạo Sử).

Đường hung ác, nẻo chông gai,

Lấn chen vào chốn nghiệt đài gọi ngoan.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

LẤN HIẾP

Lấn: Hơn, xâm phạm, vượt quá. Hiếp: Dùng sức mạnh bắt người phải chịu.

Lấn hiếp là dựa vào sức mạnh mà hiếp đáp người.

Thánh giáo Đức Diêu Trì Kim Mẫu có câu: Chí Tôn có hứa khi ấy với Thiếp rằng: Thế nào cũng nâng đỡ chư hiền hữu mà chẳng cho ai ỷ thế lộng quyền lấn hiếp, Thiếp mới đến khai Đạo cho chúng sanh đặng phụ mẫu song toàn, nào dè vì lòng đại từ đại bi quá thương nhơn loại, đành để cho chư hiền hữu chịu hành hà đến đỗi.

Đừng mượn tiếng trai năm thê bảy thiếp,

Mà ép tình lấn hiếp thuyền quyên.

(Phương Tu Đại Đạo).

Trước ưng chịu duyên vầy Tần Tấn,

Hơn thua chi còn lấn hiếp nhau.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LẤN LƯỚT

Lấn: Xâm phạm, hay chen qua chỗ khác, việc khác, vượt quá. Lướt: Đi qua, vượt.

Lấn lướt là xâm phạm, hoặc chen vào công việc của người khác.

Lấn lướt còn có nghĩa dựa vào tài sức, thế lực mà chèn ép người. Như: Cô ấy lấn lướt chồng.

Thánh giáo Thầy có câu: Cả thảy đều con của Thầy, trừ ra tôn ty thượng hạ nơi việc hành chánh, thì đồng một bậc cả, chẳng ai đặng vì quyền mà lấn lướt, chẳng ai đặng vì mạng lịnh mà đè ép xua đuổi ai.

Phải cho biết kỉnh vì trên trước,

Đừng buông lời lấn lướt hồ đồ.

(Kinh Sám Hối).

Lấn lướt đặng đời Trời ghét mặt,

Hình răn nào phải đợi người thưa.

(Đạo Sử).

Đừng cậy thế làm chồng lấn lướt,

Chẳng đoái thương chất nhược liễu bồ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LẦN

1.- Lần là lượt. Như: Lần nầy, lần sau, đi lại nhiều lần, biết bao nhiêu lần.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Thầy nói một lần từ đây nhớ lấy: Dầu cho sắt đá cỏ cây, mà nghe đến Thánh Ngôn nơi Thầy do con nói ra cũng hoan nghinh, huống lựa là người.

Ðào Nguyên lại trổ trái hai lần,

Ai ngỡ Việt Thường đã thấy lân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Mai đeo tuyết ngọc biết bao lần,

Tuyết vẽ mày mai thắm thía xuân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Mưa nắng thương thân chịu lắm lần,

Ðành đem đức gởi tại Chiêu Tân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Lần là dò chừng, tức noi theo từng lượt, từng bước một. Như: Lần đi trong bóng tối, bước lần theo mé mương, lần nghe tiếng trống sang canh.

Thánh giáo Thầy có câu: Kẻ hữu phần đặng nắm mối Ðạo Trời, dựa chiếc thuyền sen lần vào non cao suối lặng, để rửa bớt chút bợn trần, dưỡng tánh tu thân, để nâng lên địa vị thanh cao, lánh xa đoạ luân hồi trong lúc hồn lìa khỏi xác.

Gai gốc lần đường công trước gắng,

Thảnh thơi có lúc buổi sau dành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðường gai gốc gắng lần qua khỏi,

Cảnh rạng ngần tua rán bước vào.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Lần là dần, từ biểu thị cách thức diễn ra từ từ từng ít một.

Như: Mua lần các thứ cần dùng, trời ấm lần lên, lần lần mới hiểu ra, chết lần chết mòn.

Gội nhuần đức trước rạng thôn lân,

Ðạo Thánh dìu chơn bước khởi lần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Gắng chí tập lần thân cực nhọc,

Bền gan tu luyện mới là nên.

(Đạo Sử).

4.- Lần là nắn, sờ dần từng hột, từng phần một.

Như: Lần tràng hạt, lần lưng, lần túi tìm chìa khoá, lần đốt ngón tay tính ngày.

Lần chuổi hột từ bi cứu khổ,

Nương gió thanh trăng tỏ là nhà.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

LẦN CHUỖI

Lần: Lấy tay sờ dần từng hột một. Chuỗi: Lấy hạt xâu lại thành chuỗi, có loại 18 hạt, có loại 108 hạt.

Người ta thường lấy hạt cây Bồ đề xâu lại thành chuỗi, nên còn gọi là “Chuỗi Bồ đề”.

Người Phật tử niệm Phật thường hay lần chuỗi, cứ niệm một danh hiệu Phật thì lần một hạt.

Việc lần chuỗi giúp cho người tu tập tâm thần được an định.

Niệm hương tế độ hành tam lập,

Lần chuỗi từ bi tịnh lục trần.

(Thơ Thuần Đức).

Niệm kinh Cứu Khổ thông tinh huyết,

Lần chuỗi Di Đà trụ khí thần.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

LẦN DÒ

Lần: Dần, từ từ, từng chút một, từng ít một của quá trình, của sự việc. Dò: Đi một cách thận trọng, lần từng bước.

Lần dò là tìm hiểu, tìm biết dần dần từng bước một cách mò mẫm.

Lần dò còn có nghĩa là đi một cách thận trọng, lần từng bước.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Thầy có dạy: “Thầy lập Đạo cho toàn cả chúng sanh, ai tu nấy hưởng, nhưng đứa nào có tiền căn nhiều lần chuyển kiếp, kỳ nầy mới gặp. Các con khá trông vào mấy đứa kia, trước hành đạo ra lối nào, rốt cuộc sẽ ra sao?

Vậy cứ theo đường chánh đại lần dò bước tới mà lên cho đến tận chơn Thầy nghe”.

Trên đường Thánh đức lần dò,

Trường sanh mầu nhiệm nơi lò Hoá công.

(Kinh Thế Đạo).

Đường Tiên vẹn bước lần dò,

Đỡ nâng cho vững cơ đồ nhà Nam.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

LẦN HỒI

Lần: Dần, từ từ, từng chút một, từng ít một của quá trình. Của sự việc. Hồi: Khoảng thời gian ngắn, coi là thời điểm diễn ra sự việc nào đó.

Lần hồi là dần dà cho qua ngày tháng.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu dạy: Thầy quyết lấy đức háo sanh mở Ðạo, cứu rỗi sanh linh cho kịp trước kỳ Hạ nguơn nầy, nhưng Ðạo chẳng hoàn toàn, con đường đi chưa cùng bước, là vì tại nơi lòng nhiều đứa chưa để hết tín ngưỡng mà nghe lời Thánh giáo, cho nên lần hồi, nền Ðạo phải ra tan tành manh mún.

Từ bỏ lần hồi lầm lỗi trước,

Tự nhiên bể khổ lánh xa vời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thương ai ráng giữ cao ngôi,

Đò Tiên chực sẵn lần hồi kẻo xê.

(Ngũ Nương Giáng Bút).

 

 

LẦN LỰA

Lần: Dần dà qua ngày tháng. Lựa (lữa): Lâu ngày.

Lần lựa, như chữ “Lần lữa”, là kéo dài thời gian ra để trì hoãn.

Ví dụ như: Anh cứ lần lựa (hay lần lữa) mãi, không chịu trả nợ cho tôi.

Trong Thánh Ngôn, Đức Chí Tôn có dạy: Lần lựa cúc xủ sương tan, mai gầy sen nở, ngày tháng qua chẳng là bao mà thế thái nhơn tình biết bao thay đổi!

Chớ hiểm độc dạ lang lần lựa,

Nhơn thất mùa bế dựa gắt gao.

(Kinh Sám Hối).

Lần lựa cho đò xa bến Thánh,

Thánh tâm mấy kẻ vẹn trau thân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Lần lựa cô phòng xuân thỏn mỏn,

Xa xuôi ai thấu nỗi đinh ninh.

(Đạo Sử).

 

 

LẦN MÒ

Lần: Noi theo từng lượt, từng bước, từng độ. Mò: Sờ tìm khi không thể nhìn thấy được.

Lần mò là tìm kiếm, dò dẫm một cách hết sức khó khăn, vất vả.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Ôi! Quốc Ðạo là thế nào? Quốc là nước, vậy nòi giống tín ngưỡng lập Quốc Ðạo, Bần Ðạo theo tới cùng coi lập nó ra thế nào, hình tướng nào cho biết, vì đó mà lần mò theo đuổi đến ngày nay, thấy hiện hữu cái hình trạng là Ðạo Cao Ðài rồi lại đoán xét coi nó biến hình Quốc Ðạo Việt Nam ra sao?

Đồng chí sẵn chờ tay hiệp tác,

Nương nhau dặm tối gắng lần mò.

(Thơ Thượng Sanh).

Chú trọng sanh linh gìn Thánh thể,

Nhắm ngay bến giác gắng lần mò.

(Thơ Võ Thành Lượng).

 

 

LẨN

Lẩn là tránh, trốn, tức lén đi nơi khác, nhân lúc không ai nhìn thấy. Như: Lẩn đi chơi, lẩn mất dạng.

Lẩn còn có nghĩa lẩn cùng những thứ khác khiến khó nhận ra, khó nhìn thấy. Như: chạy lẩn trong đám đông.

Dạy em phận yếm mang quần vận,

Phải buộc mình núp lẩn dưới tay chồng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LẨN BẨN

Lẩn bẩn, cũng như chữ “Lẩn quẩn”, là quanh quẩn, không đi đâu xa.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Phối Thánh Phạm Văn Màng có đoạn: Em thấy chỗ hay của các bạn nên làm mà không làm, đi cỡi ngựa chuối chơi với lũ trẻ con, hơn là ngồi cầm quyền tề quốc, em thấy mấy bạn có chỗ hay mà không hay thiệt nên rất uổng. Còn nữ phái, ai mà chịu cho nổi, cứ lẩn bẩn hờn giận, búng rảy nhau hoài. Sư phụ rầy mà cũng không kể.

Lẩn bẩn cứ theo toan cám dỗ,

Làm cho nên nỗi Ðạo xa Thầy.

(Đạo Sử).

Con thì đứa đường đời lẩn bẩn,

Con thì hay day trở cơ mầu.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Nỗi em chị bởi đâu chẳng thuận,

Nỗi nhi tôn lẩn bẩn bên lưng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

LẨN QUẨN

Lẩn quẩn là lui tới một chỗ, quanh quẩn một bên, không đi xa.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Bát Nương Diêu Trì Cung có câu: Các em đang ở trong vòng lẩn quẩn của thế tình mà chịu mọi khổ hận hầu tạo Minh đức Tân dân, lần hồi hoà bình chủng tộc, rồi mới ra vạn chủng.

Trăm năm lẩn quẩn đường nhơn nghĩa,

Một kiếp đeo đai mối nợ tình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Đời lẩn quẩn không ngoài tứ khổ,

Đạo độ đời chỉ rõ trường sanh.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

LẨN TRÁNH

Lẩn: Tránh, trốn, bỏ đi chỗ khác nhân lúc không ai nhìn thấy. Tránh: Lánh cho khỏi gặp.

Lẩn tránh là cố lánh đi để khỏi phải gặp, hoặc tránh đi để khỏi phải làm.

Như: Vì xấu hổ, cô ta cố tình lẩn tránh bạn bè.

Tựu trung cái tâm lý chung của người đời là sợ đau khổ và sợ cả sự nghĩ đến đau khổ, luôn luôn có thái độ lẩn tránh...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

LẪN

1.- Lẫn là lộn, lầm cái này với cái kia, hoặc ở vào tình trạng hay nhầm, hay quên, không nhận đúng sự vật, hiện tượng do trí nhớ giảm sút.

Như: Lẫn lộn, lẫn tên người, già hay lẫn, nói hay lẫn.

Đừng thấy lẫn rầy la mà phụ,

Phải nhớ hồi còn bú tới thôi nôi.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Lẫn còn có nghĩa là trao đổi qua lại, từ dùng phối hợp với nhau để biểu thị tác động qua lại, hai chiều. Như: Giúp đỡ lẫn nhau, trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau.

Thánh giáo Thầy có câu: Còn nay thì nhơn loại đã hiệp đồng, Càn Khôn dĩ tận thức, thì lại bị phần nhiều đạo ấy mà nhơn loại nghịch lẫn nhau, nên Thầy mới nhứt định quy nguyên phục nhứt.

Nghĩa nhân đành gởi thân trăm tuổi,

Dạy lẫn nhau cho đặng chữ hoà.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðời hiếp lẫn nhau nỡ chẳng thương,

Thương đời nên mới đến đem đường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

LẪN LỘ

Lẫn: Nhận lầm cái nọ ra cái kia, xen vào giữa những thứ khác, khiến khó phân biệt.

Lẫn lộ là lẫn lộn, nhầm lẫn, hay quên, không nhớ rõ sự vật, hay sự việc.

Hết ham danh, chẳng mến công,

Xem hình lẫn lộ, bùi nồng thế gian.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Già lụm cụm nói năng lẫn lộ,

Dâu có khôn phải độ nghĩa cho ngoan.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LẪN LỘN

Lẫn: Lầm, nhận nhầm cái nọ ra cái kia, xen vào những thứ khác, nên khó phân biệt được. Lộn: Lẫn.

Lẫn lộn là lẫn vào với nhau, không còn phân biệt được nữa.

Lẫn lộn còn có nghĩa là nhận thức nhầm cái nọ với cái kia, không phân biệt được hai cái khác hẳn nhau, hay đối lập nhau.

Thánh giáo của Đức Thái Thượng Đạo Tổ dạy: Cái Tà vì Thiên thơ sử dụng, Tà vì cơ thử thách của Tam Giáo Toà, Tà vì những quỷ xác ma hồn lẫn lộn của Quỷ vương để làm cho công phu lỡ dở.

Vàng thau lẫn lộn không người thổi,

Ngọc thạch bất phân thiếu kẻ trau.

(Thơ Hộ Pháp).

Càng ngấm càng ghê cái cảnh đời,

Buồn vui lẫn lộn biết bao mươi.

(Thơ Thạnh Đức).

 

 

LẬN

Lận là lừa gạt. Như: Ăn gian ăn lận, mua gian bán lận, cờ gian bạc lận, đánh lận con đen.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Vì cơ quan tận độ chúng sanh Đức Chí Tôn đến lập thành quả nhiên cơ quan ấy hiện hữu hiển nhiên, nếu chúng ta không tưởng tới, ngày kia về Bạch Ngọc Kinh không còn hồn, chừng đó người ta vạch ra không thế mình gian lận được.

Cũng đừng bài bạc lận nhau,

Rủ ren rù quến, lấy xâu ăn đầu.

(Kinh Sám Hối).

Tre tàn măng mọc cuộc đời in,

Ðánh lận mưu sâu khá giữ mình.

(Đạo Sử).

Quốc dân ăn thãi uống thừa,

Khôn ngăn bán lận khó ngừa buôn gian.

(Ngụ Đời).

 

 

LẬN ĐẬN

Lận đận là vất vả, chật vật vì phải trải qua nhiều trắc trở, gian lao.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Mỗi ngày Bần Đạo đang sống, có nhiều khi ngồi trên lầu Trí Huệ Cung dòm xuống thấy em út lận đận mỗi ngày tìm sống, kiếm sống, thì Bần Đạo lấy làm thương xót vô cùng nhưng luật Thiêng liêng để nó kiếm sống mà vui sống với đau khổ của nó, nếu không vui sống nó sẽ chết, phải để cho nó vui sống, nó sống trong đau khổ nó vẫn vui sống.

Lòng cảm xót dương trần lận đận,

Ra oai linh tiếp dẫn nhơn cầm.

(Xưng Tụng Công Đức).

Thường nhớ lúc mẹ cha lận đận,

Đủ khôn ngoan gắng phận lo lường.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LÂNG

Lâng là từ dùng để chỉ trạng thái nhẹ nhỏm, khoan khoái, rất dễ chịu.

Như: Giải quyết được việc khó khăn cảm thấy tâm hồn nhẹ lâng, khúc củi nhẹ lâng.

Theo đời thể xác cam oằn gánh,

Nương Đạo tâm hồn được nhẹ lâng.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

LÂNG LÂNG

Lâng lâng là ở trạng thái nhẹ nhỏm, khoan khoái, rất dễ chịu.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Cứ an lòng giữ vững đời sống muối dưa thanh đạm, dưới bóng Từ Bi của Ðức Chí Tôn, lóng nghe hồi chuông cảnh tỉnh để lâng lâng giũ sạch bụi trần, ngày tháng công phu trau giồi tâm trí thế nào cho được thanh cao trong sạch.

Lâng lâng giũ sạch bụi trần,

Cứu nhân độ thế phước phần hậu lai.

(Cửu Nương Giáng Bút).

Cây cỏ diềm dà đượm vẻ xuân,

Lâng lâng giũ sạch áo phong trần.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

LẤP

1.- Lấp là làm cho đầy, kín cái lỗ trũng, chỗ hổng hay chỗ trống. Như: Lấp ao, lấp sầu, lấp đường, lấp ngõ.

Thánh giáo Thầy có câu dạy: Ngày nầy năm trước, các con vẫn còn mơ màng trong giấc mộng trần, đường co duỗi vẫn đã lấp kín chút bợn trần, mà màn thế tục cũng chưa trông khoả vén.

Ðắp lũy Cổ Loa chưa mấy mặt,

Lấp Hồ Hoàn Kiếm bấy nhiêu tên.

(Đạo Sử).

Anh em bạn tác vầy đông,

Xô thành cũng ngã, lấp sông cũng bằng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Lấp là che đi, làm cho khuất đi. Như: Che lấp, cỏ mọc lấp đầy lối đi.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Màn Trời che lấp dấu trần, đạo Thánh dắt dìu bước tục. Cuối Hạ nguơn biết bao đời thay đổi.

Có chi khuất lấp đặng cơ Trời,

Nép của hại người há tưởng chơi.

(Đạo Sử).

Ngẩn bút hoà thi tủi phận ai,

Trời xanh vội lấp nữ anh tài.

(Thơ Hộ Pháp).

3.- Lấp còn dùng để chỉ làm cho át đi không còn nghe thấy, nhận thấy.

Như: Tiếng nhạc lấp cả giọng kinh, mây mù che lấp đỉnh núi.

Tiêu thiều lấp tiếng dục tình,

Bờ dương bóng phụng đưa mình nâng thân.

(Kinh Tận Độ).

 

 

LẤP BỂ

Lấp: Làm cho bằng lỗ thủng. Bể: Biển.

Lấp bể (biển), bởi tích chim tinh vệ ở biển ngậm đá ở núi Tây đem về để lấp biển Đông Hải.

Lấp bể còn dùng để nói người có chí lớn, thường làm công việc to tát.

Kiếp ngựa trâu Việt chủng vận kêu gào,

Đá tinh vệ chừ bao cho lấp bể.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

Cứu thế độ đời tua gắng sức,

Vá trời lấp bể vượt Thiên môn.

(Thơ Thiện Nguyện).

 

 

LẤP CHÔN

Lấp: Làm cho bằng lỗ thủng. Chôn: Cho vào lỗ đào ở đất và lấp lại.

Lấp chôn, như chữ “Chôn lấp”, là chôn xuống và vùi lấp lại cho kín.

Lấp chôn còn có nghĩa là giấu kín những sự việc, không muốn khơi gợi lại.

Trôi nổi mãi không tầm vào bờ bến,

Sóng gió nhồi đành chịu lấp chôn.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

LẤP LÓ

Lấp: Che, làm cho khuất đi. Ló: Thò, lộ ra.

Lấp ló là ló thụt, tức khi ẩn khi hiện liên tiếp, chỉ sự lưỡng ước, lúc muốn xuất hiện, lúc muốn lui đi.

Lấp ló còn có nghĩa là bày ra một phần, một ít.

Phối Thánh Phạm Văn Màng trong Thánh Ngôn Sưu Tập có đoạn: Hôm nọ, gặp Đức Quyền Giáo Tông, Ngài than rằng: Ngày nào Cửu Trùng Đài biết mình, bớt hám quyền mới mong tạo ra thiệt tướng. Em căn dặn mấy bạn đừng lấp ló cửa quyền mà sanh điều đố kỵ. Xin nhớ.

Trường thương lấp ló ít người,

Nơi tay dị chủng như Trời nắng mưa.

(Ngụ Đời).

Lấp ló như người mang tội trộm,

Ta không nỡ để đến nhiều phen.

(Đạo Sử).

Hễ lấp ló vào buồng làm ngãi,

Thì làm tuồng gà mái, nằm nơi.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LẤP LÓE

Lấp: Che, làm cho khuất đi. Lóe: Phát sáng mạnh và chỉ trong giây lát.

Lấp lóe, như chữ “lấp lóa”, là có ánh sáng phát ra, khi lóe lên khi tắt.

Như: Những vì sao lấp lóe trên bầu trời.

Nhìn mặt nước lung linh bóng mẹ,

Ngó làn mây lấp lóe hình cha.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

LẤP LỬNG

Lấp lửng là lừng chừng, do dự không dứt khoát.

Lấp lửng còn có nghĩa là mập mờ khó tin.

Thánh giáo Thầy có câu: Áo dà cũng muốn mặc, giày đạo cũng muốn mang, muốn đứng trước cả nhơn sanh để cho họ biết mình là hướng đạo. Ðường Tiên cũng lấp lửng, nguồn Thánh cũng toan vào, mà thấy bạc rơi cũng chẳng bỏ, lợi mún chẳng từ, mượn danh Ðạo mà tạo danh mình, vô Thánh điện mà hơi tà còn phưởng phất.

Lôi thôi buổi trước nhiều ân xá,

Lấp lửng đừng làm tội bữa nay.

(Đạo Sử).

 

 

LẤP NGÕ TÀI HIỀN

Lấp ngõ: Làm bít đường, che lấp mất ngõ đi. Tài hiền: Hay hiền tài 賢 才, là người có tài có đức.

Lấp ngõ tài hiền là che lấp, ngăn chận không cho người tài đức tiến thân, yểm tài người.

Phàm con người ta có tính “tốt thì khoe, xấu thì che”, nhưng khi thấy người khác có điều gì hay tốt, đáng lý phải nêu danh, hay giới thiệu cho mọi người cùng biết, đàng này lại giấu đi, bưng bít, ấy là che cái hay tốt của người hiền vậy. Đức Khổng Tử có dạy: Nặc nhơn chi thiện sở vị tế hiền 匿 人 之 善 所 謂 蔽 賢. Nghĩa là giấu cái lành của người ta thì gọi là che bậc hiền tài vậy.

Mạnh Tử cũng nói rằng: Ngôn vô thực bất tường, bất tường chi thực, tế hiền giả đương chi 言 無 實 不 祥, 不 祥 之 實 蔽 賢 者 當 之, nghĩa là nói mà không chân thật, thì có sự tai hại, thực tai hại là những lời nói làm che lấp bậc hiền tài, khiến cho không tiến đạt được.

Hãy có dạ kỉnh già thương khó,

Chớ đem lòng lấp ngõ tài hiền.

(Kinh Sấm Hối).

 

 

LẤP THẢM VÙI SẦU

Lấp thảm: Chôn kín những mối thảm. Vùi sầu: Dập sâu những nỗi sầu.

Lấp thảm vùi sầu tức là lấp kín những nỗi thảm, vùi sâu các mối sầu, ý nói làm cho hết nỗi sầu thảm.

Trong lễ Tấn phong Nữ Đầu Sư cho Bà Hương Hiếu, Bài Tuyên dương công nghiệp của Đức Thượng Sanh có câu: Nhưng may thay, Bà đã thâm nhiễm mùi Đạo, tự biết muôn sự ở đời đều là giả cuộc, kiếp phù sinh như cảnh hoa sớm nở tối tàn, nhứt là nhớ lời khuyên nhủ của các vị Tiên Nữ Diêu Trì Cung, nên bà tự an ủi lấp thảm vùi sầu, khuây khoả với tiếng kệ kinh, lấy chữ vị tha làm mục đích, tận tâm phục vụ dắt dìu nữ phái, quyết lòng hiến cả tâm hồn lẫn xác thân cho nền Đại Đạo.

Lấp thảm vùi sầu, gắng chí lo,

Sông mê vượt thoát, cậy con đò.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

LẬP

1.- Lập là làm, dựng, gây dựng. Như: Lập công, lập đạo, lập mưu, lập nghiệp, lập quốc.

Thánh giáo Thầy có câu dạy: Thử nghĩ, lập một nước còn dễ hơn dạy một người dữ đặng hiền, huống chi trong Tam Kỳ Phổ Ðộ nầy, các con phải độ rỗi cả nhơn loại khắp cả Năm Châu, thì trách nhậm ấy lớn lao là bực nào.

Khai Thiên lập Ðịa, ai là chủ?

Thánh Phật là ai dám đón ngăn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chỉn cầu con gắng chí cho bền,

Lập danh phận cho thê vinh tử ấm.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Lập còn có nghĩa là đứng.

Như: Độc lập (đứng một mình, không bị lệ thuộc), Lập tức (ngay tức thì).

Thảng như rủi năm nào thất bác, dân đói khó, thì lập tức mở kho ấy phát cho dân gọi là chẩn bần...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

LẬP CÔNG

立 功

Lập: Tạo ra, dựng nên. Công: Công trạng, công đức.

Lập công là tạo lập công đức, tức là làm công quả để tạo dựng phước đức.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Các con ví biết Ðạo là quý thì phải ân cần thận trọng, đợi đến ngày thành tựu, các con mới thấy rõ Thiên cơ, thì chừng ấy các con muốn lập công bằng buổi nầy sao đặng, vì mỗi việc khó khăn trắc trở là lúc sơ khai.

Siêng lo thì ắt đặng no lòng,

Siêng Ðạo thì đời phải lập công.

(Đạo Sử).

Lập công đem đổi nên Thiên vị,

Đèn sách bền theo nhọc chớ màng.

(Đức Quyền Giáo Tông).

Nguyên do kiếp trước không tu niệm,

Luân chuyển đời này gắng lập công.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

LẬP CÔNG BỒI ĐỨC

立 功 培 德

Lập công: Tạo lập nên công quả. Bồi đức: Vun bồi phước đức.

Lập công bồi đức, như câu “Lập công tạo đức”, là tạo lập công quả và vun bồi phước đức, tức làm những việc thiện như bố thí, trì giới, lễ bái, in kinh, làm chùa... có công năng tạo ra công đức.

Trong “Luật Tam Thể” của Đức Cao Thượng Phẩm có câu: Vậy Đệ nhị xác thân là hình bóng đi lập công bồi đức, thoảng như nó trọn nghe lời của Đệ tam xác thân thì được trọn lành về cõi Thiêng Liêng Hằng Sống mà chúng ta gọi là đắc quả.

Rày thời kíp phải liệu toan,

Lập Công bồi đức cứu an linh hồn.

(Thơ NĐS Hương Thanh).

Chồng con ở lại trần gian,

Lập công bồi đức theo đàng nghĩa nhân.

(Thơ Thông Quang).

 

 

LẬP CÔNG TẠO ĐỨC

立 功 造 德

Lập công: Tạo lập công quả. Tạo đức: Gầy dựng phước đức.

Lập công tạo đức, đồng nghĩa với câu “Lập công bồi đức”, nghĩa là tạo lập công quả vun bồi phước đức.

Xem: Lập công bồi đức.

Lập công, quyết lấy công làm quả,

Tạo đức, hằng mong đức thế tiền.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

LẬP CÔNG CHIẾT QUẢ

立 功 折 果

Lập công: Tạo lập công đức. Chiết quả: Trừ bớt nghiệp quả do kiếp sống trước để lại.

Lập công chiết quả là kiếp sống nầy lo tạo lập công đức để trừ bớt những nghiệp quả, bởi tội lỗi của kiếp sống trước tạo thành.

Ai mau bước đặng gặp mối chánh dẫn truyền mà lần lập công chiết quả, để lánh cả muôn điều phiền não về sau.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

LẬP CÔNG CHIẾT TỘI

立 功 折 罪

Lập công: Tạo lập công đức. Chiết tội: Trừ bớt những tội lỗi.

Lập công chiết tội, đồng nghĩa với câu “Lập công chuộc tội”, là tạo lập công đức để chuộc bớt tội lỗi.

Xem: Lập công chuộc tội.

Nếu Thầy chẳng vì thương tâm thì các Tiên Phật đã ghi lỗi rất trọng hệ của các con mà chẳng khứng cho lập công chiết tội.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

LẬP CÔNG CHUỘC TỘI

Lập công: Tạo lập công đức. Chuộc tội: Lấy công quả bù lại để được tha thứ tội.

Lập công chuộc tội, đồng nghĩa với câu “Lập công chiết tội”, là tạo lập công đức để chuộc bớt tội lỗi.

Trong hiện kiếp lo tạo lập công đức bù lại để trừ bớt những tội lỗi đã gây ra nơi kiếp trước, hoặc để được hưởng sự tha thứ tội tình, gọi là “Lập công chiết tội”, hay “Lập công chuộc tội”.

Phước Thiện huyền diệu cao sâu,

Lập công chuộc tội mới hầu khỏi oan.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

LẬP CHÍ

立 志

Lập: Tạo ra, dựng nên. Chí: Ý chí, tức là ý quyết làm một việc gì.

Lập chí là xây dựng, hay theo đuổi một chí hướng.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Mở rộng trường thi công quả để tiếp đón nhơn tài, Hội Thánh chỉ mong ước quý vị thấm nhuần đạo đức, lập chí tu thân, trước thì lo tròn bổn phận làm người, sau nữa có thể thi thố tài năng giúp đời trợ Ðạo tuỳ theo địa vị hoàn cảnh của mỗi người.

Lập chí ôn nhu là đắp lũy,

Nung lòng Đạo đức ấy xây đồn.

(Bát Nương Giáng Bút).

Ôn hoà lập chí gầy thân ái,

Nhơn nghĩa dồi trau dựng thới bường.

(Thượng Phẩm Giáng Bút).

Tránh điều đố kỵ gây thù hận,

Lập chí tương liên vững nước nhà.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

LẬP ĐẠO

立 道

Lập: Tạo ra, dựng nên. Đạo: Tôn giáo.

Lập Đạo là gầy dựng một nền Đạo, ý chỉ mở ra một nền tôn giáo mới.

Thánh giáo Đức Diêu Trì Kim Mẫu có dạy: Ngày nay, các Hiền đồ gặp hồi lập Đạo, phải nên biết cái chức trách của mình đối đãi với nhơn sanh.

Lập Ðạo dầu nên ngàn thuở để,

Nêu danh hậu thế tiếng bền dai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Góp mặt tầng nêu cơ lập Đạo,

Kém tài đâu dễ sức xây thành.

(Thơ Thanh Thuỷ).

 

 

LẬP ĐỨC

立 德

Lập: Tạo ra, dựng nên. Đức: Kết quả của những việc làm thiện, làm lành.

Lập đức là làm những việc có công đức. Đây là một trong Tam lập: Lập công, lập ngôn, lập đức.

Lập đức là làm những việc lành, việc thiện nhằm đem lại phước đức cho mình và cho người khác. Những việc như thí tài, thí công, thí pháp tức là giúp của, giúp công, in kinh, và làm chùa, hay ủng hộ những người tu hành chân chính, là những việc làm tạo nên công đức. Đây là một yếu tố quan trọng trong việc tu hành vào thời Tam Kỳ Phổ Độ.

Thực vậy, vào thời hạ nguơn mạt Pháp, chúng sanh sống trong cảnh khổ đau của chiến tranh, thiên tai và bệnh tật, nên rất cần thiết có những tấm lòng, những bàn tay để xoa dịu những nỗi đau của sanh chúng. Lại nữa, Đức Chí Tôn mở Đạo lần này là lập một trường thi công quả. Thánh giáo dạy: “Người tu hành, nếu chưa trường trai trì giới nổi đặng thì hãy lo lập đức, bồi công để làm nền móng vững chắc cho việc luyện Đạo tương lai, chớ dục vọng mong sớm luyện Đạo để làm Tiên, Phật mà thiếu phần công quả, âm chất. Vì Thầy lập Đạo kỳ này là mở một trường thi công quả. Các con phải đi tại cửa này mới đến đặng Cực Lạc mà thôi”.

Phần nhiều, người tu hành thường thiếu công quả, mà công quả cũng là một phần của việc lập đức, vậy cần phải chuyên tâm lo về phần này, nên Chí Tôn thường nhắc nhở: “Người dưới thế này muốn giàu có phải kiếm phương thế mà làm ra của. Ấy là về phần xác thịt. Còn Thần, Thánh, Tiên, Phật muốn cho đắc Đạo, phải có công quả”.

Thong dong cõi thọ nương hồn,

Chờ con lập đức giúp huờn ngôi xưa.

(Kinh Thế Đạo).

Xót phận nhiều năm lo lập đức,

Thương thân một thuở lỡ công phu.

(Thơ Thái Bộ Thanh).

 

 

LẬP ĐỨC BỒI CÔNG

立 功 培 德

Lập đức: Làm những việc có công đức. Bồi công: Vun bồi công quả.

Lập đức bồi công, như chữ “Bồi công lập đức 培 功 立 德”, là tạo lập phước đức vun bồi công quả.

Xem: Bồi công lập đức.

Khuyên nên trỗi bước đường tu tỉnh,

Lập đức bồi công hưởng lộc trời.

(Thượng Cảnh Thanh).

 

 

LẬP KẾ

立 計

Lập: Tạo ra, gầy dựng, đặt. Kế: Mưu chước.

Lập kế là đặt ra mưu kế. Như: Đồ mưu lập kế.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo của Bát Nương có đoạn: Luật Đạo lại có lời rẻ rúng, Phép nghiêm làm lợi dụng mưu gian. Nghĩa là: Luật Đạo, Luật Toà Thánh thì coi rẻ rúng, lấy phép nghiêm của Đạo đặng lo lập kế xảo mị. Khác nào giữa chợ nài hàng,...

Lập kế đồ mưu âm hại chúng,

Kiếp sau mang lấy lốt heo trâu.

(Giới Tâm Kinh).

 

 

LẬP LỆ

立 例

Lập: Tạo ra, gầy dựng, đặt. Lệ: Lề lối quy định để mọi người noi theo.

Lập lệ là lập ra lề lối để mọi người noi theo.

Cũng chính mình Ngài đến lập lệ nam nữ phải phân biệt nhau.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

LẬP LOÀ

Loà: Không còn nhìn rõ nữa, mà chỉ còn nhìn thấy một vật lờ mờ, không rõ nét.

Lập loà, như chữ “Lập loè”, là có ánh sáng phát ra từ một điểm nhỏ (đèn mờ), khi loé lên khi mờ đi, lúc ẩn lúc hiện liên tiếp.

Như: Ngọn đèn trong nhà toả ra ánh sáng lập loà.

Bởi ham nguyệt rạng lánh nhà,

Đèn chong buồn bực lập loà rèm thu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

LẬP LUẬN

立 論

Lập: Tạo ra, gầy dựng, đặt. Luận: Bàn luận.

Lập luận là sắp đặt ý tứ và lý lẽ có hệ thống để trình bày, nhằm chứng minh cho người nghe nhận thấy vấn đề đưa ra là hợp lý.

Như: Lập luận vững một cách chặt chẽ.

Tam Giáo tuy lập luận khác nhau về danh từ, về cách học, về hình thức; nhưng tựu trung tinh thần thì Tôn Giáo nào cũng lấy Tâm Tánh làm căn bản học hành.

(Giáo Lý).

 

 

LẬP LUẬT

立 律

Lập: Dựng nên, lập ra. Luật: Luật pháp.

Lập luật là lập ra luật pháp.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có câu: Ðầu Sư có quyền cai trị phần Ðạo và phần Ðời của chư môn đệ. Nó đặng quyền lập luật, song phải dâng lên cho Giáo Tông phê chuẩn.

(Chánh Phối Sư) có phép dâng luật lên cho Đầu Sư cầu xin chế giảm chớ không đặng phép lập luật.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

LẬP NGÔN

立 言

Lập: Tạo ra. Ngôn: Lời nói.

Lập ngôn là một trong Tam lập: Lập công, Lập đức và Lập ngôn.

Lập ngôn là ăn nói lời cho chân thật, chánh đáng và đạo đức để thuyết phục người nghe.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Muốn thực hành phép lập ngôn, chúng ta phải làm chủ khẩu khí, phải suy nghĩ kỹ trước khi thốt lời thì lời nói mới đoan trang, có mực thước.

Trong cửa Đạo Cao Đài này đã dạy tu rồi, nhứt là Bần Đạo đã giảng nhiều rồi, ấy là ta phải: Lập Đức, Lập Công và Lập Ngôn đó vậy.

(Con Đường Thiêng Liêng).

 

 

LẬP NGHIỆP

立 業

Lập: Tạo ra, gầy dựng. Nghiệp: Chỉ sự nghiệp.

Lập nghiệp là gầy dựng cơ nghiệp.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Thưa cùng mấy chị, kiếp sống của chúng ta ở thế gian này đã đứng trong Thánh Thể của Ngài, mấy em giong ruổi trên con đường Thiêng Liêng của Đức Chí Tôn đã sắp sẵn, mấy em đừng sợ nghèo, đừng sợ khổ, không phải vậy, nơi cửa Thiêng Liêng không phải giàu mà lập nghiệp được, còn nghèo mà không đâu, nhớ điều ấy chớ đừng quên.

Con muốn nên nhà lo lập nghiệp,

Muốn qua sông cả phải nương thuyền.

(Đạo Sử).

Ý quyết non sông lo lập nghiệp,

Thương thay chưa buổi đặng nương thời.

(Đạo Sử).

Quân trung ai rõ nữ anh hùng,

Lập nghiệp cho người đến hưởng chung.

(Đạo Sử).

 

 

LẬP PHÁP

立 法

Lập: Tạo ra, dựng nên. Pháp: Pháp luật.

Lập pháp là gầy dựng nên một hệ thống pháp luật để tổ chức và điều hành một quốc gia hay một nền tôn giáo cho được an ninh, trật tự tốt đẹp.

Trong Đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn khai nền Đại Đạo và lập Pháp Chánh Truyền như bản Hiếp pháp làm căn bản để tổ chức nền Đạo với các phẩm chức sắc Cửu Trùng Đài và Hiệp Thiên Đài.

Còn những luật pháp tu hành trong thời kỳ nầy, gọi là Tân Luật, thì Đức Chí Tôn giao cho Quyền Vạn Linh lập ra các luật ấy để vừa với trình độ của nhơn sanh. Quyền Vạn Linh lập thành là do ba hội: Hội Nhơn Sanh, Hội Thánh và Thượng Hội.

Thầy tưởng chẳng còn nói, nếu ai là đạo đức, đọc đến cách lập pháp của Thầy mà chẳng mừng giùm cho nhơn loại.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

LẬP QUỐC

立 國

Lập: Tạo ra, dựng nên. Quốc: Nước nhà.

Lập quốc là gầy dựng nên một đất nước.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Từ đời lập quốc đến giờ, trong phong hoá nhà Nam không thấy lúc nào sơ thất sự phụng tự, nếu đoán chắc là nhờ âm chất của tổ tiên ta biết phụng thờ Ðức Chí Tôn, cái thâm tình ấy còn lưu truyền lại mà ngày hôm nay Ngài mới đến đặng đền bồi ân nghĩa ấy lại có lẽ.

Cái chí lập quốc cứu dân của họ sánh với bực Thần Tiên, mồi danh bả lợi không lay chuyển được.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

LẬP TIÊN GIA XƯNG LÃO TỬ

立 仙 家 稱 老 子

Lập Tiên gia xưng Lão Tử đại ý nói Đức Chí Tôn vào thời Nhị Kỳ Phổ Độ lập nền Tiên Giáo, xưng là Đức Lão Tử.

Theo Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có dạy: Nhiên Ðăng Cổ Phật thị Ngã, Thích Ca Mâu Ni thị Ngã, Thái Thượng Nguơn Thỉ thị Ngã, Kim viết Cao Ðài 燃 燈 古 佛 是 我, 釋 迦 牟 尼 是 我, 太 上 元 始 是 我, 今 曰 高 臺, nghĩa là Nhiên Đăng Cổ Phật là ta, Thích Ca Mâu Ni Phật là ta, Thái Thượng Nguơn Thỉ là ta, nay gọi là Đấng Cao Đài. Mà Lão Tử do Thái Thượng Đạo Tổ giáng linh.

Như vậy ta có thể nói rằng Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế giáng Chơn linh xuống trần là Lão Tử, lập thành nền Tiên giáo.

Xưa lập Tiên Gia xưng Lão Tử,

Bán truyền Thích Giáo tá Như Lai.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

LẬP THÂN

立 身

Lập: Tạo ra, dựng nên. Thân: Thân mình.

Lập thân là học tập, tu dưỡng cho nên người có tài, có đạo đức, và có tiếng tăm trong xã hội.

Như: Lập thân trả hiếu, đến tuổi phải lập thân.

Xem: Lập thân trả hiếu.

Lập thân muốn tránh đường mưa gió,

Tìm Ðạo nương mình vững nghiệp sau.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Dạy trẻ bỏ tánh tình biếng nhác,

Cần lập thân mới thoát phận tôi đòi.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LẬP THÂN DANH

立 身 名

Lập: Tạo ra, dựng nên. Thân danh: Cái danh của mình đang mang lấy.

Lập thân danh, như chữ “Lập thân”, là tạo lấy cuộc sống, sự nghiệp và tiếng tăm trong xã hội.

Xem: Lập thân.

Lựa là kiếm gia tài có sẵn,

Tính cậy nhờ cho đặng lập thân danh.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LẬP THÂN HÀNH ĐẠO

立 身 行 道

Lập thân: Học tập, tu dưỡng cho nên người có tài và có đạo đức. Hành đạo: Làm đạo, chỉ sự tu hành.

Lập thân hành đạo là cố gắng học hỏi, trau dồi cho nên người tài đức để phụng sự cho chúng sanh.

Sách Hiếu Kinh, lời Đức Khổng Tử nói: Lập thân hành đạo dương danh ư hậu thế, dĩ hiển phụ mẫu, hiếu chi chung dã 立 身 行 道 揚 名 於 後 世, 以 顯 父 母, 孝 之 終 也, nghĩa là lập thân hành đạo nức tiếng với đời sau để làm rạng danh cha mẹ, đó là trả trọn cái hiếu rốt cho cha mẹ.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Cái ơn thâm trọng đó là nhờ nơi đức háo sanh của Ðức Phật Mẫu chúng ta mới có hình hài tại thế và nhờ nơi Người ban cho khí Sanh Quang, chúng ta mới có kiếp sống nơi cõi trần nầy để lập thân hành Ðạo hầu diệt tiêu quả nghiệp tiền khiên trở về Thiêng Liêng vị.

Lập thân hành Đạo, chánh đại quang minh, thật hiện bác ái công bình.

(Sớ Văn).

 

 

LẬP THÂN TRẢ HIẾU

Hay “Lập thân trọn hiếu”.

Lập thân: Học tập, tu dưỡng cho nên người có tài và có đạo đức. Trả hiếu: Đáp trả công ơn cha mẹ.

Lập thân trả hiếu tức là học tập, tu dưỡng cho nên người tài đức, làm rạng danh ông bà, cha mẹ, đó là đền đáp công sinh thành dưỡng dục của cha mẹ.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Về nghiệp đạo đức tinh thần các bậc tiền bối của ta có nói rằng: “Lập thân hành đạo dương danh ư hậu thế”, ta có thể làm Đạo lập thân danh ta được mà phải có hiếu trước đã, do trọn hiếu mới làm được vậy.

Đừng làm nhục tổ hổ tông,

Lập thân trả hiếu nối dòng truyền hương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

LẬP THỆ

立 誓

Lập: Làm nên. Thệ: Thề.

Lập thệ là nói lời thề thốt.

Trong Tôn Giáo Cao Đài, Các Chức sắc, Chức việc đều phải Lập thệ trước khi hành quyền.

Riêng hàng tín đồ, lễ nhập môn cũng có lập thệ, tức là quỳ để thề nguyền trước các Đấng thiêng liêng chứng minh và các chức sắc hoặc bàn trị sự làm chứng.

Trong cuộc lễ Tấn phong Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Bài Tuyên dương Công Nghiệp của Đức Thượng Sanh có câu: Lễ Lập thệ đã cử hành xong, từ đây Chức sắc nữ phái Cửu Trùng Đài đã có vị Đầu Sư cầm quyền điều khiển dìu dắt trên đường Thánh đức để trau dồi đạo hạnh, lập chí vị tha cho xứng đáng là bậc Nữ Thánh nhơn trong cửa Đại Đạo.

Lập thệ nghiệt cơn phò, trí chúa,

Đồ mưu lỡ lúc đặng nên Thần.

(Thanh Sơn Giáng Bút).

 

 

LẬP TRƯỜNG

立 場

Lập: Đứng. Trường: Cái chỗ đứng.

Lập trường là cái chỗ mình đứng, hoặc thái độ, ý kiến của mình đối với vấn đề gì.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bần Đạo xin nói qua về tôn chỉ của Cao Đài. Phải cần nhắc tới lập trường và tôn chỉ của Cao Đài lúc này vì tôn chỉ của Cao Đài có liên quan mật thiết với sự tồn vong của lãnh thổ, sự suy thịnh của Quốc Gia.

Cửu Nương vốn nhọc nhằn chẳng tiếc,

Chỉ trách con chưa biết lập trường.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Đoạ đày lũ trẻ gánh tai ương,

Do bởi phần đông phản lập trường.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

LẬP VỊ

立 位

Lập: Dựng nên, tạo lập. Vị: Ngôi vị, chỗ ngồi.

Lập vị là tạo lập ngôi vị nơi cõi Thiêng liêng.

Thánh giáo Đức Chí Tôn nói về lập vị như sau: Ðường đời khúc mắc chông gai là lẽ Thiên cơ đã định vậy, cái nơi để cho cả chư Thần, Thánh, Tiên, Phật đến kiến công lập vị.

Đưa tay vịn phép diệu huyền,

Ngọc Hư lập vị, Cửu tuyền lánh chơn.

(Kinh Tận Độ).

Lập đức, lập công, còn lập vị,

Kiếp sanh phước gặp đạo trời khai.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

LẬT BẬT

Lật bật chỉ một cách mau chóng. Như: Lật bật mà đã hết ngày, lật bật tết lại đến nữa.

Lật bật chỉ sự run rảy. Như: Rung lật bật.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Sen tàn cúc nở, đông mãn kế xuân về. Ngày tháng thoát qua chẳng khác chi nước chảy dưới gầm cầu, lật bật năm Kỷ Dậu sắp cáo chung, trăm họ nô nức đón chào Xuân mới.

Âm thầm tự sự ai hay biết,

Lật bật đông phong tối thổi vèo.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

LẬT ĐẬT

Lật đật là tất tả, có dáng vẻ vội vã như lúc nào cũng sợ không kịp. Như: Bước đi lật đật.

Thuyết Đạo về Ngài Quan Thánh Đế Quân, Đức Thượng Sanh có câu: Sau khi Ðức Ngài giải vây thành Bạch Mã giết hai tướng Nhan Lương, Văn Xủ để trả ơn cho Tào Tháo, Ðức Ngài được hay tin Lưu Huyền Ðức đang ở Hà Bắc, Ðức Ngài lật đật đến từ giả Tào Tháo đặng lên đường.

Đầu mới tượng óc còn thiếu chất,

Phân thông minh lật đật bỏ vào.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LÂU

1.- Lâu là phải nhiều thời giờ, trái với mau, chóng. Như: Làm đã lâu mà chưa xong, học lâu mới thuộc.

Thánh giáo Thầy có câu: Con có ngày giờ suy nghĩ đã lâu, Thầy cho con xét thêm nữa đặng có đức tánh hoàn toàn, chừng ấy con là ái nữ của Thầy, sẽ dụng làm tay chơn, đem rưới giọt nhành dương để cứu thoát nhơn sanh nơi vòng ly khổ từ đây.

Năng làm phải, nhựt nhu ngoạt nhiễm,

Lâu ngày dồn tính đếm có dư.

(Kinh Sám Hối).

Cha chả hèn lâu chẳng viếng thăm,

E chư huynh trưởng trách em thầm.

(Lục Nương Giáng Bút).

2.- Lâu là lầu, lầu đài, tức nhà có gác, có tầng.

Như: Thanh lâu, Hoàng hạc lâu, vọng nguyệt lâu, toà lâu đài nguy nga.

Hành đến chết huờn hồn sống lại,

Cho đầu thai ở tại thanh lâu.

(Kinh Sám Hối).

 

 

LẦU

Lầu là nhà có gác, nhà tầng. Như: Xây lầu, phụng lầu, lầu son gác tía, phụng lầu gác quyển.

Trong quyển Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có câu: Phải làm thang lầu ngay Ðại Ðiện cho Hộ Pháp đi thẳng một đường từ Hiệp Thiên Ðài vào Ðại Ðiện hiểu à.

Hồng nhạn đưa tin trông vắng dạng,

Phụng lầu gác quyển đợi hoà thinh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thanh cao là biết ngon dưa muối,

Hơn ngự lầu Yên ngó đảnh Tần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ba hiệp trời vừa qua tối sáng,

Bốn phương mây lại biến thành lầu.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

LẦU CÁC

Lầu: Nhà hay dinh thự có từng. Các: Gác.

Lầu các, như chữ “Các lâu 閣 樓”, là lầu và gác, dùng để chỉ nhà quyền quý, sang trọng.

Như: Dinh thự lầu các.

Cửa ngục thất cũng bì lầu các,

Hổ nhục hay gội mát anh hùng.

(Xuân Hương Giáng Bút).

 

 

LẦU ĐÀI

Lầu: Nhà lầu, nhà có nhiều tầng. Đài: Nhà làm cao có thể đứng trông xa được.

Lầu đài, như chữ “Lâu đài 樓 臺”, là lầu đài, chỉ nhà có quy mô to lớn, cao rộng, đẹp và sang trọng, hơn hẳn nhà ở thường.

Lầu đài ý chỉ nhà quyền quý cao sang.

Người ta đạp đổ lầu đài tinh thần trong sự tranh giành quyền lợi, mưu hại lẫn nhau, chúng ta củng cố đạo tâm, vun trồng cội phúc.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

LẦU HỒNG

Lầu: Nhà hay dinh thự có từng. Hồng: Màu đỏ.

Lầu hồng, như chữ “Hồng lâu 紅 樓”, chỉ nhà của hạng phụ nữ giàu sang, quyền quý.

Ngày xưa, những nhà quyền quý thường lấy màu hồng, màu son sơn nhà cửa để dành riêng cho con gái ở, nên “Lầu hồng” chỉ nơi ở con gái quý phái.

Thơ Lý Bạch có câu: Mỹ nhân nhất tiếu khiên châu bạc, dao chỉ hồng lâu thị thiếp gia 美 人 一 笑 牽 珠 箔, 遙 指 紅 樓 是 妾 家, nghĩa là người đẹp mỉm cười, kéo bức rèm châu, chỉ lầu hồng nơi xa xôi và nói đó là của thiếp.

Xem: Hồng lâu.

Đến phồn hoa thân gần tục lự,

Chơi lầu hồng hỏi thử trái căn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Đừng học khách lầu hồng đánh bóng,

Nói với chồng dùng giọng cầu cao.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LẦU PHỤNG

Lầu: Nhà hay dinh thự có từng. Phụng: Chim phượng.

Lầu phụng, dởi chữ “Phụng lâu 鳳 樓” hay “Phụng đài”, là một cái lầu đài của nàng Công chúa Lộng Ngọc, con gái của vua Tần Mục Công ở học thổi tiêu cùng chồng là Tiêu Sử.

Sau hai vợ chồng đang thổi tiêu trên Lầu phụng, bỗng thấy có rồng và chim phượng bay đến chở Tiêu Sử và Lộng Ngọc lên cõi tiên.

Xem: Phụng lầu.

Lầu phụng mơ màng nghe quyển địch,

Cung Tần văng vẳng lóng tơ đồng.

(Bát Nương Giáng Bút).

Cuộc mơ màng nọ lầu phụng, các lân,

Nơi phú quý như mây gần rã nước.

(Giác Mê Khải Ngộ).

 

 

LẦU SON

Lầu: Nhà lầu, nhà có tầng cao. Son: Màu đỏ.

Lầu son là lầu sơn màu đỏ, như chữ “Chu môn 朱 門” là cửa đỏ hoặc cửa son, dùng để chỉ những nhà hào phú.

Do vậy, lầu son cũng dùng để chỉ những nhà quyền quý, sang trọng.

Hai lẽ văn tài đồng đức tánh,

Chẳng ngồi bệ ngọc cũng lầu son.

(Đạo Sử).

Thừa ân huệ chín từng uy đức,

Gác lầu son sực nức hương lan.

(Phù Kiều Hận Sử).

 

 

LẦU TẦN QUÁN SỞ

Lầu Tần quán Sở, bởi thành ngữ “Tần lâu Sở quán 秦 樓 楚 館”, chỉ chung lầu gác cung điện nguy nga, hay những nơi ăn chơi ca vũ.

Bài thơ “Bạch Hạ” đời Tống có câu: Lai vãng không lao Bạch Hạ thuyền, Tần lâu Sở quán tổng mang nhiên. Duy dư nhất quyển tân thi thảo, thính vũ giang hồ thập nhị niên 來 往 空 勞 白 下 船, 秦 樓 楚 館 總 忙 然. 惟 餘 一 卷 新 詩 草, 聽 雨 江 湖 十 二 年, nghĩa là đi lại luống nhọc con thuyền ở xứ Bạch Hạ, những cảnh lầu Tần quán Sở phong lưu diêm giả thảy quên mang mác cả. Chỉ còn lại một tập thơ mới làm và một kỷ niệm bên tai là mười hai năm nghe mưa ở nơi giang hồ. Ý nói sự phong lưu đều quên hết, chỉ còn lưu tâm đến tập thơ mới làm và tinh thần là khi yên tịnh nghe mưa ban đêm đã mười hai năm qua.

Chừa mấy chốn lầu Tần quán Sở,

Thói trăng huê dầu lỡ đắm sa.

(Thơ Bảo Pháp).

 

 

LẦU XANH

Lầu: Nhà lầu, nhà có tầng cao. Xanh: Màu xanh.

Lầu xanh, như chữ “Thanh lâu 青 樓”, là nhà cửa sơn màu xanh.

Ngày xưa, những nhà quyền quý sang trọng, nhà cửa thường sơn màu xanh, như Tào Thực đời nguỵ có viết: Thanh lâu lâm đại lộ, cao môn kết trùng quan 青 樓 臨 大 路, 高 門 結 重 關, nghĩa là lầu xanh cách đường cái, cửa cao hai lần then.

Sau nầy lầu xanh không còn là nơi cao sang quyền quý nữa mà là nơi dành cho kỵ nữ ở. Như Đỗ Mục đời Đường có câu: Thập niên nhất giác Dương châu mộng, Doanh đắc thanh lâu bạc hạnh danh 十 年 一 覺 楊 州 夢, 盈 得 青 樓 薄 倖 名, nghĩa là mười năm một giấc chiêm bao ở Dương Châu, mang tiếng người bạc bẽo ở lầu xanh.

Xem: Thanh lâu.

1.- Chỉ nhà quyền quý sang trọng:

Lầu xanh giặm, màu tu trở vẻ,

Cửa không môn mở hé chơn hồng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Chỉ nơi kỹ nữ ở:

Không đành nói thác ra ma,

Không đành nói ngụ nơi nhà lầu xanh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Đừng học chiều rước yến mời anh,

Kìa nhục chốn lầu xanh xem những kẻ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LẬU HẠNG

陋 巷

Lậu: Chật hẹp. Hạng: Con đường nhỏ.

Lậu hạng là con đường nhỏ hẹp, ý chỉ chỗ ở của người nghèo khổ.

Nhan Hồi là một người học trò nghèo mà học giỏi của Đức Khổng Tử. Nhưng ông chỉ thích sống cuộc đời giản dị, ăn thì một giỏ cơm, uống thì một bầu nước, ở thì nơi ngõ hẹp, thế mà Nhan Hồi vẫn vui.

Đức Khổng Tử đã khen: Hiền tai! Hồi dã, nhất đan tự, nhất biều ẩm, tại lậu hạng, nhân bất kham kỳ ưu, Hồi dã bất cải kỳ lạc. Hiền tai! Hồi dã 賢 哉! 回 也. 一 簞 食, 一 瓢 飲, 在 陋 巷, 人 不 堪 其 憂, 回 也 不 改 其 樂. 賢 哉! 回 也, nghĩa là hiền thay Nhan Hồi! Một giỏ cơm, một bầu nước, ở nơi ngõ hẹp, người ta không chịu nổi cảnh nghèo hèn mà lo buồn, còn Nhan Hồi không thay đổi điều vui của mình. Hiền thay, Nhan Hồi!

Trong Giải Mê Khải Ngộ có câu: Sao bằng bực Nhan Uyên đai cơm bầu nước, ở thong thả nơi chốn chòi tranh, Miền lậu hạng, nẻo lợi danh, sánh như sóng đập gành khua lã chã.

Xem: Đai cơm bầu nước.

Tâm hồn thích hợp trung hoà,

Mấy năm lậu hạng mới là trượng phu.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

LE LƯỠI

Le: Như chữ “”, là đưa lưỡi ra ngoài miệng. Lưỡi: Bộ phận ở miệng, dùng nếm thức ăn.

Le lưỡi là lưỡi thò ra ngoài miệng.

Như: Le lưỡi liếm mật ong, lắc đầu le lưỡi, lưỡi le dài gần một tấc.

Mặt yêu vằn vện dường Tiêu Diện Sĩ, le lưỡi trấn Tây phương,

Mày chằn nhăn nhíu tợ Quỷ Dạ Xoa, đẩy xe vào Âm phủ.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

LÈ TÈ

Lè tè là tiếng dùng để chỉ vật thấp đến mức gần như sát mặt đất.

Như: Giống mít nầy ngon, ngọt nhưng thân nó thấp lè tè, trái sát đất.

Đường ngắn ngủn mà đường bít chịt,

Sậy lè tè khít rịt rậm ri.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

LẺ

1.- Lẻ là thừa ra, tức có số dư, ngoài số tròn từ hàng chục trở lên.

Như: Một chục lẻ ba, ba trăm lẻ năm đồng, hai chục cam lẻ một trái.

Trăm năm lẻ như thoi nhặt thúc,

Ngảnh lại đời mà nhục thầm đời.

(Phương Tu Đại Đạo).

Thế giái ba ngàn qua có lớp,

Ðịa hoàn bảy lẻ đến từ tuần.

(Thiên Thai Kiến Diện).

2.- Lẻ là chia nhỏ ra, riêng ra một mình, tách rời ra một mình. Như: Đi lẻ từng người, chim lẻ bạn, lẻ đôi.

Thánh giáo Thầy có câu: Con khá hiểu lời Thầy và nên biết rằng, nếu con chẳng dụng quyền lực của Thầy ban cho con mà đương cự, dìu dắt các em thì một ngày kia, nó dẫn đi lần hồi hết, rồi còn một mình như chim lẻ bạn, như phụng lạc bầy, gặp cơn giông tố kia, cũng chẳng sức gì đởm đương cho khỏi sa nơi hắc ám.

Gối lẻ phòng thu quyên khóc bạn,

Hương phai lửa hạ lệ tròn dòng.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

LẺ LOI

Lẻ: Riêng ra một mình, tách rời ra một mình.

Lẻ loi là chỉ riêng có một mình, tách khỏi quan hệ với mọi người. Như: Đứng lẻ loi một mình giữa chợ.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Vì đó, chúng ta không sợ Ðạo nghèo về tiền bạc mà chỉ sợ Ðạo nghèo về tình thương yêu, cái tình thương yêu quý báu mầu nhiệm rất cần thiết cho tâm hồn của người tu sĩ cũng như cơm gạo cần thiết cho mảnh xác thân và nếu thiếu hẵn đi thì dầu chúng ta có được con số đông đúc bao nhiêu, chúng ta cũng như bị lẻ loi côi quạnh và cơ phổ độ không còn biết dựa vào đâu mà thực hiện được.

Xem qua như chốn hý tràng,

Lẻ loi mặt nịnh lỡ làng phận trung.

(Ngụ Đời).

Cớ sao cảnh tịnh úa xào,

Hay là thấy thiếp mà sầu lẻ loi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

LẺ TẺ

Lẻ: Riêng ra một mình, tách rời ra một mình.

Lẻ tẻ là có rất ít và rời rạc, không tập trung lại, không đều khắp.

Như: Ý kiến lẻ tẻ, lúa chín còn lẻ tẻ chưa rộ.

Mối Đạo phân chia nơi đất Bắc,

Thương đời lẻ tẻ tại miền Tây.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

LẼ

1.- Lẽ là lý, đạo phải, đường phải. Như: Lẽ ở đời, nói hợp lẽ, tìm lẽ mà cãi, không lẽ làm việc đó.

Thánh giáo Thầy có đoạn dạy: Nếu Thầy dùng quyền pháp Chí Tôn thì mất lẽ công bình thiêng liêng Tạo hoá. Con cứ lo lập luật, để công phổ độ cho chư đạo hữu con hưởng chút ít.

Lẽ Chánh tự nhiên có lẽ Tà,

Chánh Tà hai lẽ đoán sao ra.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Hễ ghét người thì Trời ghét lại,

Ghét người Trời ghét lẽ nào hơn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Lẽ là nói người vợ thứ, đối với người vợ cả.

Như: Ông ấy có hai vợ, vợ lẽ còn rất trẻ, kiếp lẽ mọn của cô ta thật là thảm hại.

Thân phụ Ngài là Thúc Lương Ngột, làm quan võ, lấy người vợ trước sanh được chín người con gái, người vợ lẽ sanh được một trai là Mạnh Bì.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

LẸ

Lẹ là nhanh, chóng, mau, có tốc độ hơn mức bình thường. Như: Làm lẹ, lẹ chân lên kẻo trễ giờ.

Giải về Long Mã, Ngài Tiếp Pháp Trương Văn Tràng trong quyển Giáo Lý có viết: Long Mã tượng trưng Âm Dương tương hiệp, tức thời gian trôi qua mau lẹ và mang theo những tinh tuý của Trời Đất để chan rưới sự sống cho muôn loài vạn vật.

Khóc của mụ pha cười của trẻ,

Chậm của già đổi lẹ của tơ.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

LẸ LÀNG

Lẹ: Nhanh, chóng. có tốc độ hơn mức bình thường.

Lẹ làng là nhanh nhẹn, nhanh trong mọi cử chỉ, động tác, tính cách.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Một đàng thì mỗi khi để chơn đi thì sợ đạp nhầm đến con kiến. Còn một đàng thì nếu thân mình không nhanh chóng lẹ làng thì một mũi đạn đủ đưa họ làm người thiên cổ.

Nó mau hư nát lẹ làng,

Chẳng chi bền bỉ vững vàng đặng lâu!

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

LEM LUỐC

Lem: Bị vấy bẩn, hoặc có vết dơ ở mặt ngoài.

Lem luốc là người hoặc quần áo, sách vở bị vấy bẩn nhiều chỗ.

Như: Quần áo bị lem luốc dầu mỡ, tập vở không sạch sẽ lem luốc đầy mực.

Muốn chị anh chẳng gọi chú hề,

Đừng lem luốc làm ghê cả xóm.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LÉN

Lén là làm hoặc nói việc gì sao cho những người khác không thấy, không hay biết.

Như: Lén đi một mình, thằng bé nói lén anh ấy, nó đánh lén sau lưng.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Rất đỗi Thầy là bực Chí Tôn đây mà còn bị chúng nó mưu lén cho qua Thánh ý Thầy thay! Một đàng trì, một đàng kéo, thảm thay các con chịu ở giữa.

Nào khi lén vẻ mày thục nữ,

Nào khi lo gìn giữ hương thề.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Kìa chùa cũ nóc hư muốn sập,

Nơi đôi ta lén gặp gỡ nhau.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Lại ép lòng chú hoạ thơ xưa,

Chú ngơ ngáo thừa ưa lén trốn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LEO

Leo là bám vào một vật gì đó để bò lên. Như: Leo thang, leo tường, khỉ leo cây, leo cao té nặng.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy đã nói đạo đức cũng như một cái thang vô ngằn, bắc cho các con leo đến phẩm vị tối cao tối trọng là ngang bực cùng Thầy, hay là Thầy còn hạ mình cho các con cao hơn nữa.

Đờn Tư Mã lên dây cao thấp,

Trác Văn Quân đường lấp cũng leo tường.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LEO NHEO

Leo nheo ý nói trẻ con hay quấy, bám theo người lớn không dứt ra được.

Leo nheo, như chữ “Lèo nhèo”, là nói một cách dai dẳng để van nài, khóc lóc đến mức khó chịu.

Như: Đám trẻ con leo nheo bên bà mẹ, mấy đứa nhỏ cứ leo nheo đòi mẹ cho đi chơi.

Khiến Nữ phái leo nheo than tức,

Khắp xa gần bứt rứt hỏi thăm.

(Thơ NĐS Hương Thanh).

 

 

LEO TRÈO

Leo: Bám vào vật gì để bò lên. Trèo: Tay bám cây, thang và chân đẩy hoặc bước lên để di chuyển thân thể.

Leo trèo là di chuyển thân thể lên cao bằng cách bám vào vật khác và bằng cử động của chân tay.

Đời thái quá chuyển xây rồi bất cập,

Ham leo trèo nạn té sấp nó kề bên.

(Giác Mê Khải Ngộ).

 

 

LÉO TỚI

Léo: Lại gần một nơi nào. Tới: Từ dùng để chỉ điểm đến là một khoảng không gian nào đó.

Léo tới, như chữ “Léo hánh”, là bén mảng, tới lui một nơi nào đó, hoặc lảng vảng ở gần một nơi nào đó.

Như: Dạy con trẻ đừng léo tới những nơi ăn chơi.

Trường đổ bác cũng đừng léo tới,

Phường trăng hoa hát bội khá từ.

(Giới Tâm Kinh).

 

 

LÈO

1.- Lèo là dây buộc ở lá buồm để lựa theo chiều gió cho thuyền đi.

Như: Gió tạt mạnh vào thuyền làm đứt dây lèo, giữ dây lèo cho thuyền đi theo hướng gió.

Giục sầu đêm quạnh nghe ngư phủ,

Gợi thảm sương mơi giục trở lèo.

(Bát Nương Giáng Bút).

Phải noi gương cha giữ lái giữ lèo,

Phương tiện tặn làm theo đâu thốn thiếu.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Lèo còn dùng để chỉ đoạn dây ngắn buộc ngang ở đầu diều để cho cân cánh diều mà thả bay.

Như: Diều đứt dây lèo.

Cánh sườn cột nẹp cân cho đúng,

Lèo lái so dây gióng đặng đều.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

LÈO LÁI

Lèo: Dây buộc ở buồm để thả ra, hoặc rút lại tuỳ theo chiều gió. Lái: Bộ phận ở tàu thuyền để điều khiển.

Lèo lái là dây lèo và tay lái.

Lèo lái là hai bộ phận chính của thuyền, dùng để điều khiển con thuyền.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Xin thưa rằng: Trị nước an dân thì có nhà cầm quyền Quốc gia, lèo lái con thuyền Ðạo thì có nhà lãnh đạo tinh thần của Tôn Giáo. Tôn giáo không có thể xoay chuyển vận nước được, cũng như Chánh quyền không thể điều khiển Tôn giáo.

Ba đào sóng bủa bởi thuyền to,

Lèo lái kiên gan vững phận trò.

(Thơ Thân Dân).

Lèo lái tay gìn tuôn Nhược thuỷ,

Kệ kinh miệng niệm thấu Trùng thiên.

(Thơ Tiếp Pháp).

 

 

LÈO NHÈO

Lèo nhèo là từ dùng để chỉ người có tính hay nói nhây, nói dai dẳng, hoặc người đứng van nài cầu cạnh đến mức khó chịu.

Như: Anh ta say có tật đứng lèo nhèo bên tai, Bé lèo nhèo đòi mẹ đi chơi.

Người lối xóm lèo nhèo bộc tính,

Kẻ thân quen bịn rịn lo toan.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

LẺO LỰ

Lẻo: Nhanh miệng, tỏ ra không thật, không sâu sắc.

Lẻo lự là gian dối tráo trở, nói tới nói lui không thể nào lường được.

Như: Thằng đó lẻo lự lắm, hơi sức nào tin nó.

Miệng lẻo lự không chừa giả dối,

Lòng tham sang hại lỗi đến chồng.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

LẼO ĐẼO

Lẽo đẽo là từ gợi tả dáng đi chậm chạp, nhưng cứ từng bước theo sau không rời.

Lẽo đẽo còn dùng để chỉ cặm cụi, mải miết, miệt mài với công việc.

Thí dụ: Đứa bé lẽo đẽo theo mẹ đi chơi, Anh ta mấy năm nay cứ lẽo đẽo theo nghề đó mãi.

Vén xiêm nghê, cài mão én, xênh xang một quạt một con đồng,

Nâng bóng ác, vận chăn lừa, lẽo đẽo đôi hầu đôi đứa trẻ.

(Tuý Sơn Vân Mộng).

 

 

LÉP

Lép là không chắc, không có gì trong ruột, tức hạt, quả ở trạng thái phát triển không đầy đủ.

Như: Hạt đậu lép, bắp lép hạt, mùa nầy mưa nhiều nên lúa lép nhiều.

Lúa mình nhiều lúa lép phải dêu,

Đừng để vậy trộn đều đong bán.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

1.- Lê là di chuyển bằng cách kéo bàn chân gần như sát mặt đất.

Như: Lê đôi guốc xuống mặt đường, lê chiếc tủ vào một góc, nó đi lê từng bước một.

Cỏ huyên cắm kền kền đầu tuyết,

Con gậy mòn khuyết nửa cây.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Lê là một thứ cây ăn quả, cùng loại với táo tây, hoa trắng, quả có nhiều nước vị ngọt.

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du có viết: Cỏ non xanh tận chân trời, Cành trắng điểm một vài bông hoa.

Ai cho sen muống một bồn,

Ai từng chanh khế sánh phồn lựu .

(Nữ Trung Tùng Phận).

3.- Lê là đen, không dùng một mình. Như: Lê dân (dân đen), lê minh, lê thứ.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thần Hoàng Bổn Cảnh có câu: Từ thuở ta vâng chiếu chỉ đến trấn nhậm nơi đây, ta một tấm lòng lo cho thứ đặng an cư lạc nghiệp, thạnh vượng mùa màng, mỗi mỗi đều hằng lo lắng cho chúng sanh nơi phần trách nhậm.

Vương hầu thứ, ai là chí,

Chí quyết làm cho thế khác thường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

LÊ DÂN

黎 民

Lê: Đông đúc, còn có nghĩa là đen. Dân: Dân chúng.

Lê dân là dân chúng đông đúc. Lại còn có nghĩa là dân đầu đen, chỉ chung người dân trong nước.

Như: Vua minh chánh thì phải lo cho lê dân.

Dệt thảm lê dân Trời cám cảnh,

Khêu sầu xã tắc Đất kinh hồn.

(Thất Nương Giáng Bút).

Non nước thay màu xem hớn hở,

Lê dân thoát ách hết long đong.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

LÊ HOẮC

蔾 藿

Lê hoắc, như chữ “Hoắc Lê 藿 蔾”, là tên hai thứ rau ăn tầm thường, đạm bạc.

Lê hoắc là chỉ thức ăn tầm thường dùng cho người ăn chay kham khổ, đạm bạc, chỉ kẻ tu hành.

Chi bằng lê hoắc say sưa đạo,

Cư chốn trần ai chẳng chịu trần.

(Thơ Thượng Phẩm).

Lê hoắc bén mùi đời nhẹ gánh,

Đỉnh chung quen giọng khổ đồng cân.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

LÊ LỄ RƯỚC GIA ĐÌNH

Lê Lễ là một vị tướng của nhà chí sĩ đất Lam Sơn Lê Lợi, khởi nghĩa chống quân Minh đô hộ. Gia đình của Lê Lễ ở đất Lam Sơn, khi nghĩa quân của Lễ Lợi vì yếu thế phải rút quân về vùng núi hiểm trở Chí Linh. Lê Lễ sợ bọn giặc Minh vào Lam Sơn khủng bố người thân, nên về nhà rước mẹ và vợ con lên vùng Chí Linh trú ẩn.

Mẹ, chị dâu và vợ của Lê Lễ sợ làm bận rộn Lê Lễ và nghĩa binh, lại nữa cho rằng từ đây đến Chí Linh đường quá xa xôi nên đi khó lọt qua các trạm của giặc Minh, không muốn đi. Lê Lễ hối thúc vợ thu xếp hành trang, trong khi giặc Minh sắp tràn đến. Thấy vậy, bà mẹ và chị dâu của Lê Lễ dùng dao tự sát, để Lê Lễ yên tâm đánh giặc. Sau khi lo chôn cất mẹ và chi dâu xong Lê Lễ hối vợ lên ngựa về Chí Linh. Trên đường đi, vợ Lê Lễ sợ bận bịu cho chồng, khó thoát thân được, nên cũng tự sát chết. Lê Lễ quá đau lòng, biết rằng các người thân trong gia đình vì không muốn làm gánh nặng cho chàng, chàng khỏi bận tâm đến mẹ và vợ con, mà yên lòng lo cứu nước.

Bên ngoài hành lang Báo Ân Từ về phía nữ phái có vẽ bức tranh lấy tích “Lê Lễ rước Gia đình” để ca tụng những gương nữ anh thư tiết liệt.

Cờ Lam Sơn bảo tồn đất nước,

Lê Lễ nguy lúc rước gia đình.

Mẹ chị thác giữa quân Minh,

Bên yên vợ cũng quyên sinh cứu chồng.

(Báo Ân Từ).

 

 

LÊ THỨ

黎 庶

Lê: Đông đúc, màu đen. Thứ: Nhiều.

Lê thứ, cũng như chữ lê dân, lê nguyên, có nghĩa dân đen đông đảo, dùng để chỉ chung dân chúng.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thần Hoàng Bổn Cảnh có dạy: Từ thuở ta vâng chiếu chỉ đến trấn nhậm nơi đây, ta một tấm lòng lo cho lê thứ đặng an cư lạc nghiệp, thạnh vượng mùa màng, mỗi mỗi đều hằng lo lắng cho chúng sanh nơi phần trách nhậm.

Quan Thế Âm lân mẫn ân cần,

Vớt lê thứ khổ trần đoạ lạc.

(Kinh Tận Độ).

Lòng Trời cảm cứu an lê thứ,

Độ chúng sanh muôn xứ gội ơn.

(Xưng Tụng Công Đức).

 

 

LÊ VĂN LỊCH

黎 文 曆

Ngài Lê Văn Lịch được Đức Chí Tôn phong làm Đầu Sư phái Ngọc, Thánh danh Ngọc Lịch Nguyệt trong Đàn cơ vào năm Bính Dần, 1926.

Ngài Ngọc Lịch Nguyệt, hiệu là Thạch Ẩn Tử, sanh ngày mùng 1 tháng 9 năm Canh Dần (Dl. 14-10-1890) tại làng Long An, quận Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn.

Thân sinh Ngài là Cụ Lê Văn Tiểng, tu đến bực Thái Lão Sư của Đạo Minh Sư, hiệu Lê Đạo Long, là người đã lập ngôi Vĩnh Nguyên Tự ở Cần Giuộc, và thân mẫu của Ngài là Cụ Bà Trần Thị Đắc.

Hiền nội Ngài Lê Văn Lịch là Bà Trần Thị Khá, con gái của Ngài Ngọc Chưởng Pháp Trần Văn Thụ. Ngài Lê Văn Lịch có một người con gái là Cô Lê Ngọc Trang, Đạo hiệu Bạch Tuyết.

Đầu năm Bính Dần 1926, quý Ngài Cao Quỳnh Cư và Phạm Công Tắc được lịnh Đức Chí Tôn dạy phải xuống Vĩnh Nguyên Tự lập đàn cầu cơ, Đức Như Ý Đạo Thoàn Chơn Nhơn giáng cơ dạy Ngài Lịch, lúc bấy giờ đã tu tới bực Dẫn Ân (Minh Đường), phải hiệp với quý Ngài Cư, Tắc để mở Đạo Cao Đài.

Đêm 12 tháng 3 năm Bính Dần (Dl. 23/4/1926), Ngài Lê Văn Lịch được Đức Chí Tôn giáng cơ ân phong Ngọc Đầu Sư, Thánh danh Ngọc Lịch Nguyệt, cùng một lượt với Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt, trong cuộc Lễ Thiên phong đầu tiên tổ chức tại nhà Ngài Lê Văn Trung ở Chợ Lớn.

Thời gian đầu khi mới khai Đạo, Ngài Ngọc Lịch Nguyệt được lịnh Đức Chí Tôn tìm chọn ba bài kinh Tam giáo để làm kinh tụng của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Ngài cùng với Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt phụng soạn quyển “Tứ Thời Nhựt Tụng”, trong đó các bài kinh được in bằng chữ Nho, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ và được ban hành vào năm Mậu Thìn, 1928.

Vào năm 1934, hai ông Nguyễn Ngọc Tương và Lê Bá Trang tách khỏi Toà Thánh Tây Ninh thì Ngài Ngọc Lịch Nguyệt cũng rời Toà Thánh, để trở về Vĩnh Nguyên Tự tu hành.

Năm 1943, Ngài bị nhà cầm quyền Pháp bắt đày đi Côn Đảo, đến năm 1945, Ngài mới được trả tự do trở về.

Ngài Đầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt bị sát hại trong cuộc chiến chống Pháp xâm lược của phong trào Việt Minh, Ngài quy liễu tại Chợ Lớn ngày 2 tháng 9 năm Đinh Hợi (Dl. 15/10/1947) thọ 58 tuổi.

Mộ của Ngài Lê Văn Lịch hiện đặt tại phần đất phía sau chùa Vĩnh Nguyên Tự, gần mộ của thân phụ Ngài là Cụ Lê Văn Tiểng.

Tôi là Lê Văn Trung tự Thiên ân là Thượng Trung Nhựt, và Lê Văn Lịch tự Thiên ân là Ngọc Lịch Nguyệt...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

LÊ VĂN TRUNG

黎 文 忠

Ngài Lê Văn Trung được Đức Chí Tôn phong làm Đầu Sư phái Thượng, Thánh danh là Trung Nhựt.

Ngài Lê Văn Trung sinh ngày 10 tháng 10 năm Bính Tý (Dl. 25/11/1876) tại làng Phước Lâm tổng Phước Điền Trung, huyện Phước Lộc, hạt Tân An, nay thuộc xã Phước Lâm, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Cha là cụ Lê Văn Thạnh mất sớm khi ông mới ba tuổi.

Ngài lớn lên nhờ sự nuôi dưỡng và giáo dục của mẹ là bà Văn Thị Xuân, từng theo học tại Lycée Chasseloup Laubat Sài Gòn và tốt nghiệp vào năm 1894, lúc đó Ngài được 18 tuổi.

Sau khi tốt nghiệp Trung học, Ngài được nhận vào làm thơ ký tại Dinh Thống Đốc Nam Kỳ ngày 14 tháng 7 năm 1894. Ngài làm việc tại đây trong 12 năm cho đến ngày 6 tháng 3 năm 1906 thì xin thôi việc để theo đuổi nghiệp chính trường.

Sau đó Ngài ra ứng cử và được bầu vào Hội Đồng Quản Hạt Nam Kỳ liên tục trong 8 năm (hai khoá). Trong thời gian làm Nghị viên Hội Đồng Quản Hạt Nam Kỳ, Ngài nhiều lần có những biểu hiện thỉnh cầu bênh vực cho quyền lợi của dân thuộc địa bản xứ. Điển hình là vụ Lục Hạng điền, chính phủ Pháp phân 6 hạng ruộng để đánh thuế. Ông Outrey, quyền Thống Đốc Nam Kỳ dự thảo luật thuế về Lục Hạng điền, trình ra cho Hội đồng Quản Hạt thừa nhận để đem ra áp dụng thi hành.

Ngài cùng với ông Diệp Văn Cương, Hội đồng Quản Hạt Bến Tre đứng ra làm đầu 6 vị Hội đồng Quản Hạt người Việt, đồng phản kháng dự thảo luật nói trên, nhưng khi biểu quyết, số thăm của Hội đồng người Việt có 6, còn của người Pháp thì 10, nên bị thua thăm, và như thế thì dự luật được thông qua với đa số 10/6.

Dù thua thăm, nhưng 6 ông cương quyết chống lại Luật Thuế Lục Hạng điền, nên tất cả 6 ông Hội đồng người Việt đều gởi đơn từ chức để phản đối.

Năm 1911, Ngài Lê Văn Trung cùng với bà Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương đứng ra vận động lập College des Jeunes Filles, trường nữ Trung học đầu tiên tại Sài Gòn.

Ngày 18 tháng 5 năm 1912, Ngài Lê Văn Trung được chính phủ Pháp ban thưởng cho Bắc Đẩu Bội Tinh Đệ ngũ đẳng vì những đóng góp cho nhà nước Pháp tại thuộc địa Nam Kỳ.

Năm 1914, Ngài Lê Văn Trung được Pháp cử lên làm Nghị Viên Hội Đồng Soái Phủ Đông Dương (Conseil du Gouvernement de l'Indochine), thường gọi là Hội Đồng Thượng Nghị Viện Đông Dương.

Kể từ năm 1920 trở đi, công việc kinh doanh của Ngài Trung gặp nhiều khó khăn, đến cuối năm 1924 thì bế tắc, hoàn toàn bị lỗ lã. Ngài đau buồn, bắt đầu hút thuốc phiện, thị lực yếu đi rất nhiều, chỉ thấy mọi vật lờ mờ. Được sự giới thiệu của một người họ hàng là ông Nguyễn Hữu Đắc, tu theo Minh Lý, hướng dẫn Ngài Trung đến hầu đàn tại Bến Phú Lâm, Quận 6 Chợ Lớn. Tại đây, Đức Lý Thái Bạch giáng khuyên Ngài lo tu hành. Ngài bắt đầu ăn chay, bỏ hút thuốc phiện, và lần lần đôi mắt của Ngài hết loà, sáng trở lại.

Theo Đạo Sử, ngày 23 tháng 11 năm Ất Sửu (Dl. 7/1/1926), các ông Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc đem Đại Ngọc cơ đến nhà ông Trung để Đức Chí Tôn giáng đàn dạy việc. Trong đàn này, Ngài được Đức Thượng Đế dạy phải hiệp cùng hai ông Phạm Công Tắc và Cao Quỳnh Cư lo việc mở đạo.

Từ đó, Ngài Lê Văn Trung là một trong số các môn đồ tích cực đi truyền đạo khắp các tỉnh Nam Kỳ. Chính vì vậy, đêm 12 tháng 3 năm Bính Dần (Dl. 23/4/1926), Ngài được Đức Chí Tôn phong làm Thượng Đầu Sư, với Thánh danh là Thượng Trung Nhựt, cùng lượt với Đầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt.

Ngày 23 tháng 8 năm Bính Dần (Dl. 29/9/1926), Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt vâng theo Thánh ý của Đức Chí Tôn, hiệp cùng chư chức sắc Thiên phong và chư đạo hữu, tổng cộng gồm 247 vị, họp tại nhà ông Nguyễn Văn Tường, ở đường Galiéni (nay là Trần Hưng Đạo), Sài Gòn, để soạn thảo Tờ Khai Đạo, gửi lên chánh phủ Pháp.

Ngày 1 tháng 9 năm Bính Dần (Dl. 7/10/1926) Ngài đích thân đem Tờ Khai Đạo đến gửi cho quan Thống Đốc Nam Kỳ là Le Fol, được ông vui vẻ tiếp nhận.

Ngày 15 tháng 10 năm Bính Dần (Dl. 19/11/1926), Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt hiệp cùng Đức Hộ Pháp và các chức sắc Thiên phong, vâng lịnh Đức Chí Tôn mượn chùa Từ Lâm Tự (chùa Gò Kén) ở Tây Ninh làm Thánh Thất tạm để tổ chức Đại lễ Khai Đạo Cao Đài.

Ngài 3 tháng 10 năm Canh Ngọ (Dl. 22/11/1930), Đức Lý Giáo Tông giáng cơ ban cho Ngài Quyền Giáo Tông hữu hình, trong Đạo Nghị Định thứ nhì.

Ngày 13 tháng 10 năm Giáp Tuất (Dl. 19/11/1934), Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung lâm bịnh và nhẹ nhàng Đăng Tiên tại Giáo Tông Đường, lúc 3 giờ chiều, hưởng 59 tuổi.

Quyền Giáo Tông cực kỳ đúng phận,

Lê Văn Trung là Đấng nhân tài.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

LỀ

Lề là lệ, thói quen đã thành nếp, thành lệ. Như: Lề thói, lề lối, đất có lề quê có thói.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Ðức Lý Ðại Tiên đã không vui lòng về sự thi hành nhiệm vụ của Chức sắc Hội Thánh, không lẽ chúng ta điềm nhiên giữ y lề lối cũ mà không cải sửa.

Tập cho hiểu trọng lề cưới gả,

Tập cho ghê nết chạ lòng vơ.

(Phương Tu Đại Đạo).

Tuy cho rằng tục cũ lề quen,

Mình có thể sửa hèn ra trọng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LỀ LỐI

Lề: Thói quen đã thành nếp, thành lệ. Lối: Hình thức diễn ra của hoạt động đã trở thành ổn định, mang đặc điểm riêng.

Lề lối là cách thức đã trở thành thói quen. Như: Đã quen theo lề lối làm việc xưa nay.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Ðức Lý Ðại Tiên đã không vui lòng về sự thi hành nhiệm vụ của Chức sắc Hội Thánh, không lẽ chúng ta điềm nhiên giữ y lề lối cũ mà không cải sửa.

Lối cũ vẫn còn lề lối cũ,

Canh tân nào thấy bóng canh tân.

(Thơ Hiến Đạo).

 

 

LỄ

1.- Lễ là chắp tay mà vái lạy để tỏ lòng cung kính. Như: Cung kính lễ gia tiên, bái lễ Đức Chí Tôn, lễ Phật.

Thánh giáo Thầy có dạy: Con làm lễ trúng, song mỗi gật con nhớ niệm Câu Chú của Thầy: Nam Mô Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát.

Mai xuân nguyệt cúc vị trà hương,

Kỉnh lễ thành tâm hiến bửu tương.

(Bài Dâng Trà).

2.- Lễ là đem tiền bạc, đồ vật hoặc tinh thần mà dâng hiến cho ai. Như: Đem tiền lễ quan, dâng lễ phẩm.

Thánh giáo Thầy có dạy: Thầy vui muốn cho các con thuận hoà cùng nhau hoài, ấy là lễ hiến cho Thầy rất trân trọng. Phải chung lo cho danh đạo Thầy.

Khi vận thới lung lăng chẳng kể,

Lúc suy vi bày lễ khẩn cầu.

(Kinh Sám Hối).

Ép tá điền lễ vịt lễ gà,

Đến khi chết làm ma tu hít.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Lễ là những nghi thức tôn giáo phải theo để tỏ lòng cung kính với Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu hay các Đấng Thiêng liêng.

Như: Lễ tế Thần Thánh, lễ Chùa, lễ Nhà thờ, Đại lễ Đức Chí Tôn.

Khi tế tự chớ lờn chớ dể,

Việc quan, hôn thủ lễ nghiêm trang.

(Kinh Sám Hối).

Phật Trời chứng chiếu lòng con thảo,

Lễ cúng Thầy đều đặng hưởng xôi...

(Đạo Sử).

4.- Lễ là những phép tắc phải theo cho đúng khi cư xử với người khác.

Như: Cư xử cho phải lễ, lễ giáo, lễ phép, lễ nghĩa.

Con người có trí khôn ngoan,

Tánh linh hơn vật biết đàng lễ nghi.

(Kinh Sám Hối).

Còn đương thuở tuổi xanh thơ bé,

Rán theo cha học lễ học văn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

LỄ BÁI

禮 拜

Lễ: Chắp tay mà bái lạy. Bái: Cúng lạy.

Lễ bái, nói chung là sự cúng lạy ông bà tổ tiên hoặc Trời Phật.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Trái lại nếu Lễ không nghiêm, Nhạc không hoà thì đàn cúng có cái trạng thái hỗn loạn khiến cho người đến Lễ bái có một tâm trạng xao xuyến, tinh thần bất định.

Xem: Lễ bái thường hành.

Biết đặng ơn Trời thân lễ bái,

Rõ thông đức Phật miệng Nam mô.

(Thơ Thông Quang).

Lễ bái lo yên phần hiếu tử,

Tu hành nguyện tiếp bước thân sinh.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

LỄ BÁI THƯỜNG HÀNH

禮 拜 常 行

Lễ bái: Cúng lạy. Thường hành: Thường xuyên làm, luôn luôn làm.

Lễ bái thườnng hành là thường xuyên cúng bái, hoặc siêng năng cúng lạy.

Trong tôn giáo, người tu hành, ngoài việc rèn tâm sửa tánh ra, hằng ngày còn phải lo lễ bái (tức là cúng kính) Trời Phật, vì thường xuyên lễ bái thì đạo tâm mới phát triển, nên có câu: “Lễ bái thường hành tâm đạo khởi 禮 拜 常 行 心 道 起”.

Đức Quan Thế Âm có dạy như sau: Các em phải lo cúng kiếng thường.

1. Một là tập cho Chơn thần được gần gũi các Ðấng thiêng liêng cho đặng sáng lạn.

2. Hai là cầu khẩn với Ðức Ðại Từ Bi tha thứ tội tình cho các em và cả chúng sanh.

3. Ba là có tế lễ thì tâm phải có cảm, cảm rồi mới ứng, ứng là lẽ tự nhiên.

4. Bốn là tâm có cảm thì lòng bác ái mới mở rộng mà nhứt là khiếu lương tri lương năng của các em cũng nhờ đó mà lần hồi thành ra mẫn huệ.

Các em nhớ à!

Lễ bái thường hành tâm đạo khởi,

Nhân từ tái thế tử vô ưu.

(Bài Thài Thất Nương).

 

 

LỄ CHÂM CHƯỚC

Lễ: Nghi thức. Châm chước 斟 酌: Nghĩa đen là rót rượu mời qua lại với nhau. Nghĩa thường dùng thêm bớt hai bên cho vừa phải với nhau.

Lễ châm chước (hay nghi châm chước) là một nghi thức tế lễ có đơn giản đi một số tiết mục để cho giảm bớt thời gian.

Trong nghi phụ tế thường dùng lễ châm chước.

Hành lễ châm chước, tụng kinh cầu siêu, khiển điện, di linh cữu ra thuyền Bát nhã...

(Quan Hôn Tang Lễ).

 

 

LỄ ĐẠO TRIỀU

Lễ Đạo triều là lễ kỷ niệm ngày khai Đạo.

Đạo Cao Đài được Đức Chí Tôn dùng huyền diệu cơ bút dạy các vị chức sắc Đại Thiên phong khai mở nền Đại Đạo vào ngày 15 tháng 10 năm Bính Dần tại chùa Gò Kén tỉnh Tây Ninh.

Vì vậy, vào ngày rằm tháng mười hằng năm đều tổ chức kỷ niệm ngày Khai Đạo, còn gọi là “Lễ Đạo Triều”.

Nay vì Lễ Ðạo Triều, nên đến chúc mừng chư hiền hữu.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

LỄ ĐỘ

禮 度

Lễ: Cách bày tỏ ý kính bằng cử chỉ hay bằng cúng tế. Độ: Chừng, mực.

Lễ độ là thái độ được coi là đúng mực, tỏ ra biết coi trọng người khác khi tiếp xúc.

Như: Anh ta giữ lễ độ với mọi người.

Không háo thắng, không khoe mình, lúc nào cũng lễ độ, khiêm tốn, hoà hưởn, nhún nhường...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

LỄ ĐƯA CHƯ THÁNH

Lễ đưa: Cuộc lễ tiễn đưa. Chư Thánh: Chỉ chung các Đấng thiêng liêng.

Lễ đưa chư Thánh, như chữ “Chư Thánh triều Thiên 諸 聖 朝 天”, là đàn cúng đưa tiễn các Đấng Thần, Thánh, Tiên, Phật về chầu Đức Chí Tôn tại Ngọc Hư Cung.

Theo tục lệ dân gian, chiều hai mươi ba tháng chạp hằng năm mọi nhà điều có lệ cúng đưa ông Táo về Trời để tấu trình Thượng Đế việc mọi việc ở thế gian.

Riêng Đạo Cao Đài, vào ngày 24 tháng 12 hằng năm đều có đàn cúng vía “Chư Thánh triều Thiên” tức là “Lễ đưa Chư Thánh” về chầu Ngọc Hư Cung.

Trong bài “Sớ văn” đưa chư Thánh có câu: Kim vì Chung niên chi lễ Chư Phật, Chư Tiên, Chư Thánh, Chư Thần quy chầu Thượng Đế tại Ngọc Hư Cung 今 為 終 年 之 禮 諸 佛 諸 仙 諸 聖 諸 神 歸 朝 上 帝 在 玉 虛 宮, nghĩa là hôm nay vì ngày Lễ cuối năm, Chư Phật, Chư Tiên, Chư Thánh, Chư Thần trở về triều bái Đức Thượng Đế tại Ngọc Hư Cung.

Hăm bốn tháng chạp đến rồi,

Lễ đưa chư Thánh phản hồi triều Thiên.

(Cội Đạo Bốn Mùa).

 

 

LỄ GIÁO

禮 教

Lễ: Phép tắc giao tiếp trong xã hội. Giáo: Dạy.

Lễ giáo là những nghi thức về lễ nghĩa, lề thói ăn ở theo phép tắc trong xã hội.

Như: Anh ấy được sinh ra trong một gia đình lễ giáo.

Nề nếp Nho Phong lễ giáo chặt gìn,

Khuôn viên Đại Đạo, chơn truyền vẹn giữ.

(Ai Điếu Hương Lự).

Du đãng cao bồi đừng học thói,

Thơ hương lễ giáo gắng theo khuôn.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

LỄ HÔN PHỐI

Lễ: Phép tắc, nghi thức. Hôn phối: Phối hợp hôn nhân.

Lễ Hôn phối là lễ cưới, tức phối hợp nên duyên vợ chồng của đôi nam nữ.

Theo phong tục xưa, hôn lễ được phân ra làm sáu lễ (lục lễ) như sau:

1.- Lễ Nạp thái: Lễ cha mẹ đi coi dâu và dắt con đi coi vợ.

2.- Lễ Vấn danh: Lễ hỏi cho biết tên họ và tuổi tác cô gái coi có trùng tên cha mẹ, ông bà bên chồng chăng.

3.- Lễ Nạp kiết: Lễ trình bày tuổi tác và vận mạng tốt, được tương sanh.

4.- Lễ Nạp trưng: Lễ đem hàng lụa, tiền bạc, phẩm vật đến nhà gái để làm chứng sự hứa hôn chắc chắn, theo tục của ta là Lễ Hỏi hay Lễ Sính.

5.- Lễ thỉnh kỳ: Lễ nói ngày làm lễ cưới, cho đàng trai hay.

6.- Lễ thân nghinh: Lễ cưới, tức làm lễ rước dâu.

Hôn lễ hiện nay còn giữ hai lễ: Lễ Hỏi và Lễ Cưới mà thôi.

Theo Thế luật của đạo Cao Đài, việc hôn là việc rất trọng đời người. Phải chọn hôn trong người đồng đạo, trừ ra khi nào người ngoài ưng thuận nhập môn thì mới được kết làm giai ngẫu.

Tám ngài trước lễ sính, chủ hôn trai phải dán bố cáo nơi Thánh Thất sở tại cho trong bổn đạo hay, sau khỏi điều trắc trở.

Làm lễ sính rồi, hai đàn trai và gái phải đến Thánh Thất mà cầu Lễ Chứng Hôn.

Riêng tại Toà Thánh Tây Ninh nếu chủ hôn trai có yêu cầu thì Hội Thánh phái chức sắc đến hành pháp hôn phối cho đôi tân lang và tân giai nhân.

Trước lễ thành hôn tám ngày, chủ hôn trai phải dán bố cáo tại Thánh Thất sở tại, gọi là Bát Nhựt. Ấy là ngừa sự trắc trở về sau. Lễ hôn phối cần cầu chứng nơi Thánh Thất sở tại.

(Giáo Lý).

 

 

LỄ KINH

禮 經

Lễ: Cách bày tỏ lòng kính, tên sách ngày xưa. Kinh: Sách của các bậc Thánh hiền viết.

Lễ Kinh, như chữ “Kinh Lễ”, là một bộ sách trong Ngũ Kinh, chép những lễ nghi để giữ trật tự lớn nhỏ cho phân minh, hay để hàm dưỡng những tình cảm tốt đẹp, và để tiết chế tình dục.

Xem: Kinh Lễ.

Lễ kinh đã dạy kính nhường người,

Cái thói kiêu căng chẳng khó noi.

(Đạo Sử).

 

 

LỄ MUỐI DƯA

Lễ: Đồ vật để dâng cúng. Muối dưa: Muối và dưa, hai món thức ăn đạm bạc.

Lễ muối dưa là lễ dâng cúng muối và dưa, ý nói cuộc lễ cúng đơn sơ, đạm bạc.

Đầu cúi lạy... (phụ thân)... linh hiển,

Lễ muối dưa làm miếng hiếu tâm.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

LỄ NGHI

禮 儀

Lễ: Phép tắc. Nghi: Cách thức.

Lễ nghi là cách thức bên ngoài để bày tỏ việc đạo đức, lễ nghĩa.

Đạo sửa trị con người cho đặng thuần lương chơn chánh, chẳng có phương pháp nào cần thiết và gấp rút cho bằng lễ nghi, pháp độ như lời dạy của Đức Khổng Phu Tử trong sách Lễ Ký: Trị nhân chi Đạo mạc cấp ư lễ 治 人 之 道 莫 急 於 禮.

Thực vậy, lễ nghi pháp độ được người xưa thực hiện để làm nền móng giáo hoá nhơn sanh cho thấm nhuần đạo đức: Biết trọng lễ nghĩa, liêm sỉ, biết giữ khiêm cung, kỉnh nhượng. Thiên Khúc lễ có câu: Nhân hữu lễ tắc an, vô lễ tắc nguy. Lễ giả, bất khả bất học dã 人 有 禮 則 安, 無 禮 則 危. 禮 者 不 可 不 學 也, nghĩa là người có giữ lễ nghi, biết khiêm cung kỉnh nhượng thì đặng an toàn danh phận, còn người không giữ lễ pháp, lại buông lung khinh dể thì phải chịu nguy hại đến thân danh. Vì thế, lễ là cái cần thiết không thể không học.

Con người có trí khôn ngoan,

Tánh linh hơn vật biết đàng lễ nghi.

(Kinh Sám Hối).

 

 

LỄ NGHI PHONG HOÁ

禮 儀 風 化

Lễ nghi: Cách thức bên ngoài để bày tỏ việc đạo đức, lễ nghĩa. Phong hoá: Phong tục tập quán.

Lễ nghi phong hoá là cách thức bày ra trong sự cúng tế cho được trật tự, trang nghiêm và phù hợp với phong tục tập quán của dân tộc.

Lúc Thầy lập Pháp Chánh Truyền thì Thầy dạy hành lễ dường ấy mặc dầu, là bởi lễ nghi phong hoá nhà nam ta buộc phải vậy.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

LỄ NGHĨA

禮 義

Lễ: Cách bày tỏ hành vi cử chỉ kính trọng. Nghĩa: Việc làm theo lẽ phải và đạo lý.

Lễ nghĩa là phép tắc và lẽ phải của xã hội mà mọi người phải làm, phải theo. Như: Phú quý sinh lễ nghĩa.

Trong Chú Giải Pháp Chánh Truyền có câu: Còn hỏi về Lễ Nghĩa giao thiệp về phần Đời, thì Ngài dạy Giáo Hữu Nam Phái cũng chịu dưới quyền Giáo Sư Nữ Phái.

Cách ở ăn trong chốn gia đình,

Điều lễ nghĩa hết tình sắp đặt.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

LỄ PHÉP

Lễ: Phép tắc phải theo để giao tế trong xã hội. Phép: Lề, luật đặt ra để mọi người theo.

Lễ phép là những điều mà xã hội quy định là đúng đắn, tỏ được lòng kính trọng đối với người trên. Như: Thằng Bế rất lễ phép.

Diễn văn Đức Quyền Giáo Tông có câu: Người phải thương nhau như con một cha. Cả hoàn cầu là đại chánh chung cả nhơn loại, không hại lẫn nhau, lấy lễ phép mà giao thiệp cùng nhau, lấy công bình mà đối đãi cùng nhau.

Con Trung, nên về ráng tập các đạo hữu của con cho có lễ phép. Đạo thành là nhờ Lễ.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

LỄ SANH

禮 生

Lễ Sanh là một phẩm chức sắc thuộc Cửu Trùng Đài thấp nhứt, trên phẩm Chánh Trị Sự, dưới phẩm Giáo Hữu, đối phẩm với Thiên Thần.

Theo Đạo Nghị Định của Đức Lý Giáo Tông và Đức Phạm Hộ Pháp, Lễ Sanh được Hội Thánh bổ đi gọi là Đầu Tộc Đạo, làm đầu một Tộc Đạo (tức một huyện).

Lễ Sanh nam được chia ra là ba phái: Thái, Thượng, Ngọc nên Đại phục có ba màu vàng, xanh, đỏ tuỳ theo phái, đầu đội Khôi Khoa Mạo đều màu trắng.

Lễ Sanh nữ không phân phái, mặc đạo phục như Giáo Hữu, nhưng choàng ngang trên đầu một đoạn vải mỏng, cột ra sau ót, thả một mí dài một mí vắn, ngay đầu tóc có giắt một bông sen.

Lãnh chức Lễ Sanh lo phận sự,

Ngày sau chức trọng sẽ dành ban.

(Đạo Sử).

Tuổi đời vui được tròn câu thọ,

Bước Đạo may vào phẩm Lễ Sanh.

(Thơ Vạn Năng).

 

 

LỄ SĨ

禮 士

Lễ: Nghi lễ. Sĩ: Người, học trò.

Thời kỳ đầu mới Khai Đạo, trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn gọi những người hiến lễ trong Đàn cúng là Lễ Sanh, từ nầy ngày xưa bên Nho giáo cũng thường gọi.

Trong Đàn cơ ngày 18 tháng 5 năm Bính Dần, Đức Chí Tôn phân công các chức sắc dâng hiến lễ nơi Đàn cúng như sau:

“Kỳ, Kim, hầu xướng nội, là bàn thờ trong, biểu chúng nó đứng như vầy: Kỳ bên mặt, Kim bên trái.

Còn Bản, Giỏi, một cặp LỄ SANH đầu, đi giữa với một cặp nữa là Tỷ với Tiếp. Tả thì Nhơn với Tương, hữu thì Giảng với Kinh.

Lập ngoài cho đủ ba bàn vọng, đều để chư lễ sanh hầu.

Chừng nào nội xướng thì để cho lễ sanh điện lễ, cúng vật thì để sẵn ngoài ba bàn, chừng lễ sanh xướng thì đem vô cho mấy vị Chức sắc hiến lễ”.

Nhưng từ khi Lễ Sanh là tên một phẩm chức sắc bên Cửu Trùng Đài thì Đức Lý Giáo Tông mới giáng cơ sửa lại là “Lễ Sĩ” để chỉ người hiến lễ.

Ngài cho biết: “Nhiều khi chư Hiền hữu lạm dụng danh từ Lễ Sanh mà cho kẻ hiến lễ, làm mất thể diện của vị Thiên phong. Vậy Lão đặt tên cho kẻ hiến lễ là Lễ Sĩ.

Như vậy, Lễ Sĩ có nghĩa là người học trò Lễ, hay nói một cách rõ ràng hơn thì Lễ Sĩ là những người có nhiệm vụ dâng hiến các cúng phẩm lên người chủ lễ, để vị nầy cầu nguyện rồi đem dâng lên Bàn thờ. Khi điện lễ, các Lễ Sĩ phải bước nhịp nhàng, ăn rập theo tiếng nhạc, giọng kinh, giọng thài trong buổi lễ.

Đạo phục của Lễ Sĩ tương tự như Đạo phục của Lễ Sanh, chỉ khác một vài điểm là mão Lễ Sanh có Thiên Nhãn với một vòng Minh khí, còn mão Lễ Sĩ chỉ gắn một hoa mai năm cánh. Áo Lễ Sĩ không có ba dải sau lưng, còn quần thì mặc cái củn, tức một loại váy rộng, dài phủ xuống đến mắc cá, chân mang giày bố trắng.

Đặc biệt, trong ngày vía Đại đàn tại Đền Thánh, có tất cả sáu cặp Lễ Sĩ: Ba cặp hiến lễ và ba cặp cầm đèn Tam Giáo. Trong ba cặp hiến lễ thì một cặp tiếp lễ, mặc áo màu vàng, giữ nhiệm vụ phụ tiếp trong khi dâng hiến cúng phẩm, một cặp đăng và một cặp đài đều mặc áo màu xanh. Hai cặp nầy có nhiệm vụ điện lễ, nghĩa là phải đi đứng nhịp nhàng theo tiếng nhạc, giọng Thài, và chân bước từng bước theo chữ “Tâm” (心). Còn ba cặp Lễ Sĩ cầm đèn Tam Giáo mặc áo vàng, xanh, đỏ tay cầm ba cây đèn Thái, Thượng, Ngọc.

Sau đây là Sắc Lịnh Số: 51/SL của Đức Hộ Pháp ngày 22 tháng 12 năm 1936 quy định về bổn phận, quyền lợi và đạo phục của Giáo Nhi và Lễ Sĩ có nguyên văn như sau:

Văn Phòng

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

PHẠM HỘ PHÁP

(Thập Nhị Niên)

SỐ: 51/SL

Tòa Thánh Tây Ninh

SẮC LỊNH

Nghĩ vì Tân Kinh là Kinh Tận độ đã ra, nên cần nhứt phải có Lễ Sĩ và Giáo Nhi dạy mấy em Đồng Nhi cho thành thuộc, phòng độ rỗi phần hồn của toàn con cái Chí Tôn khắp cả các nơi mà phướn đạo đã đủ huyền linh che chở,

Nghĩ vì Hội Thánh mong mỏi mở rộng con đường Thánh đức cho đoàn hậu tấn bước vào Thánh Thể của Chí Tôn đặng lập vị,

Nghĩ vì trẻ em Đồng Nhi từ 11 năm mở Đạo đến nay đã trưởng thành nên buộc Hội Thánh định phần phong thưởng công nghiệp, nên:

SẮC LỊNH:

Từ đây mở khoa mục mỗi năm cho Lễ Sĩ và Giáo Nhi thi cử.

Lễ Sĩ thì thi theo mặt kinh luật của Đạo về Quan, Hôn, Tang, Tế, nhứt là về Lễ Nhạc. Buộc Lễ Sĩ phải cần cho hay một món đờn trong mấy thứ âm nhạc: Tam, Tiêu, Tranh, Đản, Kìm, Tỳ, Cò, Độc.

Giáo Nhi thì phải thuộc lòng Tân Kinh và cũng phải thuộc một môn âm nhạc như Lễ Sĩ.

Những Đồng nhi Nam Nữ có đủ giấy chứng Tòa Thánh, lớn trên 20 tuổi mới đặng thi Lễ Sĩ và Giáo Nhi, và phải biết viết với đọc chữ quốc ngữ.

Mỗi năm mở khoa mục ngày rằm tháng 10 tại Tòa Thánh. Hội Thánh chia ra hai thứ Lễ Sĩ và Giáo Nhi:

- Thứ nhứt thì những hạng Lễ Sĩ và Giáo Nhi trọn hiến thân cho Hội Thánh, nhứt là Giáo Nhi đã tuyên thệ thủ trinh hành đạo thì sẽ đặng thuyên bổ hành đạo trong c