TỪ NGỮ ĐIỂN CỐ CAO ĐÀI

 

 

Danh mục vần M

 

MA

Ma

Ma chướng

Ma Ha Tát

Ma hồn quỷ xác

Ma khảo

Ma kheo

Ma lánh quỷ kiêng

Ma Ní

Ma tâm trác tánh

Ma thịt quỷ hồn

Ma vương

Ma vương quái

Ma Xử

 

Má đào

Má hồng

Má phấn

Má phấn môi son

 

 

MẢ

Mả

 

Mã Viện

 

MẠ

Mạ

 

MẠC

Mạc

Mạc trắc

 

MÁCH

Mách bảo

 

MẠCH

Mạch

 

MAI

Mai

Mai cốt cách

Mai gầy sen nở

Mai hậu

Mai mốt

Mai một

Mai tàn tuyết xủ

Mai trúc

Mai xuân nguyệt cúc

 

MÁI

Mái

Mái chèo

Mái tóc

Mái tóc điểm sương

Mái tóc sương pha

 

MÀI

Mài

Mài gọt

Mài giũa

Mài miệt

Mài sắt

 

MẢI

Mải mê

 

MẠI

Mại quốc

 

MÃI

Mãi Thần

 

MAY

May

May duyên

May mắn

May rủi

May vá

 

MÁY

Máy

Máy bay

Máy Càn khôn

Máy hành tàng

Máy huyền vi

Máy linh cơ tạo

Máy nhiệm

Máy sâu hoạ kín

Máy Tạo

Máy trời

 

MÀY

Mày

Mày dày mặt dạn

Mày hoa

Mày liễu

Mày liễu má đào

Mày liễu ướm sương

Mày râu

Mày xanh

Mày xanh đầu bạc

 

MẢY

Mảy hào

Mảy lông

Mảy may

Mảy mún

 

MAN

Man mác

 

MÀN

Màn

Màn trời chiếu đất

 

MÃN

Mãn

Mãn đời

Mãn hạn

Mãn kiếp

Mãn kỳ

Mãn lễ

Mãn nguyện

Mãn nhãn

Mãn phần

Mãn quả

Mãn số

 

MANG

Mang

Mang sao đội nguyệt

Mang tiếng

Mang tội

 

MÁNG

Máng

 

MÀNG

Màng

 

MẢNG

Mảng

 

MÃNG

Mãng bào

 

MẠNG

Mạng

Mạng bạc

Mạng căn

Mạng danh

Mạng yểu danh thọ

Mạng lịnh

Mạng phụ

Mạng số

Mạng sống

Mạng trời

 

MANH

Manh

Manh mún

Manh quần tấm áo

 

MÀNH

Mành

Mành tương

 

MẢNH

Mảnh

Mảnh hương nguyền

Mảnh tơ tình

Mảnh tơi

 

MÃNH

Mãnh hổ

Mãnh lực

 

MẠNH

Mạnh

Mạnh bạo

Mạnh đặng yếu thua

Mạnh giỏi

Mạnh khoẻ

Mạnh Lệ

Mạnh mẽ

Mạnh Quang

Mạnh Quang cử án tề mi

Mạnh Tông

Mạnh Tử

Mạnh Thị

Mạnh Thường Quân

 

MAO

Mao ốc

 

MÃO

Mão

Mão giáp

Mão Hiệp Chưởng

Mão Phương Thiên

Mão Văn Đằng

 

MẠO

Mạo

Mạo danh

Mạo hiểm

Mạo nhận

 

MÁT

Mát

Mát mẻ

 

MẠT

Mạt

Mạt hèn

Mạt kiếp

Mạt lộ

Mạt pháp

 

MAU

Mau

 

MÁU

Máu

Máu chảy ruột mềm

Máu đào

Máu ghen

Máu huyết

Máu mủ

Máu thịt

 

MÀU

Màu

Màu chiền

Màu dà

Màu da sắc tóc

Màu sắc

Màu thiền

 

MẮC

Mắc

Mắc câu

Mắc cỡ

Mắc lừa

Mắc mỏ

Mắc nạn

 

MẶC

Mặc

Mặc dầu

Mặc khách

Mặc niệm

Mặc phò lên thứ

Mặc sức

Mặc tuyên đại hoá

Mặc tưởng

 

MẮM

Mắm

 

MẶN

Mặn

Mặn lạt

Mặn mà

Mặn mòi

Mặn nồng

Mặn nhạt

 

MĂNG

Măng

 

MẮNG

Mắng

Mắng nhiếc

 

MẮT

Mắt

Mắt phàm

Mắt tục

Mắt Thầy

Mắt thịt

Mắt trời ngó thiếu phương

Mắt xanh

 

MẶT

Mặt

Mặt dạn mày dày

Mặt dương

Mặt hoa

Mặt mày

Mặt ngần thân dịu

Mặt nhựt

Mặt rồng

Mặt sắt

Mặt trời

 

MÂY

Mây

Mây mù

Mây mưa

Mây mưa đỉnh Giáp

Mây nổi

Mây ngàn

Mây rồng

Mây Tần

 

MẤY

Mấy

 

MÂM

Mâm

 

MẦM

Mầm

Mầm non

 

MẨN

Mẩn mê

 

MẪN

Mẫn đạt

Mẫn huệ

Mẫn khổ

Mẫn tánh

Mẫn tiệp

Mẫn tuệ

Mẫn Tử

Mẫn thế

 

MẦNG

Mầng

 

MẬP

Mập mạp

Mập mờ

 

MẤT

Mất

Mất nết

Mất nước

Mất vía

 

MẬT

Mật

Mật chỉ

Mật chiếu

Mật yếu

Mật niệm

Mật pháp

Mật thiết

 

MÂU

Mâu thuẫn

 

MẦU

Mầu

Mầu nhiệm

 

MẪU

Mẫu đơn

Mẫu hậu

Mẫu nghi

Mẫu tử

 

MẬU

Mậu Sanh

 

ME

Me

 

MẸ

Mẹ

Mẹ Mạnh Tử dời nhà

 

MÉC

Méc

 

MEN

Men

 

MEO

Meo

 

MÉO

Méo

Méo tròn

 

MÈO

Mèo

Mèo mả gà đồng

 

MẸO

Mẹo

 

MÉP

Mép

 

Mê đồ

Mê hà

Mê hoặc

Mê hoặc chúng sanh

Mê hồn

Mê luyến

Mê man

Mê mẩn

Mê mết

Mê muội

Mê ngộ

Mê say

Mê tân

Mê tín

Mê tỉnh

Mê vọng

 

MỀ

Mề đay

 

MỄ

Mễ

 

MỀM

Mềm

Mềm mỏng

 

MẾN

Mến

Mến anh quên én

Mến yêu

Mến lục tham hồng

 

MỀN

Mền

 

MÊNH

Mênh mang

Mênh mông

 

MỆNH

Mệnh

Mệnh bạc

Mệnh lệnh

Mệnh phụ phu nhân

Mệnh số

 

MỆT

Mệt

Mệt lử

Mệt mờ

Mệt nhọc

 

 

MỊ

Mị

 

MỈA

Mỉa mai

 

MÍCH

Mích

Mích bụng

Mích lòng

 

MỊCH

Mịch tầm

 

MIÊN

Miên miên thái bình

Miên tràng

Miên trường

 

MIỀN

Miền

 

MIỄN

Miễn

Miễn cưỡng

Miễn chiến bài

Miễn lễ

 

MIẾNG

Miếng

 

MIỂNG

Miểng

 

MIỆNG

Miệng

Miệng chánh thì đời vốn trái

Miệng mật gươm lòng

Miệng ngay lòng vạy

Miệng ngọt lòng chua

 

MIỆT

Miệt mài

 

MIÊU

Miêu duệ

 

MIẾU

Miếu đàng

Miếu đường

 

MỈM

Mỉm cười

Mỉm môi

 

MINH

Minh

Minh Cang Liêm Khiết

Minh cảnh đài

Minh chánh

Minh đoán

Minh đức

Minh đức tân dân

Minh Đường

Minh giám

Minh huệ

Minh khí

Minh Lý

Minh mẫn

Minh mông

Minh quang

Minh quân

Minh sanh

Minh sơn thệ hải

Minh Sư

Minh tâm

Minh tâm kiến tánh

Minh tâm mẫn tánh

Minh Tân

Minh thệ

Minh Thiện

Minh Thiện Đàn

Minh tra

Minh triết

Minh vương

Minh xét

 

MÌNH

Mình

Mình chiêu phước hoạ

Mình mẩy

Mình ngồi dựa cột

 

MỊT

Mịt mờ

Mịt mù

 

MỸ

Mỹ

Mỹ lệ

Mỹ mãn

Mỹ miều

Mỹ nữ

Mỹ ngôn

Mỹ nhân

Mỹ tục

Mỹ vị

Mỹ vị cao lương

 

Mó tay

 

 

MỎ

Mỏ

Mỏ ác

 

Mõ chuông

 

MÓC

Móc

Móc mưa

 

MỌC

Mọc

 

MOI

Moi

 

MÒI

Mòi

 

MỎI

Mỏi

Mỏi mắt

Mỏi mệt

Mỏi mòn

 

MỌI

Mọi

 

MON

Mon men

 

MÓN

Món

 

MÒN

Mòn

Mòn hơi

Mòn mỏi

Mòn sức

 

MỎN

Mỏn hơi

Mỏn lòng

 

MỌN

Mọn

 

MONG

Mong

Mong đợi

Mong chờ

Mong mỏi

 

MÓNG

Móng

 

MÒNG

Mòng

 

MỎNG

Mỏng

Mỏng mành

Mỏng mảnh

Mỏng mềm

 

MÓT

Mót

 

MỌT

Mọt nước

 

Mô phạm

 

MỒ

Mồ

Mồ côi

Mồ hoang

Mồ hôi

 

MỔ

Mổ

 

MỘ

Mộ

Mộ cổ thần chung

Mộ đạo

Mộ hoài

Mộ khang

Mộ phần

Mộ xanh

 

MỐC

Mốc

 

MỘC

Mộc

Mộc bổn thuỷ nguyên

Mộc đạc

 

MÔI

Môi

Môi giới

Môi son

 

MỐI

Mối

Mối duyên

Mối giềng

Mối mang

Mối manh

Mối tơ

Mối tơ tình

Mối trường sanh

 

MỒI

Mồi

Mồi chim quạ

Mồi danh bả lợi

 

MỖI

Mỗi

 

MỒM

Mồm

Mồm mép

 

MÔN

Môn

Môn đệ

Môn đồ

Môn mi

Môn quan

Môn sanh

Môn sinh

Môn thiền

 

MÔNG

Mông

Mông Cổ

Mông Điềm

Mông mênh

Mông trần

 

MỘNG

Mộng

Mộng ảo

Mộng điệp

Mộng Hoè

Mộng hồn

Mộng huyễn

Mộng hùng

Mộng mị

Mộng Nam kha

Mộng trần

Mộng trần gian

Mộng trường

Mộng xuân

 

MỘT

Một

Một cội sanh

Một dòng một giống

Một Ðạo tức một cha

Một gốc sanh

Một mai

Một ngày ngục thất ngoại ngàn thu

Một ngựa một mình

Một tấm lòng băng

Một trời một vực

Một vài

 

Mơ hồ

Mơ màng

Mơ mộng

Mơ ước

Mơ tưởng

 

MỚ

Mớ

 

MỜ

Mờ

Mờ ám

Mờ hồ

Mờ mệch

Mờ mệt

Mờ mịt

 

MỞ

Mở

Mở lối

Mở mang

Mở mắt

Mở rộng

 

MƠI

Mơi

 

MỚI

Mới

Mới lạ

Mới mẻ

 

MỜI

Mời

 

MỚM

Mớm cơm vú sữa

 

MƠN

Mơn

Mơn man

Mơn trớn

 

Mù mịt

Mù mờ

Mù sương

 

MỦ

Mủ

 

 

MỤ

Mụ

 

MUA

Mua

Mua bán

Mua chuộc

Mua chức bán quyền

Mua quan bán chức

 

MÚA

Múa

Múa búa Lỗ Ban

Múa men

Múa mỏ

 

MÙA

Mùa

Mùa màng

 

MỤC

Mục

Mục đích

Mục đồng

Mục kích

Mục Liên

Mục tử

 

MÙI

Mùi

Mùi cay đắng

Mùi Đạo

Mùi đồng

Mùi đời

Mùi hương

Mùi tục

Mùi Thiền

Mùi trần

Mùi vị

Mùi xạ

 

MŨI

Mũi kim chẳng lọt

 

MÙNG

Mùng

Mùng màn

 

MỦNG

Mủng

 

MUỐI

Muối

Muối dưa

Muối xát

 

MUỖI

Muỗi

 

MUỘI

Muội

 

MUÔN

Muôn

Muôn chung nghìn tứ

Muôn hồng nghìn tía

Muôn loài

Muôn một

Muôn ngàn

Muôn nghìn

Muôn tía ngàn hồng

Muôn thuở

Muôn trùng

Muôn vật

 

MUỐN

Muốn

 

MUỘN

Muộn

 

MUÔNG

Muông

 

MUỖNG

Muỗng

 

MÚT

Mút

 

MƯA

Mưa

Mưa đạn

Mưa mây đỉnh Giáp

Mưa móc

Mưa nắng

Mưa ngâu

Mưa rào

 

MỰA

Mựa

 

MỰC

Mực

Mực thước

 

MỪNG

Mừng

Mừng thầm

Mừng vui

 

MƯỜI

Mười

Mười bài thài

Mười hai bến đậu

Mười hai bến nước

Mười Phật

 

MƯỚN

Mướn

 

MƯỢN

Mượn

Mượn chùa lập giáo

Mượn giả tầm chơn

Mượn oai hùm

 

MƯỜNG

Mường tượng

 

MƯỢT

Mượt mà

 

MƯU

Mưu

Mưu cầu

Mưu chước

Mưu đồ

Mưu độc

Mưu kế

Mưu hại

Mưu lợi

Mưu mô

Mưu phản

Mưu phản loạn

Mưu sâu

Mưu sinh

Mưu sự tại nhân

Mưu toan

Mưu thâm hoạ diệc thâm

Mưu Thần chước quỷ

Mưu trí

 

 

 

 

 

 

 

 

M

 

MA

1.- Ma chỉ bóng người chết hiện ra. Như: Ma hiện hình, bói ra ma quét nhà ra rác, hồn ma bóng quế.

Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng có dạy: Nếu bỏ Tâm kia ra ngoài mà rèn hình thể thì chẳng khác chi quỳ đọc kinh, đèn đốt đỏ hừng, mà thiếu bức Thiên Nhãn trên điện vậy. Hồn ma bóng quế cũng lên ngồi, mà ngạ quỷ vô thường cũng xẩn bẩn, đó là phương đem đường cho Quỷ vương, chẳng một ai tránh được, nghe!

Bày đờn ai khéo sắm đờn đây,

Ðể quỷ để ma ở cả bầy.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ới hợi mình nay tuổi đã già,

Chết đây ắt sẽ trở ra ma.

(Đạo Sử).

2.- Ma là mài. Không đứng một mình.

Như: Thiên ma bách chiết 千 磨 百 折, nghĩa là trăm giũa ngàn mài, chỉ nhiều sự khó khăn.

Cái đời sống của ta hiện giờ giàu sang hay nghèo hèn, liền lạc hay tật nguyền, xinh đẹp hay xấu xa, được yêu vì hay bị ngược đãi, an vui hạnh phúc hay lắm chịu thiên ma bách chiết, cũng đều do ta gây nhân ở tiền kiếp.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

MA CHƯỚNG

魔 障

Ma: Chỉ loài ma quỷ. Chướng: Che lấp.

Ma chướng là sự chướng ngại do Ma tạo ra để cản trở việc tu hành.

Theo tôn giáo Ma có thể hiểu là tất cả những gì ngăn cản các thiện căn, cản trở chánh pháp, hoặc như các phiền não, hoài nghi, làm nhiễm loạn thân tâm, gây chướng ngại cho việc tu hành đều là ma chướng.

Ma chướng có thể chia làm hai loại:

Nội ma là những thói hư tật xấu hay tham sân si, dục vọng... ẩn chứa trong trong thân tâm chúng ta, luôn luôn chờ cơ hội tác động, xúi giục chúng ta làm điều ác.

Ngoại ma là những điều bất thiện, những tập nhiễm sấu xa của xã hội bên ngoài lôi cuốn chúng ta vào đường ác đức.

Chúng sanh đời mạt pháp, phước thì mỏng, chướng thì dầy, huệ cạn, nghiệp sâu, nên tu hành thường vướng phải ma chướng, tín tâm yếu ớt nên bị hãm vào lưới ma, lại bị ác nghiệp lôi kéo, khó bề thoát khỏi đọa. Vì vậy, phải có đức tin kiên trì tưởng niệm Chí Tôn, tạo lập công quả, hành nhơn tác thiện để được các Đấng hộ trì viễn ly ma chướng.

Nhược hữu nhơn thọ trì khủng kinh ma chướng, nhứt tâm thiện niệm...

(Di Lạc Chơn Kinh).

 

 

MA HA TÁT

摩 訶 薩

Ma Ha Tát do tiếng Phạn “Mahasattva” dịch âm là Ma Ha Tát Đoá.

Ma Ha là đại, lớn, Tát tức là Bồ Tát. Ma Ha Tát là vị Đại Bồ Tát là bậc phát Đại tâm Bồ Đề cứu độ toàn chúng sanh.

Bồ Tát Ma Ha Tát là bậc Đại Bồ Tát, tức hàng Phật vị, nhưng còn lo cứu độ nhơn sanh, nên còn gọi là Bồ Tát. Như Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát, hay Quan Âm Bồ Tát Ma Ha Tát...

Ngọc Hoàng Thượng Đế viết Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát giáo đạo Nam phương.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

MA HỒN QUỶ XÁC

Ma hồn: Hồn của loài tinh ma. Quỷ xác: Xác thân của bọn yêu quỷ.

Ma hồn quỷ xác là chỉ những hạng người có linh hồn và thể xác như loài ma quỷ, chuyên phá hoại tôn giáo, xuyên tạc chánh pháp, hãm hại người tu.

Thánh giáo của Thanh Tâm có câu: Ðường có người đi nhiều mà không ai là người phải, đường đi dập dìu thiên hạ mà toàn là ma hồn quỷ xác, tâm giả dối, hạnh hung bạo, mật chứa đầy tà khí, thế nào gọi là người!

Quản chi một lũ ma hồn quỷ xác mà phải nhọc nhằn cho ta dường này.

(Đạo Sử).

 

 

MA KHẢO

魔 考

Ma: Quỷ ma. Khảo: Thử thách để chấm đậu rớt.

Ma khảo là ma quỷ thử thách người tu hành xem có xứng đáng về phẩm hạnh hay không.

Trong quyển “Thiên Đạo”, Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có viết: Có trường thi công quả tất có cơ khảo thí theo phép công bình Thiên đạo. Phàm muốn đoạt thủ ngôi vị nơi trường thi ấy, người hành đạo phải có công lao xứng đáng và phẩm hạnh hoàn toàn. Chịu thử thách mà không sa ngã mới đáng đăng tên vào Tiên tịch.

Vì lẽ công bình, Đức Chí Tôn buộc phải để cho ma vương cám dỗ. Kẻ nào kém đạo hạnh phải sa vào cạm bẫy. Thường thường chánh tà tương khắc. Hễ Đạo khai thì tà khởi. Đạo không ma khảo, đạo khó thành. Ma không đạo khai, ma không được dịp mở cơ thạnh vượng.

Ma khảo có nhiều cách, đại khái như:

- Mạo danh Tiên Phật, dối ban huyền diệu cốt mê hoặc người phải xa chánh giáo.

- Giục người thấy sắc đẹp phải mê sa, thấy tài vật ham muốn.

- Hoá việc lạ lùng quái gở cho người sợ bỏ dở công phu.

- Chiều theo sở dục con người mà cám dỗ, tức là đánh ngay chỗ yếu của người.

- Bài bố những khó khăn gay cấn cho người thối chí ngã lòng.

Nổi ma khảo thiên hình vạn trạng,

Cũng cứ làm mặt dạn mày dày.

Ðạo thơ gắng chí dồi mài,

Công viên quả mãn Bồng Lai đặng vào.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

MA KHEO

Hay “Ma Khưu”.

Ma kheo, như chữ “Ma khưu 摩 丘”, do chữ Ma ha Tỳ kheo (tỳ khưu) tức là một vị Tỳ kheo lớn, một vị Đại Tỳ Kheo.

Tỳ kheo là những người xuất gia đã thọ Đại giới hay Giới Cụ túc, giữ 250 điều giới luật.

Tỳ kheo gồm ba nghĩa:

Khất Sĩ: Là người trên xin giáo pháp của Phật để dưỡng huệ thân, dưới xin thức ăn của đàn việt để dưỡng nhục thân.

Phá ác: Diệt trừ các phiền não tham sân si, đoạn trừ nghiệp ác.

Bố ma: Nhờ công đức thọ giới luật, do chuyên tâm tu hành mà khiến cho các loài ma đều phải khiếp sợ.

Người Nữ tu theo hạnh Tỳ kheo được gọi là Tỳ kheo (khưu) ni 毘 丘 妮.

Ma kheo tức Ma Ha Tỳ kheo là vị Tỳ kheo lớn, vị Đại Tỳ kheo nhằm tỏ lòng tán tụng hạnh đức lớn lao, siêu việt của Đấng Tỳ kheo.

Ma kheo ma kheo thanh tịnh tỳ kheo, quan sự đắc tán, tụng sự đắc hưu, chư Đại Bồ Tát...

(Kinh Cứu Khổ).

 

 

MA LÁNH QUỶ KIÊNG

Ma lánh: Ma thấy thì tránh xa. Quỷ kiêng: Quỷ gặp thì kiêng sợ.

Ma lánh quỷ kiêng ý chỉ quỷ ma gặp phải phép tắc mầu nhiệm thì kiêng sợ mà lánh xa.

Cơ huyền diệu Đạo Cao minh chánh,

Hiển phép mầu ma lánh quỷ kiêng.

(Xưng Tụng Công Đức).

 

 

MA NÍ

Ma Ní là tiếng của người miền Nam gọi người dân Phi Luật Tân (Philippnes), vì nước nầy có Kinh đô là Ma ni la (Manila).

Dân tộc Ma Ní có nước da ngâm đen, nên quan niệm trước đây không đúng, người ta thường cho rằng Ma Ní là người thuộc giống da đen, nên thường hay nói: Đen như Chà Và, Ma Ní.

Lỡ bất bình con chẳng giống cha,

Làm lếu giống Chà Và Ma Ní.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MA TÂM TRÁC TÁNH

Hay “Ma tâm trác tính”.

Ma tâm: Giồi trau cái tâm. Trác tánh (tính): Mài dũa cái tánh.

Ma tâm trác tánh, như chữ “Ma tâm trác tính 磨 心 琢 性”, là trau giồi tâm tánh cho được thiện lương.

Nhưng trong thời gian ma tâm trác tánh, tu công bối đức nếu gặp đặng những sách vở, kinh sám thích ứng để tu học,...

(Giáo Lý).

 

 

MA THỊT QUỶ HỒN

Ma thịt: Xác thịt của loài ma. Quỷ hồn: Vong hồn của lũ quỷ.

Ma thịt quỷ hồn là hồn xác đều thuộc ma quỷ, ý chỉ loài ma quỷ.

Ma thịt quỷ hồn chôn xác chết,

Tà thần tinh quái nuốt xương tan.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

MA VƯƠNG

魔 王

Ma: Ma quái. Vương: Vua.

Ma vương là vua loài ma.

Trong tôn giáo, ma vương là biểu hiện tất cả những gì ngăn cản các thiện căn, cản trở chánh pháp, cũng như những phiền não, nghi hoặc làm nhiễm loạn thân tâm, gây chướng ngại cho việc tu hành.

Nói về Đức Thích Ca thành Đạo, trong Giáo Lý của Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có câu: Ngài đến gốc cây Bồ Đề ngồi thiền định và nguyện rằng: Ngày nào chưa thành đạo thì không rời khỏi chỗ nầy. Lời đại thệ nguyện nầy giúp Ngài đủ nghị lực thắng phục Ma vương và đến quá nửa đêm thì Đại ngộ Chơn thánh giác.

Ma vương chen lấn Đạo Cao,

Đốt đèn trí huệ, đừng nao tấc lòng.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Hoạ chữ Tâm trên dòng Thiên Nhãn,

Cho Ma vương chẳng dám lăng loàn.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

MA VƯƠNG QUÁI

魔 王 怪

Ma vương: Vua loài ma, chỉ chung loài ma. Quái: Yêu quái, tà quái, quỷ quái.

Ma vương quái, như chữ “Ma vương”, là chỉ chung các loài ma tinh và quỷ quái.

Ma vương quái dùng để chỉ những gì ngăn cản các thiện căn, cản trở chánh pháp trong triết lý tôn giáo.

Xem: Ma vương.

Thần thông trói chặt Ma vương quái,

Dìu bước vạn linh đến cảnh nhàn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

MA XỬ

魔 杵

Ma: Ma quỷ. Xử: Còn đọc Chử, là cây chày.

Ma Xử hay gọi Ma Chử là viết tắt của Giáng Ma Xử hay Hàng ma xử, nghĩa là cái chày để hàng phục ma vương quỷ quái.

Cây Giáng Ma Xử là một bửu bối của Vi Hộ trong truyện Phong Thần, sau thành Hộ Pháp.

Trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, tức Đạo Cao Đài, Hộ Pháp, một vị chức sắc Đại Thiên phong, cầm quyền chi Pháp, chưởng quản Hiệp Thiên Đài cũng cầm cây Giáng Ma Xử và cây Kim Tiên ngự trên Thất đầu xà.

Giáng linh Hộ Pháp Di Đà,

Chuyển cây Ma Xử đuổi tà trục tinh.

(Kinh Tận Độ).

 

 

1.- Má là mẹ, từ xưng gọi người đàn bà có con trong mối quan hệ với con.

Ca dao có câu: Má ơi đừng đánh con đau, Để con bắt ốc hái rau má nhờ.

Hễ học cộng con nhờ có ,

Hai với ba cộng cả bao nhiêu.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Má là gò má, tức phần trước mặt ở dưới đôi mắt và ở hai phía miệng.

Như: Khách má đào, cô bé má ửng hồng, môi son má phấn, má lún đồng tiền.

Ðạm màu xe tuyết dường sơn đỏ,

Ngó mặt Tiên nương ửng đào.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Rửa mặt những e phai phấn,

Trao tay ngần ngại khuất mày hoa.

(Phạm Phối Thánh).

 

 

MÁ ĐÀO

Má: Hai bên mặt, từ mũi và miệng đến tai và ở phía dưới mắt. Đào: Trái hồng đào.

Má đào, như chữ “Đào kiểm 桃 臉”, tức là gò má đỏ hồng như đoá hoa đào.

Trong văn chương người ta thường dùng chữ má đào để chỉ người đàn bà, con gái.

Nấu Kinh sử ra mùi son phấn,

Cầm bút nghiên đặng thắm má đào.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Muốn trau chuốt mặt ngần thân dịu,

Vẽ cho hay mày liễu má đào.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Hễ nam cao thì nữ sánh đồng cao,

Đừng trao mảnh má đào làm vật giỡn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MÁ HỒNG

Má: Phần mặt ở dưới mắt và ở hai bên miệng. Hồng: Hay hường, chỉ màu đỏ.

Má hồng hay “Má hường”, như chữ “Hồng kiểm 紅 臉” tức là gò má đỏ hồng.

Do Phụ nữ thường có đôi má ửng hồng, hoặc trang điểm phấn hồng, nên trong văn chương người ta thường dùng chữ “Má hồng” để chỉ người đàn bà, con gái.

Kìa thương những khách má hồng,

Đẹp xinh tô đậm bụi nồng thế gian.

(Tứ Nương Giáng Bút).

 

 

MÁ PHẤN

Má: Phần mặt ở dưới mắt và ở hai bên miệng. Phấn: Thứ bột mịn dùng để trang điểm.

Da mặt người con gái trắng trẻo như dồi phấn, nên đôi gò má được gọi là má phấn.

Từ đó, chữ “Má phấn” được dùng để chỉ người đàn bà con gái.

Khách má phấn môi son đậm sắc,

Đặng đem mồi trêu mặt ác phong.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Ví đem má phấn đền ơn chúa,

Lại phụ tình chung với bạn mình.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

MÁ PHẤN MÔI SON

Má phấn: Má có giồi phấn, chỉ người con gái đẹp. Môi son: Vành môi thoa son.

Má phấn môi son là má giồi phấn, môi thoa son, chỉ người con gái đẹp đẽ.

Khách má phấn môi son đậm sắc,

Đặng đem mồi trêu mặt ác phong.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

1.- Mà là một tiếng đệm, có nghĩa như chữ “Nhưng”, biểu thị điều sắp nêu ra là không phù hợp với điều vừa nói đến, có gì trái với lẽ thường.

Như: Nói mà không làm, đói mà không ăn, đẹp mà kém đức, nghèo mà trong sạch.

Ðã cùng nhau trót mấy lời giao,

Cách mặt lòng chẳng lãng xao.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tuy không cao mấy khôn với,

Biết rõ cơ quan ắt biết đời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nghèo trong sạch danh thơm rạng,

Phúc hậu Trời ban để cháu con.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Mà như chữ “Để”, dùng chỉ điều sắp nêu ra là mục đích của việc vừa nói đến. Như: Làm mà ăn, tìm việc mà làm, nói cho mà biết, họp mà bàn chuyện.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: Các con phải hiểu rằng: Thầy là huyền diệu thế nào! Cách dạy, Thầy buộc tuỳ thông minh của mỗi đứa dạy.

Tìm Ðạo chi khá hỏi mình,

Bến mê mới vững vớt quần sinh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Của nhiều ít đức sương trên cỏ,

Giành giựt chi phải lụy mình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Mà là tiếng đệm để tỏ ý câu dưới trái với câu trên.

Như: To đầu mà dại, thằng bé dốt mà lười, nó cười khan mà lại khóc.

Cười khan khóc bởi thương bây,

Chẳng mất một con, nghiệt cả bầy.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Kẻ câu chót núi tính nên gì?

Chưa đứng toan muốn tính đi.

(Đạo Sử).

 

 

MẢ

Mả, như chữ “Mồ” là chỗ chôn người chết, được đắp thành núm cao. Như: Mồ mả, mồ hoang mả lạnh.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng có câu: Ta nhìn mấy cái mồ hoang mả lạnh, nếu tìm mà hỏi cho rõ tông tích thì toàn là những kẻ thiếu niên nằm nơi đó. Thế thì đời người như bọt nước, như mây bay, nếu chẳng lo tu sớm, chừng khuất bóng rồi, té ra mình chưa gặp Ðạo.

Rước voi phá mả đào lăng miếu,

Thả rắn xua ong nhiễu điện tà.

(Đạo Sử).

Mồ cha mả mẹ còn khi viếng,

Gốc tử, sân Lai hết lối về.

(Thơ Hi Đạm).

 

 

1.- Mã là bộ dạng, tức chỉ cái dáng vẻ bên ngoài, cái phô ra ngoài mặt.

Như: Anh ấy đẹp mã, con gà tốt mã, trông người thấy tốt mã mà xấu nết.

Bên trai nhắm coi từ cái ,

Định hơn thua tính cả cái nòi.

(Phương Tu Đại Đạo).

Khắp xóm làng chẳng kẻ mời vào,

Hàng xấu giá cao đành bán ế.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Mã là ngựa, không dùng một mình. Như: Xe song mã, Kim mã ngọc đường, trường đồ tri mã lực.

Thánh giáo Thầy có câu: Hiếm chi bậc Thánh bị đày vào chốn trần ai khổ nhọc, chìm đắm nơi bến khổ sông mê, dan díu lấy sự say vui mùi thế tục, bước đến cảnh kim ngọc đàng mà phủi hết lòng đạo đức, khiến cho ngôi cựu vị phải chịu trôi phủi dòng sông, mà vì đó, thuyền Bát Nhã khó nương cứu vớt đặng.

Người thì Ngọc với Kim đàng,

Quên kẻ dạ đài mối thảm mang.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Dầu cơn độc đơn đao,

Tâm trung nghĩa khí, Ngô Tào cũng kiêng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

MÃ VIỆN

馬 援

Mã Viện là một danh tướng vào đời Đông Hán, tự là Văn Uyên, người đất Mậu Lăng, sinh vào năm thứ 14 trước kỷ nguyên.

Vua Quang Vũ nhà Hán phong cho Mã Viện chức Phục Ba Tướng Quân rồi sai đem binh qua Việt Nam đánh hai bà Trưng Trắc và Trưng Nhị. Hai bà bị thua quân tại hồ Lãng Bạc, chạy đến dòng Hát Giang tự tận. Để ghi công sự chiến thắng đó, Mã Viện cho dựng cột đồng đề sáu chữ: Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt 銅 柱 折, 交 指 滅 nhưng hiện nay cột đồng đó đã bị mất tích.

Sau thua Mã Viện binh ròng,

Hồn thiêng mang hận theo dòng Hát Giang.

(Báo Ân Từ).

 

 

MẠ

1.- Mạ là cây lúa còn non được gieo ở ruộng mạ, khi đến tuổi sẽ nhổ cấy vào ruộng lúa.

Như: Gieo mạ, rải phân trên ruộng mạ, nhổ mạ đi cấy, màu xanh lá mạ.

Chồng giàu có ruộng sâu trâu cả,

Sự nông tang lúa mạ phải rành nghề.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Mạ là chửi, mắng. Như: Nhục mạ, thoá mạ.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Khốn khổ thay những kẻ miệt sát kẻ yếu hèn, khốn khổ thay cho những kẻ áp bức, hiếp đáp những người cô thế, trẻ con, goá bụa, tật nguyền, bởi vì nó miệt sát nhục mạ con cái của Ngài tức là nhục mạ Đấng Tạo đoan, như vậy là còn tội tình nào lớn hơn điều ấy.

Ðạo càng cao, đức càng tươi,

Dầu ai nhục mạ cũng cười làm vui.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

MẠC

1.- Mạc là chẳng, không có, đừng, không đứng một mình.

Như: Mạc trắc 莫 測 (không đo lường được), mạc đãi 莫 待 (không chờ đợi).

Mạc đãi lão lai phương học Ðạo,

Cô phần tận thị thiếu niên nhơn.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

Hậu lai mạc tín đa phi thị,

Hữu ngoại thành tâm tái vận cung.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Mạc là bãi cát, trong trẻo, yên lặng.

Như: Bãi sa mạc 沙 漠, mạc bắc 漠 北 (phía bắc miền sa mạc).

Thế đại Càn khôn cộng nhứt Thiên,

Nhơn như sa mạc tại thâm uyên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

MẠC TRẮC

莫 測

Mạc: chẳng, không có, đừng. Trắc: Đo lường.

Mạc trắc là không thể đo lường để biết được.

Trong bài Ngọc Hoàng Kinh có nói đến cái oai quyền thiêng liêng của Đức Chí Tôn không thể đo lường được.

Biến hoá vô cùng,

Lũ truyền Bửu Kinh dĩ giác thế,

Linh oai mạc trắc,

Thường thi Thần giáo dĩ lợi sanh.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

MÁCH BẢO

Mách: Đem chuyện của người mà nói lại với người liên hệ. Bảo: Chỉ dạy cho biết.

Mách bảo là mách cho biết điều cần thiết.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có đoạn: Thầy đã có sai chư Thần mách bảo với con đã lâu, trí thiêng liêng đem đàng dắt bước con đặng độ dẫn sanh linh cho kịp thì giờ trong buổi chung cuộc của con. Vậy khá bền lòng son sắt đặng ngày về Thầy, một địa vị xứng đáng sẵn chờ con, khá lưu tâm nghe!

Trong giấc mộng nghỉ yên hồn phách,

Đấng Thiêng Liêng năng mách bảo giùm.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

MẠCH

1.- Mạch là đường máu chảy trong châu thân con người. Như: Xem mạch, huyết mạch, mạch máu.

Thánh giáo Thầy có câu: Các con, nền Ðạo bề ngoài coi diềm dà sung túc, mà chẳng thấy rõ cái mạch bịnh trong tâm, chẳng khác chi thế Sở chế bạo Tần, ham cái mạnh bề ngoài, biết sợ cái mặt chớ chẳng rõ lòng người ra sao, mà không độ cái mạnh cấp thời đó sẽ dần dần tan như giá mà đổi ra yếu hèn thấp nhược.

Thân thể dạy giữ gìn tinh sạch,

Thường thuốc men cho huyết mạch điều hoà.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Mạch, nghĩa rộng là đường nước chảy ngầm dưới đất.

Như: Mạch nước ngầm trong núi chảy ra, đào giếng phải tìm đúng mạch.

Cái nhục giống nòi kia chẳng rửa,

Xoi hang mạch nước ý chưa vừa.

(Đạo Sử).

3.- Mạch là hệ thống ý và tình cảm được phát triển liên tục thành chuỗi, thành dòng.

Như: Mạch văn, dứt mạch suy nghĩ, mạch sầu, mạch thảm.

Tìm hiền lắm lúc gieo nguồn đạo,

Cải dữ đòi phen cổi mạch sầu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Mùi thế xưa còn lằn bụi trược,

Mạch sầu nay rửa bến sông hương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

MAI

1.- Mai là ngày kế sau ngày hôm nay. Như: Nay nắng mai mưa, nay chẳng xong thì mai, tối mai, mai sau.

Thánh giáo Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng có dạy: Nền Ðạo thung dung được đứng sững trên cõi Việt mà đùm bọc che chở những kẻ hữu phước hữu phần, nếu dần dà chẳng tỉnh ngộ mà un đúc cho cứng khối tinh thần, để nay trở bước, mai đổi đường, thì mảnh xác phàm tục kia tránh sao khỏi lối tan tành ra tro bụi.

Ðường tu ví sớm noi gương rạng,

Cội phúc mai sau hưởng quả lành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Mai là mối, mai mối, làm môi giới cho việc hôn nhân giữa nam và nữ.

Như: Làm mai, ông mai, bà mai.

Kẻ tham lợi cột mai cột mối,

Chuốt trau lời giả dối ngọt ngon.

(Kinh Sám Hối).

Đừng tập tục vào lòn ra cúi,

Nổi nợ duyên may rủi phú tay mai.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Mai là loài cây nhỏ, có hoa màu vàng, thường trồng làm cảnh. Như: Hoa mai, mai gầy sen nở.

Thánh giáo Thầy có câu: Lần lựa cúc xủ sương tan, mai gầy sen nở, ngày tháng qua chẳng là bao mà thế thái nhơn tình biết bao thay đổi!

Ðông tàn cảnh ướm trở nên xuân,

Xuân nở vườn mai há mấy lần?

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cành mai thơ thới đượm hơi xuân,

Dìu dắt đem nhau lại đảnh Thần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

4.- Mai là chôn, nghĩa bóng là giấu kín. Như: Mai một, mai phục, mai táng.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Nếu không gặp thời thì chịu mai một, sống đời ẩn dật, vui thú lâm tuyền bạn với gió trăng, thi gan cùng tuế nguyệt, chớ không màng đến danh lợi đen tối.

a.- Mai có nghĩa là chôn.

Hài cốt tuy mai tam xích thổ,

Tinh thần siêu thoát Cửu Trùng Thiên.

(Thơ Thái Đến Thanh).

b.- Mai có nghĩa là giấu kín, ẩn.

Đã ngán bôn ba theo giả cuộc,

Âu đành mai một giữa thâm san.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

MAI CỐT CÁCH

梅 骨 格

Mai: Hoa mai. Cốt cách: Dáng dấp con người.

Mai cốt cách có nghĩa là dáng vẻ người mảnh khảnh như vóc dáng cây mai.

Truyện Kiều của Nguyễn Du có câu: Mai cốt cách, tuyết tinh thần, Một người một vẻ, mười phân vẹn mười.

Mai là cốt cách liễu tinh thần,

Thi thiệt hồn mai tuyết ấy trần.

(Đạo Sử).

 

 

MAI GẦY SEN NỞ

Mai gầy: Mai nở vào mùa xuân, hoa gầy là hoa xấu sắp rụng, ý nói hết mùa xuân. Sen nở: Sen trổ vào mùa hạ.

Mai gầy sen nở là nói thời gian trôi qua, sắp hết mùa xuân sang đến mùa hạ.

Lần lựa cúc xủ sương tan, mai gầy sen nở, ngày tháng qua chẳng là bao mà thế thái nhơn tình biết bao thay đổi!

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

MAI HẬU

Mai: Ngày sau ngày hôm nay. Hậu: Sau.

Mai hậu là mai sau, sau nầy.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Ông Thầy mở một trường như Đức Khổng Tử có quyền lựa chọn môn đồ của Ngài. Trái lại trong đại gia đình của Đức Chí Tôn, Thánh Thể của Ngài không quyền lựa chọn, thế nào tránh cho khỏi kẻ bất nghĩa vô nghì? Mấy em đừng coi điều ấy là trọng hệ, trái lại phải định phận, cố gắng hơn, dạy mấy đứa nhỏ nó là hương hoả tương lai đại gia đình của mấy em và Thánh Thể của Đức Chí Tôn mai hậu.

Hầu dìu dắt nhơn sanh cho khỏi sai đường lạc lối, tránh điều đổ vỡ tai hại vô phương cứu vãn tức là sự thất kỳ truyền nơi ngày mai hậu.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

MAI MỐT

Mai: Ngày kế sau ngày nay. Mốt: Ngày kia, tức ngày kế tiếp ngày mai.

Mai mốt là ngày mai hoặc ngày mốt, ý chỉ thời gian sắp tới.

Như: Mai mốt đây con lớn lên là phải đi học đó, để dành tiền mai một ăn nữa.

Ðặng quả ngon thì ăn lấy hột,

Gieo lại mà mai mốt còn ăn,

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

MAI MỘT

埋 沒

Mai: Chôn. Một: Mất, chìm.

Mai một là ẩn giấu khiến không ai thấy tăm dạng.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Còn những chiến sĩ đương xông pha nơi chiến địa buổi hôm nay cũng thế ta chỉ biết danh tánh của họ một phần ít còn quên lại là phần nhiều, bởi cớ họ phải bị thân danh mai một.

Tương lai gởi lại tay tha chủng,

Mai một thương cho đám Việt kiều.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

MAI TÀN TUYẾT XỦ

Mai tàn: Bông mai đã héo tàn. Tuyết xủ: Tuyết lạnh rơi xuống.

Mai tàn tuyết xủ là bông mai đã héo úa, tuyết lạnh đã rơi phủ xuống, ý nói cảnh mùa đông lạnh lẽo, tàn tạ.

Mai tàn tuyết xủ đời thay đổi,

Dử tận hiền thăng khách lọc lừa.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

MAI TRÚC

梅 竹

Mai: Cây bông mai. Trúc: Cây trúc.

Mai trúc là cây mai và cây trúc.

Mai trúc là hai loại cây thường dùng chung với nhau để nói tình bè bạn hoặc tình nghĩa vợ chồng đằm thắm.

Xem: Trúc mai.

Mai trúc bền duyên vui một cửa,

Phụng loan liền cánh phước trăm năm.

(Thơ Thượng Cảnh Thanh).

 

 

MAI XUÂN NGUYỆT CÚC

梅 春 月 菊

Mai xuân: Hoa mai vào mùa xuân. Nguyệt cúc: Do chữ “Cúc nguyệt” là tháng cúc, tức tháng có hoa cúc nở rộ (tháng tám), nên hoa cúc chỉ mùa thu.

Mai xuân nguyệt cúc là chỉ hoa mai mùa xuân, hoa cúc mùa thu.

Người xưa thường quan niệm tứ quý có bốn loại hoa: Mùa xuân hoa mai, mùa hạ hoa sen, mùa thu hoa cúc, mùa đông hoa đào.

Mai xuân nguyệt cúc vị trà hương,

Kỉnh lễ thành tâm hiến bửu tương.

(Bài Dâng Trà).

 

 

MÁI

1.- Mái là chỉ giống cái của loài cầm điểu. Như: Chim mái, gà mái, vịt mái.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Theo Bí Pháp Chơn Truyền của cơ sanh hoá phải có đủ âm dương, trong sanh quang chúng ta có điện quang (Positif và Négatif) cũng như vạn vật có trống mái.

Hễ lấp ló vào buồng làm ngãi,

Thì làm tuồng gà mái, nằm nơi.

(Phương Tu Đại Đạo).

Cang nhu, trống mái một mầu,

Ðục trong lừa lọc thì mau chứng thành.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

2.- Mái là phần che phủ phía trên cùng của nhà. Như: Mái nhà nóc bằng, mái gia đình, nhà bị tốc mái vì bão.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Mỗi độ xuân về là niềm hy vọng tràn ngập nơi cõi lòng con cái Ðức Chí Tôn, hy vọng đó hướng về sự trùng phùng của các bạn Ðạo nơi Trung ương và nơi tứ phương cùng nhau hiệp mặt dưới mái gia đình ấm cúng của nền Ðại Ðạo.

Nơi mái tây hiên Trời ngó mắt,

Lúc nên khi đến cũng còn gần.

(Đạo Sử).

3.- Mái là chỉ phần tóc ở trên đầu.

Như: Mái đầu còn xanh, chải tóc rẽ mái, mái tóc điểm sương.

Mái tóc sương pha thiều nhặt thúc,

Sanh linh độ dẫn hưởng Thiên ân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

4.- Mái là chèo, dụng cụ để bơi thuyền, làm bằng thanh gỗ dài, một đầu tròn, một đầu dẹp và rộng bản.

Như: Mái chèo, mái dầm, xuôi chèo mát mái.

Nếu cầm chèo đẩy mái không lanh,

Thì cũng chịu đã đành phận dốt.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MÁI CHÈO

Mái: Một lần chèo, nghĩa rộng chỉ cây chèo. Chèo: Đồ làm bằng gỗ dẹp dài dùng để bơi cho thuyền đi.

Mái chèo là một mảnh gỗ dài, một đầu dẹp dùng để bơi dưới nước cho thuyền đi.

Trong tôn giáo, “Mái chèo” được ví với người lèo lái con “Thuyền Đạo” hay “Thuyền Bát nhã” để đi vào bờ giác ngộ cho êm xuôi.

Bát Nhã xin con trở mái chèo,

Thìn lòng thương lấy chúng sanh eo.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Giang san một dãy nên chung dựng,

Biển cả chi nao ít mái chèo.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

MÁI TÓC

Mái: Phần che phủ trên một vật, như mái lá, mái ngói, mái đầu. Tóc: Lông mọc ở đầu, từ trán đến gáy.

Mái tóc chỉ toàn thể tóc trên đầu.

Như: Mái tóc thề ngang vai, mái tóc sương pha, trang điểm lại mái tóc.

Chia lo đã lắm công chồng đỡ,

Mái tóc nhớ nay nửa trở vàng.

(Đạo Sử).

Đừng nay khen bưởi chê bòng,

Đổi thay mái tóc duyên nồng lại quên.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

MÁI TÓC ĐIỂM SƯƠNG

Mái tóc: Chỉ tóc trên mái đầu. Điểm sương: Ý nói tóc đã bạc hoa râm.

Mái tóc điểm sương là mái tóc trên đầu đã điểm trắng như sương, ý muốn nói mái đầu đã bạc hoa râm, tức tuổi đã già rồi.

Như: Mái tóc điểm sương, sức lực hao kiệt, còn gì nữa mà tranh danh đoạt lợi.

Mái tóc điểm sương chưa học Ðạo,

Hoạ kề dầu hối khó than van.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

MÁI TÓC SƯƠNG PHA

Mái tóc: Chỉ tóc trên mái đầu. Sương pha: Có lẫn vài thứ trắng như sương.

Mái tóc sương pha, như câu “Mái tóc điểm sương”, ý nói mái tóc đã điểm bạc, tức chỉ tuổi đã già.

Xem: Mái tóc điểm sương.

Mái tóc sương pha thiều nhặt thúc,

Sanh linh độ dẫn hưởng Thiên ân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

MÀI

Mài là cọ xát cho mòn, láng, cho sắc bén. Như: Mài dao, giũa mài.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Ví bằng mới mài được nửa chừng lại thối chí ngả lòng, vội buông mồi bắt bóng bỏ chạy theo mối lợi khác vô giá trị thì có phải là công phu lỡ dở, mình chịu thiệt thòi chăng?

Độ đời khổ hạnh bền công cán,

Dìu Đạo thân tâm gắng chuốt mài.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

MÀI GỌT

Mài: Cọ xát cho mòn, láng, cho sắc bén. Gọt: Làm cho trơn, cho bén.

Mài gọt, đồng nghĩa với chữ “Mài giũa”, là làm cho sắc bén thêm qua sự rèn luyện, thử thách.

Mài gọt còn có thể hiểu sửa đi sửa lại nhiều lần cho đẹp hơn, cho hay hơn.

Một vật nhỏ cũng mài cũng gọt,

Của dầu hèn cũng mót cũng cằn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

MÀI GIŨA

Hay “Mài dũa”.

Mài: Cọ xát làm cho sắc, cho mòn, cho nhẵn. Giũa (dũa): Đồ dùng làm bằng thép, có khía, dùng để mài cho nhẵn, cho bóng, mài bằng giũa.

Mài giũa, có thể viết “Mài dũa”, là làm cho sắc bén thêm qua sự rèn luyện, thử thách.

Phải cố tâm mài giũa, gắng công tháng lụn năm chầy thì một ngày kia mới thấy lố hình ngọc quý.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

MÀI MIỆT

Mài miệt, như chữ “Miệt mài”, là say mê, theo đuổi, tức ở trạng thái tập trung và bị lôi cuốn vào công việc đến mức như không lúc nào có thể rời ra được.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Trái lại, Chức Sắc Thiên Phong là người cầm phướn chiêu hồn dìu dắt chúng sanh thoát khổ, mà đi đến đâu đều bị họ chê bai, biếm nhẻ, kích bác, hân hủi đủ thứ, Chức Sắc Hội Thánh đem hồng ân của Ðức Chí Tôn rải khắp các nơi cho nhơn sanh chung hưởng, mà họ coi như vật thường, không có giá trị gì, họ đã mài miệt chạy theo khoa học, chú trọng về văn minh vật chất, chớ không hấp thụ được đạo đức tinh thần, họ đeo đuổi theo nguồn tranh đấu là cơ tự diệt, chớ nào rõ biết cơ bảo tồn quy cổ là gì, mãi đến ngày nay mà họ cũng chưa tỉnh.

Mài miệt trần gian mê muội trí,

Trí cuồng mấy thuở gặp Như Lai!

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Mài miệt những ưa theo khóm liễu,

Trở day đâu quản đến rừng hoè.

(Thơ Thông Quang).

 

 

MÀI SẮT

Hay “Có công mài sắt”.

Mài: Cọ xát làm cho sắc, cho mòn, cho nhẵn. Sắt: Loại kim màu xám, dùng để đúc binh khí.

Mài sắt. bởi câu tục ngữ “Có công mài sắt có ngày nên kim”. Cổ ngữ Hán cũng có câu “Ma chử thành châm 磨 杵 成 針” tức dùi mài nên kim.

Mài sắt ý nói có chí dồi mài, trau luyện ắt có ngày cũng sẽ thành công.

Xem: Sắt mài nên kim.

Thành công nhờ có chí bền,

Có công mài sắt nên kim có ngày.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

MẢI MÊ

Mải: Mê miết, tập trung tâm trí vào công việc đến mức không còn biết gì đến chung quanh. Mê: Ham thích tới mức như bị cuốn hút hoàn toàn.

Mải mê là ở trạng thái tâm trí tập trung cao độ vào công việc đến mức không còn biết gì khác nữa.

Như: Mải mê theo đuổi một công trình quan trọng.

Đời khổ mải mê thêm mãi bận,

Đạo mầu càng nhắp lại càng nồng.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

MẠI QUỐC

賣 國

Mại: Bán. Quốc: Nước.

Mại quốc là bán nước, có khi còn đọc là “Mãi quốc”.

Thành ngữ có câu: “Mại quốc cầu vinh 賣 國 求 榮” tức bán nước để cầu được vinh hiển, ý chỉ phản quốc.

Cao Tông đứa nịnh ưa dùng,

Sàm thần mại quốc, anh hùng thác oan.

(Báo Ân Từ).

 

 

MÃI THẦN

買 臣

Mãi Thần là tên một nhân vật thời nhà Hán.

Hán Sử chép: Mãi Thần là người đời Hán, họ Chu (Châu), quê ở Cối Kê, thuở hàn vi vừa đi học vừa đốn củi đổi gạo ăn. Hằng ngày khi giữ trâu, ông thường treo sách trên sừng trâu và ngồi lưng trâu đọc sách.

Lớn lên cưới vợ, ông vẫn còn đi học một cách nhọc nhằn. Vợ ông thấy đời ông khó thành đạt, bèn bỏ ông đi.

Về sau, Mãi Thần làm quan Thái thú huyện Cối Kê, vợ xin trở lại sống chung. Mãi Thần lấy một bát nước đầy đổ xuống đất, bảo người vợ hốt, chừng nào đầy bát, Mãi Thần mới cho về. Vợ Mãi Thần hối hận, buồn bực, tự vận mà chết.

Xem: Châu Mãi Thần.

Gương đẹp đẽ Mãi Thần thuở trước,

Trọng nhơn luân sau phước nên quan.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

MAY

1.- May là dịp tốt, tức điều lành tình cờ đưa đến đúng lúc. Như: Dịp may hiếm có, gặp may, biến rủi thành may.

Thánh giáo có câu: Trời Nam may đặng một yếng sáng của Ðấng Ðại Từ Ðại Bi dẫn khách trần bước lần ra con đường hắc ám, để tránh khỏi bến mê, dụng nâu sồng thế cân đai, mượn khổ tâm thay chung đỉnh, lấy hạnh đức làm nấc thang bước lên tột lừng Trời, vẹt ngút mây xanh, trông vào cảnh thiên nhiên, biết rõ cơ mầu nhiệm mà làm khách u nhàn thanh nhã, núi thẳm rừng xanh.

Dìu nhau trở bước lại rừng thung,

Ðằng cát may đưa dựa bóng tùng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Non chiều ác xế bóng Trời thâu,

Nẻo chánh may nương buổi đáo đầu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- May là dùng kim chỉ kết các mảnh vải, lụa thành quần áo hoặc đồ dùng. Như: May vá, may thuê viết mướn.

Thánh giáo dạy Ngài Thượng Trung Nhựt có đoạn: Từ đây, con phải may riêng bộ áo lễ tay rộng, cổ trịch như áo đạo, nhưng dải gài chín mối, màu xanh da trời. Con nhớ mang giày gai đặng hầu Thầy, còn nhứt nhứt đều để chơn không hết.

Gái chuyên lo học tập vá may,

Trai gắng sức dồi mài kinh sử.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MAY DUYÊN

May: May mắn, dịp tốt. Duyên: Mối dây ràng buộc vô hình từ kiếp trước.

May duyên tức là có duyên phần định sẵn, nên khiến gặp được sự may mắn.

Thanh Tâm Tài Nữ có câu: Ðã may duyên gần gũi hình bóng của Người (Đức Chí Tôn), ráng đặng gặp Người, kẻo sau ăn năn uổng lắm!

Ðường mây sẵn lối gặp may duyên,

Nâng gánh xa thơ sửa mối giềng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tách bến sông mê sóng tạt thuyền,

Lọc lừa nghiệp quả kẻ may duyên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chốn gió bụi may duyên gặp Đạo,

Cội rừng thung nương náu từ bi.

(Huỳnh Hoa Tiên Nữ).

 

 

MAY MẮN

May: Được điều tốt lành hay dịp tốt.

May mắn là dịp tốt hay điều lành tình cờ đưa đến đúng lúc

Thánh giáo Thầy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Ðạo Trời dìu bước nhơn sanh, đường Thánh dẫn người phàm tục. Sanh nhằm lối may mắn đặng gặp một Ðạo Chánh, nếu chẳng lo dưỡng tánh trau mình, để bước vào con đường Cực Lạc, thoát đoạ Tam đồ, một mai cảnh ủ bông tàn, rốt cuộc lại ăn năn vô ích.

May mắn một thân đôi thế giúp,

Không thì có thuở phước nhà mòn.

(Đạo Sử).

May mắn đã sanh chồi quế đủ,

Chứa đầy âm đức lũ con nhờ.

(Đạo Sử).

Nợ Đạo bồi hồi xuân đã muộn,

Duyên văn may mắn bút chưa tà.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

MAY RỦI

May: May mắn, gặp điều tốt, dịp tốt. Rủi: Không may.

May rủi là may và rủi không chắc chắn.

Thánh giáo Thầy có câu: Cuộc biến đổi đau đớn ở thế tình, chẳng qua là do Thiên thơ định đoạt. Rủi may, may rủi, khá biết có Thầy, có Ðạo, vui lòng thiện niệm, thì sự lo lắng mảy mún chi của con cũng có nơi thiêng liêng biết đến, nghe!

Chốn hồng trần quen lằn gió bụi,

Cảnh phù ba may rủi cũng duyên.

(Kinh Tận Độ).

Ðã thừa may rủi cuộc dinh hư,

Làm lắm công phu thử đến chừ.

(Đạo Sử).

May rủi khôn lường câu vận mạng,

Chống chèo đã lướt trận phong ba.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

MAY VÁ

May là dùng kim chỉ kết các mảnh vải, lụa thành quần áo hoặc đồ dùng.

May vá là may và vá quần áo. Như: Cô ấy rất khéo tay, có nghề may vá.

Lắm đứa ngu thịt rượu no say,

Chẳng nghĩ mẹ tiền may bạc .

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MÁY

1.- Máy là cơ khí phát ra động lực để làm thay sức của con người.

Như: Máy cày, máy xe lửa, sản xuất bằng máy, anh ấy làm việc như cái máy.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Thế thì tâm là nguồn gốc sanh điều lành việc dữ, cái máy tạo thành hoạ phước Thánh phàm, nên Thánh Hiền có dạy rằng: Tam điểm như tinh tượng, Hoành câu tợ nguyệt tà, Phi mao tùng thủ đắc, Tố Phật dã do tha.

Chẳng nên phạt bắt con quỳ lạy,

Sự giả hờn là máy răn trừng.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Máy nghĩa bóng là chỉ sức phát động của Tạo hoá. Như: Máy Trời, máy thiên cơ, máy huyền vi, máy càn khôn, máy hành tàng.

Thánh giáo Thầy có câu: Tài mọn, đức hèn, mượn chước khoe mình, việc kỉnh thành Thánh giáo, hư thiệt, thiệt hư, đâu qua máy hành tàng của Tạo hoá.

Phải hiểu biết máy sâu hoạ kín,

Thánh, Thần đâu tư lịnh bỏ qua.

(Kinh Sám Hối).

Lục thông trần thế chẳng ai hay,

Cái máy Thiên Cơ đã sắp bày.

(Đạo Sử).

 

 

MÁY BAY

Máy: Cơ khí phát ra động lực để làm thay sức của con người. Bay: Cử động trên không bằng cánh.

Máy bay là phương tiện vận tải hay phương tiện chiến đấu bay trên không bằng động cơ.

Như: Máy bay hàng không dân sự, máy bay trực thăng, máy bay chiến đấu.

Trên trời dưới đất, rạch sông,

Máy bay xe cộ, thuyền rồng đón đưa...

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

MÁY CÀN KHÔN

Máy: Bộ máy, chỉ những hoạt động có tính tuần hoàn liên tục. Càn Khôn: Âm dương, Trời đất.

Máy Càn khôn là bộ máy âm dương của Trời đất, chỉ toàn thể tinh cầu trong vũ trụ chuyển động liên tục không bao giờ dừng nghỉ. Nghĩa rộng chỉ bộ máy của Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Thầy nắm máy huyền vi, hằng lấy cân thiêng liêng mà day trở máy Càn khôn, vì vậy thế cuộc phải tuần hoàn...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

MÁY HÀNH TÀNG

Hành: Làm, dùng. Tàng: Cất giấu.

Hành tàng là chữ trong Luận Ngữ “Dụng chi tắc hành, xả chi tắc tàng 用 之 則 行, 捨 之 則 藏” nghĩa là dùng thì đem ra làm, bỏ thì đem cất giấu, ý nói đến hai lẽ xuất xử, tiến thoái ở đời.

Hành tàng còn có nghĩa là những hành vi hiển hiện hay ẩn kín bên trong.

Máy hành tàng là máy Trời, vì máy Trời có những cái mắt phàm không thấy được.

Thánh giáo Thầy có dạy: Thiên thơ đã có đủ các máy hành tàng, nhưng Thầy vì thương các con mà phải sửa nét tân khổ ra đường lo liệu.

Xem: Hành Tàng.

Lành dữ thưởng răn coi quả báo,

Rồi đây ta rõ máy hành tàng.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

MÁY HUYỀN VI

Máy: Bộ máy, chỉ những hoạt động có tính tuần hoàn liên tục. Huyền vi: Mầu nhiệm.

Máy huyền vi là bộ máy thiêng liêng, mầu nhiệm của Trời đất, tức bộ máy của Đức Chí Tôn. Đồng nghĩa với “Máy Càn khôn”.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Thầy cũng phải đau lòng mà nắm máy huyền vi để cơ Trời xây đổi. Các con liệu lấy.

Xem: Máy Càn khôn.

Thiên cơ chưa rõ máy huyền vi,

Muốn hiểu việc sau sự tức thì.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

MÁY LINH CƠ TẠO

Máy linh: Bộ máy thiêng liêng. Cơ tạo: Bộ máy của Đấng Tạo hoá.

Máy linh cơ tạo là bộ máy linh hiển của Đấng Tạo hoá, tức những sự xếp đặt, an bài một cách thiêng liêng của cơ Tạo hoá.

Cùng nghĩa chữ “Thiên cơ 天 機” là máy Trời.

Cứ nương dưới máy linh cơ tạo,

Gươm huệ đưa trị xảo trừ tà.

(Kinh Thế Đạo).

Học cho thấu máy linh cơ tạo,

Học cho toàn trí xảo văn minh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Phút chút Càn Khôn nên sáng suốt,

Máy linh cơ tạo thảy đều khai.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

MÁY NHIỆM

Máy: Bộ máy, chỉ những hoạt động có tính tuần hoàn liên tục. Nhiệm: Huyền diệu, mầu nhiệm.

Máy nhiệm, bởi chữ “Cơ mầu nhiệm” tức là bộ máy huyền vi mầu nhiệm, chỉ quy luật tự nhiên của Tạo hoá.

Máy nhiệm đồng nghĩa với chữ “Cơ mầu”.

Đạo Quân đức hoá háo sinh,

Rộng quyền máy nhiệm an linh cứu đời.

(Giới Tâm Kinh).

Phép Phật nào ai tường máy nhiệm,

Quyền trời mấy kẻ hiểu cơ mầu.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

MÁY SÂU HOẠ KÍN

Máy sâu: Do chữ cơ thâm 機 深 là lòng dạ sâu hiểm. Người xưa nhận thấy sự phát động của tâm như máy móc nên gọi là cơ tâm 機 心.

Trong Hán Việt có từ Cơ tâm là cái lòng biến trá khéo léo, giống như máy móc, tâm con người ẩn bên trong những mưu mô xảo quyệt để đối xử nhau, giết hại lẫn nhau, không chút thương yêu, không lòng đạo đức. Đấy là bản tâm con người trong thời xu hướng theo văn minh vật chất, mà quên đi luân thường đạo đức.

Trang Tử có câu: “Hữu cơ giới giả, tất hữu cơ sự, hữu cơ sự giả tất hữu cơ tâm 有 機 械 者, 必 有 機 事, 有 機 事 者, 必 有 機 心” nghĩa là có cơ giới tất có cơ sự, có cơ sự tất có cơ tâm.

Hoạ kín: Tai hoạ ngầm đến, bởi vì tai hoạ không lộ ra, chừng đến thì mới biết.

Máy sâu hoạ kín là lòng dạ sâu hiểm bao nhiêu thì cái tai hoạ ngầm đến cũng bấy nhiêu!

Phải hiểu biết máy sâu hoạ kín,

Thánh, Thần đâu tư lịnh bỏ qua.

(Kinh Sám Hối).

 

 

MÁY TẠO

Máy: Bộ máy, chỉ những hoạt động có tính tuần hoàn liên tục. Tạo: Gây dựng nên, làm ra.

Máy Tạo, như chữ “Cơ Tạo 機 造”, là Đấng Tạo hoá.

Máy Tạo là bộ máy sáng tạo ra Càn khôn Vũ trụ và vạn vật, đồng nghĩa với Tạo hoá, chỉ Trời.

Trong Đạo Cao Đài, máy Tạo cùng nghĩa với máy Càn khôn hay Máy huyền vi để chỉ Đức Chí Tôn.

Xem: Máy huyền vi.

Chớ quên máy Tạo nên mầu nhiệm,

Vay trả đồng cân thế chuyển luân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Un đúc lòng thành chờ máy Tạo,

Có ngày khuấy nước chọc trời Nam.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

Ráng sức trở day theo máy Tạo,

Tận tâm chèo chống đáp ân thiên.

(Thơ Khai Đạo).

 

 

MÁY TRỜI

Máy: Bộ máy, chỉ những hoạt động có tính tuần hoàn liên tục. Trời: Đấng sáng tạo và quyết định mọi việc

Máy trời, như chữ “Thiên cơ 天 機” là chỉ guồng máy của Đấng Tạo Hoá.

Người xưa quan niệm rằng Trời sắp đặt mọi việc như có cả một guồng máy lớn nhưng lại là một guồng máy bí mật khiến người ta không biết được những gì sẽ xảy ra, nên gọi là “Máy Trời”.

Thánh giáo Thầy dạy về việc tà quái xảy ra trong ngày khai đạo như sau: Các con hiểu, Thầy buồn, nhưng ấy là máy Trời đã định, chạy sao cho khỏi. Thầy biết bao lần vì các con mà chịu nhọc nhằn.

Ðắc thất đều do tại máy Trời,

Làm sao qua đặng chốn non khơi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Dám hỏi đại huynh rõ máy trời,

Chừng nào ba lửa cháy ba nơi.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

MÀY

Mày là hàng lông mọc phía trên con mắt. Như: Mắt phụng mày ngài, mặt ủ mày chau.

Thánh giáo Thầy có câu: Từ khai Thiên lập Ðịa, Thầy cũng vì yêu mến các con mà trải bao nhiêu điều khổ hạnh, mấy lần lao lý, mấy lúc vang mày, nuôi nấng các con hầu lập nền Ðạo, cũng tưởng cho các con lấy đó làm đuốc soi mình đặng cải tà quy chánh.

Mấy bữa nhăn mày lâm chước quỷ,

Khiến ôm mối thảm lại Diêm đình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðường mây thẳng gió hồng trương cánh,

Bước Ðạo êm chơn nguyệt rọi mày.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

MÀY DÀY MẶT DẠN

Mày mặt: Chỉ gương mặt. Dày dạn: Từng trải, từng chịu đựng nhiều đến mức quen đi với những tủi nhục, xấu xa, hay nguy hiểm.

Mày dày mặt dạn ý muốn nói mặt mày đã từng chịu đựng những khó khăn, nguy hiểm, nên không ngại sự xấu hổ, tủi nhục.

Mày dày mặt dạn đến dòm Trời,

Thiệt quá sức rồi chớ phải chơi.

(Đạo Sử).

 

 

MÀY HOA

Mày: Hàng lông mày trên con mắt. Hoa: Bông hoa, thường ví với người đàn bà đẹp.

Mày hoa, như chữ “Mày liễu”, dùng để chỉ người con gái đẹp đẽ có gương mặt như hoa, lông mày như liễu.

Oán hình liễu, ghét mày hoa,

Kiếp tu mỏng mảnh mới là nữ nhi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Rửa mặt những e phai má phấn,

Trao tay ngần ngại khuất mày hoa.

(Phạm Phối Thánh).

 

 

MÀY LIỄU

Mày: Hàng lông mày trên con mắt. Liễu: Cây liễu.

Mày liễu, như chữ “Liễu my 柳 眉”, tức là lông mày cong và nhỏ như lá liễu, chỉ người con gái đẹp.

Trong “Trường Hận Ca” của Bạch Cư Dị có câu: Phù dung như diện, liễu như my 芙 蓉 如 面, 柳 如 眉, nghĩa là mặt như hoa phù dung, mày như lá liễu.

Nước Nam thảm khổ ê chề,

Đem thân mày liễu tô về giang san.

(Bát Nương Giáng Bút).

Soi kính cũ mặt hoa đã nhíu,

Tóc hoa râm mày liễu ướm sương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

MÀY LIỄU MÁ ĐÀO

Mày liễu: Như chữ “Liễu my 柳 眉”, chỉ cặp lông mày cong và nhỏ như lá liễu. Má đào: Như chữ “Đào kiểm 桃 臉”, chỉ gò má đỏ hây hây như hoa đào.

Mày liễu má đào chỉ người con gái đẹp có lông mày như lá liễu, gò má hồng hồng như đoá hoa đào.

Muốn trau chuốt mặt ngần thân dịu,

Vẽ cho hay mày liễu má đào.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Đợi chi xinh mày liễu má đào,

Mới bền giữ phụng giao chung gối.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MÀY LIỄU ƯỚM SƯƠNG

Mày liễu: Đôi lông mày như lá liễu. Ướm sương: Mới bắt đầu điểm sương, bạc.

Mày liễu ướm sương tức là đôi lông mày bắt đầu điểm sương, muốn nói lông mày bắt đầu có vài cọng bạc, ý chỉ sắp già rồi.

Soi kính cũ mặt hoa đã nhíu,

Tóc hoa râm mày liễu ướm sương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

MÀY RÂU

Mày: Hàng lông mày trên con mắt. Râu: Lông mọc ở cằm, ở mép.

Mày râu, do chữ “Tu my 鬚 眉”, tức râu, lông mày, chỉ bọn đàn ông con trai.

Mày râu, nghĩa bóng dùng để chỉ giới và cương vị của người đàn ông con trai.

Xem: Tu my.

Mày râu đứng giữa cõi trần gian,

Gắng sức chống cho vững miếu đàng.

(Giới Tâm Kinh).

Kiếm xứng mặt mày râu dưới thế,

E không mưu đủ kế gìn duyên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Đã đành danh phận còn xa thẳm,

Nhưng đấng mày râu chẳng mảy may.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

MÀY XANH

Mày: Hàng lông mày trên con mắt. Xanh: Chỉ tuổi trẻ, như tuổi xanh.

Mày xanh, như chữ “Thanh my 青 眉” là lông mày còn xanh. Mày xanh dùng để chỉ tuổi thanh niên, tức người còn trẻ tuổi.

Dọn đường phước giúp mày xanh,

Đưa con thuyền hạc đến gành thiên lương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Mày xanh nửa kiếp đương vay trả,

Xương trắng ngàn năm đã lấp vùi.

(Thơ Thanh Thuỷ).

Từ thuở mày xanh đến bạc đầu,

Hôm nay mới nếm thú nhà lao.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

MÀY XANH ĐẦU BẠC

Hay “Mày xanh bạc đầu”.

Mày xanh: Tiếng dùng để chỉ người còn trẻ tuổi. Đầu bạc (bạc đầu): Dùng để chỉ người cao tuổi.

Mày xanh, đầu bạc là hai hình ảnh gợi cho thấy con người bị thời gian thay hình đổi dạng, từ lúc tuổi trẻ (lông mày còn xanh) đến khi tuổi già (đầu đã bạc).

1.- Mày xanh đầu bạc:

Mày xanh khá nhớ cơn đầu bạc,

Ngọc trắng đừng cho nhiễm bợn bùn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Mày xanh bạc đầu:

Từ thuở mày xanh đến bạc đầu,

Hôm nay mới nếm thú nhà lao.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

MẢY HÀO

Mảy: Một chút xíu, chỉ phần, lượng rất nhỏ không đáng kể. Hào: Sợi lông.

Mảy hào là một sợi lông nhỏ, chỉ một việc nhỏ nhít, không đáng kể, hay chỉ một khoảng thời gian ngắn.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Trong Nho Giáo có câu: “Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu”, nghĩa là: Trời cao lồng lộng mà mảy hào nào cũng không qua khỏi tay Ngài và lưới thiêng liêng của Ngài, nên xưng tụng Ngài là Thiên Tôn cầm quyền Vạn Linh mực thước như một ông Toà trị thế.

Vì chưng tựu thiểu thành đa,

Hoạ tai báo ứng chẳng qua mảy hào.

(Kinh Sám Hối).

Dắt hồn đến chốn Âm ty,

Xét xem công quả chẳng ly mảy hào.

(Kinh Sám Hối).

 

 

MẢY LÔNG

Mảy: Một chút xíu, chỉ lượng rất nhỏ không đáng kể. Lông: Những sợi nhỏ mọc ở thân người hoặc thú vật.

1.- Mảy lông là sợi lông con, ý chỉ vật nhỏ nhặt.

Mảy lông còn dùng để chỉ sự việc nhỏ nhặt, không đáng quan tâm, không gây ảnh hưởng gì.

Lộng lộng lưới trời tuy sếu sáo,

Thưa mà chẳng lọt mảy lông mày.

(Giới Tâm Kinh).

Tuy là trời đất mênh mông,

Lưới thưa lồng lộng, mảy lông lọt nào.

(Thơ Bảo Pháp).

2.- Mảy lông, bởi chữ “Hồng mao 鴻 毛” là mảy lông chim hồng, chỉ bậc hào kiệt coi mạng sống của mình nhẹ như lông chim hồng.

Ngô Khởi là một tướng võ đời Chiến Quốc, có võ công lừng lẫy, đánh đông dẹp bắc, ai cũng nghe danh, được Lý Bạch, nhà thơ đời Đường ca tụng như sau: Yên Nam tráng sĩ Ngô môn hào, Thái Sợn nhứt trịch khinh hồng mao 燕 南 壯 士 吳 門 豪, 太 山 一 擲 輕 鴻 毛, nghĩa là đất Yên Nam có kẻ tráng sĩ thuộc dòng hào kiệt họ Ngô, ném non Thái nhẹ như lông chim hồng, ý muốn nói gan của kẻ anh hùng xem nhẹ tính mệnh.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Chí Tôn có dạy: Bác ái là hay thương xót sanh linh hơn thân mình. Cho nên kẻ có lòng bác ái coi mình nhẹ hơn mảy lông, mà coi thiên hạ trọng bằng Trời Ðất.

Mảy lông chiến giáp chưa ngăn đạn,

Bay liệng Trời Nam khó trổ tài.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

MẢY MAY

Mảy may là chỉ phần lượng hết sức nhỏ, hoàn toàn không đáng kể.

Trong Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Vì buổi ấy Đạo còn yếu ớt, non nớt bạc nhược, chẳng có đem lại mảy may năng lực gì cả, biết bao phen Đức Lý Đại Tiên giáo hoá khuyên lơn. Ngài chỉ có để lời ngọt dịu dạy bảo khuyên răn.

Đã đành danh phận còn xa thẳm,

Nhưng đấng mày râu chẳng mảy may.

(Hộ Pháp Giáng Bút).

Ước trả mảy may ơn xã tắc,

Nợ muôn đền một kể chi lời.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

MẢY MÚN

Mảy: Chút xíu, một phần nhỏ. Mún: Vụn nhỏ.

Mảy mún là vụn vặt, chỉ một phần rất nhỏ.

Thánh giáo, Đức Lý Giáo Tông dạy: Lão đây cũng vậy, mà chư hiền hữu cũng vậy, chúng ta đã đến tạo thế sửa đời, vẫn là phận sự của chúng ta đã hẳn, hãy biết phận mình mới an tâm liệu thế chuyển xây, đã có khó ắt có hay, đã có gay thì có thuận, bền chí xem mảy mún cơ đời.

Các con có đặng hạnh phúc ấy là do học đặng mảy mún nơi Thầy, mà Thầy dạy các con chẳng nghe, Thầy sai các con chẳng tuân.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

MAN MÁC

Man mác là tiếng chỉ cảnh vật hay màu sắc chiếm cả một khoảng không bao la. Như: Trải ra trong không gian vắng lặng, gợi nên một tâm trạng man mác buồn bã.

Man mác còn dùng để chỉ tâm trạng lâng lâng lắng đượm vẻ buồn.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Bát Nương có câu: Giờ đây Đức Hộ Pháp đã yên phận, nhẹ tách bến trần với lòng man mác, buồn vì Đại nghiệp chưa hoàn thành trọn vẹn, vì nợ áo cơm chưa vẹn trả cho non sông, vì cơ đồ đang nguy cấp, nên mặc dầu rảnh rang sự thế, về ngôi xưa quê cũ, nhưng lòng hoài vọng vẫn vấn vương theo tổ nghiệp và đại gia đình thiêng liêng, nơi chen chúc con cái của Đại Từ Phụ.

Dầu sống sót cũng đành gọi thác,

Vui chi còn man mác tơ duyên.

(Kinh Thế Đạo).

Tính lại mấy thu man mác phận,

Còn chi mong mỏi nghiệp hồng trần.

(Đạo Sử).

 

 

MÀN

1.- Màn là đồ dùng bằng vải, lụa để che chắn.

Như: Màn che cửa phòng, Trướng rủ màn che, buông màn cửa sổ, màn phòng the.

Bởi vào trướng ra màn hết vị,

Bởi ngồi lơn lên kỷ hết nồng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Chàng vui thiếp cũng vui càn,

Chàng buồn thiếp tựa bên màn khóc theo.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Màn, còn gọi là “mùng”, là đồ dùng làm bằng vải dệt thưa đều để ngăn ruồi muỗi, khi ngủ.

Như: Màn gối, giăng màn đi ngủ.

Nơi phòng ngủ mùng màn giặt diệm,

Chốn khách đàng trang điểm đồ dùng.

(Phương Tu Đại Đạo).

Bên màn đòi lúc trêu hồn phách,

Cõi thọ nhiều phen đặng thảnh thơi.

(Cao Quỳnh Tuân).

3.- Màn là chỉ lớp che phủ, giống như bức màn.

Như: Màn sương dày đặc, màn thế tục, màn đêm bao phủ khắp thôn xóm.

Thánh giáo Thầy có câu: Ngày nầy năm trước, các con vẫn còn mơ màng trong giấc mộng trần, đường co duỗi vẫn đã lấp kín chút bợn trần, mà màn thế tục cũng chưa trông khoả vén.

Màn Trời đã vẹt ngút mây trương,

Bước tới đài hoa thấy tỏ tường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

MÀN TRỜI CHIẾU ĐẤT

Màn trời: Lấy trời làm màn. Chiếu đất: Mượn đất làm chiếu.

Màn trời chiếu đất, bởi câu “Mạc thiên tịch địa 幕 天 席 地” tức màn trời chiếu đất, nghĩa đen dùng chỉ sự cao rộng, để tả sự phóng khoáng của người ham thích thú thiên nhiên.

Ngoài ra thành ngữ này còn dùng để chỉ những kẻ gặp cảnh tai biến, nghèo khổ, sống không nhà không cửa, lấy trời làm màn, lấy đất làm chiếu.

Xem: Đất chiếu trời màn.

Nạn nhơn sống sót phải chịu vất vả điêu linh, màn trời chiếu đất...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

MÃN

滿

Mãn là đầy đủ, đã hết, đã trọn một quá trình, một thời hạn xác định. Như: Mạn hạn, mãn năm, mãn tù.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thần Hoàng Bổn Cảnh có câu: Kỳ Hạ nguơn hầu mãn, nhơn vật vì tai nạn mà phải tiêu tận, mười phần còn đoái lại có một mà thôi.

Thức giấc mộng huỳnh lương vừa mãn,

Tiếng phồn ba hết thoáng bên tai.

(Kinh Tận Độ).

Tiền khiên đã mãn nghiệp căn xưa,

Phải biết ăn năng chiếm thượng thừa.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thiệt thì bỏ, giả vay nên nợ,

Mãn căn sanh chưa mở dây oan.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

MÃN ĐỜI

Mãn: Đã hết, đã trọn một quá trình, một thời hạn xác định. Đời: Khoảng thời gian từ lúc sống đến lúc chết.

Mãn đời, như chữ “Mãn kiếp 滿 劫”, là suốt một đời người cho đến lúc chết.

Xem: Mãn kiếp.

Ðạo đức mãn đời đừng trở dữ,

Làm cho mất nghiệp mấy muôn năm.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Văn chương cái thế mãn đời còn,

Ðức hạnh vững bền sánh nước non.

(Đạo Sử).

 

 

MÃN HẠN

滿 限

Mãn: Đã hết, đã trọn một quá trình, một thời hạn xác định. Hạn: Kỳ định trước.

Mãn hạn, như chữ “Mãn kỳ 滿 期”, là hết kỳ hạn.

Trong Thiên Đạo, hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có đoạn viết: Nhơn hồn của những bực chơn tu đắc Tiên vị, khi lìa cõi phàm, thì cổi luôn tất cả bốn thể một lượt; vượt khỏi cõi Thần và cõi Thánh mà lên thẳng cõi Tiên. Nhưng sau khi hưởng hết quả vị, nói một cách khác, sau khi mãn hạn, nhơn hồn còn phải luân hồi lại nữa.

Tứ quân bạch trực nhứt tâm ưu,

Mãn hạn tu hành Ðạo thị mưu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Giác Hải đòi chùa kỳ mãn hạn,

Cao Quân dời Phật bước truân chuyên.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

MÃN KIẾP

滿 劫

Mãn: Xong, hết. Kiếp: Kiếp sống.

Mãn kiếp là suốt đời người, hay hết một kiếp sống nơi cõi trần, tức nói sự chết.

Thánh giáo Huệ Mạng Kim Tiên dạy: Còn như tăng đồ mãn kiếp háo danh lừa sanh chúng, hưởng của thập phương rồi lo thân giải thoát, hỏi cũng danh gì?

Heo trâu thân thể mạt hèn thay,

Mãn kiếp lại còn bị xẻ thây.

(Giới Tâm Kinh).

Mãn kiếp những nỗi mình, mình xử,

Nào mong chi bạn lữ giúp nên.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MÃN KỲ

滿 期

Mãn: Xong, hết. Kỳ: Thời kỳ, kỳ hạn.

Mãn kỳ là hết thời kỳ hay mãn hạn.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Bát Nương Diêu Trì Cung có câu: Và để làm một tay phụ sự cho nam phái trên đường chuyển thế, vả lại lúc nầy đã gần mãn kỳ học hỏi của các nguyên nhân, nên Đức Chí Tôn muốn đem về rồi cho xuống học kỳ khác, như vậy phận sự của nữ phái là phải giúp đỡ cho nam phái được trọn trên đường học hỏi.

Thầy bảo lãnh các con, un đúc chí Thánh của các con, đã mãn kỳ, phải giao lại cho Toà Tam Giáo được phép lấy mực công bình mà chuẩn phê các cử chỉ của mỗi đứa.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

MÃN LỄ

滿 禮

Mãn: Xong, hết. Lễ: Cuộc lễ.

Mãn lễ là chấm dứt cuộc lễ, hoặc hết một đàn lễ (đàn cầu cơ hoặc lễ cúng).

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Mỗi kỳ Đại Đàn kể từ 12 giờ cho đến 2 giờ, trong 2 giờ đồng hồ nếu mấy người mặc một bộ đồ võ phục như vầy, có buộc dây như tôi, chịu thử như tôi coi ra sao mấy người biết. Từ lúc mới vô dĩ chí cho tới mãn lễ, không có lúc nào ở không, luôn luôn hành pháp không nghỉ, tới xong lễ lại lên giảng đài giáo Đạo cho con cái Đức Chí Tôn, nếu ngày kia có tuổi thêm chút nữa, chắc làm không nỗi, không thể đứng nỗi, chịu không nỗi nữa.

Khi cầu các Ðấng, phải ráng thủ lễ. Mãn lễ cũng để nhang đèn như kỳ nầy vậy.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

MÃN NGUYỆN

滿 願

Mãn: Đầy, xong, hết. Nguyện: Ý nguyện.

Mãn nguyện là đầy đủ như ý nguyện, tức là đầy đủ theo ý mình mong muốn.

Trong lễ Khai giảng khoá Huấn luyện Chức việc Bàn Trị sự, Đức Thượng Sanh có dạy: Cái vốn đạo đức mà quý vị cố gắng góp nhặt và dành dụm, ngày sau sẽ giúp quý vị được mãn nguyện, vì quý vị sẽ đạt đến địa vị trọng yếu trong hàng Thánh thể Đức Chí Tôn.

Ơn trọng tấm duyên chưa mãn nguyện,

Đo đường sang trọng thử là bao.

(Bát Nương Giáng Bút).

Mãn nguyện chưa xong gia sự biến,

Còn lo một nỗi sắc còn tươi.

(Đạo Sử).

 

 

MÃN NHÃN

滿 眼

Mãn: Đầy, xong, hết. Nhãn: Mắt.

Mãn nhãn là đầy con mắt, ý muốn nói nhìn thấy một cách thoả mãn.

Như: Hôm nay có dịp vào hoa viên nhìn mãn nhãn.

Trời Tây mãn nhãn ngó qua Ðông,

Nhà ít người thưa bỏ rộng đồng.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

MÃN PHẦN

滿 分

Mãn: Xong, hết. Phần: Phần số.

Mãn phần là phần số đã hết, chỉ sự chết. Như: Cha anh ấy đã mãn phần.

Thánh giáo Chí Tôn có câu: Tương mãn phần cũng nơi số mạng tiền định. Nó có phước là vì đặng về Thầy trong mấy ngày rốt của kiếp trần ai của nó.

Khá nên quyết sách vận trù,

Nền Nam có lúc vong xu mãn phần.

(Ngũ Nương Giáng Bút).

 

 

MÃN QUẢ

滿 果

Mãn: Đã hết, đã dứt, đã trọn một quá trình. Quả: Nghiệp quả, quả báo.

Mãn quả là dứt hết nghiệp quả, tức trả xong hết những thứ nghiệp quả mà kiếp nầy thọ lãnh.

Như: Kiếp sinh đã mang nhiều nghiệp, ráng tu hành để được mãn quả.

Từng vào non Thánh lại đền vàng,

Mãn quả sớm nhờ sắc ngọc ban.

(Lam Thể Hoà Giáng).

 

 

MÃN SỐ

滿 數

Mãn: Xong, hết. Số: Vận mạng, tức những sự may rủi gặp phải trong đời đã được định sẵn.

Mãn số, như chữ “Mãn phần 滿 分”, là phần số đã hết, chỉ sự chết.

Hỏi số từ thân sẽ thế nào?

Tám mươi gần mãn số Thiên Tào.

(Đạo Sử).

Ban vạn loại pho Kinh Tận Độ,

Cứu Nguyên nhân mãn số siêu thăng.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

MANG

1.- Mang là đem theo mình, tức giữ lúc nào cũng cùng theo một bên mà di chuyển.

Như: Hành lý mang theo người, mang con bỏ chợ, mang lông đội sừng.

Chuyển thân trở lại trần gian,

Sanh làm trâu chó đội mang lông sừng.

(Kinh Sám Hối).

Phong trần thương kẻ mang thân đọa,

Bồng đảo vì ai giữ tấc thành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðóng cửa tụng kinh xem thế cuộc,

Bên lưng con chớ tưởng mang tiền.

(Đạo Sử).

2.- Mang còn có nghĩa là đeo vào mình, nhận lấy để phải chịu lâu dài về sau.

Như: Mang tiếng, mang luỵ vào mình, mang ơn trong lòng, mang công mắc nợ.

Thánh giáo Thầy có câu: Sanh ra phận làm người, đã mang vào mình một trách nhậm đặc biệt, phải gắng sức làm cho hoàn toàn, hầu chờ buổi chung quy tương công chiết tội, tiêu quả tiền khiên, mà nâng mình vào địa vị cao thượng hơn phẩm vô vị chốn sông mê nầy.

Vừa mở mắt giựt mình thức dậy,

Con mang ơn cúi lạy Từ Bi.

(Kinh Thế Đạo).

Hễ muốn lợi danh mang thất đức,

Thờ chung danh lợi hết gần Trời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

MANG SAO ĐỘI NGUYỆT

Mang sao: Nghĩa đen: Mang ngôi sao bên mình. Đội nguyệt: Đội trăng trên đầu.

Mang sao đội nguyệt, bởi chữ “Phụ tinh đái nguyệt 負 星 戴 月” là nói đêm ngày cực nhọc, cảnh sống gian nan, vất vả, phải dãi gió dầm sương.

Do tích: Ông Phục Tử Tiện làm quan ở huyện Đan Phụ, ngồi khảy đờn mà địa phương được trị. Trong khi đó ông Vu Mã Tử Kỳ cũng làm quan nơi ấy, hằng ngày mang sao ra, (đi sớm), đội nguyệt về (về tối), đêm ngày không rảnh công việc, như thế đất Đan Phụ mới được trị an. Do vậy, Tử Kỳ mới hỏi Tử Tiện rằng: Chỉ thấy ngài khảy đờn, chẳng nhọc sức với công việc, thế mà dân tình vẫn bình ổn. Tử Tiện nói: Tôi dùng người, ngài dùng sức. Kẻ dùng người thì rảnh rang, người dùng sức thì nhọc nhằn.

Bần Đạo hỏi bốn hiền hữu có ai đã mang sao đội nguyệt, ăn mật nằm gai, chịu muôn sự khổ hạnh cõi đời để tạo hạnh phúc cho nhơn sanh chưa?

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

MANG TIẾNG

Mang: Nhận lấy để phải chịu lâu dài về sau. Tiếng: Lời bàn tán, sự đánh giá, khen chê.

Mang tiếng là chịu tiếng xấu, bị dư luận chê bai. Như: Làm bậy sợ mang tiếng với họ hàng.

Mang tiếng còn có nghĩa là chỉ được cái tiếng do dư luận cho. Như: Mang tiếng là giàu mà của cải chẳng có gì.

Làm cho thau nọ nên vàng,

Chì kia lộn bạc lại mang tiếng đời.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

MANG TỘI

Mang: Nhận lấy để phải chịu lâu dài về sau. Tội: Hành vi phạm pháp, đáng bị xử phạt.

Mang tội là phải nhận lấy cái tội, ý nói làm những việc sái quấy sẽ nhận lấy tội tình.

Như: Tu mà vọng ngữ thì mang tội với thiêng liêng.

Lấp ló như người mang tội trộm,

Ta không nỡ để đến nhiều phen.

(Đạo Sử).

 

 

MÁNG

1.- Máng là treo, mắc, đặt một vật nằm lưng chừng giữa thành vách, nhờ đinh hay móc.

Như: Máng cây đờn trên móc, máng chiếc nón trên vách, áo quần ủi xong máng vào tủ.

Lợi danh chưa toại đành buông đứt,

Áo mão lỡ làng biết máng đâu.

(Thơ Hộ Pháp).

2.- Máng là vướng, móc, cọ quẹt vào nhau.

Như: Hễ máng vô cờ bạc thì nhà cửa tiêu tan, hai xe máng vào nhau làm người bị thương.

Sắc hễ gần rồi thì thần hồn hôn muội,

Tài hễ máng đến thì tâm chí lo ra.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Chết rồi mới hoá tinh yêu,

Không nơi nương dựa máng điều tai ương.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

MÀNG

Màng là nghĩ đến, tưởng đến, để ý tới. Như: Không màng danh lợi, không màng thảo ngay.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng có câu: Kiêu hãnh thái thậm, vào muốn có người trình, ra muốn có kẻ cúi, khoát nạt, đè ép, biết mình mà chẳng màng biết đến người, hay ỷ sức mà chẳng dòm xem thời thế chẳng thâu phục nhân tâm, chẳng biết dùng khiêm từ mà đãi khách, là những nét của các bậc Vương Bá xưa dùng mà phải tan tành vũ trụ đó.

Dương gian ngỗ nghịch lăng loàn,

Liều mình tự vận không màng thảo ngay.

(Kinh Sám Hối).

Cao Ðài tá thế đến phàm gian,

Bạch Ngọc Huỳnh Kim cũng chẳng màng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Màng chi những tiếng thị phi khùng,

Mà để xiêu lòng mất tín trung.

(Đạo Sử).

 

 

MẢNG

Mảng là mải, mải miết, tập trung tâm trí vào một việc gì đó đến mức không còn biết đến chung quanh.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Chung đỉnh mảng tranh giành, lợi danh thường chác buộc, kiếp phù sanh không mấy lát, đời giả dối chẳng là bao.

Ðai cân mảng luyến chưa nên phận,

Danh lợi ham giành khó vẹn ngôi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Mảng lo lắng chữ nhàn nào rõ,

Huống để công đến ngõ Khổng Trình.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

MÃNG BÀO

蟒 袍

Mãng: Một loại rắn to. Bào: Áo.

Mãng bào là loại áo có thêu hình con mãng, tức là loại rắn to giống hình con rồng, có vảy.

Theo quan chế đời nhà Thanh, vua và Thái tử mặc long bào, tức áo thêu rồng, còn Hoàng tử, Hoàng thân mặc áo mãng bào.

Trong các cuộc Đại lễ của đạo Cao Đài, Đức Hộ Pháp mặc giáp ở trong, choàng mãng bào ở phía ngoài, tay phải cầm Giáng Ma Xử, tay trái nắm xâu chuỗi Từ bi đầu đội Kim khôi, chân mang đôi hia có thêu chữ Pháp.

Chơn đi hia, trên chót mũi hia có chữ Pháp, ngoài giáp thì choàng mãng bào thế nào bên tả phải giáp, bên hữu thì mãng.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

MẠNG

Hay “Mệnh”.

1.- Mạng, như chữ “Mệnh 命”, là những cái tự Trời định mà phú cho con người.

Như: số mạng, cùng thông đắc táng là do mạng Trời.

Thánh giáo Thầy có câu: Nếu cứ than khó, dừng bước thì dầu sự dễ cũng không trông thành tựu. Mạng Trời đã định, nhưng có sức của các con mới đặng cuộc kết quả hoàn toàn.

Người làm phước có khi mắc nạn,

Kẻ lăng loàn đặng mạng giàu sang.

(Kinh Sám Hối).

2.- Mạng, như chữ “Mệnh 命”, là lời truyền dạy của vua, hoặc người trên.

Như: Thọ mạng Trời, theo mạng lịnh của nhà vua, tuân mạng Hội Thánh.

Nghe từ lịnh, cúi vâng từ mạng,

Nhọc lòng chi nào dám dỉ hơi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

MẠNG BẠC

Hay “Mệnh bạc”.

Mạng (mệnh): Số mệnh, vận số của con người. Bạc: Mỏng, mong manh.

Mạng bạc, hay “Mệnh bạc 命 薄”, là mạng số mỏng manh, bạc bẽo.

Xem: Bạc mệnh.

Nỗi mình tâm sự tỏ cùng ai?

Mạng bạc còn xuân uổng sắc tài.

(Đạo Sử).

Những tưởng tài hiền dành cứu thế,

Nào ngờ mạng bạc uổng cho đời.

(Thơ Hiến Pháp).

 

 

MẠNG CĂN

Hay “Mệnh căn”.

Mạng (mệnh): Vận mệnh mà Trời định cho mỗi người theo nghiệp. Căn: Gốc rễ.

Mạng căn, như chữ “Mệnh căn 命 根”, là cái căn nghiệp của mỗi người tạo thành cái mạng sống cho kiếp hiện tại, tức là những việc làm thiện, ác của kiếp trước quyết định cái mạng sống tốt đẹp hay xấu xa cho kiếp hiện tại. Mỗi người có một địa vị, trình độ hay hoàn cảnh khác nhau là vì mạng căn của mỗi người khác nhau.

Sanh nơi đây, ở nơi đây,

Trăm năm là tuổi đủ đầy mạng căn.

(Kinh Tận Độ).

Ví biết mạng căn là số định,

Gẫm mình vô tội cũng thâm bâu.

(Thơ Hộ Pháp).

Tuy đã hiểu mạng căn hữu số,

Cuộc bi hoan ly hiệp nỗi đau lòng.

(Văn Tế Đốc Học).

 

 

MẠNG DANH

Hay “Mệnh danh”.

Mạng (mệnh): Sai khiến. Danh: Tên.

Mạng danh, như chữ “Mệnh danh 命 名”, là đặt tên, gọi tên.

Ví dụ: Trong Đạo Cao Đài, hình thể Chí Tôn tại thế được mạng danh (mệnh danh) là Hội Thánh.

Mạng danh Hội Thánh đã đành,

Nâng tay nhục thể xây hình Chí Tôn.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

MẠNG YỂU DANH THỌ

Hay “Mệnh yểu danh thọ”.

Mạng (mệnh) yểu: Số mệnh ngắn ngủi, chết sớm. Danh thọ: Tiếng tăm lâu bền.

Mạng yểu danh thọ, như chữ “Mệnh yểu danh thọ 命 殀 名 壽”, nghĩa là số mạng thì ngắn ngủi, nhưng tiếng tăm thì còn mãi mãi.

Theo triết lý Tôn giáo, con người ở thế gian là cõi hữu hình, nên đời sống chỉ tạm bợ, không lâu bền, còn tiếng tăm (danh) là việc vô hình nhưng tồn tại mãi mãi.

Mạng yểu danh thọ ý nói đời người ngắn ngủi, chỉ nên lo về tiếng tăm (tiếng thơm) mà thôi.

Cho hay rằng Sanh là ký, tử lại là quy,

Nhưng phải biết Mạng tuy yểu, danh tồn ấy thọ.

(Văn Tế Thượng Phẩm).

 

 

MẠNG LỊNH

Hay “Mệnh lệnh”.

Mạng (mệnh): Vua bảo với bề tôi. Lịnh (lệnh): Bề tôi vâng lời thi hành mệnh của nhà vua.

Mạng lịnh, như chữ “Mệnh lệnh 命 令”, là nói cấp trên ra lịnh đối với cấp dưới.

Thánh giáo Đức Chí Tôn đã dạy Ngài Thái Thơ Thanh như sau: Con có biết sự chơn thật nơi nào mà phải khổ thân lo lắng. Con có phận sự rất lớn, Thánh danh con cũng lớn. Thầy dặn con, nhứt nhứt phải do mạng lịnh Thầy mà thôi.

Xem: Mệnh lệnh.

Mạng lịnh Chí Tôn đà chỉ dạy,

Chủ quyền chơn Đạo một mình Thầy.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

MẠNG PHỤ

Hay “Mệnh phụ”.

Mạng phụ, như chữ “Mệnh phụ 命 婦”, là từ phong tặng quan cho các bà vợ có chồng làm quan to.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Bao nhiêu gương để chỉnh đốn đạo nhơn luân, cốt yếu làm con người biết đạo vợ chồng là trọng, đặng sửa đương cho nhau lập mình lên bực chí Thánh. Như thời xưa vợ ông Châu Công, Ngài là Tể Tướng đầu triều mà bà vợ vẫn lo canh cửi làm ăn nuôi mẹ chồng, một vị mạng phụ phu nhơn mà cư xử được như vậy thật đáng quý.

Xem: Mệnh Phụ Phu Nhân.

Vợ Châu Công đình thần mạng phụ,

Ở thôn quê lam lụ làm ăn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

MẠNG SỐ

Hay “Mệnh số”.

Mạng (mệnh): Cái do Trời định, không phải sức người miễn cưỡng được. Số: Vận mệnh.

Mạng số, như chữ “Mệnh số 命 數”, cũng như số mệnh là chỉ vận mệnh của một đời người.

Xem: Mệnh số.

Cầu biết kỉnh Tiên cùng lễ Phật,

Thì là mạng số đặng hoàn viên.

(Đạo Sử).

Mạng số hay ghen người tóc bạc,

Biển dâu cho héo tấm lòng son.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

MẠNG SỐNG

Hay “Mệnh sống”.

Mạng (mệnh): Mạng vận, mạng số con người. Sống: Sự sống, tức có sinh khí và hoạt động.

Mạng (mệnh) sống là cái sinh mệnh (sanh mạng), tức là sự sống của con người.

Thánh giáo Chí Tôn có câu: Nếu ai giết mạng sống, đều chịu quả báo không sai, biết đâu là cái kiếp sanh ấy chẳng phải là Tiên, Phật bị đoạ luân hồi mà ra đến đỗi ấy.

Tua khá tưởng thương lần nòi giống,

Hãy xét vì mạng sống khó cầu.

(Kinh Sám Hối).

Luận cùng lý dầu cho mạng sống,

Nhờ vợ hiền dạng bóng mới còn bền.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MẠNG TRỜI

Hay “Mệnh Trời”.

Mạng (mệnh): Mệnh lệnh, vận mệnh. Trời: Ông Trời, tức Thượng Đế.

Mạng trời, do chữ “Thiên mệnh 天 命”, là mệnh lệnh của Thượng Đế ban ra, hoặc chỉ vận mạng do Trời định.

Thánh giáo Chí Tôn dạy: Nếu cứ than khó, dừng bước thì dầu sự dễ cũng không trông thành tựu. Mạng Trời đã định, nhưng có sức của các con mới đặng cuộc kết quả hoàn toàn.

Có thuở mạng Trời đưa sắc đến,

Nên giềng Ðạo cả chẳng bao lâu.

(Đạo Sử).

Ðạo Thánh mở phú một tay truyền bá,

Lãnh mạng Trời bố hoá khắp hoàn cầu.

(Văn Tế Thượng Phẩm).

 

 

MANH

Manh là mảnh, chiếc, từ chỉ đơn vị vật mỏng, mềm dùng để che thân hoặc để đắp. Như: Manh chiếu rách, manh quần tấm áo, bát cơm manh áo.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Ví như không gặp được mối đạo mầu, chúng ta chỉ phải lao tâm tiêu tứ vì manh áo bát cơm, vì gia đình khốn khó nếu có được may mắn hơn nữa, chỉ lên xe xuống ngựa chút ít với đời rồi thì cũng chết mòn như cây cỏ, bụi thời gian vừa khoả kín nấm mồ thì mấy ai còn nhắc nhở đến.

Chẳng kể già áo bả quần manh,

Để cho trẻ đẹp xinh cùng thế sự.

(Phương Tu Đại Đạo).

Chị vừa vá manh quần tấm áo,

Ra đá bò đánh đáo rách te.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MANH MÚN

Manh: Mảnh, tấm. Mún: Bấy, nát, từng phần nhỏ.

Manh mún là tủn mủn, từng phần nhỏ nhặt và rời rạc.

Thánh giáo Chí Tôn có câu: Thầy quyết lấy đức háo sanh mở Ðạo, cứu rỗi sanh linh cho kịp trước kỳ Hạ nguơn nầy, nhưng Ðạo chẳng hoàn toàn, con đường đi chưa cùng bước, là vì tại nơi lòng nhiều đứa chưa để hết tín ngưỡng mà nghe lời Thánh giáo, cho nên lần hồi, nền Ðạo phải ra tan tành manh mún.

Rồi rốt cuộc lại thì các con phải lần lần bị manh mún phân chia, sa vào hang sâu vực thẳm.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

MANH QUẦN TẤM ÁO

Manh quần: Từng mảnh quần mỏng manh. Tấm áo: Từng chiếc áo che thân.

Manh quần tấm áo hàm ý chỉ từng chiếc quần, từng chiếc áo không đáng kể, ít oi nhỏ mọn.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Bây giờ ta sống ta nhờ có xã hội nhơn quần tức nhiên kẻ đồng sống cùng ta, giúp ta sống, họ chia từ hột cơm, manh quần tấm áo, ta sống ta chia sớt với họ phương nào? Không thể cho ta hết, trong khi ta đã nhờ kẻ nào mà ta đã sống, ta bảo kẻ đó không khi nào là chơn thật.

Nhỏ chạy manh quần tấm áo,

Lớn khôn lo học lo hành.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MÀNH

1.- Mành là đồ đan bằng nan tre, trúc kết bằng dây gai, chỉ, để che cửa, hoặc trang trí, có thể cuộn lên, buông xuống, hoặc rẽ sang hai bên.

Như: Tấm mành trúc, cửa buông mành, bóng nga thấp thoáng dưới mành.

Ðộng cũ vườn tòng sầu biếng trổ,

Non xưa rừng bá thảm buông mành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Mành là mảnh, nhỏ dễ đứt.

Như: Mỏng mành, chỉ mành treo chuông, đố ai gỡ mối tơ mành cho xong (Kiều).

Chỉ mành rối khá lo âu,

Liệu chơn thoát khỏi vực sâu sau nầy.

(Thanh Tâm Tài Nữ).

 

 

MÀNH TƯƠNG

Mành: Đồ dùng để che, làm bằng nan tre nứa kết bằng dây gai, chỉ. Tương: Một loại trúc, thân có đốm như đồi mồi.

Mành tương, bởi chữ “Tương liêm 湘 簾”, là bức mành mành làm bằng cây tương trúc, tức cây tre có thân đồi mồi kết lại.

Tương trúc do điển: Hai bà Nga Hoàng, Nữ Anh đi tìm vua Thuấn, đến bờ sông Tương ngồi khóc, nước mắt vấy vào hàng tre ở bên bờ, làm tre có đốm như đồi mồi, nên gọi tre đó là tương trúc.

Để lạnh phòng thu song nửa cánh,

Mưa chiều gió tối lọt mành tương.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

MẢNH

1.- Mảnh là miếng. Như: Mảnh giấy, mảnh gương, mảnh khăn, mảnh gỗ, mảnh vải.

Thánh giáo Thầy có câu: Con đã để dạ ưu tư về mối Ðạo, đã lắm lần trưu cay ngậm đắng mà nhuộm nét nâu sồng, mong trau rạng mảnh gương để soi chung bước đàng sau mà lần đến cảnh tự tại thung dung, tránh bớt muôn điều phiền não.

Vừng trăng xẻ nửa lưng tròng ngó,

Một mảnh gương treo biếng mắt nhìn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ấm lạnh chờ người đưa mảnh áo,

Chùa tranh giữ sẵn Phật bằng vàng.

(Đạo Sử).

Đông lạnh ngắt mảnh mền úm trẻ,

Ngồi đêm trường quạnh quẽ phòng không.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Mảnh như chữ “Manh”, “Chiếc”, “Tấm”, chỉ vật hoặc người có hình mỏng hay dáng mảnh khảnh.

Như: Mảnh tâm, mảnh hình hài, mảnh quần hồng, mảnh má đào, mảnh trí, mảnh vũ y.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Quan Thánh Đế Quân có dạy: Than ôi! Trời cao minh soi xét mà người vẫn mê muội ám mờ, đem mảnh trí cỏn con kia chống kình với khuôn linh Tạo hoá.

Mảnh thân xin gởi bấy chừ,

Nương theo thuyền huệ vào bờ Tương giang.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Hễ nam cao thì nữ sánh đồng cao,

Đừng trao mảnh má đào làm vật giỡn.

(Phương Tu Đại Đạo).

Dạy cho hiểu mảnh thân dầu sống,

Cũng nhờ nương dưới bóng hoá công.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MẢNH HƯƠNG NGUYỀN

Mảnh: Miếng, manh, chiếc, chỉ những vật nhỏ mỏng mành. Hương nguyền: Lời thề nguyền trước bàn hương án.

Mảnh hương nguyền là những mảnh hương thơm, hay những mảnh gỗ trầm đốt trong cuộc lễ thề nguyền giữa trai gái hoặc vợ chồng.

Mảnh hương nguyền dùng để chỉ mối tình gắn bó, hoặc vợ chồng giữ vẹn thuỷ chung với nhau.

Còn theo thăm ván bán thuyền,

Trông chi giữ mảnh hương nguyền cùng nhau.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

MẢNH TƠ TÌNH

Mảnh: Miếng, manh, chiếc, chỉ những vật nhỏ mỏng mành. Tơ tình: Tình yêu vương vấn như tơ.

Mảnh tơ tình là mảnh tình vương vấn như sợ dây tơ, chỉ mối tình tha thiết, mặn nồng.

Chừ toan bứt mảnh tơ tình,

Trà ngâu che nhớ, rượu quỳnh chối thương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

MẢNH TƠI

Mảnh: Miếng, mảnh quần. Tơi: Áo kết bằng lá khoác ngoài để che mưa, rách tưa ra.

Mảnh tơi là tấm áo tơi khoác ngoài.

Bài Diễn Văn của Đức Quyền Giáo Tông đọc tại Toà Thánh nhân vía Đức Phật Thích Ca mùng 8 tháng 4 năm Giáp Tuất có câu: Ít ai ngó xuống thương đồng loại cực khổ biết bao! Kể không xiết số người thất nghiệp truân chuyên, cơm tẻ ngày hai không có, mảnh tơi che cật chẳng lành.

Mảnh tơi còn phận chưa lành,

Máu đưa quan nút, mỡ dành làng ăn.

(Ngụ Đời).

 

 

MÃNH HỔ

猛 虎

Mãnh: Mạnh mẽ, dữ dội. Hổ: Cọp.

Mãnh hổ là cọp mạnh và hung dữ. Như: Rừng nầy có nhiều mãnh hổ.

Đức Khổng Tử có câu: “Hà chính mãnh như hổ 苛 政 猛 如 虎” nghĩa là chính sách hà khắc mạnh như cọp, nên từ “Mãnh hổ” dùng để chỉ chính sách hà khắc hay bọn cường quyền mạnh bạo.

Trị loạn Nam Thiên trừ mãnh hổ,

Thừa bình Bắc Địa kiến kỳ lân.

(Lý Giáo Tông Giáng).

 

 

MÃNH LỰC

猛 力

Mãnh: Mạnh mẽ, dữ dội. Lực: Sức.

Mãnh lực là sức mạnh.

Như: Mãnh lực của đồng tiền.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Chúng ta thấy rõ Thánh nhơn trọng dụng Âm nhạc như vậy vì Âm Nhạc là một bộ môn văn hoá cao đến tuyệt độ và Nhạc Thiều có cái mãnh lực huyền bí, cao siêu giúp dân trị nước, cải hoán xã hội.

Mầng xác Chí linh thêm mãnh lực,

Mầng thần Chơn lý đặng danh cao.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

MẠNH

1.- Mạnh là có sức lực, trái với yếu. Như: Sức mạnh, anh ấy mạnh hơn tôi, dân giàu nước mạnh.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển.Thầy có dạy: Các con hiền mà dữ, các con yếu mà mạnh, các con nhỏ nhoi mà là quyền thế, các con nhịn nhục mà các con hành phạt, cử chỉ các con khá tập sao cho nghịch với cử chỉ thế tình thì là gần ngôi Tiên, Phật đó.

Mạnh yếu rồi đây yếu được phần,

Ðược phần máy Tạo khéo cầm cân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Hễ người mạnh thì hay cậy sức,

Phận liễu bồ lấy lực mưu mô.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Mạnh là khoẻ, không đau yếu.

Như: Mạnh khoẻ, anh ấy vẫn mạnh giỏi, cả nhà đều mạnh, đau mới mạnh.

Phải tiếp dưỡng vợ thường mạnh khoẻ,

Kiếm phương làm vui vẻ hằng ngày.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Mạnh là họ Mạnh. Như: Mạnh Tử, một vị đại hiền trong Nho giáo đời Chiến Quốc; Mạnh Hạo Nhiên, một nhà thời đời Đường.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Sau Ðức Khổng Tử, một nhà đại hiền triết là Thầy Mạnh Tử đem học thuyết Khổng Giáo làm cho sáng tỏ hơn nữa, theo thuyết của Thầy Mạnh thì Ðạo làm người quý nhất là Nhơn với Nghĩa; dầu đến bậc vua chúa mà thiếu Nhơn với Nghĩa cũng bị khinh thường.

Nhớ xe Châu thầy Mạnh vẫn não nồng,

Xem niếp tử ông Sâm càng thảm thiết.

(Văn Tế Đốc Học).

 

 

MẠNH BẠO

Mạnh: Có sức lực, có khả năng vượt đối phương. Bạo: Có cử chỉ, hành động tỏ ra không rụt rè, e ngại.

Mạnh bạo là mạnh mẽ, bạo dạn, tức không sợ, dám nghĩ, dám làm những việc mà người ta e ngại hoặc không dám làm.

Thánh giáo Thầy trong Thánh Ngôn Sưu Tập có đoạn: Thầy thấy Ngọc Hư tuyển đạo, sợ các con sa ngã lầm đường nên lấy lòng tư thở than dạy bảo. Các con thấy tà khởi mạnh bạo là dường nào chưa?

Khi anh được phi thân mạnh bạo,

Thì anh nên ngừa chảo nước sôi.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

MẠNH ĐẶNG YẾU THUA

Hay “Mạnh được yếu thua”.

Mạng đặng (được): Người mạnh bao giờ cũng chiếm phần thắng. Yếu thua: Kẻ yếu bao giờ cũng thua.

Trong cuộc chiến đấu hoặc tranh giành với nhau, người mạnh bao giờ cũng đặng, người yếu bao giờ cũng thua. Vì vậy, muốn tranh đấu nhau hai bên thường phải so đồng sức mạnh.

Mạnh đặng yếu thua còn dùng để chỉ cái quy luật tự nhiên của xã hội, như câu: “Mạnh đặng yếu thua, khôn còn dại mất”.

Thánh giáo Tiêu Sơn Đạo Sĩ có câu: Hiệp Thiên Ðài là gốc Ðạo mà chẳng trọn phần cho chư chúng sanh tin cậy thì Ðạo một ngày kia thế cũng chẳng bền ở nơi tâm trí của cả người hành đạo, mạnh được yếu thua, khác nào một trò đời vô vị.

Mạnh đặng yếu thua ấy lẽ thường,

Phải lo đồng chủng để lòng thương.

(Đạo Sử).

 

 

MẠNH GIỎI

Mạnh: Khoẻ, hết bệnh, không đau yếu.

Mạnh giỏi là khoẻ mạnh, có sức khoẻ như mong muốn, không đau ốm, bệnh tật.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Có nhiều điều ta đến xin Mẹ thì Mẹ cho, chớ còn xin Cha thì không được, phải vậy không? Nhứt là phái nữ, tâm hồn thường phải nương theo Phật Mẫu một cách mạnh mẽ hơn nữa, hoặc sanh con cũng được mạnh giỏi hoặc chính thân thể mình không được cường tráng, hoặc đức tin còn yếu ớt sao không đến xin Mẹ, chỉ có Mẹ mới đủ quyền năng ban ơn ấy cho; còn như mấy em nhỏ, đã có vợ chồng thì nên đến phụng sự Ðức Mẹ mà cầu xin cho sanh đặng con tốt, cho Ðấng nào đến nơi cửa của mình sẽ là một chơn linh cao siêu, đó là biết khôn đó chớ, nếu chúng ta quả quyết có điều ấy thì tự nhiên sẽ có như vậy.

Sự mạnh giỏi phép nhà khá biết,

Giữ vệ sinh cho thiệt nhặt nghiêm.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MẠNH KHOẺ

Mạnh: Có sức lực, có khả năng vượt đối phương. Khoẻ: Có sức trên mức bình thường, không ốm đau.

Mạnh khoẻ, như chữ “Mạnh giỏi”, là có sức khoẻ như mong muốn, không ốm đau, bệnh hoạn.

Sau khi Đức Hộ Pháp Âu du về, Thuyết Đạo Ngài có câu: Đi hành Đạo nơi Âu Châu mà không có quyền năng Thiêng Liêng ban cho thì cái thân già này chưa chắc mạnh khoẻ trở về đây.

Phải tiếp dưỡng vợ thường mạnh khoẻ,

Kiếm phương làm vui vẻ hằng ngày.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MẠNH LỆ

孟 麗

Mạnh Lệ tức Mạnh Lệ Quân, con gái của đại phu Mạnh Sĩ Nguyên, là một cô gái rất thông minh, giỏi về kinh thi, bách gia chư tử đều thuộc, tinh thông y thuật, cầm, kì, thi, hoạ. Nàng kết giao bằng hữu với Hoàng Phủ Thiếu Hoa, cũng là người có đính ước với Mạnh Lệ Quân từ khi còn nhỏ.

Lương Khuê Bích, con của một vị Thừa tướng muốn Mạnh Lệ Quân nên tìm cách hại cả gia đình Hoàng Phủ Thiếu Hoa. Nàng Mạnh Lệ Quân giả trai, bỏ lên kinh kỳ ứng thí đậu trạng nguyên, rồi làm quan trong triều đình, giúp cho gia đình Hoàng Phủ Thiếu Hoa và diệt trừ Lương Khuê Bích.

Sau Mạnh Lệ Quân và Hoàng Phủ Thiếu Hoa kết duyên vợ chồng với nhau.

Thương Mạnh Lệ khi lìa phòng tía,

Đoạt khôi khoa lo phía công phu.

(Thất Nương Giang Bút).

 

 

MẠNH MẼ

Mạnh: Có sức lực, không đau ốm.

Mạnh mẽ là có nhiều sức lực hay nhiều tiềm lực, như sức sống mạnh mẽ.

Mạnh mẽ còn có nghĩa không đau ốm.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Thầy lập nhơn loại là các con, chỉ tưởng rằng ban đặng phẩm Thần, Thánh, Tiên, Phật nơi cõi thế giới càn khôn, đặng làm cho rõ Thánh chất mạnh mẽ hơn phàm chất, nào dè còn lại đặng chẳng đủ một phần triệu Ðấng, thì thế nào Thầy không đau lòng cho đặng.

Già yếu lưng khó nỗi đứng ngồi,

Dâu mạnh mẽ rán hơi bồng ẵm.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MẠNH QUANG

孟 光

Mạnh Quang là người con gái đời Hậu Hán, tính nết đoan chính, đã ba mươi tuổi rồi vẫn còn chưa chồng. Bà nghe tin Lương Hồng là một thanh niên co nhiều đức tính tốt, nên có ý chờ đợi chàng tới cưới xin, chứ ngoài ra không chịu ưng người nào khác.

Lương Hồng, tự là Bá Loan, nhà nghèo, học rộng, có khí tiết, có hạnh đức, ở cùng huyện với Mạnh Quang. Nhiều người có danh vọng trong vùng trọng tài đức của Hồng, muốn gả con gái cho, nhưng Hồng đều một mực không dám nhận. Sau Lương Hồng được tin nàng Mạnh Quang chờ đợi mình, nên mới tới xin cưới làm vợ. Mạnh Quang ưng chịu.

Khi về nhà chồng, Mạnh Quang hằng ngày vẫn đeo vòng vàng, ăn mặc rực rỡ, sang trọng. Lương Hồng không ngó tới Mạnh Quang và chẳng nghĩ việc động phòng với nàng, mặc dù lễ cưới đã qua bảy ngày.

Mạnh Quang thắc mắc hỏi lý do, thì Lương Hồng trả lời: Tôi sở nguyện lấy người vợ giản dị, áo bả quần gai, cùng chịu cực khổ làm ăn. Như nàng nay lụa là đẹp đẽ, phấn son thơm nức, đâu phải là người vợ theo ý nguyện của tôi. Nay thấy nàng như vậy, tôi rất buồn lòng.

Mạnh Quang nghe chồng nói vậy, liền lột vòng vàng đem cất, thay quần áo bô vải, lấy gai làm trâm cài đầu, theo chồng làm việc hết sức vui vẻ.

Mỗi khi dâng cơm cho chồng, nàng thường kính cẩn bưng chén ngang mày, người đương thời gọi là “Cử án tề my 舉 案 齊 眉”.

Thương Mạnh Quang băng ngàn xe đẩy,

Tùng bước chồng chẳng thấy truân chuyên.

(Thất Nương Giáng Bút).

Học thử Mạnh Quang còn tích để,

May ra chồng Phật, vợ nên Tiên.

(Bát Nương Giáng Bút).

Đạo chồng vợ muốn bền tơ tóc,

Gương tề mi khá học Mạnh Quang.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MẠNH QUANG CỬ ÁN TỀ MY

孟 光 舉 案 齊 眉

Mạnh Quang: Người đàn bà có tính nết hiền thục, đoan chính, lấy chồng là Lương Hồng. Cử án tề mi: Dâng cơm cho chồng để ngang mày.

Mạnh Quang cử án tề mi do tích nàng Mạnh quang khi về nhà chồng biết được ý của Lương Hồng, Mạnh Quang thay hết đồ cưới sang trọng, và lấy các thứ nữ trang, rồi mặc quần áo bô vải, cài tóc bằng thoa gai, theo chồng vui vẻ ra đồng làm việc.

Mỗi lần dọn cơm cho Lương Hồng ăn, nàng Mạnh Quang đưa mâm cơm lên ngang mày.

Do vậy, người xưa thường nói bổn phận người con gái có chồng là “Cử án tề my”.

Để nêu gương người con gái hiền thục, trên hành lang về phía bên nam phái của Báo Ân Từ có vẽ một khuôn hình lấy tích “Mạnh Quang cử án tề my 孟 光 舉 案 齊 眉”.

Xem: Cử Án tề my.

Mạnh Quang kính Lương Hồng trọn Đạo,

Nếp sống nghèo chồng bảo vợ tuỳ.

Vòng vàng gấm nhiễu cất đi,

Hầu cơm cử án tề my gương loà.

(Báo Ân Từ).

 

 

MẠNH TÔNG

孟 宗

Mạnh Tông là một người con thảo trong nhị thập tứ hiếu. Ông tự là Cung vũ, người ở Giang Hạ thuộc nước Ngô đời Tam Quốc, mồ côi cha từ nhỏ, ở với mẹ rất chí hiếu.

Một hôm bà mẹ ốm, thèm ăn canh măng, nhưng vì khi ấy đương mùa đông, khó tìm được măng, ông đành đi lần vào rừng tre, một mình ngồi khóc, bỗng có một mụt măng mọc lên, ông bèn đem về nấu canh cho mẹ ăn. Người sau cho rằng nhờ lòng chí hiếu của ông đã cảm ứng như vậy.

Ôm tre khóc Mạnh Tông hiếu mẹ,

Động lòng Trời đất nẻ giò măng.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

Mạnh Tông khóc măng sinh mùa lạnh,

Mẹ thèm ăn bịnh mạnh ước ao.

(Báo Ân Từ).

 

 

MẠNH TỬ

孟 子

Mạnh Tử tên là Mạnh Kha, tự là Tử Dư, là dòng dõi họ Công tộc Mạnh Tôn ở nước Lỗ, cha là Khích Công Nghi, mẹ là Cừu Thị. Ngài xuất thân tại đất Trâu nước Lỗ thời Xuân Thu, nay thuộc tỉnh Sơn Đông Trung Quốc. Khi ông được ba tuổi thì cha mất, nhờ mẹ lành giáo hoá một cách kỹ lưỡng mà sau trở nên bậc hiền triết.

Mạnh Tử sinh sau Đức Khổng Tử trót trăm năm. Ngài học đạo thống của Khổng Phu Tử nơi Thầy Tử Tư, tức là Khổng Cấp, cháu nội Đức Khổng Tử.

Lúc bấy giờ thiên hạ chỉ mê đường danh lợi mà không kể đến đạo nghĩa, nên trong thiên hạ loạn lạc khắp nơi. Ngài muốn như Đức Khổng Tử chu du khắp các nước để đi đến đâu quyết đem cái Đạo mà dạy vua và Chư hầu, nhưng tiếc thay! Không một ai chịu dùng Ngài. Từ đó, Ngài mới lui về nhà lo dạy học trò cho đến lúc tuổi già sức yếu, mất vào năm 83 tuổi.

Sách Mạnh Tử ghi chép các lời dạy chủ yếu về hai chữ “Nhân nghĩa”, trong đó là lời ứng đối của Ngài với vua và các chư hầu.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Triết lý của Mạnh Tử là tại Minh Đức tại Tân Dân tại chỉ ư Chí Thiện.

Hành thiện dám đâu bì Mạnh Tử,

Chơn Nhơn đã hẳn kém Nhan Hồi.

(Chơn Nhơn Lê Văn Trung).

Nho Giáo Nghiêu thiên Thuấn nhựt roi,

Trải qua Mạnh Tử đã sai đời.

(Thơ Thông Quang).

 

 

MẠNH THỊ

孟 氏

Mạnh: Họ Mạnh.Thị: Chỉ người phụ nữ.

Mạnh Thị người con gái họ Mạnh, ý chỉ nàng Mạnh Quang đời nhà Hậu Hán bên Trung Hoa.

Mạnh Quang là người đàn bà hiền hậu, đoan chính, rất cung kính chồng là Lương Hồng, mỗi lần dọn cơm cho chồng ăn thì nâng án ngang mày, gọi là “Cử án tề my”.

Xem: Mạnh Quang.

Trai học Tống Hoằng nêu quốc sử,

Gái noi Mạnh Thị tấm gương trong.

(Thơ Thông Quang).

 

 

MẠNH THƯỜNG QUÂN

孟 嘗 君

Mạnh Thường Quân tên một nhân vật thời Xuân Thu, dùng để chỉ người có lòng hào hiệp.

Do tích: Mạnh Thường Quân là một vị tướng quốc nước Tề thời Xuân Thu. Ông là người giàu có, nghĩa hiệp, nuôi trên ba ngàn thực khách trong nhà.

Mạnh Thường Quân tên là Điền Văn, con của Điền Anh, người nước Tề đời Chiến Quốc. Ông là người nghĩa hiệp, trong nhà luôn luôn nuôi trên ba ngàn hiền sĩ và thực khách, vua Tần nghe tiếng sai Kinh Dương Quân sang làm con tin nước Tề, rước Điền Văn về làm Thừa tướng. Nhưng quan Tần là Vu Lý Tật bàn ra, khiến vua Chiêu Vương mới đem giam Điền Văn, tính sau này sẽ giết. Môn hạ của Điền Văn có người thuyết phục Yên Cơ là quý phi vua Tần, nhờ tâu xin vua tha cho Điền Văn. Trên đường trốn khỏi nước Tần, sợ nhà vua đổi ý, phải nhờ các môn hạ kẻ giả tiếng gà gáy, người giả tiếng chó sủa để nữa đêm các quan ải mở cửa cho bọn họ thoát khỏi nước Tần.

Được chấp thuận lo toan đúc cống,

Mạnh Thường Quân tự động kề vai.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

MAO ỐC

茅 屋

Hay “Mao ốc tâm an 茅 屋 心 安”.

Mao ốc: Nhà tranh. Tâm an: Lòng yên ổn.

Mao ốc là nhà bằng cỏ tranh, chỉ người có cuộc sông đơn giản, ẩn dật.

Còn mao ốc tâm an ý nói dù ở nhà tranh lòng cũng yên ổn, chỉ sự an phận.

Sách Ích Trí có câu: Tâm an mao ốc ổn, tánh định thể căn hương 心 安 茅 屋 穩, 性 定 菜 根 香, nghĩa là cái tâm yên thì ở nhà tranh cũng yên, tánh mình định, dầu ăn rễ rau cũng thơm.

1.- Mao ốc:

Sơm lâm cặm cụi noi đường trước,

Mao ốc thanh nhàn nhắc chuyện xưa.

(Thơ Thông Quang).

2.- Mao ốc tâm an:

Tuy là mao ốc tâm an,

Thể căn tánh định, hân hoan tinh thần.

(Thơ Thông Quang).

 

 

MÃO

Mão là mũ, thường chỉ về mũ của vua quan. Như: Áo mão cân đai, đeo râu đội mão.

Nói về Đại phục của Giáo Hữu Nữ phái, Thánh giáo Thầy có dạy: Giáo Hữu mặc Ðạo phục như Giáo Sư, đầu không đội mão, mà giắt một Bông sen, trên Bông sen có Thiên nhãn Thầy.

Mão đội không bằng lọng mát đầu,

Làm sao cho đặng lọng cao cao?

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Vinh thì chàng mão thiếp cân,

Hèn thì chàng váy thiếp quần đổi thay.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

MÃO GIÁP

Mão: Mũ của các quan ngày xưa đội. Giáp: Áo bằng da hoặc bằng sắt của chiến sĩ.

Mão giáp là hai thứ đồ dùng của quan võ ngày xưa đội và mặc: Đội mão mang giáp.

Khí võ hùng hào mang mão giáp,

Oai phong lẫm liệt xách qua mâu.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

MÃO HIỆP CHƯỞNG

Hay “Hợp Chưởng Mạo”.

Mão: Mũ đội trên đầu của các quan hoặc của các chức sắc tôn giáo. Hiệp (Hợp) chưởng: Hai bàn tay hợp lại với nhau. Mạo: Cái mão.

Mão Hiệp Chưởng hay “Hợp Chưởng Mạo 合 掌 帽” là một cái mão chức sắc của Đạo Cao Đài có hình giống như hai bàn tay úp lại.

Pháp Chánh Truyền Chú Giải quy định bộ Tiểu phục của phẩm Giáo Tông thì đội mão Hiệp Chưởng bằng hàng trắng, bề cao 0.333m, may giáp mối lại cho có trước một ngạnh sau một ngạnh, hiệp lại có đường xếp, ấy là Âm Dương tương hiệp, cột dây xếp hai lại, bên tay trái có để hai dải thòng xuống, một mí dài một mí vắn, mí dài bề ngang 3 phân, bề dài 3 tấc, trên giữa mão có thêu chữ Càn.

Mão Hiệp Chưởng còn dành cho:

Thái Chưởng Pháp khi mặc Đại phục thì đội mão Hiệp Chưởng Hoà Thượng của nhà Thiền.

Thượng Chưởng Pháp, khi mặc Đại phục thì đội mão Hiệp Chưởng màu trắng, y như mão Tiểu phục Giáo Tông.

Giáo Sư phái Thái, khi mặc Đại phục cũng đội mão Hiệp Chưởng của nhà Thiền, hai bên có thêu Thiên Nhãn.

Đầu (Giáo Tông) đội mão Hiệp Chưởng cũng toàn bằng hàng trắng, bề cao ba tấc ba phân ba ly.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

MÃO PHƯƠNG THIÊN

Hay “Phương Thiên Mạo”.

Mão: Mũ đội trên đầu của các quan hoặc của các chức sắc tôn giáo. Phương: Thơm. Thiên: Trời.

Mão Phương Thiên, hay “Phương Thiên mạo 芳 天 帽”, là một cái mũ bằng vàng. Trên chóp mũ này, ở phía trước mặt có chạm một hình Thiên Nhãn được bao quanh bởi một vòng minh khí. Ngoài ra mão Phương Thiên còn có thêm một cái choàng bằng hàng thật mỏng ở phía dưới cái mũ này. Cái choàng dài 3 thước 3 tấc 3 phân.

Khi mặc Đại phục hiến lễ Đức Chí Tôn, phẩm Nữ Đầu Sư đầu phải đội Ni Kim Cô và mão Phương Thiên.

Trên chót Phương Thiên ngay đầu tóc có Thiên Nhãn Thầy bao quanh một vòng Minh Khí...

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

MÃO VĂN ĐẰNG

Hay “Văn Đằng Mạo”.

Văn: Văn chương, chữ nghĩa. Đằng: Sao chép lại.

Mão Văn Đằng hay “Văn Đằng mạo 文 謄 帽”, tục gọi là mão cánh chuồng, giống như mão của các quan văn ngày xưa.

Quan cấp nhỏ thì hai cánh ngang nhau, quan lớn hơn thì hai cánh dựng đứng hoặc xiêng là tuỳ theo cấp bậc.

Trong Đạo Cao Đài, Pháp Chánh Truyền Chú Giải quy định Ngọc (Nho) Chưởng Pháp thì đầu đội mão Văn Đằng màu hồng, trên mão ngay trước trán có thêu Thiên Nhãn Thầy, bao quanh một vòng Minh Khí, và trên có sao Bắc Đẩu Tinh Quân.

Đầu đội mão Văn Đằng màu hồng, trên mão ngay trước trán có Thiên Nhãn Thầy, bao quanh một vòng Minh Khí.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

MẠO

1.- Mạo là dáng mặt. Như: Diện mạo anh ta rất nhu mì, người quân nhân phải có một tướng mạo oai vệ.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Đức Khổng Phu Tử đến nước Châu hỏi lễ, Đức Lão Tử nói cùng Đức Khổng Phu Tử: Người quân tử đức thạnh dung mạo như kẻ ngu.

Khi gặp đặng phải trang tài mạo,

Hoặc trao trâm đắp áo làm tin.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Mạo là mão, cái mũ đội trên đầu của các quan lại hoặc của các chức sắc tôn giáo.

Như: Khôi Khoa, Ngưỡng Thiên mạo, Bát Quái mạo, Hiệp Chưởng mạo.

Đầu (Lễ Sanh) đội Khôi Khoa Mạo toàn bằng hàng trắng, dầu cho phái nào cũng vậy.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

MẠO DANH

冒 名

Mạo: Giả mạo, làm giả. Danh: Tên, tiếng.

Mạo danh là không phải mà tự xưng, tự nhận tên của người khác, tức là giả mạo.

Thánh giáo của Đức Quyền Giáo Tông có câu: Qua đã nhiều phen cầu xin Nguyệt Tâm Chơn Nhơn tha thứ, song Ngài quyết hẳn, vì cớ là chúng đã mạo danh Bạch Vân Động đặng chia phe phân phái lập quyền đời của họ.

Kể từ thuở Ta khai Đại Đạo,

Chẳng một ai nào mạo danh Ta.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

 

 

MẠO HIỂM

冒 險

Mạo: Xông vào. Hiểm: Dễ gây ra tai hại, nguy hiểm.

Mạo hiểm là liều lĩnh làm một việc biết rằng có thể mang lại hậu quả rất tai hại.

Như: Hành động rất phiêu lưu mạo hiểm.

Bần Đạo sẽ mạo hiểm, cưỡng bách tuyển chọn Chức Sắc xuất dương giáo Đạo.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

MẠO NHẬN

冒 認

Mạo: Giả. Nhận: Lãnh, chịu một thứ gì.

Mạo nhận là không phải mà nhận của mình, tức nhận càn để đánh lừa người khác.

Trong Đạo Sử, Thánh giáo của Lý Giáo Tông có dạy: Ấn của Ðầu Sư cũng in vậy, song chính giữa đề chữ: Thái, Thượng, Ngọc. Ðem vào Toà Luật cầu chứng cho khỏi mạo nhận, khá làm các điều ấy sau Lão sẽ dạy thêm nữa.

Các tên chư Thần, Thánh, Tiên, Phật bị mạo nhận mà lập nên Tả đạo.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

MÁT

Mát là có nhiệt độ vừa phải, không nóng, nhưng cũng không lạnh.

Thánh giáo Thầy có câu dạy: Chẳng khác nào ngồi nhà thấy kẻ mắc mưa ướt mình, nhảy ra che cho ướt, lại khen rằng mát thì muội lắm đó.

Mão đội không bằng lọng mát đầu,

Làm sao cho đặng lọng cao cao?

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Che năm họ mát lòng thêm mát,

Muốn đặng mát thì học sách nào?

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

MÁT MẺ

Mát: Có nhiệt độ vừa phải, không nóng cũng không lạnh, gây cảm giác dễ chịu.

Mát mẻ là mát, có tác dụng gây cảm giác dễ chịu.

Mát mẻ còn dùng để chỉ sự hờn dỗi, tức có vẻ như nhẹ nhàng nhưng thật ra là mỉa mai, chê trách.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Qua cầu xin nơi mấy em đối với các Đảng Phái Quốc Sự. Đạo của mấy em như: cây cao mát mẻ, như nước suối trong veo tinh khiết, họ cũng muốn trú ngụ cho mát mẻ tâm hồn, họ đến nương bóng nơi mấy em đặng lập thanh danh của họ, mấy em nên từ bi, bác ái, nâng đỡ họ.

Tu như cỏ úa gặp mù sương,

Ðạo vốn cây che mát mẻ đường.

(Đạo Sử).

Phồn hoa phủi sạch mùi chung đỉnh,

Hứng giọt nhành dương mát mẻ lòng.

(Thơ Thông Quang).

 

 

MẠT

1.- Mạt là ngọn, rốt, cuối cùng. Như: Năm cùng tháng mạt, mạt lộ, mạt Pháp.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Thầy lấy làm đau đớn hằng thấy gần trót mười ngàn năm, nhơn loại phải sa vào nơi tội lỗi, mạt kiếp chốn A Tỳ.

Thiên cơ mạt lộ chờ đôi lúc,

Nương cậy về sau khỏi não nồng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Dương thạnh thì hay đời mạt kiếp,

Nêu thân ở giữa cuộc tang thương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Mạt còn có nghĩa là thấp hèn. Như: Hèn mạt.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Vì cớ cho nên Ngài (chỉ Đức Chí Tôn) đã giao cái sứ mạng nặng nề cho chúng ta, Ngài mượn sắc dân Việt Nam là một sắc dân nhỏ nhoi hèn mạt đang ở trong vòng lệ thuộc đặng làm Thánh Thể của Ngài,

Dạy nhục vinh hai lẽ dường bao,

Người quan cả người sao dân mạt.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MẠT HÈN

Mạt: Ở vào mức độ thấp nhất, tồi nhất. Hèn: Ở địa vị thấp kém trong xã hội và bị coi thường.

Mạt hèn, như chữ “Hèn mạt”, là thấp kém về nhân cách đến tột độ, đáng khinh bỉ.

Heo trâu thân thể mạt hèn thay,

Mãn kiếp lại còn bị xẻ thây.

(Giới Tâm Kinh).

 

 

MẠT KIẾP

末 劫

Mạt: Cuối, hết. Kiếp: Một đời người, từ lúc sinh ra đến lúc chết.

Mạt kiếp là thời kỳ cuối cùng của nhơn loại chịu một cuộc tiêu diệt, hay nói cách khác là ngày tận thế.

Theo Thánh giáo, thời Mạt kiếp sẽ có cuộc Hội Long Hoa tuyển những người hiền đức để lập đời Thượng nguơn Thánh đức.

Thánh giáo Thầy có dạy: Thầy lấy làm đau đớn hằng thấy gần trót mười ngàn năm, nhơn loại phải sa vào nơi tội lỗi, mạt kiếp chốn A Tỳ.

Dương thạnh thì hay đời mạt kiếp,

Nêu thân ở giữa cuộc tang thương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Đời mạt kiếp luân thường điên đảo,

Khắp nhơn gian tội báo dẫy đầy.

(Thơ Bảo Pháp).

 

 

MẠT LỘ

末 路

Mạt: Cuối cùng. Lộ: Con đường.

Mạt lộ là đoạn cuối cùng của con đường, đoạn gặp nhiều mệt nhọc, vất vả. Nghĩa bóng: Gặp chuyện khổ sở làm cho mình thất chí.

Mạt lộ còn có nghĩa là cùng đường, hết lối thoát, không thể tiến lên được.

Thiên cơ mạt lộ chờ đôi lúc,

Nương cậy về sau khỏi não nồng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

MẠT PHÁP

末 法

Mạt: Cuối cùng. Pháp: Giáo pháp của tôn giáo.

Mạt pháp là thời kỳ cuối cùng của giáo pháp một nền tôn giáo, lúc ấy giáo pháp bị sửa cải thất chơn truyền, khiến người tu bị lầm lạc, khó đắc Đạo.

Theo Phật, giáo pháp Đức Thích Ca đã trải qua làm ba thời kỳ: Chánh pháp, Tượng pháp và Mạt pháp.

- Chánh pháp: Kể từ các Đại đệ tử kết tập giáo pháp của Đức Phật, lúc ấy còn chơn truyền đến 500 năm sau, nên người tu hành đắc quả rất nhiều.

- Tượng pháp: Tiếp theo Chánh pháp 500 năm sau, giáo pháp của Phật bị sửa đổi, nhưng vẫn còn giống giáo pháp ban đầu, số người tu đắc Đạo kém hơn thời Chánh pháp.

- Mạt pháp: Sau 1000 năm của thời kỳ Tượng pháp, giáo pháp của Phật sửa cải, sai lạc đi rất nhiều, thất chơn truyền, nên người tu nhiều mà đắc đạo lại ít.

Hiện nay vào thời kỳ Mạt pháp của Tam giáo, nên Đức Chí Tôn khai nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ để chấn chỉnh lại giáo lý Tam giáo cho hoàn toàn.

Thời kỳ mạt pháp nầy, khiến mới có Tam Kỳ Phổ Ðộ, các sự hữu hình phải huỷ phá tiêu diệt.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

MAU

Mau là kíp, nhanh chóng. Như: Đi mau, làm mau, mau mồm mau miệng.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu dạy: Phải mau chơn, bằng luyến ái sự thế thì sau ăn năn rất muộn.

Đó là báo ứng nhãn tiền,

Mau thì mình chịu lâu truyền cháu con.

(Kinh Sám Hối).

Phước gặp Kỳ Ba Trời dẫn độ,

Mau chơn rán lướt tới rừng thiền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

MÁU

1.- Máu là chất lỏng màu đỏ chảy trong các mạch của người và động vật, có nhiệm vụ nuôi sống cơ thể. Như: Máu huyết, máu chảy ruột mềm.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy giảng về điều “Bất tà dâm” có đoạn: Vì vậy, một giọt máu là một khối chơn linh. Như các con dâm quá độ thì sát mạng chơn linh ấy.

Giáo gươm bén nhọn tư bề,

Chém đâm máu chảy tràn trề ngục môn.

(Kinh Sám Hối).

Mảnh tơi còn phận chưa lành,

Máu đưa quan nút mỡ dành làng ăn.

(Ngụ Đời).

2.- Máu chỉ về tính khí, tức đặc trưng tâm lý của mỗi cá nhân, hướng về một hoạt động nào đó một cách không còn biết suy nghĩ gì nữa.

Như: Máu nóng, máu cờ bạc, máu tham, máu ghen, máu anh hào, dòng máu anh phong.

Lựa nên một giống máu anh hào,

Chẳng phải phen người đủ lược thao.

(Đạo Sử).

Hỡi nào kẻ lo lường nghiệp Đạo,

Hỡi những trang nóng máu anh phong.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

MÁU CHẢY RUỘT MỀM

Máu chảy: Máu lưu thông trong huyết quản. Ruột mềm: Bộ phận ruột co thắt mềm mại.

Máu chảy ruột mềm nghĩa bóng ví với tình máu mủ ruột rà, thương yêu nhau đùm bọc nhau, chia sẻ với nhau những nỗi khổ sở, vất vả.

Nhớ câu máu chảy ruột mềm,

Đến chừng thức tỉnh, tủi thân đã già.

(Nguyễn Trung Trực Giáng).

 

 

MÁU ĐÀO

Máu: Chất lỏng màu đỏ chảy trong các mạch của người và động vật. Đào: Cây cùng họ với lê, mận, dùng để chỉ màu đỏ hồng, hoặc màu đỏ tươi.

Máu đào là máu hồng, hoặc máu đỏ tươi.

Cẩm Tú giang san đổ máu đào,

Vì dân nước Việt chẳng thương nhau.

(Nhị Nương Giáng Bút).

Ướm toan mượn giọt máu đào,

Nhành dương rưới tắt nhọc lao khổ mình.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

MÁU GHEN

Máu: Chỉ đặc trưng tâm lý có tính chất cá nhân của mỗi người. Ghen: Tức giận khi biết hoặc ngờ sự thiếu chung thuỷ của vợ, chồng, hay người yêu.

Máu ghen, như chữ “Tính ghen”, là đặc trưng tâm lý của người có tính hay ghen.

Máu ghen chăn gối dẫy tràn,

Hình mai ủ dột sắc càng héo don.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

MÁU HUYẾT

Máu: Chất lỏng màu đỏ chảy trong các mạch của người và động vật. Huyết: Cũng có nghĩa là máu.

Máu huyết là máu của con người, coi là thứ quý nhứt, tạo nên sự sống cho mỗi người.

Kìa máu huyết, cành xuân nhụy nở,

Khối ái ân đành ở nơi con.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

MÁU MỦ

Máu: Chất lỏng màu đỏ, chảy trong các mạch của cơ thể người và vật. Mủ: Chất nước đặc màu trắng vàng hay xanh nhạt ở mụn nhọt hoặc vết thương nhiễm trùng.

Máu mủ là máu và mủ, dùng để chỉ mối quan hệ ruột thịt thân thích.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Tông Đường của chúng ta còn nơi Bắc Tam Tỉnh tức nhiên nước Tàu máu mủ của chúng ta còn trong đấy.

Giọt máu mủ lưu truyền tại thế,

Con nhẫng mong truyền kế lửa hương.

(Kinh Thế Đạo).

Xin có tưởng ruột rà màu mủ,

Cõi Hư linh bao phủ ân hồng.

(Kinh Thế Đạo).

Cho hay chánh nghĩa chưa cân đúng,

Máu mủ vì thương phải đánh liều.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

MÁU THỊT

Máu: Chất lỏng màu đỏ, chảy trong các mạch của cơ thể người và vật. Thịt: Phần mềm có thớ, bọc quanh xương trong cơ thể người và vật.

Máu thịt là máu và thịt của con người, dùng để chỉ tình cha mẹ và con, hoặc mối quan hệ xã hội gắn bó thân thiết, không thể tách rời.

Thánh giáo Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng có câu: Vào nơi đạo đức rồi, dầu cho phải cát ái ly gia, chia tình xẻ nghĩa, máu thịt đoạn ly, mà làm cho tròn trách nhậm xứng đáng của mình, để hiến thân chuộc sanh mạng cho muôn ngàn kẻ đồng bào, thì cái đau đớn thường tình, sự khổ tâm ở thế kia, đau khổ nào có tiếc.

Quyết chí Thiên đường men bước tới,

Phải nhiều máu thịt mới đồng bào.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chi sờn máu thịt mảnh thân phàm,

Danh lợi mồi câu nhử tánh tham.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

Mẹ cha còn dầu giận cũng không quên,

Tình máu thịt tuổi tên tay nắn đúc.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MÀU

1.- Màu là sắc, như màu xanh, màu trắng, màu hồng.

Đức Lý GiáoTông trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu dạy: Ðen trắng hai màu, chánh tà đôi nẻo, mạnh sức trì chí thì nhờ, yếu tâm lơi bước thì chịu.

Quần xoa đỡ ngọn binh đao,

Xây hình thục nữ giặm màu nước non.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Im lìm cây cỏ vẫn in màu,

Mờ mệt vườn xuân điểm sắc thu.

(Lục Nương Giáng Bút).

2.- Màu là cái vẻ, tức toàn bộ những biểu hiện bên ngoài tạo nên cảm giác có tính chất nào đó. Như: Đượm màu tang tóc, nhuộm màu sầu.

Thánh giáo Thầy có câu: Thấm thoát ngày tháng thoi đưa, bóng thiều quang nhặt thúc, sen tàn cúc rũ, đông mãn xuân về, bước sanh ly đã lắm nhuộm màu sầu, mà con đường dục vọng chẳng còn biết đâu là nơi cùng tận.

Thu về Ðông vội trở màu sầu,

Sầu thảm chờ qua lúc đớn đau.

(Đạo Sử).

Trời thảm mây giăng muôn cụm ủ,

Biển sầu nước nhuộm một màu thương.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

MÀU CHIỀN

Màu: Sắc, như màu xanh, màu trắng, màu hồng. Chiền: Chùa, như cửa chiền, chùa chiền.

Màu chiền, đồng nghĩa với chữ “Màu thiền”, “Màu dà”, là màu áo của tăng ni, chỉ về Phật hay tôn giáo.

Xem: Màu thiền.

Nghĩ dấu sắc màu chiền khó vẽ,

Chốn thanh lâu khó vẽ màu dà.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

MÀU DÀ

Màu: Sắc, như màu xanh, màu trắng, màu hồng. Dà: Cây nhỡ, một loại cây có vỏ màu nâu đỏ, dùng để nhuộm vải sợi, hoặc để xảm thuyền.

Màu dà là màu nâu đỏ, như chữ “Áo dà”, là màu áo của các tăng ni Phật tử.

Màu dà còn dùng để chỉ thuộn về Phật hay tôn giáo.

Nghĩ dấu sắc màu chiền khó vẽ,

Chốn thanh lâu khó vẽ màu dà.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

MÀU DA SẮC TÓC

Màu da: Màu của da thịt. Sắc tóc: Sắc của mái tóc.

Màu da sắc tóc chỉ chung về các giống người trên thế giới, tức là chỉ về chủng tộc.

Trên thế giới có nhiều loại chủng tộc, giống dân da vàng, tóc đen nhiều nhứt ở Á Châu, giống da trắng, tóc vàng phần nhiều ở Âu Châu và có một ít dân da đỏ, còn giống dân da đen phần đông là ở vùng Phi Châu.

Màu da sắc tóc không phân biệt,

Vạn quốc tôn sùng Đấng Chí Linh.

(Thơ Phạm Mộc Bổn).

 

 

MÀU SẮC

Màu: Sắc của vật thể do mắt nhận biết. Nghĩa bóng là vẻ. Sắc: Vẻ, màu, vẻ đẹp của đàn bà con gái.

Màu sắc là tiếng nói chung về màu. Nghĩa bóng chỉ về tính cách, hay đặc tính.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Dân ta từ xưa tới nay có cái bịnh lưu truyền xu hướng theo quan trường, nên nền kinh tế đều phí bỏ cho ngoại quốc may là mình phú thác cho Ðường Nhơn là anh em cùng nòi giống với mình, nếu vào tay người khác màu sắc thì cái hại không biết chừng nào.

Khách trần loè loẹt khoe màu sắc,

Người Đạo lo lường nhọc não can.

(Thơ Hiến Pháp).

 

 

MÀU THIỀN

Màu: Màu sắc. Thiền: Chỉ Phật giáo.

Màu thiền là màu áo của tu sĩ theo Phật giáo, ý chỉ về với cửa Phật để lo việc tu hành.

Trong Thánh Ngôn, Đức Chí Tôn có dạy: Lần lựa cúc xủ sương tan, mai gầy sen nở, ngày tháng qua chẳng là bao mà thế thái nhơn tình biết bao thay đổi! Kìa đai cân nhuộm nước màu thiền, nọ danh lợi xủ lằn trí huệ!

Cội bá chờ khi về Cực Lạc,

Màu thiền ấy buổi nhuộm đai cân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðành trau nét tục lại màu thiền,

Phải mặt thơ sanh chẳng gặp duyên.

(Đạo Sử).

 

 

MẮC

1.- Mắc là bị, vướng phải khó gỡ ra, khó thoát khỏi. Như: Mắc bẫy, mắc mưa, mắc nạn, mắc bận.

Thánh giáo Thầy có câu: Chẳng khác nào ngồi nhà thấy kẻ mắc mưa ướt mình, nhảy ra che cho ướt, lại khen rằng mát thì muội lắm đó.

Chẳng biết tu tâm thân đến thế,

Như ao mắc gió mặt lao xao.

(Đạo Sử).

Vì thân gái không cùng vô phước,

Mắc tội xưa chẳng được thảnh thơi,

(Diêu Trì Kim Mẫu).

2.- Mắc là đắt, giá cả ở thị trường cao lên. Như: Hàng nầy rất mắc, bán mắc.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ta chẳng còn luận chi sâu xa hơn nữa, chỉ nói cái nợ máu thịt mà nòi giống Việt Nam nầy xem mắc hơn các nòi giống khác trên mặt địa cầu nầy.

Chờ khi lúa phát giá cao,

Khai ra bán mắc Trời nào dung cho.

(Kinh Sám Hối).

Cuộc rượu mắc hơn trăm kệ tụng,

Ðường oan nẻo tội hiếm người mời.

(Đạo Sử).

 

 

MẮC CÂU

Mắc: Bị kẹt, bị giữ lại, khó gỡ ra được. Câu: Móc sắt nhỏ, có mồi, dùng để bắt cá tôm.

Mắc câu là bị vướng vào lưỡi câu.

Ca dao có câu: Cá mắc câu biết đâu mà gỡ, Chim vào lồng biết thuở nào ra.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Dục vọng vô bờ bến của con người bao hàm sự quyến luyến ràng buộc với điều mình ham muốn. Nhưng một khi đã dính líu, người ta không còn tự do nữa, như cá phải mắc câu, chim sa lưới.

Lợi danh ví thể chim lồng,

Sắc tài như cá giữa vòng mắc câu.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

MẮC CỠ

Mắc cỡ là một loại cây hoang dại, thường mọc bên đường đất đá, thân có gai, lá có hai dãy song song, khi đụng vào lá xếp lại, bông tròn nhỏ có màu trắng hồng, người ta còn gọi là cây trinh nữ, hay cây xấu hổ.

Mắc cỡ là một phương ngữ Nam Bộ, có nghĩa là thẹn, xấu hổ, tức tự cảm thấy bối rối, mất tự nhiên khi tiếp xúc với đám đông hay người khác giới.

Hớn hở hỏi ai là mắc cở,

Dựa bên mình còn nợ tiền khiên.

(Bát Nương Giáng Bút).

Mình thiệt dở thì chị anh chê dở,

Có khôn ngoan mắc cỡ rán trau mình.

(Phương Tu Đại Đạo).

Vì thấy cực không làm mắc cỡ,

Phận nông tang hay dở lắm điều cười.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MẮC LỪA

Mắc: Bị giữ lại, bị cản trở hoạt động đến mức khó gỡ ra, khó thoát khỏi. Lừa: Gạt, bị gạt gẫm.

Mắc lừa là bị đánh lừa, bị gạt gẫm.

Lại đừng giận cha hay rầy nói cù cưa,

Vì sợ trẻ mắc lừa đời xảo quyệt.

(Phương Tu Đại Đạo).

Vui lòng hai buổi có tương dưa,

Không phải bon chen, khỏi mắc lừa!

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

MẮC MỎ

1.- Mắc mỏ, như chữ “Đắt đỏ”, là đắt, có giá cao hơn bình thường nhiều.

Như: Hàng hoá độ rày mắc mỏ, giá nhà mướn hiện thời quá mắc mỏ nên rất khó tìm.

Vẻ hồng mắc mỏ bao mươi,

Đưa cho quân tử trọn đời chủ trương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Mắc mỏ còn có nghĩa là hiểm hóc, phức tạp, không thể hiểu hết được.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có câu: Lão đã lắm phen thấy điều khó khăn mắc mỏ của phần ấy, nên ra tay giục loạn đặng phân rõ Chánh Tà, hầu giúp phương cho Hội Thánh trừ khử.

Chị đến tỏ thiệt tình em rõ,

Luật Thiên điều mắc mỏ lắm thay!

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 

MẮC NẠN

Mắc: Bị kẹt, bị giữ lại, khó gỡ ra được. Nạn: Sự khó khăn nguy hiểm.

Mắc nạn là bị tai nạn, vướng mắc những khó khăn nguy hiểm.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có đoạn: Nếu nhơn loại không rán sức đem hoà bình hạnh phúc do con đường thiêng liêng của Đức Chí Tôn đã đến thì nhơn loại sẽ bị tiêu diệt. Nhơn loại mắc nạn tiêu diệt ấy là do tội tình của họ.

Người làm phước có khi mắc nạn,

Kẻ lăng loàn đặng mạng giàu sang.

(Kinh Sám Hối).

 

 

MẶC

1.- Mặc là che thân bằng quần áo. Như: Ăn mặc.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển cớ câu: Thầy đã nói: Thầy thả một lũ hổ lang ở lộn cùng các con, nó hằng thừa dịp mà cắn xé các con, song trước Thầy đã cho các con mặc một bộ thiết giáp, chúng nó chẳng hề thấy đặng là đạo đức của các con. Thầy lại khuyên các con gìn giữ bộ thiết giáp cho đến ngày hội hiệp cùng Thầy.

Đạp giày cỏ nương cây gậy bá,

Mặc áo tơi nón lá che thân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Miệng chào lại nhủ mặc Tiên Y,

Mời đến Rừng Tre hội cuộc kỳ.

(Thiên Thai Kiến Diện).

2.- Mặc là để tuỳ ý, không can thiệp vào, hoặc không biết gì đến. Như: Mặc tình, mặc kệ.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Ðời chuộng vinh sang, Ðạo chuộng khổ hạnh, đời ham trược phú, Ðạo giữ thanh bần, lên xe xuống ngựa chốn phồn hoa đổi lại cảnh lê hoát nâu sồng, nơi cửa Ðạo tương dưa thanh đạm tháng ngày, để mặc miếng mỹ vị cao lương ngoài quán tục.

Mấy kẻ xét mình tâm tự cải,

Thân danh bể khổ mặc buông trôi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Mặc kẻ thường tình ngu biếm nhẻ,

Phải coi nên chỗ để nên lời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Mặc nín lặng, im lặng, ngầm, không dùng một mình. Như: Mặc nhiên, trầm tư mặc tưởng, mặc phò.

Mặc phù hay mặc phò là im lặng mà giúp đỡ, hoặc âm thầm mà cứu giúp.

Thượng Hoàng sánh đức Chí Công,

Mặc phò lê thứ khỏi vòng lao lung.

(Kinh Thế Đạo).

4.- Mặc là mực. Như: Tao nhân mặc khách, hàn mặc 翰 墨 là ngọn bút lông và thoi mực, chỉ những dụng cụ của nhà thơ và nhà văn.

Xem: Hàn mặc.

Hàn mặc xây nên niềm thiết cốt,

Huệ lan kết chặt nghĩa đồng thanh.

(Thơ Hoài Tân).

Thú vui hàn mặc đầy thanh nhã,

Mai trúc vườn xuân lá mượt mà.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

MẶC DẦU

Hay “Mặc dù”.

Mặc dầu hay mặc dù là dù thế, dẫu thế, từ dùng để nêu điều kiện không thuận, hoặc bất thường, có ý để nhấn mạnh, khẳng định một điều gì đó cũng vẫn diễn ra.

Thánh giáo Thầy có dạy: Nguyên từ buổi bế đạo, tuy Chánh pháp ra cũ mặc dầu, chớ kỳ trung thọ đắc kỳ truyền. Luật lệ tuy cũ chớ đạo vẫn như nhiên. Do công đức mà đắc đạo cùng chăng.

Thung dung quân tử hảo cừu,

Năm thê bảy thiếp mặc dầu trăng hoa.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Biển bắc mặc dầu cơn sóng bủa,

Non nam bao quản đám mây vần.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

MẶC KHÁCH

墨 客

Mặc: Mực. Khách: Người khách.

Mặc khách, do thành ngữ “Tao nhân mặc khách 騷 人 墨 客”, chỉ những người có tài về văn chương.

Mặc khách là người thường dùng đến bút mực, chỉ những nhà thi văn.

Ðồ thơ oằn oại gánh nghiêng vai,

Mặc khách làng văn nhọc chớ nài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ấm lạnh cõi trần ngơ mặc khách,

Ngỡ ngàng động Thánh quạnh giai nhân.

(Lục Nương Giáng bút).

 

 

MẶC NIỆM

默 念

Mặc: Lặng lẽ. Niệm: Tưởng nghĩ tới.

Mặc niệm là im lặng mà tưởng nghĩ đến, tức là dùng tư tưởng trong sự im lặng, hay nói cách khác, là lời cầu nguyện trong im lặng.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Rồi còn điều nầy rắc rối hơn hết, hễ khi nào cả thảy tụng rồi bài kinh Chí Tôn hoặc kinh Tam Giáo, khi Bần Ðạo thấy nín hết, buổi đó đem hết tinh thần trụ lại, dâng lời mặc niệm ấy vào Bát Quái Ðài.

Ba ông cứ tịnh tâm mặc niệm vái như lời ông A.Ă. dạy...

(Đạo Sử).

 

 

MẶC PHÒ LÊ THỨ

默 扶 黎 庶

Hay “Mặc phù lê thứ”.

Mặc phù (phò): Giúp đỡ trong sự im lặng. Lê thứ: Chỉ dân chúng.

Mặc phò lên thứ, như chữ “Mặc phù lên thứ”, là giúp đỡ dân chúng trong sự im lặng.

Thượng Hoàng sánh đức Chí Công,

Mặc phò lê thứ khỏi vòng lao lung.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

MẶC SỨC

Mặc: Để tuỳ ý, không can thiệp vào, hoặc không biết gì đến. Sức: Sự mạnh của thân thể và tinh thần.

Mặc sức là một cách hoàn toàn tuỳ thích, không bị ngăn trở, hạn chế đến.

Trong ngày lễ kỷ niệm Đức Hộ Pháp, Thuyết đạo Thượng Sanh có đoạn: Thật vậy, sau 5 năm mấy tháng lưu đày, Ðức Ngài hồi hương với một tinh thần cao siêu hơn, một tâm linh cao đẹp hơn, một chí thành cứng rắn hơn. Chim bằng đã dưỡng sức từ bấy lâu nay chớp cánh bay tận bốn phương trời, mặc sức vẫy vùng giữa chốn ngàn mây dặm gió.

Tranh đức tranh nhân mặc sức tranh,

Ðừng tranh lợi quấy khổ thân hình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Biển trần mặc sức sóng nhồi,

Từ thuyền tuông lướt giữa đời cứu dân.

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 

MẶC TUYÊN ĐẠI HOÁ

默 宣 大 化

Mặc tuyên: Im lặng mà bày tỏ. Đại hoá: Một cuộc biến đổi lớn lao.

Mặc tuyên đại hoá là yên lặng mà bày tỏ cuộc biến đổi rộng lớn.

Trong bài Ngọc Hoàng Kinh có câu: Bất ngôn nhi mặc tuyên đại hoá 不 言 而 默 宣 大 化, nghĩa là trong sự tĩnh lặng, Trời đất cứ vận hành sinh hoá cả Càn khôn Vũ trụ và vạn vật.

Nhược thiệt, nhược hư,

Bất ngôn nhi mặc tuyên đại hoá.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

MẶC TƯỞNG

默 想

Mặc: Lặng lẽ, không hơi tiếng. Tưởng: Nghĩ, nhớ.

Mặc tưởng là nghĩ ngợi trong sự thầm lặng. Trầm tư mặc tưởng là nghĩ ngợi trong thầm lặng và sâu kín, hay chìm đắm vào chỗ suy tưởng.

Mặc tưởng, đồng nghĩa với chữ “Mặc niệm 默 念”, tức là lặng lẽ mà tưởng niệm.

Phút mặc tưởng hay phút mặc niệm là một nghi lễ để tưởng niệm các vị anh hùng liệt sĩ đã bỏ mình vì tổ quốc, hay các bậc đã hy sinh vì Đạo pháp.

Trong mặc tưởng hướng về tổ quốc đang lâm nguy và nhơn sanh đang quằn quại khổ đau khắp trên đất nước.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

MẮM

Mắm là tôm, cá, hay thịt ướp trộn với muối, gia vị và để lâu ngày mới ăn.

Như: Mắm lóc, mắm nêm, mắm tôm, liệu cơm gắp mắm liệu con gả chồng.

Dầu gặp cơn lạt mắm tèm hem,

Phải biết chước biến quyền khi túng tíu.

(Phương Tu Đại Đạo).

Nấu trách canh đổ nước nổi thuyền,

Kho trã mắm nát nghiền xương cá.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MẶN

1.- Mặn là nói về vị có nhiều chất muối biển, trái với lạt. Như: Canh mặn, nước mặn, khử đất mặn và phèn.

Hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh trong quyển Thiên Đạo có viết: Ăn chay kỳ thì chẳng nói chi, ăn cách nào cũng được. Duy có ăn trường trai thì chẳng nên dùng ròng tương, chao, muối mặn, ép xác để cầu khổ hạnh như có kẻ hiểu lầm.

Ớt cay cay ớt gẫm mà cay,

Muối mặn ba năm muối mặn dai.

(Đạo Sử).

Hễ chị răn để dạ thù hiềm,

Coi nấu nướng nêm thêm cho mặn.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Mặn, nghĩa bóng là có sự đậm đà, tha thiết. Như: Mặn tình, mặn duyên, mặn chuyện.

Lạc hoan chưa phải buổi cho mình,

Nghĩa mặn tình nồng chớ dể khinh.

(Đạo Sử).

Bởi nhan sắc không khoe không mặn,

Bởi hơi đồng không thẳng không kêu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

3.- Mặn là cách ăn uống có thức ăn nguồn gốc từ động vật như trứng, thịt, cá, trái với chay, lạt.

Như: Ăn mặn nói ngay còn hơn ăn chay nói dối.

Thánh giáo Thầy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Nếu như các con còn ăn mặn, luyện đạo rủi có ấn chứng thì làm sao mà giải tán cho đặng.

Thị thành quen thú ít ưa quê,

Ăn mặn rồi ai cũng muốn chè.

(Đạo Sử).

Mặn lạt tương dưa mến cửa thiền,

Ngoài vòng tục lự mảnh thân yên.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

MẶN LẠT

Mặn: Vị có chứa nhiều muối, chỉ ăn mặn, tức thức ăn có trứng hoặc thịt động vật. Lạt: Không mặn, không đậm, chỉ thức ăn chay.

Mặn lạt là chỉ vị mặn hay vị lạt, hoặc dùng để chỉ thức ăn mặn hay thức ăn chay.

Mặn lạt còn là tiếng dùng để chỉ chung cái miếng ăn của con người.

Giành giựt cho xong mùi mặn lạt,

Chẳng vì chánh giáo của Thiên công.

(Đạo Sử).

Lộc thế đã thừa mùi mặn lạt,

Duyên trời vui giữ chớ sai ngoa.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

MẶN MÀ

Mặn mà cớ nghĩa là mặn vừa và hợp khẩu vị, càng nếm càng thấy ngon.

1.- Mặn mà dùng để chỉ dễ ưa, dễ mến và càng nghe, càng nhìn càng thấy ưa, thấy mến.

Như: Ăn nói mặn mà, nhan sắc mặn mà có duyên, màu hoa nở ngoài vườn trông mặn mà.

Vườn thu giấu dạng Hằng Nga,

Hải đường nở muộn mặn mà ái phong.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Mặn mà còn dùng để nói có tình cảm gắn bó, thắm thiết một cách sâu đậm.

Như: Tình nghĩa mặn mà, cuộc họp mặt hôm nay mặn mà tình anh em.

Ơn cúc dục vô cùng thăm thẳm,

Nghĩa cù lao thắm đậm mặn mà.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

Cưỡi rồng đẹp phận duyên đằm thắm,

Nâng án gìn gương nghĩa mặn mà.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

MẶN MÒI

Mặn mòi, như chữ “Mặn mà”, là có tình cảm gắn bó, thắm thiết một các sâu đậm.

Như: Thái độ tiếp không mặn mòi, các chức sắc tôn giáo Cao Đài có tình cảm mặn mòi với tính đồ.

Hoa mới nở mùa hoa tươi tắn,

Đạo vừa khai Đạo hẳn mặn mòi.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

MẶN NỒNG

Mặn: Chỉ tình cảm, tình nghĩa có sự đậm đà, tha thiết. Nồng: Đậm đà.

1.- Mặn nồng là vị mặn và vị nồng, ý chỉ tình nghĩa đậm đà, nồng nàn, thắm thiết, khó phai nhạt.

Đọc trước Liên Đài của Ngài Bảo Văn Pháp Quân, Điếu văn của Đức Thượng Sanh có câu: Tuy đã biết nợ Ðạo rồi xong, tuồng đời chấm dứt, Ngài đã trả xác trần lại cho gió bụi để trở về với Ðức Chí Tôn Ðại Từ Phụ, và rồi đây chúng tôi có thể tiếp xúc với Ngài bằng huyền cơ diệu bút, nhưng trước cảnh từ biệt kẻ mất người còn, chúng tôi không khỏi ngậm ngùi, mến tiếc khi nhớ đến bạn đồng thuyền đã cùng chúng tôi chia sớt ấm lạnh, mặn nồng và chung lưng đâu cật trót hơn mấy mươi năm để mưu cầu hạnh phúc của nhơn loại.

Có chồng trọn nghĩa cùng chồng,

Đắng cay phải chịu mặn nồng phải cam.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Hai ơn ấy gẫm so đồng,

Nghĩa kia như hiếu, mặn nồng cả hai.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Thề nhau trọn kết dải đồng,

Cám ơn chàng giúp mặn nồng nghĩa nhân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Mặn nồng, như chữ “Chăn gối”, dùng để chỉ sự ái ân của vợ chồng.

Như: Đêm mặn nồng của đôi trai tài gái sắc.

Dạy những điều chồng vợ mặn nồng,

Ở sao đặng vừa lòng trai quân tử.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MẶN NHẠT

Mặn: Có vị muối biển, hoặc có sự đậm đà tha thiết. Nhạt: Lạt, ít vị muối biển, hoặc chỉ không được mặn mà trong tình cảm, trong đối xử.

Mặn nhạt là nói có vị mặn và vị lạt.

Mặn nhạt còn dùng để chỉ có tình cảm mặn nồng tha thiết, hoặc tình cảm lơ là lạt lẽo.

Rứt ray ray rứt trăm chiều,

Đắng cay mặn nhạt thật điêu đứng lòng.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

MĂNG

1.- Măng là mầm tre non mới mọc từ dưới gốc lên, có thể dùng làm thức ăn được. Như: Măng non.

Trong sách Thiên Đạo, hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có viết: Trong sách thuốc dạy cách chữa bịnh bằng các thứ rau đậu (légumothérapeutique) của y học Thái tây, thấy nói: “Rau tứ thể (artichaut) trị sốt rét và bịnh tiểu ra chất đường (diabète); củ nghệ tây (carotte) trộn dấm ăn xổi rất mát; cải bắp (chou) trị những bịnh hư phổi và ngoài da; cà vó (tomate) trị bịnh xót ruột, xà lách son (cresson) rửa tạng phủ; hột cải (moutarde) tẩy trường, măng tây (asperge) trị bịnh trái tim hồi hộp”

Tre tàn măng mọc cuộc đời in,

Ðánh lận mưu sâu khá giữ mình.

(Đạo Sử).

Ôm tre khóc Mạnh Tông hiếu mẹ,

Động lòng Trời đất nẻ giò măng.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

2.- Măng còn dùng để ví sự non, trẻ của người hay một vật.

Như: Tướng còn măng sữa, đã có hai con rồi xem tướng còn trẻ măng.

Dễ là uốn lúc còn măng,

Sớm khuya đào luyện giữ chăn chớ lìa.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Cam La khanh tướng còn măng đó,

Khương Tử công hầu hẳn muộn đây.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

MẮNG

Mắng là la rầy, tức nêu lỗi người bằng lời nói nặng, to tiếng hay quở trách.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Tánh chất sợ tội, sợ quả báo mà không biết trọng mình, thoạt nghe đó, tin tưởng đó, nhưng không phải tin tưởng đạo đức mà chỉ tin nơi huyền linh đặng cầu khẩn mà thôi lại có tánh chất ngớ ngẩn, trong mình không có tiền thì thôi, nếu có tiền mà ai nói vừa bụng thì lại móc đưa ra hết, có khi đưa rồi lại mắng người ta, đưa chẳng phải vì thiệt tâm mà đưa.

Vì chưng chưởi gió mắng mưa,

Kêu tên Thần, Thánh chẳng chừa chẳng kiêng.

(Kinh Sám Hối).

Nào là lúc ăn cay nuốt đắng,

Nào là khen rồi mắng bao phen.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

MẮNG NHIẾC

Mắng: Nêu lỗi của người dưới bằng lời nói nặng, to tiếng. Nhiếc: Moi móc cái xấu ra để nói bằng lời sâu cay, làm cho phải khổ tâm.

Mắng nhiếc là mắng bằng những lời nhiếc móc làm cho kẻ bị mắng nhục nhã, khổ tâm.

Những điều nhơ nhuốc phải chừa,

Hỗn hào mắng nhiếc, nói thừa nói thêm.

(Giới Tâm Kinh).

Đừng giận mẹ cằn nhằn mắng nhiếc,

Vì lo con chẳng biết thế gian hùng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MẮT

Mắt là một cơ quan dùng để xem, để trông. Như: Mắt người, mắt thú, mắt phàm.

Thánh giáo Chí Tôn dạy bên Nữ phái có câu: Chư ái nữ ôi! Các con thường để mắt dòm lên, thấy kẻ cao sang thì các con cho rằng các con vô phước, còn nhìn xuống thấy đồng chủng thấp hèn thì các con lại đem lòng khi bạc.

Ngày thâu bóng xế oanh thưa nhặt,

Mắt nhắm đường xa khách thẳng dùn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Rừng tòng ngày tháng thú quen chừng,

Nhướng mắt dòm coi thế chuyển luân.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

MẮT PHÀM

Hay “Mắt phàm phu”.

Mắt: Bộ phận dùng để thấy, để nhìn. Phàm: Phàm tục. Phàm phu: Người tầm thường, hay người phàm tục.

Mắt phàm hay “Mắt phàm phu”, do chữ “Phàm nhãn 凡 眼” là con mắt của kẻ phàm tục.

Đồng nghĩa với chữ “Mắt tục” hay “Mắt thịt”.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Thái Thượng Đạo Tổ có câu: Nếu luận Tà Chánh thì chưa một ai dám còn mang mắt phàm xưng tụng mình là Chánh.

Xem: Phàm nhãn.

1.- Mắt phàm:

Khuất mắt phàm dễ ai ngó đặng,

Thầy đây đã hản dạ cao sang.

(Đạo Sử).

2.- Mắt phàm phu:

Ðôi mắt phàm phu đâu biết đặng,

Huyền vi tối trọng Ðấng cao xa.

(Đạo Sử).

 

 

MẮT TỤC

Mắt: Bộ phận dùng để thấy, để nhìn. Tục: Phàm tục.

Mắt tục, bởi chữ “Tục nhãn 俗 眼”.

Mắt tục cùng nghĩa với chữ mắt thịt, dùng để nói mắt của người phàm tục khó mà thấy được những việc cao sâu huyền bí.

Xem: Mắt thịt.

Thế cuộc như trò khoe mắt tục,

Tội tình khó rửa với khôn lanh.

(Đạo Sử).

Rừng Tiên thâm thẩm dư muôn dặm,

Mắt tục lưng vơi đặng mấy tầm.

(Thơ Yên Sơn).

 

 

MẮT THẦY

Mắt: Bộ phận dùng để thấy, để nhìn. Thầy: Tiếng dùng để gọi Đức Thượng Đế trong đạo Cao Đài.

1.- Mắt Thầy là mắt Trời, tức mắt của Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Từ đây, các con sẽ cực nhọc hơn, vì Thầy phân phát phận sự cho mỗi đứa vì chẳng vậy, các con sanh nạnh nhau, tựa hồ chia phe phân phái, là điều đại tội trước mắt Thầy vậy, nghe à!

Không sâu trí thức hiếu hơn người,

Nếu chẳng mắt Thầy hỏi có ngươi.

(Đạo Sử).

2.- Mắt Thầy còn là biểu tượng để thờ phụng trong tôn giáo Cao Đài, gọi là “Thiên Nhãn 天 眼”.

Thánh giáo Thầy dạy việc tạo Quả Càn Khôn có câu: Con giở sách Thiên văn tây ra coi mà bắt chước. Tại ngôi Bắc Ðẩu, con phải vẽ hai cái bánh lái cho đủ và sao Bắc Ðẩu cho rõ ràng. Trên vì sao Bắc Ðẩu, vẽ Con mắt Thầy, hiểu chăng?

Các con nhớ nói vì cớ nào thờ con “Mắt Thầy” cho chư Ðạo hữu nghe.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

MẮT THỊT

Mắt: Bộ phận dùng để thấy, để nhìn. Thịt: Phần mềm bọc xương, bên trong có máu.

Mắt thịt, như chữ “Nhục nhãn 肉 眼”, là mắt thịt, dùng để chỉ mắt của người phàm, người tục, nên khó thấy khó biết hết được.

Thánh giáo Đức Quan Âm Bồ Tát có câu: Tuy mắt thịt không bao giờ thấy được, chớ kỳ thiệt, một mảy lành dữ không qua được.

Xem: Nhục nhãn.

Thiệt thiệt hư hư vì mắt thịt,

Thôi thì đợi chết biết tiền trình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Biết đặng lòng người đời khó độ,

Ðể đôi mắt thịt cứ xem hình.

(Đạo Sử).

 

 

MẮT TRỜI NGÓ THIẾU PHƯƠNG

Mắt Trời, do bởi nghĩa “Hoàng thiên hữu nhãn 皇 天 有 眼” nghĩa là Trời cao có mắt.

Trong Kinh Thư lại có câu: Thiên vô sở bất văn, vô sở bất kiến 天 無 所 不 聞, 無 所 不 見 nghĩa là không có gì mà Trời không nghe, không thấy được. Do vậy, người ta cho rằng mắt trời soi tỏ khắp mọi nơi.

Mắt trời ngó thiếu phương, ý muốn nói chẳng lẻ mắt trời không thấy hết được mọi nơi, mọi vật.

Tai phân nạn trả lẽ thường thường,

Chớ tưởng mắt Trời ngó thiếu phương.

(Đạo Sử).

 

 

MẮT XANH

Mắt: Bộ phận dùng để thấy, để nhìn. Xanh: Màu như màu lá chuối.

Trong văn chương, người ta thường nói “đã lọt vào mắt xanh”, tức là chỉ sự đặc biệt được lưu ý và ưa mến.

Do tích Nguyễn Tịch là một trong “Trúc lâm thất hiền” đời nhà Tấn, khi vừa lòng ai thì nhìn với đôi mắt xanh, không vừa lòng thì nhìn với đôi mắt trắng.

Xem: Mắt xanh trắng.

Cầm hạc ngao du dưới bóng hồng,

Mắt xanh để ngó máy thanh không.

(Bát Nương Giáng Bút).

Bốn mươi hai tuổi xanh chưa phỉ,

Để mắt xanh coi nước khải hoàn.

(Thơ Thượng Phẩm).

Má phấn dựa kề trang bút mực,

Mắt xanh khéo chọn khách quần thoa.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

MẶT

1.- Mặt là phần phía trước, từ trán đến cằm của đầu người. Như: Mặt trái soan, rửa mặt, nét mặt, trước mặt.

Thánh giáo Chí Tôn có câu dạy: Các con đã đặng thong dong rồi, rảnh chẳng lo tu đức mà sửa mình, lại còn cả gan trước mặt Thần, Thánh, Tiên, Phật, gây thêm tội lỗi nữa, thiệt là đáng giận!

Ðã cùng nhau trót mấy lời giao,

Cách mặt mà lòng chẳng lãng xao.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðạm màu xe tuyết dường sơn đỏ,

Ngó mặt Tiên nương ửng má đào.

(Thiên Thai Kiến Diện).

2.- Mặt, nghĩa bóng chỉ dáng bộ, bề ngoài, thế lực.

Như: Gương mặt sang trọng, bộ mặt ăn chơi, mặt Thánh hiền, mặt hoa da phấn.

Trường Ðời đem thử gan Anh Tuấn,

Cửa Ðạo mới ra mặt Thánh Hiền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðành trau nét tục lại màu thiền,

Phải mặt thơ sanh chẳng gặp duyên.

(Đạo Sử).

Mình dầu nên đáng mặt vương tôn,

Cũng nhớ mẹ mủng trôn vai gánh.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Mặt chỉ bề phẳng ở trên, ở ngoài. Như: Mặt bàn, mặt đất, mặt nhựt, mặt rào.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy dạy: Khắp trong nhân loại trên mặt địa cầu nầy, phần đông vì kính thờ Tà quái, mà Tà quái vốn chứa sự chết, thì tức nhiên chúng nó ở trong vòng sự chết là phải tiêu diệt, thì bao giờ biết đặng sự hằng sống là gì.

Mây lành phủ động ra khuôn cửa,

Tòng rậm bao cung giống mặt rào.

(Thiên Thai Kiến Diện).

4.- Mặt dùng để chỉ bề, phía, bên. Như: Bên mặt.

Thánh giáo Lý Giáo Tông dạy: Hai bên Hiệp Thiên Ðài, bên mặt thì có Lôi Âm Cổ Ðài, bên tả thì Bạch Ngọc Chung Ðài. Lão phải vẽ mới đặng.

Khô rồi xe thoát đến Trời vàng,

Bên mặt nghiêng mình mới hỏi han.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

MẶT DẠN MÀY DÀY

Mặt dạn: Mặt bạo, không ruht rè, không e ngại. Mày dày: Mặt mày từng chịu đựng những xấu hổ nhục nhã.

Mặt dạn mày dày ý chỉ kẻ trơ trẻn đến mức không còn biết xấu hổ là gì.

Như: Tưởng nó không dám đến nhà, không dè nó mặt dạn mày dày đến như vậy.

Nổi ma khảo thiên hình vạn trạng,

Cũng cứ làm mặt dạn mày dày.

Ðạo thơ gắng chí dồi mài,

Công viên quả mãn Bồng Lai đặng vào.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

MẶT DƯƠNG

Mặt: Bề phẳng ở trên, hoặc phía ngoài của vật. Dương: Do chữ “Thái dương 太 陽”, chỉ mặt trời.

Mặt dương, như chữ “Mặt nhựt”, là chỉ mặt trời.

Ðã thấy ven mây lố mặt dương,

Cùng nhau xúm xít dẫn lên đường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

MẶT HOA

Mặt: Phần phía trước, từ trán đến cằm của đầu người. Hoa: Bông, ví với người phụ nữ.

Mặt hoa, như chữ “Hoa diện 花 面”, là gương mặt như bông hoa, chỉ gương mặt của người con gái đẹp.

Trong văn chương, người ta thường ví phụ nữ đẹp như là một bông hoa, vì vậy gương mặt được gọi là “Hoa diện” hay “Mặt hoa”.

Lưu Vũ Tích có câu: Hoa diện a đầu thập tam tứ, 花 面 丫 頭 十 三 四, nghĩa là người con gái, mười ba mười bốn tuổi, tóc rẻ hình chữ “A”.

Sầu đã cháy mặt hoa ủ dột,

Thảm đã tràn hình cốt héo don.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Soi kính cũ mặt hoa đã nhíu,

Tóc hoa râm mày liễu ướm sương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

MẶT MÀY

Mặt: Phần phía trước, từ trán đến cằm của đầu người. Mày: Lông mày.

Mặt mày là nói chung về gương mặt, vẻ mặt.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Đạo Sử của Bà Đầu Sư Hương Hiếu có câu: Lịch hiểu à? Khi hành Ðại Lễ cho Thầy rồi thì Lễ Sanh xướng: “Thiên Phong hoán tẩy”, cả thảy đều ra rửa mặt mày cho tinh sạch.

Nhiều thứ rắn mặt mày dữ tợn,

Ngóng cổ trông mắt trợn dòm người.

(Kinh Sám Hối).

 

 

MẶT NGẦN THÂN DỊU

Mặt ngần: Mặt mày sáng đẹp. Thân dịu: Mình mẩy mềm mại dịu dàng.

Mặt ngần thân dịu là gương mặt sáng đẹp, thân hình mềm mại, dịu dàng.

Muốn trau chuốt mặt ngần thân dịu,

Vẽ cho hay mày liễu má đào.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

MẶT NHỰT

Hay “Mặt nhật”.

Mặt: Bề phẳng ở trên, hoặc phía ngoài của vật. Nhựt (nhật): Chỉ mặt trời.

Mặt nhựt (nhật) là mặt trời.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Ôi! Nếu hồi tưởng lại hai mươi mấy năm trước giờ phút nầy Bần Đạo tưởng tượng lại; tưởng Ngài (Đức Chí Tôn) biểu lên Thượng Thiên gỡ mặt nhựt, mặt nguyệt đem xuống để nơi thế gian này cho thiên hạ thấy thì tưởng có thể đặng, còn giải ách nô lệ cho nước Việt Nam Bần Đạo chưa chắc đã làm đặng hay chăng?

Mặt nhựt hồi mô thấy xẻ hai,

Có thương mới biết đấng Cao-Đài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Hoàng Thiên chẳng phụ người tài đức,

Mặt nhựt bao giờ mọc hướng tây.

(Thơ Thông Quang).

 

 

MẶT RỒNG

Mặt: Phần phía trước, từ trán đến cằm của đầu người. Rồng: Loài vật đứng đầu trong tứ linh.

Mặt rồng, bởi chữ “Long nhan 龍 顏”, chữ dùng để gọi diện mạo vua, vì vua thường được ví với con rồng, là vật rất linh, đứng đầu tứ linh: Long, lân, quy, phụng.

Sử ký viết: Cao Tổ vi nhân long chuẩn nhi long nhan 高 祖 為 人 龍 準 而 龍 顏, nghĩa là Cao Tổ người mũi cao và mặt như rồng.

Sầu chàng cô thế vơi lưng ngựa,

Ngẩn thiếp khôn phương tạn mặt rồng.

(Thơ Cao Liên Tử).

 

 

MẶT SẮT

Mặt: Phần phía trước, từ trán đến cằm của đầu người. Sắt: Loài kim màu xám, dùng để đúc binh khí.

Mặt sắt, bởi chữ “Thiết diện 鐵 面”, tức là nói người có bộ mặt cứng cỏi, đen và lạnh như sắt. Chỉ gương mặt của người hoặc vị quan nghiêm nghị, cương trực, không có tình cảm.

Mặt sắt vô tư đã tiếng đồn,

Khai nên cơ nghiệp định kim môn.

(Đạo Sử).

 

 

MẶT TRỜI

Mặt: Bề phẳng ở trên, phía, bề. Trời: Mặt nhựt.

Mặt trời là một thiên thể chói sáng trong vũ trụ, trung tâm của hệ thống hành tinh, là nguồn chiếu sáng và sưởi ấm cho Địa cầu.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Nếu có mặt trời mà không có mặt trăng, là không Âm, thì cả vạn vật và loài người không còn, nghĩa là nếu không có Âm Dương thì không có Càn Khôn Vũ Trụ.

Ban mai ai đẩy mặt trời lên,

Không đặng cao sang chí kém bền.

(Đạo Sử).

Bóng mặt trời vừa khuất đầu non,

Coi ánh sáng chiều còn tỏ rõ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MÂY

Mây là hơi nước bốc cao lên trời thành từng đám. Như: Mây bạc, mây bay, mây mưa.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có đoạn dạy: Thế thì kẻ hung bạo luống mượn thế lực phàm phu để khuấy rối, làm cho bước đường êm thấm phải hoá ra gay trở. Biển đương lặng, Trời đương thanh, dễ chi sóng khoả nước nhăn, mây ùn non bạc.

Gió dậy xao trời mây cuốn ngọc,

Sương lồng ướt đất liễu đeo châu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Một chiếc quạnh bóng hồng nháng ngọn,

Mây đoanh non tuyết đóng nhành thông.

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 

MÂY MÙ

Mây: Hơi nước bốc lên trời thành từng đám. Mù: Mờ tối, mất sự sáng suốt, hoặc một thứ sương bốc lên là là trên mặt đất.

Mây mù là mây thấp sát mặt đất, làm giảm tầm nhìn xa, thấy không rõ.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Tôi cầu xin cho trong Cửa Ðạo chúng ta thắt chặt dải đồng tâm càng ngày thêm khắng khít, xoá bỏ những hờn nghịch nhỏ nhen, nên coi Ðại nghiệp của Ðạo là quý trọng đễ cùng nắm tay dìu dắt nhau vẹt ngút mây mù cứ vẫn bao phủ quanh vùng Thánh địa hầu đi đến một giai đoạn vui vẻ hơn.

Đại Đạo trùng hưng gầy mối chánh,

Tam Kỳ phổ độ vẹt mây mù.

(Thơ Huệ Giác).

Đạo Trời vạch áng mây mù,

Vun bồi Tiên vị, công phu rạng ngời.

(Ai Điếu Hương Lự).

Kinh Phật học thông rèn trí tuệ,

Sách Nho rõ lý phá mây mù.

(Thơ Thông Quang).

 

 

MÂY MƯA

Mây: Hơi nước bốc cao lên trời thành từng đám. Mưa: Giọt nước ở trên mây kết lại rồi rơi xuống.

Mây mưa, như chữ “Vân vũ 雲 雨”, là mây mưa trích từ điển Sở Tương Vương đi chơi ở đầm Vân Mộng, gần núi Vu Sơn, chiêm bao thấy một người con gái đẹp đến hầu vua và tự xưng Vu Sơn Thần nữ, có nhiệm vụ sáng làm mây, tối làm mưa. Sau vua lập đền thờ ở dưới chân núi Dương Đài.

Do vậy, người đời sau lấy hai chữ “Mây mưa” để chỉ việc ân ái của đôi nam nữ.

Dầu chồng sanh thói lăng loàn,

Thay đen đổi trắng làm đàng mây mưa.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

MÂY MƯA ĐỈNH GIÁP

Hay “Mây mưa đảnh Giáp”.

Mây mưa: Chỉ việc ái ân giữa trai gái. Đỉnh (đảnh) giáp: Trên đỉnh núi Vu giáp.

Do điển tích vua Sở Tương Vương nằm mộng thấy cùng một nàng con gái chăn gối. Vua hỏi lai lịch, nàng cho biết là Thần nữ núi Vu Giáp có nhiệm vụ sáng làm mây, tối làm mưa.

1.- Mây mưa đỉnh Giáp:

Nào khi đổ mây mưa đảnh giáp,

Nào khi lo ấm áp cung thiềm.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Mây mưa đảnh Giáp:

Hễ đôi đàng ý hiệp duyên ưa,

Đừng vội đổ mây mưa trên đảnh giáp.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MÂY NỔI

Mây: Hơi nước bốc cao lên trời thành từng đám. Nổi: Nhô lên, dậy lên.

Mây nổi, như chữ “Phù vân 浮 雲”, là đám mây trôi nổi, dùng để chỉ những thứ gì như giàu sang, quyền tước... không được lâu dài và bền vững.

Xem: Phù vân.

Bao lâu mây nổi cỏ sương chan,

Gió thổi sương rơi mây cũng tàn.

(Thơ Thái Đến Thanh).

Đường danh nẻo lợi như mây nổi,

Nhắc nhở làm chi chuyện tước quyền.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

MÂY NGÀN

Mây: Do hơi nước bốc lên trời đọng lại thành từng đám. Ngàn: Rừng núi.

Mây ngàn là mây rừng, hay mây bay ngang qua rừng núi, ý chỉ sự lênh đênh, không bị ràng buộc.

Thành ngữ có câu: Hạc nội mây ngàn.

Biến thân hạc nội mây ngàn,

Nắm phan Tiếp Dẫn mở đàng Lôi Âm.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

MÂY RỒNG

Mây: Do hơi nước bốc lên trời đọng lại thành từng đám. Rồng: Vật đứng đầu trong tứ linh.

Mây rồng, bởi chữ “Long vân hội 龍 雲 會”, tức hội rồng mây, dùng để chỉ việc gặp thời cơ tốt, công danh hiển đạt.

Kinh Dịch “Vân tòng long, phong tòng hổ 雲 從 龍, 風 從 虎, nghĩa là mây theo rồng, gió theo cọp. Ý chữ này muốn nói: Vua Thánh gặp tôi hiền, hay gặp được công danh, thi đỗ đạt.

Giống rồng lại gặp hội mây rồng,

Xuân đến vận thời chẳng lẽ không.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

MÂY TẦN

Mây: Do hơi nước bốc lên trời đọng lại thành từng đám. Tần: Tần Lĩnh, tên một ngọn núi.

Mây Tần, do câu thơ của Hàn Dũ như sau: Vân hoành Tần lãnh gia hà tại? Tuyết ủng Lam quan mã bất tiền 雲 橫 秦 嶺 家 何 在, 雪 擁 藍 關 馬 不 前, nghĩa là mây giăng Tần lĩnh nhà đâu tá? Tuyết ủng Lam quan ngựa chẳng lên.

Tần Lĩnh chỉ lòng nhớ quê nhà.

Muôn điểm lờ mờ sương núi Tỵ,

Một vầng hiu hắt ngút mây Tần.

(Thơ Thuần Đức).

Cố quận ngàn trùng nương cánh nhạn,

Mây Tần xao xuyến hướng về nguồn.

(Thơ Lan Chi).

 

 

MẤY

1.- Mấy là bao nhiêu, từ dùng để hỏi một số lượng nào đó không rõ, nhưng nghĩ là không nhiều. Như: Mấy giờ rồi, cháu lên mấy.

Ca dao có câu: Một trăng là mấy cuội ngồi, Một gương tư mã mấy người soi chung?

Cao lương mỹ vị hại thân phàm,

Hỏi thử thế đời mấy món tham?

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ru con giọng hát ngập ngừng,

Xuân ơi! Xuân biết mấy lần đau thương?

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Mấy là từ dùng để chỉ một số ít, độ dăm ba trở lại. Như: Trong túi chỉ có mấy xu, bức thư viết mấy dòng.

Thánh giáo Thầy có câu: Những kẻ đã hưởng hết phúc hậu từ mấy đời trước, nay lại còn phạm Thiên điều, thì tội tình ấy thế chi giải nổi.

Bửu toà thơ thới trổ thêm hoa,

Mấy nhánh rồi sau cũng một nhà.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cõi thế chờ qua đường mấy dặm,

Non Thần đợi lóng nhạc năm cung.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Mấy từ chỉ một số lượng hay mức độ nào đó không cần xác định, nhưng được coi là đáng kể.

Như: Khó khăn đến mấy cũng vượt qua, nói mấy cũng bằng thừa, khôn mấy cũng là con.

Dầu khôn mấy giả ngu cho thuận,

Phải bao nhiêu cũng nhận lỗi lầm.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

MÂM

Mâm là vật bằng gỗ, bằng đồng, có hình vuông hoặc hình tròn, dùng để bày những đĩa bát, đồ ăn.

Như: Mâm đồng, mâm thau, mâm cao cỗ đầy.

Ca dao có câu: Màn hoa lại trải chiếu hoa, Bát ngọc lại phải đũa ngà, mâm son.

Đón phước non Vu mây án đảnh,

Trông duyên đằng các tiệc đầy mâm.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

MẦM

1.- Mầm là chồi mới nhú ra, tức bộ phận mới nhú ra từ hạt củ để về sau lớn lên trở thành cây.

Như: Lúa nẩy mầm, chọn mầm nhân giống.

Bão tới, sao đưa về lũ lụt?

Nắng thiêu, nở héo hết cây mầm!

(Thơ Thanh Hương).

2.- Mầm còn có nghĩa khởi điểm của một việc gì, sự gì, tức cái mới chớm nở, phát sinh, làm cơ sở cho sự phát triển sau này.

Thánh giáo Thầy bằng Pháp văn được Hội Thánh dịch ra Quốc ngữ có câu dạy: Giáo lý ấy đáng lẽ phải đem lại hoà bình và tương ái cho loài người, nhưng trái lại nó gây mầm chia rẽ và chiến tranh.

Cho mầm son trẻ sương đằm thắm,

Cho cội già nua mốc đượm nhuần.

(Thơ Thuần Đức).

Mầm nhân, giống nghĩa gieo rồi gặt,

Co duỗi bốn mùa thú Lão Trang.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

MẦM NON

Mầm: Bộ phận mới nhú ra từ hạt, củ để về sau lớn lên thành cây. Non: Ở giai đoạn mới mọc, mới sinh ra, chưa phát triển đầy đủ.

Mầm non là mầm cây non mới phát triển, dùng để ví lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng.

Thương những lúc nâng niu trứng mỏng,

Nhớ bao hồi bé bỏng mầm non.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

Nắng ấm ngày xuân phô vẻ ngọc,

Mầm non sân hạnh ngát hơi hương.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

MẨN MÊ

Mê: Cơ thể ở trạng thái chỉ còn một phần hoặc mất hẳn khả năng nhận biết.

Mẩn mê, như chữ “Mê mẩn”, có nghĩa là mê đi, không còn có ý thức về những điều mình nói, mình làm.

Thuốc trần tục, người lâm phàm thêm mẩn mê dã dượi,

Nay phép Tiên đã rưới, kíp mau định hồn lại, mà thoát ra khỏi lưới trần.

(Giác Mê Khải Ngộ).

 

 

MẪN ĐẠT

敏 達

Mẫn: Thông minh. Đạt: Suốt.

Mẫn đạt là thông minh, hiểu thấu đáo công việc.

May phước đặng sanh con mẫn đạt,

Mình khởi toan phú thác việc đời.

(Phương Tu Đại Đạo).

Tính cha đã thông minh mẫn đạt,

Con chắc là bác lãm quần thi.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MẪN HUỆ

敏 慧

Mẫn: Thông minh, lanh lợi. Huệ (Tuệ): Trí quang minh, sáng suốt.

Mẫn huệ là sáng suốt, thông hiểu sự lý.

Thánh giáo của Đức Quan Âm Bồ Tát có câu: Tâm có cảm thì lòng bác ái mới mở rộng mà nhứt là khiếu lương tri lương năng của các em cũng nhờ đó mà lần hồi thành ra mẫn huệ.

Xem: Mẫn tuệ.

Bố hoá chư Đệ tử trí não quang minh, tinh thần mẫn huệ, thật hành Chánh Giáo, cứu độ nhơn sanh.

(Sớ Văn).

 

 

MẪN KHỔ

憫 苦

Mẫn: Thương xót. Khổ: Khổ sở.

Mẫn khổ là thương xót người đang bị khổ sở.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có đoạn: Mấy bạn đứng trong hàng Thánh Thể Đức Chí Tôn chúng ta mấy em nam nữ, mấy đứa thư sinh nam nữ các em đã đặng hạnh phúc ngồi trong lòng yêu ái vô tận vô biên của Đức Chí Tôn, cả thảy mấy em cùng nói: Tôi đến nơi lòng Ổng đặng tôi mong mỏi làm thế nào đặng đứng địa vị phần tử Thánh Thể của Ổng, mà giá trị phần tử Thánh Thể của Ổng, tức nhiên làm Trời tại thế gian này thay thế cho Ổng làm mà làm Trời, chúng ta thấy “thùy từ mẫn khổ” của Ổng vô tận vô biên, từ thử đến giờ, thùy từ mẫn khổ nó buộc ta rằng: Cái lẽ sống của ta không phải sống trong hạnh phúc của ta, mà ta sống trong hạnh phúc của toàn thể con cái của Ngài.

Ứng mộng bảo sanh, thùy từ mẫn khổ,

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

MẪN TÁNH

敏 性

Mẫn: Thông minh, lanh lợi. Tánh: Tâm tánh.

Mẫn tánh là tâm tánh thông minh, lanh lợi.

Như: Minh tâm mẫn tánh.

Minh tâm may hiểu đường chơn giả,

Mẫn tánh mới thông nẻo chánh tà.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

MẪN TIỆP

敏 捷

Mẫn: Thông minh, lanh lợi. Tiệp: Nhanh chóng.

Mẫn tiệp là lanh lợi, có khả năng ứng phó nhanh nhẹn. Như: Anh ấy có tài mẫn tiệp.

Bàn dợn sóng nhởn nhơ nhịp tiếp,

Bút nương tay mẫn tiệp ghi lời.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

MẪN TUỆ

敏 慧

Mẫn: Thông minh, lanh lợi. Tuệ (huệ): Trí quang minh, sáng suốt.

Mẫn tuệ là sáng suốt, thông hiểu sự lý.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Cái bản tâm giữ được còn mới thật là lương tâm. Có lương tâm mới có lương năng và lương tri, tức là cái giỏi biết rất tự nhiên, rất mẫn tuệ.

Người hậu thuẫn tâm hồn mẫn tuệ,

Kỳ Ngoại Hầu Cường Để vì dân.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

MẪN TỬ

閔 子

Hay “Mẫn Tử Khiên 閔 子 騫”.

Mẫn Tử Khiên là một trong hai mươi bốn người con hiếu thảo.

Ông tên chữ là Tổn, sinh vào thời Xuân Thu, học trò Đức Khổng Tử, mẹ mất sớm, cha lấy vợ sau, sinh thêm được hai đứa con. Mẹ kế đối với ông rất khắc nghiệt, nhưng ông vẫn thờ cha và mẹ kế rất hiếu thảo. Mùa đông, mẹ kế cho hai đứa con mình mặc áo bông ấm áp, còn cho ông mặc áo hoa lau, thưa mỏng, lạnh lẽo. Ông tuy thấy lạnh nhưng không hề dám oán trách mẹ.

Một hôm, ông đẩy xe cho cha đi chơi, bị rét lạnh, cống cả tay chân, phải rời tay xe. Cha ông mới phát hiện bà mẹ ghẻ đối xử tệ với ông, tức giận định đuổi đi, Mẫn Tử Khiên quỳ xuống van xin và cho rằng nếu đuổi mẹ kế đi thì cả ba anh em đều bị rét và chịu khổ sở. Cha ông nghe lời tha cho người vợ kế. Bà kế mẫu nghe được đầu đuôi câu chuyện, bèn ăn năn hối hận, từ đó đối xử tốt và thương yêu ông hơn.

1. Mẫn Tử:

Cùng sống chung trong mùa giá rét,

Nhớ xưa Mẫn Tử hiếu ân nồng.

(Thơ Chơn Tâm).

2. Mẫn Tử Khiên:

Mẫn Tử Khiên tích còn roi dấu,

Dẩy xe cha áo xấu mặt dơ.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Mẫn Tử Khiên giữ tròn hiếu Đạo,

Đông lạnh run bởi áo hoa lau.

(Báo Ân Từ).

 

 

MẪN THẾ

憫 世

Mẫn: Lo lắng. Thế: Đời.

Mẫn thế là người thường hay lo lắng cho đời. Thường dùng chung với chữ “Ưu thời” trong câu thành ngữ “Ưu thời mẫn thế 憂 時 憫 世”.

Trong Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Hiện nay là buổi kim tiền, ưu thắng liệt bại, mạnh đặng yếu thua, khôn còn dại mất, con người trên mặt thế đều bôn xu theo quyền lợi chẳng kể gì nhơn nghĩa đạo đức, tinh thần, nên mới có nạn chiến tranh tương tàn, đồng chủng giết hại lẫn nhau, hằng ngày diễn ra nhiều tấn tuồng thảm thương, bi kịch, xem thôi mỏi mắt, nghe đã nhàm tai, khiến cho giọt lụy thương tâm của khách ưu thời mẫn thế không thể nào ngưng được.

Mẫn thế khá tua tính ích đời,

Ích đời chẳng vụ một mình ngươi.

(Đạo Sử).

Hỡi ai mẫn thế đến vui chơi,

Luận biện nghĩa nhân để cứu đời.

(Thơ Thượng Trí Thanh).

Khảo thí dành cho trang mẫn thế,

Hai vai quằn quại khổ cho đời.

(Thơ Vạn Năng).

 

 

MẦNG

Hay “Mừng”.

Mầng, như chữ “Mừng”, là trong lòng vui sướng hiện ra trên sắc mặt.

Như: Mầng như người được của, được tin anh mạnh khoẻ ai cũng mầng.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy mầng cho các con đã chịu lao tâm tiêu tứ mà nền Ðạo, làm cho mối tương thân tương ái càng khắng khít vững bền, ráng công thêm nữa mà đi cho cùng bước đường của các con đã chịu lắm nhọc nhằn, vạch lối chông gai, dìu chơn hậu tấn.

Xem: Mừng.

Vạn linh trỗi tiếng mầng thầm,

Thiên thơ Phật tạo độ phàm giải căn.

(Kinh Tận Độ).

Mầng thay chi xiết nỗi mầng,

Hào quang chiếu diệu ngàn tầng khôn trung.

(Bài Mầng Thay).

Mầng nhau vì thấy giúp nên nhau,

Mầng Ðạo từ đây đẹp vẻ màu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

MẬP MẠP

Mập: Béo, to đẫy đà.

Mập mạp là béo, to lớn đẫy đà.

Như: Thân người hắn mập mạp khoẻ mạnh, đàn bò con nào cũng thấy mập mạp.

Thú cầm mập mạp bầy thong thả,

Non nước trong veo trái dẫy đầy.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

MẬP MỜ

Mờ: Kém, không còn đủ khả năng nhìn rõ nét cảnh, vật chung quanh.

Mập mờ, như chữ “Lờ mờ”, tức là lúc tỏ lúc mờ, nên không thể thấy rõ được.

Mập mờ còn nghĩa là tỏ ra không rõ ràng, nữa nầy nữa nọ, khiến người ta khó biết rõ, hiểu rõ như thế nào.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Nếu thấy mình chưa được sáng tỏ, tức là sự học Ðạo còn nhiều thiếu sót, phải gắng công trau giồi thêm nữa, khoản nào chưa thông hiểu tột lý thì cứ việc trình hỏi cho rõ ràng, vì sự hiểu biết mập mờ chỉ có hại chớ không có ích lợi.

Mập mờ nhắn nguyệt đêm thu,

Kẻ còn người mất ai sầu hơn ai?

(Kinh Thế Đạo).

Già mập mờ đôi mắt có làng,

Dâu rán chỉ rõ ràng cho thấy thiệt.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MẤT

1.- Mất là thất lạc, không thấy, không còn. Như: Mất của, mất tích, mất nước, mất vui.

Thánh giáo Thầy có dạy: Thầy nói cho các con hiểu trước rằng: Cả môn đệ Thầy đã lựa chọn lọc lừa, còn lối nửa phần, vì Thầy cho yêu quái lấy danh Thầy mà cám dỗ. Cười, Ði bao nhiêu đều mất bấy nhiêu. Các con chớ buồn vì Thiên cơ phải vậy. Thi nhiều đậu ít là lẽ hằng.

Ðạo đức mãn đời đừng trở dữ,

Làm cho mất nghiệp mấy muôn năm.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cũng bởi Ðạo lầm nên mất nước,

Chịu nhiều khổ não lắm trân cam.

(Đạo Sử).

2.- Mất là không còn sống nữa, chỉ sự chết.

Thánh giáo Thầy dạy về ngày quy Tiên của Đức Chưởng Pháp Thượng Tương Thanh có câu: Ngày nay đã mất hết một người môn đệ của Thầy, lại là một đạo hữu của các con, đã cùng các con nghiêng vai gánh vác một trách nhậm trong Ðại Ðạo Tam Kỳ.

Biết chăng cái thảm mất chồng,

Xin cho thiếp dựa nơi lòng từ bi.

(Nữ Trung tùng Phận).

 

 

MẤT NẾT

Mất: Không còn, không tồn tại. Nết: Tính hạnh.

Mất nết là hư hỏng, không còn giữ được nết na, tức cái tánh hạnh tốt đẹp như trước.

Như: Trước mặt người lớn có những hành động đó là kẻ mất nết.

Lo ngại rồi ra cơn mất nết,

Vì ghen tương hết biết thân mình.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

MẤT NƯỚC

Mất: Không còn, không tồn tại. Nước: Quốc gia.

Mất nước là đất nước mất chủ quyền. Như: Xã hội của một nước loạn lạc đưa tới tình trạng mất nước.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có dạy: Một Ông Quan mất nước không thể tả hết. Buổi chúng tôi ôm cái Cơ đến nhà Ngài (Quyền Giáo Tông) đặng Đức Chí Tôn độ Ngài.

Nỗi mất nước căm hờn lở đất,

Nỗi tù đày u uất tim gan.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

MẤT VÍA

Mất: Không còn, không tồn tại. Vía: Phách, là phần linh hoạt trong thân thể cho người ta sống được.

Mất vía là sợ hãi đến mức mất hết tinh thần, như không còn hồn vía nữa.

Như: Thấy cảnh tượng đó anh ấy sợ mất vía.

Tai Trời đến mới kinh hồn mất vía,

Nhớ lại Thầy, Thầy đã đi đâu!

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

MẬT

1.- Mật là chất có vị ngọt do các tuyến ở một số nhụy hoa tiết ra.

Như: Ong bay hút mật, thuốc tễ làm bằng mật, mật ong rất bổ dưỡng.

Ngoài ra toàn vạn vật đều có tình hữu ái đối với ta “Khuyển thủ dạ, kê tư thần, tàm thổ tư, phong nhưỡng mật”.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

2.- Mật là nhặt, kín, cần giữ không cho lộ ra ngoài.

Như: Câu chuyện mật, tài liệu mật, lệnh mật truyền ngầm trong quân đội.

Màn bí mật tay kia đã nắm,

Lợi danh hay ngăn cấm bước đường tu.

(Lý Bạch Giáng Bút).

 

 

MẬT CHỈ

密 旨

Mật: Giữ kín, bí mật. Chỉ: Lịnh của vua hay Trời.

Mật chỉ là lệnh kín của vua.

Trong tôn giáo Cao Đài, mật chỉ mệnh lệnh mật của Đức Chí Tôn.

Chiếu y mật chỉ Chí Tôn.

(Bát Đạo Nghị Định).

 

 

MẬT CHIẾU

密 詔

Mật: Giữ kín, bí mật. Chiếu: Tờ giấy vua hoặc của Thượng Đế ban xuống.

Mật chiếu là chiếu chỉ kín của vua ban ra.

Đối với đạo Cao Đài, mật chiếu là chiếu chỉ bí mật của Đức Chí Tôn truyền xuống.

Vì Tam Kỳ Phổ Ðộ, Thiên Ðịa hoằng khai, nơi Tây Phương Cực Lạc và Ngọc Hư Cung mật chiếu đã truyền siêu rỗi chúng sanh.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

MẬT YẾU

密 要

Mật: Giữ kín, bí mật. Yếu: Điều quan trọng.

Mật yếu là điều bí mật yếu trọng.

Thánh giáo Thái Thượng Đạo Tổ có câu: Chí Tôn sở cậy Bần Đạo thố lộ chút ít điều mật yếu để dìu bước chư đạo hữu trong buổi loạn lạc trong nền Ðạo buổi nầy.

Chúng nó muốn tìm cách dòm hành mong các con lầm mà bại lộ cơ quan mật yếu mà thôi.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

MẬT NIỆM

密 念

Mật: Giữ kín, bí mật. Niệm: Tưởng đến, nhơ đến.

Mật niệm là ngầm nghĩ đến, hoặc cầu nguyện trong lòng một cách kín đáo.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Khi Ðức Chí Tôn giáng, chẳng nên mật niệm điều chi và chẳng nên chạy qua chạy lại.

Lão cấm nhặt chẳng cho ai mật niệm mà xin điều chi cùng Chí Tôn hết...

(Thánh Giáo Lý Giáo Tông).

 

 

MẬT PHÁP

密 法

Mật: Giữ kín, bí mật. Pháp: Pháp luật, giáo lý, phương thức.

Mật pháp là những phương pháp bí mật, những pháp thuật bí ẩn hay những định luật vô hình làm chi phối sự tiến hoá của các chơn linh trong Càn khôn Vũ trụ, hay nói khác đi là những sự mầu nhiệm ẩn dấu ở trong, không ai biết được cả.

Như vậy, cũng như “bí pháp”, là cơ quan giải thoát chúng sanh, tức những phương thức luyện đạo của một tôn giáo, để thoát khỏi vòng luân hồi khổ não, cứu giúp linh hồn mà mục đích cuối cùng là đắc đạo, đạt được phẩm vị Thần Thánh Tiên Phật nơi cõi thiêng liêng.

Nói cách khác, mật pháp là những phương pháp luyện đạo không được phổ biến ra ngoài, chỉ được bí truyền cho đệ tử có hạnh đức. Các phương pháp ấy được truyền trực tiếp từ thầy sang trò, nên gọi là khẩu thọ tâm truyền hay tâm pháp bí truyền.

Xem: Bí pháp.

Thiên cơ mật pháp chỉ bày,

Hầu đưa nhơn loại đến đài Linh Tiêu.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

MẬT THIẾT

密 切

Mật: Nhặt, gần, khít. Thiết: Thân mật, gắn bó.

Mật thiết, nghĩa đen là gần sát nhau, không có kẽ hở.

Mật thiết còn dùng để chỉ có quan hệ gắn bó với nhau rất chặt chẽ.

Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp có câu: Quan niệm của vạn vật đối với con người rất nên mật thiết, dầu vật ấy hung tàn đối với con người, tình thân ái giao hảo vẫn liên quan mật thiết.

Sự công dụng của các cơ cấu trong Ðạo đều khác nhau, nhưng tất cả các cơ cấu đều có sự liên quan mật thiết với nhau.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

MÂU THUẪN

矛 盾

Mâu: Một loại binh khí có cán, mũi nhọn. Thuẫn: Cái khiên, cái mộc.

Sách Hàn Phi Tử có chép: Nước Sở có người bán cái mâu, cái thuẫn. Để quảng cáo ông ấy nói: Cái mâu tôi rất nhọn và sắc bén, bất cứ vật gì cũng có thể đâm thủng được cả. Đến khi giới thiệu cái thuẫn thì ông ta cũng nói: Cái thuẫn này có thể ngăn cản các loại binh khí không thể phạm vào thân mình được.

Có người nghe vậy hỏi: Như thế, nếu lấy cái mâu của anh để đâm cái thuẫn của anh thì sao? Người ấy đứng thừ ra, không thể nào đáp được.

Do đó, sau này những điều trái ngược nhau người ta đều gọi là “Mâu thuẫn”.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Con người đến thế nầy cũng vậy, làm đầy tớ trả quả do nơi căn quả về trí thức tinh thần họ không đủ để bảo vệ thiên lương của họ, ngoài ra phương pháp giáo hoá ấy nhơn sanh nơi mặt địa cầu này còn có nhiều điều mâu thuẫn nếu như một người nào không được chí thiện, chí nhơn...

Chánh trị thế giới lộn ngầu,

Hoà Bình hạnh phúc càng mâu thuẫn nhiều.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

MẦU

Mầu là hay, tài tình, hoặc giỏi đến mức như có phép lạ không thể nào giải thích được, vì ngoài sức hiểu biết của con người.

Như: Công việc khó làm nhưng nó làm được mới mầu, phép mầu, chước mầu, đạo mầu.

Giá trong sạch nữ nhi trượng tiết,

Giữ cho tròn trinh liệt mới mầu.

(Kinh Sám Hối).

Luân hồi thưởng phạt rất mầu,

Chuyển thân tái thế ngựa trâu công đền.

(Kinh Sám Hối).

 

 

MẦU NHIỆM

Mầu: Cao siêu, vượt khỏi trí hiểu biết của con người. Nhiệm: Sâu kín.

Mầu nhiệm là huyền diệu, vượt khỏi trí hiểu biết của con người, không thể lấy trí phàm mà tưởng tượng hay xét đoán được.

Thánh giáo Thái Thượng Đạo Tổ dạy: Phải lấy nét đạo đức mà đoán xét thì mới hiểu thấu sự mầu nhiệm vĩ đại của Chí Tôn sắp đặt.

Trên đường Thánh đức lần dò,

Trường sanh mầu nhiệm nơi lò Hoá công.

(Kinh Thế Đạo).

Mầu nhiệm dễ chi tìm thấu đáo,

Đáo đầu mới rỏ Đạo là cao.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chớ quên máy Tạo nên mầu nhiệm,

Vay trả đồng cân thế chuyển luân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

MẪU ĐƠN

牡 丹

Mẫu đơn là một loại hoa đẹp, quý ở nước Tàu, thường được cho là vua các loài hoa, gọi là hoa vương. Hoa mẫu đơn có hai giống: Hoa màu vàng do nhà họ Diêu trồng, gọi là Diêu vàng, hoa màu đỏ tía do nhà họ Nguỵ trồng gọi là Nguỵ tía. Nên người ta gọi là “Diêu vàng Nguỵ tía” hay “Nàng Diêu ả Nguỵ”, dùng để chỉ người con gái đẹp.

Cho hương sắc diễm kiều tàn tạ,

Cho tay phàm vọc đoá mẫu đơn...

(Phù Kiều Hận Sử).

 

 

MẪU HẬU

母 后

Mẫu: Mẹ. Hậu: Vua, hoặc vợ vua.

Mẫu hậu là mẹ vua, hoặc dùng để gọi Hoàng Thái Hậu trong chế dộ vương quyền.

Trong giáo lý Cao Đài, Mẫu hậu hay Thiên Hậu được dùng để gọi Đức Phật Mẫu, tức Kim Bàn Phật Mẫu, hay Diêu Trì Kim Mẫu.

Lịnh Mẫu Hậu khai Tông định Đạo,

Ân dưỡng sanh đảm bảo hồn hài.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

 

 

MẪU NGHI

母 儀

Mẫu: Bà mẹ. Nghi: Khuôn phép.

Mẫu nghi là làm khuôn phép một bà mẹ cho mọi người noi theo. Vì vậy, Thái Hậu hay Hoàng Hậu ngày xưa thường gọi là “Mẫu nghi thiên hạ 母 儀 天 下” tức là làm khuôn phép cho thiên hạ.

Theo Tôn giáo Cao Đài, từ “Mẫu nghi” được dùng để xưng tụng Đức Diêu Trì Kim Mẫu.

Mẫu nghi hằng giữ lòng đơn,

Mảng lo cho trẻ đặng toàn mảnh thân.

(Tán Tụng Công Đức).

Trước kia trẻ vẫn mịt mờ,

Từ đây mới hản ơn nhờ Mẫu nghi.

(Tán Tụng Công Đức).

 

 

MẪU TỬ

母 子

Mẫu: Mẹ. Tử: Con.

Mẫu tử là mẹ và con, chỉ về mặt quan hệ với nhau.

Trong Đạo Cao Đài, ngoài tình mẫu tử ở thế gian với bà mẹ xác thịt, tín đồ còn có tình mẫu tử thiêng liêng với Đức Phật Mẫu.

Đức Phật Mẫu là bà mẹ sanh có công ơn sâu nặng với con người, hằng trông chờ con cái trở về hội hiệp với Người ở cõi Thiêng liêng.

Nỗi thương con giữ nghì mẫu tử,

Nỗi trên vai hai chữ tam tùng.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

MẬU SANH

Mậu Sanh tức là Vương Mậu Sanh, người bạn đã từng nuôi dưỡng Tiết Nhơn Quý trong lúc hàn vi.

Khi Tiết Nhơn Quý được vinh hiển, bèn làm tiệc mừng tái hợp với gia đình, lại quên phứt vợ chồng Vương Mâu Sanh.

Vợ chồng Mậu Sanh bàn với nhau là chẳng nên chờ rước, mà phải đến để chúc mừng Nhơn Quý, bèn lấy hai cái ché múc nước thế rượu để làm quà lễ phẩm.

Nhơn Quý nghe báo có tên Vương Mậu Sanh, bèn truyền mở hết chánh môn đặng tiếp rước và kêu lớn rằng: Mừng ân ca, ân tẩu. Em tính để huỡn việc rồi sẽ cho người đi rước, không dè anh đến thăm trước, xin anh tha lỗi cho em. Nhơn Quý với Mậu Sanh cùng ngồi, kế quân sĩ khiêng hai ché rượu vào, rồi mở ra xem nói: Không phải là rượu, là nước lạnh mà thôi. Nhơn Quý nói: Nước thì khoái hoạt tấm lòng. Liền vỗ tay cười lớn truyền quân rót ba tô lớn, Nhơn Quý uống hết rồi nói: Lời tục ngữ nói: “Người sanh tình nghĩa trọng, uống nước tấm lòng trong.” Nói rồi bày tiệc thết đãi, và phong Mậu Sanh là Vương Môn Đô Tổng quản.

Chén nước Mậu Sanh hơn rượu quý,

Bát cơm Phiếu Mẫu đượm tình thương.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

ME

1.- Me là một loại cây có thân to, lá mọc đối nhau, quả dài, có vị chua, ăn được.

Như: Me chua, me dốt, hột me, mứt me.

Đừng ưa me chịu dốt chúng cười,

Người ghế giữa mình ngồi dựa cột.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Me là một lối chơi đánh bạc thời trước đây, giống như đánh lú.

Như: Hốt me, đánh me, thua me hốt bài cào.

Cũng đừng ham kết bạn kết bè,

Theo cờ bạc bài me phá của.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MẸ

Mẹ là người đàn bà sinh ra mình. Như: Mẹ già, mẹ chồng, mẹ vợ.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn viết: Những đấng minh quân đời trước thương dân như con đỏ, hằng chịu lao tâm tiêu tứ để lo hạnh phúc cho dân. Người trong nước không kể sang hèn, hễ ai có tài có đức là được cất nhắc lên làm quan giúp nước trị dân. Vua với quan đều lấy sự ích nước lợi dân làm chủ đích. Trên thân dưới như tay chân đối với lòng dạ, dưới thân trên như nhà đối với mẹ từ. Vì sự thương yêu lẫn nhau là mối vững bền, muôn dân lạc nghiệp.

Nhơn nghĩa gắng gìn dạ sắt son,

Thờ cha kính mẹ hiếu lo tròn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

mẹ chưa lìa đám trẻ con,

Ðộ sanh chưa rõ phận vuông tròn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Khiêm cung từ thuở tuổi thơ sanh,

Thương mẹ hiếu cha lắm nhọc nhằn.

(Đạo Sử).

 

 

MẸ MẠNH TỬ DỜI NHÀ

Mẹ Mạnh Tử dời nhà, bởi chữ “Mạnh mẫu trạch lân 孟 母 擇 鄰”, tức là mẹ của Mạnh Tử chọn xóm tốt để dễ dạy con.

Do tích Liệt Nữ Truyện, Mạnh Tử tên là Mạnh Kha, mồ côi cha từ năm ba tuổi, ở với bà mẹ nghèo khó, gần nghĩa địa, nên thường cùng với lũ trẻ bắt chước chơi trò chôn cất. Mạnh mẫu bèn dọn nhà về gần chợ, Mạnh Tử cũng bày việc mua bán cùng lũ trẻ hàng xóm như người ngoài chợ.

Mẹ Mạnh Tử sợ con hư, bèn cho dời nhà về cạnh trường học. Cậu bé Mạnh Kha thấy học trò cắp sách đến trường, thì cũng ngoan ngoãn ôm tập vở giả vờ đi học. Mạnh mẫu cho rằng nơi đây là chỗ lý tưởng để nuôi dạy con.

Có lần Mạnh Tử đi học, bỗng bỏ về nhà chơi, Mạnh mẫu đang ngồi dệt vải, bèn đứng dậy, cầm dao chặt đứt tấm lụa. Mạnh Tử thất kinh. Bà nói: Con đang đi học mà bỏ ngang trở về nhà thì cũng giống như mẹ đang dệt tấm lụa này bị chặt đứt vậy.Mạnh Kha hiểu ra, từ hôm đó trở đi chuyên cần học tập, không dám chểnh mảng, bỏ học hành nữa. Nhờ vậy, sau nầy lớn lên Ông được người tôn là bậc Á Thánh.

Để nêu người đàn bà mẫu mực về cách dạy con, bên trong hành lang Báo Ân Từ có vẽ bức tranh lấy tích “Mạnh mẫu trạch lân”.

Mẹ Mạnh Tử đời cho gương mẫu,

Sợ trẻ quen thói xấu dời nhà.

Khung cửi đang dệt đoạn ra,

Nếu con biếng học, kể là của hư.

(Báo Ân Từ).

 

 

MÉC

Méc là mách, tức đem chuyện người mà nói lại với kẻ liên hệ.

Méc còn có nghĩa là nói cho người trên biết lỗi của kẻ dưới. Như: Thằng đó hỗn hào, anh nên méc cha mẹ nó.

Đừng ỷ mình trứng mỏng mẹ cha,

Bị đòn bọng thiết tha méc láo.

(Phương Tu Đại Đạo).

Tình chồng vợ ra mòi lảng xẹt,

Muôn sự chi hễ méc xử chìm xuồng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MEN

1.- Men là rượu, về mặt có tác dụng gây hưng phấn hoặc làm cho say.

Như: Men rượu, chếnh choáng hơi men, say men rượu nồng.

Cũng như người ghiền rượu đã quen,

Hễ vừa bắt hơi men thì ngáp vắn.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Men là lần dọc theo phía ngoài hoặc dọc theo mé bờ để di chuyển.

Như: Men theo vách đá mà lên núi, đi men theo bờ sông để về nhà.

Quyết chí Thiên đường men bước tới,

Phải nhiều máu thịt mới đồng bào.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

MEO

Meo là mốc làm thành những mảng xanh.

Như: Đồ ăn nổi meo, bánh đã lên meo, cơm nguội trong nồi bị nổi meo.

Trước Ðiện lai rai ba chú Ðạo,

Sau hiên meo mốc mấy pho kinh.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

MÉO

Méo là lệch, không cân đối hay không đúng theo hình dáng nhất định của nó.

Như: Vành thúng méo, miệng méo, nắp vung méo, cây cột đứng méo xẹo.

Ca dao có câu: Nồi tròn, vung méo úp sao cho vừa.

Tròn méo chi chi cũng nợ đời,

Muốn lừa muốn chọn liệu nên nơi.

(Đạo Sử).

 

 

MÉO TRÒN

Méo: Vật bị sai hình nhất định. Tròn: Hình tròn, chỉ khôn khéo, không cạnh góc, vào đâu cũng lọt.

Méo tròn là hình méo hay hình tròn.

Méo tròn ý chỉ lời thêu dệt sai sự thật, từ méo vo thành tròn.

Xem: Tròn méo.

Cúi ngửa giữ cho lòng khỏi thẹn,

Mặc ai toan bóp méo ra tròn.

(Thơ Thuần Đức).

Sư sinh tái hội lòng luôn nguyện,

Nào quản dư ngôn dệt méo tròn.

(Thơ Huệ Ngàn).

 

 

MÈO

Mèo là một loại gia súc, cùng họ với hổ báo, nuôi trong nhà để rình bắt chuột.

Như: Mèo tam thể, mèo rình chuột, mèo mả gà đồng, mèo nhỏ bắt chuột con.

Vui non sông là đường thoát khổ,

Vui mèo đồng ấy rõ vạy tà.

(Bát Nương Giáng Bút).

Thà cầm đèn thủ tiết tàn canh,

Hơn thụt ló như mèo rình ăn vụng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MÈO MẢ GÀ ĐỒNG

Mèo mả: Loại mèo hoang, sống ngoài nghĩa địa, mồ mả. Gà đồng: Loại gà rừng, không ai nuôi, sống lang thang ngoài đồng nội.

Mèo mả gà đồng chỉ hạng người trai thì vô lại đi hoang, du thủ du thực, gái thì lang chạ, dâm đãng.

Gái tiết hạnh giữ tròn danh giá,

Chớ học đòi mèo mả gà đồng.

(Kinh Sám Hối).

Nên ưa mèo mả gà đồng,

Bỏ hình loan phụng dựa lồng chim xanh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Phải đợi lịnh mẹ cha cưới gả,

Đừng học đòi mèo mả gà đồng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MẸO

1.- Mẹo là mưu, thuật, tức cách khôn ngoan được nghỉ ra trong một hoàn cảnh để giải quyết việc khó khăn. Như: Mưu mẹo, mưu cao mẹo giỏi, lập mẹo đánh lừa.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Chúng ta thử quan sát trước mắt ngó thấy những mưu mẹo những phương pháp, những trí độ, họ tìm tàng, họ làm cách nào đặng lập quyền cho họ.

Dạy trẻ hiểu những mưu những mẹo,

Của người đời khôn khéo đua tranh.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Mẹo, còn đọc “Mão”, là ký hiệu thứ tư, tượng trưng bằng mèo, trong mười hai chi dùng để đếm thời gian cổ truyền của Trung Quốc.

Như: Giờ Mẹo, ngày Mẹo, tháng Mẹo, năm Mẹo.

Dần qua Mẹo lại, Thìn đến Tỵ về, xuân đổi lại xuân thay, năm kề rồi năm mãn.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

MÉP

1.- Mép là cạnh mồm, chỗ hai đầu môi liền với nhau, tạo nên khoé miệng.

Như: Nhếch mép cười, để râu mép, nói vã bọt mép, mài mép dao cho bén.

Ðôi mép kéo kia dầu cắt đứt,

Thì là bên đẩy với bên đưa.

(Đạo Sử).

2.- Mép còn dùng để biểu tượng của sự nói nhiều, nói hay, nhưng chỉ là ngoài miệng chứ không thực lòng, hoặc không làm như đã nói.

Như: Lẽo mép. thằng bẻm mép, chỉ nói mép.

Trình môn đã muốn ít câu văn,

Chải chuốt mép môi cũng gọi rằng.

(Đạo Sử).

Lắm mồm mép so đo từ chút,

Hằng kể ơn lúc giúp chọn đôi.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

là mờ ám, mất trí khôn. Như: Ngủ mê, mê chơi bời, mê cờ bạc.

Dạy về Đồng tử, Thánh giáo Thầy có đoạn: Như chấp cơ mà thì Chơn thần ra trọn vẹn khỏi xác. Thầy mới dạy nó viết chữ chi đó, nó đồ theo, Thầy nói tên chữ, xác nó cầm cơ viết ra, người đọc trật chữ, nó nghe đặng, không chịu, Thầy buộc viết lại và rầy kẻ đọc trật ấy.

Bỏ hết trong cơn một giấc,

Trăm năm ngắn ngủi nhớ làm lành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Làm sao đặng người người đều mến,

Lấy ngôn từ rù quến người .

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MÊ ĐỒ

迷 途

Mê: Rối loạn trí não, không tỉnh. Đồ: Con đường.

Mê đồ là đường mê, tức những con đường u mê, lầm lạc, là con đường dẫn đến luân hồi sanh tử.

Muốn thoát khỏi mê đồ thì con người phải kềm chế lục dục, thất tình, để phá bức màn vô minh, hầu vượt ra vòng sân si, phiền não thì tâm tự nhiên sáng tỏ, gọi là giác ngộ.

Cứ nương bóng Chí Linh soi bước,

Gội mê đồ tắm nước Ma Ha.

(Kinh Tận Độ).

Cõi phàm tục sống mai, chiều thác,

Chốn mê đồ cảnh bạc đổi lòng vôi.

(Giác Mê Khải Ngộ).

Giáng cơ chỉ dẫn điều hư thiệt,

Giải thoát mê đồ khách thiện duyên.

(Thơ Hiến Pháp).

 

 

MÊ HÀ

迷 河

Mê: Tối tăm lầm lạc, không tỉnh. Hà: Sông.

Mê hà là sông mê, ý nói sự mê muội, lầm lạc của con người ở cõi thế gian đầy dẫy như nước sông.

Do đó, “Mê hà” hay “Sông mê” dùng để chỉ cõi trần, trái với “Bờ giác” (Giác ngạn).

Xem: Sông mê.

Đẩy người rơi xuống mê hà,

Muôn đời ngàn kiếp thoát ra được nào!

(Nguyễn Trung Trực Giáng).

 

 

MÊ HOẶC

迷 惑

Mê: Tối tăm lầm lạc, không tỉnh. Hoặc: Bị ngoại vật cám dỗ.

Mê hoặc là lòng bị ngoại vật dụ dỗ, quyến rũ khiến không thể nào sáng suốt, tự chủ được.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Ôi! Thảm thay! Thảm thay! Các mối Ðạo Thầy đã liều thân lập thành đều vào tay Chúa Quỷ hết, nó mê hoặc các con.

Diệu huyền chơn đạo tu tông hướng,

Mê hoặc tà mưu khả tự phòng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

MÊ HOẶC CHÚNG SANH

迷 惑 衆 生

Hay “Mê hoặc chúng sinh”.

Mê hoặc: Làm cho mất tỉnh táo, mất sáng suốt, mù quán tin theo. Chúng sanh: Chúng sinh, là từ dùng để chỉ người và vật có mạng sống.

Mê hoặc chúng sanh (sinh) là dùng tà thuyết hay điều mê tín dị đoan để dẫn dụ cho chúng sanh tin theo mà đi vào đường lầm lạc.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ngồi trầm ngâm suy tưởng tôi xin thú thật, phần nhiều mấy anh mấy chị nơi quê hương của tôi, hẳn đã biết tôi từ thuở bé, anh chị thấy tôi truyền giáo tưởng tôi mê hoặc chúng sanh.

1. Mê hoặc chúng sanh.

2. Cám dỗ.

(Thập Hình Lý Giáo Tông).

 

 

MÊ HỒN

迷 魂

Mê: Tối tăm lầm lạc, không tỉnh. Hồn: Chỉ phần vô hình trong còn người.

Mê hồn là làm cho tinh thần con người bị rối loạn, cuốn hút như mất hồn, tức có sức hấp dẫn đến mức làm say mê, đắm đuối.

Mê hồn còn có nghĩa linh hồn còn mê muội.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Trước sự tiến triển của văn minh vật chất, trước sự đổ vỡ của Ðạo lý luân thường, trường đời là một trận mê hồn, mà sự xa hoa hào nhoáng có thể gây tai hoạ lớn lao cho kẻ tu hành.

Chuông mai dập thức mê hồn,

Cung Tiên mới đặng rửa hờn kiếp sanh.

(Cửu Nương Giáng Bút).

Chúng đủ thuốc mê hồn cám dỗ,

Sắc tài quyền tứ đổ đưa ra.

(Nguyễn Trung Trực Giáng).

 

 

MÊ LUYẾN

迷 戀

Mê: Lòng say mê. Luyến: Yêu mến, quấn quít nhau, không muốn rời.

Mê luyến là say mê, hay mê đắm một việc gì. Ví dụ như mê luyến hồng trần.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Ôi! Thầy sanh ra các con thì phải yêu trọng các con chẳng cùng, mà Thầy cho các con đến thế giới nầy với một Thánh thể thiêng liêng, y như hình ảnh của Thầy, không ăn mà sống, không mặc mà lành, các con lại không chịu, nghe điều cám dỗ, mê luyến hồng trần, ăn cho phải bị đọa, dâm cho phải bị đày, nên chịu nạn áo cơm, dục quyền cầu lợi.

Mê luyến hồng trần mang ách khổ,

Cơn vui qua khỏi lệ sầu tuôn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chớ mê luyến hồng trần đoạ lạc,

Trước gieo oan sau chác tội tình.

(Huỳnh Hoa Tiên Nữ).

 

 

MÊ MAN

Mê: Không tỉnh.

Mê man là mê kéo dài, bất tỉnh. Như: Nằm mê man.

Mê man còn dùng để chỉ sự say mê làm việc đến mức dường như quên cả thực tại. Như: cuốn sách được anh ấy đọc một cách mê man.

Nói về thi sĩ Bồng Dinh, Đức Hộ Pháp có câu: Ngoài ra có ông bạn ai cũng đều biết là nhà thi sĩ danh tiếng, Bần Ðạo dám chắc nội trong Nam Bộ chúng ta đây chưa có ai bằng, nỗi danh thi sĩ đứng đầu hết thảy là người ấy, không biết chứng cớ gì mà người mê thi phú của Ðức Chí Tôn quá chừng quá đổi, đến nước người thuộc lòng thi phú của Ðức Chí Tôn, rồi người hoạ lại với Ðức Chí Tôn, người làm như mê man vậy.

Chay lạt đặng ngừa lằn khí độc,

Mê man bất tỉnh trận kỳ ba.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

MÊ MẨN

: Mờ ám, mất trí khôn.

Mê mẩn là mê đi và không còn có ý thức về những điều mình nói, mình làm.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ðạo nhơn luân của nhà Nho ta có cái vẻ đẹp thiên nhiên, ai tiêm nhiễm đến cũng sanh mê mẩn, cảm kích, vậy mới tạo tâm lý theo Nho tông làm hình trạng tinh thần Nho Ðạo.

Khiến trần gian bảy nổi ba chìm,

Người mê mẩn khó tìm đường chánh đại.

(Giác Mê Khải Ngộ).

 

 

MÊ MẾT

Mê: Say sưa, mải đắm theo việc gì. Mết: Mê tít, say đắm, đam mê tới mức không rứt ra được.

Mê mết, như chữ “Mê mệt”, có nghĩa là thiếp đi với vẻ mệt mỏi.

Mê mết còn dùng để chỉ sự say mê đến độ không giữ được trạng thái tình cảm, tinh thần thăng bằng.

Như: Suốt ngày ông ấy mê mết với bàn cờ.

Chúng sanh mê mết mộng trường,

Sắc tài danh lợi vấn vương buộc mình.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

MÊ MUỘI

迷 昧

Mê: Say sưa, mãi đắm vào việc gì, không còn hay biết. Muội: Tối tăm.

Mê muội là u mê, tăm tối, tức là trí não bị mờ tối.

Thánh giáo Chí Tôn có câu: Than ôi! Trời cao minh soi xét mà người vẫn mê muội ám mờ, đem mảnh trí cỏn con kia chống kình với khuôn linh Tạo hoá.

Danh vốn là bùa mê muội thế,

Thế không đạo đức thế không thành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cơn mê muội thấy kề gương ngọc,

Lúc tỉnh táo nằm thiếp giấc Trang.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

MÊ NGỘ

迷 悟

Mê: Lầm lạc. Ngộ: Hiểu biết rõ, giác ngộ.

tức là tối tăm, lầm lạc, không thấu đáo chân lý, không hiểu sự thật. Đức Phật ra đời với mục đích chỉ cho chúng sanh con đường hết mê được ngộ, tức là chuyển mê khải ngộ.

Ngộ là sáng suốt, hiểu biết rõ, tức là kiến tánh, thấy được thực tướng của vạn vật, thấu hiểu chân lý của sự vật. Ngộ đạo tức là thấy được mặt thật xưa nay của chính mình (bản lai diện mục).

Mê ngộ là hai con đường mà người tu hành phải chọn lựa chính chắn: Hễ mê, thì Phật là chúng sanh, còn ngộ, thì chúng sanh là Phật.

là lầm lạc nẻo đường tu,

Ngộ ấy rõ thông thẳng dặm cù.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

MÊ SAY

Mê: Say sưa, mãi đắm vào việc gì, không còn hay biết. Say: Yêu thích đến mức bị cuốn hút hoàn toàn.

Mê say, như chữ “Say mê”, là ham thích đến mức không còn biết gì đến chung quanh nữa.

Như: Hằng ngày anh ấy thường mê say công việc.

Xem: Say mê.

Mùi đời tôi đã mê say,

Xa hoa trụy lạc sắc tài lợi danh.

(Thơ Hộ Pháp).

Độ khách trần hoàn mau thức tỉnh,

Cứu người tục luỵ hết mê say.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

MÊ TÂN

迷 津

Mê: Lầm lạc. Tân: Bờ, bến.

Mê tân có nghĩa là bến mê, một cảnh giới lầm lạc của chúng sanh.

Theo Phật, chúng sanh bị đau khổ là vì cứ mê lầm nhận những cái lăng xăng trần cảnh là tâm, chứ không biết nó chỉ là vọng tưởng, không phải chân tâm.

Vì thế, pháp của Phật như một chiếc bè từ đưa chúng sanh ở bến mê (mê tân) qua bờ giác (giác ngạn).

Chín cô đã sẵn lòng thương,

Mê tân độ chúng buồm trương thoát vòng.

(Tán Tụng Công Đức).

Hứng giọt Ma Ha lau tục luỵ,

Ngừa thuyền Bát nhã thoát mê tân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nầy lúc Kỳ Ba Phổ Ðộ trần,

Mau chơn thoát khỏi chốn mê tân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

MÊ TÍN

迷 信

Mê: Mơ hồ không rõ, lầm, không tỉnh. Tín: Tin.

Mê tín là tin tưởng một cách sai lầm, mù quáng, trái với chánh tín, là tin tưởng chơn chánh, đúng đắn.

Mê tín thường có tính cách vụ lợi, nên người mê tín dễ mất đức tin, tức là đức tin không bền bỉ, mạnh mẽ.

Thánh giáo Thất Nương Diêu Trì Cung trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Cái hại ấy vốn chẳng vừa về phần tín ngưỡng. Chớ chi thất tại Tà quyền thì có mấy em trừ khử, nhưng tại nơi đồng tử, thì mấy em không phương giải nạn cho mấy người mê tín.

Khỏi vòng mê tín lại đường ngay,

Lạc nẻo mau chơn liệu trở quày.

(Đạo Sử).

Bớt mọi lẽ người đương mê tín,

Nhập Phật gia cậy lịnh Thích Ca.

(Lục Nương Giáng Bút).

Diệt mê tín mở đường chơn thật,

Lấy Thánh tâm đặng cất Cao Đài.

(Xuân Hương Giáng Bút).

 

 

MÊ TỈNH

迷 醒

Mê: Tinh thần không được sáng suốt, lầm lạc. Tỉnh: Sáng suốt, hết ngủ.

Mê tỉnh là khi say sưa, khi tỉnh thức, hoặc lúc mê muội, lúc sáng suốt.

Mê tỉnh chuông khua phân biệt tiếng,

Rừng thiền nô nức loán mùi hương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

MÊ VỌNG

迷 妄

Mê: Tinh thần không được sáng suốt, lầm lạc. Vọng: Càn bậy.

Mê vọng là mê theo một cách quàng xiên, càn bậy.

Người mê vọng là người không thấu đáo chân lý, không hiểu sự thật, nên thường bị đau khổ vì cứ mê lầm những cái lăng xăng trần cảnh là tâm, chứ không biết nó chỉ là vọng tưởng, không phải là chân tâm.

Sai lầm ở chỗ còn mê vọng,

Đối ứng đâu mà quán chiếu nên.

(Thơ Thanh Hương).

 

 

MỀ ĐAY

Mề đay là từ phiên âm tiếng Pháp “médaille”, dùng để chỉ huân chương hoặc huy chương.

Mề đay là những vật bằng kim loại được nhà nước ban cho người có thành tích, đeo vào mình để chứng nhận công trạng.

Như: Đeo mề đay đầy ngực.

Dày công đếm số mề đay,

Mực văng nhuộm tánh, viết mài tiêu tâm.

(Ngụ Đời).

 

 

MỄ

Mễ là gạo, không dùng một mình.

Như: Mễ cốc, thóc mễ, nhu mễ, lung kê hữu mễ (gà lồng có lúa ăn).

Lung kê hữu mễ thang oa cận,

Dã hạc vô lương Thiên Ðịa khoan.

(Lý Bạch Giáng Bút).

 

 

MỀM

Mềm là không rắn, không cứng, tức dễ biến dạng dưới tác dụng của lực cơ học. Như: Mềm như bún.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Cái ấy định mạng sanh của con người nó là trung tâm điểm của cả cơ thể, khôn ngoan hiển hách của kiếp sống con người, mà là nó ở ngay Nê hoàn cung, tức nhiên nó ở ngay mỏ ác đứa con nít, cho nên con nít đầu nó mới sơ sanh đã mềm, lớn lên mới cứng.

Nhiều cay đắng hưởng làm khôn khéo,

Nhiều đạo đức kêu thế mới mềm.

(Đạo Sử).

Người đời có tánh ưa nịnh hót,

Mình mỏng mềm mới gọt cho trơn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MỀM MỎNG

Mềm: Trong quan hệ đối xử, có những sự nhân nhượng tuỳ theo hoàn cảnh.

Mềm mỏng, như chữ “Mềm mại”, chỉ vóc dáng uyển chuyển, nhẹ nhàng.

Mềm mỏng còn là nhẹ nhàng, khéo léo trong cách nói năng, trong thái độ đối xử, biết lựa cách khiến người không phật ý.

Thánh giáo Thầy dạy trong Thánh Ngôn Sưu Tập có câu: Thầy dặn các con đừng ỷ mình, mà cũng đừng hạ mình, lấy sự mềm mỏng mà oai quyền đối đãi cùng đời.

Linh oai vẻ ngọc là gươm sắc,

Mềm mỏng hình hoa ấy phép tài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thà chịu khổ a vào lạy khống,

Cùng nhạc thân mềm mỏng cầu duyên.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MẾN

Mến là thương, ưa, vì có cảm tình, thích gần gũi, và thấy hợp ý. Như: Mến người, mến cảnh, lòng mến khách, con người trông dễ mến.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Những đấng đàn anh tiền bối trong cửa Ðạo ngày nay dù khuất bóng đã để lại biết bao công trình, bao nhiêu tâm huyết, lao tâm tiêu tứ có khi đến hơi thở cuối cùng, chỉ vì quyết phục vụ nhơn sanh, chỉ vì quá thương Thầy mến Ðạo, quyết lưu lại một chút sự nghiệp cho người sau chung hưởng, đó là những bậc vĩ nhân đạo đức đáng kính mến, đáng tôn thờ.

Hay cho kẻ sĩ biết tu hành,

Hành ấy thì thân chẳng mến danh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cứ mến vinh huê cùng lợi lộc,

Chẳng lo kiếp thác đến gần nơi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

MẾN ANH QUÊN ÉN

Anh én là chim anh (oanh) chim én, hai thứ chim con đực và con cái luôn luôn quấn quít bên nhau, dùng để chỉ đôi lứa trai gái, hay vợ chồng.

Mến anh quên én ý chỉ thương người tình (hay vợ) mới, mà bỏ quên đi người tình cũ (vợ cũ).

Không lẽ nói mến anh quên én,

Không lẽ rằng trộm nén hương thừa.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

MẾN YÊU

Mến: Có cảm tình, thích gần gũi vì hợp ý nhau. Yêu: Có tình cảm thương yêu thắm thiết.

Mến yêu, như chữ “Yêu mến”, là thương mến, tức có tình cảm thân thiết, gắn bó nhau.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Khi ra ngoài xã hội, đối với người đời, về mặt xã giao cùng lúc xử sự, phần cá nhơn của người Chức sắc cũng phải được trong sạch trong mọi phương diện: Không háo thắng, không khoe mình, lúc nào cũng lễ độ, khiêm tốn, hoà hưởn, nhún nhường, sẵn lòng thi ân, tế chúng, thế nào cho mọi người đều mến yêu, kính nể, như vậy mới thâu phục nhơn tâm, đem thắng lợi dễ dàng về cho mình khi thật hành nhiệm vụ trên đường phổ độ.

Ơn xưa ví nhớ Già lao lực,

Khá mến yêu nhau đổi ngọt ngào.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

Đừng ỷ chồng có dạ mến yêu,

Mà khi dể chẳng chiều cha mẹ.

(Phương Tu Đại Đạo).

Khi nào con vợ mến yêu,

Thì anh phòng lúc gặp điều bội ân.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

MẾN LỤC THAM HỒNG

Mến lục: Mến tiếc màu xanh. Tham hồng: Tham màu đỏ, màu hồng.

Mến lục tham hồng, bởi câu “Tích lục tham hồng 惜 綠 貪 紅” là tiếc màu lục, tham màu hồng.

Mến lục tham hồng có ý nói người tiếc màu xanh ham màu đỏ, nghĩa bóng là ham mê, mến tiếc nhan sắc của người phụ nữ.

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du có câu: Nào người phượng chạ loan chung, Nào người tích lục tham hồng là ai?, dùng chỉ ham mê đàn bà con gái đẹp.

Mặc ai mến lục với tham hồng,

Vui phận an cư dưỡng tánh xong.

(Thơ Cao Quỳnh Cư).

 

 

MỀN

Mền là chăn dùng để đắp cho ấm.

Như: Đắp mền, mùng mền chiếu gối, mền len, mền nỉ, mền lông cù.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Thương thay một Đấng Chí Thánh như Ngài (Khổng Tử) mà cũng phải chịu bề thất vọng, bởi gặp buổi đời quá bạo tàn, nên cây quạt và mảnh mền là đạo nhơn nghĩa của Ngài không đủ thế quạt nồng đắp lạnh.

Thương những thuở huyên đường ôm ấp,

Thương những khi co đắp chung mền.

(Kinh Thế Đạo).

Đông lạnh ngắt mảnh mền úm trẻ,

Ngồi đêm trường quạnh quẽ phòng không.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

MÊNH MANG

Mênh mang là chỉ sự rộng lớn đến mức gây cảm giác lờ mờ, mờ mịt, không rõ nét.

Mênh mang đồng nghĩa với chữ “Mênh mông”.

Như: Trời biển mênh mang.

Bể khổ mênh mang lo giải khổ,

Nền công nghiêng ngửa gắng nên công.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Rừng tòng thanh nhã say mùi Đạo,

Bể khổ mênh mang vớt khách trần.

(Thượng Phẩm Giáng Bút).

 

 

MÊNH MÔNG

Mênh mông còn nói là “Minh mông” chỉ sự rộng lớn đến mức gần như không có giới hạn, chỉ cảm thấy mông lung, mờ mịt.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Pháp vận hành mà sanh khí nên ta thấy mênh mông trước mắt ta ấy là Khí, vậy Khí là gì? Khí là khối sanh quang vạn vật nhờ thở khí ấy mà sống, cho nên chữ Khí là sự sống của vạn vật, do Khí là Pháp biến tướng ra vạn vật.

Kìa đường giải khổ mênh mông,

Cậy cây huệ kiếm đoạn vòng gia nô.

(Xuân Hương Giáng Bút).

Đông hải mênh mông còn phải cạn,

Tây hồ chật hẹp độ bao sâu.

(Quyền Giáo Tông).

Tuy là trời đất mênh mông,

Lưới thưa lồng lộng, mảy lông lọt nào.

(Thơ Bảo Pháp).

 

 

MỆNH

Mệnh, còn đọc “Mạng”, là những cái tự trời định mà phú cho con người.

Như: Cùng thông, đắc táng là do mệnh trời, coi mệnh người như cỏ rác.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bần Đạo nói rằng: Cái định mệnh của nhơn loại, cũng như cái định mạng của toàn thể quốc dân Việt Nam, trong giờ phút nầy ở trong tay Đức Chí Tôn và Bần Đạo dám quả quyết rằng: Luật nhơn quả của nhơn loại chưa hết thì chưa tạo hạnh phúc được.

Mệnh thiên giữ vững tay cầm,

Đoạt phương tự diệt giải phần hữu sanh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

MỆNH BẠC

命 薄

Mệnh: Số mệnh. Bạc: Mỏng, mong manh.

Mệnh bạc là mạng số mỏng manh, bạc bẽo.

Tô Thức có nói rằng: Tự cổ giai nhân đa bạc mệnh 自 古 佳 人 多 薄 命, nghĩa là tự nghìn xưa giai nhân đều bạc mệnh.

Xem: Bạc mệnh.

Đất vàng đã sạm cùng mưa nắng,

Mệnh bạc cam vùi dưới tuyết sương.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

MỆNH LỆNH

命 令

Mệnh (mạng): Vua bảo với bề tôi. Lệnh (lịnh): Bề tôi vâng lời thi hành mệnh của nhà vua.

Mệnh lệnh là lời truyền bảo, sai khiến, ý nói cấp trên ra lịnh đối với cấp dưới.

Như: Tuân theo mệnh lệnh của nhà vua, mệnh lệnh của Đức Chí Tôn ban xuống.

Đây có lắm anh hào rắp đến,

Lập cho thành mệnh lệnh Tam Toà.

(Ngũ Nương Giáng Bút).

 

 

MỆNH PHỤ PHU NHÂN

命 婦 夫 人

Mệnh phụ: Người đàn bà được phong phẩm tước do chồng là vương hầu hoặc làm quan to. Phu nhân: Chỉ người vợ.

Mệnh phụ phu nhân là những người đàn bà có chồng làm quan, nên được phong phẩm.

Theo quan chế đời nhà Thanh và đời Nguyễn tại Việt Nam thì các mệnh phụ là:

Nhứt phẩm và Nhị phẩm gọi là Phu nhân 夫 人 (Phu: Phò trợ).

Tam phẩm gọi là Thục nhân 淑 人 (Thục: Hiền thục).

Tứ phẩm gọi Cung nhân 躬 人 (Cung: Kính nhường).

Ngũ phẩm gọi Nghi nhân 宜 人 (Nghi: Đương nhiên).

Lục phẩm gọi An nhân 安 人 (An: Hoà lặng).

Thất phẩm gọi Nhụ nhân 孺 人 (Nhụ: Thanh nhã).

Phẩm mệnh phụ phu nhân trọng đại,

Vợ Châu Công sửa dải mũ chồng.

(Báo Ân Từ).

 

 

MỆNH SỐ

命 數

Mệnh (mạng): Cái do Trời định, không phải sức người miễn cưỡng được. Số: Vận mệnh.

Mệnh số, như chữ “Số mệnh”, là chỉ vận mệnh của một đời người.

Như: Con người không ai cải được mệnh số.

Bỗng tiếng sấm gần bên tai nổ,

Nghe tin chàng mệnh số du Tiên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

MỆT

Mệt là nhọc, mỏi, không khoẻ. Như: Thức khuya mệt người, hết sốt nhưng người còn mệt.

Thánh giáo Đức Chơn Cực Lão Sư có câu: Phương chi ràng buộc hình hài, thần hao trí mệt cả ngày, rốt lại còn chi tráng kiện mà xa lo rộng nghĩ?

Ngày lại tháng qua đời chóng chạy,

Chạy quanh chưa mệt đã qua ngày.

(Đạo Sử).

Lo dòm sắc coi chừng khoẻ mệt,

Coi miếng ăn, ăn hết ăn còn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MỆT LỬ

Mệt: Nhọc, mỏi, không khoẻ.

Mệt lử là mệt đến mức thân người như rã rời, không còn hơi sức nào nữa, mệt lả người.

Như: Tát nước ruộng mấy ngày liền, người mệt lử.

Nhìn việc nước bộng bàng thế sự,

Xót tình nhà mệt lử ngày đêm.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

MỆT MỜ

Mệt: Như chữ “Mịt”, là đặc, tối mịt. Mờ: Ánh sáng yếu ớt, không đủ sức chiếu tỏ các vật chung quanh.

Mệt mờ, như chữ “Mịt mờ”, là mờ đi đến mức không còn nhìn thấy rõ được nữa.

Mệt mờ còn có nghĩa không có gì sáng sủa, hay không thấy có hy vọng gì.

Xem: Mịt mờ.

Xuân mệt mờ bao nhiêu cảnh ủ,

Cụm rừng tòng lá xủ tranh sầu.

(Thanh Tâm Tài Nữ).

 

 

MỆT NHỌC

Mệt: Có cảm giác sức lực bị tiêu hao quá mức, muốn nghỉ ngơi. Nhọc: Cảm thấy mệt, khó chịu trong người vì phải bỏ nhiều sức lực, phải vất vả.

Mệt nhọc là mệt, nhọc nhằn vì phải bỏ nhiều công sức cho công việc.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Ðó là người có chí kinh doanh và có tư cách sinh hoạt lương thiện dù trong thời bình họ cũng thận trọng không tỏ ra cử chỉ ngông cuồng phung phí vô lối, trừ ra những hạng người làm tiền không mệt nhọc bóc lột dân chúng muôn phương ngàn kế hoặc ngồi không chia của, lập sản nghiệp trên xương máu của đồng bào, họ mới thung dung quăng tiền qua cửa sổ, để phô trương sự giàu có dù trong thời bình hay thời loạn.

Một kiếp muối dưa muôn kiếp hưởng,

Đôi năm mệt nhọc vạn năm bường.

(Đạo Sử).

 

 

là rìa, mép ngoài cùng của một cái gì.

Như: Nhà gần mí làng, đứng sát mí phố đợi xe, kéo mí mền đắp lên đầu.

Pháp Chánh Truyền Chú Giải có câu: Lễ Sanh nữ phái mặc Đạo phục như Giáo Hữu, nhưng choàng ngang trên đầu một đoạn vải mỏng, cột ra sau ót, thả một dài một mí vắn, ngay đầu tóc có giắt một bông sen.

Ðặng phải vậy, ba con bưng lên cho Thầy chỉ hai giáp mối, con coi theo cây viết mà làm theo.

(Đạo Sử).

 

 

MỊ

1.- Mị là yêu mến, nịnh hót, lấy nhan sắc và lời nói để người ta mê.

Như: Mị nhân, xảo mị, xu mị, xiểm mị.

Huyền diệu mũi kim qua chẳng lọt,

Ðừng đừng xảo mị gọi tài tình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Mị là ngủ say, giấc ngủ. Như: Mộng mị.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Còn bên Âu Châu nói nhờ Machiavel giả dối mà nước Ý mới tồn tại, đó là mộng mị không phải chơn thật không một người nào, một cơ nghiệp nào sản xuất trong sự giả dối mà tồn tại được.

Thế trần mộng mị có ra chi,

Giành giựt rồi qua hỏi được gì.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Mị là ma quỷ.

Như: Quỷ mị, tà mị, trừ tà diệt mị.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có dạy: Hiền hữu ráng mà trừ tà diệt mị cùng Lão, kẻo ngày sau tránh không qua lời tiên tri của Lão đa nghe.

Kẻ vì mị đoái hoài giả Đạo,

Kẻ hay tin quái giáo gây trò.

(Nguyệt Tâm Chơn Nhơn).

mị phàm rung rinh Thánh chất,

Mùa màng sâu phá hoại hồn kinh.

(Thơ Thượng Phẩm).

 

 

MỈA MAI

Mỉa: Giễu cợt bằng cách nói cạnh khóe hoặc nói ngược lại điều ai cũng thấy rõ.

Mỉa mai là mỉa bằng cách nói ngược lại với ý mà mình muốn cho người ta hiểu.

Như: Giọng anh ta nói một cách mỉa mai, nụ cười mỉa mai của chị làm cho người khác khó chịu.

Ðời càng trăm đắng ngàn cay,

Ðời càng lắm giọng mỉa mai nịnh tà.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

MÍCH

Mích, như chữ “Mếch”, là lệch, không được cân. Như: Mích lòng, mích bụng.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Quan Âm Như Lai có đoạn: Còn gia đình chẳng hoà thì cha con mích nhau, chồng vợ lìa tan, anh em ly tán. Còn trong lân lý chẳng hoà thì dân cư bất mục. Nước chẳng hoà thì sanh ly loạn. Còn cả thế giới bất hoà thì nhơn loại đấu tranh.

Bán lấy lời đặng bỏ hồ bao,

Làm mích bụng ngày sau người chẳng đến.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MÍCH BỤNG

Mích (mếch): Không vui, không vừa lòng. Bụng: Nói chung về tâm lý, tính tình con người.

Mích bụng, như chữ “Mếch bụng”, là có điều không vừa bụng, không vui lòng, vì cảm thấy bị chạm tự ái.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Chúng ta chờ để coi nó tượng hình ra sao cho biết, huống chi làm Đạo là cốt yếu dung hoà tâm lý cần gì phải tìm chánh sách để xen vào sửa cải chủ quyền của người cho mích bụng.

Lời ngay mích bụng dạ đừng nao,

Mong mỏi đường theo cửa Ðạo vào.

(Đạo Sử).

 

 

MÍCH LÒNG

Hay “Mếch lòng”.

Mích (mếch): Không vui, không vừa lòng. Lòng: Lòng, dạ.

Mích lòng, như chữ “Mếch lòng”, là gây phật ý, phiền lòng, hay điều không vui với người khác.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Thầy có câu: Thầy cám ơn con, nhưng mọi điều con làm cũng nên xét nét trước. Thầy dặn con, thà là con mích lòng một đứa mà đặng bụng muôn người. Thầy chỉ xin con lấy chơn tâm mà định đoạt.

Bần Đạo không cần luận e mích lòng thiên hạ, chỉ nói rằng: Không phải họ đang mong mỏi điều ấy.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

MỊCH TẦM

覓 尋

Mịch: Dò kiếm, tìm tòi. Tầm: Kiếm.

Mịch tầm là tìm kiếm.

Danh không chác, lợi không ham,

Văn hoá ngày xưa gắng mịch tầm.

(Bảo Văn Pháp Quân).

 

 

MIÊN MIÊN THÁI BÌNH

綿 綿 太 平

Miên miên: Mãi mãi, dài lâu. Thái bình: Rất bình yên, rất thạnh trị.

Miên miên thái bình là nói đất nước mãi mãi được yên ổn, an lạc.

Đương sanh hạnh hưởng phước duyên,

Trong nhà già trẻ miên miên thái bình.

(Kinh Sám Hối Ngắn).

 

 

MIÊN TRÀNG

Hay “Miên trường”.

Miên: Mãi mãi. Tràng (trường): Dài, dài lâu.

Miên tràng, như chữ “Miên trường 綿 長”, là dài mãi không cùng, tức kéo dài thêm mãi mãi.

Xem: Miên trường.

Nhân sự muôn điều là giả cuộc,

Đời xuân mộng ảo chẳng miên tràng.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

MIÊN TRƯỜNG

綿 長

Miên: Mãi mãi. Trường: Dài, dài lâu.

Miên trường là dài lâu, ý nói thời gian kéo dài thêm mãi mãi, không cùng.

Như: Phúc lộc miên trường.

Miên trường có một nẻo là tu,

Thương đám nhơn sanh nhẫn viết mù.

(Đạo Sử).

Những tưởng miên trường nơi cõi tạm,

Nào ngờ trực vãng chốn non thiêng.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

MIỀN

Miền là vùng, chốn. Như: Miền rừng, miền biển, miền ngược, miền Âm cảnh.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Toà Thánh là cội nguồn, ngày nào được sừng sựng đứng vững nêu trên miền Tây Vức nầy, ấy là ngày họ cầu thỉnh các đạo hữu đó.

Miền Âm cảnh nhiều thay hình lạ,

Cõi dương trần tội quá dẫy đầy.

(Kinh Sám Hối).

Càng ngó trái lại miền thế tục,

Lụy nhỏ dầm đòi khúc lòng đau.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

MIỄN

1.- Miễn là một từ Nôm có nghĩa chỉ cần. Như: Đi đâu cũng được miễn về đúng giờ.

Thánh giáo Thầy có dạy: Nếu làm Tiên, Phật đặng dễ dàng thì cả thế gian, miễn có học chút ít thì đã đặng làm Tiên, Phật rồi, vì luân hồi đâu có phòng sanh sanh tử tử.

Nại chi xác yếu thịt mòn,

Gia tư miễn đặng vuông tròn giữ duyên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Sự sướng cực đừng cho thiếu sót,

Miễn mọi điều đừng lọt tay mình.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Miễn là một từ Việt Hán, có nghĩa là gắng sức, hay cố gắng.

Như: Miễn lễ, miễn lực (gắng sức), miễn cưỡng (gắng gượng), miễn hành (gượng đi).

Lạc hứng khấu cung giai miễn lễ,

Thoát tai bá tánh ngưỡng Ân sinh.

(Bài Dâng Rượu).

 

 

MIỄN CƯỠNG

勉 強

Miễn: Gắng sức, khuyên người gắng sức. Cưỡng: Gượng gạo, không tự nhiên.

Miễn cưỡng là gắng gượng, tức có ý không vừa lòng khi buộc phải làm việc mà mình không muốn.

Như: Nghe lời một cách miễn cưỡng.

Cái lòng yêu đó biểu lộ tự nhiên theo tiếng gọi của lương tâm, không có miễn cưỡng chút nào mà cũng không do ai xúi giục.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

MIỄN CHIẾN BÀI

免 戰 牌

Miễn chiến: Không chiến đấu, không đánh nhau. Bài: Cái thẻ hay cái bảng.

Miễn chiến bài là tấm bảng nhỏ, trong có đề hai chữ miễn chiến, để treo trước dinh trại khi không muốn giao chiến với nhau nữa.

Thằng hờn đá đánh ông Quan Võ,

Ðứa giận ném quăng miễn chiến bài.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

MIỄN LỄ

Miễn: Khỏi, tha cho. Miễn: Cố gắng, gắng sức. Lễ: Lễ nghi, làm lễ.

1.- Miễn lễ 免 禮 là cho phép khỏi phải giữ phép tắc lễ nghi.

Như: Thầy giáo đã miễn lễ cho học sinh khỏi đứng chờ đợi ngoài cửa.

Lão đến tư đường của Hộ Pháp nên cho miễn lễ, đứng hết.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

2.- Miễn lễ 勉 禮 là gắng sức, hay cố gắng để làm lễ.

Lạc hứng khấu cung giai miễn lễ,

Thoát tai bá tánh ngưỡng Ân sinh.

(Bài Dâng Rượu).

 

 

MIẾNG

1.- Miếng là phần nhỏ được tách ra khối vật thể lớn. Như: Miếng cơm, miếng cá, miếng thịt, miếng giấy, áo vá một miếng ở vai, miếng đất trồng hành.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Ðặng bậc Chí Tôn cầm quyền thế giới dìu dắt, rửa lỗi, mà chẳng bươn chải cho kịp thì, để đua nhau nghĩ tính về miếng đỉnh chung, nếu Thầy chẳng đại từ đại bi thì công quả đã chảy theo dòng nước.

Đầu cúi lạy phụ thân linh hiển,

Lễ muối dưa làm miếng hiếu tâm.

(Kinh Thế Đạo).

Thân nhau từ buổi lọt lòng,

Chén cơm miếng cá cũng đồng chia nhau.

(Kinh Thế Đạo).

2.- Miếng là cái ăn, chỉ lượng thức ăn vừa để vào miệng cho mỗi lần ăn. Như: Miếng ngon vật lạ, ăn vài miếng lót dạ, miếng cơm manh áo.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Ðời chuộng sang vinh, Ðạo chuộng khổ hạnh, Ðời ham trược phú, Ðạo giữ thanh bần, lên xe xuống ngựa chốn phồn hoa là cảnh áo bả hài gai nơi tịnh xá, tương dưa thanh đạm chốn thiền môn, để mặc miếng mỹ vị cao lương ngoài quán tục.

Ðài các chưa từng miếng ngọt ngon,

Rán công hậu kiếp đặng vuông tròn.

(Đạo Sử).

Hằng ngày dâng miếng ngọt mùi lành,

Đền bù thuở nhọc nhằn già lúc trước.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MIỂNG

Miểng là mảnh vỡ của sành, sử, thuỷ tinh, hoặc mảnh vỡ của kim loại bị bắn ra từ những trái nổ.

Như: Miểng bát, miểng chai, miểng bôm, miểng đạn.

Thương đồng loại cũng hơn thí bạc,

Thấy trên đường miểng bát, miểng chai.

(Kinh Sám Hối).

 

 

MIỆNG

1.- Miệng là bộ phận ở mặt dùng để ăn, để nói, để kêu của loài người và loài vật.

Thánh giáo Thầy dạy Ngài Thượng Trung Nhựt có đoạn: Đã thọ mạng nơi Thầy, con đi đâu Thầy theo đó. Lời đạo đức trong miệng con nói ra, ấy là lời Thầy bố hoá tâm trí con đặng đi truyền đạo, tuỳ cơ mà dạy kẻ, một mình con đâu đủ sức phục người.

Chi bẳng một bầu đầy nhựt nguyệt,

Thông minh miệng thế mặc dò đon.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Miệng ăn quá sức tay làm,

Thê nhi thiếu kém thân phàm chẳng no.

(Ngụ Đời).

Ðòi lúc phân vân đời vẫn thế,

Màng chi miệng độc để chê khen.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Miệng nghĩa rộng là chỗ mở ra, chỗ hở ra ngoài của một vật gì.

Như: Miệng nồi, miệng giếng, nhét nút miệng chai, kiến bò miệng chén.

Đừng than rằng mạng bạc như vôi,

Mua vung chẳng nhắm nồi miệng méo.

(Phương Tu Đại Đạo).

Sức bò miệng chén tuy không mấy,

Mà chí cần lao đến tuyệt vời.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

MIỆNG CHÁNH THÌ ĐỜI VỐN TRÁI TAI

Miệng chánh (chính): Miệng nói ra lời chánh trực. Đời vốn trái tai: Người đời nghe vốn trái tai.

Miệng chánh thì đời vốn trái tai ý muốn chỉ người nói ra lời chánh trực thì khiến người đời nghe phải trái tai.

Thật vậy, tục ngữ ta có câu: “Thẳng mực Tàu đau lòng gỗ”, tức lời nói thẳng sẽ mất lòng người khác.

Bề trong ngay thẳng tỏ bề ngoài,

Miệng chánh thì đời vốn trái tai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

MIỆNG MẬT GƯƠM LÒNG

Miệng mật: Miệng nói như mật ngọt. Gươm lòng: Lòng hiểm tựa gươm đao.

Miệng mật gươm lòng, như chữ “Khẩu mật tâm đao 口 蜜 心 刀”, hoặc “Khẩu mật phúc kiếm 口 蜜 腹 劍”, tức là miệng nói ngọt ngào như mật mà trong lòng hung hiểm, độc ác tợ gươm đao.

Miệng mật gươm lòng che tội ác,

Kim ong nọc rắn giả hiền lương.

(Thơ Thượng Thời Thanh).

 

 

MIỆNG NGAY LÒNG VẠY

Miệng ngay: Miệng nói thì chơn chánh, ngay thẳng. Lòng vạy: Trong lòng thì vạy tà.

Miệng ngay lòng vạy là miệng nói ngay thật, mà lòng dạ vạy tà, chỉ những hạng người ngoài miệng ăn nói đàng hoàng, ngay thẳng mà trong lòng thì gian tà xảo trá.

Lại có kẻ miệng ngay lòng vạy,

Tởi làm chùa, dối cậy in kinh.

(Kinh Sám Hối).

 

 

MIỆNG NGỌT LÒNG CHUA

Miệng ngọt: Miệng ăn nói ngọt ngào. Lòng chua: Trong lòng lại chua chát.

Miệng ngọt lòng chua, đồng nghĩa với câu: “Miệng mật gươm lòng”, ý chỉ ngoài miệng thì ngọt ngào, mà trong lòng thì chua chát, độc dữ.

Miệng ngọt lòng chua ai dễ thấu,

Chen vào tội chướng mất an nhàn.

(Đạo Sử).

 

 

MIỆT MÀI

Miệt: Bởi chữ Miết là cố làm mãi, không ngừng. Mài: Mài dũa.

Miệt mài là say mê theo, cố làm mãi.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Giá trị của nhơn loại thử trong cảnh khổ của họ tìm, Bần Đạo không chối là do sự cố gắng miệt mài của họ, đã đo được bước đường tấn hoá, họ đạt đến thời đại văn minh, thời kỳ nguyên tử lực, họ bay lên Trời được, lặn xuống nước được, họ có thể tiêu diệt trái địa cầu này được.

Sanh tử miệt mài chưa thoát lối,

Lợi danh buộc trói chẳng xa vòng.

(Thơ Tiếp Đạo).

Địa phương đắc lịnh cần thi thố,

Thiên chức gia tâm cố miệt mài.

(Thơ Võ Thành Lượng).

 

 

MIÊU DUỆ

苗 裔

Miêu: Mầm mống, ngọn, sau rốt. Duệ: Dòng dõi.

Miêu duệ là dòng dõi, ý chỉ con cháu cùng huyết thống làm thành các thế hệ kế tiếp nhau, kế thừa và phát triển những truyền thống chung.

Như: Miêu duệ miên trường.

Trăm trứng Tiên Long gầy xã tắc,

Một lòng miêu duệ giữ biên cương.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

MIẾU ĐÀNG

Miếu: Nơi thờ phụng tổ tiên. Đàng (đường): Nhà thờ.

Miếu đàng, như chữ “Miếu đường 廟 堂”, là chỉ nơi tôn miếu của nhà vua, nơi ngự của các vị vua quá vãng.

Miếu đàng (đường) còn dùng để chỉ hồn nước hay triều đình.

Xem: Miếu đường.

Mày râu đứng giữa cõi trần gian,

Gắng sức chống cho vững miếu đàng.

(Giới Tâm Kinh).

Vẽ tươi Quốc sử loà cương thổ,

Đánh tỉnh hồn dân dựng miếu đàng.

(Thơ Chánh Đức).

 

 

MIẾU ĐƯỜNG

廟 堂

1.- Miếu: Nơi thờ phụng tổ tiên. Đường: Nhà thờ.

Miếu đường chỉ nơi thờ phụng ông bà, tổ tiên.

Gầy sự nghiệp tổ tiên ngày trước,

Dựng miếu đường hưởng phước tự do.

(Cửu Nương Giáng Bút).

2.- Miếu đường còn dùng để chỉ nơi tôn miếu của nhà vua, nơi ngự của các vị vua quá vãng.

Miếu đườmg, đồng nghĩa với thái miếu 太 廟, thế miếu 世 廟, tông miếu 宗 廟, tất cả đều chỉ nơi thờ tự Tổ tiên dòng họ của nhà vua.

Miếu đường còn dùng để chỉ triều đình.

Sống thì định bá đồ vương,

Quy Thiên dựng lại miếu đường thuở xưa.

(Kinh Thế Đạo).

Bắc Nam hiệp Tổ Hùng Vương,

Xúm nhau nâng nổi miếu đường Việt Nam.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

MỈM CƯỜI

Mỉm: Hơi nhếch mép và chúm môi lại. Cười: Nhếch môi, miệng đồng thời phát ra tiếng để biểu lộ sự vui hay sự thích thú.

Mỉm cười là hơi nhếch mép cười, không thành tiếng.

Như: Anh ấy cười mỉm, thằng bé bị trợt té cha mẹ nó mỉm cười.

Nghe vừa dứt mỉm cười hạc đáp,

Cái sự đời cao thấp tự nhiên.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

MỈM MÔI

Mỉm: Hơi nhếch mép và chúm môi lại cười. Môi: Nếp thịt làm thành cửa miệng.

Mỉm môi là cười mỉm, tức không hở môi, chỉ nhếch mép một tý để cười không thành tiếng.

Như: Mỉm môi cười.

Gà nghe nói chẳng cần suy nghĩ,

Mỉm môi cười ngỏ ý chê bai.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

MINH

1.- Minh là sáng, rõ. Như: Xét đoán rất công minh, minh bạch, minh mẫn, minh quân, thông minh.

Thánh giáo Thầy có câu: Lằn tang thương gần khởi, đường đạo đức chớ dần dà, công vẹt ngút mây xanh của các con sẽ làm cho sáng sủa bạch minh, cho bước đàng sau nầy do theo dấu ấy mà lần đến cõi vô ưu, để bước khỏi lối nhọc nhằn ban sơ khai dẫn.

Ðạo đời tua biết rằng đời trọng,

Một điểm quang minh một điểm linh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Lòng thành một tấm Trời soi xét,

Gương rạng nghìn thu nguyệt chiếu minh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Minh là thề nguyền, tức là thề để nói lên lời nguyện ước với nhau. Như: Minh thệ.

Thánh giáo Thầy có câu: Chúng nó (chỉ quỷ vương) hiệp Tam thập lục Ðộng toan hại các con, nên Thầy sai Quan Thánh và Quan Âm đến gìn giữ các con, nhưng phần đông chưa lập Minh thệ, nên chư Thần,Thánh, Tiên, Phật không muốn nhìn nhận.

Khêu cành lỡ hẹn lời chung thuỷ,

Giữ dạ cho tròn nghĩa thệ minh.

(Thơ Thuần Đức).

Tu câu minh thệ gìn trung thứ,

Tỉnh mộng xu thời hướng ngoại lai.

(Thơ Huệ Phong).

3.- Minh là kêu, không đứng một mình.

Như: Viết đơn để minh oan trước toà án, Lôi Âm Cổ khởi Bạch Ngọc Chung minh.

Khải tịch nhược hoài thiên tứ cổ,

Chung minh bán điểm khẩn Từ Bi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

4.- Minh là mờ tối. Như: U minh 幽 暝 là nơi sâu kín tối tăm, chỉ cõi Âm phủ.

U minh còn dùng để chỉ Đại hồng chung, một loại chuông to, có giá treo, miệng quay xuống đất.

Một tiếng U minh gióng cửa không,

Phồn hoa giục tỉnh giấc đương nồng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tiếng U minh tía lia gợi thảm,

Giọng kình khua cửa phạm dập dồn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

5.- Minh là mờ mịt, rộng rãi, bát ngát, không dùng một mình.

Như: Minh mông, minh mạc 溟 漠 là mờ mịt bát ngát không thấy bờ bến.

Minh mông Trời Ðất còn không lọt,

Huống lấp tội tình khỏi lưới giăng.

(Đạo Sử).

 

 

MINH CANG LIÊM KHIẾT

Hay “Minh Cương Liêm Khiết”.

Minh: Sáng suốt. Cang (cương): Cứng cỏi, dũng cảm. Liêm: Thanh liêm, ngay thẳng, không tham của người. Khiết: Trong sạch.

Minh, Cang, Liêm, Khiết, như chữ “Minh, Cương, Liêm Kết 明 剛 廉 潔”, là những đức tính tốt đẹp của con người, đó là sáng suốt, dũng cảm, ngay thẳng và trong sạch. Nhờ bốn đức tính nầy mà con người có thể thành công trong đường Đời và đường Đạo.

Do bốn chữ: Minh, Cang, Liêm, Khiết,

Đạo hay đời trăm việc cũng thành.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

Dầu Ðạo hay Ðời muốn trọn nên,

Minh, Cang, Liêm, Khiết gắng công rèn.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

MINH CẢNH ĐÀI

明 鏡 臺

Hay “Minh cảnh”.

Minh: Sáng. Cảnh: Còn đọc kính, là cái gương. Đài: Nơi xây cất cao lên.

Minh cảnh hay “Minh kính đài 明 鏡 臺” là một tấm gương sáng rất huyền diệu nơi cõi Thiêng liêng. Khi một chơn hồn đứng trước tấm gương ấy thì sẽ thấy hiện ra những hành vi hay ngôn ngữ mà chơn hồn đã gây ra nơi cõi trần trong kiếp sanh.

Trong Thuyết đạo về Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống của Đức Hộ Pháp, Ngài nói: Chúng ta thấy mình chẳng khác nào như khán giả đứng trước đài kia coi lại cả kiếp sanh của chúng ta từ trước, nó sẽ có trước mắt chúng ta không điều gì sót, phải chăng nơi ấy kinh Phật nói là Minh cảnh đài?

Xem: Đài Chiếu Giám.

1.- Minh Cảnh Đài:

Rơi hoa, rụng lá tiếc cho cành,

Minh cảnh đài nêu rõ bóng anh.

(Thơ Hàn Sinh).

2.- Minh cảnh:

Dưới bóng trăng thanh dầu lánh tội,

Trước gương Minh cảnh có liên can.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Minh cảnh hiện chiếu tỏ tường,

Kiếp sanh quay lại cũng dường cuồn phim.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

MINH CHÁNH

Hay “Minh chính”.

Minh: Trong sáng. Chánh (chính): Ngay thẳng.

Minh chánh, như chữ “Minh chính 明 正”, là trong sáng, ngay thẳng.

Lý Giáo Tông đã dạy trong Thánh Ngôn Sưu Tập: Đạo hữu đã để tấc thành vào nền Đạo, nhưng nên ngăn ngừa các tánh chất bất công của nhiều Đạo hữu và phải năng xem Thánh Ngôn của Đức Từ Bi đã dạy trong lúc lập Tân Luật, hầu day trở cho minh chánh trong đường Đạo.

Gìn lòng ngay thẳng thật thà,

Nói năng minh chánh lời ra phải nhìn.

(Kinh Sám Hối).

Cơ huyền diệu Đạo cao minh chánh,

Hiển phép mầu ma lánh quỷ kiêng.

(Xưng Tụng Công Đức).

Nếu quả dữ răn cùng hiền thưởng,

Mới hay minh chánh cái quyền Trời.

(Đạo Sử).

 

 

MINH ĐOÁN

明 斷

Minh: Sáng, rõ ràng, sáng suốt. Đoán: Phán đoán, suy lường mà nói trước.

Minh đoán là phán đoán một cách sáng suốt, rõ ràng.

Như: Làm bất cứ việc gì trước phải minh đoán chuyện sẽ xảy ra.

Nếu chúng ta không có đởm tâm lệu mình tự xử thì có mong chi minh đoán cùng ai.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

MINH ĐỨC

明 德

Minh đức là cái đức sáng.

1.- Minh đức là chữ trong sách Đại Học: Đại học chi đạo, tại minh minh đức 大 學 之 道, 在 明 明 德, nghĩa là đạo của đại học dạy cho người ta phải tu thân làm sáng cái đức sáng của mình.

Minh đức là cái đức sáng, nhờ cái đức sáng nầy mà người ta có thể nhận thấy rõ ràng những vấn đề mù tối bằng trực giác. Thực vậy, con người vì bị tiêm nhiễm vật chất, lục dục thất tình nên cái minh đức thường bị lu lờ. Vì vậy, con người cần phải chuyên tâm trau dồi cái đức sáng của mình để nhận định và hành động cho phù hợp với Thiên lý.

Muốn là sáng cái minh đức thì cần phải chuyên cần luyện tập tư duy để phán đoán những điều hợp với đạo đức mà theo và xa lánh những điều lầm lạc, tà vạy.

Mừng vui nhân vật thảnh thơi,

Tạo thành minh đức lập đời tân dân.

(Thơ Thông Quang).

2.- Minh Đức còn là một phẩm trong Thập Nhị Đẳng Cấp Thiêng Liêng thuộc Cơ Quan Phước Thiện của Đạo Cao Đài. Minh Đức là phẩm chót nhứt, trên nữa là phẩm Tân Dân, Hành Thiện, Giáo Thiện,...

Theo Luật Cầu phong: Bậc Minh Đức muốn lên bậc Tân Dân thì phải có ba năm công nghiệp đầy đủ với chức trách, phải có tờ kiết chứng công nghiệp, tờ khai tánh đức tốt, trường trai và tư cách xứng đáng mới đặng dự vào sổ cầu phong.

Ngôi Phật Tử là hàng cao nhứt,

Còn dưới thì Minh Đức, Tân Dân.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

MINH ĐỨC TÂN DÂN

明 德 新 民

Minh đức tân dân được trích ra trong sách “Đại Học”: Đại Học chi Đạo tại minh Minh đức, tại Tân dân, tại chỉ ư Chí thiện 大 學 之 道 在 明 明 德 在 新 民 在 止 於 至 善” nghĩa là đạo của Đại Học ở chỗ làm cho sáng tỏ cái đức sáng, ở chỗ làm cho con người đổi mới luôn luôn, ở chỗ lo cho đến hoàn toàn tốt mới thôi.

Đạo Cao Đài có tôn chỉ là Nho tông chuyển thế, nên chữ “Minh đức, Tân dân” thường dùng để chỉ đời Thánh đức.

Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp có câu: Quốc dân Việt Nam có một phần người thiếu đức tin về Ðạo Cao Ðài, họ chẳng tin rằng Trời khai Ðạo để tạo Ðời, lập Minh Ðức Tân Dân, tức là một Cơ Quan Cứu Thế, làm cho vạn loại hoà bình càn khôn an tịnh, tránh khỏi sự cạnh tranh giết hại lẫn nhau.

Mừng vui nhân vật thảnh thơi,

Tạo thành Minh đức, lập đời Tân dân.

(Long Hoa Hội).

 

 

MINH ĐƯỜNG

明 堂

Minh Đường là một chi trong Ngũ Chi Minh Đạo, gồm có: Minh Đường, Minh Sư, Minh Lý, Minh Thiện, Minh Tân.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có dạy Ngài Đầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt trong đàn cơ ở Vĩnh Nguyên Tự như sau: Lịch, mời chư môn đệ Minh Đường của Thầy ra nghe dạy...

Như vậy, Ðức Chí Tôn gọi những vị tu theo pháp môn của Ngài Lê Văn Tiểng tại Vĩnh Nguyên Tự là Minh Đường. Những vị nầy vâng lời Ðức Như Ý Ðạo Thoàn Chơn Nhơn (tức Ngài Lê Văn Tiểng) giáng cơ khuyên nhập môn vào nền Đại Đạo.

Ðêm nay Bần Ðạo giảng câu triết lý Ðại từ, Ðại bi. Câu triết lý ấy nguyên bổn của nó do nơi Minh Ðường, Minh Sư đã thuyết giáo...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

MINH GIÁM

明 鑑

Minh: Sáng, rõ ràng. Giám: Xem xét, làm gương.

Minh giám là xem xét một cách rõ ràng, sáng suốt.

Minh giám còn có nghĩa lấy người đó hay việc đó để làm tấm gương sáng cho mọi người.

Thiên bàn Thầy ngự cầu minh giám,

Tổ án Tiên linh nguyện chứng lòng.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

MINH HUỆ

明 慧

Minh: Sáng, sáng suốt, rõ ràng. Huệ: sáng suốt, thông hiểu sự lý.

Minh huệ là sáng suốt, thông hiểu sự lý.

Con đường minh huệ là con đường tu hành để đạt được trí huệ, tức con đường đắc đạo.

Khá biết thời thế lần vào nương dựa bóng thái dương, để bước vào con đường minh huệ...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

MINH KHÍ

明 氣

Minh: Sáng, sáng suốt, rõ ràng. Khí: Chất khí, ở đây chỉ khí sanh quang.

Minh khí là chất khí sáng, chất khí toả ra ánh sáng.

Vòng minh khí là vòng tròn có những tia sáng toả ra, tượng trưng cho khí sanh quang.

Trong Đạo Cao Đài, khi vẽ những hình Thiên Nhãn để tượng trưng cho Đức Chí Tôn đều được vẽ trong vòng minh khí, ý nói Đức Chí Tôn tạo ra khí sanh quang nuôi dưỡng sự sống cho vạn vật trong Càn khôn Vũ trụ.

Cái Kim Cô có choàng từ đầu tới gót, đội mão Phương Thiên, trên chót Phương Thiên ngang đầu tóc có Thiên nhãn Thầy bao quanh một vòng Minh Khí...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

MINH LÝ

明 理

Minh Lý là hay “Minh Lý Đạo 明 理 道” là một chi trong Ngũ Chi Minh Đạo, trụ sở chánh hiện nay đặt tại Tam Tông Miếu ở đường Cao Thắng, Sàigòn.

Đạo Minh Lý khai sáng vào ngày 27 tháng 11 năm Giáp Tý (Dl. 23-12-1924), thờ Thượng Đế và Tam vị Giáo Chủ là Đức Thích Ca Mâu Ni, Thái Thượng Lão Quân và Khổng Thánh Tiên Sư.

Thuở mới khai đạo, Ðức Chí Tôn dạy Hội Thánh Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ đến Tam Tông Miếu thỉnh các bài kinh như: Niệm Hương, Khai Kinh, Kinh Sám Hối, Kinh Cầu Siêu, Kinh Tán Tụng Công Ðức Thần, Thánh, Tiên, Phật về làm kinh của Đạo Cao Đài.

Con biết Ngũ Chi: Minh Đường, Minh Sư, Minh Tân, Minh Lý, Minh Thiện, cũng đều do nơi Phật pháp mà ra.

(Thánh Giáo Chí Tôn).

 

 

MINH MẪN

明 敏

Minh: Sáng suốt. Mẫn: Lanh lợi.

Minh mẫn là sáng suốt lanh lợi.

Thánh giáo Tiêu Sơn Đạo Sĩ có câu: Ðạo chưa yên là tại người hành đạo kém bề hạnh đức; kẻ được hạnh mất phần minh mẫn; người thông hiểu Ðạo kém đức, thiếu khiêm cung; kẻ trọn tâm thành, mạnh phần ham danh lợi.

Rửa sạch lòng trong nhờ nước Thánh,

Soi lòng minh mẫn phải nhờ đèn.

(Đạo Sử).

 

 

MINH MÔNG

Hay “Mênh mông”.

Minh mông, như chữ “mênh mông”, là chỉ sự rộng lớn vô cùng, đến mức gần như không có giới hạn.

Xem: Mênh mông.

Minh mông Trời Ðất còn không lọt,

Huống lấp tội tình khỏi lưới giăng.

(Đạo Sử).

 

 

MINH QUANG

明 光

Minh: Sáng, sáng suốt, rõ ràng. Quang: Sáng.

Minh quang, như chữ “Quang minh 光 明”, là sáng sủa, rõ ràng.

Thánh giáo Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng có dạy: Bần Đạo khuyên khá hết dạ kỉnh thành mà vọng ngưỡng nơi Ðấng Chí Tôn, thì con đường được thung dung đầm ấm, chí ư đem hoạ cỏn con biến đổi trong gia đình mà so sánh trành tròn với đức háo sanh của Tạo hoá, thì đường đạo đức minh quang thế nào trông trờ bước tới nữa, mà vẹt ngút mây xanh, trông vào cảnh tự tại.

Tưởng sao một cách rõ ràng,

Chủ tâm vào lý minh quang ngưỡng sùng.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

MINH QUÂN

明 君

Minh: Sáng suốt. Quân: Vua.

Minh quân tức là ông vua cần mẫn, sáng suốt.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Xưa dưới triều đại của những đấng minh quân thì dân được giáo hoá trong tinh thần Nho giáo, nên phần nhiều là người có đức hạnh và nhơn phẩm cao quý, trừ ra một phần ít là hạng người thất học, mới có những tánh xấu, tham lam hèn hạ mà thôi.

Xưa Hớn Bái Công chưa phải là chánh đáng một vị minh quân, mà cơ Trời vẫn để cho nghiệp Hớn ba trăm năm quyền bỉnh.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

MINH SANH

Minh: Ghi chép, khắc vào. Sanh (tinh 旌): Còn đọc là Tinh, lá cờ nhỏ.

Minh sanh, còn đọc là “Minh tinh 銘 旌”, tục gọi là tấm phan hay lá triệu, là một tấm lụa hay vải đỏ, hoặc tờ giấy hồng đơn, người ta dùng phấn trắng viết họ tên, tuổi tác và quan chức của người chết trong nghi thức tang lễ.

Theo Nghi Thức và Văn Cúng Đám Tang Ở Nam Bộ thì tấm Minh sanh (hay lá triệu) được quan niệm như một giấy thông hành của người chết để trên đường di quan từ nhà đến huyệt, đạo lộ âm binh nhìn thấy lý lịch người chết ghi rõ trên lá triệu mà không ngăn chặn xét hỏi cho đi qua và sau khi hạ huyệt 7 ngày linh hồn người chết cầm tấm triệu này trình cho quỷ tốt giữ cầu Nại Hà để chúng tiếp nhận, dẫn vào trình diện Diêm Vương.

Trên Minh sanh (hay lá triệu) thường có thêu hình Bát Tiên, trong đó người ta viết theo thứ tự một hàng chữ Nho, từ trên xuống dưới, lý lịch vắn tắt của người chết gồm tên Nước, tỉnh, huyện, xã, tên họ, chức vụ, đứng hàng thứ mấy trong gia đình, hưởng thọ hay hưởng dương và cuối cùng ban tặng cho người mất. Nếu người Nam thì tặng trung trực, thuần lương... nếu người Nữ thì tặng trinh thục...

Có hai cách viết triệu:

Triệu Làng

Một tấm triệu do vị Hương chức hay nhân sĩ trong làng viết. Xin chép một mẫu làm ví dụ:

共 和 社 會 主 義 越 南, 前 江 省, 州 城 縣, 龍 定 社, 姓 阮 諱 成 仁, 第 二 行, 享 下 壽 六 十 四 歲, 贈 曰 淳 良 之 靈 柩

“Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Tiền Giang tỉnh, Châu Thành huyện, Long Định xã, tánh Nguyễn húy Thành Nhân, đệ nhị hàng, hưởng hạ thọ lục thập tứ tuế, tặng viết: Thuần lương chi linh cữu”.

Triệu Phật

Một tấm triệu hay thiết minh sanh do Thầy tụng, hay một nhà sư bên Phật giáo viết. Đây là một mẫu triệu Phật làm ví dụ:

幽 暝 教 主 接 召, 伏 位 亡 姓 黎, 諱 月 原 生 越 南 國, 前 江 省, 法 名 妙 真, 享 壽 七 十 歲, 第 三 行 之 靈 柩.

“U Minh Giáo Chủ tiếp triệu, phục vị vong tính Lê Húy Nguyệt, nguyên sanh Việt Nam quốc, Tiền Giang tỉnh, pháp danh Diệu Chơn, hưởng thọ thất thập nhứt tuế, đệ tam hàng chi linh cữu”.

Khi viết triệu, người xưa thường đếm số chữ của lá triệu theo bốn chữ “Quỷ khốc linh thính”, sao cho chữ cuối cùng của người nam đúng vào “linh”, chữ cuối cùng của người nữ đúng vào chữ “thính” (gọi là nam linh nữ thính). Tránh đừng để chữ cuối rơi vào chữ “quỷ” và chữ “khốc”. Nếu gặp trường hợp này thì ta thêm chữ vào hoặc bớt đi để cho nam dứt ở “linh”, nữ dứt ở “thính”.

Triệu làng là lá triệu của người đời, được vị Hương chức hay thân hào nhân sĩ có uy tín trong làng viết và ban tặng, còn triệu Phật do vị Sư hay các Thầy tụng viết cho một vị Phật tử theo nghi thức của Phật giáo.

Đề phan hay “Thiết minh tinh”, tức là một lễ do vị Thầy tụng miệng đọc tay viết tên tuổi quê quán, ngày sanh, ngày chết, đức hạnh của người mất lên lá phan hay tấm minh sanh. Ngoài ra, còn kể lể công đức lúc sanh tiền của người quá cố, đồng thời Thầy tuyên dương Phật pháp trích từ kinh điển nhấn mạnh về lẽ vô thường, sinh diệt để thức tỉnh cho vong linh. Đề phan hay thiết minh tinh thì do các Thầy viết và ngâm có ca kệ, còn đề triệu theo tục lệ thì chỉ viết chữ vào lá triệu mà thôi.

Khi di quan, tấm Minh sanh (hay lá triệu) được treo trên một cây tre cầm dẫn đi đường, hoặc gắn vào một cái giá, là một cái khung bằng tre đặt trên một cái giá bốn chơn có chỗ cho cháu đích tôn người chết ngồi lên đó và được người ta khiêng đi phía trước xe tang trong ngày di quan ra phần mộ.

Sau khi Linh cữu đặt an trên miệng huyệt, người ta mới trải dài tấm Minh sanh (triệu) trên nắp quan tài, đến khi hạ huyệt xong mới lấp đất lại. Cũng có nơi khi hạ huyệt người ta mới đốt lá triệu.

Theo chánh pháp Cao Đài, người tín đồ chết không có thiết Minh Sanh (viết triệu), tức không lấy tấm triệu làm lý lịch thông hành, bởi vì một khi đã Minh thệ nhập môn, về vô vi người tín đồ được Đức Chí Tôn nhìn nhận là đệ tử Đấng Cao Đài và về hữu hình được Hội Thánh chứng nhận bằng giấy Sớ Cầu Đạo.

Trong đàn cơ ngày mùng 1 tháng 7 năm Bính Dần, Đức Chí Tôn có cho biết việc nhập môn rất hệ trọng, quỷ vương không thể quấy phá người minh thệ được. Ngài nói: Quỷ Vương đến trước Bạch Ngọc Kinh xin hành xác và thử thách các con. Thầy chẳng chịu cho hành xác. Chúng nó hiệp Tam thập lục Ðộng toan hại các con, nên Thầy sai Quan Thánh và Quan Âm đến gìn giữ các con, nhưng phần đông chưa lập Minh Thệ, nên chư Thần,Thánh, Tiên, Phật không muốn nhìn nhận.

Như vậy, lập Minh thệ rồi được Đức Chí Tôn và chư Thần, Thánh, Tiên, Phật nhìn nhận, nên khi di quan ra huyệt mộ người Đạo Cao Đài về thể pháp, đã có lá phướn Thượng Sanh (thế cho tấm triệu) dìu dẫn Chơn linh người quá cố, nghĩa là Phướn Thượng Sanh đi trước dẫn khay Linh vị. Về bí pháp nơi cõi thiêng liêng mỗi Chơn linh đều được dẫn dắt bằng phướn Tiếp Dẫn của Tiếp Dẫn Đạo Nhơn, hay phướn Tiêu Diêu (phướn Truy Hồn) của Lục Nương Diêu Trì Cung.

Còn Sớ Cầu Đạo là tờ giấy mà Hội Thánh cấp cho người Đạo Cao Đài, chứng nhận cho người đã lập minh thệ để nhập môn vào Đạo, được Chí Tôn nhìn là Môn đệ, nên có giá trị về mặt vô vi, nghĩa là Chơn linh có thể lấy đó như một sắc lệnh thông hành về cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Vì vậy cho nên Sớ Cầu Đạo của người quá vãng được vị Chánh Trị Sự cầu nguyện và đốt trước khi hạ huyệt để linh hồn người mất tiện sử dụng.

Bớt điều làm sãi bó ma,

Đưa linh lại mượn có nhà minh sanh.

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 

MINH SƠN THỆ HẢI

盟 山 誓 海

Minh sơn: Nguyền với núi. Thệ hải: Thề với biển.

Minh sơn thệ hải là chỉ núi mà nguyền, chỉ biển mà thề. Ý chỉ thề nguyền với núi và biển để giữ lòng chung thủy, sắt son.

Xem: Thệ hải minh sơn.

Minh sơn thệ hải vẫn hằng dâng,

Kẻ ở người đi đã định phần.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

MINH SƯ

明 師

Minh Sư là một chi trong Ngũ Chi Minh Đạo, có nguồn gốc phát xuất từ nhà Minh bên Trung Hoa, truyền sang Việt Nam.

Đạo Minh Sư mặc Đạo phục màu đen, thờ Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, Đức Diêu Trì Kim Mẫu và chư Phật, chư Tiên. Pháp tu của Đạo Minh Sư rất nghiêm mật, phải trường trai tuyệt dục để tu theo chín bậc dành cho nam phái, bảy bậc cho nữ phái:

- Nhất Thừa: Gồm ba bậc là Nhất bộ, Nhị bộ và Tam bộ.

- Nhị Thừa: Gồm bốn bậc là Thiên Ân,Chứng Ân, Dẫn Ân và Bảo Ân.

- Tam Thừa: Gồm hai phẩm là Lão Sư và Đại Lão Sư. Tất cả các vị Lão Sư và Đại Lão Sư đồng công cử một vị gọi là Thái Lão Sư làm Chưởng Môn cho Đạo Minh Sư.

Câu triết lý ấy nguyên bổn của nó do nơi Minh Ðường, Minh Sư đã thuyết giáo,...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

MINH TÂM

明 心

Minh: Sáng suốt. Tâm: Cái tâm.

Minh tâm là tâm sáng suốt.

Người tu hành phải minh tâm, tức là rèn luyện cho tâm được sáng suốt để thấy được tự tánh, nên giáo pháp thường dạy phải minh tâm kiến tánh thì mới thành Phật.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Theo Thích Giáo người tu phải trau dồi bản tâm được sáng suốt đặng biết rõ được lẽ nhiệm mầu của Ðạo pháp, các điều vọng niệm phải tiêu tan, sống ở chơn tâm tức là minh tâm kiến tánh.

Xem: Minh tâm kiến tánh.

Quảng trí minh tâm đắc thức thì,

Hành tàng huyền diệu thế nan tri.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trăm ngàn đức tánh chỉ minh tâm,

Ðạo đức thương em một mối cầm.

(Đạo Sử).

 

 

MINH TÂM KIẾN TÁNH

Hay “Minh tâm kiến tính”.

Minh tâm kiến tánh hay “Minh tâm kiến tính 明 心 見 性”, là sáng tâm thấy tánh.

Rèn luyện cho tâm sáng suốt để thấy được tánh, tức là thấy được tự tánh của mình, thấy được bản thể chân thật của mình vốn sáng suốt trong lặng, tức là thấy được Thiên tánh, Phật tánh hay Viên minh tánh.

Chúng ta hiện diện trên cõi đời này mỗi người đều mang sẵn một “Chơn tánh”, nhưng vì xa rời nó để đi vào sanh tử rồi thì cứ theo dòng mê mà trôi nổi bềnh bồng chịu mọi khổ đau như lời Sám “Quy mạng” của Phật viết: “Đệ tử chúng đẳng tự di chơn tánh, uổng nhập mê lưu, tuỳ sanh tử dĩ phiêu trầm... 弟 子 眾 等 自 移 真 性, 枉 入 迷 流, 隨 生 死 以 飄 沉”. Từ bỏ chơn tánh là mất tánh sáng suốt thì phiền não trần lao sẽ phát sinh làm khổ luỵ thân tâm và mãi mãi luân hồi.

Thánh đức nêu gương đoàn hậu tấn,

Minh tâm kiến tánh kẻ tu thân.

(Thơ Hiến Pháp).

Kiến tánh đưa đường qua bến huệ,

Minh tâm dẫn nẻo đến rừng thiền.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

MINH TÂM MẪN TÁNH

明 心 敏 性

Minh tâm 明 心: Tâm sáng tỏ. Mẫn tánh 敏 性: Tánh minh mẫn.

Minh tâm mẫn tánh có nghĩa là tự rèn luyện, trau dồi sao cho tâm tánh được mẫn tiệp sáng suốt.

Theo Nho giáo: “Tánh tự tâm sanh 性 自 心 生”, là cái tánh do từ cái tâm sinh ra.

Còn Triết lý Cao Đài lại cho rằng tâm là hình thể thứ nhứt của con người, tức chơn linh, còn tánh là hình thể thứ nhì tức chơn thần. Tóm lại, tâm là chơn tướng của chơn linh, còn tánh là chơn tướng của chơn thần, vì vậy tu hành để có được một chơn linh trong sạch thì tự nhiên sẽ có một chơn thần trong sạch.

Xem: Tâm tánh.

Minh tâm may hiểu đường chơn giả,

Mẫn tánh mới thông nẻo chánh tà.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

MINH TÂN

明 新

Minh Tân là một chi trong Ngũ Chi Minh Đạo, được thành lập sau rốt so với các chi khác.

Chi Minh Tân do ông Lê Minh Khá, một doanh nhân bị bịnh nặng được Quan Thánh Đế Quân ban cho bài thuốc trị lành rồi khuyên tu hành. Ông Khá bèn lập ngôi Cao Thâm Đàn vào năm 1921, tại xã Gia Lộc, huyện Trảng Bàng để thờ Tam Giáo Đạo Tổ và chư Phật Tiên. Vào năm 1922, ông Lê Minh Khá theo lệnh Ơn Trên lập tại tư gia ở Bến Vân Đồn ngôi Cao Minh Đàn và năm sau, ông mua lô đất gần nhà lập thành ngôi Cao Tân Đàn, rồi cuối cùng Ơn Trên lịnh sáp nhập Cao Minh Đàn và Cao Tân Đàn thành Minh Tân Đàn.

Như vậy, Minh Tân Đàn đã được hình thành vào năm 1924-1925. Qua năm 1926, Đức Chí Tôn giáng cơ mở Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ tại chùa Gò Kén, thì toàn thể nam nữ tín đồ Minh Tân Đàn được Đức Thái Thượng Đạo Quân giáng dạy quy về Đạo Cao Đài để minh thệ nhập môn. Từ đó, ngôi Minh Tân Đàn trở thành ngôi Thánh Thất của Đạo Cao Đài.

Thầy không muốn cho con lo lắng điều gì khác hơn là xét xem kinh điển lại. Con biết Ngũ Chi: Minh Đường, Minh Sư, Minh Tân, Minh Lý, Minh Thiện, cũng đều do nơi Phật pháp mà ra.

(Thánh Giáo Chí Tôn).

 

 

MINH THỆ

盟 誓

Minh: Thề. Thệ: Thề.

Minh thệ là lời thề nguyền trước Đức Chí Tôn và các Đấng Thiêng Liêng khi làm lễ nhập môn.

Bất cứ người nào xin nhập môn vào đạo Cao Đài đều phải lập lời minh thệ trước Thiên bàn hay Điện tiền Chí Tôn, có sự chứng kiến của vị Chánh Trị Sự hay Chức sắc sở tại để buộc người nhập môn phải thủ tín, tức là một lòng một dạ giữ gìn và thờ phượng nền chánh đạo, chẳng dám làm điều gì sái lời thệ nguyện hầu kềm thúc tâm phàm tánh tục của mình cho đến phút lâm chung.

Việc minh thệ rất quan trọng. Về mặt hữu hình, nó thúc đẩy người cầu Đạo phải nhất tâm mà gìn giữ luật lệ của Đạo và quyết chí tu hành; Về mặt thiêng liêng, các Đấng Thần, Thánh, Tiên, Phật mới nhìn nhận người minh thệ là môn đệ của Đức Chí Tôn, nên mới hộ trì trên bước đường tu niệm. Thánh giáo Thầy có cho biết như sau: “Thầy sai Quan Thánh và Quan Âm đến gìn giữ các con, nhưng phần đông chưa lập minh thệ, nên chư Thần, Thánh, Tiên, Phật không muốn nhìn nhận”.

Lời minh thệ gồm 36 chữ, do Đức Chí Tôn đã dạy vào ngày 23 và 24 tháng 4 năm 1926 như sau: Tôi tên............ tuổi............ “Thề rằng: Từ đây biết một đạo Cao Đài Ngọc Đế, chẳng đổi dạ đổi lòng, hiệp đồng chư môn đệ, gìn luật lệ Cao Đài, như sau có lòng hai thì Thiên tru Địa lục”.

Do có lời minh thệ, nên suốt kiếp sanh của người nhập môn lúc nào cũng phải giữ tròn Tân Luật, Pháp Chánh Truyền, Ngũ giới cấm, Tứ đại điều quy... của Đạo và trọn lòng với Chí Tôn, Phật Mẫu.

Ăn năn sám hối tội tình,

Xét câu minh thệ gửi mình cõi thăng.

(Kinh Tận Độ).

Trái câu minh thệ quy phàm tục,

Thuận lý thiên điều đắc vị Tiên.

(Thơ Thông Quang).

 

 

MINH THIỆN

明 善

1.- Minh Thiện là một chi trong Ngũ Chi Minh Đạo, do một nhóm nhân sĩ họp mặt tại chùa Quan Đế, thị Xã Thủ Dầu Một cầu cơ thỉnh Tiên về dạy Đạo và cho thuốc trị bịnh rất linh nghiệm, nên nơi đây được gọi tên là Minh Thiện Đàn.

Chùa Minh Thiện thờ Đức Quan Thánh Đế Quân cùng chư Phật và chư vị Bồ Tát, và tụng bài Minh Thánh Kinh.

Chi Minh Thiện có công giúp cho Đạo Cao Đài lúc còn phôi thai, do ông Phan Văn Tý, một vị trong Ban Cai Quản Minh Thiện Đàn là bạn của Ngài Cao Quỳnh Cư hướng dẫn nhị vị Phạm Công Tắc và Cao Quỳnh Cư phò Đại Ngọc Cơ một cách thuần thục, thay cho việc Xây Bàn trong buổi đầu tiên.

Con biết Ngũ Chi: Minh Đường, Minh Sư, Minh Tân, Minh Lý, Minh Thiện, cũng đều do nơi Phật pháp mà ra.

(Thánh Giáo Chí Tôn).

2.- Minh Thiện, nói tắt của “Minh Thiện Đàn”, là một tổ chức tu chơn tại làng Phú Mỹ, quận Châu Thành tỉnh Mỹ Tho.

Vào năm 1927, hai ông Đinh Công Trứ và Lê Văn Trung phò loan, Đức Lý Giáo Tông giáng dạy lập Minh Thiện Đàn giao cho ông Đinh Công Trứ làm Chủ trưởng.

Xem: Minh Thiện Đàn.

Thiên truyền tứ ngã sùng Minh Thiện,

Tôn trọng ngô ngôn thỉnh Lão Đam.

(Thánh Giáo Minh Thiện).

 

 

MINH THIỆN ĐÀN

明 善 壇

Minh Thiện Đàn là một tổ chức tu chơn được hình thành năm 1927 tại làng Phú Mỹ, tỉnh Tiền Giang, do Đức Lý Giáo Tông lập ra và giao cho ông Đinh Công Trứ làm Chủ trưởng.

Nguyên vào ngày 14 tháng 10 năm Đinh Mão (Dl. 8/11/1927), tại nhà Đinh Công Trứ thuộc làng Phú Mỹ, tỉnh Tiền Giang, Đức Lý Giáo Tông giáng cơ dạy phải lập Minh Thiện Đàn. Đến ngày 15 tháng 7 năm Mậu Thìn (Dl. 29/8/1928), ông Lê Văn Trung nhà ở gần ông Trứ cũng xin gia nhập và cả hai ông được Lý Giáo Tông chọn làm cặp phò loan chánh thức của Minh Thiện Đàn.

Mặc dầu hai ông được Đức Lý Giáo Tông chọn làm cặp phò loan chánh thức, nhưng Thần của hai người quá yếu ớt, khiến cho các Đấng đang giáng đàn phải tạm nghỉ. Trong Đàn cơ ngày 15 tháng 8 năm Tân Mùi (Dl. 26-9-1931), Đức Lý Đại Tiên có lời giáng như sau: “Mừng cả chư nhu. Đạo mong tấn hoá, chư sĩ chẳng hoà, nẻo chánh đành xa, đường Tà càng thêm sa đắm.

Trung, chơn thần yếu ớt, chẳng tiếp đặng lời châu ngọc của Lão. Vậy Lão cho ra nghỉ”.

Một lần khác, Đức Chí Tôn trong Đàn cơ ngày 13 tháng 7 năm Tân Mùi tại Đàn Minh Thiện đã cho biết các Đấng giáng cơ mà cặp đồng tử Thần bị yếu, không tịnh có thể Quỷ vương xâm nhập dẫn dắt theo đường tà. Ngài giáng dạy: “Thầy mừng các con. May cho các con đó. Thiếu chút nữa đã lầm tay Quỷ Vương rồi đó, cũng vì phò loan chơn thần yếu ớt, chẳng tiếp trọn điển quang, nên Tà Thần thừa dịp lẫn lộn vào. Vì Thầy ngự nơi Ngọc Hư Cung, có Phổ Tịnh cùng Đại Càn Phù Sứ về tâu rằng Quỷ Vương mong tiếm soán Minh Thiện Đàn, nên Thầy cần kíp giáng xuống cho các con rõ, cơ chuyển khi nảy là Quỷ Vương nhập. Vậy các con từ đây ráng chăm nom về phần cơ bút đa nghe”.

Vì vậy, khi Minh Thiện Đàn quy về Phạm Môn rồi sau đó lập thành Cơ Quan Phước Thiện, cặp phò loan nơi Minh Thiện Đàn là hai ông Đinh Công Trứ và Lê Văn Trung sau nầy không còn nhiệm vụ phò loan nữa.

Theo lịch sử Minh Thiện Đàn, lúc mới phôi thai mọi người trong nhóm rất say mê cầu cơ học Đạo, ngoài Đức Lý Giáo Tông về giảng dạy giáo lý, còn có các Đấng thiêng liêng, như Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu, Thái Thượng Đạo Tổ, Quan Thánh Đế Quân...

Có một lần, mọi người tập họp tại nhà ông Đinh Công Trứ hơi đông, lúc ấy nhà ông còn thiếu thốn phương tiện, không có cái bàn nào khang trang, chỉ có một cái ghế ngồi dùng để bày hoa quả, rượu trà và nhang đèn cho các Đấng giáng cơ. Trong khi mọi người đang quỳ lạy cầu khẩn, Đức Chí Tôn bèn giáng cơ cho bài thi như sau:

Thương con chẳng lựa chỗ cao ngôi,

Giáng thế ngự trên cái ghế ngồi.

Khuyên cả chúng sanh đừng phi lễ,

Đêm nay hầu mãn khó trông rồi.

Quả thật, vào thời kỳ đó, Đức Chí Tôn mong muốn khai nền Đạo tại Tây Ninh cho nhanh chóng, nên Ngài lập nhiều Đàn cơ phổ độ khắp mọi nơi. Tại Phú Mỹ, Ngài rất thương yêu những con cái có đức tin trong Minh Thiện Đàn, nên không nệ là nơi thiếu tôn nghiêm, Ngài vẫn giáng cơ dạy đạo, để không phụ lòng những con cái chí thành.

Những Đàn cơ ở Phú Mỹ do ông Đinh Công Trứ và một số người trong Minh Thiện Đàn cầu các Đấng Thiêng liêng giáng cơ dạy Đạo, quý ông có kết tập các bài Thánh giáo cho xuất bản, gọi là “Minh Đạo”, hiện nay gọi là “Thánh Giáo Minh Thiện Đàn”, lúc ấy còn viết bằng tay, rồi cũng lập ban Kiểm duyệt gồm mười hai người để duyệt.

Năm 1929, Đức Hộ Pháp lánh nạn tại Thủ Đức được Ông Giáo Hữu Thượng Minh Thanh mời về Thánh Thất Phú Mỹ ở, ông Minh mới đem hết các bài Thánh ngôn, Thánh giáo trình cho Đức Hộ Pháp và đọc cho Đức Ngài nghe. Nghe xong Ngài bèn chọn lựa cho biết bài nào nên để lại, bài nào nên bỏ.

Cho đến ngày 3 tháng giêng năm Kỷ Tỵ (Dl. 12/2/1929), Đức Quan Thánh Đế Quân giáng cơ lập Đồng Nghĩa Đường tại nhà ông Lê Văn Trung. Theo Lý Đại Tiên dạy, Đồng Nghĩa Đường là để cầu xin cho cả Đạo đặng tương thân tương ái mà chấn hưng Minh Thiện Đàn, nên gọi là Đồng Nghĩa.

Sau đó Đức Lý Đại Tiên giáng cơ dạy Minh Thiện Đàn phải giao cho Đức Hộ Pháp chưởng quản. Đức Ngài mới mời tất cả những người gia nhập Minh Thiện Đàn đến Thánh Thất Khổ Hiền Trang để Đức Ngài hành pháp cân thần. Có tất cả 93 vị công quả trong Minh Thiện Đàn, Ngài cân thần lựa được 24 vị.

Đêm 28 rạng 29 Đức Hộ Pháp cho gom gia đình của tất cả 24 vị đã được chọn đến Thánh Thất Khổ Hiền Trang để lập Hồng thệ thọ Đào viên pháp.

Đến ngày 10 tháng 6 năm Kỷ Tỵ (Dl. 16/7/1929), Đức Hộ Pháp cùng vài người nữa đến Thánh Thất Khổ Hiền Trang lần thứ nhì. Đức Ngài hành pháp cân thần liên tiếp ba đêm cho 674 vị trong Minh Thiện Đàn, chọn được 48 vị, số còn lại chưa đạt điểm, Ngài dạy lo làm công quả thêm sau mới cân thần. Như vậy, tổng cộng hai lần cân thần tại Thánh Thất Khổ Hiền Trang Đức Ngài lựa được 72 trong Minh Thiện Đàn.

Theo ông Phạm Duy Hoai lần cân Thần thứ hai nầy có ông dự, Đức Hộ Pháp bảo mỗi người vào trước Thiên Bàn quỳ xuống, Ngài đến trước mặt, hai tay Ngài úp trên đầu của người đang quỳ. Ngài bảo nhắm mắt lại, Ngài hành Pháp, rồi đọc số điểm cho ông Lê Văn Trung ghi theo tám yếu tố của người được cân Thần là:

 

1. Hạnh:

..... điểm.

 

2. Đức:

..... điểm.

 

3. Trí:

..... điểm.

 

4. Lực:

..... điểm.

 

5. Tính:

..... điểm.

 

6. Thần:

..... điểm.

 

7. Tâm:

..... điểm.

 

8. Tình:

..... điểm.

Xong rồi Đức Ngài cộng các điểm của mỗi người lại, lấy số trung bình là 5 điểm chọn chính thức người đó đưa qua Phạm Môn. Những ai còn thiếu, chưa đạt trung bình hoặc yếu kém hạnh đức, Đức Ngài dạy phải cố gắng tu tập tiếp tục lập công đức.

Khi đã được chọn vào Phạm Môn và được Đức Ngài bổ đi hành Đạo, Đức Ngài còn biểu đến trình diện để xét thêm “mạng căn số kiếp” cho thích hợp rồi mới có giấy bổ đi. Theo Đức Ngài, Hồi mới xuống thế, Đức Phật Mẫu cho tám thứ bửu nang, mỗi thứ là 10 điểm, khi nhập thế thì bị nhiễm trần rồi bỏ tiêu hết. Nay Đức Ngài đi tìm lại, ai còn được 5 điểm là Đức Ngài đem trả cho Phật Mẫu. Nếu phần nào thiếu phải tu tập thêm về phần đó cho đạt trung bình mới được.

Đến ngày 15 tháng 7 năm Kỷ Tỵ, Đức Quyền Giáo Tông và Đức Hộ Pháp chứng giấy thông hành cho 72 vị Đạo hữu Minh Thiện Đàn đi hành thiện, tức đi xem công quả hành đạo ở các tỉnh: Mỹ Tho, Rạch Giá, Bạc Liêu, Sóc Trăng... Riêng ông Đinh Công Trứ và Lê Văn Trung phải đi lưu hành khắp nơi. Kết quả nhờ quý vị Minh Thiện Đàn đi hành Thiện, nên số Đạo hữu ở các tỉnh Miền Tây theo về với Toà Thánh Tây Ninh (không theo chi phái) rất đông.

Sau đó, Đức Quyền Giáo Tông và Đức Hộ Pháp ban Huấn lịnh vào ngày 15 tháng giêng năm Canh Ngọ (Dl. 13/2/1930) cho Minh Thiện Đàn bốn chữ “Trung – Nghĩa – Trí – Dõng” và dạy 72 vị đã được Đức Hộ Pháp chọn về Toà Thánh hiệp cùng các vị trong Phạm Môn để tạo lập cơ sở, còn những vị còn lại trong Minh Thiện Đàn thì được khuyến khích ở tại địa phương mình tiếp tục làm công quả.

Đến năm Quý Dậu (1933), nhà cầm quyền Pháp ra lịnh đóng cửa tất cả các cơ sở của Phạm Môn. Nhờ vậy, Đức Hộ Pháp mới chuyển Phạm Môn thành những cơ sở Phước Thiện và chuyển đi khai mở khắp nơi trong các tỉnh miền Nam Việt Nam, hình thành Cơ Quan Phước Thiện.

Tóm lại, Minh Thiện Đàn ở Phú Mỹ và Phạm Môn ở Tây Ninh, vào đầu năm Mậu Dần (1938) coi như bị giải thể để Đức Hộ Pháp nhập lại làm Cơ Quan Phước Thiện, được quyền Vạn Linh công nhận theo Đạo Luật năm Mậu Dần và Đạo Nghị Định số: 48/PT của Đức Lý Giáo Tông và Đức Hộ Pháp đồng ký tên thành lập Cơ Quan Phước Thiện với Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng.

Nầy các con, cầu nhập Minh Thiện Đàn, khá cầu Giáo Tông của các con. Thầy thăng.

(Thánh Giáo Minh Thiện).

 

 

MINH TRA

明 查

Minh: Sáng tỏ, rõ ràng. Tra: Xem xét.

Minh tra tức là xem xét cho rõ ràng, hay điều tra cho sáng tỏ vụ việc.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có dạy: Phải tái lập Sổ cầu phong và cầu thăng. Sau khi lập xong, gởi hết hồ sơ cho Hiệp Thiên Đài minh tra công nghiệp.

Toà Đạo minh tra đủ lẽ, thì sẽ đặng đệ lên Quyền Chí Tôn cầu xin thăng thưởng.

(Đạo Luật Mậu Dần).

 

 

MINH TRIẾT

明 哲

Minh: Sáng suốt. Triết: Hiểu biết đến cái lẽ tận cùng của sự vật.

Minh triết là đức và trí đều sáng suốt.

Người minh triết là người sáng suốt, hiểu thông những lý lẽ tận cùng liên quan đến sự vật hay con người. Chính vì thế người minh triết thấu suốt lý đạo và thời thế, biết dùng trí và tâm phân biệt phải quấy và luôn giúp đời tiến theo lý tự nhiên.

Trong quyển Thiên Đạo, Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có đoạn viết: Người minh triết là người đã đạt được Tâm hư không. Tâm hư không là dứt bỏ được phàm phu tục tánh, nguồn ân bể ái, diệt hết thất tình lục dục, được tánh Phật lòng Tiên, cư trần bất nhiễm trần, lòng trung như vầng nhựt nguyệt, dốc chí dấn thân vào sông mê bể khổ cứu vớt người ra khỏi mê tân, chẳng quản gian truân, coi sự sanh tử nhẹ như mãy lông, miễn giải thoát chúng sanh khỏi vòng hắc ám, dầu phải muôn cay ngàn đắng cũng không thối chí ngã lòng.

Đây Hứa Do là trang minh triết,

Tánh phi phàm vốn thiệt ít ai.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

MINH VƯƠNG

明 王

Minh: Sáng. Vương: Vua.

Minh vương, theo Phật giáo, là những vị tôn giả hầu cận và thọ lệnh Đức Phật để hàng phục bọn ác ma.

Những vị tôn giả ấy có trí tuệ và oai đức khiến các ma vương kiêng sợ, không dám phạm đến kẻ tu hành chơn thật. Vì vậy, quyền uy các vị tôn giả được coi như một Đấng Minh vương.

Minh Vương Khổng Tước cao bay.

Đem Chơn thần đến tận đài Huệ Hương.

(Kinh Tận Độ).

 

 

MINH XÉT

Minh: Sáng, sáng suốt, rõ ràng. Xét: Xem xét, tìm kiếm suy nghĩ kỹ để hiểu biết cho rõ ràng.

Minh xét, như chữ “Minh sát 明 察”, là tìm tòi, xem xét một cách rõ ràng vụ việc.

Nhưng bị im ẩn hay là vì một duyên cớ nào khác mà bị lọt sổ thì đặng quyền kêu nài đến Toà đạo minh xét cho.

(Đạo Luật Mậu Dần).

 

 

MÌNH

1.- Mình là chỉ thân người, thân cây hoặc bên mặt ngoài của vật gì.

Như: Mình hạc xương mai, mình cây có nhiều lõi, mình vải không được láng, chiếc thuyền nằm phơi mình trên biển.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có câu: Ðã vào trọn một thân mình nơi ô trược thì Thầy đây cũng khó mà rửa với một gáo nước cho đặng trong sạch.

Mình mỏng mảnh sức non nớt yếu,

Đỡ nâng chồng vốn thiếu tay co.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Đừng quá chắc miệng người yêu mến,

Mà đem mình nạp đến bến nhơ.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Mình dùng để tự xưng hoặc để chỉ về bản thân (ta), đối với người mà nói. Như: Bọn mình, giúp mình một tay, mình làm mình chịu.

Thánh giáo Chí Tôn có câu dạy: Nếu chẳng đi đến trường Thầy lập mà đoạt thủ địa vị mình thì chẳng đi nơi nào khác mà đắc đạo bao giờ.

Mình dặn lấy mình, mình lại biết,

Mặc ai chung hưởng phận cao sang.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Một ngày thỏn mỏn một ngày qua,

Tiên Phật nơi mình chẳng ở xa.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Khi tuyết trở đêm lo đắp đậy,

Thương đôi thân vì đấy mới ra mình.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MÌNH CHIÊU PHƯỚC HOẠ

Minh: Chỉ về tự thân. Chiêu: Vời. Phước hoạ: Phước đức và tai hoạ.

Mình chiêu phước hoạ ý nói tự mình vời lấy cái phước cái hoạ, do câu trong thiên Thái Thượng Cảm Ứng Kinh: “Hoạ phước vô môn, duy nhân tự triệu 禍 福 無 門, 惟 人 自 召, nghĩa là cái điều hoạ phước không có cửa, tức là không có chỗ định, tại mình tự vời nó, nó mới tìm tới mình mà thôi.

Lành dữ nơi mình chiêu phước hoạ,

Thành tâm ắt thấy hết thần minh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

MÌNH MẨY

Mình: Thân mình.

Mình mẩy là chỉ toàn thân thể. Như: Mình mẩy dính đầy bùn đất, đau khắp mình mẩy.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Còn ông kia, ông bạn kia đổ quạo thật, đánh thôi mình mẩy sưng tùm lum túa lua, rồi đem vô nhà thương nằm.

Tanh hôi mình mẩy vấy đầy,

Trồi lên hụp xuống gậy cây đánh đầu.

(Kinh Sám Hối).

 

 

MÌNH NGỒI DỰA CỘT

Mình: Chỉ về bản thân. Ngồi dựa cột: Ngồi tựa vào thân cây cột.

Mình ngồi dựa cột, do câu tục ngữ Việt Nam có câu: Biết thì thưa thốt, Không biết thì dựa cột mà nghe.

Mình ngồi dựa cột ý muốn nói mình dốt nát thì phải dựa cột mà nghe.

Đừng ưa me chịu dốt chúng cười,

Người ghế giữa mình ngồi dựa cột.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MỊT MỜ

Mịt: Đặc, tối mịt. Mờ: Ánh sáng yếu ớt, không đủ sức chiếu tỏ các vật chung quanh.

1.- Mịt mờ, như chữ “Mờ mịt”, là mờ đi đến mức không còn nhìn thấy rõ được nữa.

Thánh giáo Bát Nương Diêu Trì Cung có câu: Song lằn Âm quang ấy có giới hạn, nghĩa là nơi nào ánh linh quang của Chí Tôn chưa chiếu giám đến thì phải còn tối tăm mịt mờ, chẳng sanh chẳng hoá.

Mảng sầu muộn ngổn ngang trăm mối,

Chùa thu không bóng tối mịt mờ.

(Nữ Trung Tùng Phận).

U ám mịt mờ màu thảm đạm,

Thúi hôi nhơ nhớp cảnh đìu hiu.

(Thiên Thai Kiến Diện).

2.- Mịt mờ còn dùng để chỉ không có gì sáng sủa, hay không thấy có hy vọng gì.

Như: Tương lai mịt mờ, đường trước mặt vẫn còn trong cảnh mịt mờ, tăm tối.

Trước kia trẻ vẫn mịt mờ,

Từ đây mới hản ơn nhờ Mẫu Nghi.

(Tán Tụng Công Đức).

Ngắm coi cái nhỏ bây giờ,

Nhớ trong cái lớn mịt mờ chiêm bao.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

MỊT MÙ

Mịt: Đặc, tối mịt. Mù: Mờ, không trông thấy.

1.- Mịt mù, như chữ “Mù mịt”, là xa xôi, mù mịt không thấy được rõ.

Như: Khói bụi mịt mù, mây che mịt mù.

Mấy màu trời vẽ tranh ly loạn,

Ngàn dặm mây che cảnh mịt mù.

(Thơ Huệ Giác).

2.- Mịt mù, như chữ “Mịt mờ”, còn dùng để chỉ sự tối tăm ở phía trước.

Như: Đường tương lai vẫn mịt mù.

Thân chưa hết nợ dễ chi tu,

Thà gánh cho kham phận mịt mù.

(Đạo Sử).

Đời anh hạc chẳng bằng ai,

Thua thằng thất nghiệp tương lai mịt mù.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

MỸ

Mỹ là đẹp, tốt, khen ngợi. Như: Mỹ cảm, mỹ mãn, mỹ quan, mỹ thuật, mỹ tánh.

Thánh giáo Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng có đoạn: Ðạo đức cần trau nơi Tâm là chỗ chẳng ai thấy được. Rèn trau cho thuần tâm mỹ tánh, rồi mới lần đến bề ngoài, trọn hết cả ngoài trong, thì chừng ấy thân hình tâm trí chắc khư, nào ai chuyển lay cho được.

Cao lương mỹ vị hại thân phàm,

Hỏi thử thế đời mấy món tham?

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Bởi ham bóng sắc hơn chì,

Mỹ nhân thấy dạng kể gì đến duyên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

MỸ LỆ

美 麗

Mỹ: Đẹp, tốt, đẹp bề ngoài. Lệ: Đẹp.

Mỹ lệ là đẹp, tốt đẹp.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Đạo Sử có dạy: Thầy đã lập trọn vẹn tư cách của nó, các con chỉ còn có ra công tô điểm cho nên mỹ lệ, mà các con để nông nỗi như vầy, Thầy cũng muốn bỏ đi đó chút, nhưng mà đoái đến nhơn sanh và công lao khó nhọc của nhiều kẻ nên dạ không đành, mà giận cái ngây dại của các con mà thêm nỗi nầy.

Hoa thơm phưởng phất ngàn trùng,

Cực kỳ mỹ lệ vô cùng thanh quang.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Gấm nhiễu kim thời khoe mỹ lệ,

Vải bô cổ tục lựa phô trang.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

MỸ MÃN

美 滿

Mỹ: Đẹp, đẹp bề ngoài. Mãn: Đầy.

Mỹ mãn là tốt đẹp đầy đủ, hoàn toàn phù hợp với mong muốn.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông trong Thánh Ngôn Sưu Tập có câu: Chúng ta sẽ cùng nhau vận dụng hết khả năng để bảo tồn danh thể của Hội Thánh, tức là của Đạo đó vậy. Nhưng Lão xin một điều là dẹp hết tự ái và ích kỷ thì mới có kết quả mỹ mãn.

Cầu xin hai Ðấng Tạo Ðoan tối cao hỷ xả tất cả cái gì còn thô sơ thiếu kém và trợ giúp chúng ta đi đến chỗ thành công mỹ mãn.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

MỸ MIỀU

Mỹ: Tốt đẹp. Miều: Dáng mềm mại.

Mỹ miều là đẹp đẽ.

Trong Đạo Sử Xây Bàn của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Đức Quan Âm Như Lai có câu: Thiếp thương Ðạo tâm của chư Hiền Hữu rất nên mỹ miều đẹp đẽ, buổi thử thất nầy mới đến đây ngày nay đó.

Linh Tiêu Điện, bảng danh nêu,

Nguyên căn đẹp vẻ mỹ miều cao thăng.

(Kinh Tận Độ).

Chơn linh đẹp đẽ mỹ miều,

Xuất dương sớm đã đến triều Ngọc Hư.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

MỸ NỮ

美 女

Mỹ: Đẹp đẽ. Nữ: Người con gái.

Mỹ nữ là người con gái đẹp.

Bài Thuyết đạo về Quan Thánh, Đức Thượng Sanh có đoạn: Kể từ ngày ấy, Tào Tháo thết đãi Ðức Ngài rất trọng hậu, ba ngày thì đãi tiệc nhỏ, năm ngày thì đãi tiệc lớn lại ban cho gấm nhiễu vàng bạc vô số kể. Ngoài ra còn lựa những mỹ nữ tuyệt sắc đưa đến để hầu hạ Ðức Ngài.

Tránh gái thơ khi vợ tuổi già,

Gặp vợ xấu lánh xa mỹ nữ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MỸ NGÔN

美 言

Mỹ: Đẹp đẽ. Ngôn: Lời nói.

Mỹ ngôn là lời đẹp, không phải là lời nói văn hoa bóng bẩy, mà là lời nói êm ái dịu dàng, dễ thu phục cảm tình người nghe, gây sự hoà hợp giữa mọi người.

Thêm duyên chước quý giao tình,

Mỹ ngôn nương ý gia đình an vui.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

MỸ NHÂN

美 人

Hay “Mỹ nhơn”.

Mỹ: Đẹp đẽ. Nhân (Nhơn): Người.

Mỹ nhân hay mỹ nhơn là người đẹp, tức chỉ người đàn bà, con gái đẹp đẽ.

Người xưa thường nói: Mỹ nhân tự cổ như danh tướng, bất hứa nhân gian kiến bạch đầu 美 人 自 古 如 名 將, 不 許 人 間 見 白 頭, nghĩa là người đẹp từ xưa như tướng giỏi, chẳng hứa nhơn gian thấy đầu bạc.

Bởi ham bóng sắc hơn chì,

Mỹ nhân thấy dạng kể gì đến duyên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Chim vờn cánh gió khơi hoài niệm,

Hương ngát lòng hoa cợt mỹ nhân.

(Thơ Nguyễn Nga).

 

 

MỸ TỤC

美 俗

Mỹ: Tốt đẹp. Tục: Lề thói, phong tục.

Mỹ tục, do thành ngữ “Thuần phong mỹ tục 純 風 美 俗” là phong tục thuần hậu tốt đẹp.

Mỹ tục là phong tục lành mạnh, tốt đẹp.

Thánh giáo Đức Cao Thượng Phẩm trong Thánh Ngôn Sưu Tập có câu: Các Đấng cũng đã dạy bảo lắm điều mà lòng người chưa được giác ngộ, đến kẻ có phận sự sửa đời lại là kẻ tội lỗi với đời còn nhiều hơn thì bảo sao cho đời mau trở nên thuần phong mỹ tục?

Phật pháp khuyến nhơn quy mỹ tục,

Nho Tông phục thế hưởng thuần phong.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Đạo đức giáo dân quy mỹ tục,

Nghĩa nhân hoá chủng hưởng thuần phong.

(Thơ Thông Quang).

 

 

MỸ VỊ

美 味

Mỹ: Tốt, đẹp. Vị: Mùi vị.

Mỹ vị là nói thức ăn ngon. Do câu thành ngữ Hán Việt: Cao lương mỹ vị.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Ðời chuộng vinh sang, Ðạo chuộng khổ hạnh, đời ham trược phú, Ðạo giữ thanh bần, lên xe xuống ngựa chốn phồn hoa đổi lại cảnh lê hoắc nâu sồng, nơi cửa Ðạo tương dưa thanh đạm tháng ngày, để mặc miếng mỹ vị cao lương ngoài quán tục.

Cao lương mỹ vị hại thân phàm,

Hỏi thử thế đời mấy món tham?

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

MỸ VỊ CAO LƯƠNG

美 味 膏 粱

Mỹ vị: Thức ăn ngon và quý. Cao lương: Thịt béo, gạo ngon.

Mỹ vị cao lương là gạo thơm thịt béo, nói chung là món ăn ngon và sang quý.

Xem: Cao lương mỹ vị.

Dầu không mỹ vị cao lương, không vinh hoa phú quý, chúng ta cũng tự cho mình là đầy đủ hạnh phúc.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

là động đến để làm việc gì.

Mó còn dùng để chỉ léo hánh đến, bén mảng tới.

Như: Không buồn mó đến việc ấy, không mó đến sách vở, anh ấy mó đến cái gì thì hư cái nấy.

Vĩnh tồn mạng số tới chừng nầy,

Tu kịp cùng chăng đến đây.

(Đạo Sử).

 

 

MÓ TAY

Mó: Đặt nhẹ tay vào vật gì. Tay: Bộ phận thân thể, nối liền với vai ra đến ngón.

Mó tay sờ tay hay chạm đến, tức có sự tham gia trực tiếp vào.

Như: Việc gì cũng phải có tôi mó tay mới xong.

Thế thường khinh nghĩa trọng tiền tài,

Hễ thấy hơi đồng chực mó tay.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

là tìm hiểu một cách may rủi, không đích xác, vì chẳng có căn cứ.

Như: Đoán mò, nói mò, không mò ra được đầu mối câu chuyện, mò mãi mới tìm ra đáp số.

Muốn minh chơn lý phải dùng Nho,

Máy Tạo huyền vi chẳng dễ .

(Nhàn Hồi-Tử Tư Giáng).

 

 

MỎ

1.- Mỏ là phần cứng như sừng mọc chìa ra ở miệng các loài chim, gà, vịt.

Như: Mỏ chim, gà con khẻ mỏ, vịt dũi mỏ xuống bùn để kiếm ăn.

Mỏ ngậm lửa hồng, lôi điển nhoáng,

Ðuôi lừa thuỷ quái, võ phong gây.

(Thiên Thai Kiến Diện).

2.- Mỏ còn dùng để chỉ cái miệng, môi (hàm ý coi khinh).

Như: Khua môi múa mỏ, tụi nó châu mỏ mà chưởi thiên hạ.

Ó ré đầu nhà hờn giũa mỏ,

Gà bươi xó bếp đói chui đầu.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

MỎ ÁC

Mỏ ác là thóp trẻ con, phần trước sọ đầu của trẻ em, lúc mới sinh còn mềm, nên có tình trạng lõm xuống.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy: Thầy nói cái chơn thần là nhị xác thân các con, là khí chất (le sperme évaporé). Nó bao bọc thân thể các con như khuôn bọc vậy. Nơi trung tim của nó là óc; nơi cửa xuất nhập của nó là mỏ ác, gọi tiếng chữ là vi hộ, nơi ấy Hộ Pháp hằng đứng mà gìn giữ chơn linh các con, khi luyện thành đạo, đặng hiệp một với Khí, rồi mới đưa thấu đến chơn thần hiệp một mà siêu phàm nhập Thánh.

Phải phủ che cho ấm tay chơn,

Nơi mỏ ác tốt hơn thường đắp ấm.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MÕ CHUÔNG

Mõ: Loại nhạc khí bằng tre, gỗ, lòng rỗng, dùng để gõ nhịp tụng kinh hay để báo hiệu. Chuông: Loại nhạc khí đúc bằng kim loại đồng, lòng rỗng, miệng loa, dùng trong cúng kính.

Chuông có hai loại: Chuông kình và chuông gia trì, được đúc bằng kim loại đồng, dùng để đánh trong những thời công phu.

Mõ chuông là những thứ đồ từ khí dùng trong các Chùa và Thánh thất.

Hùng kiếm dầu cầm không bén lưỡi,

Mõ chuông đành khỏ gác Diêu ca.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

MÓC

1.- Móc là một thứ dụng cụ có đầu cong hình lưỡi câu để lấy, giữ hoặc treo đồ vật.

Như: Móc sắt, móc phơi quần áo, dùng móc để kéo đồ vật lên, treo hàng vào móc cân.

Móc nhọn vắt treo mình nhỏng nhảnh,

Cối đạp đồng rất mạnh giã dần.

(Kinh Sám Hối).

2.- Móc là giữ, treo bằng cái móc.

Như: Móc mồi câu cá, gai móc rách áo, móc hàng hoá lên cân, móc áo quần ra phơi.

Thành Thang gắm ghé giăng tay lưới,

Lữ Vọng sẵn sàng móc lưỡi câu.

(Thơ Hộ Pháp).

Móc mồi Nghiêm Lữ gieo từng chập,

Đón gió Cơ Liêm hứng một bầu.

(Thơ Thuần Đức).

3.- Móc là bới chuyện người khác giấu kín, hoặc cố tình nói điều không hay nhằm làm khó chịu người.

Như: Moi móc, nói móc lẫn nhau, móc chuyện cũ của người khác, hỏi móc mấy câu.

Xem: Bươi móc.

Gặp thây nuốt sống ăn tươi,

Vì bày thưa kiện móc bươi xúi lời.

(Kinh Sám Hối).

4.- Móc là hạt sương đọng trên lá cây, ngọn cỏ.

Như: Hạt mưa hạt móc, ơn mưa móc, lác đác rừng phong hạt móc sa.

Công danh nước Việt tay đành nắm,

Mưa móc dân sanh gắng gội nhuần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

MÓC MƯA

Móc: Hạt sương đọng trên lá cây, ngọn cỏ. Mưa: Giọt nước từ trên mây kết lại rồi rơi xuống.

Móc mưa, bởi chữ “Vũ lộ 雨 露”, nghĩa là hạt mưa và hạt móc.

Móc mưa dùng để chỉ ân huệ của vua hay Trời ở trên ban xuống, cũng như cây cỏ thọ ơn mưa móc.

Xem: Vũ lộ.

Sương tuyết trải qua đường rộng hẹp,

Móc mưa mong gội lượng cao dày.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

MỌC

Mọc là nhú ra, nhô lên khỏi bề mặt và tiếp tục lớn lên, cao lên.

Như: Mọc mầm, cây mọc khỏi mặt liếp, mọc răng sữa, tre tàn măng mọc, trăng bắt đầu mọc.

Tre tàn măng mọc cuộc đời in,

Ðánh lận mưu sâu khá giữ mình.

(Đạo Sử).

 

 

MOI

Moi là bươi, bới mà lôi ra. Như: Moi củ khoai mì, moi ruột cá, moi óc cố nhớ lại.

Moi còn có nghĩa là bày ra cho người thấy. Như: Moi đời tư ra mà chỉ trích.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Cường ngạnh tới chừng sau rồi có một trăm tuổi già ngồi khóc lên khóc xuống cũng không ích, ăn năn tự hối như Bần Đạo đây có nhiều khi ngồi nơi nào nhớ, moi óc nhớ coi cha nói gì, mẹ nói gì, tìm gần trối chết, tìm đặng nhớ.

Ðấp biển vì lo bờ biển lở,

Moi sông bởi muốn ngọn sông sâu.

(Lục Nương Giáng Bút).

Kìa cầm điểu bẻ cành kết ổ,

Nọ thú trùng moi lỗ làm hang.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Chừng biết thương cha mẹ hết đời,

Dầu moi đất vạch Trời tìm chẳng đặng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MÒI

Mòi là tăm cá, vết của cá lội dưới nước.

Mòi có nghĩa bóng là cơ, trưng triệu, tức là dấu hiệu nhờ đó có thể đoán biết được. Như: Trông mòi thả lưới, làm ăn coi có mòi khá.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có đoạn dạy: Ngày tháng vẫn mỏi mòn, mà đường Ðạo nhắm còn dài đăng đẳng. Một xuân qua là một dặm đường phải bước tới, mà Thầy ngảnh lại bước đường của môn đệ, Thầy vẫn thấy sụt sè chớ chưa thấy chi có mòi tấn phát.

Phụng gáy non Nam, Ðạo trổ mòi,

Trổ mòi nhân vật bốn phương Trời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Đố thử ai mà thúng úp voi,

Bao nhiêu phải quấy cũng ra mòi.

(Thánh Giáo Minh Thiện).

Tình chồng vợ ra mòi lảng xẹt,

Muôn sự chi hễ méc xử chìm xuồng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MỎI

Mỏi là nhọc mệt sau khi làm việc gì lâu hay là quá độ. Như: Đi mỏi chân, nói mỏi miệng, mỏi gối chồn chân.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Nhân nghĩa, trung tín, vui làm điều lành không mỏi là cái tước của Trời cho, tức là Thiên tước; công khanh đại phu là cái tước của người cho, tức là nhơn tước.

Nắng hạn trông mưa trông mắt mỏi,

Ðắng cay mộ nước một lòng chờ.

(Đạo Sử).

Hay đã sợ thân mòn gối mỏi,

Mến ngày xuân mà tuổi không chờ.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

MỎI MẮT

Mỏi: Nhọc mệt sau khi làm gì lâu hay quá độ. Mắt: Cơ quan để trông, nhìn.

Mỏi mắt là mệt mỏi đôi mắt.

Mỏi mắt còn dùng để chỉ ở trạng thái mong chờ kéo dài quá lâu mà không trông thấy.

Trong Giảng Đạo Chơn Ngôn của Phối Sư Thái Đến Thanh có viết: Than ôi, phong hoá suy tồi, nhơn luân điên đảo, lòng người quỷ quái ngậm xương nòi giống, xé thịt lẫn nhau, hằng ngày xảy ra những tấn tuồng thảm thương bi kịch xem thôi mỏi mắt, nghe đã nhàm tai, những người có tấm lòng bác ái từ bi, cũng phải ngậm ngùi khổ tâm than trách.

Chim lồng bao thuở lại non xanh,

Mỏi mắt trông vơi chốn thoát mình.

(Đạo Sử).

Đắc thời đứa nịnh nghiêng tai ngảnh,

Nghịch thế người ngay mỏi mắt trông.

(Thơ Đào Công).

 

 

MỎI MỆT

Mỏi: Có cảm giác rã rời chân tay sau khi làm việc Mệt: Có cảm giác sức lực bị tiêu hao quá mức, muốn nghỉ.

Mỏi mệt, như chữ “Mệt mỏi”, là mệt đến mức tay chân rũ liệt, không còn muốn hoạt động nữa.

Như: Dáng người mỏi mệt.

Tâm thần mỏi mệt ủ ê,

Khối sanh khi đã gần kề dứt hơi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Thấy mỏi mệt để lời bợ đỡ,

Mồ hôi tuông khá nhớ lau giùm.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MỎI MÒN

Mỏi: Có cảm giác rã rời chân tay sau khi làm việc. Mòn: Hao, sức yếu.

Mỏi mòn là mòn sức, cạn sức. Như: Trông chờ một cách mỏi mòn.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Thầy vì đó mà cải dẫn bước đường của các con, não phiền thành vui vẻ, đường gai góc hoá ra nẻo êm đềm, lo lắng phải ra tươi cười, mỏi mòn thành phấn chấn.

Trà đình ai để nợ cho con,

Vì nghĩa mà thân phải mỏi mòn.

(Đạo Sử).

Huyên đường tựa cửa ngóng tin con,

Đầu đội thúng bông dạ mỏi mòn.

(Thơ Vạn Năng).

 

 

MỌI

1.- Mọi là danh từ ngày trước dùng để chỉ dân chưa được khai hoá.

Nghĩa bóng chỉ người phải làm việc khó nhọc như nô lệ. Như: Dân tộc ấy còn mọi rợ lắm.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Quyền, Thầy cũng ban cho các con in như Thầy đã ban cho chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, hầu cho đủ thế kềm thúc lấy nhau đặng giữ vẹn Thánh chất yêu sanh của Thầy, mà quyền ấy trở nên một cơ thể buộc trói nhơn sanh trong vòng tôi mọi.

Gia sản để cho ra đến mạt,

Ắt đem thân làm mọi nhà người.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Mọi là tất cả, hết thảy. Như: Mọi người, mọi đường, mọi khi, mọi sự, mọi lúc.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Thầy là Ðấng Chí Tôn cầm quyền thưởng phạt, há lại không quyền hành mà làm mọi việc một mình Thầy đặng sao, lại phải sở cậy tay phàm, chẳng qua là đạo đức thiếu kém các con đó, nó làm cho các con bị phạt.

Lựa cho học các công các nghệ,

Tính cho hay mọi vẻ văn tài.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Đêm thanh khá xét suy mọi việc,

Hỏi coi mình có biết phận làm trai.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MON MEN

Mon men là lân la, nhích lại gần lại từng quảng ngắn, một cách dè dặt, thận trọng.

Như: Bà ấy mon men lại gần anh đấy, chị ta mon men đi vào vấn đề, thằng bé mon men trước cửa nhà.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Biết bao nhiêu kẻ mon men muốn làm chúa toàn thể nhơn loại trên mặt địa cầu này với võ khí, với phương pháp hung bạo tàn ác, chiếm thâu những kẻ yếu hèn bạc nhược để họ sai làm tôi mọi cho họ bất quá là một phần thiểu số kia mà thôi.

Vật cũ nay trao hoàn chủ cũ,

Sân Trình cửa Khổng vắng mon men.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

MÓN

1.- Món từ dùng để chỉ những thức ăn đã được chế biến. Như: Làm các món ăn, món ngon vật lạ, bữa cơm lắm món.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Than ôi! Tiền lớn bạc nhiều, món ngon vật quý, hay xiêu lòng phàm phu. Của bất nghĩa kẻ trần còn chẳng chịu dùng thay!

Món ăn uống nên coi chọn lựa,

Cho hiền lành có sữa cho nhiều.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Món là tập hợp nhiều cái cùng loại, làm thành đơn vị. Như: Món quà, món tiền, món nợ, món lợi, món tóc.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có câu dạy: Ðạo chẳng phải một món hàng mà nay đem cầu người nầy, mai đem nài kẻ kia cho họ biết mà nhìn nhận, thật nên nhục thể Ðạo quá!

Cao lương mỹ vị hại thân phàm,

Hỏi thử thế đời mấy món tham?

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chẳng khác nào vật dụng dưới màn,

Vì đẹp mắt món hàng ra quý lạ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MÒN

1.- Mòn là hao, tức bị mất dần từng tí một do sự cọ xát. Như: Nước chảy đá mòn, non mòn núi lở.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Bao nhiêu tiếng khóc câu cười, thế lộ bước đã mòn mà giấc mộng trần chưa thức tỉnh.

Ngọc sáng non Côn đà gặp nẻo,

Lối mòn động Bích chớ lầm đường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Lòng tựa thép giũa mòn sắt cứng,

Ý như Trời chịu đựng phong ba.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

2.- Mòn là bị mất dần, tiêu hao dần do không được bổ sung, củng cố thường xuyên. Như: Mòn sức, mòn hơi, kiến thức mòn dần, chết dần chết mòn.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Ðời sống như vậy mới gọi là đời sống có ý nghĩa, một đời sống đáng sống, vì ít ra kiếp sanh của ta cũng phải là một kiếp sanh hữu dụng chẳng phải như những kẻ chỉ biết có thân mình, cứ xẩn bẩn ở xó nhà, lo việc ích kỷ bổn nhơn để rồi, một ngày kia, chết mòn trong chỗ tối tăm, không ai màng biết đến.

Ấy làm phước khỏi hao khỏi tốn,

Chẳng có đâu mòn vốn thâm tiền.

(Kinh Sám Hối).

Hay đã sợ thân mòn gối mỏi,

Mến ngày xuân mà tuổi không chờ.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

MÒN HƠI

Mòn: Bị mất dần, tiêu hao dần do không được bổ sung, củng cố thường xuyên. Hơi: Không khí trong cơ thể biểu tượng cho sức khoẻ con người.

Mòn hơi là hao mòn hơi sức, chỉ sự tiêu hao sức lực.

Vĩnh viễn chi chi cái cuộc đời,

Mà lo gánh vác đã mòn hơi.

(Đạo Sử).

Nuôi cả đời nuôi đã mòn hơi,

Còn thêm nỗi ăn chơi gây tội báo.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MÒN MỎI

Mòn: Bị mất dần, tiêu hao dần, do không được bổ sung thường xuyên. Mỏi: Có cảm giác mệt mỏi.

Mòn mỏi là ở trạng thái hao sút dần theo thời gian.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Ngày xuân gần mòn mỏi, khá sớm biết trau xuân, ấy là phương châm dẫn đàng khách phồn hoa vào nơi Cực Lạc.

Ham hết công danh mòn mõi đức,

Cũng như ham chở khẳm khuôn thuyền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Một nhà hiền đức ngày mòn mỏi,

Sao chẳng đường tu đến nẻo cầu.

(Đạo Sử).

Trông tin nhạn về đông mòn mỏi,

Thả lá hồng biết hỏi nơi ai?

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

MÒN SỨC

Mòn: Bị mất dần, tiêu hao dần do không được bổ sung, củng cố thường xuyên. Sức: Sự mạnh của thân thể.

Mòn sức là sức lực bị giảm dần do bệnh tật, hay do làm việc quá sức.

Như: Làm xong công việc nầy thì đã mòn sức.

Ðua đường Nhơn đạo coi mòn sức,

Công quả đường tu đã phải thời.

(Đạo Sử).

 

 

MỎN HƠI

Mỏn: Mòn dần, kiệt dần, bị hao mòn từ từ. Hơi: Lượng không khí hít vào, thở ra, thường được biểu tượng cho khả năng, sức lực cụ thể của con người.

Mỏn hơi là nói sức lực đã hao mòn dần, kiệt dần. Như: Làm việc mỗi ngày nó cũng mỏn hơi.

Tuỳ duyên tuỳ phận đãi cùng đời,

Ðừng rán tranh giành phải mỏn hơi.

(Đạo Sử).

Chờ đợi các trò đã mỏn hơi,

Cầu không cần cấp để chơi vơi.

(Thánh Giáo Minh Thiện).

 

 

MỎN LÒNG

Mỏn: Mòn dần, kiệt dần, bị hao mòn từ từ. Lòng: Bụng con người, biểu tượng cho lòng dạ.

Mỏn lòng là nãn lòng, tức là lòng mòn mỏi, chán nãn, không còn hăng hái nữa.

Công đã nhiều mà bước tới nữa dường như ngán bước, gặp sự gay go đã mỏn lòng.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

MỌN

1.- Mọn là nhỏ đến mức không đáng kể.

Như: Đừng khinh lỗi mọn, đây là món vật mọn tôi tặng anh, đừng có ngại.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy muốn dạy con, phải ở và dạy nội gia quyến con cho chánh đáng, phải lấy lòng trong sạch đối đãi với người, dầu việc nhỏ mọn cũng vậy.

Thấy lỗi mọn chớ nghi chẳng hại,

Thường dạn làm tội lại hằng hà.

(Kinh Sám Hối).

Vầy hiệp đồng tâm liên ái kết,

Cường quyền sức mọn dễ chi sờn.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

2.- Mọn còn dùng để nói về mình một cách khiêm tốn. Như: Tài mọn, thân hèn mọn.

Diễn văn Đức quyền Giáo Tông đọc tại Toà Thánh ngày 8 tháng 4 năm Giáp Tuất (Dl. 1934) có câu: Một mảnh thân phàm nầy, cô thân bạc nhược nầy, yếu ớt hèn mọn nầy, có đủ tài đức chi mà Ðại Từ Phụ lại tin giao một cái giang san sự nghiệp của toàn nhơn loại hoàn cầu đặng cho gánh vác.

Tài mọn, đức hèn, mượn chước khoe mình, việc kỉnh thành Thánh giáo, hư thiệt, thiệt hư, đâu qua máy hành tàng của Tạo hoá.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

MONG

Mong là chờ đợi, hy vọng. Như: Mong cho đến tết, mong cho trời mưa.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Thầy vì thương nhơn loại, muốn cứu hết nên thường thâu thập nhiều đứa vô tâm, cũng muốn cho chúng nó ăn năn chừa lỗi, ngõ hầu hưởng phước, mà chúng nó không biết tự hối thì làm sao mong rỗi đặng.

Khổ đời muốn lánh gắng tìm phương,

Giành giựt đừng mong chác thế thường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tâm thành ắt đạt đường tu vững,

Tâm chánh mới mong mối đạo cầm.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

MONG ĐỢI

Mong: Trông ngóng, đợi chờ. Đợi: Chờ để cho gặp.

Mong đợi là đợi chờ với nhiều hy vọng.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp trong buổi lễ mãn khoá Hạ Sĩ Quan có câu: Trong giờ phút nầy không thể trì hoản được vì dân tộc đang mong đợi nơi anh em để đưa họ tới mục đích tối cao là tranh thủ độc lập và thống nhất thật sự.

Dìu đời cửa Thánh đương mong đợi,

Thoát tục non Tiên vội đến chầu.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

MONG CHỜ

Mong: Trông ngóng, đợi chờ. Chờ: Ở trong tình trạng đang mong ngóng.

Mong chờ, như chữ “Mong đợi”, là đợi chờ với nhiều hy vọng. Như: Mong chờ nhiều ở những người tài giỏi.

Tiền đã có lòng nghe nhẹ nhõm,

Việc chưa thông thấp thỏm mong chờ.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

MONG MỎI

Mong: Trông ngóng, đợi chờ. Mỏi: Mệt.

Mong mỏi là mong muốn tha thiết từ lâu.

Mong mỏi còn có nghĩa là hy vọng.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Phận chưa xong phận, thân chẳng nên thân, thân phận lo tính chưa rồi, còn mong mỏi chi dụng mình vào đường đạo đức để cho có ích chung nữa đặng!

Cõi thảm khổ đã vừa qua khỏi,

Quên trần ai mong mỏi Động Đào.

(Kinh Tận Độ).

Lời ngay mích bụng dạ đừng nao,

Mong mỏi đường theo cửa Ðạo vào.

(Đạo Sử).

Trẻ nhỏ dại lắm điều học hỏi,

Thường kiếm cha mong mỏi thấy nhau.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

MÓNG

1.- Móng là phần rắn như sừng mọc ở đầu ngón tay, ngón chân của người hoặc chân của loài vật.

Như: Móng vuốt, móng tay, móng chân ngựa.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Hội Thánh, mấy em nam, nữ lưỡng phái còn trong hàng Tín Đồ nghe Qua nói rõ: Thánh thể Đức Chí Tôn không phải Chức Sắc Thiên Phong mà thôi, các phần trong nền Chánh Giáo của Ngài mấy em phải biết trong thân thể của mấy em thế nào chẳng phải đầu óc mặt mũi tay chân là cơ quan trọng hệ gọi là trọng yếu, dầu cho một sợi tóc móng tay cũng trọng yếu vậy.

Giữ đừng để quào mày, quào mặt,

Mấy móng tay phải cắt mới bồng con.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Móng là lớp vật liệu xây ở dưới cùng, thường nằm trong đất, để chịu sức nặng của công trình xây dựng. Như: Nền móng, đổ móng đắp nền.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Nền móng của Thiên Chúa Giáo tạo ra khó khăn thế nào, chúng ta noi theo sự sáng tạo ấy đặng tạo nên một nền móng nữa, phận sự rất dễ dàng.

Tâm thành trước gắng xây nền móng,

Đức vẹn mới mong giữ mối giềng.

(Bảo Văn Pháp Quân).

 

 

MÒNG

Mòng là loài ruồi to chuyên bay hút máu người hay loài gia súc như: Trâu, bò, ngựa.

Như: Muỗi mòng, mòng trâu, loài mòng chó chuyên hút máu trâu bò.

Biết bao điều nguy hiểm trong sự phá rừng và sự khai thác: nào lam sơn chướng khí, nào nước độc muỗi mòng, nào thú dữ chực hờ...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

MỎNG

Mỏng là có bề dầy nhỏ hơn mức bình thường, hoặc nhỏ hơn so với vật khác, trái với dầy.

Nói về bộ Đại phục của Lễ Sanh Nữ phái, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Lễ Sanh Nữ phái mặc như Giáo Hữu, nhưng choàng ngang trên đầu một đoạn vải mỏng, cột ra sau ót, thả một mí dài một mí vắn, ngay đầu tóc có giắt một Bông sen.

Quyền cao Ngự Mã là vinh bấy,

Phận mỏng Hiệp Thiên biết giữ còn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Con khá nhớ hồng nhan phận mỏng,

Đừng làm cho thẹn bóng trăng xuân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

MỎNG MÀNH

Mỏng: Trái với dày, tức có bề dày nhỏ hơn mức bình thường hay so với vật khác. Mành: Mảnh, nhỏ, dễ đứt.

Mỏng mành là rất mỏng và không bền chắc, dễ đứt.

Mỏng mành còn dùng để chỉ sự yếu ớt, không đủ sức chịu đựng. Như: Mạng sống của bệnh nhân mỏng mành như sợi tóc.

Con coi phận mẹ mỏng mành,

Chánh thê nay lại sánh mình thứ thê.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

MỎNG MẢNH

Mỏng: Trái với dày, tức có bề dày nhỏ hơn mức bình thường hay so với vật khác.

Mỏng mảnh là mỏng và kém độ bền chắc, kém sức chịu đựng.

Như: Thân hình mỏng mảnh.

Nỗi mình mỏng mảnh yếm khăn,

Khó khăn chẳng giúp cho chàng đỡ tay.

(Bát Nương Giáng Bút).

Mình mỏng mảnh sức non nớt yếu,

Đỡ nâng chồng vốn thiếu tay co.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Sánh mình mỏng mảnh thương người,

Rủi sanh phận gái khó cười với thân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

MỎNG MỀM

Mỏng: Trái với dày, tức có bề dày nhỏ hơn mức bình thường hay so với vật khác. Mềm: Trái với cứng, có sự nhân nhượng tuỳ theo hoàn cảnh.

Mỏng mềm, như chữ “Mềm mỏng”, là chỉ sự khéo léo trong cách nói năng hay đối xử, biết chọn cách làm cho người ta không phật ý.

Xem: Mềm mỏng.

Người đời có tánh ưa nịnh hót,

Mình mỏng mềm mới gọt cho trơn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MÓT

Mót là lượm, nhặt nhạnh của thừa, hoặc để rơi vãi, của bỏ sót.

Như: Ăn mót, mót lúa, đi mót khoai, học mót.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Hại thay! Quốc dân ôm của báu trong tay mà không biết quý trọng, liệng rồi chạy theo ăn mót đồ bỏ của thiên hạ, lấy làm của.

Rày mừng đệ tử rất siêng năng,

Đạo đức sâu xa biết mót cằn.

(Thánh Giáo Minh Thiện).

Một vật nhỏ cũng mài cũng gọt,

Của dầu hèn cũng mót cũng cằn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

MỌT NƯỚC

Mọt: Loài côn trùng chuyên phá hoại cây cối, thường được ví với những kẻ đục phá đất nước, làm hại cho nhân quần xã hội. Nước: Đất nước, chỉ quốc gia.

Mọt nước ý muốn nói người đục khoét, phá hoại đất nước như loài mọt.

Như: Sâu dân mọt nước.

Bởi kẻ tôi đòi quên chủng tộc,

Bởi quân mọt nước bán đồng bào.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

1.- Mô: Khối đất, đá không lớn lắm, nhô lên cao hơn chung quanh.

Như: Đấp mô đất phía sau hè nhà, ngồi nghỉ trên mô rẫy, mô gò mối nầy quá cao.

Trên Ðiện Bát Quái bề cao 9 thước, hình nóc tròn lên, chỉ có 8 nóc cho phân minh, trên đầu Ðài phải để cây đèn xanh.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

2.- Mô là ở đâu, nào.

Như: Ở xứ mô, anh ấy đi mô không ai biết, đứa mô phá phách, khi mô hắn mới đến.

Mặt nhựt hồi thấy xẻ hai,

Có thương mới biết Ðấng Cao Ðài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thầy dặn chừng nghe tiếng hạc,

Thì đưa tay vói níu khuôn linh.

(Đạo Sử).

Đừng tranh phát gia tài đặng thất,

Nếu cha ngu của mất hồi .

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Mô là mưu chước. Như: Mưu mô.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Người có đức chí thành không hề biết dối trá gạt gẫm ai, không biết a dua, bợ đỡ, không vì lợi bỏ nghĩa, không vì mình hại người, cứ thẳng thắn đường ngay tiến bước, thà là chịu thất bại còn hơn là dụng mưu bất chánh để dối người, lừa bạn.

Hễ người mạnh thì hay cậy sức,

Phận liễu bồ lấy lực mưu .

(Phương Tu Đại Đạo).

4.- Mô là làm khuôn phép, khuôn mẫu để mọi người phải theo.

Như: Quy mô, nhờ những nhà mô phạm gương mẫu làm cho học sinh trường có kết quả tốt đẹp.

Cam tâm nín nẩm gia đàng,

Vì con chưa giữ vững vàng quy .

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

MÔ PHẠM

模 範

Mô: Cách thức, hay bắt chước. Phạm: Cái khuôn, phép tắc.

Mô phạm là cái khuôn để làm ra đồ vật. Nghĩa bóng: Khuôn phép để theo, ví dụ nhà mô phạm.

Cõi Thiên vị cho con còn dám,

Huống dạy khuyên mô phạm căn tu.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Treo gương mô phạm ngày ngày rạng,

Dệt gấm văn từ nét nét tinh.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

MỒ

Mồ là mộ, mả, nơi chôn xác người đã chết.

Như: Nấm mồ, cất nhà mồ, đào mồ cuốc mả.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng có câu: Ta nhìn mấy cái mồ hoang mả lạnh, nếu tìm mà hỏi cho rõ tông tích thì toàn là những kẻ thiếu niên nằm nơi đó.

Kìa xóm rẫy nấm mồ lố xố,

Nơi đôi ta tảo mộ đạp thanh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Mồ cha mả mẹ còn khi viếng,

Gốc tử, sân Lai hết lối về.

(Thơ Hi Đạm).

 

 

MỒ CÔI

Mồ côi là tiếng dùng để chỉ người mất cha hay mất mẹ hoặc mất cha lẫn mất mẹ.

Mồ côi còn dùng để chỉ người lẻ loi một mình, không con cái, không bà con thân thuộc.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Có một điều nên để ý hơn hết, trước mặt Đức Đại Từ Phụ, Đại Từ Phụ coi cả con cái của Ngài ở dưới thế gian nầy là đám mồ côi, Nam cũng vậy, Nữ cũng vậy, vì lý do đó mồ côi nên Ổng chống gậy đến, Ổng nói con Ổng mồ côi, bây giờ ta cũng kể em ta là đám mồ côi nương lấy anh, muốn nuôi nấng dạy dỗ nó, nhứt là phải dạy dỗ chẳng phải bằng lỗ miệng mà thôi, mà dạy dỗ sự hành vi của nó.

Xót thương đến kẻ tật nguyền,

Đỡ nâng yếu thế binh quyền mồ côi.

(Kinh Sám Hối).

Công ơn thân mẫu quyết đền,

Mới vừa chín tuổi chạnh niềm mồ côi.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

MỒ HOANG

Mồ: Mồ mả. Hoang: Bỏ không, không được quan tâm, chăm sóc đến.

Mồ hoang là mồ mả bị bỏ hoang vì không có thân nhân viếng thăm, chăm sóc.

Như: Mồ hoang mả lạnh.

Xanh vàng ngọn cỏ trải mồ hoang,

Oan trái trả vay khách nhộn nhàng.

(Thanh Tâm Tài Nữ).

 

 

MỒ HÔI

Mồ hôi là chất nước bài tiết qua lỗ chân lông ở da. Mồ hôi đổ ra như tắm.

Thánh giáo Đức Chơn Cực Lão Sư có câu: Chư đạo hữu phải lọc lừa lại, tìm người có tâm chí kết liên thân ái, chung hiệp nhau, bỏ sự lãng phí, dụng đồng tài nơi giọt mồ hôi, được tích thiểu thành đa, gầy dựng một cái nhà chung, để ngày phong võ nương dựa được thung dung, ngồi ngắm thế sự và chấn hưng mối Ðạo quý hoá.

Thấy mỏi mệt để lời bợ đỡ,

Mồ hôi tuông khá nhớ lau giùm.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

MỔ

Mổ là dùng dao rạch lớp bên ngoài của bộ phận cơ thể rồi mở rộng ra.

Như: Mổ bụng cá, mổ ruột thừa, vào phòng phẩu thuật mổ lấy viên đạn ra.

Con bất hiếu xay cưa đốt giã,

Mổ bụng ra phanh rã tim gan.

(Kinh Sám Hối).

Mổ bụng độn vàng, quăng phổi ruột,

Xẻ đầu nhét sách, ốm hình thù.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

MỘ

1.- Mộ là mả, mồ, nơi chôn xác người đã chết.

Như: Viếng mộ, tảo mộ, đắp mộ cha mẹ trong ngày thanh minh, đi thăm mộ ông bà.

Kìa xóm rẫy nấm mồ lố xố,

Nơi đôi ta tảo mộ đạp thanh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Mộ là mến, thích đến mức muốn tìm đến.

Như: Mến mộ, mộ Đạo Cao Đài, mộ Phật pháp, mộ tiếng tăm của chị ấy từ lâu rồi.

Thánh giáo Thầy có câu: Sanh đứng làm người, trót đã mang vào mình một vai tuồng đặc biệt, đã chẳng lo bước hành trình cho xong mà đắp bồi nợ mảnh hình hài, ngọn rau tấc đất, lại chác lắm điều phiền não ưu sầu, lấy Thánh đức gọi là chơi, mượn hành tàng vô nghĩa mà làm cho vừa lòng ái mộ bất lương.

Danh vọng ru hồn quên thổ võ,

Thẹn nòi bộc lại mộ đai cân.

(Đạo Sử).

Nỗi phận vô duyên phận chẳng đành,

Trách ai mộ thói yến cùng anh.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

MỘ CỔ THẦN CHUNG

暮 皷 晨 鐘

Mộ cổ: Trống buổi chiều. Thần chung: Tiếng chuông buổi sáng.

Mộ cổ thần chung là tiếng trống buổi chiều và tiếng chuông buổi sáng.

Trong các chùa Phật thường có treo hai câu đối cổ: “Mộ cổ thần chung, cảnh tỉnh ái hà danh lợi khách, Triêu kinh vãn kệ, hoán hồi khổ hải mộng mê nhân 暮 鼓 辰 鐘, 警 醒 愛 河 名 利 客, 朝 經 晚 偈, 喚 回 苦 海 夢 迷 人” nghĩa là trống sớm chuông chiều, thức tỉnh khách trần danh lợi chốn sông yêu, Kinh mơi kệ xế, kêu về kẻ tục mộng mê nơi biển khổ.

Mộ cổ giác mê danh lợi khách,

Thần chung cảnh tỉnh mộng mê nhân.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

MỘ ĐẠO

慕 道

Mộ: Ưa chuộng. Đạo: Tôn giáo.

Mộ đạo ưa chuộng đạo đức, hay mến mộ, ưa thích cảnh tu hành.

Thánh giáo Thầy có dạy: Thầy nhớ xưa, kẻ mộ Ðạo chịu ngàn cay muôn đắng, biết có người mà chẳng biết nhọc mình, giày gai áo bả, đội nguyệt mang sao, gió trước lọt chòi tranh, mưa sau hư giậu lá, bần hàn chẳng quản, tay trắng dìu người, một mảy không bợn nhơ, mới có thể lập ngôi cho mình đặng; có đâu lấy của lấn nhân, mượn quyền xua đức, kẻ chân thành lánh mặt, đứa tà mị áp vào, rồi cúm núm mang hơi tà, lại đua nói rằng thờ Chánh giáo.

Vậy chư nhu phải truyền bá ra, như người nào mộ Đạo thì phải cầu Đạo sớm đi.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

MỘ HOÀI

暮 懷

Mộ: Buổi chiều, gần hết. Hoài: Nhớ trong lòng.

Mộ hoài là lòng cảm hoài trong buổi chiều hôm, tức là khi chiều đến trong lòng bỗng sinh ra những điều hoài cảm, tưởng nhớ.

Xót vì thiên chức chưa tròn vẹn,

Mây nước buồn trông cảnh mộ hoài.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

MỘ KHANG

暮 康

Mộ: Buổi tối. Khang: Mạnh khoẻ.

Mộ khang là viếng thăm cha mẹ vào buổi tối xem có bình yên không.

Mộ khang, do câu “Thần tỉnh mộ khang 晨 省 暮 康” tức là sáng viếng cha mẹ coi có mạnh khoẻ không, tối thăm cha mẹ xem có vui vẻ không.

Càn Khôn Tạo Hoá sánh tài,

Nhứt triêu nhứt tịch kỉnh bài mộ khang.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

Những tưởng mộ khang tua vẹn trả.

Nào dè thần tỉnh chẳng còn mong.

(Thơ Ngọc Nhượn Thanh).

 

 

MỘ PHẦN

墓 墳

Mộ: Mồ mả. Phần: Cái mả đắp đất cao lên.

Mộ phần do chữ “Phần mộ 墳 墓”, dùng để chỉ chung về mồ mả.

Điều thứ mười lăm trong Thế luật có dạy: Người làm đầu trong Họ, khi tang chủ mời, phải đến hiệp với chư tín đồ trong Họ, làm lễ cầu siêu cho vong linh theo Tân Luật và đưa xác đến mộ phần.

Niềm duyên đổ ngọc lan phòng nguyệt,

Nỗi hiếu rơi châu tưới mộ phần.

(Thất Nương Giáng Bút).

Giờ này xin đáp trong muôn một,

Hai lạy ghi sâu trước mộ phần.

(Thơ Thái Phong).

 

 

MỘ XANH

Mộ: Mồ mả. Xanh: Màu xanh, do bởi màu cỏ cây mọc đầy.

Mộ xanh là núm mồ đã xanh màu cỏ, chỉ mồ mả của người chết đã lâu.

Công danh tóm lại bàn tay trắng,

Phú quý thâu về nắm mộ xanh.

(Thơ Chánh Đức).

 

 

MỐC

Mốc là thứ rêu do hơi ẩm mà sinh ra trên đồ vật, hoặc thức ăn bị thiu.

Như: Mốc meo, áo để ẩm sinh ra mốc, đậu nành ủ mốc để làm tương.

Trước Ðiện lai rai ba chú Ðạo,

Sau hiên meo mốc mấy pho kinh.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

MỘC

1.- Mộc là cây cối, gỗ. Như: Thảo mộc.

Thánh giáo Thầy có dạy: Cả kiếp luân hồi thay đổi từ trong nơi vật chất mà ra thảo mộc, từ thảo mộc đến thú cầm, loài người phải chịu chuyển kiếp ngàn năm, muôn muôn lần mới đến địa vị nhơn phẩm.

Thượng cầm hạ thú lao xao,

Côn trùng thảo mộc loài nào chẳng linh.

(Kinh Sám Hối).

Chẳng khác chồi non xô đại mộc,

Như sa vực thẳm khó toan trèo.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Mộc là gội, không dùng một mình.

Như: Mộc ân (gội ơn), mộc dục (tắm gội), làm lễ mộc dục là lễ lau rửa tượng Phật.

Đàn tràng viên mãn chức sắc quy nguyên,

Vĩnh mộc từ ân phong điều võ thuận.

(Kệ Chuông).

 

 

MỘC BỔN THUỶ NGUYÊN

木 本 水 源

Mộc bổn: Cây cội. Thuỷ nguyên: Nước nguồn.

Mộc bổn thuỷ nguyên là cây cội, nước nguồn, tức cây có gốc sinh, nước có nguồn chảy ra.

Trong muôn vật đều phải có nguồn gốc, như cây cội nước nguồn, con người cũng vậy có tổ tiên ông bà.

Nghĩa bóng: Cùng một nguồn gốc mà ra.

Người có chí thành chí kỉnh, tầm sư học Ðạo, một lòng cung kỉnh, chẳng vong mộc bổn thuỷ nguyên, thiệt hành Thiên Ðạo thì sẽ đến bực huờn hư.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

MỘC ĐẠC

木 鐸

Mộc: Cây, gỗ. Đạc: Cái mõ.

Mộc đạc là cái mõ bằng gỗ.

Ngày xưa người ta dùng mộc đạc để gõ lên báo hiệu vào giờ học, cho nên người ta thường gọi ông thầy dạy học là mộc đạc.

Luận ngữ có câu: Thiên hạ chi vô đạo cửu hỹ, thiên tương dĩ Khổng Tử vi mộc đạc 天 下 之 無 道 久 矣, 天 將 以 孔 子 為 木 鐸, nghĩa là thiên hạ không đạo đã lâu rồi, trời cho Khổng Tử ra làm cái mõ để cảnh tỉnh nhơn tâm.

Nghe chuông khử ám hồi minh,

Mộc đạc thức tỉnh chúng sinh thuận hoà.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

MÔI

Môi là nếp thịt mềm làm thành cửa miệng.

Như: Bặm môi, môi đỏ như son, má phấn môi son, bĩu môi khinh dể.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bần Đạo để lời cám ơn mấy em một cách nồng nàn, và lời cám ơn ấy nó chẳng phải ở ngoài môi, mà nó ở trong tâm não của Bần Đạo đem ra đó vậy.

Trình môn đã muốn ít câu văn,

Chải chuốt mép môi cũng gọi rằng.

(Đạo Sử).

 

 

MÔI GIỚI

媒 介

Môi: Người làm mối. Giới: Giới thiệu.

Môi giới là người đứng trung gian để giới thiệu và bàn thảo công việc giữa hai bên.

Thánh giáo Đức Thượng Phẩm có câu: Về tâm lý của đời, cũng như của Đạo, không có phương pháp giáo hoá hay cai trị nào hay hơn bằng tự mình làm môi giới.

Cả thảy sống đồng sống, chết đồng chết đặng đem Quốc Ðạo làm môi giới cả đại đồng đặng tạo tương lai loài người...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

MÔI SON

Môi: Nếp thịt mềm làm thành cửa miệng. Son: Một loại bột màu đỏ dùng để trang điểm hay sơn đồ gỗ.

Môi son là môi thoa một lớp son đỏ, tức lấy son tô lên môi đỏ hồng.

Như: Má phấn môi son.

Khách má phấn môi son đậm sắc,

Đặng đem mồi trêu mặt ác phong.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

MỐI

1.- Mối là người đứng ra môi giới hay điều đình việc cưới hỏi hoặc việc mua bán.

Như: Mối lái, làm mối bán chiếc xe, làm mối hôn nhân cho hai đứa trẻ.

Kẻ tham lợi cột mai cột mối,

Chuốt trau lời giả dối ngọt ngon.

(Kinh Sám Hối).

Nhiều trai gái duyên hài lỡ dở,

Tại chim xanh dụng mở mối đường.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Mối là một loại bọ cánh thẳng, sống thành tổ dưới đất, thường hay đục khoét đồ gỗ, quần áo hay sách vở.

Như: Mối mọt, tổ mối, tủ bị mối đùn vách hậu, quần áo bị mối ăn.

Ấy vậy, ta thấy mối chúa vì phụng sự loài mối mới làm chúa mối.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

3.- Mối là đoạn đầu của sợi chỉ, sợi dây dùng để buộc thắt lại với nhau. Như: Mối tơ, mối dây, trăm mối tơ vò, gỡ mối chỉ hồng.

Trong Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Sự đoàn kết đó là mối dây thiêng liêng tạo nên tình thương yêu đậm đà, một căn bản siêu nhiên trên bước đường giải khổ cho nhân loại.

Trái oan nào khác mối tơ,

Rối rồi không gỡ, bao giờ cho ra.

(Kinh Sám Hối).

Thân ái mối dây tua nắm chặt,

Chít chiu ấy cũng một bầy gà.

(Đạo Sử).

4.- Mối chỉ cái khởi đầu việc gì, hay cái duyên do việc gì thuộc phạm vi tình cảm hay quan hệ xã hội. Như: Mối sầu, mối tình, mối bất bình, mối đe doạ.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu dạy: Kẻ vô phước dụng tà tâm làm một món lợi riêng, quên cả điều hành phạt đã kế bên mình, chới với cả muôn triệu giữa dòng, mà chẳng chịu sớm tự hối đặng gỡ lần mối hoạ sau.

Chung ly biệt con đưa tay rót,

Mối thương tâm chưa ngớt đeo sầu.

(Kinh Thế Đạo).

Nâu sồng nhuộm áo pha màu khổ,

Tránh mối oan khiên chớ buộc mình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trăm năm lẩn quẩn đường nhơn nghĩa,

Một kiếp đeo đai mối nợ tình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).