TỪ NGỮ ĐIỂN CỐ CAO ĐÀI

 

 

Danh mục vần N

 

 

NẢ

Nả

Nả nong

 

NẠC

Nạc

 

NAI

Nai

 

NÀI

Nài

Nài cầu

Nài nỉ

Nài xin

 

NÃI

Nãi

 

NẠI

Nại

Nại hà

 

NAY

Nay

 

NẢY

Nảy

Nảy nở

Nảy sanh

 

NAM

Nam

Nam ai

Nam bang

Nam Bình Phật Tổ

Nam Châu

Nam đảnh

Nam giản

Nam giao

Nam hải

Nam Hải Phổ Đà

Nam hoa

Nam huân

Nam kinh

Nam kỳ

Nam Kha

Nam mẫu Đông giao

Nam mô

Nam mô Huyền Khung Cao Thượng Đế

Nam Mô Pháp

Nam Mô Phật

Nam Mô Tăng

Nam nữ bất thân

Nam nhi

Nam phong

Nam Tào

Nam tào Bắc đẩu

Nam tử

Nam thanh nữ tú

Nam Thiệm Bộ Châu

Nam trào

Nam trung

Nam Việt ký Diệu Đài

Nam xa

 

NÁM

Nám

 

NAN

Nan

Nan đào

Nan giải

Nan y

Nan phân

Nan thủ

 

NÁN

Nán

 

NÀN

Nàn

 

NẢN

Nản

Nản chí

 

NẠN

Nạn ách

Nạn gởi tai bay

Nạn nguy

 

NÀNG

Nàng

Nàng Tô

 

NANH

Nanh

Nanh vuốt

 

NẠNH

Nạnh

Nạnh hẹ

 

NAO

Nao chí

Nao lòng

Nao núng

 

NÁO

Náo

Náo động

Náo loạn

Náo nức

Náo nhiệt

 

NÀO

Nào

Nào dè

 

NÃO

Não cân

Não nề

Não nồng

Não nùng

Não phiền

 

NẠP

Nạp

Nạp đến bến nhơ

Nạp thiểu

 

NÁT

Nát

Nát cửa tan nhà

Nát mật bầm gan

Nát ngọc phai vàng

Nát nghiền

Nát tan

 

NẠT

Nạt

 

NÁU

Náu nương

 

NĂM

Năm

Năm âm

Năm canh

Năm cây nhang

Năm cung

Năm châu

Năm châu bốn biển

Năm giới cấm

Năm hằng

Năm sắc hoa

Năm thê bảy thiếp

Năm vần

Năm vận

Năm xe

 

NẮM

Nắm

Nắm phan

Nắm phan Tiếp Dẫn

Nắm tâm

Nắm tâm hương

 

NẰM

Nằm

Nằm đất

Nằm lòng

Nằm gai nếm mật

Nằm giá

 

NĂN

Năn nỉ

 

NẮN

Nắn

Nắn đúc

 

NĂNG

Năng

Năng cứu

Năng du Ta Bà thế giới

Năng lực

 

NẮNG

Nắng

Nắng dãi mưa dầu

Nắng lửa mưa dầu

Nắng hạn mưa rào

Nắng mưa chưa vừa kẻ

Nắng nồng tuyết lạnh

 

NẶNG

Nặng

Nặng lời

Nặng nề

Nặng nợ

Nặng ngãi sanh thành

Nặng tình

Nặng tình trọng ngãi

Nặng trịu

 

NẤC

Nấc

Nấc thang

 

NẤY

Nấy

 

NẦY

Nầy

 

NẨY

Nẩy

Nẩy nở

 

NẤM

Nấm mồ

 

NÂNG

Nâng

Nâng án

Nâng đỡ

Nâng khăn

Nâng khăn trắp

Nâng niu

Nâng vạc

 

NÂU

Nâu

Nâu sồng

 

NẤU

Nấu

Nấu nung

Nấu nướng

Nấu kinh sử

 

NẬU

Nậu

 

NẺ

Nẻ

 

NEM

Nem

 

NÉM

Ném

Ném bút

 

NÉN

Nén

Nén hương

 

NẺO

Nẻo

Nẻo chánh

Nẻo hạnh

Nẻo hoạn

Nẻo lợi đường danh

Nẻo Phật đường Tiên

Nẻo phiền

Nẻo tà

Nẻo Thánh

Nẻo thẳng đường ngay

Nẻo vạy

Nẻo vạy đường tà

 

NÉP

Nép

Nép cây đợi thỏ

 

NÉT

Nét

Nét ngài

 

Nê hoàn cung

 

NỀ

Nề

Nề nếp

 

NỂ

Nể

Nể mặt

 

NỆ

Nệ

 

NÊM

Nêm

 

NẾM

Nếm

Nếm mật

 

NỆM

Nệm ấm chăn êm

Nệm tuý

 

NÊN

Nên

Nên danh

Nên hư

Nên người

 

NỀN

Nền

Nền giao

Nền móng

Nền nhân

Nền Nho

Nền nhơn

Nền tảng

Nền Thánh

 

NẾP

Nếp

 

NẾT

Nết

Nết hạnh

Nết khuôn

Nết na

 

NÊU

Nêu

Nêu danh

Nêu gương

Nêu tên

 

NẾU

Nếu

 

NI

Ni

Ni cô

Ni Kim Cô

 

NỈ

Nỉ

Nỉ non

 

NIÊM

Niêm luật

Niêm phong

 

NIỀM

Niềm

Niềm riêng

Niềm son sắt

Niềm tây

Niềm thương

 

NIỆM

Niệm hương

Niệm Hương Chú

Niệm Phật

 

NIÊN

Niên

Niên canh

Niên cao

Niên kỷ

Niên ngọat nhựt thời

Niên thiếu

 

NIẾT

Niết Bàn

 

NÍN

Nín

Nín nẩm

 

NINH

Ninh Thích

 

NỊNH

Nịnh

Nịnh hót

Nịnh tà

Nịnh thần

 

NÍP

Níp tử

 

NỊT

Nịt

 

NÍU

Níu

Níu nắm

Níu nhánh dương

 

NO

No

No ấm

No cơm ấm áo

No đủ

No lòng

 

NỎ

Nỏ màng

 

NỌ

Nọ

 

NÓC

Nóc

 

NỌC

Nọc

 

NOI

Noi

Noi bước

Noi chí

Noi chước

Noi dấu

Noi đường

Noi gương

 

NÓI

Nói

Nói chơi

Nói chuyện

Nói dối

Nói hành

Nói năng

Nói tội

 

NÒI

Nòi

Nòi giống

 

NOM

Nom

 

NON

Non

Non Bồng

Non Bồng nước Nhược

Non Côn

Non Dĩ

Non Hộ

Non Kỳ

Non mòn

Non nớt

Non nước

Non sông

Non Tiên

Non Tiên cảnh Phật

Non Tiên động Thánh

Non Thái

Non thẳm

Non Thần

Non thề

Non Vu

Non Vu lấp nẻo

Non xanh

Non xanh nước biếc

Non xế nhành thung

 

NÓN

Nón lá

 

NONG

Nong

Nong nả

 

NÓNG

Nóng

Nóng bức

Nóng lòng

 

Nô dân

Nô lệ

Nô nức

 

NỔ

Nổ

 

NỖ

Nỗ

Nỗ lực

 

NỘ

Nộ

Nộ khí

 

NỐI

Nối

Nối bước

Nối dây

Nối dòng

Nối điêu

Nối gót

Nối hậu

Nối hương lửa

Nối lửa hương

Nối lửa truyền hương

Nối giáo

Nối tông tổ

Nối Tông môn

 

NỒI

Nồi

Nồi da xáo thịt

Nồi kê

Nồi niêu

Nồi xông

 

NỔI

Nổi

Nổi giận

Nổi loạn

Nổi Tam bành

Nổi trôi

 

NỖI

Nỗi

Nỗi lòng

Nỗi niềm

Nỗi nhớ niềm thương

 

NỘI

Nội

Nội bộ

Nội bộc

Nội chánh

Nội dung

Nội giáo Tâm truyền

Nội hàng

Nội loạn

Nội luật

Nội nghi

Nội ô

Nội sảnh

Nội trợ

 

NÔM

Nôm na

 

NÔN

Nôn

Nôn nao

Nôn nóng

 

NÔNG

Nông

Nông cạn

Nông canh

Nông nổi

Nông nỗi

Nông tang

Nông thôn

Nông trang

Nông Viện

 

NỒNG

Nồng

Nồng hạ

Nồng mặn

Nồng nàn

 

NỘP

Nộp

 

NỞ

Nở

Nở mày

Nở nang

 

NỠ

Nỡ

 

NỢ

Nợ

Nợ dâu tằm

Nợ duyên

Nợ đời

Nợ nần

Nợ nước

Nợ tiền khiên

Nợ thế

Nợ trần

 

NƠI

Nơi

Nơi lòng Thầy ngự

 

NỚI

Nới

Nới tay

 

NỚT

Nớt non

 

NỤ

Nụ

 

NÚI

Núi

Núi Dĩ

Núi Hộ mây che

Núi lở non mòn

Núi lửa

Núi non

Núi như đao

Núi Ô Li Vê

Núi sông

Núi Tỵ

 

NÙI

Nùi

 

NÚM

Núm mồ

 

NUNG

Nung

Nung đúc

Nung lò hoá sanh

Nung nấu

 

NŨNG

Nũng

 

NUÔI

Nuôi

Nuôi cháu bỏ con

Nuôi dưỡng

Nuôi nấng

 

NUỐI

Nuối tiếc

 

NUỐT

Nuốt

Nuốt sống

 

NÚP

Núp

 

NÚT

Nút

 

Nư giận

 

NỮ

Nữ

Nữ công

Nữ dung

Nữ Đầu Sư

Nữ giá nam hôn

Nữ giới

Nữ hạnh

Nữ kiệt

Nữ lưu

Nữ nam đồng bực

Nữ nhi

Nữ phách

Nữ Phật

Nữ sắc

Nữ sĩ

Nữ Tiên

Nữ tiết

Nữ tú

Nữ trung

 

NỬA

Nửa

Nửa chừng

Nửa người nửa Phật

Nửa chừng xuân

 

NỮA

Nữa

 

NỰC

Nực

Nực cười

Nực nội

Nực nồng

 

NƯNG

Nưng

Nưng niu

 

NƯỚC

Nước

Nước bèo

Nước biếc non xanh

Nước Cam lồ

Nước chảy hoa trôi

Nước Chúa

Nước dời cạn bực

Nước dương

Nước đục lóng trong

Nước giàu dân mạnh

Nước lã thế rượu

Nước loạn rõ tôi trung

Nước Lỗ biến hình lân

Nước lưng đáy gáo

Nước Ma Ha

Nước mắt

Nước mây

Nước non

Nước nguồn cây cội

Nước nhà

Nước nhà khuyết dân

Nước nhành dương

Nước Nhược non Bồng

Nước Phật

Nước Thánh

Nước thấm đầu non

Nước trí non nhân

 

NƯỜM

Nườm nượp

 

NƯƠNG

Nương

Nương bóng

Nương bóng Cao Đài

Nương cậy

Nương dựa

Nương náu

Nương nưởng

Nương nhờ

Nương thân

Nương theo thuyền huệ

Nương nương

 

 

 

 

 

 

 

 

N

 

là cái giàn thun, cái nỏ, tức dùng cái nạng hai bên có buộc hai sợi dây cao su, túm lại một đầu bằng miếng da để viên đá vào đó bắn chim, cu.

Tục ngữ Việt có câu: “Được chim quên ná, được cá quên nơm” ý chỉ người vong ân bội nghĩa.

Ðặng chim trách kẻ toan quên ,

Buồn bực cho đây vẫn một mình.

(Đạo Sử).

 

 

NẢ

Nả là tiếng dùng sau chữ “bao, mấy”, có ý phủ định thời gian, có nghĩa là không bao lâu, chẳng bao lâu, hoặc phủ định số lượng: Không bao nhiêu.

Như: Sức mầy làm được bao nả mà nói phách.

Ví bằng ai hỏi sao bao nả?

Rằng trẻ noi sau biến hoá già.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Lời phiền đổi lại tiếng than,

Thương kia bao nả lại càng thêm thương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Nghĩ cõi Bồng Lai xưa mấy mặt,

Còn tôi bao nả dám làm hơi?

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

NẢ NONG

Nong: Hướng tới trước, lao về phía trước. Như: Chèo nong tới.

Nả nong, như chữ “Nong nả”, là nôn nóng trong lòng muốn làm ngay công việc cho sớm có kết quả.

Như: Hằng ngày anh ấy nả nong làm việc thiện.

Xem: Nong nả.

Lòng trần dầu muốn phong ba dứt,

Ðộ chúng tu nhơn chí nả nong.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NẠC

Nạc là chỗ toàn thịt, không có xương, không có mỡ.

Như: Thịt nạc, heo nạc, hết nạc vạc đến xương, nửa nạc nửa mỡ.

Đạo chồng vợ sống thì gởi nạc,

Nương nhờ nhau đến thác gởi xương.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NAI

Nai là một loài thú cùng loại với hươu, nhưng lớn hơn, lông màu nâu sẵm. Như: Hươu nai, nai tơ.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Vị Vương Hầu ấy mới hỏi Ngài (Đức Phật) có thấy con nai chạy ngang qua đây không? Ngài suy nghĩ nếu ta chỉ chỗ thì vị hung thần nầy giết nó, thì ta có liên quan tới sát sanh, nếu ta nói không thấy thì ta nói dối tốt hơn là ta làm thinh, Ngài nhứt định làm thinh.

Hạc Ðạo đón đưa bay xạo xự,

Nai Tăng tiếp rước chạy lao xao.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Cờ vàng quấn mũ mang y đạo,

Nai trắng nương lưng gót võ lừa.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

NÀI

1.- Nài là yêu cầu, cố mời, khẩn khoản xin. Như: Tôi đến nhà nó nài mãi mới được đó.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Ðạo là quý, của quý chẳng bán nài, các con đừng thối chí.

Bởi quen mặt đào châu bớt đẹp,

Bởi nhìn thường hoa ép liễu nài.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Nài còn có nghĩa là từ chối, nề hà. Như: Gian truân chẳng nài, chẳng nài cam khổ.

Thánh giáo Thầy có câu: Các con cùng Thầy, vì lòng bác ái, chẳng nài khó nhọc đến truyền Chánh đạo, mặc tình những đứa vô lương, các con cứ một đường đi tới, sự phải quấy sau nầy chúng nó sẽ rõ.

Mạnh Quang tích trước ghi tài,

Tề mi vẹn đạo chẳng nài khổ thân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Thị phi gác bỏ ngoài tai,

An lòng vui dạ chẳng nài thiệt hơn.

(Thơ NĐS Hương Thanh).

 

 

NÀI CẦU

Nài: Cố mời, cố gắng xin. Cầu: Tìm, xin, mong, cậy.

Nài cầu, cũng như chữ “nài xin” là dùng lời lẽ nhỏ nhẹ để cố gắng xin cho được việc gì.

Nài cầu còn có nghĩa là cố mời.

Cái khổ của đời mình ước vọng,

Cái chê của chúng lại nài cầu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tại nơi mình dưới bộc trong dâu,

Ra đến thế nài cầu sao đáng giá.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NÀI NỈ

Nài: Khẩn khoản xin, yêu cầu.

Nài nỉ là nài xin một cách thiết tha, dai dẳng đến mức người ta khó lòng từ chối.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Đức Chí Tôn Ngài đến do tay Ngài ký một hoà ước với một sắc dân nô lệ, sắc dân hèn mọn, đặng Ngài nài nỉ xin cho đặng hai điều trọng yếu làm cho nhơn loại đặng sống tồn tại là luật thương yêu và quyền công chánh.

Nài nỉ xin đình ngày tận diệt,

Hầu lo độ rỗi phỉ tình tôi.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

NÀI XIN

Nài: Yêu cầu, khẩn khoản xin. Xin: Tiếng dùng để chỉ việc van xin.

Nài xin là dùng lời nhỏ nhẹ mà cố xin, hay khẩn khoản mà yêu cầu.

Về quyền hành của Giáo Sư, Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có đoạn: Chúng nó phải tuân mạng lịnh Giáo Tông, làm y luật lệ Giáo Tông truyền dạy. Như thảng luật lệ nào nghịch với sự sanh hoạt của nhơn sanh thì chúng nó đặng phép nài xin huỷ bỏ.

Dạy không nghe chẳng đặng làm thinh,

Can chẳng đặng nài xin em phải thuận.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NÃI

Nãi là tiếng dùng để chuyển sang một ý khác, có nghĩa là bèn, rồi thì.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Nhạc là hưởng ứng của cả khối sanh quang của càn khôn vạn vật đồng thinh. Nơi Á Ðông có câu: “Biều thổ cách mộc thạch kim dử tư trước nãi bát âm”. Các vật vô năng mà nói đặng có trật tự niêm luật hoà nhau là đạt Ðạo, hiệp lại với tiếng kinh mình đọc là âm thinh, nghĩa là con người cùng vạn vật đồng thinh hiến lễ.

Nãi Nhựt Nguyệt Tinh Thần chi quân,

Vi Thánh, Thần, Tiên, Phật chi chủ.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

NẠI

Nại có nghĩa là chịu, quen, ngại, nề. Như: Không nại khó nhọc, chẳng nại gian lao vất vả.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy biết có những chơn linh, vì lãnh mạng tá phàm, mà dìu dắt các con của Thầy, nên chẳng nại công lao khó nhọc, yêu cầu cùng Tam Giáo nới tay cho Thầy cứu rỗi các con.

Dò đường Thánh khó khăn chẳng nại,

Tùng khuôn Hồng nhỏ dại lớn khôn.

(Kinh Thế Đạo).

Sau đặng nên nhà công chớ nại,

Khiến điều oan trái chớ than ôi.

(Đạo Sử).

 

 

NẠI HÀ

1.- Nại hà, như chữ “Nề hà” là nề, quản ngại.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: May duyên gặp Ðạo, chống chiếc thuyền từ để cứu vớt sanh linh nơi dòng khổ hải hầu buổi chung quy được trở về với cảnh cũ ngôi xưa, Ðức Chí Tôn đã hứa hẹn và đưa tay chực rước thì mảnh xác thân này há đâu nại hà cực nhọc.

Nhúm nhen ấm áp lò hương lửa,

Chung gánh giang sơn chớ nại hà.

(Thơ Hương Phụng).

2.- Nại Hà 奈 河 là tên một con sông. Nại Hà kiều là cây cầu bắc qua sông Nại Hà.

Sách Tuyên Thất Chí của Trương Độc chép: Đổng Quang chết, hồn đến một con sông rộng không đầy vài thước, nước chảy về hướng tây nam, tục gọi là cầu Nại Hà, chảy từ Địa phủ ra. Quang nhìn nước thấy toàn là huyết, mùi tanh hôi không thể chịu được (Hán Việt Từ Nguyên, Bửu Kế).

Theo Phật giáo, ở cõi Âm phủ có con sông lớn, gọi là Nại Hà, trong ấy có các loại thuỷ tộc như rắn, cua, kình rất dữ tợn. Trên sông có bắc một cây cầu, gọi là cầu Nại Hà, Tội nhơn đến đó không thể nào qua sông đặng, chỉ những người có đầy đủ phước đức mới đi qua cầu Nại Hà được, còn những kẻ hung dữ đều bị té nhào xuống sông để cho cua kình rỉa thây.

Cầu Nại Hà bắc giăng sông lớn,

Tội nhơn qua ốc rởn dùn mình.

(Kinh Sám Hối).

 

 

NAY

Nay là tiếng dùng để chỉ thời gian hiện tại, phân biệt với quá khứ hoặc tương lai. Như: Từ xưa đến nay, nay thế nầy mai thế khác.

Thánh giáo Thầy có câu: Nay tuy các con chẳng thấy đặng hành vi mầu nhiệm mà chính mình Thầy đã đến nói, các con cũng nên tin nơi Thầy mà cho rằng lời Thầy dạy là chơn thật.

Thoát xác xưa tầng tu vạn kiếp,

Ðộ hồn nay gội khắp năm châu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Mũi kim chẳng lọt xưa nay hẳn,

Biết sợ xin khuyên cẩn thận mình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NẢY

Nảy là bắt đầu nhú ra, trổ ra, mọc ra, sinh ra.

Như: Hạt lúa nảy mầm, tiết xuân cây cỏ đâm chồi nảy lộc, sinh sôi nảy nở.

Xuân mai ba bảy đã mòn,

Cội thu thêm nảy mấy hoàn anh nhi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Nếu lái buôn biết kế đút lòn,

Hại lúa phải nảy con ra mộng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NẢY NỞ

Nảy: Trổ, mọc. Nở: Nứt ra, mở ra, phồng ra.

Nảy nở, còn có thể viết “Nẩy nở”, là phát sinh và phát triển ra.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Con người đã có hiếu thì các tánh đức tốt đẹp khác đều là phụ thuộc, bởi vì khởi đoan của tâm hiếu, không phải biến sanh một ngày, một bữa gì mà kể từ giọt sữa mẹ mà hiện ra làm căn bản môi giới cho các tánh đức khác nảy nở, mà ta đã thấy và định quyết rằng người đã làm được con hiếu thì thế nào cũng sẽ là cha từ.

Nhơn tài nảy nở tuy trăm bụng,

Dân trí biến sanh bởi một bầu.

(Thơ Hộ Pháp).

Thù nghịch sanh ra lòng độc ác,

Thuận hoà nảy nở tánh hiền lương.

(Thơ Thông Quang).

 

 

NẢY SANH

Nảy: Bắt đầu nhú ra, sanh ra hay phát sinh. Sanh (sinh): Sanh ra.

Nảy sanh hay “Nẩy sinh” là sinh ra xuất hiện trong điều kiện, hay hoàn cảnh nào đó.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Cũng như cổ kim lập triều đình, định chánh thể rồi, muốn ra nguyên tắc lập quân đội, quân đội không tuân hành đi nghịch lại mạng lịnh của triều đình thì triều đình bất lực nảy sanh loạn lạc.

Nết Khổng nảy sanh bao Thánh triết,

Nhà nho sản xuất bực hiền lương.

(Tôn Sơn Chơn Nhơn).

Đời vật chất nảy sanh khói lửa,

Đạo tinh thần thường bữa an nhàn.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

NAM

1.- Nam là con trai. Như: Nam nhi chi khí, nam thanh nữ tú, thiện nam tín nữ.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Chí Tôn có dạy: Trên Bạch Ngọc Kinh có đủ Nam và Nữ, các con chớ lầm tưởng là phân biệt. Có các Ðấng Nữ Tiên, Nữ Phật còn lớn quyền hơn Nam nhiều.

Thanh sử từng nêu gương nữ kiệt,

Hồng ân chi kém bạn nam nhi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trai nam tử gió trăng là phận,

Đạp nước non đặng tấn khí hùng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Nam là một phương trong bốn phương, đối với hướng Bắc. Nam còn dùng để chỉ nước Việt Nam.

Như: Nam bang, nam triều, cổng hướng phía nam.

Thánh giáo Thầy có câu: Trời Nam may đặng một yếng sáng của Ðấng Ðại Từ Ðại Bi dẫn khách trần bước lần ra con đường hắc ám, để tránh khỏi bến mê, dụng nâu sồng thế cân đai, mượn khổ tâm thay chung đỉnh, lấy hạnh đức làm nấc thang bước lên tột lừng Trời, vẹt ngút mây xanh, trông vào cảnh thiên nhiên, biết rõ cơ mầu nhiệm mà làm khách u nhàn thanh nhã, núi thẳm rừng xanh.

- Chỉ hướng Nam:

Cội Bắc chim về chiều ngã bóng,

Non Nam ác lố ánh tan sương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

- Chỉ nước Nam:

Hảo Nam bang! Hảo Nam bang!

Tiểu quốc tảo khai Hội Niết Bàn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NAM AI

南 哀

Nam: Điệu hát và cung đàn ở phương Nam: Hát Nam, Nam ai. Ai: Buồn thương.

Nam ai là điệu ca cổ ở Huế có tính chất buồn thương, ai oán.

Trong nhạc cổ miền Nam có ba bài Nam là Nam ai, Nam xuân và Đảo ngũ cung. Bài Nam ai có nhịp chậm, giọng buồn thảm bi ai.

Mùi đạo đức chớ ơ hờ mà bê trễ,

Cuộc thế tàn lóng nghe tiếng dế cất giọng nam ai.

(Giác Mê Khải Ngộ).

 

 

NAM BANG

南 邦

Nam: Phương nam, chỉ nước Việt Nam. Bang: Chỉ đất nước, Quốc gia.

Nam bang là nước Nam, ý chỉ nước Việt Nam.

Trong Thi Văn Dạy Đạo, Thánh giáo Đức Chí Tôn có lời dạy: Hảo Nam Bang! Hảo Nam Bang! Tiểu quốc tảo khai hội Niết Bàn.

Hớn trào xuất thế Đế oai vang,

Nay xuống Nam bang đặng giải nàn.

(Thánh Giáo Minh Thiện).

Dùng mưu phản gián Nam Bang,

Ðoạt thâu cho sạch vàng ngàn bạc muôn.

(Đạo Sử).

 

 

NAM BÌNH PHẬT TỔ

南 屏 佛 祖

Theo lời Đức Hộ Pháp dạy anh em thợ hồ khi xây dựng Báo Ân Từ vào năm Nhâm Thìn 1952, thì Nam Bình Phật Tổ còn gọi là Nam Bình Vương Phật là một vị Phật được thờ nơi khuôn bao hình chữ nhựt ở tấm vách ngoài, ngó ngay vào Chánh Điện Thờ Đức Phật Mẫu.

Hiện nay nơi Toà Thánh Tây Ninh chưa có Điện Thờ Phật Mẫu, còn tạm mượn Báo Ân Từ để thờ Đức Mẹ, vì vậy nơi đó còn để trống. Chờ ngày nào tạo được Đền thờ Phật Mẫu trung ương, thì nơi khuôn bao hình chữ nhựt ở tấm vách ngoài, ngó ngay vào Chánh Điện Thờ Đức Phật Mẫu sẽ đắp tượng Nam Bình Phật Tổ Phật, cũng như nơi Đền Thánh có Hộ Pháp ngự trên ngai thất đầu xà trông vào Bát Quái Đài vậy.

Mặc dầu không có thờ Nam Bình Phật Tổ, nhưng sau khi cúng Đức Phật Mẫu tại Báo Ân Từ xong, Đức Ngài có dạy Lễ Viện Phước Thiện, Giáo Nhi và Đồng Nhi là: Khi cúng rồi phải day ra xá một xá, cũng như ở Đền Thánh vậy. Nên hiểu, không phải xá Hộ Pháp, mà là xá để kỉnh chào Khí Sanh Quang, tức là nguồn cội của Pháp biến sanh vạn vật...

Riêng tại Trí Giác Cung, Đức Hộ Pháp dạy phải đắp Nam Bình Phật Tổ trên khuôn bao đối diện với Chánh Điện Phật Mẫu.

Tượng Nam Bình Phật Tổ nơi Trí Giác Cung là hình một tu sĩ, mình mặc áo tràng tay rộng, màu nâu vàng lợt, tay mặt cầm quạt, tay trái cầm bình bát vu, chân đeo thảo hài, có vành tai dài thòng xuống như tai Phật, đầu đội mão như mão quan nơi triều đình ngày xưa.

Trên tượng thờ có đề bốn chữ Nho nằm ngang là “南 屏 佛 祖 Nam Bình Phật Tổ”. Bên cạnh bức tượng có hai hàng chữ Nho viết theo chiều thẳng đứng, hàng trong có 8 chữ, hàng ngoài có 16 chữ như sau:

 

有 濟 於 人 有 濟 於 物 誰 謂 其 顛 錯 有 我 佛

佛 其 有 靈 馨 香 拜 乞.

Phiên âm:

Hữu tế ư nhân hữu tế ư vật thuỳ vị kỳ điên, Thác hữu ngã phật phật kỳ hữu linh hinh hương bái khất,

Nghĩa là:

Có cứu giúp người, có cứu giúp vật, ai bảo ấy là điên? Lầm có ta là Phật,

Phật ấy có linh, đốt hương thơm vái lạy cầu xin.

Ý nghĩa thờ Nam Bình Phật Tổ:

Trong Đàn cơ tại Cung Đạo Đền Thánh, đêm 25-6-Nhâm Tý (Dl. 4-8-1972), hồi 20 giờ 15. Phò loan: Hiến Pháp - Khai Đạo. Hầu đàn: Bảo Đạo, Hiến Đạo, Đầu Sư, chư Chức sắc Hiệp Thiên Đài, Cửu Trùng Đài, Phước Thiện và Chức việc, Đạo hữu nam nữ. Hầu bút: Thừa Sử Lê Minh Khuyên, Giáo Hữu Thượng Tám Thanh.

Ngài Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa hỏi Đức Hộ Pháp về việc thờ Nam Bình Phật Tổ như thế nào?

Đức Hộ Pháp giáng: Nên đặt một nghi tiết riêng biệt vì Đấng ấy có công mở đạo tại Việt Nam.

Bảo Đạo bạch tiếp: Nơi các Điện Thờ Phật Mẫu sau nầy cũng phải thờ hay không?

Đức Hộ Pháp giáng đáp: Dùng riêng một chỗ cho Người mà thôi.

Như vậy, sau nầy Hội Thánh có xây dựng Điện Thờ Phật Mẫu trung ương, Hội Thánh sẽ thờ Nam Bình Phật Tổ phía đối diện với Chánh Điện thờ Phật Mậu để thể hiện thờ vị Phật có công mở Đạo tại Việt Nam và chỉ thờ duy nhứt tại một nơi mà thôi, các Điện Thờ Phật Mẫu khác không có.

Nơi Báo Ân Từ thờ Đức Phật Mẫu, phía ngoài đối diện với bửu điện thì không có tượng thờ chi hết, chỉ có ở Địa Linh Động có tượng thờ vị Nam Bình Phật Tổ.

(Thánh Giáo Hộ Pháp).

 

 

NAM CHÂU

南 州

Nam: Hướng Nam. Châu: Giao Châu.

Nam Châu là phía Nam của quận Giao Châu 交 州.

Theo Việt Sử, vua Triệu Đà đánh được An Dương Vương rồi, sáp nhập nước Âu Lạc vào quận Nam Hải, lập thành một nước Nam Việt, lên ngôi là Vũ Vương, đóng đô ở Phiên Ngung.

Đến đời Hán Vũ Đế nước Trung Quốc, đánh thắng được nhà Triệu, lấy nước Nam Việt, rồi cải ra Giao Chỉ bộ 交 趾 部, và chia ra làm 9 quận, trong đó có ba quận thuộc Bắc Việt và mấy tỉnh ở phía bắc Trung Việt, đó là: Giao Chỉ 交 趾, Cửu Chân 九 真, Nhật Nam 日 南.

Đến cuối đời nhà Đông Hán, vua Hiến Đế đổi Giao Chỉ là Giao Châu 交 州.

Như vậy, Nam Châu là phía nam của Giao Châu, chỉ nước Việt Nam.

Bốn ngàn năm quốc gia đã lập,

Cõi Nam Châu bồi đắp giang sơn.

(Kinh Thế Đạo).

Buộc ràng túng tíu cõi Nam Châu,

Trị loạn vần xây cuộc bể dâu.

(Đạo Sử).

Con phải nhớ da vàng máu đỏ,

Cõi Nam Châu rỡ rỡ quốc triều.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NAM ĐẢNH

南 鼎

Hay “Nam đỉnh”.

Nam: Chỉ nước Việt Nam. Đảnh (đỉnh): Vạc ba chân, dùng làm vật truyền quốc.

Nam đảnh, cũng như chữ “Việt đảnh”, chỉ đất nước Việt Nam.

Nam đảnh vít xa gươm xích quỷ,

Thiềm cung mở rộng cửa hà ngân.

(Bát Nương Giáng Bút).

Máu xương ví để tô Nam đảnh,

Tình nghĩa hằng nâng đỡ Lạc Hồng.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

NAM GIẢN

南 澗

Nam: Hướng nam. Giản: Khe suối.

Nam giản là khe suối ở phương nam, chỉ người con dâu hiền thảo và đảm đang, nên người xưa thường nói là: Dâu Nam giản.

Do bài “Thái tần” trong Kinh Thi khen ngợi người vợ đảm đang việc nội trợ, đi hái rau tảo rau tần mọc ở khe nước trong về cúng bái tổ tiên: Vu dĩ thái tần, nam giản chi tân, vu dĩ thái tảo, vu bỉ hành lạo 于 以 采 蘋, 南 澗 之 濱, 于 以 釆 藻, 于 彼 行 潦, nghĩa là để mà đi hái rau tần, Núi nam hay mọc ở gần bờ khe. Tảo kia ta hái luôn về, Bên đường nước chảy dầm dề sau mưa. (Tạ Quang Phát dịch).

Người sau dùng chữ “Nam giản” để chỉ đàn bà con gái và chỉ nàng dâu hiếu thảo.

Dâu Nam giản, rể Đông Sàng,

Tơ nguyệt săn bền mối tạo đoan.

(Thơ Hương Phụng).

 

 

NAM GIAO

南 郊

Nam: Phía nam. Giao: Lễ tế Trời.

Nam giao là khoảng đất ở phía nam Kinh thành.

Ngày xưa các vị hoàng đế Trung Hoa thường đắp một cái nền hình tròn ở phía nam Kinh thành để làm lễ tế trời vào ngày Đông chí, gọi là tế “Nam giao” và đắp một cái chằm hình vuông ở phía bắc Kinh thành để tế đất, vào tiết Hạ chí, gọi là tế “Bắc giao”.

Ở nước ta, vua Gia Long nhà Nguyễn cho đắp ở phía nam Kinh thành Huế, thuộc làng Dương Xuân một nền đất cao để tế “Nam giao”.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Nhà Vua thì thờ Ðức Chí Tôn tức là Ngọc Hoàng Thượng Ðế, ta thấy sự tế tự Ðấng Chí Tôn ấy lưu truyền từ đời thượng cổ, nên hằng niên mới có tế Nam Giao, đó là tế Ðức Chí Tôn vậy.

Nam giao vắng vẻ đường cung kiếm,

Văn Hiến khô khan ngọn bút thần.

(Đạo Sử).

Rộn rực Nam giao bầy chúa quỷ,

Chàng ràng Văn miếu lũ thương ma.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

NAM HẢI

南 海

1.- Nam hải là vùng đất khi xưa Lạc Long Quân đem 50 người con đến lập nghiệp, ngày nay là nước Việt.

Nam Hải còn là một vùng đất có biển chạy dọc theo, gọi là biển Nam Hải chỉ đất nước Việt Nam.

Nam Hải trổ nhiều tay Thánh đức,

Giao Châu sanh lắm mặt Anh hùng.

(Đạo Sử).

Vùng Nam Hải uy linh nhứt quốc,

Cỏ rẻ hai chia đất rắp ranh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Nam Hải hay “Nam Hải Phổ Đà” còn dùng để chỉ ngụ xứ của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát ở núi Phổ Đà, biển Nam Hải.

Xem: Nam Hải Phổ Đà.

Rừng trước Từ Hàng ngắm thảnh thơi,

Biến thân Nam Hải tiếng lưu đời.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

NAM HẢI PHỔ ĐÀ

南 海 普 陀

Nam Hải: Biển Nam Hải. Phổ Đà: Tức Phổ Đà Sơn thuộc tỉnh triết Giang.

Nam Hải Phổ Đà là nơi ngụ xứ của Đức Quan Âm Bồ Tát ở núi Phổ Đà, biển Nam Hải.

Tây phương Phật Tổ Di Đà,

Nam Hải Phổ Đà cứu khổ Quan Âm.

(Giới Tâm Kinh).

 

 

NAM HOA

南 花

Nam: Chỉ nước Việt Nam. Hoa: Bông hoa, chỉ người con gái (phụ nữ).

Nam hoa là người con gái nước Nam, tức người phụ nữ Việt Nam.

Làu soi gương hạnh rạng Nam hoa,

Sau trước rồi đây cũng một nhà.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NAM HUÂN

南 熏

Nam: Phương nam. Huân: Ấm áp.

Nam huân là gió phương nam ấm áp.

Trong khúc “Nam phong ca” của vua Thuấn có câu: Nam phong chi huân hề, khả dĩ giải ngô dân chi uẩn hề, nam phong chi thời hề, khả dĩ phụ ngô dân chi tài hề 南 風 之 熏 兮, 可 以 解 吾 民 之 慍 兮, 南 風 之 時 兮, 可 以 附 吾 民 之 財 兮, nghĩa là gió phương nam ấm áp hề, có thể cởi mở được nỗi giận của dân ta, gió phương nam thổi phải lúc hề, có thể thêm của cải cho dân ta.

Vui nghe như khúc Nam Huân,

Thơ Tiên lạc hạ mấy vần gấm thêu.

(Cội Đạo Bốn Mùa).

Mơ hồn nghệ sĩ ve reo nhạc,

Hoà khúc Nam Huân gió khải đàn.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

NAM KINH

南 京

Nam kinh là tên một vùng đất ở Trung Quốc.

Đời Minh Thái Tổ đóng đô ở vùng đất này và lập thành phủ Ứng Thiên. Đến đời vua Thành Tổ, lo phòng bị người Mông Cổ, nên năm 1421 dời đô về Bắc Bình là Kinh Đô cũ của nhà Nguyên, gọi là Bắc Kinh, còn Kim Lăng gọi là Nam Kinh.

Đương nhiên, Trung huê chia làm tam quốc. Trung quân tức là Nam Kinh đó vậy...

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

NAM KỲ

南 圻

Nam: Một phương trong bốn phương, đối với phương bắc. Kỳ: Cõi, như Nam kỳ, Trung kỳ, Bắc kỳ.

Nam kỳ là tên một vùng (xứ) ở phía nam nước Việt.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ngày nay Chánh Phủ Pháp, Chánh Phủ Nam kỳ và cả chúng ta thiết Lễ Cầu Siêu cho nhơn loại.

Giang san gấm vóc điêu tàn,

Nam Kỳ thuộc địa Pháp đang trị vì.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

NAM KHA

南 柯

Nam: Phía nam. Kha: Cành cây.

Nam Kha là giấc chiêm bao được làm Thái thú ở quận Nam Kha, dùng để chỉ công danh phú quý là hư ảo, đời người ngắn ngủi như một giấc mộng.

Do tích trong một bài ký của Lý Công Tá đời Đường chép rằng: Thuần Vu Phần, ở đất Quảng Lăng, nhà ở mé nam có cây hòe to, sống đã lâu năm, cành lá sum suê rậm rạp. Nhân vui sinh nhật của mình, Thuần Vu Phần uống rượu say, nằm ngủ quên, mộng thấy hai sứ giả mặc áo tía đến quỳ lạy nói: Hòe An Quốc Vương sai tiểu thần sống chết gì cố mời ngài lên xe để đi đến nước Hòe An.

Thuần Vu Phần đồng ý. Ba người đồng lên xe, nhằm phía cây hòe mà đến. Tới nơi, vào một cửa thành lớn sơn màu son đỏ chói, trên đó có chữ vàng đề là “Đại Hòe An Quốc”. Vao trong đại điện, Thuần Vu Phần lạy ra mắt nhà vua, vua bèn hứa gả công chúa cho và bảo rằng: Chính sự của nước Hòe An không tốt, nhân dân còn nghèo đói, trẫm muốn nhờ tài của khanh ra lo việc nước, làm cho nước Hòe An phồn thịnh. Rồi phong cho Thuần Vu Phần là Thái Thú quận Nam Kha. Lúc bấy giờ Thuần Vu Phần vừa là Phò Mã, vừa là Thái Thú và trong hai mươi năm, sinh được năm trai hai gái, thật là giàu sang vinh hiển.

Về sau, nước Hòe An có giặc, vua bèn sai Thuần Vu Phần đi dẹp cho yên. Ở nhà công chúa bị bệnh chết, ngoài chiến trường Vu Phần lại bị thua trận, vua đem lòng nghi kỵ bèn đuổi Vu Phần về. Thuần Vu Phần tỉnh dậy, tìm đến gốc cây hòe, thì chỉ thấy một tổ kiến. Vu Phần mới hiểu rằng cái gọi là quận Nam Kha chính là cái tổ kiến ở dưới cành cây mé nam.

Thuần Vu Phần ngồi ngẫm nghĩ cả cuộc đời ông suốt hai mươi năm giàu sang vinh hiển, vợ đẹp con xinh, cũng chỉ là một giấc mộng ở cành cây mé nam (tức Nam kha) mà thôi, ông cho rằng ngắn ngủi, hư ảo, không định liệu trước được việc gì, nên quyết chí tìm nơi tu hành để được giải thoát.

Do tích trên, trong văn chương thường dùng chữ “Nam kha mộng”, “Giấc Nam kha”, hay “Giấc Hoè”... để chỉ công danh phú quý là phù du, đời người ngắn ngủi như giấc chiêm bao.

Xem: Mộng Nam kha.

Chừng qua giấc mộng Nam Kha thức,

Mới biết mình quê vụ sắc tài.

(Đạo Sử).

 

 

NAM MẪU ĐÔNG GIAO

南 畝 東 郊

Nam mẫu: Chỉ đất phía Nam. Đông giao: Đất phía Đông ngoại thành.

Nam mẫu Đông giao là chỉ đất đai khắp nước.

Trong Đạo Cao Đài, bài Kệ Chuông U Minh, lời nguyện thứ 9 có câu: Nam mẫu Đông giao cu triêm Nghiêu Thuấn chi nhựt 南 畝 東 郊 俱 霑 堯 舜 之 日, nghĩa là đất đai khắp trong nước đều thấm nhuần thời thái bình an lạc của Nghiêu Thuấn.

Nam mẫu Đông giao cu triêm Nghiêu Thuấn chi nhựt.

(Kệ U Minh).

 

 

NAM MÔ

南 無

Nam mô là tiếng phiên âm từ chữ Phạn “Namah”, dịch nghĩa là: Quy mạng, kính lễ, cứu ngã, độ ngã...

Như vậy “Nam mô” là câu nói của người theo Phật khi hướng về Đức Phật, Bồ Tát quy y tín thuận, quyết chí dâng theo lời dạy và xin gửi trọn đời mình cho chư Phật và Bồ Tát.

Thường người ta dùng tiếng “Nam mô” làm chữ khởi đầu cho câu niệm danh hiệu chư Phật và Bồ Tát.

Ví dụ: Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát.

Nam Mô Địa Tạng thi ân,

Đưa đường Thiên cảnh, lánh gần Phong đô.

(Kinh Tận Độ).

Nam Mô hai chữ dựa màu thiền,

Ðến nửa kiếp còn lắm lợi riêng.

(Đạo Sử).

Buồn tình lóng Nam Mô câu tụng,

Nhìn tượng cây rồi khủng cho thân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NAM MÔ HUYỀN KHUNG CAO THƯỢNG ĐẾ

南 無玄 穹 高 上 帝 玉 皇 大 天 尊

Nam Mô

Nam mô là tiếng phiên âm từ chữ Phạn “Namah”, dịch nghĩa là: Quy mạng, kính lễ, cứu ngã, độ ngã...

Như vậy “Nam mô” là câu nói của người theo đạo Phật hay đạo Cao Đài khi hướng về Đức Phật, Bồ Tát quy y tín thuận, quyết chí dâng theo lời dạy và xin gửi trọn đời mình cho chư Phật và Bồ Tát.

Thường người ta dùng tiếng “Nam mô” làm chữ khởi đầu cho câu niệm danh hiệu chư Phật và Bồ Tát.

Huyền Khung

Huyền: Sắc đen. Khung: Cao rộng như vòm trời.

Trong sách Ấu Học Quỳnh Lâm có câu: “Huyền Khung bỉ thương tắc xưng Thượng Đế 玄 穹 彼 蒼 則 稱 上 帝”, nghĩa là Huyền Khung, là màu trời xanh kia được xưng là Đức Thượng Đế.

Như vậy, từ “Huyền Khung” là một đại danh từ được người xưa dùng để chỉ Đấng Tạo Hoá, hay Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Đức Nhàn Âm Đạo giáng cơ cho một bài thi trong đó có hai câu như sau:

Một kiếp dồi dào trường khổ hạnh,

Ngàn năm nương náu cửa Huyền Khung.

Cao Thượng Đế

Cao: Trên cao. Thượng Đế 上 帝: Dịch nghĩa “vị vua ở trên cao”, dùng để chỉ một vị vua cầm quyền cao nhất nơi cõi thiêng liêng (cõi Trời).

Tùy theo tôn giáo, tín ngưỡng, mà Đức Thượng Đế có tên khác nhau, như:

Thượng Đế trong Đạo Giáo là Đức Nguyên Thủy Thiên Tôn.

Thượng Đế trong Do Thái Thái Giáo có danh hiệu là Đấng Tự Hữu (phát âm tiếng Việt là “Giê-hô-va”, cũng còn gọi là Thiên Chúa, hoặc Đức Chúa Trời, tức là Chủ tể của Trời và Đất, vì Ngài là Đấng Tạo hoá ra muôn loài.

Thượng đế trong Hồi Giáo là Đấng Allah, có nghĩa là Đấng Thần Linh đã Sáng Thế. Người Hồi giáo tin rằng Allah cũng chính là vị Thiên Chúa của Do Thái giáo và Kitô giáo.

Tuy các tôn giáo gọi bằng nhiều danh xưng khác nhau, nhưng tựu trung lại cũng chỉ về Đấng Sáng Thế, là Đấng tự hữu hằng hữu, toàn tri toàn năng, toàn thiện toàn mỹ.

Thượng Đế trong đạo Cao Đài còn gọi là Đại La Thiên Đế hay Thái Cực Thánh Hoàng. Ngài còn được gọi là Đức Chí Tôn, Đức Chí Linh, Đức Chí Công. Ngài là Đấng duy nhứt tuyệt đối, tối cao tối đại, là Đấng tạo hoá điều hành cả Càn khôn Vũ trụ và vạn vật, nên còn gọi là “Cao Thượng Đế”, hoặc là “Huyền Khung Cao Thượng Đế”.

Bài Ngọc Hoàng Thượng Đế Kinh có câu: Huyền Khung Cao Thượng Đế, Ngọc Hoàng tích phước hựu tội, Đại Thiên Tôn 玄 穹 高 上 帝, 玉 皇 錫 福 宥 罪 大 天 尊, nghĩa là Huyền Khung Cao Thượng Đế là Đức Ngọc Hoàng, một vị Đại Thiên Tôn đã ban phước, xá tội cho toàn thể chúng sanh.

Bà Lục Nương Diêu Trì có giáng cơ ngày 15 tháng 2 năm Tân Mùi (Dl. 2/4/1931) cho một đoạn thi trong đó Bà gọi Đức Chí Tôn là Huyền Khung Thượng Đế như sau:

Đại Đạo mở Trời đông cứu thế,

Nắm tay nhau đoàn thể dắt dìu.

Tây đoài ác xế chín chiều,

Rừng hoang lạc bước ắt nhiều thú hung.

Nhìn Thiên Nhãn Huyền Khung Thượng Đế,

Mặc Đạo y dụng kế độ đời.

Tam Kỳ tự chủ là Trời,

Diệu huyền giáng bút để lời dạy khuyên.

Ngọc Hoàng

Ngọc: Đá quý, thường dùng làm vật trang sức. Hoàng: Vua.

Từ thượng cổ, người Trung Quốc và người Việt Nam đã tôn thờ một vị vua trên trời, ngự tại Kinh Bạch Ngọc, một kinh thành làm bằng ngọc trắng, gọi là Ngọc Hoàng, hay Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Trong đạo Cao Đài, Thánh giáo Đức Chí Tôn giáng cơ dạy đạo thường dùng Ngọc Hoàng Thượng Đế để xưng danh, như câu “Ngọc Hoàng Thượng Đế viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát giáo Đạo Nam phương”.

Chính Đức Chí Tôn cũng đã xác nhận Ngài là Đấng Ngọc Hoàng trong một đàn cơ năm Ất Sửu (1925) do Yết Ma Luật, trụ trì Hội Phước Tự nghi ngờ những vị đồng tử dối gạt quần chúng, nên xin hầu đàn để thử thách.

Ngài giáng cơ hoạ lại Bài thi của Yết Ma Luật như sau:

Hãy tỉnh cho mau giấc mộng tràng,

Đời cùng, Tiên Phật giáng phàm gian.

Chẳng ai hay giỏi bày thi phú,

Chính thật Ta đây Đức Ngọc Hoàng.

Đại Thiên Tôn

Thiên Tôn, theo nghĩa đen là Đấng được tôn kính nơi cõi Thiên, tức các cõi Thiêng Liêng.

Theo giáo lý Cao Đài, Thiên Tôn là một phẩm thiêng liêng được Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế phong thưởng để điều hành trong Càn khôn Vũ trụ.

Thiên Tôn trái với Thế Tôn, như Thái Thượng Đạo Tổ Tam Thanh ứng Hoá Thiên Tôn.

Riêng Đức Thượng Đế là Đấng duy nhứt được sinh ra từ Thái Cực và tạo ra Càn khôn Vũ trụ và vạn vật, nên Ngài được xưng tụng là “Đại Thiên Tôn”.

Tóm lại “Thánh danh “Huyền Khung Cao Thượng Đế Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn” trong đạo Cao Đài dùng để chỉ Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế. Trong Sớ Văn dâng lên Đức Ngài và Đức Phật Mẫu có câu:

Huỳnh Kim Khuyết Nội

Huyền Khung Cao Thượng Đế Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn.

Ngoài ra, mọi người chúng ta ai cũng đều biết, trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: “Thập nhị Khai Thiên là Thầy, chúa cả Càn khôn Thế giới, nắm trọn Thập nhị Thời Thần vào tay. Số 12 là số riêng của Thầy”.

Như vậy khi viết Thánh danh hay câu chú của Ngài đều viết đầy đủ gồm 12 chữ, như sau:

- “Nam Mô Huyền Khung Cao Thượng Đế Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn”.

- “Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát”.

 

Nam Mô Huyền Khung Cao Thượng Đế, Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn.

(Kệ Chuông U Minh).

 

 

NAM MÔ PHÁP

南 無 法

Theo Phật giáo, niệm “Nam Mô Pháp”, là nguyện trở về nương tựa với chánh pháp của Phật, nguyện tụng đọc kinh, luật, luận và tìm hiểu ý nghĩa của giáo pháp.

Theo Cao Đài, “Nam Mô Pháp” nghĩa là tôn kính ân đức dưỡng dục của Đại Từ mẫu, tuân theo và kính trọng những lời Thánh giáo vàng ngọc của Thầy mẹ truyền dạy để tu tâm sửa tánh hầu tâm thần trở nên sáng suốt, thanh khiết giải thoát được trầm luân.

Trong sách Giáo Lý, Ngài Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có câu: Nam Mô Pháp nghĩa là tôn kính những Pháp ấy và một lòng làm theo đặng thể hiện nhơn cách người tu hành và giải kiếp trầm luân.

Trước khi nguyện lấy dấu và niệm: Nam Mô Phật, Nam Mô Pháp, Nam Mô Tăng, dám chắc thật đích xác ba ngôi ấy chưa ai biết rõ.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

NAM MÔ PHẬT

南 無 佛

Theo Phật giáo, niệm “Nam Mô Phật”, tức quy y theo Phật, có nghĩa luôn nhớ tưởng đến Phật, quán tưởng Tượng Ngài, trì niệm danh hiệu và chí tâm lễ bái.

Theo Cao Đài, niệm “Nam Mô Phật” có nghĩa là nguyện noi theo Thánh đức đại từ đại bi, đức chí thiện hoàn toàn của Đức Chí Tôn, đức toàn tri toàn năng, tận thiện mỹ của Thầy và ân đức háo sanh bao la của Thầy.

Trong Giáo Lý, Ngài Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có viết: Nam Mô Phật, ấy là nhắc lòng tôn kính Chí Tôn và nhớ lại Đức Toàn Tri Năng, tận thiện mỹ và Đức Háo sanh của Ngài vô biên bao la, hằng hoá dục vạn vật. Bổn phận chúng ta cứ giữ một lòng sùng bái Đức Ngài và thể theo Đức Chí Thiện hoàn toàn của Ngài để học tập.

Trước khi nguyện lấy dấu và niệm: Nam Mô Phật, Nam Mô Pháp, Nam Mô Tăng, dám chắc thật đích xác ba ngôi ấy chưa ai biết rõ.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

NAM MÔ TĂNG

南 無 僧

Theo Phật giáo, niệm “Nam Mô Tăng” là nguyện tôn kính nương theo tu học của những vị Tăng ni chân chánh, đạo cao đức trọng.

Theo Cao đài, Nam Mô Tăng, nghĩa là nguyện thương yêu toàn thể chúng sanh, nguyện thân cận với những người đạo cao đức đầy để nghe lời đạo đức của họ, học tập những hành vi nhân hậu của họ.

Ngài Tiếp Pháp Trương Văn Tràng trong Giáo Lý có viết: Nam Mô Tăng, Đồng thời với chúng ta biết bao nhiêu người Đạo cao Đức dầy, chúng ta nên thân cận với họ, để nghe lời luận Đạo, thuyết Pháp và bắt chước những hành vi cử chỉ của họ.

Trước khi nguyện lấy dấu và niệm: Nam Mô Phật, Nam Mô Pháp, Nam Mô Tăng, dám chắc thật đích xác ba ngôi ấy chưa ai biết rõ.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

NAM NỮ BẤT THÂN

男 女 不 親

Nam nữ: Trai gái, hay đàn ông đàn bà. Bất thân: Không gần nhau, chẳng thân cận.

Nam nữ bất thân, bởi câu trong sách Nho: “Nam nữ thọ thọ bất thân 男 女 授 受 不 親”, nghĩa là con trai, con gái trao và nhận vật gì, không được đụng chạm tay lẫn nhau một cách thân mật.

Nam nữ bất thân ý chỉ trai gái không được thân mật, phải phân biệt để tránh sự khêu gợi dục vọng.

Nam Nữ bất thân. Nam ở Ðông hiên, Nữ ở Tây hiên. Hai bên không lân cận nhau.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

NAM NHI

男 兒

Nam: Người con trai, phái nam. Nhi: Đứa bé, con.

Nam nhi là đứa con trai.

Chữ nam nhi dùng để chỉ người con trai, nhưng còn hàm ý nói về bổn phận và địa vị của kẻ làm trai.

Như: Chí nam nhi, hay nam nhi chi chí.

Phận nam nhi khá bền danh tiết,

Lấy tình thương đặng diệt tàn hung.

(Nhị Nương Giáng Bút).

Một gánh nợ nam nhi rất nặng,

Ướm tra vai căn dặn lại mình.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NAM PHONG

南 風

Nam: Phía nam. Phong: Gió, phong tục.

Nam phong có nghĩa là nền phong hoá, tức là phong tục, tập quán hay nếp sống của dân tộc Việt Nam.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, bài thi Đức Chí Tôn có câu: Nam phong thử nhựt biến nhơn phong 南 風 此 日 變 人 風 nghĩa là nền phong hoá của Việt Nam ngày kia sẽ trở thành nền phong hoá của nhơn loại.

Quốc Ðạo kim triêu thành Ðại Ðạo,

Nam phong thử nhựt biến nhơn phong.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

Học gan sắt đá cứng bền,

Học cho đủ chước xây nền Nam phong.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Nam phong đỡ vững xa thơ Hán,

Bắc tục xô nghiêng đảnh nghiệp Tần.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

NAM TÀO

南 曹

Nam Tào là một ngôi sao ở phương nam, còn gọi là Nam Cực tinh 南 極 星.

Nam Tào và Bắc Đẩu là hai vì sao nằm trên trục Nam Bắc của Địa cầu. Khi Địa cầu tự quay, hay quay xung quanh mặt trời, hai vì sao này vẫn luôn luôn nằm theo hai hướng Nam Bắc của Địa cầu.

Tương truyền, Nam Tào và Bắc Đẩu là hai vị Tiên nắm bộ sanh và bộ tử của nhơn loại. Nam Tào còn gọi là Nam Cực Tiên Ông coi về bộ sanh, Bắc Đẩu Tiên Ông coi về bộ tử.

Xem: Nam Tào Bắc Đẩu.

Kìa chiếu diệu bóng hồng Bắc Đẩu,

Kìa im đìm phúc hậu Nam Tào.

(Kinh Tận Độ).

Rủi Thiên số Nam Tào đã định,

Giải căn sinh xa lánh trần ai.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

NAM TÀO BẮC ĐẨU

南 曹 北 斗

Nam tàoBắc đẩu là hai vì sao ở trên trục nam bắc của Địa cầu. Khi Địa Cầu tự quay hay quay xung quanh mặt trời, hai vì sao này vẫn luôn luôn nằm theo hai hướng Nam Bắc của Địa Cầu.

Nam tào không phải là định tinh, nhưng nó chuyển động thế nào để luôn luôn nằm trên hướng nam của trục Địa cầu.

Bắc đẩu là một định tinh, ở trung tâm vũ trụ, nên tất cả các chùm sao khác đều quay quanh Bắc đẩu.

Tương truyền Nam tào và Bắc đẩu là hai vị thần chủ hai vì sao đó, coi về bộ sanh và bộ tử của con người.

Sự tích sau cho thấy điều đó: Quản Lộ tự là Công Minh, người đất Bình Nguyên đời Tam Quốc, diện mạo xấu, thích uống rượu, rất giỏi về khoa thiên văn và lý số.

Một hôm, ra đồng dạo chơi, thấy Triệu Nhan là một thanh niên 19 tuổi, đang cày ruộng, Quản Lộ xem tướng bèn cho biết: Ta thấy mặt anh có quầng tử khí, chỉ ba ngày nữa anh phải chết.

Cha Triệu Nhan nghe liền lạy Quản Lộ xin cứu giúp. Quản Lộ bày cho Triệu Nhan chuẩn bị trái cây và rượu tinh khiết, ngày mai vào núi Nam Sơn dưới cây cổ thụ sẽ có hai ông già ngồi trên phiến đá đánh cờ, ngươi cố lạy lục xin cứu mạng.

Hôm sau làm y lời Quản Lộ dặn, đến dưới cây cổ thụ thì thấy ông mặc áo trắng, quay mặt hướng nam, một ông mặc áo màu hồng quay mặt hướng bắc, cùng nhau ngồi đánh cờ. Triệu Nhan lẳng lặng quỳ dâng mâm rượu và trái cây. Hai ông vẫn mải mê đánh cờ, thỉnh thoảng đưa tay bưng rượu uống. Đợi hai người đánh xong ván cờ, Triệu Nhan bèn sụp lạy cầu xin thêm tuổi thọ. Hai ông giựt mình, bàn nhau giúp Triệu Nhan.

Ông áo trắng liền rút bộ tử ra tìm một lúc rồi bảo Triệu Nhan: Năm nay 19 tuổi, đáng lý chết, bây giờ đây ta thêm chữ cửu trên hai chữ thập cửu, thì ngươi sẽ sống tới cửu thập cửu. Triệu Nhan về thuật lại cho Quản Lộ nghe, ông mới giải thích ông mặc áo màu hồng chính là ngôi Nam tào giữ bộ sanh, còn ông mặc áo màu trắng tức là ngôi Bắc đẩu, cầm bộ tử.

Nam Tào đến học cho nhuần lễ,

Bắc Ðẩu vào xin đặng phép mầu.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

NAM TỬ

男 子

Nam: Đàn ông, con trai. Tử: Con.

Nam tử là người đàn ông con trai. Đấng nam tử chỉ người con trai có tài có chí.

Như: Trai nam tử kiếm cung là phận.

Hằng ngày lo cho đám nữ nhi,

Chẳng đủ trí sánh bì nam tử.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Đấng nam tử đâu đâu cũng nợ,

Khắp năm châu khai mở quy mô.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NAM THANH NỮ TÚ

男 清 女 秀

Nam thanh: Người trai trẻ thanh nhã. Nữ tú: Người con gái đẹp đẽ.

Nam thanh nữ tú là trai xinh gái đẹp, tức chỉ trai gái trẻ đẹp và thanh lịch.

Nam thanh nữ tú nhởn nhơ bước,

Phong cảnh núi non ý ngập tràn.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

NAM THIỆM BỘ CHÂU

南 贍 部 洲

Nam Thiệm Bộ Châu là một Châu ở phía Nam trong Tứ Đại Bộ Châu.

Tứ Đại Bộ Châu gồm có: Đông Thắng Thần Châu 東 勝 神 洲, Tây Hạ Ngưu Châu 西 夏 牛 洲, Nam Thiệm Bô Châu 南 贍 部 洲 và Bắc Câu Lư Châu 北 俱 閭 洲.

Địa cầu 68 của nhơn loại đang ở thuộc Nam Thiệm Bộ Châu.

Xem: Tứ Đại Bộ Châu.

Lòng sở vọng lâm dâm tụng niệm,

Xin giải nàn Nam Thiệm Bộ Châu.

(Xưng Tụng Công Đức).

 

 

NAM TRÀO

Hay “Nam triều”.

Nam: Phía Nam, chỉ nước Việt Nam. Trào (triều): Chỗ vua ngự để các quan vào chầu, chầu vua.

Nam trào, như chữ “Nam triều 南 朝”, là triều đình nhà Nam, tức là nơi ngự của các vị vua nước Việt Nam.

Trung thành giữ cõi Nam trào,

Hùng anh trước đặng Ngụy Tào khiếp oai.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NAM TRUNG

男 中

Nam: Đàn ông, con trai. Trung: Ở trong.

Nam trung là ở trong giới đàn ông, chỉ người thuộc nam phái.

Chước lánh tìm Tiên đời để dấu,

Gương soi hậu thế rạng nam trung.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NAM VIỆT KÝ DIỆU ĐÀI

南 越 記 妙 臺

Nam Việt: Miền Nam nước Việt. Ký: Ghi. Diệu Đài 妙 臺: một cái đài cao huyền diệu mà Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế ở cõi Thiêng Liêng dùng làm nơi ngự triều của chư Thần Thánh Tiên Phật: Đó là Cao Đài.

Nam Việt ký Diệu Đài có nghĩa là tại miền Nam nước Việt, Đức Chí Tôn giáng cơ khai sáng nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ ký tên xưng là Cao Đài.

Tây Âu thuở nọ khai dân khí,

Nam Việt ngày nay ký Diệu Đài.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

NAM XA

南 車

Nam: Nước Nam. Xa: Xe.

Nam xa là xe nước Nam.

Một chơn linh (nặc danh) giáng cơ giải thích “Nam xa” như sau: Ngô Sĩ Liên đi sứ bên Tàu, nhờ Châu Công cho một cỗ xe có để địa bàn chỉ nam, hướng theo đó mà đi về nước. Ôi! Đường đi qua núi xuống đèo, trăm bề khó nhọc, nhờ vậy mà biết con đường bộ từ Nam chí Tàu, mới hành binh đuổi quân Tàu về nước. Sau lấy đặng hoàng triều, lập nên quốc pháp, nên thi sĩ đời sau cho “Nam xa” là việc tối linh mà tối báu.

Nam xa ví chẳng vì đường khó,

Việt đảnh mong chi đượm lửa mừng.

(Giáng Cơ Nặc Danh).

 

 

NÁM

Nám là chuyển thành màu sẫm do bị bệnh, hoặc bị tác động của nắng và lửa.

Như: Thức đêm bị nám phổi, da nám nắng, lửa cháy nám một góc tường.

Bọn dân Ðịa phủ hình đen nám,

Tốp khách Thiên môn xác sáng ngời.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Cầu danh chác lợi mờ tai mắt,

Mua chức bán quyền nám phổi gan.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

NAN

Nan là khó, khó khăn. Như: Nan tri, nan đào, vạn sự khởi đầu nan.

Điếu văn của Đức Thượng Sanh đọc trước Liên đài Ngài Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có câu: Nào hay mạng căn dĩ định, thiên số nan đào, Ngài trở bịnh không mấy ngày, bỗng chốc rời bỏ xác trần quy hồi Tiên cảnh.

Quảng trí minh tâm tắc thức thì,

Hành tàng huyền diệu thế nan tri.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Kỳ ngộ lịch phùng mãn trí tư,

Vô lao nan đắc thủ vinh hư.

(Đạo Sử).

 

 

NAN ĐÀO

難 逃

Nan: Khó khăn. Đào: Chạy trốn.

Nan đào là khó mà trốn thoát.

Tư Thế Thông Huấn có câu: Âm pháp trì nhi bất lậu, Dương hiến cận nhi hữu đào; dương võng sơ nhi dị lậu, âm võng mật nhi nan đào 陰 法 遲 而 不 漏, 陽 憲 近 而 有 逃. 陽 網 疏 而 易 漏, 陰 網 密 而 難 逃, nghĩa là âm pháp chậm mà không thể nào lọt qua, dương pháp kín mà có thể trốn được; lưới dương gian thưa nên dễ lọt, chớ lưới âm phủ nhặt mà khó trốn.

Chín chữ cù lao,

Thì mộng Nam giao,

Tịch sinh nan đào,

Phi thường một dự anh hào,

Ðạo trăm hạnh cũng lần vào nẻo Thiên.

Ðặng trọn quyền....

(Đạo Sử).

 

 

NAN GIẢI

難 解

Nan: Khó, khó khăn. Giải: Cổi gỡ ra, giải thích, giải quyết.

Nan giải khó cổi gỡ ra được, khó giải quyết được, hoặc khó giải thích được.

Như: Đây là một vấn đề nan giải,

Được như vậy dù cuộc đời chua cay, bi đát đến mức nào, quý vị cũng không đến nỗi lâm vào cảnh khó khăn nan giải.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

NAN Y

難 醫

Nan: Khó. Y: Chữa bịnh, trị bịnh.

Nan y là bịnh khó chữa lành.

Cổ nhơn thường có câu: Diệu dược nan y oan trái bệnh 妙 葯 難 醫 冤 債 病, nghĩa là thuốc hay khó chữa được bịnh oan trái.

Như: Ung thư là một bệnh nan y, khó trị hết.

Khi Sư phụ bị đày, con rầu buồn quá đổi, thêm lo lắng Đền Thánh chưa rồi. Làm ngày làm đêm, mang bịnh nan y nên quy liễu.

(Thánh Ngôn Sưu Tập).

 

 

NAN PHÂN

難 分

Nan: Khó. Phân: Phân biệt.

Nan phân là khó phân biệt, tức là những thứ giống nhau, lẫn lộn vào nhau nên khó phân biệt.

Trong Thiên Đạo, hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có viết: Một vị Tiên Trưởng có khuyên dạy về cơ khảo như vầy: “Các em hãy dằn bớt nộ khí; cái giận có hại cho các em. Vì nếu “Tâm” phát hoả thì phải trái nan phân.

Mối tôn giáo phân chia, đạo nước nhà chẳng đoái, chánh tà tà chánh nan phân...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

NAN THỦ

難 守

Nan: Khó, khó khăn. Thủ: Giữ gìn.

Nan thủ là khó giữ, tức khó gìn giữ cho tồn tại được.

Câu tích kim lời đã đáng lời,

nan thủ phép Trời đã định.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NÁN

Nán là ở lại thêm một ít thời gian nữa.

Như: Việc chưa làm xong phải nán lại ít ngày, ngồi nán thêm ít phút, ngủ nán thêm nửa tiếng mà khoẻ.

Phải dậy sớm đừng ham ngủ nán,

Đứa ở ăn đứng bán khuân đồ.

(Phương Tu Đại Đạo).

Chằng mắt rán nhìn hưng Kiệt, Trụ,

Dằn lòng nán đợi mạt Di, Tề.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

NÀN

Nàn, do chữ “Nạn 難” đọc trại ra, có nghĩa là sự khó khăn nguy hiểm. Như: Nghèo nàn, tai nàn, lâm nàn.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Cái Ông mà nghèo nàn đệ nhất hơn hết, bây giờ thiên hạ thấy hình trái tim của ông cháy lửa ra, hễ ngó thấy hình trái tim thì cúi đầu hết thảy, mà cả toàn thể các liệt cường sắc dân Âu Châu cho tới Á Đông 600 triệu Tín đồ ngó trái tim đời đời không khi nào mỏi.

Chí Tôn xá tội giải oan,

Thánh, Thần, Tiên, Phật, cứu nàn độ vong.

(Kinh Tận Độ).

Trên thương dưới xét xem kẻ nhỏ,

Lúc lâm nàn chớ bỏ tránh xa.

(Kinh Sám Hối).

 

 

NẢN

Nản là ngã lòng, thối chí, tức ở trạng thái chẳng muốn làm tiếp việc đang làm, khi gặp khó khăn, vì không tin là có kết quả.

Như: Làm việc khó không nên nản, cực quá đâm nản.

Gian lao ngần ấy lòng không nản,

Tội lỗi gì đây? Việc chẳng làm.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

NẢN CHÍ

Nản: Ngã lòng, thối chí, tức không muốn làm tiếp việc đang làm khi gặp khó khăn. Chí: Ý quyết làm một việc gì.

Nản chí là không giữ vững được ý chí, thiếu kiên trì trước khó khăn trở ngại.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Hiển nhiên là mỗi Chức sắc phải gắng công hơn nữa, phải nhọc nhằn hơn nữa. Nhưng đã từ bỏ cảnh phồn hoa để sống về mặt Ðạo, đã quyết chí hy sinh để cứu vớt kẻ trầm luân nơi khổ hải thì dầu cực nhọc bao nhiêu, chúng ta dễ gì nản chí.

Nguyện chí một dốc tầm chơn lý,

Không sai lòng nản chí người tu.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

NẠN ÁCH

難 厄

Nạn: Hiện tượng trong thiên nhiên gây hại lớn cho người. Ách: Tai hoạ lớn bao trùm mọi người.

Nạn ách là hoạn nạn và tai ách, tức những thứ tai hoạ nặng nề phải gánh chịu.

Như: Tôi quyết ở lại dù có gặp nạn ách nguy hiểm.

Nạn ách thoát qua đây trở lại,

Làm chi cho đặng bởi nơi đâu.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

 

 

NẠN GỞI TAI BAY

Hay “Nạn gửi tai bay”.

Nạn gởi (gửi): Nạn tai gởi theo mình. Tai bay: Hoạ hại bay vào thân.

Nạn gởi tai bay, như chữ “Nạn gửi tai bay”, ý nói tai nạn xảy đến một cách thình lình, không đề phòng được.

Nạn gởi tai bay vì chẳng hiếu,

Từ đây sám hối tội hoàn lần.

(Đạo Sử).

 

 

NẠN NGUY

難 危

Nạn: Tai vạ. Nguy: Có khả năng gây ra tai nạn, hay thiệt hại lớn.

Nạn nguy là tai nạn nguy hiểm lớn lao làm thay đổi mọi sự, mọi việc.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bần Ðạo thường nói lấy nhỏ mà đoán lớn, cả Vạn quốc nhơn loại trên hoàn cầu lúc nầy cũng vậy, dường như tâm linh của họ cho biết trước cái nạn nguy biến tự diệt nơi mặt địa cầu nầy. Nếu họ chia rẽ tương tàn, tương sát với nhau, không phải buổi nầy mà thôi, mà về tương lai nữa.

Nếu mà dụ dự diên trì,

Phải cam chịu lấy nạn nguy buổi nầy.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

NÀNG

Nàng là tiếng dùng để chỉ hoặc gọi người phụ nữ trẻ tuổi được yêu quý, tôn trọng.

Như: Ước gì anh lấy được nàng, nàng con gái xinh đẹp, nàng dâu hiếu thảo.

Thiếp nay cũng giống như nàng,

Thân Hồ tâm Hớn đôi đàng khó nguyên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Ta than lỗi bậc cung cầm,

Nàng sầu lạc nhạn ngư trầm biển mê.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NÀNG TÔ

Nàng: Tiếng dùng để chỉ hoặc gọi người phụ nữ trẻ tuổi được yêu quý, tôn trọng. Tô: Họ Tô, chỉ Tô Huệ.

Nàng Tô tức nàng Tô Huệ, người con gái dệt lụa, có chồng là Đậu Thao.

Chồng Tô Huệ đi lính ở phương xa, nàng ở nhà dệt lên gấm thành một bài “Hồi văn”, dâng lên cho vua để xin cho chồng được tha trở về. Vua đọc xong bài thơ, cảm động nên tha cho Đậu Thao trở về cùng nàng sum họp.

Xem: Tô Huệ.

Có công khéo khá trau nên khéo,

Phen nàng Tô dệt điệu Hồi văn.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

NANH

Nanh là răng sắc ở giữa răng cửa và răng hàm, dùng để xé thức ăn.

Như: Nanh lợn rừng, nanh cọp, nanh vuốt.

Trong bài Diễn Văn của Ðức Quyền Giáo Tông đọc tại Toà Thánh, ngày mùng 8 tháng 4 năm Giáp Tuất có câu: Từ ngày ác khí nổi lên xông đột, bên bạo tàn trương nanh múa vút, thì bên Thánh Ðức hiền lương có lắm anh hào đem hết trí thức tinh thần ra công giúp Ðạo.

Phong vân phải thế buổi bay rồng,

Nanh vấu bây chừ đủ cánh lông.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

NANH VUỐT

Nanh: Răng sắc ở giữa răng cửa và răng hàm, dùng để xé thức ăn. Vuốt: Móng nhọn, sắc và cong của loài vật.

Nanh vuốt, dịch từ chữ “Nha trảo 牙 爪”, tức là răng nanh và móng vuốt.

Những loài cầm thú sống nơi hoang dã, Tạo hoá cũng khéo ban cho nanh vuốt để tự bảo vệ mình. Nanh vuốt còn dùng để chỉ những tay chân bộ hạ của bọn quan lại.

Xem: Nha trảo.

Vợ dầu mang nanh vuốt cũng ra hiền,

Rủi gặp nợ đổi duyên âu chẳng khó.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NẠNH

Nạnh là ghen tị, tức so tính thiệt hơn về công việc, không muốn mình bị thua thiệt.

Như: Hai trẻ nạnh nhau từng tí một, anh em nạnh nhau nên không đứa nào chịu làm hết.

Nói ít biết nhiều là trò giỏi,

Hay làm chẳng nạnh ấy là lo.

(Đạo Sử).

Đã có sẵn một quyền bỉnh chánh,

Cứ phận mình lại nạnh chi ai.

(Ngũ Nương Giáng Bút).

 

 

NẠNH HẸ

Nạnh: Ganh tỵ, so tính hơn thiệt giữa mình với người và không muốn mình chịu thua thiệt.

Nạnh hẹ là tỵ nạnh, đùn đẩy việc cho nhau, tức đưa công việc qua lại cho nhau, không muốn nhận về mình.

Chồng đố dám một lời nạnh hẹ,

Chọc bà già bả chửi mẹ cha.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NAO CHÍ

Nao: Hơi rúng động, chột dạ. Chí: Lòng quyết định làm việc gì.

Nao chí là cảm thấy tinh thần và ý chí bắt đầu có sự dao động, muốn thối chí.

Trượng phu phải mặt không nao chí,

Xung đột quyết hơn chốn chiến trường.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

NAO LÒNG

Nao: Chột dạ, hơi rúng động. Lòng: Lòng dạ.

Nao lòng là lòng rúng động. Nao lòng còn có nghĩa là cảm động.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Nhơn dịp nầy Hội Thánh cũng tỏ tình thân mến đối với những bạn cùng chung hội đồng thuyền, cùng chung một chí hướng vị tha, đã từng cùng nhau chia vui sớt nhọc trong những lúc thăng trầm của nền Ðạo, không nao lòng nản chí, trước nhiều cơn thử thách gay go.

Nao lòng đừng sợ nhọc thân con,

Chữ hiếu chữ trung gắng giữ tròn.

(Đạo Sử).

Đã dấn thân vào cửa sắc không,

Nữ nhi cực nhọc há nao lòng.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

NAO NÚNG

Nao: Chột dạ, hơi rúng động.

Nao núng là rung động, rủn chí, tức thấy có sự lung lay, không còn vững vàng nữa.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Thầy có đoạn: Các con muốn vừa lòng Thiên hạ thì là giỏi hơn Thầy rồi. Thầy khuyên đừng nao núng, các con ngó Thầy trước, các con coi bước Thầy đi trước, các con cứ đi theo sau Thầy là đủ.

Bao nhiêu lệ thuộc không nao núng,

Đánh đuổi xâm lăng chí quật cường.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

NÁO

Náo là ồn ào, nhộn nhịp.

Như: Làm náo cả nhà lên, náo động cả làng xóm, gây náo loạn trong gia đình.

Bình sanh tâm địa náo trung can,

Nhược thể nan tri thế đạo tàn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NÁO ĐỘNG

鬧 動

Náo: Ồn ào. Động: Làm rung động, lo sợ.

Náo động là làm ồn ào, làm xôn xao khắp cả lên.

Náo động nhơn tâm là làm cho lòng của dân chúng lo lắng, sợ sệt không yên.

Thánh giáo Thầy dạy: Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật cả thảy đều náo động cũng vì các con.

Châu ngũ khí hoà tan ác nghiệt,

Thất Sơn náo động thất sơn dời.

(Thơ Hộ Pháp).

Chẳng màng tục lụy lợi danh,

Không ham náo động, không sanh lòng tà.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

NÁO LOẠN

鬧 亂

Náo: Ồn ào, nhộn nhịp, làm dậy lên sự ồn ào, nhốn nháo. Loạn: Lộn xộn, rối trật tự.

Náo loạn là gây nên sự ồn ào, hỗn độn.

Thánh giáo Đức Tôn Sơn Chơn Nhơn có câu: Ôi, một trường náo loạn Trung Nguyên ngày nay cũng chưa làm chuẩn đích xã hội nào hết. Đạo đây cũng chưa rõ thông bài học mắc mõ ấy mà sửa đường chỉnh đốn chánh sách độ đời.

Giữa cơn náo loạn trỗi cầm,

Lấy hơi hoà nhã dẹp lần bỉ thô.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Gây trường náo loạn kinh hồn,

Đế quyền xúi giục du côn bạo hành.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

NÁO NỨC

Náo: Ồn ào, nhộn nhịp, làm dậy lên sự ồn ào, nhốn nháo. Nức: Bốc lên, dậy lên.

Náo nức là hăm hở, phấn khởi, nhộn nhịp.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có nói: Trăm hoa đua nở, cảnh vật tươi màu, Tân Xuân Ðinh Mùi đã đem đến cho mặt Ðời bao vẽ hân hoan, náo nức khiến cho con người dầu cơ cực thế nào cũng tạm quên nỗi khó đã vui hưởng ít nhiều cảnh thơ thới tưng bừng của ngày xuân quang đãng.

Náo nức vừa nghe chốn Giáo đường,

Khép khuôn chức sắc nét thuần cương.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

NÁO NHIỆT

鬧 熱

Náo: Ồn ào. Nhiệt: Nóng.

Náo nhiệt là ồn ào, rộn rịp.

Náo nhiệt trường là nơi có đông người đang ồn ào tranh luận hay sôi nổi tranh đua danh lợi, tước quyền.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có câu: Phần nhiều đạo hữu vì tánh tình tục phàm mà làm cho gay trở bước Ðạo, lại e chẳng khỏi sanh ra một trường náo nhiệt trong Ðạo về buổi sau nầy.

Náo nhiệt Trung Huê chịu chiến trường,

Rồi đây lửa dậy Thái Bình Dương.

(Tôn Sơn Chơn Nhơn).

Trần thế hầu gây náo nhiệt trường,

Lánh nguy nguồn Ðạo vẹn tìm phương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NÀO

1.- Nào là gì đâu. Như: Chỗ nào, cái nào, người nào.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí tôn có dạy: Nếu chẳng đi đến trường Thầy lập mà đoạt thủ địa vị mình thì chẳng đi nơi nào khác mà đắc đạo bao giờ.

Hễ ghét người thì Trời ghét lại,

Ghét người Trời ghét lẽ nào hơn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chua cay em đã lắm mùi đời,

Chẳng biết buổi nào đặng thảnh thơi.

(Đạo Sử).

2.- Nào là tiếng trợ ngữ ở đầu hoặc cuối câu để tỏ ý thúc giục, than trách hay hỏi han. Như: Nào, chúng ta cùng đi, nhanh đi nào, nào ngờ việc đến thế nầy.

Thánh giáo Thầy có câu: Nào nhân xưa, nào đức trước, nào sách Thánh, nào lời Hiền, trải qua chưa trăm năm mà cuộc cờ đời đã rửa phai hạnh đạo.

Có thân có khổ, khổ vì thân,

Nào có sướng chi cái kiếp trần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nào có tưởng vợ nhà đau đớn,

Ôm tình si muôn lượng sầu than.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NÀO DÈ

Nào: Gì, đâu. Dè: Tưởng.

Nào dè là chẳng dè, không ngờ, ngoài mọi sự dự tính.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: Các con ngã thì tại nơi Thầy. Nếu Thầy biết các con nhẹ tính thì thế nào cũng chẳng chịu. Lại để lời tiên tri mà dặn trước, nào dè Thánh Ngôn, các con không đọc, lời Thầy nói cũng như không, mới ra tội lỗi các con phạm thượng thế ấy.

Những ngỡ trao duyên vào Ngọc các,

Nào dè phủi nợ xuống Tuyền Đài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nào dè phép quỷ toan cải chánh,

Mượn quyền yêu so sánh Chí Linh.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

NÃO CÂN

腦 筋

Não: Óc, não bộ. Cân: Gân.

Não cân là các thớ não, tức là trung tâm của các dây thần kinh, nơi tập trung sự hiểu biết và cảm giác.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có câu dạy: Lão nhận thấy Chức sắc Hiệp Thiên và Cửu Trùng cũng còn hẫng hờ phận sự, chưa đem hết tiếng nói của Đại Từ Phụ vào não cân.

Chớ nên xao tâm động trí, ngơ ngẩn theo thường tình, thì não cân được tự minh, mới có thể ngăn cản tà mị độn nhập vào mà khuấy rối.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

NÃO NỀ

Não: Buồn rầu, đau đớn.

Não nề là trong lòng cảm thấy buồn bã, đau đớn làm não lòng người.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Cơ hội ngàn năm một thuở, ví như Ðấng Chí Tôn không khai mối Ðạo Trời, cái đà sống của mỗi người chúng ta trong thời loạn là cần cù mưa nắng vì manh áo bát cơm, nay di cư chỗ nầy, mai đổi dời chỗ khác, phải chịu cảnh lầu Tần quán Sở, cay đắng trăm bề, trong lúc loạn ly thì vàng thau chung chạ, ngọc đá bất phân, ngoài ra còn bận bịu gánh thê nhi, não nề tình ấm lạnh, rồi đến khi Thiên số nan đào, thân cát bụi không còn để lại một dấu vết chi cho người đời nhắc nhỡ.

Khuyên đời mau tỉnh giấc mê,

Lo tu sau khỏi não nề kiếp duyên.

(Nhất Nương Giáng Bút).

 

 

NÃO NỒNG

Hay “Não nùng”.

Não: Buồn rầu, đau đớn.

Não nồng, như chữ “Não nùng”, là biểu hiện một nỗi buồn đau sâu đậm và ray rứt.

Như: Lời ca chứa đựng nỗi ai oán não nồng.

Xem: Não nùng.

Thiên cơ mạt lộ chờ đôi lúc,

Nương cậy về sau khỏi não nồng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nhớ chồng thấy trẻ não nồng,

Đông ơi! Đông biết tấm lòng kiên trinh?

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NÃO NÙNG

Não: Buồn rầu, đau đớn.

Não nùng chỉ sự buồn thương, đau đớn.

Bài Tuyên dương công nghiệp Bà Hương Hiếu trong cuộc lễ Tấn phong Nữ Đầu Sư, Đức Thượng Sanh có câu: Bà chỉ còn một mảnh thân bơ vơ cô độc trong tình cảnh não nùng bi đát, để rồi khi nắng sớm mưa chiều, lúc canh tàn đêm lụn, Bà không thể ngăn được giọt thảm đầm đìa để khóc chồng, khóc con và khóc mẹ.

Thấy cơn tử biệt não nùng,

Hương thề tắt ngọn lạnh lùng tơ duyên.

(Kinh Thế Đạo).

Bởi chưng chưa biết quyền Trời Ðất,

Lại để cháu con gánh não nùng.

(Đạo Sử).

 

 

NÃO PHIỀN

惱 煩

Não: Trong lòng buồn bực, tức giận. Phiền: Nhọc mệt, buồn rầu.

Não phiền, do chữ “Phiền não 煩 惱”, là buồn phiền sầu não, tức buồn rầu.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy vì đó mà cải dẫn bước đường của các con, não phiền thành vui vẻ, đường gai góc hoá ra nẻo êm đềm, lo lắng phải ra tươi cười, mỏi mòn thành phấn chấn.

Mộng đời mở mắt hai tay trắng,

Nắm mối nhơn luân sạch não phiền.

(Nguyệt Tâm Chơn Nhơn).

Mở mang trí huệ trừ tam độc,

Giải thoát thân tâm dứt não phiền.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

NẠP

1.- Nạp là dâng, nộp cho người có trách nhiệm thu giữ. Như: Nạp thuế, nạp đơn, nạp tiền phạt, nạp mạng, thâu đa nạp thiểu.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: Thầy đã nói, chơn linh ấy đem nạp vào Toà Phán Xét từ lời nói của các con, dầu những lời ấy không thiệt hành mặc dầu, chớ tội tình cũng đồng một thể.

Nạp thân mình đã đáng bao lăm,

Còn vàng lượng bạc trăm thêm phụ sức.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Nạp là thu vào, nhận. Như: Nạp dụng là thu nhận và sử dụng.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Thầy Mạnh Tử thuyết minh đủ mọi điều lợi, hại rồi thì Vua Huệ Vương chịu nạp dụng.

Hối hận trăm năm trong một buổi,

Thành tâm Thầy cũng nạp lời nguyền.

(Đạo Sử).

3.- Nạp là vá lại, áo thầy tu. Như: Áo Bá nạp, bá nạp quang.

Bá (bách) nạp hay Bá nạp quang là một loại áo của các tu sĩ Phật giáo. Sở dĩ gọi là bá nạp là vì áo ấy do hằng trăm miếng vải kết lại mà thành.

Xem: Bách nạp.

Cây trăm thước đổi hương tàn,

Treo y bá nạp làm màn phòng the.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NẠP ĐẾN BẾN NHƠ

Nạp đến: Dâng nạp cho. Bến nhơ: Do thân phận người đàn bà con gái người ta ví với bến nước, trong nhờ đục chịu. Bến nhơ tức bến đục.

Nạp đến bến nhơ ý dạy người con gái cần chọn hôn cẩn thận đừng vội vàng mà nạp đến bến nhơ (bến đục), tức lấy chồng mà gặp ông chồng không tốt.

Đừng quá chắc miệng người yêu mến,

Mà đem mình nạp đến bến nhơ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NẠP THIỂU

納 少

Nạp: Nộp, cho vào, đưa vào. Thiểu: Ít.

Nạp thiểu là nộp ít, đưa vào ít.

Thành ngữ có câu: “Thâu đa nạp thiểu 收 多 納 少”, ý chỉ những hành động của quan tham nhũng, thâu của dân thì nhiều mà nạp cho nhà nước thì ít.

Người thanh bần như vậy thì vui sướng hơn kẻ giàu mà sâu mọt, lường công tham của, thâu đa nạp thiểu.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

NÁT

Nát là tan vở thành mảnh vụn, hư hỏng không còn nguyên hình. Như: Thịt nát xương tan, nhà rách vách nát.

Thuyết về Quan Thánh Đế Quân, Đức Thượng Sanh có đoạn: Chỉ vì khi còn tại thế Ðức ngài gồm cả bốn Ðức: Trung, Cang, Nghĩa, Khí. Một lời giao kết dù cho nát thân cũng không dời đổi.

Kim rời cải rụng lòng ngao ngán,

Ðá nát vàng phai dạ ngậm ngùi.

(Thất Nương Giáng Bút).

Chất mối sầu tư ruột nát bầm,

Thời thôi đành phải giả làm câm.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

NÁT CỬA TAN NHÀ

Nát tan: Ở trạng thái bị phá hủy hoàn toàn, không còn gì. Cửa nhà: Nhà cửa, đồ đạc và nói chung những gì thuộc đời sống riêng của mỗi gia đình.

Nát cửa tan nhà, như chữ “Tan nhà nát cửa”, là tả cảnh gia đình bị tan nát, chia lìa.

Như: Mỗi lần có chiến tranh thì người dân phải chịu cảnh nát cửa tan nhà.

Đừng để sa vào chốn nguyệt hoa,

Có ngày nát cửa lại tan nhà.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

NÁT MẬT BẦM GAN

Nát mật: Tan nát quả mật, chỉ sự đau đớn khổ sở. Bầm gan: Thâm tím lá gan, chỉ sự căm giận phẫn uất.

Nát mật bầm gan là tan nát và bầm tím mật gan, ý muốn nói có đau đớn, khổ sở, hoặc chỉ sự hết sức căm giận, phẫn uất.

Nát mật bầm gan đồng nghĩa với câu thành ngữ: “Nát ruột bầm gan”.

Nát mật khó xem nhà vắng chủ,

Bầm gan há chịu nước không quờn.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

NÁT NGỌC PHAI VÀNG

Nát ngọc: Viên ngọc tan nát. Phai vàng: Nén vàng bị tàn phai.

Người ta thường ví thân thể người đàn bà cin gái đẹp như là vàng ngọc, vì vậy thành ngữ “Nát ngọc phai vàng” có nghĩa là thân vàng ngọc bị phai tàn, tan nát, ý chỉ người đẹp chết.

Nếu chẳng nợ duyên thà chớ gặp,

Chi cho nát ngọc lạ phai vàng.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

NÁT NGHIỀN

Nát: Tan vở thành mảnh vụn. Nghiền: Làm cho nát vụn ra bằng cách vừa ép mạnh, vừa chà xát nhiều lần.

Nát nghiền là tan nát ra như nghiền, chỉ hết sức nát, như bột nhuyễn.

Như: Cối nầy xay hạt tiêu nát nghiền như bột.

Nấu trách canh đổ nước nổi thuyền,

Kho trả mắm nát nghiền xương cá.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NÁT TAN

Nát: Ở trạng thái rời ra thành mảnh vụn. Tan: Vỡ vụn ra thành từng mảnh nhỏ, không còn nguyên vẹn.

Nát tan, như chữ “Tan nát”, là bị phá huỷ hoàn toàn chỉ còn những mảnh vụn, hoặc không còn gì hết.

Như: Làm cho nát tan nền chánh giáo.

Xem: Tan nát.

Phá cho Thánh giáo nát tan,

Dẫn người lương thiện vào đàng Bàng môn.

(Nguyễn Trung Trực Giáng).

 

 

NẠT

Nạt là đe doạ, có ý ăn hiếp. Nạt còn có nghĩa là quát to cho người sợ mà nghe theo.

Như: Doạ nạt, khoát nạt, nạt nộ.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Lợi dụng địa vị hoành hành thiên hạ, bóc lột nhân sanh, khoát nạt trước đám dân đen, cúi rạp mình trước người thượng cấp, lấy nhục làm vinh, lấy xấu làm tốt, miễn lo cho đầy túi tham, không cần nghĩ tới hậu quả việc làm đen tối của mình.

Lời tục có nói: Một kẻ nói ngang ba làng nói không lại, mà hễ ai nói ngược lại thì rút rìu búa ra doạ nạt thiên hạ.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

NÁU NƯƠNG

Náu: Giấu mình vào một nơi kín đáo để khỏi lộ ra. Nương: Dựa mình vào.

Náu nương, do chữ “Nương náu”, là lánh để tìm một nơi kín đáo có sự che chở để an thân.

Như: Gặp cảnh buồn đau, chị ấy vào náu nương một thời gian nơi cửa Phật.

Xem: Nương náu.

Tròi trọi mình không mới thiệt bần,

Một nhành sen trắng náu nương chân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Phất trần đưa sẵn bền tay níu,

Cửa tịnh đã đành phận náu nương.

(Đạo Sử).

Hồn quê níu nắm tình non nước,

Phách quế náu nương dạ sắt son.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

NĂM

1.- Năm là khoảng thời gian mười hai tháng, tức trái đất di chuyển hết một vòng quanh mặt trời, bằng 365 ngày. Như: Bé đã tròn năm tuổi, hoàn thành trong ba năm.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Từ trước, Ta giáng sanh lập Phật giáo gần sáu ngàn năm thì Phật đạo chánh truyền gần thay đổi.

Một kiếp muối dưa muôn kiếp hưởng,

Ðôi năm mệt nhọc vạn năm bường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ký thành một cuốn gọi Thiên thơ,

Khai Ðạo muôn năm trước định giờ.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Năm là số tiếp theo số bốn trong dãy số tự nhiên. Như: Năm châu bốn biển, ba với hai là năm.

Thánh giáo Thầy có câu: Thử nghĩ, lập một nước còn dễ hơn dạy một người dữ đặng hiền, huống chi trong Tam Kỳ Phổ Ðộ nầy, các con phải độ rỗi cả nhơn loại khắp cả năm Châu, thì trách nhậm ấy lớn lao là bực nào.

Thoát xác xưa tầng tu vạn kiếp,

Ðộ hồn nay gội khắp năm Châu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Năm bảy năm sau nên nghiệp lớn,

Ðến chừng ấy khá Ðạo lo lường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NĂM ÂM

Năm: Số tiếp theo số bốn trong dãy số tự nhiên. Âm: Tiếng, giọng.

Năm âm, bởi chữ “Ngũ âm 五 音”, là năm bậc âm thanh của âm nhạc cổ điển phương đông.

Năm âm gồm có: Cung, thương, giốc, chuỷ, vũ.

Xem: Ngũ âm.

Đêm thanh vắng lên dây trỗi nhịp,

Khảy năm âm cho hiệp cùng nhau.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

Gượng gảy năm âm giãi tấm lòng,

Nhắn đưa gió ái đến thu song.

(Bát Nương Giáng bút).

Năm âm mượn bực tỏ tơ lòng,

Đờn “bắc” ra “ai” oán dội song.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

NĂM CANH

Năm: Số tiếp theo số bốn trong dãy số tự nhiên. Canh: Khoảng thời gian bằng một phần năm của đêm.

Ngày xưa, người ta chia thời gian ra làm đêm ngày, đêm thì có năm canh, ngày thì có sáu khắc.

Do đó “Năm canh” là chỉ khoảng thời gian suốt đêm.

Như: Đêm năm canh ngày sáu khắc.

Thương tiếng dế năm canh trỗi giọng,

Tưởng như dường ướm gióng dây loan.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

NĂM CÂY NHANG

Nhang, một loại cúng phẩm được làm bằng tre, chuốt ra cọng nhỏ và xe vào một đoạn bột nhang trộn với hương thơm rồi phơi khô, dùng để đốt khi cúng kính Trời Phật hay Ông Bà.

Trong dân gian, người Việt Nam tin tưởng Ông Bà hay Trời Phật thường đốt hương khi tưởng niệm hay cúng kính các Đấng Thiêng. Họ quan niệm rằng lòng cầu nguyện hay nói cách khác là nguyện lực sẽ hoà quyện cùng khói nhang bốc lên để được cảm ứng cùng Ông Bà và các Đấng.

Nhưng đối với người tu hành, sự đốt nhang mang một ý nghĩa sâu sắc hơn, đốt hương hàm ý đốt lên mùi thơm của pháp vô vi, có tác dụng đánh bạt các mùi ô uế, trược khí của tội chướng và ác nghiệp, vô minh đen dầy trong tâm thức ta.

Trong đạo Cao Đài, nơi lư hương thờ Đức Chí Tôn luôn luôn thắp năm cây nhang, xếp thành hai hàng: Hàng trong có ba cây, hàng ngoài hai cây. Ba cây hàng trong được cắm vào lư hương trước để tượng trưng cho Tam Tài. Hai cây hàng ngoài được cắm tiếp sau cho đủ năm cây để vừa tượng trưng cho Ngũ Khí, vừa tượng trưng cho Ngũ Giới Hương.

Ba cây nhang ở hàng trong tượng trưng cho Tam Tài là để nhắc cái địa vị quan trọng của Thiên, Địa, Nhơn (Trời, Đất, Người) trong vũ trụ và đồng thời cũng nhắc nhở cho người tín đồ phải luôn cố giữ cho linh tâm được hư tỉnh, sáng suốt mà Trời đã phú cho con người thì mới hiệp nhất được cùng Trời Đất.

Đốt năm cây nhang còn tượng trưng cho Ngũ Khí, tức sự vận chuyển của Ngũ Hành để cho vũ trụ được điều hoà, vạn vật sinh trưởng, trường tồn.

Năm cây nhang còn tượng trưng cho Ngũ Giới Hương:

Giới hương: mùi thơm bát ngát của giới luật tiêu trừ được mùi ô uế của tội ác. Mùi tội ác hôi tanh không thể xâm nhập nội tâm kẻ tu hành được.

Định hương: Mùi thơm của thiền định khiến ta tin tưởng mạnh mẽ vào Giáo Pháp để tiến lên cõi bờ giác ngộ, không nản lòng chùn bước.

Tuệ hương: Mùi thơm của trí tuệ, là một năng lực bén sáng, có khả năng diệt trừ mọi chướng ma, phiền não.

Tri kiến hương: Mùi thơm của giải thoát tri kiến, là trí tuệ quang minh thường thanh lọc, chiếu soi qua tất cả nhận thức, để được thông suốt, không để tà kiến, cố chấp trói buộc.

Giải thoát tri kiến hương: Mùi hương của giải thoát, có năng lực cổi bỏ được bao nhiêu trói buộc của mê mờ tà kiến.

Chính vì thế Đạo Cao Đài mới dùng năm thứ hương nầy bằng năm cây nhang thắp lên để dâng cúng Đức Chí Tôn.

Năm Cây Nhang ngũ hành mới tượng,

Mới phân ra bốn hướng bốn phương,

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

NĂM CUNG

Năm: Số tiếp theo số bốn trong dãy số tự nhiên. Cung: Cung bậc trong âm nhạc cổ.

Năm cung, bởi chữ “Ngũ âm 五 音”, là năm bậc âm thanh của nhạc cổ điển.

Năm cung gồm: Cung, thương, giốc, chuỷ, vũ.

Nhạc năm cung là chỉ âm nhạc cổ điển.

Lao lực thế tình chi xạo xự,

Rửa tai chờ lóng nhạc năm cung.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cõi thế chờ qua đường mấy dặm,

Non Thần đợi lóng nhạc năm cung.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

Sớm tối thừa nhàn nơi lãnh thất,

Năm cung thường trỗi giọng Hồ cầm.

(Thơ Bảo Văn Pháp Quân).

 

 

NĂM CHÂU

Năm: Số tiếp theo số bốn trong dãy số tự nhiên. Châu: Phần đại lục ở trên địa cầu.

Năm châu, như chữ “Ngũ châu 五 洲”, là năm vùng đất trên thế giới được các nhà địa lý phân chia ra, gồm có: Châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Úc và châu Phi.

Năm châu là chỉ toàn cả thế giới.

Thánh giáo có câu: Thử nghĩ, lập một nước còn dễ hơn dạy một người dữ đặng hiền, huống chi trong Tam Kỳ Phổ Ðộ nầy, các con phải độ rỗi cả nhơn loại khắp cả Năm châu, thì trách nhậm ấy lớn lao là bực nào.

Thoát xác xưa tầng tu vạn kiếp,

Ðộ hồn nay gội khắp năm châu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Đấng nam tử đâu đâu cũng nợ,

Khắp năm châu khai mở quy mô.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NĂM CHÂU BỐN BIỂN

Hay “Năm châu bốn bể”.

Năm châu: Năm vùng đất trên địa cầu: Á châu, Âu châu, Mỹ châu, Úc châu, Phi châu, chỉ toàn thế giới. Bốn biển: Bốn mặt chung quanh đất liền đều là biển cả, nên “Bốn biển” dùng để chỉ toàn cả thế giới.

Thành ngữ “Năm châu bốn biển” dùng để chỉ khắp thế giới, khắp mọi nơi.

Năm châu bốn biển đồng nghĩa với câu “Bốn biển năm hồ”.

Xem: Bốn biển năm hồ.

Hạc liền vỗ cánh tung trời,

Năm châu bốn biển đồng thời xem qua.

(Thơ Hộ Pháp).

Nay tôi đã thoát ly sự thế,

Khắp năm châu bốn bể là nhà.

(Thơ Hộ Pháp).

Năm châu góp mặt xây thành khối,

Bốn biển một nhà gắng lập công.

(Thơ Hiến Pháp).

 

 

NĂM GIỚI CẤM

Hay “Năm giới”.

Năm: Số đếm, một số trên số bốn, dưới số sáu. Giới: Răn, kiêng. Giới cấm: Điều ngăn cấm.

Năm giới cấm hay “Năm giới”, như chữ “Ngũ giới cấm 五 戒 禁”, là năm điều răn cấm trong tôn giáo, đó là: Không sát hại sanh vật, Không trộm cắp, Không tà dâm, Không nói dối, Không rượu thịt.

Xem: Ngũ giới.

1.- Năm giới cấm:

Độ chúng hãy gìn năm giới cấm,

Giáo dân tua vẹn bốn điều quy.

(Thơ Tuấn Anh).

2.- Năm giới:

Bỏ quách tám nghề duyên phấn sáp,

Giữ tròn năm giới thú rau tương.

(Thơ Thuần Đức).

Thật hành nghiêm chỉnh theo năm giới,

Đắc quả thành công mối Đạo nhà.

(Thơ Thuần Phong).

 

 

NĂM HẰNG

Năm: Số tiếp theo số bốn trong dãy số tự nhiên. Hằng: Thường, luôn.

Năm hằng, dịch từ chữ Hán “Ngũ thường 五 常”, tức là năm đức tính thường có của con người: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín 仁, 義, 禮, 智, 信.

Trai trung hiếu sửa trau ba mối,

Đừng buông lung lầm lỗi năm hằng.

(Kinh Sám Hối).

Tu tâm sửa tánh ăn năn,

Ba giềng nắm chặt, năm hằng chớ lơi.

(Kinh Sám Hối).

Ba giềng với năm hằng khá đoán,

Hư nên đừng xao lãng chí nam nhi.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NĂM SẮC HOA

Năm: Số tiếp theo số bốn trong dãy số tự nhiên. Sắc: Màu sắc. Hoa: Bông.

Năm sắc hoa là năm màu hoa dùng để dâng cúng Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu.

Năm sắc hoa hay “ngũ sắc hoa 五 色 花”, là năm màu bông gồm trắng, xanh, đen, đỏ, vàng, ứng với ngũ hành, ngũ khí, ngũ tạng và ngũ quan như sau:

 

NGŨ HÀNH

 

NGŨ TẠNG

 

NGŨ QUAN

 

Trắng: Kim

 

Phế (phổi)

 

Tỷ (mũi).

 

Xanh: Mộc

 

Can (gan)

 

Mục (mắt).

 

Đen: Thuỷ

 

Thận (thận)

 

Nhĩ (tai).

 

Đỏ: hoả

 

Tâm (tim)

 

Thiệt (lưỡi).

 

Vàng: Thổ

 

Tỳ (lá lách)

 

Khẩu (miệng).

 

Năm sắc hoa tươi xin kỉnh lễ,

Cúi mong Thượng Đế rưới Ân Thiên.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

NĂM THÊ BẢY THIẾP

Năm thê: Năm vợ, ý nói nhiều vợ. Bảy thiếp: Bảy người vợ nhỏ, ý chỉ nhiều vợ bé.

Thê thiếp 妻 妾 là vợ và người vợ bé (hầu).

Luật hôn nhân trong chế độ quân chủ ngày xưa dành cho người đàn ông rất rộng rãi, nên tục ngữ mới có câu: Trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng.

Như vậy, năm thê bảy thiếp tức là người đàn ông được quyền cưới nhiều vợ và nhiều người hầu thiếp.

Thung dung quân tử hảo cừu,

Năm thê bảy thiếp mặc dầu trăng hoa.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Đừng mượn tiếng trai năm thê bảy thiếp,

Mà ép tình lấn hiếp thuyền quyên.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NĂM VẦN

Năm: Số tiếp theo số bốn trong dãy số tự nhiên. Vần (vận): Những tiếng cùng một thanh với nhau.

Năm vần, như chữ “Năm vận”, là nói một bài thơ gồm có năm vần, hay nói rõ hơn là tám câu năm vần. Đây chỉ về thể thơ thất ngôn bát cú hay Đường luật.

Xem: Năm vận.

Gắng cầm viết nín hơi sống rốt,

Đề năm vần khắc cốt nữ lưu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NĂM VẬN

Năm: Số tiếp theo số bốn trong dãy số tự nhiên. Vận: Vần trong thi ca, tức những tiếng cùng một thanh với nhau.

Năm vận ý chỉ bài thơ “Thất ngôn bát cú” gồm có tám câu năm vần.

Thơ năm vận dở dang bình trắc,

Đờn bốn dây nức nở cung thương.

(Điếu Văn Nữ Đầu Sư).

Người xướng đôi dòng nghe cảm mến,

Đây hoà năm vận tỏ tình thân.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

NĂM XE

Năm: Số tiếp theo số bốn trong dãy số tự nhiên. Xe: dụng cụ có bánh lăn, dùng để chở người hay hàng hoá.

Năm xe, do nghĩa “Ngũ xa thư 五 車 書”, tức năm xe sách. Ý nói người học rộng, đọc nhiều sách.

Do trong Cổ thi có câu: Yếu thông kim cổ sự, tu độc ngũ xa thư 要 通 今 古 事, 須 讀 五 車 書, nghĩa là muốn hiểu rõ việc cổ kim, phải đọc hết năm xe sách, ý muốn nói đọc nhiều sách.

Trang Tử khen Huệ Thi cũng có câu: Kỳ thư ngũ xa 其 書 五 車, nghĩa là sách ông ấy năm xe.

Nghĩa bóng: Chỉ người tài cao học rộng.

Năm xe kinh sử đưa rồng Hớn,

Ba lược thi văn chiến hổ bài.

(Bát Nương Giáng Bút).

Mong tài tám đấu nưng thành lở,

Quyết chí năm xe lấp hải hà.

(Thơ Nguyễn Hượt Hải).

 

 

NẮM

1.- Nắm là nạm, chỉ lượng vừa một bàn tay nắm vào.

Như: Một nắm cơm vắt, ngâm ít nắm gạo để nấu cháo, nắm thịt, nắm rau cải.

Búng cơm nắm thịt tình nên thẳm,

Giọt sữa gầy xương nghĩa quá dài.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Nắm còn là cầm, giữ trong tay. Như: Nắm cổ, nắm áo, nắm tay, nắm quyền.

Thánh giáo Thầy có câu: Kẻ hữu phần đặng nắm mối Ðạo Trời, dựa chiếc thuyền sen lần vào non cao suối lặng, để rửa bớt chút bợn trần, dưỡng tánh tu thân, để nâng lên địa vị thanh cao, lánh xa đoạ luân hồi trong lúc hồn lìa khỏi xác.

Phép giải oan độ hồn khỏi tội,

Phướn Tiêu Diêu nắm mối trường sanh.

(Kinh Tận Độ).

Muôn kiếp có Ta nắm chủ quyền,

Vui lòng tu niệm hưởng ân Thiên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Quyền hành từ đấy về tay nắm,

Phải sửa cho nên đáng thế thì.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NẮM PHAN

Nắm: Giữ chặt lấy. Phan: Cây phướn, một cây tựa như lá cờ, bề ngang hẹp, có chiều dài, trong lá phướn có ren lụa thêu rũ xuống.

Nắm phan là cầm giữ cây phướn, ý chỉ hướng theo cây phướn mà đi.

Trong Đạo Cao Đài có nhiều loại phướn như: Phướn Thượng Sanh, phướn Thượng Phẩm, phướn Truy Hồn hay phướn Tiêu Diêu.

Theo triết lý của Cao Đài, khi một người chết thì Chơn linh phải có cây phướn để dẫn dắt đường đi.

Về thể pháp, nếu người chết từ phẩm Lễ sanh trở xuống chức việc, đạo hữu thì Chơn linh người chết được hướng dẫn bằng cây phướn Thượng Sanh, nếu người chết từ phẩm Giáo Hữu trở lên thì Chơn linh được dìu dẫn bằng cây phướn Thượng Phẩm.

Về bí pháp, nơi cõi Thiêng Liêng mỗi Chơn linh đều được dẫn dắt bằng phướn Tiếp Dẫn hay phướn Tiêu Diêu.

Dìu đường thoát tục nắm phan,

Trông Kinh Bạch Ngọc định thần giải căn.

(Kinh Tận Độ).

Tiêu diêu định tánh nắm phan,

Do theo Cực Lạc đon đàng siêu thăng.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

NẮM PHAN TIẾP DẪN

Nắm: Giữ chặt. Phan: Cây phướn. Tiếp Dẫn 接 引: Hay Tiếp Dẫn Đạo Nhân, là vị Phật cầm cây phướn Tiếp Dẫn có nhiệm vụ tiếp rước và dẫn dắt các Chơn linh đắc Đạo về cõi Tây Phương Cực Lạc.

Nắm phan Tiếp Dẫn ý nói chơn linh nên hướng theo cây phướn Tiếp Dẫn, một cây phướn của Tiếp Dẫn Chơn Nhơn, là một vị Phật có nhiệm vụ hướng dẫn các Chơn linh đắc Đạo về cõi Tây Phương Cực Lạc.

Cảnh Thiên noi bước Hoá Công,

Nắm phan Tiếp Dẫn vào vòng Như Lai.

(Kinh Thế Đạo).

Biến thân hạc nội mây ngàn,

Nắm phan Tiếp Dẫn mở đàng Lôi Âm.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NẮM TÂM

Nắm: Giữ chặt. Tâm: Lòng.

Nắm tâm là gìn giữ chặt cái tâm, tức trụ tâm lại.

Theo Nho giáo, tâm là thần minh, là phần chủ tể của con người. Vì phóng túng theo vật dục, tâm thường bị mê mờ. Do vậy, người quân tử phải tồn tâm, tức là giữ cho còn cái bản tâm hư linh của mình, và nuôi nó cho càng ngày càng sáng suốt.

Phật giáo cũng cho rằng “Tâm viên ý mã 心 猿 意 馬”, ấy là tâm ý buông lung, chạy nhảy như vượn và ngựa. Do đó, hành giả cần phải điều phục tâm ý cho được định tỉnh, tập trung không cho tán loạn.

Rõ phước đức, biết tội tình,

Nắm tâm đắp vững mặt thành Càn Khôn.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

NẮM TÂM HƯƠNG

Nắm: Một nạm. Tâm hương: Hương lòng.

Nắm tâm hương là một nén hương lòng, tức dùng tấm lòng chơn thành để làm nén hương dâng lên các Đấng Thiêng liêng hay ông bà cha mẹ để cầu nguyện.

Như: Thắp nắm tâm hương để dâng lên Cửu huyền thất tổ.

Nhớ nỗi hiếu khó ngăn nét thảm,

Tưởng nguồn ân đốt nắm tâm hương.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

NẰM

Nằm là ngả thân mình trên một vật nào đó để nghỉ. Như: Nằm trên giường, nằm dài trên lộ, nằm gai nếm mật.

Thánh giáo Đức Thái Thượng Đạo Tổ có câu: Bần Đạo hỏi bốn hiền hữu có ai đã mang sao đội nguyệt, ăn mật nằm gai, chịu muôn sự khổ hạnh cõi đời để tạo hạnh phúc cho nhơn sanh chưa?

Chưa người nằm giữa nhà chờ của,

Biển nọ muốn qua mặc sóng nhào.

(Đạo Sử).

Chẳng qua khách ăn nằm quán tục,

Vắn một ngày, lâu chút trọn đời.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NẰM ĐẤT

Nằm: Ngả thân mình trên một vật nào đó để nghỉ. Đất: Mặt đất.

Nằm đất là ngả mình dưới đất để nghỉ ngơi, ý chỉ chịu đựng sự vất vả, khổ sở.

Như: Ăn chay nằm đất.

Bốn năm công quả vun nền đạo,

Nằm đất chông gai chịu nước đời.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

NẰM LÒNG

Nằm: Ở trong, thuộc phạm vi. Lòng: Bụng dạ, biểu tượng cho tâm lý tình cảm.

Nằm lòng là thuộc lòng từng chi tiết, nhớ rất kỹ từng khía cạnh vấn đề.

Như: Những lời cha khuyên dạy lúc bé, tôi vẫn còn nằm lòng.

Lỗ tai bịt đừng nghe lời bợ,

Hễ dữ hung sách vở vẫn nằm lòng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NẰM GAI NẾM MẬT

Nằm gai: Đặt lưng trên chông gai. Nếm mật: Lưỡi liếm mật đắng.

Nằm gai nếm mật đồng nghĩa với câu “Ngọa tân thường đảm 臥 薪 嘗 膽”, tức là nằm trên củi và nếm mật đắng, ý chỉ sự quyết chí chịu đựng khổ cực để phục thù.

Do tích: Ngô Phù Sai đời Chiến Quốc, đánh thắng vua Câu Tiễn nước Việt và bắt cầm tù mười năm mới thả về. Để rửa mối hận ấy, Câu Tiễn khi ngủ nằm trên củi để lưng đau ngủ không yên giấc, khi ăn nếm mật đắng cho hết vị ngon để lòng luôn luôn nhớ đến mối thù.

Sau Việt Vương Câu Tiễn dùng Tây Thi làm mỹ nhân kế, khiến Phù Sai ham mê tửu sắc mà bỏ bê việc nước, nhân đó kéo quân đánh bại vua Ngô Phù Sai.

Mới ra công nằm gai nếm mật khôi phục sơn hà lưu cho cháu con ngày nay...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

NẰM GIÁ

Nằm: Ngả thân mình trên một vật nào đó để nghỉ. Giá: Băng giá.

Nằm giá tức là nằm trên băng giá, nói về sự tích Vương Tường người đời Tấn, một trong hai mươi bốn người con hiếu thảo.

Vương Tường mẹ mất sớm, ở với cha, nhưng bị bà mẹ ghẻ rất sâu cay thường kiếm lời nói ra nói vào, khiến cho cha ông ghét bỏ.

Mùa đông giá, nước đóng thành băng, bà mẹ ghẻ thèm ăn cá tươi, ông mình trần đi tìm cá. Bỗng nhiên băng nứt đôi, có hai con cá chép nhảy lên, ông bắt về làm món ăn cho bà kế mẫu.

Xem: Vương Tường.

Vương Tường cổi trần người nằm giá,

Váng nước tan bắt cá chép dâng.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

Vương Tường quyết đem thân nằm giá,

Kế mẫu thèm được cá chép dùng.

(Báo Ân Từ).

 

 

NĂN NỈ

Năn nỉ là nói khẩn khoản để nài xin. Như: Năn nỉ mãi mới được cho về.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Thầy có dạy: Thảm thay! Thầy còn biết làm thế nào mà dắt các con, dìu sanh chúng, cứu rỗi nhơn sanh cho trọn. Thầy năn nỉ các con, xin có một điều mà chẳng đặng thì đành cho nền Đạo điêu tàn mà để trò cười muôn thuở.

Sai lầm một thuở biết ăn năn,

Năn nỉ lòng kia tự xét rằng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NẮN

Nắn là dùng tay mà uốn, sửa theo một kiểu mẫu, hay một yêu cầu nào đó.

Như: Nắn tượng Phật để thờ, các nghệ nhân nắn cây cảnh nên hình.

Đau đớn thế nắn ra tượng Phật,

Lánh khổ nên vụ tất cửa không.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Bụng mang đầy quyền phép nắn đời,

Đời trở nhục ai ơi có thấu!

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NẮN ĐÚC

Nắn: Dùng ngón tay bóp, hay uốn, bóp theo một kiểu mẫu. Đúc: Rèn luyện, rất giống.

Nắn đúc là làm ra hay tạo ra.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có đoạn: Các mối Ðạo Thầy đã liều thân lập thành đều vào tay Chúa quỷ hết, nó mê hoặc các con. Nhiều bậc Thiên Tiên còn đọa, huống lựa là các Chơn thần khác của Thầy đương nắn đúc, thế nào thoát khỏi.

Lòng con nguyện Cao Đài gắng sức,

Diệt khảo lòng nắn đúc chí con.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Mẹ cha còn dầu giận cũng không quên,

Tình máu thịt tuổi tên tay nắn đúc.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NĂNG

1.- Năng là thường, hay, luôn luôn.

Như: Năng lui tới, năng viết thư về nhà, năng đến chùa lễ Phật và cúng bái.

Thánh giáo Thầy có câu: Mỗi Giáo Hữu ít nữa phải thông cội rễ nền Ðạo, chúng nó phải năng tìm biết Thánh Ngôn của Thầy đã dạy, và thay phiên nhau mà nói đạo cho chư thiện nam tín nữ hiểu.

Năng làm phải, nhựt nhu ngoạt nhiễm,

Lâu ngày dồn tính đếm có dư.

(Kinh Sám Hối).

Vào đặng Tam Kỳ Trời cứu khổ,

Khổ thêm gắng chịu tánh năng trau.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Năng là tài giỏi.

Như: Tài năng anh ấy siêu quần bạt chúng, Đấng toàn năng toàn giác.

Thần thông tự toại diệu huyền,

Toàn năng toàn giác Phật Tiên đắc thành.

(Thơ Hộ Pháp).

3.- Năng còn có nghĩa là có thể được.

Như: Có đủ năng lực làm việc, năng lai năng khứ.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Tam đồ tội khổ bất năng thoát tục là tội ngươi. Phải ăn năn sám hối, sau Ta sẽ trọng dụng, độ rỗi nhơn sanh, lấy công chuộc tội. Nghe à!

Năng lai năng khứ khinh khinh,

Mau như điển chiếu nhẹ thành bóng mây.

(Kinh Tận Độ).

Hữu phước sẵn Thầy năng cải số,

Kỷ cang liệu để tánh ôn hoà.

(Đạo Sử).

 

 

NĂNG CỨU

能 救

Năng: Có thể, có khả năng. Cứu: Giúp thoát nạn.

Năng cứu là có thể cứu thoát khỏi tai nạn.

Di Lạc Chơn Kinh có câu: Nam Mô Di Lạc Vương Bồ Tát, năng cứu khổ ách, năng cứu tam tai, năng cứu tật bịnh, năng độ dẫn chúng sanh thoát chư nghiệt chướng tất đắc giải thoát 南 無 彌 勒 王 菩 薩, 能 救 苦 厄, 能 救 三 災, 能 救 疾 病, 能 度 引 眾 生 脫 諸 孽 障, 必 得 解 脫, nghĩa là Nam Mô Di Lạc Vương Bồ Tát có thể cứu giúp những tai ách khổ sở, có thể cứu giúp được tam tai, có thể cứu giúp được bịnh tật, có thể cứu độ và dẫn dắt chúng sanh thoát hết các nghiệp chướng, ắt được giải thoát.

Rộng mở cửa răn năng cứu chuộc,

Gìn lòng tu tánh chớ đơn sai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NĂNG DU TA BÀ THẾ GIỚI

能 遊 娑 婆 世 界

Năng du: Có khả năng đi khắp hết. Ta Bà thế giới: Hay Sa Bà thế giới, là một thế giới thuộc sự hoá độ của Đức Thích Ca Mâu Ni Văn Phật.

Năng du Ta Bà thế giới là có khả năng đi khắp các cõi trần của chúng sanh sinh sống (Ta Bà thế giới).

Năng du Ta Bà Thế giái dưỡng dục quần sanh quy nguyên Phật vị.

(Di Lạc Chơn Kinh).

 

 

NĂNG LỰC

能 力

Năng: Tài cán, sức làm việc. Lực: Sức lực.

Năng lực là cái sức làm việc, hay cái sức tích trữ ở trong của người, vật hay máy móc.

Như: Muốn được thu dụng làm việc phải có năng lực chuyên môn.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Cái tinh thần đó bất diệt cũng như cái năng lực đó vẫn mãi trường tồn và luôn luôn chực sẵn để phụng sự cho chánh nghĩa, nâng đỡ cho lẽ phải và giúp nên cho những bậc lãnh đạo chơn chánh, thiết tha hoài bão xây dựng cho nền Chánh giáo.

Từ bi năng lực gẫm phi thường,

Cửa Đạo mới tìm đặng giống lương.

(Tôn Trung Sơn Giáng).

 

 

NẮNG

Nắng là ánh sáng mặt trời chiếu xuống. Như: Nắng mùa hè, ngồi phơi nắng.

Thánh giáo Thầy có câu: Có vì chúng sanh mà khổ tâm hành đạo, có khó nhọc, có dãi dầu sương mơi nắng xế, mà quên bậc phẩm vô vị ở cõi trần nầy, có vày vã nẻo gai chông lần theo bước đường hạnh đức, mới có ngày vui vẻ bất tận, mới có buổi an hưởng địa vị thiêng liêng, tránh điều phiền não, thoát đoạ luân hồi, mới có lúc rảnh nợ phong trần, nhàn xem sự thế, non cao suối lặng, động mát rừng thanh, là chỗ con lấy đạo đức làm thang để bước lên cho cùng tột.

Nồng hạ Trời thương đưa gió quạt,

Nắng thu đất cảm đổ mưa chan.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Mưa nắng thương thân chịu lắm lần,

Ðành đem đức gởi tại Chiên Tân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NẮNG DÃI MƯA DẦU

Nắng mưa: Nắng và mưa, dùng để ví những khó khăn, vất vả phải trải qua trong cuộc sống. Dãi dầu: Phơi bày để chịu cảnh mưa nắng.

Nắng dãi mưa dầu dùng để ví với cảnh chịu đựng nhiều nỗi gian lao vất vả trong cuộc sống.

Mù ám tâm hồn tự bấy lâu,

Mặc cho nắng dãi, mặc mưa dầu.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

NẮNG LỬA MƯA DẦU

Nắng lửa: Ý nói nắng nóng như lửa thiêu đốt. Mưa dầu: Phơi bày ra để chịu mưa chan.

Nắng lửa mưa dầu, đồng nghĩa với chữ “Nắng dãi mưa dầu”, dùng để ví với cảnh khổ sở, vất vả hoặc cơ cực trong cuộc sống.

Đại Thừa Chơn Giáo có câu: Than ôi! Ách nước tai Trời dồn dập, nào là nắng lửa mưa dầu, đó là cái hoạ chung cả nhơn loại.

Sanh đời nắng lửa với mưa dầu,

Tội là đâu, phước lại là đâu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Bấy lâu nắng lửa với mưa dầu,

Tiếp pháp công dày kể xiết đâu.

(Thơ Hiến Pháp).

 

 

NẮNG HẠN MƯA RÀO

Nắng hạn: Trời khô hạn, không có mưa. Mưa rào: Mưa hạt to và nhiều, mau tạnh, thường do đám mây dông gây ra.

Nắng hạn mưa rào là gặp lúc trời nắng hạn nóng bức có cơn mưa rào sẽ làm cho mát mẻ.

Nắng hạn mưa rào ý nói gặp được người giúp nước cứu dân, hoặc gặp được nền chánh giáo xem như nắng hạn làm nên mưa rào.

Phó Duyệt là vị công thần của nhà Thương, vua Cao Tông mới bảo: Nhược tuế đại hạn, dụng nhữ tác lâm vũ 若 歲 大 旱, 用 汝 作 霖 雨, nghĩa là gặp năm đại hạn, sẽ dùng ngươi làm cơn mưa dầm.

Gặp buổi Tam Kỳ, công phổ độ,

Như trong nắng hạn tưới mưa rào.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

NẮNG MƯA CHƯA VỪA KẺ

Nắng mưa: Khi nắng khi mưa. Chưa vừa kẻ: Ý nói chưa vừa ý với người chờ trông.

Nắng mưa chưa vừa kẻ có nghĩa là Trời mưa nắng không vừa lòng kẻ chờ đợi.

Trời có khi mưa khi nắng. Nắng mưa không làm vừa lòng mọi người: Người trông mưa trời lại nắng, kẻ đợi nắng trời lại mưa, ý nói trời kia còn không làm vừa lòng được mọi người.

Nắng mưa kia vốn chưa vừa kẻ,

Phàm tục nhiều tay quá lỗi lời.

(Đạo Sử).

 

 

NẮNG NỒNG TUYẾT LẠNH

Nắng nồng: Nắng gắt, nắng nóng. Tuyết lạnh: Tuyết giá rơi lạnh lẽo.

Nắng nồng tuyết lạnh là nói khi nắng thì nóng bức, lúc tuyết giá thì lạnh lẽo, ý chỉ những nỗi gian nan, vất vả, chịu mọi nỗi khổ cực trong cuộc đời.

Hay đã sợ nắng nồng tuyết lạnh,

Cảnh đau thương khó lánh thân phàm.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NẶNG

1.- Nặng là có nhiều trọng lực, trái với nhẹ. Như: Gánh nặng, nặng như chì, cành cây nặng trĩu quả.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Phật ví cái vui, khổ ở đời cũng như những cảm giác của người gánh nặng. Khi đổi vai thì vai không có gánh dễ chịu và vai có gánh thấy khổ cực; một lúc sau đổi vai nữa thì vai vừa mới dễ chịu lại thấy trở lại nặng nề khổ cực.

Khuôn thuyền Bát Nhã chẳng hề chìm,

Nổi quá như bông, nặng quá kim.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Linh dược đầy bầu là cội ái,

Kinh luân nặng túi ấy nguồn nhân.

(Thượng Phẩm Giáng Bút).

2.- Nặng có nghĩa bóng là nhiều, nồng nàn. Như: Nặng mùi, nặng tình, nặng nợ, nặng lòng.

Thánh giáo Thầy có dạy: Con không cần nặng lòng lo lắng. Ðạo cốt để cho kẻ hữu duyên. Những kẻ nào đã làm môn đệ của Tà Thần Tinh Quái thì không thế gì làm môn đệ Thầy đặng.

Gồng gánh hai vai nặng nợ trần,

Có thân âu hẳn khổ cho thân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nợ nước ơn nhà đôi gánh nặng,

Một lòng son sắt khá cho bền.

(Đạo Sử).

 

 

NẶNG LỜI

Nặng: Có tác dụng không êm dịu, gây cảm giác khó chịu, không thoải mái. Lời: Lời nói, lời lẽ.

Nặng lời là nói lời nặng, tức nói những lời lẽ gay gắt quá đáng đối với người có quan hệ thân thiết, gần gũi.

Nặng lời còn có nghĩa là trách mắng.

Vì thương mới nặng lời phiền trách,

Xử sao cho trong sạch nợ đời.

(Tứ Nương Giáng Bút).

Lấy khôn ngoan nào dụng nặng lời,

Hơn trí hoá phải nơi hơn sỉ nhục.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NẶNG NỀ

Nặng: Trái với nhẹ, có trọng lượng lớn hơn bình thường hoặc so với trong lượng của vật khác.

Nặng nề là nặng, khó mang vác vận chuyển, khó gánh vác, khó chịu đựng.

Nặng nề còn nghĩa là có tác dụng gây cảm giác khó chịu, căng thẳng về tinh thần. Như: Không khí buổi học nặng nề.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Thầy cũng muốn phạt chúng nó một cách nặng nề, nhưng Thầy nghĩ lại mà thương đó chút.

Tánh độc ác tội dư tích trữ,

Chốn Âm cung luật xử nặng nề.

(Kinh Sám Hối).

Công lao sanh dưỡng nặng nề thay,

Ruộng biển, cao non chẳng sánh tày.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NẶNG NỢ

Nặng: Nhiều trọng lực, quá sức chịu đựng. Nợ: Việc mình phải đền, phải trả, phải bận bịu.

Nặng nợ là phải chịu mối quan hệ ràng buộc như một trách nhiệm về mặt tinh thần, cảm thấy phiền toái nhưng không thể dứt bỏ được.

Ngài Tiếp Pháp Trương Văn Tràng trong quyển Giáo Lý có đoạn viết: Từ buổi cấu tạo hình hài trong thai bào, mỗi Chơn hồn đều đã có mang một mối nợ tiền khiên (nợ các kiếp trước.) Đến lúc chào đời, lại còn nặng nợ Xã hội Nhơn quần, như cung cấp cho thức ăn áo mặc, nhà ở vân vân... Đó là sanh nghiệp mà Nhơn loại nhờ vã lẫn nhau.

Gồng gánh hai vai nặng nợ trần,

Có thân âu hẳn khổ cho thân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thương kẻ tuổi xanh còn nặng nợ,

Xót vì nhiệm vụ phải ly gia.

(Thơ Hiến Đạo).

 

 

NẶNG NGÃI SANH THÀNH

Hay “Nặng nghĩa sinh thành”.

Nặng ngãi (nghĩa): Xem nặng tình cảm thuỷ chung, phù hợp với quan niệm đạo đức. Sanh (sinh) thành: Sinh ra và dưỡng dục, nói công lao cha mẹ.

Nặng ngãi sanh thành, như chữ “Nặng nghĩa sinh thành”, ý chỉ công ơn sinh thành của cha mẹ rất sâu nặng, con cái phải lo báo đáp cho hợp với đạo lý con người.

Có đâu lẽ cho trai cho gái,

Phải nhớ câu nặng ngãi sanh thành.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NẶNG TÌNH

Nặng: Có sự gắn bó, thường là tình cảm, không dễ dứt bỏ được. Tình: Sự yêu mến, gắn bó giữa người với người.

Nặng tình là có tình cảm gắn bó sâu sắc, khó dứt bỏ nhau được.

Như: Trót đã nặng tình với nhau, khó mà bỏ được.

Mảng trong thắm nghĩa nặng tình,

Để công bẻ liễu, bắn bình trượng phu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Em chị gái nặng tình hơn đôi chút,

Nhớ lớn khôn côi cút lụy nhà người.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NẶNG TÌNH TRỌNG NGÃI

Hay “Nặng tình trọng nghĩa”.

Nặng tình: Tức tình sâu nặng. Trọng ngãi (nghĩa): Như chữ trọng nghĩa, là nghĩa nặng.

Nặng tình trọng ngãi, như chữ “Nặng tình trọng nghĩa”, đồng nghĩa với tình sâu nghĩa nặng, là nói tình nghĩa một cách sâu nặng.

Ví để dạ nặng tình trọng ngãi,

Thì nhìn con phải trái tính cho đồng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NẶNG TRỊU

Nặng: Có trọng lớn hơn mức bình thường.

Nặng trịu, đồng nghĩa với chữ “Nặng trĩu”, là nặng đến mức có cảm giác như đè hẳn xuống.

Như: Cành cây nặng trịu vì quả sai, chân bước đi một cách nặng trịu.

Chịu ô trược Chơn thần nặng trịu,

Mảnh hình hài biếng hiểu lương tâm,

(Kinh Tận Độ).

Mang mển nợ đến vai nặng trịu,

Còn thân còn chịu mối ta bà.

(Đạo Sử).

 

 

NẤC

1.- Nấc là bậc, tức khoảng cách để làm cữ.

Như: Nhà có ba nấc thềm, nâng lên một nấc, leo lên nấc thang cuối cùng, bật nấc khoá an toàn.

Trong quyển Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có dạy: Làm một cái bàn thờ ba nấc, giữa cao hai bên bằng cho Thượng Phẩm và Thượng Sanh đứng.

Một điểm quanh co lên một nấc,

Lần lừa ngày tháng ắt qua đông.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Lấy bác ái làm hoà vạn vật,

Đem thiện duyên xây nấc thang hồng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Nấc, nghĩa rộng dùng để chỉ độ, khoảng, đoạn.

Như: Nhà làm kèo dài mấy nấc mới xong, mực nước đã xuống được mấy nấc.

Rón rén trước Phật ngồi cúi gật,

Mấy lạy trình mấy nấc tương tư.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NẤC THANG

Nấc: Bậc để làm cữ. Thang: Vật bằng tre, gỗ hay kim loại, có nhiều bậc dùng để trèo cao.

Nấc thang là bậc thang.

Thánh giáo Thầy có câu: Dữ tận hiền thăng, mạnh tàn yếu được, nếu chẳng có mối Ðạo Trời thì sanh linh, vì hung bạo phải trả trả vay vay, biết chừng nào cho cảnh dinh hoàn nầy được trọn hưởng ân huệ, nấc thang thiêng liêng kịp dẫn độ người phàm tục.

Căn xưa quả cũ đã trả vẹn thì con đường đạo đức tất là nấc thang dìu đến phẩm cũ ngôi xưa.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

NẤY

Nấy là ấy, người ấy, từ dùng để chỉ chính cái vừa nói đến trước đó.

Như: Cơm ai nấy ăn, việc ai nấy làm, nhà ai nấy ở, cha nào con nấy.

Thánh giáo có đoạn dạy Ngài Ngọc Kinh Thanh: Con ôi! Cửa Bạch Ngọc Kinh ít kẻ, chớ chốn A Tỳ vốn nhiều người. Con liệu mà hành đạo. Thầy thương con chừng nào, ngày sau con càng ăn năn tiếc chừng nấy.

Theo đặng bước nào gìn bước nấy,

Trở lui e vướng lúc nghiêng nghèo.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Mấy chỉ thường muốn một mình no,

Mặc ai đói nấy lo không chịu nhịn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NẦY

Nầy là này, đây. Như: Chiếc bàn nơi nầy bằng gỗ, Anh nầy tôi không quen, thế nầy thì mệt lắm.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có câu: Vì vậy cho nên các con coi thử lại, từ hai ngàn năm nay, bên Á Ðông nầy đã đặng bao nhiêu Tiên, Phật.

Cương toả đương thời đã giải vây,

Ðừng mơ oan nghiệt một đời nầy.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nầy là hình ảnh của chàng,

Nầy là tiếng khóc của đàn trẻ con.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NẨY

Nẩy, như chữ “Nảy” là bắt đầu nhú ra, bắt đầu sinh ra. Như: Hạt giống nẩy mầm, đâm chồi nẩy lộc.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Giết người không phải tuyệt sanh mạng của loài người như đốn cây chẳng là giết chết cây, mà là làm cho nó sanh chồi nẩy tược.

Nhựa xuân nẩy lá đồng chung hưởng,

Nắng hạ queo cành chẳng tiếc thương.

(Thơ Hộ Pháp).

Đất lành đã nẩy bao nhân kiệt,

Ngào ngạt hương quê thuở thái bình.

(Thơ Thành Toại).

 

 

NẨY NỞ

Nẩy: Nảy, là bắt đầu nhú ra, bắt đầu sinh ra. Nở: Nứt ra, sinh ra.

Nẩy nở, như chữ “Nảy nở”, phát sinh và phát triển.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Bát Nương Diêu Trì Cung có câu: À, ba em Thừa Sử đã làm anh, nên dìu bước đàn em nối bước vẹn toàn, cột khối đoàn viên càng thêm nẩy nở thì quyền lực Hiệp Thiên mới đủ sức chưởng pháp được, Thánh vị mới vững chắc, Thiên điều mới thật hiện đó.

Xem: Nảy nở.

Đời không mến, thế không ua,

Lòng thương nẩy nở cho vừa tốt tươi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NẤM MỒ

Nấm: Mô đất được đắp thành hình tròn, nhỏ thấp. Mồ: Mả, mộ, nơi chôn xác người đã chết.

Nấm mồ là một cái mồ, cái mả, trong đó đã chôn thân xác của người chết.

Như: Nấm mồ được đắp cao lên.

Kìa xóm rẫy nấm mồ lố xố,

Nơi đôi ta tảo mộ đạp thanh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NÂNG

1.- Nâng là lấy tay mà đưa lên, cất lên. Như: Nâng ly, nâng khăn, nâng cốc.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Lý Giáo Tông có dạy: Ðợi Lão biểu Cao Thượng Phẩm nâng loan. (buông cơ) Lão đến tư đường của Hộ Pháp nên cho miễn lễ, đứng hết.

Chuyển nổi Càn khôn xây võ trụ,

Nhẹ nâng nhựt nguyệt chiếu Ðài Vân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cúc, Trước, Mai, Lan hầu thiết đãi,

Tiêu thiều nhạc trỗi khách nâng ly.

(Thiên Thai Kiến Diện).

2.- Nâng còn có nghĩa là đem cao lên, đỡ dậy, dựng ngay lên. Như: Nâng nền nhà, nâng đời, chị ngã em nâng.

Thánh giáo Thầy có dạy: Kẻ hữu phần đặng nắm mối Ðạo Trời, dựa chiếc thuyền sen lần vào non cao suối lặng, để rửa bớt chút bợn trần, dưỡng tánh tu thân, để nâng lên địa vị thanh cao, lánh xa đoạ luân hồi trong lúc hồn lìa khỏi xác.

Nâng đời khá gắng trau nhơn đức,

Học Ðạo tua năng luyện tánh tình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nhọc đời chưa dễ công đeo đuổi,

Nâng thế tua trau quả đắp bồi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NÂNG ÁN

Nâng: Lấy tay mà đưa lên, cất lên. Án: Có nghĩa là cái bát để đựng thức ăn.

Nâng án dịch từ chữ “Cử án 舉 案”, dùng để chỉ sự lễ độ mẫu mực của vợ đối với chồng.

Do điển tích: “Cử án tề my 舉 案 齊 眉” tức là nâng bát thức ăn ngang mày, ý chỉ Mạnh Quang, người đàn bà khéo thờ chồng là Lương Hồng, mỗi bữa cơm, nàng bưng mâm ngang mày để tỏ ý cung kính chồng.

Xem: Lương Mạnh.

Cưỡi rồng đẹp phận duyên đằm thắm,

Nâng án gìn gương nghĩa mặn mà.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

NÂNG ĐỠ

Nâng: Đưa, cất lên, đỡ dậy. Đỡ: Giữ cho khỏi rơi, ngã, phụ giúp.

Nâng đỡ là giúp đỡ, tạo điều kiện cho tiến lên. Như: Nâng đỡ người yếu kém tàn tật.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy: Các con liệu phương thế mà nâng đỡ đức tin của môn đệ cao lên hằng ngày, ấy là công quả đầu hết.

Trụ tâm nâng đỡ quốc hồn,

Giữ bền đảnh nghiệp vĩnh tồn hậu lai.

(Kinh Thế Đạo).

Nâng đỡ thương nhau trong xã hội,

Nghịch nhau lẽ phải nghịch cùng Trời.

(Đạo Sử).

Ba kỳ con cháu Rồng Tiên ấy,

Nâng đỡ, thương nhau một tấc thành.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

NÂNG KHĂN

Nâng: Lấy tay mà đỡ lên. Khăn: Vải, lụa để chít, quàng, hoặc lau chùi.

Nâng khăn, bởi chữ “Nâng khăn sửa trắp”, là chỉ bổn phận đàn bà ở với chồng.

Do tích ngày xưa người đàn ông còn để tóc, nên vẫn xài khăn và lược. Vì vậy, bổn phận của người đàn bà có chồng phải lo khăn lược cho chồng, gọi là nâng khăn sửa lược (nâng khăn sửa trắp).

An bề sửa trắp với nâng khăn,

Ðã đính nghĩa nhau cũng tiếng rằng.

(Đạo Sử).

 

 

NÂNG KHĂN TRẮP

Nâng khăn: Lấy khăn quàng hoặc chít vào đầu. Trắp: Cái “Tráp”, là hộp hình chữ nhựt, có ngăn, có nắp, dùng để đựng giấy hay đồ đạc.

Nâng khăn trắp, bởi chữ “Nâng khăn sửa trắp”, là chỉ bổn phận đàn bà ở với chồng.

Nâng khăn trắp giải buồn quân tử,

Hầu tửu trà giấc ngủ không an.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NÂNG NIU

Nâng: Đưa lên, cất lên, đỡ dậy.

Nâng niu là ôm ấp, tưng tiu, chỉ sự âu yếm, yêu dấu.

Như: Chị ấy cầm xâu chuỗi ngọc nâng niu, đứa bé được bà mẹ nâng niu từ tấm bé.

Công nuôi dưỡng nâng niu khổ nhọc,

Phép thương yêu cũng học nơi Thầy.

(Kinh Tận Độ).

Nâng niu lúc ẵm khi bồng,

Phụ thân thế phận cho chồng dạy khuyên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NÂNG VẠC

Nâng: Cất lên. Vạc: Dịch từ chữ đỉnh, tượng trưng cho cơ đồ quốc gia bền vững.

Nâng vạc, như chữ “Cử đỉnh 舉 鼎”, ý chỉ lo việc gầy dựng đế nghiệp, thống nhất quốc gia, tức lo cho đất nước.

Bọc thây dù phải đền ơn nước,

Nâng vạc chi còn tiếc mảnh thân.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

NÂU

Nâu là màu dà sẫm, tức có màu giữa đen và đỏ hoặc màu vàng và đỏ sẫm, giống như màu củ nâu.

Như: Áo nâu, bận quần nâu, cô bé mắt màu nâu, tu sĩ Phật mặc áo nâu sồng.

Ðứa cầm dùi đục, thằng nghiên mực,

Cậu bận áo nâu, chú khố hồng.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

NÂU SỒNG

Nâu: Thứ cây leo mọc ở rừng, có củ dùng để nhuộm vải, màu nâu. Sồng: Loại cây có lá dùng để nhuộm vãi, có màu dà màu nâu sẫm.

Nâu sồng là vải nhuộm màu nâu và màu sồng (màu dà, tức màu nâu tối). Hai loại màu nầy được Phật giáo chọn để nhuộm quần áo cho các tăng ni mặc thường ngày, nhằm để tỏ ý không cần đẹp, tiết kiệm và thể hiện hạnh tốt của người tu hành: Phế đời hành đạo.

Thánh Ngôn có câu: Xôn xao gió bụi, mờ mệt tuồng đời, mồi phú quý bả công khanh, mấy kẻ biết nhuộm nét nâu sồng, lánh cả muôn sự não phiền mà khách trần đều gọi là vinh diệu.

Nghĩa bóng: Chỉ sự tu hành.

Nhuộm áo nâu sồng về Cực Lạc,

Trau gươm trí huệ phủi đai cân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nâu sồng khổ hạnh phép gần Tiên,

Như bước ướt chân mới đến thuyền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Kính mừng quý vị ân cần tịnh,

Tặng khách nâu sồng diệt quới khanh.

(Đạo Sử).

 

 

NẤU

Nấu là làm cho chín hoặc sôi bằng cách đun trong nồi. Như: Nấu canh, nấu cháo, nấu nước.

Thánh giáo Thầy có dạy: Như nó khô rũ thì là nó chết, mà các con nào ăn vật khô héo bao giờ; còn như nhờ lửa mà nấu thì là phương pháp tẩy trược đó thôi, chớ sanh vật bị nấu chưa hề phải chết.

Kìa những gái lẫy lừng hạnh xấu,

Bỏ vạc đồng đốt nấu thảm kinh.

(Kinh Sám Hối).

Nấu trách canh đổ nước nổi thuyền,

Kho trã mắm nát nghiền xương cá.

(Phương Tu Đại Đạo).

Hễ nghề khéo nấu cơm ra cháo,

Như thợ hay đương quảu ra sàng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NẤU NUNG

Nấu: Để lên bếp đun cho thật chín, rèn luyện. Nung: Bỏ vào lửa thật nóng.

Nấu nung, do chữ “Nung nấu”, là thôi thúc, làm cho nóng bức, đau đớn trong lòng như nấu như đốt.

Thánh giáo Chí Tôn có câu: Ôi! Tấc bóng quang âm nhặt thúc, mà xem lại tâm hạnh của mỗi con của Thầy thì nét Ðạo vẫn kém hơn, đức chưa thêm được, tâm chí mòn mỏi lối đường ngay mà nấu nung về nẻo vạy, e cho nền tảng thiêng liêng đồ sộ phải nghiêng ngửa.

Xem: Nung nấu.

Thương gắng giữ mặt đời hữu dụng,

Thương linh tâm phòng hạnh nấu nung,

(Bát Nương Giáng Bút).

Đời đạo hai vai đồng gánh nặng,

Nấu nung cho đáng phận làm trai.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

NẤU NƯỚNG

Nấu: Làm cho chín hoặc sôi bằng cách đun trong nồi. Nướng: Làn cho chín bằng cách đặt trực tiếp trên lửa.

Nấu nướng là nói chung việc làm bếp, tức nấu cơm nước và xào nướng thức ăn.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có dạy: Phòng trù, dầu phải chung lộn với nhau buổi nấu nướng, khi dọn ăn, chẳng đặng lộn xộn cùng nhau, nghe à!

Hễ chị răn để dạ thù hiềm,

Coi nấu nướng nêm thêm cho mặn.

(Phương Tu Đại Đạo).

Tìm lửa nấu nướng lưu truyền,

Rèn đồ kim khí bày yên cửa nhà.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

NẤU KINH SỬ

Nấu: Làm cho chín hoặc sôi bằng cách đun trong nồi. Kinh sử: Kinh sách và lịch sử.

Nấu kinh sử được ví như thức ăn dùng lửa để xôi nấu kỹ lưỡng cho chín nhừ, rục rã, để chỉ việc học hành và luyện tập kinh sử cho làu thông, nhuần nhuyển.

Nấu kinh sử do thành ngữ “Nấu sử xôi kinh”, tức là ôn luyện, học tập kinh sách của các bậc thánh hiền cho nhuần nhuyển để đi thi.

Nấu kinh sử ra mùi son phấn,

Cầm bút nghiên đặng thắm má đào.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NẬU

Nậu là bọn, nhóm, phe, tụi, tập hợp người có chung một mụ đích, công việc xấu.

Như: Việc thương lái ở vùng nầy anh ta là đầu nậu, kẻ đầu nậu có lợi chớ cánh mua bán nhỏ lẻ chỉ kiếm chác được chút đỉnh mà thôi.

Mừng cầu Âu Á càng thêm mặt,

Mừng nậu côn đồ đã chịu chay.

(Minh Nghĩa Tiên Ông).

 

 

NẺ

Nẻ là nứt ra thành đường, thành kẽ nhỏ trên bề mặt.

Như: Đất nẻ, gỗ nẻ dài theo thân cây, mùa đông da bị nẻ, đất ngoài đồng bị nẻ vì nắng hạn.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Thảng có kẻ nào nói má mầy tự nhiên đẻ mầy ra, đừng kính đừng trọng ổng, hoặc nói mầy ở dưới đất nẻ chun lên, đó là giả, còn bảo đừng nhìn ổng đó là dối.

Ôm tre khóc Mạnh Tông hiếu mẹ,

Động lòng Trời đất nẻ giò măng.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

NEM

Nem là món ăn làm bằng thịt sống giã trộn với bì luộc thái nhỏ, bóp với thính. Như: Nem chả, nem công chả phượng, chồng ăn chả vợ ăn nem.

Ca dao ta có câu: Sinh thời Kiệt Trụ sướng sao, Có gò nem béo, có ao rượu đầy.

Bần Đạo tưởng không chi rằng lạ,

Với vợ nhà đủ chả đủ nem.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NÉM

Ném là quăng liệng, vứt bỏ đi.

Ném còn có nghĩa là bằng sức của cánh tay làm cho vật cầm tay rời và di chuyển nhanh đến một nơi nhứt định.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: Môn đệ của Thầy nhiều đứa muốn bỏ đạo y, ném dép cỏ, lột khăn tu mà mong hồi tục thế. Bởi bước Ðạo gập ghình khó tới nên mới ra cớ đỗi. Bởi còn vướng bụi trần, ham mồi phú quý, mê chữ vinh sang mà ngán đạo.

Chừ sao phụ nghĩa sơ giao,

Phòng toan ném gánh tâm đầu sông Ngân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Dầu cây cỏ công cha vun quén,

Cũng không lòng nhổ ném cho đành.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NÉM BÚT

Ném: Quăng liệng, dẹp bỏ đi. Bút: Cây viết viết.

Ném bút, do tích chữ “Đầu bút tùng nhung 投 筆 從 戎” tức là bỏ viết theo binh nhung.

Trong Chinh Phụ Ngâm Khúc có câu thơ: “Xếp bút nghiên theo việc đao cung”. Nghĩa bóng: Bỏ văn theo võ.

Theo Hán Thư, Ban Siêu là con nhà nghèo, thường ngày phải đi viết mướn để kiếm tiền nuôi thân, vất vả trăm bề, cũng chỉ sống qua ngày, tức mình ông “ném bút” mà than rằng: Người trượng phu, không làm được gì to tát thì cũng học theo gương Phó Giới Tử, Trương Khiên lập công ở đất người để được phong hầu, sao lại mãi chạy theo văn bút!

Gặp khi loạn lạc khắp nơi,

Làm trai ném bút tuỳ thời xử đương.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

NÉN

1.- Nén là que, cây. Như: Nén nhang, nén tâm hương, mấy nén hương nguyền.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Hôm nay, chúng ta vì tương lai của tổ quốc đặt nén hương lên Thiên bàn thành khẩn Ðức Chí Tôn ban ân cho Tân Chánh Phủ Việt Nam, ắt hẳn sẽ được thành công mỹ mãn.

Chàng vui cung nguyệt trao duyên,

Thiếp sầu sợ nén hương nguyền bớt thơm.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Không lẽ nói mến anh quên én,

Không lẽ rằng trộm nén hương thừa.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Nén là đè, ép xuống cho chặt, cho thu nhỏ thể tích. Như: Bình nén khí, đè nén, nén uất giận.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo của Thái Thượng Ðạo Tổ có dạy: Muốn an tâm tỉnh trí và đè nén lửa lòng, cần phải có một nghị lực vô biên, một tâm trung quảng đại, thì mới khỏi bực tức với những trò đã vì mạng lịnh thiêng liêng phô diễn ở nơi thâm hiểm nặng nề nầy.

Đôi lúc nhớ nhung tha thiết lắm,

Nhưng lòng cố nén giọt châu sa.

(Thơ Chơn Tâm).

Cạn nguồn biển Thái tan non Hộ,

Cùng cảm thương cùng nén lệ thôi.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

NÉN HƯƠNG

Nén: Que, cây. Hương: Nhang, một loại cúng phẩm được làm bằng tre, chuốt ra cọng nhỏ và xe vào một đoạn bột trộn hương thơm rồi phơi khô, dùng để đốt khi cúng kính Trời Phật hay Ông Bà.

Nén hương là cây nhang thắp lên bàn thờ.

Đê đầu khấu bái Nương Nương,

Nén hương đạm bạc xin thương chứng lòng.

(Tán Tụng Công Đức).

Nén hương đưa đủ nguyện lòng đưa,

Thầy khá khen cho tánh dối lừa.

(Đạo Sử).

 

 

NẺO

Nẻo là đường, là lối đi về một phía nào đó.

Như: Chỉ nẻo đưa đường, đi khắp nẻo đường đất nước, ở chỗ khuất nẻo.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Con lấy làm hữu hạnh gặp đặng Thầy dìu bước trong nẻo Ðạo nhiệm mầu lúc non chiều bóng xế.

Dặm dài bước lạ nẻo chưa quen,

Thánh chất dầu trau gẫm chẳng hèn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Gặp được nẻo ngay, đời có mấy?

Thìn lòng khối ngọc tạo nên gương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NẺO CHÁNH

Nẻo: Đường, con lộ dẫn đến. Chánh (chính): Ngay thẳng, không tà vạy.

Nẻo chánh, như chữ “Đường chánh”, là con đường chơn chánh, con đường dìu dẫn con người đến chánh đại quang minh, tức là chỗ chân thiện mỹ.

Đường chánh còn dùng để chỉ nền chánh Đạo hay chánh Giáo.

Xem: Đường chánh.

Khổ hạnh chí mong quy nẻo chánh,

Ngoài tai chớ chác miếng hư vinh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Non chiều ác xế bóng Trời thâu,

Nẻo chánh may nương buổi đáo đầu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NẺO HẠNH

Nẻo: Đường đi. Hạnh: Cây hạnh.

Nẻo hạnh như chữ “Đường hạnh”, là con đường đi đến “Hạnh đàn 杏 壇”, tức đi đến trường học.

Do tích Khổng Tử ngày xưa dạy học trò dưới vườn cây hạnh, nên nơi đó gọi là “Hạnh đàn” để gọi trường học.

Xem: Đường hạnh.

Nẻo hạnh làu soi gương nguyệt thắm,

Sân ngô rạng vẻ cảnh thu đưa.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NẺO HOẠN

Nẻo: Đường. Hoạn: Làm quan.

Nẻo hoạn, hay Đường hoạn, bởi chữ “Hoạn Lộ 宦 路” là đường làm quan.

Việc làm quan được người xưa ví với kẻ hành trình trên một con đường, có lúc bằng phẳng thì thảnh thơi dễ thăng tiến, có lúc gồ ghề, khúc khỉu thì gian nan vất vả dễ buồn rầu, chán nản.

Xem: Hoạn lộ, hoạn đồ.

Trường Tiên mở rộng chơn du khách,

Nẻo hoạn buông khơi trí đặc tài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trường xuân quạnh quẽ đưa ngưu đẩu,

Nẻo hoạn nghinh ngang điểm bạch đầu.

(Quyền Giáo Tông Giáng).

 

 

NẺO LỢI ĐƯỜNG DANH

Nẻo lợi: Nẻo đưa con người đến lợi lộc. Đường danh: Đường dẫn tới danh vọng.

Nẻo lợi đường danh là nẻo đường mang đến điều danh lợi, ý chỉ sự ham mê danh lợi của người tu hành.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy: Các con nếu biết đời khổ tâm, biết vày vò tình thế, biết chịu kém sút trong nẻo lợi đường danh, biết thiệt mình mà đặng cho kẻ khác, biết đổ lụy cho kẻ vui cười, biết nhọc nhằn trong kế sinh nhai, biết giữ tâm chí cho thanh bạch, đừng nhơ bợn của chẳng nên dùng, biết động mối thương tâm, thương người hơn kể mình, thì là các con được tắm gội hồn trong mà về cùng Thầy đó.

Nẻo lợi đường danh tiền lộn giấy,

Xuân dồn thu dập bóng đưa thoi.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

NẺO PHẬT ĐƯỜNG TIÊN

Đường Tiên: Đường đến cảnh Tiên. Nẻo Phật: Nẻo về cõi Phật.

Nẻo Phật đường Tiên là chỉ cõi trở về theo Phật, hay tầm Tiên của những chơn linh đắc đạo, đó là cõi Phật hay Tiên cảnh.

Nẻo Phật đường Tiên Thầy đã dạy,

Đăng Thần nhập Thánh tại nơi trò.

(Thơ Thông Quang).

Hồi đầu thức tỉnh sớm tu tâm,

Nẻo Phật đường Tiên gắng chí tầm.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

NẺO PHIỀN

Nẻo: Đường đi. Phiền: Buồn rầu lo lắng.

Nẻo phiền là con đường dẫn đến sự phiền não, đó là nẻo đời, tức con đường của kẻ ham mê danh lợi, tranh giành quyền tước.

Như: Vào đường tu niệm là cố lánh được nẻo phiền.

Trương buồm hạnh đức xuôi chiều gió,

Ðưa khách phồn hoa lánh nẻo phiền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NẺO TÀ

Nẻo: Con đường dẫn đến. Tà: Tà vạy, không chánh.

Nẻo tà là con đường tà vạy, tức là nẻo dẫn dắt con người đến chỗ lầm lạc sai trái.

Nẻo tà còn dùng để chỉ Tà Đạo, Tà Giáo.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Than ôi! Ðường Thánh ít kẻ tìm, mà nẻo Tà nhiều người đến.

Lòng trần gội sạch noi đường chánh,

Nét Ðạo gìn thanh lánh nẻo tà.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NẺO THÁNH

Nẻo: Đường, con đường. Thánh: Bực Thánh, hoặc tiếng tôn xưng.

Nẻo Thánh nghĩa đen là nẻo đường dẫn vào hàng Thánh, bậc Thánh.

Nẻo Thánh còn có thể hiểu là nẻo đường thiêng liêng chơn chánh để dẫn dắt người tu đắc đến phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật, tức về cõi Thiêng Liêng Hằng Sống. Đồng nghĩa vớt Đường Thánh.

Xem: Đường Thánh.

Xin ...(lịnh cha, mẹ)... định thần định tánh,

Noi khuôn linh nẻo Thánh đưa chơn.

(Kinh Thế Đạo).

Thoát tục ví ai tìm nẻo Thánh,

Bến mê lướt sóng đến ven Trời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NẺO THẲNG ĐƯỜNG NGAY

Nẻo thẳng: Nẻo không uốn khúc, quanh co. Đường ngay: Đường lộ ngay thẳng, chỉ đường chánh, không phải tà vạy.

Nẻo thẳng đường ngay là nẻo đường ngay thẳng, ý chỉ nẻo đường chơn chánh, không tà vạy.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Ðạo Trời khai ba lượt, nguồn Thánh độ muôn người. Thìn lòng để bước vào nẻo thẳng đường ngay mà kiếm cho thấu đáo mối huyền vi Tạo hoá đã sắp bày độ dẫn, nhuần gội ơn huệ cho sanh linh đương buổi Hạ nguơn nầy.

Ai vạy tà nấy có phần riêng, cứ giữ nẻo thẳng đường ngay bước đến thang thiêng liêng, chờ ngày hội hiệp cùng Thầy.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

NẺO VẠY

Nẻo: Lối, đường. Vạy: Tà vạy.

Nẻo vạy là nẻo đường dẫn đến sai lầm, tà vạy.

Thánh giáo Thầy có câu: Ôi! Tấc bóng quang âm nhặt thúc, mà xem lại tâm hạnh của mỗi con của Thầy thì nét Ðạo vẫn kém hơn, đức chưa thêm được, tâm chí mòn mỏi lối đường ngay mà nấu nung về nẻo vạy, e cho nền tảng thiêng liêng đồ sộ phải nghiêng ngửa.

Nguồn Tiên, đạo Thánh dìu bước nhơn sanh tránh tội lỗi, lìa nẻo vạy, bước đường ngay, mà lần vào nơi Cực Lạc an nhàn...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

NẺO VẠY ĐƯỜNG TÀ

Nẻo vạy: Nẻo đưa đến sai lầm, tà vạy. Đường tà: Con đường dẫn đến nguỵ tà.

Nẻo vạy đường tà là con đường đưa đến những điều tà vạy, tức nẻo đường không ngay thẳng, không chơn chánh, đầy gian dối và xảo trá.

Vui theo nẻo vạy đường tà,

Vợ con khám ngục cửa nhà xiềng gông.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

NÉP

Nép là thu nhỏ mình lại và áp sát vào vật khác để tránh hoặc để được che chở.

Như: Đứng nép một bên, nép mình xuống đất, nép mình sau cửa, nép vào gốc cây.

Xem gương xưa các đấng đờn bà,

Nên danh để nước nhà còn nép mặt.

(Phương Tu Đại Đạo).

Cái tâm gắng gởi nơi thanh tịnh,

Mong nép hiên Tiên, dựa cửa Thần.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

NÉP CÂY ĐỢI THỎ

Nép cây: Núp vào gốc cây. Đợi thỏ: Chờ thỏ đến.

Nép cây đợi thỏ, như chữ “Bão chu đãi thố 抱 株 待 兔” tức là ôm cây chờ đợi thỏ đến.

Do tích một người nước Tống tình cờ bắt được một con thỏ va đầu vào gốc cây giữa ruộng mà chết. Ông đem về nhà làm thịt ăn.

Từ đó ông suốt ngày cứ đứng nép dưới gốc cây, mong lại có con thỏ khác chết nữa.

Xem: Ôm cây.

Nương cảnh cũ nép cây đợi thỏ,

Ngọn nguồn ai rõ nỗi âm hao.

(Đạo Sử).

 

 

NÉT

1.- Nét là đường vạch bằng bút.

Như: Nét bút chì, nét gạch, nét vẽ sắc sảo, chữ Nho có nhiều nét khó viết.

Thêu phụng chưa quen nét vẽ hay,

Hạnh kia dầu đặng cũng hơn tài.

(Đạo Sử).

2.- Nét là đường tạo nên cái vẻ, cái hình dáng riêng. Như: Nét mặt, nét tươi cười, nét liễu, nét ngọc, nét ngài.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Một số bạn đồng hành của chúng ta trong cửa Ðạo, mới Xuân trước còn gặp nhau với nét tươi cười, nay chưa hết tiết Ðông đã vội hoá ra người thiên cổ.

Con đừng mượn nét khuynh thành,

Lợi thân mà hại đến mình hồng nhan.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Ðạo Ðời muốn vẹn nét hồn nhiên,

Chung sức vì dân lúc biến quyền.

(Thơ Huệ Giác).

3.- Nét là biểu hiện của tình cảm, cảm xúc, tính cách con người bằng những nét trên mặt. Như: Nét cương quyết, nét hạnh đức, nét vạy tà.

Thánh giáo Thầy có câu: Nét hạnh đức là phương hay để dìu dắt các con bước lên con đường Cực Lạc, tránh khỏi đoạ tam đồ.

Một nét vạy tà Thần Thánh chép,

Rèn lòng trong sạch thoát mê tân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Vì Ðạo mấy muơi năm tận tuỵ,

Nghìn thu lưu mãi nét tinh thần.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

NÉT NGÀI

Nét: Đường tạo nên hình dáng khuôn mặt riêng. Ngài: Con bướm ngài, do con tằm hoá ra, có đôi mày cong và đẹp.

Nét ngài, như chữ “Mày ngài”, là chỉ nét lông mày cong, đậm mà thanh như mày con bướm ngài.

Soi bóng nước đặng nhìn thấy dạng,

Thấy nghi dung hết mặn nét ngài.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Nét ngài mày ngọc càng tươi,

Thương anh thỏ thẻ những lời tâm can.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

NÊ HOÀN CUNG

泥 環 宮

Nê: Bùn. Hoàn: Viên, vòng tròn. Cung: Một bộ phận, cái huyệt, cái khiếu.

Các Đạo gia cho rằng não bộ mềm như bùn mà có hình tròn, nên gọi là nê hoàn.

Như vậy, “Nê hoàn cung”, là một cái khiếu nằm trên não bộ, tức là cái mỏ ác ở giữa ngay đỉnh đầu, còn gọi là Vi hộ, là cửa xuất nhập của Chơn thần, nơi đó Hộ Pháp hằng đứng mà gìn giữ chơn linh.

Theo phép luyện đạo, khiếu Huyền Quan của con người cũng ở tại Nê hoàn cung, nó là cái khiếu quan trọng nhứt nên gọi là Tổ khiếu của các khiếu.

Nó ở ngay Nê hoàn cung, tức nhiên nó ở ngay mỏ ác đứa con nít, cho nên con nít đầu nó mới sơ sanh đã mềm, lớn lên mới cứng.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

NỀ

Nề là ngại, quản ngại. Như: Chẳng nề khó nhọc, không nề hiểm nguy, gian nan vất vả chẳng nề.

Ca dao có câu: Yêu nhau vạn sự chẳng nề, Một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng.

Gắng chí tu hành đã lắm phen,

Không nề lao nhọc tấm thân hèn.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

NỀ NẾP

Nề: Kê cho bằng. Nếp: Cách thức, lề lối,

Nề nếp, như chữ “Nền nếp”, là lề lối. toàn bộ những quy định và thói quen trong công việc hoặc sinh hoạt, làm cho có trật tự, có kỷ luật và tổ chức.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ðảm nhiệm sự giáo hoá tương lai tinh thần tâm lý là phần mấy em, lớn nhỏ cũng vậy, còn sắp con gái phải chăm nom giữ nề nếp.

Mình biết Đạo hằng ngày gặp dịp,

Đặng dạy con nề nếp làm người.

(Phương Tu Đại Đạo).

Nề nếp Nho Phong lễ giáo chặt gìn,

Khuôn viên Đại Đạo, chơn truyền vẹn giữ.

(Ai Điếu Hương Lự).

 

 

NỂ

Nể là kiêng dè, kính sợ, tức cảm thấy khó có thể làm trái ý, làm mất lòng, thường vì tôn trọng.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn có câu: Bần Đạo xin để lời cầu khẩn cùng Giáo Tông và Hộ Pháp cũng để lòng lo phương thế trừ hại, đừng vì bác ái từ bi vị nể.

Đừng có cậy giàu sang chẳng nể,

Không kiêng chồng khi dể công cô.

(Kinh Sám Hối).

 

 

NỂ MẶT

Nể: Vị nể, kiêng dè, nể nang. Mặt: Gương mặt, ý chỉ về con người.

Nể mặt là gặp mặt thì nể nang, kiêng dè, ý muốn nói thấy người thì trong lòng khâm phục.

Như: Bạn bè phải biết nể mặt nhau.

Chánh trực Thần Tiên còn nể mặt,

Huống hồ trần cấu động vào mình.

(Đạo Sử).

Quen trò khi bạn lời ganh ghét,

Nể mặt không kiêng có Ðất Trời.

(Đạo Sử).

Chín phẩm Thần Tiên nể mặt ta,

Thích Ca dầu trọng khó giao hoà.

(Trích Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

NỆ

1.- Nệ, như chữ “Nề”, là quản, ngại. Như: Không nệ khó khăn, chẳng nệ lao nhọc.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Chức Sắc đã hiến thân cho Ðạo, quyết xả thân để phụng sự nhơn loại thì bản thân không còn là của mình nữa, phải chết về mặt đời, sống về mặt Ðạo, tận tuỵ với nhiệm vụ, không nệ khó khăn lao nhọc thì mới đúng với sự hiến thân của mình.

Khổ hạnh để lòng công quả gắng,

Lánh trần chi nệ nỗi cay chua.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trời lo đâu nệ nhọc công trình,

Nhọc sức vì thương đám chúng sanh.

(Đạo Sử).

2.- Nệ, như chữ “Câu nệ”, “Câu chấp”, tức dựa theo một cách cứng ngắt, không biết xử lý linh hoạt.

Như: Rượu ngon chớ nệ be sành.

Tu thân chớ nệ cao sâu,

Thánh đường là nẻo đáo đầu căn xưa.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

NÊM

Nêm là cho thêm mắm muối vào thức ăn khi đã nấu chín cho khẩu vị vừa, không mặn hay không lạt.

Như: Nêm canh, nêm bột ngọt vào nồi thịt kho, nêm đường vào nồi chè.

Hễ chị răn để dạ thù hiềm,

Coi nấu nướng nêm thêm cho mặn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NẾM

1.- Nếm là ăn hay uống một chút để biết mùi vị của đồ ăn, thức uống.

Như: Nếm nồi canh chua, nằm gai nếm mật, nếm hương vị món ăn Việt Nam.

Nếm đồ ăn miếng dở vật ngon,

Xem từ món, món hiền, món độc.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Nếm còn dùng để chỉ sự biết qua, trải qua. Như: Nếm mùi đau thương, nếm sự khổ cực.

Thánh giáo Thầy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Ðạo nên Ðời rạng, giũ áo phồn hoa nương bóng khổ trăm năm mãn cuộc tự thanh cao, nếm mùi tự toại, dưỡng chí thanh nhàn, thì có chi hơn.

Mùi đời đã nếm biết chua cay,

Giành giựt còn mong cậy sức tài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Từ thuở mày xanh đến bạc đầu,

Hôm nay mới nếm thú nhà lao.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

NẾM MẬT

Nếm: Ăn hay uống một chút để biết mùi vị của đồ ăn, thức uống. Mật: Nước màu vàng do gan tiết ra, có vị đắng.

Nếm mật, bởi chữ “Thường đảm 嘗 膽”, tức là nếm mùi mật đắng, dùng để nói chịu đựng sự khắc khổ để nuôi chí phục thù.

Do tích Việt Vương Câu Tiễn thường nếm mật đắng, chịu đựng sự khắc khổ để tự nhắc nhở mình luôn mưu việc rửa mối hận.

Xem: Nếm mật nằm gai.

Nếm mật Việt Vương còn để tiếng,

Gian nan hết lúc đến tao phùng.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

NỆM ẤM CHĂN ÊM

Nệm chăn: Những vật dụng trong phòng ngủ. Êm ấm: Yên ổn, ấm cúng.

Nệm ấm chăn êm là nói chỗ ngủ có nệm chăn êm ấm, dùng để chỉ cảnh ấm cúng và êm ả.

Nệm ấm chăn êm còn dùng để chỉ người sống trong cảnh êm ấm.

Đêm khuya canh vắng buồn thao thức,

Nệm ấm chăn êm vẫn lạnh lùng.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

NỆM TUÝ

Nệm: Đồ lót để ngồi hay nằm cho êm, cho ấm. Tuý (Thuý): Xanh biếc, chim phỉ thúy, có lông đẹp.

Nệm tuý hay nệm thúy tức là loại nệm được dồn bằng lông chim phỉ thuý.

Nệm tuý là loại đồ vật sang trọng đặt trong loan phòng hay phòng ngủ của đàn bà con gái. Nên nệm tuý dùng để chỉ nơi ngủ của đàn bà con gái quý phái.

Chăn cù nệm Tuý hoà hơi thở,

Giấc bướm hồn Trang dạo đỉnh Tùng.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

NÊN

1.- Nên là theo lẽ thì đúng như thế. Biểu thị cho thấy điều sắp nêu ra là kết quả trực tiếp của điều vừa nói đến.

Như: Vì bận nên không đến, việc ấy nên làm, người nghèo nên giúp, cách sông nên phải luỵ đò.

Thánh giáo Thầy có câu: Sự chết, thường thế gian gọi chết là hết, là vì dốt không biết đạo nên tưởng lầm.

Ðời hiếp lẫn nhau nỡ chẳng thương,

Thương đời nên mới đến đem đường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thiện ác đáo đầu đã biết chưa?

Hiểu rồi cái ác cũng nên chừa.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Nên là thành. Như: Nên vợ nên chống, nên việc, nên sự nghiệp, nói chẳng nên lời.

Thánh giáo Chí Tôn có đoạn dạy: Thầy đến độ rỗi các con là thành lập một trường công đức cho các con nên đạo. Vậy đắc đạo cùng chăng, tại nơi các con muốn cùng chẳng muốn.

Có công phải biết gắng nên công,

Tu tánh đã xong tới luyện lòng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Lập Ðạo dầu nên ngàn thuở để,

Nêu danh hậu thế tiếng bền dai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NÊN DANH

Nên: Thành. Danh: Tên tuổi.

Nên danh là thành danh, tức có tiếng tăm.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Bên Quân Đội các con và bên Phục Quốc Hội nên để ý khoảng nầy cho lắm, đã mang danh rằng Hội Thánh tức nhiên mạo hiểm mạng danh Thánh Thể Đức Chí Tôn, thử hỏi cử chỉ hành tàng của chúng ta phải làm gì cho nên danh Hội Thánh ấy, và xứng đáng Thánh Thể Đức Chí Tôn ấy.

Nên chiều mặt thế mới nên danh,

Ðừng để tà tâm đến dỗ dành.

(Đạo Sử).

Tánh hạnh khá trau thuần hậu lại,

Nên danh có thuở đặng nên thời.

(Đạo Sử).

Nên danh khai quốc công thần,

Nêu tên hậu thế xa gần tặng phong.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NÊN HƯ

Nên: Thành. Hư: Hỏng, bại.

Nên hư, như chữ “Thành bại 成 敗”, là điều tốt, điều xấu. Nên hư còn có nghĩa được thua, tức là thành công hay thất bại.

Thánh giáo của Tiêu Sơn Đạo Sĩ có câu: Biết mình, biết Ðạo, biết thế thời thì cũng gắng biết nên hư; biết người, biết phải chẳng, biết chánh tà mà day trở trong đường đạo đức.

Nên hư cuộc thế gẫm thường tình,

Đừng mỗi muôn điều đổ Chí Linh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðừng thấy sang hèn toan đổi dạ,

Nên hư khá nhớ tại nơi Trời.

(Đạo Sử).

Nên hư trối mặc đời phi thị,

Lam lụ buồn cười bấy lũ trâu.

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 

NÊN NGƯỜI

Nên: Thành, trở nên. Người: Người trưởng thành.

1.- Nên người là thành người tốt, người có ít cho xã hội. Như: Dạy cho nó nên người.

Thánh giáo Thầy có câu: Kiếp phù sinh không mấy chốc, đời mộng ảo chẳng là bao, sanh đứng nên người chen vai vào vòng thế cuộc, có khác chi kẻ bị đày vào biển khổ, để làm xong nhân sự đặng chuộc thửa tội tiền khiên.

Ðức cao thì mới đáng nên người,

Ðức thắng tài kia đã mấy mươi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Nên người, còn do chữ “Thành nhân 成 人”, là chỉ người đã đúng tuổi, đã thành niên.

Như: Cha mẹ dạy con từ bé cho đến nên người.

Phép dạy trẻ dạy điều cần ích,

Từ khi còn con nít tới nên người.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NỀN

1.- Nền là chỗ đổ đất cao, nện chặt để xây cất nhà cửa hay cơ quan.

Như: Nền đất, nền nhà, nền chùa, nền giao (nền của Nam giao, nơi tế Trời của nhà vua).

Chia gia tài bạc đắp nền toà,

Giàu vạn hộ cha làm mà con hết của.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Nền, nghĩa bóng dùng để chỉ cơ sở của một công cuộc gì. Như: Nền đạo Cao Đài, nền nhân, nền hoà bình.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy mầng cho các con đã chịu lao tâm tiêu tứ mà nền Ðạo, làm cho mối tương thân tương ái càng khắng khít vững bền, ráng công thêm nữa mà đi cho cùng bước đường của các con đã chịu lắm nhọc nhằn, vạch lối chông gai, dìu chơn hậu tấn.

Bền dạ tua thìn trau đạo Thánh,

Ra công khá gắng đắp nền nhân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nay con phước gặp nền Chơn Ðạo,

Ngọc tốt bền trau sắc rạng ngời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NỀN GIAO

Nền: Chỗ đất đấp cao, hoặc chỉ cơ sở của một công cuộc. Giao: Nam giao là khoảng đất ở phía nam Kinh thành, dùng để cho nhà vua làm lễ tế Trời.

Nền giao là nơi tế đàn Nam Giao của vua, dùng để chỉ uy quyền của quốc gia.

Non sông nhuộm một màu sầu,

Nền giao cỏ láng sân chầu sương phong.

(Ngụ Đời).

Nền giao nào lúc oai lừng lẫy,

Đảnh Việt nay cam ruột chín chiều.

(Thơ Đào Công).

 

 

NỀN MÓNG

Nền: Chỗ đất đấp cao, hoặc chỉ cơ sở của một công cuộc. Móng: Chân tường xây sâu dưới đất.

Nền móng là cái vững chắc được xây dựng nên để dựa trên đó xây dựng và phát triển những cái khác.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có đoạn dạy: Người tu hành, nếu chưa trường trai trì giới nổi đặng thì hãy lo lập đức, bồi công để làm nền móng vững chắc cho việc luyện Đạo tương lai, chớ dục vọng mong sớm luyện Đạo để làm Tiên, Phật mà thiếu phần công quả, âm chất. Vì Thầy lập Đạo kỳ này là mở một trường thi công quả. Các con phải đi tại cửa này mới đến đặng Cực Lạc mà thôi.

Tâm thành trước gắng xây nền móng,

Đức vẹn mới mong giữ mối giềng.

(Bảo Văn Pháp Quân).

 

 

NỀN NHÂN

Nền: Nền tảng. Nhân: Lòng thương người.

Nền nhân, dịch từ câu “Nhân cơ nghĩa chỉ 仁 基 義 址”, tức là lấy nhân nghĩa làm nền tảng.

Theo nho giáo, nhân là đầu mối hết trong các đạo lý của con người. Do vậy, con người lấy nhân làm nền thì chắc chắn sẽ được bền vững lâu dài.

Bố hoá người đời gây mối Ðạo,

Gia ân đồ đệ dựng nền nhân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Gắng lập nền nhân gìn giá ngọc,

Bền trau cội phúc vững tâm vàng.

(Thơ Hiến Pháp).

 

 

NỀN NHO

Nền: Nền tảng. Nho: Nho giáo.

Nền Nho tức lấy Giáo lý Nho Giáo làm nền tảng, nên “Nền Nho” cũng có thể gọi là Nho Giáo.

Thích, Đạo ví như hành bộ khách,

Nền Nho ví tợ chiếc đò qua.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

NỀN NHƠN

Hay “Nền nhân”.

Nền: Nền tảng. Nhơn (nhân): Lòng thương người.

Nền nhơn, như chữ “Nền nhân”, tức là lấy nhân nghĩa làm nền tảng.

Xem: Nền nhân.

Cân đường tội phước đắp nền nhơn,

Chớ lấy giữ riêng để dạ hờn.

(Đạo Sử).

 

 

NỀN TẢNG

Nền: Cơ sở căn bản của việc gì. Tảng: Khối.

Nền tảng là bộ phận vững chắc dựa trên đó các bộ phận khác tồn tại và phát triển.

Như: Lấy nhơn nghĩa làm nền tảng trong việc cư xử với mọi người trong xã hội.

Thánh giáo Thầy có câu: Ôi! Tấc bóng quang âm nhặt thúc, mà xem lại tâm hạnh của mỗi con của Thầy thì nét Ðạo vẫn kém hơn, đức chưa thêm được, tâm chí mòn mỏi lối đường ngay mà nấu nung về nẻo vạy, e cho nền tảng thiêng liêng đồ sộ phải nghiêng ngửa.

Đức là nền tảng của người tu,

Đức giải tiêu tan mấy đoạn sầu.

(Thơ Ngọc Trương Thanh).

 

 

NỀN THÁNH

Hay “Nền Thánh giáo”.

Nền: Nền tảng. Thánh (Thánh giáo): Tiếng để tôn xưng một nền tôn giáo, chỉ Đạo Cao Đài.

Nền Thánh hay nền Thánh giáo là chỉ nền Đạo của Đức Chí Tôn, tức đạo Cao Đài.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy dạy: Ðạo phát trễ một ngày thì nhơn sanh tội lỗi cả muôn ngàn. Vì vậy mà Thầy muốn cho mỗi đứa đều để lòng lo liệu chấn hưng nền Thánh giáo.

Trau tâm hiệp sức vun nền Thánh,

Dưỡng tánh chờ khi sạch bợn trần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NẾP

1.- Nếp là vết hằn trên bề mặt của vải, lụa, da, giấy v.v... gấp lại.

Như: Nếp khăn, quần áo còn nguyên nếp, nếp nhăn trên gương mặt.

Tay vua xốc nếp long bào,

Bước khoan thai rẽ lối vào vườn tiên.

(Phù Kiều Hận Sử).

2.- Nếp là lề lối, cách sống, hay hoạt động đã trở thành thói quen.

Như: Nếp sống văn minh, nhờ tiền bạc và của cải nên anh ấy có nếp sống phong lưu.

Trong sách Giáo Lý, Ngài Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có viết: Phật Giáo, Đức Thích Ca Mâu Ni bỏ ngôi Thái Tử giàu sang, bỏ nếp sống Vương giả trong hoàng cung, tách mình ẩn dật trong rừng sâu, để tìm chơn lý tuyệt đối.

Ơn Trời sẵn nếp phong lưu,

Đàn thơ dưới nguyệt, lưng bầu rượu hoa.

(Phù Kiều Hận Sử).

Nòi phong nhã nếp thư hương,

Trông đẹp làm sao hiếu nghĩa đường.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

NẾT

Nết là thói quen, hay tính hạnh bày ra ở thói ăn, cách ở. Như: Người có nết hạnh, nết xấu, nết tốt.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: Vậy Thầy khuyên các con cứ thìn lòng thìn nết cho có trật tự trong Ðạo, thì tức nhiên muôn điều khó nhọc cũng tan như giá.

Siêu phàm nết gái để hơn trai,

Mượn nước nhành dương rửa cảnh đài.

(Đạo Sử).

Thử từ nết khi chung lúc chạ,

Gióng từ hơi hoà nhã tơ loan.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NẾT HẠNH

Nết: Đặc tính tâm lý của mỗi người biểu hiện ở thái độ thường ngày đối với người, việc ở những cách nói năng, cử chỉ đã thành thói quen. Hạnh: Nết tốt của phụ nữ.

Nết hạnh là nết na và đức hạnh, chỉ người phụ nữ có những đức tính tốt.

Như: Người con gái có nết hạnh.

Vẹo trăm nết hạnh kiếp thơ đào,

Ðừng để thường tình chịu sóng xao.

(Đạo Sử).

Sĩ tử nhà văn cũng tiếng rằng,

Chẳng gìn nết hạnh khách Nho văn.

(Đạo Sử).

Dạy cho biết kiên tâm nhẫn tánh,

Đoán hư nên nết hạnh đờn bà.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NẾT KHUÔN

Nết: Đặc tính tâm lý của mỗi người biểu hiện ở thái độ thường ngày đối với người, việc ở những cách nói năng, cử chỉ đã thành thói quen. Khuôn: Khuôn phép.

Nết khuôn tức là nói giữ gìn tính nết và khuôn phép cư xử trong nhà.

Nào là hương đượm lửa nồng,

Nết khuôn giữ vẹn, chữ đồng lương nhân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NẾT NA

Nết: Tính hạnh.

Nết na chỉ tính hạnh tốt, dễ mến của người đàn bà con gái. Như: Con gái rất có nết na.

Thánh giáo dạy về Công Dung Ngôn Hạnh, đức Thượng Phẩm có câu: Việc làm cho nhơn sanh thoát khổ, lời nói để đưa đường giáo hoá, hành vi cử chỉ để treo gương mặt thế, tức là phải biết nâng cao giá trị của Thánh Thể Chí Tôn, nết na đằm thắm, giữ trọn thương yêu, tức nhiên là làm nền móng cho Ðại Ðồng Thế Giới.

Tranh lắm bà con đều ghét nết,

Nết na tề chỉnh ấy khôn lanh.

(Đạo Sử).

Hễ con biết Đạo biết mùi,

Biết trau sửa tánh biết dồi nết na.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

NÊU

Nêu là đưa ra, làm nổi bật lên cho mọi người chú ý. Như: Nếu tấm gương tốt cho mọi người.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Toà Thánh là cội nguồn, ngày nào được sừng sựng đứng vững nêu trên miền Tây Vức nầy, ấy là ngày họ cầu thỉnh các đạo hữu đó.

Linh Tiêu Điện, bảng danh nêu,

Nguyên căn đẹp vẻ mỹ miều cao thăng.

(Kinh Tận Độ).

Châu Công đưa nghiệp nối Nho phong,

Thánh đức còn nêu trí hoán phòng.

(Đạo Sử).

Ngậm cười nêu quạt chờ sanh chúng,

Biển khổ ngày qua đếm một ngày.

(Thượng Phẩm Giáng Bút).

 

 

NÊU DANH

Nêu: Đưa ra, bày ra cho mọi người biết. Danh: Tên gọi, tiếng tốt.

Nêu danh hay “Nêu tên” là đưa tên họ những người có tài, đức lên cho thiên hạ cùng biết.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có dạy: Vậy nên, Thầy khuyên các con trước hết phải ở sao cho ra vẻ Ðạo, đừng để ý gì về việc công quả mà nêu danh nơi cõi tạm nầy.

Lập Ðạo dầu nên ngàn thuở để,

Nêu danh hậu thế tiếng bền dai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Non nước muốn nêu danh tuấn kiệt,

Ðến hồi búa Việt giục cờ Mao.

(Đạo Sử).

Nêu danh trí sĩ nhà quan nghiệp,

Có thuở ơn ban nghiệp sách đèn.

(Đạo Sử).

 

 

NÊU GƯƠNG

Nêu: Đưa ra, làm nổi bật lên cho mọi người chú ý. Gương: Cái được coi là mẫu mực để noi theo.

Nêu gương là làm một tấm gương (xấu, tốt) cho người soi lấy. Như: Nêu tấm gương dũng cảm.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Còn những đứa choán phẩm ham quyền, cũng có lúc gặp điều hành phạt thiêng liêng mà nêu gương cho đoàn sau soi lấy.

Thìn trau đức tánh để nêu gương,

May gặp Ðạo mầu gắng liệu phương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nêu gương tuyết giá hậu lai,

Gỡ trong muôn một những bài sanh ly.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Tập em dại biết ham làm lụng,

Đừng nêu gương phóng túng chơi bời.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NÊU TÊN

Nêu: Đưa ra, bày ra cho mọi người biết. Tên: Tiếng đặt ra để gọi người hoặc gọi vật.

Nêu tên đưa tên họ những người có tài, đức lên cho thiên hạ cùng biết.

Nặng gánh thì con toan ít chở,

Chẳng khoa mà lại vọng nêu tên.

(Đạo Sử).

Nên danh khai quốc công thần,

Nêu tên hậu thế xa gần tặng phong.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NẾU

Nếu là ví bằng, nhược bằng, từ dùng để nêu một giả thiết hoặc một điều kiện nhằm nói rõ cái gì sẽ xảy ra.

Như: Nếu không làm việc thì làm sao mà giàu được.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Cách dạy, Thầy buộc tuỳ thông minh của mỗi đứa mà dạy. Dầu cho thầy phàm tục cũng phải vậy, nếu đứa dở mà dạy cao kỳ, nó biết đâu mà hiểu đặng.

Nếu muốn an vui theo lẽ đạo,

Từ từ đừng vọng vị cao lương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trời linh mới có thưởng người lành,

Nếu chẳng thế gian cứ cạnh tranh.

(Đạo Sử).

 

 

NI

Ni là này, nay. Như: Bên ni, dường ni.

Ni còn có nghĩa là nay, đây. Như: Mấy năm ni xa cách, từ lúc ra đi tới ni mới gặp lại.

Trong Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu có câu: Vân Tiên anh hỡi cố tri, Suối vàng có biết sự ni chăng là.

Hình nầy phạt kẻ dại ngây,

Khinh khi Tam giáo đoạ đày thế ni.

(Kinh Sám Hối).

Bề ăn cách ở đã an nơi,

Cuộc thế dường ni đủ toại rồi.

(Đạo Sử).

 

 

NI CÔ

尼 姑

Ni: Sư nữ, người nữ xuất gia tu hành. Cô: Tiếng gọi người con gái chưa chồng.

Ni cô là người phụ nữ quy y theo Phật và xuất gia vào chùa tu hành, tức là nữ tu sĩ Phật Giáo.

Như: Chùa nầy có hai ni cô đã hoàn tục.

Khác nào giữa chợ nài hàng,

Buôn may nhờ mặc áo tràng ni cô.

(Bát Nương Giáng Bút).

Thuyền tình chịu sóng không kham,

Xin cho phận thiếp biến làm ni cô.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NI KIM CÔ

尼 金 箍

Ni: Người xuất gia là nữ. Kim cô: Cái vành bằng vàng hay cái đai vàng.

Ni Kim Cô, trong đạo Cao Đài là một cái choàng bằng hàng trắng thêu hoa sen mà trên đầu nhọn lên thành hình chóp mũ. Cái choàng này dài phủ chiếc áo tràng ở trong và ở rìa có viền kim tuyến vàng.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Cái Ni Kim Cô có choàng từ đầu tới gót, đội mão Phương Thiên, trên chót Phương Thiên ngang đầu tóc có Thiên nhãn Thầy bao quanh một vòng Minh Khí, đi giày Vô ưu màu trắng, trên chót để chữ Hương, nghe à!

Đầu Sư Nữ phái mặc một bộ Đạo phục y như Đạo phục Đầu Sư Nam phái, phải đội một Ni Kim Cô, như các vãi ở chùa.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

NỈ

Nỉ là thứ hàng dệt bằng lông chiên, cừu. Như: Nón nỉ, áo nỉ, mền nỉ.

Trong Thuyết Đạo Hộ Pháp có đoạn: Ổng (Dalai Lama) đem vị Bá Tước với mấy người bạn khi vô trong đó ổng để ngồi, ổng biểu cầu nguyện, ông Bá Tước ổng đương rầu khổ não tâm hồn quá lẽ đi, ổng cầu nguyện hay không biết phép của ông Dalai Lama hay phép Thiêng Liêng của Đại Từ Phụ làm nên không hiểu, thì trong phòng đó ở đằng sau có một tấm như nỉ đen hay là vải mà trải nguyên cả một phòng to lớn vậy.

Thì sắp đặt sau lưng bàn Hộ Pháp, phải để một miếng nỉ dài một thước rưỡi, cao ba thước, thêu chữ bùa Lão vẽ đây (chữ Khí).

(Đạo Sử).

 

 

NỈ NON

Nỉ non là tỉ tê than vãn. Như: Nỉ non đêm vắn tình dài, cô bé nỉ non bên bà mẹ.

Nỉ non còn dùng để chỉ tiếng nhẹ nhàng, êm ái, gợi nên cảm giác buồn thương. Như: Tiếng khóc nỉ non.

Phối Thánh Phạm Văn Màng trong Thánh Ngôn Sưu Tập có câu: Một đàn chim kia đồng bay với nhau nơi xứ lạ, cảnh sầu thì tình khắng khít thương đáo để. Nếu rủi đôi cánh mỏi mê lạc bầy lẻ bạn, thì tiếng nỉ non kêu thảm vốn lẽ thường.

Kìa lũ én dật dờ cánh liệng,

Dựa chơn mây kêu tiếng nỉ non.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Chỉ cho rõ tiếng muông giọng lợn,

Đờn nỉ non cợt bỡn đờn bà.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NIÊM LUẬT

黏 律

Niêm: Dính. Luật: Phép tắc.

Niêm luật là sự liên hệ về âm thanh (bằng trắc) và luật gieo vần của hai câu trong bài thơ hay bài phú.

Trong Đạo Sử, Thánh giáo Lý Giáo Tông dạy về niêm luật có câu: Chư Ðạo Hữu lấy điệu văn ấy làm ra mỗi người một bài cho Lão sửa. Phải tuỳ theo từ chữ, từ giọng, vậy mới trúng niêm luật; bài của Lão chỉ dùng làm kiểu đó thôi...

Niêm luật Châu đề chờ khảo lịnh,

Quyển chương Tấn pháp đợi hùng oai.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

NIÊM PHONG

黏 封

Niêm: Dính vào. Phong: Gói kín.

1.- Niêm phong là phong lại bằng keo hồ, gói kín.

Nhà người có tội bị bắt, gia sản bị tịch biên, tức là nhà nước ghi chép vào sổ sách tài sản của người có tội rồi tài sản và nhà cửa bị dán kín, gọi là niêm phong lại.

Toà báo bị niêm phong đóng cửa,

Nhóm Sĩ phu lần lựa ẩn tàng.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

2.- Niêm phong còn dùng để chỉ thể hài được gói kín trong Liên đài.

Như: Niêm phong thể hài Bà Nữ Đầu Sư để liệm vào Liên đài.

Niêm phong Thánh thể, an ngự Liên đài,

Kỵ Long mã đưa đường về Cực Lạc.

(Ai Điếu Hương Lự).

 

 

NIỀM

Niềm là lòng tưởng nghĩ chuyên chú vào việc gì. Như: Niềm thương nỗi nhớ, niềm thuỷ chung.

Thánh giáo Lý Giáo Tông dạy Ngài Trung có câu: Lão để lời cho hiền hữu biết rằng, trong môn đệ của Ðức Từ Bi phần nhiều đã chẳng giữ lời Thầy mà xử cho tròn phần Nhơn đạo, giao tiếp cùng nhau cho có nét yêu dấu, tạc thù trong niềm đạo hữu, lại có dạ ghét lẫn tương phân.

Niềm thủ túc đã đành vĩnh biệt,

Càng nhớ nhau càng tiếc tình nồng.

(Kinh Thế Đạo).

Nào khi ước giữ niềm son sắt,

Nào thề non nắm chặt dải đồng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NIỀM RIÊNG

Niềm: Lòng tưởng nghĩ chuyên chú vào việc gì. Riêng: Thuộc về một cá nhân, một sự vật nào đó, phân biệt với chung.

Niềm riêng là nỗi niềm ôm ấp riêng trong lòng, chưa thổ lộ với người khác.

Như: Những niềm riêng không bộc lộ cho ai.

Lầu gần đêm vẳng hồi chuông điểm,

Chạnh nỗi niềm riêng ruột chín chiều.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

NIỀM SON SẮT

Niềm: Lòng tưởng nghĩ chuyên chú vào việc gì. Son sắt: Lòng không phai lợt như màu son đỏ, bền chặt như sắt thép cứng.

Niềm son sắt ý nói lòng trung thành trước sau như một, không dời không đổi.

Nào khi ước giữ niềm son sắt,

Nào thề non nắm chặt dải đồng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NIỀM TÂY

Niềm: Nỗi niềm, tức là mối nghĩ trong lòng. Tây: Riêng, riêng tây.

Niềm tây, đồng nghĩa với chữ “Niềm riêng”, là nỗi lòng riêng tây, hay nói cách khác là mối suy nghĩ riêng lẻ trong lòng.

Đợi bạn thuyền từ chưa tách bến,

Nhớ nhau xin cạn chút niềm tây.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

NIỀM THƯƠNG

Niềm: Lòng tưởng nghĩ chuyên chú vào việc gì. Thương: Thương yêu.

Niềm thương là lòng thương yêu sâu đậm.

Như: Nỗi nhớ niềm thương.

Liệt quốc sau cơn nguy đại chiến,

Hướng về Việt quốc lãnh niềm thương.

(Bát Nương Giáng Bút).

Niềm thương dìu dắt cả hoàn cầu,

Bỏ chiến, tham hoà định nghiệp lâu.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

NIỆM HƯƠNG

念 香

Niệm: Tưởng nghỉ, đọc lên. Hương: Nhang.

Niệm hương là niệm tưởng Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu và các Đấng thiêng liêng bằng cách đốt hương dâng lễ cúng và thành tâm tụng bài “Niệm Hương Chú”.

Xem: Niệm Hương Chú.

Cao sâu máy Tạo khó đong lường,

Thiệt bực mới vào cửa niệm hương.

(Đạo Sử).

Niệm hương tế độ hành tam lập,

Lần chuỗi từ bi tịnh lục trần.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

NIỆM HƯƠNG CHÚ

念 香 咒

Niệm hương: Đốt nhang dâng lên cúng Đức Chí Tôn hay các Đấng Thiêng Liêng để cầu nguyện. Chú: Bài chú.

Niệm Hương Chú, hay Phần Hương Chú là bài Kinh dùng để tụng đọc khi làm lễ dâng hương.

Trong Đạo Cao Đài, bài kinh “Niệm Hương” do Đức Nam Cực Chưởng Giáo giáng cơ vào năm Ất Sửu 1925 ban cho chi Minh Lý, tức chùa Tam Tông Miếu bây giờ.

Niệm hương là niệm tưởng Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu và các Đấng Thiêng Liêng bằng cách đốt nhang dâng lên và tụng bài Kinh Niệm Hương sau đây:

Đạo gốc bởi lòng thành tín hiệp,

Lòng nương nhang khói tiếp truyền ra.

Mùi hương lư ngọc bay xa,

Kính thành cầu nguyện Tiên gia chứng lòng.

Xin Thần, Thánh ruổi dong cỡi hạc,

Xuống phàm trần vội gác xe tiên.

Ngày nay Đệ tử khẩn nguyền,

Chín tầng Trời, Đất thông truyền chứng tri.

Lòng sở vọng gắn ghi đảo cáo,

Nhờ Ơn Trên bổ báo phước lành.

Bài Kinh Niệm Hương này, Đức Nam Cực Chưởng Giáo dịch ra nôm từ bài “Phần Hương Chú 焚 香 咒” bằng chữ Hán, được trích trong kinh Cảm Ứng của Đạo giáo. Nguyên văn bài “Phần Hương Chú” bằng Hán văn, và phiên âm như sau:

道 由 心 合 Đạo do tâm hiệp.

心 假 香 傳 Tâm giả hương truyền.

香 焚 玉 爐 Hương phần ngọc lư.

心 注 仙 願 Tâm chú Tiên nguyện.

真 靈 下 降 Chơn linh hạ giáng.

仙 珮 臨 軒 Tiên bội lâm hiên.

今 臣 關 告 Kim thần quan cáo.

逕 達 九 天 Kính đạt Cửu thiên.

所 啟 所 願 Sở khải sở nguyện.

咸 賜 如 言 Hàm tứ như nghiên (ngôn).

Giải nghĩa:

Lòng thành mượn khói nhang truyền đi.

Nhang thơm toả ngát trong lư ngọc.

Lòng thành hướng đến Chư Tiên cầu nguyện.

Cầu Chơn Linh của các Đấng giáng xuống.

Chư Tiên ngồi xe giáng đến.

Ngày nay bề tôi xin tấu trình.

Vội vả thẳng đến chín tầng Trời.

Xin tỏ bày mong muốn và nguyện ước.

Và cầu ban cho ân huệ như lời khấn nguyện.

Sau đó bài Kinh Niệm Hương được Đức Nam Cực Chưởng Giáo giáng cơ vào năm Ất Sửu 1925 ban cho chi Minh Lý, tức chùa Tam Tông Miếu bây giờ.

Khi nhận được bài kinh, chi Minh Lý được lịnh Ơn Trên dạy phải truyền kinh này để phổ độ.

Đến khi Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ đã được khai sáng, Đức Chí Tôn giáng cơ dạy Hội Thánh cử một phái đoàn gồm bốn Ngài Thượng Đầu Sư Lê Văn Trung, Hộ Pháp Phạm Công Tắc, Thượng Phẩm Cao Quỳnh Cư và ông Giáo Sư phái Thượng Vương Quang Kỳ đến Minh Lý Đạo thỉnh kinh, trong đó có bài Niệm Hương.

Thành kỉnh tụng Niệm Hương Chú.

(Nghi Tiết Cúng Lễ).

 

 

NIỆM PHẬT

念 佛

Niệm: Tưởng nghỉ, đọc lên. Phật: Đức Phật.

A.- Niệm Phật 念 佛 là đọc trang nghiêm danh hiệu của Đức Phật.

Mục đích niệm Phật là để trói buộc cái tâm mình vào danh hiệu Đức Phật, lúc đó các vọng tưởng hết, chân tâm thanh tịnh hiện bày. Nhưng điều cần nhứt là niệm đến chỗ nhứt tâm bất loạn 一 心 不 亂, tức là tâm không bị loạn động, chí thành, không để các tạp niệm xen vào, miệng niệm mà trong lòng không có vọng tưởng.

Tâm bị vô minh, vọng tưởng làm điên đảo, bất tịnh, niệm Phật có công năng phá trừ vọng niệm, làm cho tâm mê lầm trở nên sáng tỏ, tinh tấn.

Nghe lời khuyến thiện rất may,

Nguyện lòng niệm Phật ăn chay làm lành.

(Kinh Sám Hối Ngắn).

B.- Niệm Phật, theo nghĩa rộng của kinh, đây là từ chỉ chung danh hiệu các Đấng. Niệm Phật cũng có nghĩa là niệm danh hiệu Đức Chí Tôn hay các Đấng Phật, Tiên, Thánh, Thần.

Mục đích của niệm Phật là để chuyển tà niệm thành chánh niệm, dứt trừ vọng niệm, cột cái tâm lại, bắt tâm nghĩ điều thiện thay điều xấu, trừ được các phiền não khổ đau.

Trong đạo Cao Đài khi lạy, người tín đồ phải niệm danh hiệu Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu cùng các Đấng Thiêng Liêng khác.

Niệm danh hiệu Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu cùng các Đấng Thiêng Liêng là luôn tưởng nhớ đức hạnh tròn lành, quyền năng vô thượng, và nguyện cố gắng noi theo những thánh đức của các Đấng ấy.

Lý do nào chúng ta phải niệm? Đó là vì tâm chúng ta bị vô minh, vọng tưởng làm điên đảo, bất tịnh, khiến che mờ Thiên tánh (Thiên lương) mà Đức Chí Tôn ban cho. Niệm danh hiệu các Đấng Thiêng Liêng có công năng phá trừ vọng niệm, làm cho tâm mê lầm trở nên sáng suốt.

Việc niệm ấy có hiệu lực gì? Nguyên trong Kinh Phật có câu: “Tâm viên ý mã 心 猿 意 馬”, tức là chỉ tâm ý cũng như con vượn và ngựa, lúc nào cũng chạy nhảy lăng xăng, không an định.

Lại nữa, con người thường bị hoàn cảnh và vọng niệm sai sử, tâm ý không yên ổn, lúc nào cũng bị phân tán, cho nên thường sống trong lãng quên, thất niệm. Bởi thế, nếu ta không biết kềm giữ, chế ngự thì tâm ý ta cũng sẽ như con vượn con ngựa. Vậy muốn định tâm gìn ý thì chúng ta phải niệm danh hiệu các Đấng để nhắc nhở tâm ý luôn nghĩ đến điều thiện, điều tốt, tưởng đến những đức hạnh thuần lương, những hành động trong sáng và nhờ thế những tư tưởng xấu xa đen tối sẽ lần lần bị tiêu diệt.

Hằng ngày nếu chúng ta niệm danh hiệu các Đấng, tức nhiên thường nhắc nhở ta những điều lành, thì những điều ác, điều xấu đâu còn nằm trong tư tưởng của ta nữa. Ông Trang Tử nói: Nhất nhật bất niệm thiện, chư ác giai tự khởi 一 日 不 念 善, 諸 惡 皆 自 起, nghĩa là một ngày mà chẳng tưởng đến việc lành thì mọi sự dữ sẽ dấy lên.

Tâm là cái bổn nguyên Trời phú cho con người để hiểu biết điều phải quấy, nhơn nghĩa. Khi tâm bị vật dục che mờ thì mất lương tri lương năng thường làm những điều lỗi lầm, vì thế người tu phải thường niệm danh hiệu các Đấng Thiêng Liêng để tâm được an tịnh, sáng suốt. Sách Nho có câu: Nhân dục tận tịnh, thiên lý lưu hành 人 欲 盡 淨, 天 理 流 行, nghĩa là dứt sạch được nhơn dục thì thiên lý sẽ đạt được lý của Trời đất.

Ngoài ra, những câu niệm danh hiệu các Đấng Thiêng Liêng còn bao gồm hết những giáo lý, kinh điển, các quyền năng bao la vô thượng, vô biên cùng các đức hạnh tròn lành của các Đấng, nên những câu niệm ấy có đầy đủ năng lực đưa chúng thoát khỏi hoạn nạn, tai ương, giúp chúng ta vượt qua tình trạng hôn ám, sa đọa. Do đó, việc niệm danh hiệu Đức Chí Tôn, Đức Phật cùng các Đấng Thiêng Liêng chính là một trong những phép tu thân, luyện đức vậy.

Hễ là niệm Phật tụng kinh,

Rèn lòng sửa nết khá in như nguyền.

(Kinh Sám Hối).

 

 

NIÊN

1.- Niên là năm. Như: Thiên niên (ngàn năm), niên canh, niên hạn, đạo kéo dài thất ức niên.

Thánh giáo Thầy có câu: Bậc nhơn sanh vì đó mà phải chịu thiên niên chìm đắm vào số luân hồi, vay trả trả vay, căn quả chẳng bao giờ tiêu đặng.

Dìu dắt sanh linh lo tế độ,

Thiên niên danh tạc chốn Vân Ðài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tính niên rồi lại tủi thầm,

Con đường Cực Lạc biết tầm sao ra.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Niên là tuổi. Như: Niên cao kỷ trưởng, niên thiếu.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Về bổn phận của mấy cháu học sinh, tôi xin có mấy lời nầy: Mấy cháu còn đương niên thiếu, đó là lúc tốt đẹp nhứt của đời người.

Mạc đãi lão lai phương học Ðạo,

Cô phần tận thị thiếu niên nhơn.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

Bưng vinh thẳng bước niên còn trẻ,

Gánh nhục dừng chơn tuổi đã già.

(Khương Thái Công Giáng).

 

 

NIÊN CANH

年 庚

Niên: Năm, tuổi. Canh: Chữ thứ bảy trong thập can, nghĩa là tuổi.

Niên canh là năm sinh tính theo can chi, thường dùng để chỉ tuổi tác.

Trong phép định tuổi của Âm lịch, hay phép đoán mệnh của các nhà lý số thường lấy can chi (tức thiên can, địa chi) của năm sinh, tháng sinh, ngày sinh, giờ sinh gồm tám chữ gọi là niên canh, hay bát tự niên canh. Như Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần...

Niên canh chẳng hiệp mạng nghèo hèn,

Bởi đạo đức nhiều mới lấn chen.

(Đạo Sử).

 

 

NIÊN CAO

年 高

Niên: Năm, tuổi. Cao: Lớn.

Niên cao hay cao niên là tuổi lớn, tức chỉ những vị tuổi tác cao.

Thành ngữ “Niên cao kỷ trưởng 年 高 紀 長” là nói niên kỷ của những cụ già lớn tuổi.

Một cuộc phồn hoa biếc sắc xưa,

Niên cao trở gót thảm khi vừa.

(Đạo Sử).

 

 

NIÊN KỶ

年 紀

Niên: Năm. Kỷ: Gồm mười hai năm.

Niên kỷ là năm tuổi của mình.

Bây giờ người ta dùng chữ Niên kỷ đồng nghĩa với “Niên canh 年 更”, để chỉ về tuổi tác.

Xem: Niên canh.

Niên kỷ chưa qua cơn hoạn đến,

Mà che miệng lén nhẫn cười đời.

(Đạo Sử).

 

 

NIÊN NGOẠT NHỰT THỜI

Hay “Niên nguyệt nhật thời”.

Niên: Năm. Ngọat (nguyệt): Tháng. Nhật (nhựt): Ngày. Thời (thì): Giờ.

Niên ngọat nhựt thời, như chữ “Niên nguyệt nhật thời 年 月 日 時” là nói năm tháng ngày giờ.

Trong sách “Minh Tâm Bửu Giám” có câu: Niên nguyệt nhật thời giai tải định, toán lai do mệnh bất do nhân 年 月 日 時 皆 載 定, 算 來 由 命 不 由 人, nghĩa là năm tháng ngày giờ đều do định trước, tính ra do mạng, chứ không phải do người.

Niên ngoạt nhựt thời hữu định phân,

Bất tri thế sự thuỷ phong vân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NIÊN THIẾU

年 少

Niên: Năm, tuổi. Thiếu: Trẻ tuổi.

Niên thiếu, như chữ “Thiếu niên 少 年”, là chỉ người trẻ tuổi, chưa tới tuổi trưởng thành.

Trong bài Huấn từ buổi Lễ Bãi Trường và Phát Thưởng tại Đạo Đức Học Đường, Đức Thượng Sanh có câu: Về bổn phận của mấy cháu học sinh, tôi xin có mấy lời nầy: Mấy cháu còn đương niên thiếu, đó là lúc tốt đẹp nhứt của đời người.

Nầy là chỗ thiếp còn niên thiếu,

Nầy là nơi chàng níu thiếp trì.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NIẾT BÀN

涅 槃

Niết Bàn do âm Phạn “Nirvana”, dịch ra Hán là “Viên tịch”, “Diệt độ”, “Tịch diệt”...

Niết Bàn là cảnh giới hoàn toàn trong sáng, thanh tịnh, là cứu cánh mà người tu hành mong đạt được. Có hai loại: Hữu Dư Niết Bàn và Vô Dư Niết Bàn.

Hữu Dư Niết Bàn là nghiệp phiền não đã tận nhưng vẫn còn cái thân hữu lậu, còn Vô Dư Niết Bàn là vĩnh viết thoát sinh tử.

Khi Đức Phật mất gọi là nhập Niết Bàn hoặc Viên Tịch, tức chỉ cõi trở về chân như của Đức Phật.

Đối với Cao Đài, Niết Bàn hay Cực Lạc Thế Giới là cõi trở về của chư Phật.

Thiên thiều trỗi tiếng nhặt khoan,

Đưa linh thẳng đến Niết Bàn mới thôi.

(Kinh Tận Độ).

Để chơn vào chốn Niết Bàn,

Thoát vòng luân chuyển may đàng tầm duyên.

(Lục Nương Giáng Bút).

Cõi Tiên mở rộng cung Ðâu Suất,

Nước Phật sửa an cảnh Niết Bàn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NÍN

Nín là im, ngừng lại, nén lại. Như: Nín thở, đang khóc bỗng nín bặt, im hơi nín tiếng.

Thánh giáo Thầy có câu: Chẳng khác nào một đứa bé bị chửi, sợ nhục, lại rán chửi lại cho bằng, té ra bị nhục hơn nín đặng nghe luôn nữa.

Gắng cầm viết nín hơi sống rốt,

Đề năm vần khắc cốt nữ lưu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Buổi họp chưa cùng lời ấm lạnh,

Cơn lìa khó nín lụy hoà chan.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

NÍN NẨM

Nín: Nén lại, ngừng lại, nhịn.

Nín nẩm là nén lòng, tức kìm giữ tình cảm hay cảm xúc không để bộc lộ ra ngoài để chờ đợi.

Như: Rán nín nẩm cho qua thời kỳ xui xẻo.

Nín nẩm chờ ngày tiền quả sạch,

Trau giồi đạo hạnh hưởng ân Thiên.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Ăn nằm nín nẩm đợi Chơn Quân,

Ta quyết sẽ cho kẻ hạ trần.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

Thôi thôi nín nẩm xem thời thế,

Cái chí hiên ngang chẳng rã rời.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

NINH THÍCH

寧 戚

Ninh Thích (có người đọc là Nịnh Thích), còn được gọi là Ninh Tử (Nịnh Tử), người nước Vệ, vốn là bậc hiền tài đời Chiến Quốc.

Lúc còn hàn vi, Ninh Thích phải đẩy xe và chăn trâu ở núi Dao Sơn, được quan Tướng quốc nước Tề là Quản Di Ngô tức Quản Trọng nghe tiếng là bậc tài giỏi, nên giới thiệu lên vua Tề Hoàn Công và được vua Tề trọng dụng, phong làm quan Đại phu. Ninh Thích đã giúp cho Tề Hoàn Công lập được nhiều công lớn.

Sở Từ có câu: Ninh Thích chi âu ca hề, Tề Hoàn văn dĩ cai phụ 寧 戚 之 謳 歌 兮, 齊 桓 聞 以 該 輔, nghĩa là tiếng hát Ninh Thích cất lên, Tề Hoàn Công nghe mà được người cho phò tá.

Ninh Thích chăn trâu ở Ngao Sơn, Bá Lý Hề xin ăn ở đất Chất, đều là những bậc cao, sẵn ôm tài tế thế trong mình, nhưng chưa gặp thời nên cam vất vả.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

NỊNH

Nịnh là ton hót, tức khen quá đáng hoặc khen không đúng chỉ cốt làm đẹp lòng.

Như: Nịnh cấp trên, tánh tình hay nịnh, bề tôi nịnh.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Ðời không Ðạo, tức là kỷ cương rối loạn, kẻ gian nịnh lộng quyền. Vua không chánh, tôi chẳng ngay, người quân tử chẳng lẽ không giữ cái khí tiết trong sạch, cùng ra chen vai với đám tiểu nhơn, nên tự lui bước để sửa mình.

Ngoài khua tiếng giặc trong khua nịnh,

Võ thiếu binh nhung quốc thiếu cờ.

(Đạo Sử).

Chồng biết vợ muốn toan hót nịnh,

Cặp mắt nhìn tôn kính sắc vợ nhà.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NỊNH HÓT

Nịnh: Bợ đỡ. Hót: Nịnh bằng lời khéo léo.

Nịnh hót là nịnh nọt, ton hót, tức bợ đỡ, hay tâng bốc người lên để cầu danh, cầu lợi.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh câu: Hạng tiểu nhơn thì trời nào cũng phải, chúa nào cũng nên, khéo nịnh hót, giỏi cúi lòn miễn lộc cả quyền cao, ngoài ra chẳng kể đến vận nước thạnh suy, lòng dân thương ghét.

Người đời có tánh ưa nịnh hót,

Mình mỏng mềm mới gọt cho trơn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NỊNH TÀ

佞 邪

Nịnh: Nịnh hót, bợ đỡ để được lòng người khác. Tà: Không ngay thẳng, cong vạy.

Nịnh tà, như chữ “Tà nịnh 邪 佞”, là chỉ kẻ gian tà mà hay dua nịnh.

Quan Thánh Đế Huỳnh cân dẹp giặc,

Trừ nịnh tà gian tặc giúp đời,

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 

NỊNH THẦN

佞 臣

Nịnh: Nịnh hót, bợ đỡ để được lòng người khác. Thần: Bề tôi.

Nịnh thần là kẻ bề tôi gian nịnh, còn gọi là bọn gian thần. Như: Hôn quân trị vì thì đám nịnh thần lộng quyền.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Trong việc trị nước, các vị vua chúa thời xưa thường nghe lời sàm tấu của đám nịnh thần mà quốc gia phải khuynh nguy, cơ đồ nghiêng ngửa.

Xuân thu định vững ngôi lương tể,

Phất chủ quét tan lũ nịnh thần.

(Thi Văn Hiệp tuyển).

 

 

NÍP TỬ

Níp: Hòm đựng sách vở, quần áo của thời xưa. Tử: Người, học trò.

Truyện Kiều có câu: “Sắm xanh níp tử xe châu”, trong đó, chữ “Níp tử” dùng để chỉ áo quan, “Xe châu” chỉ cái linh xa.

Nhưng theo quyển Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Thánh giáo của Đấng A Ă Â, trong một đàn cơ giải thích như sau: “Níp tử” là rương đựng sách của Đức Khổng Tử, sau Tần Thuỷ Hoàng đốt sách chôn học trò, nghĩa là chôn rương sách của Đức Khổng Tử, tức chôn Đạo Nho. Níp Tử dùng mà chỉ cái hòm để chôn người đạo đức, văn chương tài tình.

Để đau thương cho kẻ mến người yêu,

Nhìn níp tử chín chiều ruột héo.

(Văn Tế Bảo Đạo).

Nhớ xe Châu thầy Mạnh vẫn não nồng,

Xem níp tử ông Sâm càng thảm thiết.

(Văn Tế Đốc Học).

 

 

NỊT

Nịt là buộc một vòng cho bó sát, tức làm cho sát chặt vào thân thể. Như: Nịt óng quần, nịt chặt bụng.

Thánh giáo Thầy trong Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu có dạy: Còn sắc phục con phải mặc nịt một sợi dây lưng ba màu: vàng, xanh, đỏ; có chữ ngay giữa: Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ và một cây trương, trên có lá cờ cũng đề như vậy.

Lưng mang dây Thần Thông và nịt dây lịnh sắc y như của Hộ Pháp và Thượng Phẩm, song mối phải thả ngay về bên tả.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

NÍU

Níu là nắm lấy, hoặc nắm mà kéo lại hay kéo xuống. Như: Níu tay, níu lấy vạt áo, níu nhành dương.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Tâm cứng cỏi, Ðạo điều hoà thì cứ bước tới Thầy; tâm trí bất định, đạo hạnh không hoàn toàn thì con đường hám lợi xu danh tới hang sâu vực thẳm đó, vì sức các con đã rã rời thì tài nào níu kéo đỡ nâng khuyên nhủ nhau được.

Nương chơn chưa biết chơn nào vững,

Níu thử cân đai thấy nặng trì.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cứ níu theo phan Ðức Thượng Hoàng,

Tự nhiên tu tánh đặng bình an.

(Đạo Sử).

 

 

NÍU NẮM

Níu: Nắm mà kéo lại. Nắm: Lấy tay giữ lại.

Níu nắm là dùng tay kéo lại và giữ chặt.

Níu nắm, như chữ “Nắm níu”, nắm nuối, là quyến luyến, nuối tiếc một điều gì đó.

Hồn quê níu nắm tình non nước,

Phách quế náu nương dạ sắt son.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

NÍU NHÁNH DƯƠNG

Níu: Nắm lấy, hoặc nắm mà kéo lại hay kéo xuống. Nhánh dương: Cành dương liễu, chỉ đạo đức.

Trong Đạo Đức Chơn Kinh có câu: Dương vô trần nhiễm, đạo giả như dương 楊 無 塵 染, 道 者 如 楊, nghĩa là cây dương không nhiễm trần, đạo là cây dương. Như vậy nhánh dương dùng để chỉ nền đạo đức.

Níu nhánh dương ý nói níu theo đường đạo đức.

Dập dìu lắm kẻ ngó Thiên đường,

Buổi thế không lo níu nhánh dương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NO

No là ăn uống đầy đủ, trái với đói. Như: No ấm, no cơm ấm áo, bữa đói bữa no.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Có lẽ cả thảy đều ngó thấy buổi phôi thai, là khi Đền Thánh mới tạo, con cái của Ngài phải chịu biết bao nhiêu khổ hạnh, ăn thì bữa đói bữa no đặng tạo dựng Đền Thánh, đến bây giờ thành tướng làm cho vạn quốc ngó thấy trông vào đều khen ngợi...

Chưa no buổi sớm, lo nồi tối,

Cái kiếp oan kia khá dứt lần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðại phú do Thiên tuy đã vậy,

Ðủ no không thiếu bởi nên cần.

(Đạo Sử).

 

 

NO ẤM

No: Ở trạng thái nhu cầu sinh lý về ăn uống được thoả mãn đầy đủ. Ấm: Ấm áp, gây cảm giác dễ chịu.

No ấm, như chữ “Ấm no”, dùng để chỉ người đầy đủ về vật chất như cơm ăn, áo mặc.

Thánh giáo Bát Nương Diêu Trì Cung có câu: Quý anh quý chị đều ăn mặc sung sướng, ngày nay đổi lại chịu phận nâu sồng, cũng khá thương đó, nhưng chưa nghèo phải học nghèo, chưa khổ phải học khổ, kế chí quân tử, cư bất cầu an, thực bất cầu bảo, chỉ cặm cụi quanh năm lo cho xã hội được no ấm thôi, biết người quên mình, đó là phận sự kẻ tu hành, đến bực tối thượng thừa cũng phải như thế, mới tròn nghĩa vụ.

Áo cơm no ấm hằng ngày,

Của người châu cấp ơn dày nghĩa sâu.

(Kinh Sám Hối).

Nguyền cho trăm họ bình yên,

Nhà nhà no ấm khỏi phiền khỏi than.

(Giới Tâm Kinh).

 

 

NO CƠM ẤM ÁO

No cơm: Cơm ăn đủ no. Ấm áo: Áo mặc đủ ấm.

No cơm ấm áo, như chữ “No ấm”, là nói đủ ăn đủ mặc, ý chỉ đầy đủ về vật chất.

Hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh trong quyển Thiên Đạo có viết: Tài thí là xuất tiền của làm việc phước thiện, như tán trợ người khốn cùng túng ngặt được no cơm ấm áo, hoặc giúp đỡ kẻ bịnh nghèo được lành mạnh bình yên, hoặc cứu người hoạn nạn, vân vân. Ấy là cứu độ về phần xác.

Chẳng lẽ người đời vì bao nhiêu nỗi khó khăn để sống lại quên hết lẽ phải, miễn sao cho no cơm ấm áo là được.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

NO ĐỦ

No: Ở trạng thái nhu cầu sinh lý về ăn uống được đầy đủ. Đủ: Không thiếu.

No đủ là có đời sống đầy đủ về vật chất.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Bần Đạo không khoe khoang, hiện nay Châu Thành Thánh Địa đã được mở rộng, con cái Đức Chí Tôn về có đất để dựng nghiệp nhà có phương thế để nuôi vợ con no đủ.

Thà tiết kiệm hằng ngày no đủ,

Tánh siêng năng lam lũ làm ăn.

(Kinh Sám Hối).

 

 

NO LÒNG

No: Ở trạng thái nhu cầu sinh lý về ăn uống được đầy đủ. Lòng: Chỉ bụng con người.

No lòng, như chữ “No bụng”, là bụng hết đói, tức đã no đủ nhu cầu sinh lý về ăn uống.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Chúng nó lại tưởng rằng, kiếp người là kiếp sống chỉ có giây giờ rồi tiêu mất, nên tìm những chước sâu kế độc cho đặng của nhiều, no lòng sướng dạ, trối kệ luân hồi.

Nhờ Viêm Đế đức cao ơn nặng,

Tìm lúa khoai người đặng no lòng.

(Kinh Sám Hối).

 

 

NỎ MÀNG

Nỏ: Chẳng, không. Màng: Nghĩ đến, tưởng đến cho mình, để ý tới.

Nỏ màng là không màng đến, tức chẳng nghĩ tới, hoặc chẳng quan tâm tới mình.

Thức khuya dậy sớm thân bao quản,

Miễn đặng thành công cực nỏ màng.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

NỌ

Nọ là tiếng chỉ cái không xác định cụ thể ở cách xa hay ở trong quá khứ, đối với này, kia.

Như: Kẻ này người nọ, cái nọ cái kia, công việc làm ngày này ngày nọ.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có câu: Thầy nghĩ lại việc hôm nọ tại Thánh Thất biến ra một trường Tà quái mà Thầy bắt đau lòng đó các con.

Phòng cơn biển nọ hoá cồn dâu,

Chưa hết quan viên há hết chầu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thương vợ cũng đồng em út vậy,

Một bên cốt nhục nọ tình thâm.

(Đạo Sử).

 

 

NÓC

Nóc là chỗ cao nhứt của hai mái nhà, nơi tiếp giáp giữa các mặt mái. Như: nóc nhà tranh, nói Thánh Thất.

Nóc còn dùng để chỉ phần trên cùng cao nhứt của một số vật. Như: Nóc tủ quần áo.

Thánh giáo Thầy có dạy Ngài Lê Văn Trung: Con phải xây cái tháp của Thượng Phẩm phía trước cây ba nhánh, phải day về hướng đông, giống như ngó vào điện mà hầu Thầy vậy, song ba từng phải lợp ngói như nóc chùa của các Ðường nhơn vậy, nghe!

Dựa cột, cột xiêu nhà sập nóc,

Kham tai cái kiếp cửa nhà không?

(Đạo Sử).

Kìa chùa cũ nóc hư muốn sập,

Nơi đôi ta lén gặp gỡ nhau.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Dài vắn tư bề ngăn đủ chín,

Thấp cao ba bực nóc chia hai.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

NỌC

1.- Nọc là chất độc ở một số loài vật.

Như: Nọc con ong, nọc bồ cạp, rắn cắn là nọc độc chuyền vào cơ thể.

Dưới gối nhiều lời đưa nọc rắn,

Mài gươm con khá mượn mưu mầu.

(Đạo Sử).

2.- Nọc còn dùng để chỉ những cái nguy hại về văn hoá, tư tưởng. Như: Nọc sầu thảm đã ăn sâu vào tâm khảm.

Trong Phương Luyện Kỷ để vào Con Đường Thứ Ba Đại Đạo có câu: Phải bình tĩnh nghĩa là đừng chịu ảnh hưởng của hoạ phước, buồn, vui (tập tánh không không đừng nhiễm, vui cũng vui, buồn cũng buồn, nhưng đừng để nọc buồn vui thấm vào chơn tánh).

Nọc ăn máu nước thúi ruồng,

Khô khan lạc khí hao mòn hồn tinh.

(Ngụ Đời).

 

 

NOI

1.- Noi là theo, đi theo một lối, một hướng nhất định.

Như: Noi theo lối mòn mà đi, noi dấu người xưa, noi gót những người đã từng đi qua.

Nơi bến khổ để bước già,

Xuân xanh noi dấu xây toà anh phong.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Trời chuộng đức lành hằng chuộng khắp,

Phật noi tâm chánh chẳng noi mô.

(Thơ Tiếp Đạo).

2.- Noi còn dùng để chỉ học tập và làm theo điều hay, điều tốt. Như: Noi gương bạn, noi theo lời dạy của Phật.

Thánh giáo Đức Quan Âm Bồ Tát trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Các em rán noi theo lời Thiếp thì có ngày được vinh diệu. Cái vinh hoa ấy ở thế gian chẳng hề có đặng.

Nhập Thánh thể dò đường cựu vị,

Noi Chơn truyền khử quỷ trừ ma.

(Kinh Tận Độ).

Lòng trần gội sạch noi đường chánh,

Nét Ðạo gìn thanh lánh nẻo tà.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NOI BƯỚC

Noi: Đi lần theo một lối, một hướng nhứt định, hoặc học tập và làm theo điều hay, điều tốt. Bước: Dời chân, đi.

Noi bước có nghĩa là dõi theo, bước lần theo, hoặc học tập theo.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Bên trong đã sẳn cái lý toàn nhiên nơi tâm, bên ngoài nhờ giáo lý cao siêu của Ðạo, người hành đạo có đủ tài liệu phương chước sửa mình và trau giồi hầu treo gương sáng cho người đời noi bước.

Cảnh Thiên noi bước Hoá Công,

Nắm phan Tiếp Dẫn vào vòng Như Lai.

(Kinh Thế Đạo).

Rằng nơi trần thế chàng không đoái,

Noi bước non Tiên thiếp chẳng lìa.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

NOI CHÍ

Noi: Đi lần theo một lối, một hướng nhứt định, hoặc học tập và làm theo điều hay, điều tốt. Chí: Lòng quyết định làm việc gì.

Noi chí là dựa theo ý chí. Như: Làm người con hiếu phải noi chí cha để thành người đạo đức.

Thầy thương phần nhiều các con dám xả diệt thế trần, trông mong noi chí của Thầy mà dìu dắt đoàn em dại.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

NOI CHƯỚC

Noi: Đi lần theo một lối, một hướng nhứt định, hoặc học tập và làm theo điều hay, điều tốt. Chước: Kế sách.

Noi chước là làm theo hay đi theo kế sách.

Thánh giáo Chí Tôn dạy: Còn phẩm trật Quỷ vị cũng như thế ấy. Nó cũng noi chước Thiên cung mà lập thành Quỷ vị, cũng đủ các ngôi, các phẩm, đặng đày đoạ các con, hành hài các con, xử trị các con.

Chẳng vẹn nghiệp nhà đừng thối chí,

Ðợi thời noi chước Lạn Tương Như.

(Đạo Sử).

 

 

NOI DẤU

Noi: Học tập và làm theo điều hay, điều tốt. Dấu: Dấu vết, tức cái còn lưu lại của người hay việc đã qua.

Noi dấu là theo dấu vết. Nghĩa bóng theo gương tốt của người xưa.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Quan Thánh Đế Quân có câu: Các Ðấng thiêng liêng xưa kia khổ hạnh, công cán thế nào mới được về ngôi cao phẩm quý, há chẳng phải là gương tín thành đáng noi dấu hay sao?

Noi dấu đường ngay Trời tế độ,

Chen chơn nguồn Thánh bước lần vào.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nơi bến khổ để bước già,

Xuân xanh noi dấu xây toà anh phong.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NOI ĐƯỜNG

Noi: Đi lần theo một lối, một hướng nhất định, học tập theo điều hay tốt. Đường: Lộ, nẻo đường.

Noi đường đi lần theo con đường, hoặc học tập và làm theo điều hay tốt.

Như: Noi đường ông cha đã đi qua.

Nguyện cùng Thất Tổ xin thương,

Cho bền gan tấc noi đường thảo ngay.

(Kinh Thế Đạo).

Lòng trần gội sạch noi đường chánh,

Nét Ðạo gìn thanh lánh nẻo tà.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NOI GƯƠNG

Noi: Học tập và làm theo điều hay điều tốt. Gương: Việc làm kiểu mẫu cho người khác bắt chước.

Noi gương là học tập và làm theo tấm gương tốt đẹp.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Ðiều cần nhứt là phải trọn hiếu với Ðức Chí Tôn Ðại Từ Phụ, giữ trọn trung thành với Hội Thánh, ngoài ra gắng công học hỏi, noi gương Thánh trước Hiền xưa mà rèn luyện đức tốt tánh lành.

Ðường tu ví sớm noi gương rạng,

Cội phúc mai sau hưởng quả lành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Noi gương đức tánh Nhị Kiều,

Dở dang Du Sách, giữ điều tiết trinh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Phải noi gương cha giữ lái giữ lèo,

Phương tiện tặn làm theo đâu thốn thiếu.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NÓI

Nói là tỏ ý tứ bằng lời tự miệng mình thốt ra. Như: Nói chuyện, nói bậy, nói sàm, nói càn.

Thánh giáo Chí Tôn có đoạn dạy: Thầy nói cho các con hiểu rằng, muốn xứng đáng làm môn đệ Thầy là khổ hạnh lắm. Hễ càng thương bao nhiêu thì Thầy lại càng hành bấy nhiêu.

Lão nói tỏ tường cho đó hiểu,

Cũng là vay trả luật xưa nay.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nhắn lời nói với phường đen bạc,

Ðến cửa Thiêng liêng ngó mặt Trời.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

NÓI CHƠI

Nói: Tỏ ý bằng lời tự miệng thốt ra. Chơi: Không định, không có chủ đích.

Nói chơi là nói cho vui, không có mục đích gì khác. Như: Nói chơi mà tưởng thật.

Thông thương ngó rõ tánh lòng người,

Con chớ tưởng lầm tiếng nói chơi.

(Đạo Sử).

Nghe đỏng đảnh lời con nói ngộ,

Đừng cầu vui giả bộ nói chơi.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NÓI CHUYỆN

Nói: Tỏ ý bằng tiếng từ trong miệng mình phát ra. Chuyện: Những sự việc trong khi bàn bạc.

Nói chuyện là nói với nhau những điều nầy đến điều khác một cách tự nhiên. Như:Vừa đi vừa nói chuyện.

Nói chuyện còn có nghĩa là trình bày vấn đề gì trước đông người. Như: Buổi nói chuyện về Đạo Cao Đài.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Khi chúng ta nói chuyện, khi chúng ta giận hờn, thương xót ai hay ghét ai, hoặc tính mưu định kế chi, đó là chúng ta tạo ra Karma.

Thêu dệt hay lo nói chuyện người,

Nhiều phen hại kẻ tưởng là chơi.

(Đạo Sử).

Hễ viết chữ là mình nói chuyện,

Chữ ráp nhau trở biến thành lời.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NÓI DỐI

Nói: Tỏ ý bằng lời tự miệng thốt ra. Dối: Không thực, nói không thực.

Nói dối là nói sai sự thật một cách cố ý, nhằm để che giấu một điều gì.

Giải về “Bất vọng ngữ”, Thánh giáo Thầy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Như các con nói dối, trước chưa dối với người thì các con đã nói dối với Lương tâm, tức là Chơn linh.

Tôi không nói dối rằng nhà tôi đơn chiếc, vì nhà tôi là cả toàn cầu.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

NÓI HÀNH

Nói: Tỏ ý bằng lời tự miệng thốt ra. Hành: Làm cho đau đớn, khổ sở.

Nói hành là dùng lời nói làm cho người nghe phải đau khổ về tinh thần.

Như: Nói hành kẻ khác chẳng khác nào chửi.

Chuyện quấy nói phải, chuyện phải thêu dệt ra quấy, nhạo báng, nói hành kẻ khác...

(Tân Luật).

 

 

NÓI NĂNG

Nói: Tỏ ý bằng lời, tự miệng thốt ra.

Nói năng là nói để giao tiếp. Nói năng lưu loát.

Trong Sách Giáo Lý, Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có đoạn: Người lớn ỷ ở ngôi tôn cứ sỗ sàng nói năng, sỗ sàng hành động, người lớn khinh thường kẻ nhỏ. Kẻ nhỏ thì hổn ẩu, không kiêng nể người lớn. Trật tự đảo lộn thì chung quy phải tự giải tán. Thế thì hoà mà không kính thì loạn lạc.

Gìn lòng ngay thẳng thật thà,

Nói năng minh chánh lời ra phải nhìn.

(Kinh Sám Hối).

Dạy đi đứng nghiêm trang bộ tịch,

Dạy nói năng cho lịch cho ngoan.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NÓI TỘI

Nói: Tỏ ý bằng lời, tự miệng thốt ra. Tội: Việc làm ác bị quả báo.

Nói tội là nói ra những lời mang tội lỗi.

Nói tội tức là nói ra những lời ác độc, làm hại người, phải mang lấy khẩu nghiệp.

Thà là các con làm tội mà chịu tội cho đành, hơn là các con nói tội mà phải mang trọng hình đồng thể.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

NÒI

Nòi là dòng giống. Như: Giống nòi, tuyệt nòi, yêu nước thương nòi.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Phải chi trước kia biết nhìn nhận Ðấng đến dìu dẫn yêu ái nâng đỡ, để đức tin nơi Người, nghe theo Người thì cái nạn đổ máu tương tàn, tương sát giống nòi không hề có đặng.

Bên trai nhắm coi từ cái mã,

Định hơn thua tính cả cái nòi.

(Phương Tu Đại Đạo).

Đừng sanh con đời thấy bắt nhờm,

Tránh nòi dữ bằng hơn tránh rắn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NÒI GIỐNG

Nòi: Dòng, giống. Giống: Từ dùng để chỉ nòi, loài.

Nòi giống, cũng như “Giống nòi”, là chỉ chung những người có cùng gốc rễ tổ tiên lâu đời, làm thành các thế hệ nối tiếp nhau.

Nòi giống thường dùng để chỉ dân tộc.

Như: Cùng chung một nòi giống.

Xem: Giống nòi.

Tua khá tưởng thương lần nòi giống,

Hãy xét vì mạng sống khó cầu.

(Kinh Sám Hối).

Từ đây nòi giống chẳng chia ba,

Thầy hiệp các con lại một nhà.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Còn con nòi giống chồng còn,

Mảnh thân đành chịu hao mòn với ai?

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NOM

Nom là để mắt trông. Như: Nom chừng nhà, nom qua cửa sổ, miệng cười nom thiệt có duyên.

Nom còn có nghĩa để ý nhìn ngó đến. Như: Nhờ nom hộ nhà một lúc, trông nom, chăm nom (để ý dòm ngó).

Thánh giáo Thầy có dạy: Thầy lấy đức háo sanh mà dìu dắt các con chẳng khác nào như kẻ làm cha nưng niu dạy dỗ một trẻ bé, trông nom cho nó mau trưởng thành, hầu lưu danh truyền nghiệp, cho có tên tuổi với đời.

Mình dầu khéo đến điều dạy dỗ,

Cũng chăm nom đặng độ từ người.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NON

1.- Non là măng, trẻ, trái với già. Như: Tre non, chồi non, mặt còn non, cỏ non, mầm non.

Ca dao có câu: Uốn cây từ thuở còn non, Dạy con từ thuở con còn ngây thơ.

Chẳng khác chồi non xô đại mộc,

Như sa vực thẳm khó toan trèo.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Đã từng thấy chồng non vợ mụ,

Hễ có tiền thì đủ là duyên.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Non là còn dùng để chỉ thiếu, chưa đầy đủ.

Như: Non ngày tháng, cân non, non dạ, non tay, bùn non, xi năng non.

Thánh giáo Thầy dạy Bà Hương Hiếu về cách làm đường cát trắng có câu: Ðổ đường đen vào một cái hũ, thọc lủng đít, rồi định chừng cho vừa hai phần hũ đường, còn một phần hũ thì đổ bùn non cho tới miệng, đem phơi nắng chừng một tuần thì đường trở nên trắng, gạt lớp bùn đi thì con đặng một thứ đường trắng phau phau rất ngon, rất đẹp đó con.

Phàm tiếng giạ thì là một hạng,

Đừng đong non góp xáng giạ già.

(Phương Tu Đại Đạo).

Tắm và lau thì dụng bông gòn,

Trẻ mới đẻ da non đừng động mạnh.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Non là núi. Như: Non núi, non bộ, non xanh nước biếc, non cao vực thẳm.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Sanh nhằm đời có một Ðạo chánh chẳng phải dễ, mà bước lên con đường chông gai, lần vào non thẳm kiếm ngọc lại càng khó.

Non xế nhành thung oanh nhặt thúc,

Rừng tà đảnh hạc khách trông mong.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nhàn chiều nhặt thúc đời vay trả,

Non xế quanh co nẻo lọc lừa.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NON BỒNG

Non: Ngọn núi. Bồng: Bồng Lai, tên một hòn núi có Tiên ở.

Non Bồng là núi Bồng Lai, một ngọn núi nằm trên Bồng Đảo, tương truyền là nơi Tiên ở.

Bồng Đảo là một trong ba hòn đảo nằm ở biển Bột Hải, đó là Bồng Đảo, Phương Đảo và Doanh Đảo.

Con thảo quạnh hiu nơi thế tục,

Mẹ hiền vui vẻ cảnh non Bồng.

(Thơ Thông Quang).

 

 

NON BỒNG NƯỚC NHƯỢC

Non Bồng: Núi Bồng Lai. Nước Nhược: Nhược Thuỷ, nằm trên biển Bột Hải.

Non Bồng nước Nhược, như chữ “Bồng sơn Nhược thuỷ 蓬 山 弱 水”, nghĩa là núi Bồng sơn, biển Nhược thuỷ.

Non Bồng là ngọn núi trên Bồng Đảo, là một trong ba hòn đảo ở biển Bột Hải.

Tương truyền ở biển Bột Hải có nước rất yếu ớt, không đỡ nổi một hạt cải, nên còn có tên là Nhược thuỷ hay nước Nhược.

Vậy “Non Bồng nước Nhược”chỉ cảnh Bồng Lai và biển Bột Hải, dùng để diễn tả cảnh sắc đẹp đẽ ở miền tiên cảnh, hay chỉ cõi Tiên.

Đất chở trời che đời thiết thực,

Non Bồng nước Nhược cảnh phiêu linh.

(Thơ Vạn Năng).

 

 

NON CÔN

Non: Núi. Côn: Côn Lôn.

Non Côn tức là núi “Côn Lôn 崑 崙”.

Núi Côn Lôn là một ngọn núi cao, là nơi tu luyện của Đức Lão Tử và Đức Nguơn Thuỷ Thiên Tôn, giáo chủ của Xiển Giáo.

Non Côn chỉ về Xiển Giáo, tức Chánh đạo.

Xem: Côn Lôn.

Ngọc sáng non Côn đà gặp nẻo,

Lối mòn động Bích chớ lầm đường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Lựa đèo tầm ngọc ẩn non Côn,

Triền đá cheo leo gắng bước dồn.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

Phần nhục thể tà nương động Bích,

Khối chơn thần chánh ẩn non Côn.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

NON DĨ

Non: Núi. : Còn đọc Tỵ, là núi trọc.

Non Dĩ là núi trọc, do trong Kinh Thi có câu: Trắc bỉ Dĩ hề, chiêm vọng mẫu hề 陟 彼 屺 兮, 占 望 母 兮, nghĩa là trèo lên núi trọc kia trông ngóng mẹ vậy.

Non Dĩ dùng để chỉ về người mẹ.

Xót nỗi nhà Huyên chồi quế úa,

Vọng tầm non Dĩ áng mây trôi.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

NON HỘ

Non: Núi. Hộ: Núi Hộ.

Non Hộ, do trong Kinh Thi có câu: Trắc bỉ Hộ hề, chiêm vọng phụ hề 陟 彼 岵 兮, 瞻 望 父 兮, nghĩa là trèo lên núi Hộ chừ, ngóng trông cha chừ.

Vì vậy, chữ “Non Hộ” được dùng để chỉ sự tưởng nhớ đến người cha.

Chồi huyên gió gãy chẳng bao lâu,

Non Hộ nay thêm mịt khói sầu.

(Thơ Chơn Tâm).

Cạn nguồn biển Thái tan non Hộ,

Cùng cảm thương cùng nén lệ thôi.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

NON KỲ

Non: Núi. Kỳ: Kỳ Sơn 歧 山, là một hòn núi thuộc đất Tây Kỳ thời vua Trụ bên Trung Hoa.

Non Kỳ, do điển tích: “Phụng gáy Kỳ Sơn” như sau: Khi vua Châu Văn Vương ra đời, thì tại đất Tây Kỳ có chim phụng đến đậu trên núi Kỳ Sơn gáy. Người xưa cho đó là điềm lành, báo cho biết có Thánh chúa ra đời. Sau Văn Vương là một vị vua hiền minh, được Khương Tử Nha phò tá, diệt Trụ, dựng nghiệp nhà Châu, mở ra một thời bình trị.

Kìa lóng non Kỳ reo tiếng phụng,

Nầy xem nước Lỗ biến hình lân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NON MÒN BIỂN CẠN

Non mòn: Đá núi bị tiêu mòn. Biển cạn: Nước biển bị khô cạn.

Non mòn biển cạn ý muốn nói việc chẳng có thể nào xảy ra, dù có xảy ra thì lòng cũng không thay đổi.

Kìa là vật đổi sao dời,

Non mòn biển cạn cơ Trời biến thay.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Mối nợ dây duyên thề nối nắm,

Non mòn biển cạn quyết không buông.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

NON NỚT

Non: Ở vào giai đoạn mới mọc, mới sinh ra, chưa phát triển đầy đủ.

Non nớt là còn non quá mức, chưa có những sự phát triển cần phải có.

Non nớt còn dùng để chỉ quá trẻ, hoặc quá yếu so với yêu cầu công việc.

Trong lễ Bãi trường và Phát thưởng tại Đạo Đức Học Đường, Diễn văn của Đức Thượng Sanh có đoạn: Các em giáo viên hiện giờ nên gắng công nung đúc những tâm hồn non nớt, ngày sau trở nên bậc hiền lương trong cửa Ðạo, hoặc những đấng nhơn tài trong xã hội. Cái công ấy không phải nhỏ.

Đạo không xen chánh lẫn tà,

Đạo không non nớt, yếu già, mau lâu.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Mình mỏng mảnh sức non nớt yếu,

Đỡ nâng chồng vốn thiếu tay co.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NON NƯỚC

Non: Núi non. Nước: Sông nước.

Non nước là núi non và sông nước.

Non nước cũng như chữ “Nước non”, còn dùng để chỉ đất nước, tổ quốc.

Như: Nước non hùng vĩ.

Non nước đìu hiu xuân vắng chúa,

Nhìn quê cảnh úa giục cơn sầu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Hạnh đức điểm tô non nước Việt,

Muôn năm bia tạc tiếng còn ghi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Non nước điểm tô hồn chí sĩ,

Cõi bờ đậm vẻ máu anh phong.

(Thơ Cao Tiếp Đạo).

 

 

NON SÔNG

Non: Núi. Sông: Dòng nước lớn trên mặt đất, chảy từ nguồn ra tới biển.

1.- Non sông, như chữ “Núi sông”, là chỉ núi non và sông ngòi.

Càng nhớ đến lời nguyền buổi trước,

Thẹn non sông chưa ngớt tình nồng.

(Kinh Thế Đạo).

2.- Non sông, như chữ “Sơn hà 山 河”, đồng nghĩa với chữ “Giang sơn 江 山” dùng để chỉ đất nước.

Thánh giáo Thái Thượng Đạo Tổ trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Võ Tắc Thiên hoang dâm thái thậm, Tuỳ Dương Ðế lỗi đạo muôn phần, khi Sở Hạng bạo ngược vô biên, Tần Thuỷ Hoàng hôn quân cực điểm, nhưng than ôi! máy Thiên cơ buổi nọ, nếu phải chiều chuộng một ít vị công thần bị khép vào vòng những kẻ đã chịu sở bức, thì phải thay đổi, bôi xoá sự nghiệp non sông của những chúa tể ngu muội ấy chăng?

Xem: Giang sơn.

Non sông Việt chủng ngày êm lặng,

Chung sức cùng nhau đức lập quyền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Non sông chẳng đổi theo lời nói,

Cơ nghiệp dầu thay bởi sức làm.

(Đạo Sử).

 

 

NON TIÊN

Non: Non động, chỉ nơi tu luyện của các vị Tiên. Tiên: Người tu đắc Đạo thành.

Non Tiên là non động của các bậc Tiên, dùng để nói nơi trở về của các chơn linh đắc Đạo, hoặc chỉ sự thanh nhàn, thong thả.

Như: Động Thánh non Tiên.

Lánh đường trần tục đến non Tiên,

Lấy nước nhành dương tưới lửa phiền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Dìu đời cửa Thánh đang mong đợi,

Thoát tục non Tiên vội đến chầu.

(Thơ Thượng Sanh).

Rằng nơi trần thế chàng không đoái,

Noi bước non Tiên thiếp chẳng lìa.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

NON TIÊN CẢNH PHẬT

Non Tiên: Non động của các vị Tiên. Cảnh Phật: Cõi giới của các vị Phật.

Non Tiên cảnh Phật là non động của các Tiên, và cảnh giới các vị Phật, ý chỉ chung cõi giới của Tiên Phật.

Nọ non Tiên, nầy cảnh Phật,

những ngỡ toà tinh đẩu đưa về.

Kìa quán gió, ấy cầu mây,

chẳng khác chốn Bồng Lai đưa lại.

(Tuý Sơn Vân Mộng).

 

 

NON TIÊN ĐỘNG THÁNH

Non Tiên: Núi non có Tiên ngự. Động Thánh: Động của Thánh ở.

Non Tiên động Thánh là non động của các bậc Tiên Thánh, tức nơi Tiên Thánh ở.

Non Tiên khiển hứng nhuần ân cả,

Ðộng Thánh tiêu diêu gội đức Thầy.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

NON THÁI

Non: Núi. Thái: Có hai nghĩa, chỉ núi Thái Sơn và núi Thái Hàng.

1.- Non Thái chỉ núi Thái Sơn, một ngọn núi cao thuộc Ngũ Nhạc ở tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc, để chỉ sự cao sâu, nặng nề.

Non Thái dầu cao, cao hoá thấp,

Chậu kia dầu kín thấy thông thương.

(Đạo Sử).

Câu kinh cửa Khổng dường non Thái,

Tiếng kệ đời Nghiêu giống đảnh Kỳ.

(Thất Nương Giáng Bút).

2.- Non Thái chỉ núi Thái Hàng, nơi mà Địch Nhân Kiệt, người đời Đường, đi làm quan xa quê nhà, trông thấy đám mây trắng lờ lửng, bèn than rằng: Nhà cha mẹ ta dưới đám mây trắng trên đầu non Thái đó... Chỉ việc nhớ quê hương, cha me.

Ác lặn hiên Đoài già nhắc nhỏm,

Nguyệt trầm non Thái trẻ thon von.

(Thất Nương Giáng Bút).

Vời trông non Thái màu mây bạc,

Chạnh nhớ quê nhà tủi tấm thân.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

NON THẲM

Non: Núi. Thẳm: Sâu hay xa đến mức hút tầm mắt, nhìn không thấy đâu là cùng tận.

Non thẳm là chỉ núi ở chỗ xa xôi, hoang vắng. Như: Rừng cao non thẳm.

Sanh nhằm đời có một Ðạo chánh chẳng phải dễ, mà bước lên con đường chông gai, lần vào non thẳm kiếm ngọc lại càng khó.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

NON THẦN

Non: Núi. Thần: Chỉ sự thiêng liêng, hay Thần Tiên.

Non Thần là núi có Thần nữ, tức núi Vu Sơn. Trong Truyện Kiều có câu: Bâng khuâng đỉnh Giáp non Thần, Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng.

Non Thần còn dùng để chỉ núi có các vị Thần Tiên ở, chỉ cảnh Tiên, hay cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống.

Cõi thế chờ qua đường mấy dặm,

Non Thần đợi lóng nhạc năm cung.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trăm hạnh để lần sanh chúng dẫn,

Non Thần vẹt ngút tới tìm phương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Non Thần tiếng hạc chầu vang đảnh,

Chờ rước người ngay chánh dẫn đường.

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 

NON THỀ

Non: Núi. Thề: Hứa chắc một cách trịnh trọng có sự chứng kiến của vật thiêng liêng.

Non thề là đứng trước núi non mà thề nguyền, nói việc trai gái thề ước với nhau.

Do sách Nguyên Khúc có câu “Hải thệ sơn minh 海 誓 山 盟” là bể nguyện non thề, tức chỉ bể mà thề thốt, chỉ núi mà ước nguyền, ngụ ý lời thề ước bền chặt như có bể, có núi ghi tạc chứng giám cho.

Bởi thuyền bá sóng xao biển ái,

Bởi non thề sương trải lạnh lùng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Biển ái kia bờ lở khó bồi,

Non thề nọ đảnh trôi khôn lấp.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NON VU

Non: Núi. Vu: Ngọn Vu sơn.

Non Vu, như chữ “Vu sơn 巫 山”, là một ngọn núi tiếp với Vu Giáp, dưới chân có miếu thần nữ.

Do tích Sở Tương Vương đến chơi ở Cao Đường, nằm mộng thấy một thiếu nữ cùng vua chăn gối. Vua hỏi thì nàng cho biết là thần nữ núi Vu sơn, có nhiệm vụ buổi sáng làm mây, tối làm mưa ở chốn Dương Đài.

Nghĩa bóng: Chỉ trai gái chung chạ.

Sớm trông mây, tối trông mưa,

Phưởng phất non Vu hồn Thần Nữ.

(Tuý Sơn Vân Mộng).

Nhìn qua chẳng kém phần nghi thức,

Kẻ đến non Vu, kẻ dạ đài.

(Thơ Thành Toại).

 

 

NON VU LẤP NẺO

Non Vu: Núi Vu Sơn, điển tích nói về vua Sở chiêm bao thấy cùng Thần nữ giao hoan, dùng để chỉ sự gối chăn, ân ái. Lấp nẻo: Chận bít nẻo đi.

Non Vu lấp nẻo tức là bít đường đến Vu sơn, ý muốn nói tuyệt dứt đường ân ái.

Vui đọc truyện, buồn ngâm thơ,

Non Vu lấp nẻo, đàn tơ dở mùi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NON XANH

Non: Núi. Xanh: Màu như màu lá cây.

Non xanh, như chữ “Thanh sơn 青 山”, là núi xanh, dùng để chỉ nơi ẩn dật, thanh nhàn.

Non xanh vắng gót anh hùng,

Bỏ cơn Võ Kiết lánh vòng Văn Vương.

(Ngụ Đời).

Chim lồng bao thuở lại non xanh,

Ngóng mặt vơi trông chốn thoát mình.

(Thanh Sơn Giáng bút).

 

 

NON XANH NƯỚC BIẾC

Non xanh: Núi non tươi xanh. Nước biếc: Dòng nước xanh biếc.

Non xanh nước biếc, như chữ “Thanh sơn bích thuỷ 青 山 碧 水”, là một thành ngữ dùng để chỉ phong cảnh nước non xanh tươi xinh lịch.

Non xanh nước biếc khoe màu lịch,

Cảnh vật trung thu dạng lả lơi.

(Thơ Mỹ Ngọc).

 

 

NON XẾ NHÀNH THUNG

Non xế: Ánh sáng xế đầu non, chỉ cảnh về chiều. Nhành thung: Cành hay nhánh cây thông.

Non xế nhành thung là chỉ cảnh núi non về chiều, ánh sáng mặt trời đã xế bóng trên cành thông.

Non xế nhành thung còn dùng để chỉ cảnh tuổi già.

Non xế nhành thung oanh nhặt thúc,

Rừng tà đảnh hạc khách trông mong.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NÓN LÁ

Nón: Vật dùng để đội đầu, che mưa nắng. Lá: Lá buông, một loại cây được dùng để kết nón.

Nón lá là một loại nón kết bằng lá buông, có hình một vòng tròn nhỏ dần lên đỉnh.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Sử ký chép rằng: Khi Ðức Khổng Tử đem thuyết Nhơn Ðạo để hỏi thì Ðức Lão Tử đáp rằng: “Người quân tử gặp thời thì đi xe, không gặp thời thì đội nón lá và đi chân. Ta nghe người buôn bán giỏi khéo chứa của mà không ai biết, người quân tử có đức tốt mà bề ngoài coi như người ngu dại. Ông nên bỏ cái khí kiêu căng, cái lòng ham muốn đi, những cái ấy đều vô ích cho ông”.

Đạp giày cỏ nương cây gậy bá,

Mặc áo tơi nón lá che thân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NONG

1.- Nong là cho cái gì vào trong để căng ra cho rộng, cho thẳng ra.

Nong là lấy tay hoặc cho vật gì vào trong để căng cho rộng, tròn, hay thẳng ra. Nghĩa bóng: Rán sức.

Như: Nong giầy cho rộng, nong thúng, nong chí, nong sức làm việc, nong nả.

Ca dao có câu: Một thuyền một bến chẳng xong, Một chĩnh, đôi gáo còn nong tay vào.

Mới vô học ham chơi lơ lãng,

Nong chí con cho rán buổi đầu.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Nong là đồ đan khít bằng tre, hình tròn, lòng rộng và nông, to hơn nia, dùng để phơi, đựng đồ vật.

Như: Nong phơi thóc, nong tằm.

Mình mua một trận cười, ngàn bạc đổ,

Nhớ lúc cha đương rổ mẹ nong sàng.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Nong là hướng tới trước, lao về phía trước.

Như: Chèo nong tới đi, làm việc phải nong tới, chớ nên chậm rãi.

Núi cao cũng phải tầm sang,

Công phu khổ hạnh chí càng nong thêm.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

NONG NẢ

Nong: Hướng tới trước, lao về phía trước, ráng sức. Như: Chèo nong tới.

Nong nả là hăm hở, hăng hái, hoặc cắm cúi, vội vàng, như có vẻ khẩn trương, gấp rút.

Như: Nong nả làm việc, đi đâu mà nong nả vậy anh, ghé nhà uống trà một lát.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có đoạn dạy: Phủi hết muôn sự ở cõi trần vô vị nầy, ấy là một sự khó thi hành của khách phàm tục. Mấy ai nong nả tìm đến cảnh thiêng liêng, mà nhiều kẻ lại tìm vào vực thẳm.

Người thời than khóc tủi thầm,

Kẻ thời nong nả thơ âm tới nhà.

(Thơ NĐS Hương Thanh).

 

 

NÓNG

1.- Nóng là có nhiệt độ lên cao, trái với lạnh.

Như: Trời hôm nay rất nóng, uống thuốc kèm với một ly nước nóng, đứa bé nóng đầu.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ấy là hình tướng thiên nhiên của tạo đoan, nên Chí Tôn nói có Âm ắt có Dương, có nóng ắt có lạnh.

Ao nước nóng sôi thì sục sục,

Dầm cho người rã rục thịt xương.

(Kinh Sám Hối).

Phải nhớ thử khí trời nóng lạnh,

Muốn nuôi con khoẻ mạnh khá thăm.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Nóng là nói về tính người dễ nổi cơn cáu, gắt, tức giận, khó kềm giữ được.

Như: Nóng tính hơn Trương Phi, làm việc tỉ mỉ có tánh nóng thì khó đạt.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có đoạn dạy: Ðạo tuy cao, song nên biết sức Quỷ cũng chẳng hèn. Nếu không ngăn ngừa, dằn lửa nóng trong tâm thì lửa Tam muội của Quỷ vương đốt cháy.

Gặp lắm đứa du côn tánh nóng,

Mình bãi buôi trở giọng hiền từ.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Nóng là có sự mong muốn thôi thúc cao độ, như muốn biết, muốn được ngay. Như: Nôn nóng, nóng lòng.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Mặc dù giờ giới nghiêm được áp dụng nhưng số Tín Hữu nôn nóng dự buổi lễ, đã tề tựu tấp nập nơi vùng Nội ô không kém gì mấy năm trước.

Ðạo phát trễ một ngày là một ngày hại nhơn sanh. Thầy nôn nóng nhưng mà Thiên cơ chẳng nghịch đặng, nên phổ thông trắc trở.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

NÓNG BỨC

Nóng: Có nhiệt độ lên cao, trái với lạnh. Bức: Nóng ngột ngạt khó chịu.

Nóng bức là thời tiết nóng ngột ngạt, khó chịu. Như: Vào mùa hè, buổi trưa nóng bức.

Dưới ánh nắng chói chang nóng bức,

Trên tàn cây chim chóc lặng im.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

NÓNG LÒNG

Nóng: Bồn chồn muốn biết, muốn được ngay. Lòng: Bụng, biểu tượng cho tâm lý tình cảm con người.

Nóng lòng là có tâm trạng mong muốn cao độ để làm một việc gì. Như: Nóng lòng đến bệnh viện thăm bạn.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Trong một vài buổi Hội, cũng có khi nóng lòng ưu tư cho Ðại Nghiệp chung mà có sự gay cấn sôi nổi trong sự thảo luận, nhưng chừng được lời giải thích rành mạch của Ban Chủ Toạ, bầu không khí, trở lại êm dịu không còn điều chi thắc mắc nữa.

Ngồi đợi nóng lòng đừng rút nhợ,

Cả ngày buồn giựt chẳng nên trò.

(Đạo Sử).

 

 

là người có tội bị bắt làm đầy tớ mãn đời. Sau nầy, chữ “Nô” được dùng để chỉ người đầy tớ.

Như: Nô tỳ, làm thân nô bộc, nô dịch kẻ bán nước, chế độ nông nô.

Ngàn dâu ngó ngày chầy thăm thẳm,

Bận lòng con lại vấn y.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Đừng để vào hạng trẻ tỷ ,

Đày phận gái đơn cô không chỗ dựa.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NÔ DÂN

奴 民

Nô: Đầy tớ. Dân: Dân chúng.

Nô dân là dân làm nô lệ, tức làm đầy tớ cho người, chỉ đám vì quyền lợi mà làm tôi mọi cho người.

Như: Bọn người nô dân bám theo lũ bán nước.

Bởi phường bộc lại thân đầy đủ,

Bởi đám nô dân phận khát khao.

(Thơ Chánh Đức).

 

 

NÔ LỆ

奴 隸

Nô: Đầy tớ. Lệ: Làm tôi tớ.

Nô lệ là chỉ những người mất tự do, bị người khác đãi ngộ bất bình đẳng, đối xử hà khắc, hoặc bắt về để sai khiến. Như: Người dân nô lệ của một nước thuộc địa.

Vào thời đại còn là bộ lạc, các bộ lạc mạnh đánh các bộ lạc yếu, bắt con trai, con gái về làm nô lệ.

Ở Châu Âu vào thời trung cổ, việc mua bán nô lệ rất thịnh hành ở các nước. Về sau tư tưởng tự do càng bành trướng trên thế giới, thì con người hưởng ứng giải phóng nô lệ càng nhiều ở các nước. Tại Mỹ vào năm 1863 giải phóng chế độ nô lệ người da đen.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Khi ta đi tìm hạnh phúc cá nhân, tất nhiên ta phải đụng chạm đến người khác cũng đi tìm như ta vậy. Thành thử có việc tranh giành, có đụng chạm, tranh chấp, mâu thuẫn giữa người và người để rồi đi đến chỗ thù oán, có khi giết hại lẫn nhau cũng chỉ vì ta làm nô lệ cho dục vọng.

Lằng xanh ưa ngửi mùi đồng,

Ham thân nô lệ, mến vòng tôi con.

(Ngụ Đời).

Tróng gông nô lệ sao ham muốn?

Hình bóng quan viên xúm giựt giành.

(Đạo Sử).

Ách nô lệ ngày nay hầu dứt,

Nước quật cường nhờ sức toàn dân.

(Kinh Cúng Chiến Sĩ).

 

 

NÔ NỨC

Nô nức là háo hức, tỏ ra hăm hở, phấn khởi cùng đua nhau làm một việc gì đó. Nô nức đi xem lễ hội.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Sen tàn cúc nở, đông mãn kế xuân về. Ngày tháng thoát qua chẳng khác chi nước chảy dưới gầm cầu, lật bật năm Kỷ Dậu sắp cáo chung, trăm họ nô nức đón chào Xuân mới.

Mê tỉnh chuông khua phân biệt tiếng,

Rừng thiền nô nức loán mùi hương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nô nức thần dân vui nếp sống,

Mừng xuân dường ấy đáng nên mừng.

(Thơ Hiến Đạo).

 

 

NỔ

Nổ là bật vỡ ra đột ngột và mạnh mẽ, nghe thành tiếng động lớn và ngắn.

Như: Pháo nổ giòn, lốp xe nổ tung, súng và mìn nổ vang một khắp nơi.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Hai lằn nguơn khí đụng lại nổ ra khối lửa, khối lửa ấy là ngôi Thái Cực.

Cảnh vật bể khua hơi lốp cốp,

Thành đài hư nổ tiếng đùng đùng.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

NỖ

Nỗ là dùng hết sức minh, hay cố gắng.

Như: Nỗ lực làm việc, cùng nhau nỗ lực làm việc cho công trình xây dựng Thánh Thất sớm hoàn thành.

Vậy thì các trẻ rán nỗ sức gia công mà tham khảo con đường thâm viễn.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

NỖ LỰC

努 力

Nỗ: Cố gắng. Lực: Sức lực.

Nỗ lực là gắng sức, tức là ra sức mà làm việc. Như: Nỗ lực học tập để thành công trong tương lai.

Sự thành công ấy chỉ do nơi ta mà thôi và chỉ có thể thực hiện nếu chính ta quyết tâm và nỗ lực.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

NỘ

Nộ là giận dữ. Như: Nộ khí, thịnh nộ, đại nộ.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu dạy: Nơi Bạch Ngọc Kinh, hơn 60 năm trước, chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, thấy đại nộ của Thầy, nên ra tình nguyện hạ thế cứu đời.

Muốn ngón hay đừng thẳng dây đờn,

Ngọt với vợ còn hơn quờn thịnh nộ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NỘ KHÍ

怒 氣

Nộ: Giận. Khí: Chất vô hình trong con người.

Nộ khí là khí giận trong con người nổi lên.

Thành ngữ Việt Hán có câu: “Nộ khí xung thiên 怒 氣 衝 天” là có ý nói khí giận trong con người xung lên tới Trời, chỉ sự giận dữ.

Hộ Pháp Hiền Hữu chẳng nên nộ khí lắm.

(Đạo Sử).

 

 

NỐI

1.- Nối là làm cho cái bị đứt hoặc phần tách rời được liền lại với nhau.

Như: Nối đoạn chỉ bị đứt, nối đường dây liên lạc, nối hai toa xe lửa.

Ðường tơ đã đứt đừng toan nối,

Ðạo đức thìn lo trở lại ngôi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Kinh luân đứt nối khó truyền,

Gãy câu Khương Tử, đắm thuyền Ngư Công.

(Ngụ Đời).

2.- Nối là tiếp theo, tạo một sự liên tục.

Như: Nối dài thêm sợ dây, nối bước cha ông, nối theo bén gót, nối hương lửa.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Thân Nghiệp, Ý Nghiệp, Khẩu Nghiệp gọi là tam nghiệp làm cho con người luân hồi từ kiếp này đến kiếp khác. Cứ nghiệp trước tàn, nghiệp sau nối kế tiếp không ngừng, đó là do nơi tâm tạo.

Thiệt thòi bấy phận không con nối,

Thấy rứa lòng Ta cũng chẳng đành.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

Dìu dắt đàn em sau nối gót,

Con đường đạo đức bước càng lên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NỐI BƯỚC

Nối: Tiếp theo. Bước: Dời chân đi.

Nối bước là tiếp nối theo bước chân đi, tiếp bước.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Bát Nương Diêu Trì Cung có câu: Đường đã vạch sẵn, chỉ nối bước từ từ theo khuôn linh để kềm chế trược tánh của Chức sắc Hành Chánh vững vàng thanh bạch, đó là giúp cho họ một phần lớn chớ không phải nhẹ giá trị họ đâu mà ngại.

Đường tu nối bước cho quen,

Xa trần tăm tối cận đèn Thiêng Liêng.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

NỐI DÂY

Nối dây, bởi chữ “Tục huyền 續 弦”, là nối lại sợi dây đàn đã đứt.

Trong văn chương, người ta thường ví vợ chồng như hai cây đàn cầm và đàn sắt hoà nhau. Vì vậy, vợ chết gọi là “Đoạn huyền 斷 弦” (đứt dây). Đàn ông cưới lại người vợ khác gọi là “Tục huyền 續 弦” (hay nối dây).

Xem: Nối huyền.

Ca cầm đoạn tuyệt xin gìn giữ,

Đừng tựa cây đàn tiếp nối dây.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

NỐI DÒNG

Nối: Làm cho tiếp liền, tạo ra sự liên tục. Dòng: Dòng họ, dòng dõi.

Nối dòng, như chữ “Nối dõi”, là tiếp tục dòng dõi của ông cha, tức nối tiếp dòng họ để truyền kế lâu dài.

Trong quyển Đạo Sử, bài “Bia Kỷ Niệm Đức Cao Sĩ Thượng Phẩm” có câu: Cao Quân người Nam Kỳ, xuất thân tại tỉnh Tây Ninh, nối dòng trâm anh, vốn nhà thi lễ, phẩm hạnh mực thước, tánh chất siêng năng, học hỏi thông minh, thành danh khi tuổi trẻ.

Đừng làm nhục tổ hổ tông,

Lập thân trả hiếu nối dòng truyền hương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NỐI ĐIÊU

Nối: Tiếp liền nhau. Điêu: Con điêu.

Nối điêu là nối lông con điêu, ý nói khiêm chỉ sự bắt chước mà nối tiếp công việc của người khác.

Ngày xưa, các quan Ngự sử dùng lông đuôi con điêu để gắn trên chóp mũ.

Khi chức quan Ngự sử được phong quá nhiều, trong khi đuôi con điêu không đủ để làm chóp mũ nữa, nên có mới câu: Điêu bất túc, cẩu vĩ tục 貂 不 足, 狗 尾 續, nghĩa là đuôi con điêu không đủ để làm mũ, thì lấy đuôi chó mà thêm vào.

Trong thơ ca, người ta thường dùng hai chữ “Nối điêu” để nói về hoạ thơ lại, một cách khiêm nhường.

Nghĩa bóng: Bắt chước một cách vụng về.

Cứ lần lần năm đạo nối điêu,

Ít tài đức tuỳ theo hành đạo.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NỐI GÓT

Nối: Tiếp theo. Gót: Phần sau cùng của bàn chân.

Nối gót là theo gót, tức tiếp liền theo sau để tiếp tục sự nghiệp của lớp người trước.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Thật là quyền năng Chí Tôn vô đối, khi ban cho Qua không bao lâu mà lập thành được Hội Thánh Phước Thiện, tức nhiên là Hội Thánh Hiệp Thiên Đài, thì bây giờ đây đã có mấy em sẽ nối gót phụng sự Hội Thánh Phước Thiện chung lo gánh vác cơ cứu khổ để thay thế cho Qua gần gũi chúng sanh để phụng sự, gánh sự khổ não của con người thì thấy rằng: Chí Tôn đã giúp cho Qua thêm được nhiều tay chơn để lo cứu khổ cho mau ra chơn tướng.

Các em con chỉ để con ngươi,

Coi con bước mấy dời nối gót.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Lời đã dặn có Trời nối gót,

Lập ngôi Thiên rưới giọt từ bi.

(Tứ Nương Giáng Bút).

 

 

NỐI HẬU

Nối: Tiếp nối, hay kế truyền. Hậu: Về sau.

Nối hậu là nối tiếp về sau.

Nói hậu, như chữ “Nối dõi”, là tiếp tục dòng dõi của ông cha. Hai vợ chồng giàu có nhưng không con nối hậu.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn viết: Tiếng tục thường nói rằng: “Dài dòng cả họ”, nên Tông tộc nào dài dòng cả họ thì hạnh phúc đáo để, trước phong hoá mà được dài dòng cả họ thì được tôn trọng vô đối, tức nhiên buộc đạo nhơn luân phải gắt gao; khi cưới vợ ba năm mà không sanh con trai nối hậu thì đàng trai đặng phép để bỏ và lập thứ.

Thảng như phụ nữ kia không con nối hậu thì Thầy cũng rộng cho đặng phép cưới thiếp song chính mình chánh thê đứng cưới mới đặng.

(Tân Luật).

 

 

NỐI HƯƠNG LỬA

Nối: Tiếp nối theo. Hương lửa: Hay lửa hương, do chữ “Hương hoả 香 火” là nhang đèn, dùng để chỉ sự thờ cúng Tổ tiên.

Nối hương lửa là tiếp nối truyền việc hương hoả, tức kế truyền phụng sự Tổ tiên.

Nối hương lửa nhơn luân đạo trọng,

Con gìn câu chết sống trọn nghì.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

NỐI LỬA HƯƠNG

Nối: Tiếp nối theo. Lửa hương: Hay hương lửa, do chữ “Hương hoả 香 火” là nhang đèn, dùng để chỉ sự thờ cúng Tổ tiên.

Nối lửa hương, như chữ “Nối hương hoả”, là tiếp nối truyền việc kế truyền phụng sự Tổ tiên.

Xem: Nối hương lửa.

Vợ già yếu gái thời ngây dạy,

Nối lửa hương ngó lại vắng người.

(Văn Tế Bảo Đạo).

 

 

NỐI LỬA TRUYỀN HƯƠNG

Nối truyền: Kế truyền theo người xưa. Lửa hương: Chỉ sự thờ cúng Tổ tiên hay ông bà.

Nối lửa truyền hương là nói con cháu tiếp nối phụng thờ ông bà tổ tiên.

Thành danh đạt nghiệp ngời tên tuổi,

Nối lửa truyền hương phỉ mẹ cha.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

NỐI GIÁO

Nối: Tiếp nối theo. Giáo: Một loại khí giới thời xưa, cán dài, mũi nhọn bằng sắt, dùng để đâm.

Nối giáo, do thành ngữ “Nối giáo cho giặc”, ý chỉ hành động tiếp tay cho giặc. hoặc giúp đỡ khuyến khích kẻ có hành động sai trái.

Quân vọng ngoại hàm hồ nối giáo,

Bọn xâm lăng ngụy tạo giấu tờ.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

NỐI TÔNG TỔ

Nối: Tiếp nối, hay kế truyền. Tông tổ 宗 祖: Tổ tiên của giòng họ.

Nối tông tổ là nối dõi Tổ tiên, hay nối dõi gia tộc để phụng thờ Từ đường tổ phụ.

Nối Tông Tổ biết bao nghĩa trọng,

Cơ nghiệp còn lưu mộng tang du.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

NỐI TÔNG MÔN

Nối: Tiếp nối, hay kế truyền. Tông môn 宗 門: Chỉ gia tộc, tức dòng họ.

Nối Tông môn, đồng nghĩa với câu “Nối Tông tổ”, là tiếp nối tổ tiên để chăm lo hương lửa của dòng họ.

Xem: Nối Tông tổ.

Nối tông môn dài đến cửu lưu,

Nếu chẳng giữ thước cưu pha lẫn giống.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NỒI

Nồi là đồ dùng bằng đất nung hay kim loại, có lòng sâu, để đun nấu thức ăn. Như: Nồi nào úp vung nấy, ăn coi nồi, ngồi coi hướng.

Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy Bà bạn đời của Ngài Lê Văn Trung có câu: Ðường thị! Thầy giao phe Nữ cho con lập thành. Chẳng phải vì đàn bà mà sớm nồi cơm, chiều trả cháo hoài.

Chưa no buổi sớm, lo nồi tối,

Cái kiếp oan kia khá dứt lần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Đừng than rằng mạng bạc như vôi,

Mua vung chẳng nhắm nồi miệng méo.

(Phương Tu Đại Đạo).

Chán bấy những phường xu cách mạng,

Dựa thân công tử giữ nồi xôi.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

NỒI DA XÁO THỊT

Hay “Nồi da”.

Nồi da: Lấy da làm nồi. Xáo thịt: Nấu thịt với nhiều nước và các loại rau gia vị.

Nồi da xáo thịt hay “Nồi da”, do thành ngữ Việt Hán là “Bì oa chử nhục 皮 鍋 煮 肉”, tức là lấy nồi bằng da để xáo thịt.

Do câu chuyện người thợ săn, khi săn được thú, thường lấy da làm nồi để nấu thịt, ý chỉ anh em ruột thịt mà nỡ hãm hại lẫn nhau.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Người ta dám giết lẫn nhau vì số tiền một vài trăm đồng, hoặc tạo cảnh nồi da xáo thịt vì bát cơm manh áo.

1.- Nồi da xáo:

Căm hờn độc lập nồi da xáo,

Tức tối hoàn đồ đẫm máu xương.

(Thơ Thượng Trí Thanh).

2.- Nồi da:

Gương trước “nồi da” sao chẳng nhớ,

Tuồng nầy “củi đậu” thật không ngờ.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

NỒI KÊ

Nồi: Dụng cụ nấu thức ăn. Kê: Hạt kê, một loại lương thực màu vàng, gọi là Hoàng lương.

Nồi kê là nồi nấu hạt kê vàng.

Do điển tích: Lữ sinh đi thi không đỗ, khi về vào một quán trọ nghỉ ngơi, thấy người chủ quán đang nấu nồi kê vàng (hoàng lương). Lữ sinh nằm ngủ quên, bèn chiêm bao thấy mình thi đỗ, làm quan rồi cưới vợ, sinh con đẻ cháu, nối nhau làm quan vinh hoa phú quý vô cùng. Chợt khi tỉnh dậy, Lữ sinh thấy mất tất cả, cuộc đời chẳng khác giấc mộng huỳnh lương, tức là giấc mộng ngắn ngủi, đến nỗi nấu hạt kê vàng mà vẫn chưa chín.

Nồi kê dùng để chỉ công danh phú quý chỉ là giấc mộng ngắn ngủi, mà người đời gọi đó là “Mộng huỳnh lương”.

Eo óc vẳng nghe gà gáy sáng,

Sáng thêm ngày nữa lửa nồi kê.

(Thơ Hi Đạm).

 

 

NỒI NIÊU

Nồi: Đồ dùng bằng đất, bằng đồng để đun nấu. Niêu: Loại nhồi nhỏ, nấu đủ cho một người ăn.

Nồi niêu là tiếng dùng để chỉ chung về nồi nấu ăn. Như: Phải rửa nồi niêu chén bát cho sạch sẽ.

Vợ dầu buồn cũng rán theo chiều,

Con tắm rửa nồi niêu cho sạch sẽ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NỒI XÔNG

Nồi: Đồ dùng bằng đất, bằng đồng để đun nấu. Xông: Để hơi hoặc khói vật gì đốt, nấu bốc vào thân người.

Nồi xông là nồi nước trong đó có lá cây thuốc hoặc vị thuốc được nấu cho xôi, dùng đưa hơi thuốc vào người để giải độc trừ bệnh.

Cơn sản sanh bếp lửa nồi xông,

Nuôi con dại, vợ bồng, chồng dắt.

(Phương Tu Đại Đạo).

Sắp đặt trước đừng lòng dụ dựa,

Lo sẵn sàng bếp lửa nồi xông.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NỔI

1.- Nổi là lềnh bềnh trên mặt nước, trái với chìm. Như: Bèo nổi, thuyền nổi trên sông.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có đoạn: Biển khổ đã lắm nổi chìm, mà nhành dương liễu chẳng mau vói níu, đoạ trầm luân chưa chịu thoát, mà điều tình tội lại chác thêm, buộc thảm đeo phiền, cũng tự mình tác tệ, chờ ăn năn rất muộn về sau. Khá hiểu lấy.

Khuôn thuyền Bát Nhã chẳng hề chìm,

Nổi quá như bông, nặng quá kim.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nấu trách canh đổ nước nổi thuyền,

Kho trã mắm nát nghiền xương cá.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Nổi là dậy lên. Như: Nổi sóng, nổi gió, nổi giận.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Cái quyền sở hữu của mình là thiên hạ thiếu nợ mình, thì mình đòi cần gì phải đánh lộn với họ, cứ chiếu giấy tờ ra mà đòi, nếu không trả thì kiện, chớ đánh kẻ thiếu nợ thì nó nổi khùng đánh lại, nó có chịu thua mình đâu, rồi nó không chịu trả mới làm sao nó?

Phòng cơn bình địa nổi phong ba,

Con nhớ ngày nay đã có nhà.

(Đạo Sử).

3.- Nổi là được, kham, cất lên được. Như: Không chịu nổi, nhắc không nổi quả tạ.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Thầy dạy các con một điều là biết tranh đấu cùng Thầy. Hễ nó tấn thì mình chống, cân sức cho bằng hay là trổi hơn mới đắc thắng. Các con chịu nổi thì Ðạo thành, còn các con ngã thì Ðạo suy. Liệu lấy!

Chuyển nổi Càn khôn xây võ trụ,

Nhẹ nâng nhựt nguyệt chiếu Ðài Vân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Còn không lưu lại lời hiền,

Mưu chi gỡ nổi thảm phiền đạo thê.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NỔI GIẬN

Nổi: Phát sinh ra đột ngột, thường thành cơn. Giận: Bất bình mà sinh ra tức bực.

Nổi giận là cảm thấy rất giận và có những phản ứng mạnh mẽ, thành cơn, không kềm lại được.

Như: Chạm tự ái nên Anh ấy nổi giận lên.

Nhưng, trong gia đình cũng không chiều được cậu chỉ kiêng có cha mẹ thôi, ngoài ra không kể ai cả, nổi giận là cậu đánh đập liền.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

NỔI LOẠN

Nổi: Phát sinh ra thành đợt, thành cơn một cách đột ngột. Loạn: Làm rối, làm cho không yên ổn.

Nổi loạn, như chữ “Dấy loạn”, là nổi lên làm loạn, làm giặc, làm cho mất an ninh.

Như: Trong đám quần thần, nhiều người có âm mưu muốn nổi loạn.

Hoạ nổi loạn khốc liệt thế nào, cả nòi giống đổ máu vô lối dường bao, hỏi do tại đâu?

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

NỔI TAM BÀNH

Nổi: Phát sinh ra thành đợt, thành cơn một cách đột ngột. Như: Nổi giận, nổi lửa. Tam bành: Ba vị hung Thần trong con người, một ở óc, một ở trán, một ở bụng, hay làm hại người. Thường dùng để chỉ cái hung tợn của người đàn bà.

Nổi Tam bành là nổi cơn giận ghê gớm, tức ở tình trạng bực tức dữ dội dẫn tới hành động quaahy phá đánh đập lung tung.

Nổi tam bành xô hất khỏi mùng,

Chừng ấy khóc lo chung xuống ghế.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NỔI TRÔI

Nổi: Nằm trên mặt nước hay một chất lỏng nào đó. Trôi: Di chuyên mội cách tự nhiên theo dòng nước.

Nổi trôi, như chữ “Trôi nổi”, là nổi trên mặt nước và trôi lênh đênh, không có hướng nhứt định. Như: Lục bình nổi trôi trên dòng nước.

Nổi trôi còn có nghĩa là sống vất vưởng nay đây mai đó, không ổn định.

Ôi! Thương nhiều phen phải chịu ngậm ngùi,

Thấy thân trẻ nổi trôi biển khổ.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Mảng đeo đai hai chữ vận thời,

Như bèo bọt nổi trôi giòng khổ thuỷ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NỖI

Nỗi là cớ sự, tình cảnh, từ dùng để chỉ từng tâm trạng, trạng thái tình cảm cụ thể, mà con người trải qua. Như: Nỗi buồn, ai làm nên nỗi.

Thánh giáo Thầy có câu: Ðường đi cũng còn dài, bước Ðạo còn nhiều nỗi trắc trở, nếu chẳng để dạ nương nhờ lấy nhau. Một mai các con phải xa vắng lời Thầy truyền nhủ thì các con phải trở ra thế nào nữa?

Nỗi mình tâm sự tỏ cùng ai,

Mạng bạc còn xuân uổng sắc tài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nỗi phận vô duyên phận chẳng đành,

Trách ai mộ thói yến cùng anh.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

NỖI LÒNG

Nỗi: Từ dùng để chỉ từng tâm trạng, trạng thái tình cảm cụ thể. Lòng: Lòng dạ, biểu tượng cho tâm lý tình cảm.

Nỗi lòng là chỉ tâm tư tình cảm sâu kín. Như: Nỗi lòng của bà thương con.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Lạ thay! Ðức Cao Thượng Phẩm và Ðức Quyền Giáo Tông biết nỗi lòng Chí Tôn khi Người nói hai chữ cứu khổ.

Mượn bực cung thương mở nỗi lòng,

Dạo đàn khuây khoả dựa thơ song.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

NỖI NIỀM

Nỗi: Từ dùng để chỉ từng tâm trạng, trạng thái tình cảm cụ thể. Niềm: Lòng nghĩ, tưởng tới việc gì.

Nỗi niềm là tâm tư tình cảm riêng.

Như: Suốt đêm cô ấy ngồi kể hết những nỗi niềm thầm kín trong lòng.

Nỗi niềm ai ghẹo cho đau,

Tình thương coi lại như màu mây tan.

(Tứ Nương Giáng Bút).

Lầu gần đêm vẳng hồi chuông điểm,

Chạnh nỗi niềm riêng ruột chín chiều.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

NỖI NHỚ NIỀM THƯƠNG

Nỗi nhớ: Tâm tư mang nỗi nhớ mong. Niềm thương: Tình cảm đậm niềm thương yêu.

Nỗi nhớ niềm thương là nỗi niềm nhớ thương, tức là những nỗi nhớ thương riêng mang trong lòng mong được giãi bày.

Mấy lời thi điếu như khêu gợi,

Nỗi nhớ niềm thương quá láng lai.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

NỘI

1.- Nội là cánh đồng. Như: Hoa đồng cỏ nội, trâu ăn ngoài nội, hạc nội mây ngàn.

Thánh giáo Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Có mối Ðạo dìu mình được tự do thiêng liêng, mà cái tự do thiêng liêng ấy, ta hãy làm con hạc nội mới mong chiếm được.

Bụng trống thảnh thơi con hạc nội,

Lúa đầy túng tíu phận gà lồng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Biến thân hạc nội mây ngàn,

Nắm phan Tiếp Dẫn mở đàng Lôi Âm.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Nội là trong, trái với “Ngoại 外” là ngoài. Như: Tôi đi liền nội ngày hôm nay, nội trong mấy người.

Thánh giáo Thầy có câu: Tuỳ theo phong hoá của nhơn loại mà gầy Chánh giáo, là vì khi trước Càn vô đắc khán, Khôn vô đắc duyệt, thì nhơn loại duy có hành đạo nội tư phương mình mà thôi.

Ðã để vào Toà một sắc hoa,

Từ đây đàn nội tỷ như nhà.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðợi bóng thiều xế ngang cửa sổ,

Thành không thì cũng nội năm nay.

(Đạo Sử).

3.- Nội là dòng họ thuộc bên cha, do chữ “Nội tộc 內 族” nói tắt.

Như: Ông nội, bà nội, nhà bên nội, đứa cháu nội, nội ngoại tương tề.

Lui chân kiếm con đường nhà nội,

Lửa đốm nhen dẫn lối thảm trang.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NỘI BỘ

內 部

Nội: Bên trong. Bộ: Thuộc, dưới quyền.

Nội bộ là bên trong của một tổ chức. Như: Giải quyết trong nội bộ.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bây giờ nói đến quyền nội bộ của nước Việt Nam, chúng ta đã bị nước Pháp thu chiếm trên tám mươi mấy năm, giờ phút nầy chúng ta phải đòi quyền sở hữu lại, quyết đòi cho được nắm trong tay thôi.

Lúc bấy giờ Ðạo đương hồi chia rẽ, người thì ra lập chi phái riêng, kẻ thì hô hào bất hợp tác, tìm phương phá rối nội bộ làm cho nhân tâm ly tán.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

NỘI BỘC

內 僕

Nội: Trong, bên trong. Bộc: Đầy tớ.

Nội bộc là đầy tớ trong nhà.

Người xưa thường quan niệm rằng cưới dâu về để có người làm việc lặt vặt trong nhà đáng tin cậy hơn mướn đầy tớ bên ngoài, nên con dâu được người xưa coi như “Nội bộc”, tức là người tớ đáng tin trong nhà.

Tiếng đời ví dâu là nội bộc,

Lại gọi rằng ngoại tộc nữ sanh.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NỘI CHÁNH

Hay “Nội chính”.

1.- Nội: Trong, bên trong. Chánh (chính): Chỉ việc hành chánh, cai trị.

Nội chánh, như chữ “Nội chính 內 政”, là nền chính trị trong nước.

Biết rõ giang san nhiều máu đổ,

Phải lo nội chính đặng nên mầu.

(Bát Nương Giáng Bút).

2.- Nội chánh, như chữ “Nội chính”, còn dùng để chỉ hệ thống hành chánh thuộc nội bộ Đạo Cao Đài.

Toà Nội chánh là cơ quan hành chánh trung ương của Đạo Cao Đài.

Xem: Toà Nội chánh.

Nội Chánh phòng văn chức sắc dùng,

Phổ thông chơn lý Đức Huyền Khung.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

NỘI DUNG

內 容

Nội: Trong, trái với ngoài. Dung: Chứa, đựng.

Nội dung là mặt bên trong của sự vật, cái được hình thức chứa đựng hoặc biểu hiện. Như: Nội dùng tác phẩm.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Đến đây Bần Đạo nói đến việc chỉnh đốn nội dung nền Chánh Trị Đạo trong buổi hỗn tạp này, ta sẽ phân tách ra Đạo và Thế phân biệt, không thể để Thế và Đạo lẫn lộn nhau được, cũng như quyền năng Chí Tôn phân ra tả hữu vậy.

Chỉnh đốn nội dung theo luật lệ,

Gieo truyền Đại Đạo khắp đông tây.

(Thơ Nguyệt Quang).

 

 

NỘI GIÁO TÂM TRUYỀN

內 教 心 傳

Nội giáo: Dạy ở bên trong. Tâm truyền: Truyền thừa bằng tâm pháp bí truyền.

Nội giáo Tâm truyền là một pháp môn dạy ở bên trong những Tâm pháp bí truyền để luyện đạo.

Trong bất cứ một tôn giáo nào cũng đều có hai phần:

- Phần bí pháp, còn gọi là Nội giáo Tâm truyền.

- Phần thể pháp, còn gọi là Ngoại giáo Công truyền.

Trong đạo Cao Đài, Nội giáo Tâm truyền là một bí pháp luyện đạo, được thực hiện trong Tịnh Thất, thuộc trách nhiệm của Hiệp Thiên Đài, mà người nắm bí pháp của đạo là Đức Hộ Pháp.

Nội giáo Tâm truyền là phần Thiên đạo, dành cho những những bậc tu Thượng thừa, sau khi đã hoàn thành phần nhơn đạo và được phép nhập Tịnh Thất dưới quyền của một Tịnh chủ để luyện đạo. Đây là pháp môn Tâm pháp bí truyền, chỉ cách tu tánh luyện mạng mà phản bổn hoàn nguyên, siêu phàm nhập thánh.

Đó là Nội giáo tâm truyền,

Gắng công hành Đạo giữ yên tu hành.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

NỘI HÀNG

Nội: Trong, trái với ngoài. Hàng: Nói chung các thứ hoá vật đem bán.

Nội hàng là hàng hoá nội địa, tức là những thứ hoá vật sản xuất trong nước.

Như: Nhập cảng hàng hoá nước ngoài làm cho nội hàng tuột dốc.

Cửa Sàigòn tính bán áp chế nội hàng,

Gạo bắp chở ngoại bang giành phần xuất cảng.

(Ngụ Đời).

 

 

NỘI LOẠN

內 亂

Nội: Bên trong. Loạn: Lộn xộn, không có trật tự.

Nội loạn là tình trạng nội bộ có biến loạn, hoặc trong nước có loạn.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Chủng tộc duy có một thì Hoàng Đồ chỉ có một. Rồi ta lại thử hỏi: Ai đã gây nên nội loạn ly tán giống nòi? Phải chăng vì năng lực ngoại bang đã gây nạn phân chia tộc chủng.

Phục quốc nhứt triều, triều nội loạn,

Thùy văn khả cứu thế huờn hương.

(Đạo Sử).

Đưa cây Ma xử nên linh,

Trừ an nội loạn mới thành Thiên cơ.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

NỘI LUẬT

內 律

Nội: Trong, bên trong. Luật: Luật lệ, phép tắc.

Nội luật là các luật lệ riêng trong một cơ quan mà mọi người trong cơ quan đó buộc phải tuân theo để cho cơ quan làm việc có trật tự và tiến triển.

Nội luật của một cơ quan nhằm ấn định nhiệm vụ, quyền hạn hay nhiệm kỳ của các chức vụ trong cơ quan và nhất là quy định cách tổ chức, việc trừng phạt hay việc khen thưởng của cơ quan đó.

Nội luật đồng nghĩa với Nội quy, Nội luật thì ấn định luật lệ cho một cơ quan lớn, còn Nội quy thì dành cho sự quy định điều khoản của một cơ quan nhỏ.

Toà Thánh thì có Nội Luật riêng, còn các Thánh Thất thì phải tức cấp lập Nội Luật phân quyền cho rành...

(Đạo Sử).

 

 

NỘI NGHI

內 儀

Nội: Trong, bên trong. Nghi: Nghi lễ cúng kính.

Nội nghi là vị trí nghi lễ bên trong Điện thờ.

Trong Đạo Cao Đài, nơi Đền Thánh Nội nghi là một Bàn thờ đặt ở cấp thứ mười, còn Báo Ân Từ và các Thánh Thất ở địa phương, Bàn Nội nghi đặt cách một khoảng trống trước Chánh Điện Đức Phật Mẫu hay Đức Chí Tôn.

Nội nghi còn dùng để chỉ cái Bàn linh (Bàn vong) của người quy liễu trong lễ tang của Đạo.

Nội nghi Ngoại nghi tựu vị.

(Nghi Tiết Cúng Lễ).

 

 

NỘI Ô

Nội: Bên trong. Ô: Dinh thự, hay cơ quan có xây tường thành bao quanh.

Nội ô tức Nội ô Toà Thánh, là một khu vực có xây tường thành bao bọc chung quanh tại Tây Ninh.

Khu vực Nội ô Toà Thánh gồm 96 mẫu đất, toạ lạc tại xã Long Thành, huyện Hoà Thành, cách Thị xã Tây Ninh chừng 5 cây số, trong đó có ngôi Toà Thánh thờ Đức Chí Tôn, Báo Ân Từ thờ Đức Phật Mẫu và các dinh thự, nơi làm việc của các cơ quan hành chánh trung ương của Đạo Cao Đài.

Châu vi rộng rãi vô cùng,

Đất non trăm mẫu riêng vùng Nội ô.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

Nội ô nay tiết thu về,

Lâng lâng tràng lá bồ đề gió reo.

(Cội Đạo Bốn Mùa).

 

 

NỘI SẢNH

內 廳

Nội: Trong, bên trong. Sảnh: Nhà lớn để thờ phụng hay để tiếp khách.

Nội sảnh là bên trong ngôi nhà lớn dùng để thờ phụng hay tiếp khách.

Nơi nội sảnh trầm hương phưng phức,

Dọc hành lang hoa sực nức mùi.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

NỘI TRỢ

內 助

Nội: Bên trong. Trợ: Giúp đỡ.

Nội trợ là sự sắp đặt, lo liệu các việc bên trong gia đình, ý chỉ những công việc của người vợ giúp đỡ cho chồng hằng ngày trong gia đình.

Như: Công việc của người đàn bà xưa thường là nội trợ, nhưng bây giờ khác rồi.

Phần nội trợ trăm phiền đeo đẳng,

Đạo phụ cơ đã nặng cho mình.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Đừng xem ra phận tiện tỳ,

Quyền trong nội trợ cũng bì đồng nhau.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Cũng có ngày con phải ra riêng,

Lo học tập cho yêu nghề nội trợ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NÔM NA

Nôm: Tiếng nói thông thường của dân Việt dùng trước kia đối với chữ Nho.

Chữ Nôm là thứ chữ dùng nguyên chữ Nho, hoặc lấy hai ba chữ Nho ghép lại để đọc theo tiếng nói của người Việt Nam.

Nôm na có nghĩa là tầm thường, mộc mạc.

Nói nôm na là cách nói của người dân thường, không cao kỳ, khó hiểu.

Mang quằn vai một gánh đạo nhà,

Chia giờ khắc nôm na toan giúp ích.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NÔN

1.- Nôn là buồn, khó nhịn được cười.

Như: Nghe câu chuyện xong, nôn quá nó cười sặc sụa, cả ngày cười nôn.

Lão Lai mặc áo quần như trẻ,

Hát múa cho cha mẹ nôn cười.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

2.- Nôn còn dùng để chỉ ở tình trạng vội, hối hả.

Như: Anh ấy nôn đi cho kịp chuyến tàu, nôn về để gặp gỡ cha mẹ.

Mê muội trần linh tánh lấp chôn,

Thầy dòm thấy lòng nôn ra cứu thế.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

NÔN NAO

Nôn: Sốt ruột, diễn tả một trạng thái tâm lý không yên, lo lắng, trông mong. Nao: Có cảm giác bị chao động nhẹ, khó chịu, hoặc cảm thấy có những xao động nhẹ về tình cảm.

Nôn nao là có cảm giác trong người như bị chao đảo, chóng mặt, buồn nôn.

Nôn nao còn có nghĩa là ở trạng thái xao động trong tình cảm khi đang mong mỏi hoặc nhớ đến điều gì.

Thảo xá nôn nao chờ khách quý,

Hàn lư vò võ ngóng thư tiên.

(Thơ Hoàng Hồ).

 

 

NÔN NÓNG

Nôn: Sốt ruột, diễn tả một trạng thái tâm lý không yên, lo lắng, trông mong. Nóng: Bồn chồn, muốn lập tức.

Nôn nóng là sốt ruột, muốn làm ngay công việc, muốn đạt kết quả ngay. Như: Nôn nóng về nhà.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Cũng bởi con người hay trọng thể xác hơn tinh thần, thể xác đòi hỏi điều gì thì nôn nóng làm cho thoả mãn, bất kể cái hậu quả là thế nào?

Thầy nôn nóng nhưng mà Thiên cơ chẳng nghịch đặng, nên phổ thông trắc trở.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

NÔNG

Nông là chỉ về việc làm ruộng. Như: Nghề nông, nông nghiệp, sĩ nông công thương.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Ngoài ra sự cúng Tổ Tiên, các giới Sĩ, Nông, Công, Thương dùng dịp tạm nghỉ để kiểm điểm việc làm đã qua hầu lo tính công việc sắp tới, tìm phương thế làm cho nghề nghiệp được tinh xảo hơn, sự sản xuất sung túc và tốt đẹp hơn, trước là đem thắng lợi cho mình sau giúp ích xã hội trong mọi phương diện.

Làm ra lúa gạo dày công,

Dầm mưa dan nắng kẻ nông nhọc nhằn.

(Kinh Sám Hối).

Ðiền viên đất nổi lên vàng,

Oằn vai nông chịu muôn ngàn thuế sưu.

(Ngụ Đời).

 

 

NÔNG CẠN

Nông: Không sâu. Cạn: Suy nghĩ hời hợt, không sâu sắc. Như: Cạn nghĩ.

Nông cạn là quá hời hợt, thiếu sâu sắc

Mặc dầu vậy, nhưng sở học của chúng tôi rất nông cạn.

(Giáo Lý).

 

 

NÔNG CANH

Nông: Nghề làm ruộng, hoặc chỉ người làm ruộng. Canh: Cày ruộng.

Nông canh, như chữ “Canh nông 耕 農”, là chỉ việc cày cấy, làm ruộng rẫy.

Nguyện nhớ ơn nông canh nhằn nhọc,

Nguyện ơn người lúa thóc giã xay.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

NÔNG NỔI

Nông: Cạn, không sâu. Nổi: Dậy lên.

Nông nổi là nông cạn, hời hợt, thiếu cân nhắc suy nghĩ trước khi hành động.

Huấn dụ nhân Lễ Bế Mạc Khoá Huấn Luyện Lễ Sanh tại Hạnh Ðường năm Bính Ngọ có câu: Nếu có tánh ích kỷ và ham lợi dụng thì người hành Ðạo có ý thức quá nông nổi. Thoảng như có ai đem một lợi lộc nào mua chuộc để sai khiến mình trong việc bất chánh thì chắc hẳn là họ sẽ bán đồ nhi phế, bỏ cả chức phận để chạy theo. Ðó có khác chi là buông mồi bắt bóng.

Vì đó Phật Học cho cái tâm là cái rất nông nổi, lại đặt cho tâm cái tên là giặc (tâm vi tặc).

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

NÔNG NỖI

Nông nỗi là tình cảnh, sự thể không được như ý muốn. Như: Vì đâu mà ra nông nỗi nầy.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có đoạn: Dưới bóng cờ cứu khổ, dưới bóng cờ nhơn nghĩa, hai bóng ấy tưởng đâu gởi mảnh thân phàm, có thể bảo vệ được! Nhưng ngày nay đã ra nông nỗi, chúng ta buồn duy có bao nhiêu đó mà thôi.

Càng đau chị lại nói ra chi,

Nông nỗi em đây mới gọi kỳ.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Nửa chừng xuân gãy tủi thân ai,

Nông nỗi nghĩ thôi tiếc bấy tài.

(Thơ Thanh Thuỷ).

Sinh ra từ bé đến già,

Biết bao nông nỗi thiết tha khổ nàn.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

NÔNG TANG

農 桑

Nông: Nghề nông, tức nghề làm ruộng. Tang: Cây dâu, trồng dâu nuôi tằm.

Nông tang là nghề làm ruộng và nghề chăn tằm.

Hiện nay chữ Nông tang, nói chung là chỉ về nghề làm ruộng làm rẫy, tức chỉ về nghề nông.

Chồng giàu có ruộng sâu trâu cả,

Sự nông tang lúa mạ phải rành nghề.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NÔNG THÔN

農 村

Nông: Nói về việc làm ruộng. Thôn: Một phần trong xã, làng nhỏ.

Nông thôn là khu vực dân cư tập trung chủ yếu làm về nghề nông, trái với thành thị.

Như: Từ thành thị đến nông thôn.

Huyết mạch nương hình thể Chí Tôn,

Đem cơ truyền giáo tận nông thôn.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

NÔNG TRANG

1.- Nông: nói về việc làm ruộng, làm vườn. Trang: Trại, trang trại.

Nông trang là một từ Hán Việt dùng để chỉ về trang trại làm vườn hoặc làm ruộng.

Như: Cơ sở nông trang của Cơ Quan Phước Thiện.

Theo đà tiến triển đó, tôi ước mong những cơ sở về nông trang và kỹ nghệ sẽ được lần hồi lập thành...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

2.- Nông trang là một từ Nôm, dùng để chỉ sự đôn đốc, thúc giục làm công việc.

Thánh giáo Bát Nương Diêu Trì Cung trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Năm mới, chùa mới, vạn sự đều mới, vậy em đến cầu chúc cho quý anh quý chị đặng những điều mới mẻ may mắn. Tân Xuân đây, quý anh quý chị coi bộ ráng nông trang hành đạo.

Một mặt trung lương ai cũng rõ,

Nông trang ngày cũng rõ anh tài.

(Đạo Sử).

 

 

NÔNG VIỆN

農 院

Nông: Việc làm vườn ruộng. Viện: Toà nhà lớn.

Nông Viện là một trong Cửu Viện của Cửu Trùng Đài, có nhiệm vụ tổ chức, quản lý hay đôn đốc việc làm ruộng rẫy, sản xuất lúa gạo, rau quả để làm lương thực và thực phẩm cho các Chức Sắc và nhơn viên công quả hành đạo dùng.

Đứng Đầu Nông Viện là vị Thượng Thống Nông Viện do một vị Chức sắc phẩm Phối Sư cầm quyền, có các vị Phụ Thống, Quản Văn Phòng và Thơ ký giúp việc. Nông Viện được đặt dưới quyền của vị Thượng Chánh Phối Sư.

Có một vị Chánh Phối Sư (Phái Thượng) cầm đầu điều khiển. Dưới vị nầy có ba viện: a)- Học Viện, b)-Y viện, c)- Nông Viện.

(Toà Thánh Tây Ninh).

 

 

NỒNG

1.- Nồng nghĩa bóng là đậm đà, tức có những biểu hiện tình cảm thiết tha, khăng khít.

Như: Tình nồng, duyên nồng, nồng nàn.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Chúng ta được sống trong vòng đạo đức nghĩa nhơn dưới bóng yêu thương của Ðức Chí Tôn Ðại Từ Phụ, một đời sống của kẻ lánh giả tầm chơn, tuy đạm bạc trong bữa muối dưa nhưng nồng đượm nét trong sạch thanh cao.

Niềm thủ túc đã đành vĩnh biệt,

Càng nhớ nhau càng tiếc tình nồng.

(Kinh Thế Đạo).

Đường tổ nghiệp nữ nam hương lửa,

Đốt cho nồng từ bữa ba sanh.

(Kinh Thế Đạo).

2.- Nồng là mùi hăng, gắt quá, tức có độ nóng, độ đậm ở mức rất cao.

Như: Rượu nồng, hương nồng, vôi nồng, giấc nồng, hương bay nực nồng.

Hơi Tiên tửu nực nồng thơm ngọt,

Phi Tưởng Thiên để gót tới nơi.

(Kinh Tận Độ).

Thu phòng học chước thu không,

Đốt hương cho ấm cho nồng phòng tiêu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

3.- Nồng là nói về trạng thái thời tiết, có độ nóng ẩm, lặng gió và nhiều mây, gây cảm giác ngột ngạt.

Như: Trời nồng, thời tiết mùa hạ nắng nồng, không khí oi nồng.

Bóng trải diềm dà xuân đợi chúa,

Tiết nồng thơ thới hạ khoe sen.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Buồn nước lạnh đông khôn quét tuyết,

Thương dân nồng hạ khó làm mưa.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

NỒNG HẠ

Nồng: Nói về trạng thái thời tiết, có độ nóng ẩm, lặng gió và nhiều mây, gây cảm giác ngột ngạt. Hạ: Nùa hè.

Nồng hạ là nói nắng mùa hè oi nồng, ngột ngạt.

Nồng hạ Trời thương đưa gió quạt,

Nắng thu đất cảm đổ mưa chan.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NỒNG MẶN

Nồng: Có những biểu hiện mãnh liệt. Mặn: Đậm đà, nồng nàn.

Nồng mặn, như chữ “Mặn nồng”, tỏ ra có tình cảm hay tình nghĩa, thắm thiết, đậm đà, khó phai lạt.

Xem: Mặn nồng.

Tình chung thuỷ ví dầu nồng mặn,

Lại nhờ ai lên thẳng mối tơ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NỒNG NÀN

Nồng: Có những biểu hiện mãnh liệt.

1.- Nồng nàn là đậm mùi một cách dễ chịu.

Như: Mùi thơm nhang trầm rất nồng nàn, men rượu nồng nàn.

Men rượu nồng nàn chung rượu thánh,

Vần hoa rực rỡ mảnh hoa tiên.

(Thơ Thuần Đức).

2.- Nồng nàn là tha thiết và sâu đậm.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Còn Nữ phái nên coi tánh đức của Mẹ mà làm gương tu tỉnh, lạ gì những tánh thường tình thế gian, đàn bà ăn hiếp chồng, thất kính với chồng, bỏ con trẻ bơ vơ, chẳng qua là họ không thọ bẩm cái tình thương yêu nồng nàn của Mẹ vậy.

Phải có những người giàu lòng bác ái, dẫy đầy huyết quản thương đời, chan chứa tính vị tha, nồng nàn tình đồng loại thì kẻ xấu số mới được gội nhuần ân huệ.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

NỘP

Nộp là đưa cho người có trách nhiệm thu giữ, theo quy định.

Như: Nộp thuế kinh doanh, đem đơn vào toà án nộp, tiền nộp phạt.

Xay giả xong, một phần ba nộp cho triều đình, hai phần ba để cho hương đảng.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

NỞ

1.- Nở là xoè mở một cách tự nhiên. Như hoa nở, sen nở, nở nụ cười, nở nang.

Thánh giáo Thầy có câu: Lần lựa cúc xủ sương tan, mai gầy sen nở, ngày tháng qua chẳng là bao mà thế thái nhơn tình biết bao thay đổi!

Sen tàn cúc nở qua ngày tháng,

Nhặt bước đường hoa đến cội tùng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Liên trì mai nở sắc sen xưa,

Cải ác ngày nay nghĩ cũng vừa.

(Đạo Sử).

2.- Nở còn có nghĩa bóng là thư sướng, tươi tỉnh.

Như: Nó nói làm cho mình nở gan nở ruột, hành động tốt được nở mặt nở mày.

Bóng dương tỏ rạng lố chơn mây,

Ðầm ấm hơi xuân nở mặt mày.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tảo tần con khá gắng chung lo,

Ðẹp thiếp mới ra nở mặt trò.

(Đạo Sử).

Nở mặt Tông đường gìn đạo đức,

Nên mình là biết phận làm trai.

(Đạo Sử).

 

 

NỞ MÀY

Nở: Xoè mở ra, rạng rỡ lên. Mày: Hàng lông mọc trên con mắt, chỉ chung mặt mày.

Nở mày, như chữ “Nở mặt”, là làm cho vẻ vang, rạng rỡ mày mặt, tức đẹp mặt đẹp mày.

Thánh giáo Đức Quan Âm Như Lai có dạy: Nhiều đạo muội chẳng để trọn lòng về nền Ðạo. Phải rán công thêm nữa đặng làm cho đáng nét yêu dấu của Ðấng Chí Tôn cho nở mày khách quần thoa cõi Việt.

Đứng làm trai dầu toại chí trai,

Không vợ ngõ khó nở mày trang tuấn kiệt.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NỞ NANG

Nở: Mở ra, tăng thêm. Nang: Túi đựng đồ vật.

Nở nang là thân thể hoặc bộ phận con người được phát triển một cách đầy đặn.

Nở nang còn có nghĩa là mở mang, có sự phát triển rộng ra, nhiều thêm về phạm vi, tầm cỡ, trình độ.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Thầy có dạy: Luôn dịp, Thầy nói cho các con biết: Cúng Tứ thời có ích cho các con lắm, chớ không phải ích chi cho Thầy. Nếu cúng được thường thì lòng dạ nở nang, tứ chi luân chuyển, có nhiều khi tật bịnh tiêu diệt.

Nếu lòng nhân ái không được nở nang đầy đủ thì nó như cái hoa héo trước khi nở.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

NỠ

Nỡ là đang tâm, tức bằng lòng làm cái việc mà người có tình cảm không thể làm. Như: Nỡ làm hại nhau.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Ôi! Thầy vì mấy chục ức nguyên nhân, không nỡ để cho ngôi phẩm tan tành, chớ lấy luật Thiên thơ thì không một ai dự vào kim bảng.

Thấy hình khổ dạ ta đâu nỡ,

Khuyên làm lành trừ đỡ tội căn.

(Kinh Sám Hối).

Ðứa nên ai lại nỡ làm hư,

Con cũng có công đức đến chừ.

(Đạo Sử).

 

 

NỢ

1.- Nợ là cái vay, mượn phải trả mà chưa trả. Như: Mượn nợ, mắc nợ, trả nợ.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Mỗi phen Thầy đến lập Ðạo thì là phải cam đoan và lãnh các con, chẳng khác nào kẻ nghèo lãnh nợ.

Thiệt thì bỏ, giả vay nên nợ,

Mãn căn sanh chưa mở dây oan.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Văn chương chi nữa thẹn râu mày,

Nợ cũ trang rồi nợ mới vay.

(Thơ Hoàn Nguyên).

2.- Nợ còn có nghĩa là phải đền đáp, tức những điều mang ơn phải trả mà chưa đền trả được.

Như: Nợ nước, nợ nhà, nợ sinh thành, nợ thế gian.

Những ngỡ trao duyên vào Ngọc các,

Nào dè phủi nợ xuống Tuyền đài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Lộc nước gắng đền công chín tháng,

Nợ nhà tua vẹn gánh hai vai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trăm năm lẩn quẩn đường nhơn nghĩa,

Một kiếp đeo đai mối nợ tình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Nợ là cái bận bịu, tức cái coi là nỗi khổ đeo đẳng, chỉ có tác dụng gây phiền phức và muốn dứt bỏ đi mà chẳng dứt bỏ được. Như: Của nợ, nợ đời.

Ca dao có câu: Chồng gì anh, vợ gì tôi, Chẳng qua là cái nợ đời chi đây.

Hay sợ khổ sanh ly tử biệt,

Nên tìm phương dứt tuyệt nợ đời.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NỢ DÂU TẰM

Nợ: Bổn phận phải lo trả. Dâu tằm: Con tằm ăn lá cây dâu.

Nợ dâu tằm ý chỉ món nợ giữa lá dâu và con tằm.

Con tằm hằng ngày ăn lá dâu mà sống, nên nó phải nhả tơ để đền món nợ đó.

Thân thế sắp vùi câu sự nghiệp,

Văn chương chưa trả nợ dâu tằm.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

NỢ DUYÊN

Nợ: Bổn phận phải trả. Duyên: Mối dây ràng buộc.

Nợ duyên, hay duyên nợ, là mối dây ràng buộc do nợ nần tạo ra từ kiếp trước của người vợ lẫn người chồng.

Hay nói cách khác, do nghiệp lực của tiền kiếp lôi kéo cho hai người nam nữ phối hiệp nhau để tạo nên hạnh phúc, gọi là duyên, hay đền trả oan trái khổ đau, gọi là nợ.

Ở trước mặt Hồng Quân định phận,

Đạo vợ chồng đã xứng nợ duyên.

(Kinh Thế Đạo).

Tịnh tâm con khá gắng công tu,

Cái nợ duyên kia chớ vận trù.

(Đạo Sử).

Nhà Nam hương lửa ba sinh đắp,

Đất Việt nợ duyên bốn cõi nhờ.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

NỢ ĐỜI

Nợ: Bổn phận phải trả. Đời: Cõi đời.

Nợ đời là món nợ mà mình phải trả cho đời, tức trả cho thế gian.

Nợ đời là các món nợ mà mình vay khi làm người sống ở cõi thế gian. Muốn dứt tuyệt nợ đời, chỉ có con đường tu hành đắc quả để không bao giờ luân hồi xuống cõi thế gian này nữa.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Có người được thời may, có kẻ gặp vận rủi và bởi nơi số kiếp nên biết bao nhiêu khách trần phải ngậm đắng nuốt cay, gian truân vất vả vì gánh nợ đời.

Xem: Nợ thế.

Chàng dầu cung Ngọc an ngôi,

Xin thương thân thiếp nợ đời còn mang.

(Kinh Thế Đạo).

Khối trái chủ nhẫng lo vay trả,

Mới gầy nên nhân quả nợ đời.

(Kinh Tận Độ).

Trót đã đa mang cái nợ đời,

Gánh đời nặng lắm khách đời ơi!

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NỢ NẦN

Nợ: Bổn phận phải trả.

Nợ nần là nói chung những món nợ thiếu trước đây mình vay của người mà chưa trả được.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Ví dụ cờ bạc gây ra cái quả thiếu hụt, nợ nần, vì thiếu hụt phải lường gạt hay trộm cắp; trộm cắp gây ra cái quả lao tù.

Ngước trông níu ngọn phất trần,

Chổi Tiên quét sạch nợ nần oan gia.

(Kinh Thế Đạo).

Kìa xem có phải nợ trần,

Đem may đổi lấy nợ nần đau thương.

(Cửu Nương Giáng Bút).

Cảnh Thiên trở gót hồi ngôi vị,

Tuồng thế may duyên dứt nợ nần.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

NỢ NƯỚC

Nợ: Tiền phải trả, bổn phận phải đền. Nước: Quốc gia, chỉ đất nước.

Nợ nước nghĩa là nợ của đất nước, ý muốn nói con người đã được sinh ra thì phải mang lấy nợ của quốc gia, dân tộc, đó gọi là nợ Quốc vương thuỷ thổ.

Người trung trực lo âu nợ nước,

Hưởng lộc vua tìm chước an bang.

(Kinh Sám Hối).

Nợ nước hai vai nặng gánh gồng,

Thần dân phận sự phải lo xong.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nợ nước ơn nhà đôi gánh nặng,

Một lòng son sắt khá cho bền.

(Đạo Sử).

 

 

NỢ TIỀN KHIÊN

Nợ: Bổn phận phải trả. Tiền khiên 前 愆: Điều lỗi lầm ngày trước hay kiếp trước.

Nợ tiền khiên tức là món nợ phải trả do kiếp trước làm nên lỗi mà ra.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Bát Nương có câu: Kể từ buổi kết tập nơi chốn bào thai, mỗi đơn vị nhơn loại đã phải chịu ảnh hưởng của nợ tiền khiên là công chuộc quả của các bậc tiến hoá từ kim thạch đổ lên.

Bãi biển đưa chơn chưa đáng buổi,

Trần hoàn trả vẹn nợ tiền khiên.

(Đạo Sử).

Phải nợ tiền khiên dầu khó nhọc,

Cũng lo trọn đạo vợ chồng hiền.

(Đạo Sử).

Toan để bút ngăn vòng chồng vợ,

Thì lại e nghịch nợ tiền khiên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NỢ THẾ

Nợ: Bổn phận phải trả. Thế: Thế gian, tức đời.

1.- Nợ thế là nợ đời, tức các món nợ mà mình sống ở cõi thế gian phải vay mượn của người và của đời. Nợ thế đồng nghĩa với nơ trần.

Như: Con người khi sinh ra là đã mang món nợ thế.

Một kiếp vì đời tua gắng trả,

Cho rồi nợ thế khỏi ai hoài.

(Hộ Pháp Giáng Bút).

Sanh ký miễn tròn xong nợ thế,

Tử quy nào luống thẹn vầng trăng.

(Thơ Hoàn Nguyên).

2.- Nếu nói dứt nợ thế, xong nợ thế, rồi nợ thế thì chỉ sự chết, tức từ giã cõi thế.

Thực ra, chết chỉ tạm dứt nợ thế, nhưng còn phải luân hồi để trả. Bởi vì xuống thế là phải trả nợ đời, mà mình lại còn vay thêm, thì nợ càng chống chất. Muốn dứt tuyệt nợ đời, chỉ có con đường tu hành đắc quả để không bao giờ luân hồi xuống cõi thế gian này nữa, mới hết nợ.

Xem: Nợ trần.

Chàng đã đặng phủi rồi nợ thế,

Xin hiển linh giúp kẻ goá thân.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

NỢ TRẦN

Nợ: Bổn phận phải trả. Trần: Cõi trần, cõi đời.

1.- Nợ Trần, đồng nghĩa với nợ thế, là nợ đã vay khi sống ở cõi trần.

Như: Người tự vận là muốn trốn cái nợ trần.

Gồng gánh hai vai nặng nợ trần,

Có thân âu hẳn khổ cho thân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Kinh luân chi dễ an thân phận,

Hồ hải tính mong lánh nợ trần.

(Thơ Ca Bảo Đạo).

2.- Dứt nợ trần, giũ sạch nợ trần chỉ sự chết.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Trải thân hữu dụng để phục vụ cho Ðạo và nhân sanh hay lấy chí anh phong để phụng sự quốc gia, giữ gìn biên cương lãnh thổ, khi nợ trần giũ sạch, nhục thể trả lại cho lòng đất thì dù Ðạo hay Ðời, những linh hồn bất diệt cũng đều được hưởng sự ban thưởng Thiêng Liêng, quy hồi cựu vị trong cõi Thần Thánh Tiên Phật.

Xem: Nợ thế.

Nắm cây huệ kiếm gươm thần,

Dứt tan sự thế nợ trần từ đây.

(Kinh Tận Độ).

 

 

NƠI

1.- Nơi là chỗ, chốn. Như: Tìm khắp nơi, nơi ăn chốn ở, đi đến nơi về đến chốn.

Thánh giáo Thầy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển dạy Ngài Nguyễn Văn Kinh có câu: Nếu chẳng đi đến trường Thầy lập mà đoạt thủ địa vị mình thì chẳng đi nơi nào khác mà đắc đạo bao giờ.

Ðạo mầu rưới khắp nơi trần thế,

Ngàn tuổi muôn tên giữ trọn biên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Gần nơi Tiên cảnh phải xa phàm,

Cái kiếp trần nầy trẻ chớ ham.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Nơi nghĩa như chữ “”. Như: Đặt hy vọng nơi anh, học hỏi nơi họ.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Nếu kẻ nào biết hiểu Thánh Ngôn của Thầy nơi miệng các con mà tỉnh ngộ thì số hằng sống nó vốn còn, còn chẳng thì thôi, để cho chúng nó theo tà quái.

Kinh Châu thất thủ nơi Thiên định,

Khiến Hớn vận suy mới đổi thay.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Một ngày thỏn mỏn một ngày qua,

Tiên Phật nơi mình phải ở xa?

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Hồng cấu đã chui thân phải vấy,

Hơn thua cười kẻ biết nơi tiền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NƠI LÒNG THẦY NGỰ

Nơi lòng: Chỉ cái tâm của con người. Thầy ngự: Ý nói chỗ Chí Tôn ngự.

Nơi lòng Thầy ngự, ý muốn nói cái tâm, là nơi ngự của Đức Chí Tôn.

Phật pháp có câu: “Phật tức tâm 佛 即 心” nghĩa là Phật là lòng, tức Phật ở trong chính tự tâm chúng ta không đâu khác, ngoài tâm không có Phật.

Đối với giáo lý Cao Đài, Đức Chí Tôn cho bài thi, trong đó có câu: “Bần sang trối mặc, tâm là quý, Tâm ấy toà sen của Lão ngồi”.

Như vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng tâm là nơi ngự của Đức Chí Tôn và chư Phật, Tiên.

Xem: Bản tâm Thầy ngự.

Nơi lòng Thầy ngự động Thầy hay,

Ngặt nỗi là xưa chẳng thế bày.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NỚI

Nới là làm cho lỏng, cho rộng ra chút ít để bớt căng, bớt chặt, bớt chật.

Như: Nới thắt lưng, mọi người đứng nới ra, bàn mười người quá chật ngồi nới ra.

Trong Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có đoạn: Thánh Thất nhỏ há, Hiền Hữu Thượng Trung Nhựt đáng lẽ Ðại điện nới vào trong mới phải. Hiền Hữu sai kẻ làm song ly bao vòng nới ra cho tới tượng Phật Tổ làm bái đình nghe... Cười...

Theo tình cảm, trước hết ta phải thương những người thân cận như là cha, mẹ, anh, em và gia tộc, thứ nữa ta phải nới rộng tình thương tới cả nhơn loại...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

NỚI TAY

Nới: Làm cho lỏng, cho rộng ra chút ít để bớt căng, bớt chặt. Tay: Cánh tay, bàn tay.

Nới tay là nới lỏng tay, tức không khắc khe, giảm bớt sự nghiệt ngã trong hành động, trong cách đối xử. Như: Đối xử có phần nới tay hơn.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Thầy biết có những chơn linh, vì lãnh mạng tá phàm, mà dìu dắt các con của Thầy, nên chẳng nại công lao khó nhọc, yêu cầu cùng Tam Giáo nới tay cho Thầy cứu rỗi các con.

Đánh đòn khảo kẹp gớm ghê,

Hành hình khổ não chẳng hề nới tay.

(Kinh Sám Hối).

 

 

NỚT NON

Non: Ở vào giai đoạn mới mọc, mới sinh ra, chưa phát triển đầy đủ.

Nớt non, như chữ “Non nớt”, là còn non quá mức, chưa có những sự phát triển cần phải có.

Nớt non còn dùng để chỉ quá trẻ, hoặc quá yếu so với yêu cầu công việc.

Xem: Non nớt.

Thôi đành kiếp nớt non gượng sống,

Sống vì con chẳng sống vì thân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NỤ

1.- Nụ là búp hoa chưa nở, tức bộ phận ở cành cây, hình khum tròn, sắp nở thành hoa.

Nói về ông Joseph, Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Bước ra khỏi Ðền Thánh, ông thấy bông huệ khô héo của ai bỏ, ông lượm lấy đem cậm vào bình, không ngờ thứ huệ rất nên kỳ lạ, những bông nụ nở rồi nó rụng đi, còn bông búp bắt hơi nước sống lại, nở tươi đẹp, còn các thứ hoa khác tàn rụi hết ông phải chịu phép cưới cô Maria.

Chẳng như thiếp nhớ ơn giải cấu,

Mến từ khi mở nụ đào yêu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Bóng trời soi nụ đào hoa,

Thơm tho quốc tuý, điều hoà Việt phong.

(Xuân Hương Giáng Bút).

2.- Nụ, nghĩa rộng dùng để chỉ vật như cái nụ hoa.

Như: Cài nụ áo, miệng nở nụ cười hiền lành, nụ cười đáng giá ngàn vàng.

Em gái út thước tha yểu điệu,

Má đào xinh hàm tiếu nụ cười.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

NÚI

Núi là đá hay đất nổi cao lên thành cồn to ở trên mặt đất. Như: Núi đá, núi đất, núi Bà Đen, triền núi.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có dạy: Sự phổ độ, Thiên cơ đã định, sức người cũng khó lướt qua. Bần Đạo chỉn để lời cho các đạo hữu rõ đặng lưu tâm mà hành sự, chớ con đường tuy chớn chở, triền núi vẫn khó qua, song ngọn đèn Trời đã chiếu tỏ mà dìu dắt các đạo hữu, thì nhiều ít gì rồi sau cũng đến chốn được.

Nhiều gộp núi như đao chơm chởm,

Thấy dùn mình tán đởm rất ghê.

(Kinh Sám Hối).

Kẻ câu chót núi tính nên gì?

Chưa đứng mà toan muốn tính đi.

(Đạo Sử).

 

 

NÚI DĨ

Núi: Đá, đất nổi cao lên thành cồn to ở trên mặt đất. : Còn đọc núi Tỵ, là hòn núi trọc.

Núi Dĩ, đồng nghĩa “Non Dĩ”, là chỉ núi trọc, do trong Kinh Thi có câu: Trắc bỉ Dĩ hề, chiêm vọng mẫu hề 陟 彼 屺 兮, 占 望 母 兮, nghĩa là trèo lên núi trọc kia trông ngóng mẹ vậy.

Núi Dĩ dùng để chỉ về người mẹ.

Xem: Non Dĩ.

Gió lạnh mây sầu giăng núi Dĩ,

Người xưa, bóng cũ khuất non đoài.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

NÚI HỘ MÂY CHE

Núi Hộ: Hay núi Hỗ, chỉ về người cha. Mây che: Do chữ “Vân ám 雲 暗”, chỉ sự chết.

Núi Hộ (Hỗ) mây che, dịch từ bốn chữ “Hỗ sơn vân ám 岵 山 雲 暗”, mà người xưa thường viết để thờ cha.

Kinh Thi có câu: Trắc bỉ Hỗ hề, chiêm vọng phụ hề 陟 彼 岵 兮, 占 望 父 兮, nghĩa là trèo lên núi Hộ chừ, trông ngóng cha chừ.

Núi Hộ mây che dùng để chỉ sự thương nhớ cha đã mãn phần.

Cội huyên sương án trời thu lạnh,

Núi Hộ mây che gió bấc lồng.

(Thơ Cao Hương Cường).

 

 

NÚI LỞ NON MÒN

Núi lở: Non bị sụp lở. Non mòn: Núi bị tiêu mòn.

Núi lở non mòn là núi non sụp lở, dùng để ví tiền của chất cao như non núi, không lo làm ăn chỉ hoang phí thì cũng phải sụp đỗ, tiêu tan như núi lở non mòn.

Chẳng lẽ khó, đem con ra đợ,

Một miệng ăn núi lở non mòn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NÚI LỬA

Núi: Non, có hình thể nổi cao một cách tương đối của đất, đá. Lửa: Nhiệt và ánh sáng phát sinh đồng thời từ vật đang cháy.

Núi lửa là ngọn núi hình chóp nón, có miệng ở đỉnh thường xuyên hay từng thời kỳ phun ra những chất nóng chảy từ lòng đất sâu.

Trong núi lửa bay hơi tanh khét,

Linh hồn người đầy nghẹt trong ngoài!

(Kinh Sám Hối).

 

 

NÚI NON

Núi: Hình thể nổi cao một cách tương đối của đất đá. Non: Cũng như núi.

Núi non là nói chung về núi.

Hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh trong quyển Thiên Đạo có đoạn viết: Đức tin đã mạnh mẽ, thì không một việc gì ở thế gian nầy long lay nó được. Là vì, đã tin chắc ở đạo, chúng ta đem trí lực hăng hái, cả tinh thần cứng rắn mà làm đạo, thế nào chúng ta lại không đủ nghị lực chống chõi bất kỳ một biến cố nào “Đức tin, theo phương ngôn Âu tây, dời cả núi non”.

Trời còn sông biển đều còn,

Khắp xem cõi dưới núi non đượm nhuần.

(Bài Trời Còn).

 

 

NÚI NHƯ ĐAO

Núi: Hình thể nổi cao một cách tương đối của đất đá. Như đao: Giống như ngọn đao.

Núi như đao là nói những mỏm đá núi nhọn nhô ra ngoài tủa ra như đao kiếm dùng để chỉ một thứ hình phạt khốc liệt thời xưa, bắt tội nhân phải lên nằm trên hàng đao kiếm.

Ở đây là nói một hình phạt nơi cõi Âm phủ đê trị những kẻ làm quan chẳng trung với vua, làm tớ không nghĩa với thầy.

Nhiều gộp núi như đao chơm chởm,

Thấy dùn mình tán đởm rất ghê.

(Kinh Sám Hối).

 

 

NÚI Ô LI VÊ

Núi: Hình thể nổi cao một cách tương đối của đất đá. Ô Li Vê: Phiên âm từ chữ Pháp là “Oliviers”tức là “Mont des Oliviers”, chỉ một ngọn núi ở gần thành Jérusalem của Do Thái.

Do điển: Nơi ngọn núi nầy Đức Chúa Jésus Christ đã từng tiên tri về thành Jérusalem sau này sẽ bị tàn phá và về sự tái sinh của Ngài. Trước khi Ngài chết để chuộc tội cho loài người, Ngài có lên núi Ô Li Vê (Mont des Oliviers) để cầu nguyện Đức Thượng Đế tha tội cho nhơn loại.

Núi Ô Li Vê để dấu chân,

Gia Tô Giáo Chủ giải phần hữu sanh.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

NÚI SÔNG

Núi: Hình thể nổi cao một cách tương đối của đất đá. Sông: Sông suối hay sông hồ.

Núi sông, như chữ “Sơn hà 山 河”, chỉ cảnh sông và núi, và để diễn tả đường đi cách trở núi sông.

Sách Quốc sắc thiên hương có câu rằng: Tương thân chỉ xích nhi diểu nhược hà sơn 相 親 咫 尺 而 渺 若 河 山, tức là gần nhau độ một gang một thước mà không được gặp nhau, như cách trở núi sông.

Núi sông còn dùng như chữ giang sơn xã tắc để chỉ đất nước.

Thánh giáo Bát Nương Diêu Trì Cung có câu: Non sông rạng rỡ khách tu my vững dạ đáp đền nợ núi sông, cũng nhờ tài nội trợ ngoại đương của mấy em đó.

Xem: Sơn hà.

Chiều sương cảnh ủ buồn man mác,

Bao thuở thanh bình rạng núi sông.

(Thơ Huệ Giác).

Chiều đông cảnh ủ buồn ghê,

Thanh bình bao thuở quay về núi sông.

(Cội Đạo Bốn Mùa).

 

 

NÚI TỴ

Núi: Đá, đất nổi cao lên thành cồn to ở trên mặt đất. Tỵ (Dĩ 屺): Hòn núi trọc.

Do trong Kinh Thi có câu: Trắc bỉ Dĩ hề, chiêm vọng mẫu hề 陟 彼 屺 兮, 占 望 母 兮, nghĩa là trèo lên núi trọc kia trông ngóng mẹ vậy.

Núi Tỵ, như chữ “Núi Dĩ”, dùng để chỉ về người mẹ.

Xem: Núi Dĩ.

Muôn điểm lờ mờ sương núi Tỵ,

Một vầng hiu hắt ngút mây Tần.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

NÙI

Nùi là một mớ, nắm rơm, tóc, vải, hay giấy được vò chặt để nhóm lửa.

Như: Một nùi dẻ rách, dùng nùi rơm để mồi lửa, xuống ruộng quơ một nùi cỏ.

Trường đình bẻ liễu đau từng đoạn,

Tâm sự vò tơ cuộn một nùi.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

NÚM MỒ

Núm: Như chữ “Nấm”, là mô đất được đắp thành hình tròn, nhỏ thấp. Mồ: Mả, mộ, nơi chôn xác người đã chết.

Núm mồ, như chữ “Nấm mồ”, là một cái mồ, cái mả, trong đó đã chôn thân xác của người chết.

Xem: Nấm mồ.

Chừng cơn phấn lợt hương tàn,

Núm mồ bạc mệnh bên đàng cỏ chôn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NUNG

1.- Nung là đốt nóng trong lò lửa. Như: Nung vôi, nóng như nung, đặt lên bếp nung.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Khối tâm hồn ái quốc ấy hôm nay ước mong nó sẽ là một ngọn lửa thiêng nung sôi tâm hồn của toàn thể Quốc Dân Việt Nam, bỏ thành kiến, bỏ đảng phái hiệp sức cùng nhau để cứu vãn tình thế nước nhà đang lúc nguy vong tan tác.

Lưỡng nghi phân khí hư vô,

Diêu Trì Kim Mẫu nung lò hoá sanh.

(Tán Tụng Công Đức).

2.- Nung, nghĩa bóng làm cho thôi thúc, dồn nén ngày càng nhiều.

Như: Ý định đã nung từ lâu rồi, nỗi buồn ngày đêm nung ruột gan.

Anh tuấn đất gìn nung khí phách,

Uy linh Trời giữ tạc đài liên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Lập chí ôn nhu là đắp lũy,

Nung lòng đạo đức ấy xây đồn.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

NUNG ĐÚC

Nung: Dùng lửa nóng đốt. Đúc: Rèn đúc.

Nung đúc là đốt lửa để rèn đúc vật dụng.

Nung đúc, như chữ “Hun đúc”, chỉ sự rèn luyện, dồi mài, tức tạo nên qua quá trình rèn luyện, thử thách.

Như: Nung đúc tinh thần thanh niên, được nung đúc trong đấu tranh.

Phải khép mình vào khuôn luật để dồi trau hạnh đức, nung đúc tánh tình...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

NUNG LÒ HOÁ SANH

Hay “Nung lò hoá sinh”.

Nung: Đốt cháy. Lò hoá sanh (sinh): Lò đào tạo ra vận vật, do chữ trong bài phú Giả Nghị có câu: “Thiên địa vi lô hề, tạo hoá vi công 天 地 為 爐 兮, 造 化 為 工”, nghĩa là Trời đất làm cái lò, mà Đấng Tạo Hoá làm thợ để đúc nặn ra muôn vật.

Nung lò hoá sanh ý chỉ Đức Phật Mẫu dùng nguơn chất nơi Kim Bàn, Diêu Trì Cung, tựa như chiếc lò sản xuất ra hình hài muôn vật.

Lưỡng nghi phân khí hư vô,

Diêu Trì Kim Mẫu nung lò hoá sanh.

(Tán Tụng Công Đức).

 

 

NUNG NẤU

Nung: Bỏ vào lửa đốt. Nấu: Để lên bếp đun cho chín.

Nung nấu là thúc giục, rèn luyện, hoặc làm cho đau đớn như nấu như đốt. Như: Nỗi phiền muộn ngày đêm nung nấu ruột gan.

Thánh giáo Thượng Phẩm dạy Cao Tiếp Đạo như sau: Anh Quyền Giáo Tông cùng Bần Đạo hằng trông cậy nơi em, gắng để tâm giúp cho hành tàng của Đức Lý được trọn tiếng xưng hô, mặc dầu em lãnh phương diện nào cũng là hữu ích chung cho Đạo, cứ do theo ngọn cờ của Hộ Pháp mà tiến hành, nhứt là buổi nầy, phải nung nấu tinh thần của mỗi Chức sắc cho đầy đủ thì mới thắng được vật chất.

Lòng trần nung nấu trăm mùi khổ,

Biển ái đầy vơi một chiếc thuyền.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Sấn tay nung nấu lò hương lửa,

Chung sức vun bồi cụm trước mai.

(Thơ Thông Quang).

 

 

NŨNG

Nũng là làm ra cái bộ để cho người ta phải thương yêu, chiều chuộng.

Như: Nũng nịu, con bé hay làm nũng mẹ, chị ấy làm nũng với chồng.

Đừng dọ ý chồng thương chiều bụng,

Mà bắt hơi làm nũng đòi bồng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NUÔI

1.- Nuôi là cho ăn uống, chăm sóc để duy trì và phát triển sự sống. Như: Nuôi con, nuôi gà vịt.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Hình chất con người vẫn là thú, phải ăn uống mới nuôi sự sống. Như rượu vào tỳ vị, nó chạy vào ngũ tạng lục phủ hết, thì trái tim con người chẳng khác nào như cái máy chánh để trữ sự sống, cũng phải bị thâm nhập vào làm cho sự lao động quá chừng đỗi thiên nhiên đã định, thôi thúc huyết mạch phải vận động một cách vô chừng, mà làm cho sanh khí nơi phổi chẳng đủ ngày giờ nhuận huyết tinh sạch cho đặng.

Lưỡi lừa miếng nhai cơm lũ trẻ,

Kiêng vật ăn đặng để nuôi con.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Nuôi cả đời nuôi đã mòn hơi,

Còn thêm nỗi ăn chơi gây tội báo.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Nuôi là giữ gìn châm sóc để cho tồn tại, cho phát triển. Như: Nuôi tóc cho dài, nuôi chí lớn.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Còn mang lấy xác thân là còn trách nhiệm cho đến ngày thở hơi cuối cùng. Phải tự nuôi tâm chí cho cao thượng, tự bảo đãm cái trách nhậm ấy đặng tự tạo con đường “sống còn” hầu giải thoát cho những kẻ đương “sống mất”.

Nhỏ dại Thầy nuôi mùi Ðạo hạnh,

Lớn khôn bây xứng mặt hiền lương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NUÔI CHÁU BỎ CON

Nuôi cháu: Nuôi dưỡng đứa cháu. Bỏ con: Hy sinh đứa con, không nuôi dưỡng.

Nuôi cháu bỏ con, bởi câu “Tồn điệt khí nhi 存 姪 棄 兒” tức hy sinh con để nuôi cháu.

Do điển: Ông Đặng Bá Đạo đương khi gặp loạn, cõng con và đứa cháu chạy trốn. Ông nói với vợ rằng: Con ta và cháu ta không thể giữ tròn cả hai được! Em ta chết để lại đứa con nầy, lẽ nào để tuyệt hậu. Thà bỏ con ta, về sau chúng ta còn có thể sanh nữa.

Vợ khóc nghe theo lời ông, bèn bỏ con mình. Sau vợ chồng ông không có thai nữa, cuối cùng phải vô hậu. Người đời thương cho hoàn cảnh ông rằng: Tồn điệt khí nhi, bi Bá Đạo chi vô hậu 存 姪 棄 兒, 悲 伯 道 之 無 後, nghĩa là nuôi cháu bỏ con, buồn cho ông Bá Đạo không con nối hậu.

Xem: Bỏ con lo cháu.

Ngày xưa nuôi cháu bỏ con,

Có ông Bá Đạo giữ tròn đệ huynh.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

NUÔI DƯỠNG

Nuôi: Cho ăn, trông nom và săn sóc. Dưỡng: Nuôi nấng, tức cung cấp thứ cần thiết giúp cho cơ thể phát triển.

Nuôi dưỡng là cho ăn uống, chăm sóc, duy trì và phát triển sự sống.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Ðạo và Ðời khác nhau ở chỗ một cao, một thấp, một trắng một đen. Nếu Ðạo cũng là đà nơi chỗ thấp hèn như ở bến chợ đời thì Ðạo có ích gì cho chúng sanh? Và Ðạo lấy gì để làm gương mẫu và cảnh tỉnh thiên hạ? Ðược nuôi dưỡng trong tình thương của Ðức Chí Tôn, Chức sắc Thiên phong là những bậc Thánh hiền trong cửa Ðạo.

Công nuôi dưỡng nâng niu khổ nhọc,

Phép thương yêu cũng học nơi Thầy.

(Kinh Tận Độ).

Nhịn ăn mặc ngừa cơn thiếu thốn,

Làm lụng nhiều nuôi dưỡng sắp con.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Phận nuôi dưỡng tuy vân cần ích,

Phải dạy răn kẻo nghịch lòng Trời.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NUÔI NẤNG

Nuôi: Cho ăn uống, trông nom và săn sóc.

Nuôi nấng là nuôi dưỡng với sự chăm sóc ân cần.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Từ khai Thiên lập Ðịa, Thầy cũng vì yêu mến các con mà trải bao nhiêu điều khổ hạnh, mấy lần lao lý, mấy lúc vang mày, nuôi nấng các con hầu lập nền Ðạo, cũng tưởng cho các con lấy đó làm đuốc soi mình đặng cải tà quy chánh.

Có thần nuôi nấng thần càng mạnh,

Luyện khí thông thương khí mới tường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Một nuôi nấng tinh thần tinh khiết,

Hai dạy răn cho biết tội tình.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

NUỐI TIẾC

Nuối: Lưu luyến, thương mến, không muốn rời xa. Tiếc: Cảm thấy không muốn rời bỏ, không muốn mất đi.

Nuối tiếc là tiếc và ngậm ngùi trước những cái cho ta tốt đẹp đã qua đi.

Như: Nuối tiếc những kỷ niệm xưa, nuối tiếc thời son trẻ đã qua đi.

Nhìn mút mắt xa xăm nước biếc,

Thoảng đâu đây nuối tiếc hương thừa.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

NUỐT

1.- Nuốt là làm cho đồ ăn, đồ uống từ miệng qua thực quản xuống dạ dày.

Như: Nuốt cơm, nuốt viên thuốc, nuốt nước bọt, tiểu long nuốt ngựa.

Ma thịt quỷ hồn chôn xác chết,

Tà thần tinh quái nuốt xương tan.

(Thiên Thai Kiến Diện).

2.- Nuốt, nghĩa bóng cố nén xuống, làm cho chìm sâu vào trong lòng, không để lộ ra.

Như: Nuốt hận, ăn oán nuốt hờn, trêu sầu nuốt thảm.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có đoạn dạy: Thầy thấy các con bị phép thử thất Ba Trấn lập thành thì đã hiểu nhiều đứa bị hành. Thầy ngậm đau nuốt thảm ngồi nhìn. Thầy chẳng để thử thất, Ba Trấn trách Thầy vì yêu mến quá lẽ mà làm mất hết công bình, nhứt là Lý Thái Bạch kêu nài hơn hết.

Nuốt tiếng than đôi hàng lã chã,

Tưởng đến điều nhơn quả mà đau.

(Kinh Thế Đạo).

Chia sướng sớt vui ai khác hưởng,

Trêu hờn nuốt thảm một mình ta.

(Đạo Sử).

Nên ngậm thảm đặng ngồi nuốt thảm,

Toan buông lời, chẳng dám hở môi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NUỐT SỐNG

Nuốt: Lấy hơi đưa thức ăn xuống cổ họng. Sống: Chưa nấu chín, chưa chết, nguyên con.

Nuốt sống là nuốt gọn cả miếng, hay cả con trong một lần, không nhai.

Nuốt sống còn có nghĩa là chiếm được, thắng được một cách dễ dàng, nhanh chóng.

Như: Ăn tươi nuốt sống.

Gặp thây nuốt sống ăn tươi,

Vì bày thưa kiện móc bươi xúi lời.

(Kinh Sám Hối).

 

 

NÚP

Núp, như chữ “Nấp”, là giấu mình vào nơi có vật che khuất để trốn, để được che chở.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Chính mình Bần Đạo lãnh cái sứ mạng đem cây kiển của thiên hạ áp bức trồng xuống một miếng đất phì nhiêu, để thành hình cây cổ thọ, đặng chi? Đặng cho toàn thể nhơn loại hùn núp dưới cái bóng mát của nó.

Nắng hạ héo khô vườn bá tánh,

Dắt nhau tìm núp bóng Cao Ðài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Xủ áo trần hoàn đã rảnh tay,

Thung dung nhờ núp bóng Cao Ðài.

(Thượng Phẩm Giáng Bút).

Buông khơi đợi lúc đường xa lướt,

Núp gió theo chiều nẻo tắt do.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

NÚT

1.- Nút là bú, mút, ngậm vào miệng rồi chúm môi lại mà hút.

Như: Trẻ nút vú, Đứa bé nút dặm thêm sữa bột, quan tham nút máu nhân dân.

Mảnh tơi còn phận chưa lành,

Máu đưa quan nút, mỡ dành làng ăn.

(Ngụ Đời).

2.- Nút là nói loài ong, bướm dùng cái vòi để hút mật các thứ hoa.

Như: Ong nút mật, bướm nút nhuỵ hoa hồng.

Trai đừng thấy đỗ hoa vội vã,

Thả con ong nút phá nhụy hồng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

là cơn giận, một khoảnh khắc bực bội, nóng nảy.

Như: Chưởi một trận cho đã nư, nó nói chưa hết nư giận, bà chủ nhà hay làm nư lắm.

Đừng thấy chồng có dạ nhân từ,

Mà trổ dữ làm lấn lướt.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NƯ GIẬN

Nư: Cơn giận, tình trạng gây khó dễ, khó khăn cho ai. Giận: Tức bực vì bất bình.

Nư giận là một cơn giận, tức một khoảnh khắc bực bội, nóng nảy.

Trong Giảng Đạo Chơn Ngôn của Ngài Phối Sư Thái Đến Thanh có đoạn: Trong Kinh Hoa Nghiêm có câu rằng: “Nhứt niệm sân tâm khởi, bá vạn chướng môn khai”. Một phen nư giận nổi lên thì muôn ngàn nghiệt chướng nảy sanh.

Than ôi! Cái nư giận thường làm đổ nát những công sáng tạo đã qua, không biết bao nhiêu vĩ đại.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

NỮ

Nữ là con gái, trái với “Nam” là con trai. Như: Nữ lưu, nữ phái, nữ nhân, nữ kiệt.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy đã chán mắt thấy phái nữ hành đạo thế nào, biết bao phen Thầy buồn, mà buồn rồi lại giận, muốn chẳng lập Nữ phái mà làm gì, nhưng trai gái cũng đồng con, Thầy không nỡ đành lòng từ bỏ.

Quân trung ai rõ nữ anh hùng,

Lập nghiệp cho người đến hưởng chung.

(Đạo Sử).

Cửa Thánh miếu hỡi còn thiếu gái,

Chốn quyền môn nữ lại vẫn không.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NỮ CÔNG

女 工

Nữ: Đàn bà con gái. Công: Việc.

Nữ công là sự làm lụng bằng chân tay khéo léo của đàn bà con gái.

Nữ công còn là một trong “Tứ đức 四 德” của người con gái, đó là: Công, dung, ngôn, hạnh.

Rán tập em nữ hạnh nữ công,

Tập đủ phép ông chồng hay tập vợ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NỮ DUNG

女 容

Nữ: Đàn bà, phụ nữ, trái với nam. Dung: Dáng mạo.

Nữ dung là hình dung và tướng mạo của người đàn bà, con gái, chỉ nữ phái.

Nữ dung còn là một trong bốn đức (tứ đức) của người phụ nữ: Công, dung, ngôn, hạnh.

Hoa Tiên đổ đẹp xinh văn miếu,

Gót Tiên đưa yểu điệu nữ dung.

(Nhứt Nương Giáng Bút).

Vợ con thay phận mẹ già,

Nuôi con mẹ cậy bóng ngà nữ dung.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NỮ ĐẦU SƯ

女 頭 師

Nữ: Phụ nữ, đàn bà, con gái. Đầu Sư: Một phẩm chức sắc của đạo Cao Đài.

Nữ Đầu Sư là một phẩm Chức sắc cao nhứt của Cửu Trùng Đài Nữ phái, do Đức Lý Giáo Tông lập thành.

Trong Pháp Chánh Truyền Chú Giải, Hộ Pháp nhắc lại lời Thầy nói cùng Chánh Phối Sư Hương Thanh như sau: “Muốn phế Nữ Phái, song con cũng đồng con, hễ bao nhiêu Nam tức cũng bao nhiêu Nữ; Nam, Nữ vốn như nhau, nên Thầy đến phong cho Nữ Phái buổi lập Pháp Chánh Truyền, chẳng hiểu có điều chi huyền bí với Thầy cùng Ngọc Hư Cung nên Thầy mới đành lòng nói ra lời ấy, rồi lại cam lòng để cho Ðức Giáo Tông đứng lập đặng tránh cho khỏi luật lệ Thiên Ðiều hay chăng? Hễ càng suy nghĩ lại càng thêm sợ hằng ngày.

Xem lại Nữ Phái không biết trau giồi trí thức đặng làm trách nhậm cho xứng vị mình, thì lại càng âu lo thêm nữa!.

Chính mình Cao Thượng Phẩm mới giáng cơ nói rằng nhờ Ngài cầu xin tha thứ cho Nữ Phái nơi Ngọc Hư, bằng chẳng thì đã bị phế; xin chư Ðạo tỷ để dạ lo lấy”.

Bên Nam phái, có ba vị Đầu Sư là Thái, Thượng, Ngọc, còn Nữ phái thì chỉ có một vị Nữ Đầu Sư mà thôi. Như vậy, chức sắc bên Nữ phái cao nhứt là Nữ Đầu Sư, không có Chưởng Pháp và Giáo Tông.

Điều nầy, “Hộ Pháp có để lời phân phiền cùng Thầy như vầy: – Thưa Thầy, Thầy đã nói con cũng đồng con, Nam Nữ vốn như nhau mà Thầy truất quyền của Nữ phái không cho lên địa vị Chưởng Pháp và Giáo Tông, thì con e mất lẽ công bình chăng? Thầy dạy: Thiên địa hữu Âm Dương, Dương thạnh tắc sanh, Âm thạnh tắc tử. Cả càn khôn thế giới nhờ Dương thạnh mới bền vững; cả chúng sanh sống bởi Dương quang, ngày nào mà Dương quang đã tuyệt, Âm khí lẫy lừng, ấy là ngày càn khôn thế giới phải chịu trong hắc ám, mà bị tiêu diệt.

Nam ấy Dương, Nữ ấy Âm, nếu Thầy cho Nữ phái cầm quyền Giáo Tông làm chủ nền Đạo thì là Thầy cho Âm thắng Dương, nền Đạo ắt bị tiêu tàn ám muội.” Hộ Pháp lại kêu nài nữa rằng: Thầy truất quyền Giáo Tông Nữ phái thì đã đành, song quyền Chưởng Pháp thì tưởng dầu ban cho cũng chẳng hại. Thầy dạy: Chưởng Pháp cũng là Giáo Tông, mà còn trọng hệ hơn, là vì Người thay mặt cho Hộ Pháp nơi Cửu Trùng Đài. Thầy đã chẳng cho ngồi địa vị Giáo Tông, thì lẽ nào cho ngồi địa vị Hộ Pháp con! Bởi chịu phận rủi sanh nên cam phận thiệt thòi, lẽ Thiên cơ đã định, Thầy chỉ cậy con để dạ thương yêu binh vực thay Thầy kẻo tội nghiệp!”.

Trong Đền Thánh, ta thấy ngôi vị ba Đầu Sư Nam phái cùng với Chưởng Pháp và Giáo Tông được đặt trước Chánh điện Đức Chí Tôn, còn ngai của Nữ Đầu Sư không có. Đức Hộ Pháp cỏ hỏi Thầy về ngai của Nữ Đầu Sư thì Thầy dạy như sau: “Toà Thánh day mặt ngay hướng Tây, tức là chánh cung Đoài, ấy là Cung Đạo, còn bên tay trái Thầy là Cung Càn, bên tay mặt Thầy là Cung Khôn, đáng lẽ Thầy phải để bảy cái Ngai của phái Nam bên tay trái Thầy, tức bên cung Càn mới phải, song chúng nó vì thể Nhơn Đạo cho đủ Ngũ Chi, cho nên Thầy buộc phải để vào Cung Đạo là cung Đoài, cho đủ số. Ấy vậy cái Ngai của Đầu Sư Nữ phái phải để bên cung Khôn, tức là bên tay mặt Thầy. Hộ Pháp hỏi cái Ngai ấy ra sao? Thì Thầy dạy: Giống y như cái Ngai của Quan Âm Bồ Tát, nghĩa là một cái Cẩm Đôn để trong vườn Trước Tử trên Nam Hải, dưới chơn đạp hai bông sen nở nhụy”.

Từ buổi Khai nền Đại Đạo ngày 15 tháng 10 năm Bính Dần (1926) cho đến năm 1975, Nữ phái gồm có các vị Nữ Đầu Sư được Thiên phong sau đây:

I.- Nữ Đầu Sư truy phong Hương Thanh (1874-1937)

Bà Nữ Đầu Sư Hương Thanh, thế danh là Lâm Ngọc Thanh, sinh năm Giáp Tuất (1874) tại làng Trung tín, quận Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Thân mẫu là bà Trần Thị Sanh.

Bà Lâm Ngọc Thanh là vợ của ông Huyện Huỳnh Ngọc Xây, nên bà thường được người đời gọi là Bà Huyện Xây, là một nghiệp chủ giàu có lớn tại Vũng Liêm. Ông và bà có một người con gái tên là Huỳnh Thị Hồ.

Sau ông Huyện Xây mất, bà gá nghĩa với ông Huyện Hàm Nguyễn Ngọc Thơ, một nghiệp chủ ở Tân Định, Sài Gòn. Hai Ông bà quy y theo Phật, thọ giáo với Hoà Thượng Như Nhãn, lúc đó trụ trì chùa Giác Hải ở Phú Lâm, Chợ Lớn.

Bà Lâm Ngọc Thanh được Đức Chí Tôn độ, nhập môn vào đạo Cao Đài ngày 06 tháng 6 năm Bính Dần (Dl. 16/7/1926).

Bà hiến dâng một phần sản nghiệp cho Đạo trong buổi sơ khai có phương tiện hoằng hoá mối đạo Trời. Bà cũng hiến ngôi chùa do bà xây dựng ở bên cạnh nhà tại Vũng Liêm cho Hội Thánh làm ngôi Thánh Thất thờ Đức Chí Tôn để những người trong vùng có nơi chiêm bái.

Chính nhờ công của ông bà mà Hoà Thượng Như Nhãn bằng lòng hiến ngôi chùa Từ Lâm Tự (tức Chùa Gò Kén) ở Tây Ninh cho đạo Cao Đài dùng làm Thánh Thất tạm, tổ chức lễ Khai Đạo. Bà thọ Thiên ân Giáo Sư, Thánh danh là Hương Thanh.

Từ đó bà lo phổ độ nhơn sanh khắp nơi. Trong kỳ phong thánh lần thứ nhứt ngày 14 tháng 01 năm Đinh Mão (Dl. 15- 02-1927), bà được Đức Chí Tôn thăng lên phẩm Nữ Phối Sư, cầm đầu nữ phái.

Trong Đàn cơ ngày 9 tháng 3 năm Kỷ Tỵ (Dl. 1/4/ 1929), Đức Lý Giáo Tông giáng cơ thăng cho Bà phẩm Chánh Phối Sư có đoạn như sau: Hương Thanh! Hiền Muội đặng lên nghe Lão dạy mà thôi, Lão đợi, chào Hiền Muội.

Thượng Phẩm xin tha thứ lỗi của Nữ phái nhưng Lão chẳng trọn nhận.

Lão phạt cả Chức Sắc Nữ phái một tuần cấm phòng, còn Hiền Muội thì Lão biếm quở, vì không lo dạy dỗ điều đình, song cho thăng lên Chánh Phối Sư cho có quyền sửa trị Nữ phái, nhưng mà buộc còn phải tùng lịnh Ðầu Sư.

Khi Hoà Thượng Như Nhãn đòi chùa, Ông Bà xuất 25.000 đồng cho Hội Thánh mượn để mua đất tại làng Long Thành, tỉnh Tây Ninh để khai phá rừng cất Toà Thánh tạm bằng cây ván. Bà cũng có công trong việc giao thiệp với chánh quyền Pháp xin mở cửa những Thánh Thất nào bị chánh quyền áp chế đóng cửa trước đây. Đến ngày mùng 9 tháng 3 năm Kỷ Tỵ (Dl. 16-4-1929), Bà được thăng lên Nữ Chánh Phối Sư, Chưởng quản nữ phái.

Đến năm 1936, Đức Hộ Pháp quyết định xây dựng Toà Thánh, nhưng tiền quỹ của Hội Thánh quá ít, Ngài nhờ bà Lâm Hương Thanh cho mượn một số nữ trang như vàng, hột xoàn, cẩm thạch để đi cầm thế, vì lúc đó giá lúa quá thấp, Bà không có sẵn tiền mặt. Nhờ vậy, Hội Thánh mới có một số vốn khoản 100.000 đồng Đông Dương để xây dựng Toà Thánh.

Bà quy vị vào ngày mùng 8 tháng 4 năm Đinh Sửu (Dl. 17-5-1937), đúng vào ngày lễ Phật Đản, tại Vũng Liêm, hưởng thọ 64 tuổi.

Sau khi quy vị được 17 ngày, Bà được Đức Chí Tôn ân tứ truy phong lên phẩm Nữ Đầu Sư trong Đàn cơ ngày 25 tháng 4 năm Đinh Sửu (Dl. 03-6-1937).

Bà giáng cơ cho bài thi sau đây dùng để tế điện:

Đầy giỏ Hoa Lam chất ái tình,

Y theo mặt luật của khuôn linh.

Thử căn linh thể nơi phàm tục,

Mới hưởng hồng ân chốn Ngọc đình.

Nam Hải là bờ ao Thất Bửu,

Tây Ninh nền tổ quán Tam Thanh.

Thuyền từ trở lái lìa sông Lệ,

Nhớ bạn chơn mây gởi tấc thành.

II.- Nữ Đầu Sư Chánh vị Hương Hiếu (1886-1971)

Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, thế danh là Nguyễn Thị Hiếu, sanh năm Đinh Hợi (1886) tại đường Paulbert Đa Kao Sai Gòn, con Cụ Nguyễn Văn Niệm và Cụ bà Trần Thị Huệ. Khi mới sanh bà nội đặt tên là Nguyễn Thị Hương, còn bà ngoại đặt tên là Hiếu.

Thuở ấu thời, Bà học trường Bà Phước (Nhà Trắng) Sài Gòn, cho đến năm 17 tuổi bà học về Nữ công và năm 21 tuổi Bà sanh duyên với Ngài Cao Quỳnh Cư ở làng Hiệp Ninh Tây Ninh, năm 23 tuổi sanh được một người trai tên là Cao Quỳnh An.

Khi Đức Chí Tôn thu phục được ba Ngài Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc và Cao Hoài Sang đứng trung gian để Ngài giáng cơ dạy Đạo và khai nền Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, Bà là người biên chép hằng đêm những thi văn hoặc Thánh giáo của các Đấng. Ngoài ra, Bà còn lo nấu ăn tiếp khách xa gần hằng ngày đến nhập môn cầu Đạo.

Đến tháng 3 năm Bính Dần (1926), Đức Chí Tôn giáng cơ dạy Bà may Thiên phục cho chức sắc, chính Bà may Thiên phục cho Ngài Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt trước hết, kế may Thiên phục cho Hiệp Thiên Ðài và Cửu Trùng Ðài.

Ngày Khai Đạo tại Chùa Từ Lâm Tự, Bà phải lo đủ mọi việc, ban ngày thì lo tiếp đãi chức sắc, bổn đạo, quan khách, ngoài ra còn phải lo đi chợ, nấu nướng cho quan khách dùng, đến chiều lo viết sớ cho Nữ phái nhập môn và hướng dẫn mọi người cầu nguyện và cúng lạy. Buổi đầu chưa có đồng nhi nên Bà cũng phải làm đồng nhi để đọc kinh cúng tứ thời. Vị nào được phong phẩm đều nhờ Bà may Thiên phục. Suốt ba tháng liền tại chùa Gò Kén, Bà phải tất bật mọi chuyện.

Trong Đàn cơ phong Thánh kỳ I của Nữ phái vào ngày 14 tháng 1 năm Đinh Mão (Dl. 15/2/1927) Bà được phong phẩm Giáo Sư.

Sau khi trả chùa Từ Lâm Tự cho Hoà Thượng Như Nhãn, Hội Thánh dời về “Chùa mới” tại làng Long Thành, Bà phải đi chợ, nấu ăn hằng ngày cho Đức Hộ Pháp, Đức Thượng Phẩm và công quả phá rừng, cho đến ngày cất ngôi Toà Thánh bằng cây ván tạm, lần lượt mới có chức sắc tề tựu về đông đảo.

Năm 1930 Bà vâng lịnh Lý Giáo Tông đi hành đạo tại địa phương, Bà bắt thăm về tỉnh Sa đec, sau Hội Thánh cho kiêm luôn tỉnh Thủ Dầu Một.

Đến năm Ất Hợi (1935), Bà được thăng phẩm Phối Sư, trở về Toà Thánh hành Đạo, phụ trách tiếp tân Nữ phái và may Thiên phục chức sắc tại sở may Linh Đức.

Năm 1941 nền Đạo bị chinh nghiêng, chánh quyền pháp bắt bớ chức sắc dày đi hải ngoại, Bà lui về Thảo Xá Hiền Cung. Đến năm 1946, nền Đạo phục hưng, Bà trở lại lãnh Chưởng quả ba viện Hoà viện, Lại viện, Lễ viện Nữ phái theo Sắc Huấn số 30/SH ngày 21 tháng 9 năm Bính Tuất (1946).

Đến năm 1968, Bà được thăng phẩm Đầu Sư chánh vị Nữ phái do Đàn cơ tại Cung Đạo ngày 20 tháng 10 năm Mậu Thân (Dl. 9/12/1968) và theo Thánh Lịnh số 01/TL ngày 24 tháng 10 năm Mậu Thân (Dl. 13/12/1968), nắm quyền Chưởng quản Cửu Trùng Đài Nữ phái. Bà có đại công với Đạo, được đúc tượng thờ nơi bên trái (nữ phái) mặt tiền Đền Thánh.

Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu quy Thiên hồi 14 giờ ngày 11 tháng 5 nhuần năm Tân Hợi (Dl. 3/7/1971) tại Nữ Đầu Sư Đường, hưởng thọ 85 tuổi, sau một thời gian trị bịnh tại bệnh viện Đồn Đất (Grall) Sài Gòn.

Trong Quyển Đạo Sử I của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiêu có đăng một bài thi do Bà làm lúc còn là Nữ Chánh Phối Sư. khi Bà đăng Tiên, Hội-Thánh lấy bài thi nầy là Bài Thài hiến lễ.

Tu hành gắng chí lập dày công,

Đến buổi chung qui hưởng phước hồng.

Cửa Đạo gay go trường khổ hạnh,

Đường Tiên nhàn rỗi bước thong dong.

Lợi danh ví muốn cho đầy đủ,

Tội lỗi càng thêm nỗi chất chồng.

Cuộc thế chẳng qua trò mộng ảo,

Ngày về nhắm mắt nắm tay không.

3- Nữ Đầu Sư Hàm phong Hương Lự (1878-1972)

Nữ Đầu Sư Hàm phong Hương Lự, thế danh là Hồ Thị Lự, sanh ngày 26 tháng 6 năm Mậu Dần (1878), tại Ích Thạnh, tổng Long Vĩnh Hạ Gia Định. Bà gá nghĩa với Cụ ông Cao Hoằng Ân, thẩm phán đầu tiên tại Việt Nam.

Bà ngộ Đạo tại Kim Biên và đắc phong phẩm Giáo Sư vào ngày 15 tháng 8 năm Đinh Mão (Dl. 10/9/1927). Đến năm Kỷ Tỵ (1929) Bà về Toà Thánh giúp việc nơi Lương viện. Qua năm Canh Ngọ (1930), Bà lãnh Quản lý Sở may và làm công quả nơi Nhà khách.

Năm Nhâm Thân (1932), lãnh quản lý Lương viện, Trù phòng và thay mặt Bà Nữ Chánh Phối Sư tại Toà Thánh. Sau đó Bà bắt thăm đi Long Xuyên làm Đầu Họ Đạo.

Ngày 15 tháng 10 năm Ất Hợi (Dl. 10/11/1935), Bà được thăng Phối Sư. Qua năm Bính Tý (1936), Bà bị bịnh, nên phải nghỉ một thời gian, khi sức khỏe bình phục, Bà về giúp việc tại nhà may Linh Đức. Sau nhà cầm quyền Pháp lấy Linh Đức làm trường học thì nhà may phải dọn về tiệm Minh Đức một thời gian rồi tự giải tán.

Cuối năm Canh Thìn (1940) vì kém sức khỏe, Bà phải lui về nhà dưỡng bịnh, mãi đến tháng 4 năm Ất Dậu (1945) Bà mới trở lại Toà Thánh tiếp tục việc Đạo.

Sau Bà Hương Lự được đắc phong Nữ Đầu Sư hàm phong do Đàn cơ của Đức Lý Giáo Tông tại Cung Đạo Đền Thánh vào ngày 20 tháng 10 năm Mậu Thân (Dl. 9-12-1968) cùng một lượt với Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu.

Bà đăng Tiên ngày 22 tháng 11 năm Nhâm Tý (Dl. 29/12/1972), vào lúc 9 giờ 17 phút tại Nữ Đầu Sư Đường, hưởng thọ 95 tuổi.

Sau khi quy liễu, vào lúc 20 giờ 30 đêm 22-11-Nhâm Tý, Hội Thánh thiết một đàn cơ tại Giáo Tông Đường, được Bà Bát Nương Diêu Trì Cung giáng cơ cho bài Thài để đồng nhi tế điện Đức Bà Nữ Đầu Sư Hàm Phong Hương Lự.

Bài Thài đó như sau:

Hương thơm ngào ngạt Đạo kỳ ba,

Lự tỉnh hồng quần Thánh đức ca.

Nương bóng từ bi dìu chủng tộc,

Nương cơ thoát tục thức con nhà.

 

Chẳng biết ngẫu nhiên hay là tiền định mà Bà Nữ Đầu Sư quy liễu nhằm ngày Vía Đức Phật Thích Ca.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

Hình xách giỏ hoa lam tại thử,

Hiện hữu là Bà Nữ Đầu Sư.

(Lược Thuật Toà Thánh).

Cung Diêu về phó Hội Bàn Đào,

Nữ Đầu Sư phẩm tối cao!

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

NỮ GIÁ NAM HÔN

女 嫁 男 婚

Nữ giá: Con gái thì gả lấy chồng. Nam hôn: Con trai thì cưới vợ.

Nữ giá nam hôn có nghĩa là nuôi con trưởng thành gái thì gả chồng, trai thì lấy vợ cho kịp thời.

Nữ giá nam hôn phận định rồi,

Lớn lên cha mẹ chọn nơi thôi.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

NỮ GIỚI

女 界

Nữ: Con gái. Giới: Riêng biệt về một phái.

Nữ giới, đồng nghĩa với nữ phái, là nói chung về phái đàn bà, con gái.

Như: Bà ây làm vẻ vang cho nữ giới.

Nữ giới trau tria tròn đức bốn,

Nam nhi tô điểm vẹn giềng ba.

(Thơ Thái Đến Thanh).

Tuy Nữ giới, chí nam nhi khó sánh,

Dù sức hèn, trí quân tử không đương.

(Ai Điếu Hương Lự).

 

 

NỮ HẠNH

女 行

Nữ: Đàn bà, con gái. Hạnh: Đức hạnh, chỉ tánh nết tốt đẹp của người con gái.

Nữ hạnh là đức hạnh của người phụ nữ.

Nữ hạnh còn là một trong “Tứ đức 四 德” của người phụ nữ.

Rán tập em nữ hạnh nữ công,

Tập đủ phép ông chồng hay tập vợ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NỮ KIỆT

女 傑

Nữ: Người con gái, phái nữ. Kiệt: Tài giỏi hơn người.

Nữ kiệt là người phụ nữ có tài năng và khí phách khác thường.

Thành ngữ Việt Hán có câu “Nữ lưu anh kiệt 女 流 英 傑” là người anh kiệt bên phái nữ.

Cô ấy là một trang nữ kiệt.

Thanh sử từng nêu gương nữ kiệt,

Hồng ân chi kém bạn nam nhi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Diêu đức trâm anh gương nữ kiệt,

Trì trai giữ giới độ non sông.

(Ngũ Nương Giáng Bút).

 

 

NỮ LƯU

女 流

Nữ: Đàn bà. Lưu: Một ngánh, một phái.

Nữ lưu là tiếng dùng để chỉ giới nữ, tức đồng nghĩa với nữ phái.

Thánh giáo Ngũ Nương Diêu Trì Cung có câu: Bao phen để bước đến Thanh Trước Đàn, nhưng hềm nỗi chánh kiến chưa đồng, trí thức nữ lưu lại kém, nên phần học hỏi đã ngưng đôi chút.

Khi kinh Thánh, lúc kệ Thần,

Đoạn trường diệt dứt nợ nần nữ lưu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Hễ bỏ qua bên đám nữ lưu,

Giống như hạng đồ lưu ra ngoại bộ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NỮ NAM ĐỒNG BỰC

Nữ nam: Chỉ phái nam phái nữ. Đồng bực: Cùng một hạng thứ trên dưới về quyền hành.

Nữ nam đồng bực là trai gái ngang nhau, nói rõ hơn là quyền hành của nam nữ bằng nhau.

Đó là nguyên tắc mà hiện nay người ta đề ra: “Nam nữ bình quyền 男 女 平 權”.

Dạy cho hiểu nữ nam đồng bực,

Trí khôn ngoan cân sức vốn như nhau.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NỮ NHI

女 兒

Nữ: Đàn bà, con gái. Nhi: Con trẻ, trẻ tuổi.

Nữ nhi là tiếng dùng để chỉ chung về người đàn bà, con gái, tức phái nữ, thường nói về mặt có tính cách yếu đuối. Như: Đừng sụt sè như thói nư nhi.

Trong Thánh Ngôn Thầy có dạy: Vậy Thầy khuyên các con, đứa nào có trí lực bao nhiêu, khá đem ra mà thi thố, chớ đừng sụt sè theo thói nữ nhi, vậy cũng uổng cái điểm linh quang của Thầy ban cho các con lắm.

Giá trong sạch nữ nhi trượng tiết,

Giữ cho tròn trinh liệt mới mầu.

(Kinh Sám Hối).

Hằng ngày lo cho đám nữ nhi,

Chẳng đủ trí sánh bì nam tử.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Tỷ nưong khá khai đường tỏ rạng,

Phòng dắt dìu các bạn nữ nhi.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

NỮ PHÁCH

女 魄

Nữ: Phụ nữ, người đàn bà con gái. Phách: Khí phách, chỉ về tinh thần.

Nữ phách là nói tinh thần hay khí phách của người phụ nữ. Như: Nư phách anh hùng.

Dụng văn hoá trau tria nữ phách,

Lấy kinh luân thúc thách quần hồng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NỮ PHẬT

女 佛

Nữ: Phụ nữ, người đàn bà con gái. Phật: Vị Phật.

Nữ Phật là người phụ nữ tu hành đắc quả thành Phật.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Người gọi Quan Âm là Nữ Phật tông, mà Quan Âm vốn là Từ Hàng Ðạo Nhân biến thân. Từ Hàng lại sanh ra lúc Phong Thần đời nhà Thương.

Trên Bạch Ngọc Kinh có đủ Nam và Nữ, các con chớ lầm tưởng là phân biệt. Có các Ðấng Nữ Tiên, Nữ Phật còn lớn quyền hơn Nam nhiều.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

NỮ SẮC

女 色

Nữ: Con gái, đàn bà, phụ nữ. Sắc: Vẻ đẹp của người đàn bà, con gái.

Nữ sắc là sắc đẹp của người phụ nữ.

Người xưa cho rằng: “Sắc bất ba đào dị nịch nhân 色 不 波 濤 易 溺 人”, có nghĩa là sắc đẹp phụ nữ tuy không phải là làn sóng, nhưng có thể nhận chìm người.

Biết bớt cơn chung chiếu chung mùng,

Cứ giữ tánh thong dung chê nữ sắc.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NỮ SĨ

女 士

Nữ: Con gái, đàn bà. Sĩ: Người có học thức.

Nữ sĩ dùng để chỉ người phụ nữ có học thức, có tài về thi phú, viết văn, hay hội hoạ.

Như: Bà Đoàn Thị Điểm là một nữ sĩ Việt Nam thời Lê Trung Hưng.

Tiên cảnh sẵn chờ người nữ sĩ,

Nữ nam đồng phận nếm ngon bùi.

(Quỳnh Hoa Tiên Nữ).

Tinh thần cao thấp nhờ thi,

Dục tài nữ sĩ sánh bì cùng nam.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NỮ TIÊN

女 仙

Nữ: Phái nữ. Tiên: Bậc Tiên.

Nữ Tiên là người phụ nữ tu hành đắc quả thành Tiên.

Thánh giáo Thát Nương Diêu Trì Cung có câu: Em lại nghe Người ước rằng: Chớ chi có một Ðấng Nữ Tiên dám đảm đương đến phổ tế mới mong tận độ chư vong của Phong đô thoát kiếp.

Trên Bạch Ngọc Kinh có đủ Nam và Nữ, các con chớ lầm tưởng là phân biệt. Có các Ðấng Nữ Tiên, Nữ Phật còn lớn quyền hơn Nam nhiều.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

NỮ TIẾT

女 節

Nữ: Người đàn bà, con gái. Tiết: Lòng ngay thẳng trong sạch, giữ trước sau như một.

Nữ tiết là tiết hạnh của người phụ nữ, tức là lòng chung thuỷ, nết ăn ở của người đàn bà đối với chồng, theo quan niệm đạo đức ngày xưa.

Như: Những người đàn bà có hạnh, chồng chết đều giữ gìn nữ tiết.

Nếu biết mình tránh tiếng chê khen,

Gìn nữ tiết cho bền chờ phải mặt.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NỮ TÚ

女 秀

Nữ: Người đàn bà, con gái. Tú: Tốt đẹp.

Nữ tú là chỉ người con gái đẹp, quý phái.

Thành ngữ có câu: Nam thanh nữ tú, chỉ chung con trai con gái đẹp đẽ và tài hoa.

Nữ tú nam thanh còn luyến thế,

Giáng trao lời mọn tỉnh đồng bào.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

NỮ TRUNG

女 中

Nữ: Đàn bà, con gái. Trung: Bên trong.

Nữ trung là chỉ trong giới đàn bà con gái.

Như: Nữ trung Nghiêu Thuấn (chỉ người đàn bà tài đức trong giới nữ như hai vị vua Nghiêu và Thuấn).

Thì toan giữ vẹn chung tình,

Đưa thoi đừng để lỗi mình nữ trung.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NỬA

Nửa là một phần cái gì được chia đôi bằng nhau.

Như: Nửa quả cam, non nửa giờ, không rời nhau nửa bước, cây bưởi bị chết nửa thân.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Thầy nói cho các con hiểu trước rằng: Cả môn đệ Thầy đã lựa chọn lọc lừa, còn lối nửa phần, vì Thầy cho yêu quái lấy danh Thầy mà cám dỗ.

Chưa rồi nửa kiếp lắm lo lường,

Thấy kẻ lòng thành Lão cũng thương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tranh đua đã quá nửa đời người,

Thử hỏi phước phần được mấy mươi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Bước cảnh tịnh đã đành để cẳng,

Tóc quy y nửa trắng nửa vàng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NỬA CHỪNG

Nửa: Một trong hai phần bằng nhau của cái gì. Chừng: Mức, hạn được xác định đại khái.

Nửa chừng là chỉ khoảng giữa chừng, chưa xong hoặc chưa trọn. Như: Làm nửa chừng bỏ việc.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Nên chi từ đây khi Nhạc Tấu Huân Thiên, chúng ta xem quý hơn dâng Tam Bửu, dầu phải lỡ đi nửa chừng trong Ðền Thờ, nghe đến đó phải dừng lại, cấm không được đi lộn xộn, thì lễ ấy giảm điều kính trọng dâng cho Chí Tôn mà không nên.

Cứ giữ phẩm vị các con, nhưng Thầy có một điều yếu thiết là cầu các con lập nhiều công quả nơi trường Thầy sáng tạo cho khỏi phế huỷ nửa chừng.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

NỬA NGƯỜI NỬA PHẬT

Nửa người nửa Phật: Nửa con người, nửa là Phật.

Một đứa hài nhi còn bé chưa có hung tánh, nên theo Mạnh Tử, đó là tánh ban sơ của con người, tánh này vốn thiện (Nhân chi sơ tính bản thiện 人 之 初 性 本 善). Sau đó, vì đắm đuối vào vật dục, cho nên cái tâm mới mờ tối đi, thành thử bỏ mất điều nhân nghĩa, mà trở nên tính ác.

Bởi thế, ông khuyên: Đại nhân giả, bất thất kỳ xích tử chi tâm giả dã 大 人 者, 不 失 其 赤 子 之 心 者 也, nghĩa là người ta không nên để mất cái tâm hồn nhiên thuần hậu như cái tâm của đứa trẻ con.

Như vậy, nửa người nửa Phật có nghĩa là một con người hay đứa hài nhi (dù mới sinh ra) có một nửa là người, tức phàm thân do tinh cha huyết mẹ tạo ra, và một nửa là điểm linh quang do Chí Tôn ban cho, còn gọi là Phật tánh.

Con người đứng phẩm tối linh,

Nửa người nửa Phật nơi mình anh nhi.

(Kinh Tận Độ).

Thượng Đế ban cho phẩm tối linh,

Nửa người nửa Phật một thân mình.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

NỬA CHỪNG XUÂN

Nửa chừng: Một phần chia đôi. Xuân: Mùa xuân, thường dùng để ví với tuổi trẻ, tuổi thanh niên.

Nửa chừng xuân là nửa cái tuổi xuân, chỉ người tuổi còn rất trẻ, tuổi thanh niên.

Như: Anh ấy chết trong lúc mới nửa chừng xuân.

Nửa chừng xuân gãy tủi thân ai,

Nông nỗi nghĩ thôi tiếc bấy tài.

(Thơ Thanh Thuỷ).

 

 

NỮA

Nữa là tiếng dùng để chỉ cái gì còn phải có thêm, chưa hết, hãy còn. Như: Ăn nữa, còn nữa, chốc nữa.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có câu dạy: Từ đây Bần Đạo phải để ý dìu dắt bước đường cho các đạo hữu, phải gắng công thêm nữa cho hiệp với cơ Trời.

Ngoài nữa còn cha còn chú bác,

Làm gương cho đáng mới nên trò.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thanh cao tập chí mắt xem thời,

Ðời thấy đã nhiều chán nữa thôi.

(Đạo Sử).

 

 

NỰC

Nực là xông mạnh lên.

Như: Mới bước chân vào chánh điện thờ Đức Chí Tôn thì nực mùi thơm nhang trầm.

Hương huê đã nực bóng thiều qua,

Tưởng chút nghĩa xưa thắt ruột rà.

(Đạo Sử).

Hai chữ thành công cầu chúc bạn,

Thanh danh vẹn giữ nực mùi hương.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

NỰC CƯỜI

Nực: Xông, toả mạnh, phát lên. Cười: Cử động môi miệng để biểu lộ thái độ vui vẻ, hoặc trong lòng. thích thú.

Nực cười là buồn cười, tức cười, khó nhịn được, cười để tỏ ý chê bai hay chế nhạo, vì kỳ quặc, lố bịch hay vì quá vô lý.

Ca dao có câu: Sự đời nghĩ cũng nực cười, Một con cá lội mấy người buông câu.

Thay đời chẳng phải một tên ngươi,

Thấy phách lối kia bắt nực cười.

(Đạo Sử).

Nghĩ giận mà ra bắt nực cười,

Nhờ ai an vị lại an nơi.

(Thất Nương Giáng Bút).

Gẫm thế sự nực cười muốn sặc,

Khéo trớ trêu ai đặt nên điều.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NỰC NỘI

Nực: Nóng, bức.

Nực nội là nóng bức đến khó chịu. Như: Trải qua những ngày hè nực nội.

Trong quyển Thiên Đạo, hai Ngài Nguyễn Trung và Phan Trường Mạnh có câu: Trong khi hành lễ, Đức Chí Tôn cùng chư Thần, Thánh, Tiên, Phật đều chứng giám tấc lòng thành kỉnh của chúng ta, và ban cho chúng ta điển lành bằng cớ là khi mãn đàn, chúng ta luôn luôn cảm thấy trong người khoan khoái lạ thường, mặc dầu đã chịu nực nội giữa đông người với nhiều nghi thức.

Nực nội trong lòng lo lúng túng,

Ðài mây để bước khá nơi chân.

(Đạo Sử).

 

 

NỰC NỒNG

Nực: Nóng bức, hay xông, toả mạnh. Nồng: Gắt mùi, hăng, hoặc nóng và ngột ngạt.

Nực nồng, như chữ “Nồng nực”, là hơi hoặc mùi thơm bốc mạnh lên.

Nực nồng còn dùng để chỉ nóng bức và ngột ngạt.

Hơi Tiên tửu nực nồng thơm ngọt,

Phi Tưởng Thiên để gót tới nơi.

(Kinh Tận Độ).

Nhang thơm tốc đốt nực nồng,

Ðèn loà ngọn lửa tựa rồng phun châu.

(Bài Mừng Thay).

Mặt trời lố mọc nhành dương,

Mưa sa lác đác mùi hương nực nồng.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

NƯNG

Nưng là đưa lên cao, làm cho cao hơn trước.

Nưng còn dùng để chỉ đỡ (dậy), hoặc tạo điều kiện cho ai đó.

Như: Nưng cái bàn lên để kê bốn chân, nưng đứa bé dạy xem nó có sao không.

Mong tài tám đấu nưng thành lở,

Quyết chí năm xe lấp hải hà.

(Thơ Nguyễn Hượt Hải).

 

 

NƯNG NIU

Nưng (nâng): Đưa lên, cất lên, đỡ dậy.

Nưng niu, như chữ “Nâng nịu”, là cầm trên tay với tình cảm trân trọng, yêu quý. Như: Tay nưng niu chiếc nhẫn kim cương.

Nưng niu cón có nghĩa là chăm chút, giữ gìn cẩn thận với tình cảm đặc biệt. Như: Được nưng niu từ tấm bé.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Các con ôi! Thầy lấy đức háo sanh mà dìu dắt các con chẳng khác nào như kẻ làm cha nưng niu dạy dỗ một trẻ bé, trông nom cho nó mau trưởng thành, hầu lưu danh truyền nghiệp, cho có tên tuổi với đời.

Cứ nưng niu trao đoá yêu đào,

Sợ rủi úa phai màu chồng chẳng ngó.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NƯỚC

1.- Nước là chất lỏng trong suốt, khi là nguyên chất tồn tại trong tự nhiên ở sông biển.

Như: Nước sông, nước biển, nước ao hồ, nước giếng.

Thánh giáo Thầy có câu: Ðã vào trọn một thân mình nơi ô trược thì Thầy đây cũng khó mà rửa với một gáo nước cho đặng trong sạch.

Trời già đành đoạn nợ ba sinh,

Bèo nước xẻ hai một gánh tình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nỗi đói cơm khát nước đứng chờ,

Chẳng thấy kẻ cậy nhờ cơn túng ngặt.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Nước dùng để chỉ chất lỏng nói chung, như nước mắt, nước trà, nước thuốc, nước dương.

Thánh giáo Thầy có câu: Lần lựa cúc xủ sương tan, mai gầy sen nở, ngày tháng qua chẳng là bao mà thế thái nhơn tình biết bao thay đổi! Kìa đai cân nhuộm nước màu thiền, nọ danh lợi xủ lằn trí huệ!

Cứ nương bóng Chí Linh soi bước,

Gội mê đồ tắm nước Ma Ha.

(Kinh Tận Độ).

Nước mắt chưa lau cơn kiếp trái,

Có công phổ độ giải tiền khiên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Nước còn là vùng đất, trong đó những người thuộc một hay nhiều dân tộc cùng chung sống dưới một chế độ, đồng nghĩa với chữ quốc gia.

Thánh giáo Thầy có dạy: Chẳng luận là Nam hay Nữ, bất kỳ là nước nào, nó muốn biết đạo lý, con phải độ, biểu chúng nó đến nghe Thầy dạy mới có thế nó tu hành đặng, trước con không nên buộc chúng nó lắm.

Lộc nước gắng đền công chín tháng,

Nợ nhà tua vẹn gánh hai vai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

4.- Nước, nghĩa đen là quốc gia, chỉ một vùng, miền, cõi hay xứ nơi cõi thiêng liêng.

Như: Nước Phật, nước Chúa, cõi Tiên nước Phật.

Cõi Tiên mở rộng cung Ðâu Suất,

Nước Phật sửa an cảnh Niết Bàn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NƯỚC BÈO

Nước: Vật thể lỏng do khinh khí và dưỡng khí hợp lại mà thành. Bèo: Loại cây sống nổi trên mặt nước.

Nước bèo, như chữ “Bình thuỷ 萍 水”, là bèo và nước, chỉ việc không hẹn, tình cờ mà gặp gỡ.

Bèo trôi bập bềnh trên sông, nước chảy lênh đênh theo dòng, cả hai trôi đi không có sở định, khi tan khi hiệp lại, nhưng khi nếu có duyên may, bèo nước lại có thể gặp gỡ nhau.

Tình ấy xuân này ai nhẽ thấu?

Thuyền dời, duyên rã nước bèo tan.

(Thơ Thanh Thuỷ).

Nước bèo vẫn biết tan rồi họp,