TỪ NGỮ ĐIỂN CỐ CAO ĐÀI

 

 

Danh mục vần NH

 

NHA

Nha

Nha môn

Nha phiến

Nha trảo

 

NHÀ

Nhà

Nhà cao cửa rộng

Nhà cửa

Nhà giam

Nhà huyên

Nhà không đóng cửa

Nhà lan

Nhà lầu

Nhà lồng

Nhà nghèo biết con thảo

Nhà ở bảy căn

Nhà quê

Nhà sập bìm leo

Nhà tan nghiệp nát

Nhà thung

Nhà thuyền

Nhà Thương

Nhà vàng

Nhà văn

 

NHẢ

Nhả ngọc gieo vàng

Nhả ngọc phun châu

 

NHÃ

Nhã ý

 

NHÁC

Nhác

 

NHẠC

Nhạc

Nhạc công

Nhạc điệu

Nhạc gia

Nhạc năm cung

Nhạc Nghị

Nhạc Phi

Nhạc suối đờn tòng

Nhạc Tần

Nhạc Tấu Huân Thiên

Nhạc thiều

 

NHAI

Nhai

 

NHÁI

Nhái

Nhái duyên Tây Tử

 

NHÁY

Nháy

Nháy mắt

 

NHẢY

Nhảy

Nhảy đầm

 

NHAM

Nham hiểm

 

NHÀM

Nhàm

Nhàm tai

 

NHẢM

Nhảm nhí

 

NHAN

Nhan

Nhan Hồi

Nhan sắc

Nhan Tử

Nhan Uyên

 

NHÀN

Nhàn

Nhàn du

Nhàn lạc

Nhàn rỗi

Nhàn trung kiểm điểm sự bình sanh

 

NHÃN

Nhãn

Nhãn huệ quang

Nhãn tiền

Nhãn tiền báo ứng

Nhãn thị chủ tâm

 

NHẠN

Nhạn

Nhạn kêu sương

Nhạn Môn Quan

Nhạn nam én bắc

Nhạn tín

Nhạn vắng

 

NHANG

Nhang

 

NHÁNG

Nháng

 

NHANH

Nhanh

 

NHÁNH

Nhánh

Nhánh nhóc

 

NHÀNH

Nhành

Nhành chim lá gió

Nhành dương

Nhành mai sái mùa

Nhành xuân

 

NHÀO

Nhào

 

NHẠO

Nhạo

Nhạo báng

 

NHÁT

Nhát

Nhát sợ

 

NHẠT

Nhạt

 

NHAU

Nhau

Nhau rún

 

NHẮC

Nhắc

Nhắc cân

Nhắc chừng

Nhắc nhỏm

Nhắc nhở

Nhắc thảm ghẹo sầu

 

NHẮM

Nhắm

Nhắm mắt

 

NHẰM

Nhằm

 

NHẶM

Nhặm lẹ

 

NHĂN

Nhăn

Nhăn nhó

Nhăn mày

Nhăn nhíu

Nhăn răng

 

NHẮN

Nhắn

Nhắn mưa gởi gió

Nhắn nhủ

 

NHẰN

Nhằn nhọc

 

NHẴNG

Nhẵng

 

NHẮP

Nhắp

 

NHẶT

Nhặt

Nhặt khoan

Nhặt nghiêm

Nhặt thúc

Nhặt trỗi

 

NHÂM

Nhâm thần

 

NHẨM

Nhẩm

 

NHẬM

Nhậm

Nhậm phong

 

NHÂN

Nhân

Nhân ái

Nhân cách

Nhân duyên

Nhân gia

Nhân gian

Nhân hậu

Nhân kiệt

Nhân luân

Nhân năng hoằng Đạo

Nhân ngãi

Nhân nghĩa

Nhân quả

Nhân quần

Nhân tâm tự bất kiên

Nhân từ

Nhân tử

Nhân thế

 

NHẤN

Nhấn

Nhấn mạnh

 

NHẪN

Nhẫn

Nhẫn nại

Nhẫn nhịn

Nhẫn nhục

Nhẫn tánh

Nhẫn tánh kiên tâm

 

NHẬN

Nhận

Nhận lãnh

 

NHẪNG

Nhẫng

 

NHẤP

Nhấp nhoá

Nhấp nháng

Nhấp nhoáng

Nhấp nhô

Nhấp nhứ

 

NHẬP

Nhập

Nhập đàn

Nhập định

Nhập hội

Nhập mạch

Nhập môn

Nhập nhoà

Nhập tiệc

Nhập Thánh siêu phàm

Nhập Thánh thể

Nhập thế

Nhập thể

Nhập vi môn đệ

Nhập xác

 

NHẤT

Nhất niệm sân tâm khởi

Nhất thiết do tâm tạo

 

NHẬT

Nhật báo

Nhật nguyệt

Nhật nhật tân

 

NHẦU

Nhầu

 

NHÈ

Nhè

 

NHẸ

Nhẹ

Nhẹ lâng

Nhẹ nhàng

Nhẹ nhõm

Nhẹ thể

 

NHẸM

Nhẹm

 

NHEN

Nhen

Nhen nhúm

 

NHÉT

Nhét

 

NHỆN

Nhện

 

NHI

Nhi

Nhi nữ

Nhi tôn

 

NHỊ

Nhị Hội Long Hoa

Nhị hữu hình đài

Nhị Kiều

Nhị Nương Diêu Trì Cung

Nhị ngoạt thập ngũ

Nhị Trấn Oai Nghiêm

Nhị xác thân

 

NHIẾC

Nhiếc

 

NHIỄM

Nhiễm

Nhiễm luyến

Nhiễm trần

 

NHIỆM

Nhiệm

Nhiệm kỳ

Nhiệm mầu

Nhiệm vụ

 

NHIÊN

Nhiên Đăng Cổ Phật

 

NHIẾP

Nhiếp chánh

Nhiếp tâm

 

NHIỆT

Nhiệt huyết

Nhiệt tâm

Nhiệt thành

 

NHIÊU

Nhiêu dung

Nhiêu sinh

 

NHIỀU

Nhiều

Nhiều kiếp đầu thai

 

NHIỄU

Nhiễu

Nhiễu điều

Nhiễu hại

Nhiễu nhương

 

NHÍN

Nhín

 

NHÌN

Nhìn

Nhìn nhận

 

NHỊN

Nhịn

Nhịn nhục

Nhịn nhường

 

NHỊP

Nhịp

Nhịp cầu

 

NHÍU

Nhíu

 

NHO

Nho

Nho gia

Nho giáo

Nho nhã

Nho phong

Nho sĩ

Nho tông

Nho Tông chuyển thế

Nho Tông khai hoá

Nho tông phục thế

Nho Thích Đạo

Nho văn

 

NHỎ

Nhỏ

Nhỏ dại

Nhỏ mọn

Nhỏ nhẹ

Nhỏ nhít

Nhỏ nhoi

 

NHÓC

Nhóc nhách

 

NHỌC

Nhọc

Nhọc lòng

Nhọc nhằn

Nhọc tâm

Nhọc thân

Nhọc trí

Nhọc xác

Nhọc xác lao tâm

 

NHỌN

Nhọn

Nhọn vắt

 

NHÓNG

Nhóng

 

NHỎNG

Nhỏng nhảnh

 

NHỔ

Nhổ

 

NHỒI

Nhồi

Nhồi quả

Nhồi quả nghiệp

Nhồi quả kiếp

Nhồi sọ

 

NHỘN

Nhộn nhàng

 

NHỘNG

Nhộng

 

NHỐT

Nhốt

 

NHƠ

Nhơ

Nhơ danh Đạo

Nhơ bợn

Nhơ nhớp

Nhơ nhuốc

Nhơ trược

 

NHỚ

Nhớ

Nhớ nhung

Nhớ thương

 

NHỜ

Nhờ

Nhờ cậy

 

NHỢ

Nhợ

 

NHỜM

Nhờm

 

NHƠN

Nhơn

Nhơn cách

Nhơn cầm

Nhơn chủng

Nhơn dục

Nhơn duyên

Nhơn đạo

Nhơn đức

Nhơn gian

Nhơn hoà

Nhơn loại

Nhơn luân

Nhơn luân cư xử cùng đời

Nhơn lực

Nhơn lực Thiên ý

Nhơn nào quả nấy

Nhơn nghĩa

Nhơn phẩm

Nhơn quả

Nhơn nào quả nấy

Nhơn quần

Nhơn sĩ

Nhơn sanh

Nhơn sự

Nhơn tài

Nhơn tâm

Nhơn tâm sanh nhứt niệm

Nhơn Tiên

Nhơn tình

Nhơn tình thế thái

Nhơn từ

Nhơn tước

Nhơn thân

Nhơn Thần

Nhơn trí

Nhơn vật

Nhơn vật lẽ đồng

Nhơn vị

 

NHỞN

Nhởn nhơ

 

NHỚP

Nhớp

Nhớp nhơ

 

NHU

Nhu

Nhu mì

Nhu nhược thắng cương cường

Nhu sĩ

Nhu thắng cang

 

NHỦ

Nhủ

Nhủ lời

 

NHŨ

Nhũ bộ

Nhũ lịnh

 

NHUẦN

Nhuần

Nhuần gội

 

NHÚC

Nhúc nhắc

 

NHỤC

Nhục

Nhục dục

Nhục mạ

Nhục nhã

Nhục nhãn

Nhục tổ hổ tông

Nhục thân

Nhục thể

Nhục thể thổ sanh

Nhục vinh

 

NHUỆ

Nhuệ khí

 

NHỦI

Nhủi

 

NHUỴ

Nhuỵ

Nhuỵ hoa

Nhụy phai hương lợt

Nhuỵ tướng hương hình

 

NHÚM

Nhúm nhen

 

NHÚN

Nhún

Nhún nhường

Nhún trề

 

NHUNG

Nhung

Nhung bào

 

NHÚNG

Nhúng

 

NHUỘM

Nhuộm

 

NHƯ

Như

Như ý

Như Lai

Như nguyền

Như Nhãn

Như nhiên

Như thảng

 

NHỮ

Nhữ

Nhữ đẳng

 

NHỮNG

Những

Những mảng

 

NHƯỢC

Nhược

Nhược bằng

Nhược Bồng

Nhược hữu

Nhược tiểu

Nhược thắng cường

Nhược thiệt nhược hư

Nhược thuỷ

 

NHƯỢNG

Nhượng

 

NHƯỚNG

Nhướng mắt

 

NHƯỜNG

Nhường

Nhường bước

Nhường cơm chia áo

Nhường nhịn

 

NHƯỢNG

Nhượng

Nhượng tránh

 

NHỨT

Nhứt bổn tán vạn thù

Nhứt dĩ quán chi

Nhứt diện

Nhứt định

Nhứt gia hữu sự bá gia ưu

Nhứt mạch đồng môn

Nhứt môn đồng mạch

Nhứt môn hạnh phúc

Nhứt niệm

Nhứt Nương Diêu Trì Cung

Nhứt ngôn khả dĩ hưng bang

Nhứt ngôn khả dĩ táng bang

Nhứt nghệ tinh

Nhứt nhựt tam tỉnh

Nhứt tâm

Nhứt tâm thiện niệm

Nhứt toán hoạ phước lập phân

Nhứt Tổ

Nhứt thân ức vạn

Nhứt thân vinh

Nhứt thiết

Nhứt thống

Nhứt tràng

Nhứt Trấn Oai Nghiêm

Nhứt triêu nhứt tịch

Nhứt trường

Nhứt vãng nhứt lai

 

NHỰT

Nhựt

Nhựt để

Nhựt nguyệt

Nhựt nguyệt chi quang

Nhựt nguyệt mạo

Nhựt nguyệt tinh thần chi quân

Nhựt nhu ngoạt nhiễm

Nhựt nhiễm ngoạt nhu

 

 

 

 

 

 

 

 

NH

 

NHA

Nha là phòng giấy hay nơi làm việc của các quan thời xưa. Như: Nha quan, nha lại, nha môn, phủ nha.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Đức Hộ Pháp và Tiếp Thế phò loan, Pierre Pasquier giáng cơ tại Toà Thánh, ngày 2 tháng 7 năm Bính Tý có đoạn: Ôi quan trường, ôi nha lại, vì mi mà làm cho ta phải đui mắt, linh hồn phạm tội nghịch ý Chí Tôn, Thiên điều tàn sát. Hận thay ngôi vị đế vương là đao kiếm trừ mạng linh hồn mà chớ. Gớm thay! Ghê thay!

Cửa công huyện mãn nha còn,

Dạ thưa lưỡi mỏi, cúi lòn lưng cong.

(Ngụ Đời).

Khóc than thổ võ thanh lâu khách,

Thúc giục quan nha cậy mụ bà.

(Nguyễn Du Giáng Bút).

 

 

NHA MÔN

衙 門

Nha: Phòng giấy hay nơi làm việc của các quan thời xưa. Môn: Cái cửa.

Nha môn là cửa cơ quan, tức nơi làm việc của các quan trong chế độ triều đình thời xưa.

Như: Thời xưa người dân có việc, vừa tới nha môn thì lòng đã sợ sệt.

Mình ra có quân hô tướng ré,

Nhớ lúc cha ké né cửa nha môn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHA PHIẾN

鴉 片

Nha: Con quạ. Phiến: Tấm, miếng.

Nha phiến là thuốc phiện, một loại độc dược khiến người sử dụng phải mê, ghiền rồi tác hại đến thần kinh.

Do thuốc phiện có màu đen như lông con quạ, nên người ta gọi là “Nha phiến”.

Dạy đừng ham quán rượu tiệm trà,

Đừng hút xách làm ma nha phiến.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHA TRẢO

牙 爪

Nha: Răng, nanh. Trảo: Móng, vuốt.

Những loài mãnh thú cậy có nha trảo (nanh vuốt) để hộ thân, cũng vậy, những bọn quan lại, người quyền thế nhờ tay chân bộ hạ bảo vệ.

Do vậy, chữ “Nha trảo” được dùng để chỉ bọn tay chân bộ hạ.

Xem: Nanh vuốt.

Một điều đáng mừng cho Đạo. Người ấy đáng mặt làm nha trảo sẽ giúp hay nhiều việc.

(Thánh Giáo Hộ Pháp).

 

 

NHÀ

1.- Nhà là chỗ ở do sự kiến trúc mà thành, chung quanh có tường bao, trên có mái che.

Như: Nhà gạch, nhà tranh vách lá, nhà cao cửa rộng, nhà tranh vách đất.

Ðã nên người trước đời trông cậy,

Gắng sửa nhà tranh hoá động đào.

(Đạo Sử).

Lo cửa lo nhà lo sức kém,

Kém vì chưa biết Ðạo nên lo.

(Đạo Sử).

2.- Nhà là chỗ ở riêng, thường cùng với gia đình. Như: Về nhà, nhà ở xa, mẹ vắng nhà, dọn nhà đi, bỏ nhà.

Thánh giáo Thầy có câu: Chẳng khác nào ngồi nhà thấy kẻ mắc mưa ướt mình, nhảy ra che cho ướt, lại khen rằng mát thì muội lắm đó.

Nầy là chỗ thiếp chẳng vì,

Nầy nơi chàng giận ra đi bỏ nhà.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Dầu mình giàu rộng thế xa hoa,

Cũng nhớ mẹ ở nhà bòn cắc nhỏ.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Nhà, như chữ “Gia đình”, là tập hợp người có quan hệ gia đình cùng ở trong một nhà. Như: Nhà có năm người, việc nhà, nhớ nhà, nhà nghèo, nhà trai, nhà gái.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu dạy: Nhà nghèo, hạnh tốt, ấy là gương treo dạy đời, các con khá bền lòng son sắt, cái hạnh tốt là thang vạch ngút mây xanh, tâm thành là để giồi trau tánh tục, lòng đạo đức quý hơn là miếng đỉnh chung, tố bần hàn tuỳ mình mà hành đạo thì công quả ấy trổi hơn hạng thượng lưu đó các con.

Một nhà vầy hội rất mừng thay,

Ðạo Thánh từ đây đặng vẹn ngay.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Lộc nước gắng đền công chín tháng,

Nợ nhà tua vẹn gánh hai vai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Nhà là tập hợp những vua cùng một dòng họ kế tiếp nhau trị vì. Như: Nhà Lê, nhà Lý, nhà Nguyễn, nhà Châu, nhà Hớn.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có đoạn dạy: Người gọi Quan Âm là Nữ Phật tông, mà Quan Âm vốn là Từ Hàng Ðạo Nhân biến thân. Từ Hàng lại sanh ra lúc Phong Thần đời nhà Thương.

Thương ai chẳng chịu lộc nhà Châu,

Ăn thể ăn vi chịu thảm sầu.

(Đạo Sử).

4.- Nhà là chỉ người hoặc những gì có quan hệ rất gần gũi, thuộc về, hoặc coi như thuộc về gia đình mình, tập thể mình. Như: Người nhà, xã nhà, vườn nhà, chủ nhà.

Nói về quyền hành của Giáo Sư, Thánh giáo Thầy có câu: Chúng nó phải thân cận với mỗi môn đệ như anh em một nhà cần lo giúp đỡ, nghe à!

Phận làm tớ thật thà trung tín,

Với chủ nhà trọn kính trọn ngay.

(Kinh Sám Hối).

5.- Nhà là tiếng dùng với tiếng khác để chỉ về người chuyên về ngành nghề, hoặc lĩnh vực hoạt động nào đó.

Như: Nhà báo, nhà khoa học, nhà quân sự, nhà giáo, nhà vua, nhà sư.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Nhưng nơi cửa Ðạo, trách nhiệm của nhà giáo viên lại khó khăn hơn, vì phận sự bao hàm cả một nghĩa vụ thiêng liêng đối với Ðạo và một tinh thần hy sinh về mặt vật chất.

Ðứa nịnh năng gần người chánh lánh,

Phải ngươi sanh dưới phép nhà vua.

(Đạo Sử).

 

 

NHÀ CAO CỬA RỘNG

Hay “Cửa rộng nhà cao”.

Nhà cao: Nhà cất cao, toạ lạc trên nền cao. Cửa rộng: Cửa ra vào rộng lớn.

Nhà cao cửa rộng hay “Cửa rộng nhà cao” có nghĩa là nhà giàu có, nhà của người quyền quý, cao sang.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Theo thói thường ở đời thì giàu sang vinh hiển, cửa rộng nhà cao, ai cũng ham, nhưng nếu chẳng noi theo Ðạo mà được thì người quân tử không màng.

Tôi nay tột bực sang giàu,

Nhà cao cửa rộng ra vào thảnh thơi.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

NHÀ CỬA

Nhà: Chỗ ở dựng lên có mái, có tường. Cửa: Chỗ mở để ra vào.

Nhà cửa nói chung là nhà ở. Như: Dọn dẹp nhà cửa.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bần Đạo lấy làm hạnh phúc được thấy họ tấn triển một cách mau chóng, dọc theo con đường biên giới gia đình của dân phải di cư, những nhà cửa gần biên giới nước Việt Nam bị tiêu huỷ về sự phá hoại, duy có từ Sway Riêng lên tới kinh đô còn giữ tồn tại lại được, nhưng cũng hư hao chút ít.

Công là hay học chuyện bá xàm,

Trăm bánh trái, bao hàm nhà cửa.

(Phương Tu Đại Đạo).

Vợ con nhà cửa ruộng vườn,

Làm sao dứt bỏ tầm đường thoát thân.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

NHÀ GIAM

Nhà: Nơi có nhiều người cùng tụ họp, như nhà trường, nhà tù. Giam: Giữ, không để tự do cho người nào đó vi phạm luật pháp, hay có tội hình.

Nhà giam là nơi giam giữ những người vi phạm pháp luật, có tội hình.

Nhà giam đồng nghĩa với nhà tù, ngục thất.

Nghịch cảnh cam bề xa cửa Đạo,

Ngược chiều đưa bước đến nhà giam.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

NHÀ HUYÊN

Nhà: Tập hợp người có quan hệ gia đình cùng ở trong một nhà. Huyên: Cỏ huyên.

1.- Nhà huyên, dịch từ chữ “Huyên thất 萱 室”, tức là nhà trồng cỏ huyên, để chỉ bà mẹ.

Kinh thi có câu: Yên đắc huyên thảo ngôn thụ chi bối 焉 得 萱 草 言 樹 之 背, nghĩa là ước gì được cỏ huyên mà trồng thềm phía bắc, bởi vì cỏ huyên có tính giải được những điều phiền muộn, cho nên người ta dùng cỏ huyên để chỉ bà mẹ.

Nhà huyên dùng để chỉ bà mẹ.

Khơi mạch thảm trời thu chưa ráo,

Khóc nhà huyên mảnh áo còn mang.

(Thơ Thái Phong).

2.- Trong tôn giáo Cao Đài, nhà huyên còn dùng để chỉ Đức Phật Mẫu.

Công danh lòng trẻ đợi chờ,

E khi mến tục hững hờ nhà huyên.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

NHÀ KHÔNG ĐÓNG CỬA

Nhà:Tập hợp người có quan hệ gia đình cùng ở trong một nhà. Không đóng cửa: Ngủ không đóng kín cửa lại.

Nhà không đóng cửa, do câu: “Gia vô bế hộ 家 無 閉 戶”, tức là khi ngủ, nhà không đóng cửa.

Nhà không đóng cửa ý muốn nói đời thái bình thịnh trị, nhân dân sung túc, người không tham lam, xã hội không có trộm đạo.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Trong nước trên thương dưới, dưới kính trên, vắng trộm cướp, khỏi luật hình, vì quốc dân đặng bảo bọc giúp đỡ cho có nghề sanh nhai. Ðường không lượm của rơi, nhà không đóng cửa, ấy là đời thạnh trị của Nghiêu Thuấn vậy.

Trong nhà không đóng cửa, ngoài đường chẳng lượm của rơi,

Người ngậm cơm vỗ bụng, rất thảnh thơi Trời Nghiêu cùng Đất Thuấn.

(Giác Mê Khải Ngộ).

 

 

NHÀ LAN

Nhà: Cái nhà. Lan: Hoa lan.

Nhà lan, do chữ “Lan thất 蘭 室”, tức là nhà có mùi thơm của hoa lan. Nhà lan có hai nghĩa:

1.- Nhà lan dùng để chỉ nhà có đạo đức.

Gặp cơn rảnh nhà lan vắng khách,

Công chỉ kim đèn sách học hay.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Nhà lan mây tối trông mong mỏi,

Gối điệp canh tàn giấc tưởng mơ.

(Thơ Thuần Đức).

2.- Nhà Lan thơm mùi hoa lan, chỉ nơi phụ nữ ở.

Phận liễu trao về trang mặc khách,

Nhà lan cười đón nét thanh tân.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

NHÀ LẦU

Nhà: Công trình xây dựng có mái che, có tường vách để ở. Lầu: Nhà có gác, có tầng.

Nhà lầu, như chữ “Nhà gác”, tức là nhà có xây từ hai tầng trở lên.

Thành ngữ nhà lầu xe hơi dùng để chỉ nhà giàu có.

Của đời anh quyết tóm thâu,

Con ngoan vợ đẹp nhà lầu xe hơi.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

NHÀ LỒNG

Nhà: Công trình kiến trúc có mái, chung quanh có tường bao, để ở hay dùng vào công việc nào đó. Lồng: Vật đan bằng tre, nứa để nhốt chim. Nghĩa rộng chỉ vật như cái lồng. Như: Lồng bàn, nhà lồng chợ.

Nhà lồng là nhà được xây dựng có lợp mái ngoài khu chợ, trong đó dành cho các gian hàng bày hàng hoá để mua bán.

Đồ Thiên Bát Quái Chợ Long Hoa,

Bốn cánh nhà lồng khởi mới ba.

(Thơ Huệ Phong).

Nhà lồng bốn cánh rộng thênh thang,

Việc chợ Long Hoa trễ bộn bàng.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

NHÀ NGHÈO BIẾT CON THẢO

Nhà nghèo: Chỉ gia đình nghèo khó. Biết con thảo: Rõ được người con nào hiếu thảo.

Nhà nghèo biết con thảo, do câu cổ ngữ “Gia bần tri hiếu tử, quốc loạn thức trung thần 家 貧 知 孝 子, 國 亂 識 忠 臣”, nghĩa là nhà nghèo mới biết được con hiếu, nước loạn mới biết được tôi ngay.

Nhà nghèo biết con thảo ý nói có gặp nghịch cảnh thì mới biết lòng người như thế nào.

Có câu phương ngôn: Nhà nghèo biết con thảo, nước loạn rõ tôi trung.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

NHÀ Ở BẢY CĂN

Nhà ở: Nhà dùng để chứa người, ví với thân thể. Bảy căn: Hay bảy gian, ví với thất tình.

Nhà ở bảy căn được ví với thân thể chứa bảy thứ tình cảm (gọi là thất tình).

Bảy thứ tình cảm trong con người là hỷ, nộ, ái, ố, ai, lạc, dục, được gọi là thất tình thường hay khuấy rối thân, tâm con người tu tập.

Vì vậy, người tu hành hằng ngày phải rèn luyện, trau dồi thất tình thì chẳng khác như chủ nhà phải gìn giữ bảy căn nhà ở.

Ruộng cày sáu mẫu lo vun quén,

Nhà ở bảy căn rán vẹn gìn.

(Cao Thượng Phẩm).

 

 

NHÀ QUÊ

Nhà: Nhà là tiếng dùng để chỉ về người chuyên về ngành nghề, hoặc lĩnh vực hoạt động nào đó. Quê: Chỉ sự mộc mạc, chất phác.

Nhà quê ý chỉ người quê mùa, chất phác.

Như: Ở nhà quê ra thành, áo may theo kểu nhà quê.

Coi đứa ở hay tham bậy bạ,

Thấy nhà quê nói giá thêm cao.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHÀ SẬP BÌM LEO

Nhà sập: Nhà gãy đổ xuống. Bìm leo: Dây bìm, một loại dây leo bám vào cội cây khác.

Nhà sập bìm leo là nhân nhà bị sụp đổ, dây bìm có cơ hội đeo bám leo lên. Ý chỉ thừa cơ hội suy thời thì các tai nạn xảy đến.

Chẳng tệ nào hơn nỗi tệ nghèo,

Rõ ra nhà sập, đám bìm leo.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

NHÀ TAN NGHIỆP NÁT

Nhà tan: Nhà cửa tiêu tan. Nghiệp nát: Sự nghiệp tan hoang đổ nát.

Nhà tan nghiệp nát là nhà cửa và sự nghiệp đều tiêu tan đổ nát hết do chiến tranh, hay thiên tai bão lũ gây ra.

Như: Cơn sóng Thần vừa qua bao nhiêu cảnh nhà tan nghiệp nát đã xảy ra.

Ngọn lửa chiến tranh thảm khốc đã bao trùm khắp đất nước, đã lan tràn từ thành thị đến thôn quê gây nên cảnh chết chóc tang thương, nhà tan nghiệp nát.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

NHÀ THUNG

Hay “Nhà xuân”.

Nhà: Chỉ về người. Thung (còn đọc xuân) 樁: Cây thông, là một loại cây to, theo Trang Tử lấy tám nghìn năm làm một mùa xuân, tám nghìn năm làm một mùa thu, vì thế người ta dùng chữ “Thung” để chúc thọ, hay ví với cha.

Nhà thung (hay xuân), do chữ “Thung (xuân) đường 樁 堂”, dùng để chỉ ông cha.

Rõ nỗi nhà thung gìn đức cả,

Nên toan tiếp trẻ khỏi ba đào.

(Đạo Sử).

 

 

NHÀ THUYỀN

Hay “Ban nhà thuyền Bát Nhã”.

Nhà: Cái nhà, chỉ một cơ quan trong Đạo Cao Đài. Thuyền: Thuyền Bát nhã.

Nhà thuyền hay “Ban Nhà Thuyền Bát Nhã” và Đạo Tỳ được Hội Thánh thành lập vào năm Ất Hợi (1935), địa điểm được đặt tại góc đường Oai Linh Tiên và Cao Thượng Phẩm thuộc Nội Ô Toà Thánh.

Ban “Nhà Thuyền Bát Nhã và Đạo Tỳ” thành lập do Thánh ý của Đức Hộ Pháp, có nhiệm vụ tẩn liệm thi hài người quy liễu, đưa linh cữu bằng thuyền Bát Nhã đến Nghĩa Địa để an táng theo phép Đạo.

Trong Đạo Cao Đài, Thuyền Bát Nhã được tượng trưng bằng chiếc thuyền rồng gỗ, màu vàng trên đó có cái nhà vàng dùng đặt quan tài người quy liễu để đưa đến huyệt mộ chôn cất theo nghi lễ của Đạo.

Xem: Thuyền Bát Nhã.

Bát Nhã neo chờ khách hữu duyên,

Nơi đây đẹp ngắm cảnh Nhà Thuyền.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

NHÀ THƯƠNG

Nhà: Chỉ triều đại. Thương: Tên một triều đại cổ ở Trung Hoa.

Nhà Thương (1783-1122) trước Tây Lịch, là một triều đại cổ của nước Trung Hoa.

Nhà Thương do vua Thành Thang sau khi lật đổ vua Kiệt, một ông vua dâm loàn hung bạo ở cuối nhà Hạ, vào năm 1782 trước Tây lịch, lên ngôi Thái Tổ nhà Thương, lập lại an ninh trật tự cho bá tánh.

Ghét loài hồ mị hại nhà Thương,

Sàm tấu làm cho cháy miếu đường.

(Vô Danh Cư Sĩ).

 

 

NHÀ VÀNG

Nhà: Cái nhà. Vàng: Vàng bạc.

Nhà vàng, bởi chữ “Kim ốc 金 屋”, tức là nhà quý báu, lộng lẫy dành cho người đẹp ở.

Còn có thể dùng để chỉ người con gái quý phái.

Do tích: Hán Võ Đế khi còn nhỏ, người cô là trưởng công chúa bế ngồi trên đầu gối, chỉ A Kiều là người con gái út của mình, hỏi đùa: Cháu có muốn A Kiều không? Võ Đế cười đáp: Nếu được A Kiều thì con sẽ cất nhà vàng cho A Kiều ở. Về sau, khi lên ngôi vua, Võ Đế lập A Kiều làm Hoàng hậu.

Nhà vàng phận quý khi thơ,

Gót sen dầu lịch cũng nhờ vẻ xuân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Giá cao đúc mái nhà vàng,

Việt Châu thuở ấy có nàng Chiêu quân.

(Phù Kiều Hận Sử).

 

 

NHÀ VĂN

Nhà: Tiếng dùng với một từ chỉ nghề để gọi về người. Như: Nhà báo, nhà điêu khắc... Văn: Hình thức ngôn ngữ được trau chuốt cho hay, đẹp. Như: Văn chương.

Nhà văn là người chuyên sáng tác thơ văn và đã có tác phẩm được công nhận có giá trị.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Nhà Tôn giáo tìm ra một lý thuyết giúp nhân loại tránh việc cạnh tranh sát phạt; nhà triết học phát huy cái tư tưởng cao xa; nhà văn làm ra quyển sách kiệt tác hay nhà khoa học tìm ra cái cơ khí tinh xảo, đều là hợp với cái đức sinh hoá của trời đất cả.

Sĩ tử nhà văn cũng tiếng rằng,

Chẳng gìn nết hạnh khách Nho văn.

(Đạo Sử).

 

 

NHẢ NGỌC GIEO VÀNG

Nhả ngọc: Phun ra ngọc, chỉ người có lời nói văn hoa. Gieo vàng: Ý nói người có tài làm thơ.

Nhả ngọc gieo vàng dùng để nói người ngôn luận hay, có tài văn chương, thơ văn giỏi. Đồng nghĩa với nhả ngọc phun châu.

Xem: Nhả ngọc phun châu.

Nhớ tình nhả ngọc với gieo vàng,

Bồng đảo trần gian cách trở đàng.

(Đạo Sử).

Vốn không nhả ngọc với gieo vàng,

Tạm mượn lời quê đáp cháu ngoan.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

NHẢ NGỌC PHUN CHÂU

Nhả ngọc: Phun ra ngọc, chỉ người có lời nói văn hoa. Phun châu: Nói ra lời đẹp đẽ.

Thành ngữ “Nhả ngọc phun châu”, dịch từ câu “Thoá ngọc phi châu 唾 玉 霏 珠”, dùng để chỉ người có tài văn chương, ngôn luận hoặc chỉ người làm thơ lỗi lạc.

Đức bạc há bì trang nhả ngọc,

Tài sơ đâu sánh bực phun châu.

(Thơ Hiến Pháp).

Một áng văn chương lời nhả ngọc,

Năm vần tình cảm nét phun châu.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

NHÃ Ý

雅 意

Nhã: Thanh tao, khoan thai, vui vẻ, ôn hoà, có lễ độ, trái với thô tục. Ý: Ý nghĩ, điều suy nghĩ.

Nhã ý là ý nhã nhặn, ý tốt đẹp, thể hiện sự quan tâm, quý mến một cách tế nhị.

Như: Anh ấy có nhã ý đến thăm và an ủi.

Mở rộng cửa Ban Thế Ðạo, Hội Thánh Hiệp Thiên Ðài do theo nhã ý của Ðức Hộ Pháp...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

NHÁC

Nhác là lười biếng, trễ nãi. Như: Biếng nhác, việc nhà thì nhác việc chú bác thì siêng.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy lập Ðạo năm rồi ngày nầy thì môn đệ của Thầy chỉ có 12 đứa, mà 4 đứa đã rơi vào tay Chúa Quỉ, chỉ còn lại 8. Trong 8 đứa thì lại còn một đôi đứa biếng nhác mà không hành đạo.

Lòng chừa biếng nhác kiêu căng,

Của tiền lãng phí không ngằn phải tiêu.

(Kinh Sám Hối).

 

 

NHẠC

1.- Nhạc là âm nhạc, tiếng gọi chung cả ngũ thanh, bát âm. Như: Nghe nhạc, múa theo nhạc, cử nhạc, nhạc công, trường âm nhạc.

Thánh giáo Chơn Cực Lão Sư có đoạn: Nhạc còn chưa đủ thể cách, đờn để rước chư Tiên, Thánh, không phải vậy là đủ. Người nhạc công phải ăn mặc tinh khiết, sắp đặt vào khởi nhạc phải có thứ lớp phân minh, chớ chẳng phải muốn đờn bài chi cũng đặng.

Lao lực thế tình chi xạo xự,

Rửa tai chờ lóng nhạc năm cung.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Nhạc là dãy núi cao. Như: Nhạc gia, nhạc phụ, nhạc mẫu, nhạc thân.

Người xưa thường ví cha mẹ ruột như núi Thái Sơn, còn cha mẹ vợ như hòn núi cao, cho nên nhạc 岳 (núi cao) có nghĩa là cha mẹ vợ.

Tỷ nhạc thân đòi ngọc Lam điền,

Mình phải đủ phép Tiên trồng đặng ngọc.

(Phương Tu Đại Đạo).

Hiếu nhạc thân thìn dạ chớ quên,

Đền sinh dục thay phiền cho vợ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHẠC CÔNG

樂 工

Nhạc: Âm nhạc. Công: Người thợ.

Nhạc công hay Nhạc viên là những người diễn tấu âm nhạc. Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chơn Cực Lão Sư có dạy như sau: Nhạc còn chưa đủ thể cách, đờn để rước chư Tiên, Thánh, không phải vậy là đủ. Người nhạc công phải ăn mặc tinh khiết, sắp đặt vào khởi Nhạc phải có thứ lớp phân minh, chớ chẳng phải muốn đờn bài chi cũng đặng. Ấy là trái Thánh ý đó.

Ban nhạc là một tập hợp gồm các nhạc viên và chức sắc Ban nhạc, có nhiệm vụ diễn tấu âm nhạc trong buổi cúng Đàn tại Đền Thánh, Điện Thờ Phật Mẫu hoặc buổi tang tế sự của đạo. Ban nhạc được chia thành hai nhóm: Nhóm văn ban và nhóm võ ban.

Nhóm văn ban: Nhạc khí căn bản của nhóm văn ban là cây đờn cò mà bất cứ một buổi cúng nào cũng phải có. Còn các nhạc cụ sau, nếu thiếu cũng được. Như: Đàn tranh, đàn lìm, đàn tỳ bà, đàn gáo, đàn sến, đàn tam, đàn độc huyền, ống sáo, ống tiêu...

Nhóm võ ban: Gồm các loại trống như trống cái, trống cơm, trống chiến, các loại kèn như kèn mộc, kèn chàng, kèn thau, các loại bạc như bạc xà, bạc nhỏ, mõ như mõ gỗ, mõ sừng, đầu đường (trong Đạo gọi là đồ đường) và bồng.

Người xưa chế ra nhạc để giáo dục con người, chính vì vậy mà trong sách Nho Giáo, Trần Trọng Kim đã viết: Nhạc là cái vui của Thánh Nhân mà khiến cho lòng dân trở nên tốt lành, có thể cảm lòng người rất sâu và di phong dịch tục được, cho nên tiên vương mới đặt ra dạy nhạc.

Do nhạc là một bộ môn rất quan trọng cho nên Đức Hộ Pháp mới ban Thánh Lịnh Số: 25/TL ngày 29 tháng 3 năm Tân Mão (Dl. 4/5/1951) để quy định về các chức sắc trong Bộ Nhạc. Nội dung của Thánh Lịnh như sau:

THÁNH LỊNH

Chiếu y Tân Luật và Pháp Chánh Truyền;

Chiếu y Ðạo Luật ngày 16 tháng Giêng năm Mậu Dần (Dl. 15/2/1938) giao quyền Thống Nhứt Chánh Trị Ðạo cho Hộ Pháp nắm giữ đến ngày có Ðầu Sư chánh vị;

Chiếu y Sắc Lịnh số 51 ngày mồng 9 tháng 11 Bính Tý (22-12-1936) định phần phong thưởng cho Lễ Sĩ và Giáo Nhi đầy đủ 5 năm công nghiệp;

Nghĩ vì Ban Lễ đã định phận thì Bộ Nhạc cũng được hưởng đặc ân của Hội Thánh đặng tiến bước lập vị.

THÁNH LỊNH:

Ðiều thứ 1: Trong Bộ Nhạc của Tòa Thánh có 9 phẩm ân phong như sau nầy:

 

1. Nhạc Sĩ

 

2. Bếp Nhạc

 

3. Cai Nhạc

 

4. Đội Nhạc

 

5. Quản Nhạc

 

6. Lãnh Nhạc

 

7. Đề Nhạc

 

8. Đốc Nhạc

 

9. Nhạc Sư

 

 

Ðiều thứ 2: Bộ Nhạc chuyên chú về tài năng nghệ thuật thì từ hạ phẩm đến thượng phẩm, mỗi cấp đều có khoa mục đặng tuyển chọn danh nhơn để điều khiển nội Ban.

Trong mỗi kỳ khoa mục, vị nào đủ tài ứng thí thì được phép xin thi và mỗi khi thi đậu là mỗi lần được thăng phẩm, nhưng không được xin ứng thí vượt bậc.

Ðiều thứ 3: Nếu thi rớt vì không đủ tài thì ở lại phẩm cũ, chờ đủ 5 năm công nghiệp mới được cầu ân phong.

Phẩm Nhạc Sư đủ 5 năm công nghiệp thì thăng lên Phối Sư hay là Tiếp Lễ Nhạc Quân nếu có khuyết.

Ðiều thứ 4: Chín phẩm trong Bộ Nhạc đối với 9 phẩm của HTÐ hay các phẩm khác của Cửu Trùng Ðài và Phước Thiện như sau nầy:

BỘ NHẠC

 

PHÁP CHÁNH

 

CỬU TRÙNG

 

PHƯỚC THIỆN

Nhạc Sĩ

 

Luật Sự

 

Chánh Trị Sự

 

Hành Thiện

Bếp Nhạc

           

Cai Nhạc

 

Sĩ Tải

 

Lễ Sanh

 

Giáo Thiện

Đội Nhạc

           

Quản Nhạc

 

Truyền Trạng

       

Lãnh Nhạc

 

Thừa Sử

 

Giáo Hữu

 

Chí Thiện

Đề Nhạc

           

Đốc Nhạc

 

Giám Đạo

 

 

 

Đạo nhơn

Nhạc Sư

 

Cải Trạng

 

Giáo Sư

 

Chơn Nhơn

   

Chưởng Ấn

 

Phối Sư

 

Hiền Nhơn

   

Tiêp Dẫn Đạo Nhơn

 

Chánh Phối Sư

 

Thánh Nhơn

   

Thập Nhị Thời Quân

 

Đầu Sư

 

Tiên Tử

Ðiều thứ 5: Chư vị: Bảo Thế Tổng Thơ Ký Chánh Trị Ðạo, Khai Pháp Chưởng quản Bộ Pháp Chánh, Quyền Ngọc Chánh Phối Sư, Thượng Thống Lại Viện, Ðạo Nhơn Chưởng quản Phước Thiện, Phụ Thống Lễ Viện Hành Chánh, Phụ Thống Lễ Viện Phước Thiện, Nhạc Sư Bộ Nhạc, các tư kỳ phận, lãnh thi hành Thánh Lịnh nầy.

Huấn từ của Đức Thượng Sanh nhân lễ Khánh thành Học Đường Bộ Nhạc Trung Ương ngày Ngày 25 tháng 10 năm Mậu Thân (Dl. 14/12/1968) có đoạn như sau: Khi mới khai sáng nền Ðạo, Ðức Chí Tôn rất chú trọng đến Nhạc và Lễ, vì cái hay của Lễ là giữ trật tự bên ngoài cái hay của Nhạc là tạo sự điều hòa để kềm chế tâm tình bên trong cho khỏi vọng niệm. Lễ và Nhạc cùng họp nhau và nếu giữ đúng nề nếp thì đàn cúng mới nghiêm chỉnh, được bao trùm một bầu không khí huyền diệu, Thiêng liêng khiến cho chúng ta cảm tưởng là có Ðức Chí Tôn và Chư Tiên Phật giáng ngự để ban ơn cho toàn Ðạo.

Trái lại nếu Lễ không nghiêm, Nhạc không hòa thì đàn cúng có cái trạng thái hỗn loạn khiến cho người đến Lễ bái có một tâm trạng xao xuyến, tinh thần bất định. Ðó là một sự thất Lễ đối với các Ðấng Thiêng liêng và như vậy Ðức Chí Tôn không khi nào giáng Ðàn, tà quái có thể thừa dịp xung nhập gây nên điều rắc rối. Trong nhiều Ðàn cúng lúc ban sơ, Chức sắc thường bị Ðức Chí Tôn giáng cơ quở trách vì Ðàn không nghiêm.

Người nhạc công phải ăn mặc tinh khiết, sắp đặt vào khởi Nhạc phải có thứ lớp phân minh...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

NHẠC ĐIỆU

樂 調

Nhạc: Âm nhạc. Điệu: Ghi chép giọng cao thấp trong âm nhạc để nghe cho êm tai.

Nhạc điệu là nhịp trầm bổng của âm thanh trong một bài thơ hay một bản nhạc.

Gió tạt mành thưa chênh nhạc điệu,

Sương gieo khắc lụn toả hơi đồng.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

NHẠC GIA

岳 家

Nhạc: Hòn núi cao to. Gia: Chữ dùng để gọi những người tôn trưởng.

Người xưa thường ví cha mẹ ruột như là núi Thái sơn, và cha mẹ vợ như hòn núi cao to, nên mới gọi là “Nhạc gia 岳 家”.

Trông gặp rể đông sàng biết phải,

Bên nhạc gia cũng lạy mà dâng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHẠC NĂM CUNG

Nhạc: Âm nhạc. Năm cung: Năm bậc âm thanh trong nhạc cổ, gọi là ngũ âm gồm: Cung, thương, giốc, chuỷ, vũ.

Nhạc năm cung là nhạc ngũ âm, tức là âm nhạc cổ điển của người xưa.

Lao lực thế tình chi xạo xự,

Rửa tai chờ lóng nhạc năm cung.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cõi thế chờ qua đường mấy dặm,

Non Thần đợi lóng nhạc năm cung.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NHẠC NGHỊ

岳 毅

Nhạc Nghị là người cầm cày ở nước Triệu, đời Chiến Quốc. Ở Triệu vì nghèo khổ ở không yên mới qua đầu Ngụy. Ở Ngụy cũng không bền, qua trú nước Yên, rồi đi du thuyết Tần, Triệu và Hàn để đánh Tề.

Tề Mân Vương thua phải chạy lánh nạn qua Cử Châu. Nhạc Nghị phá được Lâm Tri, vào chở ngọc ngà châu báu đem về Yên để lập công với Yên Chiêu Vương. Vậy mà không khỏi sau nầy Chiêu Vương mất, Thái tử Lạc Tư lên ngôi thế cho cha lấy tên Yên Huệ Vương, nghe lời gièm siểm, muốn hại Nghị. Nhạc Nghị sợ, trốn trở về ở ẩn nơi Triệu.

Sao chẳng thể theo tài Nhạc Nghị,

Bần cùng mà có tiếng gì không?

(Thánh Giáo Minh Thiện).

 

 

NHẠC PHI

岳 飛

Nhạc Phi là một danh tướng đời Tống Huy Tông, hiệu là Bàng Cử, sanh ở huyện Thang Âm. Ông là người trung trực với vua, người chí hiếu với mẹ. Ông có tài chinh chiến, đánh đâu thắng đấy, được vua ban cho lá cờ thêu bốn chữ “Tinh Trung Nhạc Phi 精 忠 岳 飛”.

Nhạc Phi đem quân đi đánh Liêu. Trong triều có Tần Cối vì ganh công với Nhạc Phi, nên đề nghị muốn xin hoà, giả chiếu chỉ vua triệu Nhạc Phi về. Nhân trong lúc đang thắng trận, Nhạc Phi không chịu hoà với giặc. Tần Cối gièm với vua là Nhạc Phi có ý muốn làm phản, nên nhà vua bắt bỏ ngục và giết Nhạc Phi.

Mẹ Nhạc Phi gương loà Khổng Giáo,

Thích lưng con hoài bảo tận trung.

(Báo Ân Từ).

 

 

NHẠC SUỐI ĐỜN TÒNG

Nhạc suối: Suối chảy róc rách tạo ra tiếng nhạc. Đờn tòng: Tòng (hay thông) reo trước gió làm thành tiếng đờn.

Nhạc suối đờn tòng ý nói thú thưởng thức cảnh thiên nhiên của người ẩn dật, lấy suối chảy và thông reo làm âm thanh của bản nhạc.

Bao nhiêu gỗ quý tay đều nắm,

Nhạc suối đờn tòng bạn sớm trưa.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

NHẠC TẦN

Nhạc: Âm nhạc, tiếng gọi chung cả ngũ thanh và bát âm. Tần: Tên gọi nước Miên, như: Tần quốc.

Nhạc Tần là nhạc của người dân tộc Miên trong Đạo Cao Đài thể hiện.

Trong các nghi lễ của Đạo thường có đánh nhạc Tần, do mấy em thuộc Tần nhơn tập dượt để biểu diễn.

Nhạc Tần đánh rước, âm dồn dập,

Lân ngọc múa nghinh, điệu nhịp nhàng.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

NHẠC TẤU HUÂN THIÊN

樂 奏 熏 天

Nhạc tấu: Hay tấu nhạc là đánh nhạc, khởi nhạc.

Huân Thiên 熏 天: Xông lên vang trời, rền trời.

Quân Thiên 鈞 天: Tên một bản nhạc cổ xưa.

Nghi thức cúng Đàn trong tôn giáo Cao Đài có tấu nhạc để tiếp giá Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu và chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, gọi là “Nhạc Tấu Huân Thiên” (Huân chữ H). Chúng ta thử tìm hiểu nghĩa của từ nầy.

Nhạc tấu có nghĩa là tấu nhạc, đánh nhạc, khởi nhạc lên. Huân Thiên là xông lên đầy trời, rền trời.

Nhạc Tấu Huân Thiên 樂 奏 熏 天 là dùng các nhạc cụ đánh lên, âm thanh rền vang hoà quyện với nhang khói, xông khắp không trung để làm lễ hiến dâng Đức Chí Tôn cùng các Đấng Thần, Thánh, Tiên, Phật giáng hạ.

Trong quyển “Tứ Thời Nhựt Tụng”, hai Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt, và Ngọc Lịch Nguyệt lại viết “Nhạc Tấu Quân Thiên 樂 奏 鈞 天” (Quân chữ Q).

Vậy ta thử tìm hiểu từ Nhạc tấu Quân Thiên.

Quân 鈞 là cái bàn xoay (như cái compas) của người thợ nặn những vật tròn, dùng cái vòng quây cho tròn gọi là quân, là cái đồ chế tạo rất khéo của đời xưa, cho nên người ta gọi Trời là “Đại quân 大 鈞” hoặc “Hồng quân 洪 鈞”, ý nói Trời đúc nên muôn vật, cũng như người thợ nặn dùng cái quân làm nên các vật.

Như vậy, Quân Thiên, đồng nghĩa với chữ “Đại Quân”, “Hồng Quân”, để chỉ Đức Thượng Đế.

Ngoài ra, chữ “Quân Thiên” còn dùng để chỉ “Quân Thiên Nhạc 鈞 天 樂”, hay “Quân Thiên Quảng Nhạc 鈞 天 廣 樂”, là nhạc khúc tấu lên dâng cho Đức Thượng Đế hay ở nơi cung điện của nhà vua.

Điển tích về Quân Thiên Nhạc được Sử Ký nhắc đến như sau:

Triệu Giản Tư bị bệnh nặng, năm ngày liền không nhận ra người thân, gia đình mời thần y Biển Thước đến thăm bệnh. Thăm xong, Đổng An Vu hỏi, ông nói: Không có gì lạ cả, xưa kia Tần Mục Công cũng bị bệnh như thế, bảy ngày sau mới tỉnh.

Trong lúc bệnh, Triệu Giản Tư thấy mình cùng các vị Thần Tiên lên Thiên đình, nghe tấu một điệu nhạc có tên là “Quân Thiên Nhạc”. Hai ngày sau, Triệu Giản Tư tỉnh lại, nói với quan Đại phu rằng: Dữ bách Thần du ư Quân Thiên Quảng Nhạc, cửu tấu vạn vũ, bất loại tam đại chi nhạc, kỳ thanh động nhân tâm 與 百 神 遊 於 鈞 天 廣 樂, 九 奏 萬 舞, 不 類 三 代 之 樂, 其 聲 動 人 心 nghĩa là cùng với chư Thần ruỗi chơi nơi Quân Thiên Quảng Nhạc tấu chín khúc, muôn điệu múa, không khúc nào giống khúc nào thời tam đại, tiếng nhạc làm xúc động lòng người.

Trong một tác phẩm văn học, tựa là “Hoa Điểu Tranh Năng” có nói về từ “Quân Thiên Nhạc” như sau:

Nhớ xưa ở chốn Đào viên,

Bà Vương Mẫu mở thọ diên vui mừng.

Quân Thiên Nhạc tấu vang lừng,

Tiệc la ỷ mở tưng bừng xôn xao.

Như vậy, Quân Thiên Nhạc là tên bài nhạc đã được dùng từ lâu để chỉ khúc nhạc tấu ở trên Thiên đình, sau người ta dùng để chỉ nhạc tấu nơi cung vua, chính vì vậy, hai Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt và Ngọc Lịch Nguyệt mới viết “Nhạc Tấu Quân Thiên”.

Tóm lại, từ nầy hiện nay trong những tác phẩm hoặc Văn bản của đạo Cao Đài gồm có hai cách viết “Nhạc Tấu Huân Thiên 樂 奏 熏 天” hoặc “Nhạc Tấu Quân Thiên 樂 奏 鈞 天”.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển hay Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp, Hội Thánh và các tốc ký viên thường viết là “Nhạc Tấu Huân Thiên” (Huân viết chữ H), còn trong quyển “Tứ Thời Nhựt Tụng” của hai Ngài Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt, và Ngọc Lịch Nguyệt và Cao Đài Từ Điển của Đức Nguyên HIền Tài Nguyễn Văn Hồng viết “Nhạc tấu Quân Thiên” (Quân viết chữ Q).

Điều nầy chúng ta chỉ đưa ra khảo cứu để tìm hiểu nghĩa, còn việc thống nhất thành một từ, chờ Hội Thánh sau nầy sẽ xét chọn.

Trong Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn viết: Nên chi từ đây khi Nhạc Tấu Huân Thiên, chúng ta xem quý hơn dâng Tam Bửu, dầu phải lỡ đi nửa chừng trong Ðền Thờ, nghe đến đó phải dừng lại, cấm không được đi lộn xộn, thì lễ ấy giảm điều kính trọng dâng cho Chí Tôn mà không nên.

Tưởng Thiên Nhãn Đẩu tinh chiếu thấu,

Tai bừng nghe Nhạc tấu huân Thiên.

(Cội Đạo Bốn Mùa).

Đàn nghinh Hội Thánh quy Tam Giáo,

Nhạc tấu huân Thiên tỉnh bát hồn.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

NHẠC THIỀU

樂 韶

Nhạc: Âm nhạc. Thiều: Nhạc của vua Thuấn.

Nhạc thiều tức là khúc nhạc “Tiêu Thiều” của vua Thuấn. Tiêu thiều là tên một khúc nhạc dạy dân phải có lòng chính đính, cao thượng, không tà dại dâm loạn.

Tương truyền khi vua Thuấn tấu nhạc thiều lên thì có chim phượng hoàng đến múa. Trong Kinh Thư, thiên Ích Tắc viết: Tiêu thiều cửu thành, phụng hoàng lai nghi 簫 韶 九 成, 鳳 凰 來 儀, nghĩa là khi nhạc Thiều tấu đến khúc thứ chín, thì chim phượng hoàng đến múa, có vẻ uy nghi.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Chúng ta thấy rõ Thánh nhơn trọng dụng Âm nhạc như vậy vì Âm Nhạc là một bộ môn văn hoá cao đến tuyệt độ và Nhạc Thiều có cái mãnh lực huyền bí, cao siêu giúp dân trị nước, cải hoán xã hội.

Vườn Thanh Sơn,

Nhạc Thiều là phụng kêu vượn hú,

Ve ngâm nga hoà âm nhạc,

giúp thêm đủ kệ Tinh Thần,

(Giác Mê Khải Ngộ).

 

 

NHAI

Nhai là bỏ vào miệng lấy răng nghiền nhỏ, nghiền nát cơm hay thức ăn.

Như: Nhai thịt bò, nhai trầu, tay làm hàm nhai, nhai cơm đút bé ăn.

Lưỡi lừa miếng nhai cơm lũ trẻ,

Kiêng vật ăn đặng để nuôi con.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Già răng rụng cắn cơm không bể,

Dâu kiếm phương nhai thế đút mồi.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHÁI

Nhái là nhại, bắt chước giọng con vật, hoặc tiếng nói, điệu bộ của người khác.

Như: Nhái theo giọng ễnh ương, tiếng nói người xứ Quảng rất khó nhái.

Già run en nói chẳng ra điều,

Dâu nhái tiếng cho kêu cần cổ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHÁI DUYÊN TÂY TỬ

Nhái duyên: Bắt chước sự duyên dáng. Tây Tử: Tức Tây Thi, người con gái nước Việt đời Xuân Thu.

Nhái duyên Tây Tử là bắt chước sự duyên dáng của nàng Tây Thi.

Theo sách Ngô Việt Xuân Thu, Tây Thi là người con gái đẹp ở Trử La thôn. Nàng đẹp một cách tự nhiên, tương truyền khi nàng bị đau, nhăn mày thì trông nàng càng đẹp hơn, vì thế nhiều người con gái thời đó thường bắt chước sự nhăn mày làm đẹp của Tây Thi, gọi là “Hiệu tần 效 顰” (bắt chước nhăn mày).

Nhái duyên Tây Tử ý muốn nói bắt chước làm cho đẹp, không dè lại xấu hơn.

Nhái duyên Tây Tử cười môi méo,

Đoạt điệu Đường Phi bước trẹo giò.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

NHÁY

1.- Nháy là chớp, tiếng dùng để chỉ khoảng thời gian xảy ra rất ngắn.

Như: Chỉ nháy mắt là làm xong, đi trong nháy mắt là trở về nhà.

Tuy là Trời Đất rộng thinh,

Mắt dường sao nháy chiếu minh lòng người.

(Kinh Sám Hối).

2.- Nháy là ra hiệu bằng cách nháy mắt, chớp mắt.

Như: Hai người nháy nhau ra ngoài sân, đưa mắt nháy bạn đi về.

Nháy vợ biểu bồng con hứng gió,

Ra trước sân làm bộ đi chơi.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHÁY MẮT

Nháy: Chớp, tức mắt nhắm lại rồi mở ra ngay. Mắt: Cơ quan để nhìn của người hoặc động vật.

Nháy mắt là một khoảng thời gian rất ngắn, tựa như chỉ kịp nháy mắt.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: Ðạo Trời khai dẫn bước lỗi lầm, đem kẻ hữu căn lánh vòng phiền não. Nếu chẳng bả bươn nhặt thúc bóng thiều, kiếp phù sinh qua dường nháy mắt.

Than rằng: Cõi phù sanh nháy mắt,

Trăm năm đâu biết chắc rủi may.

(Thanh Tâm Tài Nữ).

 

 

NHẢY

1.- Nhảy là co chân lại mà cất mình lên để vượt qua một khoảng cách hay một chướng ngại.

Như: Nhảy được một khoảng 4 thước, nhảy qua hàng rào, nhảy qua chiếc xe đạp.

Đạp Thái Sơn nhảy qua Đẩu Suất,

Vịn Kim Câu đến chực Thiên Môn.

(Kinh Tận Độ).

Như người trần lổ đi đầu chợ,

Như kẻ mang gông muốn nhảy rào.

(Đạo Sử).

2.- Nhảy là chuyển động thân thể nhịp nhàng, uyển chuyển theo nhạc điệu.

Như: Nhảy múa, Bước nhảy của anh ta rất đẹp.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Ví như nghe người ta kêu gào, mình cũng bắt chước kêu gào, thấy ai nhảy mình cũng nhảy, ai múa mình cũng múa, quý vị hãy tưởng tượng thiên hạ sẽ bình phẩm mình ra sao?

Tập đầm thấm nết đi tướng chạy,

Đừng cà khêu múa nhảy chúng chê.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Nhảy là di chuyển đến một vị trí nào đó một cách nhanh, dứt khoát. Như: Nhảy bổ ra làm việc.

Thánh giáo Thầy có câu: Chẳng khác nào ngồi nhà thấy kẻ mắc mưa ướt mình, nhảy ra che cho ướt, lại khen rằng mát thì muội lắm đó.

Cuồn cuộn mây vầng bay thoát thoát,

Lia lia gió ngựa nhảy mau mau.

(Thiên Thai Kiến Diện).

4.- Nhảy là lú mầm ra, đâm chồi ra, nảy tượt.

Như: Cành cây nhảy tượt, hột giống nhảy mầm, nhảy lá xanh chồi.

Hễ cát đằng nhảy lá xanh chồi,

Thân tòng bá càng tươi thêm vẻ đẹp.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHẢY ĐẦM

Nhảy: Chuyển động thân thể nhịp nhàng, uyển chuyển theo nhạc điệu. Đầm: Đàn bà con gái phương Tây.

Nhảy đầm là khiêu vũ, tức làm những động tác của tay chân nhịp nhàng, phối hợp với nhau theo điệu nhạc và thành từng đôi nam nữ trong những cuộc dạ hội.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ðạo Giáo là tinh, phải ẩm thực, tinh mới sống, xác thịt giữa là xác thân trí thức tinh thần, ta thấy con người chẳng phải tìm món ngon vật lạ đặng bảo thủ xác thân, còn coi hát, nhảy đầm, vui chơi, cờ bạc, hút sách tưởng là tìm món ăn cho trí thức đặng bảo dưỡng, mà không biết rằng đó là hại cho trí thức.

Biên cương buổi nọ Tàu lui gót,

Chín bệ ngày nay quỷ nhảy đầm.

(Đạo Sử).

 

 

NHAM HIỂM

巖 險

Nham: Đá núi cao dốc, hiểm trở. Hiểm: Dễ gây nguy hại một cách khó lường.

Nham hiểm là hiểm trở gay go, hoặc độc ác một cách sâu kín, không ai lường được. Như: Lòng nham hiểm.

Thuyết về Đức Khổng Thánh, Thượng Sanh có đoạn: Ngài cầm quyền được bảy ngày thì giết quan Ðại phu Thiếu Chính Mão là một người xảo trá nham hiểm thời ấy. Ðược ba tháng thì quốc chánh rất hoàn toàn, trật tự được phân minh, cảnh tượng nước Lỗ thật là thạnh trị.

Làm lành đặng hưởng phước duyên,

Trong lòng nham hiểm, lộc quyền giảm thâu.

(Kinh Sám Hối).

Đừng lòng nham hiểm hẹp hòi,

Buông lời chửi rủa đòn roi không từ.

(Kinh Sám Hối).

 

 

NHÀM

Nhàm là cảm thấy chán, hoặc gây cảm giác chán vì lặp đi lặp lại nhiều lần, không có gì mới lạ.

Bia Kỷ Niệm Đức Cao Thượng Phẩm có câu: Khôn xiết kể công lao của Cao Quân đã lo dìu dắt chúng sanh còn phải vun trồng nền Ðạo giữ tròn phận sự, mưa nắng chẳng nài, lo Ðạo không nhàm, tuyết sương chẳng quản.

Non Tiên lối cũ thân dầu toại,

Bợn tục đường xưa bước đã nhàm.

(Thơ Hộ Pháp).

Tuồng đời nhàm trải vẻ đai cân,

Tòng bá chọn nơi Ðạo gội nhuần.

(Thơ Huệ Giác).

Nhà trắng chừ đem gởi tuổi xanh,

Phồn hoa nhàm lắm vẻ xuân tình.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

NHÀM TAI

Nhàm: Cảm thấy chán vì lặp đi lặp lại nhiều lần, không có gì mới lạ. Tai: Bộ phận để nghe.

Nhàm tai là chán không muốn nghe nữa vì đã phải nghe nhiều lần. Như: Nói lắm chỉ nhàm tai.

Trong Giảng Đạo Chơn Ngôn của Phối Sư Thái Đến Thanh có viết: Than ôi, phong hoá suy tồi, nhơn luân điên đảo, lòng người quỷ quái ngậm xương nòi giống, xé thịt lẫn nhau, hằng ngày xảy ra những tấn tuồng thảm thương bi kịch xem thôi mỏi mắt, nghe đã nhàm tai, những người có tấm lòng bác ái từ bi, cũng phải ngậm ngùi khổ tâm than trách.

Hằng ngày diễn ra nhiều tấn tuồng thảm thương, bi kịch, xem thôi mỏi mắt, nghe đã nhàm tai, khiến cho giọt lụy thương tâm của khách ưu thời mẫn thế không thể nào ngưng được.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

NHẢM NHÍ

Nhảm: Bậy bạ.

Nhảm nhí là nhảm, bậy, không có căn cứ, không theo khuôn phép, hoặc trái sự thật.

Như: Câu chuyện quá nhảm nhí, sách nhảm nhí mà đi đọc làm gì.

Người mê nghe chẳng kịp ngờ,

Tưởng tin nhảm nhí cúng thờ quỷ ma.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

NHAN

Nhan là mặt. Như: Nhan sắc, hồng nhan, dung nhan, long nhan, thiên nhan.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Duy dân Tây Tạng họ được hạnh phúc kiến diện Thiên nhan còn chúng ta chưa.

Cái kiếp hồng nhan kiếp đoạ đày,

Phải làm cho gái hoá ra trai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Con khá nhớ hồng nhan phận mỏng,

Đừng làm cho thẹn bóng trăng xuân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NHAN HỒI

顏 回

Nhan Hồi là người nước Lỗ, đời Xuân Thu, tự là Tử Uyên là học trò giỏi của Đức Khổng Tử, rất ham học.

Nhan Hồi là người thông minh, học một biết mười, lại siêng năng, cần mẫn. Nhan Hồi không ngại nghèo khổ, sống trong cảnh hàn vi thiếu thốn mà bao giờ cũng an bần lạc đạo.

Mới hai mươi chín tuổi, đầu của Nhan Hồi tóc đã bạc phơ, đến 31 tuổi Nhan Hồi mất. Khổng Tử có biếu cho Nhan Lộ, cha của Hồi, một chiếc xe. Nhờ bán xe ấy mà người cha mới có tiền chôn con.

Trong Luận Ngữ, Khổng Tử nói về Nhan Hồi như sau: Nhan Hồi giả hiếu học, bất thiên nộ, bất nhị quá. Bất hạnh đoản mệnh, tử hỹ, kim dã tắc vong, vị văn hiếu học giả dã 顏 回 者 好 學, 不 遷 怒, 不 二 過. 不 幸 短 命, 死 矣, 今 也 則 亡, 未 聞 好 學 者 也, nghĩa là Nhan Hồi là người hiếu học, không giận lây người khác, không phạm lỗi quá hai lần. Chẳng may đoản mệnh chết sớm, nay không có người nào hiếu học như vậy nữa.

Hành thiện dám đâu bì Mạnh Tử,

Chơn Nhơn đã hẳn kém Nhan Hồi.

(Chơn Nhơn Lê Văn Trung).

 

 

NHAN SẮC

顏 色

Nhan: Mặt, dáng mặt. Sắc: Dung mạo, sắc của người con gái đẹp.

Nhan sắc là sắc mặt, sắc màu của phẩm vật.

Nhan sắc còn dùng để chỉ sắc đẹp của người phụ nữ.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Bần Đạo dám chắc; thử chúng ta để dấu hỏi nếu như có một người mỹ nhân như thế và một người thô nhơn như thế. Ta để câu hỏi có một vị tình lang đang chọn lựa như vậy. Bần Đạo dám chắc sự chọn lựa ấy không cần nói cả thảy các con cái Đức Chí Tôn đã để trong cái trí và trong mình rồi. “Hữu nhan sắc hữu ác đức” lời cổ nhơn đã để lại quả không sai đó vậy.

Bởi nhan sắc không khoe không mặn,

Bởi hơi đồng không thẳng không kêu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NHAN TỬ

顏 子

Nhan Tử tức Nhan Hồi, học trò giỏi của Đức Khổng Tử, là người rất hiếu học, sống trong cảnh nghèo mà vẫn ham đường học đạo, nhưng lại chết sớm.

Trong Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu nói về Nhan Tử như sau: Thương thay Nhan Tử dở dang, Ba mươi mốt tuổi tách đàng công danh.

Xem: Nhan Hồi.

Kinh sử vui say cày ruộng Thuấn,

Nâng bầu Nhan Tử dạo thênh thang.

(Thơ Võ Thành Lượng).

 

 

NHAN UYÊN

Nhan Uyên tức là Nhan Hồi, người nước Lỗ, đời Xuân Thu, tự là Tử Uyên, nên còn được gọi là Nhan Uyên 顏 淵, học trò giỏi nhứt của Đức Khổng Tử.

Nhan Uyên rất ham học, không bao giờ quên điều nhân nghĩa, ông chết sớm chỉ mới ngoài ba mươi tuổi.

Xem: Nhan Hồi.

Sao bằng bực Nhan Uyên đai cơm bầu nước,

ở thong thả nơi chốn chòi tranh,

Miền lậu hạn, nẻo lợi danh,

sánh như sóng đập gành khua lã chã.

(Giác Mê Khải Ngộ).

 

 

NHÀN

1.- Nhàn là chim “Nhạn 雁”, loài chim nhỏ di cư, có cánh dài và nhọn, đuôi chẻ đôi, mỏ ngắn, thường bay thành đàn.

Như: Én nhàn, tin cá nhàn.

Xem: Nhạn.

Nhàn chiều nhặt thúc đời vay trả,

Non xế quanh co nẻo lọc lừa.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Nhàn là rảnh rang, thong thả, tức không có việc gì phải làm, phải lo nghĩ đến.

Như: Vất vả lắm nay mới được nhàn thân đôi chút, công việc rất nhàn.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Thầy rất đẹp lòng đặng môn đệ ái kính như các con yêu dấu nơi Thánh địa nầy. Ðường tân khổ lắm vày vò, buổi an nhàn đâu kẻ hưởng, tuồng thế cũng gay go, mà bước trần càng khốn đốn.

Ðường trào hạ thế hưởng Tam quan,

Chẳng vị công danh chỉ hưởng nhàn.

(Lý Giáo Tông).

Mảng lo lắng chữ nhàn nào rõ,

Huống để công đến ngõ Khổng Trình.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NHÀN DU

閒 遊

Nhàn: Không có công việc phải làm, phải lo nghĩ đến. Du: Đi chơi.

1.- Nhàn du là dạo chơi đây đó một cách thong dong và thư thả.

Như: Sau nhiều tháng vất vả về công việc, chị đã nhàn du choi thảnh thơi.

Một kiếp sống vô duyên vô vị,

Tuy nghèo mà tâm trí nhàn du.

(Thơ Hộ Pháp).

Cõi thọ thảnh thơi hong gió mát,

Dạo chơi rừng trước cảnh nhàn du.

(Thơ Thái Đến Thanh).

2.- Nhàn du còn dùng để cầu người mất được đi thong thả về Tiên cảnh.

Như: Nhàn du Tiên cảnh.

Nhắm mắt bỏ xa vòng tục luỵ,

Về tiên nhẹ tách gót nhàn du.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

NHÀN LẠC

閒 樂

Nhàn: Thong thả, rảnh rang. Lạc: Vui.

Nhàn lạc là thong thả và an vui.

Trong Giảng Đạo Chơn Ngôn, Ngài Thái Đến Thanh có câu: Hễ tâm tư tưởng việc chánh đáng công bình, thì thân thể đặng thung dung nhàn lạc, tức là Bồng Ðảo, Niết Bàn tại thế.

Trụ nguyên tánh hồn linh nhàn lạc,

Cõi Đào nguyên cỡi hạc thừa long.

(Kinh Thế Đạo).

Bạch Vân nhàn lạc khoẻ thân già,

Thương kẻ nặng mang nợ quốc gia.

(Thánh Thi Hiệp tuyển).

 

 

NHÀN RỖI

Nhàn: Rảnh rang, thong thả. Rỗi: Ở tình trạng không có việc phải làm.

Nhàn rỗi là rảnh rang, rỗi rãi, không phải làm việc gì. Như: Thời giờ nhàn rỗi, tháng nầy nhàn rỗi công việc.

Nhàn rỗi còn có nghĩa là ở tình trạng chưa được huy động, chưa được sử dụng vào việc gì. Như: Huy động tiền nhàn rỗi trong dân chúng.

Cửa Ðạo gay go trường khổ hạnh,

Ðường Tiên nhàn rỗi bước thong dong.

(Đầu Sư Hương Hiếu).

 

 

NHÀN TRUNG KIỂM ĐIỂM SỰ BÌNH SANH

Nhàn trung: Trong lúc nhàn. Kiểm điểm: Xem xét. Sự bình sanh sự: Việc hằng ngày.

Nhàn trung kiểm điểm sự bình sanh ý muốn nói trong lúc nhàn rỗi, phải tự suy xét những công việc mình làm hằng ngày để giữ cho lòng ngay thẳng.

Câu trên được lấy từ lời dạy của Từ Thần Ông, trong Minh Tâm Bửu Giám: Nhàn trung kiểm điểm bình sanh sự, tĩnh lý tư lương nhựt sở vi; thường bả nhứt tâm hành chánh đạo, tự nhiên thiên địa bất tương khuy 閒 中 檢 點 平 生 事, 靜 裏 思 量 日 所 為; 常 把 一 心 行 正 道, 自 然 天 地 不 相 虧, nghĩa là khi thong thả kiểm điểm lại những công việc đã làm. Lúc yên tĩnh xét kỹ lại những câu chuyện hàng ngày.Lòng mình bao giờ cũng nhất định giữ cho ngay thẳng thì tự nhiên trời đất sẽ soi xét đến.

Nhàn trung kiểm điểm sự bình sanh,

Gương bể chưa ai kết đặng lành.

(Đạo Sử).

 

 

NHÃN

Nhãn, còn đọc là “Nhỡn”, có nghĩa mắt, cơ quan của người hay vật, dùng để trông, xem.

Như: Thiên nhãn, phàm nhãn, nhãn tiền, Hoàng Thiên hữu nhãn.

Gót chơn đưa rủi như sát mạng,

Vật hữu linh phàm nhãn khôn soi.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

NHÃN HUỆ QUANG

Nhãn: Con mắt. Huệ quang: Còn đọc Tuệ quang, là ánh sáng của trí huệ.

Nhãn huệ quang, như chữ “huệ quang nhãn 慧 光 眼”, là con mắt của trí huệ, tức thấy, biết được chân tướng của mọi sự vật, cái thấy chính xác về sự vật, hiểu biết rốt ráo đến chân lý.

Nhưng chừng bỏ xác phàm, được nhãn huệ quang rồi, Em lại thương đau thương đớn, dường như sợ cho họ sái đường lạc nẻo,...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

NHÃN TIỀN

眼 前

Nhãn: Mắt. Tiền: Trước.

Nhãn tiền là trước mắt, hay rất rõ ràng, như nhìn thấy ngay trước mắt. Như: Báo ứng nhãn tiền.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Máy Thiên cơ, các con chưa rõ, các con cứ tưởng lầm rằng Thầy không kềm chế kẻ vô lương đặng. Các con hằng muốn thấy kẻ ấy bị hành phạt nhãn tiền thì mới vừa lòng các con, nhưng Thánh ý Thầy không phải vậy đâu.

Đó là báo ứng nhãn tiền,

Mau thì mình chịu lâu truyền cháu con.

(Kinh Sám Hối).

 

 

NHÃN TIỀN BÁO ỨNG

眼 前 報 應

Nhãn tiền: Xảy ra trước mắt, xảy ra liền. Báo ứng: Báo đáp trả lại.

Nhãn tiền báo ứng là sự báo đáp trở lại liền trước mắt, không phải chờ đợi lâu.

Nếu chẳng định tâm lo xét quấy,

Nhãn tiền báo ứng dễ đâu sai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NHÃN THỊ CHỦ TÂM

眼 是 主 心

Nhãn: Con mắt. Thị: Là. Chủ: Làm chủ. Tâm: Cái tâm của con người.

Nhãn thị chủ tâm tức là con mắt làm chủ cái tâm linh của con người.

Khi giải thích về cách thờ Thiên Nhãn, Đức chí Tôn có dạy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển như sau:

“Nhãn thị chủ tâm, Lưỡng quang chủ tể, Quang thị Thần, Thần thị Thiên, Thiên giả Ngã dã 眼 是 主 心, 兩 光 主 宰, 光 是 神, 神 是 天, 天 者 我 也”, nghĩa là con mắt làm chủ cái tâm linh của con người, hai ánh sáng trong mắt là phần chủ tể, Ánh sáng ấy là Thần, Thần là Trời. Trời là Ta vậy.

Chúng ta thử tìm hiểu câu “Nhãn thị chủ tâm”.

Ta biết việc thờ Thiên Nhãn là để tượng trưng cho cái lương tâm của con người, tức phần quý báu nhứt trong cơ thể mỗi người chúng ta. Chính lương tâm giúp con người sáng suốt, biết điều phải quấy, nhơn nghĩa, mến đạo đức, chuộng tinh thần, thuận theo thiên lý. Lương tâm ấy đã sẵn có trong con người chúng ta từ lúc mới sinh ra. Nhưng do ta đắm đuối vào vật dục mà cái lương tâm nầy càng ngày càng mờ tối đi, khiến ta quên điều đạo đức, lẽ công bình.

Bởi vậy, Nho giáo mới dạy người quân tử phải giữ gìn cái tâm của mình sao cho được hồn nhiên, thuần hậu như cái tâm của đứa trẻ con là quý nhứt, sách có viết “Đại nhân giả, bất thất kỳ xích tử chi tâm dã 大 人 者, 不 失 其 赤 子 之 心 也”, nghĩa là bậc đại nhân không bỏ mất cái tâm hồn nhiên của đứa trẻ còn nhỏ. Điều nầy cũng dễ hiểu, vì trẻ con thường ít dục vọng, nên đời sống của chúng tự nhiên, chất phác và tâm của chúng nhờ vậy cũng giản dị, thuần hậu. Đời sống không có dục vọng thì ngoại vật không thể tác động đến tâm của mình được.

Người xưa cho rằng: Cái tâm của Thánh nhân và người thường không khác nhau mấy. Như vua Nghiêu, vua Thuấn là bậc Thánh nhân cũng có cùng một cái tâm như người thường chúng ta, chỉ khác là những bậc ấy giữ được cái tâm hồn nhiên không để vật dục chi phối mà thôi. Vậy nếu chúng ta cũng cố gắng gìn giữ cái tâm được như thế thì chúng ta có khác gì bậc Thánh nhân đâu.

Tâm chúng ta được hư tĩnh, vật dục không thể làm cho mất cái sáng suốt tự nhiên thì khi có vật gì cảm đến, tâm ta sẽ ứng được, biết rõ ngay các lẽ. Như vậy, tâm càng được trau giồi sáng suốt bao nhiêu thì trực giác càng mầu nhiệm bấy nhiêu và tự nhiên sẽ được giáo tiếp với Trời, vì Trời với người cùng một lý, một khí.

Nếu cái lương tâm được gìn giữ cho còn và trau giồi cho ngay chính, sáng suốt, thuận theo thiên lý tự nhiên và lúc nào cũng ở trong trạng thái hư vô, thanh tĩnh thì đó chính là cách thờ Trời vậy. Mạnh Tử có nói: “Tồn kỳ tâm, dưỡng kỳ tính, sở dĩ sự Thiên giả 存 其 心, 養 其 性, 所 以 事 天 也”, nghĩa là giữ gìn cho còn cái tâm của mình, nuôi dưỡng cái tâm ấy của mình là để thờ Trời vậy.

Chữ tâm ngoài nghĩa là lương tâm còn có thể gọi là linh hồn, Thiên tánh, Phật tánh tùy theo cách gọi của từng tôn giáo. Tâm còn có nghĩa là tâm vũ trụ, là trung tâm điểm, là Thái cực. Thật vậy, trong vũ trụ thì Thái cực là chủ tể của muôn loài vạn vật, dưỡng dục cả sinh linh, bảo tồn vạn loại. Thái cực ấy là toàn tri toàn năng, biến hoá vô cùng tận và làm cho muôn loài vạn vật cùng tiến hoá.Do đó Thái cực chính là trung tâm điểm của Càn khôn, là tâm của vũ trụ.

Như vậy, tâm chính là Thần, là Thiên tánh, là Chơn linh, là Điểm Tiểu linh quang mà Trời hay Thái cực là một khối Đại linh quang đã chiết ra để ban cho mỗi con người. Tâm tức là hình ảnh Đức Chí Tôn tạo ra cho con người hay nói khác đi, Trời đã ngự trị trong mỗi con người chúng ta. Thế nên, thờ Trời là thờ cái tâm mà hình trạng của cái tâm là Thiên Nhãn nên ta có thể nói “Nhãn thì chủ tâm”, thờ Thiên Nhãn chính là thờ Trời vậy.

Nhãn thị chủ tâm, Lưỡng quang chủ tể, Quang thị Thần, Thần thị Thiên, Thiên giả Ngã dã.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

NHẠN

Nhạn là loài chim nhỏ di cư, cánh dài nhọn, đuôi chẻ đôi, mỏ ngắn, thường bay thành đàn.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có câu: Thảm thay! mà cũng tiếc thay! Gió khuất thuyền đưa, nhạn về rừng cũ. Con đường đạo hạnh đợi buổi khuất dấu, mờ mệt nét rêu phong, mới sửa soạn lần chơn, âu dễ biết vô phần hay hữu phúc.

Tà nguyệt vườn thu ướm trở đông,

Nhạn về đảnh Bắc tiếng qua sông.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Gặp chiều nhạn trở về rừng trước,

Ðợi lúc thuyền nương lánh bến trần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nhạn trầm có thuở nhạn cao bay,

Tài đức vinh huê cũng có ngày.

(Đạo Sử).

 

 

NHẠN KÊU SƯƠNG

Nhạn: Chim nhỏ có cánh dài, nhọn, đuôi chẻ đôi, mỏ ngắn, thường bay thành đàn. Kêu sương: Kêu trong màn sương.

Mùa đông đến thì nhạn vừa bay vừa kêu, nên người ta thường nói tiếng nhạn “kêu sương”.

Sách Cổ Kim Thi Thoại nói: Nhạn ở phương bắc đến kêu, là báo tin sương sẽ xuống. Đồng nghĩa với “Tin sương”, dùng để chỉ sự báo tin mùa đông đến.

Lỡ dỡ cung đàn, quyên nhắn bạn,

Ngập ngừng chung rượu, nhạn kêu sương.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

NHẠN MÔN QUAN

雁 門 關

Nhạn Môn Quan là một cái cửa ải trên núi Nhạn Môn Sơn, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc.

Ải này được đặt ở vị trí cao nhất của dải Nhạn Môn Sơn, nhờ thế núi nên ải này rất hiểm trở.

Nghĩa bóng: Chỉ chung các cửa ải hiểm yếu.

Cay đắng nhẽ dặm trường thăm thẳm,

Nhạn Môn Quan xa lắm, tình ơi!

(Phù Kiều Hận Sử).

 

 

NHẠN NAM ÉN BẮC

Nhạn nam: Chim nhạn bay về nam. Én bắc: Chim én bay về bắc.

Nhạn nam én bắc dùng để chỉ sự ly biệt nhau, không dính dáng gì với nhau.

Nhạn nam én bắc đồng nghĩa với câu “Cô nhạn nam phi, hồng bắc khứ 孤 雁 南 飛 鴻 北 去, nghĩa là nhạn lẻ bay về nam, chim hồng bay về bắc.

Tạo Hoá chia lìa cuộc bể dâu,

Nhạn nam én bắc biệt ly sầu.

(Thơ Minh Phát).

 

 

NHẠN TÍN

雁 信

Nhạn: Chim nhạn. Tín: Thư từ.

Nhạn tín là tin tức do chim nhạn đem lại.

Chim nhạn là loài chim khoẻ, bay rất xa, mùa đông giá rét, chim nhạn bay từng đàn về phương nam để tránh lạnh, đến mùa xuân ấm áp thì chim nhạn bay trở về phương bắc.

Do điển tích từ Hán Thư: Tô Võ đi sứ Hung Nô, nói nhiều lời xúc phạm, bị bắt chăn dê nơi Bắc hải, không cho về Hán. Tô Võ bắt được con chim nhạn, xé áo lụa viết thư, rồi buộc vào chân nhạn, thả bay về Hán.

Vua Hán bắt được thơ của Tô Võ mới biết ông đang bị giam cầm. Về sau, khi nước Hung Nô hoà với Trung nguyên, vua Hán sai sứ sang Hung Nô hỏi về Tô Võ, chúa Hung Nô bắt buộc phải thả Tô Võ trở về Trung Nguyên. Do điển này, chữ “Tin nhạn” (Nhạn tín), được người ta dùng để chỉ thư từ hay tin tức.

Trong hành lang Báo Ân Từ bên Nữ phái có vẽ khuôn hình nói tích về “Tín nhạn 信 雁”.

Khôn nhạn tín, khó hồng thư,

Viết quơ chẳng nổi, giấy như tránh đề.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Tô Võ mượn đưa thư về nước,

Nhạn tín còn báo trước mưa dông.

Tánh linh trốn tuyết mùa đông,

Xuân thời sang bắc, thu vòng qua nam.

(Báo Ân Từ).

 

 

NHẠN VẮNG

Nhạn: Chim nhạn, chỉ tin tức. Vắng: Im, bặt.

Nhạn thường ví với thư tín, thấy chim nhạn là được tin tức, vắng chim nhạn là mất liên lạc.

Nhạn vắng dùng để chỉ sự bặt tin tức.

Nhạn vắng từ lâu tại bến sông,

Niềm thương nỗi nhớ xót xa lòng.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

NHANG

Nhang là một loại cúng phẩm được làm bằng tre, chuốt ra cọng nhỏ và xe vào một đoạn bột trộn hương thơm rồi phơi khô, dùng để đốt khi cúng kính Trời Phật hay Ông Bà.

Trong dân gian, người Trung Hoa, Việt Nam v.v... tin tưởng Ông Bà hay Trời Phật thường đốt nhang khi tưởng niệm hay cúng kính các Đấng. Họ quan niệm rằng lòng cầu nguyện hay nói cách khác là nguyện lực sẽ hoà quyện cùng khói nhang bốc lên để được cảm ứng cùng Ông Bà và các Đấng.

Nhưng đối với người tu, sự đốt hương mang một ý nghĩa sâu sắc hơn, đốt hương hàm ý đốt lên mùi thơm của pháp vô vi, có tác dụng đánh bạt các mùi ô uế, trược khí của tội chướng và ác nghiệp, vô minh đen dầy trong tâm thức ta.

Trong Đạo Cao Đài đốt năm cây hương dâng lên cúng Đức Chí Tôn nhằm ý nghĩa:

Giới hương: mùi thơm bát ngát của giới luật tiêu trừ được mùi ô uế của tội ác. Mùi tội ác hôi tanh không thể xâm nhập nội tâm kẻ tu hành được.

Định hương: Mùi thơm của thiền định khiến ta tin tưởng mạnh mẽ vào Giáo Pháp để tiến lên cõi bờ giác ngộ, không nản lòng chùn bước.

Tuệ hương: Mùi thơm của trí tuệ, là một năng lực bén sáng, có khả năng diệt trừ mọi chướng ma, phiền não.

Giải thoát hương: Mùi hương của giải thoát, có năng lực cổi bỏ được bao nhiêu trói buộc của mê mờ tà kiến.

Giải thoát tri kiến hương: Mùi thơm của giải thoát tri kiến, là trí tuệ quang minh thường thanh lọc, chiếu soi qua tất cả nhận thức, để được thông suốt, không để tà kiến, cố chấp trói buộc.

Thánh giáo Thầy có dạy: Vậy con lập cho đủ Ba Trấn chứng đàn, con phải lập bàn Ngũ Lôi như Thầy dạy lúc trước, phải có bùa Kim Quang Tiên, còn con viết bùa Giáng Ma Xử để bàn vọng Hộ Pháp, rồi Cư chấp bút nhang cho Thầy triệu Ngũ Lôi đến, rồi nó xuống đứng gần bàn Hộ Pháp với Tắc và Sang, còn mấy đứa phò loan đứng vòng theo đó.

Đạo gốc bởi lòng thành tín hiệp,

Lòng nương nhang khói tiếp truyền ra.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

NHÁNG

Nháng, như chữ “Nhoáng”, là lóe sáng, bật sáng hẳn lên rồi giảm đi hoặc tắt hẳn. Như: Điện nháng lên.

Nháng còn có nghĩa loáng, thoáng, diễn ra và qua đi rất nhanh trong khoảng thời gian ngắn, xuất hiện thoáng qua rồi mất.

Như: Mới thấy nó nháng qua nháng lại đây mà.

Kiếp sống thác cuộc trần mau như bóng quạ,

chốn phù sanh trăm thu như lửa đá nháng nào lâu.

(Giác Mê Khải Ngộ).

 

 

NHANH

Nhanh là có tốc độ hay nhịp độ trên mức bình thường, trái với chậm.

Như: Nhờ đi nhanh nên về sớm một giờ, máy bay siêu tốc bay quá nhanh.

Nhanh lẹ kịp đò kẻo trễ con!

Trễ chơn trông đợi trí tâm mòn.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

NHÁNH

1.- Nhánh là cành con, tức cây được sinh ra từ thân cây hay từ cành lớn.

Như: Cây mai có nhiều nhánh, tỉa bớt nhánh già, mưa to gió lớn làm cho cây tét nhánh.

Chích cánh riêng vui con hạc lánh,

Ngừa thuyền còn đợi nhánh tùng rơi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Nhánh chỉ cái gì nhỏ hơn, được phân ra từ cái gốc, cái chính.

Như: Sông chia ra làm ba nhánh, hầm có nhiều nhánh thông ra ngoài, Đạo tách ra thành ba nhánh.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Cái nhánh các con là nhánh chính mình Thầy làm chủ, sau các con sẽ hiểu.

Bửu toà thơ thới trổ thêm hoa,

Mấy nhánh rồi sau cũng một nhà.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NHÁNH NHÓC

Nhánh: Cành, nhánh cây nhỏ mọc từ thân hay từ cành lớn ra.

Nhánh nhóc là từ chỉ chung nhánh, chà um tùm của một thân cây, cành cây.

Trong tôn giáo, chữ “Nhánh nhóc” còn dùng để chỉ các chi phái của Đạo.

Trong quyển Thiên Đạo, hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có viết: Đức chí thành là nguồn gốc tất cả đức tánh, cho nên con người mà chẳng lo un đúc được chí thành là nguồn gốc, thì mong chi trau dồi đức hạnh khác là nhánh nhóc?

Chín Trời mười Phật cũng là Ta,

Truyền Đạo chia ra nhánh nhóc ba.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NHÀNH

Nhành là cành, nhánh. Như: Nhành dương, nhành thung, nhành chim lá gió.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Biển khổ đã lắm nổi chìm, mà nhành dương liễu chẳng mau vói níu, đoạ trầm luân chưa chịu thoát, mà điều tình tội lại chác thêm, buộc thảm đeo phiền, cũng tự mình tác tệ, chờ ăn năn rất muộn về sau.

Non xế nhành thung oanh nhặt thúc,

Rừng tà đảnh hạc khách trông mong.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tròi trọi mình không mới thiệt bần,

Một nhành sen trắng náu nương chân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NHÀNH CHIM LÁ GIÓ

Nhành chim: Cành cây chờ chim đậu. Lá gió: Lá cây đợi gió đưa.

Nhành chim lá gió, do hai câu thi của Tiết Đào, một thi sĩ đời nhà Đường thuở nhỏ có hai câu: Chi nghinh nam bắc điểu, diệp tống vãng lai phong 枝 迎 南 北 鳥, 葉 送 往 來 風, nghĩa là nhành đón chim nam bắc, lá đưa gió lại qua.

Người cha xem ý thơ biết rằng số phận con gái về sau chẳng ra gì.

Nhành chim lá gió dùng để chỉ gái lầu xanh đưa đón khách làng chơi.

Xem: Lá gió cành chim.

Càng chịu phận nhành chim lá gió,

Càng thương chồng chẳng ngó rõ lòng trinh.

(Phương Tu Đại Đạo).

Dồi lòng tiếng kệ câu kinh niệm,

Ngảnh mặt nhành chim lá gió xưa.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

NHÀNH DƯƠNG

Nhành: Cành, nhánh. Dương: Dương liễu.

1.- Nhành dương, như chữ “Dương chi 楊 枝”, ý chỉ nước cam lộ trong bình tịnh thủy.

Đức Quan Âm Bồ Tát dùng nhành dương nhúng vào nước trong Tịnh bình (tức nước Cam lộ) để rưới tắt mọi điều phiền não, tiêu tai giải nạn, hoặc tiêu trừ oan gia, bịnh chướng của chúng sanh.

Cam Lồ rưới giọt nhành dương,

Thất tình lục dục như dường tiêu tan.

(Kinh Tận Độ).

Nhành dương nước rưới tan lòng tục,

Nguồn Thánh Đạo dìu lại cõi Tiên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Từ bi hứng giọt nhành dương,

Lau thanh trái chủ, lấp đường nghiệt căn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Dương hay dương liễu là cây đại thụ. Đạo Đức Chơn Kinh có câu: Dương vô trần nhiễm, đạo giả như dương 楊 無 塵 染, 道 者 如 楊, nghĩa là cây dương không nhiễm trần, đạo là cây dương.

Như vậy “Nhành dương” còn dùng để chỉ nền đạo đức, hay đường giải thoát.

Thánh giáo Thầy có đoạn dạy: Biển khổ đã lắm nổi chìm, mà nhành dương liễu chẳng mau vói níu, đoạ trầm luân chưa chịu thoát, mà điều tình tội lại chác thêm, buộc thảm đeo phiền, cũng tự mình tác tệ, chờ ăn năn rất muộn về sau. Khá hiểu lấy.

Nguyệt hoa căn cội tua xa lánh,

Vịn lấy nhành dương hưởng đạo nhàn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NHÀNH MAI SÁI MÙA

Nhành mai: Cành hoa mai. Sái mùa: Hoa nở không đúng mùa tiết.

Hoa mai là loài hoa nở rộ vào tiết cuối đông, đầu xuân nên rất quý trong mấy ngày tết Âm lịch, ai cũng trịnh trọng đặt cành mai vàng nơi giữa nhà để cầu sự may mắn đến với gia đình trong ngày xuân mới.

Nếu nhành mai nở sái mùa, không đúng vào dịp tết, thì nhành mai ấy không có giá trị.

Ở đây nhành mai sái mùa dùng để chỉ thời xuân sắc của người con gái đã qua, đã lỡ thời.

Hư nên cũng có một đời,

Hay chi thay đổi nhành mai sái mùa.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NHÀNH XUÂN

Nhành: Cành, nhánh. Xuân: Mùa xuân, mùa cây cỏ tươi tốt, thường ví với người tuổi trẻ.

Nhành xuân, như chữ cành xuân dùng để chỉ người con gái trẻ tuổi còn đẹp đẽ.

Rủi duyên gặp phải thường phu,

Nhành xuân thì trọng, gương thu dở cầm.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NHÀO

1.- Nhào là lao vội mình theo một hướng nào đó.

Như: Chạy nhào vô lửa, nhào đại vào nước đang sôi, nhào vô nguy hiểm.

...cốt yếu đến giải vây cho bạn, đến nước nhào vô không còn năng lực nào cản nỗi,...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

2.- Nhào là ngã, té từ trên cao, lộn đầu xuống dưới.

Như: Té nhào xuống nước, ngã nhào đầu xuống đất, từ trrên cao té nhào vào đống rơm.

Hụt chơn ván lại gập ghình,

Nhào đầu xuống đó cua kình rỉa thây.

(Kinh Sám Hối).

Hườn hành Hớn thất buổi xưa sao,

Chẳng vững giang san chúng đổ nhào.

(Đạo Sử).

Thinh không tiếng sấm nổ đùng đùng,

Tà quái té nhào nhảy tứ tung.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

NHẠO

Nhạo có nghĩa là chế diễu, tức nêu ra để cười hay mỉa mai, tỏ ý coi thường.

Như: Nói nhạo, nhạo báng, chế nhạo.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Hồi Đạo mới phôi thai thiên hạ khinh khi chế nhạo hết sức, nên Bần Đạo nói rằng: Họ đã dùng cường quyền họ làm cho hai người ấy phải chịu thống khổ một cách không thể tả.

Đừng nhạo già thờ cha cúng tổ,

Già ngậm ngùi nhớ thuở giỗ rau dưa.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHẠO BÁNG

Nhạo: Chế diễu. Báng: Chê bai, nói xấu.

Nhạo báng là chế nhạo nhằm chỉ trích, bài bác.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Trong làng có điều gì chinh tâm với nhau thì ông chủ của làng xử trước, nếu bất đồng đem nội vụ ra nhà việc, hễ lỗi nhỏ thì nạp tiền câu tra, tội lớn thì căng nọc đánh giữa dân làng, không đến nỗi chết mà hễ bị đánh rồi thì về nhà còn có nước trốn đi nơi khác, hoặc đóng cửa đi đâu đi lén lút khổ não lắm vì bị gièm pha nhạo báng xấu hổ chịu không nổi.

Chuyện quấy nói phải, chuyện phải thêu dệt ra quấy, nhạo báng, chê bai, nói hành kẻ khác,...

(Tân Luật).

 

 

NHÁT

Nhát là không bạo dạn, hay sợ sệt. Như: Tính nhát không dám đi đêm, nhát gan, nhát sợ, nhút nhát, hèn nhát.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ấy vậy mê tín dị đoan trong cửa Đạo Cao Đài không có và không cần có, quả quyết hẳn vậy, nên đình lại bí pháp chơn truyền, nếu thuyết ra là lấy cái quyền năng mê tín dị đoan mà thắng thiên hạ là một điều hèn nhát nên Bần Đạo không dùng, để khi nào dùng được Bần Đạo sẽ dùng.

Mão cao dể rớt nên thành nhát,

Cổ ngắn không kêu phải hoá lì.

(Thanh Sơn Đạo Sĩ).

Hễ xấu dạng thì nhơ mặt thiếp,

Còn đẹp hình, nhát kiếp phù dung.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NHÁT SỢ

Nhát: Sợ, hay doạ tức làm cho người sợ, mất tinh thần. Sợ: Ở trạng thái không yên lòng vì lường trước việc không hay nào đó xảy ra cho mình.

Nhát sợ là nhút nhát sợ sệt, tức trong lòng cảm thấy rụt rè, lo sợ.

Dầu đến điều chung chiếu chung buồng,

Hình sè sụt ra tuồng người nhát sợ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHẠT

Nhạt là nói cái độ đậm của màu sắc không như màu bình thường, bị pha loãng hoặc bị phai dần.

Như: Áo màu xanh nhạt, ánh đèn vàng nhạt, vôi quét chỗ đậm chỗ nhạt, khói nhạt, ánh nắng nhạt dần.

Bảng lảng tà huy nắng nhạt dần,

Bỗng đâu trời đổ giọt hồng ân.

(Thơ Chơn Tâm).

Dập dìu khói nhạt phủ biên thành,

Sương dệt trời thu lụa mỏng manh.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

NHAU

1.- Nhau là cùng với, giữa người nầy với người kia cùng làm, cùng chịu, cùng đối đãi lẫn. Như: Cãi nhau, yêu nhau, khuyên nhau, chia tay nhau.

Thánh giáo Thầy có đoạn dạy: Thầy vui muốn cho các con thuận hoà cùng nhau hoài, ấy là lễ hiến cho Thầy rất trân trọng. Phải chung lo cho danh đạo Thầy.

Ðời hiếp lẫn nhau nỡ chẳng thương,

Thương đời nên mới đến đem đường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chầy ngày tuy chẳng thăm nhau đặng,

Mà tấm lòng kia vẫn luống gần.

(Thất Nương Giáng Bút).

2.- Nhau là đoạn ruột nối tử cung của người mẹ với rún của cái thai khi còn ở trong bụng, có chức năng trao đổi chất dinh dưỡng giữa cơ thể mẹ và cái bào thai.

Như: Rún nhau, nơi chôn nhau cắt rún.

Biết rằng không phải rún nhau,

Mà Thầy đem lại đổi trao mối tình.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

NHAU RÚN

Nhau: Bộ phận ở dạ con, có chức năng trao chất dinh dưỡng giữa cơ thể mẹ và bào thai. Rún: Vết sẹo tròn và nhỏ ở bụng, nơi ống dẫn máu từ nhau vào bào thai.

Nhau rún là hai bộ phận tiếp dưỡng máu cho bào thai, ý chỉ mối quan hệ xã hội gắn bó thân thiết, không thể tách rời đặng.

Toà Thánh là quê cha đất tổ, nhau rún cội nguồn.

(Đạo Sử).

 

 

NHẮC

1.- Nhắc là gợi nhớ, hoặc lập lại cho người ta nhớ.

Thánh giáo Thầy có câu: Nền nhơn luân của con nhà Nam Việt chẳng lầm, mà tại các con hay nhiễm thường tình mà hư hoại, nên chi Thầy phải nhắc lại cho các con đừng lầm nữa, nghe các con!

Khi để bước phòng đào lạnh ngắt,

Mảnh tàn y dường nhắc nghi dung.

(Kinh Thế Đạo).

Chồng vợ ví keo sơn gắn chặt,

Càng thương nhau thường nhắc lúc sơ giao.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Nhắc, như chữ “Nhấc”, là nâng lên (nhắc ghế), tăng lên (nhắc giá hàng), hoặc giúp đỡ cho người được thăng tiến (cất nhắc).

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Người trong nước không kể sang hèn, hễ ai có tài có đức là được cất nhắc lên làm quan giúp nước trị dân.

Luật Nhơn quả để răn Thánh đức,

Cửa Luân hồi nhắc bực cao siêu.

(Kinh Tận Độ).

Không đem tài đức nhắc đồng cân,

Mùi đạo hôm mai được thấm nhuần.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

NHẮC CÂN

Nhắc: Nâng lên, so sánh. Cân: Dùng cân để biết sức nặng của một vật.

Nhắc cân, như chữ “Cân nhắc”, là so sánh cho biết nặng nhẹ thế nào.

Nghĩa rộng: So sánh, suy xét để lựa chọn.

Ðài Vân Quan Võ để phong Thần,

Còn của Thầy đây để nhắc cân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NHẮC CHỪNG

Nhắc: Nói lại để người khác ghi nhớ mà thực hiện. Chừng: Tình hình hay sư việc nào đó có thể xảy đến. Như: coi chừng, dè chừng.

Nhắc chừng là thỉnh thoảng nhắc đi nhắc lại cho nhớ, cho khỏi bị quên lãng.

Như: Phải nhắc chừng nó, kẻo nó quên.

Thế thì nhơn loại, nếu chẳng có mối huyền vi để nhắc chừng tâm tánh, sẽ vì mồi danh lợi, miếng đỉnh chung mà cắn xé giựt giành, giết hại lẫn nhau...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

NHẮC NHỎM

Nhắc: Nói đến vì quan tâm, mong nhớ.

Nhắc nhỏm là nhắc đến vì mong nhớ, vì quan tâm. Như: Không còn ai nhắc nhỏm đến chuyện ấy nữa.

Ác lặn hiên Đoài già nhắc nhỏm,

Nguyệt trầm non Thái trẻ thon von.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

NHẮC NHỞ

Nhắc: Lập lại cho người ta nhớ.

Nhắc nhở là nói nhiều lần, hay lập lại cho nhớ. Như: Nhắc nhở anh ấy đi họp.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ngài là chủ của sự sống, đến đem sự sống lại, trừ diệt cho tiêu tan ác nghiệt. Ngài đem đến sự sống để trước mắt nhơn loại, như nhắc nhở họ phải tôn sùng cái sống chung của nhau.

Chạnh lòng Hiền Muội xót thương ôi!

Nhắc nhở khôn nguôi những chuyện rồi.

(Đạo Sử).

Lắm lúc ngậm ngùi bầy trẻ dại,

Đòi phen nhắc nhở đám con Rồng.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

NHẮC THẢM GHẸO SẦU

Nhắc thảm: Nhắc những điều thảm não. Ghẹo sầu: Khêu gợi lại cơn sầu.

Nhắc thảm ghẹo sầu ý muốn nói những hình ảnh chung quanh hiện ra như khêu gợi hay trêu ghẹo nỗi sầu thảm trong lòng.

Còn thân thiếp chịu cút côi,

Đèn khuya nhắc thảm, gió mơi ghẹo sầu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NHẮM

1.- Nhắm là khép kín hai mí mặt lại, như khi ngủ.

Trong Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Loài thú, ta thấy hiển nhiên mới sanh ra tuy mắt còn nhắm híp mà vẫn tìm vú mẹ để sống, đến cỏ cây hễ sanh ra thì biết trải lá hứng sương tuyết, hấp thụ cái sanh khí mà nuôi sự sống, một vật có điểm linh quang ấy như thế khối linh quang ấy là Cha vậy.

Ngày thâu bóng xế oanh thưa nhặt,

Mắt nhắm đường xa khách thẳng dùn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Đôi mắt nhắm bên hông gió thoảng,

Ưỡn mình lên mũi thoáng hương đưa.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

2.- Nhắm là ngắm, nheo một mắt lại mà ngắm cho đúng, cho thẳng.

Như: Nhắm trúng đích để bắn, nhắm sợi dây cho thẳng mà bỏ mực.

Tú cẩm thêm hoa đợi vẻ màu,

Xem sau nhắm trước hỡi dường bao.

(Đạo Sử).

3.- Nhắm, nghĩa bóng: Chú ý vào việc gì, hay tìm chọn cho một công việc sắp tới.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Ngày tháng vẫn mỏi mòn, mà đường Ðạo nhắm còn dài đăng đẳng. Một xuân qua là một dặm đường phải bước tới, mà Thầy ngảnh lại bước đường của môn đệ, Thầy vẫn thấy sụt sè chớ chưa thấy chi có mòi tấn phát.

Ðộng đình trở gót lại ngôi xưa,

Tuổi ấy quy y nhắm đã vừa.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NHẮM MẮT

Nhắm: Khép kín mí mắt. Mắt: Một cơ quan của người hay vật dùng để trông, để nhìn.

Nhắm mắt là khép hai mí mắt lại như trong lúc ngủ.

1. Nhắm mắt còn dùng để chỉ sự chết. Như: Ông ta cố làm cho đến nhắm mắt xuôi tay.

Một mai nhắm mắt đâu còn,

Đem vàng chuộc mạng đổi lòn đặng chăng.

(Kinh Sám Hối).

Còn hoi hóp tranh đua bay nhảy,

Nhắm mắt rồi phủi thảy lợi danh.

(Kinh Sám Hối).

Mẹ dầu phải suối vàng nhắm mắt,

Vui thấy con đáng mặt làm trai.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Nhắm mắt còn dùng để chỉ mặc cho mọi việc xảy ra, hoặc liều cho số mạng đưa đẩy.

Như: Nhắm mắt làm ngơ, nhắm mắt đưa chơn.

Dầu thương nhắm mắt đưa chơn,

Giờ nay gặp lối nghiệt trần giảm tiêu.

(Tán Tụng Công Đức).

Phải sao chịu vậy âu là số,

Nhắm mắt đưa chơn... mặc thế nào.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

NHẰM

Nhằm là trúng, đúng vào một đối tượng, hoặc một chỗ nào đó. Như: Câu nói nhằm lý, đánh nhằm vào chỗ hiểm, vớt nhằm hạt châu.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Lý Giáo Tông có câu: Mở một mối đạo chẳng phải là sự thường tình, mà sanh nhằm đời đặng gặp một mối đạo cũng chẳng phải dễ.

Cơ Trời đến buổi đời thay đổi,

Ðạo Thánh nhằm khi khách gội nhuần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nhập thể lòng trong gìn tịnh mẫn,

Nguồn Tiên ngọn Phật mới nhằm phương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NHẶM LẸ

Nhặm: Mau mắn, có tốc độ, nhịp độ trên mức bình thường. Lẹ: Nhanh nhẹn, lẹ làng.

Nhặm lẹ là nhanh chóng, nhanh nhẹn, lẹ làng trong công việc hay trong cách ứng xử. Như: Thấy nó lù khù chứ làm việc nhặm lẹ lắm.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Phải tận lực đánh đổ tật biếng nhác. Làm việc hằng ngày phải siêng năng nhặm lẹ; việc nào đã làm phải làm hết sức chu đáo.

Giữ khuôn phép vào ra thủ lễ,

Nghe lịnh trên nhặm lẹ vâng lời.

(Phương Tu Đại Đạo).

Hễ dạy dỗ dùng lời nhỏ nhẹ,

Tập nói năng nhặm lẹ khôn ngoan.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHĂN

Nhăn là răn, cau, nhíu thành vết, tức có nếp nhỏ như gấp lại, không phẳng.

Như: Quần áo bị nhăn, mặt có nhiều nếp nhăn.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Biển đương lặng, Trời đương thanh, dễ chi sóng khoả nước nhăn, mây ùn non bạc.

Bạc đầu non chịu lằn sương nhuộm,

Nhăn mặt nước chờ trận gió qua.

(Đạo Sử).

 

 

NHĂN NHÓ

Nhăn: Răn, cau, nhíu thành vết, tức có nếp nhỏ như gấp lại, không phẳng.

Nhăn nhó là chỉ gương mặt nhăn lại, tỏ vẻ đau khổ, không vừa lòng, khó chịu.

Như: Làm ăn thất bại anh ấy mặt nhăn nhó suốt ngày, gặp cảnh nầy nó nhăn nhó muốn khóc.

Lòng lang độc thấy căm hờn sôi máu đỏ,

Nhìn thế sự bắt châu mày nhăn nhó.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

NHĂN MÀY

Nhăn: Nhíu, tức co các cơ khiến da gấp thành nếp nhăn. Mày: Hàng lông mọc trên con mắt.

Nhăn mày là nhíu mày, chau mày vì nghĩ ngợi, đau đớn hay giận dỗi. Như: Nhăn mày nhíu mặt.

Thánh giáo Thầy có câu: Than ôi! Công trình Thầy và các Ðấng Thiêng liêng thì nhiều mà tấc thành của mỗi con thì không đặng mấy. Nhiều phen sóng khổ muốn chìm đắm các con mà Thầy phải sợ cho đến nhăn mày khổ lụy.

Mấy bữa nhăn mày lâm chước quỷ,

Khiến ôm mối thảm lại Diêm-đình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thần thấy khảo tra Thần héo mặt,

Thánh xem hình phạt Thánh nhăn mày.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

NHĂN NHÍU

Nhăn: Có nếp nhỏ như gấp lại, không phẳng. Nhíu: Cử động khẽ để tạo những nếp nhăn ở vùng chân mày để tỏ vẻ khó chịu hoặc suy nghĩ.

Nhăn nhíu là nói có nhiều nếp nhăn trên mặt.

Nhăn nhíu còn dùng chỉ tỏ vẻ không vừa ý về một chuyện gì. Như: Sai đi thì nó nhăn nhíu mày mặt.

Mặt yêu vằn vện dường Tiêu Diện Sĩ, le lưỡi trấn Tây phương,

Mày chằn nhăn nhíu tợ Quỷ Dạ Xoa, đẩy xe vào Âm phủ.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

NHĂN RĂNG

Nhăn: Nhe ra. Răng: Phần xương cứng mọc trên hàm dùng để cắn, nhai thức ăn.

1.- Nhăn răng là nhe hàm răng cho thấy, từ gợi tả cái dáng hung hăng, dữ tợn.

Như: Nói phật ý, anh ấy nhăn răng trợn mắt, cọp nhăn răng đưa vấu.

Có cọp dữ nhăn răng đưa vấu,

Gặp tội nhơn quào quấu xé thây.

(Kinh Sám Hối).

2.- Nhăn răng còn dùng để chỉ sợ, đói hoặc chết. Ví dụ: Sợ nhăn răng, đói nhăn răng, chết nhăn răng.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ôi! Biết bao nhiêu khổ, nếu chúng ta không phải mang danh Thánh thể của Ngài thì chúng ta viết một quyển sách kể cái khổ hạnh mà chúng ta đã chịu từ thử đến giờ, dám chắc rằng: Không có một người nào xem mà không đổ lụy đặng, chánh sách ấy đương nhiên sống với cái triết lý nhắm mắt, nhăn răng, cái triết lý đương tranh đấu của loài người vẫn vậy mà chúng ta đem cái triết lý cứu khổ với nhơn nghĩa của Tổ Phụ Việt Nam đã để lại thiệt hiện nó ra là khó khăn không thể nói được.

Bần Đạo chắc dầu chồng ông kẹ,

Bị vài lần có lẽ cũng nhăn răng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHẮN

Nhắn là gởi tin đến một người nào đó bằng cách nhờ người khác nói lại hoặc chuyển hộ. Như: Nhắn tin về nhà, nhắn bạn đến chơi, nhắn miệng.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Thê thảm thay! Trước nửa giờ lâm chung, Ngài (Cường Để) còn rán ngồi dậy nhắn cùng tất cả Thanh Niên Việt Nam hãy cương quyết phục cường cứu quốc, rồi Ngài nằm thiêm thiếp.

Cội trước gió đưa hơi nhắn khách,

Rừng tòng khách giục cảnh chờ người.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Kẻ ở phương trời người góc biển,

Lòng thành nhắn gởi chữ khương ninh.

(Bát Nương Giáng Bút).

Nhắn kẻ tu hành nên vẹn phận,

Ðừng mê của quấy, đoạ hình hài.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

NHẮN MƯA GỞI GIÓ

Nhắn mưa: Nhắn nhủ cho mưa. Gởi gió: Gởi lời theo gió.

Nhắn mưa gởi gió là nhờ mưa gió để nhắn gởi những nỗi niềm thương nhớ trong lòng.

Nhắn mưa gởi gió đưa thương,

Từ đây thiếp tỏ đoạn trường với ai?

(Kinh Thế Đạo).

Nhắn mưa gởi gió bâng khuâng để,

Một tấm tơ duyên đứt đoạn gìn.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

NHẮN NHỦ

Nhắn: Gửi lời nói hộ. Nhủ: Khuyên bảo.

Nhắn nhủ là gửi lời dặn dò khuyên bảo. Như: Nhắn nhủ học nên cố gắng.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Qua xin nhắn nhủ mấy em mấy con một lời: Thân già nầy, cả Chức Sắc Thiên Phong Nam cũng vậy, Nữ cũng vậy đều già yếu thành ra người bạc nhược, làm công chuyện như mấy em mấy con không nổi, không lẽ mấy em mấy con sanh nạnh chúng Qua rồi không tạo nghiệp cho mấy em.

Xót nỗi vợ hiền còn lụm cụm,

Gặp nhau nhắn nhủ một đôi lời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Mượn vận lương nhân xin nhắn nhủ,

Vườn xưa tiếng nhạn luống kêu sương.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

NHẰN NHỌC

Nhọc: Cảm thấy mệt nhọc trong người vì phải bỏ nhiều sức lực, phải vất vả.

Nhằn nhọc, bởi chữ “Nhọc nhằn” là khó nhọc, vất vả mà phải ráng sức chịu đựng.

Như: Công việc chị ấy nhằn nhọc quanh năm.

Nguyện nhớ ơn nông canh nhằn nhọc,

Nguyện ơn người lúa thóc giã xay.

(Kinh Thế Đạo).

Mắt Trời đã thấy cơn nhằn nhọc,

Bởi kiếp căn xưa phải chịu mang.

(Đạo Sử).

 

 

NHẴNG

Nhẵng, như chữ “Nhằng nhẵng”, là kéo dài ra, dai, không rời ra, khó dứt.

Như: Kéo nhẵng sợi dây thừng ra, đám cưới sắp hàng đi dài nhẵng.

Sợi thừng kéo nhẵng ra dài,

Người sau kẻ trước khó sai lạc đường.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

NHẮP

1.- Nhắp, còn viết “nhấp”, dùng để chỉ nhấc lên hạ xuống và di chuyển cần câu nhè nhẹ để nhử cá.

Như: Câu nhắp, nhắp mồi, ngồi nhắp cần để nhữ cá.

Cam La trước trẻ đã công hầu,

Bảy chục Khương Công nhẫn nhắp câu.

(Đạo Sử).

Nhắp cần thao lược dò sâu cạn,

Nương sợi kinh luân sửa mối giềng.

(Thơ Huệ Giác).

2.- Nhắp, còn viết “Nhấp”, là uống (trà, rượu) từng chút một bằng cách chỉ hớp ở đầu môi và chép miệng để thưởng thức vị.

Như: Hồi sáng chỉ nhắp có một ngụm cà phê mà không sao ngủ được.

Đời khổ mải mê thêm mãi bận,

Đạo mầu càng nhắp lại càng nồng.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

NHẶT

1.- Nhặt là lượm lặt. Như: Nhặt nhạnh, thu nhặt, gom nhặt, góp nhặt.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Cái vốn Ðạo Ðức mà quý vị cố gắng góp nhặt và dành dụm, ngày sau sẽ giúp cho quý vị được mãn nguyện, vì quý vị sẽ đạt đến địa vị trọng yếu trong hàng Thánh Thể Ðức Chí Tôn và ngày đó quý vị sẽ không tiếc công học hỏi cần cù nơi Hạnh Ðường mà quý vị đang hiện diện trong cuộc Lễ Khai Giảng hôm nay.

Còn tài sản là tổng quát các vật quý giá của con người đã thu nhặt trên thế gian nầy.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

2.- Nhặt là khít, mau, liền, trái với thưa.

Như: Tấm lưới đan thưa hay đan nhặt, cây tre nhặt mắt, khâu nhặt mũi kim.

Thưa nhặt thoi đưa trời xế bóng,

Xét mình một khắc một mau chân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Sen tàn cúc nở qua ngày tháng,

Nhặt bước đường hoa đến cội tùng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Nhặt là có nhịp độ âm thanh dày, dồn dập, trái với tiếng khoan.

Như: Nhịp chày giã gạo lúc khoan lúc nhặt, tiếng trống khoan nhặt vẳng từ xa.

Hồi chuông cảnh tỉnh vang rừng Thánh,

Tiếng trống giác mê nhặt đỉnh Thần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Đờn nhắn khách năm cung nhặt trỗi,

Vẹt mây đen gió thổi chiều hôm.

(Lục Nương Giáng Bút).

4.- Nhặt là ngặt, chặt chẽ, không một chút sơ hở, lỏng lẻo. Như: Nghiêm nhặt, nội quy rất nhặt, thi hành luật pháp nhặt.

Thánh giáo Thầy có câu: Luật lệ ấy phải xem xét một cách nghiêm nhặt, coi phải có ích cho nhơn sanh chăng.

Phân định lẽ Trời ra phép nhặt,

Ðức thì phước, ác hoạ tai phân.

(Đạo Sử).

 

 

NHẶT KHOAN

1.- Nhặt: Mau dồn dập. Khoan: Từ từ, thong thả.

Nhặt khoan là lúc mau lúc chậm, ý chỉ bước chân lúc đi nhanh lúc từ từ.

U minh inh ỏi tiếng chuông vàng,

Gót dạo quanh chùa bước nhặt khoan.

(Thơ Thuần Đức).

2.- Nhặt: Có nhịp độ âm thanh mau, dồn dập. Khoan: Có nhịp điệu âm thanh chậm rãi.

Nhặt khoan là tiếng gợi tả nhịp điệu âm thanh lúc khoan, lúc nhặt, tức khi thì tiếng mau, dồn dập, lúc lại chậm rãi, từ từ.

Cung Đẩu Tốt nhặt khoan tiếng nhạc,

Đệ lịnh bài cánh hạc đưa linh.

(Kinh Tận Độ).

 

 

NHẶT NGHIÊM

Nhặt: Ngặt, chặt chẽ, không một chút sơ hở, lỏng lẻo. Nghiêm: Không cho phép có sự vi phạm dù nhỏ nhặt.

Nhặt nghiêm, như chữ “Nghiêm nhặt”, là có yêu cầu chặt chẽ, gắt gao đối với những quy định đã đề ra.

Che đậy kín tường đông ong bướm,

Giấu nhặt nghiêm nhụy tướng hương hình.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Sự mạnh giỏi phép nhà khá biết,

Giữ vệ sinh cho thiệt nhặt nghiêm.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHẶT THÚC

Nhặt: Mau dồn dập. Thúc: Giục.

Nhặt thúc là lúc thưa lúc nhặt, lúc mau lúc chậm.

Nhặt thúc còn hiểu là thôi thúc, dồn dập, chỉ thời gian qua mau.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Ðạo Trời khai dẫn bước lỗi lầm, đem kẻ hữu căn lánh vòng phiền não. Nếu chẳng bả bươn nhặt thúc bóng thiều, kiếp phù sinh qua dường nháy mắt.

Thiều quang nhặt thúc khuất màu xuân,

Trở bước quanh co rán liệu chừng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Non xế nhành thung oanh nhặt thúc,

Rừng tà đảnh hạc khách trông mong.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Vẳng trống thu không hồi nhặt thúc,

Cảnh trời buồn bã nhớ về đâu.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

NHẶT TRỖI

Nhặt: Có nhịp độ âm thanh dày, dồn dập, thường đi đôi với khoan. Trỗi: Âm thanh, hay nhạc cất lên, vang lên.

Nhặt trỗi là nhịp độ âm thanh, hay tiếng nhạc vang lên một cách dồn dập.

Đờn nhắn khách năm cung nhặt trỗi,

Vẹt mây đen gió thổi chiều hôm.

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 

NHÂM THẦN

妊 娠

Nhâm: Có mang. Thần: Có thai đã đủ hình thể.

Nhâm thần là chỉ việc có thai, có mang.

Như: Đàn bà lúc nhâm thần người xưa dạy phải kiêng giữ cẩn thận.

Hễ thân mình thiểu khí loạn thần,

Thọ khí bẩm nhâm thần con dại dột.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHẨM

Nhẩm là nói, đọc khẽ trong miệng hoặc nghĩ thầm trong trí óc.

Như: Nhẩm bài học, làm tính nhẩm, nhẩm đi nhẩm lại bài thơ cho thuộc mới thôi.

Xoa tay tính nhẩm tuồng luân chuyển,

Bó gối ngồi mơ chuyện hão huyền.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

NHẬM

1.- Nhậm là nhận. Như: Nhờ quan minh tra vụ án ngài đã nhậm lời, Họ nhà gái đã nhậm lễ cưới.

Thánh giáo Thầy có dạy: Vậy sau nầy có ai đáng thì do Tân Luật mà công cử, còn về phong tịch thì có Lý Giáo Tông tiến cử, Thầy mới nhậm phong, nghe!

Con lớn khôn mình chớ tự chuyên,

Con đủ trí lời khuyên tua nhậm lẽ.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Nhậm, như chữ “Nhiệm 任”, là chức. Như: Trọng nhậm, trách nhậm nặng nề.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Các con đã chịu một trách nhậm nơi mình, nếu Thầy chẳng để cho các con học tập mà lập nên địa vị mình trước mặt chúng sanh cho xứng đáng thì Ðạo cũng chưa ra vẻ Ðạo.

Khổ ấy về sau danh phận xứng,

Chăm lo trách nhậm mới gìn kham.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

3.- Nhậm, còn đọc “Nhiệm 任” là nhận chức. Như: Đáo nhậm, làm lễ trấn nhậm, quan đi nhậm chức.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy đã ban sắc cho Thần Hoàng Long Thành thăng lên chức Văn Xương, vào trấn nhậm làng Hiệp Ninh, dạy dỗ dân về Ðạo, Thầy ban trọn quyền thưởng phạt đặng răn làng ấy cho đến ngày biết ăn năn cải quá.

Rồi đây Khâm Trấn bước lên voi,

Ðáo nhậm Biên hoà thấy có mòi.

(Thơ Hiến Pháp).

 

 

NHẬM PHONG

Hay “Nhiệm phong”.

Nhậm (nhiệm): Gánh vác, dùng. Phong: Vua ban tước phẩm cho bầy tôi hay cắt đất chia cho chư hầu.

Nhậm phong, như chữ “Nhậm phong 任 封”, là chấp thuận dùng mà phong phẩm tước cho.

Sau nầy có ai đáng thì do Tân Luật mà công cử, còn về phong tịch thì có Lý Giáo Tông tiến cử, Thầy mới nhậm phong, nghe!

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

NHÂN

1.- Nhân , còn đọc là “Nhơn”, là người. Như: Nhân loại, tiểu nhân, nguyên nhân, phụ nhân.

Thánh giáo Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn có câu: Bần Đạo chẳng kể là Nguyên nhân, hoá nhân hay là Quỷ nhân, ví biết lập công thì thành Ðạo.

Mượn vận lương nhân xin nhắn nhủ,

Vườn xưa tiếng nhạn luống kêu sương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trau tài trau phận tua trau đức,

Biết thế biết nhân mới biết mình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Nhân , cũng đọc là “Nhơn”, là đức tính từ ái, hay thương người. Như: Nhân đức, nhân nghĩa, nhân ái, nhân hậu, ăn ở có nhân.

Thánh giáo có câu: Ngày vui vẻ của sanh linh đã mòn, hoạ Thiên điều đã cận, Càn khôn Thế giới còn đeo đuổi, dụng thất đức vô nhân mà gieo thảm chất sầu trong nhân loại.

Nghĩa nhân đành gởi thân trăm tuổi,

Dạy lẫn nhau cho đặng chữ hoà.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðức trước hưởng thừa tâm vẹn giữ,

Nhân sau để dấu chí đừng lay.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Nhân là cớ, gốc để sinh ra cái khác. Như: Nguyên nhân, nhân duyên, nhân quả.

Thánh giáo Thầy có câu: Nào nhân xưa, nào đức trước, nào sách Thánh, nào lời Hiền, trải qua chưa trăm năm mà cuộc cờ đời đã rửa phai hạnh đạo.

Cầm gươm huệ chặt tiêu oan trái,

Dìu độ quần sanh diệt quả nhân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

4.- Nhân là cha chồng, chỉ bên nhà trai, sui gia. Như: Đính nghĩa nhân gia, nhân duyên.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Thất hiếu trọn vẹn, mà đã thất hiếu rồi thì buổi tương lai về cõi Hư Linh không ngó mặt ông bà ta đặng. Vì cớ, nên việc hôn nhân nơi nước ta có vẻ nghiêm khắc, truyền lại làm căn bản Tôn giáo trong nước, dùng khuôn khổ trọng nghiêm ấy đặng định luật, thì ta chẳng còn ngạc nhiên, hỏi bởi cớ sao luật nhơn luân lại gắt gao như vậy?

Mâm rượu kết thân thành sui nghĩa,

Khay trầu vầy cuộc hiệp hôn nhân.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

NHÂN ÁI

仁 愛

Nhân: Lòng thương người. Ái: Yêu mến.

Nhân ái là lòng yêu thương người. Kẻ có lòng nhân ái thì luôn luôn muốn cứu giúp chúng sanh.

Thánh giáo Thầy có dạy: Phải học tình nhơn ái, trung tín, cứu giúp. Ba con có đặng như Cửu Thiên Nương Nương chăng? Phải học gương.

Gót nhân ái đến nhà kẻ bịnh,

Giọng từ bi thức tỉnh hung tâm.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Dân thiếu tâm hoà thời biến đổi,

Người suy nhân ái thế chinh nghiêng.

(Bảo Văn Pháp Quân).

 

 

NHÂN CÁCH

人 格

Nhân: Người. Cách: Phẩm chất.

Nhân cách hay nhơn cách là tư cách và phẩm chất của con người.

Bản chất bẩm sinh cùng với các tập quán làm thành cái nhân cách của con người trong khi biểu lộ về tính tình, cử chỉ, học thức đối với mọi người.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Các con đừng vì tư lợi mà làm mất nhân cách thì rất uổng cái điểm linh quang của Thầy để vào xác thân của các con lắm.

Tinh thần phục vụ gìn nhân cách,

Đạo lý an sinh vẹn ái hoà.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

NHÂN DUYÊN

姻 缘

Nhân: Cưới gả, nhà trai là nhân, nhà gái là hôn. Duyên: Mối dây ràng buộc.

Nhân duyên là mối dây ràng buộc giữa người nam và người nữ, ý chỉ duyên vợ chồng.

Như: Hai người được kết thành vợ chồng là nhơn duyên tiền định.

Nhân duyên mấy lúc chẳng như nguyền,

Vì dạ con đương lúc đảo điên.

(Đạo Sử).

Nhân duyên cho trẻ lo hoàn tất,

Bổn phận làm cha cũng vẹn toàn.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

NHÂN GIA

姻 家

Nhân: Nhà người rể, cha chồng là nhân, nhà trai nhà gái gọi nhau là nhân. Gia: Nhà.

Nhân gia là sui gia, thông gia, tức gia đình có con cái kết hôn với nhau. Như: Hai nhà đính nghĩa nhân gia.

Tần Tấn hôm nay hiệp một nhà,

Phúc đời hạnh đạo kết nhân gia.

(Thơ Hương Phụng).

 

 

NHÂN GIAN

人 間

Nhân: Người, con người. Gian: Khoảng.

Nhân gian, như chữ “Thế gian 世 間”, là cõi đời, chỉ nơi loài người đang sống.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Trước hết Bần Ðạo giải nghĩa cái quyền đương nhiên quyền chánh trị đương nhiên là quyền đời và quyền đương nhiên của Ðạo trong thế kỷ 20 nầy, nền văn minh của Thiên Chúa Giáo truyền khắp cả nhân gian cùng vạn quốc trong hai ngàn năm trước.

Đánh nhau đổ nước nghiêng thành,

Lưu hồng một trận tan tành nhân gian.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

NHÂN HẬU

仁 厚

Nhân: Lòng thương người. Hậu: Dày, tốt.

Nhân hậu là nhân từ, trung hậu, tức kẻ có lòng thương người, thương đến nơi đến chốn và ăn ở với mọi người có tình có nghĩa.

Như: Chị ấy có tấm lòng nhân hậu.

Quấy rồi phải biết ăn năn,

Ở cho nhân hậu chế răn lòng tà.

(Kinh Sám Hối).

 

 

NHÂN KIỆT

人 傑

Nhân: Người. Kiệt: Người tài giỏi.

Nhân kiệt, còn đọc nhơn kiệt, là chỉ người anh tài giỏi hơn hết.

Như: Địa linh nhân kiệt.

Địa linh hiềm thiếu trang nhân kiệt,

Chỉ có sông Vàm nước chẳng vơi.

(Thơ Hoàng Nguyên).

Đất lành đã nẩy bao nhân kiệt,

Ngào ngạt hương quê thuở thái bình.

(Thơ Thành Toại).

 

 

NHÂN LUÂN

人 倫

Nhân: Người. Luân: Luân thường, là phép tắc ở đời đúng theo lẽ thường.

Nhân luân là đạo lý bình thường của con người, hay nói cách khác là quan hệ đạo đức giữa con người với nhau.

Trong Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bần Đạo chỉ nói rằng trong thời buổi hỗn độn cả nhân luân của nhơn loại sập đổ...

Khổng Tử tác Xuân Thu phê phán,

Trọng nhân luân kết án loạn thần.

(Báo Ân Từ).

 

 

NHÂN NĂNG HOẰNG ĐẠO

人 能 弘 道

Nhân năng: Người có thể. Hoằng Đạo: Làm cho mối Đạo rộng lớn thêm.

Nhân năng hoằng Đạo là người có thể truyền bá giáo lý làm cho mối Đạo rộng lớn ra thêm.

Con người có sự hiểu biết nên mới có thể làm cho Đạo rộng lớn ra, chứ Đạo bản thể là vô vi, nên tự nó không làm cho người rộng lớn ra được như lời Khổng Tử nói: Nhân năng hoằng Đạo, phi Đạo hoằng nhân 人 能 弘 道, 非 道 弘 人.

Cứu được những linh hồn như vậy là một công nghiệp phi thường, khả dĩ nâng cao thinh danh của Đạo đúng theo câu Nhân năng hoằng Đạo.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

NHÂN NGÃI

Nhơn: Lòng thương người. Ngãi (nghĩa): Đạo làm việc phải.

Nhân ngãi, như chữ “Nhân nghĩa”, là chỉ lòng thương người và sự đối xử với người theo điều phải.

Xem: Nhân nghĩa.

Lời tục ví: Mua xin, bán lạy,

Hễ kết nhiều nhân ngãi đắt hàng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHÂN NGHĨA

仁 義

Nhân: Lòng thương người. Nghĩa: Đạo làm việc phải.

Nhân nghĩa hay nhơn nghĩa, là hai đạo lý quan trọng trong Nho giáo, đó cũng là tôn chỉ của Đạo Cao Đài. Hai chữ Nhơn nghĩa đại ý: Nhơn là lòng thương người, là từ bi, bác ái. Nghĩa là công bình chánh trực.

Trước mặt tiền của ngôi Toà Thánh có đề hai chữ Nhơn Nghĩa, nhằm cho biết đạo lý của con người từ căn bản nhơn nghĩa mà phát huy ra làm cho nhân sinh được thuận hoà, an lạc, xã hội thanh bình, hạnh phúc.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Nhơn nghĩa là gì? Người có nhơn thì không oán, nghĩa thì không bạc.

Nâng đời tô điểm câu nhân nghĩa,

Dìu Đạo trau dồi chữ sắc không.

(Thơ Tiếp Đạo).

Mượn danh nhân nghĩa trò mưu lợi,

Dùng phép đai cân mộng chủ quyền.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

NHÂN QUẢ

因 果

Nhân: Còn đọc “nhơn”, căn do. Quả: Trái.

Nhân quả tức là nguyên nhân và kết quả.

Nhân là hạt giống, mầm, đó là năng lực tác động, quả là trái, sự hình thành, kết quả. Nói cho đầy đủ là nhân duyên quả báo.

Mỗi hiện tượng đều có nguyên nhân của nó. Hễ có nguyên nhân, tất nhiên sẽ có kết quả xứng hợp với nguyên nhân ấy, nhân nào quả đó.

Kinh Phật ghi: Dục tri tiền thế nhân, kim sanh thụ giả thị. Dục tri lai thế quả, kim sanh tác giả thị 欲 知 前 世 因, 今 生 受 者 是; 欲 知 來 生 果, 今 生 作 者 是”: Muốn biết nguyên nhân đời trước ta thế nào, thì cứ xem hưởng thụ của ta đời nay; muốn biết sự kết quả đời sau thế nào, ta cứ xem việc ta làm đời nay đó.

Khối trái chủ nhẫng lo vay trả,

Mới gầy nên nhân quả nợ đời.

(Kinh Tận Độ).

Giựt giành rốt cuộc cũng tay không,

Nhân quả đeo mang tội chất chồng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NHÂN QUẦN

人 群

Nhân: Người. Quần: Bầy, đông.

Nhân quần là một số đông con người, gọi chung là nhân loại. Như: Nhân quần xã hội.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Có chí thành con người mới có phẩm hạnh sáng tỏ, mới biết cân phân tà chánh, thị phi trong khi tiếp xúc với nhân quần xã hội, mới dám quyết định nên hư trong các công việc của mình và nhờ đó mà đi đến mức thành công mỹ mãn.

Ba đào qua, lố bóng ngân,

Toàn cầu cả thấy nhân quần đắp xây.

(Xuân Hương Giáng Bút).

 

 

NHÂN TÂM TỰ BẤT KIÊN

人 心 自 不 堅

Nhân tâm: Lòng người. Tự: Tự mình. Bất kiên: Không bền vững.

Nhân tâm tự bất kiên là lòng người không bền vững, tức là người thiếu ý chí.

Thật vậy, người xưa thường nói: Trên đời nầy không có việc gì là khó mà tại lòng người không bền mà thôi.

Nho học có câu: Thế thượng vô nan sự, nhân tâm tự bất kiên...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

NHÂN TỪ

仁 慈

Nhân: Lòng nhơn, tức thương người, thương vật. Từ: Hiền lành.

Nhân từ là kẻ có lòng thương người và có tánh tình hiền lành. Như: Người mẹ nhân từ.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Người lịch sự ấy làm y theo lời mình đã dạy thì quý hoá thế nào, tôi tưởng cả thảy trên mặt địa cầu này, nếu người đàn ông nào để ý lập đời thì mơ mộng có một điều là: Được người vợ nhân từ đạo nghĩa mà lại đẹp thì còn hạnh phúc nào hơn nữa.

Lễ bái thường hành tâm đạo khởi,

Nhân từ tái thế tử vô ưu.

(Bài Thài Thất Nương).

Đừng thấy chồng có dạ nhân từ,

Mà trổ dữ làm nư lấn lướt.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHÂN TỬ

人 子

Nhân: Người. Tử: Con.

Nhân tử là nói đạo làm con, tức là người con phải biết công ơn và hiếu kính cha mẹ.

Như: Đạo nhân tử là phải phụng kính song thân.

Nhân tử gắng đền ơn hiếu đạo,

Phận làm con trả thảo song thân.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

NHÂN THẾ

人 世

Nhân: Con người. Thế: Đời.

Nhân thế, như chữ “Thế nhân 世 人”, là chỉ người đời, tức là con người sống ở cõi thế gian.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Rồi đây chúng ta sẽ tạm nghỉ ít ngày để đón Xuân, cái Xuân nồng nàn xinh đẹp của võ trụ mà cũng là cái Xuân tươi thắm của người ở thế gian, một dịp thay cũ đổi mới gieo vào lòng nhân thế biết bao hy vọng để phấn khởi trên đường nhiệm vụ tương lai.

Tùng cơ phổ độ dìu nhân thế,

Mãn quả siêu thăng lại đảnh Bồng.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

NHẤN

Nhấn là ấn vào, ấn nhẹ xuống.

Như: Tay nhấn phím đàn, nhấn còi xe inh ỏi, nhấn chuông ngoài cổng.

Ghì phím ngọc thơ chan rỉ rả,

Nhấn đường tơ nhạc toả trùng trùng.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

NHẤN MẠNH

Nhấn: Dùng lời hay giọng điệu khác thường làm cho người chú ý. Mạnh: Có cử chỉ, hành động dứt khoát, không rụt rè, e ngại. Như: Mạnh miệng, nhấn mạnh.

Nhấn mạnh là nêu bật lên để làm cho người khác quan tâm, chú ý hơn.

Như: Nhấn mạnh đến sản phẩm chất lượng.

Bần Đạo nhấn mạnh một điều này, Đạo Cao Đài vốn là một nền Tôn Giáo để cứu khổ cho nhơn loại...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

NHẪN

1.- Nhẫn là đến, cho đến, thường chỉ về thời gian. Như: Đi biệt từ ấy nhẫn nay.

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du có câu: Cớ chi ngồi nhẫn tàn canh? Nỗi riêng còn mắc mối tình chi đây?

Cam La trước trẻ đã công hầu,

Bảy chục Khương Công nhẫn nhắp câu.

(Đạo Sử).

2.- Nhẫn là nhịn, dằn lòng xuống. Như: Nhẫn nại, nhẫn nhục, nếu không nhẫn thì sinh chuyện to.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Nếu cái nhẫn kia chẳng đặng để đứng đầu, làm cho nó phiền, trả chức lại, cũng như Lý Bạch ngày nọ, thì mong chi đi cho cùng bước.

Trọn đời nhẫn chịu nhọc nhằn thân,

Một gánh mà mang biết mấy lần.

(Đạo Sử).

Nếu thiếp trước biết hoà biết thuận,

Nhẫn ghen tương nhịn lẫn ân tình.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NHẪN NẠI

忍 奈

Nhẫn: Nhịn. Nại: Chịu đựng.

Nhẫn nại là nhịn nhục chịu đựng, tức kiên trì chịu đựng những khó khăn vất vả. Như: Nhẫn nại luyện tập.

Thuyết về nhẫn nại, Đức Hộ Pháp có câu: Vậy sự làm của chúng ta phải cương quyết và nhẫn nại đủ điều, không nhút nhác, vui chịu, bởi đã hiểu giá trị ân đức của Ðức Chí Tôn như thế nào rồi, muốn trả được hết phải học sách làm đầy tớ của những đầy tớ của Ðức Chí Tôn, làm được vậy chừng đó mới trả nợ tình của Ðức Chí Tôn đặng.

Khiêm cung, nhẫn nại, lọc lừa,

Giúp đời nào nại sớm trưa tháng ngày.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Từ bi nhẫn nại gương Tiên Phật,

Trung thứ khoan dung chí Thánh Hiền.

(Thơ Khai Đạo).

Nhẫn nại học đòi gương Phạm Lãi,

Tranh phuông để ý kế Trương Lương.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

NHẪN NHỊN

Nhẫn: Nhịn, lòng không nỡ. Nhịn: Nhường, không tranh chấp.

Nhẫn nhịn là nhẫn nại mà nhường nhịn, tức chịu dằn lòng xuống, không giành giựt, không tranh chấp.

Thánh giáo Đức chí Tôn có dạy: Phải dồi lòng trong sạch, lấy sự nhẫn nhịn làm gương soi mình hằng bữa, phải thương yêu nhau, giúp đỡ nhau dường như con một nhà, rồi cái thương yêu, sự giúp lẫn ấy sẽ dìu chung các con vào tận chốn Cực Lạc thiêng liêng, để tránh khỏi nơi khổ cùng tiều tuỵ.

Kẻ đố người làm đôi đứa hại,

Trăm điều nhẫn nhịn mới là Tiên.

(Đạo Sử).

Dầu chê hàng đồ bỏ của hư,

Cũng nhẫn nhịn cứ ừ chịu phải.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHẪN NHỤC

忍 辱

Nhẫn: Nhịn, dằn lòng xuống, chịu đựng. Nhục: Xấu hổ đến mức khó chịu đựng nổi, làm cho hổ thẹn.

Nhẫn nhục là nhịn thua người, dằn lòng chịu đựng những điều xấu hổ, tủi nhục.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Kiếm cái đức Thị Kính thế nào, thì tánh đức trạng thái của Quan Âm như thế ấy, tánh đức của Ngài là từ hoà nhẫn nhục, hiền lương, ân tha mọi điều oan khúc, chịu nổi thắng nổi thời gian là Đức Quan Âm.

Nhẫn nhục đâu tường lẽ thiệt hư,

Thấy đui nghe điếc bấy lâu chừ.

(Đạo Sử).

 

 

NHẪN TÁNH

Hay “Nhẫn tính”.

Nhẫn: Nhịn. Tánh (tính): Tánh hạnh, bản chất.

Nhẫn tánh, như chữ “Nhẫn tính 忍 性”, là giữ tánh kiên trì, bền bỉ chịu đựng những khó khăn, vất vả để làm cho hoàn thành công việc.

Như: Kiên tâm nhẫn tánh.

Dạy cho biết kiên tâm nhẫn tánh,

Đoán hư nên nết hạnh đờn bà.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHẪN TÁNH KIÊN TÂM

Nhẫn tánh: Giữ tánh kiên trì, bền bỉ chịu đựng những khó khăn, vất vả. Kiên tâm: Bền lòng.

Nhẫn tánh kiên tâm là giữ tâm tánh kiên trì, bền bỉ chịu đựng những khó khăn vất vả.

Tu hành trước khổ mới sau vui,

Nhẫn tánh kiên tâm nếm đủ mùi.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

NHẬN

1.- Nhận là đè xuống, dìm xuống nước.

Như: Nhận đầu xuống nước, nhận bộ quần áo vào thau giặt đồ, sóng nhận chìm thuyền.

Đại Thừa Chơn Giáo có câu: Bảo sao loài người không say đắm về tình đời mà ham ngon chuộng lạ, muốn khoái, ưa vui, mê xinh, thích đẹp rồi chôn nhận cái linh hồn phải bị giam hãm, phải luống miệt mài trong cái khám trần ngục khổ vậy.

Cái hoạ lây vạ tràn kia, nhiều khi phải bôi xoá đến công trình xứng đáng của mỗi con và nhận chìm luôn đến con thuyền Bát Nhã.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

2.- Nhận là lãnh, chịu. Như: Nhận lời, nhận tiền, nhận lễ, nhận tội.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Vì cớ Lễ Nhạc hiểu rõ lại thì Chí Tôn không phải là tư vị nước Việt Nam, mà chính nghĩa là làm cho sống lại Bát Hồn, và Ngài vẫn vui nhận lễ ấy.

Cỏn con sự nghiệp cũng bồng tang,

Lợi lộc tí ti cũng nhận nhàn.

(Đạo Sử).

Dầu khôn mấy giả ngu cho thuận,

Phải bao nhiêu cũng nhận lỗi lầm.

(Nữ Trung Tùng Phận).

3.- Nhận là nhìn xem có biết không, có phải không. Như: Nhận mặt kẻ gian.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Trên bước đường gió bụi, Ngài bị nguy khổn nhiều phen, như lúc bị vây ở đất Khuông vì dân nhận lầm Ngài là tên gian ác Dương Hổ, Ngài vẫn an nhiên lấy đàn ra khảy, họ biết lầm lạc nên xin lỗi Ngài.

Tấn thối dè chừng mưu kế hiểm,

Thiệt hư nhìn nhận chước phương hay.

(Nhàn Ấm Đạo Trưởng).

 

 

NHẬN LÃNH

Nhận: Lấy, thu về mình. Lãnh: Lĩnh, nhận.

Nhận lãnh là lãnh, tức thu nhận về cái được gửi, được trao cho mình.

Nhận lãnh còn có nghĩa là đồng ý và hứa làm theo yêu cầu.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Đức Cao Thượng Phẩm có đoạn: Các bạn Hiệp Thiên Đài từ bấy lâu nay vẫn do dự không hoàn toàn trọn vẹn lo thi hành trách nhậm đã nhận lãnh khi trước. Đã đôi phen Bần Đạo nhắc nhở phận sự thiêng liêng của các bạn ấy hầu tỉnh ngộ các bạn chưa về hành đạo từ bấy lâu nay.

Thiên ý đã xoay chuyển, đã sắp đặt cơ hội, đã tạo thành dịp tốt và rốt cuộc sự ban thưởng đã đến bất ngờ, dầu muốn dầu không cũng phải đành chịu nhận lãnh.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

NHẪNG

Nhẫng, như chữ “Những”, có nghĩa chỉ là, chỉ.

Như: Nhẫng mong cho con khôn lớn, nhẫng là rày ước mai ao, nhẫng lo cho con nên người.

Nhẫng nhớ bước động Đào buổi trước,

Nhẫng nhớ khi Hớn rước Diêu Trì.

(Kinh Thế Đạo).

Chiều vui dưới trướng ngoài màn,

Nhẫng lo ngại nỗi phụ phàng ái ân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NHẤP NHOÁ

Nhấp nhoá, cùng nghĩa với chữ “Nhấp nhá”, là lấp loá, tức có ánh sáng khi loé lên, khi lại tắt.

Như: Mấy vì sao nhấp nhoá trên bầu trời.

Một toà Thiên Các ngọc làu làu,

Liền bắc cầu qua nhấp nhoá sao.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Bởi cung Quảng bóng Hằng nhấp nhoá,

Bởi đền Ngô nghe gã Tây Thi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NHẤP NHÁNG

Nhấp nháng, như chữ “Nhấp nhoáng”, là lấp loáng, tức ánh sáng chiếu thành vệt lúc ngắn, lúc dài, khi có, khi không liên tiếp nhau.

Nhấp nháng còn dùng để chỉ thấp thoáng, là xuất hiện lúc có, lúc không, khi ẩn, khi hiện.

Xem: Nhấp nhoáng.

Thương gió lặng mây tan trời rạng,

Thương muôn sao nhấp nháng bóng khuya.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

NHẤP NHOÁNG

Nhấp nhoáng, như chữ “Nhấp nhoáng”, lấp loáng, liên tiếp chiếu thành vệt, lúc ngắn lúc dài, khi có khi không. Như: Sao nhấp nhoáng đầy trời.

Nhấp nhoáng còn có nghĩa là thấp thoáng, xuất hiện lúc có lúc không, khi ẩn khi hiện. Như: Mới thấy nó nhấp nhoáng chơi ở đây nè.

Tiếng dế giống như lời chia thảm,

Ngọn đèn khuya nhấp nhoáng mùi hương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Vùn vụt tiếng roi quơ nhấp nhoáng,

Mờ mờ cảnh vật thụt thùi lui.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

NHẤP NHÔ

Nhô: Đưa phần đầu cho vượt hẳn lên phía trên hoặc phía trước.

Nhấp nhô là nhô lên thụt xuống liên tiếp, không đều nhau. Nhấp nhô còn là khi lên cao khi xuống thấp.

Như: Thuyền nhấp nhô trên sóng.

Nhấp nhô lượn sóng khoả lèo,

Luồng đông gió tạt cánh bèo ngưng sông.

(Lục Nương Giáng Bút).

Chiều thu nhắc ủ ê cảnh hạn,

Nhấp nhô xem cánh nhạn về non.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NHẤP NHỨ

Nhấp nhứ là muốn làm việc gì nhưng mà vẫn chưa làm, hoặc không làm.

Như: Mấy lần nhấp nhứ định đi, nhấp nhứ sau hè không dám bước vào.

Anh lắm lúc bộn bàng thế sự,

Em đôi khi nhấp nhứ khuyên lơn.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

NHẬP

1.- Nhập là vào, đi vào, đem vào. Như: Nhập môn, nhập gia tuỳ tục, nhập cảng, xuất nhập bình an.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Thần là khiếm khuyết của cơ mầu nhiệm từ ngày Ðạo bị bế. Lập Tam Kỳ Phổ Ðộ nầy, duy Thầy cho Thần hiệp Tinh, Khí đặng hiệp đủ Tam Bửu là cơ mầu nhiệm siêu phàm nhập Thánh.

Luyện đặng tinh thông muôn tuổi thọ,

Cửa Thiên xuất nhập cũng như nhà.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thâu tài hay nhập nước mình,

Làm cho dân hưởng thái bình giàu sang.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Nhập là hợp lại. Như: Nhập hai nguồn tiền làm một, nhập bọn lên đường.

Thánh giáo Thầy có câu dạy: Thầy nhập ba chi lại làm một là chủ ý quy tụ các con trong Ðạo Thầy lại một nhà, Thầy làm Cha chưởng quản, hiểu à!

Của chia tư nhập lại làm công,

Gương cột đũa, gương hay dùng phải dịp.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHẬP ĐÀN

入 壇

Nhập: Vào, đi vào. Đàn: Chỗ cao và sạch sẽ dùng làm nơi cúng tế, chỉ cuộc cúng tế và cầu nguyện.

Nhập đàn là đi vào đàn cúng.

Theo nghi lễ cúng đàn tại các Thánh Thất, sau hồi kệ Lôi Âm Cổ và Bạch Ngọc Chung xong, các chức sắc, chức việc và sau cùng là Đạo hữu sắp theo thứ tự một hàng để nhập đàn, tức là nam theo nam, nữ theo nữ, đi vào trong Chánh điện để chầu lễ Đức Chí Tôn.

Trong Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Mỗi phen nhập đàn, hễ trống chuông rồi, thì tất cả đi vô, cả thảy đi vô thong thả, chỉ có Bần Ðạo thật bối rối, bước lên ngai rồi, trụ pháp lại, vẽ bùa niệm chú.

Trừ tịch khai chuông lồng Điện ngọc,

Nhập đàn thỉnh Thánh ngự Ngai vàng.

(Thơ Võ Thành Lượng).

 

 

NHẬP ĐỊNH

入 定

Nhập: Vào, đi vào. Định: Sự dừng đứng, sự yên nghỉ, tức ngăn bặt mọi động loạn.

Nhập định, còn gọi là “Thiền định 禪 定”, tức là người tu ngồi định tâm, tập trung tâm thức vào một đối tượng không cho tán loạn.

Khi tâm vắng lặng, không còn khởi vọng tưởng, các phiền não dần dần lắng xuống, làm lóng sạch cái tâm lăng xăng vọng tưởng của mình được sáng tỏ mạnh mẽ, quán chiếu nhìn thấy sự vật như thật.

Sở dĩ người tu phải nhập định là bởi vì con người thường bị hoàn cảnh và vọng niệm sai sử, tâm ý phân tán, cho nên sống trong quên lãng, thất niệm. Nhờ định mà khi đối diện với mọi cảnh, tâm vẫn vắng lặng, chẳng lay động.

Trong Đạo Cao Đài, Tân Luật có quy định cho người muốn nhập định như sau: Trong hàng tín đồ, ai đã xử tròn nhơn đạo và giữ trai giái từ 6 tháng sắp lên thì được xin vào Tịnh Thất mà nhập định.

Nhập định luyện Tinh, Khí, Thần,

Thành gươm đoạn tuyệt lục trần huờn hư.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

NHẬP HỘI

入 會

Nhập: Vào, đi vào. Hội: Hội họp, hội nghị.

Nhập hội là vào cuộc hội họp, tức là bắt đầu họp nhau lại bàn công việc chung.

Nhập hội còn có thể hiểu là gặp lúc, hay gặp thời.

Kinh Nhập Hội cũng là một bài Kinh do Đức Hộ Pháp soạn ra, có nhờ Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn chỉnh văn lại. Bài Kinh nầy dành cho chủ toạ đoàn và tất cả các người tham gia vào cuộc họp, cùng với đồng nhi tụng đọc trước khi bắt đầu phiên hội nghị, để cầu cho cuộc hội được thành công tốt đẹp.

Hội họp là một sinh hoạt thường xuyên trong tôn giáo Cao Đài, nhằm mục đích thảo luận chương trình hành đạo, tổng kết việc đạo cuối năm...

Ngoài ra, Đạo Cao Đài còn có tổ chức những phiên nhóm họp lớn như: Hội Nhơn Sanh, Hội Thánh và Thượng Hội, đây là ba hội lập quyền vạn linh, nhằm mục đích lập pháp, sửa đổi luật, kiểm soát các cơ quan Cửu Trùng Đài, tìm phương giúp Hội Thánh điều hành nền Đạo, mỗi ngày một phát triển tốt đẹp hơn.

Vì vậy, trước mỗi phiên nhóm đều có tụng đọc bài Kinh Nhập Hội này nhằm để cầu nguyện các Đấng Thiêng Liêng ban cho phiên họp được thành công tốt đẹp.

Thiên Ðịa vô công nan nhập hội,

Thành công tuỳ lực khích nhơn hồi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NHẬP MẠCH

Nhập mạch, như chữ “Nhập quan”, là liệm xác của người chết bằng những lớp vải bó kín lại rồi đặt vào quan tài, đậy nắp, đóng đinh, trám khằng kỹ lưỡng.

Trong đạo Cao Đài, đối với chức sắc Đại Thiên phong từ phẩm Đầu Sư và tương đương trở lên khi nhập mạch là sau 24 giờ quy Thiên (thi thể ngồi kiết già) được đại liệm vào Liên Đài, tụng bài “Kinh Tẩn Liệm”.

Đối với những chức sắc từ Chánh Phối Sư, Phối Sư và phẩm tương đương trở xuống đạo hữu khi nhập mạch tụng Kinh Tẩn Liệm (Dây oan nghiệt...).

NHẬP MẠCH: Tụng Kinh Tẩn Liệm (Dây oan nghiệt...).

(Quan Hôn Tang Lễ).

 

 

NHẬP MÔN

入 門

Nhập: Bước vào. Môn: Cửa, ở đây chỉ cửa Đạo.

Nhập môn là bước vào cửa Đạo. Người nhập môn là người theo Đạo và làm tín đồ của Đạo ấy.

Muốn nhập môn vào đạo Cao Đài, phải làm lễ nhập môn, hay lễ Minh thệ trước Thiên Bàn hay Điện tiền Đức Chí Tôn có sự chứng lễ của vị Chánh Trị sự hương đạo của người nhập môn và vị Lễ Sanh cai quản Họ Đạo.

Thánh Ngôn Thầy dạy: Thầy ước sao các con biết tự lập thì Thầy mới vui lòng, chớ các con nhập môn cho đông, lãnh Thiên phong cho nhiều mà không đủ tư cách thì các con phải tự hỏi mình coi có bổ ích vào đâu chăng?

Phước Thiện báu quý càn khôn,

Độ các Chi Phái nhập môn hồi đầu.

(Thất Nương Giáng Bút).

Lời minh thệ nhập môn cầu Đạo,

Cuộc thế tàn cơ khảo đức tin.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

NHẬP NHOÀ

Nhập nhoà, như chữ “Nhập nhòe”, sáng lờ mờ, hoặc nhớ mang máng, không được rõ lắm.

Như: Ánh sáng nhập nhoà trên không, hình ảnh ngày xưa nhập nhoà trong trí não.

Niềm uẩn khúc nhập nhoà trí não,

Luống thương sanh rào rạo buồng gan.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

NHẬP TIỆC

Nhập: Vào, bước vào. Tiệc: Bữa ăn có nhiều món ngon và có đông người dự.

Nhập tiệc là vào bữa tiệc, tức bắt đầu ngồi vào tiệc để ăn uống.

Giờ nhập tiệc linh đình cung thỉnh,

Gọi ba ông an định chung ngồi.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

NHẬP THÁNH SIÊU PHÀM

入 聖 超 凡

Nhập Thánh: Nhập vào cõi Thánh. Siêu phàm: Siêu thoát khỏi phàm gian.

Nhập Thánh siêu phàm, như chữ “Siêu phàm nhập Thánh 超 凡 入 聖”, là nói người tu hành khi thoát xác, chơn linh sẽ siêu thoát khỏi phàm gian mà nhập vào cõi Thánh (cõi thiêng liêng).

Xem: Siêu phàm nhập Thánh.

Độ nhơn gian nhập Thánh siêu phàm,

May mắn ấy còn ham chi thế cuộc.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

 

 

NHẬP THÁNH THỂ

入 聖 體

Nhập: Vào, rèn luyện. Thánh thể: Trái với phàm thể, tức là thân thể thiêng liêng.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có nói về Thánh thể như sau: “Ôi Thầy sanh các con, Thầy yêu các con; Thầy cho các con đến thế nầy với một Thánh thể Thiêng liêng, y như hình ảnh của Thầy, không ăn mà sống; không mặc mà lành. Các con không chịu, lại nghe lời cám dỗ, luyến ái hồng trần, ăn cho bị đày; dâm cho phải bị đọa, rồi các con phải chịu dưới nạn áo cơm.

Lợi, Thầy để dành cho các con chung hưởng, nhưng vì lòng tham, đứa giựt nhiều, đứa phải chịu kém.

Quyền, Thầy ban cho các con, y như Thầy đã ban cho Thần, Thánh, Tiên, Phật, để cho các con có đủ phương tiện kiềm chế lẫn nhau đặng giữ vẹn Thánh thể của Thầy. Thế mà cái quyền ấy thành một món lợi khí, buộc trói các con trong vòng tội lỗi. Ôi, cái thất vọng của Thầy rất nên đau đớn”.

Như vậy, “Nhập Thánh thể” là rèn luyện phàm thể để trở nên Thánh thể.

Ta đã biết, phàm thể là nhục thể của con người trong cõi thế gian, vì vô minh bị nghiệp lực, thất tình lục dục xuôi khiến nên phàm thể ô trược nặng nề. Người biết tu hành chính chắn thì phàm thể sẽ dần dần trong sạch, nhẹ nhàng từ tâm thức đến thể xác, nên trở thành Thánh thể.

Muốn đạt được một Thánh thể, chúng ta phải mượn phàm thể để tu tánh luyện mạng. Tu tánh là trau dồi tự tánh, sửa đổi nội tâm cho phù hợp với Thiên lý, thể theo đức háo sanh của Thượng Đế, yêu thương muôn loài vạn vật, tâm dứt ngoại duyên, thân không trần nhiễm. Luyện mạng là luyện Tinh, Khí, Thần cho Tam bửu hiệp nhất, tinh tấn, giao cảm cùng các Đấng Thiêng Liêng, tạo nên một Thánh thể anh linh, con người thoát tục.

Người đạt được Thánh thể là người cư trần bất nhiễm 居 塵 不 染, có một phong nghi đạo đức, Phật tâm Thánh ý, có một đời sống thanh cao, ăn mặc thủ thường chay lạt, sắc tài danh lợi không mê luyến, lời nói việc làm thuận theo Thiên ý, đẹp dạ nhân tâm.

Nhập Thánh thể dò đường cựu vị,

Noi Chơn truyền khử quỷ trừ ma.

(Kinh Tận Độ).

 

 

NHẬP THẾ

入 世

Nhập: Vào, đi vào. Thế: Đời.

Nhập thế nghĩa là vào đời, vào trường đời, tức ra tham gia, gánh vác việc đời.

Sách Luận Ngữ có câu: Dụng chi tắc hành, xử chi tắc tàng 用 之 則 行, 處 之 則 藏, nghĩa là dùng thì ra làm quan, không dùng thì ở ẩn.

Như vậy, nhập thế là Hành, xuất thế là Tàng.

Tiếc gì chơn linh Ta chưa vẹn bề nhập thế nên cơ hành động hữu vi chẳng đặng hoàn toàn.

(Quan Thánh Đế Quân).

nhập thế trau giồi hạnh đức,

Giữ tam cang, tâm nhứt, ngũ thường.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

NHẬP THỂ

入 體

Nhập: Đi vào. Thể: Xác thân, hình thể.

Nhập thể là nhập vào thể hài của con người, ý chỉ Linh hồn nhập vào thể xác, hoặc thể hài tiếp nhận ân điển của chư Thiêng liêng.

Thánh giáo Bát Nương trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Âm quang là nơi Thần Linh Học gọi là nơi Trường đình của chư hồn giải thể hay nhập thể.

Cầu khẩn Đấng Chơn Linh nhập thể,

Đủ thông minh học lễ học văn.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

NHẬP VI MÔN ĐỆ

入 為 門 弟

Nhập vi: Vào làm. Môn đệ: Học trò.

Nhập vi môn đệ là nhập vào để làm Đệ tử.

Đối với Đạo Cao Đài, người có tín ngưỡng khi làm lễ nhập môn vào Đạo, thì “Nhập vi môn đệ”, tức trở thành người đồ đệ của Đức Chí Tôn.

Phục hưng Quốc Đạo tiến hoá thạnh hành phổ độ Nhơn sanh, nhập vi môn đệ.

(Sớ Văn).

 

 

NHẬP XÁC

Nhập: Vào, đi vào. Xác: Thể xác.

Nhập xác là nói chơn linh người chết hay điển của các Đấng thiêng liêng nhập vào thể xác của con người.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Chơn thần của các con gặp Tà khí thì khó chịu, nên xin Thầy xuống điển nhiều đặng ngăn Tà mị, một đôi khi phải nhập xác vì điển xuống nhiều.

Cũng một lẽ ấy mà mỗi lần lập thệ đều có nhập xác.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

NHẤT NIỆM SÂN TÂM KHỞI

一 念 嗔 心 起

Nhất niệm sân tâm khởi, là trích một đoạn trong Kinh Hoa Nghiêm là “Nhất niệm sân tâm khởi, bách vạn chướng môn khai 一 念 嗔 心 起, 百 萬 障 門 開.”, có nghĩa là khi khởi một niệm giận hờn tức là đã mở ra muôn ngàn cửa chướng ngại.

Con người sống ở thế gian, khi gặp cảnh thuận thì an vui, trái lại, khi gặp nghịch cảnh thì phiền não. Trong các loại phiền não thì sân hận là thứ phiền não có tướng trạng rất thô bạo, và nó có thể phá hoại sự nghiệp hành trì của người tu một cách nặng nề nhất. Một khi sân hận khởi lên mà chúng ta không tự kềm chế, không tự khắc phục được, thì biết bao chuyện đau khổ, chướng ngại xảy đến cho ta.

Một khi tức giận đã nhiễm vào tâm thì si mê sẽ nổi lên, lúc đó chúng ta sẽ sống trong cảnh giới vô minh, rất dễ lầm đường lạc nẻo, và rất dễ dàng gây nên tội ác, mà không lường được hậu quả đau khổ. Những giây phút tức giận trở thành ngu si, lầm lẫn thường là nguyên nhân của những sự hối tiếc, đau khổ sau đó, cho mình và cho người khác, có khi kéo dài triền miên suốt cả cuộc đời. Bởi vậy phải diệt tận gốc cài sân hận thì cuộc sống mới an lạc và hạnh phúc.

Nguyên nhân của sân hận là tự cao, kiêu mạn, tham lam và tật đố. Hàn Sơn Đại Sư đã dạy về việc sân hận trong một bài thơ được dịch ra như sau:

Sân như lửa trong tâm,

Đốt tiêu rừng công đức.

Muốn hành Bồ Tát đạo,

Nhẫn nhục giữ chân tâm.

Muốn đối trị lòng sân hận, phải khởi tâm Từ bi, mà tha thứ cho những người gây tội lỗi, chịu hình phạt, như lời Thánh giáo của Đức Chí Tôn đã dạy: Con phải lấy Phật tâm con mà dòm ngó đám sanh linh bị phạt, luân hồi chưa dứt, thì tưởng đến Thầy mà cam chịu nhục nhã, lòng từ bi có vậy mới xứng đáng là tôi con Thầy.

Sau đây là một câu chuyện kể lại người tu hành mà không dằn được lòng sân hận để phải tiêu tan công đức và chịu thọ nghiệp trong vòng quả báo, luân hồi.

Đời nhà Đường có vị Thiền Sư Hoa Nghiêm là đệ tử của Đại Sư Thần Tú, trụ trì chùa Thiên Quan tại thành Lạc Dương. Trong chùa có hơn ba trăm đệ tử, mỗi ngày đến giờ dùng cơm, Thiền Sư bắt đệ tử phải có bình bát đầy đủ và sạch sẽ mới cho đi vào trai đường.

Có một vị đệ tử pháp danh Hạ Lạp, hành đạo tinh tiến, nhưng lại có tính dễ sân nộ và thiếu tính nhẫn nại. Một hôm, vì mắc bệnh không thể đến trai đường dùng cơm, lúc đó có một tiểu sa di thiếu bát, biết Hạ Lạp đang ốm không đi dùng cơm, mới đến hỏi Hạ Lạp cho mượn tạm chiếc bát.

Hạ Lạp từ chối rằng: Chiếc bát ta dùng đã hơn ba mươi năm, không thể cho ai mượn cả.

Chú sa di năn nỉ nhiều lần, sau cùng Hạ Lạp cũng bằng lòng cho mượn, nhưng luôn căn dặn: Bát nầy ta dùng đã lâu, nó là một kỷ vật quý của ta, chớ nên làm vỡ. Nếu đánh bể chiếc bát nầy thì coi như là giết ta đấy.

Chú sa di gật đầu vâng dạ, rồi đem chiếc bát đến trai đường dùng cơm. Khi mới dùng một nửa, Hạ Lạp sai người đến đòi. Chú sa di vội vàng dùng xong bữa cơm và lật đật mang chiếc bát đi rửa. Không may, vì quá hấp tấp, chân vấp phải cục đá mà té, chiếc bát cũng vỡ theo.

Chú sa di hoảng hốt, cầm chiếc bát vỡ đến gặp Hạ Lạp và nói: Con sơ ý, đã đánh vỡ chiếc bát của thầy rồi, xin thầy thứ lỗi.

Hạ Lạp nghe xong, giận điên cả người, lớn tiếng trách nạt chú sa di: Ta đã bảo ngươi nên giữ cẩn thận, nay ngươi đã đánh vỡ chiếc bát của ta thì cũng như giết chết ta rồi còn gì.

Chú sa di thưa rằng: Bạch thầy không phải là con cố ý đánh bể, mong thầy xá tội. Chú sa di quỳ xuống và cúi đầu lia lịa, nhưng cơn giận của Hạ Lạp vẫn chưa nguôi, bệnh tình của Hạ Lạp vì thế trở nên trầm trọng, qua vài hôm sau thì mất.

Vài năm sau, Thiền Sư Hoa Nghiêm trong một buổi giảng kinh ở thính đường, bỗng có tiếng xào xạt từ ngoài truyền vào, chúng đệ tử nhìn ra ngoài thì thấy một con mãng xà lớn, dài đến bảy tám trượng bò vào, đôi mắt lăm le ngắm nhìn khắp nơi như đang tìm một người nào vậy. Khi ấy mọi người đều sợ sệt và tìm đường chạy trốn, con rắn tiến gần đến chỗ Thiền Sư Hoa Nghiêm. Thiền Sư cầm tích trượng chỉ con mãng xà, nạt rằng: Hãy dừng lại! Hãy dừng lại!

Mãng xa như hiểu được tiếng người, nghe xong bèn dừng lại. Thiền Sư lấy tích trượng gõ vào đầu con rắn và nói: Đó là nghiệp do ngươi tự tạo, người có biết chăng? Nay đã đoạ kiếp mãng xà rồi, hãy buông xuôi tất cả, hồi tâm sám hối quy y, chớ nên oan oan tương báo mà sa vào địa ngục.

Mãng xà nghe xong liền bỏ đi. Khi mọi người đều trở về giảng đường, Thiền Sư Hoa Nghiêm bèn nói với chúng đệ tử rằng: Con mãng xà vừa rồi là Hạ Lạp, sư huynh của mấy con đầu thai đấy. Nó oán hận tiểu sa di đánh vỡ chiếc bát của nó, nên khi chết thì đoạ vào kiếp rắn, hôm nay nó trở về chùa để đòi mạng chú sa di. Nay nó nghe lời ta mà xả thân, các con hãy đến khu rừng bên cạnh để chôn cất nó.

Mấy vị sư nghe lời thầy, theo dấu mãng xà đến một hang động thấy con mãng xà đập đầu vào vách đá, máu chảy lai láng. Mọi người đều niệm Phật và chôn cất con mãng xà xong về chùa báo cáo cho Thiền Sư hay.

Thiền Sư dạy rằng: Các con tu hành, phải kềm chế lòng sân hận, trong Kinh có nói: “Một niệm lửa sân đốt tan cả rừng công đức”, tức là nói khi sân hận nổi lên thì không có tội ác nào mà họ không dám làm. Ý nghĩa của câu nói này là Đức Phật khuyên chúng ta phải làm chủ cơn sân hận, phải chuyển hoá tâm sân hận thành tâm từ bi hỷ xả. Chính Hạ Lạp không dằn được lửa hận, chẳng những bị xoá bỏ công đức tu tập bao nhiêu lâu nay mà còn nhận những nghiệp chướng nặng nề khác.

Trong Kinh Hoa Nghiêm có câu rằng: “Nhất niệm sân tâm khởi, bá vạn chướng môn khai”.

(Giảng Đạo Chơn Ngôn).

 

 

NHẤT THIẾT DO TÂM TẠO

一 切 由 心 造

Nhất thiết (Nhứt thiết): Tất cả, hết thảy. Do tâm tạo: Do tâm mà gây ra, sinh ra.

Nhất thiết do tâm tạo, đồng nghĩa với câu “Vạn pháp duy tâm 萬 法 惟 心”, có nghĩa là tất cả các pháp, các sự vật, vạn vật đều do tâm gây nên.

Đức Thượng Sanh có ví dụ như: Cờ bạc gây ra thiếu hụt, nợ nần, vì thiếu hụt phải lường gạt hay trộm cắp, trộm cắp gây ra cái quả lao tù. Bây giờ bỏ dứt sự cờ bạc, lo làm ăn lương thiện thì tất nhiên phải được an thân khoẻ trí.

Phật giáo dạy rằng: Nhất thiết do tâm tạo, nghĩa là tất cả đều do lòng người tạo nên...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

NHẬT BÁO

日 報

Nhật: Ngày, hằng ngày. Báo: Giấy có in tin tức, bài viết, tranh ảnh để thông tin tuyên truyền.

Nhật báo là báo hằng ngày, tức là báo, tạp chí xuất bản mỗi ngày.

Nhiều nhật báo phân ra tứ hướng,

Một niềm tin ảnh hưởng ngàn phương.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

NHẬT NGUYỆT

日 月

Nhật: Mặt trời. Nguyệt: Mặt trăng.

1.- Nhật nguyệt dùng để chỉ mặt trời và mặt trăng, ý nói chứng kiến lòng thành thật.

Nhật nguyệt cùng chung nơi cõi thọ,

Nghiệp trần vĩ đại hoá quần sinh.

(Thơ Thượng Tuy Thanh).

2.- Nhật là mặt trời thuộc dương, nguyệt là mặt trăng thuộc âm, nên nhật nguyệt còn dùng để chỉ trời đất gọi là “Nhật nguyệt hai vầng”.

Cổi tấm chơn thành loà nhật nguyệt,

Phơi gan chí sĩ nhuộm giang san.

(Đạo Sử).

 

 

NHẬT NHẬT TÂN

日 日 新

Nhật nhật: Ngày này qua ngày khác, mỗi ngày. Tân: Mới, mới mẽ.

Nhật nhật tân là ngày ngày mới.

Sách có câu: Nhật (Nhựt) nhật tân hề hựu nhật tân 日 日 新 兮, 又 日 新, nghĩa là ngày ngày mới, lại mỗi ngày mỗi mới thêm.

Trong sách Đại Học có câu: Thang chi bàn minh viết: Cẩu nhật tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân 湯 之 盤 明 曰: 苟 日 新, 日 日 新 兮, 又 日 新, nghĩa là nơi chậu tắm vua Thành Thang có khắc hàng chữ để cảnh tỉnh như vầy: Hằng ngày hãy thành thật mà đổi mới, càng ngày càng mới, lại luôn luôn ngày nào cũng mới. Câu này có ý nói mỗi ngày vua Thành Thang đến tắm, thấy hàng chữ ấy thì nhớ rằng mình phải tẩy sạch những cấu nhiễm trong tâm cũng như mình tẩy sạch những thứ dơ bẩn nơi thân. Đó là Ngài muốn đổi mới luôn luôn cả thân và tâm.

Càn Khôn định luật mãn xây vần,

Nhật nhật tân hề, hựu nhật tân.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

NHẦU

1.- Nhầu, như chữ “Nhàu”, là nhăn nheo, có nhiều nếp nhăn, không phẳng.

Như: Nhầu nát tâm can, vò nhầu tờ giấy, quần áo bị nhầu vì không được ủi.

Nhưng Ngài thao thức đêm thâu,

Biếng ăn mất ngủ tâm nhầu nát tâm.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

2.- Nhầu là bừa.

Như: Quần áo chưa khô cứ xếp nhầu vào rương, cái gì cũng đút nhầu vô túi.

Lửa trần đốt cháy biết bao,

Dại thay lửa cháy liệng nhầu bổi vô.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

NHÈ

Nhè là nhằm, cứ vào (chỗ yếu, chỗ bất lợi của người khác). Như: Nhè đầu mà đánh, nhè tết mà đi vay tiền.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Bần Đạo không biết, chỉ có cười một điều cả con cái Đức Chí Tôn không biết lựa người đặng bợ đít, đêm nay đi cúng thưa thớt, nhè Đấng oai quyền sang cả kể từ mực thước nhỏ nhen nhứt.

Đừng nhè lúc vợ chồng đương giận,

Mới vừa vui vầy trận tam bành.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHẸ

1.- Nhẹ là không nặng, không mạnh. Như: Nhẹ như bấc, nhẹ bước, nhẹ thuế, nhẹ tội, nhẹ tiền.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu dạy: Môn đệ nhiều đứa lòng vẫn nhẹ tợ lông, thấy sự chi khó thì đã muốn bần dùn thối bước.

Chuyển nổi Càn khôn xây võ trụ,

Nhẹ nâng nhựt nguyệt chiếu Ðài Vân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Hai gánh chia đồng khi nhẹ bớt,

Coi theo thiên hạ học nên trò.

(Đạo Sử).

2.- Nhẹ là tỏ ra ít chú ý, ít quan tâm, không coi trọng.

Như: Nặng về lý nhẹ về tình, trọng về nội dung xem nhẹ về hình thức.

Lựa đến của đã đành coi nhẹ,

Mình là trai chẳng lẽ chẳng suy thầm.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHẸ LÂNG

Nhẹ: Không nặng, không mạnh. Lâng: Ở trạng thái nhẹ nhỏm, khoan khoái dễ chịu.

Nhẹ lâng là nhẹ nhỏm, nhẹ một cách cảm thấy khoan khoái, dễ chịu.

Như: Tinh thần nhẹ lâng.

Theo đời thể xác cam oằn gánh,

Nương Đạo tâm hồn được nhẹ lâng.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

NHẸ NHÀNG

Nhẹ: Không nặng, dịu, không phải trọng, có thể tha thứ được.

Nhẹ nhàng là tỏ ra nhẹ, có vẻ nhẹ, không gây cảm giác gì nặng nề hoặc khó chịu.

Nhẹ nhàng còn có nghĩa thoải mái, khoan khoái dễ chịu vì không bị vướng bận.

Thánh giáo Lý Giáo Tông có đoạn dạy: Ðấng Chí Tôn đã gieo giống quý hoá rồi, thì cần phải vun trồng cho cội sởn sơ. Cội sởn sơ mới có đâm chồi trổ tược, nhành lá sum sê, hoa đơm sắc sảo, rồi mới đến trái oằn sai mà thành kết quả xứng đáng. Chừng hương nực mùi, hoa đơm trái rồi, ngàn dặm cũng tìm đến hưởng nhờ giống quý, nhọc chi phải hạ mình mà làm cho nhẹ nhàng phẩm giá.

Đặng nhẹ nhàng thẳng đến cung Tiên,

Nơi phước địa ở yên tu luyện.

(Kinh Tận Độ).

Nam Mô Thượng Đế Ngọc Hoàng,

Mở cơ tận độ nhẹ nhàng chơn linh.

(Kinh Tận Độ).

Đau khổ ném xong cái gánh trần,

Nhẹ nhàng mới toại chí thanh vân.

(Cao Tiếp Đạo Giáng).

 

 

NHẸ NHÕM

Nhẹ: Không nặng, dịu, không phải trọng, có thể tha thứ được.

Nhẹ nhõm là nhẹ đến mức gây cảm giác như không có trọng lượng, không đáng kể.

Nhẹ nhõm còn có nghĩa là có cảm giác thanh thản, khoan khoái, không còn bị ràng buộc, bị đè nặng.

Như: Lo xong việc thấy nhẹ nhõm cả người.

Tiền đã có lòng nghe nhẹ nhõm,

Việc chưa thông thấp thỏm mong chờ.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

NHẸ THỂ

Nhẹ: Xem nhẹ. Thể: Nhân cách, danh dự.

Nhẹ thể là không xứng đáng, làm mất thể diện, xem nhẹ danh dự mình.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có đoạn: Từ thử đến giờ Hội Thánh vì công nghiệp nên cho những Chức Sắc niên kỷ quá lục tuần đặng vào hàng phẩm Hàm Phong hầu an dưỡng lúc tuổi già, gọi là hồi hưu dưỡng lão, một điều Hội Thánh thương tâm hơn hết, là thấy toàn Đạo xem Chức Sắc này dường như vô giá trị, còn kéo lẽ ngay nhẹ thể hơn Tín đồ, bởi cớ vì nét công bình của Chí Tôn, thấy con cái Thầy chịu khó nhọc trong buổi ban sơ, nên đến lập giá trị cho Chức Sắc Hàm Phong, cốt yếu là muốn cho Hội Thánh nhìn nhận các công nghiệp ấy đặng để cho đoàn hậu tấn noi gương, kẻo chúng nó quên mấy anh mấy chị thành ra thất lễ nghĩa.

Chàng thì nhẹ thể vì tình,

Thiếp thì lo sợ lụy mình trượng phu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Dầu còn ở dưới quyền cha mẹ,

Đừng ỷ mình làm nhẹ thể con.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHẸM

Nhẹm là rất kín, kín đáo, không để lộ cho ai biết.

Như: Việc ấy anh phải giấu cho nhẹm.

Đại Thừa Chơn Giáo có đoạn: Chỉ có chừng nào nhơn loại biết sợ cơ Trời báo ứng, biết ham Ðạo đức tinh thần thì dẫu một cái tội chi thầm tối, một cái ác chi bí mật là cũng chẳng bao giờ ai dám làm đâu? Vì thầm tối bí mật với ai, chớ với thần lương tâm, với cơ báo ứng mà còn kín nhẹm nỗi gì?

Tấn thối dè chừng mưu kế hiểm,

Thiệt hư gìn nhẹm chước phương hay.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

NHEN

Nhen là nhóm cho cháy, đốt lửa, hay nhúm lửa. Như: Nhen lửa, niềm vui đang nhen lên trong lòng.

Thánh giáo Nhàn Âm Đạo Trưởng trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển đã dạy: Có đèn dầu đầy mà thiếu hơi lửa nhen lên, thì cũng phải mờ mịt thâm u, trông chi soi sáng.

Lui chân kiếm con đường nhà nội,

Lửa đốm nhen dẫn lối thảm trang.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Nào khi sắc so tài đẹp dạ,

Nào khi nhen hương hoả ba sinh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Tinh trung Bình Định còn nhen lửa,

Khí hiển Đồng Nai phưởng phất hồn.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

NHEN NHÚM

Nhen: Nhóm cho cháy, đốt lửa. Nhúm: Nhóm, làm cho lửa bắt vào chất đốt để cháy lên.

Nhen nhúm, như chữ “Nhen nhóm”, là nhóm cho lửa lần lần cháy lên. Nghĩa bóng: Làm cho dần dần nảy sinh ra và phát triển để gây dựng nên.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Đức Hộ Pháp có câu: Qua khuyên các em dẹp nỗi tỵ hiềm để chút tình thương nhen nhúm lại làm khối chơn thành thương yêu mà bảo trợ đàn em đang bị côi cút, hình như các em không quan tâm đến tương lai của Trấn Đạo Tần quốc, nó thật là ải địa đầu trước khi phổ thông ra các nước khác.

Lửa hương đất Việt dầu nhen nhúm,

Nhờ đám Trung quân ở nước Tàu.

(Tiêu Diêu Đạo Sĩ).

Dầu trẻ dại hay già lụm cụm,

Gắng bồi công nhen nhúm ngày ngày.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

NHÉT

Nhét là nhồi vào, tức cho vào một nơi nào đó, bất kể thế nào. Như: nhét giẻ vào mồm, nhét áo quần vào giỏ.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ấy vậy, ngày nào quốc dân Nam tỉnh giấc, tùng y theo chơn pháp của Đạo Cao Đài, thời ngày ấy không còn ai đem mê tín dị đoan nhét vào cái óc ta đặng, không tiếc gì cái óc mê tín phần đông vẫn còn nên bị cám dỗ, phân chia Đảng phái, mà phá tan cả gia nghiệp Đạo của ta phải phản quốc mà thôi, lại còn bất hiếu với Tổ Phụ nữa mà chớ.

Mổ bụng độn vàng, quăng phổi ruột,

Xẻ đầu nhét sách, ốm hình thù.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

NHỆN

Nhện là một loại côn trùng có tám chân, thở bằng phổi, thường nhả tơ giăng lưới để bắt mồi.

Như: Làm thân con nhện mấy lần vương tơ.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có đoạn: Chúng ta muốn thí nghiệm, bắt một con ong trong một ổ ong liệng vô trong cái mành mành của con nhện cho dính, thì thấy một bầy kia nhẩy vô dính cả bầy cả lũ, cốt yếu đến giải vây cho bạn, đến nước nhào vô không còn năng lực nào cản nỗi, đã quá đông thì sẽ tiêu dứt mãnh nhện ấy, đặng cứu bạn.

Năng chùi lau, tủ, kiếng, ghế, bàn,

Đừng để đóng làng khan bụi nhện.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHI

1.- Nhi là con của mình sinh ra. Như: Thê nhi, nhi tôn, dưỡng nhi.

Trong Thuyết Đạo Hộ Pháp có thuật lại câu nói của Đạo Chích trả lời Đức Khổng Tử như sau: Sao Ngài biết rằng tôi không có Tam Cang Ngũ thường? Tôi có đủ chớ, tôi gom cả toàn thể lâu la lại, làm chủ trại của nó, làm Sơn Vương của nó không phải có Quân hay sao? Chúng nó phụng sự tôi, hễ lớn thì đồ vương định bá, còn nhỏ thì làm tướng cướp, nó phụng sự tôi là vị Thần, như vậy mà không có Quân, Thần sao? Đứa nào nội bọn cướp đây lại không có đủ con vợ tức nhiên thê nhi của nó.

Miệng ăn quá sức tay làm,

Thê nhi thiếu kém thân phàm chẳng no.

(Ngụ Đời).

Cha mẹ rủi sanh con hung bạo,

Tội dưỡng nhi bất giáo đã đành.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Nhi còn có nghĩa là trẻ con. Như: Hài nhi, tiểu nhi, đồng nhi, nữ nhi, cô nhi quả phụ.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Chúng ta phải thành tâm cầu nguyện cho những bạn trẻ ấy, ngoài ra nếu có dư dả, nên giúp đỡ những quả phụ cô nhi của tử sĩ đang sống trong cảnh cơ hàn vất vả còn có ý nghĩa hơn là phung phí ăn chơi trong ngày Tết.

Giá trong sạch nữ nhi trượng tiết,

Giữ cho tròn trinh liệt mới mầu.

(Kinh Sám Hối).

3.- Nhi là mà, lời nói chuyển đi. Như: Tự giác nhi giác tha, bán đồ nhi phế, tiên nghĩa nhi hậu lợi.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Nếu vì một lẽ nào mà quý vị “bán đồ nhi phế” hoặc chịu làm dụng cụ cho kẻ khác phá Ðạo, tức là quý vị sẽ thất thệ và sự thất thệ là một trọng tội vô phương cứu chửa “Hoạch tội ư thiên vô khả đảo giã”.

Linh hồn Thiên tứ nhi thường hữu,

Nhục thể thổ sanh sự viết vô.

(Thơ Thông Quang).

 

 

NHI NỮ

兒 女

Nhi: Con trẻ. Nữ: Phụ nữ, thuộc đàn bà.

Nhi nữ chỉ chung về đàn bà con gái.

Thánh giáo Đức Quan Âm Bồ Tát có dạy: Thế trần tạo đầy cảnh khổ mà chúng sanh phải vướng cuộc trầm luân, thì bao giờ rời khỏi được cái thân nhi nữ thường tình, nếu không sớm lo giải cứu thì sau nầy hối hận, đừng nói sao trễ bước.

Ôm ấp mãi lấy phần nhi nữ,

Cửa công khanh đoán thử bao người.

(Bát Nương Giáng Bút).

Tình nhi nữ tiết trinh là trọng,

Chớ học theo cái bóng của đời.

(Cửu Nương Giáng Bút).

Nước Ma Ha rửa hờn nhi nữ,

Chuỗi Bồ Đề gìn giữ hồng nhan.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NHI TÔN

兒 孫

Nhi: Con. Tôn: Cháu.

Nhi tôn là con và cháu.

Sách Nho có câu: Nhi tôn tự hữu nhi tôn phước, mạc bả nhi tôn tác mã ngưu 兒 孫 自 有 兒 孫 福, 莫 把 兒 孫 作 馬 牛, nghĩa là con cháu tự nó có phước của nó, đừng đem con cháu làm ngựa trâu.

Nỗi em chị bởi đâu chẳng thuận,

Nỗi nhi tôn lẩn bẩn bên lưng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NHỊ HỘI LONG HOA

二 會 龍 花

Nhị hội: Hội lần thứ nhì. Long Hoa: Đại hội tuyển chọn người hiền lương đạo đức.

Nhị Hội Long Hoa là một Đại Hội ở vào Nhị Kỳ Phổ Độ, gọi là Hồng Vương Đại Hội, do Đức A Di Đà Phật làm Giáo Chủ.

Trong bài Kệ Chuông U Minh, lời nguyện thứ 32 có câu: Nam Mô Nhị Hội Long Hoa Hồng Vương Đại Hội, Di Đà Cổ Phật Chưởng Giáo Thiên Tôn 南 無 二 會 龍 花 紅 王 大 會 彌 陀 古 佛 掌 教 天 尊.

Nam Mô Nhị Hội Long Hoa Hồng Vương Đại Hội, Di Đà Cổ Phật Chưởng Giáo Thiên Tôn.

(Kệ U Minh).

 

 

NHỊ HỮU HÌNH ĐÀI

二 有 形 臺

Nhị: Hai. Hữu hình: Có hình thể. Đài: Toà nhà cao.

Nhị hữu hình đài là hai đài trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ có hình thể nơi thế gian nầy, đó là Hiệp Thiên Đài và Cửu Trùng Đài.

Đạo Cao Đài gồm có ba đài: Bát Quái Đài, do Đức Chí Tôn làm chủ, Hiệp Thiên Đài do Đức Hộ Pháp Chưởng quản, còn Cửu Trùng Đài thì do Đức Lý Giáo Tông nắm quyền vô vi, và Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung cầm quyền hữu hình.

Khi Đức Quyền Giáo Tông đăng Tiên, Đức Lý Đại Tiên mới giao quyền Giáo Tông tại thế cho Đức Hộ Pháp nắm giữ.

Vì vậy: Đức Hộ Pháp lúc bây giờ nắm quyền “Chưởng quản Nhị Hữu Hình Đài”.

Nhị kiếp Tây Âu cầm máy tạo,

Hữu duyên Đông Á nắm Thiên thơ.

Hình hài Thánh thể chừ nên tướng,

Đài trọng hồng ân gắng cậy nhờ.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NHỊ KIỀU

二 嬌

Nhị: Hai, hai người. Kiều: Người con gái đẹp, cũng là tên hai nàng con gái đất Giang Đông.

Nhị Kiều là hai nàng Kiều đẹp nhứt của đất Giang Đông, nước Ngô. Người chị là Đại Kiều lấy Tôn Sách, vua nước Đông Ngô; người em là Tiểu Kiều lấy Châu Du, Đại Đô Đốc Thuỷ Quân của nước Ngô.

Trong truyện Tam Quốc, Khổng Minh vì muốn chọc tức Châu Du, nên nói rằng: Tào tháo xây đài Đồng Tước để bắt Nhị Kiều để vui thú tuổi già.

Đỗ Mục nhà thơ đời Đường có nói về “Nhị Kiều” như sau: Đông phong bất dữ Châu Lang tiện, Đồng tước xuân thâm toả nhị Kiều 東 風 不 與 周 郎 便, 銅 雀 春 深 鎖 二 嬌. Nghĩa là: Gió đông chẳng giúp thuận chiều, Trong đền Đồng Tước hai Kiều khoá xuân.

Noi gương đức tánh Nhị Kiều,

Dở dang Du Sách, giữ điều tiết trinh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Ngàn vàng chẳng đúc nên Đồng Tước,

Thì Nhị Kiều xưa há phải cần!

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

NHỊ NƯƠNG DIÊU TRÌ CUNG

二 娘 瑤 池 宮

Hay “Nhị Nương”.

Nhị Nương hay Nhị Nương Diêu Trì Cung là vị Tiên Nương đứng hàng thứ nhì trong Cửu Vị Tiên Nương. Nơi Chánh Điện thờ tại Báo Ân Từ, Nhị Nương mặc áo màu xanh, ngồi bên trái Đức Phật Mẫu, tay ôm Lư hương.

Nhị Nương có nhiệm vụ cai quản vườn đào Tiên của Phật Mẫu ở tầng Trời thứ hai Cửu Trùng Thiên, tiếp rước các chơn hồn quy Thiên, mở yến tiệc để đãi thuốc trường sanh, rồi dìu dắt đến Ngân Kiều để cỡi Kim quang bay lên Ngọc Hư Cung chầu Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế như lời Kinh Đệ Nhị Cửu có câu:

Tây Vương Mẫu vườn Đào ướm chín,

Chén trường sanh có lịnh ngự ban.

Tiệc hồng đã dọn sẵn sàng,

Chơn Thần khá đến hội hàng chư linh.

Đã thấy đủ Thiên đình huyền pháp,

Cổi giác thân lên đạp Ngân Kiều.

Đẩu tinh chiếu thấu Nguyên Tiêu,

Kim quang kiệu đỡ đến triều Ngọc Hư.

Trong một kiếp giáng trần ở Việt Nam, Nhị Nương có tên Cẩm, nhưng Bà không cho biết giáng sinh vào thời kỳ nào và ở đâu. Do đó bài thài hiến lễ Nhị Nương trong lễ Hội Yến Diêu Trì Cung khởi đầu bằng chữ “Cẩm”.

Cẩm tú văn chương hà khách đạo?

Thi thần tửu Thánh vấn thùy nhân.

Tuy mang lấy tiếng hồng quần,

Cảnh Tiên còn mến cõi trần anh thư.

Nhị Nương Diêu Trì Cung là vị Tiên Nương ít khi giáng cơ dạy đạo riêng, Bà chỉ cho thi chung với Đức Phật Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương. Đây là bài thi của Nhị Nương giáng tại Thảo Xá Hiền Cung, ngày 15 tháng 8 năm Nhâm Thân (Dl. 15/9/1932), cùng với Đức Diêu Trì Kim Mẫu và tám vị Tiên Nương khác.

Bài thi đó như sau:

Cẩm phong nhụy đào thơ nở bóng,

Vẻ trân cam lồng lộng mùi thơm.

Kìa nghe tiếng hạc bay hôm,

Giải sầu gởi bóng khuyên hồn chơi Tiên.

Trong Đàn cơ ngày Rằm tháng 8 năm Nhâm Ngọ ((Dl. 2/9/1942). Phò Loan: Khai Ðạo và Hiến Ðạo, Đức Phật Mẫu giáng cơ dạy Đạo, và Cửu Vị Tiên Nương mỗi vị kính tặng một bài thi, bài thi kính tặng của Nhị Nương như sau:

Nhị Châu Chơn Võ nhớ cùng không,

Nương cõi Thiên Cung gởi bóng hồng.

Kính tặng vài câu mừng bạn cũ,

Tặng người hiếu hạnh chịu phòng không.

Đàn cơ tại Toà Thánh, ngày 15 tháng 8 năm Bính Tuất (Dl. 10/9/1946), Tý thời. Phò loan: Hộ Pháp - Bảo Văn Pháp Quân, Đức Diêu Trì Kim Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương giáng cơ cho thi, sau đây là bài thi của Nhị Nương:

Trông động cũ màu trời biến sắc,

Trông cung nga thiếu bậc từ quân.

Trông xa đảnh Thánh non Thần,

Trông đền Ngọc Khuyết vắng phần Thiên lương.

Tại Báo Ân Từ, đêm 15 tháng 8 năm Ất Tỵ (Dl. 10-9-1965), Phò loan: Thượng Sanh - Hiến Pháp. Đức Diêu Trì Kim Mẫu và Cửu Vị Nương giáng đàn cho thi, trong đó bài thi của Nhị Nương như sau:

Cẩm tịch Diêu Cung Tiên vị đắc,

Hạnh phùng vũ lộ sắc Thiên ban.

Đầy vơi vui hưởng kiếp nhàn,

Ngảnh trần có khác chi tràng mộng xuân.

Vào thời Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn khai mở đạo Cao Đài với mục đích tận độ các nguyên nhân và chúng sanh còn đang mê muội trong kỳ Hạ nguơn mạt pháp nầy, nên dưới quyền Đức Phật Mẫu có hằng hà sa số Phật trông nom về cơ phổ độ mà Quan Âm Bồ Tát là Đấng cầm đầu, ngoài ra Nhị Nương cũng như tám vị Tiên Nương khác có nhiệm vụ trông nom về cơ giáo hoá cho vạn linh.

Bà Nhị Nương cùng với các vị Tiên Nương khác đã lập được nhiều công quả trong thời kỳ khai đạo, lại dày công giáo hoá nữ phái nên các Bà và tam vị Tiên Nương khác đắc hàng Phật vị, gọi là Cửu Vị Nữ Phật.

Nhị Nương từ bi độ rỗi,

Cầm Lư hương mở hội Trường sinh.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

NHỊ NGOẠT THẬP NGŨ

Hay “Nhị nguyệt thập ngũ”.

Nhị ngoạt (nguyệt): Tháng hai. Thập ngũ: Ngày mười lăm.

Nhị ngoạt thập ngũ, như chữ “Nhị nguyệt thập ngũ 二 月 十 五”, nói một cách đầy đủ là Nhị nguyệt thập ngũ nhật, tức ngày mười lăm tháng hai Âm lịch. Đó là ngày vía Đức Thái Thượng Lão Quân, Tổ Sư của Đạo Tiên.

Đức Thái Thượng Lão Quân do khí Tiên Thiên hoá sanh, nên thường hiện xuống cõi trần giáo hoá nhơn sanh. Ngài có một kiếp giáng sinh là Đức Lão Tử đời nhà Thương.

Trong bài Kinh Tiên Giáo có câu: Nhị ngoạt thập ngũ, Phân tánh giáng sanh 二 月 十 五, 分 性 降 生, nghĩa là Đức Thái Thượng Lão Quân chiết chơn linh giáng sinh vào ngày rằm tháng hai.

Nhị ngoạt thập ngũ hằng niên,

Đại Đàn Thái Thượng Thần Tiên hội triều.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

NHỊ TRẤN OAI NGHIÊM

Nhị Trấn Oai Nghiêm, như chữ “Nhị Trấn Uy Nghiêm 二 鎮 威 嚴”, là một trong Tam Trấn, có nhiệm vụ bảo vệ và phát triển nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ của Đức Chí Tôn, thay mặt cho ba Đấng Giáo chủ cầm quyền Tam giáo.

Nhị Trấn Oai Nghiêm do Đức Quan Thế Âm Bồ Tát, thay mặt Đức Phật Thích Ca, cầm quyền Phật Giáo.

Xem: Quan Âm.

Tam Kỳ Phổ Độ tùng Thiên lịnh,

Nhị Trấn Oai Nghiêm ngự Bửu toà.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

NHỊ XÁC THÂN

二 殼 身

Nhị: Hai. Xác thân: Thân thể con người.

Nhị xác thân là thân thể thứ hai của con người.

Theo Luật Tam Thể, một chơn linh đầu kiếp xuống trần phải có ba thể: Thể thứ nhứt là xác thân phàm, thể thứ nhì là xác thân thiêng liêng tức Chơn thần, còn gọi là nhị xác thân, thể thứ ba là chơn linh, còn gọi là tam thể xác thân.

Như vậy, nhị xác thân tức là Chơn thần.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Thầy nói cái chơn thần là nhị xác thân các con, là khí chất (le sperme évaporé). Nó bao bọc thân thể các con như khuôn bọc vậy. Nơi trung tim của nó là óc; nơi cửa xuất nhập của nó là mỏ ác, gọi tiếng chữ là vi hộ, nơi ấy Hộ Pháp hằng đứng mà gìn giữ chơn linh các con, khi luyện thành đạo, đặng hiệp một với Khí, rồi mới đưa thấu đến chơn thần hiệp một mà siêu phàm nhập Thánh.

Chơn thần là gì? Là nhị xác thân (périsprit), là xác thân thiêng liêng.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

NHIẾC

Nhiếc là dùng những lời lẽ sâu cay, moi móc cái xấu người ra để mắng, làm cho phải khổ tâm.

Như: Mắng nhiếc, nhiếc móc, làm xấu không sợ người ta nhiếc sao?

Rủi đụng chồng đói khó nghèo nàn,

Đừng lấn lướt làm ngang nhiếc lúng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHIỄM

Nhiễm là nhuốm, lây sang, thấm vào, tức bị yếu tố bên ngoài, như thời tiết, môi trường, hay độc hại xâm nhập. Như: Nhiễm bệnh, nhiễm phải thói hư tật xấu.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Nhơn loại đã thâm nhiễm vào tình luyến ái tà mị trên mười ngàn năm, thì thế nào cổi Thánh đức trong một lúc chẳng tới một năm cho trọn lành đặng.

Đừng cho nhiễm lấm thân thục nữ,

Chốn phòng the cứ xủ rèm là.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Những trí thức tinh thần có lẽ,

Nhiễm vào tâm chửa đẻ trọn tinh thần.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHIỄM LUYẾN

染 戀

Nhiễm: Thấm sâu vào. Luyến: Khắn khích, quấn quít không rời.

Nhiễm luyến là lưu luyến một thứ gì đến nỗi thấm sâu vào lòng, không thể dứt bỏ được.

Như: Người tu hành đừng để nhiễm luyến danh lợi.

Nhưng chúng nó nhiễm luyến đã đầy mùi trần thế, tâm chí chẳng vững bền, thấy khó đã ngã lòng, mới đạp chông toan trở bước.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

NHIỄM TRẦN

染 塵

Nhiễm: Thấm sâu vào. Trần: Bụi bặm, chỉ cõi trần, tức cõi thế Gian.

Nhiễm trần là những thứ dục vọng nơi cõi trần đã thấm sâu vào con người bước vào đường tu.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy: Có nhiễm trần, có lăn lóc mơi sương chiều gió, có kim mã ngọc đàng, có đai cân rực rỡ, có lấn lướt tranh đua, có ích kỷ hại nhân, có vui vẻ với mùi đỉnh chung lao lực, mới thấy đặng tỏ rõ bước đời gai chông khốn đốn, mới thấy cuộc nhục vinh, buồn vui không mấy chốc, chẳng qua là trả vay vay trả đồng cân, chung cuộc lại thì mối trái oan còn nắm, mà cũng vì đó mới thấy đặng đường hạnh đức trau mình, trò đời chẳng qua một giấc huỳnh lương.

Bởi sợ nhiễm trần xa ngọc điện,

Vì lo độ chúng lánh kim giai.

(Thơ Thanh Tùng).

 

 

NHIỆM

1.- Nhiệm là kín, sâu, tức có khả năng ứng nghiệm một cách thần kỳ, bằng lẽ thường không thể hiểu được.

Như: Mưu nhiệm, phép nhiệm, nhiệm mầu.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Giữa trường đời gió bụi, mạnh được yếu thua, khôn sống mống chết, người Tín hữu Cao Ðài lại may mắn được che chở dưới bóng từ bi của Ðức Thượng Ðế, lại được Ơn Trên ban cho một món báu mầu nhiệm riêng biệt mà từ ngàn xưa chưa hề có trên thế gian.

Mầu nhiệm dễ chi tìm thấu đáo,

Ðáo đầu mới rõ Ðạo là cao.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Đời hằng nghe cái mạnh mấy cô,

Biết phép nhiệm năm thành xô cũng ngã.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Nhiệm là dùng. Như: Tín nhiệm (tin dùng).

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Ngày nay toàn thể chức sắc lưỡng phái đã tín nhiệm chức sắc Hiệp Thiên Ðài và triệt để tuân theo mạng lệnh Hiệp Thiên Ðài điều khiển việc Ðạo, hai bên Hiệp Thiên và Cửu Trùng phải đồng tâm chung trí để lo xây dựng lại nền chánh giáo, sửa đương cho có trật tự điều hoà làm cho lộ rõ nét bác ái từ bi, nhơn sanh mới phấn khởi bước tới lo về tu niệm.

Thành thật thì được người tín nhiệm, tin dùng; hiền lành thì ngăn được phóng tâm...

(Giáo Lý).

3.- Nhiệm cũng đọc là “Nhậm”, là nhận, gánh vác. Như: Nhiệm chức, nhiệm vụ, trọng nhiệm, trách nhiệm.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy đã giao trách nhiệm lớn lao cho mỗi đứa đáng tin cậy, chúng nó chẳng biết điều đình thì phú mặc Tà quái xâm phạm mà thôi.

Trách nhiệm thiệt hành cho vẹn phận,

Hồng ân chung hưởng buổi âu ca.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NHIỆM KỲ

任 期

Nhiệm: Nhiệm vụ, gánh vác. Kỳ: Thời kỳ.

Nhiệm kỳ là thời kỳ mà mình phải lãnh nhiệm vụ làm một việc gì.

Nhiệm kỳ còn có nghĩa thời hạn làm nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, hay điều lệ.

Như: Nhiệm kỳ của Hội Đồng Nhân Dân là ba năm.

Nhơn sanh thất thập cổ lai hy,

Văn Pháp về Tiên quá nhiệm kỳ.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

NHIỆM MẦU

Nhiệm: Sâu kín. Mầu: Cao siêu, huyền diệu.

Nhiệm mầu là huyền diệu, tức là ngoài sự hiểu biết của con người, không thể dùng lý trí để hiểu biết và giải thích được.

Thánh giáo Chí Tôn dạy: Cơ lập Ðạo là nhiệm mầu vô giá. Biết Ðạo, biết ta biết người, biết thế biết thời, biết dinh hư, biết tồn vong ưu liệt, rồi mới có biết hổ mặt thẹn lòng, biết sự thế là trò chơi, biết tuồng đời là bể khổ, biết thân nô lệ dẫn kiếp sống thừa, biết nhục vinh mà day trở trên con đường tấn thối.

Thất Nương khêu đuốc Đạo đầu,

Nhờ Người gợi ánh nhiệm mầu huyền vi.

(Kinh Tận Độ).

Nhiệm mầu Tạo hoá cuộc vần xây,

Thưởng phạt cũng do một buổi nầy.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nhiệm mầu cảnh trí tay tô điểm,

Thâm thuý thi văn cách phổ trình.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

NHIỆM VỤ

任 務

Nhiệm: Gánh vác. Vụ: Việc.

Nhiệm vụ ý chỉ công việc của mình phải gánh vác. Như: Làm tròn nhiệm vụ.

Thánh giáo Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn trong Thánh Ngôn Sưu Tập có dạy: Phải, hãy làm việc đó, quyền năng thứ ba của chư vị Thánh Thần sẽ giúp đắc lực các bạn trong việc hoàn thành nhiệm vụ.

Còn sống đâu quên nhiệm vụ còn,

Bến mê độ khách tạc lòng son.

(Thơ Huệ Giác).

Còn chút hơi tàn còn nhiệm vụ,

Còn lo phổ cập mối chơn truyền.

(Thơ Thuần Đức).

Thương kẻ tuổi xanh còn nặng nợ,

Xót vì nhiệm vụ phải ly gia.

(Thơ Hiến Đạo).

 

 

NHIÊN ĐĂNG CỔ PHẬT

燃 燈 古 佛

Nhiên Đăng Cổ Phật có Thánh danh đầy đủ là “Nhiên Đăng Cổ Phật Đại Bồ Tát Ma Ha Tát”.

Nhiên: Đốt cháy. Đăng: Cây đèn.

Nhiên đăng có nghĩa là đốt cháy.

Nhiên Đăng Cổ Phật

Nhiên Đăng hay Nhiên Đăng Cổ Phật, gọi theo tiếng Phạn là Dipankara hay Dipanikara là vị Phật thứ tư trong 28 vị Phật.

Trong Đại Trí Độ Luận, Đức Nhiên Đăng Cổ Phật khi đản sinh, chung quanh thân sáng như đèn, cho nên gọi là Nhiên Đăng Thái tử. Khi thành Phật cũng gọi Ngài là Nhiên Đăng Phật.

Đức Nhiên Đăng là một vị Phật của đời quá khứ, còn được gọi là Định Quang Phật 錠 光 佛, vị Phật đã sống vô lượng kiếp trước thời đại chúng ta. Đó là vị Phật đầu tiên và quan trọng nhất trong các vị Phật có trước đời Đức Thích Ca Mâu Ni Phật.

Nhiên Đăng là vị Phật tượng trưng cho các vị Phật trong đời quá khứ. Bên Phật Giáo ở Trung Hoa, người ta thường thờ Đức Nhiên Đăng Cổ Phật chung với Thích Ca Mâu Ni Phật và Di Lạc Vương Phật để gọi là thờ Tam Thế Chư Phật (trong đó Phật Nhiên Đăng đại diện cho chư Phật trong quá khứ, Phật Thích Ca là vị Phật thời hiện tại và Phật Di Lạc tượng trưng cho chư Phật thời vị lai).

Theo Phật Học Từ Điển của Đoàn Trung Còn, trong Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, phẩm Tự có nói sự tích này: Phật Nhựt Nguyệt Đăng Minh khi còn ở Hoàng Cung, có sanh ra tám vị Vương tử: Hữu Ý, Thiện Ý, Vô Lượng Ý, Bảo Ý, Tăng Ý, Trừ Nghi Ý, Hưởng Ý, Pháp Ý. Khi Ngài xuất gia tu hành thành Phật thì 8 vị Vương tử ấy đều theo cha mà tu trì Phạm hạnh. Tám vị ấy đều lần lượt thành Phật, và vị sau rốt thành Phật hiệu là Nhiên Đăng.

Ngoài ra trong Tự Điển Phật Học Việt Nam có cho biết: Đức Phật Thích Ca có một tiền kiếp là tu sĩ Thiện Tuệ. Thiện Tuệ từng gặp Đức Phật Nhiên Đăng và mua hoa từ một cô gái bán hoa với giá rất đắt để đem cúng cho Đức Phật. Cô gái ngạc nhiên mới hỏi vì sao Thiện Tuệ lại chịu mua với giá đắt như vậy? Thiện Tuệ trả lời là mua hoa để cúng Phật Nhiên Đăng. Cô gái liền tặng không bó hoa với lời nguyện là cô với Thiện Tuệ sẽ kết duyên vợ chồng trong các kiếp sau, còn Thiện Tuệ nguyện rằng sẽ tu thành Phật trong tương lai. Phật Nhiên Đăng thọ ký cho cả hai người.

Sa môn Thiện Tuệ tức là tiền thân của Phật Thích Ca, còn cô gái bán hoa là tiền thân của Công chúa Gia Du Đà La.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có dạy: Như kẻ bên Phật giáo hay tặng Nhiên Ðăng là Chưởng giáo, Nhiên Ðăng vốn sanh ra đời Hiên Viên Huỳnh Ðế. Như vậy, Đức Nhiên Đăng đã giáng trần mở Phật Đạo ở Ấn Độ ứng với thời vua Hiên Viên Huỳnh Đế bên Trung Hoa, Ngài làm Chưởng Giáo Sơ Hội Long Hoa Thanh Vương Đại Hội.

Trong bài Kinh Tiểu Tường có đoạn:

Tịnh niệm phép Nhiên Đăng tưởng tín,

Hư Vô Thiên đến thính Phật điều.

Ngọc Hư đại hội ngự triều,

Thiều quang nhị bá Thiên Kiều để chơn.

Cho ta biết Đức Nhiên Đăng hiện nay chưởng quản từng Hư Vô Thiên, là từng Trời thứ 10, trên đó có Ngọc Hư Cung, là nơi họp Thiên triều của Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế để các Đấng Thần, Thánh, Tiên, Phật. tạo định Thiên Thư, tận độ chúng sanh trở về với ngôi vị Phật.

Theo Di Lạc Chơn Kinh, từng Hư Vô Thiên có các vị Phật như Tiếp Dẫn Phật, Phổ Tế Phật, Tây Quy Phật, Tuyển Kinh Phật, Tế Pháp Phật, Chiếu Duyên Phật, Phong Vị Phật, Hội Chơn Phật, và hằng hà sa số Phật đều tùng lịnh Nhiên Đăng Cổ Phật.

Đại Bồ Tát

Đại Bồ Tát là một vị Bồ Tát lớn.

Bồ Tát do từ tiếng Phạn Bodhisattva tức là Bồ Đề Tát Đóa. Bồ Đề (Bodhi) có nghĩa là chánh giác,còn Tát Đóa (Sattva) có nghĩa là chúng sinh.

Bồ Đề Tát Đóa gọi tắt là Bồ Tát để chỉ bậc đã giác ngộ, đã đắc quả Bồ Đề, nhưng không an hưởng Niết Bàn, mà cứ lặn lội trong ba cõi sáu đường để cứu độ chúng sinh.

Chính Đức Phật Thích Ca cũng đã từng làm Bồ Tát ở kiếp trước, đến kiếp cuối cùng mới ngồi nơi cội Bồ Đề sáu năm rồi thành Phật.

Ma Ha Tát

Ma Ha Tát là tiếng Phạn Mahasattva dịch là Ma Ha Tát Đóa. Ma Ha Tát có nghĩa là bậc chúng sinh (sattva) lớn, có lòng dạ quảng đại luôn thương xót và tế độ (Maha) tất cả nhân loại.

Vậy Đại Bồ Tát Ma Ha Tát là bậc Bồ Tát trên hết các bậc Bồ Tát, đáng lẽ đã thành Phật nhưng vì lòng thương chúng sinh nên nguyện ở lại tế độ mọi người và khi nào không còn ai khổ sở nữa mới thành Phật.

Tóm lại, Thánh danh đầy đủ của Đức Nhiên Đăng Cổ Phật khi cầu nguyện về Đức Ngài là “Nam Mô Nhiên Đăng Cổ Phật Đại Bồ Tát Ma Ha Tát”, nghĩa là nguyện noi theo Thánh đức đại từ đại bi, chí thiện chí thiện chí mỹ, toàn tri toàn năng của Đức Nhiên Đăng Cổ Phật, là vị Đại Bồ Tát có lòng thương yêu và mong tế độ cho toàn thể chúng sanh.

1.- Nhiên Đăng:

Tịnh niệm phép Nhiên Đăng tưởng tín,

Hư Vô Thiên đến thính Phật điều.

(Kinh Tận Độ).

2.- Nhiên Đăng Cổ Phật:

Nhiên Đăng Cổ Phật giáo từ đa,

Dục đáo Niết Bàn nguyện Thích Ca.

(Nhiên Đăng Cổ Phật).

 

 

NHIẾP CHÁNH

Hay “Nhiếp chính”.

Nhiếp: Thay thế. Chánh (chính): Việc sắp đặt trị an trong nước.

Nhiếp chánh, như chữ “Nhiếp chính 攝 政”, là thay thế để cầm quyền chính trị trong nước.

Bên Trung Quốc hay bên Việt Nam ta vào thời kỳ quân chủ, các ông vua còn nhỏ tuổi lên ngôi, chưa đủ sức cầm quyền chính trị thì một vị Hoàng thân hay một vị đại thần được cử làm nhiếp chính, tức là thay vua để trị vì thiên hạ. Đến khi vua lớn, đủ sức phán quyết mọi việc thì quyền nhiếp chính sẽ chấm dứt, trao quyền hành lại cho nhà vua.

Giúp chồng trọn ân cần nhiếp chánh,

Mới nên trang chúa thánh tôi hiền.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NHIẾP TÂM

攝 心

Nhiếp: Nắm giữ. Tâm: Cái tâm của con người.

Nhiếp tâm là nắm giữ cái tâm thiện lương của Trời ban cho, không để cho phóng túng, thất niệm.

Như: Ngồi nhiếp tâm thiền định.

Nhiếp tâm chẳng để mất thiên lương,

Hằng niệm Phật Trời cứu thoát ương.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

NHIỆT HUYẾT

熱 血

Nhiệt: Nóng, chỉ người có nhiệt tâm, lòng hăng hái. Huyết: Máu, chỉ người có huyết tính, tức người hăng hái, thích làm việc nghĩa.

Nhiệt huyết chỉ người có lòng hăng hái, thích làm việc nghĩa.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Nếu lời hứa của Đức Chí Tôn không thành tựu thì Đạo Cao Đài thành sao đặng, vì cớ, những kẻ ấy đem tất cả nhiệt huyết của mình đặng cứu dân...

Nghĩa tình nhiệt huyết sắc son,

Ðồng sanh đồng tử mất còn có nhau.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Dạ nhiệt huyết dầu sôi sục sục,

Niềm Từ bi lửa đốt rần rần.

(Thơ NĐS Hương Thanh).

 

 

NHIỆT TÂM

熱 心

Nhiệt: Nóng nảy, hăng hái. Tâm: Lòng.

Nhiệt tâm là lòng hăng hái, ý muốn nói người có tính sốt sắng mong đem cái tài sức ra gánh vác việc xã hội, hay việc quốc gia.

Lời trần thuyết của Ban Tốc Ký Hội Thánh trong Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có viết: Nếu một mai thời cuộc lại biến thiên, có thể các cuộc “Phần Thư” lại diễn thì thiết tưởng trong số tài liệu nầy vẫn còn có nhiều người nhiệt tâm gìn giữ được vẹn toàn.

Ngài đã đem hết nhiệt tâm mà chuyên lo cần mẫn vì nước vì dân cho đến ngày quy vị.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

NHIỆT THÀNH

熱 誠

Nhiệt: Nóng nảy, hăng hái. Thành: Ngay thật.

Nhiệt thành là lòng thành thật và sốt sắng. Đồng nghĩa với chữ nhiệt tâm.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Thầy đến chứng kiến lòng thành thật của các con Chức sắc Hiệp Thiên Đài hôm nay và lấy làm hân hoan trông thấy mỗi con đều để dạ nhiệt thành vì nền Đạo.

Nhờ Chí Tôn dạy khôn lẽ Đạo,

Phật, Thánh, Tiên nhỏ máu nhiệt thành.

(Kinh Thế Đạo).

Biết bao khó nhọc công biên soạn,

Lưu dấu ngàn năm chí nhiệt thành.

(Thơ Thượng Sanh).

Nghĩ câu đồng nghiệp lại đồng thanh,

Năm vận xin dâng tấm nhiệt thành.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

NHIÊU DUNG

饒 容

Nhiêu: Trừ, khoan dung. Dung: Tha, tha thứ.

Nhiêu dung tức là khoan dung, tha thứ. Như: Nhiêu dung những cái lỗi lầm nhỏ cho người ta.

Lượng trên đã mở đức nhiêu dung,

Tu tánh từ đây Ðạo khá tùng.

(Đạo Sử).

 

 

NHIÊU SINH

饒 生

Nhiêu: Khoan dung, tha thứ. Sinh: Sinh mệnh.

Nhiêu sinh, đồng nghĩa với chữ “Nhiêu mệnh 饒 命”, có nghĩa là tha thứ cho được sống còn, khỏi bị giết.

Trong Tuồng Hát Chèo Thuyền của đạo Cao Đài có câu: Trên Chí Tôn rưới đức nhiêu sinh, Dưới tôi nguyện tận tâm kiệt lực.

Bủa đức nhiêu sinh an thế giới,

Xá cơ tiêu diệt định càn khôn.

(Thơ Huệ Phong).

Nhơn loại cộng hoà cơ thoát khổ,

Thế trần chung hưởng đức nhiêu sinh.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

NHIỀU

Nhiều là lắm, đông, có một số lớn, trái với ít. Như: Nhiều người, nhiều tiền, nhiều tuổi.

Thánh giáo Thầy dạy Ngài Giáo Sư Ngọc Kinh Thanh (Nguyễn Văn Kinh) có đoạn: Cửa Bạch Ngọc Kinh ít kẻ, chớ chốn A Tỳ vốn nhiều người. Con liệu mà hành đạo. Thầy thương con chừng nào, ngày sau con càng ăn năn tiếc chừng nấy.

Một câu thất đức thiên niên đọa,

Nhiều nỗi trầm luân bởi ngọn ngành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nhiều nhơn quả trước phải đền nay,

Chẳng gỡ cho kham cứ nhắc hoài

(Đạo Sử).

 

 

NHIỀU KIẾP ĐẦU THAI

Nhiều kiếp: Tái kiếp nhiều lần. Đầu thai: Giáng sinh xuống cõi trần.

Nhiều kiếp đầu thai là nói các Đấng thiêng liêng vì muốn cứu độ nhơn sanh nên giáng kiếp nhiều lần.

Trong lòng tín ngưỡng của chúng sanh, Đức Quán Thế Âm là một Đại Bồ Tát đã có lời phát nguyện “Tầm thinh cứu khổ 尋 聲 救 苦”, tức là tìm những nơi nào có tiếng kêu cứu của chúng sanh khổ nạn thì Ngài sẵn sàng đến cứu độ.

Theo kinh điển Phật giáo, Đức Quán Thế Âm ở cõi Tây Phương Cực Lạc, Ngài là vị Bồ Tát có đại thần thông, biến hoá thành nhiều hoá thân khác nhau như Thập nhất diện Quán Âm, Thiên thủ thiên nhãn Quán Âm... Ngài cũng là vị Bồ Tát chiết Chơn linh giáng trần rất nhiều kiếp để tuỳ duyên cứu độ và khuyến dạy chúng sanh nơi cõi hồng trần này.

Đối với người Việt Nam, Ngài là vị Bồ Tát thể hiện nữ thân, biểu hiện cho tình thương của một người mẹ hiền, luôn hy sinh vì những nỗi khổ đau của chúng sanh: Đó là Quan Âm Thị Kính hay Quan Âm Diệu Thiện ở Nam Hải Phổ Đà Sơn.

Nhiều kiếp đã đầu thai biết mấy,

Xuống hồng trần khuyến dạy thương sanh.

(Xưng Tụng Công Đức).

 

 

NHIỄU

1.- Nhiễu là một thứ hàng tơ mặt sầy như cát. Như: Khăn nhiễu, áo nhiễu, gấm nhiễu, nhiễu điều.

Nói về tiểu sử Đức Quan Thánh, Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Kể từ ngày ấy, Tào Tháo thết đãi Ðức Ngài rất trọng hậu, ba ngày thì đãi tiệc nhỏ, năm ngày thì đãi tiệc lớn lại ban cho gấm nhiễu vàng bạc vô số kể.

Phụng lầu gác quyển chờ tiêu,

Gieo cầu cho đáng, nhiễu điều gói gương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Nhiễu là quấy rối, lấn cướp. Như: Nhiễu hại, nhiễu loạn, nhiễu nhương, quấy nhiễu.

Thánh giáo Lý Giáo Tông trong Thánh Ngôn Sưu Tập có dạy: Từ đây chớ khiếp nhược nữa, chư Đạo hữu sanh chỉ để hiến mình cho Đạo. Đạo đã nắm nơi tay, há để cho lũ tà tâm nhiễu loạn sao?

Rước voi phá mả đào lăng miếu,

Thả rắn xua ong nhiễu điện tà.

(Đạo Sử).

 

 

NHIỄU ĐIỀU

Nhiễu: Một loại lụa. Điều: Màu đỏ.

Nhiễu điều là một tấm lụa đỏ.

Do trong ca dao Việt Nam có truyền tụng câu: Nhiễu điều phủ lấy giá gương, Người trong một nước phải thương nhau cùng.

Do vậy, nghĩa bóng chữ nhiễu điều dùng để chỉ mọi người cùng thương yêu nhau.

Nhiễu điều ví đặng phủ gương trong,

Thì mới làm cho cái nghĩa đồng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nhiễu điều xin phủ cho gương với,

Thoát lúc nguy hầu chóng lúc hưng.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

NHIỄU HẠI

擾 害

Nhiễu: Làm rối loạn. Hại: Hao tổn.

Nhiễu hại là làm rối loạn và xâm hại người.

Thánh giáo Đức Quan Âm dạy: Khi Ngọc Hư nhứt định không lập Nữ phái, Chị đã quỳ tại Điện Bạch Ngọc trọn ba ngày mà cầu khẩn. Nhờ lấy cớ Tà quyền nhiễu hại lương sanh mà làm cớ, lại hứa rằng: Có Nữ phái, dây thân ái mới buộc chặt tình đời, Cửu Trùng Đài và Hiệp Thiên Đài làm một đặng.

Thơ, con dắt mấy em con đi Cần Giuộc, vì tà mị muốn nhiễu hại môn đệ Thầy ở dưới.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

NHIỄU NHƯƠNG

擾 攘

Nhiễu: Làm rối loạn. Nhương: Quấy rối.

Nhiễu nhương là ở tình trạng rối ren, loạn lạc, đất nước, xã hội không yên ốn.

Như: Thời buổi nhiễu nhương.

Thời đạo loạn nhiễu nhương quá đỗi,

Lúc ma vương khuấy rối Tổ đình.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

NHÍN

Nhín là tằn tiện, bớt lại, để dành chút ít.

Như: Ăn nhín để dành lại cho con, nhín lại ít gạo để bữa sau nấu cơm.

Diễn văn Đức Thượng Sanh có câu: Mặc dầu phận sự quá nhọc nhằn, việc nước đa đoan trong khi tình trạng quốc gia đương hồi nghiêm trọng, Quốc Trưởng cũng nhín chút thì giờ quý báu quá bước đến vùng Ðạo của chúng tôi, thật chúng tôi lấy làm cảm động và toàn thể Chức Sắc, Thiện tín nơi đây đều lộ vẻ hân hoan vô tận.

Thà thấy dạng còn hơn hiu quạnh,

Nên cắn răng nhịn nhín tình thương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Các chỗ ấy dẫy tràn thảm tín,

Càng ở gần khó nhín sầu than.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NHÌN

1.- Nhìn là lấy mắt mà trông. Như: Nhìn tận mặt.

Thánh giáo Chí Tôn có dạy: Chư ái nữ ôi! Các con thường để mắt dòm lên, thấy kẻ cao sang thì các con cho rằng các con vô phước, còn nhìn xuống thấy đồng chủng thấp hèn thì các con lại đem lòng khi bạc.

Non nước đìu hiu xuân vắng chúa,

Nhìn quê cảnh úa giục cơn sầu.

(Lục Nương Giáng Bút).

Soi bóng nước đặng nhìn thấy dạng,

Thấy nghi dung hết mặn nét ngài.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Nhìn còn có nghĩa là chăm nom, xem xét.

Như: Bận lo công việc không nhìn đến con, nhìn vấn đề theo khía cạnh tâm linh.

Những là khổ nhọc chịu cơ đời,

Hạnh phúc thử nhìn đặng mấy mươi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Nhìn là nhận. Như: cha mẹ không nhìn con.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ngày nào toàn thể nhơn sanh đều biết hồi đầu hướng thiện, nhìn Ðạo Trời là một Cơ Quan Cứu Thế, thật hành chủ nghĩa thương yêu cho ra thiệt tướng thì ngày ấy mới đặng hưởng hoà bình đại đồng thế giới.

Phải so đo tình trọng của khinh,

Đừng vị của không nhìn tình cốt nhục.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHÌN NHẬN

Nhìn: Để mắt tới, quan tâm, xem xét để biết được. Nhận: Thấy rõ biết rõ, chịu là đúng, thừa nhận.

Nhìn nhận là xem xét, đánh giá về một sự vật, sự việc nào đó.

Nhìn nhận còn có nghĩa là thừa nhận một thực tế, một sự việc nào đó.

Thánh giáo Lý Giáo Tông có câu: Ðạo chẳng phải một món hàng mà nay đem cầu người nầy, mai đem nài kẻ kia cho họ biết mà nhìn nhận, thật nên nhục thể Ðạo quá!

Tấn thối dè chừng mưu kế hiểm,

Thiệt hư nhìn nhận chước phương hay.

(Nhàn Ấm Đạo Trưởng).

Không lẽ đem đào lỗ mà chôn,

Đành nhìn nhận đồng phồn cùng kẻ lạ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHỊN

1.- Nhịn là nhẫn, nhường, không tranh chấp, tức dằn xuống không để biểu hiện sự phản ứng ra ngoài. Như: Nhịn nhục, nhịn thua, nhịn lời.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Tức nhiên chúng ta không chịu nhịn sống cho ai hết, nói rõ ra cái tấn tuồng tranh sống mà Bần Đạo đã thuyết cái yếu lý của toàn thể nhơn loại trên mặt địa cầu này, để định vận mạng tương lai của họ, cái yếu lý ấy hệ trọng hơn hết.

Siêu phàm chẳng khó đó đời ôi,

Chẳng quá ba phen cứ nhịn lời.

(Đạo Sử).

Chia chồng vì dạ sắt son,

Nhịn chồng bởi chút sắp con cái nhà.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Nhịn là không ăn, không tiêu, tự ý để cho qua, không thoả mãn nhu cầu nào đó của bản thân. Như: Nhịn ăn, nhịn mặc, nhịn khát, nhịn thèm.

Thánh giáo Thầy trong Đạo Sử có dạy Đức Cao Thượng Phẩm: Ừ, con rán nhịn cơm chừng ba bốn bữa nữa đặng Thầy dùng huyền diệu pháp mà trị bịnh cho con thiệt mạnh, lần nầy từ đây mới dứt bịnh miễn đừng ăn món chi nó phạt tỳ thôi.

Lau giọt lệ, giải tai ương,

Chia cơm nhịn muối đỡ đường khó khăn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Dầu cháo rau cũng nhịn miệng nuôi con,

Đẻ một trẻ lại thon von thêm phận mẹ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHỊN NHỤC

Nhịn: Nhường, không tranh chấp nữa. Nhục: Xấu hổ.

Nhịn nhục là dằng lòng xuống, thà chịu nhục, chứ không có biểu hiện phản ứng lại.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có câu: Nếu Lão có lời căn dặn là thấy sự cực nhọc của chư hiền hữu muốn toan cất bớt, nên phải dặn lấy sự cẩn thận nhịn nhục dè dặt mà hành đạo.

Các con nhịn nhục mà các con hành phạt, cử chỉ các con khá tập sao cho nghịch với cử chỉ thế tình thì là gần ngôi Tiên, Phật đó.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

NHỊN NHƯỜNG

Nhịn: Nhường, không tranh chấp nữa. Nhường: Để cho người khác được hưởng phần mà mình đang hưởng.

Nhịn nhường, như chữ “Nhường nhịn”, tức chịu phần kém, phần thiệt về mình để cho người được phần hơn, trong quan hệ đối xử.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Từ thử đến giờ, các nhà triết học các Đạo Giáo, tìm lý thuyết đạo đức tinh thần dầu cho Nho, Thích, Đạo hay là các Tôn Giáo khác chỉ có tìm mực thước bày ra phương pháp để tạo cho nhơn loại biết kính trọng cái sống cho nhau tại mặt địa cầu này, làm một cái định luật đặng họ biết cung kính biết nhịn nhường, tức nhiên có hoà bình an tịnh, được an ủi, được thoả mãn, được hạnh phúc.

Sự hơn thua dầu muốn nhịn nhường,

Thì nhớ nhỏ đồng nương theo bụng mẹ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHỊP

1.- Nhịp hay “Dịp” là bậc, tiết trong một bản đàn hay một bài nhạc. Như: Nhịp đàn, gỏ nhịp.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Nhạc lại khởi thì xem nhịp mà đi bảy lái, chừng ấy Thầy dặn Nhơn nó nhịp lại cho các con đi.

Trí hoà huỡn như đờn trỗi nhịp,

Chẳng một ai bì kịp trí tài.

(Tế Quyền Giáo Tông).

Bàn dợn sóng nhởn nhơ nhịp tiếp,

Bút nương tay mẫn tiệp ghi lời.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

2.- Nhịp, còn nói “Dịp”, là đoạn, khoảng cách giữa hai trụ cầu liền nhau.

Như: Nhịp cầu, cầu dài mười hai nhịp.

Nhịp cầu đem bắt ngang sông,

Giúp cho đôi lứa trùng phùng một đêm.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

NHỊP CẦU

Nhịp: Đoạn, chặn, khoảng cách giữa hai trụ cầu. Cầu: Vật nối liền hai bên bờ sông, suối.

Nhịp cầu là một đoạn (nhịp) của cây cầu.

Như: Cầu dài hai mươi bốn nhịp, cầu treo là nhịp cầu làm bằng hệ thống dây treo vào các cột trụ.

Kìa nhịp cầu bên đầu khe nhỏ,

Đông chòm cây, Tây có triền bưng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Nhịp cầu còn dùng để chỉ cái bậc nối liền hai bên. Như: Nhịp cầu thân ái.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Nhờ nơi sự hy sinh đó mà Hội Thánh vững lòng lo phần xây dựng, cố gắng tạo cho nền Ðạo một tinh thần cao siêu trên đường phục vụ Ðại chúng, và chính cái tinh thần phục vụ đó là nhịp cầu thông cảm để giúp cho nền Ðạo được phổ thông trên khắp hoàn cầu khi hoà bình được vãn hồi nơi cõi Ðông Á.

Nền nhân đã đặt nhiều viên gạch,

Bến giác từng xây lắm nhịp cầu.

(Thơ Huệ Ngàn).

 

 

NHÍU

Nhíu là nhăn, cử động khẽ tạo những nếp nhăn ở vầng trán khí đăm chiêu hoặc có điều suy nghĩ.

Như: Nhíu mày tỏ vẻ khó chịu, nhíu vầng trán như đang suy nghĩ chuyện gì lung lắm.

Soi kính cũ mặt hoa đã nhíu,

Tóc hoa râm mày liễu ướm sương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NHO

Nho là người trí thức theo Nho học thời xưa. Như: Làng Nho, nhà Nho, rừng Nho biển Thánh.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Vì đó trước thời Xuân Thu những người Nho học gọi là “Sĩ”. Sĩ ở đây có nghĩa là làm quan, mà quan thời đó là làm việc nghĩa với đời.

Tiên Nho cũng học Phật chung nền,

Nền Ðạo tu tâm chí cũng nên.

(Đạo Sử).

Nho truyền đã lắm nhục bề Tiên,

Mặt thế chưa ai biết nét hiền.

(Đạo Sử).

 

 

NHO GIA

儒 家

Nho: Người trí thức theo Nho học thời xưa. Gia: Nhà, chỉ người chuyên một ngành nghề.

Nho gia là những người học đạo Nho, hay nói cách khác, là người học giáo lý của Khổng Mạnh.

Đạo Nho là Đạo dạy cho con người học biết suốt lẽ Trời đất và người, đồng thời dạy bảo cách ăn ở cho hợp với luân thường đạo lý. Nho 儒 là bởi chữ Nhân 亻 là người và nhu 需 là cần yếu hợp lại mà thành. Như vậy, theo nghĩa chữ, Đạo Nho đào tạo ra một hạng người rất cần thiết để giúp cho nhân quần xã hội biết đường mà ăn ở và hành động cho hợp lẽ Trời. Nhu cũng có nghĩa là chờ đợi, tức là những người học giỏi, đợi mọi người cần đến, sẽ lấy tài trí của mình ra thi thố giúp đời.

Đạo Nho là nền tôn giáo dạy về nhân nghĩa cho con người và Khổng Tử dạy dỗ và đào tạo ra một lớp người cần ích để đem lại an bình, trật tự cho xã hội đó là các “Nho gia”.

Trấn Đạo vẻ vang nhờ tín hữu,

Thuần phong tô điểm sẵn Nho gia.

(Thơ Thượng Cảnh Thanh).

Phô trương cho cả dân sinh,

Trông vào mới nhớ hành trình Nho Gia.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

NHO GIÁO

儒 教

Nho: Đạo của Đức Khổng Tử. Giáo: Dạy dỗ, còn có nghĩa là một Tôn giáo.

Nho giáo còn gọi là Khổng giáo, trước nhất là một nền học vấn lấy Đức Khổng Tử làm Thầy.

Sau Nho giáo được coi như một Tôn giáo, tức là Đạo Nho, do Đức Khổng Tử lập thành một học thuyết có hệ thống tư tưởng rõ ràng, biện giải các lẽ biến hoá của vũ trụ một cách khúc triết, quy định các nghi thức tế tự Trời đất quỷ Thần một cách minh bạch...

Trong trường hợp này Nho giáo được gọi là Đạo thờ cúng ông bà.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy dạy: Thầy lập Phật giáo vừa khi Khai Thiên lập Ðịa, nên Phật giáo là trước, kế Tiên giáo, rồi mới tới Nho giáo.

Xem: Đạo Nho.

Nguyền Khổng Thánh bảo toàn Nho giáo,

Lấy nghĩa nhơn Đại Đạo truyền ra.

(Giới Tâm Kinh).

Nho Giáo ngàn xưa đã chủ trương,

Làm người khá vẹn đạo luân thường.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

NHO NHÃ

儒 雅

Nho: Đạo Nho, đạo của Đức Khổng Tử. Nhã: Thanh cao, trái với thô tục.

Nho nhã là người có dáng vẻ ung dung, tao nhã và có tư cách thanh cao của người có học thức.

Nói về tư cách của Yến Tử, Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ông Yến Tử tuy là Tể tướng đầu triều, nhưng con người có tánh cách nho nhã, nề nếp nhà quan, không kiêu hãnh, gương mặt khiêm hoà...

Nho nhã con tua tập tánh tình,

Dưới đời đừng tưởng một mình lanh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nho nhã phương tu giáo lý truyền,

Đạo người vẹn vẽ phước huờn nguyên.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

NHO PHONG

儒 風

Nho: Đạo của Khổng Tử. Phong: Lề thói.

Nho phong tức là lề thói của một người học trò học chữ Nho thời xưa, hay nói cách khác là nề nếp của một Nho sĩ.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Chúng ta hãy lấy Nho phong làm căn bản, phục sanh hồn nước đã điêu tàn, sau 80 năm nô lệ, cho nó phục sanh lại với cái năng lực làm sống quốc hồn của mình trong 4.000 năm về trước.

Châu Công đưa nghiệp nối Nho phong,

Thánh đức còn nêu trí hoán phòng.

(Đạo Sử).

Nho phong một cửa để khuyên người,

Tháng lụn ngày qua đã bỏ trôi.

(Đạo Sử).

Giáo lý dồi dào nung khách trí,

Nho phong nhuần gội vững can trường.

(Quyền Giáo Tông).

 

 

NHO SĨ

儒 士

Nho (nhu): Đạo Nho, đạo của Đức Khổng Tử. Sĩ: Kẻ sĩ, người học trò.

Nho sĩ, còn đọc là “Nhu sĩ”, là những người học theo đường lối của Đức Khổng Tử, hay học trò đạo Nho.

Thánh giáo Thầy có dạy: Bởi vậy cho nên, nhiều bậc Thần, Thánh, Tiên, Phật cam lòng thủ phận, chẳng dám vọng cầu đem thân vào cảnh đoạ, nhưng mà chẳng tái kiếp thì như Nhu sĩ trốn thi, thế nào giữ vững địa vị cao thượng?

Đợi trông Nho sĩ tài vừa,

Đằng giao khởi phụng khó ngừa Tiên thi.

(Bài Thài Tứ Nương).

Châu Mãi Thần là ông Nho sĩ,

Cơn thất thời lại bị vợ khinh.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

NHO TÔNG

儒 宗

Nho: Đạo Nho. Tông: Tôn giáo.

Nho tông là Đạo Nho, một tôn giáo sinh ra từ Đức Khổng Tử. Tôn chỉ của Nho giáo lấy hiếu, đễ, trung, thứ làm gốc và lấy sửa mình làm mục đích. Nho giáo lấy những điều hợp với bản tánh con người mà dạy, không nói đến chuyện huyền bí.

Đức Khổng Tử có nói: Đạo bất viễn nhân, nhân chi vi Đạo nhi viễn nhân, bất khả dĩ vi Đạo 道 不 遠 人, 人 之 為 道 而 遠 人, 不 可 以 為 道, nghĩa là Đạo không xa cái bản tánh con người, hễ vì Đạo mà xa cái bản tánh ấy, thì kể Đạo ấy không phải là Đạo.

Xem: Nho Tông chuyển thế.

Vương Tân sách phụ,

Nho Tông khai hoá.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

Phật Pháp khuyến nhơn quy mỹ tục,

Nho Tông phục thế hưởng thuần phong.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NHO TÔNG CHUYỂN THẾ

儒 宗 轉 世

Hay “Nho Tông phục thế”.

Nho tông: Nho giáo, đạo Nho. Chuyển thế: Đời thay đổi, từ loạn ra trị, từ xấu thành tốt. Phục thế: Trở lại đời đạo đức, thạnh trị.

Nho Tông chuyển thế là lấy giáo lý Nho giáo để khuyến dạy con người trong thời Hạ nguơn mạt kiếp để phục hồi lại nền phong hoá thuần lương, xã hội đạo đức của đời Thượng nguơn Thánh đức.

Trong đời hạ nguơn mạt pháp con người vì chạy theo tiền tài, danh lợi mà tranh giành sát phạt lẫn nhau, trở thành hung bạo, mất dần đạo đức, nền tảng gia đình đổ vỡ, phong hoá suy đồi, sụp đổ.

Vì vậy, Đức Chí Tôn khai đạo kỳ ba này dùng Nho tông chuyển thế, tức là lấy những tinh hoa của giáo lý Nho giáo, dùng để khuyến dạy con người để trở nên thuần lương đạo đức.

Trong thuyết đạo của Đức Hộ Pháp có viết: “Nền đạo Cao Đài là Nho tông chuyển thế thì tức nhiên của toàn xã hội nhơn quần tại mặt địa cầu này, nhờ đạo Nho sửa đương, chỉnh đốn thiên hạ lại”.

Đạo Cao Đài Nho Tông chuyển thế,

Giữ chơn truyền làm kế bảo an.

(Thơ Thái Đến Thanh).

Nho tông chuyển thế thay đời tệ,

Tôn chỉ Cao Đài hiệp vạn linh.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

NHO TÔNG KHAI HOÁ

儒 宗 開 化

Nho Tông: Đạo Nho, Nho giáo. Khai hoá: Mở mang giáo hoá.

Nho Tông khai hoá là nói Nho giáo được truyền bá ra để mở mang giáo hoá quần chúng.

Đạo Nho là Đạo dạy cho con người học biết suốt lẽ Trời đất và người, đồng thời dạy bảo cách ăn ở cho hợp với luân thường đạo lý. Nho 儒 là bởi chữ Nhân 亻 là người và nhu 需 là cần yếu hợp lại mà thành.

Như vậy, theo nghĩa chữ, Đạo Nho đào tạo ra một hạng người rất cần thiết để giúp cho nhân quần xã hội biết đường mà ăn ở và hành động cho hợp lẽ Trời. Nhu cũng có nghĩa là chờ đợi, tức là những người học giỏi, đợi mọi người cần đến, sẽ lấy tài trí của mình ra thi thố giúp đời.

Tóm lại Đạo Nho là nền tôn giáo dạy về nhân nghĩa cho con người và Khổng Tử dạy dỗ và đào tạo ra một lớp người cần ích để mở mang giáo hoá quần chúng và đem lại an bình, trật tự cho xã hội.

Vương Tân sách phụ,

Nho Tông khai hoá.

(Kinh Cúng tứ Thời).

 

 

NHO TÔNG PHỤC THẾ

儒 宗 復 世

Nho tông: Nho giáo, đạo Nho. Phục thế: Trở lại đời đạo đức, thạnh trị.

Nho tông phục thế, như “Nho tông chuyển thế”, là lấy giáo lý Nho giáo để khuyến dạy con người trong thời Hạ nguơn mạt kiếp để phục hồi lại nền phong hoá thuần lương, xã hội đạo đức của đời Thượng nguơn Thánh đức.

Xem: Nho Tông chuyển thế.

Phật pháp khuyến nhơn quy mỹ tục,

Nho Tông phục thế hưởng thuần phong.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NHO THÍCH ĐẠO

儒 釋 道

Nho: Chỉ Nho giáo. Thích: Thích giáo, tức Đạo Phật. Đạo: Đạo giáo hay Lão giáo, tức đạo Tiên.

Nho Thích Đạo là Tam giáo, tức ba nền tôn giáo lớn ở cõi Á Đông mà ba vị giáo chủ là Đức Khổng Thánh, Đức Phật Thích Ca và Đức Lão Tử.

Trong đạo Cao Đài, Nho Thích Đạo còn dùng để gọi ba phái Chức sắc của Cửu Trùng Đài. Phái Nho thuộc phái Thánh, mặc áo màu đỏ; phái Lão (phái Đạo) thuộc phái Tiên, mặc áo màu xanh; phái Thích thuộc phái Phật, mặc áo màu vàng.

Chưởng Pháp ba phái là Nho Thích Đạo.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

NHO VĂN

儒 文

Nho: Người trí thức theo Nho giáo thời xưa, chỉ chữ Hán. Văn: Hình thức ngôn ngữ được trau chuốt cho hay, đẹp.

Nho văn là văn chương viết bằng chữ Nho, tức bài văn viết bằng chữ Hán thời phong kiến.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn dạy Hộ Pháp có câu: Tắc, con biểu Tài viết Nho văn bài thi nầy rồi Hoạch đưa tận tay cho Vĩnh Thụy.

Sĩ tử nhà văn cũng tiếng rằng,

Chẳng gìn nết hạnh khách Nho văn.

(Đạo Sử).

 

 

NHỎ

1.- Nhỏ là bé, không to, trái với lớn. Như: Ngôi nhà nhỏ, chiếc xe nhỏ, mưa nhỏ.

Thánh giáo Thầy có câu: Vốn Thầy tạo lập nền Chánh giáo cho dân Nam Việt chẳng phải là việc nhỏ đâu. Các con ví biết Ðạo là quý thì phải ân cần thận trọng, đợi đến ngày thành tựu, các con mới thấy rõ Thiên cơ, thì chừng ấy các con muốn lập công bằng buổi nầy sao đặng, vì mỗi việc khó khăn trắc trở là lúc sơ khai.

Sầu dã dượi lòng ta tuổi lớn,

Lớn nhỏ khuyên lo Ðạo khá cầu.

(Đạo Sử).

Sáo sứa việc chi cũng thọc thò,

Chưa hay đặng nhỏ mới gầy to.

(Đạo Sử).

2.- Nhỏ là đứa bé, đứa trẻ còn ít tuổi. Như: Đứa nhỏ, tuổi còn nhỏ, thuở nhỏ.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn thường hay gọi các vị chức sắc tiền khai Đại Đạo bằng những đứa nhỏ.

Thánh giáo dạy Ngài Cư Tắc có câu: Con phải đem bốn đứa nhỏ theo, rồi kiếm thêm tám đứa nữa, chia ra mỗi hướng là ba đứa,...

So đời lại nghĩ thảm cho đời,

Nhỏ biết tu mà lớn biết chơi.

(Đạo Sử).

3.- Nhỏ còn có nghĩa nhiểu, dùng để chỉ sự rơi từng giọt, hoặc cho từng chút một.

Như: Nhỏ thuốc vào mắt, Mưa nhỏ từng hạt vào thau, gửi tiền về cho cha mẹ một cách nhỏ giọt.

Nhờ Chí Tôn dạy khôn lẽ Đạo,

Phật, Thánh, Tiên nhỏ máu nhiệt thành.

(Kinh Thế Đạo).

Văn chất chưa hay Trời nhỏ phước,

Ðôn rằm người bịnh khỏi tai ương.

(Đạo Sử).

Càng ngó trái lại miền thế tục,

Lụy nhỏ dầm đòi khúc lòng đau.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NHỎ DẠI

Nhỏ: Còn ít tuổi, chưa trưởng thành. Dại: Không có khả năng thích ứng với hoàn cảnh do còn ít tuổi.

Nhỏ dại chỉ đứa bé nhỏ còn thơ dại.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Một ông cha đã tới giờ quy liễu, nhìn lại gia đình sắp con đã nên gia thất chỉ còn vài đứa nhỏ dại, chưa đủ trí khôn; ông cha ấy phải thống khổ biết chừng nào, khi thấy đứa trẻ ấy bơ vơ, nếu mình rủi chết hoàn cảnh ấy ông phải định thế nào.

Nhỏ dại Thầy nuôi mùi Ðạo hạnh,

Lớn khôn bây xứng mặt hiền lương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trẻ nhỏ dại lắm điều học hỏi,

Thường kiếm cha mong mỏi thấy nhau.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Làm anh lớn dạy em nhỏ dại,

Đạo thờ thân phải trái dắt dìu nhau.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHỎ MỌN

Nhỏ: Bé, không to, không lớn. Mọn: Nhỏ đến mức không đáng kể.

Nhỏ mọn là nhỏ bé, không có giá trị, không đáng kể.

Nhỏ mọn còn dùng để chỉ nhỏ nhen, hẹp hòi.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu dạy: Thầy trông mong nơi các con, chớ nên vì chuyện nhỏ mọn phàm tục mà bứt hẳn mối tương thân tương ái, thì chẳng phải là đức tánh của tu hành đó.

Thầy muốn dạy con, phải ở và dạy nội gia quyến con cho chánh đáng, phải lấy lòng trong sạch đối đãi với người, dầu việc nhỏ mọn cũng vậy.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

NHỎ NHẸ

Nhỏ: Bé, không to, không đáng kể. Nhẹ: Không mạnh, có cường độ yếu vì dùng ít sức lực.

Nhỏ nhẹ là nói năng nhỏ giọng, nhẹ nhàng, dễ nghe và dễ truyền cảm.

Trong Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Thánh giáo Thầy có dạy: Sự nhỏ nhẹ của Thất Nương đó, con bằng mảy mún gì chưa? Học hỏi sự nhỏ nhẹ ấy.

Phận làm chủ lấy lời nhỏ nhẹ,

Mà nghiêm trừng mấy kẻ tôi đòi.

(Kinh Sám Hối).

Em trai vốn tánh ưa nhỏ nhẹ,

Lời nhu mì chị gái lẽ thương hơn.

(Phương Tu Đại Đạo).

Bảy tháng gấm thêu lời nhỏ nhẹ,

Ghi tâm khắc cốt trọn đời thôi.

(Thơ Thượng Phẩm).

 

 

NHỎ NHÍT

Nhỏ: Có kích thước, số lượng, hoặc giá trị không đáng kể, hay kém hơn cái khác cùng loại.

Nhỏ nhít, như chữ “Nhỏ nhặt”, là nhỏ bé, vụn vặt, rất nhỏ dưới mức thông thường, không đáng kể.

Như: Chuyện nhỏ nhít như vậy mà làm ầm lên.

Việc lành chẳng khá bỏ qua,

Tuy là nhỏ nhít cũng là công phu.

(Kinh Sám Hối).

 

 

NHỎ NHOI

Nhỏ nhoi là nhỏ bé, ít ỏi, gây ấn tượng mỏng manh, yếu ớt.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Vì cớ cho nên Ngài đã giao cái sứ mạng nặng nề cho chúng ta, Ngài mượn sắc dân Việt Nam là một sắc dân nhỏ nhoi hèn mạt đang ở trong vòng lệ thuộc đặng làm Thánh Thể của Ngài, Ngài cố ý để hiển nhiên trước mắt cho toàn nhơn loại ngó thấy Ngài không muốn cho Thánh Thể của Ngài ở trong vòng lệ thuộc nữa.

Các con hiền mà dữ, các con yếu mà mạnh, các con nhỏ nhoi mà là quyền thế, các con nhịn nhục mà các con hành phạt, cử chỉ các con khá tập sao cho nghịch với cử chỉ thế tình thì là gần ngôi Tiên, Phật đó.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

NHÓC NHÁCH

Nhóc nhách là nhúc nhích, cử động được một chút ít, thường nói về người đau mới mạnh.

Nhóc nhách còn có nghĩa là đầy ắp, đầy ứ, hay đầy tràn, tức đầy đến độ muốn văng ra ngoài.

Nghe một việc nói ra trăm cách,

Đặt nên tuồng nhóc nhách nói thêm.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHỌC

Nhọc là mệt, mỏi mệt. Như: Nhọc công, nhọc sức, nhọc lòng, nhọc mệt.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy lại nói, buổi lập Thánh đạo, Thầy đến độ rỗi kẻ có tội lỗi. Nếu đời không tội lỗi, đâu nhọc đến công Thầy.

Ðã nhiều danh lợi bước đua tranh,

Nhọc xác lao tâm hỏi có thành?

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðồ thơ oằn oại gánh nghiêng vai,

Mặc khách làng văn nhọc chớ nài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NHỌC LÒNG

Nhọc: Cảm thấy mệt, khó chịu trong người vì phải mất sức và vất vả. Lòng: Lòng, dạ, biểu tượng cho tâm lý, tình cảm.

Nhọc lòng là ở trạng thái phải lo lắng, suy nghĩ nhiều về việc gì.

Thánh giáo Thầy trong Thánh Ngôn Sưu Tập có đoạn dạy: Từ đây, những Thánh Ngôn ban hành cho các môn đệ, cần phải có con ký tên và ấn dấu đành rành. Nếu Thánh Ngôn nào mà thiếu cách phòng ấy thì chư môn đệ được phép không tuân. Con phải cho trong cả chư môn đệ biết nghe. Thầy vốn chẳng muốn làm cho nhọc lòng của môn đệ nào mà không bổ ích chi cho nền Đạo.

Bớt điều sắc tướng huờn vong,

Bớt điều hồ mị nhọc lòng phạn hương.

(Lục Nương Giáng Bút).

Nghe từ lịnh, cúi vâng từ mạng,

Nhọc lòng chi nào dám dỉ hơi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NHỌC NHẰN

Nhọc: Cảm thấy mệt, khó chịu trong người vì phải mất sức và vất vả.

Nhọc nhằn, cùng nghĩa với “Mệt nhọc”, là khó nhọc, vất vả.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông đã dạy: Từ đây Thầy đã giao quyền thưởng phạt về nơi tay Bần Đạo. Vậy các đạo hữu khá hết lòng lo lắng nền đạo cho vững vàng, hiệp ý với Thiên cơ mà bước lần lên địa vị cao thượng, chớ sụt sè ôm thói mờ hồ thì đã uổng công trình cực nhọc từ bấy lâu nay, lại thêm chẳng đặng theo Thánh ý của Thầy, là bậc Chí Tôn đã hết sức nhọc nhằn cùng sanh chúng.

Làm ra lúa gạo dày công,

Dầm mưa dan nắng kẻ nông nhọc nhằn.

(Kinh Sám Hối).

Khiêm cung từ thuở tuổi thơ sanh,

Thương mẹ hiếu cha lắm nhọc nhằn.

(Đạo Sử).

Cửu Nương vốn nhọc nhằn chẳng tiếc,

Chỉ trách con chưa biết lập trường.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

NHỌC TÂM

Nhọc: Cảm thấy mệt, khó chịu trong người vì phải mất sức và vất vả. Tâm: Lòng.

Nhọc tâm, như chữ “nhọc lòng”, là khổ sở, mệt nhọc vì phải lo nghĩ nhiều.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Lý ra chúng Qua không làm mấy em khổ trí nhọc tâm nữa để từ từ bước đến nhờ ân Đức Chí Tôn dìu dẫn đi, xin miễn đi từ từ nhi tấn mà thôi, đừng đứng chựng lại đó.

Chúng bạn nhọc tâm cơ chuyển thế,

Riêng ông an trí cảnh Tiên gia.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

NHỌC THÂN

Nhọc: Cảm thấy mệt, khó chịu trong người vì phải mất sức và vất vả. Thân: Thân thể, chỉ thân xác do cha mẹ đào tạo.

Nhọc thân là mệt nhọc tấm thân, tức thân xác bị rã rời mệt nhọc.

Rừng thiền ác xế khuất non Tần,

Vày vã từ đây khỏi nhọc thân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nao lòng đừng sợ nhọc thân con,

Chữ hiếu chữ trung gắng giữ tròn.

(Đạo Sử).

Hay tánh giúp cô đôi lúc chịu,

Nhọc thân chẳng quản cứ bền gan.

(Đạo Sử).

 

 

NHỌC TRÍ

Nhọc: Nhọc nhằn, mệt nhọc. Trí: Khả năng nhận thức, ghi nhớ suy nghĩ của con người.

Nhọc trí là trí óc bị mệt nhọc vì lo lắng hay suy tính quá sức nhiều.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Hai mươi mấy năm, chúng ta tưởng lại sự khổ tâm nhọc trí của Ngài, chúng ta phải bùi ngùi cảm động. Đức Đại Từ Phụ với lòng đại từ đại bi của Ngài không thể gì nói đặng, hai mươi mấy năm trường Ngài đến Ngài độ từ đứa, Ngài dụ từ người, đem cả một thể thống thiêng liêng vô cùng vô tận, quý hoá kia đổi lại một tấm yêu ái của chúng ta đặng làm cơ quan cứu thế.

Mình muốn an vui đừng nhọc trí,

Ham theo tục thế vụ đua tranh.

(Đạo Sử).

Hơn thiệt đua tranh thêm nhọc trí,

Thọ trì thanh tịnh dưỡng an thần.

(Thơ Thông Quang).

 

 

NHỌC XÁC

Nhọc: Cảm thấy mệt, khó chịu trong người vì phải mất sức và vất vả. Xác: Thân thể, chỉ cái thân do cha mẹ đào tạo.

Nhọc xác là mệt nhọc thân xác, tức thân xác bị rã rời mệt nhọc.

Thẳng bụng hỏi ăn ngày mấy dội,

của công nhọc xác cúi lòn ra.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

NHỌC XÁC LAO TÂM

Nhọc xác: Cái xác thân mệt nhọc. Lao tâm: Cái tâm trí lao tổn.

Nhọc xác lao tâm ý nói thân xác và tinh thần của con người nhọc mệt hao tổn.

Đã nhiều danh lợi bước đua tranh,

Nhọc xác lao tâm hỏi có thành?

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NHỌN

Nhọn là vật có phần đầu nhỏ dần lại như hình mũi kim, dễ đâm thủng vật khác. Như: Gai nhọn, vót chông cho nhọn, lưỡi dao nhọn.

Nói về ăn chay, quyển Thiên Đạo của hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có viết: Răng cấm của các loài ăn thịt đều nhọn, nhai thịt không được nát, song lại nhờ bao tử dày và mạnh, vận động giúp cho thịt ăn vào dễ tiêu hoá.

Hoặc là đinh nhọn, chông gai,

Mau tay lượm lấy đoái hoài kẻ sau.

(Kinh Sám Hối).

Giáo gươm bén nhọn tư bề,

Chém đâm máu chảy tràn trề ngục môn.

(Kinh Sám Hối).

 

 

NHỌN VẮT

Nhọn: Vật có phần đầu nhỏ dần lại như hình mũi kim, dễ đâm thủng vật khác.

Nhọn vắt, như chữ “Nhọn hoắt”, là nhọn đến mức gây cảm giác ghê sợ.

Như: Mũi chông nhọn vắt.

Móc nhọn vắt treo mình nhỏng nhảnh,

Cối đạp đồng rất mạnh giã dần.

(Kinh Sám Hối).

 

 

NHÓNG

1.- Nhóng là ngóng, trông mong, chờ đợi.

Như: Nhóng tin nhà, nhóng mắt nhìn ra cổng, ngồi nhóng cả ngày.

Để thảm xuân đường như ác xế,

Gieo thương lữ khách nhóng tin mai.

(Thơ Hộ Pháp).

2.- Nhóng là đưa lên, vươn cao, nâng cao lên.

Như: Nhóng cổ lên coi, nhóng người cao, nhóng tai ra để nghe cho rõ, nhóng giá.

Thánh giáo Chơn Cực Lão Sư có câu: Ðạo chẳng phải là một hội chôn thây, cũng chẳng phải mối hàng để nhóng giá, mà chư đạo hữu hiện thời đã thấy Ðạo có ích về hai sự ấy mà thôi.

Coi lại coi lễ nạp tiền cheo,

Giống chẳng khác hàng heo theo nhóng giá.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHỎNG NHẢNH

Nhỏng nhảnh là đỏng đảnh, có điệu bộ, cử chỉ, hay dáng điệu khác người, làm ra vẻ như không cần biết đến ai, không coi ai ra gì.

Nhỏng nhảnh còn có nghĩa là đung đưa qua lại liên hồi. Như: Treo nhỏng nhảnh, tàu cau nhỏng nhảnh.

Ca dao có câu: Gió lao rao tàu cau nhỏng nhảnh, Em thương anh rồi thọ lãnh đôi bông.

Móc nhọn vắt treo mình nhỏng nhảnh,

Cối đạp đồng rất mạnh giã dần.

(Kinh Sám Hối).

 

 

NHỔ

Nhổ là kéo lên, giật mạnh lên, tức lấy tay làm cho một vật rời khỏi chỗ nó được trồng, được cắm. Như: Nhổ cỏ, nhổ cây cột, nhổ răng, nhổ neo.

Trong Giáo Lý Ngài Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có đoạn viết: Phép dưỡng khí cũng như thuật trồng lúa. Trồng lúa thì phải bón phân, nhổ cỏ, rồi lúa theo thời tiết mà cao lớn, chớ chẳng phải nhóm gốc lúa như người nước Tống.

Dầu cây cỏ công cha vun quén,

Cũng không lòng nhổ ném cho đành.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHỒI

1.- Nhồi là nhét vào, bồi thêm.

Như: Học theo lối nhồi sọ, nhồi quả, nhồi kiếp, nhồi thêm mấy quả đấm.

Hoá công xem xét đền bồi,

Lành siêu dữ đoạ thêm nhồi tội căn.

(Kinh Sám Hối).

2.- Nhồi là dồi, chỉ sóng tung lên liên tiếp nhiều lần xô vào bờ.

Như: Sóng nhồi gió dập, từng cơn sóng nhồi mạnh vào be thuyền.

Biển trần mặc sức sóng nhồi,

Từ thuyền tuông lướt giữa đời cứu dân.

(Lục Nương Giáng Bút).

Thuyền từ đang buổi sóng nhồi to,

Dìu Đạo kiên tâm mới phải trò.

(Thơ Thượng Sanh).

3.- Nhồi còn dùng để chỉ nhào, tức trộn đều với nước làm cho dẻo, cho nhuyễn. Nghĩa rộng chỉ luyện thành. Như: Nhồi bột, nhồi nắn.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Có khi đó là một cuộc thử thách, một giai đoạn nhồi nắn của cơ Thiêng liêng để cho người hy sinh vì Ðạo trở nên một đấng phi thường đáng làm tôi tớ Ðức Chí Tôn trên đường giải thoát cho nhơn loại.

Nắn nhồi trí huệ thành binh khí,

Rèn chất anh thư đắp lũy đồn.

(Thất Nương Giáng Bút).

Hễ trông con ơn nghĩa vẹn gìn,

Nhớ pha lẫn máu tinh nhồi nắn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHỒI QUẢ

Nhồi: Nhét vào, bồi thêm. Quả: Nghiệp quả.

Nhồi quả là những kết quả xấu từ nhiều kiếp trước dồn lại thành nhiều để báo đáp trong vòng một kiếp sống.

Nhồi quả là một quả nghiệp nặng nề, khiến người thọ quả phải chịu liên tục, dồn dập trong vòng một kiếp. Nhưng nhồi quả là một đặc ân của Đức Chí Tôn trong kỳ Đại ân xá này, nếu ai chịu đựng được sự nhồi quả thì sẽ mau hết nghiệp để có thể trở về với ngôi xưa vị cũ.

Ví muốn tu thân nhồi quả trước,

Gắng công sau sẽ đến cùng Ta.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NHỒI QUẢ NGHIỆP

Nhồi: Nhét vào, bồi thêm. Quả nghiệp: Kết quả của cái nghiệp ác, nghiệp dữ đã gây ra từ kiếp sống trước.

Nhồi quả nghiệp, như chữ “Nhồi quả”, là những kết quả xấu từ nhiều kiếp trước dồn lại thành nhiều quả nghiệp để báo đáp trong vòng một kiếp sống.

Xem: Nhồi quả.

Trường khổ hải để nhồi quả nghiệp,

Mỗi chơn linh đầu kiếp trả xong.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

NHỒI QUẢ KIẾP

Nhồi: Nhét vào. Quả: Nghiệp quả. Kiếp: Kiếp sống của con người.

Nhồi quả kiếp là kiếp sống nầy phải chịu lấy những kết quả xấu từ nhiều kiếp trước dồn lại để báo đáp trong vòng một kiếp.

Nhồi quả kiếp là một quả nghiệp nặng nề, khiến người thọ quả phải chịu liên tục, dồn dập trong vòng một kiếp. Nhưng nhồi quả là một đặc ân của Đức Chí Tôn trong thời kỳ Đại ân xá này, nếu ai chịu đựng được sự nhồi quả thì sẽ mau hết nghiệp để có thể trở về với ngôi xưa vị cũ.

Trong quyển Thiên Đạo, hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh nói về luật nhồi quả như sau: “Nhồi quả” là một cách trả quả rất nặng nề nhưng cũng là một phương giải thoát. Cho nên người biết đạo luôn luôn vui chịu những hoạn nạn, tai ương dồn dập đến cho mình. Và nếu thấy người nào đạo đức chơn tu mà bị hoạn nạn cùng tai biến bất ngờ, tưởng chẳng nên lấy làm lạ, vì người ấy đương chịu “nhồi quả” đó vậy.

Trong Thi Văn Dạy Đạo có dạy:

Ơn Trời cho mở Ðạo Kỳ Ba,

Dìu dẫn nhơn sanh lánh vạy tà.

Ví muốn tu thân NHỒI QUẢ trước,

Gắng công sau sẽ đến cùng Ta.

Người không hiểu về luật nhồi quả thì cho rằng trời đất bất công, nhưng đó là hồng ân của thiêng liêng ban cho người thọ quả.

Câu chuyện sau đây của người chịu nhồi quả kiếp: Ngày xưa có vị Hoà thượng muốn tu sửa lại ngôi chùa cổ, nên ra chợ làng để hoá duyên. Ông đi từ sáng đến chiều, chẳng có người nào chịu bố thí cả. Sau cùng, có một em bé bán bánh nghèo nàn, ăn mặc rách rưới chạy đến, đem hết số tiền bán được cúng dâng cho vi Hoà thượng. Tấm lòng hỷ xả và nghĩa cử cao quý của đứa bé, làm động lòng trắc ẩn của những người trong chợ, nên kẻ ít người nhiều, ai nấy đều đua nhau bố thí cho vị cho vị Hoà thượng để có tiền bạc cất chùa. Ngôi chùa đó vì thế mà được đổi mới khang trang.

Chùa cất xong chưa được bao lâu, thì dân làng được tin đứa bé bán bánh mắc bệnh nặng và bị mù cả hai mắt. Dân trong vùng đều oán trách rằng Trời Phật bất công đã hại người hiền lương, đạo đức. Không bao lâu, vì mù loà, đứa bé đi lọt vào hầm phân mà chết.

Dân làng lại xôn xao bàn tán về số phận của đứa bé xấu số đó, ai nấy đều cho rằng bố thí hành thiện là một việc không nên làm, vì sợ sẽ rơi vào trường hợp của đứa bé.

Một hôm, vị Hoà thượng đang ngồi thiền, bỗng nhiên thấy hình ảnh của đứa bé chập chờn xuất hiện và quỳ lạy trước Hoà thượng.

Hoà thượng hỏi: Con có oán trách Trời Phật bất công chăng?

Đứa bé đáp: Không, Diêm Vương đã cho con biết tam thế nhân quả của con. Kiếp trước con tạo nghiệp quả xấu quá nhiều, nên kiếp nầy phải đầu thai trong một gia đình nghèo khổ, cha mẹ mất sớm, suốt đời bần cùng lang thang; kiếp sau nữa đầu thai sẽ bị bệnh mù; kiếp thứ ba cũng phải chịu khổ sẽ chết trong hầm phân.

Khi thầy hoá duyên ở chợ, con thấy không người nào chịu bố thí cả, nên con động lòng, đem hết số tiền con có được dâng hiến cho thầy. Diêm Vương phán rằng con có công trong việc tu sửa ngôi chùa, vì sự bố thí của con cổ động lòng hỷ xả của nhiều người, nên đem tam thế nhân quả của con rút ngắn lại, tức là con phải chịu luật nhồi quả trong kiếp nầy. Mong thầy từ bi, đem chuyện của con kể lại cho dân làng hay, như thế con mới yên tâm.

Hoà thượng bèn đem chuyện tam thế nhân quả của đứa bé kể lại cho dân trong làng hay. Từ đó, dân làng mới biết luật nhồi quả là một đặc ân của Trời Phật dành cho người biết tu hành.

Xem: Nhồi quả.

Nặng nghiệp oan khiên nhồi quả kiếp,

Tuỳ cơ tấn bộ mới là khôn.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

NHỒI SỌ

Nhồi: Nhét vào. Sọ: Hộp xương đựng bộ não.

Nhồi sọ là nhồi nhét kiến thức cốt cho nhiều, bất kể hiểu hay không hiểu, cần thiết hay không cần thiết.

Nhồi sọ còn có nghĩa là làm cho thấm dần và ăn sâu vào đầu óc để rồi mù quáng tin theo.

Thuyết về luật “Tương đối”, Đức Hộ Pháp có đoạn nói: Đạo Cao Đài để cho hàng trí thức họ tìm hiểu mà đến, chớ không dụ dỗ hay là cám dỗ cho người biết nó. Để hết trí não tìm hiểu, con người nhận thấy trí thức cao siêu và nhận định chơn lý của nó. Tiếng Pháp nói đức tin là sự nhận thức chơn lý (Foi raison née) do nơi đức tin ấy mà định quyết cái tinh thần đạo đức của mình, chớ không phải do nơi sự cám dỗ nhồi sọ, tạo thành mê tín.

Thảng có kẻ nào nói: Cái ông đó mà biết cái gì, ổng nhồi sọ mình cho ngu cho dại cho điên cuồng.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

NHỘN NHÀNG

Nhộn: Rộn, hơi ồn ào do đông người tạo ra.

Nhộn nhàng, như chữ “Nhộn nhịp”, là rộn ràng, tức tấp nập đi lại, ra vào hoặc tham gia rộn rịp vào hoạt động.

Như: Đường phố nhộn nhàng người đi bộ.

Thiên Quân diêu động linh phan,

Cả miền Thánh vức nhộn nhàng tiếp nghinh.

(Kinh Tận Độ).

Trông vơi cánh thước nhộn nhàng,

Cầu Ô chẳng đến lập đàng hiệp đôi.

(Thất Nương Giáng Bút).

Sâu dân mọt nước bạo tàn,

Mua quan bán chức nhộn nhàng cân đai.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NHỘNG

Nhộng, cũng nói là “Dộng”, là con tằm biến đổi hình ra khi còn ở trong kén.

Như: Tằm đã hoá nhộng, ở trần truồng như nhộng, đói khô như nhộng.

Song vẫn cũng một lòng,

Thân đói khô như nhộng.

Hỏi ăn chi đặng sống,

Rằng hớp khí thanh không.

(Ngụ Đời).

Sống đời thôi đã hết ham,

Muốn nên công cán hoá làm nhộng sâu.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

NHỐT

Nhốt là giữ ở trong chuồng, cũi, hay nơi được giấu kín, không cho tự do đi lại, tự hoạt động. Như: Nhốt khám, nhốt vào cũi, nhốt chuồng.

Nói về Đức Quyền Giáo Tông, Thuyết Đạo Hộ Pháp có viết: Họ nhốt trong khám mấy bữa vì nạn không có tiền đóng thuế thân cho bổn đạo, chúng bắt bỏ tù luôn Ngũ Đẳng Bội Tinh trong mình Ngài nữa, chừng ra rồi Ngài gỡ trả Ngũ Đẳng Bội Tinh lại, vì nó không có giá trị gì hết, nếu có giá trị thì không thị nhục dường ấy.

Cũng như ác thú nhốt hầm,

Ăn nhau cho đã nào cần mệnh nhau.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Chờ gặp cơn hoa cợt đài trăng,

Bủa lưới bắt ả Hằng đem nhốt rọ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHƠ

Nhơ, cũng có nghĩa như chữ “”, là bẩn, không tinh khiết, không sạch sẽ.

Như: Nhơ bợn, ăn ở nhơ bẩn, mùi nhơ uế, nhơ trược, ăn nhơ ở bẩn.

Liên huê mấy thức chẳng phai màu,

Giữa chốn bụi nhơ giữ phẩm cao.

(Đạo Sử).

Hễ xấu dạng thì nhơ mặt thiếp,

Còn đẹp hình, nhát kiếp phù dung.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NHƠ DANH ĐẠO

Nhơ: Như chữ “”, là bẩn, không tinh khiết, không sạch sẽ. Danh Đạo: Danh thể của nền Đạo.

Nhơ danh Đạo là làm lem ố cho thanh danh nền Đạo, tức bôi xấu cho tiếng tăm nền tôn giáo của mình.

Đức Lý Giáo Tông trong Đàn cơ ngày 13 tháng 10 năm Quý Tỵ (Dl. 19/11/1953) dạy Ngài Hộ Pháp như sau: Hiền hữu là Thiên điều, Thiên điều là hiền hữu, hiền hữu không trị thì Thiên điều phải trị, thử hỏi từ bi ấy đã đáng giá trị là thể nào? Lão e cho ngày về của hiền hữu sẽ rất nên ân hận! À, chỉ có bao nhiêu chức tước cao sang mà làm nhơ danh Đạo.

1. Làm nhơ danh Đạo.

2. Mượn danh Đạo tạo danh đời.

(Thập Hình Lý Giáo Tông).

 

 

NHƠ BỢN

Nhơ: Dơ bẩn. Bợn: Đục, không trong.

Nhơ bợn là dơ bẩn, không trong sạch.

Thánh giáo Thầy dạy: Thầy để lời cho các con biết rằng: Nhiều Thánh, Tiên, Phật, xuống phàm, nếu căn quả tiền khiên không mấy trọng hệ, nghĩa là kiếp trần duyên không chi phải nhơ bợn nhiều thì dầu không Thiên phong, hễ gắng tâm thiện niệm thì địa vị cũng đạt hồi đặng.

Nhơ bợn lợi danh đã hết mùi,

Nạn dân Tần nhớ đến không nguôi.

(Tiêu Diêu Đạo Sĩ).

Lầu hồng say tỉnh kể gì thân,

Nhơ bợn chơn linh chẳng định thần.

(Thơ Chánh Đức).

 

 

NHƠ NHỚP

Nhơ: Dơ bẩn. Nhớp: Bẩn.

Nhơ nhớp là nhơ bẩn đến mức thậm tệ. Như: Đồng tiền phi nghĩa đối với người tu là tiền nhơ nhớp.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Qua không nói ai, vì trước mỗi buổi đều tắm rửa, vô đó, dầu hình thể của mấy em có nhơ nhớp, thúi hôi, cùi đày mà cái tâm của mấy em trong sạch đó là tâm vô tội.

U ám mịt mờ màu thảm đạm,

Thúi hôi nhơ nhớp cảnh đìu hiu.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Mọi việc nên dạy biết học đòi,

Sự nhơ nhớp để lời xoi với bói.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHƠ NHUỐC

Nhơ: Dơ bẩn. Nhuốc: Nhơ, xấu.

Nhơ nhuốc là nhơ bẩn, xấu xa, nhục nhã. Như: Hành động nhơ nhuốc cho Đạo.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Hại thay! Ở trước mắt ta nào là bóng chàng, đồng cốt, ông tà, ông địa, làm cho nhơ nhuốc cái tinh thần Ðạo Giáo, Bần Ðạo uất ức.

Những điều nhơ nhuốc phải chừa,

Hỗn hào mắng nhiếc, nói thừa nói thêm.

(Giới Tâm Kinh).

 

 

NHƠ TRƯỢC

Nhơ: Dơ bẩn Trược: Còn đọc là trọc 濁, là đục, không trong sạch.

Nhơ trược là nhơ bẩn và không trong sạch.

Như: Tài sắc làm cho lòng người mê đắm, khiến chơn thần càng bị nhơ trược.

Ðã phá đức tín ngưỡng của chúng sanh, lại làm cho nhơn sanh bị nhơ trược.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

NHỚ

1.- Nhớ là giữ lại trong trí điều đã cảm biết, nhận biết để rồi sau đó có thể tái hiện được. Như: Nhắc cho nhớ, nhớ kỹ lời thầy dạy.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Thầy cấm không cho dị nghị việc người, nhứt là đạo hữu của các con thì đừng phạm đến kẻo tội nghiệp. Chi chi cũng phải nhớ quyết rằng có Thầy trong đó.

Vuốt dạ riêng đau người một cảnh,

Dằn thương cố nhớ buổi chung tình.

(Bát Nương Giáng Bút).

Nhớ con cháu còn lâu kiếp sống,

Dầu gặp hình như bóng sá chi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Nhớ là tái hiện lại trong trí điều trước đó đã từng cảm biết, hay kinh nghiệm biết. Như: Bây giờ mới nhớ ra, nhớ lại ngày thơ ấu, sực nhớ đến.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có đoạn: Thầy nhớ xưa, kẻ mộ Ðạo chịu ngàn cay muôn đắng, biết có người mà chẳng biết nhọc mình, giày gai áo bả, đội nguyệt mang sao, gió trước lọt chòi tranh, mưa sau hư giậu lá, bần hàn chẳng quản, tay trắng dìu người, một mảy không bợn nhơ, mới có thể lập ngôi cho mình đặng; có đâu lấy của lấn nhân, mượn quyền xua đức, kẻ chân thành lánh mặt, đứa tà mị áp vào, rồi cúm núm mang hơi tà, lại đua nói rằng thờ Chánh giáo. Thầy hỏi: Ai chứng cho?

Mày xanh khá nhớ cơn đầu bạc,

Ngọc trắng đừng cho nhiễm bợn bùn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Đừng nhạo già thờ cha cúng tổ,

Già ngậm ngùi nhớ thuở giỗ rau dưa.

(Phương Tu Đại Đạo).

Dầu mình có giàu sang ức vạn,

Nhớ lúc cha bạc tháng tiền ngày.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Nhớ còn có nghĩa là tưởng nghĩ đến. Như: Nhớ quê hương, nhớ gia đình, nỗi nhớ niềm thương.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có đoạn: Kẻ phàm dầu ly hương thuở ấu xuân đi nữa, lòng hằng hoài vọng. Chí Thánh dầu bị đoạ trần, lòng hỡi còn nhớ hoài nơi Tiên cảnh. Nếu chẳng vậy, ai còn dám ưng thuận hạ thế cứu đời?

Bước rẽ ngùi trông cơn ác xế,

Lời trao buồn nhớ lối trăng thinh.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

NHỚ NHUNG

Nhớ: Có nghĩa là tưởng nghĩ đến.

Nhớ nhung là nhớ đến, nghĩ đến một cách da diết, không nguôi.

Như: Suốt đêm nằm nhớ nhung với những kỹ niệm đau buồn, bao nhiêu nhớ nhung đều tan biến.

Nỗi đau đớn hình thù tiều tụy,

Nỗi nhớ nhung rầu rĩ ái hoài.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

NHỚ THƯƠNG

Nhớ: Hiện trong trí những điều trước đó đã từng cảm biết, nhận biết. Thương: Yêu mến.

Nhớ thương, như chữ “Thương nhớ”, là nhớ đến, tưởng đến người thương yêu, hoặc người đã lìa xa.

Thánh giáo Thầy có dạy: Các con có biết tình thân ái nhớ thương của Thầy là đến chừng nào? Bây giờ các con đã nặng mang xác tục mà còn thương Thầy dường đó, còn Thầy là thiêng liêng mà lại kém sút bao giờ.

Xem: Thương nhớ.

Giao thân cứ gần kề kẻ thiết,

Ép nhớ thương làm điếc làm đui.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Hễ là trí, ấy là ngu,

Càng say âu yếm càng sầu nhớ thương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NHỜ

Nhờ là cậy, mượn, nương tựa. Như: Nhờ ơn, nhờ mua hộ quyển sách, nhờ thế lực của kẻ mạnh.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Tà đã thắng Chánh thì con làm thế nào đương cự cho kham. Con là đứa Thầy đã tin cậy hồi mới ban sơ, tuy bước đường cũng lắm lúc sai lầm, nhưng nhờ các Ðấng Thiêng liêng thương mà chỉ dẫn, nên bước vừa trờ tới, kịp lúc trở ra.

Sáng đường nhờ có bóng Trời soi,

Ðạo đức để tâm chớ đổi dời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Con nhờ thầy công danh mới toại,

Như nhờ cha mới giỏi hình dung.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NHỜ CẬY

Nhờ: Yêu cầu người khác làm giúp cho công việc gì. Cậy: Nương, nhờ giúp đỡ.

Nhờ cậy là dựa vào sự giúp đỡ của người khác.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có day: Cơ phục hưng có tiến triển cùng không, chư hiền hữu cũng đã thấy và cứ như tánh cách đứng dừng mãi, hoặc bước lui thì nhơn sanh không trông mong nhờ cậy chi được.

Chí nam nhi dầu đặng lẫy lừng,

Cũng nhờ cậy dưới chân nâng bởi vợ.

(Phương Tu Đại Đạo).

Chí muốn cao bay trong một kiếp,

Giờ đây nhờ cậy các anh tài.

(Hộ Pháp Giáng Bút).

 

 

NHỢ

Nhợ nghĩa như chữ “Lợ”, là có vị không ra mặn cũng không ra ngọt, thường khó ăn. Như: Nhờ nhợ (lờ lợ).

Nhợ còn dùng để chỉ sợi dây nhỏ, chỉ xe thành sợi, dùng để may hoặc buộc. Như: Buộc nhợ vào cần câu, đầu dây mối nhợ.

Ngồi đợi nóng lòng đừng rút nhợ,

Cả ngày buồn giựt chẳng nên trò.

(Đạo Sử).

 

 

NHỜM

Nhờm là gớm, ghê tởm, không muốn đụng đến, hoặc có cảm giác khó chịu và buồn nôn vì bẩn thỉu.

Như: Nhờm gớm, nhờm tay, nhờm miệng, quán xá thấy bắt nhờm ai dám vô ăn.

Ao rộng lớn chứa đầy huyết phẩn,

Xô người vào, lội lặn nhờm thay!

(Kinh Sám Hối).

Đừng sanh con đời thấy bắt nhờm,

Tránh nòi dữ bằng hơn tránh rắn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHƠN

1.- Nhơn, như chữ “Nhân 人”, là người. Như: Nhơn dân, nhơn luân, cá nhơn, cao nhân.

Trong lễ Vía Ðức Chí Tôn đêm mùng 8 tháng Giêng Tân Sửu (Dl. 22/2/1961), Đức Thượng Sanh có giảng: Khi ra ngoài xã hội, đối với người đời, về mặt xã giao cùng lúc xử sự, phần cá nhơn của người Chức sắc cũng phải được trong sạch trong mọi phương diện: không háo thắng, không khoe mình, lúc nào cũng lễ độ, khiêm tốn, hoà hưởn, nhún nhường, sẵn lòng thi ân, tế chúng, thế nào cho mọi người đều mến yêu, kính nể, như vậy mới thâu phục nhơn tâm, đem thắng lợi dễ dàng về cho mình khi thật hành nhiệm vụ trên đường phổ độ.

Thanh thanh nhựt nguyệt Cửu Trùng Thiên,

Hiện xuất cao nhơn tại nhãn tiền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Phật Pháp khuyến nhơn quy mỹ tục,

Nho Tông phục thế hưởng thuần phong.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Nhơn, như chữ “Nhân 仁”, là có đức tính hay thương người.

Như: Lòng nhơn ái, tính nhơn hậu, người đàn bà nhơn từ, thực thi nhơn nghĩa.

Vui nhơn vui Ðạo lại vui thiền,

Vui một bước đường một bước yên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nhơn là đầu hết các hành tàng,

Cũng bởi vì nhơn, dân hoá quan.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Giúp thế nhiều phen con sẵn dạ,

Nhơn là một nết của Thầy ưa.

(Đạo Sử).

3.- Nhơn, như chữ “Nhân 因”, là duyên cớ, gốc để sinh ra cái khác.

Như: Nhơn bị bệnh tôi đã xin nghỉ việc, sống ở thế gian phải biết sợ luật nhơn quả.

Nhơn bởi ít công lo phận sự,

Mình nên chẳng rán đến cầu ai.

(Đạo Sử).

 

 

NHƠN CÁCH

Hay “Nhân cách”.

Nhơn cách, như chữ “Nhân cách 人 格”, là tư cách và phẩm chất con người. Như: Giữ gìn nhơn cách trong sạch, nhơn cách anh ấy thật hoàn toàn.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Ngày nào tiếng trống giác mê, hồi chuông cảnh tỉnh có đủ mãnh lực dìu dắt bước đường của phần đông theo bước đường đạo đức; ngày nào trên con đường thống nhứt giang sơn, quốc dân Nam những kẻ có trách nhậm lớn nhỏ trong xã hội thấy lợi nghĩ đến nghĩa, thấy nguy nghĩ đến dân, tận tuỵ vì bổn phận, bỏ hẳn nhơn cách đáng khinh, theo Thiên lương sáng suốt, đồng một lòng làm cho cạn nguồn đau khổ của giống nòi, trụ lại một quốc hồn mạnh mẽ, thì ngày ấy chủ-nghĩa dân chủ mới rạng soi, hạnh phúc quốc dân mới mong mỏi!

Thanh thế con người toan cải ác,

Tùng theo nhơn cách đặng phong Thần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NHƠN CẦM

Hay “Nhân cầm”.

Nhơn (nhân): Người, loài người. Cầm: Loài chim, ở đây nói chung là cầm thú.

Nhơn cầm, như chữ “Nhơn cầm 人 禽”, là loài người và loài chim, ý chỉ chung loài người và loài cầm thú, tức chỉ chúng sanh.

Lòng cảm xót dương trần lận đận,

Ra oai linh tiếp dẫn nhơn cầm.

(Xưng Tụng Công Đức).

 

 

NHƠN CHỦNG

人 種

Hay “Nhân chủng”.

Nhơn (nhân): Người. Chủng: Chủng tộc, nòi giống.

Nhơn chủng là các chủng tộc của loài người, hay các nòi giống của con người.

Trên thế giới hiện nay có bốn chủng tộc gồm người da trắng, da vàng, da đen và da đỏ.

Hội Nguơn hữu Chí Linh huấn chúng,

Đại Long Hoa nhơn chủng hoà ki.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

Quái linh nhơn chủng còn lưu dấu,

Long thể thế gian mãi dựng xây.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

NHƠN DỤC

Hay “Nhân dục”.

Nhơn (Nhân): Người. Dục: Lòng ham muốn.

Nhơn dục, như chư “Nhân dục 人 欲”, là lòng ham muốn về vật chất của con người.

Nhơn dục của chúng sanh thường ham muốn về ngũ dục, như sắc đẹp, thanh âm, ăn ngon, danh vọng, tiền tài...

Lánh đời khỏi tạo trái oan,

Dẹp lòng nhơn dục mưu toan lợi quyền.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

NHƠN DUYÊN

1. NHƠN DUYÊN

Hay “Nhân duyên”.

Nhơn (nhân): Căn do. Duyên: Mối dây liên lạc từ việc này sang việc kia.

Theo kinh Phật, nhứt thiết sự vật đều do “nhân duyên 因 緣” hoà hợp mà sinh ra. Nhân là yếu tố chính, sinh ra sự vật, duyên là yếu tố phụ, trợ giúp cho sự vật được hình thành. Như khi trồng lúa, hạt giống là nhân, còn nắng gió, đất nước, cày bừa... là duyên. Nhân duyên có hoà hợp mới sinh ra cây lúa.

Kinh nhà Phật có câu: Dục tri tiền thế nhân, kim sinh thụ giả thị 欲 知 前 世 因, 今 生 受 者 是, nghĩa là muốn biết cái nhân trước thế nào thì hãy xem đời nay được hưởng thế nào.

Côn trùng còn đoạt được nhơn duyên,

Ngũ bộ Lôi công định sát liền.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Năm Ðạo nhiệm mầu răn thế giái,

Chín Trời yếu trọng độ nhơn duyên.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Tâm giác làm nên Phật, Thánh, Tiên,

Người tu noi đấy đoạt nhơn duyên.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

2. NHƠN DUYÊN

Hay “Nhân duyên”.

Nhơn (nhân): Cưới gả, nhà trai là nhân, nhà gái là hôn. Duyên: Mối dây ràng buộc.

Nhơn duyên, như chữ “Nhân duyên 姻 緣”, là mối dây ràng buộc giữa người nam và người nữ, ý chỉ duyên phận vợ chồng.

Như: Hai người kết thành vợ chồng là nhơn duyên tiền định.

Những ngờ nước thấm đầu non,

Nào hay trăng khuyết hao mòn nhơn duyên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

3. NHƠN DUYÊN

Hay “Nhân duyên”.

Nhơn: Người. Duyên: Mối dây ràng buộc.

Nhơn duyên, như chữ “Nhân duyên 人 緣”, là người có mối dây ràng buộc định sẵn từ trước, ý nói người có duyên phần với Phật hay với việc tu hành.

Như: Nhờ nhơn duyên mà ngày hôm nay gặp đặng mối đạo Trời.

Bát Nhã từ đây vững lái thuyền,

Tuông pha khổ hải độ nhơn duyên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NHƠN ĐẠO

Hay “Nhân đạo”.

Nhơn (nhân): Người. Đạo: Con đường, tôn giáo.

Nhơn đạo, như chữ “Nhân đạo 人 道”, là đạo làm người, là những cách cư xử của con người ở thế gian, nên cũng được gọi là Thế đạo.

Nhân đạo là những nguyên tắc và bổn phận mà con phải hành xử trong đời sống hằng ngày đối với gia đình và xã hội. Nhờ có nhân đạo, gia đình và xã hội mới có tôn ty, trật tự, phẩm giá con người mới xứng đáng là loài thượng đẳng trong muôn loài.

Buông trôi ví chẳng tròn nhơn đạo,

Còn có mong chi đến đạo Trời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Xong bề nhơn đạo tua gìn trước,

Trước cửa không rồi mối đạo thông.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Rồi chưa nhơn đạo đến cầu tu,

Tu ấy nặng nề lắm công phu.

(Đạo Sử).

 

 

NHƠN ĐỨC

Hay “Nhân đức”.

Nhơn (nhân): Lòng thương người. Đức: Đạo đức.

Nhơn đức, như chữ “Nhân đức 仁 德”, là nói người có lòng nhơn từ đạo đức.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển,Thánh giáo Thầy có câu: Lương tâm của các con là một khiếu thiêng liêng của Thầy ban để sửa trị riêng các con trong đường tội lỗi và ban thưởng trong việc nhơn đức.

Trước vốn thương sau cũng thương,

Một lòng nhơn đức giữ cho thường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Xét quấy lo tròn nhơn đức trước,

Độ đời mới vẹn nghĩa ân sau.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

 

 

NHƠN GIAN

Hay “Nhân gian”.

Nhơn (nhân): Người. Gian: Khoảng.

Nhơn gian, như chữ “Nhân gian 人 間”, là cõi con người đang ở, đang sống, tức cõi đời. Đồng nghĩa với thế gian, trần gian.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Dân Juif các vì Giáo Chủ buổi nọ, luôn các vua chúa Palestine, thấy Ðức Chúa Jésus Christ thuyết Ðạo Giáo có một chí hướng chơn truyền phản khắc với tôn chỉ của họ, họ oán ghét, tìm phương giết Chúa, đến đầu cáo với César rằng: “Người ấy mưu cuộc phản loạn đem bọn Juif ra khỏi sự thống trị của chế độ Romain”, nhưng họ cáo đủ thứ cũng không được, vì Thánh đức của Chúa không thể phạm vào được. Họ lại tìm cách bài bác Luật Ðạo, tạo một ban tuyên truyền làm cho nhơn gian sợ di hại liên lụy không dám gần Chúa.

Cứu thế quyết ngưng quyền Ðịa phủ,

Ðộ đời cố tạo phước nhơn gian.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðời qua thấm thoát cõi nhơn gian,

Sớm nở hoa kia, chiều vội tàn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Từ nay ra khỏi chốn nhơn gian,

Thuỷ tú sơn tinh thích chí nhàn.

(Đạo Sử).

 

 

NHƠN HOÀ

Hay “Nhân hoà”.

Nhơn (nhân): Người. Hoà: Thuận.

Nhơn hoà, như chữ “Nhân hoà 人 和”, là mọi người đều vui vẻ hoà thuận.

Sách Mạnh Tử có câu: Địa lợi bất như nhân hoà 地 利 不 如 人 和, nghĩa là lợi về đất đai không bằng người dân hoà thuận.

Ấy là địa lợi nhơn hoà,

Thiên thời đã sẵn nước nhà văn minh.

(Thơ Thái Đến Thanh).

Nhơn hoà, Ðịa lợi, Thiên thời,

Hạ Nguơn hầu mãn cơ Trời đổi thay.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

NHƠN LOẠI

Hay “Nhân loại”.

Nhơn (nhân): Người. Loại: Loài.

Trên Địa cầu này có muôn loài vật sinh sống, trong đó có người là loài cao trọng hơn cả, nên gọi là “Nhân loại 人 類”, nghĩa là loài người.

Thánh giáo Thầy có câu: Thử nghĩ, lập một nước còn dễ hơn dạy một người dữ đặng hiền, huống chi trong Tam Kỳ Phổ Ðộ nầy, các con phải độ rỗi cả nhơn loại khắp cả Năm Châu, thì trách nhậm ấy lớn lao là bực nào.

Vì thương nhơn loại cực lòng Ta,

Ta hỏi nhơn sanh có biết à?

(Đạo Sử).

Nhơn loại điêu linh cũng bởi tiền,

Tiền làm lắm kẻ phải thành điên.

(Thơ Đức Hộ Pháp).

Biết Trời chủ tể sanh nhơn loại,

Mới biết quy y hưởng phước lành.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

NHƠN LUÂN

Hay “Nhân luân”.

Nhơn (nhân): Người. Luân: Luân thường, là phép tắc ở đời đúng theo lẽ thường.

Nhơn luân, như chữ “Nhân luân 人 倫”, là đạo lý bình thường của con người.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Nhơn luân giữ trọn, ấy là mối đạo nhân, lo Thánh đức trau lòng là phương thoát tục.

Xem: Nhân luân.

Nối hương lửa nhơn luân đạo trọng,

Con gìn câu chết sống trọn nghì.

(Kinh Thế Đạo).

Chàng dầu đặng thảnh thơi cảnh trí,

Hộ dâu con giữ kỹ nhơn luân.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

NHƠN LUÂN CƯ XỬ CÙNG ĐỜI

Nhơn luân cư xử cùng đời là lấy đạo nhơn luân đem cư xử với người đời.

Con người sinh ra ai cũng được Chí Tôn ban cho một điểm Linh quang rất Thiêng liêng, Thánh thiện, nhưng vì thân xác con người có xu hướng theo vật chất, nên thất tình, lục dục là những tên giặc hằng ở bên con người tìm cách sai khiến, xúi giục tâm chạy theo dục vọng. Vì thế, những bậc Thánh nhân, hiền triết hay các tôn giáo đều đem những phép tắc hay giáo điều dạy cho con người phải biết cách cư xử với nhau cho hợp nhơn luân, đạo đức trong trường thế sự.

Chính ngày xưa Mạnh Tử cho rằng Thánh nhân với nguời thường cũng không khác nhau. Có người bảo ông rằng: Vua nước Tề sai người đi dò xem ông có điều gì khác hơn người không. Ông nói rằng: Hà dĩ dị ư nhân tai, Nghiêu Thuấn dữ nhân đồng nhĩ 何 以 異 於 人 哉, 堯 舜 與 人 同 耳, nghĩa là ta có gì khác người đâu, các bậc vua Thánh như Nghiêu, Thuấn cũng như mọi người vậy. Thực vậy, vua Nghiêu, Thuấn cũng là người như chúng ta, đều bẩm thụ một lý, một khí, cùng một tâm như mọi người cả, chỉ có điều là những bậc ấy khéo lấy cái bản tâm thiện lành để cư xử trong gia đình, xã hội. Nếu ai cũng giữ được như thế thì chắc là chẳng khác gì những bậc ấy.

Thân vận động trong trường thế sự,

Đạo nhơn luân cư xử cùng đời.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

NHƠN LỰC

Hay “Nhân lực”.

Nhơn (nhân): Người. Lực: Sức.

Nhơn lực, như chữ “Nhân lực 人 力”, là sức lực của con người về mặt lao động sản xuất.

Như: Nguồn nhân lực dồi dào, huy động nhơn lực.

Thánh giáo Đức Chí tôn có dạy: Thầy cũng đau lòng mà nắm cơ huyền vi Tạo hoá. Thầy hằng rõ chí hành tàng chơn đạo của các con, nhưng nhơn lực khó lướt qua Thiên cơ, các con cứ đường ngay bước tới, đợi ngày sẽ lập chút công trình để lướt khỏi lối gai chông, vẹt ngút mây xanh, tìm vào cảnh thiêng liêng mà rửa sạch bụi hồng.

Trời và người hiệp một đặng lập Đời Thánh Đức, nhơn lực phải tùng Thiên lực để đạt cơ mầu nhiệm.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

NHƠN LỰC THIÊN Ý

Hay “Nhân lực Thiên ý”.

Nhơn (nhân) lực: Sức của con người. Thiên ý: Ý Trời, lòng Trời.

Nhơn lực Thiên ý, như chữ “Nhân lực Thiên ý 人 力 天 意”, là sức người và ý Trời, ý muốn nói mọi việc muốn được thành công đều do sức của con người và lòng Trời hiệp thành.

Còn Toà Thánh thì Thầy muốn cho có nhơn lực hiệp cùng Thiên ý, ấy là hạnh của Thầy, các con nên xem gương mà bắt chước.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

NHƠN NÀO QUẢ NẤY

Hay “Nhân nào quả nấy”.

Nhơn (nhân) nào: Ý chỉ gieo nhân gì. Quả nấy: Nhận quả nấy.

Nhơn nào quả nấy ý nói mình gieo nhân gì thì sẽ gặt quả nấy, tức là làm lành được lành, làm dữ gặp dữ.

Luật nhơn quả chắc chắn không bao giờ sai, chỉ có thời gian báo ứng lâu hay mau mà thôi.

Nhân nào quả nấy, cũng như kinh Phật dạy: Chủng qua đắc qua, chủng đậu đắc đậu 種 瓜 得 瓜, 種 豆 得 豆, nghĩa là trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu. Người trồng dưa mà được đậu thì xưa nay không bao giờ có vậy.

Trả vay vay trả liền liền,

Nhơn nào quả nấy, nghiệp duyên buộc mình.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Nhơn nào quả nấy chẳng rời,

Ðòn cân công luật Phật Trời thưởng răn.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

NHƠN NGHĨA

Nhơn (nhân): Lòng thương người. Nghĩa: Đạo làm việc phải.

Nhơn nghĩa, như chữ “Nhân nghĩa 仁 義”, là lòng thương người và sự đối xử với người theo điều phải. Như: Người tu lấy nhơn nghĩa ra xử thế.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Sứ mạng của Ðạo là đem sự yên tịnh lại cho tâm hồn, đem nhơn nghĩa và sự thương yêu lại cho Ðời, dìu dắt kẻ lầm lạc quay về đường ngay nẻo chánh.

Xem: Nhân nghĩa.

Đau khổ rán gìn nhơn nghĩa vẹn,

Tang thương chờ hưởng huệ ân riêng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

U hiển không từ nhơn nghĩa cũ,

Gặp nhau xin phó bóng thiều quang.

(Đạo Sử).

Ví biết trai nhơn nghĩa giữ tròn,

Để liếm láp sợ mòn chi chút gái.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHƠN PHẨM

Hay “Nhân phẩm”.

Nhơn (nhân): Người. Phẩm: Thứ bực cao thấp, giá trị tốt xấu.

Nhơn phẩm, như chữ “Nhân phẩm 人 品”, là thứ bực của con người.

Nhơn phẩm còn có nghĩa là phẩm chất và giá trị của một con người.

Thánh giáo Chí Tôn dạy: Cả kiếp luân hồi thay đổi từ trong nơi vật chất mà ra thảo mộc, từ thảo mộc đến thú cầm, loài người phải chịu chuyển kiếp ngàn năm, muôn muôn lần mới đến địa vị nhơn phẩm.

Nhơn phẩm bất phân Tiên Phật vị,

Ðào trang thỉnh nhập cửu quyền nhiên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ấy nhơn phẩm do trong Thiên Đạo,

Dụng cang thường khuyến bảo lê dân.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

NHƠN QUẢ

Nhơn (nhân): Nguyên nhân. Quả: Trái, kết quả.

Nhơn quả, như chữ “Nhân quả 因 果”, là nguyên nhân và kết quả. Theo Phật, nguyên nhân có từ kiếp trước tạo ra kết quả ở kiếp sau.

Thánh giáo Bát Nương Diêu Trì Cung có câu: Vậy thì chính lời nhiều tôn giáo, nơi ấy là những chốn phạt tù những hồn vô căn vô kiếp, nhơn quả buộc ràng, luân hồi chuyển thế, nên gọi là Âm quang, đặng sửa chữ Phong Ðô Ðịa phủ của mê tín gieo truyền, chớ kỳ thật là nơi để cho các Chơn hồn giải thân định trí.

Nuốt tiếng than đôi hàng lã chã,

Tưởng đến điều nhơn quả mà đau.

(Kinh Thế Đạo).

Nhiều nhơn quả trước phải đền nay,

Chẳng gỡ cho kham cứ nhắc hoài.

(Đạo Sử).

 

 

NHƠN NÀO QUẢ NẤY

Nhơn nào: Nghĩa đen là loại hạt nào, hay nguyên nhân nào. Quả nấy: Kết quả nấy.

Nhơn nào quả nấy là gieo giống gì sẽ gặt quả nấy, ý nói tạo nhơn nào sẽ gặp quả báo nấy.

Sống ở thế gian, có nhiều người không suy xét lẽ thiệt hơn, cho rằng nhân quả là phi lý, bởi vì họ chỉ biết sống có thân xác và vật chất mà thôi, chứ không tin con người có linh hồn. Đối với họ, con người khi chết là hết, không có nghiệp báo, nhơn quả gì cả. Vì vậy, họ chỉ sống cho hiện tại, không lo sợ về việc báo ứng, cứ lòng hung hăng mà làm điều dữ. Đến chừng quả báo xảy đến trước mắt thì than ôi! Tội lỗi đã dẫy đầy, khiến cho con cháu cũng phải chịu vương mang.

Trong Kinh Sám Hối cho hạng người nầy là kẻ lỗ mãng nên mới có câu:

Kẻ lỗ mãng chê bai khinh dể,

Rằng thác rồi còn kể ra chi.

Nhãn tiền trả quả tức thì,

Tội dư con cháu một khi đền bồi.

Với những người nầy lúc nào họ cũng tưởng quấy rằng chết là hết tất cả, chẳng có linh hồn, không luân hồi nhơn quả, cho nên họ chẳng ngại ngùng, sợ sệt việc quả báo, cứ lòng hung hăng làm điều ác đức.

Vì vậy Kinh Sám Hối mới có lời khuyên:

Chớ quấy tưởng luân hồi phi lý,

Mà hung hăng chẳng nghĩ chẳng suy.

Họ nghĩ hiện tại thân này hành động tạo nghiệp thiện hay ác, mai kia thân hoại rồi nghiệp cũng mất đi. Họ không hiểu câu “Nhơn nado quả nấy” và Phật đã thường nói nghiệp theo con người như bóng với hình vậy. Chúng sanh sở dĩ luân hồi sinh tử là do nghiệp. Nghiệp là động cơ lôi kéo chúng sanh cứ quanh lên lộn xuống trong sáu cảnh giới, gọi là luân hồi lục đạo.

Lời chứng minh của Đức Phật trong câu chuyện sau đây cho ta thấy rằng có luân hồi và chính nghiệp lực đã dẫn dắt con người trong vòng sinh tử.

Chuyện kể như sau:

Xưa có Ma Ha Nam, là em chú bác của Đức Phật. Ma Ha Nam theo Phật tu hành mà không hiểu sau này mình sẽ ra sao, nên hỏi Đức Phật rằng: Bạch Thế Tôn, bình thường con tu hành, giả sử con vì một tai nạn nào đó đưa đến con phải chết, thì sau khi chết con sẽ đi về đâu?

Đức Thế Tôn không trả lời thẳng, mà đưa ra câu hỏi ví dụ rằng: Có một cây to, mọc từ dưới đất lên cao, thân cây nghiêng về một phía. Vậy lúc đốn cây đó, thân sẽ ngã về bên nào?

Ma Ha Nam trả lời: Cây sẽ ngã về phía thân cây đã nghiêng.

Phật dạy: Như vậy, bình thường ông làm điều lành, khi chết tuy tâm thần bị hỗn loạn, nhưng nghiệp Thiện đã tích lũy sẽ hướng ông đến chỗ lành, đó là chơn lý vậy.

Trả vay, vay trả liền liền,

Nhơn nào, quả nấy, nghiệp duyên buộc mình.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Nhơn nào quả nấy chẳng rời,

Ðòn cân công luật Phật Trời thưởng răn.

(Đại Thứa Chơn Giáo).

 

 

NHƠN QUẦN

Hay “Nhân quần”.

Nhơn (nhân): Người. Quần: Bầy, đông.

Nhơn quần, như chữ “Nhân quần 人 群”, là nhơn loại, chỉ chung tập thể những người cùng sống trên đời.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy: Há chẳng phải một điều phước hạnh lớn lao hơn mọi sự sao? Há chẳng phải là một nơi giải thoát chung cho nhơn quần xã hội sao? Các con hiểu chăng?.

Xem: Nhân quần.

Thiên Ðịa Càn Khôn kiêm vạn loại,

Nhơn quần thảo mộc cập chư hoa.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Khá nhớ đạo nhơn luân là trượng,

Phép gia đình có ảnh hưởng đến nhơn quần.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHƠN SĨ

Hay “Nhân sĩ”.

Nhơn (nhân): Người. Sĩ: Chỉ người có học thức.

Nhơn sĩ, như chữ “Nhân sĩ 人 士”, là chỉ người có học thức, có kiến thức rộng.

Như: Thân hào nhơn sĩ.

Nhưng các bạn cũng đủ thẩm quyền chọn lựa nhơn sĩ, việc ấy không phải khó vậy.

(Thánh Giáo Hộ Pháp).

 

 

NHƠN SANH

Hay “Nhân sinh”.

Nhơn (nhân): Con người. Sanh (sinh): Sống.

Nhơn sanh, như chữ “Nhân sinh 人 生”, là chỉ cuộc sống con người, chỉ chung nhơn loại.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có dạy: Các con phải biết trong Trời Ðất, nhơn sanh là con quý của Thầy, nên Thầy hằng để ý lo lường cho chúng con biết hối ngộ, hầu chung hưởng phước lành.

Chức Giáo Hữu ban lo đạo đức,

Phải truyền chơn Ðạo độ nhơn sinh.

(Đạo Sử).

Vì thương nhơn loại cực lòng Ta,

Ta hỏi nhơn sanh có biết à?

(Đạo Sử).

Thương vạn vật cũng bì đồng loại,

Thương nhơn sanh chẳng mỏi lòng thương.

(Thất Nương Giang Bút).

 

 

NHƠN SỰ

Hay “Nhân sự”.

Nhơn (nhân): Người. Sự: Việc.

Nhơn sự, như chữ “Nhân sự 人 事”, là công việc của con người, tức là việc người, việc đời.

Nhơn sự còn có thể hiểu là trách nhiệm của con người đối với gia đình và xã hội.

Thánh giáo Thầy dạy: Trong các con có nhiều đứa lầm tưởng, hễ vào Ðạo thì phải phế hết nhơn sự, nên chúng nó ngày đêm mơ tưởng có một điều rất thấp thỏi là vào một chỗ u nhàn mà ẩn thân luyện đạo.

Chí từ huệ giúp an lê thứ,

Thông rõ đời nhơn sự kiết hung.

(Xưng Tụng Công Đức).

Vui ngàn thế tải ngăn nhơn sự,

Vui một màu Thiên đóng Cửu tuyền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Dừng chơn ngó lại miền nhơn sự,

Thương kẻ lo đời chẳng rảnh rang.

(Đạo Sử).

 

 

NHƠN TÀI

Hay “Nhân tài”.

Nhơn (nhân): Người. Tài: Khả năng đặc biệt để làm một việc gì đó.

Nhơn tài, như chữ “Nhân tài 人 才”, là người có tài năng xuất sắc.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Mở rộng trường thi công quả để tiếp đón nhơn tài, Hội Thánh chỉ mong ước quý vị thấm nhuần đạo đức, lập chí tu thân, trước thì lo tròn bổn phận làm người, sau nữa có thể thi thố tài năng giúp đời trợ Ðạo tuỳ theo địa vị hoàn cảnh của mỗi người.

Một đức đủ nên Trang Tử trước,

Nên hiền đâu dụng cũng nhơn tài.

(Đạo Sử).

Nhơn tài nảy nở tuy trăm bụng,

Dân trí biến sanh bởi một bầu.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

NHƠN TÂM

Hay “Nhân tâm”.

Nhơn (nhân): Người. Tâm: Lòng.

1.- Nhơn tâm, như chữ “Nhân tâm 人 心”, là lòng người tức là những thứ như tình cảm, suy tư, dục vọng của con người.

Thánh giáo Thầy có câu: Còn cái địa vị cao trọng, nó làm cho nhơn tâm ganh gổ. Con phải lấy Phật tâm con mà dòm ngó đám sanh linh bị phạt, luân hồi chưa dứt, thì tưởng đến Thầy mà cam chịu nhục nhã, lòng từ bi có vậy mới xứng đáng là tôi con Thầy.

Nhơn tâm gầy khối đều nên mặt,

Tình thế trau nên kiểu vỡ đầu.

(Quyền Giáo Tông).

2.- Theo Tôn Giáo, nhân tâm là cái tâm của con người. Đây chỉ cái chơn tâm, theo Nho thì gọi lương tâm, Cao Đài gọi Thiên lương.

Chân tâm tức là tâm chân thật, tâm nầy vốn thanh tịnh, an nhiên tự tại, không bị phiền não, vọng tưởng, vọng thức chi phối, che mờ. Vì quên nó, chúng ta cố chấp nội tâm vọng tưởng là tâm mình, nên hằng ngày chúng ta chỉ sống với tâm sanh diệt, đối đãi phân biệt. Khi chúng ta dứt sạch hết phiền não, vọng tưởng rồi thì chân tâm Phật tánh sẽ được hiển lộ.

Khai nhơn tâm tất bổn,

Ư đốc thân chi hiếu.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

NHƠN TÂM SANH NHỨT NIỆM

Hay “Nhân tâm sinh nhất niệm”.

Nhơn (nhân) tâm: Tâm của người. Sanh (sinh): Sanh ra. Nhứt (nhất) niệm: Một tưởng nghĩ, ý nghĩ.

Nhơn tâm sanh nhứt niệm, như chữ “Nhân tâm sinh nhất niệm 人 心 一 念” là lòng người sinh ra một ý nghĩ, ý muốn nói Trời người tương cảm.

Do câu “Nhân tâm sinh nhất niệm, thiên địa tất giai tri 人 心 一 念, 天 地 必 皆 知” nghĩa là trong lòng con người chỉ sinh ra một ý nghĩ thì trời đất đều biết rõ.

Nền Ðạo là một điều cảm ứng rất mầu nhiệm vô cùng, có câu: “Nhơn tâm sanh nhứt niệm, Thiên địa tất giai tri”.

(Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp).

 

 

NHƠN TIÊN

Hay “Nhân Tiên”.

Nhơn (nhân): Người, là một trong tam tài: Thiên địa nhơn. Tiên: Bậc Tiên.

1.- Phẩm Tiên có ba thừa phẩm: Thấp nhất là Địa Tiên, kế là Nhơn Tiên, trên nữa là Thiên Tiên. Cách chia nầy là căn cứ theo thứ tự Tam tài là Địa, Nhơn, Thiên.

Như vậy, Nhơn Tiên là phẩm đứng trên hàng Địa Tiên và dưới hàng Thiên Tiên.

Trong Cửu Trùng Đài có Đầu Sư thì đối phẩm Địa Tiên, Chưởng Pháp thì đối phẩm Nhơn Tiên, Giáo Tông thì đối phẩm Thiên Tiên.

(Pháp Chánh Truyền CG).

2.- Nhơn Tiên, như chữ “Nhân Tiên 人 仙”, có nghĩa là bực Tiên ở tại nhơn gian.

Còn như biết khôn thì ẩn núp tại thế mà làm một bậc Nhân Tiên thì kiếp đoạ trần cũng còn chưa mãn.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

NHƠN TÌNH

Hay “Nhân tình”.

Nhơn (nhân): Người. Tình: Tình cảm.

Nhơn tình, như chữ “Nhân tình 人 情”, là tình cảm người đối với người.

Thánh giáo Chí Tôn có câu: Theo ý Thầy thì mỗi khi đi phổ thông Chơn đạo xứ khác, cần phải có một đứa cho đủ tư cách, biết Ðạo cùng lịch lãm nhơn tình thế sự đi thì mới mau thành tựu.

Nhơn tình ví chẳng mưu thâu phục,

Thế giới mong chi phép độ lường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Mở mắt thiên lương dìu chủng tộc,

Nghĩa nhân âu đổi lấy nhơn tình.

(Lý Giáo Tông Giáng).

 

 

NHƠN TÌNH THẾ THÁI

Hay “Nhân tình thế thái”.

Nhơn (nhân) tình: Tình người. Thế thái: Tình trạng trong thế gian.

Nhơn tình thế thái, như chữ “Nhân tình thế thái 人 情 世 態”, tức là trạng thái tình người ở nơi thế gian.

Người xưa thường cho rằng: Trạng thái tình cảm của con người thường đổi thay theo tình đời ấm lạnh, nên gọi là “Thế thái nhân tình”.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Hại thay! Tinh thần của nhơn tình thế thái, không ai tìm tòi, không ai bươi móc đem chơn lý cho chúng ta ngó thấy, chẳng hề khi nào phương pháp tiểu nhân dầu giấu thiên hạ một ngày không thấy, hai ngày không thấy, dầu giấu thế gian thế nào cũng lòi ra, không phương giấu đặng, che đặng.

Xem: Thế thái nhân tình.

Nhơn tình thế thái lẽ đương nhiên,

Khéo xả giao không khỏi trách phiền.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

NHƠN TỪ

Hay “Nhân từ”.

Nhơn (nhân): Có đức tính hay thương người. Từ: Hiền lành.

Nhơn từ, như chữ “Nhân từ 仁 慈”, là có lòng thương yêu người và có tính hiền lành.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Thượng Nguơn là Nguơn của Phật, Thánh trị không được thì Phật đến độ rỗi, cũng như hễ có người nghiêm khắc thì có người nhơn từ, hễ trị không được thì cũng có thể dỗ dành khuyên lơn mới được, nên Nguơn Tứ Chuyển đúng theo chơn pháp thuộc về của Phật đó vậy.

Vợ nhơn từ lê thứ đều bình,

Dẫu tội trọng cầu xin chồng chế giảm.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NHƠN TƯỚC

Hay “Nhân tước”.

Nhơn (nhân): Người. Tước: Chức tước.

Nhơn tước. như chữ “Nhân tước 人 爵”, là chức tước của con người nơi cõi thế gian, trái với “Thiên tước”, là phẩm tước nơi cõi Thiêng liêng, tức cõi Trời.

Huấn từ Đức Thượng Sanh có dạy: Người xưa lo sửa cái Thiên tước thì cái Nhơn tước theo sau và được bền bỉ. Người đời nay chỉ loè mình có cái Thiên tước để cầu lấy cái Nhơn tước.

Hàng phẩm Nhơn tước đạo đức các con nó trùng với hàng phẩm Thiên tước của các con.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

NHƠN THÂN

Hay “Nhân thân”.

Nhơn (nhân): Người. Thân: Mình, thân thể, xác thể.

Nhơn thân, như chữ “Nhân thân 人 身”, là thân thể của con người, ý nói thân thể phàm tục.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Bần Ðạo quả quyết rằng: Không phải là một sự tình cờ, và nếu Bần Ðạo chứng chắc rằng toàn con cái của Ngài đều ở trong lòng của Ngài, sanh ra đã có một tình yêu đối cùng nhau, từ trong vật loại dĩ chí nhơn thân chúng ta đã có liên quan mật thiết nồng nàn, khối tình ái vô biên vô hạn.

Thầy cùng các Đấng Thiêng liêng không nhơn thân phàm ngữ, thế nào mà thông công cùng chúng sanh.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

NHƠN THẦN

Hay “Nhân Thần”.

Nhơn (nhân): Người. Thần: Bực Thần.

Phẩm Thần được chia ra làm ba bực: Địa Thần, kế trên là Nhơn Thần, cao hơn nữa là Thiên Thần.

Như vậy “Nhơn Thần 人 神” là một bực phẩm Thần đứng trên Địa Thần và dưới Thiên Thần.

Hành tàng ví biết lẽ cao sâu,

Ðến phẩm Nhơn Thần cũng chẳng lâu.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

NHƠN TRÍ

Hay “Nhân trí”.

Nhơn (nhân): Người. Trí: Sự khôn ngoan hiểu biết.

Nhơn trí, như chữ “Nhân trí 人 智”, là sự không ngoan hiểu biết của con người.

Trong quyển Thiên Đạo, hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có viết: Phương chi, nhơn trí ngày nay đã qua khỏi Nguơn “Tấn hoá”, tức là đã tiến lên trình độ khá cao, Cựu luật không đủ kềm chế đức tin.

Nên Thầy mới đến cho nhơn loại lập Tân Luật thế nào cho phù hạp với nhơn trí, hiệp tánh với nhơn tâm...

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

NHƠN VẬT

Hay “Nhân vật”.

Nhơn (nhân): Người. Vật: Tiếng để chỉ chung các loài, các thứ trong trời đất.

Nhơn vật, như chữ “Nhân vật 人 物”, là người và vật.

Nhơn vật còn dùng để chỉ người có một vai trò nhất định trong xã hội. Như: Nhân vật tiếng tăm trong xã hội.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Kỳ Hạ nguơn hầu mãn, nhơn vật vì tai nạn mà phải tiêu tận, mười phần còn đoái lại có một mà thôi.

Nhân vật còn dùng để chỉ người tài giỏi, có tiếng tăm và địa vị, đáng chú ý.

Âm Dương biến tạo Chơn thần,

Lo cho nhơn vật về phần hữu vi.

(Tán Tụng Công Đức).

Nhơn vật khác vời,

Vị chữ kim thời,

Phong dời tục đổi,

Ðiền viên đất nổi lên vàng,

Oằn vai nông chịu muôn ngàn thuế sưu.

(Ngụ Đời).

Nhơn vật hữu căn thì hữu kiếp,

Ban ân lành xử án giữ nguyên.

(Đạo Sử).

 

 

NHƠN VẬT LẼ ĐỒNG

Hay “Nhân vật lẽ đồng”.

Nhơn (nhân) vật: Loài người và loài vật ở thế gian. Lẽ đồng: Cùng một lẽ giống như nhau.

Nhơn vật lẽ đồng, do câu “Nhân vật đồng nhất lý 人 物 同 一 理”, nghĩa là con người và loài vật cùng một lý như nhau, tức đều do Đức Phật Mẫu dùng lý Âm dương trong lò đào tạo ra.

Xét vì nhơn vật lẽ đồng,

Chắt chiu hằng để trọn lòng chung thương.

(Tán Tụng Công Đức).

 

 

NHƠN VỊ

Hay “Nhân vị”.

Nhơn (nhân): Người. Vị: Chỗ ngồi, tức chỉ địa vị, phẩm vị, ngôi vị.

Nhơn vị, như chữ “Nhân vị 人 位”, là lấy phẩm vị và giá trị tạo một phẩm giá cao quý cho con người để xứng đáng đứng ở ngôi vị ấy.

Nhân vị chủ nghĩa là một chủ nghĩa lấy phẩm vị, giá trị con người làm căn bản.

Ðạo đức nâng cao nhơn vị nữa,

Chưa vô đến giữa lại khinh khi.

(Đạo Sử).

 

 

NHỞN NHƠ

Nhởn nhơ là có vẻ thong thả, chậm rãi, tựa như không có điều gì phải quan tâm, phải lo nghĩ.

Như: Đi nhởn nhơ ngoài công viên, mọi người xăng xái làm việc còn anh ta thì cứ nhởn nhơ.

Nam thanh nữ tú nhởn nhơ bước,

Phong cảnh núi non ý ngập tràn.

(Thơ Thiên Vân).

Bàn dợn sóng nhởn nhơ nhịp tiếp,

Bút nương tay mẫn tiệp ghi lời.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

NHỚP

Nhớp là ướt và bẩn thỉu, dơ dáy. Như: Nhơ nhớp, nước sông đen thấy nhớp.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Ðáng lẽ khi bước vô Bửu Ðiện, đi ngang qua Hiệp Thiên Ðài thấy toàn màu đỏ, màu đỏ thuộc về xác thịt, vậy đi qua rồi phải tịnh tâm. Qua không nói ai, vì trước mỗi buổi đều tắm rửa, vô đó, dầu hình thể của mấy em có nhơ nhớp, thúi hôi, cùi đày mà cái tâm của mấy em trong sạch đó là tâm vô tội.

U ám mịt mờ màu thảm đạm,

Thúi hôi nhơ nhớp cảnh đìu hiu.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Mọi việc nên dạy biết học đòi,

Sự nhơ nhớp để lời xoi với bói.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHỚP NHƠ

Nhớp: Ướt và dính bẩn. Nhơ: Bẩn thỉu, dơ dáy.

Nhớp nhơ, như chữ “Nhơ nhớp”, là dơ dáy, bẩn thỉu đến mức nhờm gớm.

Thuyết đạo về Đức Phật Thích Ca, Đức Hộ Pháp có câu: Ấy là giữa chốn khổ não đau thương, Ngài lại đem tánh từ bi tự tại ra chuyên chế lòng phàm, cầu sanh chúng tương thân tương ái, thật chẳng khác nào đã khổ nơi ô trược nhớp nhơ mà Ngài đến rải mùi thơm ngào ngạt.

Xem: Nhơ nhớp.

Dây oan xe chặt buộc mình,

Nhớp nhơ lục dục thất tình nhiễm thân.

(Kinh Tận Độ).

Cây trăm thước bắc thang bến khổ,

Hoa bốn mùa thơm chỗ nhớp nhơ.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NHU

1.- Nhu là mềm yếu. Như: Nhu mì, nhu nhược, tánh tình ôn nhu.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có đoạn dạy: Nếu ta nhu nhược để cho vật dục lôi cuốn đánh đổ cả chơn lý của lương tâm, tất nhiên ta phải bị sa ngã vào đường tội lỗi. Ấy là tinh thần chịu khuất phục vật chất.

Cung trương chim đỡ thế nào đang,

Mất phước ôn nhu ấy mất nhàn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cột thân ái cậy lòng đạo đức,

Gầy từ tâm gắng sức ôn nhu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Nhu, còn đọc “Nho ”, là cần dùng. Như: Nhu yếu, nhu cầu.

Do chữ “Nhu” gồm hai chữ “Nhơn” và “Nhu” (cần dùng) ghép lại, nên chữ “Nhu” hay Nho được định nghĩa là hạng người luôn cần dùng để giúp cho nhơn quần, xã hội biết cách cư xử cho hợp với lẽ Trời.

Xem: Nho.

Nhu phong chánh pháp nhủ truyền gia,

Ngọc mã kim môn đắc địa hoà.

(Đạo Sử).

3.- Nhu (Nho) còn là tiếng mà Đức Chí Tôn thường dùng để gọi các vị trí thức hoặc các vị nho sĩ trong Đạo. Như: Chư nhu.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có câu: Thầy có việc nói cùng chư môn đệ. Thầy mời chư nhu xuất ngoại một giây phút, Thầy sẽ kêu vào.

Ngã vấn chư nhu hà thủ tạo?

Kỉnh Ngô vi chủ, Ðạo như hà?

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

4.- Nhu là thấm ướt, ướt át. Như: Nhu nhiễm 濡 染 là dằm thắm thói quen mà hoá theo.

Năng làm phải, nhựt nhu ngoạt nhiễm,

Lâu ngày dồn tính đếm có dư.

(Kinh Sám Hối).

 

 

NHU MÌ

Nhu: Mềm mỏng, dịu dàng trong cách đối xử.

Nhu mì là hiền lành, dịu dàng, và mềm mỏng trong quan hệ đối xử với mọi người.

Như: Cô gái nhu mì, tính nết anh ta thật nhu mì.

Em trai vốn tánh ưa nhỏ nhẹ,

Lời nhu mì chị gái lẽ thương hơn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHU NHƯỢC THẮNG CƯƠNG CƯỜNG

柔 弱 勝 剛 強

Nhu nhược: Mềm yếu. Cương cường: Cứng mạnh.

Nhu nhược thắng cương cường là mềm yếu thắng cứng mạnh.

Do câu của Lão Tử nói: Cố quân tử năng nhu nhi bất nhược, năng cường nhi bất cương, như thuỷ chi tính dã: Thiên hạ nhu nhược mạc quá ư thuỷ, thị dĩ nhu nhược thắng cương cường 故 君 子 能 柔 而 不 弱, 能 強 而 不 剛, 如 水 之 性 也. 天 下 柔 弱 莫 過 於 水, 是 以 柔 弱 勝 剛 強, nghĩa là nên người quân tử hay mềm mà chẳng yếu, hay mạnh mà chẳng cứng, cũng như tánh nước vậy. Thiên hạ không có gì mềm yếu hơn nước, vì vậy cho nên mềm yếu thắng cứng mạnh.

Võ lực chẳng còn quyền thế trước,

Dụng câu nhu nhược thắng cương cường.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

NHU SĨ

Hay “Nho sĩ”.

Nhu (Nho): Người chuyên học về đạo Khổng. Sĩ: Người học trò.

Nhu sĩ, như chữ “Nho sĩ 儒 士”, là người theo học đạo Nho. Hoặc chỉ tầng lớp trí thức trong xã hội thời xưa.

Xem: Nho sĩ.

Nhưng mà chẳng tái kiếp thì như Nhu sĩ trốn thi, thế nào giữ vững địa vị cao thượng?

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

NHU THẮNG CANG

Hay “Nhu thắng cương”.

Nhu: Mềm, mềm yếu. Thắng: Hơn. Cang (Cương): Cứng mạnh.

Nhu thắng cang, như chữ “Nhu thắng cương 柔 勝 剛”, là mềm hơn cứng.

Đức Lão Tử còn cho rằng: “Nhược thắng cường 弱 勝 強” có nghĩa là yếu thắng mạnh.

Như vậy, có thể nói tóm lại là “Nhu nhược thắng cương cường 柔 弱 勝 剛 強” có nghĩa là mềm yếu thắng cứng mạnh.

Xem: Nhu nhược thắng cương cường.

Nhu thắng cang, nhược thắng cường,

Mềm còn, cứng bể, thấy thường xưa nay.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

NHỦ

Nhủ là bảo, khuyên. Như: Khuyên nhủ, tự nhủ.

Thánh giáo Thầy có dạy: Ðường đi cũng còn dài, bước Ðạo còn nhiều nỗi trắc trở, nếu chẳng để dạ nương nhờ lấy nhau. Một mai các con phải xa vắng lời Thầy truyền nhủ thì các con phải trở ra thế nào nữa?

Miệng chào lại nhủ mặc Tiên y,

Mời đến Rừng Tre hội cuộc kỳ.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Gà tự nhủ vô cùng sung sướng,

Lợi danh tình ta hưởng quanh năm.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

NHỦ LỜI

Nhủ: Khuyên bảo. Lời: Câu nói, lời nói.

Nhủ lời là lời khuyên bảo, lời dạy khuyên.

Nói về tiểu sử Đức Jésus Christ, Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Phép Ðền Thánh buộc mấy Thầy tu trong Ðền Thờ phải có người đứng ra cưới, bởi vì chiếu theo lời Chí Tôn căn dặn nhủ lời Ngài nói với Adam và Eve buổi nọ: “Unissez vous et multipliez”.

Đừng cậy kẻ nhủ lời khôn dại,

Cuộc nợ duyên trái phải tự nơi mình.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHŨ BỘ

乳 哺

Nhũ: Vú, cho bú. Bộ: Mớm cho con ăn hoặc bú.

Nhũ bộ là mớm cơm cho con ăn hoặc cho con bú. Chỉ công lao của người mẹ.

Nói về công khó nhọc của bà mẹ, thành ngữ xưa có câu: Thập nguyệt hoài thai, tam niên nhũ bộ 十 月 懷 胎, 三 年 乳 哺, nghĩa là mười tháng cưu mang, ba năm bú mớm.

Trong bài Văn Tế Tiểu Sử Cao Thượng Phẩm, chức sắc HIệp Thiên Đài có viết: Cùng lân lý, hay thương người thất thủ, hằng ra tay tế độ bạc tiền, Với mẹ cha, thường để tấc lòng thành, gắng hết sức đáp đền ơn nhũ bộ.

Cù lao chín chữ ơn chưa trả,

Nhũ bộ ba năm nghĩa chửa bồi.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

NHŨ LỊNH

Hay “Nhũ lệnh”.

Nhũ: Vú, cho bú, chỉ bà mẹ. Lịnh (lệnh): Mệnh lệnh.

Nhũ lịnh, như chữ “Nhũ lệnh 乳 令”, có nghĩa là lệnh của bà mẹ, hay lịnh của Phật Mẫu.

Trong Phật Mẫu Chơn Kinh có câu: Chiếu nhũ lịnh, Từ huyên thọ sắc là căn cứ theo lịnh Phật Mẫu, mà Đức mẹ đã thọ sắc của Chí Tôn.

Chiếu nhũ lịnh, Từ huyên thọ sắc,

Độ anh nhi nam, bắc, đông, tây.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

NHUẦN

1.- Nhuần là nói mưa, sương dầm thấm sâu và đều khắp mà được tươi tốt.

Như: Gặp trận mưa nhuần nên cây cỏ tươi tốt, sương nhuần cây cỏ.

Liễu Huệ nhuần sương Liễu Huệ tươi,

Chiều Xuân nguyệt rạng vẻ hoa cười.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Nhuần, như chữ “Nhuận 潤”, là thấm ướt, trau dồi, làm cho đẹp ra.

Như: Gội nhuần, đượm nhuần, thấm nhuần.

Đổi tục về Tiên sắc đượm nhuần,

Rưới chan cho khắp giọt hồng ân.

(Thượng Phẩm Giáng Bút).

Phụng sự vạn linh nhuần huệ trạch,

Đưa đường nhơn loại thoát lao lung.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

NHUẦN GỘI

Nhuần: Làm cho thấm ướt. Gội: Tắm gội.

Nhuần gội là tắm gội cho thấm ướt, ý muốn nói ơn phước trời ban cho như tắm gội ướt đều thân thể.

Thánh giáo Thầy đã dạy: Ðạo Trời khai ba lượt, nguồn Thánh độ muôn người. Thìn lòng để bước vào nẻo thẳng đường ngay mà kiếm cho thấu đáo mối huyền vi Tạo hoá đã sắp bày độ dẫn, nhuần gội ơn huệ cho sanh linh đương buổi Hạ nguơn nầy.

Nhuần gội ơn Trời âm chất vẹn,

Mau chơn ngày tháng đã qua đông.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Giáo lý dồi dào nung khách trí,

Nho phong nhuần gội vững can trường.

(Quyền Giáo Tông).

Phước lành nhuần gội bởi công tu,

Khó nhọc kiên gan trải dặm cù.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

NHÚC NHẮC

Nhúc nhắc, như chữ “Lúc lắc”, là lắc qua lắc lại, chuyển động một cách nhẹ nhàng.

Nhúc nhắc còn dùng để chỉ nhấc từng bước để đi một cách khó khăn, chậm chạp.

Như: Gió đưa cành cây nhúc nhắc, cẳng chân yếu, chị cố gắng đi nhúc nhắc theo sau.

Một thân goá tang y lại mặc,

Chống gậy lê nhúc nhắc đưa linh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NHỤC

1.- Nhục là nhơ nhuốc, xấu hổ. Như: Chịu nhục, bị nhục, nhục nhã.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Chí Tôn có câu: Sông có thể thành ruộng, núi có thể diệt tiêu mà làm biển cả, cũng như sự buồn lắm lúc hoá ra vui, sự vinh thành nên nhục, cái phước đổi cái hoạ vậy.

Người quân tử chẳng thà chịu khổ,

Đâu làm điều nhục tổ hổ tông?

(Kinh Sám Hối).

Cái nhục giống nòi kia chẳng rửa,

Xoi hang mạch nước ý chưa vừa.

(Đạo Sử).

2.- Nhục là thịt. Như: Nhục nhãn, nhục thân, nhục thể, cốt nhục.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Hiện nay nhơn loại thiếu sự từ bi bác ái cho nên tạo ra trường tranh đấu, quyết chiến với nhau, sát hại đồng bào tương tàn cốt nhục, Ðức Chí Tôn giáng trần hoằng khai Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ là cốt yếu đem chủ nghĩa từ bi bác ái làm tôn chỉ, để cho nhơn sanh theo đó mà làm một cơ quan bảo tồn tánh mạng và bảo an quốc thể được hoà bình.

Máu mỡ anh em hoà cốt nhục,

Dạng hình cha mẹ giống dung nhan.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHỤC DỤC

肉 慾

Nhục: Thịt, ý chỉ về thể xác con người. Dục: Lòng ham muốn.

Nhục dục là ham muốn thú vui thể xác, hay nói khác đi là ham muốn thú vui xác thịt giữa nam nữ.

Như: Thoả mãn nhục dục tầm thường.

Vui! Thay vì vui sống với những khoái lạc về nhục dục thấp hèn, chúng ta chỉ nên vui sống một đời tinh thần cao khiết...

(Thiên Đạo).

 

 

NHỤC MẠ

辱 罵

Nhục: Làm cho xấu hổ, nhục nhã. Mạ: Chửi.

Nhục mạ là làm nhục người bằng cách chửi mắng. Như: Do con anh ấy nhục mạ người ta nên sinh ra thù oán với gia đình.

Ðạo càng cao, đức càng tươi,

Dầu ai nhục mạ cũng cười làm vui.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

NHỤC NHÃ

Nhục: Nhơ nhuốc, xấu hổ. Nhã: Khoan thai, thanh tao, ôn hoà, có lễ độ, trái với thô tục.

Nhục nhã là nhơ nhuốc, đáng khinh bỉ, đáng xấu hổ. Như: Làm những việc nhục nhã.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có câu: Còn cái địa vị cao trọng, nó làm cho nhơn tâm ganh gổ. Con phải lấy Phật tâm con mà dòm ngó đám sanh linh bị phạt, luân hồi chưa dứt, thì tưởng đến Thầy mà cam chịu nhục nhã, lòng từ bi có vậy mới xứng đáng là tôi con Thầy.

Làm điều nhục nhã tổ tông,

Tiếng nhơ giặt rửa biển sông đặng nào.

(Kinh Sám Hối).

Bà nghe nhục nhã trăm bề,

Quyên sinh rảnh kiếp lỗi thề ước giao.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

NHỤC NHÃN

肉 眼

Nhục: Thịt, ý nói thân phàm. Nhãn: Mắt.

Nhục nhãn là mắt thịt, do câu thành ngữ “Người phàm mắt thịt”, dùng để chỉ mắt của người trần tục, nên khó thấy biết được những việc vô vi.

Người tu hành khi đạt được trí huệ thì nhục nhãn có thể trở thành huệ nhãn, thấy biết được những điều huyền diệu nơi cõi vô vi.

Hai con mắt của các con là nhục nhãn, tức là âm với dương, thì cũng như Thái Cực là Thiên Nhãn...

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

NHỤC TỔ HỔ TÔNG

Nhục tổ: Làm nhục mang tiếng cho ông bà. Hổ Tông: Làm cho dòng họ xấu hổ.

Nhục tổ hổ tông là làm ô nhục tổ tiên, xấu hổ dòng họ ông bà của mình.

Như: Đứa đàng điếm làm nhục tổ hổ tông, con hiền ngoan làm rạng danh cha mẹ ông bà.

Người quân tử chẳng thà chịu khổ,

Đâu làm điều nhục tổ hổ tông?

(Kinh Sám Hối).

Đừng làm nhục tổ hổ tông,

Lập thân trả hiếu nối dòng truyền hương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NHỤC THÂN

肉 身

Nhục: Thịt. Thân: Thân hình, thân thể.

Nhục thân là thân hình bằng xác thịt.

Thuyết Đạo của Đức Thượng Sanh có câu: Phép lập công gồm có hai mặt là: Sức khoẻ đầy đủ và tinh thần cứng rắn, để nghị lực điều khiển nhục thân tuân hành mạng lịnh của trí não.

Lôi Âm trống tiễn mẹ ly trần,

Ba thước vùi sâu mảnh nhục thân.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

NHỤC THỂ

肉 體

Nhục: Thịt. Thể: Thân thể, hình thể.

Thân thể con người được bao bọc bởi thịt, nên từ “Nhục thể” dùng để chỉ thân thể con người.

Nhục thể đồng nghĩa với từ “Nhục thân”, chỉ thân xác phàm tục.

Trong Giáo Lý, Ngài Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có viết: Ấy vậy sự dưỡng sanh là một pháp môn trọng yếu cũng như pháp môn tu học tâm linh. Phép dưỡng sanh cần nhứt là phải làm sao cho thân ta sanh sống với một cách điều hoà và nhập vào lẽ thiên nhiên, tức sống với một tinh thần không loạn động, một nhục thể không đau ốm.

Mạng danh Hội Thánh đã đành,

Nâng tay nhục thể xây hình Chí Tôn.

(Kinh Thế Đạo).

Nhục thể làm thuyền qua khổ hải,

Chơn thần hoá hạc đến Kim Bàn.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

NHỤC THỂ THỔ SANH

Hay “Nhục thể thổ sinh”.

Nhục thể: Xác thịt. Thổ sanh: Đất sinh ra.

Nhục thể thổ sanh, như câu “Nhục thể thổ sinh 肉 體 土 生”, là thân xác bằng thịt xương, được sanh ra từ đất.

Trước nhứt, xác thân do cha mẹ sinh ra xương thịt, thọ bẩm thức ăn từ đất, tạo thành khối vật chất là một thể hữu hình, mà hữu hình thì hữu hoại, Nên khi con người chết, xác thân sẽ rã tan mà trở về Đất.

Do đôi liễn nơi thuyền Bát Nhã có câu: Vạn sự viết vô: Nhục thể Thổ sinh hoàn tại Thổ, Thiên niên tự hữu: linh hồn Thiên tứ phản hồi Thiên 萬 事 曰 無: 肉 體 土 生 還 在 土, 千 年 自 有: 靈 魂 天 賜 反 回 天, Nghĩa là: muôn việc gọi không, thân xác Đất sanh huờn lại Đất, Muôn năm tự có, Linh Hồn Trời ban trở về với Trời.

Linh hồn Thiên tứ nhi thường hữu,

Nhục thể thổ sanh sự viết vô.

(Thơ Thông Quang).

 

 

NHỤC VINH

辱 榮

Nhục: Chịu cảnh xấu hổ, nhục nhã. Vinh: Vẻ vang.

Nhục vinh chỉ cảnh đời lúc nhục lúc vinh, tức lúc chịu cảnh xấu hổ, nhục nhã, lúc vẻ vang vinh hiển.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy dạy: Cơ lập Ðạo là nhiệm mầu vô giá. Biết Ðạo, biết ta biết người, biết thế biết thời, biết dinh hư, biết tồn vong ưu liệt, rồi mới có biết hổ mặt thẹn lòng, biết sự thế là trò chơi, biết tuồng đời là bể khổ, biết thân nô lệ dẫn kiếp sống thừa, biết nhục vinh mà day trở trên con đường tấn thối.

Khuôn đời chưa dễ tạo nên hình,

Tóc bạc còn mờ lối nhục vinh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Đừng thấy khó mà ra ké né,

Vì hổ ngươi hai lẽ nhục vinh.

(Phương Tu Đại Đạo).

Khổ hạnh đâu long lòng sắt đá?

Nhục vinh chả hổ phận râu mày.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

NHUỆ KHÍ

銳 氣

Nhuệ: Bén nhọn, mạnh mẽ. Khí: Chí khí.

Nhuệ khí là cái khí thế hăng hái, cái chí khí mạnh mẽ, hay nói cách khác cái tinh thần mạnh mẽ toát ra ngoài.

Như: Anh ta đã làm mất nhuệ khí của một thanh niên.

Chinh phụ trước treo nên giá quý,

Áng văn làm nhuệ khí cầu vinh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NHỦI

Nhủi là đưa đầu đẩy tới phía trước mà di chuyển.

Như: Con dế nhủi dưới đất, trốn chui trốn nhủi, nhủi vào hang để trốn.

Mohamed lập ra Ðạo Hồi Hồi bị xô đuổi, bị bắt nhốt khám trốn chui, trốn nhủi, mà không buổi nào thất chí.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

NHUỴ

Nhuỵ là bộ phận sinh sản của hoa, nằm chính giữa hoa, gồm bầu chứa noãn, phía trên có vòi và tận cùng là đầu nhuỵ.

Như: Nhuỵ sen, hoa nở nhuỵ, hoa tàn nhuỵ rữa, nhuỵ phai hương lợt.

Nhụy đương nở mùi thơm ngào ngạt,

Dâng hình hoa lo lót con ong.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Đến lúc đã hoa tàn nhụy rữa,

Đừng quên khi hương lửa mặn nồng.

(Phương Tu Đại Đạo).

Xung xăng khóm liễu khoe cành biếc,

Hớn hở vườn mai điểm nhụy vàng.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

NHUỴ HOA

蕊 花

Nhuỵ: Bộ phận sinh sản của hoa. Hoa: Bông hoa.

Nhuỵ là bộ phận sinh sản của hoa, nằm chính giữa hoa, gồm bầu chứa noãn, phía trên có vòi, và tận cùng vòi là đầu nhuỵ hoa.

Nhuỵ hoa là cái bộ phận trong hoa dùng để cho cây truyền giống, có thể ví với thai bào.

Khi thấy dạng nhụy hoa đã kết,

Thì phải toan dứt tuyệt đường ong.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHUỴ PHAI HƯƠNG LỢT

Nhuỵ phai: Nhuỵ bông hoa bị ngả màu. Hương lợt: Hương hoa phai lợt.

Khi hoa vừa mới nở thì nhuỵ thắm hương thơm, lúc hoa sắp tàn thì nhuỵ hoa phai màu, mùi hương bay hết, tức là “Nhuỵ phai hương lợt”.

Nhụy phai hương lợt nghĩa bóng: Chỉ nhan sắc người phụ nữ phai tàn.

Chừ sao bỏ cảnh úa xào,

Nhuỵ phai hương lợt, khuôn rào tả tơi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NHUỴ TƯỚNG HƯƠNG HÌNH

蕊 相 香 形

Nhuỵ hương: Mùi thơm của nhuỵ bông. Tướng hình: Hình tướng, hình dáng.

Nhuỵ tướng hương hình là hình dáng và mùi thơm của nhuỵ hoa. Ý muốn nói đến sắc đẹp và đức hạnh của người phụ nữ.

Che đậy kín tường đông ong bướm,

Giấu nhặt nghiêm nhuỵ tướng hương hình.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

NHÚM NHEN

Nhúm: Nhóm, làm cho lửa cháy lên, bắt đầu từ đó phát triển. Nhen: Làm cho lửa bắt cháy lên.

1.- Nhúm nhen, như chữ “Nhen nhúm”, là nhúm cho lửa dần dần cháy bùng lên.

Như: Nhúm nhen ngọn lửa sắp tàn.

Nhúm nhen ấm áp lò hương lửa,

Chung gánh giang sơn chớ nại hà.

(Thơ Hương Phụng).

2.- Nhúm nhen còn dùng để chỉ làm cho dần dần nảy sinh ra và phát triển để gây dựng nên.

Như: Nhúm nhen lại phong trào tranh đấu.

Suy thời dầu quý cũng ra hèn,

Nghiệp cả khuyên con lửa nhúm nhen.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Dầu chẳng may gặp chỗ nghèo hèn,

Dạy cho biết nhúm nhen ra sự nghiệp.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHÚN

Nhún là hơi co chân cho người hạ thấp xuống. Như: Nhún chân để nhảy qua rào.

Nhún còn dùng để chỉ co vai rụt xuống, tỏ ý chê bai, khinh thường. Như: Nhún trề,

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Cư, giỏi con, phải vậy, như con muốn cho ra bộ lịch sự thì khi chấm gót, con nhún bộ xuống một chút.

Sang hèn trối mặc nhún cùng trề,

Phải biết giá mình mới biết chê.

(Đạo Sử).

 

 

NHÚN NHƯỜNG

Nhún: Chịu thấp, chịu kém, tự khiêm. Nhường: Chịu thiệt, chịu kém để tỏ lòng tử tế, khiêm tốn ới người.

Nhún nhường là chịu hạ mình một chút, tỏ ra khiêm nhường trong quan hệ giao tiếp.

Trong lễ Vía Ðức Chí Tôn đêm mùng 8 tháng Giêng Tân Sửu (Dl. 22/2/1961), Đức Thượng Sanh có giảng: Khi ra ngoài xã hội, đối với người đời, về mặt xã giao cùng lúc xử sự, phần cá nhơn của người Chức sắc cũng phải được trong sạch trong mọi phương diện: không háo thắng, không khoe mình, lúc nào cũng lễ độ, khiêm tốn, hoà hưởn, nhún nhường, sẵn lòng thi ân, tế chúng, thế nào cho mọi người đều mến yêu, kính nể, như vậy mới thâu phục nhơn tâm, đem thắng lợi dễ dàng về cho mình khi thật hành nhiệm vụ trên đường phổ độ.

Do theo gương của Ðức Ngài, những bậc trí thức ngày xưa mặc dù có tài học lỗi lạc, thường hay nhún nhường, khiêm tốn chớ không hề tỏ vẻ tự đắc.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

NHÚN TRỀ

Nhún: Co vai hay người lại. Trề: chìa môi dưới ra.

Nhún trề, như chữ “Trề nhún”, là nhún vai và bĩu môi, tỏ ý chê bai, khinh thường.

Như: Không chịu thì thôi, đừng có ở đó nhún trề không được đâu nha.

Xem: Trề nhún.

Đờn bà hay quen tánh nhún trề,

Ở chiều dạ đừng chê tánh hạnh.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

NHUNG

1.- Nhung là thứ hàng tơ hay bằng sợi bông, có tuyết mượt phủ kín sợi dọc và sợi ngang.

Nhung còn dùng để ví cái mượt mà, êm dịu, gây cảm giác dễ chịu.

Như: Áo nhung, đồng lúa non mượt như nhung, đôi mắt nhung.

Trong bài Thuyết Đạo Chí Tôn Giáng Thế, Đức Hộ Pháp có câu: Những người ấy vẫn chưa tin, mượn cái đèn đi đến chỗ cái Ngai ngự thì còn thấy dấu ngồi trên nệm nhung, bởi còn lằn.

Huệ phong nguyệt nhập vào nhung thắm,

Điệu phong ba đã lậm màu trần.

(Lục Nương Giáng Bút).

2.- Nhung là việc binh, thuộc về quân lính.

Như: Binh nhung, nhung phục, áo nhung trao quan võ từ đây.

Ngoài khua tiếng giặc trong khua nịnh,

Võ thiếu binh nhung quốc thiếu cờ.

(Đạo Sử).

 

 

NHUNG BÀO

戎 袍

Nhung: Việc binh, thuộc về quân lính. Bào: Một loại áo dài và tay rộng.

Nhung bào, như chữ “Nhung y 戎 衣”, là áo quần mặc ra chiến trận, tức áo quần của binh tướng.

Biết tâm biết chí anh hào,

Nữ tâm làm mảnh nhung bào chở che.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

NHÚNG

Nhúng là cho vào một chất lỏng, rồi lấy ra ngay.

Như: Nhúng chén bát vào nước sôi, nhúng ướt tấm khăn bàn, tay nhúng dầu xăng.

Lỡ tay nên chịu nhúng chàm,

Rủi ro mang lấy vóc phàm bấy lâu.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

NHUỘM

Nhuộm: Nhúng vào nước có chất màu để biến đổi sang màu khác. Như: Nhuộm quần áo, nhuộm tóc, nhuộm răng.

Thánh giáo Thầy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Thấm thoát ngày tháng thoi đưa, bóng thiều quang nhặt thúc, sen tàn cúc rũ, đông mãn xuân về, bước sanh ly đã lắm nhuộm màu sầu, mà con đường dục vọng chẳng còn biết đâu là nơi cùng tận.

Nâu sồng nhuộm áo pha màu khổ,

Tránh mối oan khiên chớ buộc mình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Bạc đầu non chịu lằn sương nhuộm,

Nhăn mặt nước chờ trận gió qua.

(Đạo Sử).

 

 

NHƯ

Như là giống, bằng. Như: Đỏ như son, cao như nhau.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Tà mị cũng như một hột lúa bị hẩm mà thúi thì thế nào mọc đặng mà sanh bông trổ trái.

Bút nở mùa hoa đã có chừng,

Chẳng như củi mục hốt mà bưng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tu như cỏ úa gặp mù sương,

Ðạo vốn cây che mát mẻ đường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NHƯ Ý

如 意

Như: Giống như, không đổi. Ý: Ý nghĩ.

1.- Như ý là giống như ý nghĩ.

Thí dụ: Thời vận tốt nên làm việc gì cũng như ý, thằng nhỏ học giỏi như ý anh mong mỏi.

Chúng sanh là toàn cả nhơn loại chớ không phải lựa chọn một phần người, như ý phàm tục các con tính rỗi.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

2.- Như Ý là tên cây ngọc Như Ý, là một bửu pháp của Bà Ngũ Nương Diêu Trì Cung.

Với Bửu pháp Như Ý, Ngũ Nương có quyền điều khiển chư vị Thần, Tiên và thay mặt Phật Mẫu mở Hội Bàn Đào nơi Diêu Trì Cung.

Cô Ngũ Nương đưa cao Như Ý,

Ra lịnh cùng chư vị Thần, Tiên.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

Đưa Như Ý Cung Diêu mở Hội,

Quy Chơn Thần hiệp khối nguơn linh.

(Báo Ân Từ).

3.- Như ý còn là cái Cung ngự của Đức Thái Thượng Lão Quân.

Theo nội dung bài kinh Đệ tam cửu thì Tam Nương Diêu Trì Cung có nhiệm vụ tiếp dẫn Chơn hồn lên tầng Trời Thanh Thiên, để được rưới nước Cam Lộ cho tiêu thất tình lục dục hầu đưa vào Cung Như Ý bái kiến Thái Thượng Lão Quân.

Cung Như Ý Lão Quân tiếp khách,

Hội Thánh minh giao sách Trường xuân.

(Kinh Tận Độ).

 

 

NHƯ LAI

如 來

Như: Giống như, không đổi. Lai: Đến.

Như Lai là một trong thập hiệu (mười danh hiệu) của Đức Phật. Đề cập đến mình, Đức Phật tự xưng là Như Lai.

Như lai còn là bậc vốn không do đâu lại, cũng không đi đâu cả, nên gọi là Như Lai.

Kinh Kim Cang chép: Vô sở tòng lai, vô sở tòng khứ, cố danh Như Lai 無 所 從 來, 無 所 從 去, 故 名 如 來, nghĩa là không tự đâu đến, cũng không đi đến đâu, nên gọi là Như Lai. Như Lai từ chân như tới và sẽ đi về chân như.

Cảnh Thiên noi bước Hoá Công,

Nắm phan Tiếp Dẫn vào vòng Như Lai.

(Kinh Thế Đạo).

Cửa Cực Lạc đon đường thẳng tới,

Tầm không môn đặng đợi Như Lai.

(Kinh Thế Đạo).

Nhứt kiếp Như Lai kinh Phật Tổ,

Nhị căn Lão Tử phẩm Tiên ban.

(Đạo Sử).

 

 

NHƯ NGUYỀN

Hay “Như nguyện”.

Như: Giống như, không đổi. Nguyền (Nguyện): Mong muốn ước muốn.

Như nguyền, như chữ “Như nguyện 如 願”, tức là kết quả như những điều đã mong muốn.

Hễ là niệm Phật tụng kinh,

Rèn lòng sửa nết khá in như nguyền.

(Kinh Sám Hối).

Hé mắt nửa ngờ còn nửa tưởng,

Tính đi tính lúng đặng như nguyền.

(Đạo Sử).

Còn sống một ngày lo đạo đức,

Chi chi con khẩn toại như nguyền.

(Đạo Sử).

 

 

NHƯ NHÃN

如 眼

Như Nhãn tức là Hoà Thượng Như Nhãn, pháp danh là Thích Từ Phong, thế danh là Nguyễn Văn Tường (1874-1938), trụ trì chùa Giác Hải ở Phú Lâm, Chợ Lớn. Ngài có quyên góp tiền trong Phật tử để mua đất xây chùa Từ Lâm Tự ở Gò Kén, Tây Ninh.

Ông Bà “Nguyễn Ngọc Thơ và Lâm Ngọc Thanh” đóng góp nhiều tiền bạc cho việc xây cất chùa Từ Lâm nầy. Sau, nhờ huyền diệu cơ bút, Ðức Chí Tôn độ được Ông Bà Nguyễn Ngọc Thơ và Hoà Thượng Như Nhãn theo Ðạo Cao Ðài.

Do đó, Hoà Thượng Như Nhãn hiến chùa Từ Lâm ở Gò Kén cho Ðạo Cao Ðài dùng làm Thánh Thất để tổ chức Ðại lễ Khai Ðạo. Ðức Chí Tôn phong Hoà Thượng Như Nhãn là: Quảng Pháp Thiền Sư Thích Ðạo Chuyển Luật Lịnh Diêu Ðạo Sĩ, Chưởng Pháp Phái Thái.

Như Nhãn cũng một lòng với Lão,

Mở luật tu khuyên bảo chúng tăng.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

 

 

NHƯ NHIÊN

如 然

Như: Giống như, không đổi. Nhiên: Vậy, như vậy.

Như nhiên là giống như vậy.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Nguyên từ buổi bế đạo, tuy Chánh pháp ra cũ mặc dầu, chớ kỳ trung thọ đắc kỳ truyền. Luật lệ tuy cũ chớ đạo vẫn như nhiên.

Vui bóng Cao Ðài che khắp chốn,

Vui gương Ngọc Ðế thấy như nhiên.

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 

NHƯ THẢNG

Như: Giống như, không đổi.

Như thảng có nghĩa là nếu như, thoảng như, ví như.

Thí dụ: Như thảng muốn tu hành đắc quả thì trước hết phải trau giồi tâm tánh và lo bồi công lập đức.

Như thảng, luật lệ nào nghịch với sự sanh hoạt của nhơn sanh thì chúng nó đạng cầu xin hủy bỏ.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

NHỮ

Nhữ là mày, mầy, tiếng dùng để chỉ về người nào.

Như: Nhữ đẳng (bọn bây, bọn mầy), Như tri hồ (các ngươi biết không).

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển,Thánh giáo Thầy có dạy: Thích Ca Như Lai thị Ngã, dục cứu chúng sanh, tá danh Cao Ðài Ðại Bồ Tát. Nhữ tri hồ?

Huyền vi nhứt trí thức Càn khôn,

Tặng nhữ diệc tri độ thử hồn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NHỮ ĐẲNG

汝 等

Nhữ: Mày, mầy. Đẳng: Thứ bực, bọn, lũ.

Nhữ đẳng là bọn bây, bọn các ngươi, bọn mầy.

Thơ Lý Thường Kiệt có câu: Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm, Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư 如 何 逆 虜 來 侵 犯, 汝 等 行 看 取 敗 虛, nghĩa là: Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm, Chúng bây sẽ bị đánh tơi bời.

Nhữ đẳng tu thọ pháp, tu thọ pháp. Khâm tai!

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

NHỮNG

1.- Những là từ dùng để chỉ một số lượng nhiều, không xác định. Như: Những loài vật, những vì sao trên bầu trời.

Thánh giáo Thầy có đoạn dạy: Ðạo cốt để cho kẻ hữu duyên. Những kẻ nào đã làm môn đệ của Tà Thần Tinh Quái thì không thế gì làm môn đệ Thầy đặng.

Tính chi những việc tới đâu đâu,

Ðâu cũng Trời cao ở khỏi đầu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Quý cho những kẻ tánh thiên nhiên,

Chẳng phải là ngu thiệt bởi hiền.

(Đạo Sử).

2.- Những, còn đọc là “Nhẫng”, có nghĩa chỉ là, chỉ.

Như: Những mong, những là, những ước.

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du có câu: Những là lạ nước lạ non, Lâm Truy vừa một tháng tròn tới nơi.

Năm lụn ngày qua thêm chất tuổi,

Những là lỡ lính với lừa quan.

(Đạo Sử).

Lía lịa mà chưa biết niệm đời,

Những lo nắng sớm với mưa mơi.

(Đạo Sử).

 

 

NHỮNG MẢNG

Những: Chỉ là, chỉ. Mảng: Mải, ham.

Những mảng là cứ mãi, từ biểu thị trạng thái lúc nào cũng quan tâm, lo nghĩ về một điều gì đó.

Thánh giáo Thầy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Cang thường điên đảo, phong hoá suy vi, những mảng ghét lẫn nhau, giành xé nhau, mối tôn giáo phân chia, đạo nước nhà chẳng đoái, chánh tà tà chánh nan phân, còn chút hơi thở ở cõi trần mà tính tình dọc ngang chưa chịu dứt, một mai hồn xuống Diêm Ðài, khổ A Tỳ bảo sao không buộc trói.

Dần dà những mảng cuộc đời lo,

Mà chẳng tu tâm lúc dặn dò.

(Đạo Sử).

 

 

NHƯỢC

1.- Nhược là yếu. Như: Bạc nhược, nhu nhược, nhược điểm.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Các con, nền Ðạo bề ngoài coi diềm dà sung túc, mà chẳng thấy rõ cái mạch bịnh trong tâm, chẳng khác chi thế Sở chế bạo Tần, ham cái mạnh bề ngoài, biết sợ cái mặt chớ chẳng rõ lòng người ra sao, mà không độ cái mạnh cấp thời đó sẽ dần dần tan như giá mà đổi ra yếu hèn thấp nhược.

Đừng cậy thế làm chồng lấn lướt,

Chẳng đoái thương chất nhược liễu bồ.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Nhược là bằng, ví, nếu như. Như: Nhược bằng.

Thánh giáo Thầy có câu: Còn cả môn đệ, ai cũng như ai, không đặng gây phe lập đảng, nhược kẻ nào phạm tội thì Thầy trục xuất ra ngoài cho khỏi điều rối loạn.

Hạnh phùng bình thuỷ thân an tại,

Nhược ngộ phong ba phận đảo huyền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NHƯỢC BẰNG

Nhược: Bằng, ví bằng, nếu. Bằng: Ví như, coi như.

Nhược bằng có nghĩa là còn nếu như.

Thánh giáo Bát Nương Diêu Trì Cung có câu: Còn việc các Ðấng phú thác cho mình, hoặc yêu cầu mình thi hành một vấn đề nào, nếu mình trọn tin mạng pháp thì các Ðấng cũng ghi công cho. Nhược bằng mình không tuân hoặc lười biếng trễ nãi, thì các Ðấng lại ghi tội cho.

Nhược bằng biếng nhác tu hành,

Linh hồn mờ ám khó thành Phật, Tiên.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Người tu lập chí sửa lòng,

Nhược bằng biếng nhác thì không ích gì.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

NHƯỢC BỒNG

弱 蓬

Nhược: Nhược Thuỷ, một cái biển nơi Bột Hải. Bồng: Núi Bồng Lai.

Nhược Bồng, như chữ “Nước Nhược non Bồng”, là nói núi Bồng Lai ở nơi biển Bột Hải, chỉ cảnh Tiên.

Nhẹ gót Nhược Bồng vui cảnh trí,

Vầy làng Lý Đỗ hội thi Thần.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

NHƯỢC HỮU

若 有

Nhược: Nếu, nếu như, ví bằng. Hữu: Có.

Nhược hữu là nếu có.

Trong Di Lạc Chơn Kinh có câu: Nhược hữu chúng sanh văn ngã ưng đương thoát nghiệt, niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng tùng thị Pháp điều Tam Kỳ Phổ Độ, tất đắc giải thoát luân hồi, đắc lộ Đa La Tam Diệu Tam Bồ Đề thị chi chứng quả Cực Lạc Niết Bàn.

Nhược hữu nhơn tụng đắc nhất thiên biến, nhứt thân ly khổ nạn, tụng đắc nhứt vạn biến, hiệp gia ly khổ nạn.

(Kinh Cứu Khổ).

 

 

NHƯỢC TIỂU

弱 小

Nhược: Yếu hèn. Tiểu: Nhỏ.

Nhược tiểu là nhỏ và yếu hèn.

Một quốc gia nhược tiểu là một nước có lãnh thổ nhỏ hẹp, ít dân nên binh lực yếu hèn.

Bần tăng cùng nhị vị Đại Thiên phong thử tìm hỏi coi các sắc dân nhược tiểu nơi vùng Á Đông nầy do đâu xuất hiện?

(Thánh Giáo Tiêu Diêu Đạo Sĩ).

 

 

NHƯỢC THẮNG CƯỜNG

弱 勝 強

Nhược: Yếu hèn. Thắng cường: Hơn mạnh.

Nhược thắng cường, cũng như câu “Nhu nhược thắng cương cường”, nghĩa là mềm yếu hơn cứng mạnh.

Đây là một thuyết của Lão Tử, chủ trương người lấy mềm yếu để thắng cứng mạnh.

Xem: Nhu nhược thắng cương cường.

Nhu thắng cang, nhược thắng cường,

Mềm còn, cứng bể, thấy thường xưa nay.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

NHƯỢC THIỆT NHƯỢC HƯ

若 實 若 虛

Nhược thiệt nhược hư là dường như thiệt dường như hư, tức như có như không.

Trời đất là lý huyền diệu không thể nào nghĩ bàn được, lúc hư lúc thực, lúc có lúc không, biến hiện chẳng ngừng nghỉ.

Trời đất thấy lặng lẽ, không không thế mà vẫn có sự vận hành và sinh hoá trong Càn khôn Vũ trụ, như hết ngày tới đêm, trăng tròn rồi khuyết. Muôn loài, vạn vật cùng ứng theo Trời đất mà sinh sinh hoá hoá.

Nhược thiệt nhược hư,

Bất ngôn nhi mặc tuyên đại hoá.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

Thi ân, tế chúng thiên tai tận,

Nhược thiệt, nhược hư vạn đại an.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NHƯỢC THUỶ

弱 水

Nhược: Yếu ớt. Thuỷ: Nước.

Nhược thuỷ là nước yết ớt.

Tương truyền nước ở biển Bột hải rất yếu, sức không chịu nổi hột cải, nên người ta gọi nơi ấy là Nhược thuỷ.

Trong biển Nhược thuỷ có ba hòn đảo Tiên đó là Bồng lai, Phương trượng, Doanh châu.

Xem: Nước Nhược.

Lèo lái tay gìn tuôn Nhược thuỷ,

Kệ kinh miệng niệm thấu Trùng Thiên.

(Thơ Tiếp Pháp).

Kẻ hoản chuyến đi vùng Nhược thuỷ,

Người ngưng cuộc tiễn khách Thiên Tào.

(Thơ Huệ Ngàn).

 

 

NHƯỢNG

Nhượng là nhường, tức để cho người khác hơn mình, hoặc nhường phần của mình đang hưởng.

Như: Nhượng bộ, nhượng chỗ ngồi cho người già cả, nhượng hết gia tài cho con.

Nhượng đức khiêm tài người khó sánh,

Thanh liêm treo giá tấm gương lành.

(Thơ Hiến Pháp).

 

 

NHƯỚNG MẮT

Nhướng: Đưa lông mày cong lên để nhìn cho thật rõ. Mắt: Một cơ quan để nhìn.

Nhướng mắt là mở mắt to để xem, nhìn cho thật rõ.

Như: Nhướng mắt trông cho rõ, vào chỗ tối phải nhướng mắt to để đi.

Rừng tòng ngày tháng thú quen chừng,

Nhướng mắt dòm coi thế chuyển luân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Còn thân còn nợ cõi trần nầy,

Cứ nhướng mắt tìm cảnh hạc mây.

(Đạo Sử).

 

 

NHƯỜNG

Nhường là chịu thiệt, chịu kém để tỏ lòng tử tế, khiêm tốn với người. Như: Nhường bước, nhường chỗ.

Cổ Linh Trần Tiên Sinh cũng có dạy: Hành giả nhượng lộ, canh giả nhượng bạn; ban bạch giả bất phụ đái ư đạo lộ, tắc vi lễ nghĩa chi tục hĩ 行 者 讓 路, 耕 者 讓 畔; 頒 白 者 不 負 戴 於 道 路, 則 為 禮 義 之 俗 矣, nghĩa là đi đường phải nhường bước, cày bừa phải nhường bờ. Chớ để người đầu bạc phải gánh đội đi ngoài đường phố, có thế mới thành phong tục lễ nghĩa vậy.

Thứ dung mấy lượt Phật Trời thương,

Cứ thói lung lăng chẳng kính nhường.

(Đạo Sử).

Lễ kinh đã dạy kính nhường người,

Cái thói kiêu căng chẳng khó noi.

(Đạo Sử).

 

 

NHƯỜNG BƯỚC

Nhường: Chịu thiệt, chịu kém để tỏ lòng tử tế, khiêm tốn với người. Bước: Động tác đi.

Nhường bước là để cho người khác qua trước, vượt lên trước mình.

Như: Nhường bước người già cả, nhường bước cho bạn tiến bộ lên.

Lễ nghĩa ngập tràn trong xã hội, trẻ biết kính già, lớn biết thương nhỏ, đi đường nhường bước, của rơi không mất.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

NHƯỜNG CƠM CHIA ÁO

Nhường cơm: Bớt ăn để cơm giúp người thiếu đói. Chia áo: Chia sẻ áo quần.

Nhường cơm chia áo ý nói chia sẻ cơm áo cho những người nghèo gặp cảnh khốn cùng, không có cơm ăn, chẳng có áo mặc.

Như: Người đạo phải biết nhường cơm chia áo cho kẻ thiếu đói.

Đạo là tình thương, người đồng Đạo phải sống trong tình thương vô tận, có khi phải nhường cơm chia áo cho nhau...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

NHƯỜNG NHỊN

Nhường: Để cho người khác hưởng phần của mình đang hưởng. Nhịn: ôm lòng mà chịu, không tranh chấp.

Nhường nhịn là chịu nhịn, nghĩa là chịu thua kém, để khỏi tranh chấp.

Như: Làm anh thì phải biết nhường nhịn em út.

Nhường nhịn gắng qua cơn khảo lớn,

Ngược xuôi mong vững chiếc thuyền con.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

NHƯỢNG

Nhượng là nhường, tức chịu thiệt, chịu kém để người khác hưởng phần mình đang hưởng.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông dạy Ngài Thượng Trung Nhựt có câu: Ngày nay Lão đã nhượng nửa quyền hành cho đó là có ý để mắt coi hiền hữu đúng phận cùng chăng?

Nhượng cho kẻ trí dắt dìu mình,

Phải biết lóng đời nỗi trọng khinh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NHƯỢNG TRÁNH

Nhượng: Nhường, tức để người khác làm. Tránh: Tự di chuyển sang một bên để khỏi vướng, va chạm.

Nhượng tránh là di chuyển qua một bên để nhường người lớn tuổi hay già yếu đi qua.

Thấy già yếu hẹp đường nhượng tránh,

Đừng chỗ đông buông tánh quá vui.

(Kinh Sám Hối).

 

 

NHỨT BỔN TÁN VẠN THÙ

Hay “Nhất bản vạn thù”.

Nhứt bổn (nhất bản): Một gốc. Tán vạn thù: Phân ra muôn sự sai biệt.

Nhứt bổn tán vạn thù, như chữ “Nhất bản tán vạn thù 一 本 散 萬 殊”, là một gốc phân chia ra muôn nhánh. Ý muốn nói một gốc là Đức Thượng Đế mà lập ra nhiều Tôn giáo ở khắp mọi nơi để phổ độ toàn chúng sanh, hoặc một khối Đại Linh Quang của Đức Chí Tôn, chia ra nhiều Tiểu hồn cho nhơn loại.

Phát Thanh Đài tạo rất công phu,

Nhứt bổn, quán thông tán vạn thù.

(Quan Cảnh Toà Thánh).

Nhứt bổn vạn thù chung tín ngưỡng,

Cao Đài tôn chỉ hiệp quy nguyên.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

NHỨT DĨ QUÁN CHI

Hay “Nhất dĩ quán chi”.

Nhứt (nhất): Một. Dĩ: Lấy. Quán: Xuyên suốt hết. Chi: Hư tự.

Nhứt dĩ quán chi, như chữ “Nhất dĩ quán chi一 以 貫 之”, là lấy từ lý của gốc mà thông suốt hết mọi việc.

Sách Luận ngữ có chép như sau: Tử viết: Sâm hồ! Ngô đạo nhất dĩ quán chi. Tăng Tử viết: Duy. Tử xuất môn, nhân vấn viết: Hà vị dã? Tăng Tử viết: Phu Tử chi Đạo: Trung thứ nhi dĩ hỹ 子 曰: 參 乎! 吾 道 一 以 貫 之. 曾 子 曰: 唯. 子 出 門 人 問 曰: 何 謂 也? 曾 子 曰: 夫 子 之 道 忠 恕 而 已 矣, nghĩa là Đức Khổng Tử kêu tên Tăng Tử mà nói rằng: Sâm (Tăng Sâm) ơi! Đạo ta do nơi một lẽ mà suốt thông tất cả. Ông Tăng Tử đáp: Dạ. Khi Đức Khổng Tử ra rồi, chư môn đệ của Ngài bèn hỏi ông Tăng Tử rằng: Thầy dạy như vậy là nghĩa gì? Ông Tăng Tử đáp: Đạo của Thầy chỉ gôm vào hai cái đức Trung và Thứ mà thôi.

Trung là hết lòng hết dạ, thành tâm thật ý. Thứ là suy lòng ta ra lòng người, như thương mình như thương người, việc gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác.

Đức Khổng Tử đem phương pháp tổng quát mà truyền cho ông Tăng Tử, vì ông hiểu biết hơn các môn đệ: Muốn suốt thông tất cả, từ nhơn tình thế sự cho tới Thiên lý, nên bắt một mối mà phăng ra mãi cho đến cùng. Ông Tăng Tử lại đem ra phương pháp tuần tự mà chỉ cho các bạn: Trước là nên hết lòng hết dạ, thành tâm thật ý, suy lòng ta ra lòng người. Được hai đức tính ấy rồi, mới có thể học phép nhất quán, tức là bắt đầu từ một mối gần mà hiểu thấu các mối xa (nhất dĩ quán chi).

Bằng cớ là buổi chung quy, Ngài kêu Sâm nói: “Sâm hồ ngô đạo, nhứt dĩ quán chi”.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

NHỨT DIỆN

Hay “Nhất diện”.

Nhứt (nhất): Một. Diện: Mặt, phương diện.

Nhứt diện, như chữ “Nhất diện 一 面”, là một mặt, hay một phương diện.

Khai Đạo, khi đặng tờ kêu nài cầu rỗi, thì liệu như đáng rỗi, phải nhứt diện tư tờ cho Toà Tam Giáo Cửu Trùng Đài xin đình án...

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

NHỨT ĐỊNH

Hay “Nhất định”.

Nhứt (nhất): Một. Định: Quyết làm.

Nhứt định, như chữ “Nhất định 一 定”, là từ biểu thị ý khẳng định chắc chắn, cho là không thể là khác được.

Nhứt định còn dùng để chỉ sự dứt khoát, không thay đổi ý định.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Còn nay thì nhơn loại đã hiệp đồng, Càn Khôn dĩ tận thức, thì lại bị phần nhiều đạo ấy mà nhơn loại nghịch lẫn nhau, nên Thầy mới nhứt định quy nguyên phục nhứt.

Lừa lọc cho cùng rồi nhứt định,

Đừng quen tính một chẳng dè hai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NHỨT GIA HỮU SỰ BÁ GIA ƯU

Hay “Nhất gia hữu sự bách gia ưu”.

Nhứt (nhất) gia: Một nhà, một gia đình. Hữu sự: Có việc, có tang. (bách) gia ưu: Trăm nhà cùng lo lắng.

Nhứt gia hữu sự bá gia ưu, như câu “Nhất gia hữu sự bách gia ưu 一 家 有 事 百 家 憂”, có nghĩa là một nhà có việc thì trăm nhà đều lo lắng đến, ý chỉ mọi nhà cùng quan tâm giúp đỡ lẫn nhau.

Đem tình thương chan rưới khắp cả bổn đạo, giúp đỡ, nương nhờ lẫn nhau, thực hành câu: “Nhứt gia hữu sự bá gia ưu”.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

NHỨT MẠCH ĐỒNG MÔN

Hay “Nhất mạch đồng môn”.

Nhứt (nhất) mạch: Một dòng nước chảy hay một mạch máu. Đồng môn: Cùng một cửa.

Nhứt mạch đồng môn, như chữ “Nhất mạch đồng môn 一 脈 同 門”, là cùng một mạch hay cùng một cửa, ý chỉ cùng một tôn giáo hay cùng một tín ngưỡng.

Nhứt mạch đồng môn hồi nhứt Ðạo,

Thiên khai dĩ định tảo vi trì.

(Đạo Sử).

 

 

NHỨT MÔN ĐỒNG MẠCH

Hay “Nhất môn đồng mạch”.

Nhứt (nhất) môn: Một cửa, ý chỉ một Đạo. Đồng mạch: Cùng một mạch máu, cùng một mạch nước chảy, ý nói cùng một tín ngưỡng.

Nhứt môn đồng mạch, như câu “Nhứt mạch đồng môn 一 脈 同 門”, có nghĩa là cùng một tôn giáo hay cùng một tín ngưỡng.

Xem: Nhứt mach đồng mạch.

Hiệp vạn chủng nhứt môn đồng mạch,

Quy thiên lương quyết sách vận trù.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

 

 

NHỨT MÔN HẠNH PHÚC

Nhứt (nhất) môn: Một cửa, hay một nhà. Hạnh phúc: Có phước vì hoàn toàn đạt được ý nguyện.

Nhứt môn hạnh phúc, như chữ “Nhất môn hạnh phúc 一 門 幸 福”, là phước cho cả nhà, vì mọi người hoàn toàn đạt được ý nguyện.

Một nhà sau gặp gỡ, ngàn trước vẫn an vui. Ấy là nhứt môn hạnh phúc vậy. Thầy ban ơn các con.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

NHỨT NIỆM

Hay “Nhất niệm”.

Nhứt (nhất): Một. Niệm: Sự tưởng nghĩ, tư tưởng.

Nhứt niệm, như chữ “Nhất niệm 一 念”, là một niệm, một lần tưởng niệm.

Theo Thiền Tông, “Nhứt niệm bất sinh”, tức là trạng thái tâm thức của con người không có một niệm vô minh (niệm ác) nào sinh khởi thì đó là tâm thức của một vị Phật.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Nền Ðạo là một điều cảm ứng rất mầu nhiệm vô cùng, có câu: “Nhơn tâm sanh nhứt niệm, Thiên địa tất giai tri”. Từ đây chư Chức Sắc và Chức Việc cùng Ðạo Hữu nam, nữ gắng thành tâm cầu nguyện cho nền Ðạo và cơ Ðời được an ninh trật tự, kể từ ngày nay cho đến Tân Xuân đầu năm Ðinh Hợi thì sẽ thấy sự tiến hoá phi thường và huyền linh mầu nhiệm.

Nhứt niệm Quan Âm thùy bảo mạng,

Thiên niên đẳng phái thủ sanh tồn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NHỨT NƯƠNG DIÊU TRÌ CUNG

一 娘 瑤 池 宮

Hay “Nhứt Nương”.

Nhứt Nương, hay Nhứt Nương Diêu Trì Cung là vị Tiên Nương đứng vào hàng thứ nhứt trong Cửu Vị Tiên Nương hay Cửu Vị Nữ Phật.

Nơi Chánh Điện thờ tại Báo Ân Từ, Nhứt Nương mặc áo màu xanh, ngồi bên trái Đức Phật Mẫu, tay ôm bửu pháp là cây đàn Tỳ Bà. Nhứt Nương cai quản vườn Ngạn Uyển ở tầng trời thứ nhứt của Cửu Trùng Thiên, có nhiệm vụ xem xét các nguyên nhân đang còn sống nơi cõi trần hay các nguyên nhân đã quy vị. Nhứt Nương còn được gọi là Quỳnh Hoa Tiên Nữ.

Mỗi đóa hoa trong vườn Ngạn uyển biểu tượng cho một nguyên nhân. Nơi vườn Ngạn uyển có một bông hoa nở tức là một Nguyên nhân xuống trần đầu kiếp, có một bông hoa héo tàn thì có một Nguyên nhân thoát xác. Khi sống nguyên nhân đó làm điều đạo đức, nhơn nghĩa thì sắc hoa tươi thắm, làm điều quấy ác, xấu xa thì sắc hoa ủ dột.

Trong một đàn cơ ngày 5 tháng 9 năm Giáp Tuất (Dl. 12/10/1934) Phò loan: Hộ Pháp, Tiếp Thế, Đức Hộ Pháp có yêu cầu Nhứt Nương giải thích về Ngạn uyển chưởng hồn. Nhứt Nương Diêu Trì cung cho biết: “Ngạn uyển chưởng hồn là vườn Ngạn uyển trồng hoa, mỗi cái hoa là một chơn hồn của kẻ nguyên nhân, thạnh suy, thăng đọa chi cũng do nơi khối sanh hoa khi ấy, định sanh mạng của mỗi người, nên phải chăm nom từ tuổi”.

Nhứt Nương Diêu Trì Cung có một kiếp giáng trần tại Việt Nam tên là Hoàng Thiều Hoa, làm Trung Phong Hữu Tướng của Hai Bà Trưng, cho nên bài thài hiến lễ Nhứt Nương trong Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung hằng năm có chữ Hoa đứng đầu như:

Hoa thu ủ như màu nguyệt thẹn,

Giữa thu ba e tuyết đông về.

Non sông trải cánh tiên loè,

Mượn câu thi hứng vui đề chào nhau.

Hoàng Thiều Hoa nguyên là con một gia đình nông dân nghèo khó, cha là Hoàng Phụ, mẹ là Đào Thị Côn kiếm củi và cày thuê cấy mướn để độ thân. Hai ông bà ở với nhau lâu mà không có con.

Một ngày kia, cả hai vợ chồng qua sông đi vô rừng kiếm củi. Trời đã đứng bóng, hai người nằm nghỉ, rồi ngủ quên dưới bóng cây. Người vợ nằm mộng thấy một người con gái xinh đẹp từ trong núi bước ra, đến bên bà chào hỏi. Bà cất tiếng dịu dàng hỏi: “Nàng ở đâu đến”. Người con gái đáp: “Con là con gái của sơn thánh Tản viên, tên là Thiều Hoa. Ông bà có muốn nhận con là con nuôi không”. Bà âu yếm trả lời: “Ta đâu dám thế, nhưng nếu ta được con, ta sẽ coi con như con ruột của ta vậy”.

Người con gái khẽ cười và nhận hai ông bà làm cha mẹ. Xong cô gái bèn xốc gánh củi lên vai bước đi thoăn thoắt chỉ một chốc không thấy đâu nữa. Bà Đào Thị Côn chợt tỉnh giấc, mới biết là giấc mộng. Sau đó, bà Côn sinh được một người con gái tươi đẹp, trông giống như người trong chiêm bao nên đặt tên là Thiều Hoa.

Lớn lên Thiều Hoa rất thương yêu cha mẹ, thấy hai người vẫn còn cực nhọc nên thường phụ giúp trong những công việc nặng nhọc. Vì Thiều Hoa là người con gái có sức khỏe hơn người và giỏi tính.

Một ngày kia. đương thả trâu cho ăn ngoài đồng trống, Bà Thiều Hoa trèo lên một gò cao để hóng mát, bỗng thấy một đám quân Tàu đang xâm chiếm nước ta, đánh đập tàn ác một cụ già ốm yếu. Bà quá bất nhẫn, định lao mình xuống đánh kẻ dã tâm để cứu cụ già. Chợt Bà nghe một tiếng vọng từ phía sau, Bà quay lại thì thấy một nhà sư vẩy tay gọi, Bà dừng lại, nhà sư tới gần khẽ bảo: Con có sức mạnh phi thường, song việc con sắp làm chưa có ích lớn đâu! Không phải cứu một người, mà sức con là cứu cả một dân tộc khỏi bị đô hộ áp bức, đó mới là việc phi thường.

Thiều Hoa đáp: “Con xin vâng lời Thầy”.

Từ đó, Bà để tâm rèn luyện võ nghệ, khi nghe tin ở Mê Linh vào năm 39/40 sau Tây lịch, Hai Bà Trưng kêu gọi toàn quân, dân chống giặc cướp nước, Bà cùng đám nghĩa quân đáp lời kêu gọi, về hợp tác cùng Hai Bà Trưng, được hai Bà thu nạp và phong cho chức Trung Phong Hữu Tướng Quân. Bà lập nhiều công lao to lớn, nên khi đuổi xong bọn giặc Hán, Hai Bà Trưng lên ngôi vua, phong Hoàng Thiều Hoa là Đông Cung Công Chúa.

Đền thờ của Hoàng Thiều Hoa hiện còn tại xã Song Quan, tỉnh Vĩnh Phú. Trong thời Tam Kỳ Phổ Độ, Bà dâng lịnh Đức Phật Mẫu, thọ lãnh chức Nhứt Nương Diêu Trì Cung cùng với tám vị Tiên Nương khác dìu dắt các Thiên sứ khai nền Đại Đạo và độ rỗi toàn thể chúng sanh.

Nhứt Nương coi vườn Ngạn Uyển,

Cầm Tỳ Bà điều khiển cơ sinh.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

NHỨT NGÔN KHẢ DĨ HƯNG BANG

Nhứt (nhất): Một. Ngôn: Lời nói. Khả dĩ: Có thể. Hưng bang: Đất nước hưng thịnh.

Nhứt ngôn khả dĩ hưng bang, như “Nhất ngôn khả dĩ hưng bang 一 言 可 已 興 邦”, là một lời nói có thể làm cho đất nước hưng thịnh lên.

Vì đó có câu: Nhứt ngôn khả dĩ hưng bang, nhứt ngôn khả dĩ táng bang.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

NHỨT NGÔN KHẢ DĨ TÁNG BANG

Nhứt (Nhất): Một. Ngôn: Lời nói. Khả dĩ: Có thể. Táng bang: Làm cho mất nước.

Nhứt ngôn khả dĩ táng bang, như “Nhất ngôn khả dĩ táng bang一 言 可 已 喪 邦”, có nghĩa là một lời nói có thể làm cho mất nước.

Vì đó có câu: Nhứt ngôn khả dĩ hưng bang, nhứt ngôn khả dĩ táng bang.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

NHỨT NGHỆ TINH

Hay “Nhất nghệ tinh”.

Nhất: Một. Nghệ tinh: Nghề nghiệp tinh xảo.

Nhứt nghệ tinh, như chữ “Nhất nghệ tinh 一 藝 精”, là có một nghề nghiệp tinh xảo, tức là nghề giỏi và khéo léo.

Câu này cũng có ý nghĩa gần tương tự như câu: Một nghề cho chín còn hơn chín nghề, ý nói thành thạo, giỏi giang hẳn một nghề còn hơn có nhiều nghề nhưng nghề nào cũng dở, không làm đến nơi đến chốn.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có dạy: Lao tâm hay lao lực, miễn nghề nghiệp tinh xảo thì người hành nghề luôn luông được phần thưởng xứng đáng, vì vậy có câu: “Nhứt nghệ tinh, nhứt thân vinh” thật là đúng vậy.

Mãn đời khoẻ khoắn, thân đầy đủ,

Nhờ biết hành câu nhứt nghệ tinh.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

NHỨT NHỰT TAM TỈNH

Hay “Nhất nhật tam tỉnh”.

Nhứt nhựt (nhất nhật): Một ngày, hằng ngày. Tam tỉnh: Xét mình trong ba điều.

Nhứt nhựt tam tỉnh, như chữ “Nhất nhật tam tỉnh 一 日 三 省”, là hằng ngày xét mình trong ba điều, ý chỉ Thầy Tăng tử, học trò Đức Khổng Tử thường trau mình bằng cách “Nhất nhật tam tỉnh ngô thân 一 日 三 省 吾 身” tức mỗi ngày xét mình trong ba điều:

- Lo việc cho người không hết lòng bằng việc mình, có vậy không?

- Giao du với bè bạn mà đem lòng giả dối, có phải vậy không?

- Nghe lời Thầy dạy bảo mà hay lãng xao có như vậy không?

Thầy Tăng Tử xưa là bậc hiền triết mà còn “Nhứt nhựt tam tỉnh ngô thân”...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

NHỨT TÂM

Hay “Nhất tâm”.

Nhứt (nhất): Một. Tâm: Lòng.

Nhứt tâm, như chữ “Nhất tâm 一 心”, là một lòng, ý chỉ sự chuyên tâm hay sự đồng tâm.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Ấy vậy, hễ biết đến nguồn Đạo thì phải nhứt tâm đợi ngày thành tựu thì các con sẽ thấy sự tối cao tối trọng của nền Chánh giáo của Thầy đem ban cho các con mà lập thành Quốc Đạo.

Thành tín nhứt tâm cũng đáng khen,

Không sang tột bực cũng không hèn.

(Đạo Sử).

Hiệp sức đã từng thệ nhứt tâm,

Đạo mầu vun quén há sai lầm.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

NHỨT TÂM THIỆN NIỆM

Hay “Nhất tâm thiện niệm”.

Nhứt (nhất) tâm: Một lòng, lòng luôn luôn. Thiện niệm: Tưởng niệm đến điều lành.

Nhứt tâm thiện niệm, như chữ “Nhất tâm thiện niệm 一 心 善 念”, là một lòng nghĩ đến điều lành, hay luôn luôn nghĩ đến điều lành. Bởi vì nghĩ đến điều lành là không nghĩ đến điều dữ, không gieo ác nghiệp. Trong Kinh Pháp Cú, Phật có dạy: “Không tạo ác nghiệp là hơn, vì làm ác nhứt định thọ khổ; làm các thiện nghiệp là hơn, vì làm lành nhứt định thọ vui”.

Trong Minh Tâm Bửu Giám có câu: “Nhất nhựt bất niệm thiện, chư ác giai tự khởi 一 日 不 念 善, 諸 惡 皆 自 起”, nghĩa là một ngày chẳng nghĩ đến điều lành, mọi điều ác sẽ tự dấy lên.

Chẳng cần phải tu nhiều kiếp mà vẫn được giải thoát: Hễ đầy đủ công đức và nhất tâm niệm Phật cho đến mức nhất tâm bất loạn thì nhờ vào sức tiếp dẫn của các Đấng sẽ được vãng sanh về cõi Thiêng Liêng Hằng Sống, không còn vướng mắc trong vòng sanh tử nữa.

Nhược hữu nhơn thọ trì khủng kinh ma chướng, nhứt tâm thiện niệm...

(Di Lạc Chơn Kinh).

 

 

NHỨT TOÁN HOẠ PHƯỚC LẬP PHÂN

Hay “Nhất toán hoạ phúc lập phân”.

Nhứt (nhất) toán: Tính ra. Hoạ phước (phúc): Điều tai hoạ, điều phước lành. Lập phân: Phân định rõ ràng.

Nhứt toán hoạ phước lập phân, như câu “Nhất toán hoạ phúc lập phân 一 算 禍 福 立 分”, là từng việc lành dữ đều được phân định rõ ràng.

Con người sống ở thế gian nầy, ai nấy đều phải có mang lấy không hoạ thì phước. Nhưng lòng người ai cũng đều sợ tai hoạ, lại mong cầu phước đức. Theo Thái Thượng cảm ứng thiên, Hoạ phúc vô môn duy nhơn tự triệu 禍 福 無 門 惟 人 自 召, là phước và hoạ không có cửa, do mình tự rước lấy mà thôi.

Nhưng đối với Lão Tử, chuyện hoạ phước cũng như những trạng thái mâu thuẫn khác như tốt xấu, thiện ác, thị phi... là những cặp mâu thuẫn bên ngoài mà tựu trung chỉ là bề trái, bề mặt của một thực tại mà thôi. Ngài nói: Thiên hạ giai tri mỹ chi vi mỹ, tư ác dĩ; giai tri thiện chi vi thiện, tư bất thiện dĩ 天 下 皆 知 美 之 為 美, 斯 惡 已; 皆 知 善 之 為 善, 斯 不 善 已, nghĩa là thiên hạ đều biết tốt là tốt, thì đã có xấu rồi; đều biết lành là lành, thì đã có điều chẳng lành rồi.

Chính hiểu được lẽ mâu thuẫn đó, ta đừng nên vướng mắc hay lệ thuộc vào nó, như vậy mới có được thái độ điềm tĩnh, thản nhiên trước những sự “mừng vui hay đau khổ” của cuộc đời.

Lão Tử nói: “Hoạ hề, phúc chi sở ỷ, phúc hề, hoạ chi sở phục 禍 兮 福 之 所 倚, 福 兮 禍 之 所 伏”, nghĩa là hoạ là chỗ dựa của phúc; phúc là chỗ núp của hoạ.

Tóm lại, hoạ phước do mình tạo, nên muốn tránh hoạ thì mình luôn làm điều phước.

Huyền phạm quảng đại,

Nhứt toán hoạ phước lập phân.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

NHỨT TỔ

Hay “Nhất tổ”.

Nhứt (nhất): Thứ nhứt. Tổ: Tổ Sư, người đứng đầu một Tông phái.

Nhứt Tổ, như chữ “Nhất tổ 一 祖”, là vị Tổ Sư thứ nhứt của Phật giáo.

Theo lịch sử Phật giáo Ấn Độ, Đức Phật Thích Ca truyền y bát cho Ngài Ma Ha Ca Diếp làm Nhứt Tổ, rồi sau đó truyền lần cho đến Tổ thứ hai mươi tám là Ngài Bồ Đề Đạt Ma.

Ngài Bồ Đề Đạt Ma sang Trung Hoa lập Thiền tông nên được tôn làm Nhứt Tổ (phái Thiền Tông), rồi sau đó Ngài truyền y bát cho Huệ Khả làm Nhị Tổ phái Thiền Tông, Trung Hoa.

Nhị Tổ Huệ Khả tiếp tục truyền y bát lần đến Lục Tổ là Huệ Năng thì chấm dứt.

Xem: Lục Tổ.

Thầy nói cho các con rõ, vì cớ nào trước từ Nhứt Tổ chí Lục Tổ thì thờ Thầy ngồi trước...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

NHỨT THÂN ỨC VẠN

Hay “Nhất thân ức vạn”.

Nhứt (nhất) thân: Một thân mình. Ức vạn: Trăm ngàn và mười ngàn, ý chỉ số nhiều.

Nhứt thân ức vạn, như chữ “Nhất thân ức vạn 一 身 億 萬”, là một thân mà biến hoá ra ức vạn thân.

Trong Bài Kinh Tiên Giáo, cho biết Đức Thái Thượng Lão Quân chỉ có một thân mà biến hoá ra hằng vạn thân một cách mầu nhiệm.

Thật vậy, Đức Thái Thượng Lão Quân được hoá sinh từ khí Tiên Thiên, nên Ngài rất thần thông biến hoá, một thân có thể ứng hiện muôn ức thân để cứu độ cho chúng sanh trong cõi trần này.

Theo Sách “Thực Văn Hiến Thông Khảo”, Ông Các Trủy Xương nói rằng: Lão Tử không đời nào mà không có Ngài giáng sinh, hằng đổi tên cải họ, như:

- Đời vua Huỳnh Đế hiệu Ngài là Quảng Thành Tử.

- Đời vua Văn Vương hiệu Ngài là Nhiếp Ấp Tử.

- Đời vua Võ Vương hiệu Ngài là Dục Thành Tử.

- Đời Khương Vương hiệu Ngài là Quách Thúc Tử.

- Đầu đời Hớn hiệu Ngài là Huỳnh Thạch Công.

- Đời vua Hớn Vũ Đế hiệu Ngài là Hà Thượng Công.

Nhứt thân ức vạn,

Diệu huyền thần biến.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

NHỨT THÂN VINH

Hay “Nhất thân vinh”.

Nhứt (nhất) thân: Một thân, chỉ thân mình. Vinh: Vẻ vang, vinh hiển.

Nhứt thân vinh, như chữ “Nhất thân vinh 一 身 榮”, là bản thân được vẻ vang suốt đời.

Tục ngữ ta có câu: Nhứt nghệ tinh, nhứt thân vinh, có nghĩa là sống ai cũng cần ít nhứt có một nghề, nếu như một nghề mà sự tinh xảo đứng bậc nhứt thì một đời thân được hưởng vinh hoa.

Xem: Nhứt nghệ tinh.

Vì vậy có câu: Nhứt nghệ tinh, nhứt thân vinh thật là đúng như vậy.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

NHỨT THIẾT

Hay “Nhất thiết”.

Nhứt (nhất): Một. Thiết: Nói gộp cả.

Nhứt thiết, như chữ “Nhất thiết 一 切”, là tất cả, hết thảy. Nhất thiết chúng sanh là hết thảy chúng sanh.

Nhất thiết chư Phật là tất cả các vị Phật.

Trong Đạo Sử Đức Như Ý Đạo Thoàn có dạy: Vật dĩ cựu luật vi căn bổn, hội đắc Tam Kỳ Phổ Ðộ nhứt thiết chúng sanh hữu căn hữu kiếp đắc kỳ quy vị.

Nhứt vi u ám tất giai văn,

Nhứt thiết chúng sanh thành chánh giác.

(Kệ Chuông).

Nhứt thiết chư Phật tùng lịnh Di Lạc Vương Phật, năng chiếu diệu quang tiêu trừ nghiệt chướng.

(Di Lạc Chơn Kinh).

 

 

NHỨT THỐNG

Nhứt (nhất): Một. Thống: Hợp cả lại.

Nhứt thống, như chữ “Thống nhất 統 一”, là thâu tóm tất cả vào một mối.

Trong Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Đức Quan Âm Bồ Tát đã cầm quyền nhứt thống oai nghiêm chẳng cần luận thuyết, cả thảy cùng đều biết cái quyền oai của Ngài vĩ đại như thế này, nhứt là phái nữ nên để ý bài giảng nầy cho lắm.

Nếu muốn trừ cái hại ấy thì chẳng chi hay hơn là chia đôi nó ra, không cho một người nhứt thống.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

NHỨT TRÀNG

Hay “Nhất trường”.

Nhứt (nhất): Một. Tràng (trường): Đám đất rộng, dùng làm nơi tụ tập đông người.

Nhứt tràng, như chữ “Nhất trường 一 場”, là cùng chung một chỗ gồm nhiều người học tập, thi đua nhau.

Xem: Nhứt trường.

Vô Địa ngục, vô Quỷ quan,

Chí Tôn đại xá nhứt tràng quy nguyên.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

 

 

NHỨT TRẤN OAI NGHIÊM

Hay “Nhứt Trấn”.

Nhứt Trấn Oai Nghiêm, như chữ “Nhất Trấn Uy Nghiêm 一 鎮 威 嚴”, là một Đấng trong Tam Trấn, do Đức Lý Đại Tiên Trưởng Lý Thái Bạch, thay mặt Đức Thái Thượng Lão Quân, cầm quyền về Tiên Giáo, có nhiệm vụ bảo vệ và phát triển nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ của Đức Chí Tôn.

Lý Đại Tiên Trưởng còn kiêm nhiệm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, tức là Giáo Tông của đạo Cao Đài.

Thánh giáo Lý Đại Tiên Trưởng dạy: Lão hạ mình bỏ quyền Nhứt Trấn lãnh việc Giáo Tông mà lập vị cho đoàn em bước tới.

1.- Nhứt Trấn Oai Nghiêm:

Nhứt Trấn Oai Nghiêm Lý Đại Tiên,

Giáo Tông Đại Đạo ngự Thiêng Liêng.

(Thơ Huệ Phong).

2.- Nhứt Trấn:

Thay Lão Giáo cầm quyền Nhứt Trấn,

Kiêm Giáo Tông độ dẫn nguyên nhân.

(Cội Đạo Bốn Mùa).

 

 

NHỨT TRIÊU NHỨT TỊCH

Hay “Nhất triêu nhất tịch”.

Triêu: Buổi sáng. Tịch: Buổi chiều.

Nhứt triêu nhứt tịch, như chữ “Nhất triêu nhất tịch 一 朝 一 夕”, là mỗi buổi sáng và mỗi buổi chiều, ý muốn nói sáng chiều phải thăm viếng cha mẹ.

Trong tôn giáo Cao Đài, sáng chiều đều có thăm viếng cha mẹ thiêng liêng, bằng cách hầu lễ Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu nơi Toà Thánh và Báo Ân Từ.

Càn Khôn Tạo Hoá sánh tài,

Nhứt triêu nhứt tịch kỉnh bài mộ khang.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

 

 

NHỨT TRƯỜNG

Hay “Nhất trường”.

Nhứt (nhất): Một. Trường: Đám đất rộng, dùng làm nơi tụ tập đông người.

Như: Trường học, trường thi, trường danh lợi.

Nhứt trường, như chữ “Nhất trường 一 場”, là cùng chung một chỗ gồm nhiều người học tập, thi đua nhau.

Cờ thần nhớ buổi vầy đôi bạn,

Tiệc ngọc nào khi hội nhứt trường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

NHỨT VÃNG NHỨT LAI

Hay “Nhất vãng nhất lai”.

Nhứt (nhất) vãng: Một lần đi. Nhứt (nhất) lai: Một lần đến.

Nhứt vãng nhứt lai, như chữ “Nhất vãng nhất lai 一 往 一 來”, là mỗi lần đi và mỗi lần đến, theo ý nghĩa kinh là chỉ mỗi lần đi đầu kiếp cõi thế, mỗi lần thoát kiếp trở về.

Chủ Âm quang thường tùng Thiên mạng,

Độ chơn thần nhứt vãng nhứt lai.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

 

 

NHỰT

1.- Nhựt, còn đọc là “Nhật”, là mặt trời. Như: Nhựt thực, nhựt quang, nhựt nguyệt tinh.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Ðừng làm như cái tháp của Bảo Ðạo vì hai đứa phẩm vị khác nhau. Chung quanh Bát quái đài phải làm như hình có cột, tại chính giữa tháp phải có một lỗ cho nhựt quang rọi tới liên đài.

Mặt nhựt hồi mô thấy xẻ hai,

Có thương mới biết Ðấng Cao Ðài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Rừng thung bóng nhựt đã hầu chinh,

Tỏ rạng gần nơi bước vẹn gìn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Nhựt, còn đọc là “Nhật”, ngày. Như: Sinh nhựt, kỵ nhựt, kiết nhựt lương thần.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Thầy Tăng Tử xưa là một bậc hiền triết mà còn “Nhứt nhựt tam tỉnh ngộ thân”, tức là hằng ngày xét mình trong ba điều.

Năng làm phải, nhựt nhu ngoạt nhiễm,

Lâu ngày dồn tính đếm có dư.

(Kinh Sám Hối).

Tỉnh ngộ xá thân tại Phạm môn,

Khuyến tu hậu nhựt độ sinh hồn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Nhựt, còn đọc là “Nhật”, là tên nước nói tắt của “Nhật Bản”, một đảo quốc ở phía đông Á Châu, theo chính thể quân chủ lập hiến.

Như: Nhựt Bản, Nhựt Hoàng.

Nhựt Đức lại với Tàu Tây,

Gây trường huyết chiến tại đây bây giờ.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

NHỰT ĐỂ

Hay “Nhật để”.

Nhựt (nhật): Ngày. Để: Cái đáy, cuối hết.

Nhựt để, như chữ “Nhật để 日 底”, là một văn bản dùng để báo cáo công việc của một cơ quan xảy ra cuối mỗi ngày.

Mỗi ngày phải chạy tờ nhựt để cho Chánh Trị Sự hiểu điều động tịnh trong địa phận mình.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

NHỰT NGUYỆT

Nhựt (nhật): Mặt trời. Nguyệt: Mặt trăng.

1.- Nhựt nguyệt, như chữ “Nhật nguyệt 日 月”, là chỉ mặt trời và mặt trăng.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Cứ Xuân mãn rồi Xuân về, nhựt nguyệt mãi vần xây mà bức tranh xã hội vẫn nhuộm màu chiết toả thê lương, khói lửa vẫn bao trùm non nước, gây biết bao tang thương ảm đạm cho kiếp con người sống trong thời kỳ chiến tranh loạn lạc.

Chi bẳng một bầu đầy nhựt nguyệt,

Thông minh miệng thế mặc dò đon.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðời rạng lưu tồn gương nhựt nguyệt,

Ðạo thành vạn đại chiếu sơn hà.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Nhựt nguyệt, còn đọc là “Nhựt ngoạt”, dùng để chỉ thời gian là ngày tháng.

Như: Nhựt nguyệt như thoi đưa.

Năng làm phải, nhựt nhu ngoạt nhiễm,

Lâu ngày dồn tính đếm có dư.

(Kinh Sám Hối).

 

 

NHỰT NGUYỆT CHI QUANG

Hay “Nhật nguyệt chi quang”.

Nhựt (nhật) nguyệt 日 月: Mặt trời và mặt trăng. Quang: Sáng, ánh sáng.

Nhựt nguyệt chi quang, như chữ “Nhật nguyệt chi quang 日 月 之 光”, là ánh sáng của mặt trời, mặt trăng soi rọi khắp nơi.

Trong kinh Tiên Giáo có câu: “Càn khôn oát vận, Nhựt nguyệt chi quang 乾 坤 斡 運, 日 月 之 光, có nghĩa là Trời đất xoay chuyển, vận hành không ngừng nghỉ, nên mới có ánh sáng của mặt Trời mặt trăng soi rọi (tức có âm dương).

Thật vậy, Đạo của Đức Thái Thượng là do Trời đất, Âm dương xoay chuyển, vận hành, như mặt Trời tượng cho dương, mặt trăng tượng cho âm thay nhau chiếu sáng ngày đêm, không chỗ nào mà không tỏ rạng.

Đạo là Trời đất cứ xoay vần mãi mãi, hết xuân đến hạ, dứt thu qua đông, trăng tròn rồi khuyết, hết ngày tới đêm, ấy là sự biến dịch của âm dương, có biến dịch, âm dương mới có sinh hoá, có sinh hoá mới có Đạo. Đạo pháp mới lưu hành mãi không bao giờ dứt, đem ánh sáng soi tỏ rạng khắp nơi, tựa như nhựt, nguyệt chiếu ngời vạn vật.

Càn khôn oát vận,

Nhựt nguyệt chi quang.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

NHỰT NGUYỆT MẠO

Hay “Nhật nguyệt mạo”.

Nhựt (nhật): Mặt trời. Nguyệt: Mặt trăng. Mạo: Mão.

Nhựt nguyệt mạo thường gọi là mão Quạ, là cái mão làm bằng hàng trắng, có hình dạng là một vòng tròn úp lên đầu, tượng trưng mặt trời và cái hình bán nguyệt của mão tượng trưng cho mặt trăng.

Trong Pháp Chánh Truyền Chú giải có quy định về bộ Đại phục của Thập nhị Thời quân như sau: “Bộ Đại phục toàn bằng hàng trắng, cổ trịt viền chỉ kim tuyến bạc, đầu đội mão Quạ cũng bằng hàng trắng, lưng nịt dây sắc lịnh theo chi của mình mà thả mối, chơn đi giày Vô ưu màu trắng”.

Trong Đàn cơ tại Toà Thánh, ngày 25 tháng 1 năm Tân Mùi (Dl. 13/3/1931), Phò loan Hộ Pháp, Bảo Văn Pháp Quân, Bà Lục Nương Diêu Trì Cung có giáng cơ định danh cái mão của chư chức sắc Thời Quân Hiệp Thiên Đài đội như sau:

Thưa anh Cao Văn Pháp, em chẳng hiểu ý Chí Tôn định y phục của hai anh thế nào nên tốt hơn là tìm Thánh ngôn của Người mà coi lại.

Văn Pháp bạch: Lúc sửa Pháp Chánh Truyền trải qua những Thiên phục của các Chức sắc, Đức Giáo Tông đặt tên mão còn sót mão Hiệp Chưởng của Chức sắc Hiệp Thiên Đài. Qua tưởng khi để mão Hiệp Chưởng không nhằm, xin em từ bi sửa lại giùm.

– Cười... Cái vòng tròn úp lên đầu mà đội là thể Nhựt hình, còn hình bán nguyệt của mão là thể Nguyệt tượng, Vậy thì gọi là Nhựt Nguyệt Mạo.

Như vậy, mão Quạ tức “Nhựt nguyệt mạo”, là mão dành cho Thập Nhị Thời Quân đội khi mặc Đại phục chầu lễ Đức Chí Tôn.

Nhựt Nguyệt mạo còn dùng cho Bảo Văn Pháp Quân, Bảo Sanh Quân, Hộ Đàn Pháp Quân, Tả Hữu Phan Quân đội khi chầu lễ Đức Chí Tôn, nhưng mỗi phẩm cái mão có những đặc điểm riêng.

Mão của Bảo Văn Pháp Quân.

Theo Pháp Chánh Truyền: Bộ Đại Phục của Văn Pháp toàn bằng hàng trắng, đầu đội Nhựt Nguyệt Mạo như các Chức Sắc nơi Hiệp Thiên Đài, song hai bên ngay chính giữa có kết một bông sen năm cánh, trên mỗi bông thì thêu Thiên Nhãn Thầy ngay đường giữa trước mão cũng kết một bông sen nhưng khỏi thêu Thiên Nhãn. Cả thảy là ba bông sen trên mão.

Mão của Bảo Sanh Quân.

Theo Pháp Chánh Truyền: Bộ Đại Phục của Bảo Sanh Quân toàn bằng hàng trắng, đầu đội Nhựt nguyệt mạo giống như các chức sắc Hiệp Thiên Đài. Ngay giữa mão. Ngay giữa mão từ bìa lên bốn phân thêu một Thiên Nhãn. Hai bên mão thêu hai Thiên Nhãn nữa, cả thảy là ba. Vòng theo dành mão cột một sợi dây Tiên Thằng (bề ngang 8 phân, bề dài 2 thước), buộc thế nào chừa Thiên Nhãn ngay giữa mão ra, cho hai mối thòng xuống hai bên vai.

Mão của Hộ Đàn và Tả Hữu Phan Quân.

Trong một Đàn cơ tại Giáo Tông Đường, ngày 25 tháng 10 năm Ất Tỵ (Dl. 17/11/1965). Phò loan: Hiến Pháp, Khai Đạo. Lúc 21 giờ 30. Đức Thượng Sanh bạch: Vị tân Hộ Đàn Pháp Quân là Thượng Khanh Thanh sẽ mặc sắc phục thế nào?

Đức Hộ Pháp dạy: Đại phục: Áo tràng rộng như Thời Quân, đội Nhựt Nguyệt Mạo, lưng thắt dây Sắc lịnh bỏ mối ngay giữa.

Còn Đại phục của Tả, Hữu Phan Quân giống như Đại phục của Hộ đàn Pháp Quân, nhưng không có buộc dây sắc lịnh ở lưng. Như vậy, bộ Đại Đại phục của Tả, Hữu Phan Quân đều mặc áo tràng trắng, đầu đội Nhựt Nguyệt Mạo.

Ngoài ra, Nhựt Nguyệt Mạo còn dùng cho các phẩm chức sắc Hiệp Thiên Đài Tiểu cấp đội, nhưng hai bên Nhựt nguyệt Mạo có Tam sắc đạo (tức miếng vải ba màu: Vàng, xanh, đỏ), ba Cổ pháp và trên Cổ pháp có cân công bình.

Măc áo tràng trắng, hai bên vai áo có dấu hiệu Tam giáo và Cổ pháp, trên Cổ pháp có cân công bình, đầu đội Nhựt Nguyệt Mạo.

(Hiến Pháp Hiệp Thiên Đài).

 

 

NHỰT NGUYỆT TINH THẦN CHI QUÂN

Hay “Nhật Nguyệt Tinh thần chi quân”.

Nhựt (nhật) Nguyệt Tinh: Tam bửu của Trời, đó là mặt trời, mặt trăng, và các ngôi sao. Thần: Thời giờ, chỉ về Thời gian. Chi quân: Vua.

Nhật nguyệt tinh thần chi quân 日 月 星 辰 之 君, là một câu trong bài Ngọc Hoàng Kinh, ý nói Đức Chí Tôn là vua của nhựt nguyệt tinh, tức là không gian, và thần, tức thời gian.

Trời có Âm dương, đất Cương nhu. Có Âm dương nên mới có Nhựt, Nguyệt, Tinh, Thần. Có Cương nhu mới có Sơn, Xuyên, Thảo, Mộc.

Tất cả các vì Tinh tú nầy đều nằm trong Càn khôn Vũ trụ, nên là không gian của Vũ Trụ. Người ta thường nói: Trời có ba món báu (Tam bửu) là Nhựt, Nguyệt, Tinh; đất cũng có ba báu là Thuỷ, hoả, Phong; người cũng có ba báu là Tinh, Khí, Thần.

Theo Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Chí Tôn là “Chúa cả Càn Khôn Thế Giới”, nên Ngài là vua của Nhựt, Nguyệt, Tinh, tức là cai quản cả không gian của Vũ trụ, và còn “Nắm trọn thập nhị Thời Thần trong tay”, vậy Ngài cũng là chúa của Thời Thần, tức chưởng quản thời gian.

Nãi Nhựt Nguyệt Tinh Thần chi quân,

Vi Thánh, Thần, Tiên, Phật chi chủ.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

NHỰT NHU NGOẠT NHIỄM

Hay “Nhật nhiễm ngoạt nhu”.

Nhựt (nhật): Ngày. Nhu: Ướt. Ngoạt (nguyệt): Tháng. Nhiễm: Thấm vào. Nhu nhiễm: Dầm thấm vào.

Nhựt nhu ngoạt nhiễm, như chữ “Nhật nhu nguyệt nhiễm 日 濡 月 染”, là dầm thấm theo ngày tháng rồi trở thành thói quen.

Nhựt nhu ngoạt nhiễm đồng nghĩa với câu “Nhựt nhiễm nguyệt nhu 日 染 月 濡”.

1.- Nhựt nhu ngoạt nhiễm:

Năng làm phải, nhựt nhu ngoạt nhiễm,

Lâu ngày dồn tính đếm có dư.

(Kinh Sám Hối).

2.- Nhựt nhiễm ngoạt nhu:

Tội tình nhựt nhiễm ngoạt nhu,

Gỡ ra kẻo mắc tội tù bớ con!

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

NHỰT NHIỄM NGOẠT NHU

Hay “Nhật nhu nguyệt nhiễm”.

Nhựt (nhật): Ngày. Nhiễm: Thấm vào. Ngoạt (nguyệt): Tháng. Nhu: Ướt. Nhu nhiễm: Dầm thấm vào.

Nhựt nhiễm ngoạt nhu, như chữ “Nhật nhiễm nguyệt nhu 日 染 月 濡”, là dầm thấm theo ngày tháng rồi trở thành th