TỪ NGỮ ĐIỂN CỐ CAO ĐÀI

 

 

Danh mục vần O-Ô-Ơ

 

Ó

Ó ré

 

OA

Oa

 

OAI

Oai dõng

Oai dung

Oai linh

Oai nghi

Oai nghiêm

Oai phong

Oai phong lẫm liệt

Oai quyền

Oai thần

Oai Trời

Oai võ

 

OAN

Oan

Oan gia

Oan khiên

Oan khốc

Oan khúc

Oan nghiệp

Oan nghiệt

Oan oan tương báo

Oan trái

Oan uổng

Oan ức

Oan ưng

Oan ương

 

OÁN

Oán

Oán chạ

Oán chạ thù vơ

Oán ghét

Oán tăng hội khổ

Oán thù

Oán trách

 

OANH

Oanh

Oanh kề yến cạnh

Oanh liệt

Oanh nhặt thúc

Oanh thưa nhặt

 

OÁT

Oát triền vô biên

Oát vận

 

OẰN

Oằn

Oằn oại

Oằn sai

Oằn vai

 

ÓC

Óc

 

OM

Om sòm

 

ONG

Ong

Ong bướm

Ong tường bướm ngõ

Ong kiến

Ong nút nhuỵ hồng

Ong tay áo

 

ÓNG

Óng ả

 

ÓT

Ót

 

Ô

Ô

Ô Giang

Ô hô

Ô hợp

Ô kiều

Ô Li Vê

Ô thước bắc cầu

Ô trược

Ô uế

 

ỐC

Ốc

Ốc bươu

Ốc mượn hồn

Ốc trần huờn ư song thủ chi nội

 

ÔI

Ôi

 

ÔM

Ôm

Ôm ấp

Ôm bình

Ôm cầm

Ôm cầm thuyền ai

Ôm cầu

Ôm mồ thủ hiếu

 

ỐM

Ốm

Ốm đau

Ốm o

 

ÔN

Ôn

Ôn cố tri tân

Ôn hoà

Ôn nhu

 

ỒN

Ồn ào

 

ÔNG

Ông

Ông bà

Ông kẹ

Ông Táo

Ông tơ

Ông Thiện Ông Ác

Ông vải

 

ỐNG

Ống tiêu

 

Ơ

Ơ hờ

 

 

 

ỚI

Ới hợi

 

ƠN

Ơn

Ơn cha sanh hoá ơn thầy giáo huấn

Ơn dày nghĩa sâu

Ơn đức

Ơn huệ

Ơn mưa móc

Ơn nước nợ nhà

Ơn sinh thành

Ơn tấc đất ngọn rau

Ơn trạch

Ơn Trên

Ơn Trời

 

 

 

 

 

 

 

 

O-Ô-Ơ

 

Ó RÉ

Ó ré là la hét, to tiếng, cãi vã on sòm.

Như: Mấy đứa nhỏ làm gì mà ó ré om sòm ngoài ngõ, bày nhậu nhẹt rồi sinh chuyện ó ré.

Ó ré đầu nhà hờn giũa mỏ,

Gà bươi xó bếp đói chui đầu.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

OA

Oa là cái nồi, vật để đun nấu thức ăn.

Như: Thang oa cận (gần nồi nước nóng). Câu Lung kê hữu mễ thang oa cận có nghĩa là gà lồng mặc dầu có lương thực nhưng nồi nước sôi cận kề.

Lung kê hữu mễ thang oa cận,

Dã hạc vô lương Thiên Ðịa khoan.

(Lý Bạch Giáng Bút).

 

 

OAI DÕNG

Hay “Uy dũng”.

Oai (uy): Có dáng vẻ tôn nghiêm, làm cho người khác kính sợ. Dõng (dũng): Mạnh bạo.

Oai dõng, như chữ “Uy dũng 威 勇”, là oai hùng và dũng cảm.

Hiền hữu biết rằng trong trận trí binh nầy, nếu không đủ tài tình oai dõng thì chẳng hề thắng đặng.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

OAI DUNG

Hay “Uy dung”.

Oai (uy): Oai quyền, sợ hãi. Dung: Dung mạo, tức hình dáng bên ngoài.

Oai dung, như chữ “Uy dung 威 容”, là dung mạo oai vệ, tức là tướng mạo oai hùng đáng sợ.

Cửa sấm vang lừng lời chẳng định,

Trướng hùm phưởng phất nét uy dung.

(Thơ Đào Công).

 

 

OAI LINH

Hay “Uy linh”.

Oai (uy): Có dáng vẻ tôn nghiêm, làm cho người khác kính sợ. Linh: Thiêng liêng.

Oai linh, như chữ “Uy linh 威 靈”, là có vẻ tôn nghiêm, thiêng liêng, khiến ai cũng phải kính sợ.

Thánh giáo Thầy có dạy: Thầy hằng nói với các con rằng: Thà là các con lỗi với Thầy thì Thầy vì lòng từ bi mà tha thứ, chớ chẳng nên động đến oai linh chư Thần, Thánh, Tiên, Phật vì họ chẳng tha thứ bao giờ.

Xem: Uy linh.

Mở đường tích cực oai linh,

Cậy phương thuyết giáo vẽ thành kinh chơn.

(Kinh Thế Đạo).

Lòng cảm xót dương trần lận đận.

Ra oai linh tiếp dẫn nhơn cầm.

(Xưng Tụng Công Đức).

Oai linh cửa Ðạo sấm rền Trời,

Thương kẻ có tròng lại chẳng ngươi.

(Đạo Sử).

 

 

OAI NGHI

Oai (uy): Oai lực có vẻ tôn nghiêm, khiến người phải nể sợ. Nghi: Hình dáng bên ngoài.

Oai nghi, như chữ “Uy nghi”, là hình dáng bên ngoài có vẻ trang nghiêm, lẩm liệt, gợi sự tôn kính.

Như: Ngôi đình thần tại làng nầy trông cổ kính và oai nghi lắm.

Xem: Uy nghi.

Phải chờ chỉnh đốn Điều luật cho oai nghi đặng vạn quốc hưởng nhờ bảy chục muôn năm đó con.

(Thánh Giáo Chí Tôn).

 

 

OAI NGHIÊM

Hay “Uy nghiêm”.

Oai (uy): Có vẻ tôn nghiêm khiến người ta nể sợ. Nghiêm: Đoan trang, chính đính.

1.- Oai nghiêm, như chữ “Uy nghiêm 威 嚴”, là oai nghi và nghiêm trang đáng kính sợ.

Nếu Bần Ðạo không thủ pháp cho oai nghiêm, thì cũng chẳng khỏi sự tranh quyền đoạt vị trong cửa Ðạo nầy.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

2.- Oai Nghiêm nói tắt của “Tam Trấn Oai Nghiêm”, dùng để chỉ ba Đấng thay quyền Giáo chủ Tam giáo trong thời Tam Kỳ Phổ Độ.

Tam Trấn Oai Nghiêm gồm có:

Nhứt Trấn Oai Nghiêm do Đức Lý Đại Tiên Trưởng cầm quyền Tiên giáo, kiêm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Nhị Trấn Oai Nghiêm do Quan Thế Âm Bồ Tát cầm quyền Phật giáo thời Tam Kỳ Phổ Độ.

Tam Trấn Oai Nghiêm do Đức Quan Thánh Đế Quân cầm quyền Nho giáo thời Tam Kỳ Phổ Độ.

Nam Mô Tam Trấn Hư Vô,

Oai Nghiêm độ rỗi Cao Đồ quy nguyên.

(Kinh Tận Độ).

Oai nghiêm thống hợp nghi Tam Trấn,

Trung nghĩa hoà đồng thuyết nhị nguyên.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

OAI PHONG

Hay “Uy phong”.

Oai (uy): Oai, vẻ tôn nghiêm khiến người ta phải sợ. Phong: Bộ dạng bên ngoài.

Oai phong, như chữ “Uy phong 威 風”, là dáng vẻ thể hiện một uy lực mạnh mẽ, trang nghiêm, khiến cho người ta phải tôn kính.

Như: Oai phong lẫm liệt của vị tướng quân.

Xem: Lẫm liệt.

Khí võ hùng hào mang mảo giáp,

Oai phong lẫm liệt xách qua mâu.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

OAI PHONG LẪM LIỆT

Hay “Uy phong lẫm liệt”.

Oai phong (uy phong): Bộ dạng oai nghiêm. Lẫm liệt: Dáng bộ làm cho kẻ khác trông thấy vừa run sợ, vừa kính trọng.

Oai phong lẫm liệt, như chữ “Uy phong lẫm liệt 威 風 凜 冽”, tức là người có dáng bộ oai nghiêm, khiến người khác sợ sệt mà kính trọng.

Xem: Lẫm liệt oai phong.

Khí võ hùng hào mang mão giáp,

Oai phong lẫm liệt xách qua mâu.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

OAI QUYỀN

Hay “Uy quyền”.

Oai (uy): Có dáng vẻ tôn nghiêm, làm cho người khác kính sợ. Quyền: Được phép làm, quyền hành.

Oai quyền, như chữ “Uy quyền 威 權”, là người vừa có quyền hành lại vừa có oai nghi, làm cho người khác phải sợ.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có câu: Ngán thay cho cái trách nhậm nặng nề, vì trót đã hứa lời cùng Từ Bi ra tế độ, hễ trách phận đàn anh, tuy nhiên lấy oai quyền khuyến nhủ trừng trị lấy em mặc dầu, chớ cũng nên hiểu tâm của mỗi đứa.

Nếu muốn khử tiêu tai nạn đến,

Thì nên khẩn nguyện sợ oai quyền.

(Đạo Sử).

 

 

OAI THẦN

Oai (uy): Có dáng vẻ tôn nghiêm, làm cho người khác kính sợ. Thần: Chỉ vị Thần.

Oai Thần, như chữ “Uy Thần 威 神”, là vị Thiêng liêng có oai linh hiển hách, khiến phải tôn kính.

Kỵ kim quang kiến Lão Quân,

Dựa xe Như Ý oai thần tiễn thăng.

(Kinh Tận Độ).

 

 

OAI TRỜI

Hay “Uy Trời”.

Oai (uy): Có thế lực hay uy quyền khiến người ta sợ. Trời: Chỉ Đấng Tạo Hoá, hay Đức Chí Tôn.

Oai Trời là oai quyền của Trời, hay oai quyền của Đức Chí Tôn.

Thánh giáo Đức Quan Âm Như Lai có dạy: Vì vậy mà hễ giết một mạng sống thì đau lòng Ðức Ðại Từ Bi, mà hễ đau lòng Ðức Ðại Từ Bi thì Thiên sầu Ðịa thảm. Các em thử nghĩ, người tục có dám phạm đến oai Trời chăng?

Con cái muốn nên đường hiếu hạnh,

Con tua trước biết sợ oai Trời.

(Đạo Sử).

 

 

OAI VÕ

Oai (uy): Có thế lực hay uy quyền khiến người ta sợ. Võ: Dùng sức bắt người phục, trái với văn.

Oai võ, như chữ “Uy vũ 威 武”, là sự oai nghiêm và mạnh mẽ.

Lân bang ghe thuở nhường oai võ,

Dị quốc từng phen xếp giáp mâu.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

OAN

1.- Oan là ức, khuất, trái lẽ công bằng. Như: Làm tội oan, mắc tiếng oan, vu oan giá hoạ, chết oan.

Thuyết Đạo Hộ Pháp nói về Đức Phật Quan Âm có câu: Kiếm cái đức Thị Kính thế nào, thì tánh đức trạng thái của Quan Âm như thế ấy, tánh đức của Ngài là từ hoà nhẫn nhục, hiền lương, ân tha mọi điều oan khúc, chịu nổi thắng nổi thời gian là Đức Quan Âm.

Thành Uổng tử cheo leo gớm ghiếc,

Cầm hồn oan rên xiết khóc than.

(Kinh Sám Hối).

Đừng phiền rằng: lỗi, phải, oan, ưng;

Nhớ buổi nhỏ cha cưng không đánh đập.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Oan còn có nghĩa là thù oán. Như: Oan gia, oan trái, oan nghiệt, dây oan.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Sanh đứng làm người tức phải hứng bao nỗi tang thương khốn đốn, phải chịu lắm phen nghịch cảnh đau lòng, dày vò lăn lóc hầu trả cho xong túc trái tiền oan cho đến ngày chung cuộc.

Gay chèo thoát khổ đầy linh cảm,

Rạch nước trừ oan đủ diệu huyền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chưa no buổi sớm, lo nồi tối,

Cái kiếp oan kia khá dứt lần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Oan, còn đọc là “Uyên ”, một thứ chim thuộc loài vịt, con đực và con cái gọi chung là “Uyên ương”, lúc nào cũng đi đôi, quấn quýt với nhau, ý chỉ tình vợ chồng.

Như: Đôi chim oan ương quấn quýt bên nhau.

Xem: Uyên ương.

Tiếng oan ương bên tai dan díu,

Gió đẩy đưa bờ liễu lao xao.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

OAN GIA

冤 家

Oan: Bị uất ức, bị quy lỗi mà bản thân không phạm. Gia: Nhà.

Oan gia là nhà bị nhiều điều oan ức. hay nói cách khác là mối oan trái gây cho một gia đình.

Oan gia còn có thể hiểu kiếp trước mình gây nghiệp dữ cho người, thì kiếp nầy người là oan gia của mình, mình phải trả nợ oan gia đó.

Thánh giáo Chí Tôn dạy: Các con trước khi than, Thầy đà than trước; các con trước khi khóc, Thầy đà khóc rồi. Ấy cái oan gia hỏi ai đào tạo?

Dầu trọn kiếp sống không nên Đạo,

Dầu oan gia tội báo buộc ràng.

(Kinh Tận Độ).

Dầu tội Chướng ở miền địa giái,

Dầu oan gia ở ngoại Càn Khôn.

(Kinh Thế Đạo).

Ðeo đai chi lắm cái oan gia,

Mà chẳng nghĩ thương nối nghiệp nhà.

(Đạo Sử).

 

 

OAN KHIÊN

冤 愆

Oan: Bị uất ức, bị quy lỗi mà bản thân không phạm, thù oán. Khiên: Tội lỗi.

Oan khiên là thù giận và tội lỗi.

Oan khiên còn có nghĩa là bị kết tội một cách oan ức.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có đoạn: Tìm nơi Phật không thấy đặng gì, đến gõ cửa Lão Tử: “Bạch Ngài, có món thuốc gì an ủi tâm hồn tôi chăng?”. Bảo cứ giữ đạo đức làm căn bản, thoát mình ra khỏi thúc phược thế tình lên non phủi kiếp oan khiên nơi tịch mịch an nhàn thân tự tại.

Biến chuyển Trời Nam cuộc đảo huyền,

Trả vay cho sạch vết oan khiên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chưa lo buổi sớm lo nồi tối,

Cái kiếp oan khiên khá dứt lần.

(Đạo Sử).

Câu tư dục biến ra bác ái,

Nghiệp oan khiên đổi lại hồng ân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

OAN KHỐC

冤 酷

Oan: Bị uất ức, bị quy lỗi mà bản thân không phạm, thù oán. Khốc: Bạo ngược, tàn ác.

Oan khốc tức là bị những mối oan tình bạo ngược rất nên oan uổng và đau khổ.

Như: Cái chết của người đàn bà rất oan khốc.

Tham tàn chúng đã gây tai biến,

Oan khốc mình vương lấy thảm sầu.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

OAN KHÚC

冤 曲

Oan: Bị uất ức, bị quy lỗi mà bản thân không phạm, thù oán. Khúc: Cong, gãy.

Oan khúc là bị oan ức mà không thể bày giãi ra được. Đồng nghĩa với oan khuất.

Trong Pháp Chánh Truyền Chú Giải có câu: Tiếp Đạo là người tiếp cáo trạng án tiết thì phải quan sát trước coi có oan khúc chi chăng, đáng ra binh vực thì phải dâng lại cho Khai Đạo.

Oan khúc nỗi đời thôi chán ngán,

Tư bề nào biết cậy ai binh.

(Đạo Sử).

Tham tàn chúng đã gây tai biến,

Oan khúc mình vương lấy thảm sầu.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

OAN NGHIỆP

冤 業

Oan: Bị uất ức, bị quy lỗi mà bản thân không phạm. Nghiệp: Tạo tác, tức việc làm gây nhân quả trong một hay nhiều kiếp.

Oan nghiệp tức là những điều phải gánh chịu trong kiếp nầy để trả cho những điều ác đã làm ở kiếp trước.

Truyện Kiều có câu: Cũng là oan nghiệp chi đây, Sa cơ mới đến thế này chẳng dưng.

Rủi may cơ Tạo đã an bài,

Oan nghiệp đền bồi dám trách ai.

(Thơ Thuần Đức).

Ðày đoạ gỡ xong oan nghiệp trước,

Làm lành hưởng phước chẳng hề sai.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

OAN NGHIỆT

冤 孽

Oan: Bị uất ức, bị quy lỗi mà bản thân không phạm. Nghiệt: Mầm ác do mình làm từ kiếp trước

Oan Nghiệt là những điều oan ức gây ra từ kiếp trước, sẽ tạo thành ác nghiệp, khiến kiếp sống này mới phải gánh chịu.

Những oan nghiệt đó chưa báo đáp được thì tạo thành những sợi dây oan nghiệt ràng buộc chơn thần, làm cho chơn thần khi chết, khó bức rời khỏi thể xác.

Bí pháp của Đạo Cao Đài trong phép Đoạn căn là cắt đứt bảy dây oan nghiệt, làm cho chơn thần dễ dàng thoát khỏi xác.

Thánh giáo Thầy có dạy: Mỗi phen Thầy đến lập Ðạo thì là phải cam đoan và lãnh các con, chẳng khác nào kẻ nghèo lãnh nợ. Các con làm tội lỗi bao nhiêu, oan nghiệt bấy nhiêu, Thầy đều lãnh hết.

Một kiếp muối dưa xong kiếp nợ,

Cuộc đời oan nghiệt thấy rồi chưa.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ham mùi chung đỉnh mang oan nghiệt,

Biết phép an nhàn đến cảnh xuân.

(Lục Nương Giáng Bút).

Đôi câu kệ Thánh trừ oan nghiệt,

Vài phép Tiên gia để khử tà.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

OAN OAN TƯƠNG BÁO

冤 冤 相 報

Oan oan: Oán thù chồng chất thêm oán thù. Tương báo: Báo trả cho nhau.

Oan oan tương báo là lấy oán thù báo đáp oán thù.

Oan oan tương báo sẽ làm cho thù oán kéo dài mãi không bao giờ dứt. Vì vậy, người xưa thường khuyên: Oan gia nghi giải bất nghi kết 冤 家 宜 解, 不 宜 結, nghĩa là thù oán nên cởi bỏ chớ không nên kết buộc.

Oan nghiệt, đời vì có biết tội, không biết phước vì nghiệt chướng bên mình. Than ôi! Biết bao giờ cho hết oan oan tương báo.

(Đạo Sử).

 

 

OAN TRÁI

冤 債

Oan: Không phạm lỗi mà bị nghi ngờ. Trái: Nợ.

Theo thuyết luân hồi nhân quả của đạo Phật, kiếp trước nếu ta gây tạo những điều oan ức cho người khác, thì kiếp sau phải trả lại nợ điều mình đã làm cho người, đó gọi là oan trái.

Thánh giáo Thầy dạy: Ðạo Thánh ba lượt khai, quỷ mị muôn lần phá, Thầy đau lòng biết mấy! Nhưng Thầy hằng dựa cửa trông hoài, trông cho các con thoát được tục trần, dứt dây oan trái mà nhẹ bước về cùng Thầy, thời gẫm âu điều hân hạnh ấy.

Khá tỉnh thức tiền duyên nhớ lại,

Đoạn cho rồi oan trái buổi sanh.

(Kinh Tận Độ).

Cầm gươm huệ chặt tiêu oan trái,

Dìu độ quần sanh diệt quả nhân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Kiếp tu xưa tiếc chưa nên Ðạo,

Oan trái phủi rồi phép Phật thông.

(Đạo Sử).

 

 

OAN UỔNG

冤 枉

Oan: Không phạm lỗi mà bị nghi ngờ. Uổng: Cong, bị khuất.

Oan uổng là bị khuất (oan) mà không giãi bày, biện bạch được. Như: Nó bị phạt một cách oan uổng.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Ta muốn cho vay đặng hưởng lợi, mà lợi đâu chẳng thấy vì hứa hẹn ấy chỉ với lỗ miệng, không bảo kê, không chứng chắc mà giờ phút nầy ta bị lỗ vốn một cách đau đớn và oan uổng.

Nay vô ý thức để cho lửa giận bừng lên hủy hoại tất cả công đức ấy thì oan uổng biết bao!

(Giáo Lý).

 

 

OAN ỨC

冤 抑

Oan: Bị quy cho tội mà bản thân không phạm, phải chịu hình phạt mà bản thân không có tội. Ức: Đè ép.

Oan ức là bị đè nén một cách rất bất bình, tức bị hàm oan một cách uất ức không thể chịu nổi.

Như: Bị kết tội một cách oan ức.

Sao Bần Đạo không đầu kiếp các nơi họ Nguyễn, họ Trần mà đến ngay nhà họ Phạm mà để khiến cho Bần Đạo phải chịu oan ức.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

OAN ƯNG

冤 應

Oan: Bị quy cho tội mà bản thân không phạm, phải chịu hình phạt mà bản thân không có tội. Ưng: Bằng lòng nhận tội.

Oan ưng là nói hai trường hợp buộc tội: Không có tội nhưng bị ép buộc nhận gọi là oan; có làm tội nên bằng lòng nhận tội, gọi là ưng.

Như phải đáng bào chữa thì Khai Đạo phân giải giữa Hội cho ra vẻ oan ưng.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

OAN ƯƠNG

Hay “Uyên ương”.

Oan ương, như chữ “Uyên ương 鴛 鴦”, là một loài chim, cùng họ với vịt, sống ở nước, con đực là uyên và con cái là ương luôn luông đi từng cặp, không bao giờ rời nhau. Tương truyền, đôi oan ương, nếu có một con chết thì con kia cũng chết theo.

Oan ương (uyên ương) thường được dùng để ví với vợ chồng đẹp đôi, gắn bó.

Xem: Uyên ương.

Kìa oan ương ấp nhau chẳng hở,

Nọ én anh rỉ rả kêu thương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Tiếng oan ương bên tai dan díu,

Gió đẩy đưa bờ liễu lao xao.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

OÁN

Oán là thù giận, tức hận nung nấu trong lòng người đã làm hại cho mình.

Như: Gây oán, đền ơn báo oán, oán kẻ vu cáo đến tận xương tuỷ.

Thánh giáo có câu: Còn ngươi Trương Tử Phòng, nếu chẳng Phạm Tăng cải Trời làm lếu thì ân oán đền trả chẳng mấy hồi.

Tùng Thiên an mạng rán làm lành,

Ðừng kết oán đời chác lợi danh.

(Đạo Sử).

Oán hình liễu, ghét mày hoa,

Kiếp tu mỏng mảnh mới là nữ nhi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

OÁN CHẠ

Oán: Giận nung nấu trong lòng về kẻ đã gây hại cho mình. Chạ: Hỗn tạp, bậy bạ.

Oán chạ là oán giận bậy bạ, tức oán giận chẳng có lý do chính đáng, hờn oán một cách vô lý.

Như: Oán chạ thù vơ.

Chớ oán chạ tham lam ngược ngạo,

Bội nghĩa ân trở tráo chước sâu.

(Kinh Sám Hối).

 

 

OÁN CHẠ THÙ VƠ

Oán chạ: Bạ đâu oán đó. Thù vơ: Việc gì cũng thù.

Oán chạ thù vơ là thù oán không có lý do chính đáng, thù oán một cách bừa bãi, bạ đâu thù oán đó.

Đừng tính kế độc sâu trong dạ,

Mà gổ ganh oán chạ thù vơ.

(Kinh Sám Hối).

Căm hờn ai oán chạ thù vơ,

Dụng chước hoà Phiên chước khó ngờ.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

OÁN GHÉT

Oán: Giận nung nấu trong lòng về kẻ đã gây hại cho mình. Ghét: Không ưa, có ý xua đuổi.

Oán ghét là căm giận và chán ghét đến tột độ.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy vì thương chúng sanh, tưởng công lao của mỗi đứa nên chẳng nỡ để cho mối Ðạo điêu tàn, nhưng nếu trong các con chẳng có đứa nào lãnh phần chế biến làm cho hoà thuận chung vui, để cho đến đỗi hiềm thù oán ghét nhau, mà để trò cười muôn thuở, uổng công dìu dắt của Thầy bấy lâu, thì biển khổ sông mê là nơi các con chịu đời đời kiếp kiếp đó.

Hễ biết thương là con đường chánh của Trời, còn chứa sự oán ghét tức là làm tôi tớ cho Quỷ vương.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

OÁN TĂNG HỘI KHỔ

怨 憎 會 苦

Oán tăng hội: Oán giận do gần những người mà mình không ưa thích. Khổ: Đau đớn khổ sở.

Oán tăng hội khổ là cái khổ do phải ở gần với những kẻ mà mình không ưa thích.

Oán tăng hội khổ là một trong “Bát khổ 八 苦”, tức tám cái khổ của giáo lý Phật giáo.

Oán tăng hội khổ, tức là ghét nhau mà phải chung sống là khổ.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

OÁN THÙ

怨 讎

Oán: Giận nung nấu trong lòng về kẻ đã gây hại cho mình. Thù: Thù hận nuôi ở trong lòng chờ dịp để báo trả.

Oán thù, như chữ “Thù oán 讎 怨”, là thù hằn và oán hận, tức thù sâu nặng những giữ kín trong lòng, không biểu lộ ra ngoài.

Trong sách Đại Thừa Chơn Giáo có câu: Còn rủi quốc dân vô phước gặp phải hôn quân, đắm mê tửu, sắc, tài, khí thì ngoại quốc, chư hầu khởi loạn, còn dân trong nước oán thù.

Gây oan nghiệt bởi lòng tư dục,

Kết oán thù vì chút đỉnh chung.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

OÁN TRÁCH

怨 責

Oán: Giận nung nấu trong lòng người đã gây hại cho mình. Trách: Hỏi lỗi, bắt lỗi.

Oán trách là oán giận, biểu hiện ra bằng những lời trách móc. Như: Chị tự trách mình chứ không oán trách ai.

Thánh giáo Đức Thái Thượng Đạo Tổ có câu: Nào tật đố hiền tài, hữu thỉ vô chung, nghe lời sàm tấu, giết người lao công hạn mã, nếu chẳng phải chí của Trương Lương thì không thế nào khỏi xung tâm oán trách.

Nếu các con hiểu rõ cơ huyền diệu của kiếp luân hồi con người, chẳng phải như thói thường tình định liệu, thì con không buồn và cũng không oán trách Thầy.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

OANH

1.- Oanh là chim hoàng anh (vàng anh), loại chim có tiếng hót rất hay, thường ví với tiếng nói của phụ nữ.

Như: Ngoài song thỏ thẻ oanh vàng, thuở lâm hành oanh chưa bén liễu.

Ngày thâu bóng xế oanh thưa nhặt,

Mắt nhắm đường xa khách thẳng dùn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Oanh về tổ, dế reo tơ,

Đường về vắng bước như tờ canh khuya.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Oanh là mạnh mẽ vang lừng, tiếng một đoàn xe chạy ầm ầm, không dùng một mình.

Như: Oanh liệt, công nghiệp oanh liệt, khí thế oanh oanh liệt liệt, oanh liệt một thời.

Mấy người nhắm dạng đều oanh liệt,

Bốn đứa đi xe cóm róm quỳ.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

OANH KỀ YẾN CẠNH

Oanh: Chim hoàng anh, loại chim nhỏ, tiếng hót trong vắt. Kề: Gần bên. Yến: Chim én. Cạnh: Sát bên.

Oanh kề yến cạnh dùng để nói đôi lứa trai gái hay vợ chồng quấn quít kề bên nhau.

Câu gắn bó, oanh kề yến cạnh,

Áp đôi đầu, sanh sánh đôi vai.

(Phù Kiều Hận Sử).

 

 

OANH LIỆT

轟 烈

Oanh: Mạnh mẽ, vang lừng. Liệt: Rực rỡ, dữ dội.

Oanh liệt là nói khí thế oai hùng, rực rỡ khiến cho người ta phải kiêng nể.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Về sự diệt dục, Đức Phật có nói: “Chiến thắng mười vạn quân còn dễ hơn chiến thắng lòng mình, mình tự thắng được mình là chiến công oanh liệt nhứt”.

Oanh liệt hồng trần e phải khổ,

Tầm đường đạo đức tránh đường nguy.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

Hùng binh điệp điệp trông oanh liệt,

Dõng tướng trùng trùng thấy hẳn hòi.

(Quyền Giáo Tông Giáng).

 

 

OANH NHẶT THÚC

Oanh: Chim hoàng anh, loại chim rất nhỏ, tiếng hót trong vắt. Nhặt thúc: Âm thanh khi nhanh khi chậm.

Oanh nhặt thúc là nói tiếng hót của chim oanh lúc nhanh lúc chậm, như thúc giục cho nhanh lên, ý chỉ thời gian trôi qua nhanh, đời người không mấy chốc.

Non xế nhành thung oanh nhặt thúc,

Rừng tà đảnh hạc khách trông mong.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

OANH THƯA NHẶT

Oanh: Chim hoàng anh, loại chim rất nhỏ, tiếng hót trong vắt. Thưa nhặt: Khi chậm khi nhanh.

Oanh thưa nhặt, như chữ “Oanh nhặt thúc”, là nói tiếng chim oanh hót khi nhanh khi chậm, như thức giục thời gian đi qua mau.

Xem: Oanh nhặt thúc.

Ngày thâu bóng xế oanh thưa nhặt,

Mắt nhắm đường xa khách thẳng dùn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chào xuân hớn hở oanh thưa nhặt,

Mừng bạn xôn xao liễu đón chờ.

(Thơ Chánh Đức).

 

 

OÁT TRIỀN VÔ BIÊN

斡 旋 無 邊

Oát: Xoay chuyển ra. Triền: Còn đọc âm “Tuyền hoặc toàn” là xoay chuyển lại. Oát triền là xoay chuyển qua lại. Sự xoay chuyển qua lại tức là sự vận hành theo hai chiều âm dương trong Dịch học, đó là Đạo vậy. Vô biên là không có giới hạn, không cùng.

Oát triền vô biên có nghĩa là Đạo do nguyên lý Âm dương, nên lúc nào cũng xoay chuyển, vận hành cả càn khôn thế giới không bao giờ ngừng nghỉ, do vậy Vũ trụ, vạn vật mới trường tồn, vĩnh cửu. Nếu ngừng xoay chuyển thì làm sao có cùng lại thông, bỉ rồi lại thới.

Dịch viết: Dịch cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cửu 易 窮 則 變, 變 則 通, 通 則 久, nghĩa là biến đổi đến cùng thì biến, biến ắt thông, thông thì dài lâu.

Khí phân Tứ tượng,

Hoát truyền (1) vô biên.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

Chú thích:

(1)- Các bản chánh kinh “Thiên Đạo và Thế Đạo” do Hội Thánh in bằng chữ Quốc Ngữ, từ trước đến nay đều viết là “Hoát truyền 豁 傳”: tức là truyền rộng lớn ra. Nhưng theo “Tứ Thời Nhựt Tụng Kinh” của nhị vị Đầu Sư Thượng Trung Nhựt và Ngọc Lịch Nguyệt, phần phiên âm thì hai Ngài viết “Hoát truyền”, phần chữ Hán thì lại viết “斡 旋 Oát triền”. Như vậy có lẽ trật cách phát âm chăng, nên chúng tôi theo nghĩa “Oát triền” mà dẫn giải.

 

 

OÁT VẬN

斡 運

Oát: Xoay chuyển ra. Vận: Chuyển vận.

Oát vận là xoay chuyển và vận hành không bao giờ ngừng nghỉ.

Càn khôn hoát vận (1),

nhựt nguyệt chi quang,

(Kinh Cúng Tứ Thời).

Chú Thích:

(1)- Các quyển kinh “Thiên Đạo và Thế Đạo” bằng chữ Quốc ngữ của Hội Thánh in đều in “Hoát vận”. Nhưng trong quyển “Tứ Thời Nhựt Tụng Kinh” của nhị vị Đầu Sư lại viết: “Càn Khôn oát vận 乾 坤 斡 運”.

 

 

OẰN

Oằn là bị cong vì phải chịu một lực quá lớn.

Như: Búa nện oằn thanh thép, oằn nhánh bưởi để hái trái, đòn gánh nặng cong vì bị nặng oằn.

Dồn dập tương tư oằn một gánh,

Nỗi mình tâm sự tỏ cùng ai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

OẰN OẠI

Oằn: Bởi sức nặng mà cong vồng xuống.

Oằn oại là vì nặng nề mà thân thể bị đè bẹp xuống hoặc do sự đau đớn hành hà tấm thân.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Nước Nga cũng thế, trước kia dân Nga bị oằn oại bóp chẹt dưới chế độ quân chủ độc tài nên Lénine cũng ngồi suy nghĩ tìm tòi phát sanh ra một tinh thần dân chủ và do tinh thần dân chủ đó nên lập thành một chế độ dân quyền Cộng Sản.

Ðồ thơ oằn oại gánh nghiêng vai,

Mặc khách làng văn nhọc chớ nài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Gia đình oằn oại gánh đôi vai,

Thế cuộc nên hư cũng một tay.

(Đạo Sử).

Lương bổng hẹp hòi thân bộc lại,

Thuế sưu oằn oại phận tôi đòi.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

OẰN SAI

Oằn: Bị cong vì phải chịu một sức nặng quá lớn. Sai: Chỉ cây cối sinh nhiều hoa quả, hoặc củ nhiều.

Oằn sai, như chữ “Sai oằn”, là nói cành, nhánh của cây cối bị cong oằn vì sinh chồi nảy tược, hoặc đơm hoa kết trái quá nhiều.

Như: Nhánh bưởi oằn sai trái.

Cội sởn sơ mới có đâm chồi trổ tược, nhành lá sum sê, hoa đơm sắc sảo, rồi mới đến trái oằn sai mà thành kết quả xứng đáng.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

OẰN VAI

Oằn: Bị cong vì phải chịu một sức nặng quá lớn. Vai: Bộ phận ở hai bên cổ, nối liền thân với cánh tay.

Oằn vai là lệch vai vì gánh nặng.

Như: Gánh hết số hàng nầy về chắc là oằn vai.

Oằn vai Thần đạo non sông vác,

Chịu kiếp trần ai gió bụi vùi.

(Thơ Thượng Phẩm).

 

 

ÓC

Óc là chất trắng nằm trong hộp sọ của người và vật, là nơi hoạt động thần kinh cấp cao.

Như: Nhức óc, vắt óc để suy nghĩ.

Thánh giáo Thầy có dạy: Thầy nói cái chơn thần là nhị xác thân các con, là khí chất. Nó bao bọc thân thể các con như khuôn bọc vậy. Nơi trung tim của nó là óc; nơi cửa xuất nhập của nó là mỏ ác, gọi tiếng chữ là vi hộ, nơi ấy Hộ Pháp hằng đứng mà gìn giữ chơn linh các con, khi luyện thành đạo, đặng hiệp một với Khí, rồi mới đưa thấu đến chơn thần hiệp một mà siêu phàm nhập Thánh.

Đầu mới tượng óc còn thiếu chất,

Phân thông minh lật đật bỏ vào.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

OM SÒM

Om sòm là ầm ĩ, gây náo động.

Như: Cô ấy bị bắt oan nên kêu la om sòm, không biết đám trẻ làm gì mà om sòm lên thế.

Om sòm nghị luận khắp nơi,

Người thời kích bác, kẻ thời hiềm nghi.

(Thơ NĐS Hương Thanh).

 

 

ONG

Ong là loài côn trùng có cánh màng, đuôi có kim đốt, thường sống thành đàn, một số loài thường hút nhuỵ hoa để gây mật. Như: Ong hút mật.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ta thấy cả vạn vật ấy đối với ta rất có cảm tình, bởi lẽ đồng sanh, như đứa con nít thấy con bướm đẹp đẽ thì mê lắm, tìm bắt, đến khi gặp con ong chích thì sợ sệt, mấy điều ấy làm cho con người tự tỉnh, đi tìm nguyên do của sự sống ấy, đó là khởi bước đầu sự tầm Ðạo.

Phải chừa thói loài ong tay áo,

Bớt học đòi khỉ dạo dòm nhà.

(Kinh Sám Hối).

Nhụy đương nở mùi thơm ngào ngạt,

Dâng hình hoa lo lót con ong.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ONG BƯỚM

Ong: Con ong, một loại côn trùng có nọc đọc, thường hay hút nhuỵ hoa để gây mật. Bướm: Tên một loại côn trùng cánh có phấn, thường hút mật hoa.

Ongbướm là hai loài sinh vật thích hút nhuỵ hoa, nên trong văn chương người ta thường ví hoa như người con gái, ong bướm như các chàng trai, thấy gái thường hay đến chọc ghẹo, tỏ tình.

Che đậy kín tường đông ong bướm,

Giấu nhặt nghiêm nhụy tướng hương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ONG TƯỜNG BƯỚM NGÕ

Ong bướm: Con ong, con bướm, chỉ cái thói lẳng lơ, tình tứ. Tường ngõ: Bên tường ngoài ngõ.

Ong tường bướm ngõ chỉ hạng người lẳng lơ, tình tứ bừa bãi như loài ong bướm ngoài tường ngõ.

Xem: Liễu ngõ hoa tường.

Dạy tránh nết ong tường bướm ngõ,

Gái dầu lành nghèo khó cũng đành thương.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ONG KIẾN

Ong: Con ong, một loại côn trùng có nọc đọc, thường hay hút nhuỵ hoa để gây mật. Kiến: Loài kiến.

Ong kiến là loài vật có tổ chức, phân công nhau đi kiếm mồi về chứa dựa để dành lúc khốn cùng.

Kìa ong kiến tha mồi dành để,

Cơn khốn cùng có thể nuôi thân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ONG NÚT NHUỴ HỒNG

Ong nút: Tức ong nút mật, ý chỉ con trai phá hại đời con gái. Nhuỵ hồng: Chỉ con gái trong trắng trẻ đẹp.

Ong nút nhuỵ hồng ý nói người con trai phá hại đời người con gái trẻ đẹp.

Trai đừng thấy đỗ hoa vội vã,

Thả con ong nút phá nhụy hồng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ONG TAY ÁO

Ong: Con ong, một loại côn trùng có nọc đọc, thường hay hút nhuỵ hoa để gây mật. Tay áo: Phần của áo, dùng che cánh tay.

Ong tay áo, do thành ngữ “Nuôi ong tay áo”; là đem loài ong nuôi trong tay áo thì sẽ bị chính ong chích, ý chỉ kẻ hay phản phúc, hưởng của chủ mà chống lại chủ.

Phải chừa thói loài ong tay áo,

Bớt học đòi khỉ dạo dòm nhà.

(Kinh Sám Hối).

 

 

ÓNG Ả

Óng ả là bóng mượt và mềm mại.

Óng ả còn có nghĩa là tha thướt, mềm mại. Như: Mái tóc dài óng ả, dáng đi óng ả.

Màn đêm xuống rộn ràng trong xá,

Bóng nguyệt lên óng ả ngoài sân.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

ÓT

Ót là gáy, chỉ phía sau cần cổ.

Như: Sờ sau ót, nghe kể lại lạnh cả ót, hớt cái ót thằng Bé cao lên, chừa tóc nực nội lắm.

Nhưng choàng ngang trên đầu một đoạn vải mỏng, cột ra sau ót, thả một mí dài một mí vắn, ngay đầu tóc có giắt một bông sen.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

Ô

1.- Ô là khu vực nội, ngoại của một địa phận hay một thành phố. Như: Nội ô Toà Thánh, ngoại ô Thánh địa, ngoại ô Hà Nội.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Ðã bao lâu rồi Hội Thánh có ý định xây cất Chánh môn Toà Thánh theo sự trù hoạch của Ðức Hộ Pháp từ trước. Nhưng vì tài chánh eo hẹp, lại nữa trong vùng nội ô có nhiều sự kiến trúc và tu bổ cấp bách cần phải lo trước, nên không thể thực hành ý định sớm hơn được.

Châu vi rộng rãi vô cùng,

Đất non trăm mẫu riêng vùng Nội ô.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

Nội ô nay tiết thu về,

Lâng lâng tràng lá bồ đề gió reo.

(Cội Đạo Bốn Mùa).

2.- Ô là con chim quạ. Theo điển cũ gọi mặt trời là “Kim ô 金 烏”.

Như: Ô thước (chim quạ và chim khách), cầu ô, bóng ô đã xế ngang đầu.

Xôn xao cánh thước nhộn nhàng,

Cầu Ô chẳng chịu hiệp đàng kết đôi.

(Thất Nương Giáng Bút).

Nào khi hỏi thăm hang Từ Thức,

Nào khi dò mấy bực cầu Ô.

(Nữ Trung Tùng Phận).

3.- Ô là nhơ, bẩn. Như: Ô danh, ô uế, ô trược, ô nhục, tham quan ô lại.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Phần nhiều triều chánh sau nầy mới có tham quan ô lại, chớ thời xưa một người làm quan rất sợ điều đó lắm, là vì hễ đã mang danh tham quan rồi thì về làng không ở với ai được, cả làng mạt sát chịu không nổi, cho nên cả cái bí pháp hằng tâm gìn giữ rất nhặt nhiệm, kẻo buổi về già không chịu nổi sự trích điểm của thôn lân, được vinh quang chừng nào thì lại càng giữ gìn tánh đức.

Non nước đành xem theo bóng vẽ,

Mảnh đời mãn nguyện với ô tâm.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

Ô GIANG

Ô Giang là bến sông Ô, một con sông mà Sở Bá Vương Hạng Võ bị thất trận bởi quân Hán, phải tự đâm cổ chết. Nơi đây trước lúc chết, Hạng Võ đã hứa tặng cho viên Đình trưởng Ô Giang con ngựa chiến đang cỡi rồi tự đâm vào cổ để viên kỵ binh nhà Hán là Mã Đồng được lãnh thưởng ngàn vàng và phong ấp vạn hộ.

Sau nàng Ngu Cơ, người thiếp yêu quý của Hạng Vương cũng tự sát chết, được chôn ở bến Ô Giang. Vùng đó nhân thế mà mọc ra một thứ cỏ thơm người ta gọi là cỏ “Ngu mỹ nhân”.

Đệ tử tám ngàn đâu vắng tá?

Thôi đành một thác tại Ô Giang.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

Ô HÔ

嗚 呼

Ô hô là tiếng nói ra để biểu tượng sự thương cảm trước một điều đau buồn hay bất hạnh.

Ô hô cũng là lời than.

Bia kỷ niệm Đức Cao Thượng Phẩm có câu: Ô hô! Thiên cơ tiền định người dễ thấu đâu, những ngỡ tay rường cột sum vầy cùng bạn tác, chung lo đắp nền Ðạo giữa trời Nam, nào hay đâu số mạng bốn tuần dư dâng Thánh chỉ trở về Kinh Bạch Ngọc.

Xuân chẳng đợi người ngày tháng lụn,

Ô hô! đầu bạc tuổi già lần.

(Thơ Thông Quang).

 

 

Ô HỢP

烏 合

Ô: Chim quạ. Hợp: Hợp lại.

Ô hợp là họp nhau một cách lộn xộn như bầy quạ, chỉ sự vô trật tự, vô tổ chức.

Ô hợp còn chỉ họp đó rồi tan đó.

Như: Đoàn quân ô hợp.

Xã hội hiện nay rất phức tạp và ô hợp, luân thường đạo lý đều suy bại cũng vì lẽ ấy.

(Thánh Giáo Thượng Phẩm).

 

 

Ô KIỀU

烏 橋

Ô: Chim ô, tức chim quạ. Kiều: Cầu.

Ô kiều tức là Cầu ô, cầu do chim quạ bắc qua sông Ngân Hà để Chức Nữ sang gặp Ngưu Lang trong đêm thất tịch (mồng bảy tháng bảy).

Đồng nghĩa với “Thước kiều 鵲 橋”.

Xem: Cầu ô.

Ngân hán gượng mừng đêm gặp gỡ,

Ô kiều buồn ngắm nhạn bay tung!

(Thơ Thuần Đức).

 

 

Ô LI VÊ

Ô Li Vê, đọc từ âm chữ Pháp “Oliviers” tức là Mont des Oliviers, chỉ một ngọn núi ở gần thành Jérusalem của Do Thái.

Nơi ngọn núi này Đức Chúa Jésus Christ đã từng tiên tri về thành Jérusalem sau này sẽ bị tàn phá và về sự tái sinh của Ngài. Trước khi Ngài chết để chuộc tội cho loài người, Ngài có lên núi Ô Li Vê (Mont des Oliviers) để cầu nguyện Đức Thượng Đế tha tội cho nhơn loại.

Núi Ô Li Vê để dấu chân,

Gia Tô Giáo Chủ giải phần hữu sanh.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

Ô THƯỚC BẮC CẦU

Ô Thước 烏 鵲: Chim quạ và chim khách. Bắc cầu: làm chiếc cầu để liên lạc hai bên bờ sông với nhau.

Ô thước hay Ô thước bắc cầu là chim quạ và chim khách bắc cầu cho Ngưu lang, Chức nữ gặp nhau.

Do điển Ngưu Lang và Chức Nữ bị Trời đày phải xa cách hai bên sông Ngân, mỗi năm gặp nhau một lần vào đêm thất tịch (tức mùng 7 tháng 7). Đêm đó, chim ô và chim thước đội đá bắc cầu cho hai vợ chồng Ngưu Nữ qua với nhau.

Xem: Ngưu Lang Chức Nữ.

Còn con Ô thước bắc cầu,

Mất con là cửa vô lầu lãnh cung.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

Ô TRƯỢC

Hay “Ô trọc

Ô: Dơ bẩn, nhơ nhớp. Trược: Còn đọc “Trọc 濁”, là dơ bẩn, đục.

Ô trược, như chữ “Ô trọc 污 濁” có nghĩa là xấu xa nhơ nhớp. Như: Nước sông bị nhiễm ô trược.

Ô trược còn dùng để chỉ dục vọng thấp hèn.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Ðã vào trọn một thân mình nơi ô trược thì Thầy đây cũng khó mà rửa với một gáo nước cho đặng trong sạch.

Chịu ô trược Chơn thần nặng trịu,

Mảnh hình hài biếng hiểu lương tâm.

(Kinh Tận Độ).

Chẳng từ ô trược dương gian,

Vì thương trẻ mới băng ngàn viếng thăm.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Trong trần ai cũng để cho vùi,

Thân ô trược mình chùi sạch lại.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

Ô UẾ

污 穢

Ô: Dơ bẩn, nhơ nhớp. Uế: Nhơ nhớp.

Ô uế là nhơ nhớp, bẩn thỉu. Như: Đống rác ô uế, làm cho tâm bị ô uế.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: khi chúng ta hiến lễ cho Ðức Chí Tôn thì phải trau dồi tô điểm ba vật báu ấy cho tinh khiết, chẳng nên để nó nhiễm lấy bụi trần ô uế, thì vật báu ấy trở nên vô giá trị.

Mùi ngào ngạt thơm luôn Thánh thể,

Trừ tiêu tàn ô uế sinh quang.

(Kinh Tận Độ).

 

 

ỐC

1.- Ốc là loại đinh bằng sắt thép, có khía vặn, hay bắt vào một vật gì.

Như: Đinh ốc, ốc vít, bắt ốc vào bộ phận máy.

Cũng y như những bộ phận trong một động cơ nếu thiếu một món nào, dầu là một cái khoen hay một đinh ốc nhỏ thì động cơ phải bị tê liệt.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

2.- Ốc có nghĩa là những nốt nhỏ nổi ngoài da khi có cảm giác rét lạnh, sợ sệt hoặc dùn mình.

Như: Rởn ốc, mọc ốc cùng mình, sợ đến nổi ốc.

Cầu Nại Hà bắc giăng sông lớn,

Tội nhơn qua ốc rởn dùn mình.

(Kinh Sám Hối).

3.- Ốc còn là loài động vật thân mềm, có vỏ cứng và xoắn, sống ở nước hoặc ở cạn, thịt ăn được.

Như: Sò ốc, ốc bươu, ốc sên.

Như ốc mượn hồn đời há tiếc,

Bỏ qua cho rảnh kiếp phong trần.

(Đạo Sử).

Bắt ốc hái rau phương đỡ dạ,

Dầm mưa chải gió tái tê lòng.

(Thơ Thái Đến Thanh).

4.- Ốc là cái nhà, như phòng ốc, trường ốc.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Sanh ra nơi trần thế, người hữu học có công thập niên đăng quả thì ai cũng muốn chen vào trường ốc, mong chiếm bảng vàng hầu lập nên sự nghiệp vẻ vang, làm đẹp mặt nở mày cho cha mẹ.

Sơn lâm cặm cụi noi đường trước,

Mao ốc thanh nhàn nhắc chuyện xưa.

(Thơ Thông Quang).

5.- Ốc, còn có thể đọc “Ác 握”, là cầm, nắm, nắm tay lại, cầm lấy.

Quy Thế giái ư nhứt khí chi trung,

Ốc trần huờn ư song thủ chi nội.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

ỐC BƯƠU

Ốc: Loài động vật thân mềm, có vỏ cứng và xoắn, sống ở nước hoặc ở cạn, thịt ăn được. Bươu: Tên ốc.

Ốc bươu là loại ốc ở vùng nước ngọt, vỏ nhẵn, màu xanh đen, dài hơn ốc nhồi, sống ở ao, ruộng.

Mượn men sưởi mãi hồn băng tuyết,

Đem ngọc giấu vào vỏ ốc bươu.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

ỐC MƯỢN HỒN

Ốc: Loài động vật thân mềm, có vỏ cứng và xoắn, sống ở nước hoặc ở cạn, thịt ăn được. Mượn hồn: Ý chỉ mượn sự sống.

Ốc mượn hồn là một loại ốc ở biển đã bị chết, còn cái võ ngoài, được các sinh vật nhỏ khác ở biển mượn vỏ ốc đó để sống.

Ốc mượn hồn được ví với người ngơ ngơ ngẩn ngẩn, ngây dại như kẻ mất hồn.

Thiếp thân như ốc mượn hồn,

Sống không biết sống, chết còn ngậm đau.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Như ốc mượn hồn đời há tiếc,

Bỏ qua cho rảnh kiếp phong trần.

(Đạo Sử).

 

 

ỐC TRẦN HUỜN Ư SONG THỦ CHI NỘI

Hay “Ốc trần hoàn ư song thủ chi nội”.

Ốc: Còn đọc là ác, có nghĩa là nắm giữ. Trần huờn: Chỉ cõi trần là cõi sống của nhân loại. Ư song thủ chi nội: Ở trong hai tay.

Ốc trần huờn ư song thủ chi nội, như “Ốc trần hoàn ư song thủ chi nội 握 塵 寰 於 雙 手 之 內”, là nắm giữ cõi trần hoàn trong hai bàn tay.

Đây là câu trong bài Kinh Phật giáo nói về huyền pháp của Đức Nhiên Đăng Cổ Phật. Ngài nắm cõi trần trong hai tay, ý muốn nói cõi trần huờn nằm trong sự chi phối của hai khí âm dương, tức là Đạo vậy.

Cái nguyên lý âm dương ấy tối cao tối đại, là nguồn gốc của vạn vật vẫn thường tồn không thay đổi. Cái đức của nó sinh ra vạn vật và Trời đất.

Quy Thế giái ư nhứt khí chi trung,

Ốc trần huờn ư song thủ chi nội.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

ÔI

Ôi là tiếng kêu, tiếng than, tiếng thốt ra biểu lộ sự xúc động mạnh mẽ trước điều bất ngờ. Như: Ôi cao cả thay cho tình mẹ thương con.

Thánh giáo Đức Thích Ca Như Lai kim viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát có câu: Lắm kẻ đã chịu khổ hạnh hành đạo. Ôi! Thương thay! Công có công mà thưởng chưa hề có thưởng, vì vậy mà Ta rất đau lòng.

Ôi, xấu kiếp số, thảm cho kiếp số,

Gẫm sự đời đáng hổ kiếp hồng nhan.

(Phương Tu Đại Đạo).

Phải nào bạc bẻo hỡi em ôi!

Vì phận nghĩa kia xử khó rồi.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

ÔM

1.- Ôm là vòng hai tay qua để giữ sát vào lòng, vào người. Như: Ôm con, quàng tay ôm cổ mẹ, ôm cầu.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Bần Ðạo trốn được, tránh được mà Bần Ðạo không khi nào chịu vậy. Ðức Chí Tôn bảo ở, dầu sống chết ngồi nơi đây ôm chân Ngài mà thôi.

Bà rút roi giả bộ theo ôm,

Đưa cán quạt cho bà đơm ít phát.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Ôm là giữ mãi, nuôi mãi trong lòng một cách trân trọng, tha thiết. Như: Ôm chí lớn, ôm mối hận.

Thánh giáo Đức Thích Ca Như Lai có dạy: Kỳ truyền đã thất, chư sơn chưa hề biết cái sai ấy do tại nơi nào, cứ ôm theo luật Thần Tú, thì đương mong mỏi về Tây phương mà cửa Tây phương vẫn cứ bị đóng, thì cơ thành Chánh quả do nơi nào mà biết chắc vậy.

Mấy bữa nhăn mày lâm chước quỷ,

Khiến ôm mối thảm lại Diêm đình.

(Thất Nương Giáng Bút).

Nào có tưởng vợ nhà đau đớn,

Ôm tình si muôn lượng sầu than.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ÔM ẤP

Ôm: Giữ mãi, nuôi mãi trong lòng. Ấp: Ôm lấy hoặc ấp ủ trong lòng.

1.- Ôm ấp là ôm chặt vào lòng với tình cảm âu yếm, tha thiết.

Như: Mẹ ôm ấp con vào lòng.

Thương những thuở huyên đường ôm ấp,

Thương những khi co đắp chung mền.

(Kinh Thế Đạo).

2.- Ôm ấp còn có nghĩa là nuôi giữ trong lòng một cách trân trọng, tha thiết.

Hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh trong quyển Thiên Đạo có viết: Cho nên, bực tu hành nếu không lo trừ bản ngã, thì chẳng thế nào bỏ vọng về chơn, bỏ mê theo giác mà thoát ra vòng luân hồi quả báo. Là vì, hễ còn ôm ấp cái Ta, là còn cố chấp ngã kiến, nên không thế nào tìm ra Chơn lý.

Ôm ấp tình chung trời một góc,

Hỏi mưa nhắn gió biết đâu theo.

(Bát Nương Giáng Bút).

Nếu ôm ấp một bên thương nhớ,

Bịnh tương tư khó gỡ cho kham.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ÔM BÌNH

Ôm: Giữ lấy. Bình: Ken nhiều bức vẽ làm một mảng gọi là bình như bình đối 屏 對: Là ken mấy bức tranh lại để treo cho kín tường vách. Như vậy bình có nhiều bức vẽ treo kế nhau.

Ôm bình là ôm bức tranh vẻ hình con chim sẻ.

Do điển tích như sau: Xạ tước bình nhi trúng mục, Đường Cao đắc thê 射 雀 屏 而 中 目, 唐 高 得 妻, tức là bắn mắt chim sẻ nơi bức hình trúng, Đường Cao Tổ được vợ.

Bộ Đường thư chép: Ông Đậu Nghị có người con gái rất đẹp nết và đẹp người. Ông thường nói với vợ rằng: Con nhỏ nầy có tướng tốt, lại đẹp song toàn, phải lựa người có tài cung kiếm và có đạo đức mà gả nó mới được. Ông bèn cho vẽ một con chim sẻ trên một bức bình (tranh), bảo những người gắm ghé đến cầu hôn bắn một mũi tên, người nào bắn trúng vào mắt con chim sẻ thì được gả con gái cho. Trong số những người đến dự bắn có ông Lý Uyên bắn trúng ngay mắt con chim sẻ. Đâụ Nghị bèn nhận làm rể. Hai vợ chồng bèn lưu bức hình làm kỷ vật cho duyên đôi lứa.

Về sau, Lý Uyên dựng nên cơ nghiệp nhà Đường, xưng là Cao Tổ và phong cho vợ là con gái Đậu Nghị làm Hoàng hậu, gọi là Đậu Hoàng hậu.

Dưới trăng bóng ngọc còn nguyên,

Ôm bình, bao tóc sang hèn cũng cam.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

ÔM CẦM

Ôm: Giữ lấy bằng hai tay. Cầm: Đàn cầm, tức cây đàn tỳ bà.

Ôm cầm là ôm lấy cây đàn cầm, nói việc người đàn bà con gái đi lấy chồng.

Truyện Kiều có câu: Cùng nhau vả tiếng một ngày, ôm cầm ai nỡ dứt dây cho đành.

Xem: Ôm cầm thuyền ai.

Nặng vẻ công danh thêm nặng phận,

Thà ôm cầm đến chốn rừng tòng.

(Đạo Sử).

 

 

ÔM CẦM THUYỀN AI

Ôm cầm: Ôm cây đàn tỳ bà. Thuyền ai: Thuyền của người khác.

Ôm cầm thuyền ai là nói ôm cây đàn cầm bước sang thuyền ai đó, tức bỏ chồng cũ đi lấy chồng khác.

Bởi câu trong sách Thiên Hương, nàng Kiều Oanh nói: Thiếp dĩ thân hứa quân, tuy toái ngọc trầm châu, diệc bất bão tỳ bà quá biệt thuyền 妾 以 身 許 君, 雖 碎 玉 沉 珠, 亦 不 抱 琵 琶 過 別 船, nghĩa là thiếp đem mình theo chàng, dẫu đến nát ngọc chìm châu, cũng không ôm đàn tỳ bà sang thuyền khác, ý nói người đàn bà quyết giữ trọn tiết nghĩa, không lấy chồng khác.

Truyện Kiều, Nguyễn Du có câu: Đã nguyền hai chữ đồng tâm, Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai.

Thương ai mến trộm nhớ thầm,

Lựa duyên chẳng chịu ôm cầm thuyền ai.

(Thất Nương Giang Bút).

 

 

ÔM CẦU

Có hai điển tích:

1.- Chữ cầu là cây cầu (kiều 橋) thì lấy điển ôm trụ cầu, chỉ việc liều thân giữ trọn điều (chữ) tín (lời hứa). Do tích như sau:

Lời sớ của Hình Bỉnh trong Luận Ngữ Chú Sớ Giải Kinh chép:

Vỹ Sinh là người nước Lỗ, thời Xuân Thu, hẹn với người tình gặp nhau ở dưới cột cầu. Đúng giờ, Vỹ Sinh ra chỗ hẹn mà chờ đợi, người con gái vẫn chưa thấy đến. Sinh thủ tín (giữ lời hứa) cứ ngồi đợi mãi, đến khí nước dưới sông càng lúc càng lớn, mà người tình vẫn không tới, Vỹ Sinh cứ ngồi ôm trụ cầu mà chịu chết, chớ không chịu bỏ chỗ hẹn để giữ chữ tín với người tình.

Theo Hình Bỉnh, ông cho rằng: Làm như vậy tuy là giữ chữ tín, nhưng không phải nghĩa.

Hán Thư lại viết: Liêm nhược Bảo Thúc, tín nhược Vỹ Sinh 廉 若 鮑 叔, 信 若 尾 生, nghĩa là thanh liêm như Bảo Thúc (Đại phu nước Tề), thủ tín (giữ lời hứa) như Vỹ Sinh.

Đừng đợi đến ôm cầu mà khóc,

Nước ngập mình tơ tóc đều trôi.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Chữ Cầu là trái cầu hay “Tú cầu 繡 球”, tức quả cầu bằng gấm thêu, dùng để các nàng công chúa hoặc con các quan kén chồng.

Ôm cầu là giữ mãi trái cầu, chỉ người tình hoặc người chồng ôm ấp những kỷ niệm ban đầu mới gặp nhau.

Do điển: Vua Vũ Đế nhà Hán, có Công chúa vừa tuổi lấy chồng, vua bèn truyền lịnh các vị vương tôn công tử xa gần, hay các anh hùng hào kiệt khắp mọi nơi biết và tập trung về để Công chúa tuyển lựa phu quân. Người nào nhận được quả tú cầu do Công chúa gieo xuống thì được nhà vua gả Công chúa cho và phong làm Phò mã.

Kẻ ôm cầu trong đoạn kinh trên dùng để chỉ người chồng đang đau khổ vì ôm ấp những kỷ niệm lúc ban đầu mới gặp nhau.

Bước Tiên nàng đã ngao du,

Đoái tình thương kẻ ôm cầu khóc duyên.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

ÔM MỒ THỦ HIẾU

Hay “Ôm mồ”.

Ôm mồ: Ôm mả của bà mẹ. Thủ hiếu 守 孝: Gìn giữ lòng hiếu thảo.

Ôm mồ thủ hiếu hay “Ôm mồ”, là ôm mả mẹ để giữ tròn chữ hiếu.

Do điển tích trong Nhị Thập Tứ Hiếu có chép: Vương Thôi người đời Tây Tấn, có người mẹ già rất sợ sấm sét, nên khi mẹ qua đời, mỗi lần nghe tiếng sấm nổ thì chạy ra ôm mồ mẹ mà vái rằng: Có con ở đây, mẹ đừng sợ. Đây là một gương hiếu thảo trong hai mươi bốn hiếu của người xưa.

Xem: Vương Thôi.

1.- Ôm mồ thủ hiếu:

Giúp những kẻ ôm mồ thủ hiếu,

Dỗ những trang bận bịu khối tình.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Ôm mồ:

Ôm mồ khóc vái nhỏ to,

Có con đây mẹ đừng lo sấm trời.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

ỐM

1.- Ốm là đau, ở trạng thái cơ thể bị bệnh.

Như: Nó bị ốm liệt giường, bác sĩ cho nghỉ ốm hai ngày tại nhà, không ốm không đau làm giàu mấy chốc.

Thương gìn lúc ốm khi đau,

Sợ chê xấu phận, cậy màu phấn son.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Khi đau ốm nào ai gần được,

Lo đỡ nâng thang thuốc hơn chồng.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Ốm là gầy gò, không mập.

Như: Ốm trơ xương, con người nó ốm như que củi, ốm nhách như cò ma.

Mổ bụng độn vàng, quăng phổi ruột,

Xẻ đầu nhét sách, ốm hình thù.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

ỐM ĐAU

Ốm: Ở trạng thái cơ thể bị bệnh. Đau: Mắc bệnh.

Ốm đau, như chữ “Đau ốm”, là chỉ tình trạng cơ thể bị suy yếu, bệnh hoạn.

Như: Mỗi lần ốm đau chân cẳng đều bị yếu, đi đứng rất khó khăn.

Thương gìn lúc ốm khi đau,

Sợ chê xấu phận, cậy màu phấn son.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Đừng đến lúc ốm đau chẳng ngó,

Hương sắc xinh lại bỏ hoa tàn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ỐM O

Ốm: Gầy, không mập.

Ốm o là gầy gò, gầy guộc, gầy đến mức thân thể chỉ còn da bọc xương.

Nói về việc bà mẹ bù chì, Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Có một bà mẹ đó nhiều con, rồi họ xúm lại với nhau thay phiên đặng nuôi mẹ. Hễ khi anh cả nuôi rồi thì cân được bao nhiêu, tới em thứ nuôi, rồi cân phải hơn ra hay như số đấy mới đặng. Nhưng trong đám con ấy rủi thay người nghèo mà là út, kẻ nghèo ấy lại được bà mẹ yêu ái bệnh vực hơn, phần nghèo khó có phương gì nuôi mẹ cho đầy đủ đặng, nên hễ khi trao đổi đến nơi tay cái người út ấy, thì bả ốm o gây mòn. Ăn không đủ thế nào cũng ốm, bây giờ đến phiên ngày cân, đây thì bà phải làm sao, bà lận lưng thêm chì cho nặng để cân, không thì tội nghiệp cho đứa nhỏ nghèo. Cho nên lời tục họ gọi là “Bà mẹ thương con phải bù chì” là lẽ ấy.

Đậm hương cho toại hồng nhan,

Gẫm thân có lúc khốn nàn ốm o.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Trong e trúc cỗi, tùng xơ xác,

Ngoài ngại mai gầy, liễu ốm o.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

ÔN

1.- Ôn là ấm áp. Như: Khí hậu ôn hoà, ôn đới, hàn ôn, tánh tình ôn nhu, ôn đới.

Trong quyển Thiên Đạo, hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có viết: Như ở các nước thuộc miền ôn đái như nước Việt Nam, phàm giống lúa hễ gieo xuống (nguyên nhơn) là nứt mộng lên mau (kết quả).

Cách biệt thoả trao niềm luyến nhớ,

Hàn ôn cạn tỏ nỗi xa gần.

(Thơ Hoàn Nguyên).

2.- Ôn còn dùng để chỉ người có tính hoà nhã, tỏ ra điềm đạm, không gay gắt nóng nảy trong quan hệ đối xử.

Ra giao thiệp với đời thì phải tập và giữ tánh:Ôn, Lương, Cung, Khiêm, Nhượng.

(Tân Luật).

3.- Ôn là học lại, nhắc lại, lập lại. Như: Học ôn, ôn tập, ôn lại chuyện cũ.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Trong mấy ngày Tết, ngoài ra phận sự đối với gia đình, thờ cúng Tổ tiên, chúng ta nên dùng dịp nghỉ ngơi để ôn lại những việc đã làm, cùng những thành tích đã thâu thập trong một năm qua trên đường hành đạo.

Chúng ta thử ôn lại đã có hai mươi ba năm hành đạo, chúng ta đã chịu bao nhiêu khổ hạnh để bảo vệ con cái của Chí Tôn.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

ÔN CỐ TRI TÂN

溫 故 知 新

Ôn cố: Học tập lại cái cũ. Tri tân: Hiểu biết mới.

Ôn cố tri tân tức là phải xem phải học lại những cái cũ, thì mới có thể hiểu biết được cái mới.

Sách Luận Ngữ có câu: Ôn cố nhi tri tân, khả dĩ vi sư hỹ 溫 故 而 知 新, 可 以 為 師 矣, nghĩa là ôn lại những cái cũ để biết những cái mới, có thể làm thầy cho người ta vậy.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Các em sinh viên đã nương vào cửa Ðạo thì sẵn có Thánh giáo của Ðức Chí Tôn và các Ðấng Thiêng Liêng, sẵn có sách Ðạo của các bậc đàn anh ra công biên soạn, lại thêm có nhiều dịp nghe lời giảng dạy của cấp trên thì các em có đủ phương châm để ôn cố tri tân, trau dồi tâm trí.

Vẫn từng ôn cố để tri tân,

Bè bạn dù xa cũng hoá gần.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

ÔN HOÀ

溫 和

Ôn: Ấm. Hoà: Êm dịu.

Ôn hoà là từ tốn vừa phải, ý nói tính tình hoà nhã, hiền lành, không nóng nảy hung tợn. Như: Tánh ôn hoà, người có thái độ ôn hoà.

Thánh giáo bằng Pháp Văn của Đức Chí Tôn do Hội Thánh dịch, có câu: Nơi xứ nầy, dân tình rất thuần hậu và ôn hoà, nên Thầy đến cũng như Chúa Cứu Thế đã đến với chúng con để bài trừ Tà thuyết và truyền bá Chơn đạo trên toàn cầu.

Trau tánh ôn hoà chừa cải trước,

Dựa hơi rừng quế cũng thơm tho.

(Đạo Sử).

Ôn hoà lập chí gầy thân ái,

Chánh trực dồi tâm dựng thái bường.

(Thơ Tiếp Đạo).

Đàm luận ôn hoà đầy khí phách,

Ngôn từ tao nhã, đủ tinh thần.

(Thơ Thông Quang).

 

 

ÔN NHU

溫 柔

Ôn: Hoà nhã. Nhu: Mềm mại.

Ôn nhu là ôn hoà nhu thuận, tức chỉ người có lòng ôn hoà, và mềm mỏng.

Thánh giáo Đức Quyền Giáo Tông trong Thánh Ngôn Sưu Tập có đoạn: Mấy em Hiệp Thiên Đài gắng nhứt tâm lo lắng thì vững vàng Chánh giáo. Mấy em lấy chánh sách ôn nhu mà đối đãi với kẻ nghịch thù thì quyết thắng họ đặng.

Cung trương chim đỡ thế nào đang,

Mất phước ôn nhu ấy mất nhàn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tánh đức ôn nhu tua tập tánh,

Ngừa cơn xuân mãn kế qua hè.

(Đạo Sử).

Cột thân ái cậy lòng đạo đức,

Gầy từ tâm gắng sức ôn nhu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

ỒN ÀO

Ồn: Ầm ĩ, tức có nhiều tiếng động. Ào: Tiếng ồn ở chỗ đông người.

Ồn ào là có nhiều âm thanh, tiếng động lẫn lộn, làm náo động khó nghe, khó chịu.

Trong quyển Thiên Đạo, hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có đoạn: Ở vào thế kỷ văn minh vật chất nầy, nhiều sự ồn ào náo nhiệt, dễ làm cho đạo tâm xao lãng. Nào là nỗi sớm lo chiều liệu trên đường sanh kế, nào là cuộc bi thương hoan lạc, mỗi mỗi dễ làm cho chúng ta phải xa lần mối Đạo.

Vần vũ suối bờ Thần tiếp Thánh,

Ồn ào Bến Nghé quỷ xô quân.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

Đường đột đòi phen gầy thế cuộc,

Ồn ào lắm lúc độ nguyên nhân.

(Thanh Sơn Đạo Sĩ).

 

 

ÔNG

1.- Ông là cha, chú, bác của cha mẹ, hoặc hàng ông nhiều đời của cha mẹ mình. Như: Ông nội, ông ngoại, ông chú, ông bác, ông cố, ông sơ.

Thánh giáo Thầy có câu: Ông cha phàm kia còn yêu ái con, trước buổi nhắm mắt còn tính để lại cho con một phần gia nghiệp hương hoả.

Kinh sách cha ông để lại đâu,

Mà con chữ viết chẳng nên câu.

(Đạo Sử).

2.- Ông là tiếng gọi chung những người đàn ông lớn tuổi hoặc ngang hàng để cho thân mật.

Như: Ông già, ông lão, ông nọ bà kia, ông bạn.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Nhưng vì quá bận rộn công việc, ông Khai Ðạo xin chấm dứt nhiệm vụ cố vấn trên đây để có thời giờ điều khiển và lo chỉnh đốn Cơ Quan Phước Thiện.

Giờ lâu mới thấy dạng lầu đài,

Phép tắc “Ông Già” gẫm thiệt hay.

(Thiên Thai Kiến Diện).

3.- Ông là tiếng dùng để chỉ người chồng, đối với “Bà” là chỉ người vợ.

Ông còn là từ để người vợ gọi người chồng.

Như: Ông chồng bà vợ, của ông công bà, ông ăn chả bà ăn nem.

Hiệp sức làm đôi tát biển Ðông,

Tuy không phải vợ cũng ông chồng.

(Đạo Sử).

Hễ là vào đạo vợ chồng,

Hư nên đều có của ông công bà.

(Nữ Trung Tùng Phận).

4.- Ông là từ dùng để gọi tôn những bậc được sùng bái hay kiêng sợ. Như: Ông Trời, ông Phật, ông Thánh.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy khuyên các con nhớ hoài rằng: Thầy của các con là ông Thầy Trời, nên biết một Ổng mà thôi, thì đủ, nghe à!

Ngoài mặt thì đời hằng dễ thấy,

Trong tâm biết đặng có ông Trời.

(Đạo Sử).

Thiệt dạ Ta khuyên về ít bữa,

Vái van thưa tội với ông Trời.

(Đạo Sử).

Khi răn dạy cũng là thừa dịp,

Dầu ông Tiên tái kiếp cũng không bì.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ÔNG BÀ

Ông: Cha của cha mẹ hoặc cha của cô, chú, bác, mình. Bà: Mẹ của cha hoặc mẹ của cô chú bác mình.

Ông bà là tiếng dùng để chỉ những người sinh ra dòng họ của mình, như chữ Tổ tiên.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Nhớ lại, khi Bần Ðạo đi ngoài Quy Nhơn, gặp một ông già tên là ông Sáu Chèo, vì ông bán chèo nên mọi người kêu như vậy, vô nhà nhìn thấy bàn thờ ông bà không có treo tranh biển gì hết...

Lòng thành thương tưởng ông bà,

Nước nguồn cây cội mới là tu my.

(Kinh Sám Hối).

 

 

ÔNG KẸ

Ông kẹ là tiếng Nam bộ, tên gọi của một quái vật được bịa ra, dùng để nhát trẻ con. Như: Nín đi hôn, khóc hoài ông kẹ cắn đó.

Ông kẹ còn dùng để chỉ người đen đúa và xấu xí không ai bằng. Như: Mặt mày lem luốc như ông kẹ.

Bần Đạo chắc dầu chồng ông kẹ,

Bị vài lần có lẽ cũng nhăn răng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ÔNG TÁO

Ông Táo hay Táo Quân 灶 君 là Vua Táo.

Theo Châu lễ, cứ đến mùa hạ thì tế Táo quân, tức là tế thần Chúc Dung. Theo sách Hoài Nam Tử, Hoàng Đế chế ra việc dùng lửa để nấu nướng, nên khi chết hoá thành Táo Quân.

Theo truyền thuyết của ta thì thần Táo quân có ba người: Hai ông một bà, nên ca dao có câu:

Thế gian một vợ một chồng,

Nào như vua Táo hai ông một bà.

Do tích: Ngày xưa có hai vợ chồng nọ bị thất lạc nhau, mỗi người một nơi, người vợ mới có chồng khác. Một hôm, có người hành khất đến xin ăn, người đàn bà nọ nhận ra là chồng mình, liền đem cơm ra cho ăn. Sợ chồng sau biết được, người đàn bà nọ bèn giấu chồng cũ vào cây rơm. Không ngờ người chồng sau về, vô tình làm cháy cây rơm, thiêu chết người chồng cũ. Chị vợ nghĩ đến tình nghĩa xưa, đau đớn mà nhảy vào đống lửa để chết theo chồng. Người chồng sau thấy cảnh đó cũng thương tâm, cũng nhảy vào lửa để chết theo. Ngọc Hoàng Thượng Đế thấy vậy, thương tình cho làm Táo quân.

Chị vắng mặt vô rờ ông Táo,

Bốc tay dơ trã cháo trách canh.

(Phương Tu Đại Đạo).

Bây giờ nó chẳng chừa ông Táo,

Ngày trước ai than mất quả cà.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

ÔNG TƠ

Ông: Tiếng chỉ người đàn ông. Tơ: Sợi tơ, chỉ ông Nguyệt Lão.

Ông tơ hay Nguyệt lão tức là ông già ngồi dưới trăng lấy dây tơ đỏ xe duyên cho nên vợ chồng.

Đường thư chép: Vi Cố đời nhà Đường thấy một ông lão ngồi dưới trăng đang lật xem một quyển sách, bên cạnh có một số dây tơ đỏ. Vi Cố hỏi dây gì, thì ông lão đáp: “Dây xích thằng” (chỉ đỏ) dùng để cột chân những người có duyên nợ vợ chồng với nhau.

Ông tơ bà nguyệt khéo xe duyên,

Buộc chặt hai người nặng kiếp khiên.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

ÔNG THIỆN ÔNG ÁC

Ông Thiện là một pho tượng ở bên hữu, trước Đền Thánh Cao Đài Tây Ninh, mình mặc giáp nâu, đầu đội Kim khôi, tay cầm đại đao, trông oai phuông lẫm liệt, nhưng vẻ mặt hiền từ, tượng trưng cho sự lành.

Ông ác cũng là pho tượng đặt song song với ông Thiện, ở bên tả. Ông Ác mình mặc giáp, đầu đội Kim khôi, với vẻ mặt hung tợn, nhăn răng trợn mắt, tay cầm búa và tay kia cầm Ngọc ấn tỷ phù. Ông Ác tượng trưng cho sự ác.

Ông Thiện, ông ác do tích là Tỳ Văn, Tỳ Vũ.

Xem: Tỳ Văn Tỳ Vũ.

Ông Thiện, ông Ác diễn ra,

Tỳ Văn, Tỳ Vũ, cha là Tỳ Kheo.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

ÔNG VẢI

Ông: Người đàn ông thuộc thế hệ sinh cha mẹ, cô cậu chú bác dì.

Ông vải là chỉ ông bà tổ tiên.

Như: Ông bà ông vải, sớm về chầu ông vải.

Sợ bả gan chưởi tới ông bà,

Lấy trớn chưởi cả nhà ông vải.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ỐNG TIÊU

Ống: Vật tròn và dài, bên trong rổng ruột. Tiêu: Ống sáo, một loại nhạc cụ.

Ống tiêu còn gọi là ống sáo, một loại nhạc cụ hình ống nhỏ và dài, có nhiều lỗ tròn để định cung, thổi bằng hơi theo chiều dọc, tiếng trầm.

Trong Đạo Cao Đài, Lục Nương Diêu Trì Cung là một trong Cửu Vị Tiên Nương, theo hầu Đức Phật Mẫu tay cầm ống tiêu.

Cô Cửu Nương Ống Tiêu giục trỗi,

Giác ngộ hồn cải hối tu thân.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

Ơ HỜ

Ơ hờ tỏ ra hờ hững, nhạt nhẽo, lạnh lùng, không quan tâm, chú ý đến. Như: Thường ngày cô ấy ơ hờ với công việc, bạn bè lâu tới chơi mà nó vẫn ơ hờ với người ta.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Hại thay! Những kẻ lãnh đạo kháng chiến, trong buổi tinh thần của một nước đã chịu tám mươi năm lệ thuộc đang bồng bột, mà những kẻ ấy ơ hờ chẳng để hết tâm hồn nghiên cứu.

Mùi đạo đức chớ ơ hờ mà bê trễ,

Cuộc thế tàn lóng nghe tiếng dế cất giọng nam ai.

(Giác Mê Khải Ngộ).

Chớ có ơ hờ mà nghi ngại,

Rồi sau khó biết đặng phân minh.

(Thánh Giáo Minh Thiện).

 

 

là tiếng dùng trước để gọi người ở xa.

Như: Ớ nầy cô bán chiếu, Ớ nhỏ, đi đâu vậy, ớ đò! vào bờ đưa ông ấy qua sông.

Treo đai ngọc đền vàng Long Hội,

con hiền bước vội đài sen.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Mùi đời biết đặng lắm chua cay,

Cay đắng kiếp người khổ ai!

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

1.- Ở là trú ngụ. Như: Ở quê, ở tỉnh, ở riêng, ở xa.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có câu dạy: Thầy thả một lũ hổ lang lộn cùng các con, nó hằng thừa dịp mà cắn xé các con, song trước Thầy đã cho các con mặc một bộ thiết giáp, chúng nó chẳng hề thấy đặng là đạo đức của các con.

Kẻ phương trời người góc biển,

Lòng thành nhắn gởi chữ khương ninh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðài sen vui nhánh trổ thêm hoa,

Một Ðạo như con một nhà.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Ở là tại nơi nào, để tại chỗ nào. Như: Quyển sách ở trên bàn, hàng bán ở chợ, cái nhà ở góc đường.

Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy Bà Đường Thị (Đái Thị Huệ) có câu: Vậy, con phải tuân lịnh Thầy mà lập thành Nữ phái. Nghe và tuân, Thầy hằng bên con, lo chung cùng con. Con chớ ngại.

Trước có căn duyên ngọc cung,

Cầu con nên phải đến phân cùng.

(Thiên Hậu Giáng Bút).

3.- Ở là đối với, cư xử với. Như: Ở đời. ăn ở bạc tình, ở bạc với cha mẹ, ở hậu với chòm xóm.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy muốn dạy con, phải và dạy nội gia quyến con cho chánh đáng, phải lấy lòng trong sạch đối đãi với người, dầu việc nhỏ mọn cũng vậy.

Trời hằng thương mến lũ nhơn sanh,

Giận nỗi cưu cưu bạc tình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Rằng đời thì nhơn đạo trọn,

Trọn rồi Thiên đạo mới hoàn toàn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

4.- Ở là bởi, do.

Như: Lỗi ở tôi chứ không phải lỗi của anh ấy, Điều sai nầy do ở anh làm.

Đặng chồng dường thể đặng mồ,

Chôn thây cửa lạ, cậy nhờ ai?

(Nữ Trung Tùng Phận).

5.- Ở là lưu lại, không đi. Như: Kẻ ở người đi, ở lại, ở tạm, ở nhờ.

Trong Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Cuộc hội hiệp vui vẻ này đã biến thành cái lệ bất di bất dịch, in sâu vào trí não của mọi người trong chúng ta, vì đó là một cuộc hội hiệp đầy thiện cảm chân thành, nồng đượm bao nhiêu vẻ thân mật khắng khít và sẽ ghi lại một kỷ niệm êm dịu trong tâm hồn của những người đến dự khi mà mỗi vị đều ý thức trong một vài ngày nữa đây sẽ có cuộc chia tay, kẻ lại nơi đại gia đình, người tản mát nơi tứ phương, để làm phận sự của người con thảo đối với Ðức Chí Tôn Ðại Từ Phụ.

Thường xem khí số biết Thiên Cơ,

Hết kiếp trần ai cõi nhờ.

(Đạo Sử).

Vui lòng kẻ miền Nam bộ,

Phấn chí người đi xứ Bắc tông.

(Thơ Thông Quang).

 

 

ỚI HỢI

Ới hợi, cũng như chữ “Ứ hự”, có nghĩa là nặng nhọc, khó khăn không thể tả.

Ới hợi còn là từ gợi tả tiếng phát ra như bị tắc từ trong cổ họng, thường tỏ ý than, không bằng lòng.

Như: Gánh nặng ới hợi, ới hợi công việc tới dồn dập,

Ới hợi mình nay tuổi đã già,

Chết đây ắt sẽ trở ra ma.

(Đạo Sử).

 

 

ƠN

Hay “Ân”.

Ơn, như chữ “Ân 恩”, là điều làm cho người khác mang lại lợi ích, được người ấy nhận thức như là phải đền đáp. Như: Mang ơn, đền ơn, ơn trời biển.

Thánh giáo Thầy dạy Ngài Thái Bính Thanh có đoạn: Thầy cám cảnh lòng yêu mến của con, Thầy cám ơn lòng đạo đức của con. Sanh linh còn nhờ công con mà thoát qua khổ hải.

Xem: Ân.

Nghiệp thành trước đã có ơn Trên,

Công quả độ sanh khá vẹn đền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Hễ thọ ơn người thì phải trả cho rồi,

Ơn định vợ nghĩ thôi nên thậm trọng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

ƠN CHA SANH HOÁ ƠN THẦY GIÁO HUẤN

Công ơn của cha mẹ đào tạo ra hình hài thể xác thì to lớn như trời biển, song đã có tấm thân mà không có thầy khai hoá thì con người chỉ như một khối thịt tùng theo vật dục mà hành động, không có tri giác, không hiểu lễ giáo.

Vì vậy người xưa cho rằng công lao thầy đào tạo nên người bằng công sinh thành dưỡng dục của cha mẹ, nên lập thành cái đạo: Đạo thầy trò, và xếp trước đạo cha con, sau đạo vua tôi, ấy là đạo: Quân, sư, phụ.

Đời Tống một triết gia Trung Quốc là Chu Đôn Di mới lập Sư đạo (Đạo của thầy trò), ông cho rằng: Cái đạo của Thánh nhân rất quý, nhưng phải có thầy dạy mới biết được. Ông đặt vấn đề: Làm sao khiến cho thiên hạ đều thiện cả? Rằng phải có thầy dạy, tức là kẻ tiên giác dạy kẻ hậu giác, kẻ mờ tối học kẻ sáng suốt, như thế thì đạo thầy được thành lập vậy.

Ơn cha sanh hoá ra thân,

Ơn thầy huấn giáo cũng gần như nhau.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

ƠN DÀY NGHĨA SÂU

Ơn nghĩa: Tình nghĩa gắn bó do có ơn đối với nhau. Sâu dày: Do chữ “Thâm hậu 深 厚” là sâu và dày, thâm trầm trọng hậu.

Ơn dày nghĩa sâu là ơn nghĩa đối với nhau rất sâu dày, tức rất thâm trầm trọng hậu.

Áo cơm no ấm hằng ngày,

Của người châu cấp ơn dày nghĩa sâu.

(Kinh Sám Hối).

 

 

ƠN ĐỨC

Hay “Ân đức”.

Ơn (ân): Làm lợi ích và tốt đẹp cho người, được người nhận thức cần phải đền đáp. Đức: Cái biểu hiện tốt đẹp của đạo lý trong tính nết, tư cách, hay hành động.

Ơn đức là công ơn và đức độ.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Bần Ðạo nhớ khi nền Ðạo mới phôi thai, buổi ban sơ xuống tại Thủ Ðức ở trót 7 tháng trường, nhờ ơn đức của Giáo Tông dìu dắt, giáng bút giáo hoá, buổi chưa rõ thông chơn lý của Ðạo, còn mập mờ, tìm hiểu, nhiều khi vì sự ham muốn biết, đã vấn nạn Ngài nhiều điều quá đáng, như ngày hôm nay và tương lai nếu ai xúi hỏi nữa, chắc Bần Ðạo không dám.

Ơn đức ấy con nay chạm dạ,

Đặng con lo đền trả đức nầy.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

ƠN HUỆ

Hay “Ân huệ”.

Ơn (ân): Điều làm cho người khác mang lại lợi ích, được người ấy nhận thức như là phải đền đáp. Huệ: Ơn.

Ơn huệ, bởi chữ Hán là “Huệ ân 惠 恩”, tức là cái ơn của người trên ban phát cho kẻ dưới.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn đã dạy: Ðạo Trời khai ba lượt, nguồn Thánh độ muôn người. Thìn lòng để bước vào nẻo thẳng đường ngay mà kiếm cho thấu đáo mối huyền vi Tạo hoá đã sắp bày độ dẫn, nhuần gội ơn huệ cho sanh linh đương buổi Hạ nguơn nầy.

Vì công lao khổ, ơn huệ thưởng ban,

hứng cảnh tiêu diêu, sắc son đã rõ.

(Văn Tế Thượng Phẩm).

 

 

ƠN MƯA MÓC

Ơn (ân): Điều làm cho người khác mang lại lợi ích, được người ấy nhận thức như là phải đền đáp. Mưa móc: Bởi chữ “Vũ lộ 雨 露” tức là hạt mưa và hạt móc.

Mưa móc lợi cho cây cỏ, nên chữ “Ơn mưa móc” thường được dùng để ví ơn của nhà vua ban xuống cho thần dân hay Ơn của Trời đất ban xuống cho vạn vật.

Nghĩa rộng: Ơn mưa móc nói ơn huệ của nhà vua, hay ơn huệ của Trời đất.

Thân nầy được hưởng ơn mưa móc,

Phải cố rèn tâm tạo phước lành.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

ƠN NƯỚC NỢ NHÀ

Ơn nước: Ơn của đất nước (Quốc gia). Nợ nhà: Nợ của gia đình.

Làm người ai cũng phải thọ cái ơn của Quốc vương thuỷ thổ, tức là ơn của đất nước và nợ của gia đình, nên gọi là “Ơn nước nợ nhà”.

Ơn nước trót đời mang khó trả,

Nợ nhà rồi kiếp tính chưa xong.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

Là trai trung hiếu đứng làm đầu,

Ơn nước nợ nhà phận tóc râu.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

ƠN SINH THÀNH

Ơn (ân): Điều làm cho người khác mang lại lợi ích, được người ấy nhận thức như là phải đền đáp. Sinh thành: Cha mẹ sinh đẻ ra và nuôi dưỡng cho nên người.

Ơn sinh thành là nói ơn của cha mẹ.

Sinh thành do sách Kinh Dịch có câu: Thiên sinh chi, địa thành chi 天 生 之, 地 成 之, nghĩa là trời sinh ra cái hình thức, đất hoàn thành cái hình thức ấy, dùng để nói cái công đức của cha mẹ có thể ví với trời đất ấy.

Công lao như núi Thái sơn,

Làm con phải gắng đền ơn sinh thành.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

ƠN TẤC ĐẤT NGỌN RAU

Ơn tấc đất: Chỉ ơn của vua ban cấp đất cho để sinh sống. Ngọn rau: Cọng rau.

Ơn tấc đất ngọn rau là nói ơn của vua hay nước.

Vào thời quân chủ, tất cả những tài nguyên sẵn có như đất đai, rừng núi, sông biển đều thuộc quyền sở hữu của nhà vua. Nhà vua mới có chế độ ban cấp đất đai cho dân để làm ăn sinh sống, như phép tỉnh điền của nhà Chu cấp ruộng đất cho dân.

Chính nhờ đất đai của nhà vua ban cho dân, mà người dân được hưởng tấc đất, ngọn rau, trên đất đai đó, nên phải biết ơn quốc vương thuỷ thổ rất sâu nặng.

Tích xưa có ghi lại câu truyện như sau: Bá Di Thúc Tề vì không chịu phục và không thờ nhà Châu, nên chẳng ăn lúa nhà Châu, mà lên ở ẩn trên núi Thú Dương, hái rau vi mà sống. Có người gặp, chê rằng: Không ăn thóc nhà Châu, đi ăn rau để sống. Vậy chớ ngọn rau tấc đất không phải của nhà Châu là gì? Bá Di, Thúc Tề nghe được chuyện, bèn nhịn đói chết.

Ơn tấc đất ngọn rau nên nặng,

Đạo quân vương chữ dặn nơi lòng.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

ƠN TRẠCH

Hay “Ân trạch”.

Ơn (ân): Điều làm cho người khác mang lại lợi ích, được người ấy nhận thức như là phải đền đáp. Trạch: Ơn huệ, đem nước vào ruộng.

Ơn trạch, như chữ “Ân trạch 恩 澤”, là ân huệ giúp cho người.

Ơn trạch ví như ơn huệ của vua hay Đức Chí Tôn ban cho con người như đem nước tưới thấm vào cây cỏ cho thêm tươi tốt.

Hôm nay, Ðức Ngài đã làm xong sứ mạng được đắc kỳ sở nguyện, nhờ ơn trạch Ðức Chí Tôn.

(Hiến Đạo).

 

 

ƠN TRÊN

Ơn (ân): Điều làm cho người khác mang lại lợi ích, được người ấy nhận thức như là phải đền đáp. Trên: Chỉ cõi Thiêng Liêng.

Ơn Trên là chỉ hồng ân của Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu, hay ơn huệ của các Đấng Thiêng Liêng trên Bạch Ngọc Kinh.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Giữa trường đời gió bụi, mạnh được yếu thua, khôn sống mống chết, người Tín hữu Cao Ðài lại may mắn được che chở dưới bóng từ bi của Ðức Thượng Ðế, lại được Ơn Trên ban cho một món báu mầu nhiệm riêng biệt mà từ ngàn xưa chưa hề có trên thế gian.

Lòng sở vọng gắn ghi đảo cáo,

Nhờ Ơn Trên bổ báo phước lành.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

Giàu sang ấy Ơn Trên giúp sức,

Phước ấm no túc thực túc y.

(Kinh Sám Hối).

Nghiệp thành trước đã có Ơn Trên,

Công quả độ sanh khá vẹn đền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

ƠN TRỜI

Hay “Ân Trời”.

Ơn (ân): Điều làm cho người khác mang lại lợi ích, được người ấy nhận thức như là phải đền đáp. Trời: Chỉ Đấng Tạo Hoá.

Ân Trời, bởi chữ “Thiên ân 天 恩”, là chỉ ơn của Đức Chí Tôn, có công sinh thành và dưỡng dục nên con người.

Ơn Trời cho mở Ðạo Kỳ Ba,

Dìu dẫn nhơn sanh lánh vạy tà.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nhuần gội ơn Trời âm chất vẹn,

Mau chơn ngày tháng đã qua đông.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 


 )
 )(
 __)_(__
 __(_____)__
(((_________)))
 )    ׀    (

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Danh mục vần O-Ô-Ơ

 

Ó

Ó ré

 

OA

Oa

 

OAI

Oai dõng

Oai dung

Oai linh

Oai nghi

Oai nghiêm

Oai phong

Oai phong lẫm liệt

Oai quyền

Oai thần

Oai Trời

Oai võ

 

OAN

Oan

Oan gia

Oan khiên

Oan khốc

Oan khúc

Oan nghiệp

Oan nghiệt

Oan oan tương báo

Oan trái

Oan uổng

Oan ức

Oan ưng

Oan ương

 

OÁN

Oán

Oán chạ

Oán chạ thù vơ

Oán ghét

Oán tăng hội khổ

Oán thù

Oán trách

 

OANH

Oanh

Oanh kề yến cạnh

Oanh liệt

Oanh nhặt thúc

Oanh thưa nhặt

 

OÁT

Oát triền vô biên

Oát vận

 

OẰN

Oằn

Oằn oại

Oằn sai

Oằn vai

 

ÓC

Óc

 

OM

Om sòm

 

ONG

Ong

Ong bướm

Ong tường bướm ngõ

Ong kiến

Ong nút nhuỵ hồng

Ong tay áo

 

ÓNG

Óng ả

 

ÓT

Ót

 

Ô

Ô

Ô Giang

Ô hô

Ô hợp

Ô kiều

Ô Li Vê

Ô thước bắc cầu

Ô trược

Ô uế

 

ỐC

Ốc

Ốc bươu

Ốc mượn hồn

Ốc trần huờn ư song thủ chi nội

 

ÔI

Ôi

 

ÔM

Ôm

Ôm ấp

Ôm bình

Ôm cầm

Ôm cầm thuyền ai

Ôm cầu

Ôm mồ thủ hiếu

 

ỐM

Ốm

Ốm đau

Ốm o

 

ÔN

Ôn

Ôn cố tri tân

Ôn hoà

Ôn nhu

 

ỒN

Ồn ào

 

ÔNG

Ông

Ông bà

Ông kẹ

Ông Táo

Ông tơ

Ông Thiện Ông Ác

Ông vải

 

ỐNG

Ống tiêu

 

Ơ

Ơ hờ

 

 

 

ỚI

Ới hợi

 

ƠN

Ơn

Ơn cha sanh hoá ơn thầy giáo huấn

Ơn dày nghĩa sâu

Ơn đức

Ơn huệ

Ơn mưa móc

Ơn nước nợ nhà

Ơn sinh thành

Ơn tấc đất ngọn rau

Ơn trạch

Ơn Trên

Ơn Trời

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


Ó | Oa | Oai |
Oan | Oán | Oanh | Oát | Oằn |
Óc | Om | Ong | Óng | Ót |

Ô | Ốc | Ôi | Ôm | Ốm | Ôn | Ồn | Ông | Ống |

Ơ | | | Ới | Ơn |


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Cập nhật ngày: 09-06-2020

O | Ô | Ơ


A | B | C | CH | D | Đ | E | G | H | I-Y | K-KH | L | M | N | NG | NH | O | P | Q | R | S | T | TH | TR | U | V | X


[ MỤC LỤC ]

Ấn bản (v.2018)

TỪ NGỮ ĐIỂN CỐ CAO ĐÀI
Soạn-giả: Hiền Tài Quách Văn Hoà

DOWNLOAD
E-book-PDF