TỪ NGỮ ĐIỂN CỐ CAO ĐÀI

 

 

Danh mục vần PH

 

PHA

Pha

Pha lê

 

PHÁ

Phá

Phá cổ

Phá đạo

Phá hoại

Phá khuấy

Phá mê

Phá noãn

Phá rối

Phá tan

Phá thai

 

PHÁCH

Phách

Phách anh linh

Phách lối

Phách quế

 

PHAI

Phai

Phai dạ

Phai lãng

Phai lợt

Phai mòn

 

PHÁI

Phái Chiếu Minh

Phái vàng

Phái viên

 

PHẢI

Phải

Phải chẳng

Phải quấy

Phải trái

 

PHÀM

Phàm

Phàm chất

Phàm duyên

Phàm gian

Phàm giáo

Phàm ngữ

Phàm nhãn

Phàm nhân

Phàm phẩm

Phàm phu

Phàm phu tục tánh

Phàm tâm

Phàm tục

Phàm thế

Phàm thể

Phàm thân

Phàm trần

Phàm trị

 

PHẠM

Phạm

Phạm ác

Phạm Công Tắc

Phạm giới

Phạm Lãi

Phạm luật

Phạm Môn

Phạm Nghiệp

Phạm Pháp

Phạm phủ

Phạm Tăng

Phạm tội

Phạm thượng

Phạm Trọng Yêm

Phạm vi

 

PHAN

Phan

Phan quân

Phan Tiếp Dẫn

Phan vương

 

PHÁN

Phán

Phán định

Phán đoán

Phán quyết

Phán xét

Phán xử

 

PHÀN

Phàn nàn

 

PHẢN

Phản

Phản bổn huờn nguyên

Phản đạo

Phản gián

Phản hồi

Phản kháng

Phản khắc

Phản loạn

Phản loạn chơn truyền

Phản nghịch

Phản phúc

Phản tiền vi hậu

Phản trắc

Phản ứng

 

PHANH

Phanh

 

PHÁO

Pháo

 

PHÁP

Pháp

Pháp bửu

Pháp chánh

Pháp Chánh Truyền

Pháp duyên

Pháp điều

Pháp gia

Pháp giới

Pháp hình

Pháp hoá tướng tông

Pháp lý

Pháp luân

Pháp luân thường chuyển

Pháp luật

Pháp lực

Pháp môn

Pháp nghiêm

Pháp nhiệm

Pháp siêu quần thánh

Pháp thân

Pháp thuật

 

PHÁT

Phát

Phát hạ hồng ân

Phát hoạ

Phát huy

Phát khởi

Phát lạc

Phát nguyện

Phát phối

Phát tâm

Phát triển

 

PHẠT

Phạt

Phạt quỳ hương

Phạt quở

Phạt vạ

 

PHĂNG

Phăng

 

PHẲNG

Phẳng lặng

Phẳng phiu

 

PHẨM

Phẩm

Phẩm cách

Phẩm cũ

Phẩm cũ ngôi xưa

Phẩm cựu

Phẩm giá

Phẩm hàm

Phẩm hạnh

Phẩm Phật

Phẩm quyền

Phẩm tước

Phẩm Thánh

Phẩm thiêng liêng

Phẩm trật

Phẩm vật

Phẩm vị

 

PHÂN

Phân

Phân bào

Phân bì

Phân biện

Phân biệt

Phân chia

Phân định

Phân đồng

Phân giải

Phân minh

Phân phát

Phân phiền

Phân quyền

Phân rành

Phân rẽ

Phân tánh giáng sanh

Phân tâm

Phân tường

Phân thây

Phân thân

Phân trần

Phân ưu

Phân vân

Phân xử

 

PHẤN

Phấn

Phấn chấn

Phấn chí

Phấn đại

Phấn đấu

Phấn hương

Phấn khởi

Phấn lợt hương tàn

Phấn sáp

Phấn son

Phấn tâm

 

PHẦN

Phần

Phần đông

Phần hương

Phần lớn

Phần nhiều

Phần phước

Phần thi khanh nho

Phần thư

Phần thưởng

 

PHẨN

Phẩn

 

PHẪN

Phẫn uất

Phẫn nộ

 

PHẬN

Phận

Phận bạc

Phận đạo

Phận liễu

Phận liễu bồ

Phận liễu mai

Phận nga my

Phận sự

Phận tiện tỳ

 

PHẬP

Phập phồng

 

PHẤT

Phất

Phất chủ

Phất phơ

Phất phới

Phất trần

 

PHẬT

Phật

Phật cốt tiên duyên

Phật duyên

Phật dượt kiếp khiên

Phật đài

Phật giả vô ngôn

Phật Giáo

Phật Giáo Tâm Kinh

Phật hương

Phật luật

Phật Mẫu

Phật Mẫu Chơn Kinh

Phật Pháp

Phật Pháp Tăng

Phật sắc

Phật tánh

Phật tâm

Phật Tổ

Phật tông

Phật tông nguyên lý

Phật tông vô giáo

Phật tử

Phật tự

Phật tức là lòng

Phật Trời

Phật vị

Phật xứ

 

PHE

Phe

Phe đảng

 

PHEN

Phen

 

PHÈN

Phèn

 

PHÉP

Phép

Phép công

Phép chiêu hồn

Phép giải oan

Phép huyền công

Phép huyền hư

Phép khuôn

Phép lành

Phép linh

Phép hiển linh

Phép mầu

Phép nhà

Phép nhà thiền

Phép phân thân

Phép Phật

Phép sầu than

Phép tắc

Phép Tiên Đạo

Phép tu vi

Phép thương yêu

Phép xác

 

PHÊ

Phê

Phê bình

Phê chuẩn

Phê nhận

Phê phán

 

PHẾ

Phế

Phế đời

Phế đời hành đạo

Phế huỷ

Phế phủ

Phế vị

Phế vong

 

PHI

Phi

Phi ân

Phi cầm tẩu thú

Phi hùng

Phi lý

Phi nghĩa

Phi nhân

Phi phàm

Phi pháp

Phi tướng lễ

Phi Tưởng Đài

Phi Tưởng Thiên

Phi thăng

Phi thị

Phi thường

 

PHỈ

Phỉ

Phỉ báng

Phỉ chí

Phỉ dạ

Phỉ nguyền

Phỉ lòng nguyền

Phỉ phong

Phỉ tình

 

PHIÊN

Phiên quốc

Phiên toà

 

PHIẾN

Phiến

 

PHIỀN

Phiền

Phiền hà

Phiền lòng

Phiền luỵ

Phiền muộn

Phiền não

Phiền phức

Phiền toái

Phiền trách

 

PHIỆT

Phiệt duyệt

 

PHIÊU

Phiêu bạc

Phiêu bồng

Phiêu linh

Phiêu lưu

Phiêu phi

 

PHIẾU

Phiếu mẫu

 

PHÍM

Phím

Phím loan

 

PHỈNH

Phỉnh

Phỉnh phờ

 

PHO

Pho

 

PHÓ

Phó

Phó hội

Phó mặc

Phó nhậm

Phó Tổng Giám

Phó Trị Sự

 

PHÒ

Phò

Phò cơ

Phò Dư

Phò hộ

Phò loan

Phò Lưu dựng Thục

Phò Lưu vực Hớn

Phò nguy

Phò tá

Phò trì

 

PHONG

Phong

Phong ba

Phong cách

Phong cảnh

Phong cương

Phong di tục diệt

Phong dời tục đổi

Phong điều võ thuận

Phong đô

Phong hoá

Phong hoà võ thuận

Phong kiến

Phong khí ôn hoà

Phong lưu

Phong nguyệt

Phong nhã

Phong nhuỵ

Phong phú

Phong quang

Phong sắc

Phong sương

Phong tặng

Phong tịch

Phong tình

Phong tình huê nguyệt

Phong tước

Phong Thánh

Phong Thần

Phong thưởng

Phong trào

Phong trần

Phong vân

Phong võ

 

PHÓNG

Phóng

Phóng sanh

Phóng tâm

Phóng túng

Phóng thích

Phóng xá cô

 

PHÒNG

Phòng

Phòng bị

Phòng đào

Phòng hạnh

Phòng Hiệp Thiên

Phòng không

Phòng khuê

Phòng loan

Phòng ngừa

Phòng tía

Phòng tiêu

Phòng the

Phòng thu

Phòng trù

Phòng xưa lánh hớn

 

PHÔ

Phô

Phô bày

Phô diễn

Phô trương

 

PHỐ

Phố

Phố phường

 

PHỔ

Phổ

Phổ biến

Phổ cáo

Phổ cáo chúng sanh

Phổ cập

Phổ chiếu

Phổ duyên

Phổ Đà Sơn

Phổ độ

Phổ độ chúng sanh

Phổ giáo

Phổ Hiền Bồ Tát

Phổ hoá

Phổ tế

Phổ thông

Phổ truyền

 

PHÔI

Phôi pha

Phôi thai

 

PHỐI

Phối ngẫu

Phối nhứt

Phối Sư

Phối Thánh

Phối Thánh Phạm Văn Màng

 

PHỔI

Phổi

 

PHỒN

Phồn

Phồn ba

Phồn hoa

Phồn tục

 

PHƠ

Phơ phới

 

PHƠI

Phơi

Phơi bày

 

PHU

Phu

Phu nhân

Phu phỉ

Phu phụ

Phu Tử

Phu thê

Phu vinh thê ấm

Phu xướng phụ tuỳ

 

PHÚ

Phú

Phú bần

Phú cường

Phú gia

Phú hậu

Phú hữu

Phú hữu tứ hải

Phú quý

Phú quý thiên định

Phú quý vinh hoa

Phú túc

Phú thác

 

PHÙ

Phù

Phù ba

Phù chú

Phù du

Phù dung

Phù Đổng

Phù hạp

Phù hoa

Phù hợp

Phù linh

Phù phiếm

Phù sa

Phù sanh

Phù sinh

Phù thế

Phù trầm

Phù vân

 

PHỦ

Phủ

Phủ che

Phủ dụ

Phủ phê

Phủ phục

Phủ phước

Phủ quan

Phủ từ

 

PHŨ

Phũ phàng

 

PHỤ

Phụ

Phụ duyên

Phụ giáo

Phụ mẫu

Phụ nữ

Phụ nghĩa

Phụ nhân

Phụ nhân nan hoá

Phụ nhơn

Phụ phàng

Phụ rãy

Phụ tá

Phụ tế

Phụ tình

Phụ tùng

Phụ từ tử hiếu

Phụ tử

Phụ thân

Phụ thuộc

Phụ vong

 

PHÚC

Phúc

Phúc ấm

Phúc bất trùng lai

Phúc duyên

Phúc hạnh

Phúc hậu

Phúc lộc

Phúc như đông hải

Phúc sự

Phúc trạch

 

PHỤC

Phục

Phục chức

Phục Hy

Phục hoàn

Phục hồi

Phục hồi thượng cổ

Phục huờn

Phục hưng

Phục lịnh

Phục mạng

Phục nguyên

Phục nguyên nhân

Phục quốc

Phục sinh

Phục sự

Phục tùng

Phục thiện

Phục vị

Phục vọng

Phục vụ

 

PHUI

Phui pha

 

PHỦI

Phủi

Phủi nợ

Phủi tay

Phủi trần

 

PHUN

Phun

 

PHÚN

Phún

 

PHUNG

Phung phí

 

PHỤNG

Phụng

Phụng đến tìm loan

Phụng gáy núi kỳ

Phụng gáy non nam

Phụng giao chung gối

Phụng hành

Phụng lầu

Phụng lầu gác quyển

Phụng lãnh

Phụng liễn

Phụng loan

Phụng mạng

Phụng sự

Phụng tự

Phụng thờ

Phụng thờ Tổ tông

Phụng thừa

 

PHUÔNG

Phuông

 

PHỨT

Phứt

 

PHƯNG

Phưng phức

 

PHƯỚC

Phước

Phước do lành

Phước duyên

Phước địa

Phước đức

Phước đức công đức

Phước hạnh

Phước hậu

Phước hoạ

Phước hồng

Phước lành

Phước lộc

Phước may gặp đạo

Phước như Đông Hải

Phước tội

Phước thần

Phước Thiện

Phước trạch

 

PHƯỢC

Phược

 

PHƯỚN

Phướn

Phướn chiêu hồn

Phướn đưa linh

Phướn phụng

Phướn tam thanh

Phướn tiêu diêu

Phướn tử tôn

Phướn Thượng Phẩm

Phướn Thượng Sanh

Phướn truy hồn

 

PHƯƠNG

Phương

Phương cảo

Phương châm

Phương chi

Phương chước

Phương danh

Phương diện

Phương hướng

Phương luyện kỷ

Phương lược

Phương pháp

Phương sách

Phương Sóc

Phương tiện

Phương tu Đại Đạo

Phương thế

Phương thiên

Phương trời

Phương trời góc bể

 

PHƯỜNG

Phường

 

PHƯỞNG

Phưởng phất

 

PHƯỢNG

Phượng

Phượng đỗ cành ngô

Phượng hoàng

Phượng thờ

 

 

 

 

 

 

 

 

PH

 

PHA

Pha là chế lẫn, trộn lẫn, đổ lộn. Như: Pha trà, pha thuốc, pha chì vào đồng, pha giống.

Thánh giáo Thầy có câu: Ðặng một việc chi chớ vội mừng, thất một việc chi chớ vội buồn, vì sự mừng vui và buồn tủi thường pha lẫn kế cận nhau.

Mái tóc sương pha thiều nhặt thúc,

Sanh linh độ dẫn hưởng Thiên ân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nâu sồng nhuộm áo pha màu khổ,

Tránh mối oan khiên chớ buộc mình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

PHA LÊ

Pha lê, như chữ “Pha ly 玻 璃”, là chất thuỷ tinh, tức là một chất do nhân công chế ra, trong suốt, ánh sáng có thể thấu qua được, dùng làm chai, bình gương kính...

Như: Cốc pha lê, trong suốt như pha lê.

Tựa pha lê trông chư linh ánh,

Cơ vận hành pháp chánh Chí Tôn.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

PHÁ

Phá là làm cho tan nát, hư hỏng, không còn nữa.

Như: Phá nhà, phá thành, phá bức tường, phá thai, sâu phá hại lúa, phá vỡ kế hoạch.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu dạy: Thời kỳ mạt pháp nầy, khiến mới có Tam Kỳ Phổ Ðộ, các sự hữu hình phải huỷ phá tiêu diệt.

Rước voi phá mả đào lăng miếu,

Thả rắn xua ong nhiễu điện tà.

(Đạo Sử).

Cũng đừng ham kết bạn kết bè,

Theo cờ bạc bài me phá của.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

PHÁ CỔ

破 罟

Phá: Bỏ đi, làm cho tan nát, hư hỏng. Cổ: Tấm lưới pháp luật, ý nói hình pháp nghiệt ngã.

Phá cổ là phá bỏ hình pháp nghiệt ngã xưa cũ vì không còn thích hợp.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Luật lệ tuy cũ chớ đạo vẫn như nhiên. Do công đức mà đắc đạo cùng chăng. Nhưng có một điều là Ngọc Hư Cung bác luật, Lôi Âm Tự phá cổ, nên tu nhiều mà thành ít.

Chính Thầy đã giáng cơ nói: Ngọc Hư Cung bác luật, Lôi Âm Tự phá cổ.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

PHÁ ĐẠO

破 道

Phá: Làm cho hư, quấy rối. Đạo: Tôn giáo.

Phá Đạo là quấy rối hay làm hư hoại nền tôn giáo.

Thánh giáo Đức Thượng Phẩm có câu: Em đã dâng sớ xin Đức Lý Giáo Tông ban luật lịnh cho anh đủ quyền tuyển chọn Chức sắc. Vậy anh cũng nên để ý dè dặt cho lắm mới trừ diệt đặng những kẻ phá Đạo.

Các con phải gắng sức, Thầy hằng ở bên các con, chẳng hề bỏ các con buổi nào, thì tưởng chưa ai phá Đạo đặng.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

PHÁ HOẠI

破 壞

Phá: Làm cho hư, quấy rối. Hoại: Phá, nát.

Phá hoại là làm cho hư hỏng, tan nát để bỏ đi không dùng nữa.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Mấy đứa mong chác sự phá hoại ấy lại là mấy ngọn đèn của Toà Tam Giáo khêu lên để dìu đường cho cả chúng sanh, thì con phải nghĩ đến hành trình của Ðạo phải đến thế nào?

Lăng điện phá hoại, Văn miếu bỏ hoang,

Trí quân lánh mặt, hồn nước điêu tàn.

(Ngụ Đời).

Tà mị phàm rung rinh chất Thánh,

Mùa màng sâu phá hoại hồn kinh.

(Đạo Sử).

 

 

PHÁ KHUẤY

Phá: Làm cho nát, cho hư. Khuấy: Quậy.

Phá khuấy là hành động quậy phá để cho mọi việc hư hỏng, tan nát.

Thánh giáo Thầy dạy: Ngày Thầy khai Ðạo, Thầy cũng có lời để lại cho các con hiểu rằng, lũ ma hồn quỷ xác nó cứ theo phá khuấy các con là nó muốn phá Ðạo đó, lại cũng vì các con không thoát tục đó chớ.

Buổi Bạch Ngọc Kinh và Lôi Âm Tự lập pháp Tam Kỳ Phổ Ðộ, Quỷ Vương đã khởi phá khuấy chơn đạo...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

PHÁ MÊ

破 迷

Phá: Bỏ đi. Mê: Không tỉnh, lầm lạc, do chúng sanh không thấu rõ chân lý, không hiểu sự thật.

Chúng sanh bị đau khổ là vì cứ mê lầm, nhận những cái lăng xăng trần cảnh là tâm, chứ không biết nó chỉ là vọng tưởng, không phải là chân tâm.

Phật dạy: Mê thì Phật làm chúng sanh, ngộ là chúng sanh làm Phật.

Do vậy Đức Phật ra đời với mục đích “Phá mê”, tức là chỉ cho chúng sanh con đường hết mê để được giác ngộ.

Xem: Vô minh.

Làm cho chánh lý lưu thông,

Lập tâm sửa tánh kềm lòng phá mê.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

PHÁ NOÃN

破 卵

Phá: Làm cho nát, cho hư. Noãn: Trứng các loài động vật cái đẻ ra, sau có thể nở thành con.

Phá noãn là thọc phá tổ chim để lấy trứng, ý muốn chỉ sát hại sinh vật từ trong trứng nước.

Thương thay phá noãn lẫy lừng,

Tội căn báo ứng biết chừng nào an.

(Kinh Sám Hối).

 

 

PHÁ RỐI

Phá: Làm cho nát, cho hư. Rối: Lộn xộn, loạn.

Phá rối là làm cho hoạt động mất ổn định, rối loạn. Như: Phá rối trật tự an ninh, phá rối nền Đạo.

Thánh giáo Đức quyền Giáo Tông có câu: Bần Đạo vui thấy cơ Đạo vừa được tạm yên, nhưng lo nỗi cơ thử thách vẫn hành động đặng phá rối nội tình và cản trở đường tiến triển của Đạo.

Biết bao thế lực đã thành lập trong buổi này, chung công hiệp sức nhau mà phá rối Đạo Thầy.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

PHÁ TAN

Phá: Làm cho nát, cho hư. Tan (tán): Rã rời ra, tan nhỏ ra, vụn.

Phá tan, như chữ “Phá tán 破 散”, là làm cho vỡ, nghĩa là phá hại cho hư hỏng, tan nát.

Như: Thời có giặc loạn thì nhà cửa bị phá tan.

Phước Thiện nay chuyển đại đồng,

Phá tan giặc giã giao thông hoàn cầu.

(Thất Nương Giáng Bút).

Phá tan cái lũ con ong,

Loạn ly đem thế nhập trong Thánh Toà.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

PHÁ THAI

破 胎

Phá: Làm cho nát, cho hư. Thai: Đứa con đang hình thành và lớn lên trong bụng mẹ, chưa sinh ra.

Phá thai là phá bỏ cái thai nhi còn nằm trong bụng bà mẹ, chưa được sinh ra.

Như: Phá thai cũng là một tội đối với tôn giáo.

Phạt răn quến gái, dụ trai,

Bày ra thuốc độc, phá thai tuyệt loài.

(Kinh Sám Hối).

 

 

PHÁCH

1.- Phách là kiêu, khoác lác lên mặt ta đây. Như: Nói phách, làm phách, phách lối.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Có nhiều hạng người được vinh vang thì lên mặt phách xấc, không nhớ đến căn bổn hèn hạ của mình khi trước, phải biết rằng chúng ta đứng đợt với thiên hạ được là nhờ Chí Tôn tô mày vẽ mặt cho đó, hạng nầy rất nhiều, phụ nữ nên để ý sửa dạy cho họ bớt tâm tự kiêu đôi chút.

Thà theo nẻo chánh xách đèn giùm,

Thà lạy quỷ vương nói phách um.

(Đạo Sử).

2.- Phách là vía, là chơn thần, là đệ nhị xác thân. Như: Thể phách, hồn phi phách tán, xiêu hồn lạc phách.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Chơn thần là Hậu thiên khí, ta không thấy mà chớ nên tưởng rằng không có, ta ăn hột cơm vào bụng, lọc lấy cái tinh ba làm huyết khí để nuôi lấy khối sanh vật nầy. Ta biết có mà không thấy được. Chơn thần chúng ta, thiên hạ kêu là phách, vía cả thảy đều có.

Trong giấc mộng nghỉ yên hồn phách,

Đấng Thiêng Liêng năng mách bảo dùm.

(Kinh Thế Đạo).

Bên màn đòi lúc trêu hồn phách,

Cõi thọ nhiều phen đặng thảnh thơi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Phách vía, là thể tạo nên sức mạnh tinh thần của con người. Như: Khí phách, nữ phách.

Bia Kỷ niệm Đức Cao Thượng Phẩm có câu: Song nghĩ lại, tuy thể phách tách rời trần thế mà tinh thần còn lai láng như xưa, muôn năm theo độ rỗi chúng sanh, ngàn thuở vẫn mặc phò Ðại Ðạo.

Anh tuấn đất gìn nung khí phách,

Uy linh Trời giữ tạc đài liên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Dụng văn hoá trau tria nữ phách,

Lấy kinh luân thúc thách quần hồng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

PHÁCH ANH LINH

魄 英 靈

Phách: Vía, tức Chơn thần đệ nhị xác thân của con người. Anh linh: Thiêng liêng sáng suốt.

Phách anh linh là nói cái chơn thần (đệ nhị xác thân) thiêng liêng sáng suốt.

Hồn định tỉnh đã vừa định tỉnh,

Phách anh linh ắt phải anh linh.

(Kinh Tận Độ).

 

 

PHÁCH LỐI

Phách: Lên mặt, kiêu căng, có những biểu hiện coi thường người khác vì cho rằng mình hơn. Lối: Cách thức.

Phách lối là kiêu căng, tức có những hành động, cử chỉ một cách vô lối, không theo nguyên tắc, thể hiện sự hống hách, coi thường người khác.

Như: Nó quen thói phách lối với bạn bè.

Thay đời chẳng phải một tên ngươi,

Thấy phách lối kia bắt nực cười.

(Đạo Sử).

 

 

PHÁCH QUẾ

魄 桂

Phách: Ánh sáng của trăng non, hoặc phần tối trong mặt trăng. Quế: Cây quế, một loại cây có hương thơm. Tương truyền trong mặt trăng có cây quế, nên quế còn dùng để chỉ mặt trăng.

Phách quế là ánh sáng mặt trăng giọi xuống, hoặc chỉ mặt trăng.

Hồn quê níu nắm tình non nước,

Phách quế náu nương dạ sắt son.

(Thất Nương Giáng Bút).

Đừng học đồ phách quế hồn ma,

Dầu bỏ xác không xa phường tục.

(Phương Tu Đại Đạo).

Lầu hồng chạnh ngóng vầng trăng cũ,

Phách quế dường theo cửa ải xa.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

PHAI

1.- Phai là nhạt, lợt bớt màu, tức không còn giữ nguyên độ đậm của màu sắc, hương vị ban đầu.

Như: Quần áo đã phai màu, Trà đã phai hương.

Rừng thung nắng giọi cành phai thắm,

Bờ liễu quyên đưa tiếng gọi sầu.

(Thơ Thượng Sanh).

2.- Phai còn dùng để chỉ không còn giữ nguyên độ sâu sắc như lúc ban đầu. Như: Kỷ niệm chưa phai.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Nào nhân xưa, nào đức trước, nào sách Thánh, nào lời Hiền, trải qua chưa trăm năm mà cuộc cờ đời đã rửa phai hạnh đạo.

Năm tháng chưa phai lời ước hẹn,

Tẻ vui còn nhớ buổi sum vầy.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

PHAI DẠ

Phai: Mờ nhạt dần, không còn rõ nét, sậm màu nữa. Nghĩa bóng: Không còn đậm đà gắn bó. Dạ: Bụng, biểu tượng cho tâm lý, tình cảm.

Phai dạ, như chữ “Phai lòng”, là lòng dạ con người không đậm đà tình nghĩa gắn bó nữa.

Nước nguồn cây cội đừng phai dạ,

Tiếng rạng muôn năm rõ ngọn ngành.

(Lý Đại Tiên Trưởng).

 

 

PHAI LÃNG

Phai: Mờ nhạt dần, không còn rõ nét, sậm màu nữa. Nghĩa bóng: Không còn đậm đà gắn bó. Lãng: Lợt, lạt.

Phai lãng, như chữ “Phai lợt”, là mờ nhạt dần, không còn rõ nét, không còn đậm đà nữa.

Các con phải tự đặt nhiệm vụ của mình cho phải phép, đừng phai lãng lập trường đã sẵn có.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

PHAI LỢT

Phai: Mờ nhạt dần, không còn rõ nét, sậm màu nữa. Nghĩa bóng: Không còn đậm đà gắn bó. Lợt: Màu nhạt hơn mức bình thường, không mặn mà, thắm thiết nữa.

Phai lợt, như chữ “Phai lạt”, là phai và lợt, từ biểu thị tình trạng giảm hẳn về mức độ trạng thái, tính chất, so với lúc ban đầu.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Đối với Quốc dân Việt Nam, là đồng bào của Bần Đạo, là máu thịt của Bần Đạo, là chủng tộc của Bần Đạo như thế nào, thì các dân tộc khác cũng vậy, thì cái tình cảm của Bần Đạo là cả toàn thể nhơn loại, nó có một đặc sắc của nó đời đời kiếp kiếp chẳng hề phai lợt.

Tiêu diêu phai lợt mùi trần,

Tỉnh say với giọt nước ngần tẩy mê.

(Tam Nương Giáng Bút).

 

 

PHAI MÒN

Phai: Không còn giữ nguyên màu sắc, hương vị ban đầu nữa. Mòn: Hao mất dần.

Phai mòn là không còn giữ nguyên tình cảm hay ấn tượng đằm thắm, sâu sắc như lúc ban đầu nữa, nó bị mờ nhạt dần trong tâm khảm.

Thánh đức còn mong ngày biến hoá,

Chơn thành hồn thượng há phai mòn.

(Đạo Sử).

Kìa gương Bá Đào còn bia nào dối giả,

Bạn Giác Ai lời hẹn đã chẳng phai mòn.

(Giác Mê Khải Ngộ).

 

 

PHÁI CHIẾU MINH

Phái: Nhánh, chi phái. Chiếu Minh: Tên một chi phái đạo Cao Đài ở Cần Thơ.

Phái Chiếu Minh hay “Chiếu Minh Vô Vi”, là một chi phái đạo Cao Đài do Ngài Ngô Văn Chiêu lập ra vào đầu năm 1927, sau khi Ngài rút lui không nhận ngôi Giáo Tông do Đức Chí Tôn phong thưởng. Đầu tiên phái nầy được gọi là “Cơ Tuyển Độ Chiếu Minh Tam Thanh vô vi” ở tại Châu Thành Cần Thơ.

Sau khi Ngài Ngô Văn Chiêu đăng Tiên thì phái Chiếu Minh giao lại cho ông Tư Huỳnh lãnh đạo.

Phái Chiếu Minh chuyên về luyện đạo Tâm pháp Bí truyền, Nội giáo Vô Vi, nên lựa chọn và thâu nhận rất ít tín đồ, hoạt động nhỏ hẹp ở ba nơi: Cần Thơ là Tổ Đình của phái Chiếu Minh, Phú Quốc và Sài Gòn.

Hiện nay phái Chiếu Minh lại chia ra hai phái: Chiếu Minh Long Châu và Chiếu Minh Đàn.

Danh hiệu Cao Ðài phái Chiếu Minh,

Luyện huờn đơn sẽ đắc trường sinh.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

PHÁI VÀNG

Phái: Lệnh, sai khiến, như phái viên 派 員. Vàng: Chỉ sự tôn quý (Có lẽ do chữ “kim phái 金 派” hay “Ngọc phái 玉 派”).

Phái vàng có thể hiểu như là một sắc chỉ của Đức Chí Tôn.

Đức Phật Mẫu có giáng cơ dạy Đạo tại Thảo Xá Hiền Cung, ngày 15 tháng 11 năm Tân Mùi bằng một bài thi, trong bài ấy có mấy câu như sau:

Ngọc Hư định đã nhiều phép cứu,

Thiếp từ đặng Phái vàng chí bửu.

Lịnh Chí Tôn khai mối Tam Kỳ,

Hằng ngày lo cho đám nữ nhi...

Hai câu giữa của đoạn thi trên cho ta hiểu nghĩa như sau: Phật Mẫu kể từ khi đặng sắc chỉ rất tôn quý của Đức Chí Tôn, trong ấy, lịnh truyền khai mở mối Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Như vậy, câu kinh: “Phái vàng Mẹ lãnh dắt dìu trẻ thơ”, có nghĩa là Đức Mẹ nhận lãnh sắc chỉ của Chí Tôn để dìu dắt đám trẻ thơ nơi cõi trần.

Ngọc Hư định phép cũng nhiều,

Phái Vàng Mẹ lãnh dắt dìu trẻ thơ.

(Tán Tụng Công Đức).

Trong hình Phật Mẫu kỵ kim loan,

Cảm Đức Từ Huyên lãnh phái vàng.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

PHÁI VIÊN

派 員

Phái: Lệnh, sai khiến. Viên: Người.

Phái viên là người trong chánh phủ hay trong đoàn thể được khiến đi để làm việc.

Trong Đạo Cao Đài, Phái viên là người được các Đạo hữu trong Tộc Đạo địa phương cử về Toà Thánh để dự Đại Hội Nhơn Sanh.

Theo Đạo Luật, cứ năm trăm Đạo hữu trường chay thì được cử một vị Phái viên. Nam cử cho nam, nữ cử cho nữ.

Bên Phước Thiện cũng đề cử Phái viên đi dự Đại Hội Phước Thiện, cứ năm trăm người công quả trong cơ sở Lương điền, Công nghệ, Thương mãi của Phước Thiện được cử một vị Phái viên.

Nghị Viên và Phái Viên hiệp lại gọi là Ban Ủy Viên...

(Đạo Luật Mậu Dần).

 

 

PHẢI

1.- Phải là đúng, nhằm, phù hợp với. Như: Khen không phải lối, bán phải giá, vừa đôi phải lứa, phải duyên.

Thánh giáo Thầy có câu: Chúng sanh là toàn cả nhơn loại chớ không phải lựa chọn một phần người, như ý phàm tục các con tính rỗi.

Ðã chẳng phải duyên không phải nợ,

Can chi con buộc tấm tình riêng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Phải là đúng, phù hợp với lẽ phải, với những điều kiện nên làm.

Như: Lẽ phải, nói chí phải, đối xử không phải với bạn, phải đấy chúng ta học đi.

Hằng nhớ đến vợ nhà nhỏ dại,

Đừng chấp nê quấy phải để lòng hờn.

(Phương Tu Đại Đạo).

Đừng cãi lẽ những điều phải chẳng,

Tấm thân già hiểu đặng cuộc đời hơn.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Phải là bắt buộc làm vì nhiệm vụ, đạo lý hoặc vì uy quyền, thế lực. Như: bổn phận phải làm, thấy đói phải cứu, thấy dữ phải lánh.

Thánh giáo Thầy có dạy: Thầy nhứt định đến chính mình Thầy độ rỗi các con, chẳng chịu giao Chánh giáo cho tay phàm nữa. Nhưng mà buộc phải lập Chánh thể, có lớn nhỏ đặng dễ thế cho các con dìu dắt lẫn nhau, anh trước em sau mà đến nơi Bồng đảo.

Công quả ngày xưa thiệt chẳng hèn,

Nợ trần bước tục phải đua chen.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Lửa lòng rưới tắt mượn nhành dương,

Vì nghĩa sơ giao phải đến thường.

(Bát Nương Giáng Bút).

3.- Phải là bị, mắc. Như: Phải đòn, phải bệnh, phải đền, phải tội, phải vạ, phải oan.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Thầy lấy làm đau đớn hằng thấy gần trót mười ngàn năm, nhơn loại phải sa vào nơi tội lỗi, mạt kiếp chốn A Tỳ.

Biển đổi, non dời, đời phải tuyệt,

Ðức cao bền vững khó cân lường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Hồng cấu đã chui thân phải vấy,

Hơn thua cười kẻ biết nơi tiền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Của nhiều ít đức sương trên cỏ,

Giành giựt mà chi phải lụy mình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

PHẢI CHẲNG

Phải: Vừa phải, không quá lắm. Chẳng: Như chữ “Chăng”, từ biểu thị ý phủ định.

Phải chẳng, như chữ “Phải chăng”, có nghĩa là vừa phải, không có gì quá đáng, có thể chấp nhận được.

Như: Đề ra giá phải chẳng, đừng nói thách.

Trả thấp cao phải chẳng đừng buồn,

Với ai cũng ra tuồng dịu ngọt.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

PHẢI QUẤY

Phải: Đúng, không sai Quấy: Lỗi, lầm.

Phải quấy là điều đúng và điều sai. Phải quấy nghĩa bóng là biết tính phải và tính quấy, tức biết lo lót.

Thánh giáo Đức Lý Thái Bạch trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Chư đạo hữu mựa luận bàn, để phải quấy Lão cũng ra tay sửa trị được vậy, miễn là làm xong phận sự là đủ, còn nét vạy tà của ai để mặc ai.

Khi dương thế không phân phải quấy,

Nay Hư linh đã thấy hành tàng.

(Kinh Thế Đạo).

Mới thấy con chưa từng phải quấy,

Khá chờ xem thử biết Thầy hay.

(Đạo Sử).

Biết đời phải quấy biết nên hư,

Biết tội lỗi kia phải biết trừ.

(Đạo Sử).

 

 

PHẢI TRÁI

Phải: Đúng, không sai. Trái: Sai, ngược lại.

Phải trái, bởi nghĩa chữ “Thị phi 是 非”, là đúng sai, thiện ác. Như: Ngồi phân phải trái với bạn.

Nói về Lễ nhạc, Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Ngoài ra Lễ còn có hiệu lực định lẽ phải trái, tình thân sơ và trật tự trên dưới cho phân minh.

Thương dìu dắt lấy đoàn em dại,

Đạo đức ngoan phải trái con thấy rồi.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

Gặp việc nói lòng đừng ái ngại,

Giữa công môn phải trái cứ phân lời.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

PHÀM

1.- Phàm là tục. Như: Cõi phàm, người phàm, ăn phàm nói tục, người phàm mắt tục.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Lại nữa, trước Thầy lại giao Chánh giáo cho tay phàm, càng ngày lại càng xa Thánh giáo mà làm ra Phàm giáo.

Tích đức để lòng trau khổ hạnh,

Diệt phàm gắng chí thoát mê tân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Gần nơi Tiên cảnh phải xa phàm,

Cái kiếp trần nầy trẻ chớ ham.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Phàm là gồm tất cả. Như: Phàm lệ, phàm làm việc gì cũng phải có trật tự.

Thánh giáo Thầy có câu: Các con đủ hiểu rằng, phàm muôn việc chi cũng có thiệt và cũng có dối. Nếu không có thiệt thì làm sao biết đặng dối; còn không có dối, làm sao phân biệt cho có thiệt.

Phàm phận gái đứng hàng khuê các,

Phải trau tria tướng hạc hình mai.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Phàm trí gái thì là hẹp độ,

Ghen điên cuồng ra khổ thân hình.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

PHÀM CHẤT

凡 質

Phàm: Trần tục, tầm thường. Chất: Phẩm chất, tức là cái phẩm cách của con người biểu hiện ở tư cách.

Phàm chất là phẩm chất của phàm phu, nghĩa là phẩm cách của con người phàm tục, tầm thường.

Phàm chất tầm thường thấp kém do ảnh hưởng của vật chất phàm trần. Con người vì có Thất tình, trước sự hấp dẫn của Lục trần, con người sanh ra Lục dục, tạo nên cái tư cách tầm thường, đó là Phàm chất.

Người tu hành trau dồi tâm tánh có thể đổi phàm chất ra Thánh chất.

Thánh giáo Thầy dạy: Thầy lập nhơn loại là các con, chỉ tưởng rằng ban đặng phẩm Thần, Thánh, Tiên, Phật nơi cõi thế giới càn khôn, đặng làm cho rõ Thánh chất mạnh mẽ hơn phàm chất, nào dè còn lại đặng chẳng đủ một phần triệu Ðấng, thì thế nào Thầy không đau lòng cho đặng.

Chẳng dè phàm chất các con nó mạnh mẽ thế nào đè khuất trọn vẹn chút mảy mún Thánh chất Thầy để vào lòng các con.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

PHÀM DUYÊN

凡 緣

Phàm: Trần tục, tầm thường. Duyên: Duyên nợ, lương duyên.

Phàm duyên là duyên phàm tục, tức là duyên nợ do oan trái giữa nam nữ mà kết thành nơi cõi phàm gian.

Tuy biết phàm duyên là tục trái,

Nay nhìn tạn mặt nghĩ càng đau.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

PHÀM GIAN

凡 間

Phàm: Trần tục, tầm thường. Gian: Giữa.

Phàm gian là giữa cảnh phàm tục, dùng để chỉ cõi thế gian, cõi của con người đang sống. Như: Những chơn linh cao trọng xuống phàm gian để độ rỗi người đời.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Ðức Từ Bi đã lấy lòng quảng đại mà gieo giọt nhành dương để rửa lỗi phàm gian, hầu đem mình trong giá trắng gương vào nơi Cực Lạc.

Thà cam vui chốn động Đào,

Đừng vì nhớ trẻ trở vào phàm gian.

(Kinh Thế Đạo).

Cõi trần trung giái thinh thinh,

Phàm gian lao khổ đao binh tai nàn.

(Xưng Tụng Công Đức).

Cao Đài tá thế đến phàm gian,

Bạch Ngọc Huỳnh kim cũng chẳng màng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

PHÀM GIÁO

凡 教

Phàm: Trần tục, tầm thường. Giáo: Đạo, tôn giáo.

Phàm giáo là tôn giáo bị người phàm tục làm cho sai lệch, làm mất hết triết lý cao siêu nhiệm mầu như thuở mới sáng lập.

Phật giáo từ ngày khai sáng đến nay đã trải qua ba thời kỳ:

1. Thời kỳ Chánh pháp, là thời kỳ Thánh giáo, tức giáo pháp của đức Phật chưa bị cải sửa.

2. Thời kỳ Tượng pháp, là thời kỳ Thánh giáo bị sửa cải do giáo pháp của Đức Phật bị sai lạc một phần.

3. Thời kỳ Mạt pháp, là thời kỳ giáo pháp của Đức Phật bị sửa đổi hoàn toàn, nên trở thành Phàm giáo.

Lại nữa, trước Thầy giao Chánh giáo cho tay phàm, càng ngày lại càng xa Thánh giáo mà làm ra Phàm giáo.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

PHÀM NGỮ

凡 語

Phàm: Tầm thường thấp kém, ý chỉ cõi thế gian. Ngữ: Lời nói.

Phàm ngữ là lời nói của người phàm tục, tức là những thứ tiếng nói của con người ở cõi thế, dùng để trao đổi với nhau.

Thầy cùng các Đấng Thiêng liêng không nhơn thân phàm ngữ, thế nào mà thông công cùng chúng sanh.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

PHÀM NHÃN

凡 眼

Phàm: Phàm tục, tầm thường. Nhãn: Mắt.

Phàm nhãn là con mắt của người phàm tục, tức là mắt của thân thể xác thịt, gọi là mắt phàm, hay mắt thịt.

Trong Đạo Sử, Thầy có dạy: Trong không khí tuy phàm nhãn không thấy đặng, mà không khí ấy chứa đầy vật chất tiếp dưỡng “Matières Nutritives” của xác trần, vì nhờ nó biến hoá chúng sanh đặng.

Xem: Mắt thịt.

Gót chơn đưa rủi như sát mạng,

Vật hữu linh phàm nhãn khôn soi.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

PHÀM NHÂN

凡 人

Hay “Phàm nhơn”.

Phàm: Phàm tục, tầm thường, chỉ cõi trần. Nhân (nhơn): Người.

Phàm nhân là người tầm thường tức người phàm tục. Trái với Phàm nhân là Thánh nhân.

Trong Đạo Luật Mậu Dần có câu: Còn một hạng nữa thì lại đang mê mẩn trong vòng vật chất, lầm tưởng nền Đạo là một cơ quan xảo kế của phàm nhơn sáng tạo để mê hoặc tâm lý của người đời.

Chinh chuyên thay! phận phàm nhân,

Ðỡ nương chẳng biết dựa gần người binh.

(Ngụ Đời).

Ðầy tai đã lắm thị cùng phi,

Não trí phàm nhân há biết gì.

(Đạo Sử).

Sương bay sáu tháng bởi người oan,

Bổn tánh phàm nhân ít hiểu nhàn.

(Đạo Sử).

 

 

PHÀM PHẨM

凡 品

Phàm: Tầm thường, chỉ cõi trần. Phẩm: Thứ bực chức tước cao thấp.

Phàm phẩm là phẩm bực thấp kém của người phàm tục, tức là những người tầm thường còn nằm trong vòng tham dục của thế gian.

Nếu người lo tu tâm dưỡng tánh, lập công bồi đức thì cơ thể từ phàm phẩm tiến lên Thần phẩm, Thánh phẩm hay Tiên Phật vị.

Nâng đỡ, dạy dỗ cho phàm phẩm tấn hoá lên cho tới Thánh vị.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

PHÀM PHU

凡 夫

Phàm: Tầm thường, chỉ cõi trần. Phu: Người, kẻ.

Phàm phu là người nông cạn, tầm thường. Đối với Tôn giáo, phàm phu là người tầm thường, còn ở trong vòng vật dục, còn tranh đua danh, lợi, quyền.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông dạy: Lão cũng hết lòng chiều theo tánh từ bi của Ðức Thượng Ðế, bằng chẳng thì Lão xuống tay bôi xoá hết trường công quả Ðại Ðạo, thì chúng sanh hết trông mong, mà kẻ chác tội lỗi cũng khó bề lấy sức phàm phu để gây nên rối rắm nữa.

Ðôi mắt phàm phu đâu biết đặng,

Huyền vi tối trọng Ðấng cao xa.

(Đạo Sử).

Phàm phu chưa rõ tài Tiên, Phật,

Tục tử không thông phép Thánh, Thần.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

PHÀM PHU TỤC TÁNH

Phàm phu: Người tầm thường. Tục tánh: Tánh nết của kẻ phàm tục, tức tánh thấp kém.

Phàm phu tục tánh, như chữ “Phàm phu tục tính 凡 夫 俗 性”, là người tầm thường, có tánh của kẻ phàm tục còn ham mê danh lợi, còn ham nhục dục.

Đức Chí Tôn có dạy: Trong các con, nhiều đứa muốn chư Thần, Thánh hành phạt những tánh bất lương của bọn vô đạo kia đặng làm cho đường đạo vững bền, nền Ðạo mau thành tựu. Nhưng Thiên cơ há vị phàm phu tục tánh mà để các con toại kỳ sở nguyện sao?

Song Ngài (Chỉ Đức Quan Thánh) vẫn vô tội mà cũng không phạm luật Thiên Ðình, thiệt là khó hiểu cho phàm phu tục tánh.

(Đạo Sử).

 

 

PHÀM TÂM

凡 心

Phàm: Tầm thường, chỉ cõi trần. Tâm: Cái tâm.

Phàm tâm là cái tâm phàm tục của con người, tâm ấy thường mang nhiều tham vọng, ích kỷ, có đủ tham sân si, thích hưởng thụ về vật chất.

Trái với phàm tâm là Thánh tâm hay Phật tâm.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Nếu vì chút phàm tâm mà chia đường phân nẻo, ghét nghịch lẫn nhau, các con sẽ treo gương bất chánh cho kẻ sau, lại nền Ðạo cũng vì đó mà khó mau thành đặng.

Dọn mình cho sạch bớt phàm tâm,

Lẽ chánh tà kia phải xét thầm.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Bế ngũ quan, không kiêng tục tánh,

Diệt lục trần, xa lánh phàm tâm.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

PHÀM TỤC

凡 俗

Phàm: Tầm thường, chỉ cõi trần. Tục: Tầm thường, chỉ cõi tục.

1.- Phàm tục là tầm thường, chỉ hạng người còn ham mê danh lợi, không có gì cao siêu.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Những sự phàm tục đều là mưu kế của Tà mị Yêu quái, cốt để ngăn trở bước đường Thánh đạo của các con. Những mưu quỷ quyệt ấy do lịnh Thầy dùng để thử các con.

Biển mê cầu ngọc liên phàm tục,

Cõi thọ sông Ngân tiếp đảnh Tần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Vắng dạng nhưng trong đầu chẳng có,

Mảnh thân phàm tục vốn bù nhìn.

(Đạo Sử).

2.- Ngoài ra, phàm tục còn dùng để chỉ cõi thế gian, cõi con người đang sống.

Như: Những kẻ tham dục nơi phàm tục thì không bao giờ sáng suốt để thoát khổ.

Nắng mưa kia vốn chưa vừa kẻ,

Phàm tục nhiều tay quá lỗi lời.

(Đạo Sử).

 

 

PHÀM THẾ

凡 世

Phàm: Tầm thường, chỉ cõi phàm. Thế: Đời. chỉ cõi đời, cõi thế gian.

Phàm thế là cõi đời, chỉ cõi thế gian, tức cõi của con người đang sống.

Trong Pháp Chánh Truyền Chú Giải có câu: Thường thấy Thiên mạng hằng quá sức Phàm thế, còn Phàm thế thì hằng nghịch hẳn Thiên mạng.

An dân ắt cũng đặng lòng Trời,

Phàm thế chưa người đó hỡi ngươi.

(Đạo Sử).

 

 

PHÀM THỂ

凡 體

Phàm: Tầm thường, chỉ cõi phàm. Thể: Thân thể.

Phàm thể là thân thể phàm tục, tức thể xác bằng xương bằng thịt của con người.

Phàm thể đồng nghĩa với phàm thân.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Biết mình có tội mà lại sợ nhục cái thanh danh phàm thể thì hỏng cái phẩm vị thiêng liêng thì rất nên đáng tiếc.

Vẹn toàn phàm thể Thánh thân,

Tùng theo Chơn pháp độ lần chúng sanh.

(Kinh Thế Đạo).

Trái oan buộc chặt vì dây,

Cũng vì phàm thể nhục thây giục người.

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 

PHÀM THÂN

凡 身

Phàm: Tầm thường, chỉ cõi phàm. Thân: Thân thể, xác thể, thân hình bằng xương bằng thịt.

Phàm thân là thân thể nơi cõi phàm, tức là thân thể bằng xương bằng thịt. Như chữ nhục thể.

Thánh giáo Đức Hộ Pháp dạy: Thời nào theo nấy, khi Bần Đạo còn mang phàm thể thì cũng oán ghét như ai nên mới có ngày Đạo Hận, nhưng khi về thiêng liêng vị thì cởi mở tất cả, chớ để hận thù làm gì trong cửa Đạo.

Hỏi kẻ còn ai hơn thế nữa,

Thì toan đến khẩn độ phàm thân.

(Đạo Sử).

Phàm thân chưa vỗ tay nên sấm,

Thiên lực hoà nhơn khá giữ phòng.

(Đạo Sử).

 

 

PHÀM TRẦN

凡 塵

Phàm: Tầm thường, chỉ cõi phàm. Trần: Bụi bặm.

Phàm trần, như chữ “Phàm tục 凡 俗”, dùng để chỉ cõi thế gian có nhiều bụi bặm, ô trược, mà con người đang sanh sống.

Phàm trần do chữ phàm gian và trần gian ghép lại. Người ta thường dùng nhiều từ ngữ để chỉ cõi nầy như hồng trần, trần gian, phàm gian, nhơn gian...

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy đã nói sở dụng thiêng liêng, Thầy cũng nên nói sở dụng phàm trần của nó nữa.

Xin Thần, Thánh ruổi dong cỡi hạc,

Xuống phàm trần vội gác xe tiên.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

Thiên cơ đã lộ lúc khai Trời,

Kêu khách phàm trần đã hụt hơi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Diêu phong mấy khúc khách phàm trần,

Những mến phụng lầu ngự các lân.

(Đạo Sử).

 

 

PHÀM TRỊ

凡 治

Phàm: Tầm thường, chỉ cõi trần. Trị: Trừng trị, phạt.

Phàm trị là do cõi phàm trừng phạt, tức là vi phạm luật pháp của đời hay Đạo nơi thế gian nên bị trừng trị.

Thánh giáo Đức Quyền Giáo Tông trong Thánh Ngôn Sưu Tập có câu: Nếu có kẻ không nghe lời giáo hoá, cố tâm phạm luật thì người cầm quyền cai trị lấy Thánh đức mà định hình phạt là cốt yếu cạo gọt cho nên hình người, chớ không phải kẻ cầm quyền mà để phạm vào tội ác sát nhơn, bởi Đạo quyền gọi là Thánh trị chớ không phải phàm trị.

Hễ có Phàm trị mới khỏi Thiên trị, phải chiếu luật cho toàn cả tín đồ khỏi bị Thiên điều...

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

PHẠM

1.- Phạm là mắc phải điều cần nên tránh. Như: Phạm lỗi, phạm tội tham ô, phạm sai lầm.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Các con ngã thì tại nơi Thầy. Nếu Thầy biết các con nhẹ tính thì thế nào cũng chẳng chịu. Lại để lời tiên tri mà dặn trước, nào dè Thánh Ngôn, các con không đọc, lời Thầy nói cũng như không, mới ra tội lỗi các con phạm thượng thế ấy.

Tánh hiền đức một lời chẳng phạm,

Thủ hiếu thân cai quản gia tề.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Phạm là người can án, người bị tội.

Như: Kẻ tội phạm, bọn can phạm, nữ tù phạm, giải tội phạm đi đày.

Phải thường viếng tù lao nơi khám,

Mà khuyên lơn kẻ phạm răn mình.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Phạm là khuôn, khuôn mẫu, không đứng một mình. Như: Phạm vi, phạm trù, mô phạm.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Nếu biết là sự học hỏi không có phạm vi giới hạn, trí huệ càng mở mang thì sự học càng tiến thêm mãi và nếu được lãnh hội mau chóng là nhờ có suy nghĩ nhiều.

Một điều là ông cha phàm làm với phạm vi nhỏ phương pháp nhỏ theo phàm.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

4.- Phạm là Phật. Như: Cửa Phạm, Phạm Môn.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Hội Thánh Phước Thiện là thay thế cho Hiệp Thiên Đài lo cứu khổ để giải khổ cho toàn cả nhơn loại, mà Hiệp Thiên Đài chỉ có lãnh lịnh bốn, năm vị làm sao lập thành cơ cứu khổ được cái Bí Pháp, chi Pháp Chí Tôn đưa ra biểu phải làm mà trong Pháp Chánh Truyền không có định, Bần Đạo chỉ lấy bài Thi văn của Đức Chí Tôn dạy mà lập thành dầu cho cả chơn hồn đã siêu lạc nơi nào sau nầy cũng phải nơi cửa Phạm về cùng Ngài.

Trước muốn đưa chơn vào cửa Phạm,

Hỏi mình có trọn tấm lòng thành?

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tỉnh ngộ xá thân tại Phạm môn,

Khuyến tu hậu nhựt độ sinh hồn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

PHẠM ÁC

犯 惡

Phạm: Mắc phải điều không nên làm. Ác: Hung dữ, gây đau khổ, tai hoạ cho kẻ khác.

Phạm ác, như chữ “Ác phạm 惡 犯”, là chỉ người phạm tội gian ác.

Ngục đao kiếm cầm giam phạm ác,

Tánh gian dâm hành phạt gớm ghê.

(Kinh Sám Hối).

 

 

PHẠM CÔNG TẮC

范 公 稷

Phạm Công Tắc là tên của Đức Hộ Pháp, một vị chức sắc Đại Thiên phong Hiệp Thiên Đài trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Ngài Phạm Công Tắc sinh ngày mùng 5 tháng 5 năm Canh Dần (Dl. 21/6/1890) tại làng Bình Lập, quận Châu Thành, tỉnh Tân An (nay thuộc Thành Phố Tân An, tỉnh Long An).

Thân phụ của Ngài là cụ Phạm Công Thiện, người làng An Hoà quận Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, thân mẫu là bà La Thị Đường, cũng là người cùng làng.

Cụ ông làm công chức dưới thời Pháp thuộc, được đổi đến Tân An làm việc nên đem gia đình đi theo, và ở đó sinh ra Ngài Phạm Công Tắc. Ngài là người con thứ bảy trong gia đình có tám người con, dưới Ngài còn một người em gái út. Gia đình của Ngài theo Công Giáo.

Thuở nhỏ Ngài Phạm Công Tắc được cha mẹ cho học chữ Nho tại trường làng, sau đó đổi qua Tây học, học hết bậc Trung học tại trường Chasseloup Laubat Sài Gòn, vào năm 1907, Ngài thi đậu bằng Thành chung.

Trong thời gian học trung học, với lòng yêu nước sẵn có, Ngài tham gia tích cực vào phong trào Đông Du tại Sài Gòn. Năm 1908, Ngài được chọn ghi tên vào danh sách chuẩn bị đưa đi nước ngoài; nhưng sau đó, bị bại lộ không đi được. Do chính quyền lưu ý theo dõi, nên Ngài phải bỏ học.

Nhờ có trình độ Trung Học, Ngài xin vào một hãng buôn làm công. Thời gian này, lúc rảnh rỗi, Ngài viết cho các báo như Công luận, La Cloche Fêlée của Nguyễn An Ninh, La Voix Libre, Lục Tỉnh Tân Văn... với bút danh Ái Dân.

Sau khi tờ Lục Tỉnh Tân Văn bị đình bản, ông Gilbert Chiếu làm chủ bút bị bắt, Ngài mới trở về quê sống.

Đến năm 1910, gia đình lâm vào cảnh túng thiếu nên Ngài phải xin vào làm ở Sở Thương Chánh Sài Gòn. Sau khi có việc làm, Ngài dâng lịnh mẫu thân (phụ thân Ngài mất năm 1902, lúc đó Ngài mới có 13 tuổi) lập gia đình với bà Nguyễn Thị Nhiều, sinh đặng ba người con, nhưng người con trai mất sớm khi mới 4 tuổi, còn lại hai người con gái thứ ba là Phạm Hồ Cầm và thứ tư là Phạm Tần Tranh.

Năm 1912, Ngài được 22 tuổi, mẫu thân Ngài qua đời. Một nỗi đau lớn đối với Ngài, khiến Ngài chán nãn sự đời, bắt đầu quan tâm đến cuộc sống tâm linh nhiều hơn nên để tâm nghiên cứu về Thần Linh học.

Vào đầu thập niên 1920, phong trào Thông linh học (Spiritisme) bắt đầu phổ biến tại Nam Kỳ. Chính vì vậy, vào hạ tuần tháng 7 năm 1925, Ngài Phạm Công Tắc cùng với quý vị Cao Quỳnh Diêu, Cao Quỳnh Cư và một vài người trong gia đình, muốn thử nghiệm Thần linh học, nên cùng họp tại nhà Ngài Cao Hoài Sang để xây bàn. Trong những lần xây bàn đó các Ngài tiếp xúc được các chơn linh cao trọng nhập bàn về độ rỗi và dẫn dắt quý Ngài vào đường đạo đức.

Đồng thời, khoảng tháng 7 có một chơn linh hết sức cao trọng, giáng cơ xưng là A, Ă, Â. Sau nầy các Ngài mới biết đó là Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế giáng đàn cho thi văn dạy Ðạo và dìu dẫn các Ngài Vọng Thiên Cầu Đạo, tức là buổi lễ cầu nguyện Đức Thượng Đế ban cho nhơn loại một mối Đạo để cứu vớt nhơn sanh trong thời Hạ nguơn mạt pháp.

Qua đầu năm Dương lịch, ngày 5 tháng 12 năm Ất Sửu (Dl. 18/1/1926), Đức Chí Tôn giáng cơ dạy Ngài Phạm Công Tắc cùng với hai ông Cư và Sang đến nhà Cựu Hội Đồng Thượng Nghị Viện Đông Dương là ông Lê Văn Trung để Đức Ngài thu làm môn đệ. Từ đó, Ngài Trung vâng theo Thánh ý, thu xếp việc nhà một lòng xả thân hành Đạo.

Sau đó, Đức Chí Tôn dạy Ngài Phạm Công Tắc cùng với các ông Lê Văn Trung, Cao Quỳnh Cư, Cao Hoài Sang, Nguyễn Trung Hậu và Trương Hữu Đức phải hiệp với Đốc Phủ Ngô Văn Chiêu mà lo mở Đạo.

Đêm 30 tháng 12 năm Ất Sửu, Đức Chí Tôn dạy các ông đem theo cây cơ, đến thăm từng nhà của mười ba môn đệ mà Ngài đã cho lưu tên trong bài thi tứ tuyệt. Khi mọi người đến nhà Ngài Phạm Công Tắc, Đức Chí Tôn giáng cơ cho bài thi mà sau nầy Đức Hộ Pháp mới thuyết đạo, giải thích như sau: Ngài (Chí Tôn) đến nhà Bần Đạo năm Sửu dạy cả mấy Anh Lớn ngày nay là Chức Sắc của Đạo, đi đến mọi nhà, thật ra Đức Chí Tôn đến thăm, đến viếng mọi con cái của Ngài, Bần Đạo không đức tin gì hết nghe nói Tiên giáng đi theo nghe Thi chơi, làm cho Đại Từ Phụ phải tức cười. Ngài cho Bài Thi ai nấy cũng tốt, duy có Bài Thi của Bần Đạo rất dị hợm như vầy:

Ngao ngáo không phân lẽ thiệt không,

Thấy thằng áp út quá buồn lòng.

Muốn giàu Thầy hứa đem cho của,

Cái của cái công phải trả đồng.

I. Thiên phong là Hộ Pháp.

Theo Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, ngày 15 tháng 3 năm Bính Dần (Dl. 25/04/1926) thì thiết lễ Thiên phong tại nhà Ngài Lê Văn Trung ở Chợ Lớn, Thầy dạy: “Cư nghe dặn: con biểu Tắc tắm rửa sạch sẽ, xông hương cho nó, biểu nó lựa một bộ quần áo tây cho sạch sẽ, ăn mặc như thường, đội nón... Cười... Đáng lẽ nó phải sắm khôi, giáp như hát bội, mà mắc nó nghèo, Thầy không biểu.

Bắt nó lên đứng trên, ngó mặt ngay vô ngôi Giáo Tông, lấy 9 tấc vải điều đắp mặt nó lại.

Lịch, con viết một lá phù Giáng Ma Xử đưa cho nó cầm.

..........

Cả thảy Môn đệ phân làm ba ban, đều quỳ xuống, biểu Tắc leo lên bàn, con chấp bút bằng nhang, đến bàn Ngũ Lôi đặng Thầy triệu nó đến, rồi mới tới trước mặt Tắc, đặng Thầy trục xuất chơn thần nó ra, nhớ biểu Đức, Hậu xông hương tay của chúng nó, như em có giựt mình té thì đỡ.

Đây là cuộc hành pháp của Đức Chí Tôn trục chơn thần Phạm Công Tắc ra khỏi xác phàm để chơn linh Vi Đà Hộ Pháp giáng ngự nơi thân thể Ngài.

Đến đêm 15 tháng 3 năm Bính Dần (Dl. 26/4/1926), Đức Chí Tôn giáng cơ phong cho Ngài Cao Quỳnh Cư là Tá Cơ Tiên Hạc Đạo Sĩ.

Và Ngài Phạm Công Tắc là Hộ Giá Tiên Đồng Tá Cơ Đạo Sĩ.

Trong Đàn cơ ngày 18 tháng 5 năm Bính Dần (Dl. 27/6/1926), Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy: Mấy đứa con là: Nghĩa, Hậu, Ðức, Tràng, Cư, Tắc, Sang, đều mặc đồ trắng, hầu theo thứ lớp như vầy:

Nghĩa, Ðức, đứng xướng ngoài, là tại bàn thờ Hộ Pháp; rồi Hậu, Tràng, đứng cặp kế đó; kế ba con sau rốt hết: Tắc giữa, Cư mặt, Sang trái.

Theo đàn cơ trên sự sắp xếp của Đức Chí Tôn cho ta thấy: Nghĩa (Trần Duy Nghĩa), Hậu (Nguyễn Trung Hậu), Đức (Trương Hữu Đức), Tràng (Trương Văn Tràng), Cư (Cao Quỳnh Cư), Tắc (Phạm Công Tắc), Sang (Cao Hoài Sang) đều mặc đồ trắng đứng cận bàn Hộ Pháp, tức là xác nhận rằng những vị đó đều là chức sắc Hiệp Thiên Đài.

Còn Cư, Tắc, Sang đứng sau rốt hết: Tắc giữa, Cư mặt, Sang trái.

Không thấy Thánh giáo nào mà Đức Chí Tôn phong chánh thức Ngài Phạm Công Tắc là Hộ Pháp, nhưng sự sắp đặt hành lễ nầy của Đức Ngài mặc nhiên như cuộc Thiên phong cho Ngài Phạm Công Tắc là Hộ Pháp đứng ở giữa, Cao Quỳnh Cư là Thượng Phẩm, đứng bên mặt, Cao Hoài Sang là Thượng Sanh, đứng bên trái, là ba vị chưởng quản ba chi Pháp, Đạo và Thế của Hiệp Thiên Đài.

II.- Đồng tử thuộc cơ Lập Đạo.

Buổi mới lập Ðạo, Thánh ý Đức Chí Tôn đã định giao trách nhiệm Phò loan cho bốn cặp Cơ và mỗi cặp đều có phận sự đặc biệt là: Cơ Lập Ðạo (Enseignement Réligiaux), Cơ Lập Pháp (Législation Sacordoce), Cơ Phổ Ðộ (Prepagande de la Foi), Cơ Bí Pháp Của Ðạo (Enseignements Esotériques).

Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc và Đức Thượng Phẩm Cao Quỳnh Cư được chỉ định là cặp Cơ Lập Đạo và Cơ Phong Thánh, để Đức Chí Tôn lập Pháp Chánh Truyền tạo thành Hiến pháp của Đạo, làm căn bản tổ chức Giáo Hội đạo Cao Đài.

Sau đó, Đức Chí Tôn dùng cặp Cơ Phong Thánh nầy mà phong các phẩm chức sắc Cửu Trùng Đài, như Chưởng Pháp, Đầu Sư cho đến các phẩm Giáo Hữu, Lễ Sanh cả Nam lẫn Nữ, và chức sắc Hiệp Thiên Đài như Thập Nhị Thời Quân và các vị Bảo Quân.

Khi Đức Thượng Phẩm đăng Tiên vào ngày 1 tháng 3 năm Kỷ Tỵ, nếu có Phong Thánh hay Lập Đạo Nghị Định thì Tiếp Đạo Cao Đức Trọng thay thế Thượng Phẩm, nhưng phải nhờ sự trợ điển của Đức Thượng Phẩm.

III.- Lập Hội Thánh Ngoại Giáo.

Năm 1927, do nghỉ 6 tháng phép ở Sở Thương Chánh để lo việc Khai Đạo tại chùa Gò Kén, chính quyền thực dân Pháp chuyển công tác Ngài lên Nam Vang.

Tại đây, với tư cách là một Hộ Giá Tiên Ðồng Tá Cơ Ðạo Sĩ, Ngài đã cầu cơ thâu nạp một số tín đồ và Đức Chí Tôn đã ân phong một số chức sắc tại Kim Biên trong đàn cơ ngày 27 tháng 7 năm 1927 như sau:

Lê Văn Bảy Giáo Hữu Thượng Bảy Thanh.

Nguyễn Văn Lắm Giáo Hữu Thượng Lắm Thanh.

Võ Văn Sự Giáo Hữu Ngọc Sự Thanh.

Đặng Trung Chữ Lễ Sanh Thượng Chữ Thanh.

Trần Quang Vinh Lễ Sanh Thượng Vinh Thanh.

Phạm Kim Của Lễ Sanh Thái Của Thanh.

Bà Trần Kim Phụng Nữ Giáo Hữu Hương Phụng.

Bà vợ Lê Văn Bảy Nữ Giáo Hữu Hương Huê.

Cao Đức Trọng Tiếp Đạo Hiệp Thiên Đài.

Nhờ có một số chức sắc đầu tiên nầy, Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc lập thành Cơ Quan Truyền Giáo Hải Ngoại để truyền đạo ra nước ngoài. Giáo Hữu Thượng Bảy Thanh được đề cử làm Chủ Trưởng Hội Thánh Ngoại Giáo.

Hội Thánh Ngoại Giáo do Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn làm Chưởng Đạo cầm quyền thiêng liêng và dưới sự bảo trợ hữu hình của Đức Hộ Pháp.

IV.- Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài.

Sau khi Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung đăng Tiên ngày 13 tháng 10 năm Giáp Tuất (1934), Đức Lý Giáo Tông giáng cơ giao quyền Giáo Tông hữu hình tại thế cho Đức Hộ Pháp. nắm giữ. Như vậy, Đức Hộ Pháp lúc ấy nắm hai quyền trong tay: Hiệp Thiên và Cửu Trùng, cho nên gọi là Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài.

Trong thời gian đó, nhiều vị chức sắc cao cấp của Tòa Thánh ly khai và lập thành chi phái. Nhằm ngăn chặn sự tan rã của Hội Thánh, nhân gần ngày lễ Đại tường (xả tang) Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt là ngày 8 tháng 11 năm 1935, Hội Thánh bèn triệu tập Hội Nhơn Sanh và Hội Thánh để tìm phương giải quyết nền Đạo.

Ngày 6 tháng 11 năm Giáp Tuất, tất cả nghị viên và phái viên của Hội Nhơn Sanh và Hội Thánh nhóm tại Tòa Thánh Tây Ninh vào ba ngày 8, 9, 10 tháng 11 năm 1935, có hàng vạn tín đồ các nơi về tham dự. Toàn Đại hội đã đồng thanh tín nhiệm Hộ Pháp Phạm Công Tắc cầm quyền thống nhất Chánh Trị Đạo cho đến ngày có Đầu Sư chánh vị để điều hành nền Đạo.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có nói về lý do tại sao Ngài lại giao quyền Giáo Tông hữu hình cho Đức Hộ Pháp nắm giữ như sau:

Hiền Hữu có nghĩ tại sao Lão phải dâng quyền Giáo Tông cho Hiền Hữu đặng trọn quyền Chí Tôn Hữu Hình tại thế chăng?

Hộ Pháp bạch: - Xin Ngài dạy rõ.

- Thì cũng do lòng từ bi vô tận của Đại Từ Phụ. Người sợ oai của Lão khi cầm quyền thiêng liêng mối Đạo quá chấp nê phàm tánh, không dung thứ tội tình cho con cái của Người, nên giao cho Hiền Hữu là bạn đồng sanh, biết đau đớn, biết khổ cực với mảnh thi phàm, mà rộng dung cho họ. Cười...

V.- Xây dựng Tòa Thánh.

Việc xây dựng Tòa Thánh Cao Đài là do Thánh ý của Đức Chí Tôn và Đức Lý giáo Tông, vì vậy các chức sắc Hội Thánh đứng ra lãnh đạo công thợ lần lượt ba lần xây dựng, nhưng công trình phải bị ngưng vì gặp nhiều khó khăn trở ngại.

Khi Đức Hộ Pháp nắm quyền Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài, Ngài mới trù tính kế hoạch đứng ra khởi công xây dựng lần thứ tư vào ngày 01 tháng 11 năm Bính Tý (Dl. 14/ 12/1936).

Về nhân công, Đức Ngài huy động 500 công quả Phạm Môn, buộc phải hiến thân và thủ trinh trong suốt thời gian xây cất Tòa Thánh. Về tài chánh, Ngài chỉ thị cho các Châu, Tộc bên Hành Chánh và Phước Thiện lo quyên góp tiền bạc, vật liệu, lương thực gửi về liên tục giúp cho công trình xây cất.

Sau hơn bốn năm nỗ lực xây dựng liên tục, cho đến ngày 4 tháng 6 năm Tân Tỵ (Dl. 28/6/1941), công trình xây dựng cơ bản đã hoàn tất, chỉ còn trang trí, sơn phết nữa là xong, nhưng chẳng may Đức Ngài và một số chức sắc bị chánh quyền Pháp bắt đày sang đảo Madagascar, Châu Phi. Công trình phải ngưng lại.

Năm năm sau, ngày 4 tháng 8 năm Bính Tuất (Dl. 30/8/1946), Đức Hộ Pháp được hồi loan về Tòa Thánh, Đức Ngài kêu gọi công quả trở lại sửa chữa những chỗ hư hỏng do bọn lính Pháp vào chiếm đóng và đồng thời tiếp tục lo trang trí và sơn phết. Cho đến ngày 30 tháng 12 năm Bính Tuất (Dl. 21/01/1946), công trình xây dựng Tòa Thánh được hoàn tất. Rồi ba ngày sau, Tổng Giám Lê Văn Bàng, đại diện các công thợ nam nữ tổ chức lễ bàn giao Đền Thánh cho Hội Thánh.

Ngày 6 tháng 01 năm Đinh Hợi (Dl. 27/01/1947) Đức Hộ Pháp trấn thần Tòa Thánh và ngày 8 tháng 01 năm Đinh Hợi làm lễ rước Quả Càn Khôn từ Báo Ân Từ về An vị nơi Bát Quái Đài Tòa Thánh.

Cuối cùng, nhân ngày Đại Lễ Đức Chí Tôn, mùng 9 tháng giêng năm Ất Mùi (Dl. 01/02/1955), Đức Hộ Pháp tổ chức Lễ Khánh Thành Tòa Thánh, Báo Ân Từ và các dinh thự trong Nội Ô Thánh.

VI.- Lập chức sắc Hiệp Thiên Đài tiểu cấp.

Những năm đầu của Hiệp Thiên Đài chỉ có ba vị chức sắc Đại Thiên phong cầm quyền chi Pháp, Đạo, Thế, và mười hai vị Thời Quân, vài ba vị Bảo Quân mà thôi, không có chức sắc tiểu cấp để phụ giúp công việc Đạo.

Để mở rộng trường thi công quả bên Hiệp Thiên Đài, Đức Hộ Pháp cầu hỏi Ngài Chưởng Đạo Nguyệt Tâm Chơn Nhơn. Đức Ngài giáng cơ góp ý cùng Đức Hộ Pháp, lập ra bảy phẩm chức sắc Hiệp Thiên Đài dưới Thập nhị Thời Quân để phụ giúp cho những vị nầy hành quyền tư pháp. Bảy phẩm chức sắc đó từ thấp đến cao có tên gọi như sau:

- Sĩ Tải.

- Truyền Trạng.

- Thừa Sử.

- Giám Đạo.

- Cải Trạng.

- Chưởng Ấn.

- Tiếp Dẫn Đạo Nhơn.

Dưới Sĩ Tãi, Đức Hộ Pháp còn lập thêm một phẩm là Luật Sự theo Sắc Lịnh số 34/SL ngày 23 tháng 5 năm Bính Tý (Dl. 11/7/1936). Phẩm này do khoa mục tuyển chọn.

VII.- Quy định về Lễ Sĩ, Giáo Nhi và Bộ Nhạc.

Thời kỳ đầu mới Khai Đạo, trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn gọi những người hiến lễ trong Đàn cúng là Lễ Sanh (từ nầy bên Nho giáo thường gọi), nhưng từ khi Lễ Sanh là tên một phẩm chức sắc bên Cửu Trùng Đài thì Lý Giáo Tông giáng cơ sửa lại Lễ Sĩ để chỉ người hiến lễ. Ngài cho biết:

“Nhiều khi chư Hiền hữu lạm dụng danh từ Lễ Sanh mà cho kẻ hiến lễ, làm mất thể diện của vị Thiên phong. Vậy Lão đặt tên cho kẻ hiến lễ là Lễ Sĩ.”

Ngày 9 tháng 11 năm Bính Tý (Dl. 22/12/1936), Đức Hộ Pháp có ban Sắc Lịnh 51/SL để quy định Lễ Sĩ, Giáo Nhi và Thánh Lịnh 25 để chỉnh đốn Bộ Nhạc.

Nội dung Sắc Lịnh 51/SL quy định như sau:

Nghĩ vì Tân Kinh là Kinh Tận độ đã ra, nên cần nhứt phải có Lễ sĩ và Giáo nhi dạy mấy em Đồng nhi cho thành thuộc, phòng độ rỗi phần hồn của toàn con cái Chí Tôn khắp cả các nơi mà phướn đạo đã đủ huyền linh che chở,

Nghĩ vì Hội Thánh mong mỏi mở rộng con đường Thánh đức cho đoàn hậu tấn bước vào Thánh Thể của Chí Tôn đặng lập vị,

Nghĩ vì trẻ em Đồng nhi từ 11 năm mở Đạo đến nay đã trưởng thành nên buộc Hội Thánh định phần phong thưởng công nghiệp, nên:

SẮC LỊNH:

Từ đây mở khoa mục mỗi năm cho Lễ sĩ và Giáo nhi thi cử.

Lễ Sĩ thì thi theo mặt kinh luật của Đạo về Quan, Hôn, Tang, Tế, nhứt là về Lễ Nhạc. Buộc Lễ sĩ phải cần cho hay một món đờn trong mấy thứ âm nhạc: Tam, Tiêu, Tranh, Đản, Kìm, Tỳ, Cò, Độc.

Giáo Nhi thì phải thuộc lòng Tân Kinh và cũng phải thuộc một môn âm nhạc như Lễ sĩ.

Những Đồng nhi Nam Nữ có đủ giấy chứng Tòa Thánh, lớn trên 20 tuổi mới đặng thi Lễ sĩ và Giáo nhi, và phải biết viết với đọc chữ quốc ngữ.

Mỗi năm mở khoa mục ngày rằm tháng 10 tại Tòa Thánh. Hội Thánh chia ra hai thứ Lễ Sĩ và Giáo Nhi:

- Thứ nhứt thì những hạng Lễ Sĩ và Giáo Nhi trọn hiến thân cho Hội Thánh, nhứt là Giáo Nhi đã tuyên thệ thủ trinh hành đạo thì sẽ đặng thuyên bổ hành đạo trong các Thánh Thất bất cứ nơi nào. Hễ đủ 5 năm công nghiệp thì thăng Lễ Sanh, khỏi phải cầu phong lại nữa. Hạng Lễ Sĩ và Giáo Nhi nầy trên quyền Chánh Trị Sự và dưới quyền Lễ Sanh, nhưng về mặt Lễ Nhạc, Quan Hôn Tang Tế mà thôi, chớ không đặng dự vào chánh trị hay là luật pháp Tòa Đạo.

Thứ nhì là hạng Lễ Sĩ và Giáo Nhi ở lại gia đình, nhứt là Giáo Nhi có chồng con theo thế thì không đặng vào nơi Thánh Thất nào mà hành đạo hết, duy hành đạo nơi xóm làng của mình mà thôi, lại buộc mỗi năm phải dạy ít nữa là trên 36 đứa Đồng Nhi; Lễ Sĩ thì dạy Nam, Giáo Nhi thì dạy Nữ, chớ không đặng dạy lộn xộn Nam Nữ chung nhau. Cấm nhặt Lễ Sĩ không đặng dạy Đồng Nhi Nữ. Nếu mỗi năm có một phái Chức sắc, Chức Việc sở tại nói rằng dạy thiếu và không đi hành đạo thì bị ngưng chức liền. Hội Thánh không cần minh tra lại nữa.

Hạng nầy tùng quyền Chánh Trị Sự và ngang quyền Phó Trị Sự và Thông Sự nhưng về mặt Lễ Nhạc, Quan Hôn Tang Tế mà thôi, chớ không đặng dự vào chánh trị hay là luật pháp Tòa Đạo. Đủ 8 năm công nghiệp đổ lên mới đặng cầu phong vào hàng Lễ Sanh, nhưng do nơi tờ yêu cầu của Chức sắc và Chức Việc sở tại mới đặng.

Lễ Sĩ mặc như Lễ Sanh Nam phái, nhưng trên mão ngay trán có Tam Sắc Đạo và Cổ pháp của Giáo Tông là Thư Hùng Kiếm, Long Tu Phiến và cây Phất Chủ thêu trên.

Giáo Nhi mặc Đại phục như Lễ Sanh Nữ phái nhưng không đặng giắt Bông sen trên đầu tóc, còn Tiểu phục cũng vậy nhưng trước ngực có choàng một tấm choàng đen.

Kiểu y phục nầy phải do nơi tiệm Linh Đức.

Kỳ dư mấy vị Lễ Sĩ và Giáo Nhi đương thời hành đạo trong Hội Thánh và có tờ Hội Thánh công nhận chánh thể rồi; Hội Thánh nhứt định cấm nhặt không ai đặng xưng danh hiệu Lễ Sĩ hay Giáo Nhi mà không có khoa mục và cấp bằng của Tòa Thánh ban cho đủ lẽ.

Khai Pháp, Tiếp Thế, Tiếp Đạo Hiệp Thiên Đài, Quyền Thái, Thượng, Ngọc Chánh Phối Sư, Nữ Chánh Phối Sư và Chủ Trưởng Hội Thánh Ngoại Giáo, mỗi vị tùy phận sự thi hành Sắc Lịnh nầy.

HỘ PHÁP

Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài
HIỆP THIÊN và CỬU TRÙNG

(Ấn ký)

Phạm Công Tắc.

Ngoài ra Đức Hộ Pháp còn ban Thánh Lịnh số 25/TL để quy định về Bộ Nhạc như sau:

THÁNH LỊNH

Chiếu y Tân Luật và Pháp Chánh Truyền;

Chiếu y Ðạo Luật ngày 16 tháng Giêng năm Mậu Dần (Dl. 15/2/1938) giao quyền Thống Nhứt Chánh Trị Ðạo cho Hộ Pháp nắm giữ đến ngày có Ðầu Sư chánh vị;

Chiếu y Sắc Lịnh số 51 ngày mồng 9 tháng 11 Bính Tý (22-12-1936) định phần phong thưởng cho Lễ Sĩ và Giáo Nhi đầy đủ 5 năm công nghiệp;

Nghĩ vì Ban Lễ đã định phận thì Bộ Nhạc cũng được hưởng đặc ân của Hội Thánh đặng tiến bước lập vị.

THÁNH LỊNH:

Ðiều thứ 1: Trong Bộ Nhạc của Tòa Thánh có 9 phẩm ân phong như sau nầy:

 

1. Nhạc Sĩ

 

2. Bếp Nhạc

 

3. Cai Nhạc

 

4. Đội Nhạc

 

5. Quản Nhạc

 

6. Lãnh Nhạc

 

7. Đề Nhạc

 

8. Đốc Nhạc

 

9. Nhạc Sư

 

 

Ðiều thứ 2: Bộ Nhạc chuyên chú về tài năng nghệ thuật thì từ hạ phẩm đến thượng phẩm, mỗi cấp đều có khoa mục đặng tuyển chọn danh nhơn để điều khiển nội Ban.

Trong mỗi kỳ khoa mục, vị nào đủ tài ứng thí thì được phép xin thi và mỗi khi thi đậu là mỗi lần được thăng phẩm, nhưng không được xin ứng thí vượt bậc.

Ðiều thứ 3: Nếu thi rớt vì không đủ tài thì ở lại phẩm cũ, chờ đủ 5 năm công nghiệp mới được cầu ân phong.

Phẩm Nhạc Sư đủ 5 năm công nghiệp thì thăng lên Phối Sư hay là Tiếp Lễ Nhạc Quân nếu có khuyết.

Ðiều thứ 4: Chín phẩm trong Bộ Nhạc đối với 9 phẩm của HTÐ hay các phẩm khác của Cửu Trùng Ðài và Phước Thiện như sau nầy:

BỘ NHẠC

 

PHÁP CHÁNH

 

CỬU TRÙNG

 

PHƯỚC THIỆN

Nhạc Sĩ

 

Luật Sự

 

Chánh Trị Sự

 

Hành Thiện

Bếp Nhạc

           

Cai Nhạc

 

Sĩ Tải

 

Lễ Sanh

 

Giáo Thiện

Đội Nhạc

           

Quản Nhạc

 

Truyền Trạng

       

Lãnh Nhạc

 

Thừa Sử

 

Giáo Hữu

 

Chí Thiện

Đề Nhạc

           

Đốc Nhạc

 

Giám Đạo

 

 

 

Đạo nhơn

Nhạc Sư

 

Cải Trạng

 

Giáo Sư

 

Chơn Nhơn

   

Chưởng Ấn

 

Phối Sư

 

Hiền Nhơn

   

Tiêp Dẫn Đạo Nhơn

 

Chánh Phối Sư

 

Thánh Nhơn

   

Thập Nhị Thời Quân

 

Đầu Sư

 

Tiên Tử

Ðiều thứ 5: Chư vị: Bảo Thế Tổng Thơ Ký Chánh Trị Ðạo, Khai Pháp Chưởng quản Bộ Pháp Chánh, Quyền Ngọc Chánh Phối Sư, Thượng Thống Lại Viện, Ðạo Nhơn Chưởng quản Phước Thiện, Phụ Thống Lễ Viện Hành Chánh, Phụ Thống Lễ Viện Phước Thiện, Nhạc Sư Bộ Nhạc, các tư kỳ phận, lãnh thi hành Thánh Lịnh nầy.

Tòa Thánh, ngày 29 tháng 3 năm Tân Mão.
(Dl. 4/5/1951)

HỘ PHÁP

(ấn ký)

VIII.- Lập Phạm Môn và cơ quan Phước Thiện

Phạm Môn là một cơ quan đặc biệt trong đạo Cao Đài, do Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc lập ra dành cho những tín đồ muốn tu chơn, không thọ phẩm tước, áo mão như những chức sắc bên Cửu Trùng Đài hay Hiệp Thiên Đài, chỉ chuyên lo lập công bồi đức mà thôi.

Tại làng Phú Mỹ, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho, Đức Lý Giáo Tông giáng cơ dạy hai ông Đinh Công Trứ và Lê Văn Trung lập Minh Thiện Đàn, là một tổ chức tu chơn. Rồi sau đó, Đức Ngài lại giao Minh Thiện Đàn cho Đức Hộ Pháp chưởng quản, và nhập vào cửa tu chơn Phạm Môn.

Trong lúc kiến tạo ngôi Phạm Nghiệp, là cơ nghiệp của nhà Phật, có một số người đạo tâm đến xin làm giúp cho Đức Hộ Pháp và cứ thế số người đến xin làm càng ngày càng đông thêm. Đến năm Canh Ngọ, Đức Hộ Pháp buộc ai muốn hiến thân trọn đời vào Phạm Môn phải làm tờ và được cha mẹ vợ con bằng lòng ký tên mới đặng. Khi nhập vào Phạm Môn rồi phải thuộc và hành theo “Thập Điều Giới Răn”. Từ đó các cơ sở Lương điền, Công nghệ của Phạm Môn được chánh thức khai mở vào cuối năm 1930.

Nhà cầm quyền Pháp nghi kỵ, tìm cách bắt bớ công quả Phạm Môn và buộc Hội Thánh đóng cửa các cơ sở Phạm Môn.

Do vậy, Đức Hộ Pháp mới chuyển Phạm Môn thành Cơ Quan Phước Thiện theo Đạo Nghị Định số 48/PT ngày 19 tháng 10 năm Mậu Dần (Dl. 10/12/1938) của Đức Lý Giáo Tông và Đức Hộ Pháp đồng ký tên.

Cơ Quan Phước Thiện là cơ quan bảo tồn sanh chúng, nuôi sống thi hài, tức là cơ quan giải khổ cho nhơn sanh, tầm phương bảo bọc kẻ tật nguyền, cô độc dốt nát và giúp tay cho cửu trùng đài tận độ nhơn sanh cho tròn trách nhiệm.

Cơ Quan Phước Thiện trực thuộc chi Đạo Hiệp Thiên Đài, Đạo Nghị Định có quy định 12 phẩm chức sắc Phước Thiện gọi là Thập Nhị Đẳng Cấp Thiêng Liêng, được kể từ thấp lên cao như sau:

 

1.- Minh Đức

 

2.- Tân Dân

 

3.- Thính Thiện

 

4.- Hành Thiện

 

5.- Giáo Thiện

 

6.- Chí Thiện

 

7.- Đạo Nhơn

 

8.- Chơn Nhơn

 

9.- Hiền Nhơn

 

10.- Thánh Nhơn

 

11.- Tiên Tử

 

12.- Phật Tử

IX.- Đồ Lưu Hải ngoại.

Đồ lưu hải ngoại là một hình phạt đày kẻ có tội đi xa ra nước ngoài.

Theo lịch sử đạo Cao Đài, nhà cầm quyền Pháp muốn tiêu diệt nền Đạo Cao Đài, nên ra lịnh đóng cửa các Thánh Thất, cơ sở Phước Thiện, và tìm cách bắt bớ, khủng bố chức sắc, tín đồ.

Ngày 4 tháng 6 năm Tân Tỵ (Dl. 28/6/1941) lính mật thám Pháp vào Toà Thánh bắt Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc chở đi Sài Gòn. Rồi sau đó, vào ngày 17 tháng 6 năm Tân Tỵ (Dl. 11/7/1941), lính Pháp lại bắt thêm ba vị chức sắc nữa là Phối Sư Ngọc Trọng Thanh, Giáo Sư Thái Gấm Thanh, Sĩ Tải Đỗ Quang Hiển tại Tòa Thánh.

Đồng thời Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa bị Pháp bắt tại tư gia ở Sài Gòn và Giáo Sư Ngọc Trọng Thanh cũng bị bát tại Thánh Thất Kim Biên ở Nam Vang.

Đến ngày 4 tháng 6 nhuần năm Tân Tỵ (Dl. 27/7/1941), Pháp đưa Đức Hộ Pháp cùng với năm vị chức sắc xuống chiếc tàu Compiège đày sang hải đảo Madagascar thuộc Phi Châu.

Ở đây, Hộ Pháp cùng năm vị chức sắc bị đày đoạ khắc khổ, lại uống phải nước rừng thiêng nước độc nên có hai vị chức sắc chết vì thiếu sức khoẻ là Giáo Sư Thái Gấm Thanh và Sĩ Tải Đỗ Quang Hiển.

Đến ngày 30 tháng 8 năm 1946 nhà cầm quyền Pháp mới tổ chức đưa Đức Hộ Pháp cùng với ba vị chức sắc còn lại về Toà Thánh Tây Ninh, sau 5 năm 2 tháng 3 ngày chịu tội đồ lưu hải ngoại.

X.- Xây dựng các Tịnh Thất.

Đức Chí Tôn khai mở nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, tùy căn cơ mà dìu dẫn nhơn sanh: Những hạng căn thấp thì đi theo đường phổ độ, còn bậc đại căn thì vào của tu chơn. Vì vậy, Đức Hộ Pháp mới cho xây dựng ba cung ba động để sau nầy làm Tịnh Thất khi được lịnh Chí Tôn cho phép truyền bí pháp luyện đạo cho các vị tín đồ tu chơn.

Năm 1947, ông cho xây cất Trí Huệ Cung - Thiên Hỷ Động làm tịnh thất cho nữ phái và hoàn thành ngày 22 tháng 01 năm 1951.

Trí Huệ Cung nằm về hướng Đông Nam và cách Tòa Thánh khoảng hơn năm cây số, là một Tòa nhà vuông vức có ba từng, mỗi bề 12 thước, từng trệt nằm sâu dưới đất.

Trí Giác Cung – Địa Linh Động nằm trên đường đi từ Tòa Thánh đến Trí Huệ Cung, cách Tòa Thánh độ ba cây số.

Ngày 29 tháng 12 năm 1954, Đức Hộ Pháp ban hành Huấn lịnh số 285/VP-HP, dùng cơ sở Trường Quy Thiện do ông Đinh Công Trứ xây dựng chuyển thành Trí Giác Cung - Địa Linh Động để làm tịnh thất cho cả nam và nữ.

Ngày 23 tháng 11 năm 1954, Đức Hộ Pháp đích thân lên núi Bà Đen lấy sở Sơn Đình để định chỗ xây dựng Tịnh Thất lấy tên là Vạn Pháp Cung - Nhơn Hòa Động dùng làm Tịnh Thất cho nam phái.

XI.- Cất Chợ Long Hoa.

Vào năm 1952, do tình hình chiến tranh, giặc giã khắp mọi nơi, số người không theo Cao Đài ở khắp nơi phải rời bỏ xứ sở, nhà cửa chạy về sinh sống trong vùng Thánh địa dưới sự che chở bảo vệ của Đạo, ngoài ra còn một số đông tín đồ Cao Đài muốn về vùng Thánh Địa sinh sống, nên từ khắp các tỉnh đổ dồn về lập nghiệp càng ngày càng đông.

Vì vậy, Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc mới chọn khu rừng 47 mẫu cách Chợ cũ hơn hai trăm thước để thành lập ngôi chợ Long Hoa theo bản họa đồ của Ngài vẽ, rồi giao cho Ban Kiến Trúc ở Tòa Thánh xây cất để tín đồ Cao Đài có nơi buôn bán làm ăn.

Kiểu Chợ Long Hoa theo bản vẽ Đức Hộ Pháp gồm có bốn ngôi nhà lồng hình chữ thập, giữa xây một bùng binh rộng, nằm trên lô mặt bằng vuông vức, chung quanh có tám cửa, hướng Chợ ra tám con đường, mang ý nghĩa là Thái Cực sanh Lưỡng Nghi (Âm Dương), Lưỡng Nghi sanh Tứ Tượng; Tứ Tượng sanh Bát Quái; Bát Quái sanh ra Càn Khôn Vũ Trụ, vạn vật. Nếu từ trên phi cơ nhìn xuống khu chợ Long Hoa thì giống như một Bát Quái Đồ.

Chợ Long Hoa được khởi công vào ngày 12 tháng 11 năm Nhâm Thìn,

Các cửa chánh chợ Long Hoa gồm: Cửa Một phía Bắc chạy về hướng Tòa Thánh, cửa Ba phía Tây chạy về hướng chùa Gò Kén, sông Tây Ninh, cửa Năm phía Nam chạy về vùng Giang Tân hướng về Sài gòn, cửa Bảy phía Đông chạy về Trí Huệ Cung. Tám cửa mang ý nghĩa Bát Quái Đồ Thiên.

Khi Hộ Pháp đặt tên chợ là “Long Hoa”, ý Đức Ngài muốn chỉ thời kỳ khai mở Hội Long Hoa, do Đức Di Lạc Vương làm Chủ khảo, và là kỳ thi phán xét cuối cùng trong thời Hạ Ngươn để tuyển phong Phật vị.

Trong dịp Khánh thành Chợ cũ Long Hoa ngày 5 tháng 6 năm Tân Mão (1951), Đức Hộ Pháp Ban Phép Lành và Trấn Thần ngôi chợ, Ngài có nói rằng: Ngày giờ nầy, tuy là nhìn thấy cái chợ thô sơ, nhưng rồi đây nó sẽ bành trướng rộng rãi hơn, long trọng hơn mà chắc chắn con cái Đức Chí Tôn không bao giờ ngờ như thế, nhưng Bần Đạo dám quả quyết nó phải có và nhứt định có, vì cái chợ CHUYỂN THẾ và huyền diệu Thiêng Liêng của Đức Chí Tôn đã định vậy.

XII.- Lưu Vong và Đăng Tiên tại Miên Quốc.

Sau khi đất nước Việt Nam bị phân chia làm hai miền, Chánh phủ Ngô Đình Diệm dựa vào thế lực của Mỹ ở miền Nam, quyết tâm chống Cộng Sản miền Bắc. Để cứu vãn tình thế đất nước, Đức Hộ Pháp đưa ra chánh sách Hòa Bình Chung Sống để kêu gọi hai bên Chánh phủ hai miền hòa hợp và thương thuyết nhau hầu thống nhứt đất nước.

Vào đầu năm 1955, Chánh phủ Ngô Đình Diệm mượn tay tướng Nguyễn Thành Phương, Tổng Tư Lịnh Quân đội Cao Đài lập ra Ban Thanh Trừng đàn áp, bắt bớ nhiều Đạo hữu. Còn Đức Hộ Pháp cũng bị giam lỏng nơi Hộ Pháp Đường suốt 4 tháng rưỡi, chung quanh có quân đội võ trang canh phòng không cho ra vào. Vì quá đau lòng trước cảnh chia đôi đất nước, và cảnh đồng đạo tương tàn, tương sát lẫn nhau, Đức Ngài quyết định quyết định lưu vong sang Miên quốc. Vì vậy, vào lúc 3 giờ sáng ngày mùng 5 tháng Giêng năm Bính Thân (Dl. 16/2/1956), Đức Ngài cùng vài vị Chức sắc thân cận, lên xe đi theo ngã Gò Dầu mà thẳng đến Thủ đô Nam Vang.

Vì tuổi già sức yếu, Ngài làm một tờ di chúc gởi Hoàng Thân Sihanouk, thỉnh cầu cho tạm gởi thi hài nơi đất Miên quốc. Ngày nào đất nước độc lập thống nhất hoặc thực hiện đúng theo đường lối Hòa bình Trung lập, sẽ di liên đài về Tòa Thánh Tây Ninh.

Ngài Đăng Tiên vào ngày mùng 10 tháng 4 năm Kỷ Hợi (Dl. 17/5/1959), hưởng thọ 70 tuổi.

Năm 2006, Liên Đài của Đức Hộ Pháp được di về nhập Bửu tháp tại Tòa Thánh Tây Ninh theo ý nguyện của toàn Đạo và Thánh ý trước khi mất của Ngài.

Xem: Hộ Pháp.

Phạm Công Tắc tìm nơi giáng thế,

Ông tá trần vốn để an dân.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

PHẠM GIỚI

犯 戒

Phạm: Vi phạm, người có tội. Giới: Điều răn cấm, hoặc giới luật tu hành.

Phạm giới là vi phạm giới luật tu hành.

Trong Đạo Cao Đài, giới răn thì có Ngũ giới cấm, giới chay lạt, luật thì có Tân luật, Đạo Luật Mậu Dần, pháp thì có Pháp Chánh Truyền, Đạo Nghị Định...

Nói rõ hơn, người đạo phạm vào những điều giới răn như ngũ giới cấm. trai giới thì gọi là phạm giới.

Kẻ nào phạm giới, luật, nếu có bạn khuyên can thì phải vui lóng nghe theo mà cải quá.

(Giáo Lý).

 

 

PHẠM LÃI

范 蠡

Phạm Lãi là người nước Sở thời Xuân Thu, tự là Thiếu Bá, theo giúp vua Việt Vương Câu Tiễn trên hai mươi năm, đem hết sức lực phò tá, sau cùng diệt được nước Ngô, vua phong cho làm Thượng tướng quân.

Phạm Lãi biết được tánh ý của Việt Vương, khó cùng với nhà vua hưởng an lạc, nên ông nhứt quyết ra đi, đổi họ tên, lưu lạc từ nước Tề đến đất Đào, làm nghề kinh doanh mà trở nên giàu có lớn. Phạm Lãi sau này lấy hiệu Đào Chí Công.

Dựa bóng dẫn đường thuyền Phạm Lãi,

Treo gươm chỉ chữ sách Đào Châu.

(Bát Nương Giáng Bút).

Phạm Lãi gặp chầu buôn bán nước,

Bất Vi đặng buổi đổi mưa duyên.

(Thơ Hộ Pháp).

Nhẫn nại học đòi gương Phạm Lãi,

Tranh phuông để ý kế Trương Lương.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

PHẠM LUẬT

犯 律

Phạm: Vi phạm, người can án, người bị tội. Luật: Pháp luật, luật lệ.

Phạm luật là vi phạm pháp luật, tức là làm trái với luật lệ đã quy định.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có dạy: Bằng chứng là chức sắc vẫn còn phạm luật, phạm pháp, Toà Hiệp Thiên Đài và Hội Công Đồng còn hội xử liên miên, hồ sơ kiện tụng nhau ngày càng chồng chất...

Lo về phần Ðạo nơi Tịnh Thất, mấy Thánh Thất, đều xem sóc chư môn đệ Thầy, binh vực chẳng cho ai phạm Luật đến khổ khắc cho đặng.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

PHẠM MÔN

梵 門

Phạm (phạn): Phật, thanh tịnh. Môn: Cửa.

1.- Phạm môn, đồng nghĩa với “Cửa Phạm”, là cửa Phật, chỉ cửa chùa, nơi tu hành.

2.- Phạm môn còn là một cơ quan đặc biệt trong đạo Cao Đài, do Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc lập ra dành cho những tín đồ muốn tu chơn, không thọ phẩm tước, áo mão như những chức sắc bên Cửu Trùng Đài hay Hiệp Thiên Đài, chỉ chuyên lo lập công bồi đức mà thôi. Đây là con đường thứ ba của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Việc lập ra Phạm Môn, theo Đức Hộ Pháp là do Thánh ý của Đức Chí Tôn trong bài thi sau đây:

 

Tỉnh ngộ xá thân tại Phạm Môn,

 

醒 悟 舍 身 在 梵 門

 

Khuyến tu hậu nhựt độ sanh hồn.

 

勸 修 後 日 度 生 魂

 

Vô lao bất phục hồi Chơn mạng,

 

無 勞 不 復 回 真 命

 

Tỉnh thế kỳ thân đắc Chánh tôn.

 

醒 世 其 身 得 正 尊

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có giải nghĩa bài thi Phạm Môn trên như sau:

Tỉnh ngộ xá thân tại Phạm Môn, nghĩa là gì?

Nghĩa là Đức Chí Tôn kêu phải thức giấc cho mau, hiến thân vào cửa Phật.

Khuyến tu hậu nhựt độ sanh hồn, là khuyên chúng sanh phái ráng lo tu hành, tùng khuôn viên kỷ luật thì ngày kia linh hồn đặng siêu thăng thoát hoá.

Vô lao bất phục hồi Chơn mạng, nghĩa là không có công lao khổ hạnh trong cửa đạo thì không thể nào trở về ngôi xưa cảnh cũ cho đặng.

Tỉnh thế kỳ thân đắc Chánh tôn. Nhằm thế kỷ 20 nầy, thời kỳ Đức Chí Tôn rộng mở cửa Đạo độ toàn con cái của Ngài, chỉ khuyên chúng ta ráng tu tỉnh ngộ, hủy cả hành vi của thế sự, đem thân vào cửa Phật, chịu nâu sồng khổ hạnh cho đặng thì tự nhiên đắc Đạo tại thế vậy.

Theo nghĩa bài thi trên thì chữ “Phạm Môn 梵 門”, là “cửa Phật”, và căn cứ theo hai câu liễn của Phạm Môn nói lên tôn chỉ của cơ quan nầy thì ta có thể kết luận chữ “Phạm 梵” là Phật.

Đôi liễn Phạm Môn được viết như sau:

梵 教 随 元 救 世 度 人 行 正 法

Phạm giáo tùy nguơn cứu thế độ nhân hành chánh pháp

門 權 定 會 除 邪 滅 魅 護 眞 傳

Môn quyền định hội trừ tà diệt mị hộ chơn truyền.

Giải nghĩa:

Phật dạy tùy theo nguơn mà cứu thế độ người, thực hành chánh pháp.

Quyền hành nơi cửa Phạm, định ra khoảng thời gian để trừ tà diệt mị, bảo hộ chơn truyền.

Về nhân sự, theo Lược sử Phạm Môn Hồi Ký của Đạo Nhơn Nguyễn Đức Hoà thì Phạm Môn được phôi thai từ năm Kỷ Tỵ (1929), khởi thủy do Đức Hộ Pháp sang phần đất tại xóm Trường Đua thuộc xã Hiệp Ninh, quận Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tạo ngôi Phạm Nghiệp.

Phạm Nghiệp 梵 業 là cơ nghiệp của nhà Phật. Như vậy mục đích của Phạm Nghiệp là một cơ sở của Phạm Môn, dùng để lập ra công kỷ nghệ hầu giúp và dạy cho nhơn sanh.

Trước cổng Phạm Nghiệp có đề hai câu liễn như sau:

梵 業 承 閒 利 祿 功 名 無 所 用

Phạm nghiệp thừa nhàn lợi lộc công danh vô sở dụng.

門 關 積 道 精 神 法 寳 有 箕 裘

Môn quan tích đạo tinh thần pháp bửu hữu cơ cầu.

Giải nghĩa:

Phạm nghiệp lúc nhàn, lợi lộc công danh không có chỗ dùng,

Cơ quan chứa Đạo, tinh thần và pháp bửu có người sau tiếp nối.

Trong lúc kiến tạo ngôi Phạm Nghiệp có một số người đạo tâm đến xin làm giúp cho Đức Hộ Pháp và cứ thế số người đến xin làm càng ngày càng đông thêm. Đến năm Canh Ngọ, Đức Hộ Pháp buộc ai muốn hiến thân trọn đời vào Phạm Môn phải làm tờ và được cha mẹ vợ con bằng lòng ký tên mới đặng. Khi nhập vào Phạm Môn rồi phải thuộc và hành theo “Thập Điều Giới Răn”.

Do số người đến quá đông, thiếu lương thực nên có người xin Đức Hộ Pháp mướn sở ruộng của bà Nư Đầu Sư Hương Thanh để làm ruộng. Từ đó các cơ sở Phạm Môn mới được khai mở dần.

Ngoài ra, tại làng Phú Mỹ, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho, Đức Lý Giáo Tông giáng cơ dạy hai ông Đinh Công Trứ và Lê Văn Trung lập Minh Thiện Đàn, là một tổ chức tu chơn. Rồi sau đó, Đức Ngài lại giao Minh Thiện Đàn cho Đức Hộ Pháp chưởng quản, và nhập vào cửa tu chơn Phạm Môn.

Chúng ta cũng cần nên biết các bí tích như: Phép Giải oan, phép Tắm Thánh, phép Đoạn căn (Phép xác), phép Hôn phối đều do Đức Hộ Pháp truyền dạy cách hành pháp cho các vị Đầu Họ Phước Thiện (tiền thân là Phạm Môn).

Từ khi Đức Hộ Pháp lập Phạm Môn và cất Phạm Nghiệp, bị nhiều người hiểu lầm cho là cơ nghiệp của nhà họ Phạm, vì họ lầm tưởng chữ “Phạm 梵” là Phật với chữ “Phạm 范” là họ của Đức Hộ Pháp.

Khi nói về lịch sử thành lập Hội Thánh Phước Thiện, Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có nhắc đến việc bị chỉ trích như sau: Vì bài Thi văn của Đức Chí Tôn dạy đó mà Bần Đạo mới lập ra Phạm Môn, có Phạm Môn rồi mới có sản xuất Thập Nhị Đẳng Cấp Thiêng Liêng, nếu không thì không thế nào lập thành Hội Thánh Phước Thiện được.

Bởi chữ Phạm Môn là Phật, Phạm Môn là cửa Phật, chớ không phải Phạm là họ Phạm. Buổi đó cũng có nhiều tiếng phân vân nói Bần Đạo lập Phạm Môn tức là lập theo họ Phạm của Bần Đạo, Bần Đạo cũng như tấm bình phong đứng giữa hứng chịu. Sao Bần Đạo không đầu kiếp các nơi họ Nguyễn, họ Trần mà đến ngay nhà họ Phạm mà để khiến cho Bần Đạo phải chịu oan ức. Những tiếng phân vân ấy, Bần Đạo cũng chẳng màng, cứ lo cho kỳ được, bởi vì sự công chánh. Bần Đạo đứng giữa đây Bần Đạo phải nói Bần Đạo nói thiệt cả sự nghiệp của Đạo còn tồn tại đây là do nơi tay của Phạm Môn nếu không có Phạm Môn thì Bần Đạo không đứng vững, Đức Chí Tôn đã định cho Bần Đạo thâu 72 vị Môn Đệ mà chia ra hành sự 36, 37 vị, buổi đó Thầy trò chịu cực khổ tầm phương để tạo nghiệp mà bị chúng sanh đánh đổ đến đổi vận lương thực lục tỉnh đem về Toà Thánh mà cũng bị ngăn cản quyết bỏ đói cho chết, mà tội nghiệp thay họ không thối chí ngã lòng, cứ cương quyết theo Bần Đạo cho đến ngày lập thành Hội Thánh Phước Thiện.

Nói về công lao của Phạm Môn, Lược Sử Phạm Môn Hồi Ký có kể lại vào ngày 20 tháng Giêng năm Giáp Tuất (1934) có một nhóm Chi phái kéo về Toà Thánh đăng điện, tức lên ngôi Giáo Tông và sẽ đuổi Đức Quyền Giáo Tông ra khỏi Toà Thánh Tây Ninh.

Được tin Ngài Quyền Giáo Tông cậy Đức Hộ Pháp tìm cách bảo vệ. Chính Đức Thầy nhờ anh em Phạm Môn đứng ra giữ yên cuộc biến động đó. Trong bữa tiệc đãi anh em Phạm Môn, Đức Quyền Giáo Tông có nói: Lúc trước Đức Hộ Pháp mở Phạm Môn có một phần chức sắc lớn trong Hội Thánh đánh đổ, chớ ít ai nhìn nhận là đúng. Hễ ai nói sao Qua nghe vậy, chớ thật ra Qua cũng không biết Đức Hộ Pháp mở Phạm Môn có ích lợi gì. Đến nay Qua mới biết, nhờ có mấy em dám hy sinh để bảo tồn nghiệp Đạo.

Và chính Đức Hộ Pháp xác nhận công lao của Phạm Môn như sau: Trong số 72 Môn Đệ của Bần Đạo, thật sự hành Đạo chỉ có 26 đứa mà nghiệp Đạo hôm nay được thành tướng dường này. Nếu không có Phạm Môn thì Đền Thánh không thành tựu, nếu không có Phạm Môn thì nền Đạo Cao Đài đã chết rồi.

Tỉnh ngộ xả thân tại Phạm Môn,

Khuyến tu hậu nhựt độ sinh hồn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Phước Thiện là vốn Phạm Môn,

Phước Thiện là của Thiên đường Phật Tiên.

(Thất Nương Giáng bút).

Phối Thánh ngày xưa nhẫn thế nào,

Phạm Môn từng chịu lắm gian lao.

(Cội Đạo Bốn Mùa).

 

 

PHẠM NGHIỆP

梵 業

Phạm: Phật. Nghiệp: Sự nghiệp, cơ nghiệp.

Phạm Nghiệp là cơ nghiệp của nhà Phật.

Đức Hộ Pháp lập Phạm Nghiệp tại xã Hiệp Ninh, Quận Châu Thành tỉnh Tây Ninh, trên phần đất Trường Đua, nằm trên Quốc lộ 22, cách thị xã Tây Ninh khoảng 5 cây số.

Khi Đức Hộ Pháp cất Phạm Nghiệp, bị nhiều người hiểu lầm, cho là cơ nghiệp của nhà họ Phạm và cho rằng Ngài đã lấy tiền của Đạo để cất. Nhưng theo Diễn văn của Ngài đọc tại Toà Thánh Tây Ninh về “Chơn Truyền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ”, ngày 15 tháng 7 năm Nhâm Thân (Dl. 16-8-1932), thì Ngài nói: “Ấy là Phạm Nghiệp lập ra với tư bổn chút ít của tệ đệ và nợ của tệ đệ tạm cầu nơi bà con mà lập ra công nghệ để dạy nhơn sanh”.

Như vậy mục đích của Phạm Nghiệp là một cơ sở của Phạm Môn, dùng để lập ra công kỹ nghệ hầu giúp và dạy cho nhơn sanh.

Trước cổng Phạm Nghiệp có hai câu liễn như sau:

梵 業 承 閒 利 祿 功 名 無 所 用

Phạm nghiệp thừa nhàn lợi lộc công danh vô sở dụng.

門 關 積 道 精 神 法 寳 有 箕 裘

Môn quan tích đạo tinh thần pháp bửu hữu cơ cầu.

Giải nghĩa:

Phạm nghiệp lúc nhàn, lợi lộc công danh không có chỗ dùng.

Cơ quan chứa Đạo, tinh thần và pháp bửu có người sau tiếp nối.

 

Phạm nghiệp thừa nhàn lợi lộc công danh vô sở dụng.

Môn quan tích đạo tinh thần pháp bửu hữu cơ cầu.

(Liễn Phạm Nghiệp).

 

 

PHẠM PHÁP

犯 法

Phạm: Vi phạm, người can án, người bị tội. Pháp: Luật pháp.

Phạm pháp là vi phạm về luật pháp của Đời hay của Đạo. Phạm pháp còn dùng để chỉ người phạm tội, cùng nghĩa với tội nhân.

Trong Đạo Cao Đài, người tín đồ ngoài việc giữ gìn Tân Luật, các Đạo luật để khỏi phạm luật, mà còn phải giữ gìn Pháp Chánh Truyền, các Đạo Nghị Định để khỏi bị phạm pháp.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có dạy: Chính tay Lão đã lập Nghị Định thứ 8, có đâu Lão lại phá luật, còn Đài Hiệp Thiên do Hộ Pháp nắm giữ, có đâu Lão lại quá quyền phạm pháp, phong tước cho Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài.

Còn những vị nào trong năm năm hành sự mà có phạm Pháp và phạm Luật, thì sẽ bị đình lại lâu hay mau tuỳ theo tội nặng hay nhẹ,...

(Đạo Luật Mậu Dần).

 

 

PHẠM PHỦ

范 府

Phạm: Họ Phạm. Phủ: Ngôi nhà lớn. Từ: Nhà thờ.

Phạm phủ là nhà họ Phạm.

Phạm phủ là tiếng nói tắt của chữ “Phạm Phủ Từ 范 府 祠”, là ngôi nhà dùng làm nơi thờ phụng tổ tiên của dòng họ Phạm.

Những tín đồ đạo Cao Đài cùng chung một họ, cư ngụ tại Châu Thành Thánh Địa thuộc Toà Thánh Tây Ninh, bất kể nam nữ đều hợp nhau cất một ngôi thờ tổ tiên dòng họ chung nhau, gọi là “Phủ Từ 府 祠”.

Nếu họ Phạm thì có Phạm Phủ Từ, nếu họ Lê thì có Lê Phủ Từ.

Trong bàn thờ nơi Phạm Phủ Từ có đôi liễn như sau:

范 府 恩 深 千 古 在

Phạm phủ ân thâm thiên cổ tại,

祠 堂 義 重 百 年 存

Từ đường nghĩa trọng bách niên tồn.

Nghĩa là:

Ơn sâu nhà họ Phạm ngàn xưa còn tại đây,

Nhà thờ tổ tiên nghĩa nặng trăn năm vẫn còn.

 

Phạm phủ ân thâm thiên cổ tại,

Từ đường nghĩa trọng bách niên tồn.

(Liễn Nội Tông Phạm Phủ).

 

 

PHẠM TĂNG

范 增

Phạm Tăng là người sống vào cuối đời Tần, ở Cư Sào, có nhiều mưu chước lạ. Năm 70 tuổi, theo giúp Hạng Võ khởi binh, lập được nghiệp Bá, được tôn là Á phụ.

Trong cuộc hội tại Hồng Môn giữa hai nước Hán và Sở, Phạm Tăng biết được Lưu Bang và Hàn Tín sau nầy sẽ diệt Hạng Võ, nên xúi Hạng Võ diệt Hàn Tín và giết Bái Công (Hán Cao Tổ) để trừ hậu hoạn, nhưng Sở Bá Vương không nghe lời.

Sau nhà Hán lập kế phản gián khiến Hạng Võ nghi ngờ Phạm Tăng, lấy hết quyền hành. Từ đó Phạm Tăng bỏ ra đi, đến Bành Thành phát ung ở lưng rồi mất.

Còn ngươi Trương Tử Phòng, nếu chẳng Phạm Tăng cải Trời làm lếu thì ân oán đền trả chẳng mấy hồi.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

PHẠM TỘI

犯 罪

Phạm: Vi phạm, người can án, người bị tội. Tội: Việc làm trái với pháp luật hay đạo đức.

Phạm tội là mắc phải những điều tội lỗi.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Còn cả môn đệ, ai cũng như ai, không đặng gây phe lập đảng, nhược kẻ nào phạm tội thì Thầy trục xuất ra ngoài cho khỏi điều rối loạn.

Dầu kẻ phạm tội dụng khôn lanh ngụy biện để khỏi tội hữu hình, nhưng không tránh được hình phạt Thiêng Liêng.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

PHẠM THƯỢNG

犯 上

Phạm: Vi phạm, đụng chạm. Thượng: Trên chỉ cấp trên, người bề trên.

Phạm thượng là xúc phạm với cấp trên, hay người bề trên. Trong tôn giáo, phạm thượng là xúc phạm với các bậc lãnh đạo trong tôn giáo, hay chức sắc.

Thánh giáo Thầy dạy: Thầy đã lắm lúc nhọc nhằn chiều theo thế mà dẫn bước đường, nhưng nhiều đứa dụng thời thế ở trần mà phạm thượng đến Thầy, và dằn thúc chư môn đệ và chư chúng sanh.

Gìn dạ nhớ chồng là chúa vợ,

Ðừng lời phạm thượng thói nghinh ngang.

(Đạo Sử).

 

 

PHẠM TRỌNG YÊM

范 仲 俺

Phạm Trọng Yêm, tự là Hy Văn, thuỵ là Văn Chính, người xứ Tô Châu, nhà nghèo nhưng rất ham học, thi đỗ Tiến sĩ làm quan dưới triều Tống Nhân Tông đến chức Lại Bộ Viên Ngoại Lang, từng giữ chức Tri Châu ở Hàng Châu. Ông là người thanh liêm, chính trực, lại trọng nghĩa khinh tài, đối xử với dân chúng rất có hậu.

Ông đã để lại một lời nói bất hủ: Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc 先 天 下 之 憂 而 憂, 後 天 下 之 樂 而 樂, nghĩa là lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ. Câu này đã được truyền tụng rộng rãi từ đời Tống cho đến ngày nay.

Phạm Trọng Yêm mấy lần xa vợ,

Nợ quân vương nhiều thuở truân chuyên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

PHẠM VI

範 圍

Phạm: Khuôn, phép tắc. Vi: Vây, khu đất có tường vách bao bọc chung quanh.

Phạm vi là khoảng có giới hạn, tức trong vòng giới hạn nào đó.

Tiếp Pháp Trương Văn Tràng trong Giáo Lý có dạy: Trong Đạo vợ chồng có điều tốt nhất là hai người ấy được thuận hoà, ăn ở với nhau từ tóc xanh, đến đầu bạc. Mà muốn được vậy thì mỗi người phải biết bổn phận của mình và phải hành động trong phạm vi ấy.

Hội Thánh quyết giữ vững lập trường tôn giáo thuần tuý, không ra khỏi phạm vi đạo đức...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

PHAN

Phan là cây phướn, một loại cờ của nhà chùa, hình dải hẹp và dài, phần cuối xẻ như đuôi cá.

Như: Phan Tiếp Dẫn, linh phan, Tả Hữu Phan Quân, tràng phan bửu cái.

Ơn Tạo hoá tha tiền khiên trước,

Đưa linh phan tiếp rước nguyên nhân.

(Kinh Thế Đạo).

Cứ níu theo phan Ðức Thượng Hoàng,

Tự nhiên tu tánh đặng bình an.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

PHAN QUÂN

幡 君

Phan: Cây phướn. Quân: Người.

Phan Quân là người cầm phướn.

Trong Đạo Cao Đài, có hai vị cầm phướn Thượng Sanh và phướn Thượng Phẩm, đi theo chức sắc Hiệp Thiên Đài, đó là Tả Phan Quân và Hữu Phan Quân.

Tả Phan Quân, người đứng bên trái của Đức Thượng Sanh cầm cây phướn Thượng Sanh, còn Hữu Phan Quân, đứng bên phải Đức Thượng Phẩm, cầm cây phướn Thượng Phẩm.

Trong Đàn cơ đêm 15 tháng 10 năm Ất Tỵ (Dl. 7/11/1965) tại Cung Đạo Toà Thánh, Đức Lý Giáo Tông phong chức Hữu Phan Quân cho ông Lê Văn Thoại.

Tả Phan Quân là ông Trang Văn Giáo đã quy vị ngày 2 tháng 5 năm Bính Thìn (30/5/1976).

Không được, vì chức Hữu Phan Quân không chi nặng lắm, kiếm người khác rổi rảnh hơn.

(Thánh Ngôn Sưu Tập).

 

 

PHAN TIẾP DẪN

幡 接 引

Phan: Cây phướn, là loại cờ dùng riêng trong tôn giáo, dùng để dẫn dắt đường. Tiếp Dẫn: Vị Phật, còn gọi là Tiếp Dẫn Đạo Nhơn, có nhiệm vụ tiếp dẫn các chơn hồn đắc đạo đến cõi Cực Lạc Thế Giới.

Phan Tiếp Dẫn tức là cây phướn của Tiếp Dẫn Đạo Nhơn dùng để dẫn dắt các chơn linh đắc Đạo.

Cảnh Thiên noi bước Hoá Công,

Nắm phan Tiếp Dẫn vào vòng Như Lai.

(Kinh Thế Đạo).

Biến thân hạc nội mây ngàn,

Nắm phan Tiếp Dẫn mở đàng Lôi Âm.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

PHAN VƯƠNG

Hay “Phiên vương”.

Phan (phiên): Che chắn. Vương: Một cái tước lớn vua phong cho các hoàng thân hay các quan đại thần.

Phan vương, như chữ “Phiên vương 藩 王”, là một tước vương phong cho các chư hầu cai trị để bảo vệ đất đai nhà vua.

Trà mi kém sắc hơn hường,

Tiếng cười Bao Tỷ hơn hờn Phan Vương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Dân trí chưa phân tam đảnh thạnh,

Quốc quyền phế hũy trí Phan Vương.

(Tôn Sơn Chơn Nhơn).

 

 

PHÁN

Phán là nói các bậc tôn quý truyền bảo, ra lệnh. Như: Lời vua đã phán hỏi.

Thánh giáo Thầy có dạy: Phải hiểu rằng: Ngũ tạng, lục phủ cũng là khối sanh vật mà thành ra, nhưng phận sự chúng nó làm, thảng hiểu biết hay không hiểu biết, đều do nơi mạng lịnh Thầy đã phán dạy.

Thê cùng thiếp sớm chiều hầu hạ,

Phán một lời kẻ dạ người thưa.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

PHÁN ĐỊNH

判 定

Phán: Phân xử, quyết định. Định: Định đoạt.

Phán định là phán đoán và định đoạt.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Nếu có điều khó khăn không giải quyết được phải thỉnh giáo bề trên, không nên phán định sơ suất.

Thay đổi tuỳ cơ trên phán định,

Ước mong bổn đạo hưởng vinh vang.

(Thơ Hiến Pháp).

 

 

PHÁN ĐOÁN

判 斷

Phán: Phân xử, quyết định. Đoán: Xem xét.

Phán đoán là xét định, tức là xem xét, quyết định. Như: Phán đoán tình hình.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có câu: Những đạo hữu nào không vì hạnh đức mà chung hiệp nhau lo hành Chánh giáo, thì đã có Thần, Thánh lãnh lịnh biên ghi vào Sổ Công Quả, đợi ngày chung quy đặng đem vào cân Thiên điều mà phán đoán.

Trên Điện Ngọc Vua Trời ngự giáng,

Trước đền vàng phán đoán phân minh.

(Xưng Tụng Công Đức).

Ðừng đừng có nết hay chê lẫn,

Phán đoán người duy có một Trời.

(Đạo Sử).

 

 

PHÁN QUYẾT

判 決

Phán: Phân xử, quyết định. Quyết: Định chắc.

Phán quyết là quyết định của quan toà hoặc người đứng ra giải quyết một vụ việc. Như: Toà Thượng thẩm là đơn vị phán quyết cuối cùng một vụ án.

Hai bên Chánh phủ đối phương có chịu nhận mình làm trọng tài để phán quyết hay không?

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

PHÁN XÉT

Phán: Phân xử, quyết định. Xét: Xem xét.

Phán xét là sự xem xét và đánh giá rồi đưa ra việc phán đoán, hay phân xử.

Theo Thiên Chúa Giáo, từ “Phán xét cuối cùng” dùng để chỉ việc xem xét về tội phước của nhơn loại để Thiên Chúa ban thưởng hay trừng phạt lần cuối cùng trước khi xảy ra cuộc Tận diệt.

Đạo Cao Đài thì cho rằng Đức Di Lạc Vương Phật sẽ mở Đại Hội Long Hoa và làm chủ khảo phán xét, tuyển chọn người có công đức để lập một đời mới gọi là đời Thượng Nguơn Thánh Đức.

Công bình phán xét tới ngày,

Chẳng tu thì chịu đoạ đày Phong đô.

(Thơ Thông Quang).

phán xét nắm quyền định vị,

Hạ, Trung, Thượng chơn lý phơi bày.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

PHÁN XỬ

判 處

Phán: Phân xử, quyết định. Xử: Xem xét phải trái.

Phán xử là xem xét để quyết định, tức là gặp việc phải quấy phải xét đoán kỷ rồi quyết định.

Như: Đưa ra Toà Tam giáo phán xử.

Đã đặng tin quả quyết thì chẳng đặng yêm ẩn, ngó lơ, buộc phải giao cho Thông Sự phán xử.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

PHÀN NÀN

Phàn nàn là nói ra những nỗi buồn bực, không vừa ý, để mong có sự đồng tình, đồng cảm. Như: Những điều đáng phàn nàn.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bần Đạo đã đặng nhiều lời của mấy em nhứt là trong Bàn Trị Sự tức nhiên là hàng Em của Hội Thánh hay Thánh Thể út của Đức Chí Tôn, nghĩa là con cái yêu dấu của Ngài hơn hết đã phàn nàn thấu tới tai Bần Đạo.

Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật còn phàn nàn trách cứ Thầy thay!

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

PHẢN

Phản là trái, nghịch lại, tức có hành động chống lại, làm hại với người có quan hệ gắn bó với mình.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Như kẻ làm quan ỷ quyền hiếp bức dân lành, đứa ngu nghịch cha phản bạn, làm rối luân thường, các con có biết vì tại sao chăng? Tại vô đạo.

Phạt những kẻ sửa ngay ra vạy,

Tớ phản thầy, quan lại bất trung.

(Kinh Sám Hối).

Dường như con vịt mẹ gà,

Trẻ thơ vội phản, mụ già kinh tâm.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

PHẢN BỔN HUỜN NGUYÊN

Hay “Phản bản hoàn nguyên”.

Phản bổn (bản): Trở lại với cái gốc. Huờn (hoàn) nguyên: Trở về với cái ban đầu.

Phản bổn huờn nguyên, như chữ “Phản bản hoàn nguyên 返 本 還 元” là sự trở về với cái nguồn gốc ban đầu của chơn linh con người. Đó là nơi cõi Thiêng Liêng Hằng sống.

Phản bổn huờn nguyên ý nói người tu hành đắc quả trở về ngôi xưa vị cũ.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Thường người ta chỉ lo tìm kiếm những điều ở ngoài mình, chớ không tìm kiếm những cái ở trong con người của mình, thế nên dây oan kết mãi, nghiệp chướng càng mang, biết chừng nào mới tỉnh ngộ đặng phản bổn huờn nguyên.

Nghịch hành phản bổn huờn nguyên,

Thuận hành sa đoạ hạ miền trầm luân.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

PHẢN ĐẠO

反 道

Phản: Nghịch lại, trả lại. Đạo: Tôn giáo.

Phản Đạo là phản lại tôn giáo của mình đã theo. Như: Những tín đồ phản đạo là kẻ bội ước với lời thề của mình.

Nói về Thừa Sử Phạm Ngọc Trấn, Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Nếu trong cửa Đạo này, có kẻ phản Đạo, phản Thầy, phản bạn, đưa mũi súng bắn Trấn, họ không nghĩ rằng: “Họ bắn chết Đạo của họ” họ không nghĩ rằng họ đã bắn chết thân danh của họ, duy tiếc có bao nhiêu đó mà thôi.

Lập đảng phái chen vào chánh giáo,

Xúi môn đồ phản đạo hại thầy.

(Nguyễn Trung Trực Giáng).

 

 

PHẢN GIÁN

反 間

Phản: Nghịch lại, trả lại. Gián: Gián điệp, do thám.

Phản gián là dùng mưu gây chia rẽ nội bộ đối phương. Như: Dùng kế phản gián.

Thượng Sanh thuyết về Đức Khổng Tử có câu: Nước Tề là lân bang của nước Lỗ, sợ nước Lỗ được cường thịnh nên dùng 80 mỹ nữ dâng cho vua nước Lỗ để làm kế phản gián. Vì vậy Lỗ hầu say mê tửu sắc, bỏ việc triều chánh. Ðức Khổng Tử can gián không được nên buồn lòng bỏ nước Lỗ mà đi.

Dùng mưu phản gián Nam Bang,

Ðoạt thâu cho sạch vàng ngàn bạc muôn.

(Ngụ Đời).

 

 

PHẢN HỒI

返 回

Phản: Trở về, trở lại. Hồi: Về.

Phản hồi là trở về. Như: Phản hồi cố hương.

Trong sách Giáo Lý, Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có đoạn viết: Trước thuyền Bát Nhã chở quan tài đi an táng có hai câu liễn như vầy: “Vạn sự viết vô, nhục thể thổ sanh huờn tại thổ, Thiên niên tự hữu, Linh hồn Thiên tứ phản hồi Thiên”. Muôn việc gọi không, Nhục thân do đất sanh thì trả về cho đất. Muôn năm tự có, Linh Hồn Trời ban cho thì trở về với Trời.

Phát phối tha bang quyền quỷ khiến,

Phản hồi cố quốc phép trời xuôi.

(Thơ Thượng Trí Thanh).

Cung thiềm lầu ngọc mau tìm đến,

Nương ánh Hồng Quân nhẹ phản hồi.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

PHẢN KHÁNG

反 抗

Phản: Nghịch lại, trả lại. Kháng: Chống lại.

Phản kháng là chống cự lại một cách quyết liệt. Như: Sức phản kháng mãnh liệt.

Trong Đạo Sử, bài diễn văn của Đức Quyền Giáo Tông đọc tại Toà Thánh, ngày mùng 8 tháng 4 năm Giáp Tuất (1934) có câu: Cuộc kết quả sự phản kháng ấy hoặc thành, hoặc bại, có ảnh hưởng của tương lai sanh hoạt quyền lực đương nhiên của họ vì cớ mà sự xung đột hằng xem dữ dội.

Ngài đã thấy phép trị thế, dầu cho dân sanh phản kháng thế nào, cũng tuỳ theo một chủ quyền chính thể...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

PHẢN KHẮC

反 剋

Phản: Nghịch lại, trả lại. Khắc: Chống với nhau, không hợp.

Phản khắc chống lại hay nghịch lại. Như: Hai điều đó mâu thuẫn phản khắc nhau.

Trong Bát Đạo Nghị Định, điều thứ sáu có câu: Nghĩ vì, Pháp Chánh Truyền, Lão đã dạy Hộ Pháp chú giải, chẳng thi hành từ thử, làm cho Cửu Trùng Ðài và Hiệp Thiên Ðài phản khắc Ðạo quyền, gây nên rối loạn Chánh Giáo Chí Tôn.

Có nhiều cơ quan phản khắc nhau ta có quyền năng làm cho họ hiệp lại...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

PHẢN LOẠN

反 亂

Phản: Nghịch lại, chống đối. Loạn: Gây rối.

Phản loạn là không trung thành với vua, hay chính quyền, trái lại còn làm rối loạn trật tự. Như: Làm phản loạn chơn truyền.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Dân Juif các vì Giáo Chủ buổi nọ, luôn các vua chúa Palestine, thấy Ðức Chúa Jésus Christ thuyết Ðạo Giáo có một chí hướng chơn truyền phản khắc với tôn chỉ của họ, họ oán ghét, tìm phương giết Chúa, đến đầu cáo với César rằng: “Người ấy mưu cuộc phản loạn đem bọn Juif ra khỏi sự thống trị của chế độ Romain”, nhưng họ cáo đủ thứ cũng không được, vì Thánh đức của Chúa không thể phạm vào được.

Ngoài mặt đời ít kẻ vẫy vùng,

Ra tuồng thế những phồn phản loạn.

(Bát Nương Giáng Bút).

Giục tỉnh tà thần mưu phản loạn,

Tuyển phong Thánh thể hạng trung kiên.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

PHẢN LOẠN CHƠN TRUYỀN

Hay “Phản loạn chân truyền”.

Phản loạn: Chống lại và làm rối loạn. Chơn (chân) truyền: Giáo pháp chơn thật được truyền lại.

Phản loạn chơn truyền, như chữ “Phản loạn chân truyền 反 亂 真 傳”, là nói người phản Đạo, gây rối loạn trong tôn giáo để chống lại với chơn truyền của Đạo.

Trong Thập Hình của Đức Lý Giao Tông, phản loạn chơn truyền thuộc về Đệ nhứt hình, tội trục xuất.

Đối với các Chi Phái do Đại Đạo lập thành mà phản loạn Chơn Truyền...

(Đạo Luật Mậu Dần).

 

 

PHẢN NGHỊCH

反 逆

Phản: Nghịch lại, chống đối. Nghịch: Phản lại.

Phản nghịch là làm phản, chống lại với chính phủ, hay lãnh đạo tôn giáo.

Trong Giảng Đạo Chơn Ngôn có câu: Chớ không phải vào Ðạo rồi cậy lấy phần đông, kết phe lập đảng ỷ chúng hiếp cô, kẻ vào Ðạo mà chỉ mưu việc quấy như vậy, là kẻ lợi dụng danh Ðạo mà làm cho rối loạn chơn truyền, tức là kẻ phản nghịch với chánh lý của Ðạo vậy.

Cũng như Kim Quang Sứ là A Tu La, Thánh giáo gọi là Lucifer phản nghịch náo động Thiên cung.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

PHẢN PHÚC

反 覆

Phản: Nghịch lại, chống đối. Phúc: Nghiêng đổ.

Phản phúc là nghiêng đổ lật ngược, ý nói tráo trở, phản lại người đã tin cậy hoặc có ơn nghĩa với mình.

Như: Lòng dạ phản phúc.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Biết bao nhiêu, khi mới đến cùng Thầy, quỳ dưới chơn Thầy mà hễ ra khỏi chơn Ngài rồi thì lại phản phúc Ngài và con cái của Ngài.

Hèn ganh sang, gây lẽ nghịch thù,

Dở làm giỏi, đồ mưu phản phúc.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

PHẢN TIỀN VI HẬU

反 前 為 後

Phản tiền: Trở ngược lại cái trước. Vi hậu: Để làm cái sau.

Phản tiền vi hậu là làm trở ngược cái trước để làm lại cái sau.

Ví dụ: Muốn làm phản tiên vi hậu cái nhà thì lấy cửa trước làm lại cửa sau và cửa sau nhà trở thành cửa trước.

Nay là hạ nguơn hầu mãn, phải phục lại như buổi đầu, nên phải phản tiền vi hậu.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

PHẢN TRẮC

反 側

Phản: Nghịch lại, chống đối. Trắc: Nghiêng.

Phản trắc là làm phản, làm trái với tình nghĩa, ý muốn nói kẻ có bụng dạ khó lường được, làm điều không ngay thẳng. Như: Tâm địa phản trắc.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Đức Chí Tôn có dạy: Hoạch, con hiểu trước Thánh ý Thầy rồi, cây phướn chiêu hồn của nhơn loại chưa đặng trọn linh diệu hầu quy tụ thiên lương nên phản trắc nhơn tâm, phi ân vô đạo là thường tình, chẳng chi lạ mà con ái ngại.

Cửa Đạo buồn xem trò phản trắc,

Đường tu nào ngại cảnh gian lao.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

PHẢN ỨNG

反 應

Phản: Trái ngược. Ứng: Đáp lại.

Phản ứng là làm nội ứng cho quân giặc.

Phản ứng còn là hiện tượng biến hoá vì tác dụng hoá học mà sinh ra. Nghĩa bóng: Nảy sinh ra hành động để đáp lại một tác động nào đó.

Thánh giáo Đức Hộ Pháp có dạy: Bần Đạo cũng nên nói rõ về việc thăng thưởng Chức sắc Hiệp Thiên, vì trước khi chấm thưởng, Bần Đạo đã tuyên bố lấy hết công tâm mà định đoạt, nhưng các em cứ một mực phản ứng làm cho xáo trộn một lúc hầu như đức tin đã đổ vỡ.

Vì đó có sự phản ứng, có tiếng đối lập với dục vọng, tức là với tà thần.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

PHANH

Phanh tức là mở rộng, mở banh ra, làm lộ phần ở bên trong ra.

Như: Phanh áo để lòi ngực ra, mở phanh hai cánh cửa, phanh thây xẻ xác.

Con bất hiếu xay cưa đốt giã,

Mổ bụng ra phanh rã tim gan.

(Kinh Sám Hối).

 

 

PHÁO

1.- Pháo là vật cuộn bằng giấy, trong nhồi thuốc nổ, có ngòi để đốt cho nổ thành tiếng kêu.

Như: Đêm giao thừa đốt pháo, vui như lân gặp pháo, tan như xác pháo.

Pháo nổ lân chơi miền Bắc địa,

Sấm rền cù dậy cõi Đông dương.

(Thơ Hộ Pháp).

Tiếng pháo giao thừa khơi nỗi nhớ,

Ngọn đèn trừ tịch gợi niềm thương.

(Thơ Hàn Sinh).

2.- Pháo là tên gọi một quân trong cờ tướng, hoặc bài tam cúc, bài tứ sắc.

Như: Pháo đầu chiếu tướng, thí pháo bắt xe.

Nam Việt lẫy lừng xe pháo ngựa,

Tần bang bồng bột tướng binh voi.

(Quyền Giáo Tông Giáng).

 

 

PHÁP

1.- Pháp là pháp luật, khuôn phép đặt ra để mọi người tuân theo cho có trật tự và ổn định. Như: Pháp chế, pháp đình, gia pháp nghiêm minh.

Thánh giáo Thầy có đoạn dạy: Nếu Thầy dùng quyền pháp Chí Tôn thì mất lẽ công bình thiêng liêng Tạo hoá. Con cứ lo lập luật, để công phổ độ cho chư đạo hữu con hưởng chút ít.

Ăn gian xớt bớt cho mình,

Dầu qua dương pháp, luật hình Diêm vương.

(Kinh Sám Hối).

Định hương hoả, hằng ngày quý tế,

Lập pháp gia, tự kế phụng thờ.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Pháp là giáo thuyết, giáo lý của tôn giáo. Như: Giáo pháp, mạt pháp, pháp môn, bí pháp, pháp thí.

Thánh giáo Đức Thích Ca Như Lai có dạy: Chánh pháp bị nơi Thần Tú làm cho ra mất Chánh giáo, lập riêng pháp luật buộc mối đạo Thiền.

Phật Pháp khuyến nhơn quy mỹ tục,

Nho Tông phục thế hưởng thuần phong.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Pháp là phép, bí tích, thuật mầu nhiệm của những bậc Phật, Tiên, Thánh, Thần hoặc các thầy phù thuỷ. Như: Pháp thuật cao cường, pháp sư, thầy pháp.

Thánh giáo Thầy có dạy: Phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật, từ ngày Ðạo bị bế, thì luật lệ hỡi còn nguyên, luyện pháp chẳng đổi, song Thiên đình mỗi phen đánh tản Thần không cho hiệp cùng Tinh, Khí.

Vợ thầy pháp quỷ ma thường lộng,

Đẻ ra hình như giống ếch bà.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

PHÁP BỬU

法 寶

Pháp: Phép thuật, các bí tích của đạo Cao Đài. Bửu (bảo): Quý báu.

Pháp bửu hay “Pháp bảo 法 寶”, như chữ “Bửu pháp 寶 法” là những vật có pháp thuật huyền diệu của các Đấng Thiêng liêng.

Như: Đức Quyền Giáo Tông là chơn linh Lý Thiết Quả, có hai pháp bửu, đó là Hồ lô và Gậy sắt.

Đức Hộ Pháp có hai pháp bửu là Giáng Ma Xử và Kim Tiên.

Tình đức cổ truyền trừ giặc loạn,

Nghĩa nhân pháp bửu dẹp can qua.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

PHÁP CHÁNH

法 政

Pháp: Pháp luật. Chánh: Sắp đặt cho mọi việc yên.

1.- Pháp chánh là pháp luật quy định về việc hành chánh trong các cơ quan đạo Cao Đài.

Pháp chánh trông người cân đúng lý,

Công bình đợi Đấng thẩm quyền xây.

(Thơ Nguyệt Quang).

2.- Pháp chánh còn là từ nói tắt của “Bộ Pháp chánh”, một cơ quan tư pháp của đạo Cao Đài.

Xem: Bộ Pháp chánh.

Đảm nhiệm xưa cầm quyền pháp chánh,

Độ thăng trước rưới giọt ma ha.

(Cội Đạo Bốn Mùa).

 

 

PHÁP CHÁNH TRUYỀN

Pháp: Pháp luật. Chánh (chính) truyền: Ngay thẳng mà truyền trao lại.

Pháp Chánh Truyền, như chữ “Pháp chính truyền 法 正 傳”, là một bản văn pháp luật chơn chính mà Đức Chí Tôn truyền dạy để tổ chức và điều hành nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Đêm 15 tháng 10 năm Bính Dần (Dl. 20-11-1926), Đức Chí Tôn giáng cơ tại Thánh Thất tạm Từ Lâm Tự Tây Ninh, ban cho bản Pháp Chánh Truyền do Đức Hộ Pháp và Đức Thượng Phẩm phò loan.

Pháp Chánh Truyền là một bản luật quy định các phẩm chức sắc nam nữ của Cửu Trùng Đài, Hiệp Thiên Đài, quyền hành, đạo phục của mỗi phẩm cấp và việc thăng thưởng các chức sắc.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Luật thì có Tân Luật, Pháp thì có Pháp Chánh Truyền, Quyền thì có Toà Tam Giáo.

1. Không tuân Pháp Chánh Truyền và Đạo Nghị Định.

2. Phản loạn chơn truyền.

3. Chia phe phân phái và lập tả đạo Bàng môn.

(Thập Hình Lý Giáo Tông).

 

 

PHÁP DUYÊN

法 緣

Pháp: Giáo pháp, giáo lý, chỉ Đức Phật. Duyên: Mối duyên ràng buộc.

Pháp duyên là có mối duyên cùng giáo pháp hay Đức Phật, hoặc chỉ sự quy y theo Đạo pháp.

Kiếp sanh may gặp Tam Kỳ Độ,

Nguyện kết vuông tròn với Pháp duyên.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

PHÁP ĐIỀU

法 條

Pháp: Luật pháp. Điều: Điều khoản, điều mục.

Pháp điều là nói những điều khoản quy định trong luật pháp.

Di Lạc Chơn Kinh có câu: Nhược hữu chúng sanh văn ngã ưng đương thoát nghiệt, niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, tùng thị Pháp điều Tam Kỳ Phổ Độ, tất đắc giải thoát luân hồi...

Khai khiếu huyền linh diệt tánh phàm,

Pháp điều khử mị dẹp tà tâm.

(Khai Pháp Giáng Bút).

 

 

PHÁP GIA

Pháp: Phép tắc. Gia: Nhà.

Pháp gia, như chữ “Gia pháp 法 家”, tức là những phép tắc cư xử trong một gia đình.

Xem: Gia pháp.

Định hương hoả, hằng ngày quý tế,

Lập pháp gia, tự kế phụng thờ.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

PHÁP GIỚI

法 界

Pháp: Chỉ tất cả các sự, các việc, các vật, các hiện tượng, dù nhỏ lớn, dù thấy được hay ẩn kín, dù hữu hình hay vô hình, tốt hay xấu, chơn hay giả... Giới: Cõi, cảnh giới, phạm vi.

Pháp giới có nhiều nghĩa, nhưng tựu trung có những nghĩa sau đây:

1.- Pháp giới là cảnh giới của Pháp, tức là cõi, cảnh.

Như: Cõi trần, cõi Thiêng liêng hằng sống, cõi Địa ngục đều là Pháp giới.

Văn chung khấu hướng huệ trưởng càn khôn,

Pháp giới chúng sanh đồng đăng bỉ ngạn.

Án Dà Ra Đế Dạ Ta Bà Ha.

(Kệ Chuông).

2.- Pháp giới là phạm vi của Pháp, bao gồm các pháp hữu vi và vô vi.

Pháp hữu vi là thể pháp, pháp vô vi là bí pháp.

Không có điều chi Chí Tôn để trong Pháp giới của Ngài trong của Đạo nầy mà không có nghĩa lý.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

3.- Pháp giới được xem như là một cơ quan tạo hoá ra vạn vật trong Càn khôn Vũ trụ.

Còn Hiệp Thiên Ðài là Pháp giới tạo ra Vạn Linh, nó là Ðạo, rõ rệt như vậy.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

4.- Pháp giới là Bí pháp huyền diệu hay pháp thuật mầu nhiệm.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Hộ Pháp đến kỳ Long Hoa nầy cốt để rước Cửu nhị ức Nguyên Nhân là bạn chí thân của Người đã bị đọa lạc nơi hồng trần không phương giải thoát, muốn rước các bạn chí thân của Bần Đạo, Đức Chí Tôn buộc phải lấy Pháp Giới tận độ chúng sanh.

Thiên phong hải chúng, quốc thới dân an, hồi hướng đàn trường, tận thâu pháp giới.

(Kệ Chuông).

5.- Pháp giới còn dùng để chỉ phạm vi pháp luật, hay nói cách khác đó là pháp luật.

Hư Vô Cao Thiên thuộc về Pháp giới cầm cả luật Thiên Ðiều.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

PHÁP HÌNH

法 刑

Pháp: Pháp luật. Hình: Chỉ hình phạt.

Pháp hình, như chữ “Hình pháp 刑 法”, tức là hình phạt bị xử theo pháp luật.

Ðau dạ ôm thương dụng pháp hình,

Ðừng vì Cha mến tởn oai linh.

(Đạo Sử).

 

 

PHÁP HOÁ TƯỚNG TÔNG

法 化 相 宗

Pháp hoá: Giáo pháp biến hoá ra. Tướng tông: Thể tướng của một Tôn giáo.

Theo kinh Tiên Giáo, “Pháp hoá tướng tông” là có ý nói giáo pháp hoá sinh ra thể tướng của một Tôn giáo, tức là Đạo Giáo.

Thực vậy, Đạo giáo trước tiên chỉ là một nền triết lý (Giáo pháp) vô vi, hay nói cách khác, là một triết lý ưa thích cái tự nhiên của Trời đất do Đức Lão Tử chủ xướng trong Đạo Đức Kinh. Về sau, thuyết vô vi của Ngài ảnh hưởng rất lớn ở Trung Hoa, các triết gia kế thừa có ông Liệt Tử đã dựa theo triết lý cao siêu của Ngài mà viết nên quyển Xung Hư Chơn Kinh. Và nhất là Trang Tử, là một nhà hùng biện, đem giáo thuyết vô vi của Ngài ra xiển dương trong quyển Nam Hoa Kinh.

Trong giai đoạn này Đạo giáo vẫn còn là triết lý, đến đời Hán, nhờ ông Trương Thiên Sư, Đạo giáo mới bắt đầu truyền bá rộng rãi trong nhơn gian. Đến đời Tấn, triết lý của các Đạo gia mới được ông Nguyễn Bá Đương chỉnh đốn lại hẳn hoi thành hệ thống một tôn giáo. Đạo giáo mới thực sự là một tôn giáo kể từ đó.

Lưu sa tây độ,

Pháp hoá tướng tông.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

PHÁP LÝ

法 理

Pháp: Pháp luật. Lý: Lẽ phải.

Pháp lý là nguyên lý của pháp luật. Như: Cơ sở pháp lý của bản hợp đồng.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bần Ðạo quả quyết trong năm nầy, nếu như tinh thần Bần Ðạo không lầm, thì nòi giống Việt Nam chúng ta sẽ được đặc ân là độc lập tự do cho tổ quốc, độc lập trên pháp lý quốc tế đó vậy.

Đòn cân pháp lý mà chênh lệch,

Câu chuyện nhơn tình khó lấp nguôi.

(Thơ Thuần Đức).

Do đơn tố tụng mở phiên toà,

Pháp lý đòn cân đạo lập ra.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

PHÁP LUÂN

法 輪

Pháp: Giáo pháp, giáo lý. Luân: Bánh xe.

Pháp luân là bánh xe pháp, tượng trưng cho giáo pháp của Phật. Bánh xe là biểu tượng cho chánh pháp được vận hành.

Pháp luân thường được diễn tả bằng một bánh xe có tám nan (căm xe), tượng cho “Bát chánh đạo”, hoặc mười hai nan, tượng trưng cho “Thập nhị nhân duyên”.

Xây máy pháp luân nguơn tái tạo,

Sấn tay vẽ đẹp mối Nam phong.

(Đức Lý Đại Tiên).

 

 

PHÁP LUÂN THƯỜNG CHUYỂN

法 輪 常 轉

Pháp luân: Bánh xe pháp, tượng trưng cho giáo pháp của Phật. Thường chuyển: Luân chuyển mãi mãi.

Pháp luân thường chuyển là bánh xe pháp quay mãi, ý nói chánh pháp của Đạo được vận hành, luân chuyển mãi mãi.

Thánh giáo Đức Lý Đại Tiên có câu: Cuộc dinh hư tiêu trưởng của thế gian là vậy đó, hiền hữu đã thấy chưa? Cuộc tấn hoá theo pháp luân thường chuyển của nhơn loại còn dài, không bờ không bến.

Hộ giá Chí Tôn trước đến giờ,

Pháp luân thường chuyển máy thiên cơ.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chín tháng giêng Đại Lễ Chí Tôn,

Pháp luân thường chuyển lý sanh tồn.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

PHÁP LUẬT

法 律

Pháp: Luật pháp. Luật: Khuôn phép dựa theo xã hội, phong tục mà đặt ra buộc dân chúng phải theo.

Pháp luật là khuôn phép mẫu mực của dân chúng.

Ngày nay, pháp luật có nghĩa là khuôn phép chính phủ đặt ra mà mọi người dân phải tuân theo, ai vi phạm sẽ bị trừng phạt.

Thánh giáo Đức Thích Ca Như Lai có dạy: Vốn từ Lục Tổ thì Phật giáo đã bị bế lại, cho nên tu hữu công mà thành thì bất thành. Chánh pháp bị nơi Thần Tú làm cho ra mất Chánh giáo, lập riêng pháp luật buộc mối đạo Thiền.

Ba lo trị thế thái bình,

Cộng chung Pháp luật Thiên Đình chí công.

(Kinh Thế Đạo).

Trên theo pháp luật Đạo Trời,

Dưới thương sanh chúng một lời đinh ninh.

(Kinh Thế Đạo).

Khai đường chánh lý độ quần linh,

Pháp luật vô tư chẳng vị tình.

(Thái Đến Thanh).

 

 

PHÁP LỰC

法 力

Pháp: Phật pháp, pháp thuật. Lực: Năng lực, sức.

Pháp lực là năng lực của Phật pháp.

Pháp lực còn có nghĩa là năng lực của pháp thuật, tức là sự thần thông của Phật pháp hay sự huyền diệu của phép thuật. Như: Pháp lực cao cường.

Linh oai chiếu diệu mình pha ngọc,

Pháp lực cao cường gót phún châu.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

PHÁP MÔN

法 門

Pháp: Giáo pháp, giáo lý. Môn: Cửa.

Pháp môn là “Cửa Pháp”, tức là cánh cửa dẫn vào vào chân lý, hay nơi đắc Đạo giải thoát.

Giáo lý bất cứ của một tôn giáo nào cũng được ví như một cái cửa mở rộng để người tu bước vào cảnh giới của giác ngộ.

Như vậy, Pháp môn là phương pháp tu tập, tức là chỉ dẫn cách tu hành để giải thoát.

Một tôn giáo có thể mở ra nhiều Pháp môn, Phật giáo thường có câu: Tám vạn bốn ngàn (84.000) pháp môn, có nghĩa là có nhiều phương pháp tu hành khác nhau.

Pháp môn cũng tức là phương tiện, vì căn tánh của chúng sanh bất đồng, nên tôn giáo phải có nhiều pháp môn để tuỳ căn cơ đối trị, nhưng tựu trung tất cả mọi pháp môn đều dẫn đến một mục đích duy nhứt là cứu cánh giải thoát.

Huyền linh mẹ chịu phần cam,

Ban cho con trẻ vẹn toàn Pháp môn.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Tánh cùng Thiên lý thông cơ Ðạo,

Mạng lịnh Thầy truyền diệu pháp môn.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

PHÁP NGHIÊM

法 嚴

Pháp: Pháp luật, hay gia pháp, tức là phép tắc trong nhà. Nghiêm: Không cho phép có sự vi phạm, gắt gao.

Pháp nghiêm là pháp luật nghiêm minh, hoặc phép tắc gia đình nghiêm ngặt.

Như: Anh ấy từ nhở lớn lên đã sống trong một gia đình pháp nghiêm.

Sự đời thấu rõ dạng hình,

Trá ngôn lánh chước gia đình pháp nghiêm.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

PHÁP NHIỆM

Pháp: Bí pháp. Nhiệm: Huyền diệu, mầu nhiệm.

Pháp nhiệm là bí pháp mầu nhiệm.

Như: Trong đạo Cao Đài cắt dây oan nghiệt là một pháp nhiệm cho người tín đồ.

Phương chi thoát khỏi luân hồi,

Chỉ nhờ pháp nhiệm phủi rồi nghiệp duyên.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

PHÁP SIÊU QUẦN THÁNH

法 超 群 聖

Pháp siêu: Pháp thuật, hay Đạo pháp vượt lên. Quần Thánh: Các bậc Thánh.

Pháp siêu quần Thánh là pháp thuật (đạo pháp) vượt lên trên các bậc Thánh.

Trong bài Kinh Tiên Giáo, có câu tán tụng Đức Thái Thượng Lão Quân: Đức hoán hư linh Pháp siêu quần Thánh 德 煥 虛 靈, 法 超 群 聖, Nghĩa là Thánh đức của Ngài sáng rực khắp cõi Hư linh. Đạo pháp của Ngài vượt trổi hơn các bậc Thánh.

Đức Thái Thượng Lão Quân mượn cái Hư linh lập Đạo, cho nên Đạo pháp của Ngài nuơng theo vô vi thanh tịnh, thuận lẽ tự nhiên của Trời đất. Vì vậy, Đạo pháp vượt trổi hơn các bậc Thánh.

Đức hoán hư linh,

Pháp siêu quần Thánh.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

PHÁP THÂN

法 身

Pháp: Pháp thuật, bí pháp. Thân: Xác thân.

Theo Phật, Pháp thân là một trong ba thân (Tam thân) của Phật: Pháp thân, Báo Thân và Ứng thân.

Pháp thân chân tánh của Phật đồng nhất với thể tánh của vũ trụ. Đồng thời Pháp thân cũng chính là giáo pháp của Phật. Pháp thân thường hằng, vô tướng, nhất nguyên. Pháp thân có nhiều tên gọi khác nhau như Pháp giới, Pháp tánh, Phật tánh, Chân như. Pháp thân biến khắp Pháp giới, là thể tánh của các pháp, thường trụ, không sinh không diệt, lấy Pháp tánh Chân như làm thân. Pháp thân ở khắp mọi nơi, là bản thể của muôn loài chúng sanh, chính là nơi chúng sanh trở về sau khi diệt hết phiền não vô minh, phát huy trí huệ sẵn có. Pháp thân do trí huệ trực chứng được.

Theo Cao Đài, Pháp thân là là xác thân thiêng liêng huyền diệu, đó là đệ nhị xác thân của con người, tức là chơn thân hay chơn thần. Những người đạt Đạo thì xác thân thiêng liêng nầy rất huyền diệu, có thể biến hoá hay đi các cõi giới.

Trong Thiêng Liêng Hằng Sống, Đức Hộ Pháp có nói về Pháp thân như sau: Bần Đạo có toả cả Chư Phật, Bần Đạo có nói hình trạng chẳng khác chi hồi trong Kim Bàn xuất hiện buổi trước, hình ảnh nó còn lờ mờ tới chừng về ngự trên Liên Đài Kim Tự Tháp thì hình ảnh trong trẻo hiển hiện hết Pháp Thân huyền bí vô biên vô tận. Tại sao? Chúng ta tìm hiểu cái triết lý nguyên do Pháp Thân ấy, buổi trong Kim Bàn xuất hiện bất quá bóng dáng mà thôi. Nhờ sanh sanh tử tử thâu đoạt Nguơn Khí tạo đặng Pháp Thân của mình với cả muôn muôn triệu triệu kiếp sanh của chúng ta, đặng đoạt cả huyền vi bí mật quyền phép tạo đoan, cho nên cái lúc đoạt được Pháp Thân rồi, tức nhiên đoạt được Phật vị vậy. Lúc đó cả huyền bí Thiêng Liêng kia, cả Tạo Đoan kia mình đã thấu đáo.

Mỗi quả kiếp mổi hành tàng,

Hiệp thiên hành Hoá vô vàn pháp thân.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

Liên Đài đỡ gót chầu cung Ngọc,

Long mã đưa đường hộ Pháp thân.

(Thơ Thái Phong).

 

 

PHÁP THUẬT

法 術

Pháp: Pháp thuật, bí pháp. Thuật: Phương pháp, phép làm một việc gì.

Pháp thuật, như chữ “Phép thuật”, là những thứ phù phép của các Đấng Thiêng Liêng, các nhà phù thuỷ, hay lũ tà ma yêu quái.

Như: Pháp thuận của các nhà phù thuỷ.

Vị giám khảo pháp thuật cao,

Chơn linh giải thoát khó vào hai nơi.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

PHÁT

1.- Phát là dơ bàn tay ra mà đánh, đập. Phát còn có nghĩa là lần đánh hay đập.

Như: Phát đen đét vào lưng, dùng roi mà đánh cho mấy phát.

Bà rút roi giả bộ theo ôm,

Đưa cán quạt cho bà đơm ít phát.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Phát là mở ra, sinh ra, hiện ra. Như: Phát minh, phát hiện, phát giác, phát huy.

Thánh giáo Thầy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Ðạo phát trễ một ngày là một ngày hại nhơn sanh. Thầy nôn nóng nhưng mà Thiên cơ chẳng nghịch đặng, nên phổ thông trắc trở.

Thánh giáo phát khai thiên thế mỹ,

Thâu hồi nhập nhứt Ðạo Kỳ Tam.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Phát là khởi đầu, bắt đầu. Như: Phát động, phát khởi, phát nguyên, phát sinh.

Thánh giáo Đức Quan Âm Như Lai có câu: Kịp đến tâm hồn bất hoà thì thất tình lục dục đều phát khởi tranh ngôi với thần lương tâm, nếu kém lực thì con người ấy duy có sanh hoạt trong vòng vật dục, chớ chẳng hề biết Thiên lý là gì?

Kính lập công to quy cựu vị,

Tặng tiền phát khởi lập căn nguyên.

(Cửu Nương Giáng Bút).

4.- Phát là nổi lên, dấy lên. Như: Phát hoả, phát phẫn, phát sầu, phát tức, lúa phát giá cao.

Chờ khi lúa phát giá cao,

Khai ra bán mắc Trời nào dung cho.

(Kinh Sám Hối).

Chồng dầu thiệt là anh ngỗng đực,

Hiếp quá chừng phát tức trổ hành hung.

(Phương Tu Đại Đạo).

5.- Phát là phân ra, cấp cho. Như: Phát chẩn, phát mại, phát hành, phát phối.

Thánh giáo Thầy trong Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu có câu: Từ đây các con sẽ cực nhọc hơn, vì Thầy phân phát phận sự cho mỗi đứa, vì chẳng vậy các con sanh nạnh nhau, giống tựa hồ chia phe phân phái, là điều đại tội trước mặt Thầy vậy, nghe à!

Sự ăn uống phát phân từ bữa,

Đến việc chơi cũng lựa cho chơi.

(Phương Tu Đại Đạo).

6.- Phát là tóc, không dùng một mình.

Như: Thí phát quy y, từ thanh xuân cho đến bạch phát (từ tuổi trẻ cho đến đầu bạc).

Tu không biểu mặc đồ dà,

Cạo râu thí phát bỏ nhà lìa con.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

PHÁT HẠ HỒNG ÂN

發 下 洪 恩

Phát hạ: Trên ban phát xuống. Hồng ân: Ơn to lớn, chỉ ơn của Chí Tôn, Phật Mẫu.

Phát hạ hồng ân là nói Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu ban phát ơn to lớn xuống cho toàn cả chúng sanh.

Ngưỡng vọng Vô Trung Từ Phụ Phát hạ hồng ân Càn Nguơn Đại Đức.

(Sớ Văn).

 

 

PHÁT HOẠ

發 畫

Phát: Mở ra, hiện ra. Hoạ: Vẽ, bản vẽ.

Phát hoạ là vẽ ra, đưa ra một chương trình làm việc hầu thu hoạch nhiều kết quả.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Thưa quý vị, chúng tôi mong rằng sau hồi sóng lặn gió êm, trời quang mây tạnh, chúng ta sẽ hiệp nhau phát hoạ một chương trình gồm cả các điều cần thiết trong lúc này để phục vụ đắc lực nhơn sanh trong cả hai phương diện vật chất và tinh thần đạo đức.

Tiên Thiên Đại Đạo là Đạo có trước Trời, vua Phục Hy theo đó mà phát hoạ Hà Đồ Tiên Thiên Bát Quái.

(Giáo Lý).

 

 

PHÁT HUY

發 揮

Phát: Mở ra. Huy: Lay động.

Phát huy là đem cái ý tứ thầm kín trong lòng mà phát biểu rộng ra cho mọi người, hay bàn nghĩa lý của một học thuyết cho lan rộng ra.

Nghĩa rộng: Làm cho cái hay, cái tốt toả tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm.

Như: Phát huy tinh thần dân chủ trong cơ quan.

Hằng Sống có lắm tông chi,

Mảng lo tế độ phát huy tinh thần.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

Thoát nạn nhờ ngũ dương bì,

Sau làm Thừa tướng phát huy nước Tần.

(Báo Ân Từ).

 

 

PHÁT KHỞI

發 起

Phát: Khởi đầu, mở ra. Khởi: Dậy.

Phát khởi là dựng lên một việc gì, tức khởi đầu phát ra hay đề nghị ra trước hết.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Chấp hai tay lạy là tại sao? Tả là nhựt, hữu là nguyệt, vị chi âm dương. Âm dương hiệp nhứt phát khởi Càn khôn, sanh sanh hoá hoá, tức là Ðạo.

Kính lập công to quy cựu vị,

Tặng tiền phát khởi lập căn nguyên.

(Cửu Nương Giáng Bút).

 

 

PHÁT LẠC

發 落

Phát: Nổi lên, phân phối. Lạc: Rơi rụng.

Phát lạc, đồng nghĩa chữ “Phát lưu 發 流”, hay “Phát phối 發 配”, là đày người bị tội đi nơi xa.

Như: Bị tội chung thân phát lạc.

Xem: Phát phối.

Ðiểm Chơn thần của nó còn phải đến hầu trước Toà Tam Giáo mà đợi lịnh phát lạc tuỳ theo công quả, tội tình của nó bấy nay.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

PHÁT NGUYỆN

發 願

Phát: Khởi đầu, nổi lên. Nguyện: Mong ước.

Phát nguyện là phát tâm lập nguyện, tức phát ra lời nguyền, hay lời mong ước.

Trong Sớ Văn dâng cúng Đức Phật Mẫu có câu: phát nguyện Quốc thể Việt Nam thịnh mãn vinh quang, hà thanh hải yến, sanh chúng an cư lạc nghiệp, phục hồi Đường Ngu chi phong hoá.

Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân thính ngã dục tu phát nguyện...

(Di Lạc Chơn Kinh).

 

 

PHÁT PHỐI

發 配

Phát: Gửi đi. Phối: Đày kẻ tội phạm.

Phát phối là đày kẻ phạm tội đi đến một nơi nào đó. Đồng nghĩa với đồ lưu.

Như: Phát phối tha bang là lưu đầy ra nước ngoài.

Xem: Đồ lưu.

Phát phối năm thu khổ đoạ đày,

Ai ngờ lại gặp buổi hôm nay.

(Thượng Phẩm Giáng Bút).

Đồ thân phát phối cầm dân mạng,

Y phục đai cân thị tử thành.

(Pierre Pasquyer Giáng).

Phát phối tha bang quyền quỷ khiến,

Phản hồi cố quốc phép trời xuôi.

(Thơ Thượng Trí Thanh).

 

 

PHÁT TÂM

發 心

Phát: Khởi lên. Tâm: Lòng.

Phát tâm là khởi lên cái tâm niệm, tức là mở ra cái lòng thiện lương hay lòng muốn tu hành.

Như: Phát tâm đầu Phật.

Thính đắc ngã ngôn, phát tâm thiện niệm,

(Di Lạc Chơn Kinh).

 

 

PHÁT TRIỂN

發 展

Phát: Bắn ra. Triển: Mở mang.

Phát triển là mở mang cho rộng lớn thêm.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Sống giữa thế kỷ nầy một nền văn minh phát triển máy móc nếu sống mà không có trường hợp tranh đấu đặng bảo vệ sanh mạng, thì thấy cái sống của con người ta khó khăn không biết thế nào, vì lẽ khó khăn ấy, trong trường hợp tranh đấu không có đủ năng lực, nên dường như con người bị đào thải ra khỏi xã hội nhơn quần.

Đạo đức nơi lòng hằng chạm để,

Tinh thần phát triển chiếu quang minh.

(Lý Đại Tiên Giáng).

Bốn phương phát triển tinh thần,

Gội nhuần võ lộ hồng ân Cao Đài.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

PHẠT

Phạt là trừng trị kẻ có lỗi, phạm tội, hoặc xuất tiền chuộc tội cũng gọi là phạt.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có dạy: Vậy, cái thưởng và cái phạt của Lão dùng điều đình Thánh giáo, nhiều khi chư hiền hữu, chư hiền muội không phương thấy lý đặng. Nên khá dè chừng, đừng vội luận nhảm bàn khùng mà mang tội thiêng liêng rất uổng, nghe!

Lòng lang độc vui cười hớn hở,

Chốn Diêm đình phạt quở trừng răn.

(Kinh Sám Hối).

Lỡ tay làm ra áo lộn hò,

Mà bị chúng phạt cho bận trái.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

PHẠT QUỲ HƯƠNG

Phạt: Trừng trị, bắt phải chịu một hình thức xử lý. Quỳ hương: Một hình phạt nhẹ trong tôn giáo.

Trong Đạo Cao Đài, nếu có người lầm lỗi, cấp trên có quyền phạt quỳ hương, tức là thắp hương quỳ trước Chánh Điện Đức Chí Tôn để cầu xin ăn năn sám hối.

Nếu phạt quỳ hương hay sám hối,

Tinh thần cảm nhận rất sâu xa.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

PHẠT QUỞ

Phạt: Trừng trị, hoặc bắt kẻ có lỗi phải chịu một hình thức xử lý nào đó. Quở: Nhận xét trực tiếp một cách nghiêm khắc lỗi của người dưới.

Phạt quở, như chữ “Quở phạt”, là mắng và phạt những người có lỗi.

Như: Thầy giáo phạt quở học sinh.

Lòng lang độc vui cười hớn hở,

Chốn Diêm đình phạt quở trừng răn.

(Kinh Sám Hối).

 

 

PHẠT VẠ

Phạt: Trừng trị. Vạ: Hoạ, hại.

Phạt vạ là bắt nộp phạt vì đã làm điều trái với tục lệ hay quy ước của làng xã thời xưa.

Phạt vạ nói chung là bắt nộp phạt.

Như: Làng phạt vạ anh ấy, chủ bắt phạt vạ bằng cách cúp lương công nhân anh ấy.

Pháp bắt Phạm Môn đem ra toà xử nào phạt vạ nào tù tội, làm cho Đạo buổi nọ...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

PHĂNG

Phăng là lần để tìm ra mối. Như: Phăng lần mối chỉ, phăng tìm ra đường mòn, hỏi để phăng ra nguồn gốc.

Phăng có thể viết “Phăn” (cũ).

Thánh giáo Thầy có câu: Mối Ðạo Thầy đưa cho các con phăng đầu hết, thì các con phải biết trách nhậm các con lớn lao, cao thượng là chừng nào!

Mua danh cột buộc lằn mưa đạn,

Chác lợi là phăng mối chỉ sầu.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

Phăng tâm dòm mảnh đoạn tràng,

Thì trong mấy khúc của nàng như ta.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

PHẲNG LẶNG

Phẳng: Bề mặt bằng, đều, không lồi lõm, nhăn nheo.

Phẳng lặng là lặng lẽ, êm ả, không xáo động.

Như: Dòng sông phẳng lặng, cuộc sống phẳng lặng cứ trôi qua.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Giữ lòng được phẳng lặng bình tĩnh để trông rõ những sự huyền diệu thiêng liêng, tức là lấy cái tâm đè nén cái khí để nuôi nấng tinh thần được cao siêu thoát tục, đó là con đường dẫn đến cơ đắc đạo.

Đạo Trời phẳng lặng im lìm,

Thấp cao nặng nhẹ, nổi chìm vốn không.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

PHẲNG PHIU

Phẳng: Bề mặt bằng, đều, không lồi lõm, nhăn nheo.

Phẳng phiu là phẳng đều cả bề mặt, nhìn thích mắt.

Như: Quần áo được ủi phẳng phiu, con đường vừa mới rải nhựa thẳng tắp, phẳng phiu.

Vô tư thõng bước chân thừa,

Phẳng phiu tuyết trắng càng ưa càng nhìn.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

PHẨM

1.- Phẩm là giá trị tốt xấu. Như: Hạ phẩm, phẩm tốt, phẩm cách, phẩm giá, người thiếu phẩm hạnh.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Nhơn phẩm nơi thế nầy lại còn chia ra phẩm giá mỗi hạng.

Phẩm cách tư phong trang tuấn kiệt,

Mầng cho đất Việt trổ Thần Tiên.

(Thượng Phẩm Giáng Bút).

2.- Phẩm là thứ bậc trong hàng quan lại, hay trong chức sắc tôn giáo. Như: Phẩm cấp, phẩm vị, giáo phẩm.

Thánh giáo Thầy có câu dạy: Thầy khuyên các con theo sau Thầy mà đến phẩm vị mình thì hay hơn tuông bờ lướt bụi, đi quanh kiếm quất, nghe à.

Vào vòng huynh đệ khá thương nhau,

Một đức trổi hơn một phẩm cao.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Đoạn căn đóng chặt Âm cung,

Toà sen chín phẩm để cùng Phật tâm.

(Nữ Trung Tùng Phận).

3.- Phẩm là bàn định, phán đoán, khen chê, không dùng một mình.

Như: Bình phẩm trong cuộc thi đua, anh ấy bị phẩm bình cái tư cách của mình.

Thấy ai nhảy mình cũng nhảy, ai múa mình cũng múa, quý vị hãy tưởng tượng thiên hạ sẽ bình phẩm mình ra sao?

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

PHẨM CÁCH

品 格

Phẩm: Cấp bực. Cách: Tư cách, lề lối.

Phẩm cách là phẩm chất con người, biểu hiện ở tư cách, vì tư cách thể hiện rõ giá trị con người. Như: Mất phẩm cách, phẩm cách đê tiện.

Lý Giáo Tông, trong Thánh Ngôn Sưu Tập có dạy: Không nên vậy, mà cũng không làm cho trái với tôn chỉ của Đạo, mở con đường mới đây là đề phòng, tập thành đàng đạo đức vào cai quản dìu dắt mối Đạo, người có phẩm cách trong bọn cũ và cải sửa bước đường của chúng nó lại, lánh xa lốt kiêu căng, lấy thế cậy quyền mà mua lòng kẻ yếu tánh.

Ðạo đức là nền làm phẩm cách,

Mượn nhành dương tịnh lửa sôi lòng.

(Đạo Sử).

Phẩm cách tư phong trang tuấn kiệt,

Mầng cho đất Việt trổ Thần Tiên.

(Thượng Phẩm Giáng Bút).

 

 

PHẨM CŨ

Phẩm: Thứ bậc của quan hoặc chức sắc. Cũ: Do chữ “Cựu” là xưa, trước.

Phẩm cũ, như chữ “Cựu phẩm 舊 品”, tức là phẩm vị xưa nơi cõi thiêng liêng.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Thầy lại thương con nên đã lắm phen lấy khảo trừ công cho con trở lại phẩm cũ, bởi một lời đã hứa với Quan Âm, Thầy mới nhứt định dành phần công quả ấy cho con.

Kế thế xây thêm nền đạo đức,

Xen vào phẩm cũ khá cần cù.

(Đạo Sử).

Hồn về phẩm cũ yên ngôi vị,

Danh để người sau mến nghĩa nhân.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

PHẨM CŨ NGÔI XƯA

Phẩm cũ: Phẩm tước trước khi đầu kiếp xuống trần. Ngôi xưa: Ngôi vị cũ nơi cõi thiêng liêng.

Phẩm cũ ngôi xưa nghĩa là phẩm tước và ngôi vị nơi cõi thiêng liêng của chơn linh trước khi đầu kiếp xuống thế gian.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có dạy: Căn xưa quả cũ đã trả vẹn thì con đường đạo đức tất là nấc thang dìu đến phẩm cũ ngôi xưa.

Vinh hoa phẩm cũ ngôi xưa đó,

Khổ cực các con chớ bỏ trường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Phẩm cũ ngôi xưa dầu rõ giá,

Từ bi tập tánh được thường quen.

(Thượng Phẩm Giáng).

 

 

PHẨM CỰU

品 舊

Phẩm: Thứ bậc của quan, chức sắc. Cựu: Xưa cũ.

Phẩm cựu, như chữ “Cựu phẩm 舊 品”, là phẩm bực cũ nơi cõi thiêng liêng, đồng nghĩa với phẩm cũ.

Xem: Phẩm cũ.

Huống lựa là mấy anh độ rỗi toàn cả Cửu nhị Nguyên nhân, thì phẩm cựu sẽ đặng trổi thêm...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

PHẨM GIÁ

品 價

Phẩm: Cấp bậc. Giá: Chỉ giá trị.

Phẩm giá là giá trị trên dưới của một con người hay một sự vật.

Thánh giáo Lý Giáo Tông dạy: Hiền hữu đã lãnh trách nhiệm nặng nề giáo hoá thì khá dạy sanh chúng biết lẽ Chánh Tà mà toan độ rỗi, còn mưu chước của Quỷ quái tinh ma là mưu của Lão để phân biệt chơn giả, vàng thau, cho phẩm giá trọng khinh.

Phẩm giá người cao sa xuống thấp,

Phải coi thời thế lánh tai ương.

(Đạo Sử).

Nghìn thu phẩm giá đời bia tạc,

Vạn đại thinh danh đạo sử truyền.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

PHẨM HÀM

品 銜

Phẩm: Thứ bậc của quan hoặc chức sắc. Hàm: Phẩm trật trong quan chế.

Phẩm hàm là cấp bậc cùng với quan hàm của một triều thần, hay một viên chức.

Trong tôn giáo Cao Đài, phẩm hàm là thứ bậc của các phẩm chức sắc. Như: Được ban cho phẩm hàm trong chức sắc đạo Cao Đài.

Nọ binh lính Tổng làng chộn rộn,

cũng lũ ngu ăn hỗn.

Mua phẩm hàm tước hộ cầu tôn,

tiền ngàn không sợ tốn.

(Ngụ Đời).

 

 

PHẨM HẠNH

品 行

Phẩm: Phẩm chất, tư cách. Hạnh: tính nết.

Phẩm hạnh là tư cách và tính nết, tức nói người có tính nết tốt, biểu hiện phẩm giá con người.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: Phần nhiều hữu công mà chưa tận chí, không vì sanh chúng giữ phẩm hạnh hoàn toàn, cho đáng nét yêu đương của Thầy đã vì các con mà bố hoá.

Có đức của rơi còn lượm lại,

Không duyên phẩm hạnh khó nâng cao.

(Đạo Sử).

 

 

PHẨM PHẬT

品 佛

Phẩm: Thứ bậc phẩm tước. Phật: Người xuất gia tu hành đã giác ngộ, có đức từ bi, quên mình để cứu độ chúng sinh.

Phẩm Phật là hàng phẩm bên Phật, dùng để chỉ quả vị Phật.

Thánh giáo Chí Tôn dạy: Chẳng lẽ ngôi Tiên phẩm Phật là địa vị tối trọng của các chơn linh mà Thầy lại đành bất công, tự nhiên đem các con mà để trên đó.

Phẩm Phật ngôi Tiên ai dẫn nẻo,

Ngai Thần vị Thánh kẻ toan dời.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

PHẨM QUYỀN

品 權

Phẩm: Hạng, chỉ phẩm trật của quan lại. Quyền: Những điều do địa vị hay chức vụ mà được làm.

Phẩm quyền là phẩm tước và quyền hành.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo của Lục Nương có đoạn: Em tỷ như ở cõi thiêng liêng, đời hằng biết danh hơn hết là Từ Hàng Bồ Tát, trước vẫn là Nam, sau hoá ra Nữ. Vậy Nữ với Nam vốn một phẩm quyền. Nam dường nào thì Nữ cũng đối quyền.

Nỗi trông hương hoả giữ bền,

Giúp cho chồng có phẩm quyền cao sang.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

PHẨM TƯỚC

品 爵

Phẩm: Thứ bậc của quan hoặc chức sắc. Tước: Chức tước, danh vị vua phong cho người có công.

Phẩm tước là cấp bậc của chức tước, tức là những thứ bậc trong quan lại hay chức sắc do vua hay Hội Thánh phong cho những người có công lao với đẩt nước hoặc trong tôn giáo.

Phẩm tước là sự tổng hợp các chức tước đã bày ra để quyến rũ người hoặc ít hoặc nhiều.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

PHẨM THÁNH

品 聖

Phẩm: Thứ bậc của quan hoặc chức sắc. Thánh: Tiếng dùng để tôn xưng, hoặc bậc Thánh.

Phẩm Thánh chỉ phẩm vị thiêng liêng, hoặc chỉ phẩm tước của bậc Thánh.

Cửa Đạo chị dầu chưa phẩm Thánh,

Trường công hồn đã rạng ngôi Thần.

(Thơ Vạn Năng).

 

 

PHẨM THIÊNG LIÊNG

Phẩm: Thứ bậc của quan hoặc chức sắc. Thiêng Liêng: Chỉ cõi Thiêng Liêng.

Phẩm Thiêng Liêng còn gọi “Thiên tước 天 爵”, là phẩm tước nơi cõi Thiêng Liêng, đó cũng là ngôi vị của người tu hành.

Cái phẩm Thiêng Liêng so phẩm tục,

Cũng như vàng thiệt với đồ xi.

(Đạo Sử).

 

 

PHẨM TRẬT

品 秩

Phẩm: Thứ bậc của quan hoặc chức sắc. Trật: Trật tự, thứ tự.

Phẩm trật là thứ bậc của phẩm tước, tức là thứ bậc cao thấp của các quan hoặc chức sắc tôn giáo.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: Các con coi đó thì đủ hiểu, các phẩm trật của các con nó nhiều là dường nào, song ấy là phẩm trật Thiên vị.

Thầy cậy mượn ai không lòng vụ tất,

Mà làm công đoạt phẩm trật mình.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

 

 

PHẨM VẬT

品 物

Phẩm: Nhiều thứ. Vật: Đồ vật.

Phẩm vật là các thứ đồ vật.

Trong Giảng Đạo Yếu Ngôn, Nguyễn Văn Kinh có viết: Phẩm vật nơi Thiên-Bàn thường có một ngọn đèn chong ở giữa, đó là Thái Cực đăng, nhứt điểm huệ đăng bất diệt, thể trên Trời là mặt Nhựt, thể dưới đất là Lửa, thể nơi người là Tánh, thể nơi Đạo là Huyền Quang nhứt khiếu; chỉ nơi Trời ở giữa gọi sao Thiên Xu (Bắc-Đẩu), chỉ nơi đất ở giữa gọi là Tu Di-Sơn, chỉ nơi người ở giữa gọi Linh Quang nhứt điểm.

Ðời sống đến giai đoạn khó khăn hơn nữa, những phẩm vật nuôi sống loài người càng giảm bớt thì nhân loại còn quyết liệt chiến đấu hơn nữa.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

PHẨM VỊ

品 位

Phẩm: Thứ bậc của quan hoặc chức sắc. Vị: Địa vị, ngôi vị.

Phẩm vị là phẩm tước và địa vị.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy: Phẩm vị Tiên, Phật để thưởng cho kẻ lành mới đáng phẩm vị, chớ chẳng phải của để treo tham cho thế gian phòng toan đạt đặng.

Mau miệng khuyên rằng đừng quá lễ,

Hễ cao phẩm vị giữ cao nghi.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Cầu nguyện chơn linh thăng phẩm vị,

Thung dung Cực Lạc hưởng ân Thiên.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

PHÂN

1.- Phân là chất cặn bã do người hoặc loài vật bài tiết ra, dùng để bón vào đất để dinh dưỡng cây trồng.

Như: Phân bắc, độn rơm mục vào phân bò, ủ phân gà với phân hoá học.

Phân mắc rẻ lòng đừng sợ tốn,

Bỏ cho nhiều ruộng trộn cho đều.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Phân là chia ra, tách ra thành phần riêng biệt, từ một chỉnh thể. Như: Thành phố phân ra nhiều khu, con sông phân ra hai tỉnh.

Thánh giáo Chí Tôn có dạy: Cả môn đệ Thầy duy có biết một chớ không biết hai. Kẻ nào cưu tâm chia phe phân phái là đứa thù nghịch của Thầy.

Cũng con cũng cái đồng môn đệ,

Bụng muốn phân chia, hỏi bởi ai?

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Hễ đặng bữa cày, buông bữa giỗ,

Phân thân đâu đặng hưởng hai bên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Phân là bày tỏ, tách bạch, cãi, giải thích việc đúng sai, phải trái.

Như: Phân giải, việc đã qua rồi phân trần làm gì, đừng có phân bua nữa.

Thầy phân chánh lý cho con hiểu,

Kẻ vụ thâu đa chẳng thoát phàm.

(Đạo Sử).

Trước có căn duyên ở ngọc cung,

Cầu con nên phải đến phân cùng.

(Thiên Hậu Giáng Bút).

4.- Phân do nghĩa chữ “Phân biệt” nói tắt. Như: Không phân phải trái, chưa phân thắng bại.

Thánh giáo Thầy có câu: Thơ, con phải khai rộng Thánh Thất cho chúng sanh cầu đạo, đừng phân sang hèn, ai ai đều cũng con Thầy.

Vạn sự nên hư vốn tại mình,

Chẳng phân lẽ trọng với lời khinh.

(Đạo Sử).

Đừng phân tình cha ghét mẹ thương,

Nếu cha mẹ ghét tiêu xương ra cát đất.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

PHÂN BÀO

分 袍

Phân: Chia. Bào: Cái áo.

Phân bào nghĩa là chia vạt áo, ý nói khi từ giã nhau mỗi người chia cách mỗi nơi.

Phân bào kẻ ở người đi,

Nhớ nhau kỷ niệm nên ghi vào lòng.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

PHÂN BÌ

Phân: Tỏ bày. Bì: Tính toán hơn thua chi ly với nhau.

Phân bì là so sánh có ý ganh tỵ.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Trí Huệ Cung bên Phạm Môn tạo tác đây là nhà tu của nữ phái, giờ phút này Bần Đạo mới nói thiệt tại sao làm nhà tu cho Phái Nữ trước. Đáng lẽ Bần Đạo phải làm cho Phái Nam trước trên Sơn Đình mới phải chớ. Nhưng, nếu Bần Đạo làm cho Phái Nam trước rồi họ sẽ bỏ Phái Nữ không làm. Bần Đạo làm cho Phái Nữ trước đặng họ phân bì, dầu Bần Đạo có quy thì họ cũng cố tâm làm cho nên việc.

Của cải đầy đồng không biết hết,

Cứ ngồi xó ró kiếm phân bì.

(Đạo Sử).

 

 

PHÂN BIỆN

分 辨

Phân: Bày tỏ tách bạch. Biện: Tranh luận điều phải trái, xem xét cho rõ.

Phân biện là chia riêng ra mà xem xét mà bàn luận cho rõ ràng.

Thánh giáo Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn có dạy: Chư vị Chức sắc Thiên phong xin nghe Bần Đạo phân biện phận sự trọng yếu khó khăn của Bần Đạo hầu sống với chức trách của mỗi người, may ra cũng hiểu riêng phận mình, hầu làm cho thêm danh giá cao trọng của Hội Thánh, tức là của Đạo vậy.

Phải phân biện sao hư sao phải,

Gương tích xưa để lại kiếm cho coi.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

PHÂN BIỆT

分 別

Phân: Chia ra, tách ra. Biệt: Rời, lìa.

Phân biệt là chia khác nhau ra.

Phân biệt là nhận biết được sự khác nhau căn cứ vào đặc điểm tính chất. Phân biệt coi là khác nhau để có sự đối xử không như nhau.

Thánh giáo Thầy có dạy: Các con đủ hiểu rằng, phàm muôn việc chi cũng có thiệt và cũng có dối. Nếu không có thiệt thì làm sao biết đặng dối; còn không có dối, làm sao phân biệt cho có thiệt.

Mê tỉnh chuông khua phân biệt tiếng,

Rừng thiền nô nức loán mùi hương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Phải phân biệt hay hay, dở dở,

Đặng toan phương thế đỡ nâng người.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

PHÂN CHIA

Phân: Chia ra. Chia: Làm thành từng phần, từ một chỉnh thể.

1.- Phân chia là từ một chỉnh thể (gốc) mà chia ra thành nhiều phần, nhiều phái, nhiều chi.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy: Mỗi đứa đã tự mở một con đường, thì Thầy vẫn không vui được trong sự phân chia. Nên hay là hư, phải hay là quấy, Thầy chỉn để cho tâm các con liệu lấy.

Có hiệp đem đường nẻo mới thông,

Phân chia cội Ðạo uổng vun trồng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Phân chia còn có nghĩa là làm cho hai bên chia tay, xa cách nhau.

Như: Phân chia vợ chồng người là có tội, gây phân chia anh em ruột thịt.

Lại còn có tánh tình hiểm độc,

Xúi phân chia thân tộc ruột rà.

(Kinh Sám Hối).

 

 

PHÂN ĐỊNH

分 定

Phân: Chia ra. Định: Xếp đặt.

Phân định là chia ra để xếp đặt, tức là định riêng từng công việc.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, lời thề của hai vị Đầu Sư Thượng Trung Nhựt và Ngọc Lịch Nguyệt như sau: Thề Hoàng Thiên Hậu Thổ trước bửu pháp Ngũ Lôi rằng làm trọn Thiên đạo mà dìu dắt cả mấy em chúng tôi đều là môn đệ của Cao Ðài Ngọc Ðế, nhứt nhứt do lịnh Thầy phân định, chẳng dám chuyên quyền mà lập thành tả đạo, như ngày sau hữu tội thì thề có Ngũ Lôi tru diệt.

Luật Trời phân định hai đàng,

Dữ răn lành thưởng rõ ràng không sai.

(Thơ Thông Quang).

 

 

PHÂN ĐỒNG

分 同

Phân: Chia ra. Đồng: Đồng đều, bằng nhau.

Phân đồng là phân chia đồng đều, tức chia ra những phần bằng nhau.

Như: Tài sản phân đồng cho hai con.

Công với quả phân đồng tiền kiếp,

Đạo ấy nguồn ráng hiệp tinh anh.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

PHÂN GIẢI

分 解

Phân: Chia ra. Giải: Phân tách, trình bày cho rõ.

Phân giải là giải thích cho thấy rõ đúng sai, phải trái, lợi hại của vấn đề.

Phân giải còn có nghĩa là trình bày rõ từng phần cho sáng tỏ của vấn đề.

Thánh giáo Đức Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có đoạn dạy: Thầy tìm phương sửa cải cũng đáng đó chút. Nhưng cũng bởi chư Thần, Thánh, Tiên, Phật muốn cho rõ cơ Ðạo của thế gian nầy, nên Thầy không giáng cơ mà phân giải lại nữa.

Về đường đời bổn đạo có xích mích nhau, cũng phải đến cho người làm đầu trong Họ phân giải.

(Tân Luật).

 

 

PHÂN MINH

分 明

Phân: Chia ra. Minh: Rõ rệt.

Phân minh là chia ra từng phần nhỏ một cách rõ ràng, rành mạch.

Tiết Hiếu Từ Tiên Sinh có câu: Tài thượng phân minh thị trượng phu 財 上 分 明 是 丈 夫, nghĩa là trên việc tiền bạc phải rành rẽ phân minh ấy là kẻ trượng phu.

Đức Lý Giáo Tông có dạy: Nếu Lão ép lòng cầm quyền thưởng phạt phân minh là có ý muốn giá trị của chư hiền hữu thêm cao trọng nữa.

Trên Điện Ngọc Vua Trời ngự giáng,

Trước Đền vàng phán đoán phân minh.

(Xưng Tụng Công Đức).

Ðâu là phước tội phải phân minh,

Biết tội phước kia phải xét mình.

(Đạo Sử).

Ðưa khách thuyền Tiên ngừa trước ngõ,

Phân minh tội phước khá nên dành.

(Đạo Sử).

 

 

PHÂN PHÁT

分 發

Phân: Chia ra. Phát: Cấp cho.

Phân phát là chia phát cho nhiều người, hoặc chia ra từng phần rồi phát cho nhiều người, nhiều nơi.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Cái sống của cả chúng sanh, Thầy phân phát khắp Càn khôn Thế giới, chẳng khác nào như một nhành hoa trong cội, nó phải đủ ngày giờ Thầy nhứt định mới trổ bông và sanh trái đặng trồng nữa, biến hoá ra thêm.

Nắm chặt quyền phân phát cơm áo thì chưa ai đã chịu thọ sanh nơi thế nầy lánh khỏi.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

PHÂN PHIỀN

Phân: Chia ra, tỏ bày sự việc. Phiền: Buồn bực.

Phân phiền là bày tỏ sự buồn phiền.

Hộ Pháp có để lời phân phiền cùng Thầy...

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

PHÂN QUYỀN

分 權

Phân: Chia. Quyền: Quyền hành, cái thế lực có thể định đoạt được mọi công việc.

Phân quyền là phân chia quyền hành, chứ không tập trung. Phân quyền còn có thể hiểu chia quyền hành ra cho rõ ràng để khi làm việc không đẫm chân nhau.

Đức Lý Giáo Tông có dạy: Vậy thì Hộ Pháp và cả Hiệp Thiên Đài hiệp công cùng Lão mà Thánh giáo của Thầy, đừng phân quyền sanh rối loạn nữa nghe.

Chánh Phối Sư Nữ Phái, hành chánh về nữ, Nam Nữ phân quyền.

(Bát Đạo Nghị Định).

 

 

PHÂN RÀNH

Phân: Tỏ bày. Rành: Rành rẽ, rõ ràng.

Phân rành là tỏ bày rõ ràng, tức là giải thích một cách cặn kẽ, phân minh.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Lý có dạy: Lão muốn cho hiền hữu phải chịu nhọc mà phân rành về việc ấy cho chư đạo hữu. Lão để ý nghe!

Phép thọ khổ thiệt là rất khó,

Đấng thiêng liêng chỉ rõ phân rành.

(Thượng Phẩm Giáng Bút).

 

 

PHÂN RẼ

Phân: Chia ra. Rẽ: Chia hai ra, tách đôi ra.

Phân rẽ, như chữ “Chia rẽ”, là làm cho phải xa nhau, mỗi người một nơi, cách biệt hẳn.

Phân rẽ còn có nghĩa là làm cho mâu thuẫn với nhau, mất sự thống nhất, đoàn kết nhất trí.

Nhớ thuở sum vầy tâm hiệp một,

Trông chừ phân rẽ trí chia hai.

(Thơ Thông quang).

 

 

PHÂN TÁNH GIÁNG SANH

Hay “Phân tính giáng sinh”.

Phân: Chia ra. Tính (Tánh): Một thực thể sẵn có nơi mọi chúng sinh. Giáng sinh (Sanh): Sanh xuống cõi trần làm người.

Phân tánh giáng sanh, như chữ “Phân tính giáng sinh 分 性 降 生”, là chia hay chiết cái thể tánh của các Đấng Thiêng liêng để giáng xuống cõi trần, hay nói một cách khác là giáng chơn linh xuống đầu thai nơi cõi trần.

Đối với các Đấng Phật Tiên, tánh là một thể Thiêng liêng, nên gọi là Thiên tánh hay Phật tánh. Tánh là thể tự nhiên sẵn có, vốn rộng lớn trong sáng, tràn đầy lòng thương yêu (từ bi), và sự hiểu biết chân thật (Trí huệ). Thể tánh của chúng sanh cũng đồng với Phật Tiên, nhưng vì chúng sanh bị vô minh, mê mờ nên không thấy được tánh.

Kinh Pháp Hoa có câu: “Nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật tánh 一 切 眾 生 皆 有 佛 性”. Vì thế Phật giáo cho rằng: Phật là chúng sanh đã được giác ngộ, còn chúng sanh là Phật chưa giác ngộ, hay nói cách khác, chúng sanh là Phật sẽ thành. Còn Thánh giáo Cao Đài cũng dạy rằng: “Thầy là các con, các con là Thầy”.

Tánh của các bậc Đại giác tức là bản lai tự tánh, cũng là cái bản lai diện mục. Nói khác đi là cái Linh quang hay Chơn linh.

Thánh giáo Thầy có dạy: Thầy lại phân tánh Thầy mà sanh ra vạn vật là: Vật chất, Thảo mộc, Côn trùng, Thú cầm, gọi là Chúng sanh

Nhị ngoạt thập ngũ,

Phân tánh giáng sanh.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

PHÂN TÂM

分 心

Phân: Chia ra. Tâm: Cái tâm, lòng dạ.

Phân tâm là cái tâm bị chia cắt, vì lo nghĩ nhiều việc cùng một lúc, nên không thể tạp trung được.

Phân tâm còn có thể hiểu không cùng một tâm ý.

Thánh giáo Đức Hộ Pháp dạy: Qua thương các em bao nhiêu thì nơi Ngọc Hư Cung lại buộc tội các em bấy nhiêu. Qua rất đau khổ vì sự ly tán phân tâm chia rẽ của các em mà ra nông nỗi.

Phân tâm hay Phân tâm học còn là một môn học nghiên cứu phương pháp phân tích tâm lý để tìm nguyên nhân những kỷ niệm, những ước muốn, hình ảnh lắng dồn trong tiềm thức có thể làm cho sinh ra những bấn loạn tâm thần hoặc sinh lý. Chỉ khi nào được đưa trở về ý thức thì những bấn loạn ấy mới tiêu tan.

Chia rẽ phân tâm thành bạc nhược,

Hiệp hoà chung trí thắng can qua.

(Giáo Lý).

 

 

PHÂN TƯỜNG

分 詳

Phân: Chia ra, tách ra thành các phần riêng biệt. Tường: Hiểu rõ.

Phân tường là phân giải, bày tỏ tỏ cho rõ biết. Như: Phân tường mọi lẽ thiệt hơn.

Trong tám tiếng phân tường giai cấp,

Giọng Cung Thương cao thấp tuỳ nhau.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

Bút Bần Đạo ngưng khoan viết nữa,

Đặng phân tường có chửa dạy con.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

PHÂN THÂY

Phân: Chia ra. Thây: Xác thân của người đã chết.

Phân thây là phân chia thi thể thành nhiều phần, nhiều mảnh.

Trong luật hình ngày xưa, có án xử phạm nhơn chịu tội phân thây.

Bầy chó dữ mang xiềng chạy đại,

Thấy tội nhơn xúm lại phân thây.

(Kinh Sám Hối).

 

 

PHÂN THÂN

分 身

Phân: Chia, chia ra. Thân: Hình thể.

1.- Phân thân là chia thân hình ra làm hai, ý muốn nói một con người đâu thể làm hai việc cùng một lúc.

Như: Không thể phân thân để làm hai công việc.

Hễ đặng bữa cày, buông bữa giỗ,

Phân thân đâu đặng hưởng hai bên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Phân thân có dùng để chỉ pháp thuật biến một người thành hai thân hoặc nhiều thân.

Phép phân thân là một pháp thuật thần thông có thể chia thân thể của mình để hiện diện trong nhiều nơi cùng một lúc. Bởi chư Phật Tiên dìu dắt và cứu giúp chúng sinh trong khắp mười phương thế giới, nên phải dùng phép phân thân để hiện ra khắp mọi nơi.

Buồn vì chưa đạt phép thần thông,

Dụng thế phân thân hiệp đại đồng.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

PHÂN TRẦN

分 陳

Phân: Chia ra. Trần: Bày ra, bày tỏ.

Phân trần là chia ra từng điều, từng khoản, theo từng thứ mà tỏ bày, ý muốn nói bày tỏ cặn kẽ để người khác hiểu và thông cảm với mình.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông trong Thánh Ngôn Sưu Tập có câu: Nay vì đã gần liễu kết, dầu cho còn xảy ra tai nạn cho nhơn sanh chút ít chẳng hại gì, nên Lão đến phân trần đôi điều hơn thiệt.

Trong trần thế phân chi xấu tốt,

Tốt xấu cùng chú dốt khó phân trần.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

PHÂN ƯU

分 憂

Phân: Chia ra. Ưu: Lo lắng.

Phân ưu là tỏ lời chia buồn với tang gia hiếu quyến của người chết.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông dạy về lễ tang của hàng Thánh Tử Đạo có đoạn: Hàng phẩm Thánh Tử Đạo không phân Chức sắc, vì có phần trọng hơn, nghĩa là phẩm nào cũng được cả. Lão ban ơn cho toàn thể chư vị Chức sắc và toàn đạo và cũng tỏ lời phân ưu cùng Hội Thánh và tang gia.

Văn đàn ghi nhớ ơn dìu dắt,

Toàn Đạo phân ưu dạ cảm hoài.

(Thơ Mai Ngọc Nhiễu).

 

 

PHÂN VÂN

紛 紜

Phân: Bối rối. Vân: Rối loạn.

Phân vân là chần chờ, bối rối, tức là nghi ngờ sự việc mà không thể quyết định.

Thánh giáo Thầy dạy: Xưa đã lắm phen nhơn sanh phải khổ tâm hy sinh vì nền Ðạo, nhưng mà tàn lối ngưỡng trông rồi thì phân vân dời đổi, tang biến thương dồn, rốt cuộc lại mối thân ái của sanh linh chưa vầy hiệp đặng.

Ðòi lúc phân vân đời vẫn thế,

Màng chi miệng độc để chê khen.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cuộc sống với đời còn bận bịu,

Tấm lòng vì Đạo chẳng phân vân.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

PHÂN XỬ

分 處

Phân: Chia ra, tỏ bày tách bạch. Xử: Quyết đoán.

Phân xử là phân rõ phải trái để quyết định một vụ xích mích hay tranh chấp.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Chức sắc đặng ngồi ngai riêng của mỗi đứa là lúc nào có hội Toà Tam Giáo phân xử các Đạo hữu của chúng nó mà thôi.

Kỳ dư xảy ra với các cơ quan trong nền Chánh Trị Đạo, thì buộc phải giải ra Toà Đạo phân xử.

(Đạo Luật Mậu Dần).

 

 

PHẤN

1.- Phấn là thứ bột rất nhỏ và mịn, dùng làm trang sức cho phụ nữ.

Như: Phấn thơm, phấn hồng giồi mặt, môi son má phấn, da trắng nhờ thoa phấn.

Phấn trước đã phai tình nghĩa trước,

Hương sau còn phất đức tài sau.

(Bát Nương Giáng Bút).

Nấu kinh sử ra mùi son phấn,

Cầm bút nghiên đặng thắm má đào.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Phấn là dậy lên, hăng lên.

Như: Phấn đấu, phấn khởi, làm ăn ngày càng phấn phát, lòng thấy phấn chấn.

Siêng cần dầu phải dãi dầu,

Phấn tâm lập chí mới hầu nên thân.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

PHẤN CHẤN

奮 震

Phấn: Gắng sức làm việc. Chấn: Rung động.

Phấn chấn là lòng hăng hái, lòng phấn phát.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Thầy vì đó mà cải dẫn bước đường của các con, não phiền thành vui vẻ, đường gai góc hoá ra nẻo êm đềm, lo lắng phải ra tươi cười, mỏi mòn thành phấn chấn.

Buổi đến chung năm lòng phấn chấn,

Khi về riêng một dạ bồi hồi.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

PHẤN CHÍ

奮 志

Phấn: Gắng sức. Chí: Ý chí, chí khí.

Phấn chí là phấn phát ý chí hay chí khí để tiến lên, tức là nổi dậy lòng hăng hái, phấn khởi.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có câu: Thầy khuyên các con phải chung lưng đâu cật mà bước đến cảnh nhàn. Cảnh ấy, tuy các con không thể thấy đặng, nhưng mà các con có thể đến đặng, là ngày nào các con rõ đặng lẽ Ðạo mà Thầy đã đem chỉ cho tận nơi, nếu các con phấn chí về Ðạo thì ngày đạt mục đích ấy cũng chẳng xa chi.

Rèn lòng giữ chặt tròn năm nối,

Phấn chí vẫy vùng khắp bốn phang.

(Thơ Thái Đến Thanh).

Vui lòng kẻ ở miền Nam bộ,

Phấn chí người đi xứ Bắc tông.

(Thơ Thông Quang).

 

 

PHẤN ĐẠI

粉 黛

Phấn: Một loại bột dùng thoa mặt. Đại: Chất đen làm bằng vỏ ốc, đàn bà dùng để kẻ lông mày.

Phấn đại, cùng nghĩa với chữ “Son phấn”, chỉ vật trang điểm của phụ nữ.

Thành ngữ Hán Việt có câu: “Phấn bạch đại lục”, nghĩa là phấn trắng mực xanh, là thứ trang sức của đàn bà con gái dùng để đánh mặt, vẽ lông mày.

Phấn đại, nghĩa bóng: Chỉ người đàn bà con gái.

Ấm lạnh dốc tròn gương phấn đại,

Vui buồn chưa vẹn nỗi hàn huyên.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

PHẤN ĐẤU

奮 鬥

Phấn: Gắng sức. Đấu: Tranh đua.

Phấn đấu là hết sức tranh nhau hơn thua.

Phấn đấu còn có nghĩa là cố gắng và bền lòng, để quyết tâm đạt cho được mục đích.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ðối với một sắc dân nào còn lạc hậu thì không khi nào định quyền năng được, để tự trong tâm lý họ biến ra mà thôi, họ phấn đấu tương tàn tiêu diệt với nhau mà chớ.

Trên đường đời gió bụi, con người phải phấn đấu gay go để làm xong nghĩa vụ đối với gia đình và xã hội.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

PHẤN HƯƠNG

粉 香

Phấn: Phấn thoa mặt. Hương: Mùi thơm.

1.- Phấn hương là phấn và hương thơm, dùng để chỉ vật trang sức của phụ nữ.

Phấn hương còn dùng để chỉ thân phận của người đàn bà con gái.

Nghĩ con chút phận phấn hương,

Dám đâu ra chốn công đường to gan.

(Thơ NĐS Hương Thanh).

2.- Phấn hương, như chữ “Hương phấn 香 粉”, là son phấn, những thứ đồ vật trang điểm của phụ nữ.

Phấn hương còn dùng với nghĩa “Buôn phấn bán hương”, tức là chỉ gái làng chơi.

Lánh buồn lại lạc lối bi,

Rẻ duyên kim cải, đem bì phấn hương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

PHẤN KHỞI

奮 起

Phấn: Ra sức mạnh mẽ. Khởi: Dậy.

Phấn khởi là nổi dậy một cách mạnh mẽ. Phấn khởi còn nghĩa lòng phấn chấn.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Năm Đinh Dậu hầu mãn, Xuân Mậu Tuất sắp đến, ngày tháng như thoi đưa, không mấy hôm nữa chúng ta sẽ bước qua mùa xuân vui tươi đẹp đẽ, để cho đời và Đạo phấn khởi trên đường tiến triển về hình thức lẫn tinh thần.

Đã ghe phen phấn khởi can qua,

Thuộc địa trách ai nhượng nghiệp nhà.

(Lê Văn Duyệt Giáng).

Trông cảnh sắc thi nhân phấn khởi,

Móc ruột gan ca ngợi thiên nhiên.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

PHẤN LỢT HƯƠNG TÀN

Phấn hương: Vật trang sức, dùng để chỉ sắc đẹp của người phụ nữ. Lợt tàn: Cũng như lợt phai hay tàn phai, chỉ sự xuống cấp của nhan sắc.

Phấn lợt hương tàn là nói nhan sắc tàn phai.

Chừng cơn phấn lợt hương tàn,

Núm mồ bạc mệnh bên đàng cỏ chôn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

PHẤN SÁP

Phấn: Một loại bột mịn dùng để thoa da mặt cho đẹp. Sáp: Một chất mềm, dẽo dùng để trang điểm mặt.

Phấn sáp là hai thứ chất dùng để trang điểm cho phụ nữ. Nghĩa bóng làm đẹp, tô điểm.

Bỏ quách tám nghề duyên phấn sáp,

Giữ tròn năm giới thú rau tương.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

PHẤN SON

Phấn: Bột trắng mịn, dùng để thoa mặt. Son: Sáp dùng để thoa môi.

Phấn son là vật trang điểm của phụ nữ: Phấn dùng để dặm mặt, son dùng để thoa môi, chỉ vật trang điểm.

Nghĩa bóng: Phấn son chỉ người đàn bà con gái.

Xưa từng làm tướng cầm quân,

Nay quen với khách hồng quần phấn son.

(Lục Nương Giáng Bút).

Thương gìn lúc ốm khi đau,

Sợ chê xấu phận, cậy màu phấn son.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Hễ thấy họ phấn son thơ thới,

Mình lại dâng cho tới dầu thơm.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

PHẤN TÂM

奮 心

Phấn: Gắng sức. Tâm: Lòng.

Phấn tâm là lòng phấn khởi, hăng hái.

Đạo Luật Năm Mậu Dần có câu: làm thế nào cho Chúng sanh đặng kết chặt dải đồng tâm, tương thân hoà ái cùng nhau, hầu nâng đỡ cho nhau đặng phấn tâm lo Đạo, chẳng để sót một ai phải bất bình vì một việc chi mà phải khổ tâm thối bước...

Phấn tâm bách thế tu Nhơn đạo,

Tửu hạnh tuỳ phương đắc Hớn thi.

(Đạo Sử).

Siêng cần dầu phải dãi dầu,

Phấn tâm lập chí mới hầu nên thân.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

PHẦN

1.- Phần là số trong toàn thể chia ra. Như: Bài văn chia làm ba phần, bệnh mười phần bớt bảy, một phần người, phần nhiều.

Thánh giáo Đức Thích Ca Mâu Ni có câu dạy: Chúng sanh là toàn cả nhơn loại chớ không phải lựa chọn một phần người, như ý phàm tục các con tính rỗi.

Chánh tà đôi nẻo tua tầm chước,

Hư thiệt muôn phần gắng định phương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Phần là nói cái gì thuộc về một người nào. Như: Lỗi ấy về phần anh phải chịu, phần thưởng của nó.

Dạy về cơ bút, Thánh giáo Thầy có câu: Còn chấp bút, khi Thầy đến thì làm cho thần con bất định một lát, cho thần xuất ra nghe Thầy dạy, còn tay con tuân theo mà viết. Ấy là một phần của con, một phần của Thầy hiệp nhứt, mới thấu đáo Càn khôn, tinh thông vạn vật đặng.

Mạnh yếu rồi đây yếu được phần,

Ðược phần máy Tạo khéo cầm cân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Mưu được phần mình thì tổn đức,

Của tiền dầu chất há an vui?

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Phần, do chữ “Phận 分”, chỉ số phận, thân phận, hay số mạng.

Như: Số phần anh ta đã hết, tuỳ phước phần của cô ấy, thiếu duyên phần khó gặp đạo.

Tranh đua đã quá nửa đời người,

Thử hỏi phước phần được mấy mươi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

PHẦN ĐÔNG

Phần: Số trong toàn thể chia ra. Đông: Nhiều người, số đông, đa số.

Phần đông là số lượng không xác định, nhưng rõ ràng là đa số trong một tập hợp người.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Thời nay, quý vị thử nhìn quanh sân khấu đời coi những nhân vật hoạt động chính trị có bao nhiêu người vì nước, vì dân, biết lo quốc kế dân sinh, mưu cầu hạnh phúc cho đồng bào. Hay là phần đông chỉ là những kẻ tay sai cho thế lực kim tiền?

Con đã thấy và hiểu những điều mà phần đông đồng bào của con đang tìm hiểu.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

PHẦN HƯƠNG

焚 香

Phần: Đốt cháy. Hương: Nhang.

Phần hương là đốt nhang để cúng Trời Phật.

Phần hương cũng là một câu xướng trong nghi tiết cúng lễ. Khi lễ sĩ xướng “Phần hương” thì người quỳ ở ngoại nghi đốt nhang, trầm rồi trao lại cho cắp Lễ Sĩ điện lên nội nghi.

Phần hương.

(Nghi Tiết Cúng Lễ).

 

 

PHẦN LỚN

Phần: Số trong toàn thể chia ra. Lớn: To, nhiều.

Phần lớn là số lượng không xác định, nhưng rõ ràng là một số lớn trong tổng số.

Trong quyển Giáo Lý Ngài Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có viết: Vậy chúng sanh sở dĩ siêu hay đoạ là tại Chơn thần một phần lớn.

Vì cớ nên Công Giáo làm chủ tinh thần một phần lớn nhơn loại là đáng lắm vậy.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

PHẦN NHIỀU

Phần: Số trong toàn thể chia ra. Nhiều: Đông, lắm, trái với ít.

Phần nhiều, như chữ “Phần lớn”, ý chỉ số nhiều, số đông, hay đại đa số.

Thánh giáo Thầy có câu dạy: Hại thay! Lũ quỷ là phần nhiều. Nó bày bố ra mỗi nơi một giả cuộc mà dỗ dành các con.

Rủi để bước cửa công là khó,

Phần nhiều xem dễ khó tại nơi bà.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

PHẦN PHƯỚC

Phần: Số phận, số mạng. Phước (phúc): Điều may mắn tốt lành.

Phần phước, như chữ “Phước phần 福 分”, số phận và phước đức, tức là phần số của mỗi người do phước đức định đoạt.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Hễ mình học, dầu giỏi hay dở mà tới ngày thi, tức nhiên là ngày điểm bài vở của chúng ta, dầu cho biết chắc mình đủ tài khoa mục, có đủ phần phước đậu đặng, nhưng bây giờ cũng lo ngại hồi hộp mà thôi.

Cân công quả sẽ vì phần phước mà định buổi chung quy cho mỗi đứa.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

PHẦN THI KHANH NHO

Hay “Phần thư khanh Nho”.

Phần thi (thư): Đốt sách. Khanh Nho: Chôn sống các học trò học chữ Nho.

Phần thi khanh Nho, như chữ “Phần thư khanh Nho 焚 書 坑 儒”, là đốt sách chôn Nho sĩ.

Thời nhà Tần, các Nho sĩ thường kích bác chính sách nhà Tần, và muốn thống nhứt tư tưởng, nên vua Tần Thuỷ Hoàng ra lịnh chôn sống và đốt sách các Nho sĩ, vì vậy lịch sử thường gọi là “phần thư khanh nho 焚 書 坑 儒”.

Ðến đổi nhà Tần tàn bạo không xiết kể, phần thi khanh Nho mà Ðạo Nho cũng loan truyền khắp hoàn cầu.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

PHẦN THƯ

焚 書

Phần: Đốt. Thư: Sách.

Phần thư là đốt sách.

Do tích: Muốn thống nhứt tư tưởng nhà Tần theo lời đề nghị của Thừa Tướng Lý Tư, nhân các Nho sĩ thường kích bác chính sách nhà Tần, nên vua Tần Thuỷ Hoàng ra lịnh thu thập hết sách vở của bách gia chư tử truyền cho đốt sạch tất cả, người đương thời gọi là “Phần thư”.

Nếu một mai thời cuộc lại biến thiên, có thể các cuộc “Phần Thư” lại diễn...

(Lời Trần Thuyết).

 

 

PHẦN THƯỞNG

Phần: Cái gì thuộc về một người nào. Thưởng: Cho tiền của, chức tước đối với người có công.

Phần thưởng là vật tặng để thưởng người có công lao, hay thành tích. Như: Phát phần thưởng cho học sinh.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Sự thác cũng có khi vui mà cũng có lúc buồn. Người thế nếu biết sống, nghĩa là biết dụng mình cho có ích vào xã hội, biết dưỡng tánh tu thân, thì sự thác chẳng qua là sự mong mỏi của kẻ hành trình đã xong trách nhậm, trở về phục sự đặng lãnh phần thưởng xứng đáng mà thôi.

Cuộc danh lợi là phần thưởng quý,

Đấng Hoá Công xét kỹ ban ơn.

(Kinh Sám Hối).

Từ bi bác ái trăm phần thưởng,

Chánh trực công bình vạn sự an.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

PHẨN

Phẩn là phân của người hoặc các loài động vật.

Như: Phẩn người, phẩn lỏng của gia súc, thị tiền tài như phẩn thổ.

Ao rộng lớn chứa đầy huyết phẩn,

Xô người vào, lội lặn nhờm thay!

(Kinh Sám Hối).

Rước thầy chữa bịnh thung đường,

Nếm phẩn thấy ngọt thế thường bịnh nguy.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

PHẪN UẤT

憤 鬱

Phẫn: Bực tức. Uất: Bí, tức.

Phẫn uất là căm giận và uất ức đến cao độ.

Như: Phẫn uất trước hành động phản bội, hắn gào thét lên vì phẫn uất.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Sống trong cảnh bất đồng biểu sao họ không phẫn uất, không thù hận kiếp sanh, trong kiếp sanh ấy họ thù hận mà không biết ai đặng trả cái thù hận ấy.

Điều đụng chạm xem thường pháp luật,

Việc đau thương phẫn uất trong lòng.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

PHẪN NỘ

憤 怒

Phẫn: Bực tức. Nộ: Giận.

Phẫn nộ là căm giận đến mức có những biểu hiện mạnh mẽ, không kềm giữ được.

Như: Phẫn nộ trước những hành động thiếu đạo đức.

Qua yêu cầu đừng để cho Đức Chí Tôn buồn lòng và Lý Đại Tiên phẫn nộ.

(Thánh Giáo Quyền Giáo Tông).

 

 

PHẬN

1.- Phận là phần riêng thuộc về chỗ nào, hoặc người nào. Như: Địa phận, bổn phận, chức phận.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Ðạo Thầy tức là các con, các con tức là Thầy. Phải làm cho nhau đặng thế lực, đừng ganh gổ nghe! Các con giữ phận làm tuỳ ý Thầy muốn, ngày kia sẽ rõ thấu ý muốn của Thầy.

Mày râu đã đủ phận cùng người,

Biết Ðạo thì con chớ dể ngươi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chữ hiếu phải lo vẹn phận người,

Sanh thành đạo trọng há đâu chơi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Phận do chữ “Thân phận” nói tắt, chỉ về số hệ, số mạng. Như: Phận bạc, phận nghèo, phận hèn, tủi phận.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Bị hàng phẩm Nhơn tước phải phù hạp với hàng phẩm Thiên tước, đáng lẽ Thầy cũng nên cho các con chịu số phận bần hàn mà không nỡ, nên ngày nay mới có kẻ như vậy.

Mình dặn lấy mình, mình lại biết,

Mặc ai chung hưởng phận cao sang.

(Đạo Sử).

Ðong đầy đức cả hoá kho vàng,

Ðừng thấy phận nghèo chiếp miệng than.

(Đạo Sử).

 

 

PHẬN BẠC

Phận: Số phần. Bạc: Mỏng.

Phận bạc, bởi chữ “Bạc phận 薄 分”, là số phận mỏng manh, tức số phần gặp những điều khổ sở, vất vả, không được may mắn.

Bạc là mỏng, nhưng trong văn chương người ta lại thường ví chữ bạc là màu trắng nên nói: Bạc như vôi.

Âm Dương cách bóng sớm trưa,

Thon von phận bạc không vừa hiếu thân.

(Kinh Thế Đạo).

Quý sang mặc kẻ võng dù riêng,

Phận bạc lo cho hết kiếp khiên.

(Đạo Sử).

Phận sao phận bạc như vôi,

Nước lưng đáy gáo, hương trôi dòng là.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

PHẬN ĐẠO

Phận: Địa phận, một vùng đất. Đạo: Tôn giáo.

Phận Đạo là một phạm vi hành chánh của đạo Cao Đài ở Châu Thành Thánh Địa, thuộc Toà Thánh Tây Ninh. Tất cả các Phận Đạo về hành chánh đều trực thuộc Khâm Thành Thánh Địa.

Phận Đạo do một vị Lễ Sanh cầm quyền hành chánh, gọi là Đầu Phận Đạo.

Trong đạo Cao Đài nền tảng hành chánh Đạo ở nơi Ấp và Hương đạo, rồi kế đến Tộc đạo hay Phận đạo.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

PHẬN LIỄU

分 柳

Phận: Số phần. Liễu: Loại cây yếu đuối mỏng mành, thường ví với người phụ nữ.

Phận liễu là số phận yếu đuối, mỏng mành của người đàn bà con gái.

Đố ai chen lấn đặng phần,

Liễu theo phận liễu lỡ làng vì ai.

(Ngũ Nương Giáng Bút).

Phận liễu trao về trang mặc khách,

Nhà lan cười đón nét thanh tân.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

PHẬN LIỄU BỒ

Phận: Số phần. Liễu bồ: Cây liễu và cỏ bồ, hai loại cây yếu đuối và mỏng mành, thường ví với người phụ nữ mềm yếu.

Phận liễu bồ, như chữ “Phận liễu 分 柳”, dùng để chỉ số phận người con gái yếu đuối.

Xem: Phận liễu.

Hễ người mạnh thì hay cậy sức,

Phận liễu bồ lấy lực mưu mô.

(Phương Tu Đại Đạo).

Giềng mối giữ an phận liễu bồ,

Dặm ngàn xa phải chịu thân cô.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

PHẬN LIỄU MAI

Phận: Số phần. Liễu mai: Cây liễu và cây mai, hai loài cây mỏng mành, dùng để chỉ đàn bà con gái.

Phận liễu mai, như chữ “Phận liễu 分 柳”, là thân phận của người phụ nữ yếu đuối.

Xem: Phận liễu.

Phận liễu mai phải mang kiếp hồng trần,

Thầy lắm lúc bâng khuâng thương trẻ dại.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

 

 

PHẬN NGA MY

Phận: Phần chịu nhận lấy. Nga my 蛾 眉: Lông mài phụ nữ đẹp giống như con ngài tằm, chỉ người phụ nữ.

Phận nga my là nói phận sự của người đàn bà, con gái đẹp.

Trau dồi cho xứng phận nga my,

Tấn thối riêng lo kịp thế thì.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

PHẬN SỰ

分 事

Phận: Phần phải nhận lấy. Sự: Việc.

Phận sự là công việc nằm trong phần của mình, tức thuộc trách nhiệm của mình.

Thánh Ngôn Thầy có dạy: Phải thường hỏi lấy mình, khi đem mình vào lạy Thầy buổi tối, coi phận sự ngày ấy đã xong chưa, mà lương tâm có điều chi cắn rứt chăng?

Đặng xong phận sự mọi bề,

Tâm tu lại vững chẳng hề lãng xao.

(Kinh Thế Đạo).

Lãnh chức Lễ Sanh lo phận sự,

Ngày sau chức trọng sẽ dành ban.

(Đạo Sử).

 

 

PHẬN TIỆN TỲ

分 賤 婢

Phận: Thân phận, số phận. Tiện tỳ 賤 婢: Người đầy tớ gái hèn kém.

Phận tiện tỳ là thân phận như là một con đầy tớ gái hèn hạ, xấu xa.

Đừng xem ra phận tiện tỳ,

Quyền trong nội trợ cũng bì đồng nhau.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

PHẬP PHỒNG

Phập phồng, như chữ “Phấp phỏng”, là ở trạng thái không yên lòng vì đang có điều phải lo sợ, mong đợi.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Vì làm giàu với những hành động bất chánh nên họ vẫn cứ phập phồng lo sợ không biết cơ mưu sẽ bại lộ ngày nào.

Muốn cách mặt xứ xa định bạn,

Đừng để già những mảng phập phồng lo.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

PHẤT

1.- Phất là dán phủ lên để tạo thành hình vật gì đó.

Như: Phất diều, cây quạt nầy phất lên một tờ giấy màu, lo phất đèn lồng cho kịp ngày trung thu.

Mua vải dùm em để phất diều,

Treo văn trước mõ mới là kêu.

(Bát Nương Giáng Bút).

2.- Phất là phe phẩy, đưa lên cao và làm cho chuyển động qua lại.

Như: Cờ bay phất phới, tà áo dài phất trước gió, phất tay tạm biệt bạn, gió phất cành lá dao động.

Đạo hư vô, Sư hư vô,

Reo chuông thoát tục, phất cờ tuyệt sinh.

(Kinh Thế Đạo).

Gió phất thoảng đưa hồn tử sĩ,

Súng gào nhặt bước gót chinh phu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

3.- Phất, nghĩa bóng chỉ bộ đi vật vờ, lang thang, không nhất định là đi đâu.

Như: Đi phất phơ ngoài đường xá, ngồi để tâm hồn phưởng phất nơi đâu.

Có hình thể xương thịt mà chơn hồn phưởng phất nơi xa, thì cái thân vô dụng ấy trơ trơ như khối đá dựa đường, như khúc cây bên trũng.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

PHẤT CHỦ

拂 麈

Phất: Quét. Chủ: Một giống thú thuộc loài nai, như con hươu mà to, lúc đi đàn hươu theo sau, đuôi nó phẩy sạch bụi, ngày xưa thường dùng làm cái phất trần; vì thế nên có khi gọi cái phất trần là chủ vĩ 麈 尾.

Phất chủ, còn gọi phất trần, là một thứ vật dụng gồm có cây cán ở đầu có chùm đuôi lông, dùng để phủi bụi hoặc đuổi ruồi muỗi.

Phất chủ hay “Phất trần”, còn là một bửu bối rất huyền diệu của Đức Thái Thượng Lão Quân, nên các Tiên gia thường có cầm cây phất chủ.

Chính vì vậy, Đạo Cao Đài mượn cây Phất chủ làm cổ pháp để chỉ Tiên giáo.

Xuân Thu định vững ngôi lương tể,

Phất chủ quét tan lũ nịnh thần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Một kẻ Tiểu đồng phò Phất chủ,

Ðôi nàng Tiên nữ quạt hương trầm.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

PHẤT PHƠ

Phất: Phe phẩy, đưa lên cao và làm cho chuyển động qua lại.

Phất phơ bay đi bay lại, tức chỉ vật mỏng và nhẹ chuyển động qua lại nhẹ nhàng theo làn gió.

Phất phơ còn có nghĩa là lang thang không mục đích hay đi vật vờ không nhất định là đi đâu.

Phất phơ đưa phướn diệu huyền,

Trông vơi thấy khách cửu tuyền rậm chơn.

(Lục Nương Giáng Bút).

Rạng nẻo phất phơ tà áo trắng,

Mịt cành chúm chím đoá mai vàng.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

PHẤT PHỚI

Phất phơi, như chữ “Phấp phới”, là nói vật có hình mỏng (cờ) bay lật qua lật lại trước gió một cách nhẹ nhàng.

Như: Cờ bay phất phới trước gió, cánh diều bay phất phới trên bầu trời cao.

Đạo kỳ phất phới giăng Sân lễ,

Hương khói thơm tho ngát Điện tiền.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

PHẤT TRẦN

拂 塵

Phất: Quét. Trần: Bụi bặm.

Phất trần, như chữ “Phất chủ”, là một vật dùng để quét bụi của các vị Tiên, được làm từ lông đuôi con chủ.

Phất trần cũng như phất chủ là một bửu bối rất huyền diệu của các Tiên gia.

Chính Đức Thái Thượng Lão Quân thường cầm cây Phất trần, nên trong Đạo Cao Đài chọn cây Phất trần làm cổ pháp, tượng trưng cho Tiên giáo.

Xem: Phất chủ.

Tiên phong phủi ngọn phất trần,

Liên đài đỡ gót đến gần Tây phương.

(Kinh Thế Đạo).

Ngước trông níu ngọn phất trần,

Chổi Tiên quét sạch nợ nần oan gia.

(Kinh Thế Đạo).

Phất trần đưa sẵn bền tay níu,

Cửa tịnh đã đành phận náu nương.

(Đạo Sử).

 

 

PHẬT

Phật do chữ Phạn là “Buddha”, Hán phiên âm là Phật, Việt phiên âm là Bụt.

Theo Phạn ngữ, chữ Budh là một động từ có nghĩa là thức dậy, thức tỉnh, giác ngộ, hiểu biết.

Như vậy, Phật là người giác ngộ, người tỉnh thức, người sáng suốt hoàn toàn, thấy được chân tướng vũ trụ và cuộc đời, vượt thoát hết mọi khổ đau.

Tóm lại, Phật là danh từ chung để tôn xưng những bậc giác ngộ có đầy đủ ba đức: Tự giác, Giác tha và Giác hạnh viên mãn.

Ngán thay cái kiếp con người,

Thôi đành bến Phạm kiếm lời Phật răn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

PHẬT CỐT TIÊN DUYÊN

Phật cốt 佛 骨: Cốt cách như Phật. Tiên duyên: Dáng vẻ như Tiên.

Phật cốt Tiên duyên cũng như câu “Tiên phong Phật cốt 仙 風 佛 骨”, là chỉ phẩm cách cao thượng, ví như có phong thái như Tiên, cốt cách như Phật.

Rỡ ràng Phật cốt Tiên duyên,

Nước Cam Lồ rửa sạch thuyền độ nhân.

(Kinh Tận Độ).

 

 

PHẬT DUYÊN

佛 緣

Phật: Đức Phật. Duyên: Mối dây ràng buộc từ trước.

Phật duyên là có mối nhân duyên với Phật. Trong kinh sách Cao Đài thì phải hiểu là có mối duyên với nền Đại Đạo.

Thật vậy, trong hằng hà sa số kiếp luân hồi sanh tử, chúng ta có duyên may mới gặp được thời kỳ Đại Ân xá của Đức Chí Tôn, nhứt là gặp được thời kỳ mà Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, vị sáng tạo ra Càn Khôn Vũ Trụ và vạn vật, dùng huyền diệu cơ bút dẫn dắt các vị Thiên sứ mở ra nền Đại Đạo để tận độ chúng sanh thoát khỏi luân hồi, đưa các chơn linh trở về ngôi xưa vị cũ. Đây có thể nói là rất may duyên mới gặp được.

Đức Lý Đại Tiên có cho biết như sau: “Mở một mối Đạo chẳng phải là sự thường tình, mà sinh nhằm đời đặng gặp mối Đạo cũng chẳng dễ”.

Tam Kỳ khai hiệp Thiên thi,

Khoa môn Tiên vị ngộ kỳ Phật duyên.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

Vô hư quy phục nhơn sanh khí,

Tạo vạn cổ đàn chiếu Phật duyên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

PHẬT DƯỢT KIẾP KHIÊN

Phật: Đức Phật. Dượt (duyệt): Tức là khảo duyệt 考 閲, nghĩa là thử thách để đánh giá trị cao hay thấp. Kiếp khiên 劫 愆: Những tội lỗi đã gây ra trong kiếp sống trước nơi cõi thế gian.

Phật dượt kiếp khiên là Đức Phật duyệt xét những tội tình của chúng sanh ở kiếp sống, hầu chọn lựa người đậu rớt trong trường thi công quả.

Trong thời Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn lập ra một trường thi công quả để tuyển phong ngôi vị Tiên, Phật và Đức Di Lạc Vương Bồ Tát làm chánh chủ khảo để khảo dượt mà chọn người tài đức vào Hội Long Hoa.

Thâu các Đạo hữu hình làm một,

Trường thi Tiên, Phật dượt kiếp khiên.

(Kinh Tận Độ).

 

 

PHẬT ĐÀI

佛 臺

Phật: Chỉ Đức Phật. Đài: Nơi xây cất cao.

Thường muốn thờ đức Phật, người ta phải xây một cái đài cao để dựng tượng Phật trên đó.

Nếu đài xây trong chùa thì gọi là điện Phật, nếu đài xây ngoài chùa thì gọi là “Phật đài”.

Phật đài cũng là bàn thờ Phật.

Trêu trăng hằng thói dấu mày,

Cợt mây tranh chức Phật đài thêm hoa.

(Bài Thài Bát Nương).

 

 

PHẬT GIẢ VÔ NGÔN

佛 者 無 言

Phật: Chỉ Đức Phật. Giả: Ấy là. Vô ngôn: Không nói, không có lời nói.

Phật giả vô ngôn tức là Phật không có nói.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Chí Tôn dạy: Từ trước, Ta giáng sanh lập Phật giáo gần sáu ngàn năm thì Phật đạo chánh truyền gần thay đổi. Ta hằng nghe chúng sanh nói “Phật giả vô ngôn”! Nay nhứt định lấy huyền diệu mà giáo đạo, chớ không giáng sanh nữa, đặng chuyển Phật giáo lại cho hoàn toàn.

Dường nầy, từ đây chư chúng sanh chẳng tu bị đoạ A Tỳ thì hết lời nói rằng: “Phật tông vô giáo 佛 宗 無 教” mà chối tội nữa.

Thấy nơi chùa dâng hương bái tạ,

Lại nói rằng Phật giả vô ngôn.

(Lược Thuật Toà Thánh).

Lập đạo khuyến tu sao chối bỏ,

Đổ thừa rằng Phật giả vô ngôn.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

PHẬT GIÁO

佛 教

Phật: Người giác ngộ, người tỉnh thức, người sáng suốt hoàn toàn, thấy được chân tướng vũ trụ và cuộc đời, vượt thoát hết mọi khổ đau. Giáo: Tôn giáo, dạy.

1.- Phật giáo là đạo Phật, một nền tôn giáo do Đức Thích Ca Mâu Ni sáng lập vào thế kỷ thứ sáu, thứ năm trước công nguyên và chính Ngài làm giáo chủ.

Thích Ca Mâu Ni truyền bá đạo Phật vào thời Nhị Kỳ Phổ Độ, trước đây, vào Nhứt Kỳ Phổ Độ thì đã có Đức Nhiên Đăng Cổ Phật mở đạo rồi.

Phật giáo được truyền bá rộng rãi ở các nước Á Đông, phái Tiểu thừa đi qua vùng Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện và Capuchia; phái Đại thừa được truyền bá tại Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam

Vốn từ Lục Tổ thì Phật giáo đã bị bế lại, cho nên tu hữu công mà thành thì bất thành.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

2. Phật giáo là giáo lý của Đức Phật, tức là những lời dạy của Đức Phật, gom lại thành một giáo pháp có hệ thống để dạy đỗ nhơn sanh tự ngộ, tự giác để tự cứu mình ra khỏi vòng phiền não khổ đau.

Cốt lõi giáo lý của Đức Phật dựa trên sự chứng ngộ lúc Ngài thành đạo là Tứ Diệu Đế. Đó là bốn chân lý để cắt đứt những sự trói buộc con người vào vòng luân hồi, hầu vượt thoát khỏi con đường sinh tử.

Lập chùa chiền Phật giáo kệ kinh,

Thay tăng chúng khai minh đường đạo hạnh.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

Gầy nền Phật giáo noi chơn tánh,

Dìu khách phàm gian thoát ái hà.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

PHẬT GIÁO TÂM KINH

佛 教 心 經

Phật Giáo Tâm Kinh là một bài kinh xưng tụng công đức Nhiên Đăng Cổ Phật của Đạo Cao Đài, nên còn được gọi là “Nhiên Đăng Cổ Phật chí tâm quy mạng lễ 燃 燈 古 佛 志 心 皈 命 禮”, nghĩa là hết lòng kính lạy quy y Đức Nhiên Đăng Cổ Phật.

Nhiên Đăng Cổ Phật là một vị Phật của đời quá khứ, nên được gọi là Cổ Phật. Đức Nhiên Đăng Cổ Phật còn được gọi là Định Quang Phật 定 光 佛, vị Phật đã sống vô lượng kiếp trước thời đại chúng ta. Đó là vị Phật đầu tiên và quan trọng nhất trong các vị Phật có trước Đức Thích Ca Mâu Ni. (Xem: Nhiên Đăng Cổ Phật).

Sau đây là nội dung bài “Phật Giáo Tâm Kinh, tức là bài kinh xưng tụng công đức của Nhiên Đăng Cổ Phật.

- Hỗn Độn Tôn Sư. Càn Khôn Chủ Tể.

Trong thời kỳ hỗn độn, trời đất còn mờ mờ mịt mịt, chưa phân định Âm dương, chưa xuất hiện ngôi Thái cực thì khắp không gian, vũ trụ chỉ có một khí Hư vô mà thôi. Chính trong thời kỳ nầy, Đức Nhiên Đăng đã ra đời, Ngài là một bậc Thầy tôn kính (Tôn sư), và làm chúa tể Càn khôn Vũ trụ.

- Quy Thế giái ư nhứt khí chi trung. Ốc trần huờn ư song thủ chi nội:

Ngài đã gom thế giới vào trong một chữ khí (khí Hư vô) và nắm chặt cõi trần hườn trong hai bàn tay.

- Huệ đăng bất diệt, chiếu Tam thập lục Thiên chi quang minh.

Đèn huệ của Ngài cháy mãi, không bao giờ tắt, soi ba mươi sáu (36) tầng Trời sáng rực rỡ.

- Đạo Pháp trường lưu, khai cửu thập nhị Tào chi mê muội.

Đạo pháp của Ngài như dòng nước chảy hoài, không bao giờ cạn, không bao giờ ngưng, mở mang thông suốt chín mươi hai ức nguyên nhân còn đang mê muội nơi cõi trần.

- Đạo cao vô cực. Giáo xiển hư linh.

Đạo pháp của Ngài cao không cùng tận. Ngài đã lập giáo dạy lẽ hư vô mầu nhiệm của Đạo pháp.

- Thổ khí thành hồng, nhi nhứt trụ xang thiên.

Ngài đã hà hơi thành cái móng ví như cây trụ chống giữ bầu trời.

- Hoá kiếm thành xích, nhi tam phân thác địa.

Ngài lại biến cây gươm thành cây thước và lấy ba phân để giữ yên đất đai cho vững vàng, không bị rúng động.

- Công tham Thái Cực, phá nhứt khiếu chi huyền quan.

Ôi! Phật pháp thật vô biên, công lao thật vĩ đại! Công lao đó có thể sánh cùng Thái cực (Trời đất), mở thông một lỗ khiếu Huyền quan trong thân thể người ta để hiệp với Trời.

- Tánh hiệp vô vi, thống Tam Tài chi bí chỉ.

Đức tánh của Ngài hợp với vô vi, tóm hết cả ý nhiệm mầu của Tam tài Thiên, Địa, Nhân về một mối.

- Đa thi huệ trạch. Vô lượng độ nhân.

Ngài đã ban ơn không biết bao lần, nhiều như trời mưa gội nhuần trăm họ. Cò n công đức cứu độ nhân gian của Ngài thì không thể lượng được.

- Đại bi, đại nguyện,Đại Thánh, đại từ.

Lòng thương của Ngài, lời nguyện của Ngài, Thánh đức của Ngài và lòng từ bi của Ngài thật là lớn lao.

- Tiên thiên chánh đạo, Nhiên Đăng Cổ Phật, vô vi xiển giáo Thiên tôn.

Chánh đạo của Ngài có từ thuở Tiên thiên, đã được mở ra để dạy đạo vô vi, một nền đạo cao cả, bao la rộng lớn, Ngài chính là vị Phật Nhiên Đăng, thời thượng cổ, một bậc Đại Thiên tôn.

 

Thành kỉnh tụng Phật Giáo Tâm Kinh.

(Nghi Tiết Cúng Lễ).

 

 

PHẬT HƯƠNG

佛 鄉

Phật: Đức Phật. Hương: Làng, quê hương.

Phật hương là quê hương của Đức Phật, chỉ cõi thiêng liêng của Đức Phật.

Phật hương đồng nghĩa với chữ “Phật quốc 佛 國”.

Pháp tu Đại Đạo có ba đường:

Cửu phẩm Thần Tiên tới Phật hương.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

PHẬT LUẬT

佛 律

Phật: Người giác ngộ, người tỉnh thức, người sáng suốt hoàn toàn, thấy được chân tướng vũ trụ và cuộc đời, vượt thoát hết mọi khổ đau. Luật: Khuôn phép được định ra để người ta theo.

Phật luật là pháp luật của Phật giáo, tức phép tắc của Phật đặt ra để mọi người tu theo Phật phải giữ gìn.

Thần minh đâu nỡ trừng người chánh,

Phật luật bao đành phạt kẻ tu.

(Thơ Thái Bộ Thanh).

 

 

PHẬT MẪU

佛 母

Phật Mẫu là một Đấng Thiên Hậu, Mẹ thiêng liêng của toàn cả vạn linh, có công tạo hoá và dạy dỗ tất cả con cái của Ngài để trở về ngôi vị cũ.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: “Khi chưa có chi trong Càn khôn Thế giới thì Khí Hư Vô sanh ra có một Thầy và ngôi của Thầy là Thái cực. Thầy phân Thái cực ra Lưỡng nghi, Lưỡng nghi phân ra Tứ tượng, Tứ tượng biến Bát quái, Bát quái biến hoá vô cùng mới lập ra Càn khôn Thế giới”.

Theo ý Thánh giáo trên, thì khi Thầy ngự ngôi Thái cực, Thái cực mới sinh ra Lưỡng nghi là Dương quang và Âm quang. Đức Chí Tôn chưởng quản khí Dương quang, còn khí Âm quang thì Đức Ngài hoá thân ra Đức Phật Mẫu để chưởng quản Âm quang.

Như vậy, Đức Phật Mẫu là một hoá thân đầu tiên của Đức Chí Tôn để làm chủ Âm quang. Sau đó Đức Phật Mẫu mới dùng khí sanh quang của ngôi Thái cực, rồi đem khí Âm quang phối hợp với khí Dương quang để tạo hoá Càn khôn Vũ trụ và Vạn vật.

Do đó triết lý đạo Cao Đài cho rằng toàn cả chúng sanh trong Càn khôn Vũ trụ hay toàn cả Vạn linh đều là con cái Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu, nên phải thờ phụng hai Đấng ấy. Tôn thờ Đức Chí Tôn là tôn thờ Ngôi Dương, Ngôi thứ nhứt, là vị Thiên Đế ngự tại Ngọc Hư Cung, Linh Tiêu Điện, còn Ngôi Âm là Đức Phật Mẫu, Ngôi thứ nhì, là vị Thiên Hậu ngự tại Diêu Trì Cung, ở từng Trời Tạo Hoá Thiên, là từng Trời thứ chín trong Cửu Trùng Thiên.

Trong Thuyết Đạo, Đức Hộ Pháp có nói rằng: ...Khi mở Ðạo Cao Ðài Chí Tôn định cho Phật Mẫu đến làm bạn với chúng ta, bảo trọng nuôi nấng dạy dỗ chúng ta, thì không có ân đức nào bằng, vì không ai biết thương con hơn là Mẹ.

Vì cái ân đức đó mà người tín đồ đạo Cao Đài cũng như những người thuộc tín ngưỡng nhân gian hay các tôn giáo khác đều có lòng sùng tín Đức Phật Mẫu, là có công lao tạo hoá và dạy dỗ Vạn linh, nên tất cả đều phụng thờ Ngài bằng nhiều Thánh danh khác nhau, kể ra như sau:

- Mẹ sanh Mẹ độ.

- Mẹ Thiêng Liêng.

- Địa Mẫu.

A.- CÁC THÁNH HIỆU ĐỨC PHẬT MẪU

Trong tôn giáo Cao Đài, Đức Phật Mẫu được tôn xưng bằng nhiều Thánh danh như sau:

1.- Tây Vương Mẫu.

Theo sách Hán cổ sử, vị Tiên Đông Phương Sóc cho vua Hán Võ Đế biết là Bà Tây Vương Mẫu có một vườn Đào tiên gọi là Bàn Đào, có trái nếu ăn được một quả thì sẽ sống đời đời. Nhưng cây Bàn Đào của Bà Tây Vương Mẫu ba ngàn năm mới nở hoa, ba ngàn năm nữa mới kết quả.

Thánh hiệu nầy của Đức Phật Mẫu trong đạo Cao Đài, bài Kinh Đệ Nhứt Cửu có đoạn viết:

Tây Vương Mẫu vườn Đào ướm chín,

Chén trường sanh có lịnh ngự ban.

Tiệc hồng đã dọn sẵn sàng,

Chơn Thần khá đến hội hàng chư linh.

2- Cửu Thiên Huyền Nữ.

Cửu Thiên Huyền Nữ còn gọi Cửu Thiên Nương Nương là một Thánh hiệu của Đức Phật Mẫu được nhơn loại biết đến từ thời Thượng cổ, tức đời vua Hiên Viên Huỳnh Đế bên Trung Hoa. Thánh hiệu nầy trong đạo Cao Đài cũng dùng để tôn xưng Đức Phật Mẫu. Chính trong bài thài Đức Phật Mẫu trong Hội Yến Diêu Trì Cung có khoán thủ bốn chữ “Cửu Thiên Huyền Nữ” như sau:

 

Cửu kiếp Hiên Viên thọ sắc Thiên,

 

九 刼 軒 轅 受 敕 天

 

Thiên Thiên cửu phẩm đắc cao huyền.

 

天 天 九 品 得 高 玄

 

Huyền hư tác thế Thần Tiên Nữ,

 

玄 虚 作 世 神 仙 女

 

Nữ hảo thiện căn đoạt Cửu Thiên.

 

女 好 善 根 奪 九 天

Nghĩa là:

Kiếp thứ chín vào thời vua Hiên Viên, Đức Phật Mẫu thọ sắc lịnh của Đức Chí Tôn giáng trần.

Nơi cõi Thiên, các Đấng trong Cửu phẩm Thần Tiên đều cao siêu và huyền diệu.

Ngài là Đấng huyền diệu nơi cõi Hư vô đã tạo ra các cõi thế gian và các Đấng Nữ Thần Tiên.

Người phụ nữ nào có tâm tốt và có căn lành thì đoạt được ngôi vị trên Cửu Trùng Thiên.

Thánh danh nầy do tích như sau:

Sách Sử Ký có chép: Sau đời vua Thần Nông, các bộ lạc đều nổi dậy, hùng cứ khắp mọi nơi. Trong đó có một bộ lạc hùng mạnh nhứt mà vị thủ lãnh là Xuy Vưu, muốn làm bá chủ nên đem binh thôn tính các bộ lạc khác.

Các bộ lạc liền liên kết nhau, tôn vị Hữu Hùng Thị làm thủ lãnh để chống lại với Xuy Vưu. Sau nhiều trận đánh, quân Hữu Hùng Thị bị vây chặt tại Trác Lộc, mà nơi đây thường có sương mù phủ dày đặc, nên khó nhận định được phương hướng để đánh giải vây.

Trong lúc nguy nan, Bà Cửu Thiên Huyền Nữ hiện ra dạy Hữu Hùng Thị chế ra xe chỉ Nam, có bộ phận chỉ rõ hướng Nam. để phân định phương hướng mà tiến binh. Nhờ xe nầy chỉ hướng, mà Hữu Hùng Thị từ trong đánh ra bất ngờ, bắt sống được thủ lãnh Xuy Vưu giết chết.

Dân chúng các bộ lạc đều vui mừng tôn Hữu Hùng Thị lên ngôi lấy hiệu là Huỳnh Đế (Hoàng Đế). Nguyên Hữu Hùng Thị được sanh tại gò Hiên Viên, nên người ta còn gọi là Hiên Viên Huỳnh Đế.

3.- Kim Bàn Phật Mẫu.

Theo sách Ngọc Lộ Kim Bàn, Kim Bàn (Kim Bồn) là một cái mâm vàng Thiêng liêng nơi Diêu Trì Cung mà Đức Phật Mẫu dùng để chứa các nguyên chất.

Khi Trời đất đã được hình thành, Phật Mẫu mới đem Chơn tánh phân ra một hột. Từ một hột đó, Ngài mới thổi hơi chân khí biến thành một trăm ức Linh căn Chân tánh (tức Nguyên nhân), rồi Ngài đem chứa trong Kim Bàn (Kim Bồn), nói một cách khác, Kim Bàn là nơi chứa các bậc Nguyên nhân.

Chính trong bài Kinh Đệ Cửu Cửu, Đức Diêu Trì Kim Mẫu có giải thích như sau:

Nơi Kim Bồn (Bàn) vàn vàn nguơn chất,

Tạo hình hài các bậc nguyên nhân.

Như vậy, Kim Bàn Phật Mẫu là Thánh hiệu khác của Đức Phật Mẫu mà trong Di Lạc Chơn Kinh có đoạn viết: Tạo Hoá Huyền Thiên hữu: Quảng Sanh Phật, Dưỡng Dục Phật, Chưởng Hậu Phật, Thủ Luân Phật, dữ Cửu Vị Nữ Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, tùng lịnh Kim Bàn Phật Mẫu năng tạo, năng hoá Vạn linh, năng du Ta Bà Thế giái dưỡng dục quần sanh quy nguyên Phật vị.

4.- Kim Mẫu.

Kim Mẫu là tiếng nói tắt của danh hiệu “Kim Bàn Phật Mẫu”, nghĩa là Đức Phật Mẫu chưởng quản Kim Bàn (Kim Bồn), là nơi chứa các nguyên chất để tạo ra chơn Thần cho vạn linh.

Trong Kinh Tán Tụng Công Đức Diêu Trì Kim Mẫu có câu:

Riêng thương Kim Mẫu khóc thầm,

Biển trần thấy trẻ lạc lầm bấy lâu.

5.- Diêu Trì Kim Mẫu.

Diêu Trì, còn đọc “Dao Trì 瑤 池”, là một cái ao làm bằng ngọc quý, đẹp. Ao Diêu Trì nằm nơi Cung ngự của Đức Phật Mẫu, nên Cung này được gọi là Diêu Trì Cung.

Đức Phật Mẫu ngự tại Diêu Trì Cung nên người ta gọi Ngài là “Diêu Trì Kim Mẫu” hay “Phật Mẫu Diêu Trì”. Đây là một Thánh hiệu được chúng sanh hoặc các kinh sách trong đạo Cao Đài dùng nhiều nhứt để chỉ về Đức Phật Mẫu.

Thánh danh nầy được viết bằng chữ Nho để thờ Ngài ở các Điện Thờ Phật Mẫu địa phương. Ngoài ra, để cầu nguyện về Ngài, chúng sanh thường xưng tụng: “Nam Mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn 南 無 瑤 池 金 母無 極 天 尊”.

Trong bài Kinh Tán Tụng Công Đức Diêu Trì Kim Mẫu có câu:

Lưỡng nghi phân khí hư vô,

Diêu Trì Kim Mẫu nung lò hoá sanh.

Và Phật Mẫu Chơn Kinh cũng viết:

Tạo Hoá Thiên Huyền vi Thiên Hậu,

Chưởng Kim Bàn Phật Mẫu Diêu Trì.

B.- THỜ PHƯỢNG ĐỨC PHẬT MẪU

Hiện nay Đền Thờ Phật Mẫu của đạo Cao Đài ở trung ương chưa được xây dựng, nên còn đặt tạm tại Báo Ân Từ trong Nội ô Toà Thánh Tây Ninh.

Chánh điện thờ Đức Phật Mẫu tại Báo Ân Từ được Đức Hộ Pháp cho đắp hình theo tích “Hớn Rước Diêu Trì” trong hai câu “Kinh Khi Về” như sau:

Nhẫng nhớ bước động Đào buổi trước,

Nhẫng nhớ khi “Hớn rước Diêu Trì”.

Hớn rước Diêu Trì có nghĩa là Vua Hớn Võ Đế tiếp rước Đức Diêu Trì Kim Mẫu. Do Điển tích như sau:

Trong ngày lễ khánh thọ, vua Võ Đế nhà Hớn có cất một toà Hoa Điện và có sở nguyện muốn cầu Đức Diêu Trì Kim Mẫu đến chứng lễ. Thời đó có vị Tiên là Đông Phương Sóc biết được ý nhà vua, nên Ông tình nguyện đến triều bái Phật Mẫu để tỏ mọi điều. Phật Mẫu hẹn đêm Trung thu sẽ giáng lâm xuống Hoa Điện, là ngôi đền do vua Võ Đế lập ra.

Vào nửa đêm Trung thu, bỗng có chim thanh loan bay đậu trước sân, ông Đông Phương Sóc cho biết đó là tin của Đức Phật Mẫu sắp đến, rồi sau đó Đức Diêu Trì Kim Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương cũng giáng lâm xuống Hoa Điện và ban cho vua Vũ Đế bốn quả Đào Tiên.

Do sự tích này, ở chánh điện Báo Ân Từ tại Toà Thánh Tây Ninh, có hình ngôi Hoa Điện, trên có Đức Phật Mẫu, bốn vị Ngọc nữ theo hầu và Cửu Vị Tiên Nương cỡi chim thanh loan, đứng bên có Đông Phương Sóc đang tiếp rước Phật Mẫu. Trước sân Hoa Điện là Đức Thượng Phẩm quỳ nghinh giá.

Đặc biệt tại các Điện Thờ Phật Mẫu ở địa phương không được đắp hình mà phải viết Thánh danh Đức Phật Mẫu bằng chữ Nho để thờ Ngài.

Tượng thờ Phật Mẫu tại các địa phương, ngoài Thánh danh “Diêu Trì Kim Mẫu” của Ngài viết ở hàng giữa, bên trái còn viết thêm: “Cửu Vị Tiên Nương”, và bên mặt “Bạch Vân Động Chư Thánh”.

Muốn đi con đường thứ ba phải tập mình đừng ham muốn chi cho mình nữa, hành tàng của Chí Tôn là phận sự của mình, phải yêu ái hiếu hạnh cùng Chí Tôn và Phật Mẫu.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

PHẬT MẪU CHƠN KINH

佛 母 真 經

Phật Mẫu Chơn Kinh là bài Chơn kinh nói về nguồn gốc và quyền hành của Đức Phật Mẫu.

Theo Đức Hộ Pháp, bài “Phật Mẫu Chơn Kinh” nầy được Bát Nương Diêu Trì Cung, thay quyền Đức Phật Mẫu giáng cơ cho tại Báo Ân Đường thuộc Kim Biên Tông Đạo (Nước Cao Miên), do chính Đức Hộ Pháp phò loan.

Bài “Phật Mẫu Chơn Kinh” là một bài kinh gồm đủ mọi quan niệm: Quan niệm về Vũ trụ, quan niệm về nhân sinh, triết lý Tôn giáo, và con đường cứu rỗi của Cao Đài.

Bài Phật Mẫu Chơn Kinh này bằng Hán văn, theo thể song thất lục bát, được Đức Hộ Pháp giải nghĩa trong bài thuyết đạo tại Báo Ân Từ vào ngày Vía Đức Phật Mẫu 15 tháng 8 năm Đinh Hợi (1947).

Nhũ lịnh khai Diêu Trì Hội Yến,

Kim Bàn thể Phật Mẫu Chơn Kinh.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

PHẬT PHÁP

佛 法

Phật: Chỉ Đức Phật. Pháp: Một danh từ bao quát có nhiều ý nghĩa: Đạo, Quy luật, giáo lý của Đức Phật, giới luật, chân lý, và mọi hiện tượng...

Như vậy, Phật pháp bao gồm đạo, giáo lý, giới luật của Đức Phật, tức là nằm trong Tam Tạng Kinh của Phật giáo. Tam Tạng Kinh do 500 vị A La Hán, tức là những Đệ tử của Đức Phật kết tập, sau khi Phật nhập Niết Bàn, dưới sự chủ toạ của Nhứt Tổ Ma Ha Ca Diếp, chia thành ba tạng kinh:

1.- Kinh tạng là những lời Phật thuyết.

2.- Luật tạng là những giới luật do Đức Phật khi còn tại thế chế định ra.

3.- Luận tạng là tất cả những bài luận trình bày, giải thích giáo lý của Đức Phật.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Con biết Ngũ Chi: Minh Đường, Minh Sư, Minh Tân, Minh Lý, Minh Thiện, cũng đều do nơi Phật pháp mà ra, duy giáo lý của các Chi ấy thì có: Tiểu Học, Đại Học, Trung Dung và Tứ Thơ là kinh điển mà thôi.

Trừ yêu có Thánh Tề Thiên,

Quy y Phật pháp ở miền Tây phương.

(Xưng Tụng Công Đức).

Phật pháp khuyến nhơn quy mỹ tục,

Nho Tông phục thế hưởng thuần phong.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

PHẬT PHÁP TĂNG

佛 法 僧

Phật: Hay Phật đà là do chữ Phạn Bouddha. Chữ Phật có nghĩa là bậc đại giác, đại ngộ, bậc sáng suốt hoàn toàn về ba phương diện: tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn. Phật là người sáng suốt hoàn toàn, có muôn hạnh tốt, nên Ngài được xưng tụng bằng mười danh hiệu khác nhau. Ngài là bậc chẳng sanh chẳng diệt nên bất cứ nơi nào bất cứ nơi đâu, Ngài cũng có thể hiện ra để đem ân lành hộ cho chúng sanh khắp mười phương thế giới.

Pháp: Do chữ Phạn Dharma mà ra. Chữ pháp vốn có một nghĩa rất rộng. Bất kỳ việc chi dù nhỏ hoặc lớn, dù hữu hình hay vô hình, dù tốt hay xấu, chơn thật hay hư vọng đều có thể gọi chung là Pháp. Ở đây Pháp có nghĩa là Giáo pháp mà đức Phật đã thuyết, phương pháp tu hành mà đức Phật đã phát huy ra để diệt trừ mê muội, khổ đau để đắc đạo thành Phật. Giáo pháp ấy có thể giúp chúng sanh thoát khỏi luân hồi, khổ đau, nên vô cùng quý báu.

Tăng: Hay Tăng già là dịch từ tiếng Phạn Samgha. Tăng là những vị xuất gia, tu theo giáo pháp đức Phật, cùng sống chung một chỗ, cùng giữ giới luật của Phật và cùng chia sớt cho nhau một cách vui vẻ, hoà thuận tất cả những gì mà họ thâu nhận được.

Trong đạo Cao Đài, Phật pháp Tăng có nghĩa là tôn kính ân đức bao la của Đại Từ Phụ (Nam Mô Phật), tôn kính ân đức dưỡng dục của Đại Từ Mẫu (Nam Mô Pháp), và luôn luôn niệm đến toàn thể nhơn sanh cũng như nguyện thương yêu hoà thuận lẫn nhau (Nam Mô Tăng).

Vậy Phật Pháp Tăng chính là ba ngôi: Ngôi Cha, ngôi Mẹ và ngôi các Con.

Đức Chí Tôn là đấng toàn tri toàn năng, đấng sáng tạo ra vũ trụ nên Ngài tượng trưng cho ngôi Cha hay Phật. Đức Phật Mẫu, chưởng quản tầng trời Tạo Hoá Thiên, có công nuôi dưỡng chúng sanh từ linh hồn đến thể xác, có công định kiếp căn của mỗi người ở cõi trần nên Đức Phật Mẫu tượng trưng ngôi Mẹ tức Pháp. Toàn thể sanh chúng trong vũ trụ được tạo thành là do công sanh trưởng của Đức Chí Tôn (Cha), công nuôi dưỡng của Phật Mẫu (Mẹ), nên chúng sanh được xem là ngôi con tức là Tăng.

Thiên Nhơn Địa vượt ba thần phẩm,

Phật Pháp Tăng chung một lá cờ.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

PHẬT SẮC

Phật: Chỉ Đức Phật. Sắc: Tờ giấy ban lịnh của vua hay các Đấng thiêng liêng.

Phật sắc là sắc lịnh của chư Phật.

Như: Những Đấng thiêng liêng giáng trần cứu thế độ đời là tuân theo Phật sắc.

Phụng thừa Phật sắc,

Giáng hạ trần gian.

(Tuồng Hát Chèo Thuyền).

 

 

PHẬT TÁNH

Hay “Phật tính”.

Phật: Đấng giác ngộ viên mãn, chỉ sự giác ngộ, sự lành. Tánh (tính): Bản nhiên của con người khi sinh ra và tuỳ theo hoàn cảnh mà thay đổi.

Phật tánh, như chữ “Phật tính 佛 性”, là cái tánh giác ngộ, cái thiên tánh có sẵn, cái mầm hiền lương ở trong con người hay loài vật.

Kinh Pháp Hoa có câu: Nhứt thiết chúng sinh giai hữu Phật tính 一 切 眾 生 皆 有 佛 性, nghĩa là tất cả chúng sanh đều có Phật tánh.

Phật tánh còn gọi là Như lai tánh, Chân tánh là cái tánh thường hằng bất biến, mầm mống giác ngộ vốn có sẵn trong tất cả chúng sanh.

Phật giáo cho rằng: Phật là chúng sanh đã được giác ngộ, còn chúng sanh là Phật chưa giác ngộ. Như vậy, tất cả chúng sanh đều là Phật sẽ thành.

Chúng sanh chỉ vì tham dục vô minh, mê mờ tự tâm nên không thấy được Phật tánh, nếu phá chấp, phá trừ vô minh, Phật tánh sẽ hiển hiện.

Nho giáo gọi Phật tánh là Minh đức, tức là cái đức sáng của con người, đó là cái Thiên lương hay Thiên tánh, cũng gọi là cái “Lương tri lương năng” mà ai cũng đều có như nhau.

Phục nguyên nhân huờn tồn Phật tánh,

Giáo hoá hồn hữu hạnh hữu duyên.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

Mấy ai biết thấu tránh qua,

Tìm nơi Phật tánh để xa cõi trần.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

PHẬT TÂM

佛 心

Phật: Chỉ Đức Phật. Tâm: Cái tâm.

Phật tâm là cái tâm của Phật, cái tâm giống như Phật, tức là cái tâm đại từ đại bi của Đức Phật.

Phật tâm, theo giáo lý Cao Đài còn gọi là “Thánh tâm 聖 心”, trái với phàm tâm.

Thánh giáo của Đức Thích Ca Mâu Ni dạy: Còn cái địa vị cao trọng, nó làm cho nhơn tâm ganh gổ. Con phải lấy Phật tâm con mà dòm ngó đám sanh linh bị phạt, luân hồi chưa dứt, thì tưởng đến Thầy mà cam chịu nhục nhã, lòng từ bi có vậy mới xứng đáng là tôi con Thầy.

Phật tâm ai hiểu cái người nầy,

Biết đặng cùng chăng chỉ một Thầy.

(Đạo Sử).

Đoạn căn đóng chặt Ân cung,

Toà sen chín phẩm để cùng Phật tâm.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

PHẬT TỔ

佛 祖

Phật: Đức Phật. Tổ: Người mở đầu một tông phái.

Phật Tổ chỉ đức Thích Ca Mâu Ni, vì Ngài là vị Phật khai sáng một nền tôn giáo, nên Ngài được coi là vị tổ của Phật Giáo.

Sau nầy, khi Đức Thích Ca nhập Niết bàn, các vị đệ tử nối tiếp nhau cầm quyền giáo hội Phật giáo đều được gọi là Tổ sư mà vị Đệ nhứt Tổ sư là Ma Ha Ca Diếp.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Người gọi Thích Ca Mâu Ni là Phật Tổ, Thích Ca vốn sanh ra đời nhà Châu.

Tây phương cõi Phật chói loà,

Từ bi Phật Tổ hải hà độ dân.

(Xưng Tụng Công Đức).

Căn Ta Ca đỡ bước đi,

Ra thành Phật Tổ gặp kỳ ly cung.

(Kinh Thế Đạo).

Tây phương Phật Tổ, Di Đà,

Nam Hải Phổ Đà cứu khổ Quan Âm.

(Giới Tâm Kinh).

 

 

PHẬT TÔNG

佛 宗

Phật: Chỉ Đức Phật, hay Phật giáo. Tông: Giáo phái, tôn chỉ của giáo phái.

Phật tông là tông chỉ của Phật giáo.

Phật tông còn cùng nghĩa với “Phật giáo 佛 教”, nghĩa là Đạo Phật.

Thánh giáo Đức Thích Ca Như Lai, kim viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát có dạy: Ta vì luật lịnh Thiên mạng đã ra cho nên cam để vậy, làm cho Phật tông thất chánh có trên ba ngàn năm nay. Vì Tam Kỳ Phổ Ðộ, Thiên Ðịa hoằng khai, nơi Tây Phương Cực Lạc và Ngọc Hư Cung mật chiếu đã truyền siêu rỗi chúng sanh.

Đường Tây vức từ khi bị bế,

Tiếng Phật tông đổi lệ thay thoàn.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

 

 

PHẬT TÔNG NGUYÊN LÝ

佛 宗 原 理

Phật Tông Nguyên Lý, theo Huệ Lương, là quyển Kinh Phật viết vào thời Nhị Kỳ Phổ Ðộ, trong đó có ghi rằng: Sau Ðức Thích Ca, sẽ có một Ðức Phật rất lớn giáng trần mở đạo.

Lời tiên tri đó ứng vào việc Ðức Chí Tôn mở Ðạo Cao Ðài tại miền Nam Việt Nam ngày nay.

Trong Phật Tông Nguyên Lý có nêu sáu chữ Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ.

Trong Phật Tông Nguyên Lý đã cho hiểu trước đến buổi hôm nay rồi, tại tăng đồ không kiếm chơn lý mà hiểu.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

PHẬT TÔNG VÔ GIÁO

佛 宗 無 教

Phật tông: Đạo Phật. Vô giáo: Không có dạy.

Phật tông vô giáo là đạo Phật không có dạy.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Chí Tôn dạy: Từ trước, Ta giáng sanh lập Phật giáo gần sáu ngàn năm thì Phật đạo chánh truyền gần thay đổi. Ta hằng nghe chúng sanh nói “Phật giả vô ngôn”! Nay nhứt định lấy huyền diệu mà giáo đạo, chớ không giáng sanh nữa, đặng chuyển Phật giáo lại cho hoàn toàn.

Dường nầy, từ đây chư chúng sanh chẳng tu bị đoạ A Tỳ thì hết lời nói rằng: “Phật tông vô giáo 佛 宗 無 教” mà chối tội nữa.

Đời hết trách Phật tông vô giáo,

Tự hiểu đời do đạo gầy nên.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

PHẬT TỬ

佛 子

1.- Phật tử là đệ tử của Đức Phật, dùng để chỉ những tín đồ nam nữ theo Phật Giáo.

Danh từ Phật tử dùng để chỉ những người theo đạo Phật nhưng không xuất gia.

Vì vật báu đó từ trước đến giờ chỉ có trong hàng Phật tử của nước Ấn Độ được hưởng mà thôi.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

2.- Trong đạo Cao Đài, Phật Tử là một phẩm vị cao cấp trong Thập Nhị Đẳng Cấp Thiêng Liêng thuộc Cơ Quan Phước Thiện, đối phẩm với Phật vị, ngang hàng với Hộ Pháp của Hiệp Thiên Đài.

Phật Tử là phẩm cao nhứt trong Thập Nhị Đẳng Cấp Thiêng Liêng, dưới phẩm Phật Tử là Tiên Tử, Thánh Nhơn, Hiền Nhơn...

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có dạy: Từ bậc Hiền Nhơn tới Phật Tử, thì lo bảo thủ bí pháp tâm truyền và nhập cùng Hiệp Thiên Đài làm một.

Ngôi Phật Tử là hàng cao nhứt,

Còn dưới thì Minh Đức, Tân Dân.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

PHẬT TỰ

佛 寺

Phật: Đức Phật. Tự: Ngôi chùa, nơi thờ Phật.

Phật tự là ngôi chùa thờ Phật.

Bên Phật giáo thường dùng chữ “Tự 寺” để chỉ nơi thờ Phật và mỗi ngôi chùa đều đặt một tên riêng, như: Kim Quang Tự, Từ Lâm Tự... Còn trong tôn giáo Cao Đài nơi thờ Đức Chí Tôn tại trung ương, gọi là Toà Thánh hay Đền Thánh, tại các địa phương gọi là Thánh Thất.

Vàng tuy quý giá chẳng bằng lòng,

Phật tự thuở chừ mến chữ không.

(Đạo Sử).

 

 

PHẬT TỨC LÀ LÒNG

Phật tức là lòng, bởi câu “Phật tức tâm 佛 即 心”.

Phật là chất liệu của từ bi và tuệ giác trong lòng mọi chúng sanh.

Như vậy, tìm Phật ở đâu? Tìm Phật ở trong chính tự tâm chúng ta không đâu khác, ngoài tâm không có Phật.

Chúng sanh điên đảo, vọng động chấp Phật ở bên ngoài mà lìa bỏ cái tâm Phật vốn có sẵn của mình.

Phật tức là lòng, chẳng có xa,

Kiếm tìm không khéo vướng tâm tà.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

PHẬT TRỜI

Trong tôn giáo Cao Đài, Phật Trời là tiếng chỉ hai Đấng Thiêng liêng được thờ phụng tại Toà Thánh hay các Thánh Thất địa phương.

Thờ Phật, tức thờ Tây Phương Giáo Chủ Thích Ca Mâu Ni Văn Phật, vị giáo chủ Phật giáo, là một trong Tam giáo: Phật, Tiên, Thánh.

Thờ Trời tức là thờ Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế, tượng bằng Thiên nhãn.

Phật Trời còn là tiếng dùng để chỉ chung các Đấng Thiêng Liêng.

Luân hồi trở lại trên đời,

Tiền công thì cũng Phật Trời thưởng ban.

(Kinh Sám Hối Ngắn).

Làm lành cho trọn Phật Trời thương,

Hai chữ hơn thua chớ liệu lường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

PHẬT VỊ

佛 位

Phật: Đức Phật. Vị: Ngôi vị.

Phật vị là ngôi vị Phật, tức vào hàng chư Phật.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Khi biết mình đã vững nơi Tiên vị rồi thì mình cũng cứ đào luyện Tiên hồn theo gương chư Phật mà gắm ghé vào Phật vị.

Ví biết vạn căn thường quả báo,

Chưa vào Phật vị cũng Thần Tiên.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

PHẬT XỨ

佛 處

Phật: Chỉ Đức Phật. Xứ: Nơi ở, chỗ ở, cõi, miền.

Phật xứ là xứ Phật, cõi Phật, hay đất Phật, là nơi hoàn toàn an vui, còn gọi là Cực Lạc Niết Bàn, tức cõi Cực Lạc Quốc hay Cực Lạc Thế giới.

Siêu thăng phụng liễn quy khai.

Tiên cung Phật xứ Cao Đài xướng danh.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

 

 

PHE

Phe là tập hợp người hoặc tổ chức cùng đứng về một phía với nhau.

Như: Người tu hành mà còn chia phe phân phái, chức sắc không được kết phe lập đảng.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Khoát vào mình cái áo Ðạo chỉ vì mục đích riêng tư, những phần tử đáng thương hại đó toan che mắt bề trên, lừa dối thiên hạ, có khi chạy theo phe nầy nhóm kia, làm tay sai cho thế lực kim tiền, lợi dụng danh Ðạo, họ ví lời minh thệ trước Thiên bàn như một món đồ chơi, muốn ném vào xó nhà lúc nào cũng được.

Còn cả môn đệ, ai cũng như ai, không đặng gây phe lập đảng, nhược kẻ nào phạm tội thì Thầy trục xuất ra ngoài cho khỏi điều rối loạn.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

PHE ĐẢNG

Phe: Tập hợp người hoặc tổ chức cùng đứng về một phía với nhau. Đảng: Nhóm người cùng mục đích kết lại với nhau.

Phe đảng là tập hợp người hoặc tổ chức câu kết với nhau nhằm một nục đích gì.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Thánh Thể của Đức Chí Tôn hồi buổi đó không giá trị, không trật tự, họ chia phe phân phái, họ còn phe đảng dữ lắm, mạnh đặng yếu thua, thế lực dữ lắm không có cái gì thiếu, làm cho Thánh Thể Đức Chí Tôn buổi nọ dơ bẩn làm sao đâu, không thể tưởng tượng được.

Nước không Ðạo quân thần rối loạn,

Mới nảy ra phe đảng chiến tranh.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

PHEN

Phen là lần, lúc, phiên, khi. Như: Nhiều phen, đòi phen, lắm phen vất vả.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có đoạn: Con ôi! Thầy thấy con đau thảm bấy nhiêu, một phen lầm lỗi lẽ nào bỏ nghiệp muôn năm. Con coi đó mà coi, Thầy thương con là bao nhiêu?

Vinh nhục đòi phen vui lẫn khóc,

Ghét thương lắm lúc giận pha cười.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thêu dệt hay lo nói chuyện người,

Nhiều phen hại kẻ tưởng là chơi.

(Đạo Sử).

 

 

PHÈN

Phèn là tên một loại khoáng chất kết tinh như muối, có sắc xanh.

Phèn chua là thứ phèn trắng có vị chua, thường dùng để đánh nước cho trong.

Như: Nước đã đánh phèn.

Bổn tâm Thầy ngự người trau hạnh,

Nguyên lý đạo khai nước lắng phèn.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

PHÉP

1.- Phép là luật lệ của một nước, một tôn giáo hay một nhà đặt ra. Như: Phép nước, phép công, phép nhà.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có câu: Cầm cả quyền hành vô lượng nơi tay, Thầy ngó một cái cũng đủ tiêu diệt nó đặng, nhưng mà phép công bình thiêng liêng chẳng phải nên vậy.

Ví biết phép công cơ thưởng phạt,

Ðường tu sớm bước chí thong dong.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ngoài mặt phép, chàng sao thiếp vậy,

Giữa cửa công, phải quấy đồng thân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Phép là lời chuẩn y của vua quan hay Chí Tôn thuận cho làm một việc gì. Như: Quan cho phép, được phép làm, cho phép xây dựng nhà.

Thánh giáo Thầy có dạy: Bậc chơn tu khi còn xác phàm nơi mình, như đắc đạo, có thể xuất ra trước buổi chết mà vân du Thiên ngoại. Cái Chơn thần ấy mới đặng phép đến trước mặt Thầy.

Vè thử Thầy cho con đặng phép,

Làm sao cho khuất bóng Thần ngươi.

(Đạo Sử).

3.- Phép là quy tắc hay phương pháp (cách thức) để làm một việc gì.

Như: Phép tính, phép làm việc, phép hành đạo.

Thánh giáo Đức Thích Ca Như Lai có dạy: Chư sơn đắc đạo cùng chăng là do nơi mình hành đạo. Phép hành đạo Phật giáo dường như ra sái hết, tương tợ như gần biến Tả Ðạo Bàng Môn.

Nâu sồng khổ hạnh phép gần Tiên,

Như bước ướt chơn mới đến thuyền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

4.- Phép là phương thuật riêng của những bậc Thần Tiên, hay những bậc tu luyện phù chú.

Như: Phép Tiên, phép Phật, phép linh, ban phép lành.

Đắc văn sách thông Thiên định Địa,

Phép huyền công trụ nghĩa hoá thân.

(Kinh Tận Độ).

Cho hay Trời Phật chí công bình,

Trước mắt ngờ ngờ thấy phép linh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tỷ nhạc thân đòi ngọc Lam Điền,

Mình phải đủ phép Tiên trồng đặng ngọc.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

PHÉP CÔNG

Phép: Luật pháp. Công: Công cộng hay công bình.

Luật pháp công cộng, hay nói khác hơn “Phép công”, tức là phép nước áp dụng chung cho tất cả mọi người trong nước.

Trong Chinh Phụ Ngâm Khúc, Bà Đoàn Thị Điểm có câu: Sứ trời sớm giục đường mây, Phép công là trọng, niềm tây sá nào.

Trong Tôn giáo, chữ “Phép công” dùng để chỉ luật pháp của Đạo, hay luật pháp công bình.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Than ôi! Thầy đã là Ðấng lập khổ hình, chiếu theo phép công bình của Tạo hoá, nhưng thấy nhơn sanh càng ngày càng bước vào con đường hắc ám, để đem số phận buộc vào đó, thì Thầy cũng bắt đau lòng, nhưng chẳng lẽ bỏ phép công vì sanh chúng.

Ví biết phép công cơ thưởng phạt,

Đường tu sớm bước chí thong dong.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

PHÉP CHIÊU HỒN

Phép: Phép tắc, tức pháp thuật. Chiêu hồn 招 魂: Kêu gọi linh hồn trở về.

Phép chiêu hồn là dùng thần thông, hay pháp thuật để kêu gọi linh hồn người chết trở về.

Hay không thắng đặng đời, anh phải nhịn,

Về cõi Tiên toan tính phép chiêu hồn.

(Văn Tế Bảo Đạo).

 

 

PHÉP GIẢI OAN

Phép: Phép thuật huyền diệu, bí pháp. Giải oan: Cởi bỏ oan khiên nghiệt chướng.

Phép giải oan là một Bí pháp giải oan nghiệt của Đạo Cao Đài.

Con người vì luân hồi sinh tử nên mới tạo ra nhiều oan khiên nghiệt chướng, do đó quả nghiệp chồng chất lên khiến người tu hành phải đền trả mãi, khó giải thoát.

Trong thời Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn mở ra nền Đại Đạo, đại khai ân xá cho vạn linh, đóng địa ngục mở thiên đường để tận độ chúng sanh, và đặc biệt ban cho bí tích giải oan, tắm thánh, làm phép xác... hầu giúp cho nhơn sanh dứt được oan gia nghiệt chướng để dễ bề tu hành đắc quả.

Phép giải oan độ hồn khỏi tội,

Phướn tiêu diêu nắm mối trường sanh.

(Kinh Tận Độ).

 

 

PHÉP HUYỀN CÔNG

Phép: Phép thuật huyền diệu. Huyền công 玄 功: Một pháp thuật biến hoá rất thần diệu, gọi là thất thập nhị huyền công.

Phép huyền công là pháp thuật do công phu tu luyện được có thể biến hoá một cách thần diệu.

Đắc văn sách thông Thiên định Địa,

Phép huyền công trụ nghĩa hoá thân.

(Kinh Tận Độ).

 

 

PHÉP HUYỀN HƯ

Phép: Phép thuật huyền diệu. Huyền hư 玄 虛: Huyền diệu, mầu nhiệm.

Phép huyền hư là phương pháp tu luyện làm sao đạt được sự mầu nhiệm.

Trong phương pháp luyện của đạo Tiên, phép huyền hư là một giai đoạn công phu luyện đan sau cùng, luyện đến chỗ huờn hư thì đắc đạo.

Xin xót thương con người ngây dại,

Phép Huyền hư truyền dạy thế gian.

(Giới Tâm Kinh).

 

 

PHÉP KHUÔN

Phép: Luật pháp, phép tắc, đạo lý. Khuôn: Giới hạn trong phạm vi nhất định.

Phép khuôn là những phép tắc làm khuôn mẫu trong quan hệ gia đình và xã hội.

Dù chàng đổi dạ én anh,

Tề mi vẹn đạo, giữ gìn phép khuôn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

PHÉP LÀNH

Phép: Phép thuật huyền diệu. Lành: Chỉ điều tốt lành.

Phép lành là một điển lành (tức thanh điển) mà Đức Chí Tôn dùng ban cho các môn đệ.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy: Thầy ban ơn hết trọn cả các con, dầu không có mặt tại đây cũng vậy. Thầy dở Cơ lên cho các con đều chun ngang qua cho Thầy ban Phép lành...

Phép lành cũng là một bí tích trong Đạo Cao Đài mà Đức Hộ Pháp thọ nơi Đức Chí Tôn dùng để ban những điển lành cho chúng sanh.

Giác thế muốn trông mấy phép lành,

Khuyên đời chớ mến lợi cùng danh.

(Đạo Sử).

Một bầu phong nguyệt chừ vui thú,

Hứng giọt ma ha rải phép lành.

(Cao Tiếp Đạo).

 

 

PHÉP LINH

Phép: Phép thuật huyền diệu. Linh: Thiêng liêng, huyền diệu, mầu nhiệm.

Phép linh là phép thuật mầu nhiệm và linh hiển.

Cho hay Trời Phật chí công bình,

Trước mắt ngờ ngờ thấy phép linh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

PHÉP HIỂN LINH

Phép: Phép thuật huyền diệu. Hiển linh 顯 靈: Hiển hiện ra điều linh thiêng.

Phép hiển linh là phép thuật hiển hiện ra sự thiêng liêng huyền diệu.

Đờn bà thường có phép hiển linh,

Người vâng phục vì tình dạy dỗ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

PHÉP MẦU

Phép: Phép thuật huyền diệu. Mầu: Huyền diệu.

Phép mầu là phép tắc mầu nhiệm.

Phép mầu, như chữ “Huyền diệu pháp 玄 妙 法”, tức pháp thuật huyền diệu.

Thánh giáo Đức chí Tôn trong Thánh Ngôn Sưu Tập có dạy: Các con đừng thấy những sự phàm quyền ấy mà lo cho Thầy không đủ quyền pháp chế trị, các con sẽ thấy phép mầu của Thầy là dường nào.

Ngày đêm đưa rước chực chầu,

Công bình Thiên Đạo phép mầu chí linh.

(Kinh Sám Hối).

Cơ huyền diệu Đạo Cao minh chánh,

Hiển phép mầu ma lánh quỷ kiêng.

(Xưng Tụng Công Đức).

Giải tán quân nhân thật phép mầu,

Kỳ Sơn phụng gáy nghiệp quy châu.

(Lý Giáo Tông).

 

 

PHÉP NHÀ

Phép: Phép tắc, khuôn phép. Nhà: Trong gia đình.

Phép nhà, như chữ “Gia pháp 家 法”, nghĩa là những phép tắc được dùng để cư xử trong nhà.

May quan cả, rủi cho lê thứ,

Trong tộc gia cũng cứ phép nhà.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

PHÉP NHÀ THIỀN

Phép: Chỉ giáo pháp, như phép Phật. Nhà Thiền: Nhà Phật, tức chỉ Phật giáo.

Phép nhà Thiền, như chữ “Phép Phật”, là giáo pháp chơn chánh của nhà Phật,

Tu đặng phép nhà Thiền ít kẻ,

Những đam mê theo lẽ dối đời.

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 

PHÉP PHÂN THÂN

Phép: Phép thuật huyền diệu. Phân thân: Phân chia ra nhiều cái thân.

Phép phân thân là một pháp thuật chia thân thể của mình để hiện diện được nhiều nơi trong một lúc.

Các Đấng Thiêng Liêng vì phải độ chúng sanh ở khắp mười phương thế giới, nên phải dùng phép phân thân để thị hiện khắp mọi nơi.

Xiên lòng ngoài mặt cũng là ngay,

Biết phép phân thân gẫm quá tài.

(Đạo Sử).

 

 

PHÉP PHẬT

Phép: Do chữ Pháp là giáo pháp, hay phép thuật. Phật: Chỉ Đức Phật.

1.- Phép Phật do chữ “Phật pháp”, là lời dạy, hay giáo lý của Đức Phật.

Phép Phật hay Phật pháp nhắm đến mục đích đem trí huệ giải thoát cho con người. Bởi vì chúng sanh ở cõi trần nầy cứ mãi đau khổ trong cuộc đời do trí huệ thường hằng thanh tịnh của mình bị vô minh che lấp.

Trước mặt luật đời xem rõ thấy,

Thưởng răn phép Phật rõ ngay gian.

(Đạo Sử).

Kiếp tu xưa tiếc chưa nên Ðạo,

Oan trái phủi rồi phép Phật thông.

(Đạo Sử).

2.- Phép Phật còn dùng để chỉ pháp thuật huyền diệu của chư Phật.

Như: Phép Phật có thể khuất phục ma vương.

Phép Phật hằng thông lẽ nhiệm mầu,

Đường về Tiên cảnh có xa đâu!

(Thơ Hoài Tân).

 

 

PHÉP SẦU THAN

Phép: Do chữ pháp, là tất cả những gì có thể dùng giác quan nhận biết được và luôn tất cả những gì có thể ý niệm được như nhận thức cảm giác, hay có thể dùng đến ngôn ngữ luận đàm được. Sầu than: Những sự buồn rầu, đau khổ, sự phiền não, sự lầm lạc...

Phép sầu than là cái pháp tướng của cõi thế giới Ta Bà, đầy ác trược và uế trược. Đó là những thứ khổ hình, trược chất mà con người phải nhận lấy, phải cam chịu ở cõi thế gian.

Lòn thân dưới phép sầu than,

Tìm phương cứu khổ mở đàng giải căn.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

PHÉP TẮC

Phép: Luật pháp, quy tắc, phép thuật. Tắc: Phép, lệ phải theo.

1.- Phép tắc là lệ và quy tắc định về một việc gì, dùng chỉ về lễ phép.

Như: Nó đối xử với người lớn có phép tắc, cô ấy ăn nói lễ độ và có phép tắc.

Gương hiếu hạnh giữ mình dè dặt,

Với mẹ cha phép tắc để nên gương.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Phép tắc còn dùng để chỉ về pháp thuật.

Đại Thừa Chơn Giáo có câu: Còn Ðạo Giáo là huyền bí, thậm chí ư huyền bí, chỉ có người bực thượng trí mới thấu đáo chỗ căn nguyên, còn bực thường nhơn hạ trí thì rất khó thông cơ mầu nhiệm, bởi vậy mới hiểu lầm tưởng sái mà bày ra phép tắc, phù chú làm cho mê hoặc thói đời thêm hư phong tục, khiến người nhiễm lấy dị đoan nào là hô phong hoán võ, tróc quỷ, trừ ma, bày binh, bố trận, mới biến ra tả Ðạo bàng môn, thiệt là rất hại.

Giờ lâu mới thấy dạng lầu đài,

Phép tắc “Ông Già” gẫm thiệt hay.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

PHÉP TIÊN ĐẠO

Phép: Phương pháp, cách thức. Tiên Đạo: Đạo Tiên.

Phép Tiên Đạo là phép tu luyện của Đạo Tiên.

Tu theo Đạo Tiên, trước đây thường hay tịnh luyện. Điều nầy, nếu người có minh sư chỉ giáo hoặc người có đầy đủ công đức thì nên tu tịnh, nhưng phải do Hội Thánh cho phép vào Tịnh thất và tuân hành luật nhà Tịnh.

Việc luyện đạo, Đức Chí Tôn có giải thích như sau: “Người tu hành nếu chưa trường trai trì giới nổi đặng thì hãy lo lập đức, bồi công để làm nền móng vững chắc cho việc Luyện Đạo tương lai, chớ dục vọng mong sớm Luyện Đạo để làm Tiên Phật mà thiếu phần công quả, âm chất. Vì Thầy lập Đạo kỳ nầy là mở một trường thi công quả”.

Phép Tiên Đạo: Tu chơn dưỡng tánh,

Một cội sanh ba nhánh in nhau.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

PHÉP TU VI

Phép: Phương pháp, cách thức. Tu vi: Sửa đổi những điều lỗi nhỏ nhặt.

Phép tu vi tức là “Tu vi pháp 修 微 法”, là một phương pháp tu sửa từ những điều xấu, ác nhỏ nhặt nhứt, không bỏ bất cứ một lỗi nhỏ nào.

Thói thường, người ta thường khinh dể những điều nhỏ nhít: Việc nhỏ nhặt người ta thường không thèm để ý đến, hay không muốn làm đến, tỷ như việc làm phước, thấy điều nhỏ không đáng làm, nên bỏ qua; còn việc dữ, tưởng lỗi mọn, vẫn cứ làm.

Vua Chiêu Liệt đời nhà Hán có dạy con là vua Hậu Chủ như sau: Vật dĩ thiện tiểu nhi bất vi, vật dĩ ác tiểu nhi vi chi 勿 以 善 小 而 不 為, 勿 以 惡 小 而 為 之, nghĩa là dù cho những việc thiện nhỏ cũng chớ nên bỏ qua mà không làm, dù cho những việc ác nhỏ cũng chớ nên làm.

Các con vốn trong vòng Thánh thể,

Phép tu vi là kế tu hành.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

PHÉP THƯƠNG YÊU

Phép: Hay pháp là khuôn luật, luật pháp.

Phép thương yêu tức là luật thương yêu, sự thương yêu được làm thành điều luật.

Trong thời Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn giáng cơ mở đạo kỳ ba, có ký với nhơn loại một hoà ước, gọi là Đệ Tam Thiên Nhơn Hoà Ước, giao cho Tam Thánh Bạch Vân Động công bố cho toàn nhơn loại rõ.

Nội dung bản Thiên Nhơn Hoà Ước gồm Thiên thượng Thiên hạ, Bác ái công bình. Bốn chữ Bác ái công bình làm tiêu chuẩn cho luật và quyền: Đó là Luật thương yêu và Quyền công chánh.

Công nuôi dưỡng nâng niu khổ nhọc,

Phép thương yêu cũng học nơi Thầy.

(Kinh Tận Độ).

 

 

PHÉP XÁC

Phép: Chỉ bí pháp. Xác: Thân xác người đã chết.

Phép xác là một bí tích của Đạo Cao Đài dành cho những vị chức sắc hành pháp luyện thành Ma Ha thuỷ, rồi dùng nước ấy tẩy rửa chơn thần người chết cho được trong sạch nhẹ nhàng.

Theo Giáo lý nhà Phật, con người sống ở thế gian, xác thân phải mang nhiều phàm trược, bởi vì thế gian này là cõi trược. Khi thân xác bị ô trược thì Chơn thần cũng bị ô trược, mà Chơn thần là một xác thân Thiêng liêng do Phật Mẫu dùng nguơn khí tạo thành, nên rất nhẹ nhàng, trong sạch. Vì ngũ trược, vì oan nghiệt buộc ràng, và vì vật chất lôi cuốn con người chìm đắm vào vòng tục lụy là nơi có nhiều cấu trược, rồi từ đó, con người mới mải chịu xây chuyển trong luân hồi sinh tử, khiến Chơn thần càng ngày càng thêm ô trược, nặng nề, làm cho đường về của nó khó khăn.

Thánh giáo Chí Tôn dạy: “Cái Chơn thần buộc phải tinh tấn, trong sạch, mới nhẹ nhàng hơn không khí, ra khỏi càn khôn đặng”.

Chính vì vậy, Chí Tôn mới ban cho chúng sanh trong thời Tam Kỳ Phổ Độ này được hưởng bí pháp độ hồn, trong ấy là hành phép xác, tức là người hành pháp dùng bí pháp chơn truyền luyện Ma Ha thuỷ, rồi sau đó lấy nhành dương nhúng vào nước Ma Ha rải vào thân xác người mất để tẩy rửa Chơn thần tinh khiết hầu dễ dàng siêu thoát.

Xin Sư phụ dặn lại giùm mấy vị Hành Phép Xác, biểu khi trục chơn thần vào 9 cây nhang.

(Phối Thánh Màng).

 

 

PHÊ

Phê là ghi ý kiến nhận xét, đánh giá, hoặc tỏ ý khen hay chê, thuận hay không thuận.

Như: Cuối năm thầy phê vào học bạ, chánh quyền phê vào đơn xin phép tạm trú.

Nhớ những lúc Thầy phê tại thế,

Lập đàn tràng phổ tế chúng-sanh.

(????).

 

 

PHÊ BÌNH

批 評

Phê: Xét định mà cho chữ để tỏ ý thuận hay không thuận. Bình: Bàn để biết người hay dở, điều phải trái.

Phê bình là xem xét, phân tích, đánh giá ưu điểm và khuyết điểm.

Phê bình còn có nghĩa là nêu lên khuyết điểm để đóng góp ý kiến, để chê trách.

Như: Phê bình sự thiếu trách nhiệm lãnh đạo.

Với hạng người mộ Đạo, biết xét nét từng câu văn, phê bình từng lời nói, phán đoán từng hành động trong việc đạo để rõ thấu thiệt hư,...

(Thiên Đạo).

 

 

PHÊ CHUẨN

批 準

Phê: Ký tên hoặc viết chữ để tỏ ý thuận hay không. Chuẩn: Chấp thuận.

Phê chuẩn là chấp thuận cho thi hành theo đơn xin của quan hạ thuộc hay của nhân dân.

Trong hành chánh đạo của Đạo Cao Đài, quyền phê chuẩn bên Cửu Trùng Đài là Giáo Tông, bên Hiệp Thiên Đài là Hộ Pháp.

Trong Pháp Chánh Truyền Chú Giải có câu: Giáo Tông buộc phải giao cho Chưởng Pháp xét nét trước khi phê chuẩn.

Nó (Đầu Sư) đặng quyền lập luật, song phải dâng lên cho Giáo Tông phê chuẩn.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

PHÊ NHẬN

Phê: Ký tên hoặc viết chữ để tỏ ý thuận hay không. Nhận: Đồng ý, lãnh.

Phê nhận là ưng thuận và đồng ý cho thi hành.

Phê nhận đồng nghĩa với “Phê chuẩn”.

Thánh Ngôn và Văn Thi đều phải trích lục cho kỹ càng, phải có Hội Thánh phê nhận rồi sẽ in thì khỏi điều sơ sót quan hệ.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

PHÊ PHÁN

批 判

Phê: Bày tỏ cho biết. Phán: Quyết định.

Phê phán là phán định, bình phẩm, tức vạch ra cái sai trái để tỏ thái độ không đồng tình hoặc lên án. Như: Phê phán thái độ quan liêu.

Thánh giáo Đức Quyền Giáo Tông có dạy: Qua không phải nói để trích điểm, song sự thật vẫn là sự thật. Các em tự hỏi lấy và để lương tri lẫn lương năng của mình phê phán.

Khổng Tử tác Xuân Thu phê phán,

Trọng nhân luân kết án loạn thần.

(Báo Ân Từ).

Hiểu cuộc sống ta hầu phê phán,

Lối chưng thờ kết án bàng môn.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

PHẾ

Phế là truất xuống, bỏ, không dùng nữa. Như: Phế vua, công việc bị bỏ phế.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Vì vậy mà Thầy phải phế hết Bạch Ngọc Kinh, Huỳnh Kim Khuyết, giáng trần độ rỗi các con, chớ chi Thầy đến mà làm cho giảm sự khổ não các con chẳng đặng nữa thì thôi, lẽ nào còn lập Tân Luật ràng buộc các con thêm nữa...

Kìa từ trước phế vua phản bạn,

Gẫm bởi đâu tên choán sử xanh.

(Bát Nương Giáng Bút).

Hạc mây nhẹ túi gánh phong ba,

Biết hết Thần Tiên phải phế nhà.

(Đạo Sử).

 

 

PHẾ ĐỜI

Phế: Ngưng bỏ. Đời: Chỉ những việc ở thế gian.

Phế đời là từ bỏ hết những việc ở thế gian, kể cả sự vinh hoa phú quý.

Điếu Văn của Đức Thượng Sanh đọc trước Liên đài của Ngài Bảo Văn Pháp Quân Cao Quỳnh Diêu có câu: Qua năm Kỷ Tỵ (1929) lối tháng mười, mặc dầu hưởng lương bổng trọng hậu, Ngài phế đời về Toà Thánh hiến thân lo Ðạo, giúp Hội Thánh sắp đặt nội bộ và nhất là góp công trong việc nâng loan cho Ðức Chí Tôn và các Ðấng dạy truyền giáo lý.

Con ví biết mình cao bực phẩm,

Thì phải toan cho dám phế đời.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Vừa hồi Khai Đạo, ưa lối nâu sồng,

Gặp lúc phế đời, giải đường hoạn lộ.

(Văn Tế Thượng Phẩm).

 

 

PHẾ ĐỜI HÀNH ĐẠO

Phế đời: Từ bỏ hết những việc ở thế gian, kể cả sự vinh hoa phú quý. Hành đạo 行 道: Đi làm việc đạo, chỉ người tu.

Phế đời hành đạo là từ bỏ hết những việc ngoài đời, đi theo con đường đạo để tu hành.

Trong Bát Đạo Nghị Định, Đạo Nghị Thứ Năm, điều thứ nhứt có quy định: Buộc cả Chức Sắc đã thọ phong phải phế Ðời hành Ðạo.

Và theo Thập Hình của Đức Lý Giáo Tông, nhưng chức sắc Thiên phong không trọn phế đời hành Đạo, bị khép vào tội Đệ nhị hình thì giáng cấp tới tín đồ hay buộc hành Đạo ngoại quốc, trừ Ai Lao và Tần Quốc.

Phế đời hành đạo ba mươi mấy,

Thoát tục tầm Tiên sáu chục dư.

(Thơ Thái Phong).

 

 

PHẾ HUỶ

廢 毀

Phế: Bỏ, không dùng nữa. Huỷ: Hư hoại, hư nát.

Phế huỷ là bỏ cho hư hoại, không còn dùng nữa.

Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy: Các con đều có Chức sắc chẳng lớn thì nhỏ, đều thọ Thiên phong nơi Thầy. Cứ giữ phẩm vị các con, nhưng Thầy có một điều yếu thiết là cầu các con lập nhiều công quả nơi trường Thầy sáng tạo cho khỏi phế huỷ nửa chừng.

Dân trí chưa phân tam đảnh thạnh,

Quốc quyền phế hũy trí Phan Vương.

(Tôn Sơn Chơn Nhơn).

 

 

PHẾ PHỦ

肺 腑

Phế: Phổi. Phủ: Nơi chứa đựng sáu bộ phận bên trong cơ thể, gọi là “Lục phủ”, như bao tử, mật, tam tiêu, bàng quang, ruột non, ruột già.

Phế phủ dùng để chỉ những bộ phận trong cơ thể.

Phế phủ, nghĩa bóng dùng để chỉ những gì riêng tư, bí mật trong lòng.

Văn Tế tiểu sử Đức Cao Thượng Phẩm của chức sắc Hiệp Thiên Đài có đoạn: Trước từng trải Sài Gòn, Biên Hoà, Gia Định, mới lần qua Cửa Tiểu, đã mấy bữa nắng mưa cam chịu. Đấng Tạo Đoan soi tỏ rõ tấm kiên trinh,

Rồi lại từ Mỹ Tho, Sa Đéc, Long Hồ, mà thẳng tới Bạc Liêu, biết bao phen sương tuyết dãi dầu, ơn Thượng Phẩm đáng ghi vào nơi phế phủ.

Kể ra hại chất bằng non,

Đốt tiêu phế phủ, xoi mòn tâm can.

(Thơ Bảo Pháp).

 

 

PHẾ VỊ

廢 位

Phế: Bỏ, không dùng nữa. Vị: Chỗ ngồi, ngôi vị.

Phế vị là bỏ ngôi vị, ý muốn nói không được trở về ngôi vị cũ nữa.

Như: Vì ham tiền mà anh ấy đã phế vị.

Đợi (Võ văn Đợi) bị phế vị là vì nó từ chối Thập nhị Đẳng cấp Thiêng liêng...

(Lời Phê Hộ Pháp).

 

 

PHẾ VONG

廢 亡

Phế: Bỏ đi. Vong: Mất.

Phế vong là bỏ mất.

Trong Đạo Luật Năm Mậu Dần có câu: Phổ Tế là cơ quan cứu vớt hoặc độ rỗi những người lạc bước thối tâm, cùng an ủi khuyên lơn những kẻ đã bị luật pháp buộc ràng mà phế vong phận sự.

Cũng như Đức Khổng Phu Tử, Ngài thấy nhơn loại đã phế vong Đạo Nhơn Luân của mình, nên mới tương tàn, tương sát với nhau,...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

PHI

1.- Phi là trái, chẳng phải. Như: Phi lý, phi nghĩa, phi phàm, tránh điều thị phi.

Thánh giáo Thầy có dạy: Cơ Trời, Thầy không lẽ tỏ ra đây, song các con nên biết xét mình là đứng vào địa vị tối cao hơn muôn vật, nên các con phải có trí độ phi phàm, thì mới có đủ tư cách làm người.

Gẫm sự đời thị thị phi phi,

Hễ nhiều cậy e khi ra nhiều nhục.

(Phương Tu Đại Đạo).

Hắc bạch phú cho vầng nhựt nguyệt,

Thị phi chờ thoát bóng quang âm.

(Thơ Huệ Giác).

2.- Phi là bay lên, vượt lên.

Như: Phi cơ, phi công, phi thăng, phi sa tẩu thạch.

Long Mã ban vương tiêu trận kỵ,

phi hải sụp lý thay Trời.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

PHI ÂN

非 恩

Phi: Chẳng phải, sái quấy. Ân: Ơn, làm lợi ích cho người, khiến người phải lo đền đáp.

Phi ân là quên đi những ơn nghĩa của người khác đã giúp cho. Như: Phi ân bạc nghĩa.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Tại mặt thế nầy, thảng ta có gặp người như thế tức ta quyết đoán chắc hẳn là chơn linh cao trọng, chớ không phải người hèn hạ phàm phu, trái lại, kẻ nào phi ân, bạc nghĩa, bất hiếu, bất trung, là chơn linh hạ tiện đi lần đến hoàn cảnh thú hình và thú tính mà chớ.

Quy tụ thiên lương nên phản trắc nhơn tâm, phi ân vô đạo là thường tình...

(Thánh Giáo Chí Tôn).

 

 

PHI CẦM TẨU THÚ

飛 禽 走 獸

Phi: Bay lên. Cầm: Loài có cánh, chim, gà, vịt. Tẩu: Chạy. Thú: Loài thú.

Phi cầm tẩu thú là loài chim bay trên trời và loài thú chạy dưới đất.

Trong Đạo Cao Đài, bài Kệ Chuông U Minh, lời nguyện 12 có câu: Phi cầm tẩu thú, la võng bất phùng 飛 禽 走 獸 羅 網 不 逢, nghĩa là chim bay thú chạy, không gặp lưới rập đánh bắt.

Phi cầm tẩu thú, la võng bất phùng.

(Kệ U Minh Chung).

 

 

PHI HÙNG

飛 熊

Phi: Bay. Hùng: Con gấu.

Phi hùng là con gấu bay, chỉ người tài giỏi.

Do tích: Ngày xưa vua Cao Tông nhà Thương nằm chiêm bao thấy gấu bay, là điềm ứng sẽ gặp Hiền thần. Quả thật, sau mới thâu được Phú Duyệt, một vị tôi thần tài trí của nhà Thương.

Vỗ cánh phi hùng nâng thổ võ,

Vọi nền tổ quốc đỡ Cao Đài.

(Thượng Phẩm Giáng Bút).

 

 

PHI LÝ

非 理

Phi: Chẳng phải. Lý: Lẽ phải.

Phi lý là chẳng hợp lý, tức là trái với lẽ phải. Như: Nói những điều phi lý.

Trong Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Người đó họ chối cái phận sự làm người, tức nhiên từ chối phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật, điều đó không có phi lý.

Chớ quấy tưởng luân hồi phi lý,

Mà hung hăng chẳng nghĩ chẳng suy.

(Kinh Sám Hối).

 

 

PHI NGHĨA

非 義

Phi: Chẳng phải. Nghĩa: Việc theo đường lối phải.

Phi nghĩa là trái với đạo nghĩa. Như: Của phi nghĩa không nên nhận lấy.

Sách Cảnh Hành có câu: Nhân phi hiền bất giao, vật phi nghĩa bất thủ 人 非 賢 不 交, 物 非 義 不 取, nghĩa là người không hiền thì đừng làm bạn, của không phải nghĩa thì chớ lấy.

Hồn nào làm bất nhơn phi nghĩa,

Chịu đoạ đày nhiều phía gớm ghê.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Những điều phi nghĩa chớ làm,

Rèn lòng đạo đức tánh tham diệt trừ.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

PHI NHÂN

非 仁

Phi: Chẳng phải. Nhân: Đức tính hay thương người.

Phi nhân là trái với đạo nhân.

Phi nhân còn dùng để chỉ không phải lòng nhân. Như: Anh ta hay làm những điều phi nhân bất nghĩa.

Không làm việc phi nhân, bất nghĩa để cầu giàu sang danh lợi, không ham muốn việc phù phiếm xa hoa.

(Giáo Lý).

 

 

PHI PHÀM

非 凡

Phi: Chẳng phải. Phàm: Tầm thường.

Phi phàm là vượt hẳng sự tầm thường.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Chí Tôn có dạy: Cơ Trời, Thầy không lẽ tỏ ra đây, song các con nên biết xét mình là đứng vào địa vị tối cao hơn muôn vật, nên các con phải có trí độ phi phàm, thì mới có đủ tư cách làm người.

Dùng phương chế thuốc luyện đơn,

Cho thành Đại Giác Chơn Nhơn phi phàm.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Đây Hứa Do là trang minh triết,

Tánh phi phàm vốn thiệt ít ai.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

PHI PHÁP

非 法

Phi: Chẳng phải. Pháp: Phép, điều được quy định mà mọi người phải theo, pháp luật.

Phi pháp là trái với phép tắc thường, hoặc trái với pháp luật.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Đức Chí Tôn đã phú thác cho Bần Đạo đảm nhiệm rất khó khăn và rất trọng yếu, Ngài căn dặn nhiều phen làm thế nào trừ cho được cái án tử hình, do xã hội giết người một cách phi pháp.

Còn những của hoạnh tài, những món lợi phi pháp do nơi tội ác mà được vào tay...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

PHI TƯỚNG LỄ

非 相 禮

Phi: Không, chẳng có. Tướng: Có hình dạng thấy được. Lễ: Nghi thức dâng cúng.

Phi tướng lễ là sự dâng cúng các Đấng Thiêng liêng những phẩm vật không có hình tướng.

Khi Nhạc tấu huân Thiên, cả thảy phải im lặng, hiến cả âm thanh. Sự bí mật ấy gọi là phi tướng lễ.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

PHI TƯỞNG ĐÀI

非 想 臺

Phi Tưởng Đài 非 想 臺, còn gọi là “Thông Thiên Đài 通 天 臺”, là một cái đài ở lầu thứ hai, nằm giữa Bạch Ngọc Chung Đài và Lôi Âm Cổ Đài.

Nơi mặt tiền Toà Thánh Tây Ninh nằm giữa hai lầu chuông và lầu trống từ dưới lên trên có xây dựng một công trình gồm ba tầng:

1.- Tầng trệt là Tịnh Tâm Điện, một khoảng trống từ cửa chánh Toà Thánh bước vào, giữa có đặt bức hoạ Tam Thánh ký Hoà ước.

Tịnh Tâm Điện là nơi để chư chức sắc và tín đồ dừng bước để cho tâm lắng đọng, hư tĩnh, trước khi bước vào chánh điện bái lễ Đức Chí Tôn.

2.- Tầng một là Hiệp Thiên Đài, bên ngoài ở giữa nóc có đắp một hình Cổ pháp, dưới có hàng chữ: Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ viết bằng chữ Hán lẫn chữ Việt nằm giữa hai chữ Nhân Nghĩa cùng hai câu đối viết bằng chữ Hán:

協 入 高 臺 百 姓 十 方 歸 正 果

Hiệp nhập Cao Đài bá tánh thập phương quy chánh quả.

天 開 黃 道 五 支 三 教 會 龍 花

Thiên khai Huỳnh đạo ngũ chi Tam giáo hội Long Hoa.

Giải nghĩa:

- Họp nhau vào đạo Cao Đài, trăm họ ở mười phương sẽ trở về ngôi chánh quả.

- Trời mở Đạo Huỳnh với Ngũ chi Đại Đạo và Tam giáo tham dự Hội Long hoa.

Dưới cùng của Hiệp Thiên Đài là một bao lơn đưa ra phía trước (tức Bao Lơn Đài) hình bán nguyệt có chạm tám khuôn hình diễn tả tám sự tích sau đây:

 

- Hữu Sào Toại Nhân

 

- Vua Nghiêu tìm hiền

 

- Sào Phủ Hứa Do

 

- Vua Hạ Võ trị thủy

 

- Khương Tử Nha Võ Kiết

 

- Phạm Lãi Tây Thi

 

- Bá Nha Tử Kỳ

 

- Châu Mãi Thần.

Bên trong Hiệp Thiên Đài có lập bàn thờ Đức Hộ Pháp, Đức Thượng Phẩm, Đức Thượng Sanh và Thập nhị Thời Quân.

3.- Tầng hai là Phi Tưởng Đài, bên trên nóc Phi Tưởng Đài có đắp hình Phật Di Lạc ngồi trên lưng bạch hổ. Phía trước Phi Tưởng Đài cũng có đắp hình Thiên Nhãn hướng ra mặt tiền Đền Thánh và bên trong có lập một khuôn hình Thiên Nhãn để thờ Chí Tôn, là nơi Đức Quyền Giáo Tông và Đức Hộ Pháp đến đó thông công cùng Ngài, cho nên Đài nầy còn gọi là Thông Thiên Đài.

Theo lời kể lại của một chức sắc Hiệp Thiên Đài, trong buổi lễ trấn thần Đền Thánh, Đức Hộ Pháp trấn thần khuôn Thiên Nhãn trước Phi Tưởng Đài đầu tiên hết, Ngài đứng ngay trước Đền Thánh, ngó ngay Thiên Nhãn trước Phi Tưởng Đài, rải Cam Lộ thủy và cầm nhang hành pháp trấn thần.

Kế tiếp Đức Hộ Pháp trấn thần tượng Đức Phật Di Lạc trên nóc Phi Tưởng Đài, Ngài nói: Đức Di lạc đã ngự vào tượng, ngồi thị chứng cho nhơn loại thập phương thế giới day hướng về Đền Thánh mà cầu nguyện Ngài ban ân huệ cho toàn chúng sanh.

Phi Tưởng Đài ngó nhanh Thiên Nhãn,

Rải Cam lồ nhang phán Trấn Thần.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

PHI TƯỞNG THIÊN

非 想 天

Hay “Phi Tưởng Diệu Thiên”.

Phi Tưởng Thiên 非 想 天 là tầng Trời thứ tám trong Cửu Trùng Thiên. Tầng Trời này rất huyền diệu, thuộc Đức Từ Hàng Bồ Tát chưởng quản, vì vậy trong Di Lạc Chơn Kinh gọi tầng Trời nầy là tầng Phi Tưởng Diệu Thiên.

Nơi Chánh Điện thờ tại Báo Ân Từ, Bát Nương mặc áo màu vàng, ngồi bên mặt Đức Phật Mẫu, tay cầm Giỏ Hoa Lam.

Bát Nương có nhiệm vụ tiếp rước các Chơn hồn lên tầng Phi Tưởng Thiên, đưa Chơn hồn vào Cung Tận Thức, qua núi Phổ Đà nhờ Từ Hàng Bồ Tát cho cỡi Kim hẩu bay lên núi Tịch San để vào Cung Diệt Bửu. Chơn hồn còn được rưới nước Cam Lồ để tẩy sạch nỗi ai bi kiếp người.

1.- Phi Tưởng Thiên:

Hơi Tiên tửu nực nồng thơm ngọt,

Phi Tưởng Thiên để gót tới nơi.

(Kinh Tận Độ).

Phi Tưởng Thiên, tiếp chơn thần,

Đẩu vân đỡ gót về gần Cung Diêu.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

2.- Phi Tưởng Diệu Thiên:

Phi Tưởng Diệu Thiên hữu: Đa Pháp Phật, Tịnh Thiện Giáo Phật,...

(Di Lạc Chơn Kinh).

 

 

PHI THĂNG

Phi: Bay lên. Thăng: Lên, vượt lên cao.

Phi thăng, như chữ “Siêu thăng”, là bay vượt lên Trời, ý nói chơn linh vượt lên cõi thiêng liêng hằng sống.

Trái oan chưa dứt thuở nào thôi,

Muốn đặng phi thăng ráng trả rồi.

(Lý Giáo Tông Giáng).

 

 

PHI THỊ

非 是

Phi: Quấy, trái. Thị: Phải.

Phi thị, cũng như chữ “Thị phi 是 非”, là chỉ sự đúng sai, phải quấy. Như: Mặc cho đời phi thị ta cứ lập công bồi đức, làm cho rõ chuyện phi thị.

Xem: Thị phi.

Phi thị mặc đời nơi quán tục,

An nhàn rảnh dạ khách Thiên Thai.

(Đạo Sử).

Nên hư trối mặc đời phi thị,

Lam lụ buồn cười bấy lũ trâu.

(Lục Nương Giáng Bút).

Tẻ đường phi thị, noi đường tịnh,

Tìm cửa từ bi lánh cửa hầu.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

PHI THƯỜNG

非 常

Phi: Chẳng phải, trái. Thường: Bình thường.

Phi thường là chẳng phải là bình thường.

Hán Thư có câu: Cái hữu phi thường chi công, tất đãi phi thường chi nhân 蓋 有 非 常 之 功, 必 待 非 常 之 人, tức là bởi có công phi thường, nên phải đợi kẻ phi thường.

Đồng nghĩa với chữ “Phi phàm 非 凡”, tức là vượt hẳn sự tầm thường.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có đoạn: Liêm là một đức tính ít người được có và những ai đã thực hành được chữ Liêm cũng cho là bậc phi thường trong thiên hạ.

Ngồi trông con đặng phi thường,

Mẹ đem con đến tận đường hằng sanh.

(Tán Tụng Công Đức).

Cương trực lòng như người Thánh trước,

Trước làm quân tử tánh phi thường.

(Đạo Sử).

Tuy chẳng phải Tiên mà dị tục,

Dầu chưa đắc Thánh cũng phi thường.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

PHỈ

Phỉ là thích, tức thoả mãn nhu cầu thuộc về tinh thần.

Như: Phỉ tình, phỉ nguyền, phỉ chí tang bồng, tung hoành cho phỉ sức.

Nài nỉ xin đình ngày tận diệt,

Hầu lo độ rỗi phỉ tình tôi.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

PHỈ BÁNG

誹 謗

Phỉ: Nói xấu. Báng: Nói điều xấu của người khác.

Phỉ báng là chê bai, nói xấu người khác. Như Phỉ báng tôn giáo là chê bai, nói xấu tôn giáo.

Hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh trong quyển Thiên Đạo có viết: Giận! Thay vì giận kẻ chê bai phỉ báng cùng cố tâm ngăn trở bước đường tu, chúng ta chỉ nên giận mình không đủ tài đức đặng cảm hoá được người. Có vậy chúng ta mới rán lo học hỏi và trau dồi đạo hạnh thêm lên.

Nói năng lỗ mãng thô tục, chửi rủa người, phỉ báng tôn giáo, không giữ lời hứa.

(Tân Luật).

 

 

PHỈ CHÍ

Phỉ: Thoả, thích. Chí: Ý chí, quyết định làm một công việc gì.

Phỉ chí, như chữ phỉ lòng, phỉ dạ, tức là thoả thích trong lòng, dạ.

Phỉ chí hộc hồng non nước trải,

Bền gan tòng bá tuyết sương dày.

(Thơ Thuần Đức).

Có chi vui bẳng ngày tương hội,

Chúa Thánh tôi hiền phỉ chí thay!

(Phan Sào Nam Giáng).

 

 

PHỈ DẠ

Phỉ: Thoả, thích. Dạ: Lòng dạ, biểu tượng cho tâm lý tình cảm.

Phỉ dạ là thoả thích trong lòng, trong dạ.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Đại Hội Nhơn Sanh kỳ này đã làm cho toàn Đạo thoả mãn, Hội Thánh hài lòng, nhơn sanh phỉ dạ, trên hoà dưới thuận, trong ấm ngoài êm.

Công nghiệp để đời chưa phỉ dạ,

Hồn linh phút lại trở về Thiên.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

PHỈ NGUYỀN

Phỉ: Thoả, thích. Nguyền (nguyện 願): Ước muốn.

Phỉ nguyền là thoả mãn điều sở nguyện, nghĩa là thoả lòng ước muốn.

Trong Thiên Đạo, hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có viết: Phàm ở đời, bất câu vào cảnh ngộ nào, hễ tri túc là toại, tuỳ phận là yên; lập công với đời là phỉ nguyền chớ không cần khen thưởng; thấy lợi sợ điều phi nghĩa; gặp may không đắc chí, gập rủi chẳng nao lòng, lành dữ đều phú cơ báo ứng, cứ ung dung thơ thới, chẳng cho lưới trần lao lung câu thúc. Đó là tự tại.

Ngâm câu trạch đức, già ưng bụng,

Đẹp phận thừa long, trẻ phỉ nguyền.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

PHỈ LÒNG NGUYỀN

Phỉ: Thoả, thích. Lòng nguyền: Lòng ước muốn.

Phỉ lòng nguyền, như chữ “Phỉ nguyền”, là thoả theo lòng đã nguyện, nghĩa là thoả lòng ước muốn.

Như: Kết quả đưa đến khiến anh ấy phỉ lòng nguyền.

Xem: Phỉ nguyền.

Nương Đạo, Đời thêm vui phúc trách,

Cứu Đời, Đạo mới phỉ lòng nguyền.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

PHỈ PHONG

菲 葑

Phỉ phong là tên hai thứ rau: Rau phỉ rau phong, dùng để chỉ quê mùa, chất phác hay tính cần kiệm.

Kinh Thi có câu: Thái phong thái phỉ 采 葑 采 菲, nghĩa là hái rau phong hái rau phỉ. Hai thứ rau này nhà nghèo thường hái để ăn, nên người nghèo cũng gọi là phong phỉ.

Tiên Điền Nguyễn Du Tiên sinh trong Truyện Kiều có câu: “Ngần ngừ nàng mới thưa rằng: Thói nhà băng tuyết, chất hằng phỉ phong”.

Cài trâm vẹn giữ nền dung hạnh,

Sửa áo nay tròn nếp phỉ phong.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

PHỈ TÌNH

Phỉ: Thoả thích Tình: Tính tự nhiên của mỗi người do sự cảm xúc mà phát lộ.

Phỉ tình là thoả được tấm tình. Như: Hôm nay hai người gặp nhau tâm sự cho phỉ tình nhớ nhung.

Nài nỉ xin đình ngày tận diệt,

Hầu lo độ rỗi phỉ tình tôi.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Giải tộ mầng ông lánh cửa hầu,

Phỉ tình ao ước bấy nhiêu lâu.

(Thơ Thuần Đức).

Phỉ tình gác nguyệt xây cao thấp,

Mặc sức lầu hoa cất dọc ngang.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

PHIÊN QUỐC

番 國

Phiên: Ngày xưa người Tàu gọi người ngoại quốc, hoặc các rợ dã man ở bốn phương là Phiên.

Phiên Quốc là nước Phiên, một nước ở phương bắc Trung Quốc, còn gọi là Hung Nô hay rợ Hồ.

Nơi Phiên quốc xôn xao lượng thảm,

Hạnh Nguơn xưa đã dám hy sinh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

PHIÊN TOÀ

Phiên: Phen, lần, lượt. Toà: Nơi xử kiện.

Phiên toà là lần Toà họp để xử án.

Trong đạo Cao Đài, quyền tư pháp của Chi Pháp có phận sự tổ chức các phiên Toà xét xử, định án để xử trị các Chức sắc hay tín đồ vi phạm luật pháp của Đạo.

Theo Đạo luật năm Mậu Dần (1938), cơ quan xét xử được gọi là Toà Đạo, nhưng sau nầy được Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa đổi tên là Bộ Pháp Chánh. Bộ Pháp Chánh trực thuộc Chi Pháp và do một vị Thời Quân Chi Pháp Hiệp Thiên Đài làm Chưởng Quản.

Thiên lương vi chủ phiên toà,

Tội mình mình sử đâu là trạng sư.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

PHIẾN

1.- Phiến là tấm, mảnh, tức chỉ từng đơn vị những vật hình khối có bề mặt bằng phẳng, vuông vắn.

Như: Phiến gỗ, phiến đá, phiến tâm, phiến nguyệt, nhứt phiến băng tâm tại ngọc hồ.

Hương tâm nhứt phiến cận Càn khôn,

Huệ đức tu chơn độ dẫn hồn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ánh nguyệt lờ mờ nửa phiến lu,

Ra vào trằn trọc suốt đêm thâu.

(Thơ Huệ Giác).

Đâu màng lặn suối với trèo non,

Nguyệt rạng trời thu nửa phiến tròn.

(Thơ Cao Liên Tử).

2.- Phiến là cây quạt. Như: Long Tu phiến.

Trong Đạo Cao Đài, Đức Thượng Phẩm cầm bửu pháp là cây Long Tu phiến, tức cây quạt được dùng ba mươi sáu cọng lông cò trắng kết thành.

Thánh giáo Đức Thượng Phẩm có dạy về cây Long Tu Phiến như sau: Chơn thần nào trong sạch thì nương theo đó mà siêu nhập Cực Lạc Thế Giới. Trái lại, chơn thần nào luyến ái tà mị thì lánh xa mà đi lần đến U Minh cảnh giới. Cả cơ “thu” và “đẩy” của Long Tu Phiến với chơn thần đều do luật “đồng khí tương cầu” mà thành tựu. Nghĩa là chơn thần đạo đức thì Long Tu Phiến hấp dẫn đến gần và đưa vào Cực Lạc Thế Giới; còn chơn thần trọng trược thì Long Tu Phiến đẩy ra xa và lần hồi đi đến cảnh U Minh đen tối.”

Long Tu Phiến là cây quạt do điển khí của Tam Thập Lục Thiên kết thành, quạt ấy tiết ra một điển lực có ảnh hưởng đến cuộc tấn hoá của quần linh.

(Đạo Sử).

 

 

PHIỀN

1.- Phiền là có tâm trạng buồn bực, khó chịu vì phải lo nghĩ nhiều. Như: Lòng phiền muộn, buồn phiền vì thi rớt, giải phiền.

Trong Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Thánh giáo Thầy có dạy Ngài Cao Quỳnh Cư: Con cũng vậy nữa, con phải nhớ hằng ngày lời Thầy và hạnh khiêm cung của Thầy mà giải lòng phiền nghe, chẳng cần thương ghét, chỉ biết phận mình, làm thế nào cho hồn Ðạo thêm cao, ngày kia chúng sanh sẽ đổ lụy rơi châu mà xét nét sự lầm lạc của thế tình.

Nguyền cho trăm họ bình yên,

Nhà nhà no ấm khỏi phiền khỏi than.

(Giới Tâm Kinh).

Phần nội trợ trăm phiền đeo đẳng,

Đạo phụ cơ đã nặng cho mình.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Phiền là bực, không bằng lòng về việc gì.

Như: Anh ta phiền về việc ấy, phiền trách, lỡ tàu thì phiền lắm, nhờ vả nhiều thì cũng phiền.

Đừng phiền rằng: lỗi, phải, oan, ưng;

Nhớ buổi nhỏ cha cưng không đánh đập.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

PHIỀN HÀ

煩 苛

Phiền: Có tâm trạng buồn bực, khó chịu vì phải lo nghĩ nhiều. Hà: Khắc bạc.

Phiền hà buồn rầu bực bội. Phiền hà còn dùng với nghĩa làm phiền, làm rầy, như phiền hà hàng xóm.

Thánh giáo Lý Giáo Tông dạy: Từ đây, Lão hằng gìn giữ chư hiền hữu hơn nữa. Nếu Lão ép lòng cầm quyền thưởng phạt phân minh là có ý muốn giá trị của chư hiền hữu thêm cao trọng nữa. Vậy Lão xin đừng để dạ phiền hà nghe!

Các con chớ phiền hà chuyện Thánh Thất xảy ra, ấy cũng một bước trắc trở trong đường Ðạo của Thầy.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

PHIỀN LÒNG

Phiền: Có tâm trạng buồn, khó chịu vì phải lo nghĩ nhiều. Lòng: Chỉ bụng dạ, biểu tượng cho tâm lý, tình cảm của con người.

Phiền lòng là buồn và cảm thấy không yên lòng.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có dạy: Bần Đạo buộc mới đây phải lập Thánh Lịnh định khuôn luật của cơ bút có nhiều lẽ Bần Đạo khoan dung. Khoan dung ấy làm cho phiền lòng Đức Lý, cho nên Đức Lý trách Bần Đạo cầm quyền Hộ Pháp trong tay điều trị, điều ấy mà không định luật của nó để rối loạn cơ bút, nên Bần Đạo lập Thánh Lịnh đó.

Đừng phiền lòng cơn giận lúc hờn,

Hễ để dạ giận hờn già dạy trẻ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

PHIỀN LUỴ

煩 累

Phiền: Rầy rà, rắc rối, sinh nhiều chuyện phải bận lòng. Luỵ: Ràng buộc.

Phiền luỵ là ràng buộc những việc phiền phức, hay rắc rối. Nhờ vả mãi phiền lụy anh quá.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Lấy tánh đức thường tình của một Bà Mẹ không có gì lạ, ta thấy vì trong một gia đình kia dầu rân rát, một người dầu quyền cao tước trọng, dầu làm quan Toà, quan Tham Biện hay Tể Tướng đi nữa mà bước vào nhà còn làm Tể Tướng thì Bà Mẹ không ưa lại thêm phiền lụy, làm quan với ai kia, chớ về nhà làm quan với gia đình à!

Thua được, được thua phiền luỵ mãi,

Trả vay, vay trả nghiệp nhân còn.

(Thơ Thuần Đức).

Bạn cùng trăng gió vơi phiền luỵ,

Tình với non sông nặng ái ân.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

PHIỀN MUỘN

煩 悶

Phiền: Có tâm trạng buồn bực, khó chịu vì phải lo nghĩ nhiều. Muộn: Rầu.

Phiền muộn là buồn rầu, tức là buồn và cảm thấy đau khổ, phải suy nghĩa nhiều.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Trung, con chớ phiền muộn lo buồn chi, địa vị mỗi con Thầy đã lập thành, cái tai nạn kia vừa qua thì có lẽ một ngày Thầy sẽ thấy các con thung dung mà hiến cho Thầy một sự trông cậy chắc chắn. Quyền thiêng liêng của Thầy nơi tay, nếu chẳng phải để dắt các con, chớ cho ai được?

Càng sợ hở thung huyên phiền muộn,

Thảm bao nhiêu gắng gượng làm vui.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

PHIỀN NÃO

煩 惱

Phiền: Có tâm trạng buồn bực, khó chịu vì phải lo nghĩ nhiều. Não: Âu sầu.

Phiền não là buồn bực.

Theo Phật, phiền não là những tâm hành có tính cách tiêu cực, có tác dụng làm náo loạn, làm cho mất đi sự an vui. Có ba loại phiền não chính: Tham, sân, si và sáu thứ phiền não căn bản là tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến, Đó là sáu phiền não gốc, có khả năng làm phát sinh ra nhiều thứ phiền não khác.

Thánh giáo Thầy dạy: Con đã để dạ ưu tư về mối Ðạo, đã lắm lần trưu cay ngậm đắng mà nhuộm nét nâu sồng, mong trau rạng mảnh gương để soi chung bước đàng sau mà lần đến cảnh tự tại thung dung, tránh bớt muôn điều phiền não.

Nương phướn Tây Thiên về cảnh tịnh,

Bỏ nơi phiền não chịu ai bi.

(Đạo Sử).

Nghìn thu tự toại vô phiền não,

Muôn thuở an nhàn bất tái lai.

(Thơ Thông Quang).

 

 

PHIỀN PHỨC

煩 複

Phiền: Có tâm trạng buồn bực, khó chịu vì phải lo nghĩ nhiều. Phức: Nhiều lớp.

Phiền phức là rắc rối, lộn xộn, lôi thôi. Cách làm đó quá phiền phức.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Không, các con ôi! Vì còn xác phàm nơi các con, nên các con mới để lòng phiền phức dường ấy.

Lẽ loi mãi chịu phiền phức mãi,

Trước sau lo kết dãi đồng tâm.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

PHIỀN TOÁI

煩 碎

Phiền: Có tâm trạng buồn bực, khó chịu vì phải lo nghĩ nhiều. Toái: Vụn vặt.

Phiền toái là nhiều và vụn vặt, ý chỉ việc phiền phức lôi thôi, rắc rối.

Như: Nhiều thứ nghi lễ phiền toái.

Chẳng nói chẳng nghe hơn nói thiệt,

Xa vòng phiền toái lặng nghiêm minh.

(Thơ Thanh Hương).

 

 

PHIỀN TRÁCH

煩 責

Phiền: Có tâm trạng buồn, khó chịu vì phải lo nghĩa nhiều. Trách: Quở, bắt lỗi.

Phiền trách là buồn lòng và trách cứ.

Trong Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Thánh giáo Thầy có dạy: Con cái muốn chi thì đặng nấy, Thầy đã nhiều phen bị mấy anh Thiêng liêng của các con phiền trách rằng: Thầy thương yêu thân cận các con quá lẽ mà làm cho sanh tật dể duôi và xúm nhau khuyên Thầy đừng thường giáng đặng để cho chúng nó dạy dỗ các con.

Vì thương mới nặng lời phiền trách,

Xử sao cho trong sạch nợ đời.

(Tứ Nương Giáng Bút).

 

 

PHIỆT DUYỆT

閥 閱

Ngày xưa, triều đình viết công trạng cho các vị công thần vào một cái bảng đem treo bên tả, gọi là “Phiệt”, treo bên hữu gọi là “Duyệt”.

Sách Sử Ký nói: Nêu rõ thứ bực gọi là Phiệt, tích số ngày lại gọi là duyệt.

Về sau, người ta gọi những gia đình quyền quý là “Phiệt duyệt” hay “Thế phiệt”.

Nhà phiệt duyệt lưu truyền nơi thế thượng, tỉnh Tây Ninh lớn nhỏ thảy đều thương,

Trí thông minh còn roi dấu thơ hương, miền Bến Nghé trẻ già nào chẳng rõ.

(Văn Tế Thượng Phẩm).

 

 

PHIÊU BẠC

飄 泊

Phiêu: Cuốn theo gió. Bạc: Đậu lại.

Phiêu bạc là khi thì cuốn đi, khi thì đậu lại, ý nói nay đây mai đó, trôi nổi không có chỗ ở nhứt định.

Đồng nghĩa với từ Nôm “Phiêu bạt” là trôi nổi, không có chỗ định.

Như: Phiêu bạc giang hồ hơn mười năm nay.

Từ đấy quên đi đời sóng gió,

Con thuyền phiêu bạc hết long đong.

(Thơ Hàn Sinh).

Tảo tần khuya sớm thân phiêu bạc,

An phận tháng năm kiếp sống bèo.

(Thơ Thuần Khiết).

 

 

PHIÊU BỒNG

飄 蓬

Phiêu: Cuốn theo gió. Bồng: Cỏ bồng.

Phiêu bồng là cỏ bồng bay theo gió, ý chỉ người đi trôi nổi, không có sở định.

Nằm trên sạp lịm ngôn từ,

Say vầng nguyệt tỏ hồn như phiêu bồng.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

Qua mấy lộ trình hơn nửa kiếp,

Mà sao chưa thoả chí phiêu bồng.

(Thơ Linh Hữu).

 

 

PHIÊU LINH

飄 零

Phiêu: Cuốn theo gió. Linh: Tàn tạ.

Phiêu linh là lá cây bị gió cuốn lay rụng. Nghĩa bóng: Thân thế không may gặp nhiều nỗi vất vả.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy nắm máy huyền vi, hằng lấy cân thiêng liêng mà day trở máy Càn khôn, vì vậy thế cuộc phải tuần hoàn, bầu nhơn sự phải luân chuyển vần xây phiêu linh cho đến buổi nhơn loại được vẹn toàn, thế giới cũng vì đó mà phải đổi thay, gạn đục lóng trong mà tạo thành miền Cực Lạc.

Đất chở trời che đời thiết thực,

Non Bồng nước Nhược cảnh phiêu linh.

(Thơ Vạn Năng).

 

 

PHIÊU LƯU

飄 流

Phiêu: Cuốn theo chiều gió. Lưu: Trôi theo nước.

Phiêu lưu là bị gió dập sóng dồi, hoặc chỉ việc đi nơi nầy đến nơi khác không có định hướng.

Phiêu lưu còn có nghĩa là không định hướng.

Trong Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp, Ngài có nói: Bần Ðạo đã nhiều lo ngại cho căn số con cái của Chí Tôn trong buổi phiêu lưu nơi hải ngoại, e ra vì nhẹ dạ của đôi phần tử Thánh Thể của Thầy, nên vừa để gót về đất Tổ Ðình thì đã quên hẳn mảnh thân tiều tuỵ hao mòn, vội cầm quyền của Ðạo đặng sửa đương cho đẹp vẻ chơn truyền...

Hồn quê dầu hưởng ân đền Thánh,

Mà kiếp phiêu lưu có bóng người.

(Thơ Hộ Pháp).

Con tưởng phiêu lưu nơi xứ lạ,

Về quê hương nhìn cội cả nhớ thung đường.

(Văn Tế Đốc Học).

 

 

PHIÊU PHI

飄 飛

Phiêu: Cuốn theo chiều gió. Phi: Bay.

Phiêu phi là bay phất phới theo chiều gió cuốn.

Như: Diều bay phiêu phi ở giữa lừng trời.

Hễ cầm cây đàn thì phiêu phi ở giữa lừng trời, nhiều khi tiếng đàn hợp với tinh thần...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

PHIẾU MẪU

漂 母

Phiếu: Giặt rửa. Mẫu: Mụ, bà.

Phiếu mẫu là bà mụ giặt lụa.

Điển tích chép trong Sử Ký: Lúc còn hàn vi, Hàn Tín ngồi câu dưới thành. Gần đó, có nhiều bà làm nghề giặt hàng lụa, trong đó có bà thấy Hàn Tín đói, mới cho cơm ăn, giúp hơn mười ngày như vậy. Bà ấy được gọi là “Phiếu mẫu”.

Tín nói rằng: Tôi nguyện sẽ đền đáp ơn nặng của bà. Nghe vậy, bà giận nói: Làm người trượng phu, không kiếm đủ miếng ăn, tôi thấy thương tình cấp dưỡng, chứ đâu phải mong đền đáp?

Sau này, Hàn Tín được phong vương, mời bà phiếu mẫu đến tặng nghìn vàng.

Chén nước Mậu Sanh hơn rượu quý,

Bát cơm Phiếu Mẫu đượm tình thương.

(Thơ Chơn Tâm).

Bát cơm Phiếu Mẫu tình thâm thuý,

Chén nước Mậu Sanh, nghĩa đậm đà.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

PHÍM

Phím là miếng bằng gỗ, nhựa hay kim loại gắn vào cần để đỡ dây đàn và định cung bậc. Như: Phím đàn, tơ chùng phím loan.

Truyện Kiều của Nguyễn Du có câu: Lời xưa đã lỗi muôn vàn, Mảnh hương còn đó phím đàn còn đây.

Hễ muốn cho hoà tiếng tranh kìm,

Kìm sửa phím tranh lên cho đúng bực.

(Phương Tu Đại Đạo).

Ghì phím ngọc thơ chan rỉ rả,

Nhấn đường tơ nhạc toả trùng trùng.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

PHÍM LOAN

Phím: Miếng gỗ, nhựa hay kim loại, dùng để chắn dây đàn trên một số loại đàn. Loan: Chim loan.

Trên cây đàn có Loan phụng trụ là cái trục dây đàn đóng kề nhau. Chim loan là chim mái, chim phụng là chim trống. Loan phụng ví như vợ chồng.

Phím loan là cái phím đàn, cũng có đôi được gắn chặt keo, chế bằng máu chim loan để ví vợ chồng.

Chừ sao chăn chiếu lạnh lùng,

Phím loan nín bặt, tranh tòng đứt dây.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Kính cẩn so dây, chọn phím loan,

Đón chào Kim Mẫu, tiết thu vàng.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

PHỈNH

Phỉnh là nói khéo để làm cho người ta tưởng thật, thích và nghe theo, làm theo.

Như: Lừa phỉnh, phỉnh nịnh, phỉnh phờ, nói phỉnh mấy câu là nghe ngay.

Du hành là kẻ bỏ đường tu,

Con sáng đừng nghe phỉnh lù mù.

(Đạo Sử).

 

 

PHỈNH PHỜ

Phỉnh: Lừa, gạt.

Phỉnh phờ, như chữ “Phỉnh, nói khéo cho người ta thích để xui làm việc gì.

Như: Nó dùng thủ đoạn phỉnh phờ mưa chuộc.

Vương mang đoạn thảm rối lòng tơ,

Trộm trách cao xanh khéo phỉnh phờ.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

PHO

Pho là từ dùng để chỉ từng đơn vị bộ sách hay bức tượng lớn và quý giá.

Như: Tủ sách còn mấy pho tiểu thuyết quý giá, mấy pho tượng Phật ở chùa bằng đồng đen.

Trước Ðiện lai rai ba chú Ðạo,

Sau hiên meo mốc mấy pho kinh.

(Thơ Huệ Giác).

Học đạo thiếu văn thuyền chích lái,

Cũng nên tìm kiếm một đôi pho.

(Nhan Hồi-Tử Tư Giáng).

Ban vạn loại pho Kinh Tận Độ,

Cứu Nguyên nhân mãn số siêu thăng.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

PHÓ

1.- Phó là giao cho, cấp cho, trao cho, để cho chịu trách nhiệm hoàn toàn. Như: Phó thác, phó mặc, giao phó.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Con đến đây với tấm lòng thành thật để làm việc phải cho giống dân biết phục thiện hiện đang giao phó cho con.

Ðạo cao phó có tay cao độ,

Gần gũi sau ra vạn dặm trường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Phó là bậc phụ, bậc thứ, đối với chánh.

Như: Phó Hội Trưởng, phó Chưởng Quản, phó giám đốc một công ty giầy da.

Tiếp Tân mừng chị kính đôi hàng,

Trách nhiệm vừa kiêm Phó Trưởng ban.

(Thơ Chơn Tâm).

3.- Phó là tới, đến. Như; Phó nhậm, phó lỵ, phó hội, phó yến.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Ngày kia nhơn mời ngài đi phó yến, Tào Tháo thấy ngựa cũa Ðức Ngài (Quan Thánh) quá ốm, bèn khiến kẻ tuỳ tùng dắt đến một con ngựa sắc đỏ như than lửa, vóc cao sức lực mạnh mẽ, rồi sai thắng đủ yên lạc mà ban cho Ðức Ngài, Ðức Ngài nhìn ngựa rồi lật đật quỳ xuống lạy tạ.

Cung Diêu về phó Hội Bàn Đào,

Bà Nữ Đầu Sư phẩm tối cao!

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

PHÓ HỘI

赴 會

Phó: Đi đến. Hội: Hội nghị, Họp nhau.

Phó hội đi tham dự cuộc hội. Ví dụ như: Phó Hội Bàn Đào là đi dự Hội Yến Diêu Trì Cung do Đức Phật Mẫu tổ chức nơi cõi Thiêng Liêng.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Bát Nương Diêu Trì có đoạn: Cuộc Hội Yến đến đây rất long trọng. Các chị nơi Diêu Trì Cung đều sửa soạn trang hoàng, hô hào nô nức đặng đến phó hội.

Âu du phó hội chủ hoà,

Giảng cho dân tộc nước nhà thương yêu.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

PHÓ MẶC

Phó: Giao cho, cấp cho, trao cho, để cho chịu trách nhiệm hoàn toàn. Mặc: Không thèm nói đến, không để ý đến.

Phó mặc có nghĩa là giao cho và để mặc làm gì thì làm, ra sao thì ra.

Như: Mọi việc nó phó mặc cho may rủi.

Nắm chặt khuôn linh sửa nét trần,

Nên hư đã phó mặc Hồng Quân.

(Thanh Sơn Đạo Sĩ).

Vầy nhau phó mặc hồi xuôi ngược,

Kỉnh Phật dầu ai nói gỗ tròn.

(Thơ Thái Phong).

Tùng bách há sờn cơn bão tuyết,

Sặt lau phó mặc trận cuồng phòng.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

PHÓ NHẬM

赴 任

Phó: Đi đến. Nhậm (nhiệm): Gánh vác.

Phó nhậm là đi đến chỗ làm việc quan, hay nói khác hơn, quan chức đến nhận nhiệm sở.

Như: Ông ấy về phó nhậm chức Cai Tổng Hàm Ninh Thượng.

Đó là lấy tích ông Triệu Biện đời Tống làm quan thanh liêm đến nỗi khi đi phó nhậm chỗ nầy sang chỗ khác, chỉ đem theo một con hạc và cây đàn cầm...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

PHÓ TỔNG GIÁM

副 總 監

Phó: Bậc thứ, phụ. Tổng: Đứng đầu để chỉ huy. Giám: Coi sóc.

Phó Tổng Giám là một chức vụ trong đạo Cao Đài, làm đầu nhiều Sở, thuộc cơ quan Công thợ của Hội Thánh, dưới quyền Tổng Giám.

Cơ quan Công thợ của Hội Thánh có nhiều Sở chuyên môn, như Sở Mộc, Sở Hồ, Sở Đắp Vẽ...

Ban Kiến Trúc cũng là một cơ quan Công thợ của Hội Thánh, đứng đầu là một vị Tổng Giám, dưới quyền có nhiều vị Phó Tổng Giám và Tá Lý.

Phó Tổng Giám đối phẩm với Lễ Sanh hay Giáo Thiện bên Cửu Trùng Đài và Cơ Quan PhướcThiện.

Phó Tổng Giám đối hàm Lễ Sanh hay Giáo Thiện.

(Chánh Trị Đạo).

 

 

PHÓ TRỊ SỰ

副 治 事

Phó: Bậc thứ, phụ. Trị: Sắp đặt cho yên. Sự: Việc.

Phó Trị Sự là một phẩm Chức Việc do Đức Lý Giáo Tông lập ra để giúp việc cho Chánh Trị Sự và làm đầu hành chánh một Ấp đạo.

Trong Pháp Chánh Truyền cho rằng: Phó Trị Sự là Giáo Tông em, vì chỉ nắm quyền hành chánh trong một Ấp đạo, giống như Giáo Tông cầm quyền hành chánh Cửu Trùng Đài.

Trong mỗi Hương đạo, có nhiều Phó Trị Sự tuỳ theo ấp đạo. Mỗi Ấp đạo là một vị Phó Trị Sự nắm về hành chánh.

Các Phó Trị Sự hiệp với Chánh Trị Sự và các vị Thông Sự trong một hương đạo, được gọi chung là Bàn Trị sự Hương đạo.

Phó Trị Sự cũng là Chức Sắc của Lý Giáo Tông lập thành.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

PHÒ

Phò, như chữ “Phù 扶”, là theo bên cạnh để giúp, hay nâng đỡ.

Như: Phò trợ, phò vua giúp nước, một lòng phò chính diệt tà, phò hộ, cứu trợ phò nguy.

Thần Hoàng Bổn Cảnh trong Thánh Ngôn HIệp Tuyển có câu: Ấy là từ đây Ngọc Ðế truyền lịnh cho ta phải theo phò chư Cao đạo hữu, nên ta lo lắng bội phần hơn khi trước.

Một kẻ Tiểu đồng phò Phất chủ,

Ðôi nàng Tiên nữ quạt hương trầm.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Phò Lưu Huyền Đức lắm công lao,

Chánh khí gương nêu vạn cổ làu.

(Cội Đạo Bốn Mùa).

 

 

PHÒ CƠ

Hay “Phò cơ”.

Phò (phù): Nâng đỡ. Cơ: Một vật dùng để cầu Thần Tiên. Loan: Chim loan, vì trên đầu cây ngọc cơ để cầu các Đấng Tiên Phật, có chạm hình đầu con chim loan.

Phò cơ, như chữ “Phù cơ 扶 乩”, là hai vị đồng tử ngồi hai bên ngọc cơ, mỗi người dùng hai tay cầm giỏ cơ nâng lên, để cho các đấng Thiêng liêng giáng điển vào ngọc cơ, làm cho cơ chuyển động viết thành chữ.

Phò cơ còn được gọi là phò loan, vì nơi đầu ngọc cơ có chạm hình đầu chim loan. Trong đạo Cao Đài các vị đồng tử được Đức Chí Tôn chọn trong các vị chức sắc Đại Thiên Phong của Hiệp Thiên Đài.

Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy: Phải có một Chơn linh tinh tấn mới mầu nhiệm, huyền diệu, phải trường trai mới đặng linh hồn tinh tấn, phải tập tành chí Thánh, Tiên, Phật, mới phò cơ dạy đạo cả chúng sanh.

Còn ai giúp sức Phò cơ Thánh,

Thiếu kẻ chung vai gánh Đạo Trời.

(Thơ Hiến Pháp).

Trường đời giáo hoá gầy anh tuấn,

Cửa Đạo Phò cơ độ chúng dân.

(Thơ Thượng Trí Thanh).

 

 

PHÒ DƯ

Phò Dư là một vị vua tàn ác và hay ố Đạo. Khi Đức Khổng Phu Tử giáng thế vào thời Nhị Kỳ Phổ Độ để chấn hưng Nho giáo ở Trung Hoa, có đến truyền Đạo ở nước của vua Phò Dư thì bị vua bắt giam hai năm và cấm không cho Đức Phu Tử đến lần thứ hai.

Những sự ác độc và tàn bạo của vua Phò Dư đối với dân làm động lòng trời, nên Trời phạt nước Phò Dư phải chịu hạn hán và thọ bịnh chướng ba năm để đền tội ác. Vua Phò Dư thấy vậy mới ăn năn, ra lịnh quần thần và dân chúng phải ăn chay để cầu nguyện giải ách cho nhân dân.

Đức Văn Xương Đế Quân được lịnh Thượng Đế xuống khuyên vua hồi tâm hướng thiện, Ngài hoá thành một con rồng xanh, miệng phun sáu tia hào quang, rồi cỡi lên sáu tia ấy bay đi khắp nước của vua Phò Dư để cảnh tỉnh đời và độ nhà vua. Đức Văn Xương đạp lên sáu tia trong miệng rồng là ngụ ý chế ngự lục căn là nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ý.

Bấy giờ vua Phò Dư mới hối ngộ, sai người mời Đức Khổng Tử đến để thọ giáo và truyền bá đạo lý trong khắp nước. Chẳng bao lâu những tai ương, bịnh tật trong dân chúng hết dần, trở lại đời an lạc.

Do vậy, ngày nay Đạo Cao Đài xây giảng đài theo điển tích Đức Văn Xương Đế Quân đạp lên sáu chia nơi miệng rồng phun ra, bay đi khắp nước để cảnh tỉnh nhà vua và dân chúng.

Xem: Đài Thuyết đạo.

Sáu tia lục dục đó mà,

Tích vua vô Đạo ấy là Phò Dư.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

PHÒ HỘ

Hay “Phù hộ”.

Phò (phù): Giúp đỡ. Hộ: Che chở.

Phò hộ, như chữ “Phù hộ 扶 護”, có nghĩa là giúp đỡ và che chở. Như: Phật phò hộ cho tai qua nạn khỏi.

Thánh giáo Đức Cao Thượng Phẩm có câu: Bần Ðạo giáng thế giao tình, ngày nay mới đặng hiểu nhau, thân mật cùng nhau, cái tình cảnh ấy là giềng Thiêng Liêng cột chặt nghĩa nhau, Bần Ðạo tuy sanh Thiêng Liêng chi vị, nếu kẻ thường khó mà gần đặng, mà nay Bần Ðạo vì thọ ân nhau mới tận tâm phò hộ ấy vậy Bần Ðạo kiếm phương trả nghĩa thì cả thảy cũng nên liệu bề thủ nghĩa.

Anh linh hiển hách xin phò hộ,

Chuyển máy huyền linh độ lưỡng đài.

(Thơ Thượng Cảnh Thanh).

 

 

PHÒ LOAN

Hay “Phù loan”.

Phò (phù): Nâng đỡ. Loan: Trên đầu cần cơ có chạm đầu chim loan, nên còn gọi là “Loan”.

Trong đạo Cao Đài, khi muốn thông công cùng các Đấng Thiêng Liêng, Hội Thánh phải sử dụng ngọc cơ để cầu, gọi là Phò cơ, nhưng trên đầu cần cơ có chạm hình đầu con chim loan, nên Phò cơ còn được gọi là “Phò loan” hay “Phù loan 扶 鸞”.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy dạy: Vậy con lập cho đủ Ba Trấn chứng đàn, con phải lập bàn Ngũ Lôi như Thầy dạy lúc trước, phải có bùa Kim Quang Tiên, còn con viết bùa Giáng Ma Xử để bàn vọng Hộ Pháp, rồi Cư chấp bút nhang cho Thầy triệu Ngũ Lôi đến, rồi nó xuống đứng gần bàn Hộ Pháp với Tắc và Sang, còn mấy đứa phò loan đứng vòng theo đó

Mừng anh giũ sạch áo phồn hoa,

Lẻ cập Phò loan giúp Đạo nhà.

(Thơ Thái Đến Thanh).

Bao năm hoá chúng đầy thâm cảm,

Những lúc Phò loan đủ diệu huyền.

(Thơ Võ Thành Lượng).

Xây bàn chấp bút khai Thiên Đạo,

Phong Thánh phò loan độ thế trần.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

PHÒ LƯU DỰNG THỤC

Phò Lưu: Như chữ “Phù Lưu 扶 劉”, là theo phò tá Lưu Bị. Dựng Thục: Xây dựng nên nghiệp nhà Thục.

Phò Lưu dựng Thục, như chữ “Phù Lưu dựng Thục”, là nói đến Quan Võ có công theo phò tá Lưu Bị, giúp đánh đông dẹp bắc để dựng nên nhà Thục.

Xem: Quan Võ.

Tiết nghĩa trung can Hớn đảnh xây,

Phò Lưu dựng Thục một lòng ngay.

(Đạo Sử).

 

 

PHÒ LƯU VỰC HỚN

Phò Lưu: Như chữ “Phù Lưu 扶 劉”, là theo phò tá Lưu Bị. Vực Hớn: Giúp đỡ nhà Hớn để khắc phục tình trạng yếu kém vươn lên.

Phò Lưu vực Hớn, như chữ “Phù Lưu vực Hán”, là nói đến tích Quan Vân Trường, có công theo phò tá Lưu Bị để phục hưng nhà Thục Hớn.

Xưa vốn phò Lưu sau vực Hớn,

Phật phong Chơn Tể thưởng Kim Bài.

(Quan Thánh Giáng Bút).

 

 

PHÒ NGUY

Hay “Phù nguy”.

Phò (phù): Giúp đỡ. Nguy: Tai nguy.

Phò nguy, như chữ “Phù nguy 扶 危”, tức là cứu giúp trong lúc nguy cấp.

Trong Sớ Văn có câu: Cứu khổn phò nguy, tế độ nhơn sanh thoát ư tai nạn, hiệp hoà huynh đệ bằng hữu tương giao, sanh tử bất ly, thuỷ chung như nhứt.

Phò nguy trợ yếu anh hùng chí,

Giúp khó làm nên ít thấy thường.

(Đạo Sử).

Nghĩa nhơn cứu khổ nhà an lạc,

Du ngoạn phò nguy nước thái bình.

(Thái Đến Thanh).

Bác ái công bình phương giải khổ,

Bảo sanh nhân nghĩa thuyết phò nguy.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

PHÒ TÁ

Hay “Phù tá”.

Phò (phù): Giúp đỡ. Tá: Theo ở một bên mà giúp.

Phò tá, như chữ “Phù tá 扶 佐”, là theo ở bên cạnh mà giúp đỡ.

Như: Quan Võ kết nghĩa với Lưu Bị và theo phò tá.

Công đầy quả đủ trở về Tiên,

Phò tá Chí Tôn sửa mối giềng.

(Thơ Thông Quang).

 

 

PHÒ TRÌ

Hay “Phù trì”.

Phò (phù): Giúp đỡ. Trì: Giữ gìn.

Phò trì, như chữ “Phù trì 扶 持”, là giữ gìn, giúp đỡ, hay nói cách khác là che chở, bảo hộ cho. Như: Nhờ sức phò trì của chư Phật.

Thánh giáo Đức Hộ Pháp có câu: Từ đây khá chen vai gánh vác nền Đạo vì quá trễ rồi, cứ lấy hết thiện chí giúp nên cho Đạo, Bần Đạo sẽ phò trì các em.

Xưa chẳng đặng phước may gặp Đạo,

Nay phò trì con cháu tu tâm.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

PHONG

1.- Phong là nói vua hay các Đấng Thiêng Liêng ban phẩm tước, hoặc cắt đất chia cho chư hầu. Như: Phong vương, phong chức sắc, phong hầu.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Thầy vì lẽ công mà phong chức sắc cho mỗi đứa cũng là do Toà Tam Giáo xin, chớ xem lại trong hàng môn đệ đã thọ tước cũng chưa đặng thấy mấy đứa cho xứng đáng.

Mình Thánh mình Hiền mình biết lấy,

Tặng phong quá tiếng chớ nhờ ai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chức Giáo Hữu phong cho đáng mặt,

Bỏ đời theo Phật gẫm nên đành.

(Đạo Sử).

2.- Phong là gói, bọc. Như: Phong thư, phong thuốc, rêu phong, niêm phong.

Thánh giáo Thầy có câu: Thảm thay! mà cũng tiếc thay! Gió khuất thuyền đưa, nhạn về rừng cũ. Con đường đạo hạnh đợi buổi khuất dấu, mờ mệt nét rêu phong, mới sửa soạn lần chơn, âu dễ biết vô phần hay hữu phúc.

Tấc son phong chặt niềm giao hảo,

Góp nhặt lời quê tạ mấy vần.

(Thơ Thuần Đức).

3.- Phong là gió. Như: Phong ba, phong thuỷ, phong thổ, phong trào.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Ðã từng chịu phong ba bão tố, bị chìm đắm mà chúng ta còn sống rốn nơi đây (rescapé) tức là Chí Tôn dành để lại hột giống lành để làm căn bản cho cội hạnh phúc hoà bình đại đồng thế giới thì sự ưu ái nhau rất nồng nàn hơn tình cốt nhục.

Hạnh phùng bình thuỷ thân an tại,

Nhược ngộ phong ba phận đảo huyền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Một bầu phong nguyệt say ngơ ngáo,

Ðầy túi thơ văn đổ chứa chan.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

4.- Phong là thái độ, phẩm cách.

Như: Phong độ đạo đức, phong lưu rất mực, phong cách hào hoa, Tiên phong đạo cốt.

Tiên phong Phật cốt mỹ miều,

Vào Kinh Bạch Ngọc lễ triều Chí Linh.

(Kinh Tận Độ).

Gái lịch, trai thanh, nên đạo cốt,

Mụ thơ, lão trẻ, rất tiên phong.

(Thiên Thai Kiến Diện).

5.- Phong là thói, nếp. Như: Phong tục, phong hoá.

Thánh giáo Thầy có câu: Cang thường điên đảo, phong hoá suy vi, những mảng ghét lẫn nhau, giành xé nhau, mối tôn giáo phân chia, đạo nước nhà chẳng đoái, chánh tà tà chánh nan phân, còn chút hơi thở ở cõi trần mà tính tình dọc ngang chưa chịu dứt, một mai hồn xuống Diêm Ðài, khổ A Tỳ bảo sao không buộc trói.

Quốc Ðạo kim triêu thành Ðại Ðạo,

Nam phong thử nhựt biến nhơn phong.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Điệu chồng vợ phân phân phải phải,

Nét gia phong để lại cháu con bền.

(Phương Tu Đại Đạo).

6.- Phong là con ong, loài trùng có nọc độc, thường bay hút nhị hoa để gây mật.

Nhu: Phong mật (mật ong), phong lạp (sáp ong), phong nhưỡng mật.

Ngoài ra toàn vạn vật đều có tình hữu ái đối với ta “Khuyển thủ dạ, kê tư thần, tàm thổ tư, phong nhưỡng mật”.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

PHONG BA

風 波

Phong: Gió. Ba: Sóng.

Phong ba là sóng gió, dùng để chỉ những sự vất vả, nguy hiểm như chiếc thuyền đi giữa biển gặp sóng gió.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Đức Thượng Phẩm có câu: Chẳng lẽ cứ trầm lặng như mặt nước mùa thu sao? Có gió thổi thì mặt nước mới xao động. Từ gió đến cuồng phong thổi mạnh, nước dậy lên, khi mặt hồ nổi phong ba, thuyền Đạo tròng trành, chẳng những người chèo lẫn người giữ lái phải một phen cực nhọc nữa mới qua được bờ bỉ ngạn.

Lòng trần dầu muốn phong ba dứt,

Ðộ chúng tu nhơn chí nả nong.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Phong ba dầu được dìu qua khỏi,

Nhớ bởi chung nhau kết dải đồng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cân đai tuế nguyệt trêu hồn bướm,

Tên tuổi phong ba lắm bụi hồng.

(Đạo Sử).

 

 

PHONG CÁCH

風 格

Phong: Tập tục. Cách: Lề lối.

Phong cách là tập tục và lề lối tạo thành cái riêng biệt của mỗi người.

Như: Phong cách của một quân nhân, phong cách của người lãnh đạo.

Tinh thần tu niệm gìn phong cách,

Luật pháp nghiêm minh giữ đạo hằng.

(Thơ Huệ Phong).

Gìn sắc ngọc, giá trong, tiết sạch,

Gói vẹn tròn phong cách trung trinh.

(Phù Kiều Hận Sử).

 

 

PHONG CẢNH

風 景

Phong: Gió. Cảnh: Hình, sắc bày trước mắt.

Phong cảnh là cảnh vật, tức là cảnh tượng tự nhiên bày ra trước mắt.

Như: Phong cảnh quê hương rất hữu tình.

Người xưa quen thuộc đến vầy vầy,

Phong cảnh như mình có ở đây.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Phong cảnh hỏi qua xin khá tỏ,

Căn do hiểu thấu nói cho tàng.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

PHONG CƯƠNG

封 疆

Phong: Bờ cõi, như chức quan giữ việc coi ngoài bờ cõi nước gọi là phong nhân. Cương: Biên giới.

Phong cương là bờ cõi, tức là giới hạn biên giới giữa hai Quốc gia.

Xa thơ hầu ngã nước nhà nghiêng,

Ai giữ phong cương đặng vững bền.

(Đạo Sử).

Đèn rọi năm canh xây thế giới,

Súng đồng mấy khẩu giữ phong cương.

(Thơ Thuần Đức).

Tòng bá giữ bền gan sắt đá,

Có ngày thoả nguyện định phong cương.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

PHONG DI TỤC DIỆT

風 移 俗 滅

Phong di: Phong tục bị dời đổi. Tục diệt: Thói tục cũ bị tiêu mất.

Phong di tục diệt 風 移 俗 滅, đồng nghĩa với câu “Di phong dịch tục 移 風 易 俗”, là phong dời tục đổi, ý nói phong tục trong xã hội bị thay đổi.

Sanh gặp lúc ruộng dâu hoá bể, phong di tục diệt, nhìn nước non tha thiết tấm trung thành,

Ở phải hồi dĩ Lữ diệt Dinh, hiền vong ác thạnh,

Tìm công môn xa lánh cửa công khanh.

(Văn Tế Tiểu Tường).

 

 

PHONG DỜI TỤC ĐỔI

Phong dời: Phong tục trong xã hội đổi dời. Tục đổi: Thói tục con người thay đổi.

Phong dời tục đổi, đồng nghĩa với thành ngữ “Di phong dịch tục 移 風 易 俗”, tức là nói phong tục trong xã hội bị thay đổi.

Lời tựa Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Bậu bạn lỗi câu tín nghĩa, vợ chồng quên đạo tào khương; mãng vụ chữ kim thời mà phong dời tục đổi.

Nhơn vật khác vời,

Vị chữ kim thời,

Phong dời tục đổi,

Ðiền viên đất nổi lên vàng,

Oằn vai nông chịu muôn ngàn thuế sưu.

(Ngụ Đời).

 

 

PHONG ĐIỀU VÕ THUẬN

Hay “Phong điều vũ thuận”.

Phong điều: Gió điều hoà. (vũ) thuận: Mưa thuận.

Phong điều võ thuận, như chữ “Phong điều vũ thuận 風 調 雨 順” là gió hoà mưa thuận, ý nói thời tiết điều hoà, mùa màng tốt tươi hay chỉ đời thái bình thịnh trị.

Trong Sớ Văn có câu: Ngưỡng vọng Đức Đại Từ Phụ vận chuyển thế cuộc tảo đắc hoà bình, trật tự an ninh, quốc thới dân an, phong điều võ thuận.

Đàn tràng viên mãn chức sắc quy nguyên,

Vĩnh mộc từ ân phong điều võ thuận.

(Kệ Chuông).

 

 

PHONG ĐÔ

酆 都

Phong đô là Địa ngục, A tỳ, tức cõi giam cầm và trừng trị các tội hồn gây nhiều ác nghiệp lúc còn sống nơi thế gian.

Theo Phật Giáo, Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát làm giáo chủ cõi Phong Đô, nên Ngài được gọi là Phong Đô Đại Đế.

Thánh giáo Bát Nương Diêu Trì Cung có câu: Vậy thì chính lời nhiều tôn giáo, nơi ấy là những chốn phạt tù những hồn vô căn vô kiếp, nhơn quả buộc ràng, luân hồi chuyển thế, nên gọi là Âm quang, đặng sửa chữ Phong Ðô Ðịa phủ của mê tín gieo truyền, chớ kỳ thật là nơi để cho các Chơn hồn giải thân định trí.

Phong trần quen thú cung âm,

Cảnh thăng ngơ ngẩn lạc lầm Phong đô.

(Kinh Tận Độ).

Nam Mô Địa Tạng thi ân,

Đưa đường Thiên cảnh, lánh gần Phong đô.

(Kinh Tận Độ).

Cảm quang diêu động tâm tu,

Khai cơ giải thoát mở tù Phong đô.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

PHONG HOÁ

風 化

Phong: Phong tục. Hoá: Biến đổi, chỉ sự dạy dỗ.

Phong hoá là phong tục và văn hoá, tức là nói chung những phong tục tập quán có sẵn của dân tộc từ lâu làm cho đời sống con người được yên ổn, tốt đẹp.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Tuỳ theo phong hoá của nhơn loại mà gầy Chánh giáo, là vì khi trước Càn vô đắc khán, Khôn vô đắc duyệt, thì nhơn loại duy có hành đạo nội tư phương mình mà thôi.

Hạp theo phong hoá giữ đường tu,

Nước cạn non mòn đạo đức như.

(Đạo Sử).

Mấy mươi năm phơi trải tấc son,

Trọn một kiếp bảo tồn phong hoá.

(Thơ Hộ Pháp).

Trau gương phong hoá nâng tài trí,

Đỡ gánh xa thơ sửa mối giềng.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

PHONG HOÀ VÕ THUẬN

Hay “Phong hoà vũ thuận”.

Phong hoà: Gió điều hoà. (vũ) thuận: Mưa thuận.

Phong hoà võ thuận, như chữ “Phong điều vũ thuân 風 調 雨 順”, là gió hoà mưa thuận, ý chỉ thời tiết điều hoà, đời thái bình thịnh trị.

Phong hoà võ thuận đồng nghĩa với chữ phong điều võ thuận.

Xem: Phong điều võ thuận.

Phong hoà võ thuận tốt tươi,

Thuận hoà thời tiết hiện đời Phật, Tiên.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

PHONG KIẾN

封 建

Phong: Vua ban phẩm tước cho bề tôi. Kiến: Kiến địa là xây dựng đất đai.

Phong kiến là chế độ phong tước và kiến địa, tức là nhà vua phong tước và cắt đất cho chư hầu quản lý. Vua phong theo năm bực phẩm là Công, Hầu, Bá, Tử, Nam.

Ở Âu Châu về đời Trung cổ, ở Trung Hoa về đời Tần, chế độ phong kiến thịnh hành lắm.

Ngày xưa thời phong kiến danh từ tín ngưỡng có nghĩa là: “Tin cậy với sự thành kính một Đế Vương hào kiệt nào?”

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

PHONG KHÍ ÔN HOÀ

風 氣 溫 和

Phong khí: Hơi gió, chỉ về khí hậu. Ôn hoà: Không nóng, không lạnh, chỉ sự ấm áp.

Phong khí ôn hoà là thời tiết ấm áp, khí hậu mát mẻ điều hoà.

Phong khí ôn hoà thì làm cho con người, vạn vật được khoẻ mạnh và tươi tốt.

Kim vì Tân Xuân Nguyên Đán phong khí ôn hoà, Thiên địa giao thừa...

(Sớ Văn).

 

 

PHONG LƯU

風 流

Phong: Gió. Lưu: Nước chảy.

Phong lưu là gió thoảng nước trôi.

Từ ngữ này dùng để chỉ những người học thức, có phong độ thanh nhã, cử chỉ đài các cuộc sống lãng mạn, trái với sự quê mùa ty tiện.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Nhạc là món ăn tinh thần đứng đầu trong bốn thú phong lưu của Thánh hiền thời xưa là Cầm, Kỳ, Thi, Hoạ và các bậc Thánh hiền đã dùng Nhạc để đạt đến lý tưởng cao siêu, giúp ích cho sự kinh bang tế thế, xây dựng nước nhà

Nặng mang nỗi nợ phong lưu cũ,

E nỗi đường tu phải chịu sầu.

(Bát Nương Giáng Bút).

Dầu trẻ đã phong lưu quen tánh,

Mình đừng ngăn trẻ lánh điều vui.

(Phương Tu Đại Đạo).

Này trăng này gió, này non nước,

Cái thú phong lưu cái thú nhàn.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

PHONG NGUYỆT

風 月

Phong: Gió. Nguyệt: Trăng.

1.- Phong nguyệt là trăng và gió, chỉ cảnh trăng trong gió mát.

Phong nguyệt ý nói những người yêu thích cảnh trăng thanh gió mát, vui với quang cảnh thiên nhiên không thiết đến cảnh phồn hoa náo nhiệt của cuộc đời vật chất.

Một bầu phong nguyệt say ngơ ngáo,

Ðầy túi thơ văn đổ chứa chan.

(Đạo Sử).

Một bầu phong nguyệt chừ vui thú,

Hứng giọt ma ha rải phép lành.

(Thơ Cao Tiếp Đạo).

2.- Phong nguyệt là trăng gió, dùng để chỉ việc trai gái hẹn hò, tình tự với nhau.

Phong nguyệt đồng nghĩa với nguyệt hoa, trăng hoa.

Giấc phong nguyệt xem bằng tuý mộng,

Vợ cùng hầu so sống đồng thương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Liếc mắt ngó vào trường phong nguyệt,

Mua trận cười nào tiếc ngàn vàng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

PHONG NHÃ

風 雅

Phong: Tức là Quốc phong, tên một thiên trong Kinh Thi, nói về thói tục trong nhân gian. Nhã: Tức Đại Nhã và Tiểu Nhã, tên hai thiên trong Kinh Thi, thường nói về triều đình.

Phong nhã dùng để chỉ những gì có cái vẻ văn chương, thanh nhã.

Như: Anh là con người hào hoa phong nhã.

Nòi phong nhã nếp thư hương,

Trông đẹp làm sao hiếu nghĩa đường.

(Thơ Hoàn Nguyên).

Văn chương mến tiếc người phong nhã,

Đức độ ai hoài bậc triết nhân.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

PHONG NHUỴ

封 蕊

Phong: Đóng kín. Nhuỵ (nhị): Nhuỵ hoa, có công dụng truyền giống cho cây.

Phong nhuỵ tức là nhuỵ hay nhị hoa còn nguyên, nói người con gái còn ngây thơ trinh trắng, ý muốn ví người thiếu nữ mới lớn, còn ngây thơ, trinh trắng.

Cẩm phong nhuỵ đào thơ nở bóng,

Vẻ trân cam lồng lộng mùi thơm.

(Nhị Nương Giáng Bút).

 

 

PHONG PHÚ

豐 富

Phong: Đầy, thịnh. Phú: Giàu có.

Phong phú là giàu có, đủ đầy. Phong phú còn dùng để chỉ dồi dào, nhiều và lắm màu vẻ.

Trong quyển Giáo Lý, Ngài Tiếp Pháp có dạy: Sau khi sưu tầm và chọn lựa những Thánh giáo được Ơn Trên dạy rải rác trong các Đàn Cơ, chúng ta nhận thấy Giáo Lý Cao Đài rất là dồi dào phong phú dạy chúng ta đủ các khía cạnh của môn huyền bí học nào là vũ trụ, nhơn sanh, luân hồi, quả báo, tiến hoá, hy sinh, nào là lập công bồi đức, huynh đệ đại đồng, cùng phương pháp tu tánh luyện mạng; phản bổn phục huờn nguyên, siêu phàm nhập Thánh, vân vân.

Lời thơ nhắc lại hơi phong phú,

Nghiệp cả xem qua chí kiệm cần.

(Thơ Vạn Năng).

 

 

PHONG QUANG

風 光

Phong: Gió. Quang: Ánh sáng.

Phong quang là gió và ánh sáng.

Cổ thi có câu: Nhật hoa xuyên thượng động, phong quang thao tế phù 日 華 川 上 動, 風 光 草 際 浮, nghĩa là ánh sáng mặt trời rực rỡ, lay động trên mặt nước, ánh sáng của gió nổi trên cỏ.

Lời chú thích của Ngũ Thần: Gió không có ánh sáng, ánh sáng nằm trên cỏ. Mỗi khi gió thổi đến lay động ánh sáng ấy, khiến ta cảm tưởng gió có ánh sáng.

1.- Phong quang được dùng để chỉ phong cảnh.

Phong quang rỡ rỡ màu hoa gấm,

Tô điểm non sông ngọn bút thần.

(Thơ Thuần Đức).

Mây lành xuất hiện đẹp phong quang,

Trường thế hơn thua rõ đá vàng.

(Thơ Tiếp Đạo).

2.- Phong quang còn dùng để chỉ phẩm cách đẹp đẽ.

Triều thiên nhứt lộ định phong quang,

Bất nhạ trần ai khả quý nhàn.

(Đạo Sử).

Một thổ võ xưa kia nên tuấn tú,

Bị tay phàm làm xấu nét phong quang.

(Đạo Sử).

 

 

PHONG SẮC

封 敕

Phong: Vua hay Đức Chí Tôn ban phẩm tước cho bề tôi hay người có công với Đạo. Sắc: Sắc lệnh, một văn bản viết lệnh của vua hay Đức Chí Tôn, Hội Thánh.

Phong sắc, như chữ “Sắc phong 敕 封”, là vua hoặc Đức Chí Tôn ban lịnh phong chức cho những người có công nghiệp.

Trong Pháp Chánh Truyền Chú Giải có câu: Tờ phong sắc cho Chánh Trị Sự thì phải có Giáo Tông và Hộ Pháp ký tên mới đặng.

Còn cả chư ái nữ, Thầy sẽ lập đại hội cho đủ mấy vị rồi sẽ phong sắc một lần.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

PHONG SƯƠNG

風 霜

Phong: Gió. Sương: Hơi nước ban đêm ở trên không rơi xuống.

Phong sương dùng để chỉ quang cảnh thiên nhiên gồm có sương và gió.

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du có câu: Phong sương được vẻ thiên nhiên, Mặn khen nét bút càng nhìn càng tươi.

Phong sương còn dùng để chỉ sự gian nan cực khổ, đi vào nơi gió sương.

Bước đường hồ thỉ chưa nên mặt,

Mái tóc phong sương ướm đổi màu.

(Thơ Thanh Thuỷ).

Chợ đời từng trải gót phong sương,

Rõ mặt trần ai biết chán chường.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

PHONG TẶNG

封 贈

Phong: Ban chức tước cho người có công. Tặng: Cho, hay phong chức cho người chết.

Phong tặng là phong và ban cho chức tước.

Phong tặng còn có nghĩa phong tước cho cha hoặc ông, vì con cháu làm quan và có công lao lớn.

Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Sưu Tập có dạy: Thái Bạch khen lắm, nhưng mà nó nói sẽ sửa lại chút ít và phong tặng hàm cho mỗi đứa đủ quyền hành chánh. Trung, Tắc! Từ đây, như Thầy dạy điều chi, ráng để chí lo cho toàn phận sự, đừng làm việc bạo động nữa nghe.

Ðóng cửa dạy nhà nên đạo nghĩa,

Chẳng vui phong tặng cũng vui tài.

(Đạo Sử).

 

 

PHONG TỊCH

封 籍

Phong: Vua hay Đức Chí Tôn ban phẩm tước cho bề tôi hay người có công với Đạo. Tịch: Sổ bộ.

Phong tịch tức là phong phẩm tước và ghi công lao vào sổ bộ.

Trong Đạo Cao Đài, những người có công được Hội Thánh phong phẩm chức sắc, rồi ghi vào sổ bộ để Hội Thánh lưu giữ.

Thánh giáo Thầy có dạy: Các con nên nhớ, Thầy lấy từ bi phong tịch, nhưng Chức sắc nếu vì áo mão hơn đạo đức thì tội chất bằng hai.

Các con, phần nhiều chư môn đệ ham muốn phong tịch, nhưng chưa hiểu Thiên phong là gì?

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

PHONG TÌNH

風 情

Phong: Gió. Tình: Chỉ sự yêu thương giữa trai gái.

Phong tình chỉ mối tình không bền chặt, tình như cơn gió thoảng qua. Ý muốn nói tình lẳng lơ, lãng mạn.

Phong tình là tình trăng gió, tình ân ái giữa đôi trai gái không đứng đắn.

Cao niên biết tuyển hiền đáng mặt,

Khỏi lầm mưu kẻ giặc phong tình.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Coi chừng lựa sách, thơ, tuồng, truyện,

Những phong tình đừng khiến cho coi.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

PHONG TÌNH HUÊ NGUYỆT

Hay “Phong tình hoa nguyệt”.

Phong tình: Tình cảm lãng mạn, lẳng lơ giữa trai gái. Huê (hoa) nguyệt: Hay nguyệt hoa là trăng hoa, chỉ trai gái tình tự, hẹn hò nhau bất chánh.

Phong tình huê nguyệt, như chữ “Phong tình hoa nguyệt 風 情 花 月”, là tình cảm lãng mạn, lẳng lơ giữa trai gái ngoài vòng lễ giáo.

Truyện phong tình hoa nguyệt là những câu truyện tình nhảm nhí, dâm đãng, làm hại luân thường đạo lý.

Chẳng được soạn hay ấn hành những truyện phong tình huê nguyệt...

(Tân Luật).

 

 

PHONG TƯỚC

封 爵

Phong: Vua hay Đức Chí Tôn ban phẩm tước cho bề tôi hay người có công với Đạo. Tước: Chức tước, hay phẩm tước.

Phong tước là vua phong chức tước cho bề tôi hay trong tôn giáo Cao Đài, Đức Chí Tôn ban phẩm tước cho người có công với Đạo.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có câu: Chính tay Lão đã lập Nghị Định thứ 8, có đâu Lão lại phá luật, còn Đài Hiệp Thiên do Hộ Pháp nắm giữ, có đâu Lão lại quá quyền phạm pháp, phong tước cho Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài.

Phong tước Thiên Tiên bảng ngọc đề,

Giác rồi trở lại độ người Mê.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

PHONG THÁNH

封 聖

Phong: Vua ban tước hiệu, hoặc Đấng thiêng liêng ban phẩm tước. Thánh: Bậc Thánh.

Trong Đạo Cao Đài, Phong Thánh tức là Đức Chí Tôn hay Đức Lý Giáo Tông phong phẩm chức sắc vào hàng Thánh trở lên.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy dạy: Thái Bạch đã hứa cùng Thầy rằng, qua ngày Toà Tam Giáo Nữ phái rồi thì nó sẽ phong Thánh thêm nữa. Các con ráng mà chiều theo lòng nó nghe.

Xem: Cơ Phong Thánh.

Xây bàn chấp bút khai Thiên Đạo,

Phong Thánh phò loan độ thế trần.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

PHONG THẦN

封 神

Phong: Vua ban tước hiệu. Thần: Hàng Thần, bậc linh thiêng, có thể gây hoạ phúc.

Ngày xưa, vua là vị thiên tử (con Trời), nên có quyền phong thần, tức là ban chức phẩm và tước hiệu cho các vị thần linh.

Trong truyện Hoa Tiên có câu: Dù chưa cắt hết tơ trần, Đành cho lập miếu phong thần về sau.

Theo Cao Đài, ở Trung Hoa trong đời nhà Châu, thuộc Nhị Kỳ Phổ Độ có Khương Thượng Tử Nha, thay mặt cho Nguơn Thỉ Thiên Tôn, chiếu theo danh sách trong bảng Phong Thần mà sắc phong cho chư tướng tử trận, cùng các Đạo sĩ tu hành thiếu công đức vào hàng Thánh, Tiên và Phật vị, phải chịu vào phẩm Thiên Thần, đó gọi là “phong Thần”.

Phong Thần đừng tưởng chuyện mờ hồ,

Giữa biển ai từng gặp Lão Tô?

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Đài vân Quan Võ để phong Thần,

Còn của Thầy đây để nhắc cân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thanh thế con người toan cải ác,

Tùng theo nhơn cách đặng phong Thần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

PHONG THƯỞNG

封 賞

Phong: Vua ban tước hiệu, theo Cao Đài, Đức Chí Tôn ban phẩm tước. Thưởng: Khen người có công.

Phong thưởng là đem phẩm tước ban cho người có công nghiệp với Đạo.

Thánh giáo Chí Tôn có dạy: Vậy các con đứa nào đã được thưởng phong cũng chẳng nên vội mừng mà quên phận sự, còn mấy đứa chưa đặng phong thưởng cũng không nên vội buồn mà thất đạo tâm.

Kỳ dư Thầy phong thưởng riêng mới đi khỏi ngã ấy mà thôi, nghe à.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

PHONG TRÀO

Phong: Gió. Trào (triều): Thuỷ triều, tức con nước ở bể dâng lên cao.

Phong trào, như chữ “Phong triều 風 潮” là gió và nước thuỷ triều. Nghĩa bóng: Chỉ khuynh hướng rất mạnh một thời.

Thánh giáo Thầy có câu: Ai là khách hữu phần, ai là người vô quả, tánh thiêng liêng đã vì công lý mà ra tay tế độ, vớt kẻ giữa bến trần, khá biết thời thế lần vào nương dựa bóng thái dương, để bước vào con đường minh huệ, tìm suối lặng non Thần, rửa chút bợn nhơ đã vì phong trào mê muội mà cam chịu lấp kín gót trần.

Đến đây, chúng tôi mới hiểu rằng phong trào phò cơ, chấp bút, xây bàn trước kia là tiên triệu cho một nền Tân Tôn Giáo xuất hiện tại xứ Việt Nam.

(Giáo Lý).

 

 

PHONG TRẦN

風 塵

Phong: Gió. Trần: Bụi bặm.

Phong trần là gió và cát bụi. Có nhiều nghĩa:

1- Phong trần dùng để chỉ nạn chiến tranh:

Trong Chinh Phụ Ngâm Khúc của Đặng Trần Côn có câu: Thiên địa phong trần, Hồng nhan đa truân 天 地 風 塵, 紅 顏 多 迍. Nghĩa là trời đất nổi gió bụi, má hồng nhiều truân chuyên.

Quốc Sử Diễn Ca có câu: Ngàn tây nổi áng phong trần, Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên.

2- Phong trần còn dùng chỉ nỗi khó khăn, gian khổ:

Thơ Đỗ Phủ đời nhà Đường có câu: Bạc hoạn tẩu phong trần 簿 宦 走 風 塵. Có nghĩa: Chức mỏng chạy trong gió bụi, tức là quan nhỏ chịu nhiều nỗi khổ sở trên bước đường công danh, quan lại.

Còn thân sống chịu phong trần,

Dứt hơi dầu muốn trọn gần cũng xa.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Biển Nam Hải thuyền Tiên đưa khách,

Động Bồng Lai phủi sạch phong trần.

(Xuân Hương Giáng Bút).

Núi rừng thủ phận thanh bần,

Tịnh thanh một cõi phong trần mặc ai.

(Thơ Hộ Pháp).

3- Phong trần dùng để chỉ sự truỵ lạc:

Những cô gái kỹ nữ được gọi là truỵ lạc phong trần 墜 落 風 塵.

Đời nhà Đường, Phan Tứ Tiện đề vào bức ảnh của một kỹ nữ: Gia hựu phong trần trung nhân diệc như thử, thịnh tai! 嘉 又 風 塵 中 人 亦 如 此. 盛 哉!, nghĩa là trong chốn yên hoa cũng có người đẹp như thế này, thịnh vậy tai!

Tầng nghe giá tuyết trong ngần,

Cớ sao bị nhiễm phong trần bởi đâu?

(Nữ Trung Tùng Phận).

Khách phòng tiêu phải đoạ phong trần,

Còn chi nữa phòng cần kiếp sống.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

PHONG VÂN

風 雲

Phong: Gió. Vân: Mây.

Phong vân là gió và mây, thường dùng để ví gặp dịp tốt để lập công danh, sự nghiệp, giống như rồng gặp mây, cọp gặp gió.

Trong Kinh Dịch có câu: Vân tùng long, phong tùng hổ, Thánh nhân tác nhi vạn vật đổ 雲 從 龍, 風 從 虎, 聖 人 作 而 萬 物 睹, nghĩa là mây theo rồng, gió theo cọp, công việc của Thánh nhân làm vạn vật đều thấy rõ.

Thổi khí vĩnh sanh lau xã tắc,

Mở đường quốc thể định phong vân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Phong vân phải thế buổi bay rồng,

Nanh vuốt bây chừ đủ cánh lông.

(Bát Nương Giáng Bút).

Dạy gắng học sáu thao ba lược,

Hầu có ngày rộng bước phong vân.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

PHONG VÕ

Hay “Phong vũ”.

Phong: Gió. (vũ): Mưa.

Phong võ, như chữ “Phong vũ 風 雨”, là mưa gió.

Phong võ còn dùng để chỉ những mối nguy hiểm trong cuộc sống, hay những tai vạ xảy đến bất kỳ.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chơn Cực Lão sư có câu: Chư đạo hữu phải lọc lừa lại, tìm người có tâm chí kết liên thân ái, chung hiệp nhau, bỏ sự lãng phí, dụng đồng tài nơi giọt mồ hôi, được tích thiểu thành đa, gầy dựng một cái nhà chung, để ngày phong võ nương dựa được thung dung, ngồi ngắm thế sự và chấn hưng mối Ðạo quý hoá.

Thuyền từ đã trải cơn phong võ,

Đuốc tuệ từng soi bạn hải lâm.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

PHÓNG

1.- Phóng là ném mạnh ra, bắn ra, thả ra, hướng mạnh về.

Như: Phóng pháo, phóng lao phải theo lao, âm thanh phóng ra theo hướng Phong đô.

Thần chung thinh hướng phóng phong đô,

Địa Tạng khai môn phóng xá cô.

(Kệ Chuông).

2.- Phóng là buông ra, thả ra. Như: Phóng sinh, phóng thích, giải phóng.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Tự ta làm cho đời ta phải khổ, ta tự trói buộc vào vòng luân hồi thì ta phải tự tháo mở, tự giải phóng cho ta vậy.

Luồng gió ồ ào vừa thổi dậy,

Mấy anh tỉnh mỉnh phóng lên kêu.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

PHÓNG SANH

Hay chữ “Phóng sinh”.

Phóng: Thả ra. Sanh: Sống.

Phóng sanh, như chữ “Phóng sinh 放 生”, là vì sự sống mà thả các loại thú cầm.

Khi bắt được chim cá hay thú vật thả ra cho nó sống, chứ không giết chết, gọi là phóng sanh.

Tu kiều, bồi lộ, phóng sanh,

Thi ân bố đức, để dành kiếp sau.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

PHÓNG TÂM

放 心

Phóng: Buông lỏng. Tâm: Cái Tâm.

Phóng tâm là buông thả cái tâm, tức là để tâm tự do suy nghĩ điều nầy điều khác, để tâm tự do buông lung, phóng dật, nên Phật giáo thường gọi là Tâm viên ý mã, nghĩa là tâm ý quay cuồng như vượn và ngựa.

Nếu để cho phóng tâm thì tâm của con người thường hay thay đổi chạy nhảy, do đó cần phải điều phục tâm ý được định tĩnh, tập trung không cho tán loạn để được an lạc và có thể quán chiếu sâu sắc mọi sự vật.

Thành thật thì được người tín nhiệm, tin dùng; hiền lành thì ngăn được phóng tâm...

(Giáo Lý).

 

 

PHÓNG TÚNG

放 縱

Phóng: Buông thả. Túng: Thả ra.

Phóng túng là nói người không bị ràng buộc.

Đại Thừa Chơn Giáo có câu: Ấy vậy, nay các con nếu muốn dưỡng trau phần hồn cho thanh khiết thì cốt nhứt là đừng để tâm thần lay động, phóng túng ra ngoài, mà cần giữ sao cho tự-nhiên, yên tịnh luôn luôn mới được.

Tập em dại biết ham làm lụng,

Đừng nêu gương phóng túng chơi bời.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

PHÓNG THÍCH

放 釋

Phóng: Buông, thả. Thích: Bỏ đi, trừ bỏ đi.

Phóng thích là buông tha, tức thả tội nhân ra, hoặc nói thả người hay vật đang bị giam giữ.

Thí dụ: Phóng thích tù phạm.

Tào Tháo thì áo giáp mất hết, xuống ngựa quỳ lạy cầu xin Ðức Ngài (Quan Thánh) nhớ ơn ngày trước mà phóng thích.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

PHÓNG XÁ CÔ

放 赦 辜

Phóng: Thả ra. Xá: Tha cho. Cô: Tội lỗi.

Phóng xá cô là rộng lòng tha thứ và thả cho những kẻ có tội lỗi.

Ở đây, ý nói tha thứ cho những vong hồn có tội lỗi được thoát khỏi Âm quang để chờ ngày thoát hoá.

Thần chung thinh hướng phóng phong đô,

Địa Tạng khai môn phóng xá cô.

(Kệ Chuông).

 

 

PHÒNG

1.- Phòng là buồng. Như: Phòng ăn, phòng làm việc, phòng ngủ, phòng ốc, phòng trù.

Dạy về cách dâng bộ Tân Luật, Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Phải làm một phòng thanh tịnh mà giả làm Hiệp Thiên Ðài. Thập nhị Thời Quân phải có mặt, Thượng Sanh, Thượng Phẩm phải có mặt.

Lần lựa cô phòng xuân thỏn mỏn,

Xa xuôi ai thấu nỗi đinh ninh.

(Bát Nương Giáng Bút).

Nếu gặp phước bố kinh đáng khách,

Biết yêu hoa dưới ngạch phòng thu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Phòng là giữ gìn, hoặc liệu để có biện pháp tránh, ngăn ngừa những điều không hay xảy ra.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Phẩm vị Tiên, Phật để thưởng cho kẻ lành mới đáng phẩm vị, chớ chẳng phải của để treo tham cho thế gian phòng toan đạt đặng.

Phòng cơn biển nọ hoá vườn dâu,

Chưa hết quan viên há hết chầu.

(Đạo Sử).

Chừ sao phụ nghĩa sơ giao,

Phòng toan ném gánh tâm đầu sông Ngân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Khi anh được nhà to cửa rộng,

Thì phòng khi kiếp sống bể dâu.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

PHÒNG BỊ

防 備

Phòng: Giữ gìn, ngăn ngừa, liệu trước để tránh những điều không hay xảy ra. Bị: Phòng giữ, dự trước.

Phòng bị là đề phòng sẵn, tức dự bị ngăn ngừa trước những việc không hay có thể xảy ra.

Như: Để dành lương thực phòng bị ngày mưa bão.

Phú cường xa xỉ không phòng bị,

Bần tiện cần cù giữ kỷ cang.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

PHÒNG ĐÀO

房 桃

Phòng: Buồng. Đào: Hoa đào.

Phòng đào, như chữ “Đào phòng 桃 房”, là buồng có treo màn màu hoa đào, dùng để chỉ phòng của người đàn bà, con gái ở.

Khi để bước phòng đào lạnh ngắt,

Mảnh tàn y dường nhắc nghi dung.

(Kinh Thế Đạo).

Cứ tựa cửa phòng đào giấu dạng,

Ngoài nước non nào hẳn vơi chênh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

PHÒNG HẠNH

Phòng: Buồng. Hạnh: Cây hạnh, là một loại cây giống như cây đào, ta gọi là trái mơ.

Phòng hạnh, do chữ “Hạnh phòng 杏 房”, chỉ nơi ở của đàn bà con gái, hoặc chỉ người đàn bà.

Phòng hạnh đồng nghĩa với “Phòng đào”.

Thương gắng giữ mặt đời hữu dụng,

Thương linh tâm phòng hạnh nấu nung.

(Bát Nương Giáng Bút).

Chừ sao kẻ Hớn người Hồ,

Để cho phòng hạnh ra mồ quạt duyên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

PHÒNG HIỆP THIÊN

Hay “Văn phòng Hiệp Thiên Đài”.

Phòng: Văn phòng. Hiệp Thiên: Tức là Hiệp Thiên Đài, một cơ quan trong Đạo Cao Đài.

Phòng Hiệp Thiên tức là “Văn phòng Hiệp Thiên Đài 文 房 協 天 臺”, là một cơ quan trung ương của Hội Thánh Hiệp Thiên Đài, hay nói cách khác là cơ quan lập pháp và bảo thủ luật pháp chơn truyền nền Đại Đạo.

Văn phòng Hiệp Thiên Đài toạ lạc trong Nội Ô Toà Thánh, nằm bên hữu Bình Dương Đạo, song song với ngôi Giáo Tông Đường.

Xem: Hiệp Thiên Đài.

Phòng Hiệp Thiên kề ngang một dãy,

Đức Thượng Sanh lèo lái khuôn thuyền.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

PHÒNG KHÔNG

Phòng: Buồng. Không: Trống rỗng.

Phòng không, như chữ “Không phòng 空 房”, là phòng trống rỗng không có gì cả.

Phòng không còn dùng với nghĩa phòng chỉ có người đàn bà và thiếu vắng người đàn ông, gọi là “Phòng không chiếc bóng”.

Kính tặng vài câu mừng bạn cũ,

Tặng người hiếu hạnh chịu phòng không.

(Nhị Nương Giáng Bút).

Đông lạnh ngắt mảnh mền úm trẻ,

Ngồi đêm trường quạnh quẽ phòng không.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

PHÒNG KHUÊ

Phòng: Buồng. Khuê: Buồng của đàn bà con gái.

Phòng khuê, như chữ “Khuê phòng 閨 房”, là một cái phòng ở sâu trong nhà, dành riêng cho phụ nữ ở.

Người xưa quan niệm con gái không được ra khỏi khuê phòng, nên mới có câu “Khuê môn bất xuất 閨 門 不 出”, tức không ra khỏi cửa phòng khuê.

Tuyết sương bủa giá đâu nài,

Vì đâu sanh chúng ra ngoài phòng khuê.

(Bát Nương Giáng Bút).

Nơi phòng khuê phận gái cam đành,

Dạy cho biết cạnh tranh đường thế sự.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

PHÒNG LOAN

Phòng: Buồng. Loan: Chim loan, chỉ người đàn bà, con gái.

Phòng loan, như chữ “Loan phòng 鸞 房”, là phòng có màn trướng thêu chim loan.

Phòng loan dùng để chỉ phòng ở của người đàn bà, con gái.

Trải cật phòng loan che kín đáo,

Căm gan đoàn muỗi hết buông lung.

(Thơ Thuần Đức).

Ải nhạn mình chàng tuông dặm liễu,

Phòng loan một thiếp quạnh đêm thu.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

PHÒNG NGỪA

Phòng: Liệu để có biện pháp tránh, ngăn ngừa những việc không hay xảy ra. Ngừa: Ngăn giữ trước.

Phòng ngừa là phòng trước để ngăn ngừa những cái xấu, cái không hay xảy ra.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Vì họ (chỉ Pháp) phiền nòi giống Việt Nam về tâm lý và tình ái vì xưa kia không có, nên ngày nay biến sanh cuộc thảm khốc là không biết phòng ngừa cái lạc hậu xưa kia, nó không đồng tâm lý, hễ phiền nhau thì sanh ra oán nhau, nếu muốn giải quyết cho họ hết phiền thì chúng ta có phương thuốc cứu rỗi đôi bên lấy tình hoà ái cùng nhau lấy nghĩa thâm giao, cùng nhau chia sớt thảm, giục cái tình thân ái sôi nổi cháy bùng lên, có lẽ đôi đàng sẽ giải quyết sự chiến tranh vô lối, vô giá trị, vô nghĩa lý, vô ích kia được.

Giữ ôn nhu ít nói ít cười,

Phòng ngừa sự dễ ngươi lờn mặt.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

PHÒNG TÍA

Phòng: Buồng. Tía: Màu tím.

Phòng tía, như chữ “Tử phòng 紫 房”, là phòng sơn màu tím, dành riêng cho người con gái sang giàu ở.

Phòng tía đồng nghĩa với gác tía.

Phòng tía cất thành hình thổ võ,

Cung loan lập giống dạng Cao Ðài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thương Mạnh Lệ khi lìa phòng tía,

Đoạt khôi khoa lo phía công phu.

(Thất Nương Giang Bút).

 

 

PHÒNG TIÊU

Phòng: Buồng. Tiêu: Hạt tiêu.

Phòng tiêu (Tiêu phòng) là phòng của các hậu phi, hay cung nữ ở.

Ngày xưa nơi tường phòng của các cung điện có trét hồ tiêu cho thơm và ấm.

Sách Hậu Hán Thư viết: Hậu phi dĩ tiêu hồ bích, thủ kỳ phồn diễn đa tử, cố viết tiêu phòng 后 妃 以 椒 塗 壁, 取 其 繁 衍 多 子, 故 曰 椒 防, nghĩa là các bà hậu phi lấy tiêu trét vào vách, là ý muốn có nhiều con, nên gọi là tiêu phòng.

Xem: Tiêu phòng.

Bởi quen mùi vị phòng tiêu,

Bướm ong kiếm dựa, vườn điều đổi hương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Khách phòng tiêu phải đoạ phong trần,

Còn chi nữa phòng cần kiếp sống.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

PHÒNG THE

Phòng: Buồng. The: Hàng dệt bằng tơ, mặt thưa.

Phòng the là một cái phòng ở sâu trong nhà, có treo màn the phủ kín, dành riêng cho phụ nữ ở.

Phòng the đồng nghĩa với “Phòng khuê”, là chỉ buồng riêng của đàn bà con gái.

Xem: Khuê phòng.

Phòng the vẹn phận trau gương thắm,

Liễu yếu đừng phen cợt gió đông.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Đừng cho nhiễm lấm thân thục nữ,

Chốn phòng the cứ xủ rèm là.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Ấm lạnh phòng the, song nữa cánh,

Vườn xưa toan đợi khách xưa vào.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

PHÒNG THU

房 秋

Phòng: Buồng. Thu: Mùa thu, mùa cây lá đều vàng úa để bước sang đông lá rụng, vì vậy, người ta thường ví mùa thu cho người lớn tuổi.

Phòng thu là buồng của người đàn bà lớn tuổi, hay chỉ người đàn bà luống tuổi.

Nếu gặp phước bố kinh đáng khách,

Biết yêu hoa dưới ngạch phòng thu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Để lạnh phòng thu song nửa cánh,

Mưa chiều gió tối lọt mành tương.

(Thơ Thuần Đức).

Cười duyên sân hạnh xuân chưa mãn,

Khóc hận phòng thu nguyệt điểm đầu.

(Thơ Đào Công).

 

 

PHÒNG TRÙ

Phòng: Cái buồng. Trù: Bếp.

Phòng trù, như chữ “Trù phòng 廚 房”, là nhà bếp để nấu cơm và nấu thức ăn.

Thánh giáo Lý Thái Bạch có dạy: Phòng trù, dầu phải chung lộn với nhau buổi nấu nướng, khi dọn ăn, chẳng đặng lộn xộn cùng nhau, nghe à!

Xem: Trù phòng.

Việc phòng trù con cũng nên sắp đặt, nhứt là đừng khi khiếm lễ cùng ai hết.

(Đạo Sử).

 

 

PHÒNG XƯA LÁNH HỚN

Phòng: Trương Tử Phòng. Xưa lánh Hán: Ngày xưa tránh hoạ nhà Hán.

Phòng xưa lánh Hớn, nghĩa đen là Trương Tử Phòng ngày xưa lánh nhà Hớn.

Theo Sử Ký, Trương Tử Phòng tức Trương Lương theo giúp Hớn Bái Công đánh Tần rồi diệt Sở, mà tại sao Đức Lý lại viết “Phòng xưa lánh Hớn”?

Phòng xưa lánh Hớn, ở đây ý Ngài muốn nói Trương Tử Phòng ngày xưa lánh khỏi hoạ giết công thần của vua Hớn Cao Tổ.

Xét lại lịch sử ta thấy Tử Phòng, tức là tên tự của Trương Lương, người nước Hàn. Khi Tần Thủy Hoàng đánh tan nước Hàn, sáp nhập vào nước Tần, Trương Lương bèn tìm cách phục thù, dùng tiền thuê một võ sĩ lén giết vua Tần. Việc thích khách Tần Thủy Hoàng tại Bác Lãng bị thất bại, Trương Lương phải cải trang, đổi tên họ trốn tránh ở Hạ Bì.

Tại cầu Hạ Bì, nhờ ý chí nhẫn nại, Trương Lương dâng dép ba lần cho Hoàng Thạch Công, nên được ông trao cho quyển Thái Công Binh pháp. Nhờ quyển Binh pháp nầy mà Trương Tử Phòng sau giúp cho Hán Bái Công đánh Tần Thủy Hoàng rồi diệt Sở Bá Vương Hạng Võ, dựng nên nghiệp nhà Hán.

Sau khi diệt được Sở, Lưu Bang lên ngôi, xưng hiệu là Hán Cao Tổ, rồi phong cho Trương Lương là Lưu Hầu. Trương Lương là người theo Đạo giáo, hiểu rõ triết lý “Công thành thân thối 功 成 身 退”, nên dù vua Hớn ban cho chức trọng quyền cao, nhưng vẫn xin trả chức để trở về sống ẩn dật. Đó cũng là mưu kế khôn ngoan của Trương Tử Phòng lánh khỏi cái hoạ nhà Hán giết hại công thần.

Việc Trương Tử Phòng từ bỏ danh lợi trong lúc đang được hưởng, tìm chốn an nhàn để ẩn dật, chính là cái chước lánh khỏi hoạ giết công thần của vưa Hớn Cao Tổ được kinh sách, các tác phẩm trong đạo Cao Đài nói đến rất nhiều.

Trong Thi Văn Dạy Đạo có lời khen Trương Lương như sau:

Lộc Hớn từ vinh Trương học chước,

Cầm đường tiếng hạc phủi muôn chung.

Thực vậy, trước những thứ như tước lộc của vua ban cho mà chính ông đã theo phò vua lập nhiều công trận, đáng lý phải ở lại hưởng thụ, nhưng Trương Lương học theo chước của các Đạo gia là “Công thành thân thối” nên từ bỏ tất cả những sự vinh hiển.

Đức Hộ Pháp cũng cho rằng: Lánh Hớn Cao Tổ trong khi nhà vua ban cho chức tước, bổng lộc, Trương Tử Phòng không nhận chưa phải là người dại dột:

Lánh Hớn, Tử Phòng chưa phải dại,

Về Tào, Từ Thứ cũng là khôn.

Nói về những bậc “công thành thân thối”, tức là lo cho quốc dân xong mà không ở lại thụ hưởng, Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn viết: “Nếu gặp chúa xứng đáng, biết dụng nhơn, xem phải đạo minh quân lương tể, thì cái chí hướng của người quân tử đã đạt. Nhưng Công thành thì Thân thối; cái thích của họ là sự gầy dựng của mình đã được hoàn thành lấy sự vui của muôn dân làm phần thưởng cho mình, chớ không cần phú quý vinh hoa của người đền đáp.

Bởi vậy, khi làm cho nên nước Ngô rồi thì Tôn Võ Tử ẩn sĩ từ quan, giúp Việt Vương được nghiệp cả trùng hưng thì Phạm Lãi dạo chơi Ngũ Hồ, gầy dựng xong cho Lưu-Bang thì Trương Tử Phòng ẩn chốn núi non, vui cùng tứ hạo. Những bậc vĩ-nhân ấy là cái tinh hoa của trời đất để làm gương mẫu cho đời. Cái chí lập quốc cứu dân của họ sánh với bực Thần Tiên, mồi danh bả lợi không lay chuyển được. Có khi lại dám liều cả tánh mạng để cho đời biết chí cao thượng của mình như Giới Tử Thôi đời chiến quốc! Chúng ta xem qua cái tiết tháo của người xưa đáng kính phục là dường nào!”.

Xem: Lánh Hán, Tử Phòng chưa phải dại.

Phòng xưa lánh Hớn biết hưng suy,

Người có trí ngoan biết thế thì.

(Đạo Sử).

 

 

PHÔ

Phô là để lộ ra, bày ra.

Phô còn dùng để chỉ chưng ra có ý khoe khoang.

Như: Bông phô nhụy vàng, phô tài trước công chúng.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Sự thương yêu là phương pháp duy nhất để độ đời, người hành Ðạo phải phô lòng nhân ái dìu dắt con cái Ðức Chí Tôn quy chánh cải tà để tiến bước trên đường thiện niệm.

Quyền đời hoá chúng còn phô đức,

Cửa Thánh độ người khá kém phương.

(Quyền Giáo Tông Giáng).

 

 

PHÔ BÀY

Phô: Bày ra, chưng ra có ý khoe khoang. Bày: Phô trương, hay đưa ra ngoài để trông thấy.

Phô bày, như