TỪ NGỮ ĐIỂN CỐ CAO ĐÀI

 

 

Danh mục vần QU

 

QUA

Qua

Qua đời

Qua mâu

Qua phân

 

QUÁ

Quá

Quá cố

Quá chừng

Quá độ

Quá đỗi

Quá giang

Quá hải

Quá kỳ tri thiên

Quá khích

Quá khứ vị lai

Quá lời

Quá trình

Quá vãng

 

QUẢ

Quả

Quả báo

Quả cảm

Quả Càn Khôn

Quả căn

Quả dục

Quả duyên

Quả kiếp

Quả lành

Quả Lão

Quả nan địch chúng

Quả nghiệp

Quả nhân

Quả nhiên

Quả nhồi

Quả phúc

Quả quyết

Quả thật

Quả vị

 

QUẠ

Quạ

Quạ đút mồi

 

QUÁCH

Quách Cự

 

QUÁI

Quái

Quái giáo

Quái khí

Quái sự

 

QUAY

Quay

Quay cuồng

 

QUÀY

Quày

Quày đầu

Quày quả

 

QUẢY

Quảy

 

QUAN

Quan

Quan ải

Quan Âm

Quan Âm Bồ Tát

Quan Âm Như Lai

Quan Âm Nam Hải

Quan Âm Thị Kính

Quan Công

Quan đáng phận mẹ cha

Quan điểm

Quan hà

Quan hệ

Quan hoài

Quan hôn

Quan hôn tang tế

Quan khách

Quan lại

Quan niệm

Quan nha

Quan phòng

Quan quyền

Quan san

Quan sát

Quan sự

Quan tái

Quan tài

Quan tâm

Quan Thánh

Quan Thánh Đế Quân

Quan Trung

Quan trường

Quan viên

Quan Võ

 

QUÁN

Quán

Quán cổ tri kim

Quán chúng

Quán Sở lầu Tần

Quán tục

Quán thế

Quán trần gian

Quán triệt

 

QUÀN

Quàn

 

QUẢN

Quản

Quản bao

Quản suất

Quản Tộc

Quản thúc

Quản trị

 

QUANG

Quang

Quang Âm

Quang đãng

Quang huy

Quang minh

Quang minh chánh đại

Quang tiền dụ hậu

Quang vinh

 

QUÁNG

Quáng

 

QUẢNG

Quảng

Quảng đại

Quảng hàn

Quảng Hàn Cung

Quảng kiến

Quảng khai

Quảng tâm

Quảng thi

Quảng tri

Quảng trí

Quảng truyền đạo đức

Quảng văn

 

QUANH

Quanh

Quanh co

Quanh năm

Quanh quẩn

Quanh quất

 

QUẠNH

Quạnh

Quạnh hiu

Quạnh quẽ

 

QUÀO

Quào

Quào quấu

 

QUẠT

Quạt

Quạt gió đèn trăng

Quạt nồng đắp lạnh

 

QUẠU

Quạu

Quạu quọ

 

QUẰN

Quằn

Quằn quại

 

QUẶN

Quặn

 

QUĂNG

Quăng

 

QUÂY

Quây quần

 

QUẤY

Quấy

Quấy quá

Quấy rối

Quấy tưởng

 

QUÂN

Quân

Quân bình

Quân đội

Quân nhân

Quân lịnh

Quân tử

Quân tử hảo cừu

Quân tử tiểu nhơn

Quân tử trúc

Quân thần

Quân vương

 

QUẤN

Quấn

 

QUẦN

Quần

Quần áo

Quần chơn

Quần chúng

Quần hàng áo lụa

Quần hồng

Quần lê

Quần linh

Quần nhi

Quần sanh

Quần sinh

Quần Thánh

Quần thoa

Quần xoa

 

QUẤT

Quất

 

QUẬT

Quật cường

 

QUEN

Quen

Quen hơi

Quen thói

Quen thuộc

 

QUẸO

Quẹo

 

QUÉT

Quét

 

QUÊ

Quê

Quê cha đất tổ

Quê hương

Quê xưa

 

QUẾ

Quế

Quế hoè

 

QUÊN

Quên

Quên lãng

Quên lửng

Quên ngôi

 

QUẾN

Quến

 

QUY

Quy

Quy căn

Quy cổ

Quy củ

Quy chánh

Quy chánh cải tà

Quy chánh truyền

Quy chế

Quy điền

Quy điều

Quy hạc

Quy hồi

Quy hồi cựu vị

Quy y

Quy y Phật pháp

Quy y Tam bảo

Quy liễu

Quy mô

Quy nguyên

Quy nguyên phục nhứt

Quy nguyên Tam giáo

Quy phàm

Quy y Pháp

Quy y Phật

Quy phục

Quy y Tăng

Quy Tiên

Quy tụ

Quy thế giới ư nhất khí chi trung

Quy Thiên

Quy Thiên lương

Quy thống

Quy thuận

Quy vị

 

QUÝ

Quý

Quý báu

Quý giá

Quý hoá

Quý mầu

Quý sang

Quý trọng

 

QUỲ

Quỳ

Quỳ gối

Quỳ hoắc

Quỳ hương

Quỳ lạy

 

QUỶ

Quỷ

Quỷ Cốc

Quỷ chúa

Quỷ dạ xoa

Quỷ hồn

Quỷ khí

Quỷ ma

Quỷ mị

Quỷ nhơn

Quỷ quái

Quỷ quyền

Quỷ quyệt

Quỷ tai

Quỷ tăng

Quỷ vị

Quỷ vô thường

Quỷ vương

Quỷ xác ma hồn

 

QUỴ

Quỵ luỵ

 

QUYÊN

Quyên

Quyên sinh

 

QUYẾN

Quyến thuộc

Quyến luyến

Quyến luyến hồng trần

Quyến rũ

 

QUYỀN

Quyền

Quyền biến

Quyền bỉnh chánh

Quyền cao

Quyền cao chức trọng

Quyền công chánh

Quyền gian

Quyền Giáo Tông

Quyền Giáo Tông dày công khai đạo

Quyền hành

Quyền hành đạo đức

Quyền lập đức

Quyền lợi

Quyền lực

Quyền lực thiêng liêng và tự lực

Quyền môn

Quyền năng

Quyền quý

Quyền tước

Quyền thế

Quyền thống nhứt

Quyền uy

Quyền vạn linh

Quyền xua đức

 

QUYỂN

Quyển

Quyển địch

 

QUYẾT

Quyết

Quyết chí

Quyết đoán

Quyết lòng

Quyết nghị

Quyết sách vận trù

Quyết tâm

Quyết thắng

 

QUYỆT

Quyệt

Quyệt ngữ

 

QUÝNH

Quýnh quýu

 

QUỲNH

Quỳnh dao

Quỳnh hoa

Quỳnh tương

 

QUỐC

Quốc

Quốc cừu

Quốc chánh

Quốc dân

Quốc đạo

Quốc gia

Quốc giáo

Quốc hồn

Quốc mạch

Quốc nạn

Quốc nội

Quốc sắc

Quốc sắc thiên tài

Quốc sĩ

Quốc sư

Quốc sử

Quốc sự

Quốc tuý

Quốc tự

Quốc thể

Quốc thiều

Quốc thới dân an

Quốc thù

Quốc triều

Quốc Trung mài mực

Quốc vận

 

QUƠ

Quơ

 

QUỞ

Quở

Quở phạt

Quở trách

 

QUƠI

Quơi

 

QUỜN

Quờn

 

 

 

 

 

 

 

 

QU

 

QUA

1.- Qua là đã xong, đã hết. Như: Qua rồi, tai qua nạn khỏi, chiều tối hôm qua.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có câu: Dầu có ăn năn hối hận mấy kiếp, ngày giờ cũng đã qua rồi. Ngôi Cực Lạc vẫn có người choán hết.

Cõi thế chờ qua đường mấy dặm,

Non Thần đợi lóng nhạc năm cung.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðường gai gốc gắng lần qua khỏi,

Cảnh rạng ngần tua rán bước vào.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Qua là vượt khỏi, từ bên nầy sang bên kia.

Như: Đi xe qua cầu, lội nước qua sông, trông qua cửa kính, bước qua hàng chức sắc.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có câu dạy: Như vào đặng hàng Lễ Sanh mới mong bước qua hàng Chức sắc.

Thìn dạ bước dìu sanh chúng độ,

Nương thuyền mới trọn thoát qua sông.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nào khi đứng lúc ngồi đủ mặt,

Qua tường đông lóng bậc tơ đồng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

3.- Qua là sơ lược, không kỹ.

Như: Xem xét qua, nói sơ qua câu chuyện, đi lướt qua, đọc sơ qua vài trang sách.

Vậy nên nhớ mấy lời Thầy, chẳng phải đọc sơ qua mà coi làm chơi, cần chiêm nghiệm kỹ lưỡng mà hiểu.!

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

QUA ĐỜI

Qua: Đã xong, đã hết. Đời: Khoảng thời gian từ lúc sống đến lúc chết.

Qua đời là hết cuộc đời, chỉ sự chết. Như: Ba anh ấy đã qua đời chiều hôm qua.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bần Đạo còn nhớ lại Đức Quyền Giáo Tông có nói với Bần Đạo một chuyện rất ngộ nghĩnh, Bần Đạo minh tả ra đây cho tất cả bên phái nữ để ý cho lắm, để làm một bài học hay, khi Bà thân của Người đã qua đời, thì cả trong làng thương yêu một cách không thể nói được.

Mua bán chọn lừa như buổi chợ,

Về nhà chưa tối đã qua đời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

QUA MÂU

戈 矛

Qua: Một loại binh khí giống như kích, giáo. Mâu: Thứ binh khí cán dài, mũi nhọn.

Qua mâu nói chung các loại binh khí thời xưa.

Qua mâu còn dùng để chỉ chiến tranh, loạn lạc. Đồng nghĩa với chữ can qua.

Khí võ hùng hào mang mão giáp,

Oai phong lẫm liệt xách qua mâu.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

QUA PHÂN

瓜 分

Qua: Trái dưa. Phân: Chia ra.

Qua phân là cắt chia trái dưa ra thành nhiều mảnh, dùng để ví với đất nước bị chia xẻ manh mún. Như: Lãnh thổ đất nước bị qua phân.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Cái nạn qua phân lãnh thổ, Bần Đạo nói sẽ làm cho nhơn loại đau khổ và nguy hiểm không thể tưởng tượng vì năng lực tàn phá của võ khí tối tân nhứt là bom nguyên tử.

Cẩm tú ngỡ ngàng duyên bút mực,

Qua phân oằn oại vết non sông.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

QUÁ

1.- Quá là qua, ngang qua, tức di chuyển từ bên nầy sang phía bên kia.

Như: Quá giang, quá thuyền, quá khách (khách qua đường), quá quan.

Đã quá chín từng Trời đến vị,

Thần đặng an, Tinh, Khí cũng an.

(Kinh Tận Độ).

Tan tành khó nỗi kết làm nguyên,

Như chỗ non cao muốn quá thuyền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Quá là vượt ra ngoài giới hạn hoặc qua một điểm lấy làm mốc.

Như: Ăn quá bữa, đi phép quá hạn, quá tuổi đi học, đã quá kỳ trả nợ.

Ly trần tuổi đã quá năm mươi,

Mi mới vừa lên ước đặng mười.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Siêu phàm chẳng khó đó đời ôi,

Chẳng quá ba phen cứ nhịn lời.

(Đạo Sử).

3.- Quá là ra ngoài cái mức thường (trung bình). Như: Nhiều quá, quá đông, quá độ, quá nửa, nói quá lời.

Thánh giáo Thầy dạy về “Bất tà dâm” có đoạn: Vì vậy, một giọt máu là một khối chơn linh. Như các con dâm quá độ thì sát mạng chơn linh ấy.

Ðừng quá so đo việc phú bần,

Bần hàn trong sạch mới nên thân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

So hơn đức hạnh mới nên giành,

Cái lưỡi không xương thiệt quá lanh.

(Đạo Sử).

Tại hay quá đỗi mới hư nhà,

Chẳng biết lợp nhà lúc gió qua.

(Đạo Sử).

4.- Quá là lỗi. Như: Cải quá, đa ngôn đa quá.

Thánh giáo Thầy có câu: Các Tiên, Phật xưa cũng nhiều bậc đứng đặng địa vị cao thượng thiêng liêng là nhờ có sự cải quá mà nên Chánh quả.

Phước nhiều tội quá tiêu trừ,

Phép Trời thưởng phạt không tư chẳng vì.

(Kinh Sám Hối).

Thành tâm sám hối một đôi ngày,

Cải quá những lời chú nói sai.

(Đạo Sử).

 

 

QUÁ CỐ

過 故

Quá: Đã qua. Cố: Chết.

Quá cố là đã chết. Người quá cố là người đã chết.

Diễn Văn của Ngài Tiếp Pháp Trương Văn Tràng đọc tại Toà Thánh có câu: Hôm nay là ngày Vía của Ðức Cao Thượng Phẩm, chúng tôi xin nhắc tiểu sử của Ngài, âu cũng là dịp xưng tụng công đức của người quá cố và cũng ôn lại cái đại chí của người tu hành để làm gương cho đoàn hậu tấn.

Mỗi phen có một đám xác đi qua, thì dường như người quá cố nhắc nhở ta một điều gì?

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

QUÁ CHỪNG

Quá: Đến mức độ được đánh giá là cao hơn bình thường. Chừng: Hạn, độ vừa.

Quá chừng là hơn hẳn mức bình thường. Như: Mệt quá chừng, Khổ quá chừng.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Cả tấn tuồng đời chúng ta ngó thấy họ tạo luật pháp và quyền hành đặng trị xã hội, thật ra rối rắm quá chừng, quá đỗi, mà vẫn không thế gì trị an đặng, lại càng làm cho tinh thần thiên hạ thêm khó khăn khổ não mà thôi.

Chồng dầu thiệt là anh ngỗng đực,

Hiếp quá chừng phát tức trổ hành hung.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

QUÁ ĐỘ

過 度

Quá: Vượt khỏi mức bình thường. Độ: Chừng mực.

Quá độ là vượt qua mức độ bình thường, đi quá chừng mực.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Hễ nó ngừng lại thì cái trí phải mờ ám (đương chạy vụt ngừng kẻ đó cái trí não mờ ám không sáng suốt không thông minh) mà nó vận hành nhiều chừng nào cái trí hoạt bát của con người nhiều chừng nấy, mà hễ nó đi quá độ lực thì con người trở lại điên khùng ngây dại.

Vì vậy, một giọt máu là một khối chơn linh. Như các con dâm quá độ thì sát mạng chơn linh ấy.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

QUÁ ĐỖI

Quá: Đến mức độ được đánh giá là cao hơn bình thường. Đỗi: Chỉ một mức độ.

Quá đỗi là quá chừng, quá sức, tức vượt khỏi quá mức bình thường.

Thánh giáo Thanh Tâm Tài Nữ có câu: Hỏi ra thì em khiếm khổ hạnh nên khó phép thấy Người, nên quyết luân hồi chịu khổ hạnh hầu gặp cho đặng, kẻo ức. Thương quá đỗi thương mà chưa từng thấy mặt.

Tại hay quá đỗi mới hư nhà,

Chẳng biết lợp nhà lúc gió qua.

(Đạo Sử).

Ðời xa chơn lý giác mê,

Ðời sao quá đỗi vụng về chẳng lo.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

QUÁ GIANG

過 江

Quá: Qua, đi qua. Giang: Sông.

Quá giang là đi đò ngang qua sông. Đứng bên nầy sông chờ đò bên kia quá giang rước.

Nghĩa hiện nay, quá giang là đi nhờ một phương tiện vận tải nào đó.

Quá giang sớm phải bắc kiều,

Giống nòi ta phải thuận chìu bắt tay.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

QUÁ HẢI

過 海

Quá: Đi qua. Hải: Biển.

Quá hải là đi qua biển, ý chỉ sự xa xôi, hay chỉ đường đi gặp nhiều nỗi gian nan vất vả.

Như: Đăng sơn quá hải.

Trải bao phen lên ải xuống đèo,

Đã lắm lúc đăng sơn quá hải.

(Thơ Hộ Pháp).

Quá hải đòi phen đến viếng nhau,

Ngặt không cơ bút để lời giao.

(Tiêu Diêu Đạo Sĩ).

 

 

QUÁ KỲ TRI THIÊN

過 期 知 天

Quá kỳ: Vượt qua khỏi thời kỳ. Tri Thiên: Tức tri thiên mệnh là biết được mệnh trời, ý chỉ năm mươi tuổi.

Đức Khổng Tử đã nói: Tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập tri thiên mạng 三 十 而 立, 四 十 而 不 惑, 五 十 知 天 命, nghĩa là con người, ba mươi tuổi thì lập, bốn mươi tuổi thì không còn nghi ngờ, lầm lẫn nữa, năm mươi tuổi thì biết mệnh trời.

Quá kỳ tri thiên ý nói qua khỏi tuổi năm mươi.

Xem: Tri Thiên.

Thôi gần hết kiếp còn gì,

Co tay đếm tuổi quá kỳ tri thiên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

QUÁ KHÍCH

Quá: Qua, vượt qua. Khích: Còn đọc “Kích”, cứ tự ý mình làm ra khác lạ, không theo như người.

Quá khích, còn đọc “Quá kích 過 激”, là kịch liệt quá chừng, tức là mạnh mẽ và quyết liệt quá mức trong đấu tranh xã hội (hàm ý chê): Thái độ quá khích.

Trong Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Theo trào lưu tiến bộ của văn minh vật chất hiện tại, nhứt là trước hiểm hoạ của lằn sóng vô thần quá khích, con người dù là hạng trí thức dễ bị lôi cuốn vào cảnh bê tha truỵ lạc, hoặc bị đưa đẩy vào vòng lợi danh đen tối, làm tôi tớ cho thế lực kim tiền, bán rẻ lương tâm, không còn kể nhơn nghĩa và lẽ phải nữa.

Hai đàng đều quá khích, biểu sao không có trường tranh đấu náo nhiệt về tinh thần và hình thể nơi mặt địa cầu này...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

QUÁ KHỨ VỊ LAI

過 去 未 來

Quá khứ: Đã qua. Vị lai: Chưa đến.

Quá khứ vị lai là nói thời gian đã qua và ngày giờ chưa đến, ý chỉ những việc đã xảy qua rồi và những việc sắp xảy đến.

Những người tu hành khi đắc được lục thông thì có thể thấu rõ những việc thuộc về quá khứ vị lai.

Tri nguyên quá khứ vị lai,

Gầy nên các giống đặt bày vẻ vang.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

QUÁ LỜI

Quá: Vượt ra ngoài một giới hạn quy định hoặc một điểm lấy làm mốc. Lời: Lời nói.

Quá lời là nói những lời quá đáng, làm xúc phạm đến người khác. Như: Nói quá lời.

Giảng về hai câu “Quốc Ðạo kim triêu thành Ðại Ðạo, Nam phong thử nhựt biến nhơn phong”, Thuyết Đạo Hộ Pháp có đoạn: Phong đây là phong tục, Chí Tôn muốn nói phong tục nước nhà của Người sẽ làm nền phong hoá của loài người, hai câu ấy chúng ta nên đoán xét, suy gẫm coi Ðức Chí Tôn vì thương mà quá lời không?

Bần Đạo cữ không nên bàn luận,

E quá lời sanh giận lòng nhau.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

QUÁ TRÌNH

過 程

Quá: Đã qua, vượt khỏi mức bình thường. Trình: Con đường, đường đi.

Quá trình là con đường đã đi qua, ý chỉ những bước diễn tiến của sự việc trong một khoảng thời gian nào đó.

Như: Quá trình sinh trưởng của một cây lúa.

Cái thái độ thuần tuý kinh nghiệm bản thân ấy là cái kết quả quá trình của công phu tự giác.

(Giáo Lý).

 

 

QUÁ VÃNG

過 往

Quá: Đã qua. Vãng: Đi qua.

Quá vãng là nói người đã đi qua trong cuộc sống, ý chỉ người đã chết. Như: Cha mẹ anh đã quá vãng lâu rồi.

Đạo Luật năm Mậu Dần có câu: Hạng truy phong công nghiệp những người đã quá vãng, mà có đủ bằng cớ đặng công chúng hoan nghinh và Toà Đạo minh xét rồi thì đặng đem vào sổ cầu phong cho toàn Hội Phước Thiện công nhận.

Biết tôn trọng Cửu Huyền Thất Tổ, dầu quá vãng hay hiện tiền cũng vậy...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

QUẢ

1.- Quả là từ biểu thị ý xác nhận dứt khoác, đúng thật như vậy.

Như: Quả như dự đoán, quả là không sai, thiệt quả như những lời đồn đải.

Cơ chuyển thế nơi tay đả quả,

Thay mặt cho Tạo hoá dựng đời.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Quả là trái cây. Như: Quả lựu, quả lê, ăn quả nhớ kẻ trồng cây.

Giảng về Phật Mẫu Chơn Kinh, Đức Hộ Pháp có viết: Nơi Diêu Trì Cung, Phật Mẫu trụ sanh quang lại thành một khối gọi là quả đào tiên, đủ phép sống vĩnh viễn trường tồn nơi cõi Hư linh. Phật Mẫu cầm quyền phép huờn chơn thần cho ta đạt kiếp nơi cửa Hư Linh.

Những vạn vật Âm Dương tạo hoá,

Dầu cỏ cây hoa quả biến sanh,

(Kinh Tận Độ).

Nhược bằng hưởng quả hột quăng,

Ngày sau thèm khát xin ăn của người.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

3.- Quả là nói chung các vật có hình tròn như trái cây. Như: Quả đất, quả cân, quả cân, quả chuông, quả tim.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Hội Thánh tiễn quý vị lên đường bằng những lời dặn dò khuyến khích, bằng tiếng nói của tình huynh đệ, tiếng nói của quả tim cùng hoà một nhịp yêu đương và cùng chung một nguyện vọng là làm tròn sứ mạng.

Thầy cho con hiểu rằng nếu không có ý muốn của Thầy thì trên quả địa cầu nầy chẳng có vật chi sanh tồn tất cả.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

4.- Quả là sự thành tựu bởi cái nguyên nhân gì mà ra. Như: Quả báo, quả kiếp, công quả, ác nhân có ác quả.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Trần là cõi khổ để đoạ bậc Thánh Tiên có lầm lỗi. Ấy là cảnh sầu để trả xong quả, hoặc về ngôi cũ, hoặc trả không xong quả phải mất cả chơn linh là luân hồi. Nên kẻ bị đoạ trần là Khách trần.

Thiên cơ tuy hẳn nên trường khảo,

Lướt khỏi ngàn thu quả đắc thành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðường tu ví sớm noi gương rạng,

Cội phúc mai sau hưởng quả lành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

5.- Quả là hẳn, quyết, chắc. Như: Quả thật là đã xảy ra, quả thế không sai chút nào, quả nhiên.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Chư Ðạo Hữu làm chứng cái điều ấy, nếu một ngày kia hình tướng của Ðạo quả nhiên như vậy, Bần Ðạo chẳng hề nói đã làm nên cho Ðạo cho Ðời.

Rạng mình một kẻ biết khôn đời,

Ta hỏi cùng ngươi quả thiệt lời.

(Đạo Sử).

Quả như chàng có chốn này,

Tưởng khi đổ lụy châu mày với duyên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

QUẢ BÁO

果 報

Quả: trái, kết quả. Báo: trả lại.

Theo đạo Phật, tất cả những sự kiện tốt hay xấu, lành hay dữ xảy ra trong đời này đều là quả báo của những nghiệp nhân của chính mình tạo ra trong các đời sống quá khứ, và cả trong đời sống hiện tiền nữa. Tất nhiên, những quả báo do nghiệp nhân tạo ra trong đời sống hiện tại, thì dễ hiểu và dễ thấy. Nhưng cũng có những quả báo do những nghiệp tạo ra từ các kiếp sống trước, đến nay mới chín mùi và kết quả, cho nên khó tin, khó hiểu. Ví dụ như mới lọt lòng mẹ đã đui, mù, mang tật. Làm ăn lương thiện nhưng vẫn nghèo khổ và gặp nhiều chuyện không may.

Theo Phật, gieo hạt giống gì thì hưởng được quả nấy. Sách có câu: Chủng qua đắc qua, chủng đậu đắc đậu 種 瓜 得 瓜, 種 豆 得 豆, nghĩa là trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu.

Lời Phật dạy: Nếu gieo hạt giống lành thì hái được quả lành, gieo hạt giống ác, thì gặt hái quả ác.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Nếu ai giết mạng sống, đều chịu quả báo không sai, biết đâu là cái kiếp sanh ấy chẳng phải là Tiên, Phật bị đoạ luân hồi mà ra đến đỗi ấy.

Dầu nghiệt chướng số căn quả báo,

Đừng hãi kinh, cầu đảo Chí Tôn.

(Kinh Tận Độ).

Chớ tự phụ, cũng đừng khi ngạo,

Lẽ Trời hằng quả báo chẳng sai.

(Giới Tâm Kinh).

Lành dữ thưởng răn coi quả báo,

Rồi đây ta rõ máy hành tàng.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

QUẢ CẢM

果 敢

Quả: Chắc, hẳn. Cảm: Không sợ gì hết.

Quả cảm là có quyết tâm dám làm việc, tức là có dũng khí, dám đương đầu với nguy hiểm để làm những việc đáng làm.

Như: Hành động quả cảm, tinh thần quả cảm.

Cả Đại Từ Phụ lẫn chư Thần, Thánh, Tiên, Phật đều hài lòng về chí hy sinh và quả cảm của mấy em.

(Thánh Giáo Thượng Phẩm).

 

 

QUẢ CÀN KHÔN

Quả: Nói chung các vật có hình tròn như trái cây. Càn khôn: Càn khôn vũ trụ, Trời đất.

Quả Càn Khôn là một quả cầu tròn, tượng trưng cho hình ảnh Càn khôn Vũ trụ thu nhỏ, trên đó có vẽ hình Thiên Nhãn và các ngôi sao để thờ Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế được đặt trong Bát Quái Đài thuộc Toà Thánh Tây Ninh. Còn các Thánh Thất địa phương không thờ Quả Càn Khôn, chỉ vẽ tượng Thiên Nhãn để thờ mà thôi.

Theo triết lý Đạo Cao Đài, Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế là Đấng cai quản Càn khôn, chủ tể Vũ trụ, nên Thiên Nhãn biểu tượng của Đức Chí Tôn được vẽ trên Quả Càn Khôn. Ngài chưởng quản ba ngàn thế giới cùng bảy mươi hai quả địa cầu, nên trên Quả Càn Khôn cũng vẽ đủ 3072 ngôi sao. Lại nữa, Đức Chí Tôn thường tuần du khắp các cõi và mỗi lần ngự xuống trần gian thì ngôi của Ngài ngự ở ngôi sao Bắc Đẩu, nên Thiên Nhãn phải vẽ ngay ngôi sao ấy.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn dạy Ngài Thái Bính Thanh tạo quả Càn Khôn như sau: Bính! Thầy giao cho con lo một Trái Càn Khôn, con hiểu nghĩa gì không? Cười... Một trái như trái đất tròn quay, hiểu không? Bề kính tâm 3 thước 3 tấc (3m30), nghe con, lớn quá, mà phải vậy mới đặng, vì là cơ mầu nhiệm Tạo Hoá trong ấy, sơn màu xanh da trời, cung Bắc Ðẩu và Tinh tú vẽ lên Càn Khôn ấy.

Thầy kể Tam thập lục Thiên, Tứ Ðại Bộ Châu ở không không trên không khí, tức là không phải Tinh tú, còn lại Thất thập nhị Ðịa và Tam thiên Thế giới thì đều là Tinh Tú. Tính lại ba ngàn bảy mươi hai (3072) ngôi sao, con phải biểu vẽ lên đó cho đủ.

Con giở sách Thiên văn tây ra coi mà bắt chước. Tại ngôi Bắc Ðẩu, con phải vẽ hai cái bánh lái cho đủ và sao Bắc Ðẩu cho rõ ràng. Trên vì sao Bắc Ðẩu, vẽ Con Mắt Thầy, hiểu chăng?

Ðáng lẽ Trái ấy phải bằng chai, đúc trong một ngọn đèn cho nó thường sáng, ấy là lời cầu nguyện rất quý báu cho cả nhơn loại Càn khôn Thế giới đó. Nhưng mà làm chẳng kịp thì con tuỳ tiện.

Từ ngày Khai đạo năm Bính Dần cho đến ngày nay đã trải qua nhiều lần tái lập Quả Càn Khôn, nhưng lần nào cũng đều lấy Thiên Nhãn cũ đặt lên Quả Càn Khôn mới mà thờ.

Điều nầy chính Ngài Hiến Pháp Trương Hữu Đức nhân Lễ Khánh Thành Quả Càn Khôn mới, ngày 15 tháng 12 năm Quý Mão (Dl. 29-01-1964), trong bài Thuyết Đạo có nhắc lại sự tích Quả Càn Khôn, xin trích một đoạn như sau:

“Thể theo Thánh ý của Ðức Chí Tôn, chư Chức sắc hiệp sức kiến tạo Quả Càn Khôn đầu tiên đặt lên một trụ cốt nơi Bát Quái Đài để cho toàn Đạo sùng bái và chiêm ngưỡng.

Sau vì rủi ro, Quả Càn Khôn ấy phát hoả cháy tiêu hết, duy có Thiên Nhãn thì còn lại y nguyên. Hội Thánh quyết định tạo một quả Càn Khôn khác và đồng ý đặt Thiên Nhãn cũ lên Quả Càn Khôn.

Vì sự linh thiêng ấy mà toàn đạo càng thêm tin tưởng và đến khi tu tạo lại Quả Càn Khôn khác, tất cả đều quyết định đặt Thiên Nhãn cũ ấy lên Quả Càn Khôn mới.

Ðến nay, Quả Càn Khôn sau cũng vì thời gian mà hư hoại. Hội Thánh quyết định kiến tạo một Quả Càn Khôn khác thay thế. Hội Thánh cũng đồng thanh biểu quyết dành lại Thiên Nhãn cũ đặt lên Quả Càn Khôn mới ngày nay. Ðó là do lòng tín ngưỡng cao cả của toàn Đạo, không ai có quyền phủ nhận.”...

Chúng ta thấy Quả Càn Khôn và Thiên Nhãn biểu tượng cho hình thể Đức Chí Tôn tại thế, được thờ tại Toà Thánh Tây Ninh, nơi trụ khối đức tin của toàn Đạo, nên rất thiêng liêng, linh hiển. Vì vậy, mỗi lần hạ Quả Càn Khôn cũ là cả một sự biến động, gây nhiều sự bất hoà, rối loạn trong Đạo, cũng như những sự tai ương, biến chuyển, ngoài đời.

Đây là một bài thi do Đức Chí Tôn giáng cơ ban cho cả chúng sanh, sau vụ cháy Quả Càn Khôn năm 1932.

Chẳng phải Tây Ninh chịu nạn nghèo,

Cuộc đời luân chuyển thế cheo leo.

Trời còn đất lỡ tang thương biến,

Ruộng rẫy phố phường lộ mốc meo.

Sắc tướng âm thinh tua giảm bớt,

Mở đường công quả chúng làm theo.

Văn chương đâu rõ thông cùng lý,

Tận thế hưng vong đã thấy vèo.

Về Quả Càn Khôn, Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có dạy: Quả Càn Khôn cũng vậy, khi tháo rời ra rồi ráp lại y như vậy. Khi tháo ra phải cầu Lão đưa Thần một đỗi, rồi mới đặt tay người vào, nghe à!

Sự thờ phượng bên trong thuật lại,

Quả Càn Khôn lợp vải quanh ngoài.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

Thiên Nhãn thờ Quả Càn Khôn,

Là Ngôi chủ tể vật hồn vạn linh.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

QUẢ CĂN

果 根

Quả: Kết quả. Căn: Gốc rễ.

Quả căn là cái kết quả của kiếp sống hiện tại do từ gốc rễ tốt hay xấu của kiếp trước, tức là kiếp trước làm những việc thiện hay ác thì ảnh hưởng điều tốt hay xấu cho kiếp hiện tại.

Thánh giáo Ngũ Nương Diêu Trì Cung có câu: Chị lúc nọ cũng tâm phàm xác thịt như mấy em ngày nay, nhưng nhờ ở đức giồi trau học Đạo và mảng say mê tâm đức nên mới được đắc quả buổi nầy. Nương bóng Đạo tạo bề hạnh phúc cho kiếp trần ai để mong giải khổ nghiệp thì quả căn đã sạch đó.

Vô siêu đoạ quả căn hữu pháp,

Vô khổ hình nhơn kiếp lưu oan.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

Quả căn dục hối tiền khiên kiếp,

Mạt vọng lợi danh đoạt thế cường.

(Đạo Sử).

 

 

QUẢ DỤC

寡 欲

Quả: Ít. Dục: Lòng ham muốn, tức là lòng ham muốn về nhục dục.

Quả dục ít ham muốn về nhục dục.

Sách Cảnh Hành Lục có câu: Quả ngôn tắc tỉnh báng, quả dục tắc bảo thân 寡 言 則 省 謗, 寡 欲 則 保 身, tức là ít nói thì bớt kẻ chê bai, ít dục thì giữ được mình.

Cõi thế lắm điều gây nghiệp dữ,

Thanh tâm quả dục gắng tu hiền.

(Thiên Vân).

 

 

QUẢ DUYÊN

果 緣

Quả: Trái, kết quả. Duyên: Sức bổ trợ cho cái nhân thành cái quả.

Quả duyên là sự kết quả do duyên tu hành tạo nên, tức đắc đạo mà đoạt được ngôi vị nơi cõi thiêng liêng.

Trong quyển Thiên Đạo, hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có đoạn viết: Thế nào là khử trược lưu thanh? Tức là đem các thứ ô trược ở trong bổn thân mình tự bấy lâu ra hết, từ xác thịt đến tư tưởng, từ nghiệp duyên đến quả duyên, rồi đấp nền lại trên nền tảng “Đạo Đức”.

Toà sen báu vật xin đưa,

Chơn linh an ngự cho vừa quả duyên.

(Kinh Tận Độ).

Lần vào cung Ngọc Diệt Hình,

Khai kinh Vô Tự đặng nhìn quả duyên.

(Kinh Tận Độ).

 

 

QUẢ KIẾP

果 劫

Quả: Trái, kết quả. Kiếp: Kiếp sống.

Quả kiếp là cái kiếp sống chịu sự kết quả báo ứng do các nghiệp nhân tạo tác ra.

Kiếp sống hiện tại là cái kết quả của kiếp sống trước, tức những việc làm thiện ác trong kiếp sống trước sẽ báo ứng trong kiếp sống hiện tại.

Chốn Hư linh chờ ngày hội hiệp,

Dầu căn xưa quả kiếp dường bao.

(Kinh Thế Đạo).

Ngũ khí thanh diệt trừ quả kiếp,

Linh quang đầy đặng tiếp hồng ân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

QUẢ LÀNH

Quả: Trái, kết quả. Lành: Thiện, tốt.

Quả lành, dịch từ chữ “Thiện quả 善 果”, là cái quả nghiệp tốt lành do tiền kiếp gieo nhân thiện.

Trong Giáo Lý, Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có câu: Có người than rằng: Làm lành mà chẳng thấy phước, trái lại còn bị tai ương. Biết đâu, đó là những việc thử thách, chúng ta chớ nên ngã lòng thối chí. Bền lòng tu tập thì có ngày sẽ thấy quả lành.

Ðường tu ví sớm noi gương rạng,

Cội phúc mai sau hưởng quả lành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

QUẢ LÃO

Quả Lão tức là Trương Quả Lão, một vị Tiên trong Bát Tiên ở núi Bồng Lai.

Trương Quả Lão gốc là con dơi trắng hồi mới tạo Thiên lập Địa, nhưng nhờ tu luyện lâu năm nên được thành người.

Trương Quả Lão theo học Đạo với Huyền Khưu Chơn Nhơn ở núi Trung Điều, ông thường cỡi lừa trắng đi dạo chơi nhưng đặc biệt là cỡi ngược. Lừa của ông bằng giấy, nhưng khi nào muốn cỡi thì ông phun nước và hoá phép sẽ biến thành lừa thật.

Tiên Cô đứng bậc chí nhơn,

Thiết Quải, Quả Lão, trọn phần Đông Du.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

QUẢ NAN ĐỊCH CHÚNG

寡 難 敵 眾

Quả: Ít. Nan: Khó khăn. Địch chúng: Chống lại với đông người.

Quả nan địch chúng tức là ít người khó chống lại với nhiều người.

Quả nan địch chúng xưa nay hẳn,

Xin nhớ kết đoàn mới dễ đương.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

QUẢ NGHIỆP

果 業

Quả: Trái, kết quả. Nghiệp: Duyên kiếp sẵn có từ kiếp trước.

Quả nghiệp là kết quả của cái nghiệp thiện hoặc ác đã gây ra từ kiếp sống trước.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Cái ơn thâm trọng đó là nhờ nơi đức háo sanh của Ðức Phật Mẫu chúng ta mới có hình hài tại thế và nhờ nơi Người ban cho khí Sanh Quang, chúng ta mới có kiếp sống nơi cõi trần nầy để lập thân hành Ðạo hầu diệt tiêu quả nghiệp tiền khiên trở về Thiêng Liêng vị.

Trường khổ hải để nhồi quả nghiệp,

Mỗi chơn linh đầu kiếp trả xong.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

Thà nghèo trong sạch tâm thanh thản,

Quả nghiệp không vương, trí nhẹ nhàng.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

QUẢ NHÂN

果 因

Quả: Trái, kết quả. Nhân: Gốc sinh ra cái khác, nguyên nhân.

Quả nhân, như chữ “Nhân quả 因 果” là cái nhân với cái quả, hay nguyên nhân với kết quả.

Quả nhân ý chỉ có quả thì ắt phải có nhân, có nhân mới sinh ra quả, nhân nào quả nấy, mà hễ không có nhân thì chẳng có quả, không có quả, vì bởi không có nhân.

Cầm gươm huệ chặt tiêu oan trái,

Dìu độ quần sanh diệt quả nhân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tông môn hậu nhựt đoạt vinh hoa,

Khả trạch quả nhân, tánh thuận hoà.

(Đạo Sử).

 

 

QUẢ NHIÊN

果 然

Quả: Cái kết quả. Nhiên: Như vậy, như thế.

Quả nhiên là đúng như vậy.

Trong quyển Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống, Đức Hộ Pháp có đoạn dạy: Chúng tôi hỏi các ông: Các nền Tôn Giáo hiện tượng nơi thế gian có Tôn Giáo nào dạy thiên hạ làm quấy chăng? Nếu quả nhiên không có Tôn Giáo nào, dầu Tả Đạo, Bàng Môn đi nữa, không dám dạy nhơn loại điều quấy, vẫn dạy điều phải mà thôi.

Họ quả nhiên là người sống hiện tại chỉ khác hơn chúng ta là không có thi hài mà thôi.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

QUẢ NHỒI

Quả: Trái cây, kết quả. Nhồi: Nhét vào, thêm vào

Quả nhồi, như chữ “Nhồi quả”, là những nghiệp quả xấu do từ nhiều kiếp trước đã gây ra, đến bây giờ dồn lại báo đáp trong kiếp nầy.

Luật nhồi quả là một đặc ân của thiêng liêng cho người tu hành mau hết nghiệp để có thể đắc quả trong một kiếp tu.

Xem: Nhồi quả.

Muốn mau thoát kiếp luân hồi,

Kiếp nầy ráng chịu quả nhồi cho mau.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

QUẢ PHÚC

果 福

Quả: Trái cây, kết quả. Phúc: Hạnh phúc, những sự tốt đẹp may mắn.

Quả phúc, như chữ “Phúc quả 福 果”, là cái kết quả do những hành vi phước đức tạo ra, tức hoàn thành được những kết quả tốt đẹp, may mắn.

Ao Thất Bửu gội mình sạch tục,

Ngôi liên đài quả phúc Dà Lam.

(Kinh Tận Độ).

Cho tròn quả phúc bậc thiên đồ,

Cửa ngục trần gian ráng sức xô.

(Cao Tiếp Đạo).

 

 

QUẢ QUYẾT

果 決

Quả: Mạnh mẽ quyết đoán. Quyết: Nhứt quyết.

Quả quyết là khẳng định chắc chắn không chút do dự

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Người tu sĩ Cao Ðài phải biết vì Ðời mà chịu khổ, thật hành chủ nghĩa vị tha dám quên mình thì mới thật là xả thân cầu Ðạo, đem đời sống hiến trọn cho Ðạo và cho nhân sanh, sự quả quyết hy sinh do nơi lòng trắc ẩn trước mọi đau khổ trên thế gian tình thương phải được lan tràn vây kín đám nhân sanh là đám dân bần hàn khốn khổ để thực hiện câu đem Ðạo cứu Ðời.

Đạo còn quả quyết Hiệp Thiên còn,

Nhưng vắng năm trường mến bút son.

(Thơ Võ Thành Lượng).

 

 

QUẢ THẬT

Quả: Hẳn, quyết, chắc. Thật: Đúng, có thật.

Quả thật là sự thật là đúng như vậy, không có gì còn phải nghi ngờ cả.

Nói về Quốc Đạo, Hộ Pháp có đoạn viết: Ta thừa hiểu rằng nòi giống Việt Nam xuất hiện ở Hoàng Ðịa Tàu, nên ta không ái ngại nói Việt Nam nầy là sắc dân Tàu vậy. Nòi giống Tàu nhìn quả thật là dân Tàu mà thôi.

Ấy vậy, nếu chúng ta nói Tân Luật là phàm, thì quả thật nó là phàm, còn Thiên Luật của Chí Tôn là thương yêu mới là Thánh mà thôi.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

QUẢ VỊ

果 位

Quả: Kết quả. Vị: Ngôi vị, chỗ ngồi.

Quả vị là ngôi vị được thành tựu của người tu hành. Ngôi vị đó là cái kết quả của sự lập công bồi đức, tu tâm luyện tánh của người tu sĩ.

Quả vị tuỳ theo công đức mà đạt được phẩm Thần, Thánh, Tiên, Phật ở cõi Thiêng liêng.

Cầu nguyện chơn linh cao quả vị,

Trường tồn lạc hưởng cảnh đào nguyên.

(Thơ Thái Đến Thanh).

Ðạo truyền xuống thế đời an trị,

Ðạo đức năng tu quả vị thành.

(Đại Thừa Chơn giáo).

 

 

QUẠ

Quạ là một loài chim lông màu đen, mỏ dài, cánh dài, hay bắt gà con để ăn.

Như: Chim quạ, diều tha quạ xớt, quạ bắc cầu vào đêm thất tịch.

Sông Ngân hà sóng gió coi êm,

Cậy quạ bắc cầu thêm cho dễ gặp.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

QUẠ ĐÚT MỒI

Quạ: Loại chim có lông đen, mỏ dài, hay ăn gà con. Đút mồi: Kiếm mồi về đút mẹ ăn.

Quạ đút mồi ý muốn nói chim quạ đi kiếm mồi về đút cho mẹ, chỉ loài chim hiếu thảo.

Do tích con Từ ô (quạ lành), là một loại chim mình nhỏ hơn quạ, hay kêu vào buổi sáng, được coi là loài chim rất có hiếu. Tương truyền khi lớn lên nó thường đi kiếm mồi về đút cho mẹ ăn, nên người đời gọi là “Hiếu điểu”.

Tiếc thương ngẩn chạnh dâng lời nguyện,

Trả hiếu còn đâu quạ đút mồi.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

QUÁCH CỰ

郭 巨

Quách Cự là một người trong hai mươi bốn người con hiếu thảo.

Ông sinh vào đời nhà Hán, thờ mẹ rất có hiếu, cửa nhà sa sút. Hai vợ chồng mới sinh đứa con lên ba tuổi, ông thường thấy bữa ăn mẹ ông không dám ăn no, cứ bớt lại để phần lại cho con ông ăn, vợ chồng mới bàn nhau rằng: Vợ chồng còn đương thì sinh đẻ, mẹ già chỉ có một lần, đã chẳng phụng mẹ cho được sung túc, lại để con chia ngọt xẻ bùi của mẹ, thì không phải đạo làm con.

Bèn bàn nhau đào hố đem chôn đứa con đi, vợ cũng nghe theo lời ông. Khi đào hố được độ ba thước bề sâu, thì bắt được một hủ vàng, trên có chữ đề là “Hiếu tử Quách Cự, hoàng kim nhất phủ, dụng dĩ tứ nhữ 孝 子 郭 巨, 黃 金 一 釜, 用 以 賜 汝”, nghĩa là người con hiếu là Quách Cự, một hủ vàng đây dành cho mầy. Hai vợ chồng mừng quá, đem con về và càng hiếu thảo với mẹ già.

Quách Cự hiếu, nghèo đành chôn trẻ,

Nhịn cháo ăn thân mẹ thất thường.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

Quách Cự với vợ hiền toan tính,

Mẹ thiếu ăn bởi nhịn cho con.

(Báo Ân Từ).

 

 

QUÁI

Quái là lạ lùng, đáng ngạc nhiên. Như: Quái lạ, quái nhỉ sao bây giờ nó vẫn chưa về?

Quái còn có nghĩa là yêu, quỷ. Như: Yêu quái, tà quái, tà tinh quỷ quái.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có đoạn dạy: Con nói đó là nói dối cho Tà quái, chớ thiệt là cho Quỷ vương. Quỷ vương là tay diệt hoá. Cũng như có sống của Thầy ắt có chết của Quỷ vương vậy.

Ngọn tháp chín rồng hư sát rạt,

Ngoài bờ muôn quái dậy lao xao.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

QUÁI GIÁO

怪 教

Quái: Lạ lùng, kỳ dị. Giáo: Tôn giáo, đạo.

Quái giáo là một tôn giáo có tôn chỉ, giáo lý và thờ phượng một cách quái dị, khác với nhiều tôn giáo.

Quái giáo đồng nghĩa với “Tà giáo”, là một tôn giáo không phải là Đạo chánh, tức theo tà đạo.

Kẻ vì mị đoái hoài giả Đạo,

Kẻ hay tin quái giáo gây trò.

(Nguyệt Tâm Chơn Nhơn).

 

 

QUÁI KHÍ

怪 氣

Quái: Lạ lùng kỳ dị, tà quái. Khí: Chất khí, hơi.

Quái khí là khí ô trược, khí độc. Quái khí đồng nghĩa với tà khí hay trược khí.

Trừ quái khí roi thần chớp nhoáng,

Bộ Lôi Công giải tán trược quang.

(Kinh Tận Độ).

 

 

QUÁI SỰ

怪 事

Quái: Lạ lùng, yêu quái. Sự: Việc.

Quái sự là việc kỳ quái, tức là việc quái gở lạ lùng, không thực, khác với bình thường.

Tôn bái bổn thần thành quái sự,

Sự đương nhiên hại bổn kiền khôn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

QUAY

1.- Quay là xoay tròn. Như: Bánh xe quay một vòng.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Tự cổ chí kim, vì không giữ mình được trong sạch cho nên con người phải chịu làm nô lệ cho xác thịt để cho dục vọng lôi cuốn gây thành tam nghiệp tức là thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp, phải bị chìm đắm trong vòng sanh tử luân hồi, chẳng khác chi tự mình trói buộc vào một cái bánh xe, cứ quay cuồng mãi mãi không biết bao giờ tháo mở được.

Bánh xe chuyển kiếp luân hồi,

Cứ quay mãi mãi cứ nhồi luôn luôn.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

2.- Quay là chiếu lại, tái hiện trở lại những hình ảnh.

Như: Quay lại bộ phim vừa rồi, đứng trước Minh Cảnh Đài các chơn hồn thấy những hành vi của kiếp trước quay lại như cuộn phim.

Minh Cảnh hiện chiếu tỏ tường,

Kiếp sanh quay lại cũng dường cuồn phim.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

3.- Quay là xoay trở lại. Như: Thuyền quay về bến cũ, quay đầu trở lại, quay về nhà.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Khá tua tỉnh giấc mộng trần, quay về với đạo đức chơn thật, để sống lại những ngày giác ngộ sống với ý nghĩa cao đẹp vị tha

Quay về chung sống tang thương dứt,

Hướng đến hoà bình nghiệt chướng tiêu.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

QUAY CUỒNG

Quay: Chuyển động quanh trục hay một điểm. Cuồng: Mạnh mẽ, dữ dội.

Quay cuồng là quay tròn rất nhanh như bị lôi cuốn mạnh mẽ, không còn biết gì nữa.

Quay cuồng còn có nghĩa là hoạt động ráo riết ở trong thế hoàn toàn bị động.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Tự cổ chí kim, vì không giữ mình được trong sạch cho nên con người phải chịu làm nô lệ cho xác thịt để cho dục vọng lôi cuốn gây thành tam nghiệp tức là thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp, phải bị chìm đắm trong vòng sanh tử luân hồi, chẳng khác chi tự mình trói buộc vào một cái bánh xe, cứ quay cuồng mãi mãi không biết bao giờ tháo mở được.

Là vì biết chữ bại thành,

Say mê chung đỉnh tử sanh quay cuồng.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

QUÀY

Quày là xoay trở lại, quay lại.

Như: Tới ngả tư xe quày trở lại, thuyền quày về bến, quày ngựa thẳng tiến về hướng tây.

Đại Thừa Chơn Giáo có câu: Con người phải biết đường Thiên lý, lo tu hành quày bước trở lại chỗ bổn nguyên, nương pháp Ðạo mà luyện tánh tu tâm, dùng đức cả sửa mình nên hạnh tốt.

Khỏi vòng mê tín lại đường ngay,

Lạc nẻo mau chơn liệu trở quày.

(Đạo Sử).

Vó ký ngàn dâu khuất dặm đường,

Bàn hoàn lòng khách giục quày cương.

(Thơ Cao Quỳnh Cư).

Thuyền sớm ra khơi quày lại bến,

Chim chiều bạt gió hướng về non.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

QUÀY ĐẦU

Quày: Xoay trở lại, quay lại. Đầu: Phần trên nhất trong cơ thể người và vật.

Quày đầu là xoay đầu trở lại, ý nói trở về với con đường thiện lương, đạo đức.

Đại Thừa Chơn Giáo có câu: Chớ đến ngày nay Thầy đã nhọc đem mối Ðạo nhiệm mầu mà phô trương hoằng hoá giữa nhơn gian, cốt để vẹt màn hắc ám, hầu độ rỗi các con cho thoát chốn mê đồ khổ cảnh, mà nếu các con lại không sớm tỉnh ngộ quày đầu, để cứ mãi say sưa mài miệt trong vòng tục lụy trần ai thì há còn chối đặng rằng Thầy không dạy nữa sao?

Cõi trần tục hỡi ai còn lặn lội,

Kíp quày đầu trở lại bến xưa,

(Giác Mê Khải Ngộ).

Dặm hồng lỡ lối đã quày đầu,

Một bộ Xuân Thu dựng nghiệp Châu.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

QUÀY QUẢ

Hay “Quầy quả”.

Quày quả hay “Quầy quả”, là lật đật, vội vã, tức có dáng điệu gấp gáp, khẩn trương cho công việc.

Như: Nói xong anh ta quày quả ra đi, không biết có chuyện gì mà nó quày quả về rồi.

Mượn Bồ đề quày quả thế thôi,

Chẳng phải kệ với kinh năng đúc Phật.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

Lững chững trôi theo chiều lượn sóng,

Lỡ làng quày quả liệng đường neo.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

QUẢY

Quảy là mang đi bằng quang gánh, hoặc mang đi bằng cách móc trên một đầu đòn đặt trên vai.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Thầy có dạy: Thầy thương công quả các con, chẳng nỡ để tội lây, đã nhiều phen chỉ dẫn, mấy con cười cười nói nói cầm chừng, đứa phạm dạ dạ chừa chừa, rồi ra lại quảy gói du phương tầm người trao việc mị nữa.

Bờ dương chừ đặng phong trần rảnh,

Quảy gánh thơ đàn dạo bốn phương.

(Đạo Sử).

Mở kho giúp đói đây trề miệng,

Ta quảy hồng ân rải giáp vòng.

(Thơ Hộ Pháp).

Bầu linh gậy sắt quảy du Nam,

Nương bóng từ bi đến cõi phàm.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

QUAN

1.- Quan là người có chức vị trong nước. Như: Quan lại, quan tỉnh, quan văn võ.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có đoạn dạy: Như kẻ làm quan ỷ quyền hiếp bức dân lành, đứa ngu nghịch cha phản bạn, làm rối luân thường, các con có biết vì tại sao chăng? Tại vô đạo.

Làm quan tính kế đảo điên,

Gạt thâu gia sản, đất điền của dân.

(Kinh Sám Hối).

Tam ưu Bàng Cử trắng đầu non,

Mua lấy chức quan đức phải mòn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Mình dầu đồng bạn tác cùng quan,

Đừng hổ phận bần hàn cha mẹ.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Quan là dính dáng, mắc míu, hay can thiệp, liên lạc đến, không dùng một mình. Như: Quan hệ, quan tâm, quan yếu, quan trọng.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Ðối với xã hội đức chí thành có một tầm quan trọng như thế, huống chi trong đường Ðạo, đối với tôn chỉ siêu việt cao cả của tôn giáo, đức chí thành lại còn quan trọng lớn lao hơn nữa.

Thế thì giới tửu là một điều cấm quan trọng vậy.

(Giáo Lý).

3.- Quan là cửa, then cửa, không dùng một mình. Như: Ải quan, cơ quan, quan kiện.

Thánh giáo Thầy có câu: Nhiều kẻ dụng thế để cầu Thầy, chớ kỳ thật là chúng nó muốn tìm cách dòm hành mong các con lầm mà bại lộ cơ quan mật yếu mà thôi.

Dìu đời với sức không kham,

Mượn quyền thuyết pháp đặng làm cơ quan.

(Kinh Thế Đạo).

Tuy không cao mấy mà khôn với,

Biết rõ cơ quan ắt biết đời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

4.- Quan là cái mũ, không dùng một mình. Như: Y quan, lễ gia quan, quan hôn tang lễ.

Theo sách Lễ Ký, hễ con trai đến trưởng thành đúng 20 tuổi thì thọ lễ “Gia quan” (lễ đội mão), còn con gái đến trưởng thành đúng 18 tuổi thì thọ lễ “Gia kê” (lễ cài trâm).

Khi tế tự chớ lờn chớ dể,

Việc quan, hôn thủ lễ nghiêm trang.

(Kinh Sám Hối).

 

 

QUAN ẢI

關 隘

Quan: Cửa ở biên giới. Ải: Chỗ đất hiểm yếu giữa hai quốc gia.

1.- Chỗ tiếp giáp giữa biên giới hai nước, thường xây một cái cửa cắt người canh gác nơi đó gọi là “Quan ải”.

Miền quan ải quanh co lối ngựa,

Bụi đường trường ngập ngụa vó câu.

(Phù Kiều Hận Sử).

2.- Cõi Âm Quang cũng gọi là một Quan ải.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Bát Nương Diêu Trì Cung nói về cõi Âm Quang có câu: Ấy là một cái quan ải, các Chơn hồn khi quy Thiên, phải đi ngang qua đó.

Chí Tôn buộc trường trai cũng vì cái quan ải ấy.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

QUAN ÂM

觀 音

Quan Âm hay “Quan Thế Âm” là một vị Bồ Tát lắng nghe âm thanh của thế gian, có nghĩa là Ngài quán xét tiếng kêu đau khổ của chúng sanh thì Ngài đều đến cứu giúp hoá độ. Ngài còn có hiệu là Quán Tự Tại Bồ Tát, có nghĩa là quán chiếu thâm sâu, giác ngộ tự tại mà cứu độ chúng sinh.

Đức Quán thế Âm có phép thần thông quảng đại, thường hay biến hiện nhiều sắc tướng để cứu giúp chúng sanh, nên người đời thường thờ Ngài bằng nhiều tượng khác nhau.

-Thiên thủ thiên nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát 千 手 千 眼 觀 世 音 菩 薩 tượng có nghìn tay nghìn mắt.

-Chuẩn Đề Quan Âm 準 提 觀 音: Tượng có ba mắt và mười tám tay.

-Quan Âm Nữ Phật 觀 音 女 佛: Tượng là một người phụ nữ, cho nên còn gọi là Phật Bà Quan Âm, do hai sự tích: Quan Âm Diệu Thiện và Quan Âm Thị Kính.

1.- Quan Âm:

Phổ Đà có Phật Quan Âm,

Ra công cứu thế, ân thâm đức dày.

(Xưng Tụng Công Đức).

Uổng kẻ nhiệt thành chiu chít phận,

Phải duyên có thuở gặp Quan Âm.

(Đạo Sử).

2.- Quan Thế Âm:

Quan Thế Âm lân mẫn ân cần,

Vớt lê thứ khổ trần đoạ lạc.

(Kinh Tận Độ).

 

 

QUAN ÂM BỒ TÁT

觀 音 菩 薩

Quan Âm Bồ Tát còn gọi là Quan Thế Âm Bồ Tát là một vị Bồ Tát thường lắng nghe âm thanh của thế gian, có nghĩa là Ngài quán xét tiếng kêu đau khổ của chúng sanh thì Ngài đều đến cứu giúp hoá độ. Ngài còn có hiệu là Quán Tự Tại Bồ Tát, có nghĩa là quán chiếu thâm sâu, giác ngộ tự tại mà cứu độ chúng sinh.

Ngài hiện thân của đức Từ bi, nên chúng sanh thường niệm danh hiệu Ngài là Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quảng Đại Linh Quan Thế Âm Bồ Tát. Nơi nào có chúng sanh khổ đau là có Ngài đến cứu độ.

Trong kinh Pháp Hoa có câu: Khổ não chúng sinh, nhất tâm xưng danh, Bồ Tát tức thì quan kỳ âm thanh, giai đắc giải thoát. Dĩ thị danh Quan Thế Âm 苦 惱 眾 生 一 心 稱 名, 菩 薩 即 時 觀 其 音 聲, 皆 得 解 脫, 以 是 名 觀 世 音, nghĩa là chúng sanh bị khổ não mà nhứt tâm niệm đến tên Bồ Tát, tức thì Ngài xem âm thanh của chúng sanh mà độ cho được giải thoát. Vì thế, nên gọi Ngài là Quan Thế Âm.

Hình tượng và công đức của Phật Quan Thế Âm đã ăn sâu vào tâm khảm mọi chúng sanh, dù có Tôn giáo hay không tôn giáo. Ta thường thấy, trên các xe khách hay tàu thuyền đều có vọng bàn thờ Ngài để cầu: “Thượng lộ bình an”. Như vậy, do căn cơ của chúng sanh chẳng đồng, nên Quan Thế Âm phải thị hiện trong khắp cả pháp giới, Kinh có câu:

 

Xứ xứ trì trung hữu minh nguyệt,

 

處 處 池 中 有 明 月

 

Gia gia môn nội hữu Quán Âm.

 

家 家 門 內 有 觀 音

Nghĩa là:

Ao nào cũng có ánh trăng,

Nhà nào cũng có Quan Âm hiện hình.

Đức Quán Thế Âm có phép thần thông quảng đại, thường hay biến hiện nhiều sắc tướng để cứu giúp chúng sanh, nên người đời thường thờ Ngài bằng nhiều hình tượng khác nhau.

- Thiên thủ thiên nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát 千 手 千 眼 觀 世 音 菩 薩 tượng có nghìn tay nghìn mắt.

- Chuẩn Đề Quan Âm 準 提 觀 音: Tượng có ba mắt và mười tám tay.

- Nam Hải Viên Thông Giáo Chủ Đại Từ Đại Bi, Tầm Thinh Cứu Khổ, Linh Cảm Quan Âm Bồ Tát 南 海 圓 通 教 主 大 慈 大 悲 尋 聲 救 苦 靈 感 觀 世 音 菩 薩: Danh hiệu nầy có nghĩa là Đức Quan Thế Âm làm Giáo Chủ Đạo Viên Thông ở miền Nam Hải, thường tìm tiếng kêu mà cứu khổ, rất cảm ứng và rất Thiêng liêng.

- Quan Âm Nữ Phật 觀 音 女 佛: Tượng là một người phụ nữ, tượng trưng cho tình thương của một bà mẹ hiền. Ngài đứng trên toà sen tay cầm nhành dương liễu và bình Tịnh thủy để tiếp dẫn chúng sanh và rưới tắt mọi thứ phiền não.

Trong đạo Cao Đài, Quan Âm Bồ Tát là vị Nữ Phật, cho nên còn gọi là Phật Bà Quan Âm, do hai sự tích: Quan Âm Diệu Thiện và Quan Âm Thị Kính. Trụ Xứ của Ngài là Nam Hải, nên còn được gọi Nam Hải Quan Âm hay Thường Cư Nam Hải Quan Âm Như Lai. Ngài được Đức Chí Tôn phong làm Nhị Trấn Oai Nghiêm Thường Cư Nam Hải Quan Âm Như Lai để đại diện cho Phật trong thời Tam Kỳ Phổ Độ.

Bát Nương Diêu Trì Cung có giáng cơ cho biết về Đức Quan Âm như sau: “Dưới quyền của Phật Mẫu có Cửu Tiên Nương trông nom về cơ giáo hoá cho vạn linh, còn ngoài ra có hằng hà sa số Phật trông nom về cơ Phổ Độ mà Quan Thế Âm Bồ Tát là Đấng cầm đầu. Quan Thế Âm Bồ Tát ngự tại Cung Nam Hải, ở An Nhàn Động, còn Cung Diêu Trì thì ở tại Tạo Hoá Thiên”.

Theo Đức Hộ Pháp, Quan Thế Âm Bồ Tát có 52 kiếp giáng linh trên địa cầu 68 nầy và Ngài cho biết: “Bạch Vân Hoà Thượng kiếp trước là Đức Quan Âm Bồ Tát đầu kiếp ở bên nước Tàu trước, rồi mới đầu kiếp ở bên xứ Việt Nam, ta kêu là Thanh Sơn Đạo Sĩ tức nhiên là Trạng Trình đó vậy, Thanh Sơn Đao sĩ dầu kiếp bên Pháp là Ralagode Bourgall, 52 kiếp có một kiếp trọng hệ có thâm tình với nòi giống Việt Nam ta hơn hết, chúng ta có hạnh phúc lắm, mới được Ngài đầu kiếp ở trong nước hai lần, lần thứ nhứt đầu kiếp làm người đàn bà tức nhiên Thị Kính, chúng ta đã biết Quan Âm là ai rồi. Bởi vậy cho nên buổi Tam Kỳ Phổ Độ nầy Đức Chí Tôn đã chọn lựa một Đấng cao trọng cho đến mặt địa cầu 68 nầy, có lẽ chúng ta đều biết danh Ngài hết, nhứt là Ngài lựa chọn một Đấng có thâm tình với nòi giống chúng ta hơn hết, cái tánh đức từ hoà yêu ái của Ngài, chúng ta đừng kiếm Đức Quan Âm đâu xa hơn là Thị Kính.

Và trong bài thuyết đạo ngày 28 tháng 6 năm Mậu Dần (1938), Đức Hộ Pháp có giảng Tại sao thờ Tam Trấn? rồi Ngài nói về đức tánh của Quan Âm Bồ Tát như sau: “Đức Quan Âm Bồ Tát, buổi còn sanh tiền giữ trọn câu trung trinh tiết liệt, mộ đạo đức, chẳng mến cuộc phú quý vinh huê, đủ nghị lực, trọn tâm trải qua nhiều hoàn cảnh khổ sở truân chuyên mà chỉ tu hành chẳng đổi, Bà mới đoạt thành phẩm vị Nữ Phật Tông Quan Âm Bồ Tát.

Kỳ Phổ Độ lần thứ ba nầy, thừa lịnh Đức Chí Tôn cùng Diêu Trì Kim Mẫu, cầm quyền Nhị Trấn Oai Nghiêm, thay mặt Thích giáo, rọi gương bác ái từ bi, tế độ đoàn nữ phái”.

Giữa chùa, gần 2 tran thờ Quan Âm Bồ Tát và Quan Thánh Ðế Quân, phải lập ra một điện để Thánh Tượng Ta ở giữa.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

QUAN ÂM NHƯ LAI

觀 音 如 來

Quan Âm: Tức là Quan Thế Âm, một vị Bồ Tát thường tầm thinh cứu khổ cho mọi chúng sanh. Như Lai: Bậc giác ngộ viên mãn.

Quan Âm Như Lai, cũng còn gọi Quan Âm Bồ Tát, là một vị nữ Phật tầm thinh cứu khổ, tức là nghe tiếng kêu cứu của chúng sanh nơi cõi thế để hiện thân đến cứu giúp.

Trong đạo Cao Đài, Đức Quan Âm Như Lai đảm nhiệm Nhị Trấn Oai Nghiêm, thay mặt Đức Thích Ca Mâu Ni Văn Phật, cầm quyền Phật giáo.

Nam Mô Thường Cư Nam Hải Quan Âm Như Lai.

(Kệ U Minh).

 

 

QUAN ÂM NAM HẢI

觀 音 南 海

Quan Âm: Tức là Quan Thế Âm, một vị Bồ Tát thường tầm thinh cứu khổ cho mọi chúng sanh. Nam Hải: Biển Nam Hải, thuộc tỉnh Triết Giang.

Quan Âm Nam Hải là chỉ Đức Quan Thế Âm Bồ Tát, bởi vì ngụ xứ của Ngài ở núi Phổ Đà, biển Nam Hải.

Trong bài Kệ Chuông U Minh, lời nguyện thứ 24 có câu: Nam Mô Thường Cư Nam Hải Quan Âm Như Lai 南 無 常 居 南 海 觀 音 如 來.

Quan Âm Nam Hải danh thường tại,

Với bóng thời gian đỉnh tháp ngà.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

QUAN ÂM THỊ KÍNH

Theo nhiều Kinh sách truyền lại, Đức Quan Thế Âm Bồ Tát có rất nhiều kiếp giáng trần, khi thì nam nhân khi thì nữ tướng. Trong Đạo Cao Đài, Đức Quan Âm là một vị nữ Phật theo sự tích Quan Âm Thị Kính.

Do tích Thị Kính con nhà họ Mãng ở nước Cao Ly, có chồng là Thiện Sĩ, con nhà họ Sùng. Hai vợ chồng sống với nhau thuận hoà, êm ấm.

Một ngày kia, Thị Kính ngồi may vá thấy chồng nằm ngủ, nơi càm của chồng có cọng râu bay lất phất định cắt bỏ. Thiện Sĩ giựt mình tỉnh dậy la lên, mọi người trong nhà đều cho rằng Thị Kính mưu giết chồng.

Thị Kính chịu hàm oan, nên quyết tâm tu hành. Nàng cải nam trang vào một ngôi chùa thọ pháp quy y và nhận pháp danh là Kỉnh Tâm. Kỉnh Tâm là gái giả trai nên có dung mạo đẹp đẽ, khiến cho nàng Thị Mầu phải lòng, nhiều lần trêu ghẹo, nhưng Kỉnh Tâm đều từ khước. Thị Mầu tư thông với đứa đầy tớ có thai, rồi khai tư tình với Kỉnh Tâm, rồi sau đó sinh ra một đứa bé trai, đem đến giao cho Kỉnh Tâm bắt nuôi dưỡng, Kỉnh Tâm thà nhận hàm oan để quyết chí tu hành.

Một ngày kia, Kỉnh Tâm thọ bịnh ngặt chết, làng và dân chúng mới biết Kỉnh Tâm chịu oan tình bấy lâu nay. Khi an táng sãi Kỉnh Tâm, tức là nàng Thị Kính, dân làng đều thấy Đức Phật ngự toà sen hiện ra ở trên mây, rước hồn Thị Kính về cõi Tây Phương.

Xem: Kỉnh Tâm chịu hàm oan.

Ngọn đuốc từ bi rạng Phổ Đà,

Quan Âm Thị Kính tiếng đồn xa.

(Cội Đạo Bốn Mùa).

 

 

QUAN CÔNG

關 公

Quan Công tức là Quan Võ, sau đổi là Vân Trường, Ngài sanh nhằm triều vua Hoài Đế, đời Đông Hán, quê quán tại Bồ Châu, tỉnh Sơn Đông Trung Quốc.

Sanh ra trong thời kỳ Hán thất suy vi, bên trong bọn hoạn quan chuyên quyền, bên ngoài giặc Huỳnh cân dấy lên tứ phía, Ngài tuy ham học, thích đọc kinh Xuân Thu, nhưng trước cảnh loạn lạc, Ngài đành châu du để tìm hào kiệt mưu cầu đại nghiệp.

Ngài kết nghĩa đào viên với hai người là Lưu Bị, tự Huyền Đức là anh cả, thuộc dòng dõi nhà Hán, và một người nữa là Trương Phi, tự Dục Đức, là em út.

Có lần Ngài bị Tào Tháo dụ phong cho chức Hán Thọ Đình Hầu, nhưng sau Ngài trả ấn. Quan Công cùng Trương Phi phò Lưu Bị lập nên nhà Thục, một nước trong Tam quốc: Thục, Ngụy, Ngô.

Ngài lầm mưu của Lữ Mông mà bị bắt, rồi Ngô Quyền đem xử trảm, thọ 58 tuổi.

Ngài được người đời sau tặng cho đôi liễn: Chí tại Xuân Thu công tại Hán, Trung đồng Nhựt Nguyệt nghĩa đồng Thiên 志 在 春 秋 功 在 漢, 忠 同 日 月 義 同 天, nghĩa là chí tại Xuân Thu công ở Hán, trung cùng Nhựt Nguyệt, nghĩa đồng trời đất.

Noi gương Trình Tử lòng son rạng,

Học chí Quan Công đuốc ngọc làu.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

QUAN ĐÁNG PHẬN MẸ CHA

Quan: Người có chức vị trong nước. Đáng phận: Xứng đáng với phận. Mẹ cha: Tức làm cha mẹ.

Quan đáng phận mẹ cha, bởi chữ “Dân chi phụ mẫu 民 之 父 母” tức quan đáng là cha mẹ của người dân.

Người xưa thường cho rằng kẻ làm quan là cha mẹ của dân, phải biết thương dân, xem dân như là con đỏ.

Mình vợ quan đáng phận mẹ cha,

Phải yêu mến trăm nhà như con đỏ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

QUAN ĐIỂM

觀 點

Quan: Nhìn xem. Điểm: Xét nét.

Quan điểm là chỗ mình thấy, hay điểm mình xét, tức là mình giải quyết các vấn đề theo cái nhìn hay điểm xét thấy của mình.

Thánh giáo Đức Hộ Pháp có dạy: Lẽ dĩ nhiên là khi Phong Thánh, phải có tay của Thượng Phẩm, mà Thượng Phẩm chỉ giúp sức cho những vị Thời Quân dưới quyền của mình. Đó là chiếu theo chơn pháp về sự Phong Thánh. Đức Lý Đại Tiên cũng đồng ý về quan điểm nầy.

Quan điểm người tu rất lạ đời,

Tránh xa danh lợi, thích nhàn thơi.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

QUAN HÀ

關 河

Quan: Cửa ải. Hà: Sông.

Quan hà là cửa ải và sông, dùng để nói sự xa xôi cách trở, tiễn biệt đi xa, hay nói về dặm đường của lữ khách.

Quan hà còn có nghĩa chỉ giang san đất nước. Như: Muôn dặm quan hà.

Hiệp mặt chớ nào ngày hội ngộ,

Trông vơi ngơ ngẩn dặm quan hà.

(Bát Nương Giáng Bút).

Nẻo danh lợi vào ra ai cấm,

Mắt sáng soi cái dặm quan hà.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

QUAN HỆ

關 系

Quan: Dính dáng, liên lạc. Hệ: Liên hệ, buộc chặt vào nhau.

Quan hệ là có sự gắn liền chặt chẽ với nhau.

Quan hệ còn có nghĩa là quan trọng.

Trong một bài Thánh giáo của Đức Chí Tôn bằng Pháp văn do Hội Thánh dịch có câu: Một đàn cơ riêng biệt ít khi được thiết lập cho ai, mặc dầu lời thỉnh nguyện có quan hệ cách mấy đi nữa cũng không đặng.

Phải có Hội Thánh phê nhận rồi sẽ in thì khỏi điều sơ sót quan hệ.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

QUAN HOÀI

關 懷

Quan: Liên quan, dính dáng đến. Hoài: Tưởng nhớ.

Quan hoài, đồng nghĩa với chữ “Quan tâm 關 心”, là trong lòng luôn luôn tưởng nghĩ và nhớ nhung đến.

Như: Nỗi quan hoài.

Sầu cuộn theo dòng thơ cảm khái,

Tình thương qua nét bút quan hoài.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

QUAN HÔN

冠 婚

Quan: Cái mão, chỉ lễ gia quan.

Theo sách Lễ Ký, hễ con trai đến trưởng thành đúng 20 tuổi thì thọ lễ “Gia quan” (lễ đội mão), còn con gái đến trưởng thành đúng 18 tuổi thì thọ lễ “Gia kê” (lễ cài trâm).

Hôn: Nghi lễ cưới vợ gả chồng.

Quan Hôn là hai trong bốn nghi lễ thời xưa là Quan, Hôn, Tang, Tế.

Quan tức là lễ gia quan và lễ hôn nhân của con người. Quan hôn chịu ảnh hưởng hỉ lạc.

Xem: Quan hôn tang tế.

Khi tế tự chớ lờn chớ dể,

Việc quan, hôn thủ lễ nghiêm trang.

(Kinh Sám Hối).

 

 

QUAN HÔN TANG TẾ

冠 婚 喪 祭

Quan: Cái mão. Hôn: Việc cưới vợ gả chồng. Tang: Việc cúng tế và chôn cất người chết. Tế: Việc tế lễ Trời đất, đình miếu.

Theo nghi lễ xưa, Quan, hôn, tang, tế là bốn lễ lớn trong đời người.

Quan là gia quan, tức là lễ đội mũ cho những trẻ vừa mới trưởng thành; hôn tức là lễ kết thành chồng vợ; tang lễ trong lúc có người chết, tế tức là các lễ cúng tế trong gia đình, trong làng hay trong nước.

Huấn từ của Đức Thượng Sanh trong khoá Khai giảng Chức Việc Bàn Tri Sự có câu: Sự hiện diện đông đủ của toàn thể Chức Việc Nam Nữ trong buổi lễ nầy làm cho Hội Thánh thấy rõ cái thiện chí của quý vị là dốc lòng học hỏi cho thông hiểu luật pháp và các nghi lễ về Quan, Hôn, Tang, Tế của nền Ðại Ðạo.

Quan, hôn, tang, tế là điều cần nhứt của kiếp sống đời người.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

QUAN KHÁCH

觀 客

Quan: Xem. Khách: Người bên ngoài, đối với chủ.

Quan khách là khách mời đến để dự lễ.

Huấn từ Đức Thượng Sanh trong dịp lễ Khánh thành ngôi nhà Hội Vạn Linh có câu: Tạo nên ngôi nhà nầy, Hội Thánh chúng tôi có ý để dùng làm nơi hội họp của bổn Ðạo mỗi khi có cuộc lễ long trọng và khi có quý quan khách trong các giới và các tôn giáo ở xa đến viếng Toà Thánh muốn lưu lại đôi ngày thì cũng sẵn có nơi xứng đáng để tiếp rước.

Quan khách vầy đông khắp mọi miền,

Về cùng chiêm bái vọng Ân Thiên.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

QUAN LẠI

官 吏

Quan: Nói chung chức quan trong triều đình. Lại: Chức quan nhỏ ở văn phòng.

Quan lại là tiếng chỉ chung người làm quan, tức là những người có chức vụ trong các cơ quan công quyền.

Thánh giáo Chí Tôn dạy: Các con ôi! Các con sầu một, Thầy đây lại thương mười. Thương thương ghét ghét, các con đặng biết, trong khi các con lâm nàn tai ách, các con vì Đạo mà phải buộc ràng tay chân trong quan lại.

Phạt những kẻ sửa ngay ra vạy,

Tớ phản thầy, quan lại bất trung.

(Kinh Sám Hối).

 

 

QUAN NIỆM

觀 念

Quan: Xem xét, ý thức. Niệm: Nghĩ nhớ.

Quan niệm là ý niệm đối với một vấn đề theo sự quan sát, hay sự nhận thức của mình. Như: Quan niệm của chị ấy rất đúng.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Thầy Mạnh Tử có quan niệm là lòng nhân ái ví như cái hoa của đời sống, sự sinh tồn thiết thực là tình thương tràn trề và sung mãn. Nếu lòng nhân ái không được nở nang đầy đủ thì nó như cái hoa héo trước khi nở.

Quan niệm Thiên ân tai ách giải,

Âm phong nhựt tản chiếu đơn đình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

QUAN NHA

官 衙

Quan: Người có chức vị trong nước. Nha: Phòng giấy hay nơi làm việc của các quan.

Quan nha, như chữ “Nha quan 衙 官”, là chỉ những người làm quan nơi huyện nha, hay phủ nha trong triều đình thời xưa.

Quan nha, như chữ “Nha môn”, còn dùng để chỉ nơi công thự làm việc của quan.

Khóc than thổ võ thanh lâu khách,

Thúc giục quan nha cậy mụ bà.

(Nguyễn Du Giáng Bút).

 

 

QUAN PHÒNG

關 防

Quan: Xem xét, cửa ải. Phòng: Ngăn ngừa, giữ.

Quan phòng là đề phòng việc gìn giữ quan ải, tức nơi cửa ải phải cảnh gác gìn giữ kẻo địch xâm lấn.

Quan phòng còn có nghĩa là quan tâm đề phòng, tức lo lắng đề phòng.

Trong Thánh Ngôn chép tay của Ngài Bảo Pháp có câu: Nếu không có chơn linh quý trọng thì thường có Tà quái xung nhập mà khuấy rối làm cho thất nhơn tâm, lại còn một điều đáng quan phòng nữa là trong mấy đứa phò loan cũng có đứa không dè dặt, tưởng cơ bút là việc khinh thường, làm thế nào cũng đặng, rồi lấy đó mà cầu hỏi những điều vô vị, nên cũng có nhiều khi vì đó mà sanh biến trong Ðạo.

Tâm tánh quan phòng mình biết lấy,

Ðẩy đưa mặt thế trổi khoe tài.

(Đạo Sử).

 

 

QUAN QUYỀN

官 權

Quan: Người làm việc cho nhà nước. Quyền: Thế lực có thể định đoạt được mọi việc.

Quan quyền là quyền thế, quyền hành của quan lại. Quan quyền còn dùng đề chỉ vị quan.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Cả thảy sự phân cách đặc biệt tâm lý cá nhân, ta thấy trường tranh đấu sanh hoạt tương liên, tỷ như học trò đến trường cùng đồng bạn với nhau, thấy mình sao tối tăm ngu muội, còn bạn mình sao sáng láng thông minh, ngu đến nỗi phải bỏ trường không học đặng nữa về làm tên dân hèn, bạn mình khôn ngoan hơn, lập phẩm vị cao trọng, làm quan quyền cầm vận mạng dân sanh, sửa trị phong hoá, làm lãnh đạo cho đời, sao có sự phân biệt lạ lùng như thế ấy?

Bậc vua chúa, kẻ quan quyền hay hàng dân thứ, hễ đạt được lẽ mầu nhiệm của Ðạo, sửa mình cho ra bậc quân tử, khi bình tĩnh để tâm tự xét...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

QUAN SAN

Quan: Cửa ải ở biên giới. San (sơn): Núi non.

Quan san, như chữ “Quan sơn 關 山”, là cửa ải và núi non, dùng để chỉ đường xá xa xôi, núi non cách trở.

Như: Lộ trình quan san muôn dặm.

Quan san dặm thẳng toan lừa bước,

Tòng bá vườn xưa đã định người.

(Thơ Khai Đạo).

Vẫy tay hẹn buổi cùng tương hội,

Tiễn dặm quan san nén lệ sùi.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

QUAN SÁT

關 察

Quan: Chú ý xem. Sát: Xét.

Quan sát là xem xét để thấy, để biết rõ sự vật, hiện tượng nào đó. Như: Có óc quan sát tinh tế.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Trước khi nhập Đạo, ta đã từng quan sát, kiếm hiểu lẽ mầu nhiệm sâu xa, cân phân điều chánh lẽ tà, rõ biết rồi ta dọn mình, lập ý cho thành, tâm cho định, mới đến khắc kỷ tu thân, khi ấy người hành Đạo đã có sẵn chí hướng, đi từ bước một, mỗi bước mỗi dè dặt cân phân...

Cơ Tạo hoá chỉ có hai bí mật tối trọng: Một là quan sát sự hữu hình, hai là xét đoán sự vô vi.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

QUAN SỰ

官 事

Quan: Chức quan. Sự: Việc.

Quan sự là việc quan, việc liên hệ đến quan, tức là những việc án tiết, thưa kiên nơi cửa quan.

Quan sự đắc tán, tụng sự đắc hưu...

(Kinh Cứu Khổ).

 

 

QUAN TÁI

關 塞

Quan: Cửa biên giới. Tái: Cửa ải.

Quan tái là chỗ cửa ải đóng ở vùng biên thùy xa xôi. Quan tái, còn nghĩa bóng: Chỉ chốn xa xôi.

Trong Truyển Kiều, Nguyễn Du có viết: Chạnh niềm nhớ cảnh giang hồ, Một màu quan tái mấy mùa gió trăng.

Công nghiệp còn ghi rạng chốn đài vân,

Hài cốt dẫu chôn vùi miền quan tái.

(Chiêu Hồn Tử Sĩ).

 

 

QUAN TÀI

棺 材

Quan: Cái hòm để liệm xác người chết. Tài: Cây gỗ để làm đồ vật.

Quan tài là cái hòm gỗ để liệm xác người chết.

Thánh giáo Thầy dạy về cách hành tang lễ cho Ngài Bảo Đạo chơn Quân có câu: Thầy cũng nhắc lại với các con rằng: Ðủ 3 năm phải thiêu hài cốt, lên tượng đặng đem nó vào Bát Quái Ðài nghe. Nơi mộ nó phải để quan tài khỏi mặt đất một tấc mà đắp xây tháp y như lời Thầy đã dặn. Trên mặt tháp đề chữ vàng: “Bảo Ðạo Chơn Quân” nhớ à!

Quan tài vừa hạ nơi lòng đất,

Chôn chặt tình thương lại cõi đời.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

QUAN TÂM

關 心

Quan: Quan hệ, dính dáng đến. Tâm: Lòng, biểu tượng cho tâm lý tình cảm.

Quan tâm là để tâm đến, chú ý thường xuyên đến. Như: Quan tâm đến việc dạy dỗ con cái.

Thánh giáo Đức Cao Thượng Phẩm có câu: Vậy trong khi các em lãnh phận sự đi hành nơi địa phương, nên quan tâm vào vấn đề giáo hoá nữ phái và nên tượng trưng bằng hành động, cử chỉ và lời nói của mình để làm gương cho họ.

Ngày Giáng sinh của Chúa Cứu Thế là việc đã có sấm tiên tri rồi mà các con không chịu quan tâm đến.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

QUAN THÁNH

關 聖

Quan: Họ Quan, chỉ Quan Võ, tục danh là Quan Công. Thánh: Bậc Thánh.

Quan Thánh là vị Thánh họ Quan, dùng để xưng tụng Quan Võ hay Quan Vân Trường khi quy vị đã được hiển Thánh, tức Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Chúng nó hiệp Tam thập lục Ðộng toan hại các con, nên Thầy sai Quan Thánh và Quan Âm đến gìn giữ các con, nhưng phần đông chưa lập Minh Thệ, nên chư Thần,Thánh, Tiên, Phật không muốn nhìn nhận.

Xem: Quan Thánh Đế Quân.

Hớn trào Quan Thánh bia danh,

Trung can nghĩa khí háo sanh giúp đời.

(Xưng Tụng Công Đức).

 

 

QUAN THÁNH ĐẾ QUÂN

關 聖 帝 君

Quan Thánh Đế Quân, hay Quan Thánh Đế là vị Tam Trấn Oai Nghiêm, đại diện Đức Khổng Thánh cầm quyền Nho giáo trong thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Thế danh của Đức Hiệp Thiên Đại Đế là Quan Võ, sau đổi là Vân Trường, tục danh là Quan Công. Ngài sanh nhằm triều vua Hoài Đế, đời Đông Hán, quê quán tại Bồ Châu, tỉnh Sơn Đông Trung Quốc.

Sanh ra trong thời kỳ Hán thất suy vi, bên trong bọn hoạn quan chuyên quyền, bên ngoài giặc Huỳnh cân dấy lên tứ phía, Ngài tuy ham học, thích đọc kinh Xuân Thu, nhưng trước cảnh loạn lạc, Ngài đành châu du để tìm hào kiệt mưu cầu đại nghiệp.

Ngài kết nghĩa đào viên với hai người là Lưu Bị, tự Huyền Đức là anh cả, thuộc dòng dõi nhà Hán, và một người nữa là Trương Phi, tự Dục Đức, là em út.

Có lần Ngài bị Tào Tháo dụ phong cho chức Hán Thọ Đình Hầu, nhưng sau Ngài trả ấn. Quan Công cùng Trương Phi phò Lưu Bị lập nên nhà Thục, một nước trong tam quốc: Thục, Ngụy, Ngô.

Ngài lầm mưu của Lữ Mông mà bị bắt, rồi Ngô Quyền đem xử trảm, thọ 58 tuổi.

Trong bài Kệ Chuông U Minh, lời nguyện thứ 26 có câu: Nam Mô Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân 南 無 協 天 大 帝 關 聖 帝 君.

Xem: Quan Võ.

1.- Quan Thánh Đế Quân:

Kim vì kiết nhựt lương thần, chánh thị Đức Quan Thánh Đế Quân Thánh Đán.

(Sớ Văn).

2.- Quan Thánh Đế:

Quan Thánh Đế Huỳnh cân dẹp giặc,

Trừ nịnh tà gian tặc giúp đời,

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 

QUAN TRUNG

關 中

Quan Trung là tên một phần đất Thiểm Tây ở giữa bốn cửa ải quan trọng yếu của Trung Quốc. Đó là Hàm Cốc quan ở phía đông, Tán quan ở phía tây, Vũ quan ở phía nam, Tiêu quan ở phía bắc.

Khi Hán Lưu Bang tiêu diệt được Hạng Võ, lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu là Hán Cao Tổ chọn đất Quan Trung để lập kinh đô.

Yến Tử Hà xưa lúc vận cùng,

Còn mang dép rách đến Quan Trung.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

QUAN TRƯỜNG

1.- QUAN TRƯỜNG

官 場

Quan: Người làm việc trong triều đình. Trường: Nơi, chốn, chỗ đất rộng.

Quan trường là trường quan lại, tức nói chung những người làm việc triều đình với vua.

Như: Học xong hai năm nay nó tìm cách luồn lách vào chốn quan trường.

Anh phong nhứt thế chiếm quan trường,

Hữu thế hữu thời Ðạo khả dương.

(Đạo Sử).

Gắng chí mấy em sau giúp Đạo,

Còn hơn luồn cúi chốn quan trường.

(Thơ Thượng Sanh).

2.- QUAN TRƯỜNG

關 長

Quan Trường tức là Quan Vân Trường, người đời Tam Quốc, là một tướng trung can nghĩa khí, dốc lòng phò Thục để đánh Ngô, Nguỵ.

Sau vì thất Kinh Châu bị Lữ Mông bắt giết và được hiển Thánh.

Xem: Quan Thánh Đế Quân.

Ước hiệp Quan Trường nên Thánh vị,

Vì xa Nghĩa Đế chịu lìa ngôi.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

QUAN VIÊN

官 員

Quan: Người có chức vị trong nước. Viên: Người có giữ một chức việc.

Quan viên là người làm việc quan.

Thánh giáo Thầy dạy: Nên cho chánh phủ hiểu rằng: Trong cơn ly loạn nầy, hoặc con nên hữu dụng cho cả lưỡng quốc Pháp - Nam, ra giáo dân quy thiện, hoặc là vô dụng làm một quan viên chức tước thường tình, rồi biểu cân thử hai lẽ trọng khinh mà định liệu.

Phòng cơn biển nọ hoá cồn dâu,

Chưa hết quan viên há hết chầu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tróng gông nô lệ sao ham muốn?

Hình bóng quan viên xúm giựt giành.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

Cao nghi đình bước trước hoà sau,

Như các quan viên buổi tựu trào.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

QUAN VÕ

Hay “Quan Vũ”.

Quan Võ hay “Quan Vũ 關 武”, tục gọi là Quan Công, người đời Tam Quốc, tự là Trường Sinh, sau đổi là Vân Trường, kết nghĩa đào viên với Lưu Bị, Trương Phi, dựng nên nhà Thục, cùng với Ngụy, Ngô tạo thành thế chân vạc.

Quan Võ là người trung can nghĩa khí, một tướng tài phò Lưu Bị đánh thắng nhiều trận, uy danh lừng lẫy.

Sau Ngô Tôn Quyền dùng kế Lữ Mông đánh thắng Kinh Châu, Quan Võ bị bắt ở Mạch Thành.

Xem: Quan Công.

Trảm quỷ khí, sát tà oai,

Hươi đao Quan Võ, tế bài Vương Quân.

(Xuân Hương Giáng Bút).

 

 

QUÁN

1.- Quán là nhà nhỏ dùng để bày hàng hoá ra bán.

Như: Quán cơm bình dân, quán nước chè, quán bán sách báo, dọn quán bán hàng.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Ðời chuộng sang vinh, Ðạo chuộng khổ hạnh, Ðời ham trược phú, Ðạo giữ thanh bần, lên xe xuống ngựa chốn phồn hoa là cảnh áo bả hài gai nơi tịnh xá, tương dưa thanh đạm chốn thiền môn, để mặc miếng mỹ vị cao lương ngoài quán tục.

Dạy đừng ham quán rượu tiệm trà,

Đừng hút xách làm ma nha phiến.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Quán là quê hương, chỗ quê nhà. Như: Quê quán, sinh quán, tổ quán.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Song cũng còn trông thấy lại chân trời tổ quán trên vùng đất thân yêu xứ sở để mong tìm lại những thân nhân từ bấy lâu phải chia tay xa cách.

Ðiều hay hơn hết là vị Công thần đạt vị đó, lại được trong bổn thôn sanh quán của người thờ người.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

3.- Quán là suốt qua. Như: Quán thông, quán triệt, nhất quán, quán thế tình.

Quán thế tình là thông suốt hết tình đời.

Hễ khử tối thì dùng bóng sáng,

Phải khôn ngoan mới quán thế tình.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

QUÁN CỔ TRI KIM

貫 古 知 今

Quán cổ: Thông suốt việc ngày xưa. Tri kim: Biết hết việc ngày nay.

Quán cổ tri kim là thông suốt việc đời xưa, biết rõ hết việc đời nay.

Cái tâm con người sáng suốt, quán cổ, tri kim, hay khiến con người làm điều hay, sự phải...

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

QUÁN CHÚNG

冠 眾

Quán: Đứng đầu, cao hơn cả. Chúng: Đông người.

Quán chúng là hơn cả mọi người, tức là tài giỏi vượt lên, đứng đầu trên mọi người.

Trong Đạo Sử, Thánh giáo Chí Tôn dạy Đức Hộ Pháp có câu: Tắc cũng vậy nghe; đừng xao lãng tình đời mới ra người quán chúng, tập nhỏ nhẹ chị em chiều bụng, nên lấy mình làm thế Ðạo anh, như gặp cơn đói khó rách lành, giữ trọn nghĩa để danh lưu hậu thế.

Có tinh thần mới có xác thân,

Biến thân đủ tinh thần quán chúng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

QUÁN SỞ LẦU TẦN

Quán Sở, do tích Sở Tương Vương nằm mơ thấy thần nữ vu sơn... nên trong văn thơ dùng chữ “Quán Sở” để chỉ những nơi hò hẹn. Lầu Tần là lầu của vua Tần Mục Công cho công chúa Lộng Ngọc, là nơi Tiêu Sử dạy nàng thổi sáo, sau hai người lấy nhau. Từ đó lầu Tần được dùng để chỉ nơi hò hẹn của trai gái.

Quán Sở lầu Tần thành ngữ dùng để chỉ nơi hò hẹn giữa trai gái, hay nơi ăn chơi ca vũ.

Xem: Lầu Tần quán Sở.

Tiếng nhặt khoan kêu lánh quán Sở với lầu Tần,

Nầy hỡi bạn đã sa chân, nay nghe đờn giác ngộ

nên bước lần ra cho khỏi.

(Giác Mê Khải Ngộ).

 

 

QUÁN TỤC

館 俗

Quán: Nhà để nghỉ chân hay để mua bán, quê quán. Tục: Tầm thường, phàm tục.

Quán tục tức là quán trọ của khách phàm tục.

Triết lý Tôn giáo cho rằng cõi trần là quán trọ của khách trần. Người khách trần tạm ở nơi quán trọ một thời gian rồi cũng trở về quê cũ đúng với câu “Sanh ký tử quy 生 寄 死 歸” là sống tạm thác trở về.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Tiên Nho gọi chúng ta là khách trần, gọi mặt thế gian, tức là mặt địa cầu 68 nay là “Quán tục” ta là khách, cõi trần này là Quán, nó hay là sao đâu, không lấy tỉ thí gì minh bạch chơn chánh hơn tỉ thí đó.

Phi thị mặc đời nơi quán tục,

An nhàn rảnh dạ khách Thiên Thai.

(Đạo Sử).

Chẳng qua khách ăn nằm quán tục,

Vắn một ngày, lâu chút trọn đời.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Phi thị mặc đời nơi quán tục,

An nhàn rảnh dạ khách Thiên thai.

(Thượng Phẩm Giáng).

 

 

QUÁN THẾ

冠 世

Quán: Đứng đầu, cao hơn hết. Thế: Đời.

Quán thế là người đứng đầu hơn hết trong một đời.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Hễ hữu dụng cho đời, tức là mình hơn đời, gọi là quán thế, tức nhiên mình làm Thánh đạo đó vậy.

Thanh bạch hai lẽ chẳng đủ thờ,

Quán thế phải tri cơ Tạo hoá.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

 

 

QUÁN TRẦN GIAN

Hay “Quán trần”.

Quán: Quán trọ, nơi nghỉ. Trần gian (trần): Cõi trần.

Quán trần gian, hay quán trần 館 塵, đồng nghĩa với chữ “Quán tục 館 俗”, là quán trọ của người trần tục, tức chỉ cõi thế gian.

Xem: Quán tục.

1.- Quán trần gian:

Xưa luyến thế nay gìn Đạo cả,

Quán trần gian chớ khá cơ cầu.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

2.- Quán trần:

Quán trần ví biết xuân không mộng,

Xuân điểm tài danh rạng vẻ ngần.

(Thơ Cao Tiếp Đạo).

Quán trần ví biết là nơi tạm,

Thế giới ba ngàn mới phục sinh.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

QUÁN TRIỆT

貫 徹

Quán: Thông suốt. Triệt: Suốt tới.

Quán triệt là thấu suốt hết, hiểu rõ mọi lẽ, tức là thông suốt từ đầu đến cuối.

Như: Quán triệt tôn chỉ của nền Đại Đạo.

Đại hoá Càn Khôn hạo khí đơn,

Thừa cao quán triệt Đạo minh tồn,

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

QUÀN

Quàn là đặt tạm linh cữu ở một nơi để làm lễ trước khi đem đi mai táng.

Quàn còn dùng để chỉ để lại chưa làm vội.

Như: Linh cữu quàn tại nhà, công việc phải quàn lại để năm sau mới làm.

Quàn tại Thảo Xá ba ngày, Chức Sắc và Ðạo Hữu nam nữ điếu tế rất đông.

(Đạo Sử).

 

 

QUẢN

1.- Quản là cái cán viết, hoặc chỉ vật gì tròn rỗng ở giữa gọi là quản.

Như: Huyết quản, quản bút 管 筆, ác quản 握 管 là cầm bút.

Nâng quản bút dựa vào Thánh ý,

Nhờ Ðức Ngài nguyên lý khai thông.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

2.- Quản là e, ngại. Như: Chẳng quản khó nhọc, suy hơn quản thiệt.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Thầy nhớ xưa, kẻ mộ Ðạo chịu ngàn cay muôn đắng, biết có người mà chẳng biết nhọc mình, giày gai áo bả, đội nguyệt mang sao, gió trước lọt chòi tranh, mưa sau hư giậu lá, bần hàn chẳng quản, tay trắng dìu người, một mảy không bợn nhơ, mới có thể lập ngôi cho mình đặng; có đâu lấy của lấn nhân, mượn quyền xua đức, kẻ chân thành lánh mặt, đứa tà mị áp vào, rồi cúm núm mang hơi tà, lại đua nói rằng thờ Chánh giáo.

Ghe phen cửa rách hiên nhà lủng,

Không quản lao đao giữ tiếng lành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chồng sang đặng, ta hèn chẳng quản,

Chồng đẹp hình, ta mảng lo âu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

3.- Quản là xem sóc, coi giữ.

Như: Quản lý, quản trị, quản gia, quản thúc, cai quản, chưởng quản.

Hiệp chung mấy Ðạo lại nên giềng,

Tỏ rõ nên quyền Ðấng quản Thiên.

(Đạo Sử).

Từ Hỗn Độn, Chí Tôn hạ chỉ,

Cho Thiếp quyền quản Khí Hư Vô.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

QUẢN BAO

Quản: Ngại. Bao: Nhiều ít, lâu mau.

Quản bao có nghĩa là đâu ngại gì, chẳng nệ hà, há ngại sao... Quản bao là tiếng dùng để chỉ sự chịu đựng, nhẫn nhục, chấp nhận sự hy sinh.

Như: Làm việc thiện chẳng quản bao về cực nhọc.

Xem: Bao quản.

Quản bao phi thị lời xuyên tạc,

Mặn lạt tương dưa chịu khổ bần.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

QUẢN SUẤT

管 率

Quản: Trông nôm, coi sóc. Suất: Quản lãnh, tức cai quản toàn thể.

Quản suất là trông nom, coi sóc cả toàn thể, tức là cai quản tất cả.

Trong Đạo Luật Mậu Dần có câu: Mỗi kỳ nhóm thường lệ. Thủ bổn phải lược thuật sự quản suất tài chánh cho rõ ràng.

Chưởng quyền Cực Lạc phân ngôi vị,

Quản suất Càn Khôn định cõi bờ.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

QUẢN TỘC

管 族

Quản: Coi sóc. Tộc đạo: Một quận đạo, gồm tất cả tín đồ cư ngụ trong một quận.

Quản Tộc hay Quản Tộc Đạo là vị chức sắc thuộc cơ quan Phước Thiện, được Hội Thánh Phước Thiện bổ về địa phương đứng đầu một Tộc đạo Phước Thiện.

Như: Anh ấy được Hội Thánh bổ làm Quản Tộc Châu Thành, Tiền Giang.

Mừng chị đảm đang vai Quản Tộc,

Cười em lẹt đẹt phẩm Đầu Phòng.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

QUẢN THÚC

管 束

Quản: Trông coi. Thúc: Ràng buộc.

Quản thúc là kiểm soát, bó buộc tại một nơi, không cho đi lại tự do.

Thường thường những người bị quản thúc, mỗi khi đi đâu đều phải trình diện cho chính quyền biết.

Vô can quản thúc tại Nhàn Du,

Hoạ bởi ai đưa đến cảnh tù.

(Thơ Thái Bộ Thanh).

 

 

QUẢN TRỊ

管 治

Quản: Trông nôm, coi sóc. Trị: Sắp đặt cho yên.

Quản trị là trông nom, sắp đặt công việc trong một tổ chức hay cơ quan gồm nhiều người.

Ban Quản Trị hay Hội Đồng Quản Trị là do một nhóm người có trách nhiệm sắp đặt mọi công việc trong mổ tổ chức hoặc một cơ quan.

Cửu Trùng Đài do một Hội Thánh quản trị, mạng danh là “Hội Thánh Cửu Trùng Đài” gồm có một phái Nam và một phái Nữ.

(Giáo Lý).

 

 

QUANG

1.- Quang là sáng, ánh sáng. Như: Trời quang mây tạnh, nhật quang, thiều quang, tường quang.

Dạy về tháp của Thượng Phẩm, Thánh giáo Thầy có câu: Chung quanh Bát quái đài phải làm như hình có cột, tại chính giữa tháp phải có một lỗ cho nhựt quang rọi tới liên đài.

Tường quang nhứt khí chiếu minh đông,

Tam Giáo quy nguyên dữ cộng đồng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thiều quang nhặt thúc khuất màu xuân,

Trở bước quanh co rán liệu chừng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Quang là vẻ vang. Như: Vinh quang, quang hiển.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bần Ðạo tưởng mảnh thân nầy có phương thế đồng sống chung với mấy em trong cảnh gia đình ấm lạnh để cùng hiểu nhau những nỗi tân khổ sầu buồn thì Bần Ðạo rất hữu hạnh mà được chia mảy mún cũng đặng, dầu cắn hột muối hay ăn hột cơm rơi với mấy em, thì tưởng trọn kiếp sống của Bần Ðạo không có cảnh vinh quang phú quý nào trên thế gian nầy đối đặng.

Khởi điểm vinh quang đã vẽ màu,

Giang san đất Việt giá là bao.

(Nguyệt Tâm Chơn Nhơn).

 

 

QUANG ÂM

光 陰

Quang: Ánh sáng. Âm: Bóng tối.

Quang âm là nói ánh sáng, bóng tối hay ngày và đêm thay đổi nhau.

Nghĩa bóng dùng để chỉ thời gian trôi qua.

Thánh giáo Chí Tôn có câu: Ngày qua thấm thoát, nhặt thúc bóng quang âm, xuân mãn kế xuân về, nước non màu cũng vẫn như xưa mà tâm hạnh nhơn tình biết bao thay đổi.

Việc sanh tử như dường chớp nháng,

Bóng quang âm ngày tháng dập dồn.

(Kinh Sám Hối).

Nhặt thúc quang âm xuân đã lụn,

Liệu qua cho khỏi cuộc tang dâu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Quang âm ngày tháng dập đồn,

Ngừa khi trễ bước hoàng hôn trở đường.

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 

QUANG ĐÃNG

光 蕩

Quang: Sáng sủa. Đãng: Rộng lớn.

Quang đãng là sáng sủa một vùng rộng lớn, bao la. Như: Bầu trời quang đãng.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Trăm hoa đua nở, cảnh vật tươi màu, Tân Xuân Ðinh Mùi đã đem đến cho mặt Ðời bao vẽ hân hoan, náo nức khiến cho con người dầu cơ cực thế nào cũng tạm quên nỗi khó đã vui hưởng ít nhiều cảnh thơ thới tưng bừng của ngày xuân quang đãng.

Khuôn hồng trước thấy trời quang đãng,

Kế nghiệp mai sau vẫn có người.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

QUANG HUY

光 輝

Quang: Sáng sủa. Huy: Sáng, rực.

Quang huy là ánh sáng rực rỡ, chói lọi.

Như: Sau cơn mưa bão bầu trời lại quang huy, nhà quay về hướng đông phòng ốc trở nên quang huy.

Định hồn thấy hiện minh châu,

Chiếu soi khắp cả Hoàn Cầu quang huy.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

QUANG MINH

光 明

Quang: Ánh sáng. Minh: Sáng tỏ.

Quang minh là sáng sủa, rực rỡ, hay rõ ràng, không có điều gì mờ ám.

Như: Anh ấy là người quang minh chánh đại, làm việc rất quang minh.

Ðạo đời tua biết rằng đời trọng,

Một điểm quang minh một điểm linh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Quang minh khá rõ chánh cùng tà,

Thánh đức ngôi xưa chẳng ở xa.

(Đạo Sử).

 

 

QUANG MINH CHÁNH ĐẠI

Quang minh: Rõ ràng, sáng tỏ. Chánh (chính) đại: Ngay thẳng.

Quang minh chánh đại, như chữ “Quang minh chính đại 光 明 正 大” là rõ ràng ngay thẳng, không có gì mờ ám.

Thuyết Đạo về đức “Chí thành”, Đức Quyền Giáo Tông có câu: Người hành đạo cần phải có đức chí thành, tôn chỉ Ðạo mới đặng quang minh chánh đại, rồi nhơn đó mới đặng lòng tín nhiệm của chúng sanh.

Tâm là chủ tể cao thâm,

Quang minh chánh đại muôn năm vững vàng.

(Đại Thừa Chơn Giáo}.

 

 

QUANG TIỀN DỤ HẬU

光 前 裕 後

Quang tiền: Làm sáng tỏ thời trước. Dụ hậu (Thuỳ hậu): Dành để đời sau.

Quang tiền dụ hậu hay “Quang tiền thuỳ hậu 光 前 垂 後” là làm vẻ vang được sự nghiệp người xưa, dành để phúc ấm cho người đời sau.

Sách Luận ngữ có câu: Quang tiền dụ hậu, kính kỳ sở tôn, ái kỳ sở thân, sự tử như sự sanh, sự vong như sự tồn, hiếu chi chí dã 光 前 裕 後, 敬 其 所 尊, 愛 其 所 親, 事 死 如 事 生, 事 亡 如 事 存, 孝 之 至 也, nghĩa là vẻ vang đời trước, giàu có đời sau, kính trọng người già, thương mến cha mẹ, thờ người chết như thờ người sống, thờ người mất cũng như người còn, đó là hiếu rất mực vậy.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Chúng ta cũng nên tìm cho thấu đáo trong ngày kỷ niệm của Anh cả mình “quang tiền dụ hậu” chẳng phải một điều vô ích đó vậy.

Ba mươi lăm năm lẫn lộn cửa quyền, hay quang tiền dụ hậu.

Để tài tình ích nước lợi dân,

Trọn một đời người vinh diệu đai cân, thường suy cổ nghiệm kim,

Đủ trí thức an bang tế thế.

(Văn Tế Tiểu Tường).

 

 

QUANG VINH

光 榮

Quang: Vẻ vang, sáng sủa. Vinh: Vẻ vang.

Quang vinh, như chữ “Vinh quang 榮 光”, là rực rỡ, vẻ vang, tức có giá trị tinh thần cao, đem lại niềm tự hào chính đáng. Như: Sự nghiệp quang vinh.

Tầng cao ngôi vị đã quang vinh,

Trăng hỡi trăng sao lắm bất bình?

(Thơ Thuần Đức).

 

 

QUÁNG

Quáng là ở trạng thái thị giác bị rối loạn, trông không rõ vì sáng quá hoặc tối quá.

Quáng còn có nghĩa là không thấy đường.

Như: Sáng quá làm quáng cả mắt, mắt bị quáng đèn, ở ngoài sáng bước vào buồng bị quáng cả mắt.

Từ duyên công chúa giao thân,

Đút cơm vợ quáng ân cần dưỡng nuôi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

QUẢNG

Quảng là rộng, không dùng một mình. Như: Quảng cáo, quảng thi, quảng khai, đa văn quảng kiến.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ấy vậy cái kẻ tài nhân khôn ngoan đáo để đó nó gần cái mức khùng điên dại, đi quá độ lượng tức nhiên nó phải điên phải ngây, chúng ta ngó thấy cái tình trạng các bực học nhiều, chúng ta nghe trước ông cha của chúng ta thường nói, các nhà đa văn quảng kiến hay khùng (xưa kêu là điên chữ) tình trạng nó như vậy.

Trụ căn quỷ khí cửu tuyền,

Quảng khai thiên thượng tạo quyền chí công.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

Quảng trí minh tâm đắc thức thì,

Hành tàng huyền diệu thế nan tri.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

QUẢNG ĐẠI

廣 大

Quảng: Rộng rãi. Đại: Lớn.

1.- Quảng đại là rộng lớn, to lớn.

Như: Đường công danh thật là quảng đại, ngôi nhà cao và quảng đại.

Đường công danh càng nhìn quảng đại,

Nghĩa thầy trò nghĩ lại khó quên.

(Kinh Thế Đạo).

2.- Quảng đại còn có nghĩa là lòng rộng rãi, trái với lòng hẹp lượng.

Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy: Thầy là bực Chí Tôn, lòng hay quảng đại mà tha thứ, chớ Thần, Thánh, hễ các con có lỗi thì cứ Thiên điều mà quở phạt các con, nghe à!

Ơn Đông Nhạc Đế Quân quảng đại,

Độ kẻ lành chế cải tai ương.

(Kinh Tận Độ).

Khuyên con coi nghĩa trọng tài khinh,

Lòng quảng đại mới điều đình thế sự.

(Phương Tu Đại Đạo).

Noi vận hành quảng đại chí linh,

Góp nhơn loại vào tình cốt nhục.

(Thơ Đức Hộ Pháp).

 

 

QUẢNG HÀN

廣 寒

Quảng: Lớn, rộng, mở rộng. Hàn: Lạnh.

Quảng Hàn là nói tắt của “Quảng Hàn Cung 廣 寒 宮”, một cái điện ở trên nguyệt cung, chỉ mặt trăng.

Xem: Quảng Hàn Cung.

Dầu may duyên gặp khách Quảng Hàn,

Cũng cột chặt vững vàng gió túi.

(Phương Tu Đại Đạo).

Ấm lạnh Quảng Hàn chen vóc tố,

Có chăng Hậu Nghệ buộc dây oan.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

QUẢNG HÀN CUNG

廣 寒 宮

Quảng Hàn Cung là tên một cái điện ở trên nguyệt cung, chỉ mặt trăng.

Do tích đêm rằm tháng tám, vua Đường Minh Hoàng lên chơi nguyệt điện, thấy ở cung trăng có bảng đề mấy chữ: “Quảng Hàn Thanh Hư Chi Phủ 廣 寒 清 虛 之 府”.

Do vậy trong văn chương, người ta thường hay dùng chữ “Quảng Hàn” hoặc “Quảng Hàn Cung” để chỉ cung nguyệt hay mặt trăng.

Theo Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp: “Đức Victor Hugo tự xưng là Nguyệt Tâm Chơn Nhơn là một Đấng Thiêng Liêng tại Quảng Hàn Cung”.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

QUẢNG KIẾN

廣 見

Quảng: Lớn rộng, mở rộng. Kiến: Thấy.

Quảng kiến là thấy rộng.

Do câu thành ngữ “Đa văn quảng kiến 多 聞 廣 見” là nghe nhiều thấy rộng, ý chỉ người có nhiều hiểu biết.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Chúng ta ngó thấy cái tình trạng các bực học nhiều, chúng ta nghe trước ông cha của chúng ta thường nói, các nhà đa văn quảng kiến hay khùng (xưa kêu là điên chữ) tình trạng nó như vậy.

Có phải là người quảng kiến tuỳ thời tuỳ tâm lý của chúng sanh.

(Thánh Ngôn Sưu Tập).

 

 

QUẢNG KHAI

廣 開

Quảng: Lớn rộng, mở rộng. Khai: Mở ra.

Quảng khai là mở rộng ra.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Đức Thượng Phẩm có câu: Thì đã biết rằng: “Nhị thập ngũ thế Thích Ca chung lập Thiền môn, Thất bá thiên niên Di Lạc quảng khai Đại Đạo.” Dầu cho tôn giáo nào trên mặt thế nầy kết cuộc cũng phải quy nguyên phục nhứt.

Trụ căn quỷ khí Cửu tuyền,

Quảng khai Thiên thượng tạo quyền chí công.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

 

 

QUẢNG TÂM

廣 心

Quảng: Rộng lớn. Tâm: Lòng.

Quảng tâm là lòng quảng đại, tức tâm rộng mở hay thương người, mến vật, hay nhiêu dung, tha thứ.

Ðại độ khá lo dồi tánh đức,

Quảng tâm mới hạp đức Thiêng liêng.

(Đạo Sử).

 

 

QUẢNG THI

廣 施

Quảng: Rộng lới. Thi: Thi hành.

Quảng thi là thi hành rộng lớn ra, tức là rộng giúp tất cả mọi người.

Ngưỡng nguyện Đức Gia Tô Giáo Chủ quảng thi ân huệ bố hoá chư Đệ tử...

(Sớ Văn).

 

 

QUẢNG TRI

廣 知

Quảng: Rộng lớn, rộng rãi. Tri: Hiểu biết.

Quảng tri là người thông minh, từng trải, hiểu biết rộng rãi tất cả mọi việc đời.

Như: Cha tôi là người quảng tri thế sự.

Thần mẹ thêm cách vật trí tri,

Con ắt đặng quảng tri thế sự.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

QUẢNG TRÍ

廣 智

Quảng: Rộng rãi, rộng lớn. Trí: Phần thông hiểu ở trong đầu óc.

Quảng trí là cái trí óc rộng lớn, hoặc chỉ sự mở rộng trí khôn cho người.

Quảng trí minh tâm đắc thức thì,

Hành tàng huyền diệu thế nan tri.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tuyến đức năng thành đạo,

Quảng trí đắc cao huyền.

(Thài Tam Nương).

 

 

QUẢNG TRUYỀN ĐẠO ĐỨC

廣 傳 道 德

Quảng truyền: Truyền bá rộng khắp. Đạo Đức: Đạo Đức Kinh của Lão Tử.

Quảng truyền Đạo Đức là truyền bá quyển Đạo Đức Kinh rộng khắp.

Theo “Lão Quân nội truyện” của Doãn Hỷ thì Lão Tử đi về xứ Tây Tạng, khi đến ải Hàm Cốc, gặp Doãn Hỷ, Ngài lưu lại ở đây để viết quyển Đạo Đức Kinh đưa cho ông rồi mới đi về phía tây Trung Quốc.

Quyển Đạo Đức Kinh này, nội dung gồm 81 chương, chia làm hai thiên, hơn năm ngàn chữ viết, là một tác phẩm triết học siêu hình luận về Đạo và Đức. Sau đó quyển Đạo Đức Kinh được truyền bá rộng khắp.

Tử khí đông lai,

Quảng truyền Đạo Đức.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

QUẢNG VĂN

廣 聞

Quảng: Rộng rãi. Văn: Nghe.

Quảng văn là nghe rộng, hiểu biết rộng rãi. Quảng văn đồng nghĩa với đa văn.

Trong văn chương người hiểu biết rộng thường được gọi là người “Đa văn quảng kiến”.

Thiên chơn thẹn với hàng cao kiến,

Địa vị xin nhường bậc quảng văn.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

QUANH

Quanh là vòng một lượt. Như: Dạo quanh nhà, bao quanh mình, rào giậu quanh vườn.

Thánh giáo Thầy có câu: Phối Sư cũng mặc y như vậy, song không có mão Phương Thiên, áo ba dải, nhưng trước ngực có thêu Thiên nhãn Thầy bao quanh một vòng Minh Khí, nghe à!

Quanh đường chớ cậy chơn Kỳ Ký,

Ngược gió tài chi sức Hộc Hồng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Binh khí quanh mình khua rổn rổn,

Mỗi viên hầu hạ một vài trai.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

QUANH CO

Quanh: Không thẳng, uốn khúc. Co: Cong, không thẳng mà cũng không gẫy gập.

Quanh co chỉ đường đi không ngay thẳng, uốn khúc, hoặc chỉ nói quanh co, không nói ngay sự thật.

Nghĩa bóng “Đường quanh co”, hay “Lối quanh co” còn dùng để chỉ con đường tà vạy (Tà đạo).

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Ấy là môn đệ yêu dấu, khá gìn mực ấy mà đi cho cùng nẻo quanh co. Cân công quả sẽ vì phần phước mà định buổi chung quy cho mỗi đứa.

Thiều quang nhặt thúc khuất màu xuân,

Trở bước quanh co rán liệu chừng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Quanh co muốn khỏi gắng lòng thành,

Chứa đức là phương phước để dành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thuyền nan sợ sóng dòng khơi,

Khúc quanh co hẹp, chiều thời khúc quanh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

QUANH NĂM

Quanh: Đi vòng một năm. Năm: Chỉ khoảng thời gian mười hai tháng.

Quanh năm là suốt từ đầu năm đến cuối năm.

Thánh giáo Bát Nương Diêu Trì cung có dạy: Quý anh quý chị đều ăn mặc sung sướng, ngày nay đổi lại chịu phận nâu sồng, cũng khá thương đó, nhưng chưa nghèo phải học nghèo, chưa khổ phải học khổ, kế chí quân tử, cư bất cầu an, thực bất cầu bảo, chỉ cặm cụi quanh năm lo cho xã hội được no ấm thôi, biết người quên mình, đó là phận sự kẻ tu hành, đến bực tối thượng thừa cũng phải như thế, mới tròn nghĩa vụ.

Thi, rượu, đờn, cờ, không kết bạn,

Quanh năm khuây lãng thế phui pha.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

QUANH QUẨN

Quanh: Vòng một lượt. Quẩn: Quanh.

Quanh quẩn là loanh quanh ở một chỗ, không rời đi đâu xa.

Thánh giáo Thầy có câu: Bấy lâu vì lẽ công bình Thiên đạo, nên các con chịu lắm điều đau đớn, mà cũng vì không biết tu luyện cái chí cao thượng của Thầy ban cho, cứ một lối thấp hèn quanh quẩn, chẳng cho trí não ra khỏi vòng mờ tối, cho nên bước đường hoá nên trở ngại mà lâu tấn bộ.

Quanh quẩn lắm rồi người ta phải vớ lấy Nhơn dục để làm trụ cốt cho hành vi.

(Giáo Lý).

 

 

QUANH QUẤT

Quanh quất là loanh quanh nơi nào đó, không xa.

Như: Đi quanh kiếm quất, ngó quanh ngó quất để tìm kiếm cái gì, ở quanh ở quất đâu đây.

Thầy khuyên các con theo sau Thầy mà đến phẩm vị mình thì hay hơn tuông bờ lướt bụi, đi quanh kiếm quất, nghe à!.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

QUẠNH

Quạnh là vắng vẻ và yên lặng đến mức gây cảm giác trống trải, buồn bã.

Tục ngữ Việt Nam có câu: Vắng đàn ông quạnh nhà, vắng đàn bà lạnh bếp.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Vì đó, chúng ta không sợ Ðạo nghèo về tiền bạc mà chỉ sợ Ðạo nghèo về tình thương yêu, cái tình thương yêu quý báu mầu nhiệm rất cần thiết cho tâm hồn của người tu sĩ cũng như cơm gạo cần thiết cho mảnh xác thân và nếu thiếu hẵn đi thì dầu chúng ta có được con số đông đúc bao nhiêu, chúng ta cũng như bị lẻ loi côi quạnh và cơ phổ độ không còn biết dựa vào đâu mà thực hiện được.

Ấm lạnh cõi trần ngơ mặc khách,

Ngỡ ngàng động Thánh quạnh giai nhân.

(Lục Nương Giáng bút).

 

 

QUẠNH HIU

Quạnh: Vắng vẻ.

Quạnh hiu, như chữ “Hiu quạnh”, là chỉ tình cảnh buồn bã vắng lặng. Như: Nhà cửa không người ở thấy cảnh quạnh hiu.

Xem: Hiu quạnh.

Ngảnh lại cuộc đời chỉ quạnh hiu,

Cả kêu nhơn loại sớm xoay chiều.

(Thơ Hộ Pháp).

Lụm cụm mái tranh già đợi trẻ,

Quạnh hiu buồng vắng vợ trông chồng.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

QUẠNH QUẼ

Quạnh quẽ ý chỉ quang cảnh vắng vẻ, không khí im lặng, tạo nên cảm giác trống trải, hiu quạnh, làm cho người có cảm giác cô đơn, buồn thảm.

Thánh giáo Tiêu Sơn Đạo Sĩ có câu: Lao nhao, lố nhố, cũng thì một con đường, cũng thì về một chỗ, mà kẻ đi xe ép người đi bộ, người thông hiểu nẻo lộ gạt gẫm đứa khạo khờ, kẻ côi thế chịu bơ vơ, người quá ham đi mà sa hố, rốt lại cũng quạnh quẽ con đường. Mấy ai hiểu thấu?

Ngồi quạnh quẽ đèn tàn một bóng,

Chịu goá thân tuyết đóng song thu.

(Kinh Thế Đạo).

Đông lạnh ngắt mảnh mền úm trẻ,

Ngồi đêm trường quạnh quẽ phòng không.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Đem tâm sự vân vi kể lể,

Cho bõ ngày quạnh quẽ chờ mong.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

QUÀO

Quào là cào, bị móng, vuốt, vật nhọn móc ngược về phía sau gây đau, và để lại những tỳ vết trên bề mặt.

Như: Bé quào lưng bố, mèo quào mặt, chung rào bị kẽm gai quào khắp mình.

Giữ đừng để quào mày, quào mặt,

Mấy móng tay phải cắt mới bồng con.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

QUÀO QUẤU

Quào: Cào, bị móng vuốt hay vật nhọn móc ngược về phía sau gây đau và có tỳ vết. Quấu: Cấu, tức ấn mạnh các móng hoặc vuốt vào da thịt rồi giật mạnh làm cho đau.

Quào quấu, như chữ “Cào cấu”, là lấy móng hoặc vuốt để cào cấu vào thân người cho rướm máu da thịt.

Như: Giỡn với mèo bị nó quào quấu khắp mình.

Có cọp dữ nhăn răng đưa vấu,

Gặp tội nhơn quào quấu xé thây.

(Kinh Sám Hối).

 

 

QUẠT

1.- Quạt là đồ dùng để làm cho không khí chuyển động tạo thành gió. Như: Quạt giấy, quạt Long Tu.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Cao Thượng Phẩm có câu: Hồi Em còn ở thế, sức giận của Em đến đỗi, nếu Em được thiêng liêng vị tức cấp, thì có lẽ cây quạt của Em đã đưa họ trụm vào Phong đô không sót một ai.

Bà rút roi giả bộ theo ôm,

Đưa cán quạt cho bà đơm ít phát.

(Phương Tu Đại Đạo).

Ngậm cười nêu quạt chờ sanh chúng,

Biển khổ ngày qua đếm một ngày.

(Thượng Phẩm Giáng Bút).

2.- Quạt là làm cho không khí chuyển động tạo thành gió bằng cái quạt.

Như: Quạt mát, quạt muỗi, quạt gió đèn trăng, quạt sạch lúa lép.

Nồng hạ Trời thương đưa gió quạt,

Nắng thu đất cảm đổ mưa chan

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chừ sao kẻ Hớn người Hồ,

Để cho phòng hạnh ra mồ quạt duyên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

QUẠT GIÓ ĐÈN TRĂNG

Hay “Quạt gió trăng đèn”.

Quạt gió: Lấy gió làm quạt. Đèn trăng (trăng đèn): Dùng trăng làm đèn.

Quạt gió đèn trăng hay “Quạt gió trăng đèn” có nghĩa là lấy gió làm quạt, dùng trăng làm đèn, ý muốn nói sống an nhàn với cảnh vật thiên nhiên.

1.- Quạt gió đèn trăng:

Quạt gió đèn trăng, là trí hiệp,

Đờn tòng nhạc suối, thể tâm hoà.

(Thơ Thái Đến Thanh).

2.- Quạt gió trăng đèn:

Thong dong quạt gió trăng đèn,

Nhành dương làm bạn, sách hiền gọi quen.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

QUẠT NỒNG ĐẮP LẠNH

Quạt nồng đắp lạnh, như câu “Quạt nồng ấp lạnh”, là nói công việc của người con hiếu phụng dưỡng cha mẹ, quạt khi nóng bức, đắp chăn cho ấm khi trời rét lạnh.

Sách Lễ Ký viết: Phàm vi nhân tử chi lễ, đông ôn nhi hạ sảnh, hôn định nhi thần tỉnh 凡 為 人 子 之 禮, 冬 溫 而 夏 凊, 昏 定 而 晨 省, nghĩa là phàm theo lễ của người làm con, mùa đông lo cho cha mẹ ấm, mùa hè lo cho cha mẹ mát, buổi tối lo mền chiếu, buổi sáng thăm hỏi cha mẹ có mạnh giỏi không.

Quạt nồng đắp lạnh tròn hôm sớm,

Sớt ái chia ân trọn ước nguyền.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

QUẠU

Quạu là cáu, bực tức đến mức khó kìm lại được những phản ứng bằng lời hoặc bằng hành động thiếu suy nghĩ trong chốc lát.

Như: Đổ quạu, đừng nên chọc giận anh ấy nổi quạu bây giờ, người già hay quạu.

Gặp mấy cô nghiêm chỉnh ít cười,

E lỡ tiếng chọc cười trổ quạu.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

QUẠU QUỌ

Quạu: Cáu, gắt.

Quạu quọ là cáu gắt, cáu kỉnh, hay cau có, gắt gỏng một cách vô lý.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập Thánh giáo Thất Nương Diêu Trì Cung có câu: Khảo về tinh thần: Là làm cho trí não mờ mệt, biếng nhác, hay quên, quạu quọ, bị kẻ khác sỉ nhục tên tuổi mình.

Họ phát hiện ra có tánh chất buồn bực quạu quọ, không yên tâm, cứ lo lắng bậy bạ...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

QUẰN

Quằn là cong lại, cong xuống.

Như: Lưỡi dao quằn, nặng quằn cả đòn gánh, làm quằn lưng mà không đủ ăn.

Mang quằn vai một gánh đạo nhà,

Chia giờ khắc nôm na toan giúp ích.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

QUẰN QUẠI

Quằn quại là vặn mình, vật vã vì quá sức đau đớn. Như: Đau đớn đến nỗi quằn quại trên giường.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có dạy: Phải vui xuân với ý nghĩa thanh bai trong tinh thần đạo đức và trong mặc tưởng hướng về tổ quốc đang lâm nguy và nhơn sanh đang quằn quại khổ đau khắp trên đất nước.

Hai vai quằn quại nợ phù sanh,

Buộc phải mang thêm dạ chẳng đành.

(Thánh Giáo Minh Thiện).

Khảo thí dành cho trang mẫn thế,

Hai vai quằn quại khổ cho đời.

(Thơ Vạn Năng).

 

 

QUẶN

Quặn là có cảm giác đau như ruột bị thắt, bị xoắn lại.

Như: Ăn không tiêu nên đau quặn trong bụng, cơn quặn nổi lên suốt cả buổi sáng, lòng quặn đau.

Buồn than thở khi trưa lúc tối,

Quặn chín chiều ruột rối vò tơ.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Người buồn cảnh khó gượng làm vui,

Trằn trọc vào ra quặn rối nùi.

(Thơ Thượng Phẩm).

 

 

QUĂNG

Quăng là ném mạnh ra xa. Như: Quăng câu, quăng chài kéo lưới, quăng khiên bỏ giáp.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Ðứa thì mê tài, đứa thì ham cận sắc, đứa bị biếm vào lối lợi quyền, đứa bị xô vào nơi thất đức. Mỗi đứa mỗi nẻo, đều quăng sạch chất thiêng liêng, lầm lủi đưa tay theo mấy mươi động.

Đoạn tình ái đem quăng bể khổ,

Bứt hồng duyên tính bỏ non thề.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Biết đạo nhà chẳng để hao mòn,

Lựa đem ném đầu non quăng đáy biển.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

QUÂY QUẦN

Quây: Đứng, ngồi, làm thành một vòng chung quanh. Quần: Bầy, lũ, nhiều người.

Quây quần là tụ tập, xúm xít lại với nhau trong một không khí thân mật, đầm ấm.

Cội phúc quây quần đoàn én trắng,

Lòng nhân thơ thới đoá mai vàng.

(Thơ Thái Phong).

Triêu mộ quây quần bên gối Mẹ,

Thần hôn hội họp dưới chân Thầy.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

QUẤY

Quấy là sai, trái với lẽ phải. Như: Nói quấy, tưởng quấy, biết việc quấy nhưng vẫn cứ làm.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Các con đừng tưởng quấy rằng: vì chia phái mà riêng đạo.

Quấy rồi phải biết ăn năn,

Ở cho nhân hậu, chế răn lòng tà.

(Kinh Sám Hối).

Chớ đừng thấy của dấy tham,

Giục người làm quấy ắt cam đồng hình.

(Kinh Sám Hối).

 

 

QUẤY QUÁ

1.- Quấy: Sai, không đúng, không phù hợp với đạo đức. Quá: Lỗi, sai lầm, qua đi.

Quấy quá là bậy bạ, sai trái, không đúng, không phù hợp với đạo đức, lẽ phải ở đời.

Như: Hắn làm những việc quấy quá như vậy, hỏi sao hàng xóm không ghét sao được.

Lòng quấy quá tráo chì thay bạc,

Mỏi mong lo cố gạt của đời.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

2.- Quấy quá còn dùng để chỉ sự cẩu thả, qua loa, sơ sài, cốt cho có, cho xong chuyện mà không cần tính tới hiệu quả.

Như: Nói quấy qua vài câu chiếu lệ, ăn quấy quá cho xong bữa tối.

Mặc ai giỏi công hay hạnh lạ,

Mình dung ngôn quấy quá sướng thân.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

QUẤY RỐI

Quấy: Gây điều rầy rà, cản trở, không để cho yên. Rối: làm loạn, không yên.

Quấy rối là gây ra rối loạn, không để cho yên.

Như: Thằng nhỏ khát sữa quấy rối suốt đêm không ngủ được, Bọn giặc vào làng quấy rối.

Hiềm thay kẻ lòng toan quấy rối,

Gieo những lời nói dối vu oan.

(Thơ NĐS Hương Thanh).

 

 

QUẤY TƯỞNG

Quấy: Không đúng, lỗi lầm. Tưởng: Nghĩ đến, nhớ đến, cho rằng.

Quấy tưởng, như chữ “Tưởng quấy”, là tưởng không đúng, tức cạn suy xét mà tưởng, nghĩ bậy.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy: Các con đừng tưởng quấy rằng: vì chia phái mà riêng đạo. Thầy rán cắt nghĩa cho các con nghe.

Chớ quấy tưởng luân hồi phi lý,

Mà hung hăng chẳng nghĩ chẳng suy.

(Kinh Sám Hối).

 

 

QUÂN

1.- Quân là binh lính. Như: Quân lính, cảm tử quân, quân lực, lắm tướng nhiều quân.

Thánh giáo Đức Thượng Ðế Toàn Năng giáng thế tá danh Cao Ðài truyền Chơn lý tại Việt Nam có câu: Như thế đủ chứng tỏ cho con tin rằng Thầy là Ðức Jéhovah của dân Hébreux, vị chủ tể của quân lực dân Israel, vị Thánh vô danh của dân Do Thái, vị Ðại Từ Phụ của Chúa Jésus Cứu Thế, con chỉ cần cầu nguyện Thầy với danh hiệu Cao Ðài thì sẽ có sự cảm ứng chấp thuận.

Quân trung ai rõ nữ anh hùng,

Lập nghiệp cho người đến hưởng chung.

(Đạo Sử).

Mình ra có quân hô tướng ré,

Nhớ lúc cha ké né cửa nha môn.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Quân , nghĩa rộng dùng để chỉ, bọn với ý không tôn trọng, khinh bỉ.

Như: Bọn quân mọi rợ, quân đầu trộm đuôi cướp, quân vô lại.

Ngồi hang thương kẻ mang da chó,

Ngự điện ghét quân đội lốt lừa.

(Đạo Sử).

Đừng học thói của quân bạo ngược,

Xử mẹ cha tội phước quá hơn toà.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Quân là vị vua, chỉ người đứng đầu một nước trong thời quân chủ.

Như: Quân sử thần tử thần bất tử bất trung, quân minh thần trung phụ từ tử hiếu.

Quân nhược thần cường đời trở vẻ,

Thanh thanh sĩ sĩ khó đai cân.

(Đạo Sử).

4.- Quân , nói tắt của “Quân tử” là chỉ người có tài có đức, có nhân cách trong xã hội ngày xưa. Như: Quân tử cố cùng, tiểu nhân cùng tư lạm hỹ.

Trang quân tử thì là đại độ,

Thương vợ nhà dạy dỗ cũng như em.

(Phương Tu Đại Đạo).

5.- Quân, hay “Quân tử” còn dùng để người vợ gọi chồng. Như: Phu quân, quân tử.

Nâng khăn trắp giải buồn quân tử,

Hầu tửu trà giấc ngủ không an.

(Nữ Trung Tùng Phận).

6.- Quân dùng để vị vua chân chính, hợp với lòng mong mỏi của dân chúng, hoặc vị vua thuộc dòng chính, đáng được nối ngôi.

Trong tôn giáo Cao Đài, chữ “Quân” là những người có tài đức được Đức Chí Tôn phong làm Thời Quân Hiệp Thiên Đài, gồm có mười hai vị Chơn Quân.

Xem: Chân quân.

Ăn nằm nín nẩm đợi Chơn quân,

Ta quyết sẽ cho kẻ hạ trần.

(Đạo Sử).

 

 

QUÂN BÌNH

圴 平

Quân: Đều nhau, cùng nhau. Bình: Ngang bằng nhau, không chênh lệch.

Quân bình là cân bằng, hay ngang nhau, bằng nhau.

Như: Mực nước hai hồ ở thế quân bình, thu nhập và chi tiêu của gia đình quân bình nhau.

Họ đã chơi vơi lưu lạc trong đêm dài mờ mịt, chỉ vì đời sống của họ thiếu hẳn quân bình giữa vật chất và tinh thần...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

QUÂN ĐỘI

軍 隊

Quân: Binh, lính. Đội: Một toán quân.

Quân đội nói chung về toàn thể binh lính.

Thánh giáo Đức Phật Mẫu có đoạn dạy: Phật Mẫu chẳng vui vì nơi cửa Đạo, nhơn sanh lắm chịu thống khổ về tinh thần lẫn vật chất, mà mấy anh Hiệp Thiên không thương hại binh vực chi hết. Không thế nầy thì chước khác, người ta vẫn lợi dụng tín đồ và quân đội để mưu cầu hạnh phúc bề ngoài cho mình.

Hoài cảm nhiệt tâm tướng họ Trình,

Chỉ huy Quân đội hiệu Liên Minh.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

QUÂN NHÂN

軍 人

Quân: Binh, lính. Nhân: Người.

Quân nhân là người thuộc trong hàng ngủ quân đội, tức là người lính.

Như: Người quân nhân lúc nào cũng phải đề cao cảnh giác về mặt an ninh.

Giải tán quân nhân thật phép mầu,

Kỳ Sơn phụng gáy nghiệp quy châu.

(Lý Giáo Tông).

 

 

QUÂN LỊNH

Hay “Quân lệnh”.

Quân: Quân đội, quân binh. Lịnh (lệnh): Mệnh lệnh, mạng lịnh.

Quân lịnh, như chữ “Quân lệnh 軍 令”, là mệnh lệnh trong quân đội, tức là mệnh lệnh của thượng cấp buộc quân binh phải thi hành.

Quân lịnh nghiêm trang hàng ngũ chỉnh,

Ngựa voi rần rộ trót giờ lâu.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

QUÂN TỬ

君 子

Chữ quân tử có ba nghĩa:

1.- Quân tử dùng để chỉ người tài đức, chí khí cao, có nhân cách và phẩm hạnh tốt đẹp, trái với tiểu nhân.

Đạo Nho chia người trong xã hội ra làm hai hạng: Quân tử là người có đức hạnh tôn quý và Tiểu nhân là kẻ có chí khí hèn hạ, thấp kém.

Thiên Khúc Lễ viết: Bác văn cường thức nhi nhượng, đôn thiện hạnh nhi bất đãi vị chi quân tử 博 聞 強 識 而 讓, 敦 善 行 而 不 怠, 謂 之 君 子, nghĩa là biết rộng hiểu nhiều mà khiêm cung, đôn đốc nết thiện không ngừng, ấy là quân tử.

Xem: Quân tử Tiểu nhơn.

Cương trực lòng như người Thánh trước,

Trước làm quân tử tánh phi thường.

(Đạo Sử).

2.- Quân tử dùng chỉ người có địa vị:

Sách Luận ngữ có câu: Quân tử chi đức phong, tiểu nhân đức thảo 君 子 德 風, 小 人 德 草, nghĩa là địa vị của người quân tử như gió, địa vị của kẻ tiểu nhân như cỏ.

Đừng chê chồng phận thiệt thòi,

Đáng danh quân tử phải người lang quân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

3. Quân tử dùng cho vợ gọi chồng:

Thiên Chu Nam trong Kinh Thi viết: Vị kiến quân tử, ưu tâm xung xung 未 見 君 子, 憂 心 忡 忡, nghĩa là chưa thấy chồng, lo lắng trong lòng.

Vẻ hồng mắc mỏ bao mươi,

Đưa cho quân tử trọn đời chủ trương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Dạy những điều chồng vợ mặn nồng,

Ở sao đặng vừa lòng trai quân tử.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

QUÂN TỬ HẢO CỪU

君 子 好 逑

Quân tử: Người quân tử. Hảo cừu (hảo cầu): Tốt đôi.

Quân tử hảo cừu là cùng người quân tử đẹp đôi.

Do thiên “Quan Thư” trong Kinh Thi viết: Yểu điệu thục nữ, Quân tử hảo cầu 窈 窕 淑 女, 君 子 好 逑. Dịch nôm: U nhàn thục nữ thế nầy, Xứng cùng quân tử sánh vầy lửa duyên.

Xem: Quan Thư.

Thung dung quân tử hảo cừu,

Năm thê bảy thiếp mặc dầu trăng hoa.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

QUÂN TỬ TIỂU NHƠN

君 子小人

Quân tử: Người có tài đức, có chí khí, có nhân cách và phẩm hạnh tốt đẹp.

Tiểu nhơn (nhân): Tiểu nhơn là người thấp kém, thiếu đức thiếu tài, tâm tánh hẹp hòi, tham lam ít kỷ.

Người xưa cho rằng đạo Nho là đạo của người quân tử, tức là Khổng Tử đem cái đạo lý ra dạy dỗ người ta cho thành người có tài năng, có đức hạnh hoàn toàn và có nhơn phẩm tôn quý để giúp ích cho đời, gọi đó là người quân tử.

Trong xã hội ngày xưa thường chia làm hai hạng người: Quân tử và Tiểu nhân. Quân tử là quý, hay, là người có phẩm hạnh tôn quý, tiểu nhân là tiện, dở, là người có chí khí hèn hạ.

Khổng Tử nêu ra một số thái độ của người quân tử và kẻ tiểu nhân như sau:

- Quân tử học đạo tắc ái nhân, tiểu nhân học đạo tắc dị sử dã 君 子 學 道 則 愛 人, 小 人 學 道 則 易 使 也, nghĩa là quân tử học đạo thì yêu người, tiểu nhân học đạo thì dễ khiến.

- Quân tử thượng đạt, tiểu nhân hạ đạt 君 子 上 達, 小 人 下 達: nghĩa là quân tử đạt về lý cao minh, tiểu nhân đạt về cái lý đê hạ.

- Quân tử dụ ư nghĩa, tiểu nhân dụ ư lợi 君 子 喻 於 義, 小 人 喻 於 利:nghĩa là quân tử hiểu sâu về việc nghĩa, tiểu nhân chỉ biết về việc lợi.

- Quân tử cầu chư kỷ, tiểu nhân cầu chư nhân 君 子 求 諸 己, 小 人 求 諸 人, nghĩa là người quân tử chỉ cầu ở mình, kẻ tiểu nhân thì cầu ở người.

- Quân tử cố cùng, tiểu nhân cùng tư lạm hỹ 君 子 固 窮, 小 人 窮 斯 濫 矣, nghĩa là người quân tử cố giữ lúc khốn cùng, kẻ tiểu nhân gặp khốn cùng thì làm bậy.

- Quân tử thái nhi bất kiêu, tiểu nhân kiêu nhi bất thái 君 子 泰 而 不 驕, 小 人 驕 而 不 泰, nghĩa là người quân tử thư thái mà không kiêu căng, kẻ tiểu nhân kiêu căng mà không thư thái.

- Quân tử hoà nhi bất đồng, tiểu nhân đồng nhi bất hoà 君 子 和 而 不 同, 小 人 同 而 不 和, nghĩa là quân tử hoà với mọi người mà không hùa với ai, tiểu nhân thì hùa với mọi người mà không hoà với ai.

- Quân tử bất khả tiểu tri, nhi khả đại thụ dã; tiểu nhân bất khả đại thụ, nhi khả tiểu tri dã 君 子 不 可 小 知, 而 可 大 受 也; 小 人 不 可 大 受, 而 可 小 知 也, nghĩa là người quân tử không thể biết được cái nhỏ mà có thể chịu được cái lớn; tiểu nhân không thể chịu được cái lớn, mà có thể biết được cái nhỏ vậy.

- Quân tử thành nhân chi mỹ, bất thành nhân chi ác; tiểu nhân phản thị 君 子 成 人 之 美, 不 成 人 之 惡; 小 人 反 是, nghĩa là quân tử gây thành cái hay cho người ta, không gây thành cái ác cho người ta, tiểu nhân không thế.

- Quân tử ưu đạo bất ưu bần 君 子 憂 道 不 憂 貧: nghĩa là người quân tử lo đạo, không lo nghèo.

- Quân tử dục nột ư ngôn, nhi mẫn ư hành 君 子 欲 訥 於 言, 而 敏 於 行: nghĩa là quân tử muốn nói thì chậm mà làm thì nhanh.

Trong Đại Thừa Chơn Giáo có viết: Người quân tử theo đời mà chẳng nhiễm đời, chìu người mà chẳng bợ người, tuỳ tục mà không đắm tục, cứ giữ tánh tình thanh bạch, tâm chí cao siêu, dầu ai dầm cũng chẳng phai, ai dũa cũng chẳng mòn, nên bả lợi danh, mồi chung đỉnh có bao giờ trêu nhử được đâu.

Còn đứa tiểu nhơn lại bỏ nghĩa theo lợi, lấy vạy cầu danh, tâm tà tánh độc, nết kiêu chí hèn. Nói tắt một lời là mỗi mỗi thảy đều trái hẳn với người quân tử như trắng với đen, như Trời với vực.

Chán đời tìm chốn tịnh an,

Học theo quân tử, lánh đàng tiểu nhơn.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

QUÂN TỬ TRÚC

君 子 竹

Quân tử: Một hạng người có tài có đức trong Nho giáo. Trúc: Cây tre, trúc.

Cây tre được ví với người quân tử và được gọi là “Quân tử trúc” hay “Quân tử trước”.

Cây tre, cây trúc có lóng ngay, thân đâm thẳng lên, chứ không cong queo, nên người xưa dùng để ví với người quân tử (ngay thẳng).

Sương Minh Tử có câu: Trúc hữu quân tử chi đạo 竹 有 君 子 之 道, tức là trúc có đạo của người quân tử.

Mấy bụi xanh rì quân tử trước,

Đôi bồn cao vút trượng phu tòng.

(Thơ Chơn Tâm).

Sau trước vẹn gìn quân tử trúc,

Nắng mưa giữ dạ trượng phu tòng.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

QUÂN THẦN

君 臣

Quân: Vua. Thần: Bề tôi.

Quân thần là nói vua và bề tôi.

Đối với Nho giáo, sự quan hệ giữa vua tôi theo một đạo lý, gọi là đạo quân thần.

Đạo quân thần là những phép tắc giữa vua và bề tôi đối xử với nhau cho hợp đạo lý. Đạo này thuộc về một trong ngũ luân là Quân thần cang.

Nên người khá vẹn nợ quân thần,

Nghèo khó tuy vân đã phải phần.

(Đạo Sử).

Con thương mẹ dầu vâng lịnh dạy,

Thương quê hương trọng ngãi quân thần.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Dạy trọn thờ hai chữ quân thần,

Rán nên mặt đai cân cùng thế sự.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

QUÂN VƯƠNG

君 王

Quân: Vua của các chư hầu và bề tôi. Vương: Vua của một nước lớn.

Quân vương là tiếng tôn xưng các vị vua chúa.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Một Ðấng Quân Vương, một Ðấng chủ trương, bất kỳ là xã hội nào hay là một cơ đồ nào, đối với một tội dường ấy có thể nói đến Ðấng Jésus Christ hồi còn sanh tiền đi truyền giáo cho dân lại bị khổ nhục...

Chánh tà có thế dễ chi phân,

Hễ có quân vương ắt có thần.

(Đạo Sử).

Thiên địa tối linh sanh Thánh chất,

Quân vương háo nghĩa tác Hiền thần.

(Đạo Sử).

Phạm Trọng Yêm mấy lần xa vợ,

Nợ quân vương nhiều thuở truân chuyên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

QUẤN

Quấn là cuộn vòng chung quanh.

Như: Đầu quấn khăn, quấn chỉ vào ống tre, quấn chăn vào người.

Nói về Đức Khổng Tử, Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Lại khi Ngài ra đời, có hai con rồng xuống quấn chung quanh nhà và có 5 ông Lão và 5 vì sao trên trời xuống đứng giữa sân.

Cờ vàng quấn mũ mang y đạo,

Nai trắng nương lưng gót võ lừa.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

QUẦN

1.- Quần là đồ mặc để che phần dưới chân và đùi của thân thể. Như: Quần cụt, quần đùi. quần thoa.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ban sơ mới khai Ðạo chúng ta phải thi hành thể pháp nếu sau nầy không đạt được chơn pháp thì cũng như con người có quần mà không có áo vậy.

Vinh thì chàng mão thiếp cân,

Hèn thì chàng váy thiếp quần đổi thay.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Chẳng kể già áo bả quần manh,

Để cho trẻ đẹp xinh cùng thế sự.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Quần là đàn, bầy, lũ. Như: Quần thần. quần linh, nhơn quần xã hội.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Có chí thành con người mới có phẩm hạnh sáng tỏ, mới biết cân phân tà chánh, thị phi trong khi tiếp xúc với nhân quần xã hội, mới dám quyết định nên hư trong các công việc của mình và nhờ đó mà đi đến mức thành công mỹ mãn.

Văn là thượng sĩ danh thần,

Võ thì bạt tuỵ siêu quần quân trung.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Khá nhớ đạo nhơn luân là trượng,

Phép gia đình có ảnh hưởng đến nhơn quần.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

QUẦN ÁO

Quần: Đồ mặc từ thắt lưng trở xuống, có hai ống che chân hoặc đùi. Áo: Đồ mặc từ cổ trở xuống, che bụng và ngực.

Quần áo nói chung là tiếng dùng để chỉ đồ mặc che thân thể người.

Thánh giáo Thầy dạy Ngài Thượng Phẩm có câu: Cư! Nghe dặn. Con biểu Tắc tắm rửa sạch sẽ (xông hương cho nó), biểu nó lựa một bộ quần áo tây cho sạch sẽ, ăn mặc như thường, đội nón.

Đừng để dơ cứt đái thúi òm,

Quần áo trẻ thăm lom coi giặt.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

QUẦN CHƠN

Hay “Quần chân”.

Quần: Nhiều người, đám đông. Chơn (chân): Chơn nhơn, tức chỉ những vị đắc phẩm Thánh, Tiên.

Quần Chơn, như chữ “Quần chân 群 真”, là những bậc Thánh, Tiên.

Trong bài kinh Tiên giáo có câu: “Hữu thỉ siêu quần chơn chi thượng”, ý nói lúc Vũ trụ đã hình thành, tức là thiên địa đã an ngôi rồi, gọi là “hữu thỉ”, thì Đức Thái Thượng Lão Quân là Đấng cao ngôi hơn tất cả các bậc Chơn Thánh, Chơn Nhơn.

Vô vi cư Thái cực chi tiền,

Hữu thỉ siêu quần chơn chi thượng.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

QUẦN CHÚNG

群 眾

Quần: Nhóm lại đông, nhiều. Chúng: Đám đông.

Quần chúng là đám người đông đúc, tức chỉ những người dân bình thường trong xã hội.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có đoạn: Lão Tử coi danh lợi là thù của thân, không lấy cái sống vật chất làm hạnh phúc, nên khuyên người đời chỉ nên chú trọng tinh thần. Phương pháp giáo hoá của Ngài không giống các bậc hiền triết khác, vì lẽ ngài không thích chen vai với đời để lấy sự hiểu biết khuyên dạy quần chúng.

Hữu nhơn hữu đức thâu quần chúng,

Vô uý vô tư mới tự cường.

(Tôn Sơn Chơn Nhơn).

 

 

QUẦN HÀNG ÁO LỤA

Quần hàng: Quần may bằng hàng, loại vải tốt của thời xưa. Áo lụa: Áo may bằng lụa.

Ngày xưa, hàng lụa là loại vải tốt và quý giá nhứt. Quần hàng áo lụa là quần áo may bằng hàng lụa đẹp đẽ và quý giá, chỉ sự giàu có sang trọng.

Đòi quần hàng áo lụa cho xinh,

Đồ trang sức đeo mình cho đáng giá.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

QUẦN HỒNG

裙 紅

Quần: Đồ mặc từ thắt lưng trở xuống, có hai ống che chân hoặc đùi. Hồng: Màu đỏ.

Quần hồng là cái quần màu đỏ.

Do tích ngày xưa bên Trung Hoa, tục người con gái thường mặc quần màu đỏ.

Từ đó, chữ “Quần hồng” hay “Hồng quần” được người ta dùng để chỉ người đàn bà con gái.

Xem: Hồng quần.

Mới không hổ phận quần hồng,

Để làm khuôn mẫu đại đồng soi gương.

(Bát Nương Giáng Bút).

Dụng văn hoá trau tria nữ phách,

Lấy kinh luân thúc thách quần hồng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

QUẦN LÊ

群 黎

Quần: Bầy, nhiều người tụ họp. Lê: Do chữ “Lê dân” là chỉ dân đen.

Quần lê là dân chúng. Như: Quốc gia có chiến tranh khiến cho quần lê thống khổ.

Nào là binh khí diệt tàn,

Nào là cường lực ép hàng quần lê.

(Đoàn Thị Điểm Giáng).

 

 

QUẦN LINH

群 靈

Quần: Bầy, nhiều người tụ họp. Linh: Chơn linh, hay linh hồn.

Quần linh đồng nghĩa với vạn linh, là tất cả các chơn linh trong Càn khôn vũ trụ.

Thánh giáo của Ngũ Nương Diêu Trì Cung có câu: Để chị nhắc nhở thêm về phương tu phải trau tâm. Vì những phương ích kỷ có thể nó đưa các em đi đến chỗ thất tâm. Vì Đạo là lẽ chánh chơn để hướng dẫn quần linh sau nầy yên ngôi vị cũ.

Mang thiên mạng Chí Tôn phú thác,

Độ quần linh giải thoát trầm luân.

(Văn Tế Tiểu Tường).

Khai đường chánh lý độ quần linh,

Pháp luật vô tư chẳng vị tình.

(Thái Đến Thanh).

Kế Hạnh Đường dạy hàng chức sắc,

Hiểu chơn truyền dìu dắt quần linh.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

QUẦN NHI

群 兒

Quần: Bầy, nhiều người tụ họp. Nhi: Con.

Quần nhi là bầy con trẻ.

Theo triết lý Cao Đài, toàn thể nhơn loại đều là những người con của Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu, nên trong bài Phật Mẫu Chơn Kinh, Đức Mẹ xem gọi cả chúng sanh là “Quần nhi”.

Sanh quang dưỡng dục quần nhi,

Chơn linh phối nhứt thân vi Thánh hình.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

 

 

QUẦN SANH

Hay “Quần sinh”.

Quần: Bầy, nhiều người tụ họp lại đông đảo. Sanh (sinh): Sống.

Quần sanh, như chữ “Quần sinh 群 生”, là tất cả các loài sinh vật sống trên trần này, gồm Thảo mộc, thú cầm, nhơn loại.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Ðức Chí Tôn thường dạy, Người là Cha của sự thương yêu và bởi thương yêu Ðại Từ Phụ mới tạo thành thế giới và dùng đám lương sanh để cứu vớt quần sanh. Ðức Chí Tôn thường dạy, Người là Cha của sự thương yêu và bởi thương yêu Ðại Từ Phụ mới tạo thành thế giới và dùng đám lương sanh để cứu vớt quần sanh.

Xem: Quần sinh.

Rọi đường chơn lý, khêu đèn huệ,

Nâng bước quần sanh tỉnh mộng trần.

(Thơ Thượng Sanh).

Giác thông đạo lý là anh tuấn,

Độ dẫn quần sanh mới trí tài.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

QUẦN SINH

群 生

Quần: Bầy, nhiều người tụ họp lại đông đảo. Sinh (sanh): Sống.

Quần sinh là tất cả các loài sinh vật sống trên trần này, gồm Thảo mộc, thú cầm, nhơn loại.

Đồng nghĩa với Chúng sinh. Thông thường, chữ Quần sinh cũng như Chúng sinh có nghĩa hẹp là nhơn loại hay nhơn sinh.

Tìm Ðạo mà chi khá hỏi mình,

Bến mê mới vững vớt quần sinh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ách đất rắp nhồi trường náo nhiệt,

Cửa Trời kịp mở vớt quần sinh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

QUẦN THÁNH

群 聖

Quần: Nhiều người tụ họp đông đảo. Thánh: Tiếng tôn xưng dùng để chỉ các bậc Thánh, Tiên, Phật.

Quần Thánh là các bậc Thánh.

Quần Thánh còn dùng để chỉ các bậc thiêng liêng vào hàng Thánh, Tiên, Phật.

Đạo cao nhứt khí, Diệu hoá Tam Thanh.

Đức hoán hư linh, Pháp siêu quần Thánh.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

QUẦN THOA

裙 釵

Quần: Cái quần. Thoa: Cái trâm cài tóc của phụ nữ.

Cái quần và cái trâm cài tóc là đồ trang sức của đàn bà con gái, cho nên chữ “Quần thoa” được dùng để chỉ giới phụ nữ.

Thánh giáo Đức Quan Âm có câu: Phải rán công thêm nữa đặng làm cho đáng nét yêu dấu của Ðấng Chí Tôn cho nở mày khách quần thoa cõi Việt.

Giữ cốt cách muôn năm chẳng thẹn,

Kiếp quần thoa vun quén cội nhân.

(Huỳnh Hoa Tiên Nữ).

Râu mày dầu khác bậc quần thoa,

Là biết từ tâm với phụ tề.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

QUẦN XOA

Hay “Quần xoa”.

Quần: Cái quần. Xoa: Do chữ “Thoa 釵” là cái trâm cài tóc của phụ nữ.

Quần xoa, như chữ “Quần thoa”, là cái quần và cái trâm cài tóc là đồ trang sức của đàn bà con gái, nên được dùng để chỉ giới phụ nữ.

Xem: Quần thoa.

Quần xoa đỡ ngọn binh đao,

Xây hình thục nữ giặm màu nước non.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Đôi lời nhắn gởi bạn quần xoa,

Cái tuổi xanh kia có lúc già.

(Phạm Phối Thánh).

 

 

QUẤT

Quất là cầm roi hoặc dây mà vụt ngang.

Quất còn có nghĩa là dùng cái đuôi phất qua lại.

Như: Quất mấy roi cho ngựa chạy nhanh, cá voi quất đuôi làm dậy sóng.

Quất đuôi nổi sóng con rồng dậy,

Phất chủ riu đường dẫn cháu Tiên.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

QUẬT CƯỜNG

倔 強

Quật: Không chịu khuất phục. Cường: Mạnh.

Quật cường là mạnh mẽ, cường ngạnh, không chịu phục tùng ai.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ôi thôi! Trái lại khi Bần Đạo bước chân trở về thì đã ngó thấy cái chí quật cường và lòng phục quốc chẳng có năng lực nào khác hơn là năng lực của Quân Đội Cao Đài.

Ách nô lệ ngày nay hầu dứt,

Nước quật cường nhờ sức toàn dân.

(Kinh Cúng Chiến Sĩ).

Bao nhiêu lệ thuộc không nao núng,

Đánh đuổi xâm lăng chí quật cường.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

QUEN

Quen là thường thấy, thường biết, thường làm, trái với lạ. Như: Quen người, quen việc, quen thói, quen hơi.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu dạy: Còn có một hạng người cũng có tánh thiêng liêng ấy, nhưng lại không để trí khôn vào lối cao thượng, mà cứ quen thói hung hăng, nghĩ những việc bạo tàn, làm điều tội lỗi, ấy là những kẻ nghịch Thiên, không biết luân hồi là chi cả.

Rừng tòng ngày tháng thú quen chừng,

Nhướng mắt dòm coi thế chuyển luân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Lừa lọc cho cùng rồi nhứt định,

Ðừng quen tính một chẳng dè hai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cang cường quen tánh hiếp dân nghèo,

Nghe Ðạo Phật Trời cũng muốn theo.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

QUEN HƠI

Quen: Thường biết. Hơi: Mùi.

Quen hơi, do ca dao ta có câu: Chim quyên hái trái nhãn lồng, Thia thia quen chậu vợ chồng quen hơi.

Quen hơi ý nói vợ chồng sống chung nhau lâu năm, quen mùi nhau, biết tính nết lẫn nhau, bắt đầu gắn bó với nhau trong quan hệ tình cảm.

Khi đầu ấp cùng khi tay gối,

Thân thiết nhau sớm tối quen hơi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

QUEN THÓI

Quen: Đã làm nhiều lần trong sinh hoạt đến mức thành nếp. Thói: Lề lối đã quen lâu ngày.

Quen thói là đã thành thói xấu lâu ngày, khó sửa chữa được (hàm ý chê).

Như: Nó quen thói hỗn hào.

Đừng để con quen thói giận hờn,

Vừa ré khóc khuyên lơn bồng dỗ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

QUEN THUỘC

Quen: Thường thấy, thường biết, trái với lạ. Thuộc: Quen, lâu, thạo.

Quen thuộc là rất quen đến mức biết rất rõ, vì thường gặp, thường thấy.

Như: Đi riết rồi quen thuộc đường xá.

Người xưa quen thuộc đến vầy vầy,

Phong cảnh như mình có ở đây.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Biết mặt tánh danh chưa nhớ chắc,

Tưởng mình quen thuộc cũng e khi.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

QUẸO

1.- Quẹo là bị cong về một bên, gần như gập lại.

Như: Cây đinh bị quẹo, bẻ quẹo tay, ngả quẹo chân, bẻ quẹo cột sắt.

Ai bi giọng thảm kể vang vầy,

Hồn kẻ bể đầu, kẻ quẹo tay.

(Thiên Thai Kiến Diện).

2.- Quẹo là ngoặt, rẻ sang một phía khác, quay lại.

Như: Xe quẹo sang phải, khúc sông quẹo, đường quanh lối quẹo, quẹo về nhà.

Tua giữ dạ cản ngăn lối quẹo,

Giữ chơn thần ngắm nẻo từ bi.

(Nhị Nương Giáng Bút).

 

 

QUÉT

1.- Quét là làm cho sạch rác, bụi bằng cách đưa nhẹ chổi trên bề mặt.

Như: Quét ngoài sân, quét trong nhà, bói ra ma quét nhà ra rác.

Vẹt ngút mây xanh Trời tỏ rõ,

Quét lằn bụi đỏ thế phui pha.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Phất trần quét sạch làn mây ám,

Đuốc huệ rạng soi vẹt ngút mù.

(Thơ Thái Đến Thanh).

2.- Quét là tiêu diệt trên một phạm vi rộng.

Như: Quét tan lũ nịnh thần, đưa quân đi quét sạch bọn giặc cướp.

Xuân thu định vững ngôi lương tể,

Phất chủ quét tan lũ nịnh thần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ngô chưa quét Thục, Ngụy tranh phong,

Một dãy non sông chứa bá tòng.

(Đạo Sử).

 

 

QUÊ

1,- Quê là nơi cội rễ của dòng họ nhà mình.

Như: Quê hương xứ sở, quê xưa cảnh cũ, quê quán, quê cha đất tổ.

Non nước đìu hiu xuân vắng chúa,

Nhìn quê cảnh úa giục cơn sầu.

(Lục Nương Giáng Bút).

2.- Quê là nông thôn, nơi có đồng ruộng làng mạc. Như: Thành thị thôn quê, từ quê ra tỉnh.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Ngọn lửa chiến tranh thảm khốc đã bao trùm khắp đất nước, đã lan tràn từ thành thị đến thôn quê gây nên cảnh chết chóc tang thương, nhà tan nghiệp nát.

Vợ Châu Công đình thần mạng phụ,

Ở thôn quê lam lụ làm ăn.

(Nư Trung Tùng Phận).

3.- Quê ý chỉ người mộc mạc chất phác.

Như: Quê kệch, nhìn tướng nó thấy biết là người dân quê, lời quê góp nhặt dông dài.

Bầu bí chưa ai bỏ lộn giàn,

Mình quê chưa ắt biết cao sang.

(Đạo Sử).

Hay cho điệu mà cũng quê cho điệu,

Trong phong trần hằng thiếu khách đồ thơ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

QUÊ CHA ĐẤT TỔ

Quê cha: Quê hương của ông, cha. Đất tổ: Đất đai của tổ tiên.

Quê cha đất tổ ý chỉ quê từ rất lâu đời, về mặt có sự gắn bó tình cảm sâu sắc.

Như: Về với quê cha đất tổ để an dưỡng tuổi già.

Tha La xóm đạo tạm dung,

Quê cha đất tổ một vùng thênh thang.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

QUÊ HƯƠNG

Quê: Nơi mình sinh đẻ. Hương: Làng.

Quê hương là nơi mình được sinh ra, có sự gắn bó tình cảm sâu sắc, Như: Tình yêu quê hương.

Quê hương còn là nơi đầu tiên sản sinh ra cái gì để từ đó phổ biến rộng ra đến những nơi khác, như Huế là quê hương của chiếc nón bài thơ.

Hồng trần cõi tạm chớ mê,

Sao bằng Tiên cảnh là quê hương mình.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Con thương mẹ dầu vâng lịnh dạy,

Thương quê hương trọng ngãi quân thần.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Con tưởng phiêu lưu nơi xứ lạ,

Về quê hương nhìn cội cả nhớ thung đường.

(Văn Tế Đốc Học).

 

 

QUÊ XƯA

Quê: Nơi mình sinh ra. Xưa: Cũ.

Quê xưa là quê hương của con người đã được sinh ra lớn lên, và sanh sống nơi ấy. Nơi đây, còn được gọi là nơi chôn nhau cắt rốn, hay quê cha đất tổ. Đây là quê hương của hình hài xác thịt.

Đối với tôn giáo, quê xưa là quê hương của chơn linh, đó là nơi cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Quê xưa trở, cõi đoạ từ,

Đoạt cơ thoát tục bấy chừ tuyệt luân.

(Kinh Tận Độ).

Rắp nhập cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống,

Chốn quê xưa giải mộng trần gian.

(Kinh Tận Độ).

Phải cần sớm tối cùng trưa,

Phải lo tu niệm quê xưa đặng về.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

QUẾ

1.- Quế là một loại cây quý, lá to, vỏ có mùi thơm, vị cay, dùng làm thuốc.

Như: Quế chi, quế khâu, rừng quế, củi quế gạo châu.

Trau tánh ôn hoà chừa cải trước,

Dựa hơi rừng quế cũng thơm tho.

(Đạo Sử).

Quế đứng non cao mấy kẻ tìm,

Thay lông nhẹ cánh đỡ mình chim.

(Đạo Sử).

2.- Quế là cây quế, tương truyền trên cung trăng có cây quế, nên cung trăng còn được gọi là cung quế.

Như: Cung quế, thềm quế.

Sương phủ rừng thiền cành lá đổ,

Gương mờ cung quế mảnh trăng treo.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

QUẾ HOÈ

桂 槐

Quế: Cây quế, một loại cây có vị ngọt, mùi thơm, dùng làm thuốc. Hoè: Cây hoè, một loại cây thường trồng ở sân chầu.

Quế do tích Đậu Võ Quân đời Tống, có năm người con kế tiếp nhau thi đỗ, làm quan to, người đương thời gọi “Yên Sơn ngũ quế”.

Hoè bởi điển Vương Hựu đời Tống, tự tay trồng ba cây hoè ở sân nhà và nói: Con cháu ta sau này thế nào cũng có đứa làm đến chức Tam công. Quả nhiên, con Vương Hựu là Vương Đán là quan Tể tướng, thiên hạ gọi Tam hoè Vương thị.

Quế hoè chỉ người con nối truyền được chí của cha ông để làm nên nghiệp lớn.

Sum sê trước cửa quế hòe đưa,

Tuổi ấy đi tu gẫm cũng vừa.

(Đạo Sử).

Quế tử hương đưa muôn dặm,

Hòe huê sắc trổ đòi ngàn.

(Tuý Sơn Vân Mộng).

 

 

QUÊN

Quên là không còn nhớ, không để tâm đến. Như: Quên đầu quên đuôi.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Kẻ vô phước dụng tà tâm làm một món lợi riêng, quên cả điều hành phạt đã kế bên mình, chới với cả muôn triệu giữa dòng, mà chẳng chịu sớm tự hối đặng gỡ lần mối hoạ sau.

Gắng công đạo đức trau hằng bữa,

Chiu chít đừng quên giống Lạc Hồng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Còn sống đâu quên nhiệm vụ còn,

Bến mê độ khách tạc lòng son.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

QUÊN LÃNG

Quên: Không còn nhớ, không còn lưu giữ điều gì trong trí nhớ nữa.

Quên lãng, như chữ “Lãng quên”, là quên mất đi, không còn chú ý đến nữa.

Như: Những điều thù oán đã quên lãng trong lòng từ khi vào đường tu niệm.

Xem: Lãng quên.

Bởi vậy cho nên buổi sanh tiền trong kiếp sống của ta đây: Ăn để sống tranh giành đặng nuôi con thú, tức là thú hình của ta mà quên lãng cả đại nghiệp.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

QUÊN LỬNG

Quên: Không còn nhớ, không để tâm đến, không tưởng đến. Lửng: Quên.

Quên lửng là quên ngay, nhưng không quên hoàn toàn, khi được gợi đến là nhớ lại.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bởi có các luật lệ ấy tùng theo luật tương đối nó vẫn mâu thuẩn nhau mà thôi, mặt luật duy nhứt là mặt Luật Thương Yêu mà thiên hạ quên lửng thiên hạ đã bỏ nó.

Nhơn loại dùng thế lực mà cắn xé nhau, giành giựt nhau, quên lửng cõi trần nầy, nhơn sanh lãnh mỗi đứa một vai tuồng đặc biệt mà trả cho xong căn xưa quả cũ.

(Thánh Ngôn HIệp Tuyển).

 

 

QUÊN NGÔI

Quên: Không còn nhớ. Ngôi: Ngôi vị, chỗ ngồi.

Quên ngôi là không còn nhớ ngôi vị xưa của Chơn linh nơi cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Trong bài Tán Tụng Công Đức Diêu Trì Kim Mẫu có nói rằng những đứa con khờ dại của Đức Phật Mẫu đi lạc vào đường vật chất mà quên đi ngôi vị cũ của mình nơi cõi Thiêng Liêng.

Đỉnh chung là miếng treo gương,

Khiến nên trẻ dại lạc đường quên ngôi.

(Tán Tụng Công Đức).

Chịu mất trẻ cũng vì tà mị,

Cướp con thương bỏ vị quên ngôi,

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

QUẾN

Quến là dụ, dỗ, rủ rê, làm cho ai đó bị mê hoặc, đeo bám theo, không muốn rời ra. Như: Rù quến.

Ca dao có câu: Tò vò mà nuôi con nhện, Ngày sau nó lớn, nó quến nhau đi.

Làm cho kẻ vào nhà thì mến,

Dầu không mời quến khách liền liền.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

QUY

1.- Quy là về, trở về, tóm về một chỗ. Như: Quy gia, quy hồi, sanh ký tử quy, quy vị.

Thánh giáo Chí Tôn có câu: Sanh đứng vào vòng thế cuộc, chưa biết mình đã lãnh một vai tuồng đặng chờ lúc kết quả, hồn quy Thiên ngoại, lánh khỏi xác phàm, trở về nơi khởi hành mà phục các điều đã thi hành giữa sân khấu là chốn trần ai khốn đốn nầy.

Khổ hạnh chí mong quy nẻo chánh,

Ngoài tai chớ chác miếng hư vinh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Sanh ấy ký, tử là quy,

Diệu quyền cơ tạo chẳng gì gọi hơn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Quy là con rùa. Như: Quy hạc, Long lân quy phụng.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Ðạo mầu tìm đến, lấy hạnh đức giồi tâm, mượn nâu sồng lánh thế, càng dìu sanh chúng, càng bước bước càng cao, lên tột mây xanh, vẹt ngút trông vào cảnh cực lạc an nhàn, non chiều hạc gáy, động tối quy chầu, ấy là khách Tiên gia lánh khỏi đoạ luân hồi nơi cõi thế vậy.

Non núi trời mây sao chẳng nhớ,

Lo theo hạc nội với quy đồng.

(Đạo Sử).

3.- Quy là phép tắc. Như: Quy điều, quy tắc, nội quy, tam quy ngũ giới, tứ đại điều quy.

Trong Giáo Lý, Ngài Tiếp Pháp Trương văn Tràng có viết: Ở trong Quốc gia phải tuân hành luật nước, ở trong Đạo phải giữ quy điều giới luật của Hội Thánh và phải kiêng sợ luật Trời báo ứng.

Thọ sắc tam quy câu cứu khổ,

Trì tâm ngũ giới tiếng nam mô.

(Thơ Thượng Sanh).

Chuẩn thằng quy củ nhờ phương cách,

Kỹ nghệ thợ thầy giữ bổn nguyên.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

QUY CĂN

歸 根

Quy: Trở về. Căn: Cái gốc rễ.

Quy căn là quay về gốc rễ, tức là trở lại với gốc tích, cội nguồn.

Ví như hình thể con người là do đất biến sanh, khi chết, hình thể đó cũng trở về đất.

Thật vậy, thi thể phàm tục của con người vốn dĩ do một khối vật chất cấu thành, nghĩa là xác thể con người từ tế bào xương thịt do cha mẹ tạo ra, được lớn lên nhờ sự nuôi sống của vật thực, là nguồn cung cấp từ đất. Vậy Đất sinh ra vật chất tạo ra hình thể, đến khi chết thì hình thể đó sẽ trở lại với Đất.

Khối vật chất vô hồn viết tử,

Đất biến hình tự thử quy căn.

(Kinh Tận Độ).

Ðiệp lạc quy căn tiếng đã rằng,

Còn ngươi ngươi có biết sao chăng?

(Đạo Sử).

 

 

QUY CỔ

歸 古

Quy: Trở về. Cổ: Xưa, Thượng cổ.

Quy cổ là trở về với thời cổ xưa, tức là thời mà con người còn Thánh đức.

Quy cổ ở đây nói là trở về với thời Thánh đức, tức là trong đó con người còn giữ được bản tính chơn chất, thuần lương của cổ nhân.

Họ đeo đuổi theo nguồn tranh đấu là cơ tự diệt, chớ nào rõ biết cơ bảo tồn quy cổ là gì, mãi đến ngày nay mà họ cũng chưa tỉnh.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

QUY CỦ

規 矩

Quy: Khuôn làm những vật hình tròn. Củ: Khuôn làm những vật hình vuông.

Quy củ là nói những gì đã sẵn khuôn phép. Còn có nghĩa là phẩm hạnh ngay thẳng.

Như: Công việc đã có quy củ.

Phải dạy biết những điều nghĩa vụ,

Gìn tục phong quy củ nước nhà.

(Phương Tu Đại Đạo).

Đạo cao nhờ luật pháp chơn truyền,

Quy củ chuẩn thằng thị bổn nguyên.

(Thơ Thông Quang).

 

 

QUY CHÁNH

Hay “Quy chính”.

Quy: Trở về. Chánh (chính): Ngay, thẳng.

Quy chánh, như chữ “Quy chính 歸 正”, là trở về con đường ngay thẳng, tức là bỏ con đường tà vạy.

Thành ngữ thường có câu: Cải tà quy chánh.

Cũng tưởng các con lấy đó mà làm đuốc soi mình đặng bỏ tà quy chánh.

(Đạo Sử).

 

 

QUY CHÁNH CẢI TÀ

Quy chánh (chính): Trở về con đường ngay. Cải tà: Sửa những điều tà vạy.

Quy chánh cải tà, như chữ “Quy chính cải tà 歸 正 改 邪”, là trở về con đường ngay, sửa những điều tà vạy. Nói một cách khác đi là từ bỏ con đường tà để trở về con đường chánh.

Xem: Cải tà quy chính.

Ðời mộng ảo nầy, sự còn mất như bọt nước mây bay, khá quy chánh cải tà, nắm giữ lòng thiện niệm.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

QUY CHÁNH TRUYỀN

Quy: Trở về. Chánh truyền: Như chữ Chơn truyền, Chánh giáo, tức mối Đạo chơn chánh.

Quy chánh truyền, còn đọc “Quy chính truyền 歸 正 傳”, là trở về với mối Đạo chơn truyền, tức trở về với nền chánh giáo của Đức Chí Tôn.

Thầy vì thất lẽ công bình thiêng liêng ấy mới giáng trần lập Đạo tại Nam phương, tức là thay mặt Càn Khôn Thế giới mà quy chánh truyền nhơn loại.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

QUY CHẾ

規 制

Quy: Phép tắc. Chế: Phép định ra, bó buộc.

Quy chế là nói chung các điều đã quy định thành chế độ để mọi người thực hiện trong những hoạt động nhứt định nào đó.

Như: Quy chế tuyển sinh, quy chế khu nghĩa trang.

Quy chế nhà Trời dân chủ đấy,

Mục đồng, Tiên nữ sánh vai chung.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

QUY ĐIỀN

歸 田

Quy: Trở về. Điền: Ruộng nương.

Quy điền là trở về với ruộng nương, ý nói từ quan về sống ẩn dật nơi thôn dã.

Do bài “Quy khứ lai từ” của Đào Tiềm có câu: Quy khú lai hề! Điền viên tương vu hồ bất quy? 歸 去 來 兮! 田 園 將 蕪 胡 不 歸? Dịch nôm: Về đi sao chẳng về đi? Ruộng hoang vườn rậm, còn chi không về.

Quy điền có lúc phong trần rảnh,

Đinh sắt một lòng chí chớ lay.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

QUY ĐIỀU

規 條

Quy: Khuôn phép. Điều: Từng khoản, từng mục được quy định.

Quy điều là những điều khoản đã được lập ra thảo luận với nhau để tổ chức một cơ quan, hay làm quy tắc buộc mọi người trong cơ quan phải tuân theo.

Bác ái công bằng nêu chủ nghĩa,

Quy điều giới cấm chỉ phân minh.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

QUY HẠC

龜 鶴

Quy: Con rùa. Hạc: Một loài chim cao cẳng, mỏ nhọn, cổ dài, biểu hiệu cho trường thọ.

Quy hạc là con rùa và con hạc, là hai loại vật có đời sống lâu dài, dùng để chỉ tuổi thọ.

Như: Quy linh hạc toán.

Trên Huyền Mẫu da mồi tóc bạc,

Thụ cửu tuần quy hạc ngày cao.

(Thơ NĐS Hương Thanh).

 

 

QUY HỒI

歸 回

Quy: Về. Hồi: Trở lại.

1.- Quy hồi là chỉ sự trở về, tức là trở lại nơi mình ở, nơi mình phát xuất.

Như: Quy hồi nơi chôn nhau cắt rún, quy hồi cố quốc (trở về nước nhà sau thời gian lưu lạc).

Bửu kinh đệ chiếu triệu quy hồi,

Khả tác từ duyên bất cử bôi.

(Đạo Sử).

2.- Quy hồi còn dùng để chỉ sự chết. Như: “Quy hồi cựu vị 歸 回 舊 位” là trở về ngôi xưa, quy hồi Tiên bang.

Người xưa quan niệm rằng “sanh ký tử quy 生 寄 死 歸” là sống gởi thác về, tức là khi chết thì trở về quê hương xưa cũ của chơn linh.

Nầy là chỗ thiếp đương ngồi,

Tin nghe chàng đã quy hồi Tiên bang.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Cựu vị quy hồi xong sứ mạng,

Giáng cơ phổ độ khách trần duyên.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

QUY HỒI CỰU VỊ

歸 回 舊 位

Quy hồi: Trở về. Cựu vị: Ngôi vị xưa.

Quy hồi cựu vị là trở lại ngôi xưa.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Còn chúng ta đã hứa với Ngài (Chí Tôn) những gì? “Hứa: Các con vì Thầy đầu kiếp đặng tạo tinh thần vật loại, độ cả hóa nhân và nguyên nhân qui hồi cựu vị...”.

Ở trần mà hẳn khác trần,

Quy hồi cựu vị tinh thần lạc hoan.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

QUY Y

皈 依

Quy: Theo về. Y: Nương tựa.

Từ trước đến giờ bị vô minh mê hoặc, làm cho chúng ta đi trên đường sai lầm, nay trở về con đường chánh.Từ trước ở trong trói buộc đau khổ nay trở về với giải thoát an lạc gọi là “Quy”.

Quay về nương dựa vào ba ngôi báu Phật, Pháp, Tăng để được nâng đỡ, gia hộ và hướng dẫn trên hai đường đời và đạo gọi là “Y”.

Vậy Quy y tức là đem cái tâm của mình, cái thân của mình theo về để nương tựa nơi cửa Phật.

Trong đạo Cao Đài, tiếng quy y được thay thế bằng chữ “Nhập môn”.

Ðộng đình trở gót lại ngôi xưa,

Tuổi ấy quy y nhắm đã vừa.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Bước cảnh tịnh đã đành để cẳng,

Tóc quy y nửa trắng nửa vàng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Biết Trời chủ tể sanh nhơn loại,

Mới biết quy y hưởng phước lành.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

QUY Y PHẬT PHÁP

皈 依 佛 法

Quy y: Quay về nương tựa. Phật pháp: Lời dạy, giáo lý của Đức Phật.

Quy y Phật pháp là quay về nương theo chánh pháp của Đức Phật mà chừa bỏ những thói hư tật xấu, mọi tâm niệm, hành động ác độc để tu hành, hầu trở về với tánh giác nơi mình đã có sẵn.

Trừ yêu có Thánh Tề Thiên,

Quy y Phật pháp ở miền Tây phương.

(Xưng Tụng Công Đức).

 

 

QUY Y TAM BẢO

皈 依 三 寶

Quy y: Trở về, quay về nương dựa. Tam bảo: Ba cái báu nhứt, là Phật, Pháp, Tăng.

Theo Phật giáo:

Quy y là trở về, quay về nương tựa vào.

Từ trước đến giờ, bị vô minh, mê hoặc, làm cho chúng ta đi vào con đường sai lầm, nay trở về nượng dựa với con đường chánh, gọi là “Quy y”, tức đang ở trong vòng trói buộc, đau khổ, nay trở về nương tựa với chánh pháp để được giải thoát an lạc.

Quy y tam bảo 皈 依 三 寶 là quy y Phật, quy y Pháp và quy y Tăng.

Quy y Phật:

Phật hay Phật đà do chữ Phạn “Bouddha”, có nghĩa là bậc đại giác, bậc đại ngộ, bậc sáng suốt hoàn toàn về ba phương diện: Tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn. Phật là người sáng suốt hoàn toàn, co muôn hạnh tốt và Ngài là bậc chẳng sanh, chẳng diệt nên bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu, Ngài cũng có thể hiện ra để đem ân lành ban bố cho chúng sanh trong mười phương.

Quy y Phật là luôn nhớ tưởng đến Phật, trì niệm danh hiệu, chí tâm lễ bái. Nghĩa rộng Quy y Phật là tự mình trở về nương tựa với Phật tánh sáng suốt sẵn có của mình, đó là từ bi, trí tuệ.

Quy y Pháp:

Pháp là do chữ Phạn “Dharma”, có nghĩa hết sức rộng: Bất kỳ việc chi dù nhỏ dù lớn, dù hữu hình hay vô hình, dù tốt hay xấu, chơn thật hay hư vọng đều có thể gọi chung là pháp. Ở đây Pháp có nghĩa là giáo pháp mà Đức Phật đã thuyết, phương pháp tu hành mà Đức Phật đã phát huy ra để diệt trừ mê muội, khổ đau, để đắc đạo thành Phật.Giáo pháp ấy có thể giúp chúng sanh thoát khỏi luân hồi, khổ đau, nên vô cùng quý báu.

Quy y Pháp là nương về với giáo pháp, tức tụng đọc kinh, luật, tìm hiểu giáo pháp. Lý Quy y Pháp là trở về với chánh pháp sẵn có là lý vô thường, vô ngã.

Quy y Tăng:

Tăng hay Tăng già là do từ tiếng Phạn “Samgha”, có nghĩa là những vị xuất gia, tu theo giáo pháp Đức Phật, cùng sống chung một chỗ, cùng giữ giới luật của Phật và cùng chia sớt cho nhau một cách hoan hỷ, hoà thuận tất cả những gì mà họ thâu nhận được.

Sự Quy y Tăng là kính trọng, nương theo tu học những vị tăng ni chơn chánh, đạo cao đức trọng. Quy y Tăng theo nghĩa rộng là trở về với vị thầy trong tâm mình là đức tánh thanh tịnh, hoà hợp...

Theo Cao Đài:

Trong đạo Cao Đài, các câu niệm: Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng tức là Quy y Tam bảo.

Nam mô Phật nghĩa là nguyện noi theo Thánh đức đại từ đại bi, đức chí thiện hoàn toàn của Thầy, đức toàn tri toàn năng, tận thiện tận mỹ của Thầy, cùng ân đức háo sanh vô biên của Thầy.

Nam mô Pháp nghĩa là nguyện noi theo thần linh diệu hoá của Thầy, tuân theo và tôn kính những lời Thánh huấn vàng ngọc của Thầy truyền dạy để tu tâm sửa tánh hầu tâm thần trở nên thanh khiết, sáng suốt, giải kiếp trầm luân.

Nam mô Tăng nghĩa là nguyện thương yêu toàn thể chúng sanh, nguyện thân cận với những người đạo cao đức dầy để nghe lời đạo đức của họ, bắt chước hành vi nhân hậu của họ.

Ngoài ra Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng còn có nghĩa là tôn kính ân đức bao la của Đại Từ phụ (Nam mô Phật), tôn kính ân đức dưỡng dục của Đại Từ Mẫu (Nam mô Pháp), và luôn luôn tưởng niệm đến toàn thể nhơn sanh, cũng như nguyện thương yêu hoà thuận lẫn nhau (Nam mô Tăng).

Vậy Phật, Pháp, Tăng chính là ba ngôi: Ngôi Cha, ngôi Mẹ và ngôi các con. Chúng ta biết vì Đức Chí Tôn là Đấng toàn tri toà năng, Đấng sáng tạo ra vũ trụ nên Ngài là ngôi Cha hay ngôi Phật. Còn Đức Phật Mẫu, Mẹ của vạn linh, chưởng quản tầng trời Tạo Hoá Thiên, có công đào tạo và nuôi dưỡng chúng từ linh hồn đến thể xác có công định kiếp căn của mỗi con người ở cõi trần, có quyền sửa đổi kiếp luân hồi của mỗi người bằng cách cho lập công trả quả, nên Đức Phật Mẫu tượng cho ngôi Mẹ, tức là ngôi Pháp. Toàn thể chúng sanh trong vũ trụ được tạo thành do công sinh trưởng của Đức Chí Tôn, công nuôi dưỡng của Đức Phật Mẫu, nên chúng sanh được xem là ngôi Con, hay ngôi Tăng.

Nếu xét ba ngôi Phật, Pháp Tăng theo lý Dịch học thì Phật tượng trưng cho nguyên lý Dương, Pháp tượng trung cho nguyên lý Âm và Tăng tượng trưng cho vạn vật.

Quy y Tam bảo lòng thanh tịnh,

Chứng ngộ nhiệm mầu cảnh giới phăng.

(Thơ Thanh Hương).

 

 

QUY LIỄU

歸 了

Quy: Trở về. Liễu: Xong việc.

Quy liễu là xong việc thì trở về, chỉ sự chết.

Triết lý Tôn giáo cho rằng con người vì nghiệp quả phải đầu kiếp xuống thế gian, khi nghiệp quả hết, nghĩa là xong việc nơi cõi thế thì phải trở về, đó gọi là quy liễu.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Chẳng biết ngẫu nhiên hay là tiền định mà Bà Nữ Đầu Sư quy liễu nhằm ngày Vía Đức Phật Thích Ca.

Thi hữu Thái Phong giọt lệ tràn,

Mẹ hiền quy liễu phục cư tang.

(Thơ Phạm Mộc Bổn).

 

 

QUY MÔ

規 模

Quy: Cây thước tròn. Mô: Cái khuôn.

Quy mô là phép tắc, khuôn mẫu phải theo, tức là khuôn phép mẫu mực để coi đó mà noi theo. Như: Trường sở xây dựng khá quy mô.

Quy mô còn có nghĩa là rộng lớn. Như: Một công trình quy mô.

Cam tâm nín nẩm gia đàng,

Vì con chưa giữ vững vàng quy mô.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Đấng nam tử đâu đâu cũng nợ,

Khắp năm châu khai mở quy mô.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

QUY NGUYÊN

歸 元

Quy: Trở về. Nguyên: Ban đầu.

Quy nguyên là trở về ban đầu, tức trở về nguồn cội, hay trở lại gốc.

Nói theo Phật, mỗi chúng sanh đều có Phật tánh, theo Cao Đài, mỗi môn đệ của Đức Chí Tôn là một Tiểu Linh Quang được chiết ra từ khối Đại Linh Quang của Thượng Đế, nên chi Thầy có nói: “Thầy là các con, các con là Thầy”.

Nguồn cội của chúng sanh từ Chí Tôn hay Phật, nhưng vì chúng sanh bị mê mờ mà phải chìm trong luân hồi sanh tử. Vì thế, Phật Mẫu thường nhắc nhỡ con cái của Ngài lo lập vị, rồi Ngài đem từng chơn linh trở về nguồn cội (Quy nguyên) là Chí Tôn.

Vô Địa ngục, vô Quỷ quan,

Chí Tôn đại xá nhứt tràng quy nguyên.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

Nam Mô Tam Trấn Hư Vô,

Oai Nghiêm độ rỗi Cao Đồ quy nguyên.

(Kinh Tận Độ).

Ngó Cực Lạc theo huờn Xá Lợi,

Cửu Trùng Thiên mở lối quy nguyên.

(Kinh Tận Độ).

 

 

QUY NGUYÊN PHỤC NHỨT

Hay “Quy nguyên phục nhất”.

Quy nguyên: Do chữ “Quy nguyên Tam giáo 歸 元 三 教” là đem ba nền tôn giáo “Phật, Tiên, Thánh” trở về gốc, tức là trở về với Đức Chí Tôn.

Phục nhứt (nhất): Bởi câu “Phục nhứt Ngũ chi 復 一 五 支” là đem Ngũ chi Đại Đạo gồm Nhơn đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo, Phật đạo hiệp lại làm một.

Như vậy, Quy nguyên phục nhứt, hay “Quy nguyên phục nhất 歸 元 復 一”. Có nghĩa là quy nguyên Tam giáo, phục nhứt Ngũ chi.

Còn nay thì nhơn loại đã hiệp đồng, Càn Khôn dĩ tận thức, thì lại bị phần nhiều đạo ấy mà nhơn loại nghịch lẫn nhau, nên Thầy mới nhứt định quy nguyên phục nhứt.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

QUY NGUYÊN TAM GIÁO

歸 元 三 教

Quy nguyên: Trở về gốc. Tam giáo: Ba nền Tôn giáo lớn, đó là Thánh Tiên, Phật hay Nho, Lão, Thích.

Quy nguyên Tam giáo là tôn chỉ của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, hay đạo Cao Đài, tức đem ba nền tôn giáo là Nho, Lão, Thích trở về nguồn gốc, hoặc nói cách khác là trở về với Thượng Đế.

Ba tôn giáo Nho, Lão, Thích đã trải qua nhiều thời kỳ, nên càng ngày càng xa rời chánh pháp. Nay, đến thời hạ nguơn mạt pháp, Đức Chí Tôn dùng huyền diệu cơ bút lập thành một nền Đại Đạo cốt quy nguyên Tam giáo, tức là chấn chỉnh tôn chỉ lại cho phù hợp với thời nghi của nếp sống văn minh tiến bộ, hầu độ hết tất cả chúng sanh theo đường Đạo đức.

Đức Thượng Đế khai Đạo Cao Đài kỳ thứ ba này, không giao chánh giáo cho tay phàm, chính mình Ngài giáng bằng huyền diệu cơ bút, đó là chuyển đạo vô vi để quy nguyên Tam giáo, hiệp nhứt ngũ chi.

Quy nguyên Tam giáo một nhà,

Làm cho nhơn loại thuận hoà dưới trên.

(Long Hoa Hội).

Quy nguyên Tam Giáo độ nhơn quần,

Nguyên hạ Cao Đài rưới huệ ân.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

QUY PHÀM

歸 凡

Quy: Trở về. Phàm: Phàm tục, thấp kém.

Quy phàm trở về phàm tục, tức trở về với sự tầm thường thấp kém, không còn cao siêu nữa.

Trong quyển Đạo Sử, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Nay đã biết rằng kế thử nhơn sanh làm cho hiểu rằng không Thầy nâng đỡ thì dầu cho một mối Ðạo nào chơn chánh, hiệp lý Thiêng Liêng đi nữa, thì cũng phải bị nơi tay các con mà quy phàm ra Tả Ðạo.

Thầy đã nói Ngũ Chi Ðại Ðạo bị quy phàm là vì khi trước Thầy giao Chánh giáo cho tay phàm.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

QUY Y PHÁP

皈 依 法

Quy y: Trở về nương tựa, quay về nương tựa. Pháp: Đạo, quy luật, giáo pháp, kinh luật...

Quy y Pháp hay Quy pháp là một trong “Quy y tam bảo 皈 依 三 寶”, tức là quay về với chánh pháp của Phật, tụng đọc kinh luật, luận, tìm hiểu ý nghĩa giáo pháp.

Muốn vượt qua những mê lầm, trói buộc, con người phải quay về nương tựa và sống theo chánh pháp, học hỏi noi gương và định hướng cho cuộc đời tiến tu để chẳng bao giờ thoái bộ.

Hiểu thông chơn lý quy y pháp,

Nhìn thẳng vào trong có Phật ngồi.

(Thơ Thanh Hương).

 

 

QUY Y PHẬT

皈 依 佛

Hay “Quy Phật”.

Quy y: Trở về nương tựa, quay về nương tựa. Phật: Đức Phật.

Quy y Phật hay “Quy Phật”, là một trong “Quy y Tam Bảo 皈 依 三 寶”, tức là quay về với Phật, luôn tưởng nhớ, trì niệm danh và chí tâm lễ bái Ngài.

Từ trước đến nay bị vô minh mê hoặc làm cho ta theo con đường sai lầm, hoặc ở trong sự trói buộc, đau khổ, nay trở về con đường chánh để nương tựa với Phật tánh sáng suốt sẵn có của mình, đó gọi là quy y Phật.

Quy Phật là tâm giác ngộ rồi,

Quy Tăng thanh tịnh mãi không thôi.

(Thơ Thanh Hương).

 

 

QUY PHỤC

1.- Quy: Về. Phục : Chịu theo ai.

Quy phục 歸 服 là chịu theo về với ai, hàng phục. Quy phục đồng nghĩa với chữ quy hàng, hay quy thuận.

Như: Giặc cướp đã quy phục với triều đình.

Đồng tâm phương sách xây cơ nghiệp,

Quy phục nhơn sanh trọng đạo nhà.

(Thơ Thượng Cảnh Thanh).

2.- Quy: Về, trở về. Phục : Trở lại.

Trong Tôn Giáo Cao Đài, chữ “Quy phục” có nghĩa là quy nguyên phục nhứt.

Thánh giáo Thầy có câu: Mạng đổi chớ luật lệ chưa hề đổi. Vì vậy Thầy buộc các con tùng Cựu Luật đặng quy phục Tam Giáo làm một.

Vô hư quy phục nhơn sanh khí,

Tạo vạn cổ đàn chiếu Phật duyên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Dùng huyền diệu Tiên Gia Cơ Bút,

Lập Chơn Truyền quy phục Ngũ Chi.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

QUY Y TĂNG

皈 依 僧

Hay “Quy Tăng”.

Quy y: Trở về nương tựa, quay về nương tựa. Tăng: Thầy tu, sư.

Quy y tăng hay quy tăng là một trong “Quy y Tam Bảo 皈 依 三 寶”, tức là trở về kính trọng, nương theo tu học những vị tăng ni chân chánh, đạo cao đức trọng.

Do vô minh, mê lầm, nay quay về nương tựa với một vị Thầy để hướng đẫn theo con đường chánh Pháp của Đức Phật.

Quy Phật là tâm giác ngộ rồi,

Quy Tăng thanh tịnh mãi không thôi.

(Thơ Thanh Hương).

 

 

QUY TIÊN

歸 仙

Quy: Trở về. Tiên: Cõi Tiên.

Quy Tiên là trở về cõi Tiên, chỉ các vị Chức sắc Đại Thiên phong qua đời.

Như Đức Hộ Pháp nói về sự ra đi của Đức Quyền Giáo Tông như sau: Hôm nay là ngày kỷ niệm quy tiên của Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt, Bần Đạo chỉ cần nhắc tiểu sử của Ngài, bởi vì toàn thể con cái của Đức Chí Tôn nam, nữ, đều biết rõ kiếp sanh của người anh cả chúng ta thể nào rồi...

Từ bi bác ái trọn lành,

Năm mươi chín tuổi đắc thành quy Tiên.

(Thơ Hộ Pháp).

Bà Đầu Sư đắc Đạo quy Tiên,

Đền Thánh biểu dương đứng mặt tiền.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

QUY TỤ

歸 聚

Quy: Trở về. Tụ: Nhóm lại, hợp lại.

Quy tụ là tập hợp, tức là tụ họp về một nơi, một mối.

Như: Thủ Đô là nơi quy tụ các đường giao thông quan trọng trong nước.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy nhập ba chi lại làm một là chủ ý quy tụ các con trong Ðạo Thầy lại một nhà, Thầy làm Cha chưởng quản, hiểu à!

Vừa mãn Ất Mùi tới Bính Thân,

Xuân về quy tụ khối tinh thần.

(Thơ Thông Quang).

 

 

QUY THẾ GIỚI Ư NHẤT KHÍ CHI TRUNG

歸 世 界 於 一 氣 之 中

Quy: Gom về. Thế giới: Nghĩa thông thường là hoàn cầu. Nhưng theo nghĩa trong kinh Phật, thế giới chỉ vũ trụ.

Ư nhứt khí chi trung: Trong chỗ một khí. Đây là khí đầu tiên trước khi sinh ra Trời đất, có nhiều từ để gọi như: Nguyên khí, Hỗn nguơn khí, Hư vô khí, Tiên thiên khí...

Quy Thế giới ư nhứt khí chi trung có nghĩa là gom thâu Thế giới về trong một khí (khí Hư vô).

Do nơi khí Hư vô mới có Thái Cực. Từ thái Cực, mà có Âm Dương, thì Đạo cũng ở trong Âm Dương đó.

Đạo vô vi biến hoá không cùng, sanh ra Đức Nhiên Đăng Cổ Phật. Phật là vị Tôn sư được hoá sinh từ một khí Hư vô. trong thời kỳ hỗn độn, và Càn khôn Thế giới cũng do khí Hư vô tạo thành, nên có phải là Đức Nhiên Đăng Cổ Phật có thể tóm thâu Càn khôn Thế giới về trong một khí hư vô chăng?

Quy Thế giới ư nhứt khí chi trung,

Ốc trần huờn ư song thủ chi nội.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

QUY THIÊN

歸 天

Quy: Trở về. Thiên: Trời.

Quy Thiên là trở về cõi Trời, ý nói sự chết. Như: Các vị Thời Quân khi quy Thiên Liên Đài đều kỵ Long mã.

Thánh giáo Bát Nương Diêu Trì Cung trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Ấy là một cái quan ải, các Chơn hồn khi quy Thiên, phải đi ngang qua đó.

Sống thì định bá đồ vương,

Quy Thiên dựng lại miếu đường thuở xưa.

(Kinh Thế Đạo).

Mừng buổi quy Thiên cao phẩm vị,

Thong dong cánh hạc dạo non Bồng.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

QUY THIÊN LƯƠNG

歸 天 良

Quy: Trở về, đem trở về.

Thiên lương: Còn gọi là Thiên tánh, là bản tính tốt của con người, do Chí Tôn ban cho. Đây chính là lương tâm, tức là tâm thiện lương, chơn chánh.

Con người được Chí Tôn ban cho một Thiên tánh, hay Thiên lương, là phần chủ tể trong con người. Nhưng vì bị nghiệp lực lôi kéo, dẫn dắt, đắm chìm trong tài sắc, danh lợi, rồi gây nên nhiều tội lỗi. Do đó từ lâu con người đã đánh mất, hay bỏ quên cái Thiên lương của mình đi.

Vì vậy, Đức Phật Mẫu đến giáo hoá con cái của Ngài biết ngộ đường tu hành mà trở lại với Thiên lương hay Thiên tánh.

Hiệp vạn chủng nhứt môn đồng mạch,

Quy thiên lương quyết sách vận trù.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

 

 

QUY THỐNG

歸 統

Quy: Trở về, quay về. Thống: Hợp lại tất cả.

Quy thống là trở về hợp lại tất cả làm một mối. Như: Các chi phái của đạo Cao Đài khó mà quy thống.

Hoàn tu thử nhựt cơ quy thống,

Tảo đắc lai niên nghiệp hợp châu.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

QUY THUẬN

歸 順

Quy: Trở về, quay về. Thuận: Bằng lòng, đồng tình, vui lòng theo.

Quy thuận, đồng nghĩa với chữ “Quy phục 歸 服”, là chịu trở về theo đối phương (hàng phục), không còn hoạt động chống đối lại nữa.

Chư hầu bốn trấn đều quy thuận,

Thiên ý nhân tâm hiệp cộng hoà.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

QUY VỊ

歸 位

Quy: Trở về. Vị: Ngôi vị, chỉ ngôi vị thiêng liêng.

Quy vị là trở về ngôi vị, chỉ sự chết.

Thuyết Đạo của Hộ Pháp có câu: Buổi nọ, Ðức Phật Mẫu nói: Ngày nào Bà thân của Ðức Cao Thượng Phẩm quy vị là ngày ấy thành Ðạo, trước ngày Vía ấy Ðức Phật Mẫu giảng Ðạo có dùng tiếng Mẹ con xưng hô cùng ta tức là ngày thành Ðạo nhằm Lễ Trung Thu.

Non xưa động Thánh Người quy vị,

Đài cũ Hiệp Thiên cảnh để sầu.

(Thơ Thượng Sanh).

Chia ly thống thiết nơi trần khổ,

Quy vị an vui chốn Niết Bàn.

(Thơ Hiến Pháp).

 

 

QUÝ

1.- Quý là báu, hiếm, lạ, có giá trị cao. Như: Vật quý, sách quý, người quý phái.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Các con nên tìm sự giàu đức tính của Trời. Chỉ có cách đó mới gọi là vĩnh cửu. Của quý ấy không ai ăn cướp đặng cả.

Thôi chẳng tranh chi mồi phú quý,

Quý là đạo đức đó ai ôi!

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Lời khen miệng thế quý chi đâu,

Bất quá như son lộn bã trầu.

(Đạo Sử).

Màu hồng chàng nhuộm cho nên trắng,

Ngọc quý người quăng đến phải tì.

(Thiên Thai Kiến Diện).

2.- Quý là sang. Như: Phú quý, quý nhân.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có câu: Ðời cũng vậy, mà Ðạo cũng vậy. Hễ chác danh cao quyền lớn, bực quý phẩm Tiên thì phải dày chịu gian nguy, nặng đeo sầu thảm.

Suy thời dầu quý cũng ra hèn,

Nghiệp cả khuyên con lửa nhúm nhen.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Quý sang mặc kẻ võng dù riêng,

Phận bạc lo cho hết kiếp khiên.

(Đạo Sử).

3.- Quý là coi trọng. Như: Quý trọng, quý bạn bè.

Thánh giáo Thầy có câu: Các con ví biết Ðạo là quý thì phải ân cần thận trọng, đợi đến ngày thành tựu, các con mới thấy rõ Thiên cơ, thì chừng ấy các con muốn lập công bằng buổi nầy sao đặng, vì mỗi việc khó khăn trắc trở là lúc sơ khai.

Quý cho những kẻ tánh thiên nhiên,

Chẳng phải là ngu thiệt bởi hiền.

(Đạo Sử).

4.- Quý là tiếng tôn xưng bậc trên, hoặc tôn người ta trong khi nói chuyện. Như: Quý Tiên Nương, quý quyến, quý bạn.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Ðưa nhau bằng lời nói, đó là phẩm cách của những bậc hiền triết ngày xưa. Hội Thánh xin để lời khuyên nhủ quý bạn nên thận trọng gìn giữ phận sự.

Vái van xin quý Cửu Thiên Nương,

Tâu với Ngọc Hư tỏ ngọn nguồn.

(Đạo Sử).

5.- Quý là mùa, cuối, út, không dùng một mình.

Như: Tứ quý (bốn mùa), quý xuân (tháng ba), quý nam (út nam), quý nữ (út nữ).

Nhựt Nguyệt Âm Dương tứ quý hoà,

Thiên Ðịa Càn Khôn kiêm vạn loại.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Định hương hoả, hằng ngày quý tế,

Lập pháp gia, tự kế phụng thờ.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

QUÝ BÁU

Quý: Báu, hiếm có. Báu: Quý giá.

Quý báu là nói người vật hay những hành vi cao quý có giá trị lớn, đáng được coi trọng hoặc gìn giữ. Như: Đóng góp nhiều ý kiến quý báu.

Thánh giáo Thầy có dạy: Nơi trần khổ nầy, dầu cho bậc Chí Thánh cũng khó tránh sự lỗi lầm đặng, nhưng sự ăn năn tự hối là quý báu vô giá.

Làm con hiếu dầu toan trọn đạo,

Của mẹ cha quý báu phải trọng tôn.

(Phương Tu Đại Đạo).

Hoà Hiệp trong đời quý báu thay,

Hoà tâm thân ái mới lâu dài,

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

QUÝ GIÁ

貴 價

Quý: Báu, hiếm có. Giá: Vật giá, phẩm giá.

Quý giá là có giá trị cao, tức là quý báu và có giá trị.

Bài Thánh giáo bằng Pháp văn của Đức Chí Tôn được Hội Thánh dịch có câu: Các con xem của ấy là quý giá thật sự sao? Xét từ nơi sản xuất các vật ấy đều không đáng kể. Các con nên tìm sự giàu đức tính của Trời. Chỉ có cách đó mới gọi là vĩnh cửu. Của quý ấy không ai ăn cướp đặng cả.

Vàng tuy quý giá chẳng bằng lòng,

Phật tự thuở chừ mến chữ không.

(Đạo Sử).

Hòn ngọc quý giá dầu giữ trọn,

Ai lại đem làm món hàng bông.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

QUÝ HOÁ

貴 貨

Quý: Báu, hiếm có. Hoá: Đồ vật, hàng hoá.

Quý hoá là đồ vật quý báu.

Quý hoá còn có nghĩa là đáng quý, coi là quý, đáng coi trọng, thường nói về tinh thần. Như: Một tấm lòng quý hoá của bà con.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có đoạn dạy: Ðấng Chí Tôn đã gieo giống quý hoá rồi, thì cần phải vun trồng cho cội sởn sơ. Cội sởn sơ mới có đâm chồi trổ tược, nhành lá sum sê, hoa đơm sắc sảo, rồi mới đến trái oằn sai mà thành kết quả xứng đáng.

Thiên đàng quý hoá đáng bao lăm,

Chẳng tốn bấy công, gắng chí tầm.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

 

 

QUÝ MẦU

Quý: Báu, hiếm có. Mầu: Mầu nhiệm, huyền diệu.

Quý mầu là chỉ cái gì quý báu và mầu nhiệm.

Như: Những công trình xây dựng trong tôn giáo, ngày sau sẽ trở thành di tích quý mầu.

Người được hoà, tâm được hiệp, ngoài được mạnh, trong được thung dung, gieo giống quý mầu thì công ấy chẳng chi sánh được.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

QUÝ SANG

Quý: Báu, sang, hiếm có. Sang: Vinh hiển, cao quý.

Quý sang, như chữ “Sang quý”, là cao quý và sang trọng. Như: Nhà cửa anh ấy sắm toàn đồ vật quý sang.

Quý sang mặc kẻ võng dù riêng,

Phận bạc lo cho hết kiếp khiên.

(Đạo Sử).

 

 

QUÝ TRỌNG

貴 重

Quý: Coi trọng. Trọng: Tôn quý.

Quý trọng là cao quý và tôn trọng. Như: Học trò phải quý trọng thầy giáo.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn dạy: Một sự các con chưa hề biết đến, đặng hiểu Ðạo quý trọng là dường nào, lo tu tâm dưỡng tánh.

Dụng nhơn chẳng khác dụng cây sang,

Quý trọng cùng chăng một buổi nhàn.

(Đạo Sử).

Khi anh được tưng tiu quý trọng,

Thì phòng khi thất vọng khổ nguy.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

QUỲ

Quỳ là ở tư thế gập đầu gối đặt sát xuống đất. Như: Quỳ bắn, quỳ xuống mà cầu nguyện.

Đức Nhàn Ấm Đạo Trưởng trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Nếu bỏ Tâm kia ra ngoài mà rèn hình thể thì chẳng khác chi quỳ đọc kinh, đèn đốt đỏ hừng, mà thiếu bức Thiên Nhãn trên điện vậy.

Hễ gặp người an bang tế thế,

Nên quỳ mà nghênh lấy lễ trọng người.

(Bát Nương Giáng Bút).

Rồi xúi nhỏ thà là mẹ phạt,

Nịnh mẹ ưng mời bác lại quỳ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

QUỲ GỐI

Quỳ: Gập đầu gối xuống đất. Gối: Đầu gối.

Quỳ gối là ở tư thế gập đầu gối xuống đất và đặt sát mặt nền để đỡ toàn thân.

1.- Quỳ gối là một hình phạt của cha mẹ, hoặc thầy cô đối với con cái hay học trò có lỗi lúc còn thơ dại.

Như: Cô giáo phạt học sinh quỳ gối trong lớp.

Muốn dạy biểu ông chồng quỳ gối,

Chịu cúc cung đặng dọi mới vừa.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Quỳ gối còn là động tác tỏ ra kính trọng trong tôn giáo đối với Trời Phật hay các Đấng Thiêng Liêng.

Như: Quỳ gối trước Thiên bàn để cầu nguyện cho quốc thới dân an.

Thử coi trong 3 tháng Bần Đạo quỳ gối dưới chân Đức Chí Tôn, khóc lóc thỉnh cầu nơi Ngài cứu thử sanh mạng loài người đặng chăng cho biết...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

QUỲ HOẮC

葵 藿

Quỳ: Tên một loài hoa, còn gọi là hướng dương, khi nở hoa có sắc màu vàng, thường quay về mặt trời. Hoắc: Cũng là một loại cây có tính hướng dương, cùng loại với hoa quỳ.

Quỳ hoắc dùng để ví kẻ dưới luôn hướng và trung thành với người trên.

Nghĩa bóng: Trung thành với người trên.

Nhác thấy sanh mao rùm ải Bắc,

Nhàn xem quỳ hoắc ngó trời Đông.

(Thơ Bồng Dinh).

 

 

QUỲ HƯƠNG

Quỳ: Gập đầu gối xuống đất. Hương: Nhang.

Quỳ hương là quỳ trước cây nhang đã được thắp lên.

Những người lầm lỗi nhẹ trong tôn giáo thường bị cấp trên phạt quỳ hương trước Chánh Điện, hoặc có người ý thức tự phạt mình quỳ hương để ăn năn hối lỗi.

Đây là một hình phạt nhắc cho kẻ có lỗi quỳ trước các Đấng thiêng liêng mà sám hối lỗi của mình.

Lỗi lầm đệ tử cũng nhiều khi,

Nếu bắt quỳ hương ắt trễ kỳ.

(Thánh Giáo Minh Thiện).

 

 

QUỲ LẠY

Quỳ: Gập đầu gối xuống đất. Lạy: Quỳ gối, chắp tay và nghiêng đầu để tỏ vẻ cung kính.

Quỳ lạy là chắp tay, quỳ gối và cúi gập người để tỏ lòng cung kính, để cầu xin, hoặc dùng như một hình phạt.

Nói về Đức Quan Thánh Đế Quân, Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Nhưng khi Tào Tháo bại binh chạy qua Huê Dung Ðạo, Ðức ngài thấy binh mã của Tào xơ xác, người thiếu lương, ngựa thiếu cỏ, Tào Tháo thì áo giáp mất hết, xuống ngựa quỳ lạy cầu xin Ðức Ngài nhớ ơn ngày trước mà phóng thích.

Nương bóng hạc cầm vui ít kẻ,

Hay chi quỳ lạy đứng ngoài sân.

(Đạo Sử).

Chẳng nên phạt bắt con quỳ lạy,

Sự giả hờn là máy răn trừng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

QUỶ

1.- Quỷ là loài yêu quái hay khuấy nhiễu người ta. Như: Quỷ vương, ma trêu quỷ ám.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Bởi vậy cho nên, Thầy chẳng vì ghét mà không lời khuyến dụ; cũng chẳng vì thương mà không sai quỷ dỗ dành.

Bày đờn ai khéo sắm đờn đây,

Ðể quỷ để ma ở cả bầy.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chưa rõ chánh tà Trời với quỷ,

Cũng như cơm nước gói nên đùm.

(Đạo Sử).

2.- Quỷ chỉ người có tâm ác độc, hay lòng tham dục khiến thấy sắc đẹp mê say, thấy tài vật ham muốn.

Như: Bọn xác quỷ thịt ma, lũ ma hồn quỷ xác.

Phải phải cùng đời, đừng sửa quấy,

Quấy nhiều tức quỷ giục mình tham.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Đừng theo phường xác quỷ thịt ma,

Cha mẹ khoảng hình ra không mặt.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Quỷ là dối trá, thường không đứng một mình.

Như: Thằng đó là đứa quỷ quyệt thường lừa gạt người ta, nó chuyên bày quỷ kế để hãm hại người.

Dùng hết mưu chước quỷ quyệt thâu đoạt lợi lộc quyền thế cho nhiều, vì vậy mà đời trở nên trường tranh đấu, giựt giựt, giành giành gây nên mối loạn.

(Thiên Đạo).

 

 

QUỶ CỐC

鬼 谷

Quỷ Cốc hay Quỷ Cốc Tiên Sinh, là một nhân vật đời nhà Tần họ Vương tên Hủ, trước ở núi Vân Mộng tu Tiên, sau đến ở nơi hang Quỷ Cốc, nên người ta thường gọi là Quỷ Cốc Tiên Sinh.

Ông là thầy của Bàng Quyên và Tôn Tẫn, có tài dụng binh, giỏi nhất về khoa bói toán. Cuối đời Châu, ông đến ở ẩn tại Quỷ Cốc (hang quỷ), một nơi núi cao rừng rậm, âm khí nặng nề, không phải là chỗ người ở. Ông có đệ tử hơn trăm người theo học, tương truyền Tô Tần và Trương Nghi cũng là học trò của ông.

Hiện nay, người ta dùng chữ “Quỷ cốc” để chỉ những người có tài về lý số.

Hi Di thâu núi đòi tờ đứng,

Quỷ Cốc trông vua gác cẳng nằm.

(Bát Nương Giáng Bút).

Ganh tài hại bạn khôn lường,

Cẩm nang Quỷ Cốc xem tường giả điên.

(Báo Ân Từ).

 

 

QUỶ CHÚA

Quỷ: Ma quỷ, yêu quỷ. Chúa: Vua chúa.

Quỷ chúa, như chữ “Chúa quỷ”, là vua chúa của các loài yêu quỷ. Đồng nghĩa với chữ “Quỷ vương 鬼 王”.

Quỷ chúa còn dùng để chỉ kẻ gian manh, xảo trá.

Dưới đất trồi lên thằng Quỷ chúa,

Trên Trời khóc dậy lũ hồn oan.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

QUỶ DẠ XOA

Dạ Xoa 夜 叉, do tiếng Pali Yakkha, chỉ một loại quỷ có hình thù cổ quái ở cõi Âm phủ để Diêm Vương sai khiến đi bắt và hành phạt các tội hồn.

Dạ xoa còn là một loài quỷ hay phá phách người tu hành bằng cách gây tiếng động ồn ào trong lúc họ thiền.

Theo Kinh Duy Ma, quỷ Dạ xoa, còn gọi là Dược xoa, dịch nghĩa là Tiệp tật quỷ (quỷ nhanh nhẹn). Có ba loại: Một ở mặt đất, hai ở hư không, ba là thiên dạ xoa.

Cột trói ngược quá kinh rất lạ,

Quỷ Dạ xoa đánh vả kẹp cưa.

(Kinh Sám Hối).

Mặt yêu vằn vện dường Tiêu Diện Sĩ

le lưỡi trấn Tây phương,

Mày chằn nhăn nhíu tợ Quỷ Dạ Xoa

đẩy xe vào Âm phủ.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

QUỶ HỒN

鬼 魂

Quỷ: Ma quỷ, yêu quỷ. Hồn: Linh hồn.

Quỷ hồn là những linh hồn không được siêu thoát, thuộc loài quỷ.

Thánh giáo Đức Quan Thánh Đế Quân có câu: Lý Đại Tiên đã nắm nơi tay Thiên điều quyết án, dầu cho Ngọc Hư toan chế cải cũng không qua Người, vì đã đặt trọn tội hình của quỷ hồn loạn chánh, nên định trừ khử đặng bảo thủ Chơn truyền.

Trùng huờn phục vị Thiên môn,

Nguơn linh hoá chủng quỷ hồn nhứt thăng.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

 

 

QUỶ KHÍ

鬼 氣

Quỷ: Ma quỷ, yêu quỷ. Khí: Thể vô hình, có thể cảm ứng mà sinh dưỡng muôn vật. Khí còn là thể chơn thần.

Quỷ khí, như chữ tà khí, âm khí là khí độc hại.

Quỷ khí còn đồng nghĩa với quỷ hồn, là linh hồn của loài quỷ.

Trụ căn quỷ khí Cửu tuyền,

Quảng khai Thiên thượng tạo quyền chí công.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

 

 

QUỶ MA

鬼 魔

Quỷ: Ma quỷ, yêu quỷ. Ma: Tinh ma.

Quỷ ma, như chữ “Ma quỷ 魔 鬼”, nói chung về loài quỷ quái yêu ma, chỉ những vong linh của người lúc sanh tiền làm việc hung ác bị đoạ làm ma quỷ.

Như: Sống làm những điều hung ác chết làm quỷ ma.

Giác đời cậy một lòng thành thật,

Trừ tuyệt tiêu điều lũ quỷ ma.

(Đạo Sử).

Tại sao có quỷma?

Quỷ ma trước bởi người ta tội nhiều.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

QUỶ MỊ

鬼 魅

Quỷ: Ma quỷ, yêu quỷ. Mị: Tà ma.

Quỷ mị là tà ma, quỷ quái.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Các con hiểu rằng, trong Tam thiên Thế giới còn có Quỷ mị chuyển kiếp ở lộn cùng các con thay, huống lựa là Thất thập nhị Ðịa nầy, sao không có cho đặng?

Thầy đã nói, bầy hổ lang, lũ quỷ mị đã sẵn bên mình của mỗi đứa, mà con lớn nhỏ gì cũng chẳng để ý đến.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

Đài sen trừ phép Ma da trước,

Con gậy khử hồ quỷ mị sau.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

QUỶ NHƠN

Hay “Quỷ nhân”.

Quỷ: Ma quỷ, yêu quỷ. Nhơn (Nhân): Người.

Quỷ nhơn, như chữ “Quỷ nhân 鬼 人”, là người của quỷ, là kẻ độc ác luôn luôn tìm cách phá khuấy hay hãm hại người tu.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Vàng thau dầu lộn phải cậy lửa trui phân. Thầy đã đến nơi cảnh tục trần nầy mà đem các con ra khỏi vòng tôi đòi xác thịt đồng thể với quỷ nhơn và hoá nhơn thì chính mình Thầy đây còn bị nhiễm nhằm trược khí thay, huống lựa là các con.

Nguyên nhân quỷ nhơn ta chung lộn,

Cơ phán xét đào độn thiêng lương.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

QUỶ QUÁI

鬼 怪

Quỷ: Ma quỷ, yêu quỷ. Quái: Yêu quái.

Quỷ quái đều thuộc loại yêu quỷ, chuyên phá hoại người, nên ta hay dùng để mắng nhiếc, nguyền rủa.

Quỷ quái còn dùng để chỉ những kẻ tinh ranh, tai ác.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo của Đức Lý Giáo Tông có dạy: Hiền hữu đã lãnh trách nhiệm nặng nề giáo hoá thì khá dạy sanh chúng biết lẽ Chánh Tà mà toan độ rỗi, còn mưu chước của Quỷ quái tinh ma là mưu của Lão để phân biệt chơn giả, vàng thau, cho phẩm giá trọng khinh.

Dầu con có tánh ham quỷ quái,

Đừng thèm phân phải trái răn trừng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

QUỶ QUYỀN

鬼 權

Quỷ: Ma quỷ, yêu quỷ. Quyền: Quyền hành.

Quỷ quyền là quyền hành của loài quỷ, đồng nghĩa với Tà quyền.

Thánh giáo Đức Quyền Giáo Tông có câu: Đường càng dài thì bước Đạo lại càng cao, mấy em may duyên gặp Đạo hoằng khai để đem lại hạnh phúc sau nầy cho kẻ chơn thành, hiếu thảo. Mấy em, anh rất buồn cho lũ quỷ quyền toan mưu phá rối làm cho thầy trò phân tán, nghĩa huynh đệ chia.

Ngày nay, Lão định trừ diệt quỷ quyền, không cho rối loạn nền Đạo mà thử thách Thiên Phong nữa.

(Bát Đạo Nghi Định).

 

 

QUỶ QUYỆT

詭 譎

Quỷ: Lừa dối. Quyệt: Xảo trá.

Quỷ quyệt là gian trá, xảo quyệt.

Trong Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Muốn chuyển theo chánh sách của Ðức Chí Tôn thì duy có lấy nhơn đức đối với hung bạo, lấy hiền đối với dữ, lấy tâm quảng đại bao la khoan dung tha thứ của Trời Ðất đối với tánh đức hẹp hòi của loài người, lấy tâm bác ái trải ra toàn tâm lý loài người đặng trừ cái tánh gian xảo, hung tàn, quỷ quyệt của họ.

Những mưu quỷ quyệt ấy do lịnh Thầy dùng để thử các con.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

QUỶ TAI

鬼 災

Quỷ: Ma quỷ, yêu quỷ. Tai: Cái hoạ nạn bất thình linh xẩy đến.

Quỷ tai là những thứ tai hoạ do yêu quỷ gây nên. Như: Ma chướng quỷ tai.

Măng trừ ma chướng quỷ tai, năng cứu khổ ách nghiệt chướng, năng độ Chúng Sanh quy ư Cực Lạc, tất đắc giải thoát.

(Di Lạc Chơn Kinh).

 

 

QUỶ TĂNG

鬼 僧

Quỷ: Ma quỷ, yêu quỷ. Tăng: Người đàn ông xuất gia tu theo đạo Phật.

Quỷ tăng là những vị sãi tu hành mà có hành vi và tâm tánh như loài quỷ.

Quỷ tăng đồng nghĩa với ác tăng.

Bớt phương giải nạn tinh ma,

Lập nên danh phận cho nhà quỷ tăng.

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 

QUỶ VỊ

鬼 位

Quỷ: Ma quỷ, yêu quỷ. Vị: Chỗ ngồi, ngôi vị.

Quỷ vị là ngôi vị của quỷ, tức là các tước vị nơi cõi quỷ, do quỷ vương phong cho.

Còn phẩm trật Quỷ vị cũng như thế ấy. Nó cũng noi chước Thiên cung mà lập thành Quỷ vị...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

QUỶ VÔ THƯỜNG

鬼 無 常

Quỷ: Ma quỷ, yêu quỷ. Vô thường: Không thường, tức là luôn luôn biến hoá.

Quỷ vô thường là một loại quỷ có hình dạng luôn luôn biến đổi.

Quỷ vô thường còn là một loài quỷ, theo truyền thuyết khi con người vừa sắp chết thì đến dẫn vong hồn xuống cõi Âm phủ cho Diêm Vương xét công hỏi tội.

Lúc chung mạng dứt hơi, hồn xuất,

Quỷ vô thường sẵn chực đem đi.

(Kinh Sám Hối).

 

 

QUỶ VƯƠNG

鬼 王

Quỷ: Ma quỷ, yêu quỷ. Vương: Vua, chúa.

Quỷ vương là chúa quỷ, tức vua các loài quỷ.

Quỷ vương đồng nghĩa với Ma vương, hay còn gọi là Kim Quang Sứ, là chúa quỷ, hoặc những gì ngăn cản các thiện căn, cản trở chánh pháp.

Thường chánh tà tương khắc, hễ Đạo khai thì tà khởi. Vì lẽ công bình, Đức Chí Tôn buộc phải để cho Quỷ vương thuộc tà để cám dỗ người tu hành sa ngã vào vòng cạm bẫy.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Ðạo tuy cao, song nên biết sức quỷ cũng chẳng hèn. Nếu không ngăn ngừa, dằn lửa nóng trong tâm thì lửa Tam muội của Quỷ vương đốt cháy.

Thà theo nẻo chánh xách đèn giùm,

Thà lạy quỷ vương nói phách um.

Chưa rõ chánh tà Trời với quỷ,

Cũng như cơm nước gói nên đùm.

(Đạo Sử).

 

 

QUỶ XÁC MA HỒN

Quỷ xác: Xác thân là quỷ. Ma hồn: Linh hồn là ma.

Quỷ xác ma hồn, cũng như “Ma hồn quỷ xác”, là nói những người sống mà linh hồn, thể xác đều là của ma quỷ, chỉ những kẻ chuyên phá hại người tu, gây oán thù trong cửa Đạo.

Thánh giáo của Đức Thái Thượng Đạo Tổ dạy: Cái Tà vì Thiên thơ sử dụng, Tà vì cơ thử thách của Tam Giáo Toà, Tà vì những quỷ xác ma hồn lẫn lộn của Quỷ vương để làm cho công phu lỡ dở.

Xem: Ma hồn quỷ xác.

Tượng trưng quỷ xác ma hồn,

Thất tình là nó giục lòng người ta.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

QUỴ LUỴ

跪 累

Hay “Quỳ luỵ”.

Quỵ (quỳ): Gập đầu gối đặt sát xuống đất. Luỵ: Chiều luỵ, ràng buộc.

Quỵ luỵ hay quỳ luỵ là chịu phục tùng, chiều lòng một người nào để cầu cạnh, van xin một việc gì.

Quỵ luỵ còn chỉ sự ràng buộc.

Đồng với nhau cả quốc dân mà quỳ lụy khẩn cầu coi Trời đoái tưởng đến chăng.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

QUYÊN

1.- Quyên là chim đỗ quyên, tức chim quốc, thường gọi vào mùa hè.

Như: Tiếng quyên gọi hè.

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du có câu: Dưới trăng quyên đã gọi hè, Đầu tường lửa lựu lập loè đâm bông.

Rừng thung nắng giọi cành phai thắm,

Bờ liễu quyên đưa tiếng gọi sầu.

(Thơ Thượng Sanh).

Con quốc quốc chưa âu đổi bạn,

Máu đỗ quyên đợi mãn kiếp sanh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Quyên là liều, bỏ.

Như: Gieo mình quyên sinh, quyên thân, quyên trần là bỏ cõi trần (chết).

Cái khổ tâm hồn ta thấy nhiều người chịu không nổi phải chịu quyên sinh, họ tưởng đau thảm của họ hễ diệt tiêu thi hài là hết, nguyên do quyên sinh là vậy.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

QUYÊN SINH

捐 生

Quyên: Liều, bỏ. Sinh: Mạng sống.

Quyên sinh là từ bỏ mạng sống của mình, tức là tự làm cho mình chết.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có đoạn: Sứ mạng! Ôi sứ mạng! Vì sứ mạng mà hai vị Tổng Trấn Võ Tánh và Ngô Tùng Châu phải tuẫn tiết nơi thành Bình Ðịnh; cụ Phan Thanh Giản phải quyên sinh tại Vĩnh Long vì thất thủ thành trì. Ðó là gương cao đẹp nhứt của những đấng anh hùng vị quốc vong thân đáng để cho muôn đời ca tụng.

Bà nghe nhục nhả trăm bề,

Quyên sinh rảnh kiếp lỗi thề ước giao.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

QUYẾN THUỘC

眷 屬

Quyến: Thân thuộc, không dùng một mình. Thuộc: Bà con trong họ.

Quyến thuộc là họ hàng thân thuộc. Như: tôi với anh ấy bà con quyến thuộc nhau.

Tông đường quyến thuộc gần xa,

Hài hoà gia đạo mới là vui tươi....

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

QUYẾN LUYẾN

眷 戀

Quyến: Yêu mến. Luyến: Vấn vương.

Quyến luyến là lòng yêu mến, quấn quít một bên, không muốn rời xa.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Đức Diêu Trì Kim Mẫu có dạy: Vậy các con cũng chẳng nên quyến luyến thế đời mà quên cựu vị nghe!

Chung đỉnh bày trò không quyến luyến,

Công danh trước mắt chả xôn xao.

(Thơ Cao Quỳnh Diêu).

 

 

QUYẾN LUYẾN HỒNG TRẦN

眷 戀 紅 塵

Quyến luyến: Lòng yêu mến, vương vấn. Hồng trần: Bụi đỏ, chỉ cõi thế gian.

Quyến luyến hồng trần là yêu thích, không muốn rời bỏ cõi trần.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Thầy có dạy: Nếu các con biết Ðạo thì hiệp nhau về Toà Thánh mà chung lo cho xong, đừng quyến luyến hồng trần nữa.

Chớ nên quyến luyến hồng trần,

Chớ nên tham phú phụ bần rẽ hai.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Chớ nên quyến luyến hồng trần,

Mau mau thức tỉnh tu thân vẹn tuyền.

(Thơ Bảo Pháp).

 

 

QUYẾN RŨ

Quyến: Đoái thương, dụ dỗ. Rũ: Nhủ bảo, khuyên dỗ, rủ rê.

Quyến rũ là rù quến, dụ dỗ, tức là lấy tiền tài hay sắc đẹp làm cho người ta mê mẩn mà nghe theo, đi theo.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có dạy: Phẩm tước là sự tổng hợp các chức tước đã bày ra để quyến rũ người hoặc ít hoặc nhiều. Những chức tước ấy do người đời tạo ra phong thưởng kẻ khác.

Cửa Đạo lặng trang lời quyến rũ,

Mùi thiền bắt bén thú tương dưa.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

QUYỀN

Quyền là thế lực định đoạt được mọi việc, sai khiến được mọi người. Như: Quyền thu, quyền phát, lộng quyền, quyền cao chức trọng.

Thánh giáo Thầy giáng cơ bằng pháp văn được Hội Thánh dịch ra Việt ngữ có đoạn: Chỉ có xứ Việt Nam còn duy trì được sự tôn sùng tổ phụ theo tục lệ cổ truyền, mặc dầu xứ ấy chỉ biết chịu ở dưới quyền lệ thuộc từ ngày tạo lập đến giờ. Ý Thầy muốn nó được giữ nguyên thể như vậy mãi.

Muôn kiếp có ta nắm chủ quyền,

Vui lòng tu niệm hưởng ân Thiên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Hoá sanh có một Ðấng cầm quyền,

Khỏi đoạ là mình biết trọng kiêng.

(Đạo Sử).

 

 

QUYỀN BIẾN

權 變

Quyền: Những hành động dùng lúc gặp sự cố, nhưng phải hợp đạo lý. Biến: Thay đổi, những việc khác thường xảy đến.

Quyền biến là tuỳ theo việc thay đổi như thế nào mà hành động cho hợp đạo lý.

Ví như có người chị dâu rơi xuống sông sắp chìm, mình là em chồng nhảy xuống vớt lên. Theo lễ nghĩa thì em chồng không phép đụng vào người chị dâu, nhưng vì có biến nên phải hành động như vậy, đó gọi là quyền biến.

Quyền biến dầu mình khi buổi ngặt,

Dằn lòng chớ tránh kế mưu gian.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Khuyên bền lòng tùng thế tuỳ thời,

Phải quyền biến với đời gầy sự nghiệp.

(Phương Tu Đại Đạo).

Quyền biến là khi gặp khó khăn,

Phải nhờ giải pháp tạm cho rằng.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

QUYỀN BỈNH CHÁNH

權 柄 政

Hay “Quyền bỉnh”.

Quyền: Quyền hành, thế lực. Bỉnh (bính): Cái cán. Chánh (chính): Chánh trị, hành chánh.

Muốn nắm bất cứ vật gì, ta phải cầm lấy cán của vật đó. Giữ uy quyền cũng như nắm cán của đồ vật, gọi là “Quyền bỉnh”.

Quyền bỉnh chánh 權 柄 政 là nắm tất cả quyền hành cai trị trong nước.

Thánh giáo Thái Thượng Đạo Tổ có dạy: Xưa Hớn Bái Công chưa phải là chánh đáng một vị minh quân, mà cơ Trời vẫn để cho nghiệp Hớn ba trăm năm quyền bỉnh.

Đã có sẵn một quyền bỉnh chánh,

Cứ phận mình lại nạnh chi ai.

(Ngũ Nương Giáng Bút).

 

 

QUYỀN CAO

權 高

Quyền: Quyền hành, tức có thế lực để định đoạt được mọi việc. Cao: Trên cao.

Quyền cao, như chữ “Cao quyền 高 權”, là quyền hành to lớn.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Đức Thượng Phẩm có dạy: Chư hiền hữu khá nhớ: Đạo cần phải có đức mà lập nên, đức trọng thì ắt có quyền cao, đó là sở định của Chí Tôn, còn những người ham quyền quên đức thì không thể hưởng đặng hạnh phúc tương lai.

Quyền cao Ngự Mã là vinh bấy,

Phận mỏng Hiệp Thiên biết giữ còn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

QUYỀN CAO CHỨC TRỌNG

Hay “Quyền cao tước trọng”.

Quyền cao: Quyền hành lớn. Chức (tước) trọng: Chức tước quan trọng.

Quyền cao chức trọng hay Quyền cao tước trọng, bởi câu “Trọng chức cao quyền 重 職 高 權”, tức là người làm quan nắm chức vụ trọng yếu và có uy quyền to lớn.

Thánh giáo Lý Giáo Tông trong Thánh Ngôn Sưu Tập có câu: Lão khen nhiều người chẳng kể quyền cao tước trọng, phế trọn sự đời mà hành đạo, nhứt là người đương thời dưới quyền Chánh phủ, như hai cột Đạo là Tương và Trang, kế nữa người đại công là Hoá.

Ðừng cậy thế quyền cao chức trọng,

Ðừng ỷ giàu kiệu lộng nghinh ngang.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

QUYỀN CÔNG CHÁNH

Quyền: Quyền hành, tức có thế lực để định đoạt được mọi việc. Công chánh: Công bình chánh trực.

Quyền công chánh có nghĩa là lấy cái công bình chánh trực để thực hiện cái quyền.

Đức Chí Tôn mở Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ tức là đạo Cao Đài là mục đích lấy bốn chữ “Bác ái, Công bình” làm tiêu chuẩn cho Luật và Quyền trong việc phổ độ nhơn sanh. Điều nầy được thể hiện trên hình Tam Thánh ký Hoà ước trước Đền Thánh để công bố cho toàn nhơn loại.

Luật là Thương yêu (Bác ái).

Quyền là Công chánh (Công bình).

Chính Đức Hộ Pháp trong Thuyết Đạo tại Đền Thánh đêm 8 tháng giêng năm Kỷ Sửu (1949) có đoạn: Đức Chí Tôn Ngài đến do tay Ngài ký một hoà ước với một sắc dân nô lệ, sắc dân hèn mọn, đặng Ngài nài nỉ xin cho đặng hai điều trọng yếu làm cho nhơn loại đặng sống tồn tại là luật thương yêu và quyền công chánh.

Chúng ta thử tìm hiểu xem tại sao chỉ cần giữ “Luật Thương yêu và quyền Công chánh” tức là hành xử trọng vẹn được “Bác ái, Công bình” thì đủ trở về ngôi xưa vị cũ.

Công bình là ngay thẳng, không thiên lệch. Vậy công bình là một yếu tố vô cùng quan trọng trong việc kiến tạo một xã hội công bằng thịnh vượng. Nếu công bình được thì hành một cách đứng đắn thì quyền lợi trang trải đồng đều, sự thưởng phạt sẽ phân minh, không chênh lệch.

Đó là sự công bình ở thế gian. Còn về mặt thiêng liêng thì có luật nhân quả hay luật báo ứng để làm cân thưởng phạt. Theo luật nhân quả nầy nguyên nhân thế nào thì kết quả thế ấy, tức ai tạo nhân lành sẽ được hưởng quả lành, ai tạo nhân dữ ắt sẽ rước lấy quả dữ. Những việc xảy ra cho chúng ta trong kiếp sống nầy vốn là cái quả do cái nhân của chúng ta tạo ra từ kiếp nầy hoặc kiếp trước.

Vậy tình thương yêu và sự công bình là hai điểm quan trọng nhứt của Đại Đạo. Có lòng thương yêu chơn thành thì mới thực hiện được chữ “Nhơn”, vì nhơn vốn là một đức bao gồm mọi hạnh lành. Còn giữ phép công bình, lòng chánh trực mới đáng là người có “Nghĩa”. Như vậy, nhơn và nghĩa luôn luôn đi đối với nhau, không thể thiếu sót được. Chính trong sách Giáo Lý, Ngài Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có viết: Nếu có Nhân mà không có “Nghĩa” thì Đạo đức thiếu hình thức; còn như có “Nghĩa” mà không có Nhân thì Đạo đức thiếu tinh thần.

Luật thương yêu quyềncông chánh,

Gần thiện căn xa lánh phàm tâm.

(Thơ Hộ Pháp Dịch).

 

 

QUYỀN GIAN

權 奸

Quyền: Quyền hành. Gian: Gian manh, gian trá.

Quyền gian là quyền hành gian manh.

Quyền gian còn dùng để chỉ những người bề tôi có quyền thế nhưng gian manh, hay làm bậy, không ngay thẳng, chỉ bọn gian thần.

Nương quyền gian dưỡng trung trừ,

Nát nhà hại Đạo bấy chừ mới an.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

QUYỀN GIÁO TÔNG

Quyền Giáo Tông chỉ Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt được Đức Lý Giáo Tông ban cho Quyền Giáo Tông hữu hình tại thế.

Theo Cao Đài Toà Thánh Tây Ninh, Giáo Tông do Đức Lý Đại Tiên cầm quyền, đến ngày 3 tháng 10 năm Canh Ngọ (Dl. 22-11-1930) Đức Lý Giáo Tông giáng cơ hiệp cùng Hộ Pháp Phạm Công Tắc ban quyền Giáo Tông hữu hình cho Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt bằng Đạo Nghị thứ hai, còn quyền Giáo Tông vô vi vẫn do Đức Lý Đại Tiên nắm giữ.

Đến ngày 13 tháng 10 năm Giáp Tuất (Dl. 19/11/1934), Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung đăng Tiên, Đức Lý Thái Bạch đem nửa quyền hành Giáo Tông hữu hình giao lại cho Đức Hộ Pháp, lúc ấy Đức Hộ Pháp được gọi là Chưởng quản nhị hữu hình đài: Hiệp Thiên và Cửu Trùng.

Đức Hộ Pháp ngậm ngùi quá lẽ,

Quyền Giáo Tông buồn xé tâm can.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

QUYỀN GIÁO TÔNG DÀY CÔNG KHAI ĐẠO

Quyền Giáo Tông dày công khai Đạo là ý muốn nói công nghiệp khai Đạo Cao Đài của Đức Quyền Giáo Tông rất to lớn.

Theo Đạo Sử, ngày 23 tháng 11 năm Ất Sửu (Dl. 7/1/1926), các ông Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, theo lịnh Đức Chí Tôn đem Đại Ngọc cơ đến nhà ông Lee Vawn Trung để Chí Tôn giáng đàn dạy việc. Trong đàn này, Ngài được Đức Thượng Đế dạy phải hiệp cùng hai ông Phạm Công Tắc và Cao Quỳnh Cư lo việc mở đạo.

Từ đó, Ngài Trung là một trong số các môn đồ tích cực đi truyền đạo khắp các tỉnh Nam Kỳ. Chính vì vậy, đêm 12 tháng 3 năm Bính Dần (Dl. 23/4/1926), Ngài được Đức Chí Tôn phong làm Thượng Đầu Sư, với Thánh danh là Thượng Trung Nhựt, cùng lượt với Đầu Sư Ngọc Lịch Nguyệt..

Ngài 3 tháng 10 năm Canh Ngọ (Dl. 22/11/1930), Đức Lý Giáo Tông giáng cơ cùng với Đức Hộ Pháp ban cho Ngài Quyền Giáo Tông hữu hình, trong Đạo Nghị Định thứ nhì.

Xem: Lê Văn Trung.

Bước đường của Ngài Lê Văn Trung ở ngoài xã hội trong khoảng 32 năm được hanh thông chừng nào, thì 9 năm trong đường Đạo lại càng mắc phải nhiều khổ hạnh chừng nấy.

Cuộc đời hành đạo của Ngài rất gian nan vất vả, lớp thì Ngài thay mặt Đạo lo đối phó với chánh quyền Pháp lúc bấy giờ đang khủng bố Đạo, lớp thì Ngài bị một số ít chức sắc Thiên phong sanh lòng đố kỵ mà tìm đủ cách công kích và buộc tội Ngài. Họ thiết lập Hội Vạn linh để tố giác Ngài, và viết tờ Châu tri để mạ lỵ, xúi giục tín đồ lầm lạc đem nhiều việc phi lý kiện Ngài nơi Toà án tỉnh Tây Ninh, đồng thời vu cáo Ngài làm cách mạng chống chánh quyền Pháp.

Không một ngày nào mà Đức Quyền Giáo Tông chẳng bị các viên thẩm phán Toà án đòi ra hỏi cung. Trước những cảnh bị khủng bố của chánh quyền, và những nguy nan do người trong nội bộ gây ra, Ngài vẫn điềm tỉnh như chẳng có việc gì xảy ra. Chính bản tính nầy của Ngài được ông Diệp Văn Kỳ, một ký giả thời bấy giờ cho biết như sau: “Cái người của ông, bình sanh, bất kỳ là đối với việc gì, cảnh ngộ nào, ông cũng ung dung, hoà nhã; nói chậm rải mới nghe qua như tuồng thơ ơ, mà xét kỹ lại, thì thâm trầm, ý vị”.

Chính nhờ tính ôn hoà, khoan nhượng đó, cuối cùng các vụ thưa kiện Ngài ở Toà Án tỉnh Tây Ninh không có gì nặng, họ chỉ kết tội Ngài: Để cho công quả đánh xe bò ban đêm không thắp đèn hiệu, bò thiếu dây buộc ách, chịu trách nhiệm về 34 người Đạo thiếu thuế, và phạt Ngài ba ngày tù giam.

Sau đó, Ngài ăn mặc chỉnh tề, ngực đeo Bắc Đẩu Bội Tinh, rồi khăn gói theo sai nha vào tù, nhằm lúc lễ khai hạ, tức mùng 7 tết năm Giáp Tuất (1934) trước lễ vía Đức Chí Tôn hai ngày. Ngài ngồi khám đường Tây Ninh hai ngày rưỡi mới được thả về.

Qua lễ vía Đức Chí Tôn và rằm Thượng nguơn vừa xong, thì Ngài liền viết một bức thư đề ngày 19 tháng 1 năm Giáp Tuất (Dl. 4/3/1934) gởi cho Chánh phủ Pháp xin giao trả Bắc Đẩu Bội Tinh lại.

Bức thư đó được viết bằng chữ Pháp, có nhiều câu ý vị sâu xa trong việc hoàn trả Bắc Đẩu Bội Tinh, chúng tôi xin trích lục một đoạn cuối của bài dịch bức thư như sau:

“Mới đây, ngày 22 tháng 2 vừa qua, bởi 34 người đồng đạo của tôi thiếu thuế nhà nước, mà tôi bị bắt bỏ tù, lý do hoàn toàn giả dối.

Cái Bắc Đẩu Bội Tinh của tôi, ở vào năm bình minh của tuổi 60, đã bị ném vào tù, tuyệt đối không có một hình thức nào được quy định bởi pháp luật, được tuân thủ.

Tôi bị giam 2 ngày rưỡi trong một phòng giam nhỏ tại khám đường Tây Ninh với cái huy chương đeo trên mình và cái thẻ Bắc Đẩu Bội Tinh.

Như thế, dưới con mắt nhà cầm quyền thuộc địa, cái Bắc Đẩu Bội Tinh chẳng có nghĩa lý gì cả, một sự ô nhục có thể đạt tới.

Tất cả lầm lỗi đó, phải chẳng do nước Pháp không nên trao cái dấu hiệu danh dự ấy cho một người bổn xứ khốn khổ?

Tôi thực hiện cái cử chỉ ấy với sự luyến tiếc cay đắng, nhưng tôi không thích mang cái huy chương ấy nữa, vì nó bị nhà cầm quyền thuộc địa không một chút tôn trọng, và nó cũng không trở thành một bằng chứng rõ ràng của lòng ái mộ của tôi đối với nước Pháp.

Tuy nhiên, tin tưởng vào công lý của nước Pháp hiền hoà và độ lượng mà tôi hằng yêu mến, tôi sẽ theo đuổi đến cùng phận sự của tôi, không hờn giận, không hận thù, hy vọng một ngày nào đó, họ sẽ biết rõ những lầm lỗi đã vấp phạm và trả lại công lý cho một tôn giáo mà nó không có ý muốn nào khác hơn là đem lại cho thế giới một nền hoà bình và hoà hợp”.

Đến ngày 13 tháng 10 năm Giáp Tuất (Dl. 19/11/1934), Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung lâm bịnh và nhẹ nhàng đăng Tiên tại Giáo Tông Đường, lúc 3 giờ chiều, hưởng 59 tuổi.

Nói về công nghiệp của Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung, chúng tôi xin mượn một đoạn văn của ký giả Diệp Văn Kỳ, một người ngoài tôn giáo Cao Đài để kết luận như sau:

“Ai là người đã nghĩ rằng ông Lê Văn Trung chẳng hề làm được điều chi đáng cho ta chú ý, thì hiện nay chắc họ cũng ăn năn, nhận sự lầm lỗi của họ.

Ông Lễ Văn Trung đã làm được cái gì?

Điều đó chưa biết. Chúng tôi chỉ biết rằng từ hôm ông chết đến nay, ở Toà Thánh Cao Đài Tây Ninh, số người mỗi ngày đến chịu tang, lấy muôn mà kể. Già trẻ, bé lớn, đàn ông đàn bà ở Lục tỉnh, ở Nam vang, ở Lèo, thảy đều thương tiếc, khóc than, chẳng khác nào con mất cha mẹ. Nếu như có thể lấy những “chuôn” vải trắng bịt trên đầu để làm thước đặng đo sự nghiệp, công đức của người quá vãng, thì ta có thể nói rằng Sự nghiệp và Công đức của ông Lê Văn Trung là lớn nhứt ở Nam Kỳ nầy vậy”.

Đức Quyền Giáo Tông dày công Khai Đạo,

Chí trung thành hoà hảo từ bi.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

QUYỀN HÀNH

Quyền: Thế lực có thể định đoạt được công việc. Hành: Làm, thi hành.

Quyền hành là quyền có thể thi hành được nhiều công việc.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Thầy đã giao cho mỗi đứa một quyền hành, thì Thầy cũng tưởng rằng các con biết trọng phẩm giá thiêng liêng mà bớt tánh phàm chút ít, nào dè nhiều đứa lại coi thế trọng hơn Thầy, coi Thầy dường như kẻ vô hình vô ảnh.

Quyền hành từ đấy về tay nắm,

Phải sửa cho nên đáng thế thì.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Rộng đức tánh quyền hành ắt rộng,

Ðừng quen thói tục mượn oai hùm.

(Đạo Sử).

Trường công đã vững tuyển hiền tài,

Thống nhứt quyền hành ở một tay.

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 

QUYỀN HÀNH ĐẠO ĐỨC

Quyền là những điều do địa vị hay chức vụ mà được phép làm, nhưng hầu như mọi người lại thích làm quá quyền hạn để tạo cho mình một thế lực khiến cho mọi người phải kính sợ, phục tùng theo.

Trong quyển Đạo Sử Xây Bàn của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, có bài thi của Đức Lý Giáo Tông như sau:

Hơn người chẳng phải dụng mưu hay,

Ðức phục nhơn tâm mới thiệt tài.

Thuận dưới hoà trên nhà sắp đặt,

Ðạo mầu đừng vội trễ nay mai.

Ngài dạy phải lấy cái đạo đức ra tạo lập quyền hành để chinh phục lòng người.

Chính Mạnh Tử cũng đã từng nói: Dĩ lực phục nhân giả, phi tâm phục dã, lực bất thiệm dã, dĩ đức phục nhân giả, trung tâm duyệt nhi thành phục dã 以 力 復 人 者, 非 心 復 也, 力 不 贍 也. 以 德 復 人 者, 中 心 悅 而 誠 復 也, nghĩa là lấy sức mạnh phục người, không phải là tâm phục, vì người ta sức yếu hơn; lấy đức phục người, trong lòng người ta vui vẻ mà thành thật phục vậy.

Điều Đức Mạnh Tử nói, ta có thể chứng minh bằng sự tích như sau: Khổng Minh, Gia Cát Lượng đem binh đánh Mạnh Hoạch, là tù trưởng Nam man, không chịu phục nhà Thục Hán. Ông muốn lấy “Đức phục nhơn tâm” nên bảy lần bắt được Mạnh Hoạch, bảy lần đều tha. Cuối cùng, Mạnh Hoạch không phải phục vì sức mạnh của nhà Hán (bắt bảy lần), mà phục cái đức của Khổng Minh (tha bảy lần). Chính Mạnh Hoạch đã nói: Oai đức của Thừa tướng, người Nam man chúng tôi không dám làm phản nữa.

Như vậy, sức mạnh của võ lực tạo lập nên quyền hành không bền vững, vì một khi sức mạnh yếu đi thì quyền hành cũng mất theo. Quyền hành chỉ bền vững khi nó được sự tâm phục của mọi người, tức xây dựng trên tình thương, đạo đức. Chúng ta xét về quyền hành Đời và quyền hành Đạo.

Quyền Đời:

Ngày xưa, các vị vua chúa gây dựng sự nghiệp cho mình thường theo hai cách Vương và Bá, gọi là “Định Bá đồ Vương”.

Trong bài Kinh Tụng Khi Vua Thăng Hà có câu:

Sống thì định bá đồ vương,

Quy Thiên dựng lại miếu đường thuở xưa.

Định Bá là sắp đặt, lo tính gây dựng nghiệp bá, tức là đánh dẹp và thần phục các nước chư hầu để làm bá chủ.

Nghiệp bá thì dùng bá đạo để trị nước. Bá đạo trọng về hình pháp, binh quyền, tín thuật. Trong thời Xuân Thu đã có năm vị vua dùng bá đạo mà hùng cường một thời, làm minh chủ các nước chư hầu khác, gọi là ngũ bá: Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, Tần Mục Công, Tống Tương Công,và Sở Trang Vương. Những vị vua này không phải là bậc tài đức cao, mà chỉ nhờ biết tin dùng người hiền, có chính sách khéo léo làm cho dân giàu, binh mạnh và làm chủ được những chư hầu khác.

Còn đồ vương là mưu tính tạo dựng nghiệp vương, tức dùng vương đạo để trị nước. Vương đạo áp dụng chính sách nhân trị, nghĩa là dùng đức nhân mà trị dân, dùng lễ nghĩa để giáo hoá dân, đó là sự nghiệp của bậc vương giả. Bậc vương giả là người có đạo đức hoàn toàn, lấy điều công chính nhân nghĩa mà trị thiên hạ.

Chính Mạnh Tử đã định nghĩa nghiệp vương bá như sau: Dĩ lực giả nhân giả bá; bá tất hữu đại quốc. Dĩ đức hành nhân giả vương; vương bất đãi đại 以 力 假 仁 者 霸, 霸 必 有 大 國. 以 德 行 仁 者 王, 王 不 待 大 nghĩa là người dùng sức mạnh mà mượn tiếng làm điều nhân, là bá; người làm bá tất phải có nước lớn. Người lấy đức làm điều nhân là vương; người làm vương không đợi có nước lớn.

Tóm lại nghiệp Vương, Bá của thời xưa cũng thể hiện hai loại quyền: Quyền hành được xây dựng trên nhơn nghĩa, đạo đức và quyền hành được tạo lập bởi sức mạnh binh quyền.

Quyền Đạo:

Quyền Đạo là quyền thi hành luật hay nền hành chánh trong tôn giáo.

Như ta biết, tôn giáo là đoàn thể gồm những người có một tín ngưỡng về vô vi, tức tin rằng nếu bỏ những cái giả ở cõi thế gian là danh, lợi, quyền để trau giồi tâm đức thì sau sẽ có cuộc sống vĩnh viễn nơi cõi Thiêng Liêng.

Như vậy, trong tôn giáo phải “Dụng đức hơn dụng quyền”, tức là dùng cái nhơn nghĩa, đạo đức ra dạy và dẫn dắt chư tín đồ. Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: Ðạo một ngày một nên, bước đường của các con một ngày một thêm trở gay khó nhọc, nhưng nếu các con chẳng dụng quyền hơn dụng đức, biết thương sanh chúng hơn thân mình, vì Ðạo hơn vì danh vọng theo thói đời, thì các con thế nào cũng được vững con đường mà đi cho cùng bước Ðạo.

Nếu người ta dùng quyền hơn dùng đức thì cái quyền hành xua hết cái đức của mình đi như lời Đức Chí Tôn đã dạy: Thầy nhớ xưa, kẻ mộ Ðạo chịu ngàn cay muôn đắng, biết có người mà chẳng biết nhọc mình, giày gai áo bã, đội nguyệt mang sao, gió trước lọt chòi tranh, mưa sau hư giậu lá, bần hàn chẳng quản, tay trắng dìu người, một mảy không bợn nhơ, mới có thể lập ngôi cho mình đặng; có đâu lấy của lấn nhân, mượn “Quyền xua đức”, kẻ chân thành lánh mặt, đứa tà mị áp vào, rồi cúm núm mang hơi tà, lại đua nói rằng thờ Chánh giáo.

Kết luận, người cai trị Đời hay Đạo phải lấy “Đức lập quyền”, tức là dùng cái đạo đức cao thượng để lập nên quyền hành.

Phần nhiều người cầm giềng mối chính trị hay biết về quyền hành chớ không muốn biết đến đạo đức.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

QUYỀN LẬP ĐỨC

權 立 德

Quyền: Thế lực có thể định đoạt được công việc. Lập: Gầy nên. Đức: Cái hạnh tốt đẹp thuần tuý, hợp với đạo lý có sở đắc ở tâm.

Quyền lập đức là lấy cái quyền hành ra làm nên cái đạo đức của mình.

Như ta biết, người làm quan hay lãnh đạo tôn giáo phải lấy đạo đức lập nên quyền hành, tức lấy nhơn nghĩa ra thi hành cho bá tánh, chúng sanh.

Còn quyền lập đức tức là lấy quyền hành để làm thành cái đạo đức, có nghĩa là dụng cái uy lực để phục người thì cái quyền đó không bền vững, vì nó làm hại nhân dân, khiến nhân gian thống khổ.

Xem: Đức lập quyền.

Đức lập Quyền, dân được châu toàn,

Quyền lập Đức, nhơn gian thống khổ.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

QUYỀN LỢI

權 利

Quyền: Thế lực có thể định được việc nầy việc khác. Lợi: Ích riêng cho mình.

Quyền lợi là quyền hành và lợi lộc, tức cái sức của mỗi người có thể khiến người khác thừa nhận những hành vi hợp pháp của mình là chính đáng. Như: Quyền lợi và nghĩa vụ công dân.

Thánh giáo Đức Chí Tôn bằng Pháp văn, được Hội Thánh dịch ra Việt ngữ có câu: Giáo lý của Thầy có mục đích dạy dỗ các con hoà hợp nhau trong sự sống chung cộng đồng quyền lợi và sinh hoạt.

Nào là phép giựt giành quyền lợi,

Nào là phương chuộng quới cầu vinh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Nhờ Ngài lập đại kỳ công,

Làm cho quyền lợi non sông dồi dào.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

QUYỀN LỰC

權 力

Quyền: Thế lực có thể định được việc nầy việc khác. Lực: Sức, sức mạnh.

Quyền lực là có oai quyền, có sức mạnh. Như: Nắm quyền lực trong tay.

Trong quyển Đạo Sử Xây Bàn, Thầy nói rõ: Quyền Chí Tôn là Thầy, Quyền Vạn Linh là sanh chúng, ngày nào quyền lực Chí Tôn đặng hiệp một cùng Vạn Linh thì Ðạo mới ra thiệt tướng.

Dầu anh quyền lực thế nào,

Cũng không tránh khỏi đường vào Diêm Vương.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

QUYỀN LỰC THIÊNG LIÊNG VÀ TỰ LỰC

Quyền lực thiêng liêng: Nhờ quyền lực của các Đấng cứu giúp, đồng nghĩa “Tha lực”. Tự lực: Sức của mình.

Quyền lực thiêng liêng và Tự lực ý muốn nói “Tha lực và Tự lực”.

Con người được Tạo hoá sinh ra, có tánh linh hơn muôn vật, biết suy nghĩ, lại có sức mạnh tinh thần quật khởi, có ý chí cang cường, muốn vươn lên để tìm cách tự cứu mình thoát khỏi sự chế ngự của thiên nhiên, nhất là ngày nay trước sự tiến bộ của Khoa học đã giúp loài người trong nhiều lãnh vực thoát khỏi tai hoạ do thiên nhiên gây ra. Đó là do bản năng sinh tồn dựa vào Tự lực để an thân.

Đằng khác, đứng trước thiên tai địch hoạ, đứng trước sức mạnh của thiên nhiên, loài người tự cảm thấy mình nhỏ nhoi yếu đuối, sợ bị tiêu diệt, nên mới phải thần phục sức mạnh của Thần linh và đó dựa vào quyền lực thiêng liêng (Tha lực) để được tồn tại.

Đó là hai quan niệm dựa vào Tự lực và Tha lực để được sống còn trong xã hội. Còn trong tôn giáo, muốn được giải thoát khỏi kiếp luân hồi nơi trần lao giả tạm này để về với ngôi xưa vị cũ, thì người tu hành cũng phải nhờ vào hai nguồn lực: Tự lực và Tha lực.

Phật thừa nhận chúng sinh nào cũng có Phật tánh và có khả năng thành Phật, do đó phải tìm cách phát huy năng lực sẵn có của mình, tức dựa vào Tự lực, một năng lực của chính mình để đạt đến Phật tánh. Chủ trương của Thiền tông là “trực chỉ nhân tâm Kiến tánh thành Phật”, nghĩa là tự mình gắng sức để được giác ngộ.

Trái với Tự lực, là Tha lực, tức “Quyền lực thiêng liêng”, là sức mạnh từ bên ngoài, hay nương vào sức thiêng liêng của các Đấng để trợ giúp. Phái nầy quan niệm rằng: Các vị Bồ tát đã sẵn có lòng Từ bi và lập đại nguyện cứu độ chúng sinh, nếu chưa độ tận chúng sinh thoát vòng khổ đau sinh tử, thì các Ngài quyết không thành Phật, cho nên Phái Tịnh Tông chủ trương phải nhờ ở lòng tin và niệm Phật A Di Đà, niệm đến chỗ nhứt tâm bất loạn, thì khi lâm chung được nguyện lực đó tiếp dẫn về Tây Phương Cực lạc. Ngoài ra, những người chú trọng vào tha lực, cũng tin tưởng ở sức mạnh hộ trì của chư Phật và các Đấng Thiêng liêng khác trong mười phương.

Trong Tôn giáo Cao Đài, như chúng ta biết Đức Chí Tôn giáng huyền cơ khai sáng nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ và Ân Xá kỳ ba cho toàn thể chúng sanh để được dễ dàng lập vị. Người tín đồ hầu hết là tin tưởng vào quyền năng thiêng liêng của Đức Thượng Đế, Ngài là Đấng Chủ Tể Càn Khôn Thế Giới, và là Giáo chủ Đạo Cao Đài cũng là Cha và Thầy của vạn linh, Ngài mở đạo để chỉ đường dẫn nẻo cho toàn thể chúng sanh được trở về hội nhập cùng Ngài.

Trong Thánh giáo Đức Chí Tôn hằng nhắc nhở các đệ tử rằng: “Nếu các con không tự lập ở cõi thế này, là cái đời tạm của các con, thì Thầy cũng không bồng ẵm các con mà đỡ lên cho đặng”.

Như vậy, Ngài mặc nhiên xác nhận người tín đồ Cao Đài phải nhờ ơn cứu rỗi của Ngài và chư Thần, Thánh, Tiên, Phật nhưng bản thân mình cũng phải Tự lực hầu khắc phục mọi xấu xa, lập nhiều công quả để Ngài dẫn dắt về thiêng liêng vị.

Trong Kinh “Cầu Hồn Khi Hấp Hối” có đoạn dạy:

Dầu trọn kiếp sống không nên Đạo,

Dầu oan gia tội báo buộc ràng.

Chí Tôn xá tội giải oan,

Thánh, Thần, Tiên, Phật, cứu nàn độ vong.

Đại ý đoạn kinh có nghĩa là: “Dầu cho lúc sống không trọn vẹn người đạo đức, không giữ tròn nhơn luân, không vẹn đạo tu hành, hoặc dầu cho oan gia hay quả báo do tội lỗi gây ra lúc trước đeo theo ràng buộc, thì vẫn cứ cầu xin Đức Chí Tôn xá hết những tội lỗi, cởi bỏ hết các mối oan nghiệt và chư Thần, Thánh, Tiên, Phật cứu giúp các tai nạn, tế độ vong hồn cho được siêu thoát.

Nội dung đoạn kinh trên cho ta thấy một người làm lỗi đến phút cuối cùng (lúc hấp hối) mới ăn năn, sám hối và cầu đảo thì Đức Chí Tôn và chư Thần, Thánh Tiên Phật sẽ tha thứ tội tình mà cứu độ cho.

Sở dĩ được như vậy, là nhờ chúng sanh được may duyên gặp thời Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn khai nền Đại Đạo, mở ra một thời kỳ Đại khai Ân Xá cho vạn linh và đóng Địa ngục mở từng Thiên, là để các Chơn linh có tội lỗi, nếu biết tu sửa, ăn năn sám hối thì được Chí Tôn tha thứ tội tình mà trở về ngôi cũ, còn các tội hồn không chịu cải quá thì phải ở lại cõi Âm Quang chờ ngày học đạo để được siêu thăng thoát hoá.

Chính Thánh giáo Bát Nương Diêu Trì Cung có dạy như sau: “Nói cho cùng, nếu trọn kiếp, dầu gây lắm tội tình, mà phút chót biết ăn năn tự hối, cầu khẩn Chí Tôn độ rỗi thì cũng lánh xa cửa Âm quang...

Nếu nói như vậy, chỉ cần phút lâm chung cầu nguyện Đức Chí Tôn, nương nhờ vào quyền năng Thượng Đế là xong. Cần gì lúc sanh tiền phải lo bồi công lập đức, hay tưởng Trời niệm Phật!

Chúng ta cần phải nghĩ một điều: Có được một lời cầu nguyện lúc lâm chung toàn là nhờ lúc bình thường chí tâm tưởng niệm Chí Tôn để tạo duyên phần cho phút cuối. Nếu không, bệnh tật hôn mê, đau đớn bức bách làm cho tâm thần mê loạn, hoặc bị nghiệp lực lôi kéo, nhiễu loạn tâm thần. Lúc bấy giờ muốn ăn năn tự hối, hướng niệm Chí Tôn cũng không xong.

Vì vậy, lúc bình thời chúng ta tu trì, tạo phước chính là dự bị cho lúc lâm chung để mang theo làm hành trang thiện quả trong phút trở về quê xưa vị cũ.

Qua ý nghĩa đoạn kinh trên, chúng ta thấy nương nhờ quyền thiêng liêng cũng cần đến sức của chính mình, có nghĩa là muốn cầu Tha lực, thì cũng cần có Tự lực, Tự lực là điều kiện cần thiết cho việc tu, có quyết tâm, cố gắng mới mong đạt thành.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Thánh giáo Thầy có nhắc lại: “Ấy vậy, cái vấn đề tự lập là vấn đề các con phải lo đó. Thầy vì công lý mà khai đạo cho các con, cũng là một phúc hạnh lớn cho các con. Nếu Thầy còn đưa tay bồng ẵm thì các con chẳng còn để ý chịu nhọc vì Ðạo”.

Tóm lại, chúng sanh đều có thiên tánh, nên sự phân biệt Tự lực và Tha lực cũng chỉ là phương tiện trong việc tu tập mà thôi. Con đường Tha lực cũng cần đến Tự lực như lời Thuyết Đạo của Đức Thượng Sanh sau đây đã nói:

“Sự giải thoát cho ta, ta phải tự lo lấy, không có quyền lực Thiêng liêng nào giúp sức cho ta. Cũng như một chiến sĩ xông pha ngoài tiền tuyến, ta phải tự lực tự cường mới có thể chống ngăn kẻ địch. Ta còn hay mất đều do nơi sức ta, không ai chen vào phụ giúp ta được”.

Sự giải thoát cho ta, ta phải tự lo lấy, không có quyền lực Thiêng liêng nào giúp sức cho ta, Cũng như một chiến sĩ xông pha ngoài tiền tuyến, ta phải tự lực tự cường mới có thể chống ngăn kẻ địch.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

QUYỀN MÔN

權 門

Quyền: Thế lực có thể định được việc nầy việc khác, hay chỉ quan lại. Môn: Cửa.

Quyền môn là cửa quyền, dùng để chỉ nơi làm việc của các quan lại.

Chốn quyền môn chỉ giới quan lại cầm quyền cai trị dân chúng.

Cửa Thánh miếu hỡi còn thiếu gái,

Chốn quyền môn nữ lại vẫn không.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

QUYỀN NĂNG

權 能

Quyền: Thế lực có thể định được việc nầy việc khác. Năng: Năng lực.

Quyền năng là có quyền hành đến mức độ nào đó.

Trong một đàn cơ cho ông Marcel Martin, một người Pháp ở Saigon, Đức Chí Tôn có dạy: Con cần phải về Pháp trong năm 1928 để binh vực Giáo lý của Thầy tại Hội Nghị Ðại Ðồng Tôn giáo. Con sẽ trọng đại và đủ quyền năng do Thiên ý.

Quyền năng dâng thửa Thiên Triều,

Càn Khôn Thế Giái dắt dìu Tinh Quân.

(Lý Bạch Giáng Bút).

Khá nên làm việc cẩn lời,

Nên chăng cũng có cơ Trời quyền năng.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

QUYỀN QUÝ

權 貴

Quyền: Thế lực có thể định được việc nầy việc khác. Quý: Sang, báu.

Quyền quý là kẻ quý nhơn có quyền thế, tức là người có quyền hành và sang trọng.

Như: Anh ta là con nhà quyền quý nhứt trong làng.

Lửa hương đã bén công Như Tử,

Quyền quý thêm xuê phận Khổng Trình.

(Bát Nương Giáng Bút).

Múa men mặc sức trang quyền quý,

Ẩn nhẫn làm thân kẻ sĩ hàn.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

QUYỀN TƯỚC

權 爵

Quyền: Thế lực có thể định được việc nầy việc khác. Tước: Chức tước.

Quyền tước là người có quyền hành và chức tước.

Diễn văn Đức Quyền Giáo Tông đọc tại Toà Thánh, ngày mùng 8 tháng 4 năm Giáp Tuất (1934) có câu: Nào là lường gạt nhơn sanh, nào là tranh giành quyền tước, gieo nhục nhã khắp nơi, lấy quyền Ðời chế Ðạo.

Rộn rực tuồng đời vẫn bấy nhiêu,

Công danh quyền tước ngược Thiên điều.

(Thượng Phẩm Giáng Bút).

Sanh ly tử biệt là đâu?

Không phân quyền tước công hầu hèn sang.

(Thơ Thượng Cảnh Thanh).

 

 

QUYỀN THẾ

權 勢

Quyền: Thế lực có thể định được việc nầy việc khác. Thế: Sức mạnh ảnh hưởng quyền lực, như thế lực.

Quyền thế là quyền hành và thế lực.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Các con hiền mà dữ, các con yếu mà mạnh, các con nhỏ nhoi mà là quyền thế, các con nhịn nhục mà các con hành phạt, cử chỉ các con khá tập sao cho nghịch với cử chỉ thế tình thì là gần ngôi Tiên, Phật đó.

Lo lập nghĩa nhơn đồng loại giúp,

Đừng ham quyền thế một mình riêng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Bởi ưa khổ hải tham quyền thế,

Bởi thích phồn hoa gọi phước duyên.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

QUYỀN THỐNG NHỨT

權 统 一

Quyền: Thế lực có thể định được việc nầy việc khác. Thống nhứt: Gom lại làm một.

Quyền thống nhứt là gom hai quyền hành chánh và tư pháp lại làm một mối do một người nắm giữ.

Trong đạo Cao Đài, cầm quyền hành chánh đạo là Giáo Tông chưởng quản Cửu Trùng Đài, cầm quyền tư pháp là Đức Hộ Pháp chưởng quản Hiệp Thiên Đài. Nếu hai quyền tập trung vào một người nắm giữ, thì gọi là “Quyền Thống Nhứt”.

Khi Đức Quyền Giáo Tông đăng Tiên năm 1934, Đức Lý Giáo Tông giao quyền Giáo Tông tại thế cho Đức Hộ Pháp. Như vậy, lúc đó Hộ Pháp chưởng quản nhị hữu hình đài, tức có quyền điều khiển toàn Hội Thánh Cửu Trùng Đài và Hiệp Thiên Đài.

Khi gặp cơn loạn đạo, thì Quyền Thống nhứt được giao cho ba vị Đầu Sư (phải đủ cả ba vị mới được).

Pháp Chánh Truyền dạy về Quyền Thống Nhứt của ba vị Đầu Sư như sau:

Khi minh thệ rồi, Đầu Sư đặng cầm quyền luôn cả về chánh trị cùng luật lệ.

Nhờ quyền hành lớn lao nầy, Đầu Sư sẽ có đủ thế lực mà ngăn ngừa tà quyền hại đạo.

Thảng gặp cơn nguy biến mà ba Chánh Phối Sư không đủ sức chống ngăn thì Đầu Sư đặng dùng Quyền Thống Nhứt ấy mà điều khiển Hội Thánh. Cả chức sắc Cửu Trùng Đài và Hiệp Thiên Đài phải phục mạng, dầu cho Giáo Tông và Hộ Pháp cũng phải vậy.

Toàn đạo nam nữ đồng công nhận và tín nhiệm Quyền Thống Nhứt của Đức Hộ Pháp cho tới ngày có Giáo Tông ra mặt.

(Đạo Luật Mậu Dần).

 

 

QUYỀN UY

權 威

Quyền: Thế lực có thể định được việc nầy việc khác. Uy: Oai, làm cho người khác phải kiêng vì.

Quyền uy, như chữ “Uy quyền”, là có quyền lực khiến người ta phải tôn kính, nể sợ.

Như: Quyền uy của Bộ Pháp Chánh.

Quyền uy nhờ bởi giữ chơn truyền,

Chưởng đức dụng hiền mộ Thánh Tiên.

(Hộ Pháp Giáng Bút).

 

 

QUYỀN VẠN LINH

權 萬 靈

Quyền: Thế lực có thể định được việc nầy việc khác. Vạn linh: Tất cả các chơn linh trong Can khôn vũ trụ, hoặc dùng để chỉ chúng sanh.

Quyền Vạn linh tức là quyền của chúng sanh.

Quyền Vạn linh được chia ra ba quyền của ba Hội: Hội Nhơn Sanh, Hội Thánh và Thượng Hội.

1.- Hội Nhơn Sanh gồm ba thành phần:

- Phái viên là đại diện của các Ðạo hữu Nam Nữ.

- Nghị viên là đại diện của Chức việc Ban Trị Sự Nam Nữ.

- Các Lễ Sanh Nam Nữ đương quyền hành đạo. Hội Nhơn Sanh đại diện cho Kim Thạch hồn, Thảo mộc hồn, Thú cầm hồn, Nhơn hồn và Thần hồn.

2.- Hội Thánh gồm tất cả các Chức sắc Nam Nữ từ phẩm Giáo Hữu đến phẩm Phối Sư và Chánh Phối Sư của CTÐ. Hội Thánh đại diện Thánh hồn.

3.- Thượng Hội gồm 11 vị: Ðức Giáo Tông, Ðức Hộ Pháp, ba Chưởng Pháp, ba Ðầu Sư Nam, một Nữ Ðầu Sư, Thượng Phẩm, Thượng Sanh. Thượng Hội đại diện Tiên hồn và Phật hồn.

Những quyết nghị của Hội Nhơn Sanh được dâng lên Hội Thánh. Hội Thánh xem xét rồi quyết nghị dâng lên Thượng Hội. Thượng Hội xem xét và chấp thuận thì quyết nghị đó là của Vạn linh, tức là quyền Vạn Linh.

Quyền hành Chí Tôn của Thầy duy có quyền hành Vạn linh đối phó mà thôi. Ðức Chí Tôn cho quyền Vạn linh đồng quyền với Ðức Chí Tôn. Cho nên Ðức Chí Tôn cũng đã có nói rằng: “Các con là Thầy, Thầy là các con”.

Ngoài ra, Ðức Chí Tôn còn ban quyền của Chí Tôn cho Ðức Giáo Tông và Ðức Hộ Pháp: “Thầy đã ban quyền hành Chí Tôn của Thầy cho hai đứa làm đầu Hội Thánh là Giáo Tông và Hộ Pháp. Vậy thì quyền hành Chí Tôn của Thầy đặng trọn vẹn khi Giáo Tông cùng Hộ Pháp hiệp một”.

Như thế, khi Ðức Giáo Tông và Ðức Hộ Pháp đồng ký tên ra lịnh điều chi thì đó là lịnh của Ðức Chí Tôn. Cho nên, các Ðạo Nghị Ðịnh do Ðức Lý Giáo Tông và Ðức Phạm Hộ Pháp ký tên ban hành thì không có quyền nào cải sửa đặng, vì đó là quyền của Đức Chí Tôn, là Thiên điều tại thế.

Thầy nói rõ, quyền Chí Tôn là Thầy, quyền Vạn linh là sanh chúng.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

QUYỀN XUA ĐỨC

Quyền: Thế lực có thể định đoạt được công. Xua: Đuổi. Đức: Cái hạnh tốt đẹp thuần tuý, hợp với đạo lý có sở đắc ở tâm.

Quyền xua đức ý muốn nói nếu dụng quyền hành thì cái đức sẽ mất đi.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy nhớ xưa, kẻ mộ Ðạo chịu ngàn cay muôn đắng, biết có người mà chẳng biết nhọc mình, giày gai áo bả, đội nguyệt mang sao, gió trước lọt chòi tranh, mưa sau hư giậu lá, bần hàn chẳng quản, tay trắng dìu người, một mảy không bợn nhơ, mới có thể lập ngôi cho mình đặng; có đâu lấy của lấn nhân, mượn quyền xua đức, kẻ chân thành lánh mặt, đứa tà mị áp vào, rồi cúm núm mang hơi tà, lại đua nói rằng thờ Chánh giáo. Thầy hỏi: Ai chứng cho?

Trường thi thảm thấy quyền xua đức,

Cửa Thánh mòn trông đức lập quyền.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

QUYỂN

1.- Quyển là từ dùng để chỉ từng đơn vị những tập giấy đóng lại thành vở, thành sách. Như: Một quyển sách, quyển vở, quyển tiểu thuyết, quyển sổ vàng.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Nhà Tôn giáo tìm ra một lý thuyết giúp nhân loại tránh việc cạnh tranh sát phạt; nhà triết học phát huy cái tư tưởng cao xa; nhà văn chương làm ra quyển sách kiệt tác hay nhà khoa học tìm ra cái cơ khí tinh xảo, đều là hợp với cái đức sinh hoá của trời đất cả.

Hiện tại nơi Mỹ Châu, Cổ Tàng Viện của họ có đến hai trăm triệu quyển sách.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

2.- Quyển là ống sáo, một loại nhạc khí thổi bằng hơi, hình ống nhỏ và dài, thân có nhiều lỗ tròn để định cung. Như: Quyển địch, giọng đờn tiếng quyển.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu dạy: Phần đông Chức sắc có đức tin vững chắc, có quan niệm rõ rệt về sứ mạng Thiêng liêng của mình nên nhứt quyết không để cho ai chi phối, mặc dù giọng kèn tiếng quyển vẫn luôn luôn to nhỏ bên tai để chực cuốn theo đường lối bất hảo.

Mựa chớ ham giọng đờn tiếng quyển,

Thói dâm phong rù quến nguyệt hoa.

(Kinh Sám Hối).

Hồng nhạn đưa tin trông vắng dạng,

Phụng lầu gác quyển đợi hoà thinh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

QUYỂN ĐỊCH

Quyển: Còn đọc là quản, có nghĩa là ống sáo. Địch: Ống sáo có bảy lỗ.

Quyển địch, như chữ “Quản địch 管 笛”, là nói chung các loại khí cụ âm nhạc.

Lầu phụng mơ màng nghe quyển địch,

Cung Tần văng vẳng lóng tơ đồng.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

QUYẾT

1.- Quyết là nhất định không thay đổi. Như: Quyết làm cho bằng được, quyết phải thi đậu.

Thánh giáo Thầy có câu dạy: Mỗi phen Thầy đau thảm khóc lóc các con, phải lén hạ trần, quyết bỏ ngôi Chí Tôn xuống lập Ðạo, lại bị các con bạc đãi, biếm nhẻ, xua đuổi, bắt buộc đến đỗi phải chịu cho các con giết chết!

Cứu thế quyết ngưng quyền Ðịa phủ,

Ðộ đời cố tạo phước nhơn gian.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Rút vỏ gươm linh ta quyết một,

Chẳng bao kẻ nghịch đặng ăn nằm.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

2.- Quyết là chắc chắn, chắc hẳn. tức khẳng định dứt khoát việc gì.

Như: Tôi quyết với anh như vậy. Bây giờ chưa thể nói quyết với anh được.

Ấy là lời tuyên ngôn của Lão đã hứa quyết. Hiền hữu làm thế nào cho vừa trách nhiệm thì làm cho Lão xem thử.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

3.- Quyết còn có nghĩa là đoán, định.

Như: Gặp việc khó mà quyết được ngay.

Nương chơn chưa quyết thân còn vững,

Níu thử cân đai thấy nặng trì.

(Đạo Sử).

 

 

QUYẾT CHÍ

決 志

Quyết: Nhất định, phán xét. Chí: Lòng mong muốn.

Quyết chí là định chắc ý chí không thay đổi. Như: Mặc dù khó nhưng quyết chí làm.

Thuyết Đạo của Đức Thượng Sanh có câu: Cũng may là chúng ta làm việc trong tinh thần tập thể, hiệp tâm chung trí, nghe nhau, chiều nhau, ai cũng quyết chí làm nên cho Đạo.

Quyết chí Thiên đường men bước tới,

Phải nhiều máu thịt mới đồng bào.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Một lòng quyết chí tấc gan,

Ngày kia hầu được hân hoan cõi Trời.

(Thất Nương Giáng Bút).

Quyết chí ái dân mới bị đày,

Tiên phong Phật cốt tại xưa nay.

(Thượng Phẩm Giáng).

 

 

QUYẾT ĐOÁN

決 斷

Quyết: Nhất định, phán xét. Đoán: Xét xử.

Quyết đoán là phán đoán, xét xử một việc gì đó.

Trong Pháp Chánh Truyền Chú Giải có câu: Thảng có một người trong ba mà tuân mạng lịnh đặng thì cũng chưa quyết đoán rằng luật lệ ấy luật lệ ấy đã nghịch hẳn nhơn sanh.

Mơn lòng cho thuận tấm chơn linh,

Quyết đoán đừng theo thói thế tình.

(Đạo Sử).

Lững đững lờ đờ chưa quyết đoán,

Tin Trời tin Phật trước tin mình.

(Đạo Sử).

Khuyên trẻ biết trí mưu quyết đoán,

Sự nên hư đừng tính toán rán đua bơi.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

QUYẾT LÒNG

Quyết: Nhất định không thay đổi. Lòng: Lòng dạ, biểu tượng cho tâm lý tình cảm.

Quyết lòng, như chữ “Quyết tâm 決 心”, là lòng đã nhất định, không bao giờ thay đổi.

Trong lễ Tấn phong Nữ Đầu Sư cho Bà Hương Hiếu, Bài Tuyên dương công nghiệp của Đức Thượng Sanh có câu: Nhưng may thay, Bà đã thâm nhiễm mùi Đạo, tự biết muôn sự ở đời đều là giả cuộc, kiếp phù sinh như cảnh hoa sớm nở tối tàn, nhứt là nhớ lời khuyên nhủ của các vị Tiên Nữ Diêu Trì Cung, nên bà tự an ủi lấp thảm vùi sầu, khuây khoả với tiếng kệ kinh, lấy chữ vị tha làm mục đích, tận tâm phục vụ dắt dìu nữ phái, quyết lòng hiến cả tâm hồn lẫn xác thân cho nền Đại Đạo.

Ngoài bốn mươi năm biệt cửa nhà,

Quyết lòng khôi phục nước Nam ta.

(Bài Thài Cường Để).

 

 

QUYẾT NGHỊ

決 議

Quyết: Nhất định. Nghị: Bàn luận.

Trong hội nghị đưa ra nhiều ý kiến để thảo luận, sau đó bỏ thăm để chọn ý kiến nào được đa số người đồng ý, gọi là “Quyết nghị”.

Thánh giáo Đức Hộ Pháp có đoạn: Hiền hữu nên lập Đại hội đủ các cơ quan để lấy quyết nghị coi thể nào. Trước khi mở Đại hội, hiền hữu triệu tập Hội Thánh Hiệp Thiên Đài tìm giải pháp chung.

Phải nhóm nhau tại Quận Đạo đặng giải quyết những vấn đề trong chương trình rồi lập lời quyết nghị.

(Đạo Luật Mậu Dần).

 

 

QUYẾT SÁCH VẬN TRÙ

決 策 運 籌

Quyết Sách: là quyết định kế hoạch. Vận trù: sắp đặt tính toán.

Quyết sách vận trù là quyết định kế hoạch và trù tính sắp đặt công việc.

Hiệp vạn chủng nhứt môn đồng mạch,

Quy thiên lương quyết sách vận trù.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

Khá nên quyết sách vận trù,

Nền Nam có lúc vong xu mãn phần.

(Ngũ Nương Giáng Bút).

 

 

QUYẾT TÂM

決 心

Quyết: Nhứt định làm việc gì. Tâm: Lòng.

Quyết tâm là lòng kiên quyết, không do dự, tức cố thực hiện bằng được điều đã định.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Học trò nào cũng quyết tâm rán học, mà học không nổi là do tại nơi đâu? Rán tranh, tranh không lại phải khổ tâm hồn.

Gắng khổ quyết tâm lo giải khổ,

May duyên kịp buổi hưởng hồng ân.

(Thơ Thượng Sanh).

Chơn chánh quyết tâm lo lập đức,

Quân thần vẹn nghĩa cảm bi ai.

(Bài Thài Hiến Thế).

 

 

QUYẾT THẮNG

決 勝

Quyết: Nhứt định. Thắng: Được phần hơn.

Quyết thắng là nhứt định không để cho thua, nhứt định phải chiến thắng.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có dạy: Lão nghĩ như thế nên nhứt định tái thủ quyền hành, đem cặp nhãn thiêng liêng thay vì cặp nhãn của Thầy, đặng thấy giùm mọi điều cho chư hiền hữu, chư hiền muội, đặng quyết thắng chúng sanh trong kỳ Khai Ðạo nầy, thì Lão tưởng khi Lão chưa phải là người vô dụng vậy.

Tầng quen cỡi ngựa cầm cương,

Trận trung quyết thắng chiến trường đoạt binh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

QUYỆT

Quyệt là lừa dối, xảo trá. Như: Quỷ quyệt, xảo quyệt.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Loài người quá xảo quyệt khôn khéo tiềm tàng sự sung sướng xác thịt nầy, tại do đó mà gây nên biết bao nhiêu thần sầu quỷ khóc, chiến tranh không ngớt, là do nơi lòng tham lam tiến triển văn minh, cơ khí tối tân như là bom nguyên tử để giết người.

Những mưu quỷ quyệt ấy do lịnh Thầy dùng để thử các con.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

QUYỆT NGỮ

譎 語

Quyệt: Xảo trá, gian dối, quỷ quyệt. Ngữ: Lời nói.

Quyệt ngữ là người xảo quyệt trong lời nói, tức lời nói gian dối, xảo trá, không ngay thật.

Như: Xảo ngôn quyệt ngữ.

Chớ quyệt ngữ mà khinh kẻ dại,

Đừng gian mưu hãm hại người hiền.

(Kinh Sám Hối).

 

 

QUÝNH QUÝU

Quýnh: Có động tác, cử chỉ vội vàng và lúng túng, tỏ ra không tự chủ được.

Quýnh quýu là cuồng lên, có những động tác, cử chỉ rối ra rối rít.

Như: Bé vừa thấy mẹ mừng quýnh quýu.

Bà con khắng khít rộn ràng,

Mọi người quýnh quýu hỏi han cho rành...

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

QUỲNH DAO

瓊 瑤

Quỳnh: Ngọc quỳnh, một loại ngọc quý đẹp. Dao: Một loại ngọc tốt.

Quỳnh dao là tên hai loại ngọc trang sức, dùng để chỉ sự đẹp đẽ quý giá.

Khơi nguồn thanh khí thơ tràn mộng,

Kết nghĩa quỳnh dao bút trổ hoa.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

QUỲNH HOA

瓊 花

Quỳnh: Tên một thứ hoa. Hoa: Bông hoa.

Quỳnh hoa là một thứ hoa quý. Hoa rất đẹp, có sắc vàng nhạt, mùi hương rất thơm, nhưng tiếc là quỳnh hoa mau tàn.

Danh từ quý báu gọi Quỳnh hoa,

Bông nở mùi thơm khắp cả nhà.

(Thơ Thông Quang).

Tiết Trung thu Quỳnh hoa đua nở,

Tươi đẹp màu rực rỡ phô trương.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

QUỲNH TƯƠNG

瓊 漿

Quỳnh: Tên một loại ngọc đẹp. Tương: Nước.

Quỳnh tương là một loại nước ngon ngọt, quý giá, dùng để nói về thứ rượu ngon, quý.

Văn uyển vầy đàn nhiều nỗi cảm,

Quỳnh tương chuốc chén mấy vần say.

(Thơ Thái Phong).

 

 

QUỐC

1.- Quốc là chim cuốc, một loại chim sống ở đầm lầy, chân dài, tiếng kêu nghe “quốc, quốc”.

Như: Quốc kêu giữa trưa hè nghe não nuột làm sao, tiếng quốc kêu khiến người ly hương nhớ nước.

Oanh ướt cánh, buông hơi gọi tổ,

Quốc dầm mình, nhắc thuở ly hương.

(Lục Nương Giáng Bút).

2.- Quốc là nước, vùng đất trong đó những người thuộc một hay nhiều dân tộc cùng sống chung dưới một chế độ chính trị, xã hội. Như: Quốc dân, ngoại quốc.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy chưa giáng cơ lập đạo tại nước Nam, chớ chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, dùng huyền diệu nầy mà truyền đạo cùng vạn quốc.

Nam, Bắc cùng rồi ra ngoại quốc,

Chủ quyền Chơn đạo một mình Ta.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

QUỐC CỪU

國 仇

Quốc: Nước. Cừu: Kẻ thù địch.

Quốc cừu là những kẻ thù địch của đất nước, tức chỉ những kẻ xâm lược đất nước.

Như: Bọn đến xâm lăng đất nước ta là quốc cừu của dân tộc.

Tuyệt cốc hy sinh báo quốc cừu,

Tế nguy tam tỉnh huỷ danh lưu.

(Phan Thanh Giản Giáng).

 

 

QUỐC CHÁNH

Hay “Quốc chính”.

Quốc: Nước. Chánh (chính): Việc của nhà nước, quy tắc làm việc.

Quốc chánh, như chữ “Quốc chính 國 政”, là chánh trị của Quốc gia.

Thuyết về Khổng Phu Tử, Đức Thượng Sanh có đoạn: Ngài cầm quyền được bảy ngày thì giết quan Ðại phu Thiếu Chính Mão là một người xảo trá nham hiểm thời ấy. Ðược ba tháng thì quốc chánh rất hoàn toàn, trật tự được phân minh, cảnh tượng nước Lỗ thật là thạnh trị.

Trước quốc chánh chia hai tộc chủng,

Núi Hoành sơn định phỏng biên cương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

QUỐC DÂN

國 民

Quốc: Nước. Dân: Người dân.

Quốc dân là dân trong một nước.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, lời dạy của Thần Hoàng Bổn Cảnh có câu: Than ôi! Buồn thôi! Nghĩ vì Thiên cơ đã định vậy, thế nào mà cải cho đặng, duy có mở tấm lòng từ thiện ăn năn sám hối, lo việc tu hành, đồng với nhau cả quốc dân mà quỳ lụy khẩn cầu coi Trời đoái tưởng đến chăng.

Nợ cung kiếm chiến chinh là nghiệp,

Giúp quốc dân sánh kịp tha bang.

(Kinh Cúng Chiến Sĩ).

Quốc dân ăn thãi uống thừa,

Khôn ngăn bán lận, khó ngừa buôn gian.

(Ngụ Đời).

 

 

QUỐC ĐẠO

國 道

Quốc: Quốc gia, nước. Đạo: Tôn giáo.

Quốc đạo, còn gọi Quốc giáo, là một nền tôn giáo chung của một nước. Ví dụ: Đạo Hồi là quốc giáo của Iran, hay Phật giáo là quốc đạo của Campuchia.

Nước Việt Nam có rất nhiều tôn giáo, nhưng những mối Đạo đó đều du nhập từ các nước khác, riêng Đạo Cao Đài được Đức Chí Tôn giáng cơ khai mở tại Việt Nam cho nên Ngài nói:

Từ thử nước Nam chẳng Đạo nhà,

Nên Ta gầy dựng lập nên ra.

Vì vậy Ngài cho biết Đạo Cao Đài sẽ là quốc đạo của dân tộc Việt Nam. Thật là vinh hạnh cho dân tộc ta!

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn đã đưa ra lời xác nhận trong bài Thánh giáo ngày 12 tháng 8 năm Bính Dần (Dl. 18/9/1926) rằng: “Từ đây trong nước Nam duy có một Ðạo chơn thật là Ðạo Thầy đã đến lập cho các con, gọi là Quốc Đạo, hiểu à!”

Thánh giáo ngày 9 tháng 11 năm Bính Dần (Dl. 13/12/1926), Thầy cũng có dạy: Vốn Thầy tạo lập nền Chánh giáo cho dân Nam Việt chẳng phải là việc nhỏ đâu. Các con ví biết Ðạo là quý thì phải ân cần thận trọng, đợi đến ngày thành tựu, các con mới thấy rõ Thiên cơ, thì chừng ấy các con muốn lập công bằng buổi nầy sao đặng, vì mỗi việc khó khăn trắc trở là lúc sơ khai.

Thánh giáo ngày 12 tháng Giêng năm Đinh Mão (Dl. 13/2/1927), Đức Chí Tôn có dạy như sau: “Thầy đã lập Ðạo nơi cõi Nam nầy là cốt để ban thưởng một nước từ thuở đến giờ hằng bị lắm cơn thạnh nộ của Thầy. Thầy lại tha thứ, lại còn đến ban thưởng một cách vinh diệu.

Từ tạo Thiên lập Ðịa, chưa nước nào dưới quả Ðịa cầu 68 nầy đặng vậy. Cốt để ban thưởng các con, thì các con hưởng phần hơn đã đáng, lẽ nào Thầy đã để phần nhiều cho các nước khác sao!”.

Dân tộc Việt Nam là dân tộc được Ðức Chí Tôn lựa chọn, nên rất được sự ưu ái hơn các dân tộc khác. Do đó, Ðức Chí Tôn có cho hai câu trong bài thi gởi cho Vua Bảo Ðại như sau:

 

Quốc Ðạo kim triêu thành Ðại Ðạo,

 

國 道 今 朝 成 大 道

 

Nam phong thử nhựt biến nhơn phong.

 

南 風 此 日 變 人 風

Nghĩa là:

Quốc Ðạo của Việt Nam ngày nay sẽ thành nền Ðại Ðạo,

Nền phong hoá của Việt Nam ngày sau sẽ trở thành nền phong hoá của nhơn loại.

Đức Hộ Pháp giải thích về hai chữ “Quốc Đạo” tại Đền Thánh, vào đêm 30 tháng 9 năm Đinh Hợi (1947) như sau: Hai chữ Quốc Ðạo lần đầu, Chí Tôn viết ra làm cho Bần Ðạo mờ mịt, cũng vì hai chữ Quốc Ðạo ấy mà Phạm Công Tắc chết năm 35 tuổi, thí thân đeo đuổi làm cho ra thiệt tướng. Ôi! Hai chữ Quốc Ðạo là một vật mà Bần Ðạo tiềm tàng rồi mới hiểu, khởi điểm biết thương nòi giống, biết thương tổ quốc, đeo đuổi mất còn với cái điều khát khao từ buổi thanh xuân đó vậy. Tự biết khôn dĩ chí gặp Ðạo, năm 35 tuổi, Bần Ðạo thấy sao mà phải khao khát thèm lạt, tại làm sao Chí Tôn biết thiếu thốn nơi tinh thần điều ấy mà cho Bần Ðạo. Bần Ðạo ban sơ nghi hoặc, có lẽ một Ðấng có quyền năng thiêng liêng biết tâm lý đang nồng nàn ao ước, đương thèm lạt khao khát, đương tiềm tàng mà đem ra cám dỗ. Hại thay! Yếu ớt đức tin, ngày nay Bần Ðạo ăn năn quá lẽ, 15 năm Bần Ðạo đã đặng thấy gì? Cả toàn thiên hạ nói rằng: Nòi giống Việt Nam không có Ðạo. Lạ lùng thay! Chúng ta tự hỏi có thật vậy chăng? Thật quả có chớ, có nhiều Ðạo quá mà thành ra không Ðạo, mượn Ðạo, xin Ðạo của thiên hạ mà thôi.

“Ngày Chí Tôn tình cờ đến, vì ham thi văn nên ban sơ Diêu Trì Cung đến dụ bằng thi văn tuyệt bút làm cho mê mẩn tinh thần. Hại thay! Nếu chẳng phải là nhà thi sĩ ắt chưa bị bắt một cách dễ dàng như thế, vì ham văn chương thi phú nên Ngài rán dạy. Chí Tôn đến ban đầu làm bạn thân yêu, sau xưng thiệt danh Ngài, biểu Bần Ðạo phế Ðời theo Thầy lập Ðạo. Khi ấy Bần Ðạo chưa tín ngưỡng, bởi lẽ nòi giống nước Nam còn tín ngưỡng tạp nhạp lắm, không chưn đứng, không căn bản, nói rõ là không tín ngưỡng gì hết. Bần Ðạo mới trả lời với Ðức Chí Tôn, ngày nay Bần Ðạo nghĩ lại rất nên sợ sệt. Nếu không phải gặp đặng Ðấng Ðại Từ Bi thì tội tình biết chừng nào mà kể. “Thưa Thầy, Thầy biểu con làm Lão Tử hay Jésus con làm cũng không đặng, Thích Ca con làm cũng không đặng, con chỉ làm đặng Phạm Công Tắc mà thôi, con lại nghĩ bất tài vô đạo đức nầy quyết theo Thầy không bỏ, nhưng tưởng cũng chẳng ích chi cho Thầy”. Ðấng ấy trả lời: “Tắc, thảng Thầy lấy tánh đức Phạm Công Tắc mà lập giáo con mới nghĩ sao?”. Bần Ðạo liền trả lời: “Nếu đặng vậy....” Ngài liền nói: “Thầy đến lập cho nước Việt Nam nầy một nền Quốc Ðạo”, nghe xong Bần Ðạo từ đấy hình như phiêu phiêu lên giữa không trung mơ màng như giấc mộng. Ðược nghe nói cái điều mà mình thèm ước, nên Bần Ðạo không từ chối đặng. Ôi! Quốc Ðạo là thế nào? Quốc là nước, vậy nòi giống tín ngưỡng lập Quốc Ðạo, Bần Ðạo theo tới cùng coi lập nó ra thế nào, hình tướng nào cho biết, vì đó mà lần mò theo đuổi đến ngày nay, thấy hiện hữu cái hình trạng là Ðạo Cao Ðài rồi lại đoán xét coi nó biến hình Quốc Ðạo Việt Nam ra sao? Ngài cho một bài thi dám chắc không ai thấu đáo nổi, người coi cái gốc thì không thấy ngọn, người coi cái ngọn không thấy gốc, tứ văn thiệt thà hay ho cho tới các đảng phái quốc sự ngày nay cũng là lợi dụng.

Từ đây nòi giống chẳng chia ba: Tức nhiên không chia ba Ðạo, chớ không phải chia ba kỳ à.

Thầy hiệp các con lại một nhà: Thầy nắm chủ quyền hiệp Tam Giáo, nếu nói riêng nòi giống hiệp Nam, Trung, Bắc thì vô vị lắm.

Nam, Bắc cùng rồi ra ngoại quốc: Tức nhiên nền chơn giáo Quốc Ðạo, không phải của ta thôi, mà lại của toàn nhơn loại là truyền giáo Nam Bắc thành tướng rồi ra ngoại quốc tức là Tôn Giáo toàn cầu vậy.

Chủ quyền Chơn Ðạo một mình Ta: Tam Giáo, Ngài vi chủ năm châu tín ngưỡng lại quy nhứt mà thôi. Nắm cả tín ngưỡng của loài người, chính Chí Tôn là Chúa Tể Càn Khôn Thế Giới, làm Chúa nền Chánh Giáo tại nước Nam, vi chủ tinh thần loài người tức đủ quyền năng lập Quốc Ðạo. Ngài đến đem đại nghiệp cho Quốc Dân nầy, hình thể lựa chọn ai? Chọn Tạo đoan vạn vật tức là Phật Mẫu. Tinh thần của Chí Tôn, hình thể của Phật Mẫu, trí não của Cha, hình hài của Mẹ, cả thảy đều thấy hễ vô Ðại điện Ðức Ðại Từ Phụ, nào chức nầy chức kia, mão cao áo rộng, còn vô Ðiện Thờ Phật Mẫu thì trắng hết, không ai hơn ai cả. Nếu hiểu biết, thấy bí pháp Chí Tôn cao kỳ quá lẽ. Chí Tôn nói rằng: Quốc Ðạo nầy Ngài quy tụ tinh thần đạo đức trí thức toàn nhơn loại cho đặc biệt, có cao có thấp, có hàng ngũ có phẩm giá, còn về phần xác thịt của loài người, mạng sống trước mặt Ngài không ai hơn ai, cả thảy sống đồng sống, chết đồng chết đặng đem Quốc Ðạo làm môi giới cả đại đồng đặng tạo tương lai loài người cho có địa vị oai quyền cao thượng. Nếu hiểu đặng thì Thánh Thể cũng vậy, Hội Thánh, chư Chức Sắc Thiên Phong Nam, Nữ hay toàn thể Tín Ðồ cũng vậy, lãnh Thiên mạng đảm nhiệm trách vụ thiêng liêng Chí Tôn phú thác lập giáo, tức nhiên phải có phẩm giá, trật tự đẳng cấp. Nếu hiểu thêm ý của Ngài, khi cổi áo nầy ra khỏi Ðại điện rồi hết thảy đồng là anh em, không ai hơn ai, không ai thua ai, không khinh không trọng, đầy đủ tình yêu ái trong lòng Mẹ đem ra mà thôi Nam, Nữ cũng thế. Ngày giờ nào nhơn loại cả thế gian ở mặt địa cầu nầy hiểu được lý lẽ chí hướng cao thượng ấy là ngày Ðạo Cao Ðài sẽ ra thiệt tướng”.

Tá danh là Đức Cao Đài,

Cầm quyền Quốc Đạo bền dai đời đời.

(Thơ Bảo Pháp).

Mong mỏi chút công dâng đất tổ,

Điểm tô Quốc Đạo nghiệp lưu truyền.

(Thơ Bảo Văn Pháp Quân).

 

 

QUỐC GIA

國 家

Quốc: Nước. Gia: Nhà.

Quốc gia là nhà nước, một tổ chức gồm nhiều người cùng tiếng nói, cùng cách sống, cùng quyền lợi như nhau hợp lại trên một chỗ đất có định rõ biên giới, cùng có một chính phủ và những pháp luật chung.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Trong cơn ly loạn nầy, con cái Chí Tôn muốn bảo toàn sanh mạng thì phải thí mạng một phen đổi chết ra sống, đem loạn lạc lại hoà bình, ấy là những Thánh Tử Ðạo và Bát Quái Ðài đã mua rất mắc cái vẻ vinh quang tận thiện, tận mỹ, đem hình ảnh Ðạo lại giá trị như xưa, đặng để làm chân tay đi từ Liên Hiệp Quốc Gia đến Liên Hiệp Ðại Ðồng Thế Giái, gieo truyền chơn lý, khuếch trương chủ nghĩa hoà bình.

Bạch Vân nhàn lạc khoẻ thân già,

Thương kẻ nặng mang nợ quốc gia.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nước non để tuổi cùng tên,

Quốc gia khinh trọng bở bền nơi dân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Nhân vô thức Đạo, quốc gia khuynh,

Đảnh Việt truân chuyên luống gập ghình.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

QUỐC GIÁO

國 教

Quốc: Quốc gia, nước. Giáo: Tôn giáo, đạo.

Quốc giáo, như chữ “Quốc đạo”, là nền tôn giáo chung của người dân trong một nước.

Như: Hồi giáo là một Quốc giáo của dân Iran, Cam puchia lấy đạo Phật làm Quốc giáo.

Xem: Quốc đạo.

Trọng hệ hơn hết của nền quốc giáo Việt Nam ta, là vô hậu kế đại, tức nhiên thêm vào cái nợ máu thịt mà ông bà ta để lại, nếu không đương nỗi thì phải chịu thất hiếu với cả Tông tộc, Cửu Huyền Thất Tổ.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

QUỐC HỒN

國 魂

Quốc: Nước. Hồn: Linh hồn, chỉ phần tinh thần.

Quốc hồn là linh hồn của đất nước, chỉ về tinh thần đặc biệt của một quốc gia.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Huấn luyện các Nhạc sĩ nơi Cơ Quan Phát Thanh về Cổ nhạc để bảo tồn quốc hồn quốc tuý, viết bài Giáo lý, sáng tác văn nghệ khuyến tu, chấn chỉnh Văn đàn thi thơ.

Trụ tâm nâng đỡ quốc hồn,

Giữ bền đảnh nghiệp vĩnh tồn hậu lai.

(Kinh Thế Đạo).

Câu văn ái chủng gầy dân khí,

Tiếng sấm ưu hương định quốc hồn.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

QUỐC MẠCH

國 脈

Quốc: Nước. Mạch: Đường máu chạy trong châu thân, đường nước ngầm dưới đất.

Quốc mạch là gọi chung cả học thuật, chính trị, kinh tế, là tất cả những cái mà một quốc gia nhờ đó mà sống, cũng như người nhờ có huyết mạch mà sống được.

Quốc mạch không thể hiểu là vận mệnh của một nước được.

Thọ quốc mạch tất tiên,

ư trí chúa chi trung.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

QUỐC NẠN

國 難

Quốc: Quốc gia, chỉ đất nước. Nạn: Sự khó khăn, sự gây hại nguy hiểm.

Quốc nạn là tai nạn lớn, chung xảy ra trong đất nước.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Không có mảnh đất nào là không phải của chúng ta, nên nhớ điều đó, đừng vì di cư ngoài Bắc vô rồi buồn rầu, không lo rồi sống đặng lo làm nghề nghiệp, phải cố gắng thêm nhiều hơn nữa, từ trước đến giờ lịch sử đã để lại chúng ta đã ngó thấy bằng cớ hiển nhiên, hễ mỗi khi có quốc nạn là mỗi khi chúng ta hiệp chủng đó vậy, để người Bắc kẻ trong Nam không biết nhau là gì, nghe giọng khác nhau, những người dốt nát tưởng đâu là người ngoại quốc, cái đó lấy làm nguy hiểm hơn hết.

Thương ái hoà giữ trọn thuỷ chung,

Thương quốc nạn vẫy vùng độ thế.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

QUỐC NỘI

國 內

Quốc: Nước. Nội: Trong.

Quốc nội là ở trong nước, trái với ngoại quốc.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Thật vậy, Giáo Lý đã được Cơ Quan Phát Thanh phổ truyền sâu rộng từ quốc nội đến hải ngoại mà tiếng nói đó là tiếng nói của Hội Thánh.

Biên thùy binh cách còn đe doạ,

Quốc nội chủ quyền lắm đổi thay.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

QUỐC SẮC

國 色

Quốc: Nước. Sắc: Sắc đẹp.

Quốc sắc là người con gái đẹp được tuyển lựa trong một nước, tức người đẹp nhất nước.

Chiến Quốc Sách có ghi: Lệ Cơ là nàng phi của vua Lệ Vương được chọn là người đàn bà quốc sắc trong thời bấy giờ vậy.

Xuân sắc điểm tô thành quốc sắc,

Má hồng khéo vẽ cái khuôn hồng.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

QUỐC SẮC THIÊN TÀI

國 色 天 才

Quốc sắc: Nói người con gái có sắc đẹp nhất nước. Thiên tài: Người đàn ông tài giỏi phi thường.

Quốc sắc thiên tài là nói người con gái đẹp đẽ gặp gỡ người con trai tài giỏi phi thường.

Truyện Kiều của Nguyễn Du có câu: Người quốc sắc, kẻ thiên tài, Tình trong như đã, mặt ngoài còn e.

Rằng liễu khóc oanh có mấy ai,

Mộ người quốc sắc đấng thiên tài.

(Thơ Cao Quỳnh Cư).

 

 

QUỐC SĨ

國 士

Quốc: Nước. Sĩ: Kẻ sĩ, hay học giả có tài ba.

1.- Quốc sĩ là người được cả nước tôn là học giả có tài ba lỗi lạc.

Như: Nguyễn Trãi là trang quốc sĩ triều Lê.

Hồ Kiếm anh vương gầy nghiệp lớn,

Sông Đằng quốc sĩ trả thù thâm.

(Thơ Tiếp Đạo).

2.- Quốc Sĩ còn là một phẩm chức sắc của Ban Thế Đạo, thuộc Chi Thế Hiệp Thiên Đài.

Phẩm Quốc Sĩ trên Hiền Tài dưới phẩm Đại Phu, đối hàm với Giáo Hữu Cửu Trùng Đài.

Sỉ Tải Cao thêm vào ba phẩm Thế đạo nầy: Quốc Sĩ, Đại Phu, Phu Tử.

(Thánh Giáo Lý Giáo Tông).

 

 

QUỐC SƯ

國 師

Quốc: Nước. Sư: Thầy.

Ngày xưa, người làm thầy dạy vua là Thái sư, cũng gọi là Quốc sư. Hoặc gọi quan Tế Tửu Quốc Tử Giám là Quốc sư.

Hiện nay, Quốc sư là người làm thầy cả một nước.

Thánh giáo Đức Giáo Tông có câu: Ấy vậy, nơi tay hiền hữu đủ quyền Chí Tôn mà chuyển thế. Lão bất quá là một Gián Nghị Đại Phu ở gần hiền hữu, chia lo sớt nhọc mà thôi. Lão tưởng khi thiên hạ chưa an, có phải? Cười... Thì nay đã hiện diện là Quốc sư Việt Nam, đặng bước qua Quốc sư thiên hạ.

Tâm ở nơi con người cũng như một vị Quốc sư ở cạnh một đấng cầm quyền thống trị thiên hạ.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

QUỐC SỬ

國 史

Quốc: Nước. Sử: Lịch sử.

Quốc sử là lịch sử của một triều đại, hay lịch sử của một quốc gia.

Như: Quốc sử Việt Nam.

Vẽ tươi Quốc sử loà cương thổ,

Đánh tỉnh hồn dân dựng miếu đàng.

(Thơ Chánh Đức).

 

 

QUỐC SỰ

國 事

Quốc: Nước. Sự: Việc.

Quốc sự là việc lớn của đất nước, việc nước.

Làm việc nước là làm chánh trị, tức tham gia vào các hoạt động của đảng phái để tranh giành quyền lực lãnh đạo quốc gia. Do đó làm quốc sự là làm chánh trị.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Làm chánh trị là làm Quốc sự, nên nước nào cũng có Bộ Quốc Sự. Bộ Quốc Sự muốn đạt thành con đường chánh trị của mình thì quân đội là cơ quan tạo nên để ủng hộ chánh trị đó vậy.

Trung, mặc kệ nó, chúng nghi cho các con lo Quốc sự.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

QUỐC TUÝ

國 粹

Quốc: Nước, nhà nước. Tuý: Thuần một chất, không có gì lẫn vào.

Quốc tuý là đặc tính riêng biệt của một nước, không pha tạp những thứ phong tục, lễ nghi của các nước khác.

Thánh giáo Chí Tôn có câu: Ấy vậy, các con phải lưu tâm mà chấn hưng mối Ðạo, ấy là kế bảo tồn quốc tuý, lại là phương thoát tục.

Bóng trời soi nụ đào hoa,

Thơm tho quốc tuý, điều hoà Việt phong.

(Xuân Hương Giáng Bút).

Quốc tuý trung thần xem vắn vỏi,

Đỡ nâng sao khỏi cảnh điêu tàn.

(Thơ Mỹ Ngọc).

 

 

QUỐC TỰ

國 字

Quốc: Nước, nhà nước. Tự: Chữ, chữ viết.

Quốc tự là chữ viết của một nước.

Chúng ta là người Việt Nam thì quốc tự là chữ viết của dân tộc Việt, tức chữ Quốc ngữ.

Trước mão có thêu cổ pháp và hai chữ Chưởng Ấn bằng quốc tự, chân mang giầy trắng.

(Hiến Pháp Hiệp Thiên Đài).

 

 

QUỐC THỂ

國 體

Quốc: Đất nước. Thể: Thể chế, thể diện, hay thể thống của một nước.

1.- Quốc thể là thể chế của một quốc gia.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Trong buổi nước nhà đang trở mình biến chuyển đi đến độc lập, thật ra Đạo Cao Đài đang gánh một trách vụ nặng nề không ai tưởng trong lúc cơ đời đảo ngược, quốc thể chênh nghiêng, dân tâm bất nhứt.

Ngăn quân là bậc thiên tài,

Đỡ nâng quốc thể đến ngày hiển vinh.

(Kinh Cúng Chiến Sĩ).

Thổi khí vĩnh sanh lau xã tắc,

Mở đường quốc thể định phong vân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Quốc thể còn là thể diện, hay thể thống quốc gia, tức là danh dự của một nước.

Như: Làm nhục quốc thể.

Nào quốc thể, người khi kẻ thị,

Nào dân đen, phép quỷ hớp hồn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

QUỐC THIỀU

國 韶

Quốc: Nước. Thiều: Bản nhạc.

Quốc thiều, như chữ “Quốc ca 國 歌”, là bản nhạc của một nước, dùng vào những dịp lễ long trọng.

Như: Trước sân lễ đội quân nhạc cử quốc thiều.

Bỗng tân nương hoá đời chinh phụ,

Bởi thiếu lang theo tiếng quốc thiều.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

QUỐC THỚI DÂN AN

Hay “Quốc thái dân an”.

Quốc thới (thái): Nước nhà thịnh vượng. Dân an: Người dân yên ổn.

Quốc thới dân an, như chữ “Quốc thái dân an 國 泰 民 安”, là nước nhà thịnh vượng, nhân dân được an cư, ý chỉ đất nước thanh bình, thịnh trị.

Trong Sớ văn có câu: Ngưỡng vọng Đức Đại Từ Phụ vận chuyển thế cuộc tảo đắc hoà bình, trật tự an ninh, quốc thới dân an, phong điều võ thuận.

Nâng ly rượu đón chào năm mới,

Vững cơ đồ, quốc thới dân an.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

QUỐC THÙ

國 讎

Quốc: Nước. Thù: Oán ghét.

Quốc thù là những gì mà người dân trong nước đều oán ghét.

Quốc thù còn là mối thù hận của nước.

Chén quỳnh tiễn bạn trước long cu,

Giục vó tùng chinh báo quốc thù.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

QUỐC TRIỀU

國 朝

Quốc: Quốc gia, chỉ một nước. Triều: Triều đình.

Quốc triều là triều đình của một nước, tức chỉ chánh phủ một nước theo chế độ vương quyền.

Con phải nhớ da vàng máu đỏ,

Cõi Nam Châu rỡ rỡ quốc triều.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

QUỐC TRUNG MÀI MỰC

Quốc Trung mài mực là quan Thái Sư Dương Quốc Trung, anh ruột của Dương Quý Phi đời nhà Đường phải đứng mài mực.

Do tích Lý Thái Bạch đi thi được quan Hàn Lâm Học Sĩ Hạ Tri Chương là người bạn thiết giới thiệu với quan Chủ khảo Quốc Trung, nhưng không đút lót vàng bạc, nên sau khi thi, Lý Bạch bị đánh rớt lại còn bị Dương Quốc Trung sỉ nhục: Hạng thí sinh như Lý Bạch chỉ đáng mài mực, còn Thái Uý Cao Lực Sĩ thì cho rằng: Hạng văn sĩ như Lý Bạch chỉ đáng tháo giầy xỏ tất.

Sau đó, triều đình nhận được tờ Quốc thư của nước Phiên, nhưng trong triều thần và các quan Đại Học Sĩ không ai biết đọc loại chữ Phiên đó.

Nhờ Hạ Tri Chương giới thiệu, vua Đường Minh Hoàng mới khâm tứ ban cho Lý Bạch Tiến Sĩ Cập Đệ, lãnh bào tía đai vàng, hốt ngà mão gấm để vào triều kiến đọc Quốc thư. Lý Bạch bệ vệ áo mão, uy nghi lộng tàn vào triều, Vua Đường Minh Hoàng trao tờ quốc thư cho Lý Bạch đọc, rồi nhờ Lý Bách thảo chiếu thư bằng chữ Phiên để phúc đáp. Lý Bạch muốn yêu cầu nhà vua một điều kiện nên tâu rằng: Trước đây thần vào thi bị quan Chủ khảo là Dương Quốc Trung và quan Giám Sát là Thái Uý Cao Lực Sĩ xua đuổi. Nay muốn Thần viết chiếu thư, xin bệ hạ cho Dương Thái Sư mài mực, Cao Thái Uý tháo giầy.

Vua Đường Minh Hoàng vì thể diện của đất nước, nên chuẩn tấu. Thế là quan Thái Sư Dương Quốc Trung đứng khom mài mực, quan Thái Uý Cao Lực Sĩ cúi xuống tháo giầy.

Quốc Trung hổ mặt khom mài mực,

Lực Sĩ cam tâm cúi tháo hài.

(Cội Đạo Bốn Mùa).

 

 

QUỐC VẬN

國 運

Quốc: Nước. Vận: Số mệnh, khí số.

Quốc vận tức là khí số của một nước.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bần Ðạo sẽ công khai cho toàn thiên hạ biết rằng: Chúng ta sẽ hướng ra Quân chủ Dân quyền để tạo tương lai cho quốc vận.

Đất Việt địa linh sanh tuấn kiệt,

Trời Nam quốc vận mạnh phi thường.

(Thơ Thân Dân).

Bảo thủ cơ đồ anh hùng dương khí phách.

Hộ trì quốc vận chí sĩ hiển uy linh.

(Liễn Báo Quốc Từ).

 

 

QUƠ

1.- Quơ là vơ, đưa qua đưa lại trong khoảng không.

Như: Đứa bé quơ tay đòi mẹ ẵm, quơ sào đuổi chim ăn lúa, quơ viết chép bài.

Khôn nhạn tín, khó hồng thư,

Viết quơ chẳng nổi, giấy như tránh đề.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Vùn vụt tiếng roi quơ nhấp nhoáng,

Mờ mờ cảnh vật thụt thùi lui.

(Thiên Thai Kiến Diện).

2.- Quơ là vơ lấy một cách vội vàng, hoặc gom lấy của nhiều người.

Như: Bỏ nhà coi chừng trộm quơ hết đồ đạc, nó quơ hết tiền của nhiều người trong xóm.

Trốc lá như ai chơi khuấy rối,

Lủng chuồng kẻ trộm đến quơ gà.

(Đạo Sử).

3.- Quơ là xoay xở, buông cái nầy bắt cái kia, làm hết cách nầy đến cách khác để giải quyết được khó khăn.

Như: Nhà có nhiều miệng ăn vậy mà nó quơ cũng đủ, hằng ngày nó đi quơ gạo về nuôi con.

Hễ có nhờ ắt có tiếng nhơ,

Dầu đói khó hai tay quơ cũng đủ gạo.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

QUỞ

Quở trách mắng, tức nhận xét, phê phán trực tiếp một cách nghiêm khắc lỗi của người bề dưới.

Như: Lý trưởng bị quan trên quở vì thu thuế chậm, học trò bị thầy giáo quở phạt.

Lòng lang độc vui cười hớn hở,

Chốn Diêm đình phạt quở trừng răn.

(Kinh Sám Hối).

Trên hầu chúa quỷ người ba mặt,

Dưới quở âm hồn tướng bốn lưng.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

QUỞ PHẠT

Quở: Mắng, tức nhận xét trực tiếp một cách nghiêm khắc lỗi của kẻ dưới. Phạt: Trừng trị kẻ phạm tội.

Quở phạt là mắng và phạt người có lỗi, tức là hài tội rồi trừng phạt.

Thánh giáo Chí Tôn có câu: Không chuyện chi cần, Thầy không muốn làm nhọc chư Tiên và chư Thần, mỗi vị đều có trách nhiệm riêng, con hiểu à! Xem đó thì các con khá dè dặt, kỉnh Thần, Thánh cho lắm, vì Thầy là bực Chí Tôn, lòng hay quảng đại mà tha thứ, chớ Thần, Thánh, hễ các con có lỗi thì cứ Thiên điều mà quở phạt các con,

Phiền trách giận đời không thức lý,

Lý nào quở phạt đứa khùng điên!

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

QUỞ TRÁCH

Quở: La mắng. Trách: Quở, bắt lỗi.

Quở trách là nhận xét trực tiếp một cách nghiêm khắc lỗi của người bề dưới.

Như: Vừa vào lớp ông thầy đã quở trách học trò, lời quở trách của cha mẹ quá nghiên khắc.

Chức sắc thường bị Ðức Chí Tôn giáng cơ quở trách vì Ðàn không nghiêm, Lễ Nhạc còn khuyết điểm.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

QUƠI

Quơi, như chữ “Huơ”, là giơ lên và đưa qua đưa lại liên tiếp.

Như: Quơi đòn gánh để đánh thoát thân, ra sân quơi vài đường quyền.

Rộng thứ không bằng toan dạy trước,

Răn he đừng đợi ngọn gươm quơi.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

QUỜN

Hay “Quyền”.

1.- Quờn, như chữ “Quyền 權”, là những điều do địa vị hay chức vụ mà được làm.

Như: Trọng tước cao quờn.

Muốn ngón hay đừng thẳng dây đờn,

Ngọt với vợ còn hơn quờn thịnh nộ.

(Phương Tu Đại Đạo).

Chồng dầu sang trọng tước cao quờn,

Vợ thủ hiếu cho hơn mới phải.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Quờn, như chữ “quyền 權”, môn võ đánh bằng tay, hoặc bằng côn.

Như: Đi một đường quờn, côn quờn.

Cẩm tú thêu oan thành khí giới,

Văn chương khảo tội hoá côn quờn.

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 


 )
 )(
 __)_(__
 __(_____)__
(((_________)))
 )    ׀    (

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Danh mục vần QU

 

QUA

Qua

Qua đời

Qua mâu

Qua phân

 

QUÁ

Quá

Quá cố

Quá chừng

Quá độ

Quá đỗi

Quá giang

Quá hải

Quá kỳ tri thiên

Quá khích

Quá khứ vị lai

Quá lời

Quá trình

Quá vãng

 

QUẢ

Quả

Quả báo

Quả cảm

Quả Càn Khôn

Quả căn

Quả dục

Quả duyên

Quả kiếp

Quả lành

Quả Lão

Quả nan địch chúng

Quả nghiệp

Quả nhân

Quả nhiên

Quả nhồi

Quả phúc

Quả quyết

Quả thật

Quả vị

 

QUẠ

Quạ

Quạ đút mồi

 

QUÁCH

Quách Cự

 

QUÁI

Quái

Quái giáo

Quái khí

Quái sự

 

QUAY

Quay

Quay cuồng

 

QUÀY

Quày

Quày đầu

Quày quả

 

QUẢY

Quảy

 

QUAN

Quan

Quan ải

Quan Âm

Quan Âm Bồ Tát

Quan Âm Như Lai

Quan Âm Nam Hải

Quan Âm Thị Kính

Quan Công

Quan đáng phận mẹ cha

Quan điểm

Quan hà

Quan hệ

Quan hoài

Quan hôn

Quan hôn tang tế

Quan khách

Quan lại

Quan niệm

Quan nha

Quan phòng

Quan quyền

Quan san

Quan sát

Quan sự

Quan tái

Quan tài

Quan tâm

Quan Thánh

Quan Thánh Đế Quân

Quan Trung

Quan trường

Quan viên

Quan Võ

 

QUÁN

Quán

Quán cổ tri kim

Quán chúng

Quán Sở lầu Tần

Quán tục

Quán thế

Quán trần gian

Quán triệt

 

QUÀN

Quàn

 

QUẢN

Quản

Quản bao

Quản suất

Quản Tộc

Quản thúc

Quản trị

 

QUANG

Quang

Quang Âm

Quang đãng

Quang huy

Quang minh

Quang minh chánh đại

Quang tiền dụ hậu

Quang vinh

 

QUÁNG

Quáng

 

QUẢNG

Quảng

Quảng đại

Quảng hàn

Quảng Hàn Cung

Quảng kiến

Quảng khai

Quảng tâm

Quảng thi

Quảng tri

Quảng trí

Quảng truyền đạo đức

Quảng văn

 

QUANH

Quanh

Quanh co

Quanh năm

Quanh quẩn

Quanh quất

 

QUẠNH

Quạnh

Quạnh hiu

Quạnh quẽ

 

QUÀO

Quào

Quào quấu

 

QUẠT

Quạt

Quạt gió đèn trăng

Quạt nồng đắp lạnh

 

QUẠU

Quạu

Quạu quọ

 

QUẰN

Quằn

Quằn quại

 

QUẶN

Quặn

 

QUĂNG

Quăng

 

QUÂY

Quây quần

 

QUẤY

Quấy

Quấy quá

Quấy rối

Quấy tưởng

 

QUÂN

Quân

Quân bình

Quân đội

Quân nhân

Quân lịnh

Quân tử

Quân tử hảo cừu

Quân tử tiểu nhơn

Quân tử trúc

Quân thần

Quân vương

 

QUẤN

Quấn

 

QUẦN

Quần

Quần áo

Quần chơn

Quần chúng

Quần hàng áo lụa

Quần hồng

Quần lê

Quần linh

Quần nhi

Quần sanh

Quần sinh

Quần Thánh

Quần thoa

Quần xoa

 

QUẤT

Quất

 

QUẬT

Quật cường

 

QUEN

Quen

Quen hơi

Quen thói

Quen thuộc

 

QUẸO

Quẹo

 

QUÉT

Quét

 

QUÊ

Quê

Quê cha đất tổ

Quê hương

Quê xưa

 

QUẾ

Quế

Quế hoè

 

QUÊN

Quên

Quên lãng

Quên lửng

Quên ngôi

 

QUẾN

Quến

 

QUY

Quy

Quy căn

Quy cổ

Quy củ

Quy chánh

Quy chánh cải tà

Quy chánh truyền

Quy chế

Quy điền

Quy điều

Quy hạc

Quy hồi

Quy hồi cựu vị

Quy y

Quy y Phật pháp

Quy y Tam bảo

Quy liễu

Quy mô

Quy nguyên

Quy nguyên phục nhứt

Quy nguyên Tam giáo

Quy phàm

Quy y Pháp

Quy y Phật

Quy phục

Quy y Tăng

Quy Tiên

Quy tụ

Quy thế giới ư nhất khí chi trung

Quy Thiên

Quy Thiên lương

Quy thống

Quy thuận

Quy vị

 

QUÝ

Quý

Quý báu

Quý giá

Quý hoá

Quý mầu

Quý sang

Quý trọng

 

QUỲ

Quỳ

Quỳ gối

Quỳ hoắc

Quỳ hương

Quỳ lạy

 

QUỶ

Quỷ

Quỷ Cốc

Quỷ chúa

Quỷ dạ xoa

Quỷ hồn

Quỷ khí

Quỷ ma

Quỷ mị

Quỷ nhơn

Quỷ quái

Quỷ quyền

Quỷ quyệt

Quỷ tai

Quỷ tăng

Quỷ vị

Quỷ vô thường

Quỷ vương

Quỷ xác ma hồn

 

QUỴ

Quỵ luỵ

 

QUYÊN

Quyên

Quyên sinh

 

QUYẾN

Quyến thuộc

Quyến luyến

Quyến luyến hồng trần

Quyến rũ

 

QUYỀN

Quyền

Quyền biến

Quyền bỉnh chánh

Quyền cao

Quyền cao chức trọng

Quyền công chánh

Quyền gian

Quyền Giáo Tông

Quyền Giáo Tông dày công khai đạo

Quyền hành

Quyền hành đạo đức

Quyền lập đức

Quyền lợi

Quyền lực

Quyền lực thiêng liêng và tự lực

Quyền môn

Quyền năng

Quyền quý

Quyền tước

Quyền thế

Quyền thống nhứt

Quyền uy

Quyền vạn linh

Quyền xua đức

 

QUYỂN

Quyển

Quyển địch

 

QUYẾT

Quyết

Quyết chí

Quyết đoán

Quyết lòng

Quyết nghị

Quyết sách vận trù

Quyết tâm

Quyết thắng

 

QUYỆT

Quyệt

Quyệt ngữ

 

QUÝNH

Quýnh quýu

 

QUỲNH

Quỳnh dao

Quỳnh hoa

Quỳnh tương

 

QUỐC

Quốc

Quốc cừu

Quốc chánh

Quốc dân

Quốc đạo

Quốc gia

Quốc giáo

Quốc hồn

Quốc mạch

Quốc nạn

Quốc nội

Quốc sắc

Quốc sắc thiên tài

Quốc sĩ

Quốc sư

Quốc sử

Quốc sự

Quốc tuý

Quốc tự

Quốc thể

Quốc thiều

Quốc thới dân an

Quốc thù

Quốc triều

Quốc Trung mài mực

Quốc vận

 

QUƠ

Quơ

 

QUỞ

Quở

Quở phạt

Quở trách

 

QUƠI

Quơi

 

QUỜN

Quờn

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 



 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Cập nhật ngày: 09-06-2020

QUA | QUĂ | QUE | QUÊ | QUY | QUÔ | QUƠ


A | B | C | CH | D | Đ | E | G | H | I-Y | K-KH | L | M | N | NG | NH | O | P | Q | R | S | T | TH | TR | U | V | X


[ MỤC LỤC ]

Ấn bản (v.2018)

TỪ NGỮ ĐIỂN CỐ CAO ĐÀI
Soạn-giả: Hiền Tài Quách Văn Hoà

DOWNLOAD
E-book-PDF