TỪ NGỮ ĐIỂN CỐ CAO ĐÀI

 

 

Danh mục vần S

 

SA

Sa

Sa cơ

Sa chơn

Sa đà

Sa đoạ

Sa mạc

Sa môn

Sa Nặc

Sa ngã

Sa sút

Sa Tăng

Sa thải

Sa trường

 

 

SÁCH

Sách

Sách đèn

Sách phụ

Sách vở

 

SẠCH

Sạch

Sạch sẽ

 

SAI

Sai

Sai biệt

Sai bước lạc đường

Sai chạy

Sai khiến

Sai lạc

Sai lầm

Sai ngoa

Sai sót

 

SÁI

Sái

Sái bước

 

SÀI

Sài Triệu Trịnh

 

SAY

Say

Say đắm

Say mê

Say sưa

 

SÁM

Sám

Sám hối

Sám hối tội căn

 

SÀM

Sàm biện

Sàm tấu

 

SAN

San bằng

 

SẢN

Sản

Sản nghiệp

Sản sanh

Sản vật

Sản xuất

 

SANG

Sang

Sang cả

Sang đoạt

Sang giàu

Sang giàu như mây

Sang hèn

Sang trọng

Sang vinh

 

SÁNG

Sáng

Sáng chói

Sáng kiến

Sáng lạn

Sáng láng

Sáng lập

Sáng ngời

Sáng quắc

Sáng soi

Sáng sủa

Sáng suốt

Sáng tạo

Sáng trân

Sáng trưng

 

SÀNG

Sàng

Sàng sảy

 

SẢNG

Sảng khoái

Sảng sốt

 

SANH

Sanh

Sanh biến

Sanh chúng

Sanh diệt

Sanh dục

Sanh dưỡng

Sanh đẻ

Sanh hoa đã héo

Sanh hoá

Sanh hoạt

Sanh kế

Sanh ký tử quy

Sanh khí

Sanh lão bệnh tử

Sanh ly

Sanh ly tử biệt

Sanh linh

Sanh lực

Sanh mạng

Sanh nạnh

Sanh nhai

Sanh như ký

Sanh quang

Sanh sản

Sanh sanh là phận

Sanh sát

Sanh sự

Sanh tật

Sanh tiền

Sanh tồn

Sanh tử

Sanh tử chớp nháng

Sanh thành

Sanh trưởng

Sanh vật

Sanh viên

Sanh voi sanh cỏ

 

SÁNH

Sánh

Sánh bằng

Sánh của so tài

Sánh kịp

Sánh tày

 

SẢNH

Sảnh

 

SAO

Sao

Sao dời vật đổi

Sao Khuê

 

SÁO

Sáo

Sáo lão Trương

 

SÀO

Sào

Sào Hứa

Sào Phủ

 

SẠP

Sạp

 

SÁT

Sát

Sát hại

Sát khí

Sát mạng

Sát phạt

Sát rạt

Sát sanh

 

SAU

Sau

 

SÁU

Sáu

Sáu chữ Di Đà

Sáu lễ

Sáu thao ba lược

Sáu trần

 

SẮC

Sắc

Sắc bất ba đào

Sắc chỉ

Sắc đẹp

Sắc không

Sắc lịnh

Sắc mạng

Sắc nước hương trời

Sắc ngọc

Sắc phái

Sắc phong

Sắc phục

Sắc sảo

Sắc tài

Sắc tứ

Sắc tướng

Sắc tướng âm thinh

 

SẶC

Sặc

Sặc sỡ

 

SẮM

Sắm

 

SĂN

Săn

Săn sóc

 

SẰN

Sằn dã

 

SẴN

Sẵn

Sẵn dành

Sẵn sàng

 

SẮP

Sắp

Sắp bày

Sắp đặt

Sắp xếp

 

SẮT

Sắt

Sắt cầm

Sắt cầm hảo hợp

Sắt cầm lạc phiếm

Sắt cầm phân ly

Sắt đá

Sắt đinh

Sắt mài nên kim

Sắt son

 

SẨY

Sẩy

 

SẬY

Sậy

 

SÂM

Sâm Thương

 

SẤM

Sấm

Sấm chớp

Sấm sét

Sấm tiên tri

Sấm truyền

 

SẦM

Sầm sập

Sầm uất

 

SẨM

Sẩm

 

SÂN

Sân

Sân chầu

Sân đào lý

Sân Đồng Xã

Sân hạnh

Sân hận

Sân hoạn

Sân hoè quế

Sân khấu

Sân Lai

Sân lễ

Sân ngô

Sân rồng

Sân si

Sân Trình

 

SẤN

Sấn

Sấn chí

 

SẤP

Sấp

Sấp mình

 

SẬP

Sập

 

SẬT

Sật sừ

 

SÂU

Sâu

Sâu dân mọt nước

Sâu sắc

Sâu xa

 

SẤU

Sấu hoá cù

 

SẦU

Sầu

Sầu bi

Sầu khổ

Sầu miên

Sầu muộn

Sầu tư

Sầu thảm

Sầu thương

Sầu ưu

 

SE

Se sua

 

Sè sụt

 

SẺ

Sẻ

Sẻ áo chia cơm

 

SEN

Sen bông ngó lá gương

Sen muống một bồn

Sen tàn

Sen tàn cúc rũ

 

SÉT

Sét bên tai

 

SẾU

Sếu sáo

 

SI

Si

Si tình

 

SỈ

Sỉ

Sỉ nhục

 

Sĩ Đạt Ta vượt hoàng cung

Sĩ nông công cổ

Sĩ phu

Sĩ Tải

Sĩ tử

 

SỈA

Sỉa

 

SIỂM

Siểm gièm

Siểm nịnh

 

SIÊNG

Siêng lo

Siêng năng

 

SIÊU

Siêu

Siêu đoạ

Siêu độ

Siêu hình

Siêu nhân

Siêu nhiên

Siêu phàm

Siêu phàm nhập thánh

Siêu quần

Siêu quần chơn chi thượng

Siêu rỗi

Siêu sanh

Siêu sinh

Siêu thăng

Siêu thoát

Siêu việt

 

SINH

Sinh

Sinh lực

Sinh nhai

Sinh trưởng

 

SÍNH

Sính

 

SÌNH

Sình

 

SO

So

So đo

So sánh

So thiệt tính hơn

 

SÓC

Sóc vọng

 

SOI

Soi

Soi gương

Soi xét

 

SỌM

Sọm

 

SON

Son

Son phấn

Son sắt

Son trẻ

 

SONG

Song

Song bằng

Song đường

Song hỷ

Song hồ

Song mâu

Song quang thần thông

Song tu tánh mạng

Song thân

Song thu

Song thưa

 

SÓNG

Sóng

Sóng gió

Sóng sắc

Sóng trần

Sóng triều

Sóng xao

 

SÓT

Sót

 

Sô diện

Sô xiêm

 

SỐ

Số

Số căn

Số hệ

Số kiếp

Số mạng

Số phần

 

SỔ

Sổ

Sổ bộ

Sổ cầu phong

Sổ ghi công

Sổ lồng

 

SỖ

Sỗ sàng

 

SÔI

Sôi

Sôi máu

Sôi nổi

 

SÔNG

Sông

Sông Dịch

Sông Đằng

Sông hồ

Sông hương

Sông lệ

Sông máu núi xương

Sông mê

Sông mê bể khổ

Sông núi

Sông Ngân

Sông Ngâu

Sông Tương

Sông trong biển lặng

Sông Vị

 

SỐNG

Sống

Sống gửi thác về

Sống không nên đạo

Sống sót

Sống thác

Sống thừa

 

SỐT

Sốt sắng

 

Sơ giao

Sơ hiến lễ

Sơ hội Long Hoa

Sơ khai

Sơ khấu

Sơ lược

Sơ sẩy

Sơ sịa

Sơ sót

Sơ suất

Sơ thất

 

SỚ

Sớ

Sớ văn

Sớ văn thượng tấu

 

SỜ

Sờ sờ

 

SỞ

Sở

Sở cậy

Sở cầu

Sở dụng

Sở định

Sở hành

Sở năng

Sở nguyện

Sở tại

Sở truyền

Sở vọng

 

SỢ

Sợ

Sợ sệt

 

SỢI

Sợi

 

SỚM

Sớm

Sớm chiều

Sớm đào tối mận

Sớm nở chiều tàn

Sớm khuya

Sớm tối

 

SƠN

Sơn

Sơn cước

Sơn hà

Sơn hải

Sơn hào hải vị

Sơn khê

Sơn lâm

Sơn thuỷ

Sơn xuyên

 

SỜN

Sờn

Sờn dạ

Sờn lòng

 

SỞN

Sởn sơ

 

SỚT

Sớt

Sớt chia

 

SÚC

Súc sanh

Súc vật

 

SỤC

Sục sục

 

SUI

Sui

Sui gia

Sui nghĩa

 

SUY

Suy

Suy cổ nghiệm kim

Suy đoán

Suy đồi

Suy gẫm

Suy nghĩ

Suy nghiệm

Suy sụp

Suy tính

Suy tồi

Suy tư

Suy thạnh

Suy thời

Suy vi

Suy xét

 

SUM

Sum sê

Sum suê

Sum vầy

 

SUNG

Sung mãn

Sung sướng

Sung túc

 

SÙNG

Sùng

Sùng bái

Sùng kính

Sùng tu

 

SUỐI

Suối

Suối lệ

Suối vàng

 

SỤP

Sụp

Sụp đổ

 

SỤT

Sụt

Sụt giá

Sụt sè

Sụt sùi

 

Sư đệ

Sư hư vô

Sư phụ

Sư sinh

 

SỨ

Sứ điểu

Sứ mạng

 

SỬ

Sử

Sử dụng

Sử Đạo

Sử kinh

Sử liệu

Sử xanh

 

SỰ

Sự

Sự đời

Sự nghiệp

Sự thế

Sự tồn sự vong

 

SỬA

Sửa

Sửa áo nâng khăn

Sửa cải

Sửa dải

Sửa đổi

Sửa đời

Sửa đương

Sửa lòng

Sửa mình

Sửa nết

Sửa răn

Sửa sang

Sửa soạn

Sửa tánh như vá áo

Sửa trắp

Sửa trắp nâng khăn

Sửa trị

 

SỮA

Sữa

 

SỨC

Sức

Sức kiệt

Sức lực

 

SỰC

Sực nức

Sực tỉnh

 

SƯNG

Sưng

 

SỪNG

Sừng

Sừng lông

Sừng đội lông mang

Sừng sựng

 

SƯỞI

Sưởi

 

SƯƠNG

Sương

Sương bay sáu tháng

Sương tuyết

Sương tuyết dãi dầu

Sương trên cỏ

 

SƯỚNG

Sướng

 

SỨT

Sứt mẻ

 

SƯU

Sưu cao thuế nặng

Sưu khảo

Sưu tầm

Sưu tập

 

SỨU

Sứu Kiềm Lâu

 

 

 

 

 

 

 

 

S

 

SA

1.- Sa là rơi xuống, từ trên cao rơi xuống thấp.

Như: Sa nước mắt, giọt mưa sa trước mái hiên, sa chân xuống giếng sâu.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Thầy cũng đại lụy mà ngó xem một phần môn đệ xứng đáng của Thầy phải sa vào vực thẳm.

Thường ngày tuần khắp xét tra,

Phạt người hung ác đoạ sa A Tỳ.

(Kinh Sám Hối).

Phẩm giá người cao sa xuống thấp,

Phải coi thời thế lánh tai ương.

(Đạo Sử).

2.- Sa, nghĩa bóng mắc vào, ngã vào.

Như: Sa vào đám bạc, sa cơ lỡ bước.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Thầy lấy làm đau đớn hằng thấy gần trót mười ngàn năm, nhơn loại phải sa vào nơi tội lỗi, mạt kiếp chốn A Tỳ.

Sa vào đường tội khó nên hiền,

Cải ác xưa từng chiếm bực Tiên.

(Đạo Sử).

3.- Sa là cát. Như: Phi sa tẩu thạch, hằng hà sa số.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy cầu cho các con đặng ngoan đạo như Thơ vậy, sửa mình cho nên Chí Thánh, vì Ðạo năm nay sẽ rõ thấu hoàn cầu, môn đệ tăng thêm hằng hà sa số, phận sự các con lại càng nặng nề hơn nữa, nhưng các con nhớ biết thương Thầy, mà hễ thương Thầy thì ắt thương Ðạo, mà hễ thương Ðạo thì thương hết chúng sanh.

Cung Lập Khuyết tìm duyên định ngự,

Lãnh Kim sa đặng dự Như Lai.

(Kinh Tận Độ).

 

 

SA CƠ

Sa: Rơi xuống, từ trên cao rơi xuống thấp. Cơ: Cơ hội, dịp lúc.

Sa cơ ý chỉ rơi vào tình thế rủi ro, không may.

Trong Phương Tu Đại Đạo, Đức Hộ Pháp có viết: Chẳng cái sự vô phước nào hơn là đương giàu lớn mà sa cơ ra giàu nhỏ; lại chẳng có sự đại phước nào hơn là đương nghèo khó đặng đủ ăn.

Liệng giáo buông khiên binh đổ dữ,

Sa cơ thất trận tướng ra ngây.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

SA CHƠN

Hay “Sa chân”.

Sa: Rơi xuống, từ trên cao rơi xuống thấp. Chơn (chân): Một bộ phận trong thân thể dùng để đi.

Sa chơn, như chữ “Sa chân”, là lỡ bước chơn hay bước lầm chỗ, sắp té. Thường dùng để ví trường hợp bị rơi vào cảnh không hay. Như Sa chân lỡ bước.

Trong Giác Mê Khải Ngộ có câu: Tiếng nhặt khoan kêu lánh quán Sở với lầu Tần, Nầy hỡi bạn đã sa chân, nay nghe đờn giác ngộ nên bước lần ra cho khỏi.

Chịu trong khám tối mây mù,

Sa chơn vào chỗ lao tù ngàn năm.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Lao thân khổ phận là bao nả?

Lỡ bước sa chơn giỏi mặc dầu.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

SA ĐÀ

磋 跎

Sa: Rơi xuống, từ trên cao rơi xuống thấp. Đà: Trớn.

Sa đà là vấp ngã, vì hờ hững mà bỏ mất thời giờ.

Sa đà còn có nghĩa bị mất đà không kiềm chế được mà rơi theo hay bị cuốn hút theo một việc gì.

Như: Sa đà vào chốn rượu chè, cờ bạc.

Thân thể cho mạnh mẽ tinh vi, đừng để sa đà vào lục dục thì là thuận cùng trí lự khôn ngoan.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

SA ĐOẠ

Sa: Rơi xuống, từ trên cao rơi xuống thấp. Đoạ: Rơi, rớt xuống.

Sa đoạ là nói hư hỏng đến mức tồi tệ về lối sống, về tinh thần.

Trong Tôn Giáo, chữ sa đoạ có nghĩa là rơi vào cõi khổ, cõi bị đoạ, tức chỉ cõi trần.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có dạy: Hồng ân của Ðại Từ Phụ như thế mà vẫn thấy các chơn hồn sa đoạ hằng hà, mỗi ngày xem chẳng ngớt, là tại thiếu đức tin và lòng trông cậy nơi Thầy.

Cân điều tội phước trần duyên,

Tội nhiều sa đoạ, phước liền siêu sanh.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

SA MẠC

沙 漠

Sa: Cát. Mạc: Bãi cát.

Sa mạc là bãi đất mênh mông toàn là cát, không có nước, không có cây cỏ.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Phải có một bàn tay từ thiện giúp đỡ cứu nguy cho họ bằng không họ chẳng khác chi những khách lữ hành vì thiếu nước mà phải phơi thây giữa bãi sa mạc.

Thế đại Càn khôn cộng nhứt Thiên,

Nhơn như sa mạc tại thâm uyên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

SA MÔN

沙 門

Sa môn phiên âm từ chữ Phạn “Sramana” có nghĩa là thầy tu thuộc hàng xuất gia theo Phật giáo, còn gọi là Đại Sa môn.

Theo Phật giáo Nam tông, Sa môn chỉ giữ cụ túc giới (250 giới), tu thành quả La Hán.

Theo Phật giáo Bắc tông, ngoài cụ túc giới, Sa môn còn phải giữ thêm Bồ Tát giới, tu thành quả Bồ Tát và sau đó tu thành Phật.

Sa môn chánh pháp đổi dời,

Con buôn cửa Phạm gạt người thiện tâm.

(Lục Nương Giáng Bút).

Anh khá kiếm lời răn của Phật,

Lấy từ bi dìu dắt sa môn.

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 

SA NẶC

Sa Nặc phiên âm từ tiếng Phạn là Tchanna, một người hầu và giữ ngựa cho Thái Tử Sĩ Đạt Ta.

Nơi Đại Đồng Xã ở phía trước Toà Thánh Tây Ninh, Hội Thánh có đặt một bức tượng Thái Tử Sĩ Đạt Ta cỡi con ngựa kiền trắc, theo sau là bức tượng Sa Nặc chắp tay, chạy bộ. Hai pho tượng này mang ý nghĩa “Thái Tử Sĩ Đạt Ta lìa khỏi hoàng cung để tầm Đạo”.

Cửu Trùng Thiên nền xây vững chắc,

Hình chắp tay Sa Nặc bôn ba.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

Theo sau Thái Tử hình Sa Nặc,

Chờ trước Chánh Môn tháp Đức Thầy.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

SA NGÃ

Sa: Rơi xuống, từ trên cao rơi xuống thấp. Ngã: Đổ xuống, té, sụp.

Sa ngã là không còn tự giữ mình được trước những cám dỗ vật chất, để trở nên hư hỏng. Như:Sa ngã vào tiền tài tài, sắc dục.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Chí Tôn lại đến đặng dìu con cái Ngài, tức là các nguyên nhân của Ngài tại thế, từ bấy lâu nay bị sa ngã vào đường tội lỗi. Ngài đến quy hội cùng Ngài và chính mình Ngài đi tìm con cái của Ngài mà thôi.

Nếu ta nhu nhược để cho vật dục lôi cuốn đánh đổ cả chơn lý của lương tâm, tất nhiên ta phải bị sa ngã vào đường tội lỗi.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

SA SÚT

Sa: Rơi xuống, từ trên cao rơi xuống thấp. Sút: Giảm đi, kém hơn so với trước.

Sa sút là trở nên sút kém dần. Như: Cảnh nhà sa sút, càng ngày đạo tâm càng sa sút dần.

Đại Thừa Chơn Giáo có câu: Còn Tam Giáo xưa lại từ vô vi mà lần lần sa sút xuống hữu hình mới thành đạo bế, rồi sai lầm ra ngoại giáo bàng môn.

Thật tâm hồn nhơn loại đã bị sa sút xuống một mức quá thấp hèn.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

SA TĂNG

沙 僧

Sa Tăng chính là Quyện Liêm Tướng Quân bị đoạ, được Bồ Tát Quan Âm ban cho pháp danh là Ngộ Tịnh, dạy theo làm đệ tử của Đường Tăng để đi Tây Phương thỉnh Kinh.

Do tích trong truyện Tây Du Ký, ba thầy trò là Tam Tạng, Tề Thiên và Bát Giới đi Tây Phương thỉnh Kinh, dọc đường đến sông Lưu Sa Hà thì bị một con yêu tinh có hình thù dữ tợn, trên cổ có đeo một xâu chuỗi đầu lâu ngăn đón, không đi qua đặng. Tề Thiên nhờ Đức Quan Âm Bố Tát thu phục con yêu, rồi ban pháp danh là Sa Ngộ Tịnh, dạy phải theo Tam Tạng đi thỉnh Kinh.

Trên hành lang Báo Ân Từ, Đức Hộ Pháp dạy đắp một khuôn hình có ý nghĩa “Tam Tạng thâu Sa Tăng”.

Sa Tăng chính trường đồ cơ khảo,

Gây phong ba khuynh đảo tâm linh.

(Báo Ân Từ).

 

 

SA THẢI

沙 汰

Sa: Cát. Thải: Gạn bỏ.

Sa thải nghĩa đen là đãi cát, tức là bỏ những cái thô mà gạn lấy cái tinh. Nghĩa thường dùng là bỏ ra, không dùng nữa.

Sa thải còn có nghĩa là người bị cách chức trừ tịch.

Như: Chủ công ty sa thải một số công nhân

Chức Sắc Thiên Phong Nam Nữ toàn Đạo phải chịu dưới quyền công nhận của Vạn Linh mới đặng thăng chức hay là Vạn Linh buộc tội mà bị sa thải.

(Đạo Luật Mậu Dần).

 

 

SA TRƯỜNG

沙 場

Sa: Cát. Trường: Một bãi đất rộng lớn.

Sa trường là bãi cát rộng lớn, về sau dùng để chỉ bãi chiến trường, tức là nơi đôi bên đánh nhau.

Lý Bạch đời Đường có câu: Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu, Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi 醉 臥 沙 場 君 莫 笑, 古 來 征 戰 幾 人 回, nghĩa là say nằm bãi cát đừng cười nhé, chinh chiến xưa nay mấy kẻ về.

Nhìn thấy cảnh sa trường máu đổ,

Nhìn ngũ châu thành phố tiêu điều.

(Nguyễn Trung Trực Giáng).

Thương gái kiên trinh mùa chiến trận,

Thương trai nhiệt huyết bãi sa trường.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

1.- Sá là đường đi. Như: Đường sá, lang thang đi ngoài đường ngoài sá.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Trong dịp gặp gỡ nầy, Hội Thánh nhận thấy và thông cảm những nỗi khó khăn của nhiều vị Khâm Châu, Ðầu Tộc từ chỗ xa xôi, diệu vợi cũng không nài cực nhọc, không quản đường gian lao quyết về với Tổ đình để chiêm bái Ðức Phật Mẫu cho tròn câu hiếu Ðạo.

Xong công cuộc xây dựng Ðền Thánh, Ðức Ngài lo tu bổ các dinh thự mở mang đường , xây cất Trí Huệ Cung, tổ chức Hội Nhơn Sanh và Hội Thánh.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

2.- Sá còn có nghĩa là kể, để ý tới. Như: Sá chi, sá nào, sá gì gian lao hiểm trở.

Nói về Đức Quan Thánh Đế Quân, Thuyết Đạo Thượng Sanh có đoạn: Tào Tháo sững sốt nói rằng: “Tôi đã nhiều phen cho ông gái tốt, vàng bạc, gấm lụa, mà Ông chưa từng lạy tạ, nay chi một con ngựa mà ông phải lạy tạ?” Ðức Quan Thánh nói rằng: “Tôi biết ngựa này là ngựa xích thố của Lữ Phụng Tiên, một ngày đi ngàn dặm. Nay được nó rồi, nếu tôi biết anh tôi ở đâu thì nội trong một ngày tôi sẽ thấy mặt anh tôi được.”

Cũng vì thương nước thương dân,

Cầm binh lướt trận tấm thân gì.

(Lục Nương Giáng Bút).

Nhớ con cháu còn lâu kiếp sống,

Dầu gặp hình như bóng chi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

chi những mặt tôi đòi,

Mua vinh chẳng thẹn tiếng đời thị phi.

(Xuân Hương Giáng Bút).

 

 

SÁCH

1.- Sách là giấy có chữ in hoặc viết đóng lại thành tập. Như: Sách học, xem sách, đọc sách.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: Nào nhân xưa, nào đức trước, nào sách Thánh, nào lời Hiền, trải qua chưa trăm năm mà cuộc cờ đời đã rửa phai hạnh đạo.

Kinh sách đầy đầu chưa thoát tục,

Ðơn tâm khó định lấy chi mong.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Sách truyện xưa ghi đã lắm điều,

Như chuông tỉnh thế gõ nên kêu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Sách dầu muôn cuốn dạy câu lành,

Nào kẻ học cao thế gọi lanh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Sách là mưu chước, phương kế. Như: Kế sách, chính sách, bày sách cho đi phá trận, thất thủ vô sách.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Vậy nay Thầy cũng lấy lòng nhơn mà để vào trí não các con ít lời thêm cho rõ việc thi hành chánh sách của Ðạo.

Ðó thật là điều khó khăn, nhưng không phải là một sự khó khăn làm cho ta phải thúc thủ vô sách.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

SÁCH ĐÈN

Sách: Giấy có in chữ, đóng lại thành tập. Đèn: Vật dùng để thắp sáng.

Sách đèn, như chữ “Đèn sách”, là cây đèn và cuốn sách, dùng để chỉ sự học hành.

Như: Bõ công sách đèn bấy lâu.

Nêu danh trí sĩ nhà quan nghiệp,

Có thuở ơn ban nghiệp sách đèn.

(Đạo Sử).

 

 

SÁCH PHỤ

策 輔

Sách: Kế sách, mưu chước. Phụ: Giúp đỡ.

Sách phụ là giúp đỡ kế sách trị nước an dân, quốc gia cường thịnh, thiên hạ thái bình.

Nguyên Đức Khổng Tử là bậc thượng khách của các vua chư hầu, gọi là Vương tân, và thường bày ra kế sách để giúp trị nước.

Lúc Đức Khổng Tử còn chu du khắp các chư hầu, vua các nước thường hỏi về kế sách trị an, hoặc thuật trị nước, Ngài đem cái vương đạo để làm phương cách trị bình trong thiên hạ. Hễ nước chư hầu nào vô Đạo, không lấy dân làm trọng, chỉ say mê tửu sắc, thì Ngài bỏ nước đó mà đi. Còn nước chư hầu nào có vị vua là minh quân, biết thương dân mến nước, chuộng cái Đạo lý của Ngài thì Ngài ở lại giúp vua để trị nước, đem lại sự thái bình, thạnh trị cho đất nước, rồi các vua đó tôn Ngài như một vị khách quý, hay bậc thầy (Tân sư 賓 師), hoặc xem Ngài là bậc thượng khách của nhà vua gọi là Vương tân.

Vương Tân sách phụ,

Nho Tông khai hoá,

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

SÁCH VỞ

Sách: Giấy có chữ in đóng lại thành tập. Vở: Tập hợp giấy đóng lại để viết, thường có bìa bọc ngoài.

Sách vở là sách và vở, tài liệu dùng để học tập, viết lách hay nghiên cứu.

Khi nói về công nghiệp của Đức Khổng Thánh Tiên Sư, Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Chủ Nghĩa thương đời hoá chúng của Ngài, tuy kiếp sanh không được toại, nhưng lý thuyết sách vở của Ngài được lưu truyền cho đời sau mấy ngàn năm hưởng nhờ thì công nghiệp ấy đáng được tôn thờ sùng bái.

Lỗ tai bịt đừng nghe lời bợ,

Hễ dữ hung sách vở vẫn nằm lòng.

(Phương Tu Đại Đạo).

Anh xây lưng làm mặt ông hoành,

Lên bàn viết vẽ hình đầy sách vở.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SẠCH

1.- Sạch là tinh khiết, không nhơ bẩn. Như: Nước sạch, nghèo cho sạch rách cho thơm.

Thánh giáo Thầy có câu: Ðã vào trọn một thân mình nơi ô trược thì Thầy đây cũng khó mà rửa với một gáo nước cho đặng trong sạch.

Trau tâm hiệp sức vun nền Thánh,

Dưỡng tánh chờ khi sạch bợn trần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Lòng trần gội sạch noi đường chánh,

Nét Ðạo gìn thanh lánh nẻo tà.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Sạch là hết cả, không còn chút gì.

Như: Cố gắng làm việc để trả sạch nợ, bị móc túi mất sạch tiền bạc, sạch tội tiền khiên.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Ðứa thì mê tài, đứa thì ham cận sắc, đứa bị biếm vào lối lợi quyền, đứa bị xô vào nơi thất đức. Mỗi đứa mỗi nẻo, đều quăng sạch chất thiêng liêng, lầm lủi đưa tay theo mấy mươi động.

May đặng gặp hồng ân chan rưới,

Giải trái oan sạch tội tiền khiên.

(Kinh Tận Độ).

Biến chuyển Trời Nam cuộc đảo huyền,

Trả vay cho sạch vết oan khiên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3,- Sạch là trong trẻo, không có nhơ bợn. Như: Tiết sạch giá trong, sửa lòng trong sạch.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Vậy cái hạnh phúc thật sự là hạnh phúc về tinh thần, hạnh phúc của người có lương tâm thơ thới, biết an phận thủ thường, có tư tưởng sạch trong nhiễm mùi đạo đức.

Làm người rõ thấu lý sâu,

Sửa lòng trong sạch tụng cầu Thánh Kinh.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

Giữ cho trong sạch linh hồn,

Rèn lòng sửa nết đức tồn hậu lai.

(Kinh Sám Hối).

 

 

SẠCH SẼ

Sạch: Không dơ bẩn, hết tất cả, trong trẻo không bợn.

Sạch sẽ là sạch, tức không có bụi bặm, rác rưởi, cáu ghét, hoặc không bị lấm lem, hoen ố. Như: Nhà cửa sạch sẽ, ăn mặc sạch sẽ.

Sạch sẽ còn có nghĩa là hết tất cả, không còn sót lại chút nào. Như: Gia tài anh ấy bị cháy sạch sẽ.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Trước khi thủ cơ hay là chấp bút, thì phải thay y phục cho sạch sẽ, trang hoàng, tắm gội cho tinh khiết, rồi mới đặng đến trước bửu điện mà hành sự, chớ nên thiếu sót mà thất lễ.

Đồ màu trắng nấu cho sạch sẽ,

Màu trắng xem thấy khoẻ con người.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SAI

1.- Sai là khiến, bảo người dưới làm việc việc gì đó cho mình. Như: Sai con nấu nước, sai em đi chợ, sai vặt.

Thánh giáo Thầy có câu: Bởi vậy cho nên, Thầy chẳng vì ghét mà không lời khuyến dụ; cũng chẳng vì thương mà không sai quỷ dỗ dành.

Diêu Trì Cung sai nàng Tiên Nữ,

Phép Lục Nương gìn giữ chơn hồn.

(Kinh Tận Độ).

Nghe bụng nhiều phen sôi lục bục,

Sai con lắm lúc nổi tam bành!

(Thơ Hoàng Nguyên).

2.- Sai là lầm, không đúng, trật ra ngoài. Như: Nói sai, sai lời, sai hẹn, sai lẽ phải, sai khớp xương.

Thánh giáo Đức Thích Ca Như Lai kim viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát có dạy: Kỳ truyền đã thất, chư sơn chưa hề biết cái sai ấy do tại nơi nào, cứ ôm theo luật Thần Tú, thì đương mong mỏi về Tây phương mà cửa Tây phương vẫn cứ bị đóng, thì cơ thành Chánh quả do nơi nào mà biết chắc vậy.

Chừa thói xấu đảo điên trong dạ,

Muôn việc chi chẳng khá sai lời.

(Kinh Sám Hối).

Ðầu nhà xem rõ cơ Trời Ðất,

Trời Ðất không sai một mảy hào.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

SAI BIỆT

Sai: Khác, không giống. Biệt: Khác với nhau.

Sai biệt là không giống nhau, khác nhau nhiều.

Trong Thiên Đạo, hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có đoạn viết: Đành rằng Đại Đạo có giáo lý cùng mật truyền riêng, nhưng tôn chỉ là “Quy Tam Giáo, hiệp Ngũ Chi”, nên lý thuyết có một phần rút trong tinh ba của lý thuyết các tôn giáo, cốt để thiệt hành cái tôn chỉ ấy. Vì vậy mà nạp dụng những giáo lý chẳng hạn của đạo nào đã được công nhận là Chơn lý. Đồng thời, Đại Đạo có trách nhiệm thuyết minh những lý thuyết đã bị người đời, hoặc vì thời gian, hoặc vì hiểu lầm mà sai biệt.

Nhưng trong những cuộc hành lễ nơi nhiều Phận Ðạo cũng còn có sự sai biệt nhau, không đồng một nghi thức duy nhất theo lời chỉ dạy của Hội Thánh.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

SAI BƯỚC LẠC ĐƯỜNG

Sai bước: Bước chân đi sai nẻo. Lạc đường: Lạc lối, lầm đường.

Sai bước lạc đường, đồng nghĩa với thành ngữ “Lầm đường lạc nẻo”, tức là đi vào con đường sai lạc, lỗi lầm do không nhận thức được lẽ phải hay đạo lý.

Như: Chúng ta đi theo lời dạy của Đức Chí Tôn thì không bao giờ sai bước lạc đường.

Xem: Lầm đường lạc nẻo.

Chúng ta nên gắng công trau dồi tâm chí hầu nâng cao danh thể Đạo và thức tỉnh những kẻ sai bước lạc đường.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

SAI CHẠY

Sai: Không nhằm, không đúng lắm. Chạy: Lệch đi, không đúng chỗ.

Sai chạy là không đúng, trật ra ngoài.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Nhưng chúng ta biết quyền năng vô hình định hồn cao cả, có thể cầm mực thước công bình không hề sai chạy được là Ðại Từ Phụ.

Thăng bằng hoạ phúc có cân,

Không hề sai chạy một phân đặng nào.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

SAI KHIẾN

Sai: Sai bảo. Khiến: Sai bảo, bắt theo ý muốn hay phương pháp của mình.

Sai khiến, như chữ “Sai khiển 差 遣”, tức là bảo phải làm việc gì. Như: Sai khiến đầy tớ làm việc.

Trong Pháp Chánh Truyền Chú Giải có câu: Thấy lòng bác ái của Thầy bắt động lòng, vì Thầy đã biết rằng Lễ Sanh phải chịu tùng phục dưới quyền người sai khiến, nên phải có hạnh đức, mới biết an phận mình, mà chịu phần lòn cúi, quật hạ đặng.

Lời sai khiến lòng đừng sanh nạnh,

Lịnh mẹ cha Thần Thánh cũng không bì.

(Phương Tu Đại Đạo).

Muốn sửa bịnh các em làm biếng,

Thì toan bề sai khiến lượng phương làm.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SAI LẠC

Sai: Sai lầm. Lạc: Mất, lạc nẻo.

Sai lạc là không đúng, lạc ra ngoài, chẳng còn giữ đúng như lúc ban đầu nữa. Như: Hiểu sai lạc với ý thầy.

Trong Đại Thừa Chơn Giáo có câu: Tam Giáo trước là: Nho, Thích, Ðạo vì hoằng khai cũng đã lâu đời, nên bị biến cải mà thành thử phải thất chơn truyền làm cho sai lạc mất hết cả Thiên cơ mầu nhiệm, bởi đó nhơn sanh tu tuy nhiều mà thành thì chẳng có.

Các con lại làm sai lạc bản chất, tôn chỉ của nền Thánh giáo.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

SAI LẦM

Sai: Không đúng. Lầm: Làm sai, nghĩ không đúng.

Sai lầm là ý nghĩ hay việc làm không đúng, trái với lẽ phải. Sai lầm còn có nghĩa là lầm lẫn, tức là lầm cái nọ với cái kia. Như: Phạm sai lầm nghiêm trọng.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có dạy: Ðạo là cái khuôn khổ, là con đường để noi theo đặng hành động cho chánh đáng đối với lẽ phải của người mà Tạo hoá đã phú cho tánh linh hơn vạn vật. Nói theo lẽ Ðạo thì lòng được trong suốt, càng học đạo càng biết sửa mình, không thể sai lầm được nữa.

Sai lầm một thuở biết ăn năn,

Năn nỉ lòng kia tự xét rằng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Gắng sức trau dồi một chữ Tâm,

Đạo đời muôn việc khỏi sai lầm.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Hiệp sức đã từng thệ nhứt tâm,

Đạo mầu vun quén há sai lầm.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

SAI NGOA

差 訛

Sai: Không phù hợp với cái hoặc điều có thật, mà có khác đi. Ngoa: Lầm, lừa dối.

Sai ngoa là không thật, dối trá.

Như: Ăn nói sai ngoa.

Lộc thế đã thừa mùi mặn lạt,

Duyên đời vui giữ chớ sai ngoa.

(Bát Nương Giáng Bút).

Chó còn chung thỉ một lòng,

Người đâu nỡ dạ bưởi bòng sai ngoa.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

SAI SÓT

Sai: Không phù hợp với cái hoặc điều có thật, mà có khác đi. Sót: Bỏ quên.

Sai sót là khuyết điểm không lớn, do sơ suất. Như: Điều sai sót tôi sẽ khắc phục.

Trong Thánh Ngôn chép tay của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông dạy hai Ngài Trung và Thơ có câu: Nhị vị Ðạo hữu đó há! Lão buồn xem Ðạo còn lắm nỗi khó khăn rối rắm, đường đi nước bước đã sớm chỉ cho hết vài phần mà đi lại cũng chưa gỡ được mối nào, mà con đường sai sót lại lần lần đi tới nữa.

Sanh nhằm thời buổi nhơn sanh dụng gương bất đức mà gieo hoạ cho bước trần, khiến cho sai sót nẻo luân thường.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

SÁI

Sái là sai, không khớp, không đúng với một chuẩn mực nào đó trong nhận thức của người nói. Như: Làm việc đó sái hoàn toàn, nói sái lẽ phải, cánh tay bị sái khớp.

Thánh giáo Đức Thích Ca Như Lai có đoạn dạy: Chư sơn đắc đạo cùng chăng là do nơi mình hành đạo. Phép hành đạo Phật giáo dường như ra sái hết, tương tợ như gần biến Tả Ðạo Bàng Môn.

Lại e sái thế lỡ thời,

Giúp nam nhân chẳng có người trọn tâm.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Hư nên cũng có một đời,

Hay chi thay đổi nhành mai sái mùa.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Dầu lầm lỡ phận anh ở sái,

Cứ chơn thành đừng ngại thọ tội hình.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SÁI BƯỚC

Sái: Sai, lệch. Bước: Dời chơn, đi.

Sái bước là bước đi sai lầm, tức đi vào con đường lầm lạc. Như: Lầm đường sái bước.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thầy có dạy: Con phải chăm nom từ chút và dọ tánh chư Đạo hữu, chớ vội tin, lúc nầy nhiều đứa bị cám dỗ mà sái bước lần. Ấy là lúc Tà Chánh tranh giành với nhau. Đứa nào chẳng giữ được đường ngay thì khó mong đến cùng Thầy đặng đó.

Hại thay! Ðã nhiều lần các con chẳng hiểu ý, Thầy cũng đau lòng mà thấy các con đi sái bước.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

SÀI TRIỆU TRỊNH

柴 趙 鄭

Sài, Triệu, Trịnh tức là Sài Vinh, Triệu Khuông Dẫn, và Trịnh Ân, ba người cùng kết nghĩa anh em với nhau tại Huỳnh Thổ Ba. Sài Vinh là đại ca, Triệu Khuông Dẫn là nhị ca, còn Trịnh Ân là tam đệ.

Sài Vinh, tự là Quân Quới, người gốc Tịnh Vị Châu, ông cha thuở trước có làm quan nhưng đến đời Sài Vinh thì bị sa sút, nghèo khổ, đến nỗi Sai Vinh phải đi bán dù.

Triệu Khuông Dẫn, tự là Nguơn Lãng, gốc người ở Trác Quận, cha là Triệu Hoằng Ân, mẹ là Đỗ Thị. Triệu Khuông Dẫn có ba người em: Triệu Khuông Nghĩa, Triệu Khuông Mỹ và em gái út là Ngọc Dung. Triệu Hoằng Ân làm quan Chỉ Huy Sứ đời Hậu Hán.

Trịnh Ân, tự là Tử Minh, người Sơn Tây, hình dung dữ tợn, mặt đen như lọ chảo, có võ nghệ và sức mạnh. Trịnh Ân mồ côi cha mẹ nên phải làm nghề đi bán dầu để độ nhựt.

Sài Triệu Trịnh, ba anh em vào cuối đời Đường, đồng phò tá Quách Ngạn Oai lên ngôi, tức là vua Thái Tổ nhà Hậu Chu. Quách Ngạn Oai không con, nên Sài Vinh là cháu được truyền ngôi lại. Sau đó, Triệu Khuông Dẫn nhờ có công đánh phá quân Khiết Đan, nên khi Sài Vinh chết, chư tướng đồng phò Triệu Khuông Dẫn lên làm vua, đó là Thái Tổ nhà Tống.

Bên trong hành lang nơi Báo Ân Từ, Đức Hộ Pháp cho đắp một khuôn hình nói về “Sài, Triệu, Trịnh”.

Sài, Triệu, Trịnh cũng nguyền như thế,

Mà nên mưu đủ kế đồ vương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Sài, Triệu, Trịnh thể đồng chung trí,

Tình hữu giao thinh khí tương cầu.

(Báo Ân Từ).

 

 

SAY

1.- Say là ở trạng thái bị ngây ngất, choáng váng do tác dụng của rượu, thuốc hay những yếu tố có tác dụng kích thích nào đó. Như: Say rượu, say ngủ, say nắng.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Trong còn mơ màng như người say chưa tỉnh, thì ngoài thế nào được đầm ấm mà gieo lần ra. Các con biết, xưa những chi chi mà trái cả nhơn tâm thì khó bền khó vững.

Thi Thần vui hứng ngoài rừng trước,

Rượu Thánh buồn say dưới cội tàn.

(Đạo Sử).

Lắm đứa ngu thịt rượu no say,

Chẳng nghĩ mẹ tiền may bạc vá.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Say là mê đắm, tức yêu thích đến mức bị cuốn hút hoàn toàn, không còn nhớ gì, biết gì đến những cái khác. Như: Say nhạc, say nữ sắc.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Hiếm chi bậc Thánh bị đày vào chốn trần ai khổ nhọc, chìm đắm nơi bến khổ sông mê, dan díu lấy sự say vui mùi thế tục, bước đến cảnh kim mã ngọc đàng mà phủi hết lòng đạo đức, khiến cho ngôi cựu vị phải chịu trôi phủi dòng sông, mà vì đó, thuyền Bát Nhã khó nương cứu vớt đặng.

Say Ðạo là say bậc Thánh Hiền,

Hiền xưa sớm để bước tầm Tiên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Hễ là trí, ấy là ngu,

Càng say âu yếm càng sầu nhớ thương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

SAY ĐẮM

Say: Ở trạng thái bị ngây ngất, choáng váng do tác dụng của những thứ kích thích. Đắm: Chìm xuống.

Say đắm là say mê đến mức như đã bị mất hết lý trí và không còn biết gì đến chung quanh nữa.

Như: Say đắm mùi Đạo, danh lợi say đắm con người.

Cô Lục Nương phướn Tiêu Diêu nắm,

Để truy hồn say đắm biển mê.

(Thơ Huệ Phong).

Lợi quyền say đắm vinh thành nhục,

Kinh điển trau dồi dở hoá hay.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

SAY MÊ

Say: Ở trạng thái bị ngây ngất, choáng váng do tác dụng của những thứ kích thích. Mê: Say sưa, mải đắm theo việc gì.

Say mê, như chữ “Say đắm”, là ham thích đặc biệt và bị cuốn hút liên tục vào công việc nào đó, đến mức như không còn thiết gì khác nữa.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Thế mà người đời chưa thức tỉnh, vẫn còn say mê trong giấc mộng kim tiền, cũng hung hăng bạo ngược, cũng gian xảo trăm bề, cũng chước quỷ hại nhơn, tham vàng bỏ nghĩa.

Rán quá sức cẩn phong thí nhạn,

Dường say mê lơ lãng tinh thần.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Là vì biết chữ bại thành,

Say mê chung đỉnh tử sanh quay cuồng.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

SAY SƯA

Say: Ở trạng thái bị ngây ngất, choáng váng do tác động của rượu, hay những yếu tố có tác dụng kích thích.

Say sưa là bị say do uống rượu. Như: Say rượu.

Say sưa còn dùng để chỉ mê say, ngây ngất, tức ở trạng thái bị cuốn hút hoàn toàn vào một công việc hay hứng thú nào đó. Như: Trò chuyện một cách say sưa.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Đức Quyền Giáo Tông có đoạn: Ôi! Qua nghĩ lại quá sức tức mình, mấy em nghĩ coi một kiếp sanh đâu có mấy lát, cái giả cuộc trần hoàn tuy xem như nháy mắt mà ảnh hưởng sâu sắc biết là bao. Nào là danh, nào là vị, nào là tước, nào là quyền, nào là vinh, nào là trọng, rốt sự thì cũng không còn mảy mún giá trị chút ít gì nơi cõi Hư linh Hằng sống, bất quá như cơn vui dự đặng một tiệc ngon ngọt của khách phong trần say sưa một lát mà đòi phen chịu thảm cả đời.

Mùi trần khi đã xa khơi,

Say sưa bầu khí bồi hồi chung phong.

(Kinh Tận Độ).

Rượu ngon sắc tốt say sưa,

Con ngoan vợ đẹp sớm trưa vui vầy.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

SÁM

Sám là ăn năn, nhận tội lỗi mình. Như: Sám hối, lời kệ sám (lời kinh, kệ để sám hối ăn năn).

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Một linh hồn đang sa ngã chốn sông mê, ta ra công khó dìu dắt cho y biết thức tỉnh vào đường tu hành, ăn năn sám hối.

Lời kệ sám di truyền khuyến thiện,

Câu văn từ luận biện thật thà.

(Kinh Sám Hối).

Tuồng hát giọng đờn làm kệ sám,

Phồn hoa xây lấp khắp trong ngoài.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

SÁM HỐI

懺 悔

Hai chữ sám hối là danh từ kết hợp cả tiếng Sanskrit và tiếng Hán. Sám do chữ Phạn sám ma, là hối hận điều lầm lỗi. Hối: Tiếc vì đã làm điều lỗi, xin tha thứ.

Sám hối có nghĩa là xin thú nhận những lỗi lầm đã phạm và xin nguyện ăn năn sửa đổi tội lỗi, từ nay về sau không tái phạm nữa.

Trong bài tụng Sám hối bên Phật giáo có bốn câu: Tội tánh bổn không do tâm tạo, Tâm nhược diệt thời tội diệc vong. Tội vong, tâm diệt lưỡng câu không, Thị tắc danh vi chân sám hối 罪 性 本 空 由 心 造, 心 若 滅 時 罪 亦 亡. 罪 亡 心 滅 兩 俱 空, 是 則 名 為 真 懺 悔. Nghĩa là:Tánh của tội vốn là không, do tâm tạo. (vì tâm ý là chủ động) Động cơ tâm đã diệt rồi thì tội cũng theo đó mà mất. Tội hết, tâm diệt rồi cả hai đều không. Thế mới gọi là chân sám hối (Sám hối chân thật).

Ăn năn sám hối tội tình,

Xét câu minh thệ gởi mình cõi thăng.

(Kinh Tận Độ).

Thấy rõ lòng ngươi Ta phải đuổi,

Về lo sám hối kịp ngày giờ.

(Đạo Sử).

 

 

SÁM HỐI TỘI CĂN

Sám hối: Thú nhận những lỗi lầm đã phạm và xin nguyện ăn năn chừa lỗi. Tội căn: Cái gốc, hay nguyên nhân của tội lỗi.

Sám hối tội căn là biết được nguồn gốc của tội lỗi, nguyện xin ăn năn chừa bỏ.

Theo Phật, cõi thế gian nằm trong Sa Bà Thế giới, hay cõi Tam Thiên Đại Thiên Thế giới, thuộc phạm vi hoá độ của Đức Thích Ca Mâu Ni Văn Phật.

Sa Bà quốc độ được dịch là Kham Nhẫn, hàm ý: Chúng sanh trong cõi ấy cam lòng chịu đựng những nỗi khổ sở do ngũ trược gây ra, chẳng biết sợ sệt và nhàm chán. Mặc dù có hiểu chư pháp vẫn ít có kẻ chịu tu hành để thoát ly khổ cảnh, cam lòng đắm chìm mãi trong vòng trói buộc, nên gọi là Kham Nhẫn. Sa Bà còn được Phật cho là ngũ trược ác thế, do vì có năm thứ trược trong cõi ấy, đó là kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược và mạng trược.

Ngoài ra, thế giới ấy còn là một nơi chứa nhiều tội lỗi, vì bởi con người bị vô minh che mờ chân tánh, bị thất tình lục dục sai khiến làm những hành vi hung ác mà gây ra nhiều tội lỗi.

Chính vì vậy, con người được sinh ra ở cõi thế gian này có mấy ai không bị nhiễm trần và tránh khỏi tội lỗi, song khi đã biết lỗi lầm thì phải biết sám hối ăn năn, như lời dạy trong bài kinh Sám Hối:

Giữa bụi thế giữ sao khỏi vấy,

Biết ăn năn xét lấy sửa lòng.

Thánh giáo Đức Chí Tôn cũng có dạy: “Nơi trần khổ này, dầu cho bậc Chí Thánh cũng khó tránh sự lỗi lầm đặng, nhưng sự ăn năn tự hối là quý báu vô giá. Các Tiên, Phật xưa cũng nhiều bậc đứng đặng địa vị cao thượng, thiêng liêng là nhờ có sự cải quá mà nên chánh quả”.

Do vậy, khi mở nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Đức Chí Tôn dạy phải độ những người có tội lỗi, là hạng người nhiều nhứt trong thế gian, và nhứt là thời kỳ hạ nguơn mạt pháp này. Ngài dạy: “Thầy lại nói, buổi lập Thánh Đạo, Thầy đến độ rỗi kẻ có tội lỗi. Nếu đời không tội lỗi, đâu nhọc đến công Thầy. Ấy vậy, các con rán độ kẻ tội lỗi là công lớn làm cho Thầy vui hơn hết”.

Độ người có tội không có nghĩa là ơn Trên tha thứ hết các lỗi lầm đã gây thành nghiệp báo trong hiện kiếp, mà chính do tự tâm phải biết hối cải và làm lành.

Thực ra, Đức Chí Tôn và chư Phật không bao giờ thay đổi nghiệp lực của chúng sanh, mà chỉ có thể giáo hoá chúng sanh tự mình nỗ lực sám hối ăn năn để thay đổi nghiệp lực hay vận mệnh của chính mình. Trời Phật chỉ dùng giáo pháp để dìu dắt chúng sanh tu thiện, tu phước để được trừ tai, miễn hoạ. Vì vậy, nói rằng do mình sám hối nên Trời Phật rộng tình tha thứ cho, điều đó là ý muốn nói trước nhứt tự bản thân chúng sanh phải biết ăn năn sám hối, tức là tự mình độ rỗi cho mình, nếu không thì làm trái với quy luật nhân quả tự nhiên. Như chính lời Thánh giáo của Đức Chí Tôn đã than: “Than ôi! Thầy đã là Đấng lập khổ hình, chiếu theo phép công bình của Tạo Hoá, nhưng thấy nhơn sanh càng ngày càng bước vào con đường hắc ám, để đem số phận buộc vào đó, thì Thầy cũng bắt đau lòng, nhưng chẳng lẻ bỏ phép công vì sanh chúng”.

Những người có tội sở dĩ được sự quan tâm của Đức Chí Tôn cũng vì Ngài quá thương yêu chúng sanh còn khờ dại, nên đến dạy dỗ, dìu dắt trở về nẻo chánh đường chơn, hầu sau này có thể quy hồi cựu vị. Trước những sự ưu ái của Ngài, chúng ta, những người mới cải tà quy chánh phải biết các tội tình đã sai phạm và xin nguyện ăn năn sửa đổi, chừa bỏ việc quấy, từ nay về sau không bao giờ tái phạm nữa. Như thế mới thực sự là sám hối để tu hành.

Muốn thực hiện lễ sám hối, chúng ta phải thiết đàn cúng Đức Chí Tôn và tụng kinh Sám Hối. Nhưng chúng ta cần nên hiểu rằng tâm là nguồn gốc tác động nên tội lỗi, do đó muốn dứt tội thì tất yếu phải sám hối ở tự tâm, chứ không có nghĩa là cầu xin Đức Chí Tôn tha tội, mà phải nhờ Ngài chứng giám để ta phát tâm ăn năn chừa cải. Có như thế, chúng ta mới quyết tâm sửa chữa những lỗi lầm để trở thành con người mới, có nội tâm trong sạch, thanh tịnh.

Người ở thế mấy ai khỏi lỗi,

Biết lạc lầm sám hối tội căn.

(Sám Hối Kinh).

 

 

SÀM BIỆN

讒 辯

Sàm: Nói gièm, nói xấu. Biện: Biện luận, bàn cãi.

Sàm biện là biện luận một cách càn bậy, tức là bàn tán bậy bạ, không đúng sự thật.

Các con hiểu sao được, nhưng Thầy buồn vì nỗi có nhiều đứa sàm biện về việc ấy.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

SÀM TẤU

讒 奏

Sàm: Nói gièm, nói xấu để làm hư cái hay, cái tốt của người khác. Tấu: Tâu lên vua.

Sàm tấu là tâu với vua để gièm pha kẻ khác. Như: Những kẻ nịnh thần thường hay sàm tấu.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Xưa Hớn Bái Công chưa phải là chánh đáng một vị minh quân, mà cơ Trời vẫn để cho nghiệp Hớn ba trăm năm quyền bỉnh. Nào tật đố hiền tài, hữu thỉ vô chung, nghe lời sàm tấu, giết người lao công hạn mã, nếu chẳng phải chí của Trương Lương thì không thế nào khỏi xung tâm oán trách.

Trong việc trị nước, các vị vua chúa thời xưa thường.nghe lời sàm tấu của đám nịnh thần mà quốc gia phải khuynh nguy, cơ đồ nghiêng ngửa.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

SAN BẰNG

San: Ban ra, làm cho bằng, chia ra cho đều. Bằng: Phẳng, ngang đồng.

San bằng là làm cho bằng. Như: San bằng gò mối.

Đức Nguyệt Tâm chơn Nhơn trong Thánh Ngôn Sưu Tập có câu: Bần Đạo vô cùng biết ơn hiền hữu đã giúp đỡ hiệu quả trong nhiệm vụ của nó để san bằng những khó khăn có thể xảy ra trong việc hoàn thành Thánh ý của Đức Chí Tôn.

Chức sắc Bộ Nhạc đã nung đúc thành khối kiên tâm, cứng rắn thì dù khó khăn bao nhiêu cũng có thể san bằng để đi tới chỗ cứu cánh.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

SẢN

1.- Sản là sinh ra, đẻ ra. Như: Sinh sản, sản xuất, sản hậu, sản phụ.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Thật không hiện mà rõ, không động mà biến hoá vô cùng, không làm mà nên việc. Nhờ đó bốn mùa thay đổi, muôn vật sanh sản, võ trụ trường tồn.

Khi sản sanh phải có mặt chồng,

Cơn đau đớn giải lòng người đẻ chửa.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Sản là của cải. Như: Tài sản, sản nghiệp, sản vật.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Còn tài sản là tổng quát các vật quý giá của con người đã thu nhặt trên thế gian nầy.

Gia sản để cho ra đến mạt,

Ắt đem thân làm mọi nhà người.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SẢN NGHIỆP

產 業

Sản: Tài sản, của cải. Nghiệp: Sự nghiệp, công việc lớn mà một người có thể tạo ra.

Sản nghiệp là của cải, cơ nghiệp, tức là những thứ do việc sinh sản ra vật phẩm.

Trong Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Sản nghiệp, của tiền đều là những món phù du, thoạt còn thoạt mất, cái thân còn tồn tại là điều quý báu, vì còn người tức còn của vậy.

Khán đắc phù sinh nhứt thế không,

Điền viên sản nghiệp diệc giai không.

(Quan Âm Giáng Bút).

Phước Thiện để rước ngoại bang,

Phước Thiện sản nghiệp bảo toàn thế gian.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

SẢN SANH

Hay “Sản sinh”.

Sản: Sinh đẻ. Sanh (sinh): Đẻ ra, sinh ra.

Sản sanh, như chữ “Sản sinh 產 生”, là đẻ, về mặt chức năng duy trì và phát triển nòi giống của sinh vật.

Sản sanh như chữ “Sinh sản 生 產”.

Cơn sản sanh bếp lửa nồi xông,

Nuôi con dại, vợ bồng, chồng dắt.

(Phương Tu Đại Đạo).

Khi sản sanh phải có mặt chồng,

Cơn đau đớn giải lòng người đẻ chửa.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SẢN VẬT

產 物

Sản: Sinh ra, đẻ ra. Vật: Từ dùng để gọi chung các loài, các thứ có hình ở trong trời đất.

Sản vật là vật được làm ra, hoặc được khai thác, thu nhặt từ trong thiên nhiên.

Như: Sản vật thiên nhiên.

Vinh hoa phú quý vẫy vùng,

Những đồ sản vật cộng chung quá nhiều.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Sản vật lộc Trời đồng cộng hưởng,

Sao mà gieo hoạ khắp cùng nơi.

(Thơ Thượng Trí Thanh).

 

 

SẢN XUẤT

產 出

Sản: Sinh để, của cải sinh ra. Xuất: Ra.

Sản xuất là sinh sản ra, hay tạo thành ra. Như: Sản xuất nông nghiệp.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Như trong buổi lễ hôm nay, chư đạo hữu, đạo muội nơi đây đã chung lo tạo lập một nền tảng vững chắc, một ngôi thờ xứng đáng để lễ bái Ðức Mẹ Thiêng Liêng, thì sự thành công đã được sản xuất nơi lòng hiếu kỉnh, nơi mối dây thân ái và nơi chí hy sinh góp chung làm sức mạnh.

Càn Khôn sản xuất hữu hình,

Bát hồn vận chuyển hoá thành chúng sinh.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

Nết Khổng nảy sanh bao Thánh triết,

Nhà nho sản xuất bực hiền lương.

(Tôn Sơn Chơn Nhơn).

 

 

SANG

1.- Sang là vinh hiển, cao quý, trái với hèn. Như: Giàu sang, người sang kẻ quý.

Thánh giáo Thầy dạy Ngài Thái Thơ Thanh có câu: Con phải khai rộng Thánh Thất cho chúng sanh cầu đạo, đừng phân sang hèn, ai ai đều cũng con Thầy.

Sum vầy các sắc các con nhà,

Dầu phải sang hèn cũng một Cha.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nhiều đứa dại muốn sang đủ thứ,

Chẳng kể cha bạc cữ tiền ngày.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Sang là đi từ bên nầy qua tới bên kia, hoặc qua từ lúc nầy cho tới lúc khác.

Như: Sang đò, sang thuyền, trời bước sang canh năm, ráng học sang năm phải thi cử rồi.

Ngừa thuyền Thầy đợi kẻ sang chơn,

Khổ hạnh khuyên con chớ dạ hờn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nguồn lành là chốn rất an nhàn,

Trước mắt đâu xa hỏi nẻo sang.

(Đạo Sử).

3.- Sang là đổi qua, chuyển qua, tức có sự thay đổi từ người nầy qua người khác.

Như: Sang tên xe, sang nhà, sang bớt gánh nặng.

Trong võ trụ mình người sanh đứng đợt,

Ai hiểu mình phòng sang bớt gánh đồ thơ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SANG CẢ

Sang: Trái với hèn, cao, quý. Cả: Lớn.

Sang cả là rất sang trọng và quý phái.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Biết bao nhiêu gia đình ở mặt thế gian này sang cả, mà họ hưởng được cái thiệt hạnh phúc hay chưa? Bần Đạo nói: họ hưởng đặng tạm thời trong giây phút mà thôi.

Người sang cả là vì duyên trước,

Kẻ không phần luống ước cầu may.

(Kinh Sám Hối).

Khuyên em biết cây cân Tạo Hoá,

Chẳng chê nghèo, sang cả chẳng vì.

(Bát Nương Giáng Bút).

Thà cháo rau trọn đạo tào khương,

Hơn sang cả người thương đành phụ rãy.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SANG ĐOẠT

倉 奪

Sang: Cướp giựt. Đoạt: Cướp, chiếm của người.

Sang đoạt là cướp đoạt, chiếm đoạt. Như: Nó bị tội sang đoạt tài sản.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Trái lại họ không đào đất để mà sống, họ chỉ âm mưu sang đoạt của người, hễ thấy người ta có cái gì thì muốn lấy, muốn giựt của người, nên nay mới có những sự tranh đua như thế.

Chư Ðạo Hữu thế nào mà trả, trước mặt luật Trời chưa phải dễ sang đoạt nghe à...

(Đạo Sử).

 

 

SANG GIÀU

Sang: Có tiền tài, danh vọng, được nhiều người tôn kính. Giàu: Có nhiều tiền của.

Sang giàu, như chữ “Giàu sang”, là giàu có và sang trọng, tức có tiền của, tiếng tăm và được nhiều người trong xã hội kính trọng.

Thuyết Đạo Thượng Sanh viết: Cho nên kẻ nhân giả không thấy người sang giàu mà ham muốn, không thấy mình nghèo hèn mà sợ, vì kẻ kia cậy ở cái giàu của nó, ta đây cậy ở cái nghĩa của ta, ta có điều gì bất mãn đâu?

Đừng mong cậy chỗ sang giàu,

Khuyên đừng so sánh vàng thau phụ tình.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Nghiệp lớn nhà cao tuy chẳng sánh,

Sang giàu cũng kẻ đặng năm ba.

(Đạo Sử).

Nhượng vinh huê trong buổi sang giàu,

Khuyên học khách ăn rau chê bệ ngọc.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SANG GIÀU NHƯ MÂY

Sang giàu: Giàu có và sang cả. Như mây: Như đám mây bay, ý chỉ khi tan khi tụ.

Sang giàu như mây, bởi câu “Phú quý như phù vân 富 貴 如 浮 雲”, tức là sang giàu như mây nổi, ý nói giàu sang chẳng khác gì một đám mây trôi nổi trên bầu trời, khi tan khi tụ, không được lâu dài, bền vững.

Trong sách Luận Ngữ có câu: Bất nghĩa nhi phú thả quý ư ngã như phù vân 不 義 而 富 且 貴 於 我 如 浮 雲 nghĩa là bất nghĩa mà giàu sang, đối với ta như đám mây nổi.

Sang giàu chẳng khác như mây,

Khi tan khi hiệp đổi xây không thường.

(Kinh Sám Hối).

 

 

SANG HÈN

Sang: Vinh hiển, cao quý. Hèn: Đê tiện, thấp kém.

Sang hèn là giàu sang hoặc nghèo hèn. Như: Người tu cư xử không phân biệt sang hèn.

Thánh giáo Chí Tôn dạy Nữ phái có câu: Chư ái nữ, Thầy vì Tam Kỳ Phổ Ðộ, chẳng phân cao thấp, sang hèn. Thầy chỉ khuyên một điều là đạo hạnh các con phải giữ hằng ngày cho nhằm phương pháp Nhơn đạo, tức là Tứ Ðức đó vậy.

Sum vầy các sắc các con nhà,

Dầu phải sang hèn cũng một Cha.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Phải nhớ sang hèn con cái Lão,

Ðừng quen chế nhạo chánh cùng tà.

(Đạo Sử).

Bạn trăm tuổi thân hoà làm một,

Dầu sang hèn xấu tốt cũng duyên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

SANG TRỌNG

Sang: Vinh hiển, cao quý. Trọng: Nặng, tôn quý.

Sang trọng là quý trọng. Như: Ăn mặc sang trọng.

Thánh giáo Thầy có lời dạy: Thầy lại thường nói rằng, sự sang trọng vinh hiển của các con chẳng phải nơi thế giới nầy. Thầy lại đến lập trong nước các con một nền Chánh đạo đủ tư cách độ rỗi chúng sanh.

Lợi nhỏ đừng quên bỏ nghĩa to,

Chưa nên sang trọng Ðạo không lo.

(Đạo Sử).

Nên hư sang trọng nhờ căn trước,

Dầu phải chi chi cũng có Trời.

(Đạo Sử).

Đừng sang trọng phụ phàng nghèo khó,

Gặp hầu xinh vội bỏ thê hèn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

SANG VINH

Sang: Cao quý. Vinh: Vinh hiển.

Sang vinh là cao quý và vinh hiển.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có dạy: Dầu cho sang vinh trăm mối, tiền của muôn chung, mấy kẻ đặng tìm đến địa vị an nhàn, xủ áo phồn hoa, để gương soi hậu thế.

Nếu khổ cực chung cùng chia sớt,

Dầu sang vinh đừng bớt tình nồng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Lợi lộc giục người mong bỏ nghĩa,

Sang vinh lỗi đạo để nên trò.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

SÁNG

1.- Sáng là rạng tỏ. Như: Mặt trăng sáng, ngôi nhà đốt đèn sáng, chỗ tối chỗ sáng, gương sáng.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Ðáng lẽ Trái ấy phải bằng chai, đút trong một ngọn đèn cho nó thường sáng, ấy là lời cầu nguyện rất quý báu cho cả nhơn loại Càn khôn Thế giới đó.

Sáng đèn cánh bướm liệng xôn xao,

Lánh hoạ tua gìn hạnh đức trau.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Sáng đường nhờ có bóng Trời soi,

Ðạo đức để tâm chớ đổi dời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Sáng là chỉ khoảng thời gian từ lúc mặt trời mọc cho đến gần trưa.

Như: Thâu đêm suốt sáng, thức giấc tới sáng, gà gáy sáng, trời vừa tảng sáng.

Đây tới sáng xôn xao với thế,

Nhẫng đua chen kiếm kế sinh nhai.

(Kinh Thế Đạo).

3.- Sáng là có khả năng cảm biết, nhận thức nhanh chóng và rõ ràng.

Như: Trí cụ già vẫn còn sáng, việc người thì sáng việc mình thì quáng.

Du hành là kẻ bỏ đường tu,

Con sáng đừng nghe phỉnh lù mù.

(Đạo Sử).

4.- Sáng là gây dựng nên. Như: Sáng lập, sáng tạo, khai sáng, sáng nghiệp.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Từ nền Ðạo khai sáng đặng gieo truyền mối Chánh giáo đến nay, thì phần nhiều môn đệ đã có trọn tấc thành mà dìu dắt sanh linh và đắp vun mối Ðạo Trời, ấy là những đứa Thầy đã tin cậy đặng gia công dọn lối chông gai để mở trống nẻo thiêng liêng, dẫn lần dân sanh khỏi sông mê bến khổ, tất là cõi trần vô vị nầy.

Thầy là Ðấng Chí Tôn chủ trương khai sáng nền Ðạo, cũng buộc mình cam đoan mà lãnh các con.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

SÁNG CHÓI

Sáng: Rạng tỏ. Chói: Chiếu sáng mạnh làm lóa mắt.

Sáng chói là sáng rực rỡ, đến độ làm cho lóa mắt. Như: Đốt đèn sáng chói.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ngọn lửa sẽ thiêu các Thánh ấy, nó sẽ biến thành ngọn lửa thiêng nó sẽ làm sáng chói Đạo Cao Đài đặng kêu gọi cả tinh thần nhơn loại tìm một con đường giải thoát của họ, con đường cứu khổ của họ mà nó cũng sẽ là ngọn lửa thiêng liêng dìu dẫn cả tâm hồn con cái Đức Chí Tôn luôn cả Thánh Thể của Ngài nữa.

Ðài thượng đồng xem qua Bắc Ðẩu,

Ngôi sao sáng chói thấu Nam Tào.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

SÁNG KIẾN

創 見

Sáng: Đầu tiên. Kiến: Thấy.

Sáng kiến là mới thấy xuất hiện lần đầu, mới bắt đầu phát minh. Như: Một sáng kiến kỹ thuật có hiệu quả cao.

Sáng kiến còn có thể hiểu là ý kiến mới, có tác dụng làm cho công việc tiến hành tốt hơn.

Huấn từ Thượng Sanh trong buổi lễ Khai giảng khoá Huấn luyện Chức việc Bàn Trị Sự có câu: Hôm nay quý vị hiện diện trong buổi lễ Khai giảng nầy, đó là cái kết quả tốt đẹp do sáng kiến của Ngài Ngọc Chánh Phối Sư vậy.

Rừng Nhu khoe lá sợ điêu tàn,

Sáng kiến khen người khéo điểm trang.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

SÁNG LẠN

Sáng: Rạng, tỏ. Lạn: Sáng tỏ.

Sáng lạn là sáng sủa, rực rỡ.

Sáng lạn (tiếng Nôm) đồng nghĩa với “Xán lạn 燦 爛” (từ Hán Việt).

Thánh giáo Bát Nương Diêu Trì Cung có câu: Khi nào có cầu đàn mới dùng, còn thường ngày khỏi phải đốt lên, vì một là cho đủ yếng sáng, hai là rọi Chơn thần của quý anh quý chị cho sáng lạn minh mẫn.

Chúng ta sẽ lướt qua để xây dựng cho nền Đại Đạo một tương lai sáng lạn và tươi đẹp hơn.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

SÁNG LÁNG

Sáng: Tỏ rạng, sáng suốt. Láng: Bóng.

Sáng láng là sáng sủa, có nhiều ánh sáng.

Sáng láng còn chỉ sự thông minh, có khả năng nhận thức rõ ràng, minh mẫn. Như: Thằng bé rất sáng láng.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Tưởng cả chúng sanh Chức Sắc trong hàng Thánh Thể Đức Chí Tôn nam, nữ cũng biết cái đức tin ấy là ngọn đuốc Thiêng Liêng, còn lòng thương yêu của ta là khối lửa Tam Muội để đốt cây đuốc ấy cho sáng láng, cho rực rỡ, đặng dìu đường cho Vạn Linh sanh chúng.

Nhà tối tăm bực bội gợi phiền,

Còn sáng láng tự nhiên vui vẻ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SÁNG LẬP

創 立

Sáng: Đầu tiên. Lập: Làm, dựng lên.

Sáng lập là lập nên đầu tiên. Như: Sáng lập ra một trường dạy đạo đức.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Theo lý thuyết của Phật giáo thì Đức Phật Thích Ca là vị sáng lập Đạo Phật và chỉ vạch một con đường mà chính Ngài đã theo, một con đường có thể đem đến cho nhơn loại một lối giải thoát.

Thiên cơ dĩ định cho nền Ðạo sáng lập đặng cứu vớt sanh linh.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

SÁNG NGỜI

Sáng: Tỏ rạng,sáng suốt. Ngời: Sáng và đẹp rực rỡ.

Sáng ngời là sáng rực và ánh lên vẻ đẹp.

Sáng ngời còn có nghĩa là đẹp rực rỡ, tựa như có cái gì toả sáng ra. Như: Đôi mắt sáng ngời, tấm gương sáng ngời khí tiết.

Điếu Văn của Ngài Đầu Sư đặc trách Cửu Trùng Đài Nam phái đọc trước Liên đài Đức Thượng Sanh có câu: Ðức khiêm tốn của Ðức Ngài sáng ngời như nhựt nguyệt, khi thành công không tự mãn, lúc trở ngại chẳng sờn lòng, một mực trì chí kiên tâm trước sau như nhứt.

Ánh Xá lợi sáng ngời Cực Lạc,

Hiển kim thân Bồ Tát hoá duyên.

(Xưng Tụng Công Đức).

 

 

SÁNG QUẮC

Sáng: Tỏ rạng. Quắc: Giương to mắt để nhìn.

Sáng quắc là có ánh sáng phản chiếu mạnh đến mực như làm chói mắt.

Khơi ngọn đuốc Tây Đông sáng quắc,

Rỗi nguyền cho Nam Bắc an lành.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

SÁNG SOI

Sáng: Rạng tỏ, thông minh. Soi: Chiếu sáng vào.

Sáng soi, như chữ “Soi sáng”, là rọi sáng, chiếu sáng.

Trong Đại Thừa Chơn Giáo có đoạn: Trước khi chưa phân Trời Ðất thì khí hư vô bao quát Càn Khôn sáng soi đầy trong Vũ Trụ. Nó là một cái trung tâm điểm tức là Ðạo. Ðạo ấy mới sanh Thái Cực, hoá lưỡng nghi. Lưỡng nghi là âm với dương (động với tịnh). Có âm dương rồi mới hoá sanh muôn vật.

Nẻo danh lợi vào ra ai cấm,

Mắt sáng soi cái dặm quan hà.

(Phương Tu Đại Đạo).

Gương huệ sáng soi đường thánh chúa,

Từ bi mở rộng cửa thiền lâm.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

SÁNG SỦA

Sáng: Rạng tỏ, tức có ánh sáng toả ra trong không gian khiến cho có thể nhìn thấy mọi vật.

Sáng sủa là có nhiều ánh sáng chiếu vào.

Sáng sủa còn dùng để chỉ sự thông minh, cách diễn đạt rõ ràng, rành mạch, dễ hiểu. Như: Căn phòng rộng rải, sáng sủa, tình hình sáng sủa.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Nếu biết ăn năn trở bước lại con đường sáng sủa, dồi tâm trau đức, đặng đến hội diện cùng Thầy, thì mới đạt đặng địa vị thanh cao trong buổi chung quy cho.

Biết Thiên mạng, biết mình, biết chúng sanh, ấy là biết tìm ngọn đuốc sáng sủa, tôn chỉ thanh cao mà nâng mình khỏi nơi biển khổ vậy.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

SÁNG SUỐT

Sáng: Rạng tỏ, thông minh. Suốt: Thấu, khắp cả.

Sáng suốt là sáng rực khắp mọi nơi. Sáng suốt còn có nghĩa hiểu biết thông suốt. Như: Đầu óc sáng suốt.

Huấn từ Thượng Sanh có câu: Để khi gặp cơn bất trắc, quý vị có đủ cơn sáng suốt mà đối phó với mọi trường hợp, nhứt là gìn giữ thân danh được toàn vẹn.

Phút chút Càn Khôn nên sáng suốt,

Máy linh cơ tạo thảy đều khai.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

SÁNG TẠO

創 造

Sáng: Dựng lên. Tạo: Làm ra.

Do không mà làm ra có gọi là sáng tạo. Như: Người xưa sáng tạo ra chữ viết.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Nền móng của Thiên Chúa Giáo tạo ra khó khăn thế nào, chúng ta noi theo sự sáng tạo ấy đặng tạo nên một nền móng nữa, phận sự rất dễ dàng.

Cái nư giận thường làm đổ nát những công sáng tạo đã qua, không biết bao nhiêu vĩ đại.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

SÁNG TRÂN

Sáng: Tỏ rạng. Trân: Thường dùng kết hợp với một số yếu tố tính chất, trạng thái để chỉ mức độ cao.

Sáng trân, như chữ “Sáng trưng”, là sáng đến mức có thể thấy rõ mồn một mọi vật tựa như ban ngày.

Như: Đèn đốt sáng trân.

Xem: Sáng trưng.

Khai rồi Ngài múa cặp roi thần,

Chớp nhoáng hào quang chiếu sáng trân.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

SÁNG TRƯNG

Sáng: Tỏ rạng.

Sáng trưng là sáng đến mức mọi vật được ánh sáng chiếu tới đều như ánh lên.

Như: Đường phố sáng trưng dưới ánh đèn điện.

Ðạo Trời ngày một hoằng khai,

Cái danh hiệu của Cao Đài sáng trưng.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Sáng trưng bể hẹn tình lai láng,

Rực rỡ non thề vẻ tốt tươi.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

SÀNG

1.- Sàng là đồ đan bằng tre, nông lòng, thưa lỗ, dùng để gạn những vật vụn rơi xuống, vật to còn đọng lại.

Như: Đi một ngày đàng học một sàng khôn.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Một đàng bảo thủ, một đàng giục tấn, nếu hai đàng không hoà nhau, đem chơn lý hiển nhiên thì hoà được, còn không lấy chơn lý thì đụng tại chỗ phản khắc, không thể đệ lên thượng quyền mà còn nhơ bợn được. Ðó là cái bàn sàng, sàng mãi cũng phải lọt xuống.

Mình mua một trận cười, ngàn bạc đổ,

Nhớ lúc cha đương rổ mẹ nong sàng.

(Phương Tu Đại Đạo).

Hễ nghề khéo nấu cơm ra cháo,

Như thợ hay đương quảu ra sàng.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Sàng là dùng sàng làm cho gạo sạch thóc và trấu, hoặc các loại vật liệu viên rời theo kích thước to nhỏ.

Như: Sàng gạo, sàng cát, sàng than.

Sàng lấy gạo trơn bỏ trấu ra,

Nay quy Tam Giáo cũng in là.

(Đạo Sử).

3.- Sàng là cái giường ngủ.

Như: Đông sàng, sống thì đồng tịch đồng sàng, chết thì đồng quan đồng quách.

Xem: Đông sàng.

Tình chung nào trọng chung đôi vú,

Nghĩa hiệp chi hơn hiệp một sàng.

(Phương Tu Đại Đạo).

Trông gặp rể đông sàng biết phải,

Bên nhạc gia cũng lạy mà dâng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SÀNG SẢY

Sàng: Lựa chọn kỹ để loại bỏ cái xấu. Sảy: Dùng cái tràng đựng thóc gạo, đưa qua lại để vỏ hay hạt lép bay đi.

Sàng sảy là sàng và sảy để loại vỏ trấu hay hạt lép.

Đại Thừa Chơn Giáo có câu: Thầy để chọn Thánh phân phàm, lọc lừa sàng sảy, nhưng cũng tại lòng dục vọng của các con ham món này, muốn vật kia, ưa phép lạ, mới có chia rẽ ra tịnh thất, tịnh trường, chi này, phái nọ, thấp cao tranh biện.

Kẻ hiền người dữ đều chung chịu,

Sàng sảy phân ra bậc thiện lành.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

SẢNG KHOÁI

爽 快

Sảng: Sáng sủa. Khoái: Sướng.

Sảng khoái là ở trạng thái khoan khoái, thoả mãn về tinh thần, làm cho đầu óc thấy tỉnh táo, sáng suốt.

Như: Tinh thần sảng khoái, tiếng cười sảng khoái.

Dừng lại chuyện lên đường xuất ngoại,

Chuyển niềm tin sảng khoái khơi tâm.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

SẢNG SỐT

Sảng sốt, như chữ “Thảng thốt”, là có vẻ như hoảng hốt do bị chấn động mạnh về tinh thần. Như: Chị ta tinh thần bị sảng sốt.

Thánh giáo Quyền Giáo Tông trong Thánh Ngôn Sưu Tập có câu: Qua đến viếng Trang nơi Lạc Hồn Trì, thấy nó nằm mê man sảng sốt, đau lòng hết sức, như lời Thất Nương và Bát Nương làm chứng, thì dầu Qua có đến gần nó lúc nầy cũng không bổ ích chút nào cả.

Hồi nao chàng hỏi chị bên kia,

Sảng sốt day qua, ủa lạ kìa!

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

SANH

Hay “Sinh”.

1.- Sanh, còn đọc “Sinh 生”, là đẻ. Như: Sanh con đẻ cái, sanh, sanh cây kết quả.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có câu dạy: Tà mị cũng như một hột lúa bị hẩm mà thúi thì thế nào mọc đặng mà sanh bông trổ trái.

Hiền ngõ rủi sanh đời bạo ngược,

Dầu trong Thánh đức cũng ra thường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Sanh đời nắng lửa với mưa dầu,

Tội là đâu, phước lại là đâu?

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Sanh, còn đọc “Sinh 生”, là gây nên, hoá ra. Như: Sanh hư, sanh nghi, sanh lợi.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có câu dạy: Phần nhiều đạo hữu vì tánh tình tục phàm mà làm cho gay trở bước Ðạo, lại e chẳng khỏi sanh ra một trường náo nhiệt trong Ðạo về buổi sau nầy.

Thầy dạy một điều lo tích đức,

Ðức kia đầy đủ mới sanh tài.

(Đạo Sử).

3.- Sanh, còn đọc “Sinh 生”, là sống. Như: Sanh tử, sanh vật, sanh ký tử quy, sanh linh, nhơn sanh, háo sanh.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có đoạn: Nếu buổi sanh tiền, dầu cho một kẻ phàm tục tội lỗi biết đặng cơ quan mầu nhiệm của Ðấng Chí Tôn là Trời đã sắp đặt, thì cũng chẳng dám gây ra tội lỗi mà thôi, lại có thể đắc đạo mà gấm ghé phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật đặng nữa, huống lựa là các Ðấng ấy phải bị đoạ trần mà biết mình hằng giữ, thì mầu nhiệm thử Thần, Thánh, Tiên, Phật, chẳng có nghĩa lý gì hết.

Công danh nước Việt tay đành nắm,

Mưa móc dân sanh gắng gội nhuần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Muốn đi cho tận trường sanh địa,

Phải đổi giày sen lấy thảo hài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chim khôn biết kiếm đậu cây lành,

Người thiện phải ngừa đức háo sanh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

SANH BIẾN

Hay “Sinh biến”.

Sanh (sinh): Sinh ra. Biến: Thay đổi, loạn.

Sanh biến, như chữ “Sinh biến 生 變”, là sanh loạn.

Sanh biến còn dùng để chỉ biến hoá mà sinh ra.

Theo ý nghĩa bài Kinh Đệ Cửu Cửu, thì Tầng Tạo Hoá Thiên, Đức Phật Mẫu vận chuyển Bát phẩm chơn hồn trong vùng Hỗn nguơn khí để biến hoá mà sinh ra vạn linh sanh chúng.

Vùng thoại khí bát hồn vận chuyển,

Tạo Hoá Thiên sanh biến vô cùng,

(Kinh Tận Độ).

 

 

SANH CHÚNG

Hay “Sinh chúng”.

Sanh (sinh): Sống, sự sống. Chúng: Đông.

Sanh chúng, như chữ “Chúng sinh 眾 生”, dùng để chỉ tất cả các loài vật có sự sống.

Sanh (sinh) chúng gồm có vật chất, kim thạch, thảo mộc, thú cầm và nhơn loại.

Thánh giáo Lý Giáo Tông trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có đoạn: Từ đây Thầy đã giao quyền thưởng phạt về nơi tay Bần Đạo. Vậy các đạo hữu khá hết lòng lo lắng nền đạo cho vững vàng, hiệp ý với Thiên cơ mà bước lần lên địa vị cao thượng, chớ sụt sè ôm thói mờ hồ thì đã uổng công trình cực nhọc từ bấy lâu nay, lại thêm chẳng đặng theo Thánh ý của Thầy, là bậc Chí Tôn đã hết sức nhọc nhằn cùng sanh chúng.

Trên theo pháp luật Đạo Trời,

Dưới thương sanh chúng một lời đinh ninh.

(Kinh Thế Đạo).

Thìn dạ bước dìu sanh chúng độ,

Nương thuyền mới trọn thoát qua sông.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

SANH DIỆT

Hay “Sinh diệt”.

Sanh (sinh): Sinh ra. Diệt: Tiêu mất.

Sanh diệt, như chữ “Sinh diệt 生 滅”, là sanh ra và uỷ diệt, hay sanh ra rồi chết.

Sanh diệt đồng nghĩa với chữ sanh tử.

Các pháp hữu vi do các nhân duyên hoà hợp, từ pháp chưa có trở thành có, đó là sinh. Đến lúc nhân duyên ly tán thì pháp đã có trở thành không có nữa, đó là diệt. Có sinh ắt có diệt.

Những tưởng rằng:

Thiên tùng nhân nguyện, thú yên hà ngâm vịnh gió trăng,

Nào hay đâu:

Vật đổi sao dời, cơ sanh diệt đưa đường dị lộ.

(Thơ Lan Chi).

 

 

SANH DỤC

Hay “Sinh dục”.

Sanh (sinh): Sanh ra. Dục: Nuôi nấng.

Sanh dục, như chữ “Sinh dục 生 育”, là sanh thành và dưỡng dục, nghĩa là sanh đẻ ra rồi nuôi dưỡng cho đến lúc lớn khôn.

Sanh dục ý chỉ công lao sanh dưỡng của cha mẹ.

Hiếu nhạc thân thìn dạ chớ quên,

Đền sinh dục thay phiền cho vợ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SANH DƯỠNG

Hay “Sinh dưỡng”.

Sanh (Sinh): Sanh ra. Dưỡng: Nuôi nấng.

Sanh dưỡng, như chữ “Sinh dưỡng 生 養”, là sanh đứa con ra, và nuôi đến khôn lớn.

Sanh dưỡng còn dùng để chỉ công ơn của cha mẹ.

Như: Công sanh dưỡng tày non tợ biển.

Sanh dưỡng, dưỡng sanh rồi phải độ,

Ðộ cho trở bước lại đơn đình.

(Đạo Sử).

Sanh dưỡng đã biết bao căn kiếp,

Rồi dắt dìu cho hiệp với Cha.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

SANH ĐẺ

Hay “Sinh đẻ”.

Sanh (sinh): Đẻ ra, sanh ra. Đẻ: Phụ nữ cho thoát ra ngoài cơ thể thai đã phát triển đầy đủ.

Sanh đẻ, như chữ “Sinh đẻ”, là sinh ra, đẻ ra, đồng nghĩa với chữ “sinh nở”.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Trong nước đang đảo lộn loạn ly đau khổ, thì cũng giống như người đàn bà kia lúc sanh đẻ cũng phải chịu đau đớn khi sanh một đứa con.

Nghĩ phận vợ ngàn trăm đau đớn,

Sanh đẻ còn nuôi dưỡng nhọc nhằn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Sanh đẻ con ưa thảm ưa buồn,

Ít có đứa ra tuồng vui vẻ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SANH HOA ĐÃ HÉO

Hay “Sinh hoa đã héo”.

Sanh hoa: Bông đang tươi tốt. Đã héo: Đã khô héo, tức bị mềm rũ và teo tóp lại.

Sanh hoa đã héo ý nói hoa trong vườn Ngạn Uyển nơi Diêu Trì Cung nay đã rơi rụng hay héo tàn.

Theo Bà Nhứt Nương Diêu Trì Cung đã giải thích trong Bài giáng cơ ngày 12-10-1934 như sau: “...mỗi cái hoa là một Chơn hồn của cả kẻ nguyên nhân, thạnh suy, thăng đoạ chi cũng do nơi khối sanh hoa khi ấy, định sanh mạng của mỗi người”.

Như vậy, khi có một Chơn linh giáng kiếp xuống trần thì trên vườn Ngạn uyển có một bông hoa vừa nở ra, Chơn linh làm điều thiện lương chân chánh thì sắc hoa tươi thắm, Chơn linh làm điều tà mị, gian ác thì hoa sẽ héo ủ xấu xa, và khi thân xác của Chơn linh chết nơi cõi trần thì đoá hoa héo tàn.

Xem: Ngạn Uyển hoa rơi.

Vườn Ngạn Uyển sanh hoa đã héo,

Khối hình hài đã chịu rã tan.

(Kinh Tận Độ).

 

 

SANH HOÁ

Hay “Sinh hoá”.

Sanh (sinh): Sinh ra, sống. Hoá: Biến hoá.

Sanh hoá, như chữ “Sinh hoá 生 化”, là sinh ra và biến hoá, ý chỉ Trời đất sinh hoá ra Càn khôn Vũ trụ và vạn vật.

Thánh giáo Thầy có câu: Bởi vậy, một Chơn thần Thầy mà sanh hoá thêm chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần, và toàn cả nhơn loại trong Càn khôn Thế giới. Nên chi, các con là Thầy, Thầy là các con.

Ơn cha sanh hoá ra thân,

Ơn thầy huấn giáo cũng gần như nhau.

(Kinh Thế Đạo).

sanh hoá Càn Khôn đào tạo,

Do Âm Dương hiệp đạo biến thiên.

(Kinh Thế Đạo).

Lấy Âm quang tạo phách tăng đồ,

Muôn vật cả lo cho sanh hoá.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

SANH HOẠT

Hay “Sinh hoạt”.

Sanh (sinh): Sống, sự sống. Hoạt: Sống, không đứng một chỗ, hoạt động.

Sanh hoạt, như chữ “Sinh hoạt 生 活”, là những hoạt động thuộc về đời sống hằng ngày của một người. Như: sanh hoạt trong gia đình, giá sanh hoạt.

Thánh giáo Đức Quan Âm Như Lai có dạy: Kịp đến tâm hồn bất hoà thì thất tình lục dục đều phát khởi tranh ngôi với thần lương tâm, nếu kém lực thì con người ấy duy có sanh hoạt trong vòng vật dục, chớ chẳng hề biết Thiên lý là gì?

Rằng ngôi địa chủ lo sanh hoạt,

Ấy phẩm Thần Hoàng định loạn an.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Thương người bần khổ tiết trời đông,

Sanh hoạt bao phen lội giữa đồng.

(Thơ Thái Đến Thanh).

Sanh hoạt trường đời thêm phú quý,

Tu hành cửa Đạo hưởng an nhàn.

(Hội Thánh Chúc Xuân).

 

 

SANH KẾ

Hay “Sinh kế”.

Sanh (sinh): Sống, cuộc sống. Kế: Mưu chước, hay kế hoạch.

Sanh kế, như chữ “Sinh kế 生 計”, là phương cách để mưu cầu sự sống, tức là kế sanh nhai.

Trong Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Những bổn Đạo cùng những người tín ngưỡng theo triết lý của nhà Phật, khi họ thấy căn kiếp của họ đã nhiều bằng cớ không may, hoặc về tình ái, hoặc về sanh kế, hoặc về công danh, hoặc về nghèo giàu, bất kỳ quả kiếp của con người ta thường nương lấy đó mà sống, làm cho cái khổ của con người đã sanh ra chịu khổ rồi quả kiếp nặng nề ấy lại tăng thêm khổ nữa.

Chay lạt nguyện cầu siêu thoát được,

Bộn bề sanh kế thảnh thơi đâu?

(Thơ Vạn Năng).

 

 

SANH KÝ TỬ QUY

Hay “Sinh ký tử quy”.

Sanh (sinh) ký: Sống gởi. Tử quy: Chết trở về.

Sanh ký tử quy hay “Sinh ký tử quy 生 寄 死 歸”, là sống gởi thác về, tức là coi đời như một nơi ở tạm tấm thân, còn chết mới thật là nơi ở vĩnh viễn.

Sách Hoài Nam Tử chép: Võ Vương đi kinh lý miền nam, sắp qua sông, gặp rồng vàng đội thuyền lên khỏi mặt nước. Mọi người trên thuyền đều lo sợ, riêng Võ Vương vẫn vui vẻ, cười mà rằng: Trẫm vâng mệnh trời tận tâm tận lực mưu hạnh phúc cho dân, sống gửi thác về, có hề chi mà sợ! Nhà vua vẫn điềm nhiên, con rồng cúi đầu, vẫy đuôi rồi lặn xuống nước biến mất.

Sanh ấy , tửquy,

Diệu huyền cơ tạo chẳng gì gọi hơn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Sanh ký miễn tròn xong nợ thế,

Tử quy nào luống thẹn vầng trăng.

(Thơ Hoàn Nguyên).

Người hiểu Đạo càng tin giáo lý,

Cõi trần này sanh ký tử quy.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

SANH KHÍ

Hay “Sinh khí”.

Sanh (sinh): Sống. Khí: Hơi.

Sanh khí, như chữ “Sinh khí 生 氣”, là một chất khí nuôi dưỡng sự sống, nên còn gọi là dưỡng khí.

Đức Chí Tôn giải thích về sự tác hại của rượu như sau: Như rượu vào tỳ vị, nó chạy vào ngũ tạng lục phủ hết, thì trái tim con người chẳng khác nào như cái máy chánh để trữ sự sống, cũng phải bị thâm nhập vào làm cho sự lao động quá chừng đỗi thiên nhiên đã định, thôi thúc huyết mạch phải vận động một cách vô chừng, mà làm cho sanh khí nơi phổi chẳng đủ ngày giờ nhuận huyết tinh sạch cho đặng. Trược huyết ấy thối lại cùng trong thân thể, để vật chất ô trược vào trong sanh vật, mỗi khối ăn nhằm phải bịnh, một ngày thêm một chút, hết cường tráng, cốt tuỷ lần lần phải chết thì thân thể các con bị chết theo.

Giáo pháp Chí Tôn năng phổ cập,

Là làn sanh khí cứu muôn loài.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

SANH LÃO BỆNH TỬ

Hay “Sinh lão bệnh tử”.

Sanh (sinh): Sinh ra. Lão: Già yếu. Bệnh (bịnh): Bịnh tật. Tử: Chết.

Sanh lão bệnh tử, như chữ “Sinh lão bệnh tử 生 老 病 死”, là sanh già bịnh chết. Đó là tứ khổ 四 苦, Phật giáo còn gọi là Tứ sơn 四 山 (Bốn núi).

Con người ở thế gian, dầu cho ai tài giỏi, dũng mãnh đến đâu cũng không thắng được, không chinh phục được sanh, già, bịnh, chết mà bị chúng nghiền nát. Vì vậy, người tu hành là có ý muốn thoát khỏi sinh lão bịnh tử để không bị chúng gây biết bao lần khổ đau.

Hào quang dợn hiện lên bốn chữ,

Thật sanh lão bệnh tử gớm ghê.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

SANH LY

Hay “Sinh ly”.

Sanh (sinh): Sống, cuộc sống. Ly: Chia lìa.

Sanh ly, như chữ “Sinh ly 生 離”, là nói sống phải khổ vì chia lìa nhau.

Con người và những kẻ thân yêu thường gặp cái khổ là “Tử biệt sinh ly 死 別 生 離”, tức là chết thì vĩnh biệt, còn sống thì phải chia lìa nhau.

Nêu gương tuyết giá hậu lai,

Gỡ trong muôn một những bài sanh ly.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Nầy là chỗ lời hơn tiếng thiệt,

Nầy là nơi cách biệt sanh ly.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

SANH LY TỬ BIỆT

Hay “Sinh ly tử biệt”.

Sanh (sinh) ly: Sống, chịu cảnh chia lìa. Tử biệt: Chết phải thọ khổ ly biệt.

Sanh ly tử biệt, như chữ “Sinh ly tử biệt 生 離 死 別”, là hai cảnh khổ của con người mà ai cũng phải gánh chịu. Lúc sống thì đành chịu cảnh phân ly, khi chết thì cam chịu cách biệt.

Thánh giáo Thầy dạy: Cái xuân kia chẳng đợi người mà bước đời càng gay trở, lần qua thỏ lặn ác tà, bóng thiều quang nhặt thúc, con đường hy vọng chẳng biết đâu là tột cùng mà bước đời xem đà mòn mỏi, sự thác vô tình sẽ đến mà vẽ cuộc sanh ly pha màu tử biệt, làm cho sự vui vẻ giàu sang danh vọng đều thành ra một giấc huỳnh lương, rồi đây vĩnh biệt ngàn năm, tội tình muôn kiếp.

Hay sợ khổ sanh ly tử biệt,

Nên tìm phương dứt tuyệt nợ đời.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Âm dương phân cách đôi đường,

Sanh ly tử biệt lẽ thường xưa nay.

(Thơ Thông Quang).

Sanh ly tử biệt là đâu?

Không phân quyền tước công hầu hèn sang.

(Thơ Thượng Cảnh Thanh).

 

 

SANH LINH

Hay “Sinh linh”.

Sanh (sinh): Sự sống. Linh: Linh hồn.

Sanh linh, như chữ “Sinh linh 生 靈”, là sự sống của tất cả các linh hồn nơi cõi trần, nghĩa là những người đang sống nơi cõi thế gian.

Sanh linh đồng nghĩa với “Vạn linh 萬 靈”.

Thánh giáo Chí Tôn có câu: Ta vì thương xót sanh linh, mở Ðạo Tam Kỳ để độ người hữu phước. Nếu chẳng mau chân, ngày giờ hầu cận, chư Tiên, Phật hội Tam Giáo xin bế lại thì dầu Ta muốn cứu vớt thêm cũng chẳng qua số Thiên cơ đặng.

Dìu dắt sanh linh lo tế độ,

Thiên niên danh tạc chốn Vân Ðài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cao Ðài đứng chủ cả sanh linh,

Bến khổ bầu Tiên rưới thế tình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Vui vớt sanh linh nơi bể khổ,

Vui Trời rưới khắp đủ ân Thiên.

(Đạo Sử).

 

 

SANH LỰC

Hay “Sinh lực”.

Sanh (sinh): Sống, nuôi sống. Lực: Sức.

Sanh lực, như chữ “Sinh lực 生 力”, là sức sống hay sức sinh hoạt. Như: Tuổi trẻ đầy sanh lực.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Kim Tiên là gì? Là tượng hình ảnh điển lực điều khiển Càn Khôn Võ Trụ mà chính nơi đó là điển lực tức nhiên là sanh lực đó vậy.

Xuân đem sanh lực trùm non nước,

Xuân tủa thuần phong nhuận đất trời.

(Thơ Từ Huệ).

 

 

SANH MẠNG

Hay “Sinh mệnh”.

Sanh (sinh): Sống, đời sống. Mạng (mệnh): Sự sống của con người.

Sanh mạng, như chữ “Sinh mệnh 生 命”, là mạng sống, tức sự sống của con người.

Thánh giáo Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng có dạy: Vào nơi đạo đức rồi, dầu cho phải cát ái ly gia, chia tình xẻ nghĩa, máu thịt đoạn ly, mà làm cho tròn trách nhậm xứng đáng của mình, để hiến thân chuộc sanh mạng cho muôn ngàn kẻ đồng bào, thì cái đau đớn thường tình, sự khổ tâm ở thế kia, đau khổ nào có tiếc.

Ngày nay đã hành chánh thì cũng nên lập mình cho đủ tư cách của một người cầm sanh mạng của nhơn loại.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

SANH NẠNH

Hay “Sinh nạnh”.

Sanh (sinh): Làm nảy nở ra, tạo nên một trạng thái khác. Nạnh: Ganh tỵ, xô xấp việc cho nhau.

Sanh nạnh, như chữ “Sinh nạnh”, là ganh tỵ, phân bì, có biểu hiện không vừa lòng vì người khác hơn mình.

Sanh nạnh còn có nghĩa là thoái thác, có ý muốn từ chối công việc để người khác làm.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Thầy có dạy: Từ đây, các con sẽ cực nhọc hơn, vì Thầy phân phát phận sự cho mỗi đứa vì chẳng vậy, các con sanh nạnh nhau, tựa hồ chia phe phân phái, là điều đại tội trước mắt Thầy vậy, nghe à!

Tưởng hai trẻ chẳng lòng sanh nạnh,

Gắng chung lo mạnh Đạo nhà mình.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

Lời sai khiến lòng đừng sanh nạnh,

Lịnh mẹ cha Thần Thánh cũng không bì.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SANH NHAI

Hay “Sinh nhai”.

Sanh (sinh): Sự sống. Nhai: Bờ nước, chỗ cuối cùng.

Sanh nhai, như chữ “Sinh nhai 生 涯”, có nghĩa là sự nghiệp để sinh sống, hay làm ăn sinh sống.

Trang Tử nói: Ngô sinh dã hữu nhai 吾 生 也 有 涯, nghĩa là đời sống của chúng ta có bờ, tức là có giới hạn đã định sẵn.

Muốn lấy đạo làm đao hại thế,

Toan dùng văn gọi kế sanh nhai.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Sĩ, nông, công, cổ sanh nhai,

Ngư, tiều, canh, mục làm bài bảo thân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

SANH NHƯ KÝ

Hay “Sinh như ký”.

Sanh (sinh): Sống. Như ký: Giống như gởi.

Sanh như ký, như chữ “sinh như ký 生 如 寄”, đồng nghĩa với “sanh ký”, là sống như gởi thân.

Người xưa cho rằng: “Sinh ký tử quy 生 寄 死 歸” có nghĩa là sống gởi thác về, tức con người khi sống thì gởi thân xác tạm nơi cõi trần, lúc chết thì linh hồn trở về với cõi hằng sống.

Tử như sanh, vong như tồn, lòng kỉnh thành hữu cảm tắc thông,

Sanh như ký, tử như quy, tâm ngưỡng vọng hữu cầu tắc ứng.

(Tuý Sơn Vân Mộng).

 

 

SANH QUANG

Hay “Sinh quang”.

Sanh (sinh): Sống, cuộc sống. Quang: Ánh sáng, nguồn năng lượng.

Sanh quang, như chữ “Sinh quang 生 光”, là một chất khí hay nguồn năng lượng có khả năng nuôi sống cho muôn loài vạn vật. Thảo mộc, thú cầm và nhơn loại nhờ khí sanh quang (sanh khí) mà có được sự sống nơi thế gian, dứt khí sanh quang thì mọi vật đều phải chết.

Đối với con người và loài vật ở trên quả Địa cầu này, có thể sống được là nhờ Dưỡng khí và Dương khí (Ánh sáng mặt Trời), nhưng dù có đầy đủ các loại khí này mà khí sanh quang (sanh khí) tuyệt thì cũng phải chết. Vì vậy, chúng ta phải hiểu, khí sanh quang là một loại khí vô vi, mà Phật Mẫu ban cho chúng sanh từ lúc mới hoá sinh. Khí sanh quang này của Đức Phật Mẫu phân tánh ra đã có: Đó là Khí Thái Cực hay Nguyên khí.

Sanh quang dưỡng dục quần nhi,

Chơn linh phối nhứt thân vi Thánh hình.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

 

 

SANH SẢN

Hay “Sinh sản”.

Sanh (sinh): Đẻ ra, sanh ra. Sản: Sinh đẻ, của cải được sinh ra.

Sanh sản là sản xuất ra, tức dùng nhân công để làm cho tài vật hay sản phẩm nẩy nở ra thêm.

Sanh sản, như chữ “Sinh sản 生 產”, là đẻ con, hay đàn bà sinh đẻ.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ta thấy con ong có một ong chúa phụng sự, phụng sự đến đâu nó làm chúa vẫn có quyền chúa, vì cớ nên có nhiều phận sự sanh sản nòi giống duy nhứt của nó mà thôi.

Khổng giáo cho đạo nhân là gốc của việc chính trị cũng như đất tốt là gốc sanh sản ra cây cỏ sởn sơ.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

SANH SANH LÀ PHẬN

Hay “Sinh sinh là phận”.

Sanh sanh (sinh sinh): Sự sinh nở ra mãi, như sinh sinh bất tức sinh nở ra mãi không thôi. Phận: Danh phận hay bổn phận.

Sanh sanh là phận tức là sự sinh sôi nẩy nở ra mãi là một bổn phận với Trời đất, hay nói cách khác, là một thiên chức của con người.

Sở dĩ có vạn vật là nhờ có sự sinh của Trời đất. Cho nên có thể nói rằng: Thiên địa chi đại đức viết sinh 天 地 之 大 德 曰 生, nghĩa là đức lớn của Trời đất là sự sinh.

Theo Dịch học, sự sinh hoá của Trời đất, vạn vật do âm dương, cơ ngẫu phối hợp mà thành. Trong Hệ Từ hạ có viết: “Thiên địa nhân uân, vạn vật hoá thuần, nam nữ cấu tinh, vạn vật hoá sinh 天 地 氤 氳 萬 物 化 醇, 男 女 搆 精, 萬 物 化 生”, nghĩa là khí Trời đất nghi ngút trên dưới hoà hợp nhau, vạn vật do khí tinh thuần ấy mà hoá ra, nam nữ phối giao mà sinh ra mãi.

Người là một phần trong vạn vật, nên phải theo lẽ trời mà biến hoá, đó là thiên chức của con người.

Đã gan dốc kiếm diệu huyền,

Sanh sanh là phận, hiền hiền là công.

(Kinh Tận Độ).

 

 

SANH SÁT

Hay “Sinh sát”.

Sanh (sinh): Sống. Sát: Giết chết.

Sanh sát, như chữ “Sinh sát 生 殺”, là có quyền cầm cái sống cái chết của người khác, tức tự ý quyết định sự sống chết của người.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Về phần quan lại Phụ mẫu chi dân quyền hành rất rộng rãi, một tay sanh sát, ra có kẻ bẩm, người trình, đối với dân đen là bậc thánh thần bất khả xâm phạm, nếu chẳng giữ tâm chánh, để dục vọng lôi cuốn, thì trăm họ lầm than muôn dân khổ sở. Làm quan thế ấy là cốt lê thứ xây đài các, lo túi cho đầy, thân cho sang, mặc ai đau đớn!

Nhưng người Pháp buổi nọ cầm quyền sanh sát trong tay, hễ thuận thì còn, nghịch thì chết không còn ai lạ gì việc đó nữa.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

SANH SỰ

Hay “Sinh sự”.

Sanh (sinh): Sinh ra. Sự: Việc.

Sanh sự, như chữ “Sinh sự 生 事”, là bày ra việc. Sinh sự còn có nghĩa là sinh ra việc rắc rối.

Trong Đạo Sử, Đức Chí Tôn có dạy: Các con hành sự mà nhiều đứa hay lấy quyền riêng để làm cho sanh sự rối loạn trong Ðạo.

Đừng chùng lén mà ra sanh sự,

Hạnh đoan nghiêm giữ tánh trang hoàng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SANH TẬT

Hay “Sinh tật”.

Sanh (sinh): Gây nên, hoá ra. Tật: Thói quen, thường là xấu, khó chữa.

Sanh tật, như chữ “Sinh tật 生 疾”, sanh ra nhiều thói hư tật xấu. Như: Càng lớn càng sanh tật xấu.

Mới sanh tật ngăn mưa đón gió,

Sợ chồng tham sắm đó cùng đăng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SANH TIỀN

Hay “Sinh tiền”.

Sanh (sinh): Sống, ra đời. Tiền: Trước.

Sanh tiền, như chữ “Sinh tiền 生 前”, là ngày trước lúc người đó còn sống.

Thánh giáo Thầy có câu: Nếu buổi sanh tiền, dầu cho một kẻ phàm tục tội lỗi biết đặng cơ quan mầu nhiệm của Ðấng Chí Tôn là Trời đã sắp đặt, thì cũng chẳng dám gây ra tội lỗi mà thôi, lại có thể đắc đạo mà gắm ghé phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật đặng nữa...

Chơn linh lắm chịu mê tân,

Sanh tiền khó hưởng phước lành Trời ban.

(Thất Nương Giáng Bút).

Cha mẹ dạy sanh tiền chẳng phục,

Đến lớn khôn ngồi khóc nhắc từ lời.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SANH TỒN

Hay “Sinh tồn”.

Sanh (sinh): Sống. Tồn: Còn.

Sanh tồn, như chữ “Sinh tồn 生 存”, là sống còn. Như: Cạnh tranh để sinh tồn.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Thầy cho con hiểu rằng nếu không có ý muốn của Thầy thì trên quả địa cầu nầy chẳng có vật chi sanh tồn tất cả.

Nhứt niệm Quan Âm thùy bảo mạng,

Thiên niên đẳng phái thủ sanh tồn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Rượu cúc Bàn Ðào chờ hội ẩm,

Thuốc Tiên lò tạo giữ sanh tồn.

(Đạo Sử).

 

 

SANH TỬ

Hay “Sinh tử”.

Sanh (sinh): Sống, sinh ra. Tử: Chết.

Sanh tử, như chữ “Sinh tử 生 死” là sống và chết.

Sanh tử còn dùng để chỉ sự cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với sự sống còn.

Việc sống chết theo quan niệm của Đạo là quá trình chuyển hoá miên viễn, có điểm khởi đầu, không có điểm kết thúc. Và sự sống chết đối với Tôn giáo là việc trọng đại: “Sinh tử sự đại, vô thường tấn tốc 生 死 事 大, 無 常 進 速”, nghĩa là Sự sống chết là việc lớn, vô thường đến rất mau chóng.

Trong Kính Sám Hối có hai câu:

Việc sanh tử như dường chớp nháng,

Bóng quang âm ngày tháng dập dồn.

cho ta thấy ngày tháng như thoi đưa, việc sanh tử thường xảy ra liên tục, nên cuộc đời của chúng sanh nơi cõi trần rất ngắn ngủi, phù du dễ tan biến như làn sấm chớp, như giấc chiêm bao.

Trong thuyết đạo, Đức Hộ Pháp có nói: “Ôi! Kiếp sanh tại thế mang xác thịt, hỏi sống được mấy lát? Nội một giấc thức, giấc ngủ là thấy sự chết sống của kiếp con người, mang thi hài bóng dáng nầy là giả. Cảnh thiệt không phải ở đây, mà cảnh thiệt ở nơi chỗ khác kia, sao không tìm cảnh thiệt là cảnh tồn tại, lại chạy theo bóng?”

Và Lý Bạch, một thi Tiên của nhà Đường, cũng là Lý Đại Tiên Trưởng Kiêm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ đã coi đời như một giấc mộng:

 

Xử thế nhược đại mộng.

 

處 世 若 大 夢

 

Hồ vi lao kỳ sinh?

 

胡 為 勞 其 生?

Nghĩa là:

Ở đời tựa giấc chiêm bao,

Làm chi mà phải lao đao nhọc mình?

Do cuộc đời được các nhà tôn giáo coi là ngắn ngủi, như một giấc mộng, nên việc sống chết đối với họ là việc trọng đại. Câu chuyện Lương Võ Đế và Thiền sư Chí Công sau đây cho thấy “Sống chết là việc quan trọng của đời người”.

Lương Võ Đế là một vị vua đời Nam Bắc triều, rất mộ Phật pháp. Thiền sư Chí Công là một vị cao tăng đương thời, được Lương Võ Đế dùng trọng lễ phong làm Quốc sư, và mời vào cung giảng Đạo thuyết pháp.

Một hôm, Lương Võ Đế cho người mời ca nữ đến múa hát và đồng thời mời Thiền sư Chí Công cùng thưởng thức.

Khi tuồng hát vừa diễn xong, Võ Đế bèn hỏi Thiền sư Chí Công: Quốc sư xem tuồng hát vừa rồi có hay không?

Thiền sư đáp: Tâu bệ hạ, bần tăng không biết.

Lương Võ Đế tỏ vẻ không vui và nói: Kết quả của tuồng hát chỉ có hay và không mà thôi, sao Quốc sư lại nói là không biết. Trẩm không hiểu.

Thiền sư đáp: Tâu bệ hạ, bần tăng quả thật là không biết, vì trong lòng của bần tăng luôn luôn nghĩ đến hai chữ “sống và chết” mà thôi. Con người chúng ta một khi nghĩ đến cái chết luôn ở bên cạnh mình, thì ngoài thân mình ra, mọi việc đều không quan trọng cả. Nếu bệ hạ không tin, xin bệ hạ cho phép bần tăng đến nhà lao bắt vài tên tù phạm sắp bị hành hình ra đây, bệ hạ sai người đến múa hát cho họ xem, xong rồi bệ hạ thử hỏi họ xem tuồng hát có hay không thì sẽ biết.

Lương Võ Đế không mấy tin cho lời nói của Thiền sư Chí Công, nhưng vẫn chuẩn y cho người làm theo lời của Thiền sư.

Thiền sư sai người đến nhà lao dắt vài tên tù phạm ra và nói với họ rằng: Mấy người sắp bị hành hình, nay ta tâu với chúa thượng giảm tội cho mấy ngươi, với điều kiện là mấy ngươi đều phải đội một chậu nước trên đầu và đi xem hát. Một khi tuồng hát tan rồi, người nào giữ cho chậu nước không bị đổ hay tràn ra ngoài thì sẽ được ân xá, trái lại vẫn bị tử hình.

Bọn tù phạm nghe xong lời của Thiền sư, đều như kẻ đắm thuyền vớ được phao, còn có hy vọng thoát chết, nên tất cả đều quỳ lạy đáp ơn.

Lương Võ Đế sai người đến múa hát cho mấy tên tù phạm xem. Khi tuồng hát vừa diễn xong, Lương Võ Đế hỏi: Tuồng hát diễn ra có hay không?

Bọn tù phạm đều lên tiếng đáp: Muôn tâu bệ hạ thảo dân không biết.

Lương Võ Đế hỏi: Tại sao?

Tên tù phạm thứ nhứt đáp: Thảo dân mang tội chết chém, nay có dịp được ơn trên khoan hồng, thảo dân chỉ chú ý đến chậu nước trên đầu mà thôi, chứ không để ý đến tuồng hát, vì nếu một giọt nước trên chậu rơi xuống đất thì đầu của thảo dân cũng rớt theo.

Lương Võ Đế hỏi tên tù phạm thứ hai, rồi lần lượt đến tên tù phạm chót. Kết quả của những câu trả lời đều tương tự như nhau.

Lương Võ Đế nghe xong, mới tin lời của Thiền sư Chí Công có lý và giác ngộ được sanh tử là chuyện quan trọng nhất của đời người. Từ đó mới theo Thiền sư Chí Công học Đạo.

Việc sống chết đối với Nho giáo là một vấn đề chính yếu: “Sinh tử sự đại, vô thường tấn tốc 生 死 事 大, 無 常 進 速” nghĩa là sự sinh tử là việc lớn, vô thường đến rất mau chóng.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Ðức Phật Thích Ca thấy chúng sanh cứ sanh rồi chết, chết rồi lại sanh, cứ mãi bị trói buộc trong vòng sanh tử để trả nghiệp quả không thể thoát ra khỏi nên gọi là Luân Hồi.

Tử sanh, sanh tử là chi?

Gẫm trong giấc mộng cũng bì như nhau.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

SANH TỬ CHỚP NHÁNG

Hay “Sinh tử chớp nháng”.

Sanh (sinh) tử: Sống chết, chỉ một quảng đời của con người, từ lúc sinh ra cho đến lúc chết.

Sanh tử còn dùng để chỉ hai sự kiện lớn của con người nơi thế gian: Việc sống và việc chết.

Chớp nháng: Hay đường sấm chớp, là một đường ánh sáng lóe lên do sấm sét tạo thành. Chỉ một khoảng thời gian rất ngắn.

Sanh tử chớp nháng tức là sống chết của con người nhanh lẹ như lằn sấm chớp: Lóe lên rồi tắt, cũng như con người vừa sinh ra không mấy chốc rồi cũng chết.

Việc sanh tử như dường chớp nháng,

Bóng quang âm ngày tháng dập dồn.

(Kinh Sám Hối).

 

 

SANH THÀNH

Hay “Sinh thành”.

Sanh thành, như chữ “Sinh thành 生 成” là sinh đẻ và nuôi dưỡng cho thành người.

Do Kinh Dịch có câu: Thiên sinh chi, địa thành chi 天 生 之, 地 成 之, nghĩa là trời sinh ra vạn vật, đất hoàn thành nên vạn vật. Dùng để nói cái công đức của cha mẹ ví như trời đất có công sinh dưỡng vạn vật.

Chữ hiếu phải lo vẹn phận người,

Sanh thành đạo trọng há đâu chơi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Có đâu lẽ cho trai cho gái,

Phải nhớ câu nặng ngãi sanh thành.

(Phương Tu Đại Đạo).

Với hình hài mình đã sanh thành,

Thì chữ đạo chữ tình cân đúng giá.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SANH TRƯỞNG

Hay “Sinh trưởng”.

Sanh (sinh): Đẻ, sanh ra. Trưởng: Lớn, lớn lên.

Sanh trưởng, như chữ “Sinh trưởng 生 長”, là sanh ra đời và lớn lên.

Đức Thượng Sanh đọc trước Liên đài Ngài Bảo Văn Pháp Quân Cao Quỳnh Diêu có câu: Hưởng thọ 73 tuổi, ngài Bảo Văn Pháp Quân sanh trưởng tại làng Hiệp Ninh, Tổng Hàm Ninh Thượng thuộc tỉnh Tây Ninh, trong một gia đình thế phiệt Nho phong.

Xem: Sinh trưởng.

Phàm chúng ta đã sanh trưởng làm người đứng giữa xã hội nhơn quần chúng ta đương nhiên phải tìm phương lập vị mình...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

SANH VẬT

Hay “Sinh vật”.

Sanh (sinh): Sống, sự sống. Vật: Chỉ chung các loài, có sự sống,

Sanh vật, như chữ “Sinh vật 生 物”, là tiếng gọi chung các vật sống, bao gồm động vật, thực vật, vi sinh vật, có trao đổi với môi trường, có sinh đẻ, lớn lên và chết.

Như: Những doanh nghiệp xả nước thải làm hại môi trường sinh vật ở biển.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Chơn thần là Hậu thiên khí, ta không thấy mà chớ nên tưởng rằng không có, ta ăn hột cơm vào bụng, lọc lấy cái tinh ba làm huyết khí để nuôi lấy khối sanh vật nầy. Ta biết có mà không thấy được. Chơn thần chúng ta, thiên hạ kêu là phách, vía cả thảy đều có.

Những sanh vật ấy cấu kết nhau mà thành khối vật chất có tánh linh, vì vật chất nuôi nấng nó cũng đều là sanh vật.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

SANH VIÊN

Hay “Sinh viên”.

Sanh (sinh): Người đi học. Viên: Người ở một tổ chức hay chuyên làm một công việc, chức vụ nào đó.

Sanh viên, như chữ “Sinh viên 生 員”, nói chung là người đi học.

Hiện nay, Sinh viên dùng để chỉ người học trò học ở bậc Đại học.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Hôm nay khoá học đã chấm dứt, các em sinh viên thử cân nhắc lại sự hiểu biết của mình khi chưa học với sự hiểu biết khi mãn khoá học để coi sự khác biệt là thế nào và sự học trong năm có đem lại cho mình một sự tiến triển nào về mặt Ðạo đức cũng như về mặt trí dục hay không?

Xây chiều đạo học xem nhằm hướng,

Dìu dẫn sanh viên đã sẵn phương.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

SANH VOI SANH CỎ

Hay “Sinh voi sinh cỏ”.

Sanh (sinh) voi: Sinh ra voi. Sanh cỏ: Sinh ra cây cỏ.

Sanh voi sanh cỏ, do câu tục ngữ “Trời sinh voi sinh cỏ”, nghĩa là Trời đã sinh ra voi, ắt hẳn là phải sinh ra cỏ, ý nói Trời định đoạt hết mọi việc, tức là mỗi người đều có số mạng hết.

Sanh voi ắt hẳn trời sanh cỏ,

Đường rộng thênh thang ngại bước tầm.

(Thơ Tử Quy).

 

 

SÁNH

Sánh là để ngang với nhau mà so đọ, so sánh. Như: Sánh hai người xem sức học ai hơn.

Thánh giáo Lý Giáo Tông có đoạn dạy: Ngày nay đã hành chánh thì cũng nên lập mình cho đủ tư cách của một người cầm sanh mạng của nhơn loại. Chưa có ngôi vị Ðế Vương nào mà sánh với phẩm vị thiêng liêng đặng. Khá phân biệt trượng khinh mà giữ gìn, kẻo bị tà tâm rối loạn.

Nghiệp lớn nhà cao tuy chẳng sánh,

Sang giàu cũng kẻ đặng năm ba.

(Đạo Sử).

Tinh thần cao thấp nhờ thi,

Dục tài nữ sĩ sánh bì cùng nam.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Hễ bé thơ tập vào bái ra chào,

Quyền cha mẹ, Trời cao kia dám sánh.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SÁNH BẰNG

Sánh: So, đọ. Bằng: Ngang, đồng với.

Sánh bằng là ngang bằng. Như: Công ơn cha mẹ sánh bằng trời đất.

Nói về công đức của Phật Mẫu, Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Ðã sanh lại dưỡng đặng bảo đảm hình hài thì ơn ấy quá trọng, sánh bằng Càn Khôn Thế Giái.

Hào phú chưa ai dám sánh bằng,

Dầu nghèo mà giữ Ðạo làm ăn.

(Đạo Sử).

 

 

SÁNH CỦA SO TÀI

Sánh của: Lấy của cải vật chất ra so sánh. So tài: Đem tiền tài ra so đọ.

Sánh của so tài là đem của cải và tiền bạc ra so sánh, tranh nhau hơn thua.

Đua tranh sánh của so tài,

Của tài phủi sạch đường dài thoát qua.

(Thanh Tâm Tài Nữ).

 

 

SÁNH KỊP

Sánh: So, đọ. Kịp: Đạt đến mức, đến trình độ ngang hàng, hoặc tương ứng với yêu cầu, không thua kém.

Sánh kịp là đạt mức độ bằng khi so với người hay vật làm chuẩn.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Biết thương yêu nhau thì nhiệm vụ của mỗi người được thực thi dễ dàng, vì trên thương dưới, dưới kỉnh trên, nếu có lỗi thì thành thật chỉ bảo cho nhau, đỡ nâng nhau như tình thủ túc, xúm nhau vun bồi nghiệp cả thì tưởng lại cái hạnh phúc của người tu trong cửa Ðại Ðạo không còn hạnh phúc nào sánh kịp.

Bằng bảy công hầu chưa sánh kịp,

Phong làm Giáo Hữu thoả lòng chăng?

(Đạo Sử).

 

 

SÁNH TÀY

Sánh: So, đọ. Tày: Bằng.

Sánh tày, cũng như chữ “Sánh bằng”, chỉ sự ngang bằng với nhau, so bằng.

Như: Công cha nghĩa mẹ sánh tày non cao biển rộng.

Công lao sanh dưỡng nặng nề thay,

Ruộng biển, cao non chẳng sánh tày.

(Phương Tu Đại Đạo).

Ơn cha mẹ sánh tày Trời Đất,

Nỗi hiếu thân đừng thất đạo hằng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SẢNH

Sảnh là công đường, tức là nơi làm việc của quan. Như: Sảnh đường.

Sảnh còn dùng để chỉ nhà lớn để tiếp khách. Như: Mời khách vào nội sảnh.

Nơi nội sảnh trầm hương phưng phức,

Dọc hành lang hoa sực nức mùi.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

SAO

1.- Sao là tên gọi chung các Thiên thể nhìn thấy như những điểm sáng lấp lánh trên bầu trời ban đêm. Như: Trời đầy sao, sao mai, sao đổi ngôi, vật đổi sao dời.

Thánh giáo Thầy dạy Ngài Thái Bính Thanh có đoạn dạy: Con giở sách Thiên văn tây ra coi mà bắt chước. Tại ngôi Bắc Ðẩu, con phải vẽ hai cái bánh lái cho đủ và sao Bắc Ðẩu cho rõ ràng. Trên vì sao Bắc Ðẩu, vẽ Con Mắt Thầy, hiểu chăng?

Một Toà Thiên các ngọc làu làu,

Liền bắc cầu qua nhấp nhoá sao.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Màn Trời mây khoả muôn sao lố,

Thuyền Ðạo buồm treo một sắc phơi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Sao là tiếng dùng để hỏi, với nghĩa là thế nào hay vì cớ gì. Như: Tại sao, làm sao, sao không đi học.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Các con đủ hiểu rằng, phàm muôn việc chi cũng có thiệt và cũng có dối. Nếu không có thiệt thì làm sao biết đặng dối; còn không có dối, làm sao phân biệt cho có thiệt.

Lẽ Chánh tự nhiên có lẽ Tà,

Chánh Tà hai lẽ đoán sao ra.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Khuya sớm tương dưa hết dục lòng,

Lòng dầu toan kế, kế sao xong.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

SAO DỜI VẬT ĐỔI

Sao dời: Ngôi sao chuyển dời khỏi vị trí. Vật đổi: Vạn vật thay đổi.

Sao dời vật đổi, như chữ “Vật hoán tinh di 物 換 星 移”, ý chỉ vạn vật trong vũ trụ hay những việc đời thường hay thay đổi.

Vương Bột nhà Đường có câu thơ: Nhàn vân đàm ảnh nhật du du, Vật hoán tinh di kỷ độ thu 閒 雲 潭 影 日 悠 悠, 物 換 星 移 幾 度 秋, nghĩa là mây lơ lửng đầm nước lồng bóng, ngày tháng dằng dặc trôi, vật đổi sao dời qua mấy độ.

Xem: Vật đổi sao dời.

Ngảnh lại Tử Liêm nền đất cũ, sao dời vật đổi, tưởng cù lao khôn xiết nỗi thở than,

(Tuý Sơn Vân Mộng).

Sao dời dạ sắt nào tươi tắn,

Vật đổi lòng son cũng phập phồng.

(Thơ Tòng Bá).

 

 

SAO KHUÊ

Sao: Ngôi sao, là một định tinh có ánh sáng. Khuê: Bởi chữ “Khuê tinh 奎 星” là một ngôi sao trong nhị thập bát tú, đứng đầu trong bảy sao ở phương Tây.

Sao Khuê thường được dùng để chỉ về văn chương.

Xem: Khuê tinh.

Bảo tồn giống Lạc Long chuyển thế,

Ánh sao Khuê đã xế sân rồng.

(Xuân Hương Giáng Bút).

 

 

SÁO

1.- Sáo là một loại chim có lông đen, hay hót và dễ tập nói được tiếng người.

Ca dao ta có câu: Ai đem con sáo sang sông, Mà cho sáo lại sổ lồng nó bay.

Trời Âu thuận gió bằng tung cánh,

Đất Việt thừa cơ sáo sổ lồng.

(Thơ Vạn Năng).

2.- Sáo là nhạc khí thổi bằng hơi, làm bằng ống trúc, thân ống có nhiều lỗ để định cung.

Như: ống tiêu ống sáo, tiếng sáo của Trương Chi.

Ven mây hơi sáo êm lầu phụng,

Dưới nguyệt cung đàn rót tiếng tơ.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

SÁO LÃO TRƯƠNG

Sáo: Ống sáo. Lão Trương: Ông Trương Lương.

Sáo lão Trương tức ống sáo của Trương Lương.

Trương Lương là người đời Hán, tự là Tử Phòng, theo phò Bái Công chống lại Sở Bá Vương Hạng Võ.

Trương Lương có tài thổi sáo, tiếng sáo có thể làm cho người nghe nhớ nhà. Vì vậy, tiếng sáo của Trương Lương một đêm làm tan rã đội quân hùng mạnh của Hạng Võ. Lúc đánh thắng Sở Bá Vương Hạng Võ rồi lên ngôi, Hán Cao Tổ phong cho Trương Lương tước Lưu Hầu.

Cô phòng lắng ngỡ tiêu chàng Sử,

Chiến địa nghe ngờ sáo lão Trương.

(Thơ Thành Toại).

 

 

SÀO

Sào là một đoạn tre, nứa thường dài và cứng, dùng để chống ghe thuyền đi trên dòng nước cạn, hoặc dùng để phơi áo quần.

Ca dao ta có câu: “Đôi ta cố sức lên gành (ghềnh), Em ra đứng mũi, cho anh chịu sào”.

Trời Ðất chẳng cao và chẳng thấp,

Cũng như lỡ cổng với sào bơi.

(Đạo Sử).

Buồm rộng lèo lơi thêm sóng gợn,

Sông sâu sào sẵn thiếu tay dò.

(Thơ Võ Thành Lượng).

 

 

SÀO HỨA

巢 許

Sào Hứa tức là Sào Phủ, Hứa Do, hai vị cao sĩ đời Thượng cổ, không màng danh lợi.

Vua Nghiêu định nhường ngôi lại cho Hứa Do, ông nghe đến danh lợi, bèn ra bờ sông Dịch để rửa lỗ tai.

Lúc đó có Sào Phủ, là bậc hiền sĩ, đang dắt trâu xuống dưới dòng định cho uống nước, thấy Hứa Do đang rửa lỗ tai, bèn hỏi duyên cớ, Hứa Do thuật chuyện lại, Sào Phủ kéo trâu lên trên dòng nước cho uống và nói: Dưới dòng nước bẩn, dơ miệng trâu.

Xem: Sào Phủ, Hứa Do.

Danh lợi ví ai, dầu có hỏi,

Rằng lòng Sào, Hứa sạch lâng lâng.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

SÀO PHỦ

巢 父

Sào Phủ là một cao sĩ đời Thượng cổ, chẳng thích danh lợi, không màng phú quý. Ông vào tận thâm sơn cùng cốc, leo lên cây mà sống, nên người đời mới gọi là Sào Phủ.

Sào Phủ định dẫn trâu xuống dưới dòng cho trâu uống nước, gặp Hứa Do đang rửa lỗ tai vì nghe đến chuyện danh lợi, ông bèn dẫn trâu lên, không cho trâu uống nước nữa, nói: Ta định cho trâu uống nước, nhưng chỉ sợ bẩn miệng trâu mà thôi.

Sánh vai Sào Phủ ẩn danh xưa,

Vì nẻo lợi danh cũng đã thừa.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Sào Phủ vừa dẫn bầy trâu lại,

Hỏi Do rằng bởi tại thế nào?

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

SẠP

Sạp là sàn ghép bằng tre, nứa, gỗ để nằm hay để bày hàng hoá.

Như: Sạp tre, sạp vải, sạp hàng hoá.

Nằm trên sạp lịm ngôn từ,

Say vầng nguyệt tỏ hồn như phiêu bồng.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

SÁT

Sát là giết. Như: Cố sát, sát nhân hại vật, ngộ sát.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Nhân loại tàn sát lẫn nhau bởi không biết dùng khoa học vào việc phải, nên nó mới biến thành chia rẽ và chiến tranh.

Trảm quỷ khí, sát tà oai,

Huơi đao Quan Võ, tế bài Vương Quân.

(Xuân Hương Giáng Bút).

 

 

SÁT HẠI

殺 害

Sát: Giết. Hại: Thiệt thòi, hao tổn.

Sát hại là giết hại.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: Các con nên biết, Thầy sanh ra mỗi chủng tộc đều có đặc biệt một phần linh diệu riêng, mà cũng vì nhơn loại không chịu khó tìm tòi cho ra lẽ thiên nhiên, cứ thấy những điều cận lợi mà quên hẳn lương tâm, chẳng hay thương mà hay chém giết lẫn nhau, sanh phương tiện thông đồng không muốn, lại tìm kế sát hại nhau.

Đời tàn bạo chẳng thương nhân loại,

Tìm kế mưu sát hại lẫn nhau.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

SÁT KHÍ

殺 氣

Sát: Giết. Khí: Không khí, tinh thần biểu lộ ra ngoài.

Sát khí là vẻ dữ tợn, như muốn đánh giết người. Như: Nhìn mặt nó thấy hầm hầm sát khí.

Sát khí còn cỏ thể hiểu là cái không khí chém giết, hoặc nói những gì biểu lộ sự chém giết.

Hào quang chớp nhoáng phân trăm mảnh,

Sát khí mịt mờ bủa lục đinh.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

SÁT MẠNG

Sát: Giết. Mạng (còn đọc mệnh): Mạng sống.

Sát mạng, như chữ “Sát mệnh 殺 命”, là giết chết mạng sống.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Vì vậy, một giọt máu là một khối chơn linh. Như các con dâm quá độ thì sát mạng chơn linh ấy.

Bền công kinh sách xem coi,

Vô can sát mạng thiệt thòi rất oan.

(Kinh Sám Hối).

Gót chơn đưa rủi như sát mạng,

Vật hữu linh phàm nhãn khôn soi.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

SÁT PHẠT

殺 伐

Sát: Giết chết. Phạt: Đánh.

Sát phạt là đánh giết.

Sát phạt còn có nghĩa là tranh phần hơn thua một cách quyết liệt, cay cú.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Nhà Tôn giáo tìm ra một lý thuyết giúp nhân loại tránh việc cạnh tranh sát phạt; nhà triết học phát huy cái tư tưởng cao xa; nhà văn làm ra quyển sách kiệt tác hay nhà khoa học tìm ra cái cơ khí tinh xảo, đều là hợp với cái đức sinh hoá của trời đất cả.

Hoạ Âu tai Á sẽ vì nơi Thiên thơ mà sát phạt, gieo sầu để thảm cho những giống dân nào đã vì hung bạo mà gây nên điều thán oán khắp cả Càn khôn nầy.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

SÁT RẠT

Sát: Giáp liền vào, sít tới.

Sát rạt là liền khít, vừa vặn, không hở lấy một tí. Như: Cái bàn được thợ vô mộng sát rạt.

Sát rạt còn có nghĩa là triệt để, hết thảy. Như: Nội quy thực hiện sát rạt, mọi người làm việc sát rạt.

Ngọn tháp chín rồng hư sát rạt,

Ngoài bờ muôn quái dậy lao xao.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

SÁT SANH

Hay “Sát sinh”.

Sát sanh, như chữ “Sát sinh 殺 生”, là sát hại sinh vật, tức giết hại mạng sống của các loài vật.

Theo Phật giáo, sát sanh là một hành vi phạm vào điều thứ nhứt của ngũ giới cấm.

Trong Tân Luật, Điều thứ hai mươi về phần Thế luật có câu: Kể từ ngày ban hành luật nầy, người bổn đạo chẳng nên chuyên gì làm cho sát sanh, hại vật; chẳng được làm nghề gì mà tồi phong bại tục; chẳng được soạn hay ấn hành những truyện phong tình huê nguyệt, không được buôn bán các thứ rượu mạnh và á phiện là vật độc làm cho giảm chất con người.

Còn việc tế lễ cúng, ta muốn dùng đồ chay hay là cây trái, chớ sát sanh.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

SAU

1.- Sau là phía trái với phía trước mặt. Như: Sau nhà, sau lưng, sau hè, quay đầu nhìn ra sau.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu dạy: Thầy khuyên các con theo sau Thầy mà đến phẩm vị mình thì hay hơn tuông bờ lướt bụi, đi quanh kiếm quất, nghe à.

Ðưa phép sanh tồn khuyên trẻ ngó,

Theo chơn giỏi bước níu sau Thầy.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trước mặt thì làm bộ sụt sè,

Sau lưng vốn cua ngoe đi ngược.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Sau là nối theo, tiếp theo. Như: Hôm sau, ngày sau, đời sau, ngày sau sẽ hiểu.

Thánh giáo Thầy có câu: Cái nhánh các con là nhánh chính mình Thầy làm chủ, sau các con sẽ hiểu.

Bửu toà thơ thới trổ thêm hoa,

Mấy nhánh rồi sau cũng một nhà.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thiên cơ mạt lộ chờ đôi lúc,

Nương cậy về sau khỏi não nồng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

SÁU

Sáu là số đếm, ở dưới số năm và trên số bảy. Như: Sáu thao ba lược.

Nói về Nho giáo, Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Nhứt là Kinh Nhạc thì mất gần hết, chỉ còn lại có một thiên, sau đem nhập vào Bộ Lễ Ký đặt tên là Thiên Nhạc Ký. Thành thử trong sáu bộ kinh chỉ còn lại có Ngũ Kinh là Kinh Dịch, Kinh Thư, Kinh Thi, Kinh Lễ và Kinh Xuân Thu.

Sương bay sáu tháng bởi người oan,

Bổn tánh phàm nhân ít hiểu nhàn.

(Đạo Sử).

Đếm ba vạn sáu ngàn ngày,

Cõi Dương gian với cõi Tuyền đài gần nhau.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

SÁU CHỮ DI ĐÀ

Sáu chữ Di Đà, do câu “Lục tự Di Đà 六 字 彌 陀”, tức là sáu chữ “Nam Mô A Di Đà Phật”. Đây là hồng danh của Đức Phật A Di Đà, giáo chủ cõi Cực Lạc.

Người Phật tử tu tập theo pháp môn Tịnh Độ Tông dùng sáu chữ này để làm công phu hằng ngày.

Khi người trì niệm danh hiệu Phật thì chỉ chuyên nhứt niệm danh Phật, không để một niệm nào khác chen vào, rồi nương theo niệm này cầu vãng sanh về cõi Tịnh độ của A Di Đà Phật.

Sáu chữ Di Đà tâm khởi niệm,

Muôn ngàn phiền não được tiêu tan.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

SÁU LỄ

Sáu: Số đếm, trên số năm dưới số bảy. Lễ: Nghi lễ.

Sáu lễ, bởi chữ “Lục lễ 六 禮”, là chỉ sáu nghi lễ cưới xin của thời xưa.

Ngày xưa trong hôn nhân gồm có sáu lễ: 1- Lễ nạp thái, tức đưa lễ vật dạm hỏi; 2- Lễ vấn danh, tức hỏi tên họ; 3- Lễ nạp cát, tức báo hai tuổi của trai gái có hợp nhau không; 4- Lễ nạp trưng, tức là trao sính lễ; 5- Lễ thỉnh kỳ, tức hẹn ngày cưới; 6- Lễ thân nghinh, tức rước dâu.

Xem: Lục lễ.

Dầu đòi bọng ba heo sáu lễ,

Gái chọn chồng như thể chọn cha.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SÁU THAO BA LƯỢC

Sáu thao, do chữ “Lục thao 六 韜” là tên cuốn sách binh pháp của Thái Công Vọng soạn, chia thành Văn thao, Võ thao, Long thao, Hổ thao, Báo thao và Khuyển thao.

Ba lược, bới chữ “Tam lược 三 略”, là sách do Hoàng Thạch Công soạn. Sách này theo Sử Ký chép, Hoàng Thạch Công đã trao cho Trương Lương ở cầu Hạ Bì.

Sáu thao ba lược là nói những người giỏi về binh pháp, điều binh khiển tướng.

Dạy gắng học sáu thao ba lược,

Hầu có ngày rộng bước phong vân.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SÁU TRẦN

Sáu: Số đếm, trên số năm, dưới số bảy. Trần: Bụi bặm, nghĩa rộng chỉ cõi thế.

Sáu trần, như chữ “Lục trần 六 塵”, là sáu loại Trần Cảnh, còn được gọi là lục ngoại nhập, gồm có: Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp.

Sáu trần còn được gọi là Lục tặc, tức sáu tên giặc, vì nếu chúng ta không biết giữ gìn, bảo hộ thân tâm thì sáu trần có thể làm cho con người đắm say mà tạo ra các ác nghiệp.

Hằng lo theo Phật tu thân,

Dồi mài tâm tánh sáu trần diệt tiêu.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

SẮC

1.- Sắc là bén, tức có cạnh rất mỏng, dễ làm đứt các vật được chặt, cắt, trái với cùn, nhụt.

Như: Dao sắc, gươm sắc, miểng chai có cạnh sắc.

Linh oai vẻ ngọc là gươm sắc,

Mềm mỏng hình hoa ấy phép tài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Sắc là màu. Như: Sắc đỏ, sắc vàng, hoa khoe sắc, màu sắc, đậm sắc.

Trong Tân Luật có viết: Trong việc tống chung, không nên xa xí, không nên để lâu ngày, không nên dùng đồ âm công có màu sắc loè loẹt.

Ðã để vào Toà một sắc hoa,

Từ đây đàn nội tỷ như nhà.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Im lìm cây cỏ vẫn in màu,

Mờ mệt vườn xuân điểm sắc thu.

(Lục Nương Giáng Bút).

3.- Sắc là vẻ đẹp của người phụ nữ. Như: Nhan sắc, nữ sắc, cô gái có sắc, trai tài gái sắc.

Nói về Địch Nhơn Kiệt đời Đường, Quan Vân Trường đời Hớn, Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Họ xem sắc đẹp như cây khô, thị tiền tài như dép rách, đời trong sạch thanh bai từng làm cho kẻ thù nghịch phải khép nép cúi đầu.

Còn gặp thuở xanh mày lịch sắc,

Dâng hình hoa treo mắt bướm ong.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Biết bớt cơn chung chiếu chung mùng,

Cứ giữ tánh thong dung chê nữ sắc.

(Phương Tu Đại Đạo).

4.- Sắc là tiếng trong nhà Phật, chỉ cái hình tượng mà con người có thể nhận biết được.

Phàm những vật có hình có tướng ở trong thế gian đều gọi là “Sắc”, trái khới không.

Như: Sắc giới, sắc không, sắc tướng.

Vun nền đạo hạnh khá rèn lòng,

Gặp hội đành vui chữ sắc không.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Linh linh, hiển hiển, khinh khinh khứ,

Sắc sắc, không không, sự sự tiêu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

5.- Sắc là lệnh bằng văn bản, hoặc giấy ban thưởng, phong tặng của nhà vua hay Đức Chí Tôn.

Như: Sắc chỉ, sắc phong.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Còn cả chư ái nữ, Thầy sẽ lập đại hội cho đủ mấy vị rồi sẽ phong sắc một lần.

Chí bửu nhơn sanh vô giá định,

Năng tri giác thế sắc cao ban.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

SẮC BẤT BA ĐÀO

色 不 波 濤

Sắc: Nhan sắc. Bất ba đào: Chẳng có sóng gió.

Sắc bất ba đào là nhan sắc không có sóng gió.

Do điển: Ông Nguyễn Giản Thanh người huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh, con của ông Tiến sĩ Nguyễn Giản Liêm, là người thông minh, tuấn tú, thi đỗ Trạng nguyên, nên người đời thường gọi là Trạng me.

Lúc còn đi học, thầy là Đàm Thuận Huy muốn thử tài ông bèn ra một câu đối: Vũ vô kiềm toả năng lưu khách 雨 無 鉗 鎖 能 留 客, nghĩa là mưa không then khoá mà có thể giữ được khách.

Nguyễn Giản Thanh liền đối lại: Sắc bất ba đào dị nịch nhân 色 不 波 濤 易 溺 人, nghĩa là sắc đẹp không phải là làn sóng nhưng dễ nhận chìm người.

Mê tân nhất khối trọng như sơn,

Sắc bất ba đào dị nịch nhơn.

(Quan Thánh Giáng Bút).

 

 

SẮC CHỈ

敕 旨

Sắc: Bản văn của vua hay Đức Chí Tôn ban. Chỉ: Mệnh lệnh của vua.

Sắc chỉ dùng để nói chung về mệnh lệnh của vua truyền xuống cho dân chúng, hay của các Đấng Thiêng liêng ban cho chúng sanh.

Ngày nay công quả vừa viên mãn,

Mừng đặng Thiên Ðình sắc chỉ phong.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Búa Việt cờ Mao vâng sắc chỉ,

Điều binh khiển tướng dẹp can qua.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

SẮC ĐẸP

Sắc: Vẻ đẹp của người phụ nữ. Đẹp: Có hình thức gây được cảm giác thích thú, làm cho người ta thích nhìn ngắm.

Sắc đẹp là vẻ đẹp của người đàn bà, con gái.

Nói về Đức Mẹ Maria, Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Nếu chúng ta nói đến hoa khôi lịch sắc thì bà Maria cũng có thể kể vào hạng đó. Mới tới tuổi cập kê mà sắc đẹp ấy làm biết bao nhiêu kẻ nam nhi ước vọng.

Ham miếng đỉnh chung mê sắc đẹp,

Hại thân tiếng xấu để muôn đời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tưởng sắc đẹp Tây Thi là quý,

Chẳng học đòi mưu trí Lệ Quân.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SẮC KHÔNG

色 空

Sắc là hình sắc, hình thể, thể chất, vật chất. Sắc phát hiện khi hội đủ những nhân duyên và tuỳ những nhân duyên ấy mà trụ một thời gian, rồi tiêu diệt mất. Sắc vốn vô thường, tương đối, lệ thuộc.

Không, không có nghĩa không có cái gì hết, mà có nghĩa là các pháp tuy có nhưng chúng vô thường, biến chuyển vì do có đủ nhân duyên hợp lại mà thành, nên không có thật, không có tự tánh cố định. Về phương diện chân lý tương đối thì tất cả các pháp đều hiện hữu, nhưng về mặt chân lý tuyệt đối thì mọi sự vật đều không, không có thực tánh.

Người tu hành nhận biết được chơn lý sắc không, chẳng còn chấp cái sắc tướng nơi cõi trần thì sẽ chấm dứt được mọi phiền não.

Sắc không, do câu kinh trong Bát Nhã Tâm Kinh là “Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc”, dùng để chỉ sự tu hành, và cửa sắc không chỉ cửa chùa.

Xem: Sắc sắc không không.

Vun nền đạo hạnh khá rèn lòng,

Gặp hội đành vui chữ sắc không.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Đã dấn thân vào cửa sắc không,

Nữ nhi cực nhọc há nao lòng.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Đừng sợ khó, khó nên công,

Công khó may gìn chữ sắc không.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

SẮC LỊNH

Hay “Sắc lệnh”.

Sắc: Bản văn của vua hay của Trời gửi cho dân chúng. Lịnh (lệnh): Mệnh lệnh.

Sắc lịnh, như chữ “Sắc lệnh 敕 令”, là mệnh lệnh của vua hay chính phủ ban ra, cốt điều hoà việc làm của các công sở và sự thi hành các luật lệ.

Trong tôn giáo Cao Đài, sắc lệnh có nghĩa là mệnh lệnh của Thượng Đế. Sắc lịnh còn là mệnh lệnh của Hội Thánh, thay quyền cho Chí Tôn tại thế ban hành.

Thánh giáo Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn có câu: Bần Đạo đã thọ sắc lịnh Ngọc Hư lo chuyển pháp thì không phương tha thứ điều phạm bao giờ.

Ngọc Hư Cung, sắc lịnh kêu,

Thưởng, phong, trừng, trị phân điều đoạ thăng.

(Kinh Tận Độ).

 

 

SẮC MẠNG

Hay “Sắc mệnh”.

Sắc: Lệnh của vua hay Đức Chí Tôn ban ra. Mạng (mệnh): Mệnh lệnh.

Sắc mạng, như chữ “Sắc mệnh 敕 命”, là mệnh lệnh của vua ban ra. Sắc mạng đồng nghĩa với “Sắc lệnh”.

Trong tôn giáo Cao Đài, sắc mạng là lịnh của Đức Chí Tôn hay Hội Thánh ban xuống.

Thánh giáo Chí Tôn dạy nhị vị Đầu Sư Thượng Trung Nhựt và Ngọc Lịch Nguyệt có câu: Trung, Lịch, đã thọ sắc, cứ tước vị mà theo sắc mạng Ta.

Mãn rồi lại hiệp cùng Thầy,

Giáo Tông sắc mạng tại nầy năm châu.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

SẮC NƯỚC HƯƠNG TRỜI

Sắc nước: Sắc đẹp nhứt nước. Hương Trời: Hương thơm của Trời.

Sắc nước hương trời, được dịch từ câu “Quốc sắc thiên hương 國 色 天 香”, tức là sắc đẹp nhứt nước, hương thơm của trời, ý chỉ người đàn bà con gái đẹp tuyệt trần.

Xem: Quốc sắc thiên hương.

Một đôi sắc nước hương trời,

Nét đan thanh khéo vẽ vời Hằng nga.

(Phù Kiều Hận Sử).

 

 

SẮC NGỌC

敕 玉

Sắc: Lệnh của vua hay Đức Chí Tôn ban ra. Ngọc: Tiếng tôn xưng, chỉ sự quý báu.

Sắc ngọc sắc chỉ của nhà vua ban xuống cho thần dân. Trong tôn giáo, sắc ngọc dùng để chỉ mệnh lệnh của Đức Chí Tôn ban xuông.

Từng vào non Thánh lại đền vàng,

Mãn quả sớm nhờ sắc ngọc ban.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

 

 

SẮC PHÁI

色 派

Sắc: Màu sắc, chức sắc. Phái: Nhánh, ngành.

Sắc phái là màu sắc bộ đạo phục của mỗi phái.

Trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, chức sắc Cửu Trùng Đài có ba sắc phái:

- Phái Thái mặc đạo phục màu vàng, thuộc Phật.

- Phái Thượng mặc đạo phục màu xanh, thuộc Tiên.

- Phái Ngọc mặc đạo phục màu đỏ, thuộc Nho.

Đầu đội Thiên Nguơn Mạo Bát Quái, tuỳ theo sắc phái, có thêu chữ Bát Quái chung quanh...

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

SẮC PHONG

敕 封

Sắc: Bản văn của vua ban xuống quần thần và dân chúng. Phong: Vua ban đất đai hoặc tước lộc.

Sắc phong là mệnh lệnh của vua ban tước lộc hay đất đai cho người có công.

Đối với Tôn giáo Cao Đài, Sắc phong là Thượng Đế hay các Đấng Thiêng Liêng ban phẩm tước cho người có công trong Đạo.

Nói về Lý Đại Tiên Trưởng, Đức Hộ Pháp có câu: “Tinh quân thọ sắc thuở Phong Thần” là Ngài đoạt ngôi vị cùng quyền hành của Ngài có sắc phong thiệt hiện hồi đời Phong Thần.

Tới khi cù đủ gạc vi rồng,

Còn đợi một ngày tiếp sắc phong.

(Đạo Sử).

 

 

SẮC PHỤC

色 服

Sắc: Màu sắc, chức sắc. Phục: Y phục, quần áo.

Sắc phục là quần áo màu sắc khác nhau để phân biệt phẩm trật của quan lại, hoặc sắc phái của chức sắc.

Sắc phục còn là đạo phục của chức sắc.

Trong Đạo Cao Đài, mỗi chức sắc mặc đạo phục có kiểu vở và màu sắc tuỳ theo phẩm trật và phái của vị chức sắc đó.

Thánh giáo Đức Lý Thái Bạch có dạy: Hội Thánh nghe Lão ban sắc phục cho Nữ phái. Nghe và từ đây xem sắc tốt ấy mà hành lễ theo đẳng cấp.

Một ngày kia, sắc phục ấy đời sẽ coi quý trọng lắm. Con ôi! Con có biết những điều ấy bao giờ!

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

SẮC SẢO

Sắc sảo là xinh tươi, đẹp đẽ. Như: Cành hoa sắc sảo.

Sắc sảo nói về người có tính thông minh, lanh lợi. Như: Con người sắc sảo.

Thánh giáo Lý Giáo Tông dạy: Ðấng Chí Tôn đã gieo giống quý hoá rồi, thì cần phải vun trồng cho cội sởn sơ. Cội sởn sơ mới có đâm chồi trổ tược, nhành lá sum sê, hoa đơm sắc sảo, rồi mới đến trái oằn sai mà thành kết quả xứng đáng.

Giai nhân sắc sảo nét dung nhan,

Nay đặng may duyên phụng gặp hoàng.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

SẮC TÀI

Sắc: Vẻ đẹp của phụ nữ. Tài: Giỏi, có khả năng làm việc. Tài: Tiền bạc hay của cải vật chất.

1.- Sắc tài 色 才 là nhan sắc và tài ba, chỉ người con gái hoàn toàn vừa có sắc đẹp, vừa có tài giỏi.

Như: Chị ấy có sắc tài toàn vẹn.

Nỗi mình tâm sự tỏ cùng ai?

Mạng bạc còn xuân uổng sắc tài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cân chữ sắc tài đời kém mặt,

Trông trăng đừng vội gấp soi gương.

(Đạo Sử).

2.- Sắc tài 色 財 là nữ sắc và tiền tài vật chất, là những thứ làm cho người tu hành dễ đam mê rồi sa ngã.

Như: Danh lợi sắc tài là những miếng mồi dụ người tu phải mê đắm.

Chừng qua giấc mộng Nam Kha thức,

Mới biết mình quê vụ sắc tài.

(Đạo Sử).

Chúng sanh mê mết mộng trường,

Sắc tài danh lợi vấn vương buộc mình.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

SẮC TỨ

敕 賜

Sắc: Chiếu chỉ, sắc lịnh của nhà vua. Tứ: Trên ban xuống, vua cho.

Sắc tứ là do chiếu chỉ của vua ban xuống cho.

Sắc tứ trong Đạo Cao Đài còn dùng để chỉ Trời, hay Đức Chí Tôn ban cho.

Tại nội bất tri Thiên sắc tứ,

Năng tu quả nhựt diệu cân đai.

(Đạo Sử).

 

 

SẮC TƯỚNG

色 相

Sắc: Màu sắc. Tướng: Hình tướng, trạng mạo.

Sắc tướng là tiếng chỉ chung những gì có hình tướng trong Tôn giáo như hình thức thờ phụng, áo mão, nghi lễ cúng tế...

Theo Đại Thừa Chơn Giáo, Đức Chí tôn lập Đạo kỳ ba này trái hẳn với Tam giáo, là lấy hữu hình để truyền đạo trước, tức lấy sắc tướng thanh âm độ đời một cách mau chóng, rồi sau đó mới lần lần dẹp hết chỗ hữu hình mà đi đến chỗ vô vi, là cơ siêu phàm nhạp Thánh.

Bớt điều sắc tướng huờn vong,

Bớt điều hồ mị nhọc lòng phạn hương.

(Lục Nương Giáng Bút).

Cửa Phật lòng không ham sắc tướng,

Trường văn trống giục dội thanh âm.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

SẮC TƯỚNG ÂM THINH

Hay “Sắc tướng thinh âm”.

Sắc tướng: Hình dáng bề ngoài, chỉ Thánh Thất, tượng thờ, hình thức lễ nghi. Âm thinh (thinh âm): Tiếng, giọng, chỉ tiếng tụng kinh, tiếng mõ chuông hay âm nhạc.

Sắc tướng âm thinh hay “Sắc tướng thinh âm”, là chỉ chung những thứ âm thanh và hình tướng trong tôn giáo, tức là những hình thức hữu hình như: Chuông, trống, mõ, âm nhạc, nghi lễ cúng tế, hình tượng để thờ phượng...

Trong Đại Thừa Chơn Giáo có câu: Còn Đạo Thầy lại trái hẳn với Tam giáo là bắt đầu truyền Đạo thì dụng hữu hình, lấy sắc tướng, âm thinh mà độ đời một cách lẹ làng, mau chóng.

Sắc tưởng âm thinh đồng nghĩa với câu “Âm thanh sắc tướng 音 聲 色 相”.

Xem: Âm thinh sắc tướng.

1.- Sắc tướng âm thinh:

Sắc tướng âm thinh tua giảm bớt,

Mở đường công quả chúng làm theo.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

2.- Sắc tướng thinh âm:

Sắc tướng thinh âm tua giảm bớt,

Thêm đường công quả chúng làm theo.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

SẶC

Sặc là bật hơi trong bụng hay hắc hơi liên tục khi ăn uống bị vật gì vướng vào khí quản.

Như: Ăn vội hay sặc, sặc nước, sặc khói thuốc lá, cười sặc, sặc máu.

Gẫm thế sự nực cười muốn sặc,

Khéo trớ trêu ai đặt nên điều.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SẶC SỠ

Sặc sỡ là chỉ có nhiều màu sắc sáng, chói xen lẫn vào nhau trông rất đẹp đẽ.

Như: Anh ấy tuy đã già rồi, nhưng khi ra đường vẫn ăn mặc áo quần sặc sỡ.

Khi anh sặc sỡ đẹp trai,

Thì anh nên nhớ những ngày rên la.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

SẮM

Sắm là mua, hoặc sửa soạn cho có, cho sẵn.

Sắm còn dùng để chỉ đóng, hay giữ vai.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy Đức Thượng Phẩm có đoạn: Ðáng lẽ nó phải sắm khôi giáp như hát bội, mà mắc nó nghèo, Thầy không biểu. Bắt nó lên đứng trên, ngó mặt ngay vô ngôi Giáo Tông, lấy chín tấc vải điều đắp mặt nó lại.

Sắm nghiệp trần gian còn phải khó,

Lựa là nghi trưởng tại Bồng sơn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Mơ màng chưa khỏi lụy phồn hoa,

Chưa biết nên thân tính sắm nhà.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

SĂN

1.- Săn là đuổi bắt các loài thú ở trong rừng núi. Như: Săn bắn, săn hươu, săn nai.

Khi nói về Đức Khổng Tử, Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Ðến mùa xuân năm Canh Thân là năm thứ 39 đời vua Kinh Vương nhà Châu có người đi săn bắt được con kỳ lân què chân trước bên trái, ai cũng cho là điều không tốt nên đem ra thả ngoài đồng.

Trói người vào đó xát chà,

Vì chưng hung bạo đốt nhà bắn săn.

(Kinh Sám Hối).

Lão Lục ngó lườm lườm,

Chú Săn đơm khẩu súng.

(Ngụ Đời).

2.- Săn là dây hay chỉ được xoắn rất chặt vào nhau.

Như: Dây thừng bện rất săn, buộc hai đầu dây lại với nhau cho thật săn.

Dâu Nam giản, rể Đông sàng,

Tơ nguyệt săn bền mối tạo đoan.

(Thơ Hương Phụng).

 

 

SĂN SÓC

Săn sóc là chăm nom kỹ lưỡng, tận tình. Như: Y tá săn sóc bệnh nhân.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Con ôi! Thầy biết bao phen săn sóc các con mà chịu đau thảm. Thầy chỉn có lòng mơ ước cho các con biết yêu thương trong Thánh đức của Thầy.

Mảnh thân phàm khi ốm lúc đau,

Chẳng chồng vợ ai vào săn sóc.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SẰN DÃ

莘 野

Sằn: Cánh đồng Hữu sằn, là nơi Y Doãn cày ruộng, lúc còn hàn vi.

Ông có công giúp vua Thang đánh đuổi vua Kiệt, diệt nhà Hạ mà lập nên nhà Thương.

Dã: Cánh đồng.

Sằn dã là cánh đồng Hữu Sằn, chỉ nơi ẩn dật của bậc trí sĩ, tránh mồi danh bả lợi.

Mạnh Tử có câu: Y Doãn sinh ư Hữu sằn chi dã 伊 尹 生 於 有 莘 之 野, nghĩa là Y Doãn cày ruộng ở cánh đồng Hữu Sằn.

Ngày nay “Sằn dã” là từ dùng có ý hạ mình, để chỉ nơi quê mùa, thôn dã, tức vùng thôn quê xa xôi, hẻo lánh.

Vậy Lão xin Hiền Hữu ban quyền cho Chánh Trị Sự đặng phép xử trị, hầu có thể dạy dỗ, sửa răn, thay quyền cho chúng ta trong chốn thôn quê sằn dã.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

SẴN

Sẵn là có rồi, sắp đặt rồi, sắm sửa rồi, tức là có thể sử dụng hoặc hành động được ngay, do đã được chuẩn bị.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Ngôi thứ Thầy đã sắp sẵn, các con rán đoạt thủ địa vị mình. Trước qua sau tới, liệu mà tu hành.

Phước Trời gieo sẵn còn giao kết,

Lợi thế chưa nên xúm giựt giành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Dặm khổ qua rồi ngôi vị sẵn,

Hay chi thế tục chước cầu vinh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thuyền chờ bến tục buồm trương sẵn,

Ðưa đến nguồn trong rửa bợn sầu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

SẴN DÀNH

Sẵn: Có rồi, sắp đặt rồi, sắm sửa rồi, tức là có thể sử dụng hoặc hành động được ngay, do đã được chuẩn bị. Dành: Giữ lại, để riêng cho việc gì.

Sẵn dành là ở trạng thái đã được chuẩn bị.Như: Cha mẹ đã sẵn dành cho anh ấy hơn mười công đất.

Dân tộc sống văn minh công lý,

Những người tu chánh vị sẵn dành.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

SẴN SÀNG

Sẵn: Có rồi, sắp đặt rồi.

Sẵn sàng là trong trạng thái có thể sử dụng hoặc hành động được ngay do đã được chuẩn bị đầy đủ. Như: Xe cộ đã chuẩn bị sẵn sàng.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Ðiều mà Hội Thánh quá thâm cảm là mỗi khi có tiếng kêu gọi của Hội Thánh để thật hành một công tác nào thì toàn thể Chức sắc, nhơn viên và công quả đều sẵn sàng hưởng ứng mãnh liệt, đem hết thiện chí và khả năng để phục vụ cho đến khi công việc hoàn thành mỹ mãn.

Tiệc hồng đã dọn sẵn sàng,

Chơn Thần khá đến hội hàng chư linh.

(Kinh Tận Độ).

Âm đài gông trống sẵn sàng,

Chờ khi thác xuống cổ mang hành hình.

(Kinh Sám Hối).

Sắp đặt trước đừng lòng dụ dựa,

Lo sẵn sàng bếp lửa nồi xông.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SẮP

1.- Sắp là tiếng biểu thị sự việc xảy ra vào thời gian tới, rất gần. Như: Sắp đến, sắp làm, sắp lên đường.

Thánh giáo Đức Chơn Cực Lão Sư có câu: Ðạo sắp tàn, nỗi Ðạo phân chia, chư đạo hữu phải lo níu kéo lại một mớ, người nào hay người nấy, rồi đây, mỗi chỗ mỗi dựng riêng ra, chư đạo hữu mới tuỳ thế đó mà tom góp lại.

Long Hoa sắp soạn khai trường,

Thi tài chọn đức, con bươn kịp giờ.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Ðộc lập gần ngày vui sắp đến,

Bỏ cơn đất Việt chịu tam phân.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

2.- Sắp là đặt xếp vào đúng chỗ, theo thứ tự, hàng lối. Như: Sắp hàng, sắp xếp, sắp đặt, sắp bày.

Thánh giáo Thầy có dạy: Ngôi thứ Thầy đã sắp sẵn, các con rán đoạt thủ địa vị mình. Trước qua sau tới, liệu mà tu hành.

Tai Trời gieo hoạ chẳng riêng ai,

Thế giời kỳ ba sắp trận bày.

(Thơ Hộ Pháp).

3.- Sắp là bọn, từ dành cho người lớn để nói về trẻ con, về lớp trẻ. Như: Sắp cháu dại, sắp lưu manh.

Giảng về Câu “Thi Hứa Giáo Tập”, Thánh giáo Thầy có dạy: Sắp nhỏ của con dạy, sau cũng nên người ở đời. Ấy là đời. Nếu biết trọng đời thì gắng dạy nó nên hiền.

Gởi Tổ Phụ (Anh, chị) hiền cung phụng,

Gởi sắp em còn sống nơi đời.

(Kinh Thế Đạo).

Nhịn ăn mặc ngừa cơn thiếu thốn,

Làm lụng nhiều nuôi dưỡng sắp con.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

SẮP BÀY

Sắp: Xếp đặt cho có thứ tự. Bày: Đặt ra.

Sắp bày là sắp xếp bày đặt ra.

Thánh giáo Thầy có câu: Ðạo Trời khai ba lượt, nguồn Thánh độ muôn người. Thìn lòng để bước vào nẻo thẳng đường ngay mà kiếm cho thấu đáo mối huyền vi Tạo hoá đã sắp bày độ dẫn, nhuần gội ơn huệ cho sanh linh đương buổi Hạ nguơn nầy.

Lục thông trần thế chẳng ai hay,

Cái máy Thiên Cơ đã sắp bày.

(Đạo Sử).

Ba năm xa cách để chờ may,

Vạn sự do Thiên đã sắp bày.

(Hộ Pháp Giáng bút).

 

 

SẮP ĐẶT

Sắp: Đặt, xếp vào đúng chỗ, theo hàng lối, thứ tự. Đặt: Để vào vị trí thích hợp cho một việc nào đó.

Sắp đặt là đặt, xếp cho có thứ tự. Như: Sắp đặt nhà cửa cho gọn gàng.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Lý Đại Tiên Trưởng có dạy: Thầy sai Bần Đạo đến sắp đặt trang nghiêm trong Thánh Thất. Bần Đạo phân phép từ ngày nay, hễ nhập Thánh Thất thì phải giữ phép: Nam nữ bất thân.

Lợi danh khá để lòng sắp đặt,

Trên thuận hoà ắt dưới tuỳ tùng.

(Ngọc Hoàng Thương Đế).

Cách ở ăn trong chốn gia đình,

Điều lễ nghĩa hết tình sắp đặt.

(Phương Tu Đại Đạo).

Nếu khéo giữ trí mưu sắp đặt,

Dạy muôn điều nhắm nhắc vâng theo.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SẮP XẾP

Sắp: Đặt vào đúng chỗ, theo thứ tự, hàng lối. Xếp: Đặt để cái nào vào vị trí cáu ấy theo trật tự nhất định.

Sắp xếp là xếp theo một trật tự coi là hợp lý nhất. Như: Sắp xếp tài liệu gọn gàng.

Sắp xếp hành trang âm chất đủ,

Lên đường trực chỉ lại ngôi xưa.

(Thơ Tử Quy).

 

 

SẮT

1.- Sắt là một thứ kim loại màu xám xanh, dễ dát mỏng và kéo sợi, dễ bị rỉ trong không khí ẩm, là thành phần chính của gang và thép. Như: Dùi sắt, đinh sắt.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có câu: Thầy đã lấy ân huệ ban cho con, rất xứng đáng. Cái ân huệ ấy là tấm sắt hộ tâm, sao chẳng giữ gìn trọng trách, làm cho chinh lòng nhau?

Đắc Thánh thân phàm bền sức luyện,

Thành kim khối sắt chí công mài.

(Thơ Thái Đến Thanh).

2.- Sắt còn dùng để ví với sự cứng rắn của tinh thần, không hề lay chuyển được.

Như: Lòng dạ sắt đá, vẹn sắt son, sắt đinh.

Quy điền có lúc phong trần rảnh,

Ðinh sắt một lòng, chí chớ lay.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Sắt , cùng với “Cầm 琴” là hai loại nhạc khí cổ điển, thường dùng để ví tình vợ chồng hoà hợp, gắn bó.

Như: Đàn sắt đàn cầm, sắt cầm hảo hiệp.

Phòng đào giữ rủi rơi trâm,

Sợ lơi hơi sắt, tiếng cầm lạc cung.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

SẮT CẦM

瑟 琴

Sắt: Đàn sắt, một loại đàn có 25 dây. Cầm: Đàn cầm, một loại đàn xưa có 5 dây.

Sắt cầm là cây đàn sắt và cây đàn cầm, thường dùng để đàn hoà nhau, được ví với vợ chồng.

Trong hôn nhân, sách thường có câu: Sắt cầm hảo hiệp 瑟 琴 好 合, nghĩa là đàn sắt đàn cầm âm thanh hoà hợp với nhau, ý chỉ vợ chồng đẹp đôi.

Sương mốc tô màu sen tịnh đế,

Sắt cầm trỗi khúc nhạc khai nguyên.

(Thơ Thuần Đức).

Ngặt nỗi sắt cầm dây khó gióng,

Bận tình duyên nợ dạ nào nguôi.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

SẮT CẦM HẢO HỢP

瑟 琴 好 合

Sắt cầm: Tên hai loại đàn, đàn sắt và đàn cầm, chỉ vợ chồng hoà hợp nhau. Hảo hợp: Hoà hợp tốt đẹp với nhau.

Sắt cầm hảo hợp ý nói vợ chồng hoà hợp tốt đẹp với nhau. Trong hôn nhân, người ta thường dùng câu: “Loan phụng hoà minh, sắt cầm hảo hợp 鸞 鳳 和 鳴, 瑟 琴 好 合” để chúc cho nhau.

Trao nhau chỉ Tấn tơ Tần,

Sắt cầm hảo hợp hoạ vần duyên ưa.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

SẮT CẦM LẠC PHIẾM

瑟 琴 好 合

Sắt cầm: Tên hai loại đàn, đàn sắt và đàn cầm, chỉ vợ chồng hoà hợp nhau. Lạc phiếm: Phiếm đàn bị lạc cung, chỉ mối duyên không hoà hợp nhau

Sắt cầm lạc phiếm ý chỉ tình duyên gãy đổ, vợ chồng xa nhau.

Tơ nguyệt xe duyên lơi mối chỉ,

Sắt cầm lạc phiếm ngẩn cung đàn.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

SẮT CẦM PHÂN LY

瑟 琴 分 離

Sắt cầm: Tên hai loại đàn, đàn sắt và đàn cầm, chỉ vợ chồng hoà hợp nhau. Phân ly: Chia lìa.

Sắt cầm phân ly ý chỉ vợ chồng đang hoà hợp bỗng nhiên chia lìa nhau.

Hỏi vợ rằng: Lấy kim châm,

Đau lòng hiếu tử sắt cầm phân ly.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

SẮT ĐÁ

Sắt: Một thứ kim loại. Đá: Mọt loại chất rắn ở đất.

Sắt đá, do chữ “Thiết thạch 鐵 石” tức sắt đá, là hai loại vật chất cứng và bền, dùng để ví với tấm lòng kiên định, không điều gì có thể lay chuyển được.

Thánh giáo Thầy dạy Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt có câu: Dầu cho sắt đá cỏ cây, mà nghe đến Thánh Ngôn nơi Thầy do con nói ra cũng hoan nghinh, huống lựa là người. Con nhớ và an lòng.

Tu luyện tua bền lòng sắt đá,

Ðá bền cũng phải đổ về Thu.

(Đạo Sử).

Ấm lạnh không phai lòng sắt đá,

Đắng cay chẳng đổi tấm vàng son.

(Thơ Thuần Đức).

Tòng bá giữ bền gan sắt đá,

Có ngày thoả nguyện định phong cương.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

SẮT ĐINH

Sắt: Một thứ kim loại. Đinh (Đanh): Vật bằng kim loại, đầu nhọn, dùng để đóng cây, ván.

Sắt đinh, cũng như chữ “Sắt đá”, là những vật cúng rắn, dùng để chỉ tấm lòng chắc chắn, bền chặt, không bao giờ thay đổi.

Xem: Sắt đá.

Non sông riêng nặng gánh gia tình,

Tình hiếu dồi dào dạ sắt đinh.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

SẮT MÀI NÊN KIM

Sắt: Một thứ kim loại. Mài nên kim: Mài dũa để thành cây kim.

Sắt mài nên kim, bởi câu tục ngữ “Có công mài sắt có ngày nên kim” ý nói có chí dồi mài, trau luyện ắt có ngày cũng thành công.

Do điển: Lý Bạch lúc học chưa thành tài, đã muốn bỏ dở sự nghiệp.

Một hôm, Lý Bạch đi đường gặp một bà già mài cái dùi sắt. Bạch hỏi mài để làm gì, bà già đáp mài để làm cây kim. Nghe vậy, Lý Bạch liền tỉnh ngộ, trở về tiếp tục học hành lại. Sau trở thành một đại thi hào đời nhà Đường.

Xem: Mài sắt.

Sắt cục mài trở nên kim,

Dày công mới đặng đừng hiềm khó khăn.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Sự nghiệp công danh chí quyết tìm,

Sắt mài có buổi tạo nên kim.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

SẮT SON

Sắt: Một thứ kim loại, chỉ sự bền cứng. Son: Thứ đá màu đỏ, chỉ sự không phai lợt.

Sắt son là bền cứng như sắt, màu đỏ như son, ý nói lòng chẳng phai lợt như màu son đỏ, và bền cứng như chất sắt đá.

Dạ sắt son là lòng bền chặt, trước sau như một, không bao giờ thay đổi.

Xem: Son sắt.

Nhơn nghĩa gắng gìn dạ sắt son,

Thờ cha kính mẹ hiếu lo tròn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tuy là khác thửa đồng bào,

Mà trong sanh tử một màu sắt son.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Sắt son nhuộm tánh đậm màu tươi,

Hay dở khen chê để miệng cười.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

SẨY

Sẩy là sơ ý để xảy ra một động tác.

Như: Đi ngang cầu sẩy chân té xuống rạch, sẩy tay làm vỡ cái bát, chị ấy bị sẩy thai.

Sẩy chơn lọt tuốt hang sâu thẳm,

Níu chéo vượt qua kẻo lạc Thầy.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Sợ cơn giông gió tơi bời,

Trà mi sơ sẩy hoa rời rã bông.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

SẬY

Sậy là loài cỏ cùng họ với lúa, thân cao, mình yếu, lá dài, thường mọc ven bờ nước.

Như: Lau sậy, tay chân như ống sậy, thân hình yếu ớt như cây sậy.

Đường ngắn ngủn mà đường bít chịt,

Sậy lè tè khít rịt rậm ri.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

SÂM THƯƠNG

參 商

Sâm: Sao Sâm, còn gọi sao Hôm, mọc lúc mặt trời lặn. Thương: Sao Thương, còn gọi là sao Mai, mọc khi trời sắp sáng.

Sâm Thương là sao Sâm và sao Thương, còn gọi là sao Hôm, sao Mai, hai ngôi sao trong Nhị thập bát tú, lặn mọc không bao giờ thấy nhau. Ý dùng để chỉ sự xa cách hai nơi.

Do điển: Vua Cao Tốt có hai người con, con trưởng là Yên Bá, con thứ là Thật Trầm. Hai người ở chung thì cứ tranh đua, gây sự nhau mãi. Vua bèn cho Yên Bá sang xứ Thương Khâu ở phương đông mà làm vua đất Thương; còn Thật Trầm sang xứ Đại Hạ làm chúa đất Sâm. Do tích này, người ta mới đặt hai ngôi sao lặn mọc khác nhau tên là sao Sâm và sao Thương.

Điềm phúc ứng dê xanh qua cửa,

Bỗng rẽ phân hai ngả Sâm thương.

(Tuý Sơn Vân Mộng).

Hai ngả Sâm thương, khóc bạn hiền,

Bao giờ lại đặng buổi đoàn viên.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

SẤM

1.- Sấm là tiếng nổ ở trên không do hai luồng điện âm dương gặp nhau.

Như: Trời sắp mưa sấm nổ vang rền, tiếng sấm rền trời, vỗ tay như sấm.

Thạnh nước câu văn hơn tiếng sấm,

Không trung đố kẻ thấy chim Hồng.

(Đạo Sử).

Hiện giữa thanh không chờ nổ sấm,

Giương vi vùng vẫy cõi trời đông.

(Bát Nương Giáng Bút).

2.- Sấm lời đoán trước có tính cách bí ẩn cho biết những việc sẽ xảy ra.

Như: Sấm ký, sấm tiên tri, Nguyễn Bỉnh Khiêm còn lưu lại sấm Trạng Trình.

Lời sấm đoán văn khi thật quả,

Tiên tri toán số gẫm không lầm.

(Thanh Sơn Chơn Nhơn).

 

 

SẤM CHỚP

Sấm: Tiếng ầm ầm trên không khi có điện dương và âm gặp nhau. Chớp: Ánh sáng loé ra do luồng điện ở trong mây.

Sấm chớp là sấm và chớp, tức tiếng nổ vang và lằn sét chớp trên không.

Sấm chớp thường dùng để ví những gì có tính mạnh bạo, khủng khiếp.

Đừng ngần ngại cửa thiền sấm chớp,

Giữ nghĩa nhân đặng hợp giống nòi.

(Xuân Hương Giáng Bút).

 

 

SẤM SÉT

Sấm: Tiếng ầm ầm trên không khí có điện dương và âm gặp nhau. Sét: Tiếng nổ do các luồng điện trên không gặp nhau mà phát ra.

Sấm sét là trời sấm và sét. Sấm sét còn dùng để chỉ những tác động mạnh và khủng khiếp.Vị Thần sấm sét tên là A Hương.

Sách Sưu Thần Ký viết: “Ông Châu Nghi Hưng dạo chơi, gặp lúc trời chiều lỡ đường, thấy có một nhà tranh bên đường, đến xin ngủ nhờ một đêm. Chủ nhà là một cô gái trẻ tuổi liền cho tá túc. Sang canh hai ngoài cửa có tiếng người bảo: A Hương! Quan lớn kêu đẩy xe sấm. Cô gái đi, một lúc sau bỗng nhiên sấm chớp nổi dậy khắp nơi. Sáng hôm sau, Nghi Hưng thấy mình nằm cạnh một ngôi mộ.

Ấu Học Quỳnh Lâm có câu: Lôi Bộ thôi xa chi nữ viết A Hương 雷 部 推 車 之 女 曰 阿 香. Nghĩa là: Cô gái đẩy xe cho thần Lôi Bộ tên là A Hương.

Biển Đông sấm sét ra oai thử.

Hò hét vang lên trỗi tiếng rền,

(Thơ Hộ Pháp).

Mây lành thoạt nổi lên sấm sét,

Lửa binh đao đốt khét thanh bình.

(Phù Kiều Hận Sử).

 

 

SẤM TIÊN TRI

讖 先 知

Sấm: Lời sấm, lời đoán trước việc tương lai. Tiên tri: Biết trước mọi việc.

Sấm tiên tri là lời sấm cho biết trước những sự việc sẽ xảy ra.

Như: Sấm Trạng Trình là lời sấm tiên tri của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.

...ngày Giáng sinh của Chúa Cứu Thế là việc đã có sấm tiên tri rồi mà các con không chịu quan tâm đến.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

SẤM TRUYỀN

讖 傳

Sấm: Lời sấm, lời đoán trước việc tương lai. Truyền: Trao lại, lan rộng cho mọi người biết.

Sấm truyền là lời sấm truyền lại như thế.

Trong quyển Giáo Lý của Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có câu: Đạo “Minh Sư” sáng lập đời nhà Thanh bên Tàu, có hai câu sấm truyền như sau: Cao như Bắc khuyết nhơn chiêm ngưỡng, Đài tại Nam Phương Đạo thống truyền 高 如 北 闕 人 瞻 仰, 臺 在 南 方 道 統 傳, nghĩa là cao như Bắc khuyết, người ta trông lên mà tin tưởng, nơi phát xuất Đạo là Nam phương (chỉ về nước Việt Nam) và Đạo liên tục truyền bá là Cao Đài giáo.

Sấm truyền dạy chúng mau bồi đức,

Thánh giáo khuyên người sớm lập công.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

SẦM SẬP

Sầm sập là từ mô phỏng tiếng như tiếng mưa to đổ xuống dồn dập.

Như: Tiếng trời mưa đổ sầm sập trên mái nhà, riếng chân bước sầm sập trên cần thang gỗ.

Ngơ ngác lòng quỳ chưa bến đỗ,

Không gian sầm sập bóng tà huy.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

SẦM UẤT

岑 蔚

Sầm: Núi nhỏ mà cao. Uất: Rậm rạp.

Sầm uất chỉ sự rậm rạp, như núi rừng sầm uất, hoặc chỉ sự đông đúc, như thành phố sầm uất.

Trong Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Không có Ðức Hộ Pháp thì nơi đây vẫn còn là những đám rừng rậm sầm uất.

Sầm uất rừng thiêng trước Tổ đình,

Hai bên xanh ngắt một màu xinh.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

SẨM

Sẩm là chỉ khoảng thời gian bắt đầu tối, mọi vật trông không được rõ.

Như: Lúc tối sẩm tôi mới ra giữ rẫy, Trời sẩm tối tôi mới về nhà một mình.

Từ sáu tháng khá thường bồng ẵm,

Mơi bửng tưng, chiều sẩm mặt trời.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SÂN

1.- Sân là khoảng đất trống dùng làm phần phụ của nhà. Như: Sân gạch, sân nắng, sân phơi lúa, sân kiểng.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Có thể một ngày kia tôi sẽ dâng sớ cho Đức Lý lập một hình phạt, hình phạt của tôi ngộ nghĩnh lắm: Không cho phái nữ đi vô Đền Thánh một thời gian, hành lễ ngoài sân một thời gian, bằng xin không được nữa, thì không khi nào lên Chức Sắc Thiên Phong được với tôi mà chớ.

Điểm tang dấu tuyết đượm màu,

Vầng trăng sân trước soi làu khổ xưa.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

Trước sân quét một nơi cho sạch,

Cát trắng dùng làm sách dạy con.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Sân là giận, là một trong ba cái độc của con người, mà Phật giáo gọi là tam độc.

Như: Tham sân si là tam độc, tu mà không diệt được lòng sân hận, tánh sân si của anh ấy rất nặng.

Khi dạy răn đòn bọng chớ sân si,

Hình vua chúa có khi còn phải kém.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SÂN CHẦU

Sân: Một khoảng đất rộng nơi triều đình. Chầu: Bề tôi có mặt để nghe lời dạy của vua chúa.

Sân chầu là nơi họp mặt của các bề tôi, ở triều đình để triều bái nhà vua.

Non sông nhuộm một màu sầu,

Nền giao cỏ láng sân chầu sương phong.

(Ngụ Đời).

 

 

SÂN ĐÀO LÝ

Sân: Khoảng đất rộng trước hay sau nhà. Đào lý: Cây đào và cây mận.

Sân đào lý là sân mận đào dùng để chỉ các ông quan có tài năng, hay người lỗi lạc.

Do tích Địch Nhân Kiệt đời Đường tiến cử lên vua ba mươi người, đều là những người tài năng lỗi lạc. Người đương thời khen rằng: Thiên hạ đào lý tận tại công môn 天 下 桃 李 盡 在 公 門, nghĩa là đào lý (Chỉ bậc hiền tài) trong thiên hạ hầu hết ở tại cửa nhà ông mà ra.

Xem: Cửa mận đào.

Chật cửa chi lan hương sực nức,

Đầy sân đào lý khách lân la.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

SÂN ĐỒNG XÃ

Hay “Sân Đại Đồng Xã”.

Sân Đồng Xã tức sân Đại Đồng Xã là một cái sân rộng lớn, nằm giữa hai bên khán đài và hai cánh rừng thiên nhiên, phía trước Toà Thánh Tây Ninh.

Sân Đại Đồng Xã dùng làm nơi tổ chức các buổi lễ lớn của Đạo Cao Đài.

Phía ngoài giữa sân Đại Đồng Xã còn có xây dựng các công trình như:

- Tượng Thái Tử Sĩ Đạt Ta cỡi bạch mã và theo sau là tượng Xa Nặc rời bỏ hoàng cung để đi tìm Đạo.

- Đài Cửu Trùng Thiên, là một cái đài có chín bậc cao, hình bát giác, dùng làm nơi thiêu cốt các chức sắc hoặc đặt Liên đài các chức sắc Đại Thiên phong hàng Tiên vị để tế lễ.

- Một cội Bồ Đề, được Hội Thánh trồng vào năm Quý Tỵ, 1953, cây giống do Hội Phật giáo Tích Lan trao tặng.

- Một cây cột hình vuông lớn và cao, gọi là cột phướn, dùng để mỗi khi có lễ vía treo lá phướn dài trên mười hai thước.

Sân Đồng Xã lần chân đòi phút,

Gốc phướn linh sen đúc nên toà.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

Danh rạng trường tu ngắm rất xuê,

Che sân Đồng Xã cội Bồ Đề.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

SÂN HẠNH

Sân: Khoảng đất rộng trước, trong, hay sau nhà. Hạnh: Do chữ Hạnh đàn là cái nền cao có trồng nhiều cây hạnh, nơi Đức Khổng Tử giảng dạy học trò tại huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông bây giờ.

Sân hạnh tức là sân hạnh đàn, dùng để chỉ nơi dạy học, hay trường học.

Xem: Hạnh đàn.

Nắng ấm ngày xuân phô vẻ ngọc,

Mầm non sân hạnh ngát hơi hương.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

SÂN HẬN

嗔 恨

Sân: Giận, là một trong ba cái độc của con người, mà Phật giáo gọi là tam độc. Hận: Lòng oán hờn sâu sắc đối với kẻ làm hại mình.

Sân hận là oán giận, thù ghét những cái gì không làm cho mình thích ý.

Trong các loại phiền não thì sân hận là thứ phiền não có tướng trạng rất thô bạo, và nó có thể phá hoại sự nghiệp hành trì của người tu một cách nặng nề nhất. Một khi sân hận khởi lên mà chúng ta không tự kềm chế, không tự khắc phục được, thì biết bao chuyện đau khổ, chướng ngại xảy đến cho ta. Do vậy mới có câu: “Nhất niệm Sân tâm khởi, bách vạn chướng môn khai 一 念 嗔 心 起, 百 萬 障 門 開”, có nghĩa là khi khởi một niệm giận hờn tức là đã mở ra muôn ngàn cửa chướng ngại.

Trong kinh Phật cũng có câu: Một niệm lửa sân đốt tan cả rừng công đức.

Sân hận do tham dục mà sanh, cho nên muốn trừ Sân hận phải ngừa lòng ham muốn.

(Giáo Lý).

 

 

SÂN HOẠN

Sân: Khoảng đất rộng trước, trong, hay sau nhà. Hoạn: Quan lại, làm quan.

Sân hoạn, như chữ “Hoạn lộ 宦 路”, là trường quan lại, dùng để chỉ chung giới làm quan.

Sân hoạn cùng đường gương ngọc rạng,

Nguồn đào để bước mảnh xuân thưa.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chiều xuân sương toả lồng sân hoạn,

Dặm liễu trăng soi rạng bước đường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

SÂN HOÈ QUẾ

Sân hoè: Bởi tích Vương Hựu đời nhà Tống có trồng ba cây hoè trước sân nhà rất xum xuê, mà sau này các con ông đều làm quan vinh hiển.

Sân quế: Do điển “Yên Sơn ngũ quế 燕 山 五 桂”.

Đậu Võ Quân đời Ngũ Đại, người đất Yên Sơn, có năm người con đều học giỏi, đỗ đạt vinh hiển. Người đương thời gọi là “Yên Sơn Ngũ Quế” để chỉ năm người con vinh hiển của ông như năm cành quế thơm.

Sân hoè quế là trước sân có trồng cây hòe và cây quế, dùng để chỉ nhà có con hiển đạt.

Xem:Yên Sơn ngũ quế, Sân hoè.

Già vui bóng lộng sân hoè quế,

Trẻ sẵn người lo việc tảo tần.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

SÂN KHẤU

Sân khấu chỉ một khoảng rộng trong rạp hát để nghệ sĩ lên đó diễn kịch.

Người ta thường ví Đời hay Đạo như màn kịch trên sân khấu nên gọi là sân khấu Đời, sân khấu Đạo.

Thánh giáo Thầy có câu: Ðạo Trời khai ba lượt, người tục lỗi muôn phần. Sanh đứng vào vòng thế cuộc, chưa biết mình đã lãnh một vai tuồng đặng chờ lúc kết quả, hồn quy Thiên ngoại, lánh khỏi xác phàm, trở về nơi khởi hành mà phục các điều đã thi hành giữa sân khấu là chốn trần ai khốn đốn nầy.

Trên sân khấu đời, mỗi người đều có vai tuồng riêng biệt do mình tự chọn lựa và tác động.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

Khúc phim sân khấu tấn tuồng đời,

Ba vạn sáu ngàn khách mấy mươi.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

SÂN LAI

Sân: Khoảng đất rộng trước, trong hay sau nhà. Lai: Lão Lai Tử 老 萊 子, là một người con rất hiếu thảo trong Nhị Thập Tứ Hiếu.

Sân Lai là sân nhà của Lão Lai Tử. Nghĩa bóng: Chỉ sân nhà cha mẹ.

Sách Nhị Thập Tứ Hiếu chép: Lão Lai Tử người nước Sở, thời Xuân Thu, thờ cha mẹ rất có hiếu, năm bảy mươi tuổi còn bày trò như trẻ con, mặc áo năm màu sặc sỡ ra sân nhảy múa để làm vui cho cha mẹ.

Mồ cha mả mẹ còn khi viếng,

Gốc tử, sân Lai hết lối về.

(Thơ Hi Đạm).

Sân Lai ảm đạm lời ca bặt,

Cõi thọ thong dong cánh hạc về.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

SÂN LỄ

Sân: Khoảng đất trống ở trước hay sau nhà. Lễ: Cuộc lễ có nghi tiết.

Sân lễ là khoảng đất phía trước dùng để bày trí những nghi tiết cho các cuộc lễ: An vị, Khánh thành...

Như: Quan khách ngồi hai bên sân lễ, Ngọc Kỳ lân múa giữa sân lễ.

Đạo kỳ phất phới giăng Sân lễ,

Hương khói thơm tho ngát Điện tiền.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

SÂN NGÔ

Sân: Khoảng đất rộng trước, trong hay sau nhà. Ngô: Cây ngô đồng 梧 桐, loại cây thân to, gỗ nhẹ, thường dùng làm đàn.

Sân ngô tức là sân có trồng cây ngô đồng.

1.- Sân ngô chỉ sân trồng cây ngô đồng:

Sân ngô thi lá cơn vừa đổ,

Dạo cúc buồn hương lối ép chiều.

(Lục Nương Giáng Bút).

2.- Sân ngô dùng để chỉ nơi trường học đào tạo ra được nhiều người tài giỏi, hiển đạt.

Do điển: Nhà họ Hàn có tám người con trai đều học hành thành tài, thi đỗ ra làm quan. Người đương thời ca tụng là “Hàn thị bát đồng 韓 氏 八 桐”, nghĩa là nhà họ Hàn có tám cây ngô đồng.

Nẻo hạnh làu soi gương nguyệt thắm,

Sân ngô rạng vẻ cảnh thu đưa.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nhành vàng tuy chẳng đượm sân ngô,

Cái miệng trung trinh giống Ðổng Hồ.

(Đạo Sử).

Ấy là nơi thiếp đến thường,

Thăm chàng đang học nơi trường sân ngô.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

SÂN RỒNG

Sân: Một khoảng đất rộng nơi triều đình. Rồng: Một vật trong tứ linh, thường dùng để chỉ nhà vua.

Sân rồng là cái sân vua và bề tôi hội họp nơi triều đình, trước cung vua, còn gọi là “Sân chầu”.

Bảo tồn giống Lạc Long chuyển thế,

Ánh sao Khuê đã xế sân rồng.

(Xuân Hương Giáng Bút).

 

 

SÂN SI

嗔 癡

Sân: Giận dữ, sân hận. Si: Si mê, ngu si, mê muội.

Sự nóng giận nổi lên do những cái gì không làm cho mình thích ý. Giáo lý nhà Phật nói: Nhất niệm sân tâm khởi, bách vạn chướng môn khai 一 念 嗔 心 起, 百 萬 障 門 開, nghĩa là khi tâm khởi lên một niệm sân thì trăm muôn cửa chướng ngại mở ra. Trong Kinh cũng có nói: “Một niệm lửa sân đốt tan cả rừng công đức”.

Theo Phật, từ sân hận con người bị đưa đến ngu si, mê muội. Si thường khiến con người không biết chánh tà, tội phước, thiện ác, rồi đưa đến tội lỗi, lầm lạc.

Ấy là những gái hung đồ,

Xúi chồng tranh cạnh hồ đồ sân si.

(Kinh Sám Hối).

Dạy cả thảy nhơn sanh tỉnh tánh,

Lấy từ bi mà lánh sân si.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

Nể mặt đứa gian toan trốn tránh,

Bực mình bạn tác phát sân si.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

SÂN TRÌNH

Sân: Khoảng đất rộng trước, trong hay sau nhà. Trình: Chỉ anh em Trình Di, Trình Hạo.

Như chữ “Cửa Trình”, tức là Sân nhà họ Trình, danh Nho đời nhà Tống, dùng để chỉ trường học của Nho gia. Họ Trình có hai anh em:

Anh là Trình Hạo, tự Bá Thuần, đỗ Tiến sĩ, làm quan Giám sát Ngự sử, nghiên cứu tinh thông về bách gia chư tử và đạo Thích, đạo Lão.

Em Trình Di là người nghiên cứu bất cứ điều gì cũng cùng cực lý lẽ, bình sanh lấy chân thành làm gốc. Về sau, Trình Di chú thích về Kinh Dịch và Kinh Xuân Thu, mở thành một học phái. Hai anh em họ Trình cùng học một Thầy là Chu Đôn Hy.

Sân Trình cỏ loán,

Cửa Khổng rêu phong.

(Văn Tế Đốc Học).

Trước ngõ sân Trình rêu lấp dấu,

Nay mừng cửa Khổng gió đưa hương.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

SẤN

Sấn là xông tới, xông thẳng tới, không kể gì chung quanh, sấn vào mà đánh.

Sấn còn có nghĩa là phăng đi, tức hành động bừa, bất chấp tất cả. Như: Làm sấn tới.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có đoạn: Vì những kẻ dám đem mình làm tế vật cho Thầy để lập nên một Quốc gia Thiên định tại thế nầy, Bần Ðạo chắc Quốc gia ấy phải thành. Ðức Chí Tôn tạo cho con cái của Ngài một cửa nhỏ tuy khó đi mà Bần Ðạo chắc rằng, những hạng con cái dám chết vì Ngài thì chúng nó dám đạp văng cửa ra chúng nó đi sấn đến.

Ngoài áng Ðào Nguyên sấn bước vào,

Thiên Thai Tiên đảnh trước cao cao.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

SẤN CHÍ

Sấn: Xông thẳng tới. Chí: Ý muốn bền bỉ theo đuổi việc gì tốt đẹp.

Sấn chí là ý chí vương thẳng tới, tức ý chí hăng hái, hứng khởi để vương lên.

Làm cho sấn chí anh hùng,

Non sông trỗi bước ngàn trùng gươm đao.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

SẤP

Sấp là ở tư thế úp mặt xuống, trái với ngửa.

Như: Nằm ngủ sấp mặt xuống, xin keo được một sấp một ngửa, chạy quá đà té sấp mình xuống.

Đời thái quá chuyển xây rồi bất cập,

Ham leo trèo nạn té sấp nó kề bên.

(Giác Mê Khải Ngộ).

 

 

SẤP MÌNH

Sấp: Ở tư thế úp mặt xuống, trái với ngửa. Mình: Chỉ thân thể của ta.

Sấp mình là cúi mình xuống lạy. Như: Sấp mình lạy trước Thiên Bàn.

Sấp mình cúi lạy xin thưa,

Ơn Trên Từ Phụ cho chừa tội khiên.

(Kinh Thế Đạo).

Sấp mình cúi lạy Từ Bi,

Tiền khiên phụ mẫu Tam Kỳ xá ân.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

SẬP

Sập là đổ xuống, sụp xuống, tức bị đổ ập cả một khối lớn. Như: Nhà sập bìm bìm leo, xe kẹt do cầu sập.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn dạy: Bần Đạo chỉ nói rằng trong thời buổi hỗn độn cả nhân luân của nhơn loại sập đổ; Đức Chí Tôn đến, Ngài đến với một phương pháp đơn giản tạo nền Chơn Giáo của Ngài.

Dựa cột, cột xiêu nhà sập nóc,

Kham tai cái kiếp cửa nhà không?

(Đạo Sử).

Kìa chùa cũ nóc hư muốn sập,

Nơi đôi ta lén gặp gỡ nhau.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

SẬT SỪ

Sật sừ là một phương ngữ Nam bộ, chỉ trạng thái còn ngái ngủ, hoặc không được tỉnh táo.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Lúc chưa biết Ðạo, tôi cũng không tin điều ấy, đến lúc ở chùa Gò Kén trước mấy ngàn người, tôi bước lên giảng đài đi qua lại đến 16 vòng mà hễ ngước mặt lên thấy đầu người lố nhố, sợ hải không thuyết được. Kế phát sật sừ như say rượu không còn thấy ai nữa hết. Say đáo để, nói mà không biết nói những gì, chừng xuống đài thiên hạ khen mới biết, may là trước tập nhiều rồi đó.

Ca diêu thường ví sự đời như,

Một giấc Nam Kha tỉnh sật sừ.

(Đạo Sử).

 

 

SÂU

1.- Sâu là nói về cái gì mà có đáy cách xa trên mặt nhiều, trái với nông, cạn.

Như: Giếng sâu, sông sâu, cái lọ sâu, hang sâu.

Thánh giáo Chí Tôn có dạy: Tâm cứng cỏi, Ðạo điều hoà thì cứ bước tới Thầy; tâm trí bất định, đạo hạnh không hoàn toàn thì con đường hám lợi xu danh tới hang sâu vực thẳm đó, vì sức các con đã rã rời thì tài nào níu kéo đỡ nâng khuyên nhủ nhau được.

Ao rộng sâu chứa đầy giòi tửa,

Hơi tanh hôi thường bữa lẫy lừng.

(Kinh Sám Hối).

2.- Sâu là có độ sâu đến tận cùng, tận đáy. Như: Học sâu, nhận thức sâu, mưu sâu độc.

Thánh giáo Thầy có câu: Chúng nó lại tưởng rằng, kiếp người là kiếp sống chỉ có giây giờ rồi tiêu mất, nên tìm những chước sâu kế độc cho đặng của nhiều, no lòng sướng dạ, trối kệ luân hồi.

Đừng tính kế độc sâu trong dạ,

Mà gổ ganh oán chạ thù vơ.

(Kinh Sám Hối).

3.- Sâu là loài côn trùng ăn lá, trái của thảo mộc, hoặc gỗ, và đến khi già thì hoá bướm.

Như: Sâu ăn lá, sâu đục thân, sâu dân mọt nước.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Nhưng than ôi! Bầy quỷ rất hung hăng, một con sâu làm rầu cả mùa màng, vì vậy mà con đường của các con bị linh chinh vì nơi hành động của một hai kẻ có trách nhậm xứng đáng.

Hễ anh chị chê mình sâu rọm,

Là mình hay lóm thóm chơi dơ.

(Phương Tu Đại Đạo).

Tà mị phàm rung rinh chất Thánh,

Mùa màng sâu phá hoại hồn kinh.

(Thơ Thượng Phẩm).

 

 

SÂU DÂN MỌT NƯỚC

Sâu dân: Loài sâu phá hại nhân dân. Mọt nước: Loài mọt đục khoét đất nước.

Sâu dân mọt nước, dịch nghĩa từ chữ “Đố quốc hại dân 蠹 國 害 民”, để chỉ những người tham ô, đục khoét tài sản của nhân dân.

Sâu dân mọt nước là nói người không có ích cho nhân quần, xã hội, chỉ là loài sâu phá hại nhân dân, loài mọt đục khoét đất nước.

Sâu dân mọt nước bạo tàn,

Mua quan bán chức nhộn nhàng cân đai.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Đời vẫn sâu dân thêm mọt nước,

Đạo còn khẩu phật lại tâm xà.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

SÂU SẮC

Sâu: Lõm xuống ở dưới, cách xa trên bề mặt. Sắc: Tỏ ra rất tinh và nhanh.

Sâu sắc là thân trầm, có tính đi vào chiều sâu, vào những vấn đề thuộc bản chất, có ý nghĩa nhất.

Sâu sắc còn dùng để chỉ tình cảm rất sâu trong lòng, không thể nào phai nhạt.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo của Bát Nương Diêu Trì Cung có câu: Muốn sưu tầm nguyên căn của Đạo giáo Cao Đài thì cần phải có một sự suy nghiệm rất sâu sắc, chỉ có lấy thực nghiệm đức tin thì chẳng có chi là khó mấy.

Cùng phụng sự cho chủ nghĩa chung mà làm việc với ý sâu sắc riêng tư chính là bởi thiếu sự thương yêu lẫn nhau vậy.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

SÂU XA

Sâu: Nói cái gì mà đáy cách xa bề mặt nhiều, trái với nông. Xa: Trở, cách không gần.

Sâu xa là thâm trầm, sâu sắc, tức có tính chất cơ bản, quan trọng, nhưng không trực tiếp nhận thức được mà phải qua phân tích mới thấy.

Chẳng dùng những tiếng sâu xa,

E không hiểu thấu, diễn ra ích gì?

(Kinh Sám Hối).

 

 

SẤU HOÁ CÙ

Sấu: Một loài bò sát hung dữ ở nước, thân to, da sần sùi, miệng lớn có răng nhọn. Hoá cù: Biến thành cù, một loại rồng.

Sấu hoá cù là con sấu tu lâu cũng thành cù (rồng), ý muốn nói mặc dù hung dữ như loài sấu, tu mãi cũng có thể thành rồng.

Nghĩa bóng: Người hung dữ tu cũng thành Tiên Phật.

Phép lành Trời sẵn mở đường tu,

Nầy buổi sấu kia đặng hoá cù.

(Thơ Tiếp Đạo).

Làm lành làm phải gọi là tu,

sấu tu lâu cũng hoá cù.

(Thơ Thông Quang).

 

 

SẦU

Sầu là buồn rầu, tức buồn sâu trong lòng. Như: Sầu não, sầu muộn, ôm nặng mối sầu.

Thánh giáo Thầy có câu: Ngày vui vẻ của sanh linh đã mòn, hoạ Thiên điều đã cận, Càn khôn Thế giới còn đeo đuổi, dụng thất đức vô nhân mà gieo thảm chất sầu trong nhân loại.

Ðộng cũ vườn tòng sầu biếng trổ,

Non xưa rừng bá thảm buông mành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trời thảm mây giăng muôn cụm ủ,

Biển sầu nước nhuộm một màu thương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

SẦU BI

愁 悲

Sầu: Buồn rầu. Bi: Thương xót.

Sầu bi là buồn rầu đau xót.

Bài Văn tế Đức Cao Thượng Phẩm của Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt có câu: Than ôi! Một năm qua rồi, nhìn Thánh Ðịa như cảnh sầu bi, xem nền Ðạo giống nhà vô chủ.

Bá tước công khanh ý vị gì?

Mà đời dám đổi kiếp sầu bi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tích đức gắng gìn nhơn nghĩa trọn,

Chông gai xa lánh cảnh sầu bi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

SẦU KHỔ

愁 苦

Sầu: Buồn phiền. Khổ: Khó khăn thiếu thốn về vật chất, bị giày vò, đau đớn về tinh thấn, trái với sướng.

Sầu khổ là buồn phiền khổ sở. Như: Đứa bé mồ côi chịu sầu khổ trong cảnh nghèo khó.

Ai người sầu khổ chịu mồ côi,

Xuân hạ thu đông đắp áo trời.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

SẦU MIÊN

愁 眠

Sầu: Buồn phiền. Miên: Giấc ngủ.

Sầu miên là giấc ngủ cô đơn, buồn phiền.

Trong Đường Thi, Trương Kế có câu: Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên, Giang phong ngư hoả đối sầu miên.

Thao thức canh trường khó ngủ yên,

Cô đơn đè nặng giấc sầu miên.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

SẦU MUỘN

愁 悶

Sầu: Buồn rầu. Muộn: Trong lòng không vui.

Thường vì nhớ tiếc mà buồn rầu, uất ức trong lòng, gọi là sầu muộn.

Trong Đàn cơ do Hộ Pháp và Tiếp Thế phò loan tại Giáo Tông Đường, Hương Bảo Thoàn thưa với Đức Hộ Pháp có câu: Xin Sư Phụ ẩn nhẫn, muôn sự có Chí Tôn, xin đừng sầu muộn nữa, hao mòn thân thể.

Mảng sầu muộn ngổn ngang trăm mối,

Chùa thu không bóng tối mịt mờ.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

SẦU TƯ

愁 思

Sầu: Buồn rầu. Tư: Lo nghĩ.

Sầu tư là buồn rầu thương nhớ, tức sầu nhớ một cách kín đáo, sâu xa.

Thương muôn nhà còn chịu sầu tư,

Thương cao thượng, chớ như tình thế.

(Bát Nương Giáng Bút).

Chất mối sầu tư ruột nát bầm,

Thời thôi đành phải giả làm câm.

(Thơ Huệ Giác).

Một mối sầu tư bận tấc lòng,

Cây đờn dập thảm dựa đơn song.

(Thơ Chánh Đức).

 

 

SẦU THẢM

愁 慘

Sầu: Buồn rầu. Thảm: Thương xót, đau đớn.

Sầu thảm là buồn bã thảm thương.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Ðời cũng vậy, mà Ðạo cũng vậy. Hễ chác danh cao quyền lớn, bực quý phẩm Tiên thì phải dày chịu gian nguy, nặng đeo sầu thảm.

Mẹ trông con về cảnh an nhàn,

Ở trần thế muôn ngàn sầu thảm.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Thu về Ðông vội trở màu sầu,

Sầu thảm chờ qua lúc đớn đau.

(Đạo Sử).

 

 

SẦU THƯƠNG

Sầu: Buồn sâu trong lòng. Thương: Yêu thương.

Sầu thương là sầu não và nhớ thương.

Thánh giáo Đức Quyền Giáo Tông có câu: Ngoảnh lại cơ Đạo ngày nay cũng phải chịu bao nhiêu nỗi sầu thương khóc hận mới có xuất hiện bực hiếu hạnh trung kiên.

Tang quyến sầu thương lần vĩnh biệt,

Đàn văn cảm kích mối tương thông.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

SẦU ƯU

愁 憂

Sầu: Buồn rầu. Ưu: Lo buồn.

Sầu ưu, như chữ “Ưu sầu 憂 愁”, là lo buồn, tức là lo nghĩ và buồn rầu.

Dứt tình ái, giải sầu ưu,

Hễ thương thì cũng lo mưu giữ mình.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

SE SUA

Se sua là trang sức hoặc mặc quần áo lòe loẹt, chỉ người có ý muốn khoe khoang.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có nói: Người đã thấy hiểu cái chơn lý ấy vẫn điềm nhiên trước cảnh đua chen náo nức của thiên hạ khi ngày xuân sắp đến, không bắt chước se sua lãng phí, cứ an phận thủ thường, tuỳ hoàn cảnh của mình mà lo liệu ổn thoả việc gia đình.

Như sự lãng phí se sua ở đời nầy, Thầy cũng cho là một việc tổn đức vậy.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

SÈ SỤT

Sè sụt, như chữ “Sụt sè”, là e dè, ái ngại, chưa dám nhúng tay vào, chưa dám làm.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Con người trước khi nhúng tay vào tội lỗi, cũng phải sè sụt ngần ngại một đôi lần. Nhưng sau cùng sự đòi hỏi của dục vọng quá thúc bách, họ không chống ngăn nổi, nên phải sa ngã, đó là một linh hồn nhập vào hàng tôi tớ của quỷ vương.

Dầu đến điều chung chiếu chung buồng,

Hình sè sụt ra tuồng người nhát sợ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SẺ

1.- Sẻ là chim sẻ, một loại chim nhỏ thường ăn thóc, gạo, hay làm tổ trên mái nhà.

Như: Chim sẻ (thường gọi là chin se sẻ), đạn đâu bắn sẻ gươm đâu chém ruồi.

Xem: Bắn sẻ.

Tài bắn sẻ trai dầu chẳng thiếu,

Thì phép hoà tiêu gái liệu cho vừa.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Sẻ là san, chia bớt ra lấy một phần.

Như: San sẻ, sẻ thức ăn cho con, sẻ bớt gánh nặng cho nhau, nhường cơm sẻ áo.

Xem: Sẻ áo chia cơm.

Sẻ áo ấp yêu niềm cốt nhục,

Chia cơm xoa dịu vết thương tang.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

SẺ ÁO CHIA CƠM

Sẻ áo: Chia sẻ cho nhau về áo quần. Chia cơm: Sớt chia nhau về cơm nước.

Sẻ áo chia cơm, do câu “Chia cơm sẻ áo”, dùng để nói chia bớt cơm áo cho nhau để cùng hưởng, cùng chịu trong cảnh nghèo khổ đói lạnh.

Sẻ áo chia cơm còn khiếu nại,

Cầm cân nảy mực khó tri căn.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

SEN BÔNG NGÓ LÁ GƯƠNG

Ở đây, ý muốn nói đến những khung cửa sổ chung quanh Toà Thánh có hình Thiên Nhãn ở giữa các hoa sen, ngó sen, lá sen và gương sen tượng trưng cho sự tạo lập Càn khôn vũ trụ.

Thiên Nhãn ở giữa là Thái Cực, hai bụi sen trên dưới là Lương Nghi hay Âm Dương (Bụi sen trên là Dương, dưới là Âm), bốn búp sen hai bên là Tứ Tượng, tám lá sen ở giáp vòng là Bát Quái, và mười hai ngó sen là Thập Nhị Khai Thiên, số mười hai cũng là số của Chí Tôn. Ngoài ra mười bông sen tượng trưng cho Thập Phương Chư Phật, tức cõi Niết Bàn.

sen, bông, ngó, lá, gương,

Tượng hình Thái Cực Âm Dương vận hành.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

SEN MUỐNG MỘT BỒN

Sen: Thứ hoa thơm, tượng cho người quyền quý, quân tử. Muống: Thứ rau tầm thường, tựa kẻ hèn kém, tiểu nhân. Bồn: Cái chậu.

Hai loại thực vật đó đều sống vượt trong nước, nên được trồng chung một bồn hay một đìa, ý chỉ người sang kẻ hèn, người quý kẻ tiện chung một nơi lẫn lộn nhau.

Ai cho sen muống một bồn,

Ai từng chanh khế sánh phồn lựu lê.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

SEN TÀN

Sen: Loài hoa mọc dưới nước, lá to, hoa có nhị vàng và có hương thơm. Tàn: Suy mòn.

Như ta biết hoa sen nở trong mùa hạ, nên hoa sen tượng trưng cho mùa hạ.

Sen tàn là hoa sen đã suy tàn, ý muốn nói mùa hạ sắp qua đi.

Thánh giáo Thầy có câu: Thấm thoát ngày tháng thoi đưa, bóng thiều quang nhặt thúc, sen tàn cúc rũ, đông mãn xuân về, bước sanh ly đã lắm nhuộm màu sầu, mà con đường dục vọng chẳng còn biết đâu là nơi cùng tận.

Sen tàn cúc nở qua ngày tháng,

Nhặt bước đường hoa đến cội tùng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

SEN TÀN CÚC RŨ

Sen tàn: Bông sen đã tàn. Cúc rũ: Hoa cúc đã héo rũ.

Sen tàn cúc rũ là hoa sen đã tàn, bông cúc đã héo rũ, ý muốn nói mùa hạ đã qua đi, mùa thu cũng sắp hết.

Thấm thoát ngày tháng thoi đưa, bóng thiều quang nhặt thúc, sen tàn cúc rũ, đông mãn xuân về...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

SÉT BÊN TAI

Sét: Hiện tượng phóng điện giữa mây và đất, gây tiếng nổ to. Bên tai: Bên lỗ tai.

Sét bên tai, do câu thành ngữ “ Sét đánh ngang tai”, dùng để ví với tin dữ bất ngờ đưa đến, khiến con người kinh tâm choáng váng mặt mày.

Xem: Tiếng sấm bên tai.

Đặng tin dường thể sét bên tai,

Thuần Đức Tiên sinh vội trở hài.

(Thơ Thượng Cảnh Thanh).

 

 

SẾU SÁO

Sếu sáo là qua loa, sơ sài, không được cẩn thận, chu đáo. Như: Làm sếu sáo kiểu nầy chắc phải làm lại thôi.

Sếu sáo, như chữ “Sệu sạo”, là lỏng lẻo, lung lay, không còn gắn kết với nhau một cách chặt chẽ. Như: vuông rào quanh nhà nay đã sếu sáo hết rồi.

Lộng lộng lưới trời tuy sếu sáo,

Thưa mà chẳng lọt mảy lông mày.

(Giới Tâm Kinh).

 

 

SI

Si là ngây dại, thường do sự mê mẩn say đắm mà sinh ra. Như: Si mê, si tình, ngu si, sân si.

Trong sách Giáo Lý Ngài Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có đoạn viết: Tâm loạn thì che khuất điểm Linh quang rồi, người ta trở nên vô minh, tức là không nhận định. Thiên lý và Nhơn dục, rồi cứ theo Nhơn dục mà hành động. Tâm trạng nầy gọi là si mê, tức là tối.

Đừng cậy sắc dọc ngang búng rảy,

Dầu ngu si cũng ngãi vợ chồng.

(Bát Nương Giáng Bút).

Nào có tưởng vợ nhà đau đớn,

Ôm tình si muôn lượng sầu than.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Khi dạy răn đòn bọng chớ sân si,

Hình vua chúa có khi còn phải kém.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SI TÌNH

癡 情

Si: Mê mẩn ngây dại, thường vì say đắm. Tình: Sự yêu thương giữa nam nữ.

Vì thương yêu đắm đuối nên tinh thần sanh ra mê mẩn, ngây dại, gọi là “Si tình”.

Tính để viết khuyên rào tiết ngọc,

Thì sợ e ghẹo chọc si tình.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

SỈ

Sỉ là thẹn, xấu hổ. Như: Sỉ hổ, sỉ nhục, sỉ vả.

Trong Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Con vật mà ta thấy bị giết được là vì nó vô cô không phương bảo vệ, ngày nay giết nó mà ăn thịt, biết đâu sau nầy các bạn lạc hậu ấy tiến hoá đến phẩm người trở lên, rồi chúng ta sẽ gặp nó bên mình, khi ấy nó ngó ta mà cười và hỏi: “Xưa kia Ðức Phật có ăn tôi một lần”. Nghĩ tưởng chẳng gì sỉ hổ thẹn thuồng bằng.

Vì đó mà được chúa Thánh tôi Hiền, muôn dân cảm mến, nên cần mẫn chơn chánh, biết lo nghĩa vụ giữ liêm sỉ.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

SỈ NHỤC

恥 辱

Sỉ: Xấu hổ. Nhục: Hổ, chịu khuất.

Sỉ nhục là làm xấu hổ.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Cái dĩ vãng của Đức Quyền Giáo Tông hồi mở Đạo, Đạo mới phôi thai, như trẻ sơ sanh kia vậy, mặc tình cho thiên hạ muốn để sống thì sống, muốn giết chết thì giết, họ đã mưu toan diệt tiêu nó bởi vậy ngày sản xuất nó ra với một huyền linh phi thường, thiên hạ kinh khủng sợ sệt, trước họ gần họ muốn cho nó trở nên một tu sĩ, mà tiếng tục người ta nói, Cụ Thầy Chùa kia mà thôi, và người ta mơ vọng cho nó trở nên như thế, người ta đã áp bức nó, người ta đã sỉ nhục, cái sỉ nhục ấy, người có thể làm chứng chắc chắn là Đức Quyền Giáo Tông và Đức Cao Thượng Phẩm.

Lấy khôn ngoan nào dụng nặng lời,

Hơn trí hoá phải nơi hơn sỉ nhục.

(Phương Tu Đại Đạo).

Chia vinh hiển cùng là sỉ nhục,

Cơn khó khăn một phút chẳng rời nhau.

(Phương Tu Đại Đạo).

Ghen sợ chồng nhẹ tấm mình vàng,

Nhiễm sỉ nhục hổ hang tông tổ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SĨ ĐẠT TA VƯỢT HOÀNG CUNG

Sĩ Đạt Ta vượt Hoàng cung là nói Thái tử, con vua Tịnh Phạn lén vua cha trốn khỏi Hoàng cung để tu hành.

Sĩ Đạt Ta hay Tất Đạt Đa (Siddhartha) là một vị Thái tử ở nước Ca Ty La (Kapilavastu) Trung Ấn Độ, phụ hoàng tên là Tịnh Phạn, mẫu hoàng tên là Ma Da. Còn chữ Thích Ca (Sakya) là tên một chủng tộc, dịch là Năng nhơn. Mâu Ni là tiếng khen ngợi dịch là Tịch Mặc.

Sau khi hạ sinh ra Hoàng tử được bảy ngày, Hoàng hậu từ trần, em ruột của bà là Maha Pajapati kết duyên với vua Tịnh Phạn, thay Bà nuôi dưỡng Hoàng Tử. Lúc nhỏ Ngài có trí sáng suốt và có tài năng phi thường. Khi được 16 tuổi, Thái Tử kết duyên với công chúa Da Du Đà La (Yasodhara).

Lớn lên Ngài thấy chúng sanh khổ não, thế gian vô thường, nên Ngài quyết chí tu hành, tìm đường giải thoát cho chính bản thân mình (tự độ), và cho hầu hết chúng sanh (tha độ) được lên bờ giác. Vua Tịnh Phạn biết được ý định Ngài, tìm mọi cách để ngăn cản.

Vào năm Thái tử được 29 tuổi, trong lúc vợ con và quan binh ở hoàng thành còn say ngủ, Ngài cùng với quan hầu cận là Sa Nặc (Chana) cỡi con ngựa Kiền Trắc (Kanthaka) trốn khỏi Hoàng cung, đi vào rừng núi thanh vắng để tầm Đạo.

Ngài tu theo nhiều pháp môn, nhưng cuối cùng Ngài thành Đạo dưới gốc cây bồ đề và trải 45 năm truyền pháp độ sanh, Ngài nhập Niết bàn lúc 80 tuổi.

Nơi hành lang Báo Ân Từ có vẽ một khuôn hình lấy tích “Sĩ Đạt Ta vượt hoàng cung”.

Xem: Thích Ca Mâu Ni.

Tịnh Phạn Vương ngai vàng truyền tử,

Sĩ Đạt Ta phải giữ trị vì.

Chê đời có hạnh phúc chi,

Tầm phương cứu khổ, vượt thì hoàng cung.

(Báo Ân Từ).

 

 

SĨ NÔNG CÔNG CỔ

士 農 工 賈

Sĩ: Người học trò. Nông: Người làm ruộng. Công: Người thợ. Cổ: Người buôn bán.

Trong xã hội ngày xưa, dân chúng được chia làm bốn hạng, gọi là tứ dân, gồm có: Sĩ là người đi học hay làm quan, nông là người làm ruộng, công là kẻ làm thợ, cổ là thương buôn.

Sĩ, nông, công, cổ sanh nhai,

Ngư, tiều, canh, mục làm bài bảo thân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

SĨ PHU

士 夫

Sĩ: Người có học thức, đáng làm trai. Phu: Người đàn ông, con trai.

Sĩ phu là người học thức có danh tiếng trong xã hội ngày xưa, hay bậc danh giá, trí thức hiện nay.

Như: Các bậc sĩ phu yêu nước.

Hiến Pháp Thời Quân bậc sĩ phu,

Soạn biên Đạo Sử chiếm công đầu.

(Thơ Thượng Sanh).

Toà báo bị niêm phong đóng cửa,

Nhóm Sĩ phu lần lựa ẩn tàng.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

SĨ TẢI

士 載

Sĩ: Học trò, người có học thức. Tải (tái): Ghi chép, chép cả các việc các vật vào một cuốn như xe chở đủ các đồ, như ký tải.

1.- Sĩ tải người ghi chép hay giữ các thứ công văn giấy tờ trong văn phòng.

2.- Trong Đạo Cao Đài, Sĩ Tải là một phẩm chức sắc tiểu cấp của Hiệp Thiên Đài, đối phẩm với Lễ Sanh bên Cửu Trùng Đài, đứng dưới phẩm Truyền Trạng và trên phẩm Luật Sự.

Sĩ Tải có nhiệm vụ minh tra công nghiệp của chức sắc, thẩm vấn chức sắc phạm pháp từ phẩm Lễ Sanh hoặc tương đương trở xuống chức việc và đạo hữu, được bổ đi làm Pháp Chánh đia phương, giữ gìn hồ sơ lưu trữ...

Đại phục của Sĩ Tải: Áo tràng trắng, đầu đội Nhựt Nguyệt Mạo, hai bên mão có dấu hiệu Tam giáo và Cổ pháp, trên Cổ pháp có cây cân công bình.

Tiểu phục Sĩ Tải: Mặc áo trường y 6 nút màu trắng, lưng mang dây nịt trắng, đầu đội Khôi Nguyên Mạo, trước mão có Thiên Nhãn, có Cổ pháp, trên Cổ pháp có cân công bình và hai chữ Sĩ Tải bằng chữ Việt.

Lão cho phép Hiệp Thiên và Cửu Trùng chọn lựa trong hàng thiện tín, những người có học thức và có thiện chí về lập công bồi đức đặng cầu phong vào hàng Lễ Sanh hoặc Sĩ Tải.

(Thánh Giáo Lý Giáo Tông).

 

 

SĨ TỬ

士 子

Sĩ: Học trò, người trí thức thời xưa. Tử: Người.

Sĩ tử là chỉ những người học trò đi thi trong chế độ thi cử thời xưa.

Như: Sĩ tử từ khắp mọi nơi về kinh đô ứng thí.

Sĩ tử nhà văn cũng tiếng rằng,

Chẳng gìn nết hạnh khách Nho văn.

(Đạo Sử).

 

 

SỈA

Sỉa, cũng nghĩa như chữ “Sẩy”, là thụt xuống hố hay chỗ bùn nước khi đang đi.

Như: Sỉa chân xuống ao, bánh xe sỉa xuống hố.

Bẫy dò nhiều lắm coi chừng,

Lầm mưu vô ý sỉa chưn sụp giò.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

SIỂM GIÈM

Siểm (hay xiểm): Nịnh nọt, ton hót, xúi giục. Gièm: Đặt lời nói xấu để làm hại người khác.

Siểm (xiểm) gièm, như chữ “Gièm siểm”, là nịnh hót, xúi giục và nói xấu người khác để khoe danh mình.

Như: Người tu phải biết nhận định đừng nghe lời siểm gièm của kẻ khác.

Thấy ai làm phải làm lành,

Siểm gièm cho đặng khoe danh của mình.

(Kinh Sám Hối).

 

 

SIỂM NỊNH

諂 佞

Siểm (hay xiểm): Nịnh nọt, ton hót, xúi giục. Nịnh: Ton hót, tâng bốc, cố làm cho người ta đẹp lòng.

Siểm nịnh, còn viết “Xiểm nịnh”, là dua nịnh người có chức quyền để làm hại người khác, mưu lợi cho mình.

Như: Trong tập thể không ai ưa kẻ siểm nịnh.

Bao trở ngại đang cần chấn chỉnh,

Pháp bày trò siểm nịnh trùng trùng.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

SIÊNG LO

Siêng: Có sự chú ý thường xuyên để làm việc đều đặn. Lo: Suy tính, định liệu công việc để làm tốt.

Siêng lo là siêng năng và lo lắng.

Thánh giáo Ngũ Nương Diêu Trì Cung có câu: Đạo là nguồn cội của nhơn sanh, mà là cội rễ của nữ lưu. Ấy vậy nên siêng lo trau giồi đức hạnh, cùng chung hiệp với mày râu thì công nghiệp sẽ tròn Thiên vị.

Trước người giả bộ siêng lo,

Sau lưng gian trá so đo tấc lòng.

(Kinh Sám Hối).

Siêng lo thì ắt đặng no lòng,

Siêng Ðạo thì đời phải lập công.

(Đạo Sử).

 

 

SIÊNG NĂNG

Siêng: Có sự chú ý thường xuyên để làm việc đều đặn. Năng: Hay, thường.

Siêng năng là thường xuyên chăm lo công việc một cách đều đặn.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Phải tận lực đánh đổ tật biếng nhác. Làm việc hằng ngày phải siêng năng nhặm lẹ; việc nào đã làm phải làm hết sức chu đáo.

Thà tiết kiệm hằng ngày no đủ,

Tánh siêng năng lam lũ làm ăn.

(Kinh Sám Hối).

Rày mừng đệ tử rất siêng năng,

Đạo đức sâu xa biết mót cằn.

(Thánh Giáo Minh Thiện).

 

 

SIÊU

Siêu là vượt qua, vượt lên trên. Như: Siêu cường, siêu quần, siêu phàm, siêu thăng.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Về mặt Ðạo, đối với người đã tầm được lý tưởng cao siêu, cái tâm cần phải giữ cho trong sạch thanh cao.

Hoá công xem xét đền bồi,

Lành siêu dữ đoạ thêm nhồi tội căn.

(Kinh Sám Hối).

 

 

SIÊU ĐOẠ

超 墮

Siêu: Vượt lên trên. Đoạ: Đày xuống cõi thấp kém, khổ sở.

1.- Siêu đoạ là siêu thăng hay đoạ lạc, tức là được thăng lên cõi trên hay đoạ lạc xuống cõi thấp kém hơn.

Người tu hành nếu công đức nhiều, tội lỗi ít thì được siêu thăng lên những cõi giới nhẹ nhàng, nếu công đức ít tội lỗi nhiều thì bị đoạ lạc xuống cõi trọng trược.

Siêu đoạ do nơi người tự tạo,

Tội tình ưng chịu chớ phiền ai.

(Thơ Xích Quang).

Siêu đoạ do nơi dữ với hiền,

Cõi đời dầu gặp bước truân chuyên.

(Thơ Huệ Phong).

2.- Siêu đoạ còn có nghĩa là đoạ đày quá mức quy định. Như: Luật hình nơi cõi thiêng liêng rất công bình nên các chơn linh không bị siêu đọa.

Vô siêu đoạ là không đoạ đày quá mức, vì căn quả của mỗi người đều có luật pháp quy định rõ ràng.

siêu đoạ quả căn hữu pháp,

Vô khổ hình nhơn kiếp lưu oan.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

 

 

SIÊU ĐỘ

超 度

Siêu: Vượt lên trên. Độ: Cứu giúp.

Siêu độ là cứu giúp để vượt lên cõi Thiêng liêng, không bị rơi xuống cõi tam đồ lục đạo.

Khi có người chết, tang quyến nhờ Đạo đến hành lễ tang để linh hồn người chết được siêu độ, tức là khỏi bị đoạ cõi Âm Quang.

Trong Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống, Đức Hộ Pháp có câu: Chừng ấy người trọn lòng thương yêu chơn thật thì Đức Phật-Mẫu siêu độ cầu rỗi với Đức Chí Tôn đem vào cảnh Thiêng Liêng Hằng-Sống, còn người nào không biết tình thương, thương bằng tình giả dối xảo trá phải đầu kiếp trao lại từ người.

Truy điệu chiến sĩ trận vong,

Mấy vần siêu độ tỏ lòng tiếc thương.

(Cội Đạo Bốn Mùa).

Nén hương siêu độ dâng Tiên liệt,

Lời nguyện xin xâm gởi Cửu Trùng.

(Thơ Thanh Hương).

 

 

SIÊU HÌNH

超 形

Siêu: Vượt qua. Hình: Dung mạo, hình ảnh của một vật gì hiện rõ ra bề ngoài.

Siêu hình là vượt lên trên hình tượng, hay ngoài cái hữu hình, đồng nghĩa với vô hình.

Siêu hình tức không có hình thể, vượt ra ngoài thế giới vật chất.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Về phần siêu hình, Bần Đạo đã nhiều lần giải rõ bởi Linh hồn của người vô đạo luôn luôn bị điều khiển chế ngự bởi cái xác, sa ngã vào cái vòng dục vọng cạnh tranh phù hoa hảnh diện; kẻ đó còn đâu cái bản năng cao cả, cái lý trí sáng suốt để nghĩ đến chủng tộc giống nòi.

Bế đặng ngũ quan thông xuất tánh,

Diệt tan lục dục rõ siêu hình.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

SIÊU NHÂN

超 人

Siêu: Vượt lên trên, cao hơn, vượt ra ngoài. Nhân (nhơn): Người.

Siêu nhân là hạng người có tư cách và tài ba cao vượt lên trên người thường ở thế giới hiện tại.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có đoạn: Quan niệm của Ngài là tiếng đàn thanh nhã có thể nâng cao tinh thần và trụ vững tâm trí siêu nhân của người Quân tử. Lúc Ngài bị vây giữa khoản nước Tần và Sái, bảy ngày không nấu ăn, chỉ ăn rau luộc suông, các Ðệ tử như Tử Lộ, Nhan Hồi, Tử Cống v.v... đều băn khoăn lo sợ cho Ngài, nhưng Ngài vẫn ung dung ngồi đàn hát.

Sao bằng chánh đạo dựa nương,

Rảo chân thẳng bước con đường siêu nhân.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

SIÊU NHIÊN

超 然

Siêu: Vượt lên trên. Nhiên: Tự nhiên, thiên nhiên.

Siêu nhiên là vượt ra ngoài, ở bên trên tự nhiên, không thể giải thích bằng các quy luật tự nhiên.

Trong buổi lễ Cứu Trợ Việt Kiều Hồi Hương, Đức Thượng Sanh có dạy: Trên cõi tạm nầy, những nỗi buồn, vui, đau khổ, nhục vinh, là những đoạn trường mà khách trần, ai cũng phải trải qua từ thanh my chí bạch phát để nung đúc tâm hồn cho tới mức siêu nhiên.

Tác phong của người chức sắc Cao Đài mới vượt lên đến mức siêu nhiên và mới hẳn thật là tác phong của bậc Thánh nhơn tại thế nầy.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

SIÊU PHÀM

超 凡

Siêu: Vượt lên trên. Phàm: Bình thường, thế gian.

1.- Siêu phàm là vượt lên trên người thường, người tục, thành người phi thường.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Ðời càng tỏ ra đê hèn, hạ tiện, chúng ta càng tỏ ra chơn chánh, siêu phàm, thiên hạ cúi mình bò lết trong chỗ nhơ bẩn vì chút ít lợi quyền, chúng ta phải vươn mình lên cao để đón hứng mùi hương thanh thoát, làm cho trí óc trở nên phi thường và tâm hồn thơ thới.

Ngài là Đấng siêu phàm mẫn thế,

Pháp nghi ngờ dụng kế tinh ma.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

2.- Siêu phàm, theo tôn giáo, là siêu thoát khỏi cõi phàm gian để vượt lên miền Tiên cảnh.

Như: Siêu phàm nhập Thánh.

Dầu đoạt vị ở an Thiên cảnh,

Dầu tái sanh mở cảnh siêu phàm.

(Kinh Thế Đạo).

Siêu phàm chẳng khó đó đời ôi,

Chẳng quá ba phen cứ nhịn lời.

(Đạo Sử).

Vâng lời Thánh ắt đặng siêu phàm,

Trần thế là chi để dạ tham.

(Đạo Sử).

 

 

SIÊU PHÀM NHẬP THÁNH

超 凡 入 聖

Siêu phàm: Vượt lên trên cõi phàm. Nhập Thánh: Nhập vào cõi Thánh, tức nhập vào cõi Thiêng liêng.

Siêu phàm nhập Thánh là chơn linh vượt lên khỏi cõi phàm trần, đi vào cõi Thánh, tức đắc đạo thành bực Thánh, Tiên.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Phải đoạt cho đặng cơ bí mật siêu phàm nhập Thánh. Cơ bí mật ấy, nếu không phải Thầy cho thì chưa ắt xin ai mà đặng.

Tuy luật lệ siêu phàm nhập Thánh thì vậy mặc dầu, chớ cũng do cơ thưởng phạt của Thiên đình mới đạt phẩm vị ấy đặng.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

SIÊU QUẦN

超 群

Siêu: Cao hơn, vượt lên trên, vượt ra ngoài. Quần: Đàn, bầy, lũ.

Siêu quần là vượt lên trên đám đông, tức tài giỏi hơn mọi người. Như: Siêu quần bạt tuỵ.

Văn chương cái thế chung quy thổ,

Võ lược siêu quần tận bạch đầu.

(Bát Nương Giáng Bút).

Văn là thượng sĩ danh thần,

Võ thì bạt tuỵ siêu quần quân trung.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

SIÊU QUẦN CHƠN CHI THƯỢNG

超 群 真 之 上

Siêu: Vượt lên trên. Quần chơn: Những bậc Thánh, bậc Tiên, thường gọi chơn nhơn. Chi thượng: Ở trên.

Siêu quần Chơn chi thượng, đây là câu trong bài Kinh Tiên giáo, ý nói lúc Vũ trụ đã hình thành, tức là thiên địa đã an ngôi rồi, gọi là hữu thỉ, thì Đức Thái Thượng Đạo Quân là Đấng cao ngôi hơn tất cả các bậc Chơn Thánh, Chơn Nhơn.

Vô vi cư Thái cực chi tiền,

Hữu thỉ siêu quần chơn chi thượng.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

SIÊU RỖI

Siêu: Vượt lên, vượt cao lên. Rỗi: Bào chữa để cho hình án được nhẹ hơn.

Siêu rỗi là bào chữa cứu giúp để cho linh hồn người chết được vượt lên cõi Thiên.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy: Ta nói cho chúng sanh biết rằng: Gặp Tam Kỳ Phổ Ðộ nầy mà không tu thì không còn trông mong siêu rỗi.

Độ hồn siêu rỗi cơ ân xá,

Nhơn loại chung vui cảnh thái bình.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

SIÊU SANH

Hay “Siêu sinh”.

Siêu: Vượt lên trên. Sanh (sinh): Sống.

Siêu sanh, như chữ “Siêu sinh 超 生”, là vượt ra ngoài cuộc sống của thế tục. tức là nói linh hồn được siêu thăng lên cõi Thiêng liêng Hằng sống.

Xem: Siêu sinh.

Hào quang chiếu diệu Cao Đài,

May duyên nay đã gặp ngày siêu sanh.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

SIÊU SINH

超 生

Siêu: Vượt lên trên. Sinh (sanh): Sống.

Siêu sinh là vượt ra ngoài cuộc sống của thế tục, tức linh hồn được siêu thăng lên cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Vũ thấy thế ăn năn giác ngộ,

Nhờ ân hồng Phật độ siêu sinh.

(Lược Thuật Toà Thánh).

Cho hay bạo ác mặc tình,

Hồi đầu hướng thiện siêu sinh Thiên Đường.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

SIÊU THĂNG

超 升

Siêu: Vượt lên trên. Thăng: Lên.

Siêu thăng tức là hồn vượt ra ngoài khỏi cảnh trần tục, tức người tu hành được đắc đạo.

Con người sống nơi cõi tục, vì bị mê vọng và phiền não mà cứ mãi bị chìm trong luân hồi sanh tử. Đạo Thầy ra đời đem giáo lý phá bức màn vô minh của chúng sanh, và chuyển hoá mọi phiền não thành thanh tĩnh, tức là siêu độ con người thoát khỏi con đường sanh tử.

Ngoài ra, Thầy còn dạy con người phải lập vị bằng công quả để tạo ngôi vị nơi Thiêng liêng, hay nói cách khác là phải cao thăng Thiên vị.

Từ từ Cực Lạc an vui,

Lánh nơi trược khí hưởng mùi siêu thăng.

(Kinh Tận Độ).

Tiêu diêu định tánh nắm phan,

Do theo Cực Lạc đon đàng siêu thăng.

(Kinh Thế Đạo).

Ngân Kiều Bát Nhã qua bờ,

Đưa duyên để bước kịp giờ siêu thăng.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

SIÊU THOÁT

超 脫

Siêu: Vượt lên trên. Thoát: Ra khỏi sự ràng buộc.

Siêu thoát là ra khỏi vòng ràng buộc của thế gian để bay lên cõi Thiên, tức thoát khỏi luân hồi sinh tử.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bởi thế nên toàn thể con cái của Đức Chí Tôn nam, nữ cũng vậy, có tấm lòng yêu ái nồng nàn hoài vọng giọt máu mảnh thân mình, giờ phút nầy là giờ phút nên để trọn tâm cho thanh tịnh đặng cầu nguyện siêu thoát cho Cửu Huyền Thất Tổ.

Bảo Pháp Chơn Quân cổi xác trần,

Hương hồn siêu thoát ngự đài vân.

(Thơ Phạm Mộc Bổn).

Cửu huyền Thất tổ cầu siêu thoát,

Vạn hạnh Tam kỳ nguyện chiếu chương.

(Thơ Huệ Phong).

Bởi bạn chung tình mơ mãi bóng,

Nên người siêu thoát hiện trong đêm.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

SIÊU VIỆT

超 越

Siêu: Nhảy lên. Việt: Vượt qua.

Siêu việt là vượt qua lên trên sự thường.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Bát Nương Diêu Trì Cung có câu: Không lẽ Đạo đã lập thành hơn 30 năm mà bên nữ phái không có bực học hỏi và quan niệm về đạo đức một cách siêu việt.

Quan sát khắp Âu Châu có người tu Phật đến bậc siêu việt, có thể xuất Thần thiên ngoại vân du.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

SINH

1.- Sinh (sanh) là đẻ ra, chỉ nói về người.

Như: Giáng sinh, sinh con gái đầu lòng, hai chi em sinh đôi, sinh dưỡng đạo đồng.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy đã sai Allan Kardec, Flammarion, cũng như Élie và Thánh Jean Baptiste, là những bực tiền Thánh báo tin ngày giáng sinh chấn động của Chúa Cứu Thế Jésus Christ, nhưng chúng nó, đứa thì bị hành hạ, đứa khác bị giết chết.

Dưỡng sinh cam lỗi tình sông núi,

Tơ tóc thôi rồi nghĩa trước mai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Sinh là sống.

Như: Phù sinh, các loài sinh vật, cứu vớt chúng sinh, sinh ly tử biệt, sinh tử sự đại.

Thánh giáo Thầy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Ðạo Trời khai dẫn bước lỗi lầm, đem kẻ hữu căn lánh vòng phiền não. Nếu chẳng bả bươn nhặt thúc bóng thiều, kiếp phù sinh qua dường nháy mắt.

Đời vắn ngủn huỳnh lương in giấc,

Kiếp phù sinh đặng thất nơi thân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

3.- Sinh , còn đọc “Sanh”, là con vật còn sống đem làm để cúng tế. Như: Cúng tam sinh, hy sinh.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Trong cửa Ðạo về phần vật chất, nhơn sanh còn lắm vất vả, nhưng cũng vẫn hy sinh chịu khổ hạnh đủ mọi phương diện để giúp phần xây dựng cho nền chánh giáo.

Nhục con, con chịu chớ nài,

Nhục cho quốc thể ra tài hy sinh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

SINH LỰC

生 力

Sinh (sanh): Sống, nuôi sống. Lực: Sức.

Sinh (sanh) lực là sức sống hay sức sinh hoạt.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ta đã đồng sinh cùng vạn vật, tức nhiên giữa khối sinh lực của ta đã xuất hiện ra, tức ta là một phần tử trong khối sinh lực của toàn thể chúng sinh.

Đủ sinh lực, cha mẹ có thể định lứa đôi được.

(Quan Hôn Tang Lễ).

 

 

SINH NHAI

生 涯

Sinh (sanh): Sự sống. Nhai: Bờ nước, chỗ cuối cùng.

Sinh nhai hay “sanh nhai”, có nghĩa là sự nghiệp để sinh sống, hay làm ăn sinh sống.

Trang Tử nói: Ngô sinh dã hữu nhai 吾 生 也 有 涯, nghĩa là đời sống của chúng ta có bờ, tức là có giới hạn đã định sẵn.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy: Các con nếu biết đời khổ tâm, biết vày vò tình thế, biết chịu kém sút trong nẻo lợi đường danh, biết thiệt mình mà đặng cho kẻ khác, biết đổ lụy cho kẻ vui cười, biết nhọc nhằn trong kế sinh nhai, biết giữ tâm chí cho thanh bạch, đừng nhơ bợn của chẳng nên dùng, biết động mối thương tâm, thương người hơn kể mình, thì là các con được tắm gội hồn trong mà về cùng Thầy đó.

Đây tới sáng xôn xao với thế,

Nhẫng đua chen kiếm kế sinh nhai.

(Kinh Thế Đạo).

Muốn lấy đạo làm đao hại thế,

Toan dùng văn gọi kế sinh nhai.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

SINH TRƯỞNG

生 長

Sinh: Đẻ, sanh ra. Trưởng: Cả, lớn lên.

Sinh trưởng là tăng thêm dần về thể tích và khối lượng. Sinh trưởng còn có nghĩa là lớn lên.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Tôi sinh trưởng tại Tỉnh Tây Ninh, ông cha tổ phụ đều ở tỉnh Tây Ninh thì có chi vui vẻ và hạnh phúc hơn được mở mang mối Ðạo nơi xứ sở yêu quý nầy.

Mặc dù quý vị có học thức hay được sinh trưởng trong gia đình đạo đức thuần tuý...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

SÍNH

1.- Sính là thích, hứng, chuộng đến mức quá đáng, thường để tỏ ra hơn người.

Như: Sính làm quan, anh ấy có bệnh sính nói chữ, thời nay các cơ quan đều sính thành tích.

Phương cảo lưu truyền nhiều thế hệ,

Danh Nhân Đại Đạo sính thơ Đường.

(Thơ Chơn Tâm).

2.- Sính là đem lễ vật đến hỏi vợ.

Trong hôn lễ có nghi thức nhà trai đem vật phẩm nạp cho nhà gái gọi là “Sính lễ 聘 禮”.

Như: Sính nghi (nghi lễ nạp vật phẩm cho nhà gái), Sính lễ (lễ nạp sinh), nạp sính.

Bông trao sính lễ mai vàng rực,

Pháo nổ nghinh hôn tiếng nhặt lơi.

(Thơ Hoàn Nguyên).

Bố chạy lăng xăng lo sính lễ,

Con cười hí hởn đợi giai kỳ.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

SÌNH

Sình là trương phình to lên.

Như: Xác chuột chết lâu bị sình thúi, ăn no sình bụng, cơm sình ăn đau bụng.

Dưới Hưng Đạo kiếm trăm đầu rụng,

Trên Bạch Đằng Giang vạn xác sình.

(Thơ Thành Toại).

 

 

SO

So là sánh, đọ cho biết hơn kém. Như: So tài, so sức, so giàu nghèo, so đũa.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Mấy em nhơn viên nhà thuyền đã ra công phục vụ mà không so hơn thiệt, cứ làm việc âm thầm, không cầu cạnh, không đòi hỏi, lấy chủ nghĩa vị tha làm chủ đích, chính là mấy em dành phúc quả cho mình đó.

Mình lánh kẻ tà mình ắt chánh,

Khốn chi tính thiệt với so hơn.

(Đạo Sử).

So đời lại nghĩ thảm cho đời,

Nhỏ biết tu mà lớn biết chơi.

(Đạo Sử).

 

 

SO ĐO

So: Sánh, để cho biết hơn kém. Đo: Dùng thước để lượng cho biết dài ngắn, rộng hẹp.

So đo là so sánh để tính toán chi ly, hơn thiệt. So đo còn có nghĩa ganh tỵ.

Thánh giáo Đức Quan Thánh Đế Quân có dạy: Nền Ðạo chưa lập thành mà bên trong thì người biếng trau Thánh chất, nơi ngoài người lại muốn kêu nài so đo với các Ðấng Thiêng liêng, đặng làm cho rõ mình là thấy xa hiểu rộng.

Trước người giả bộ siêng lo,

Sau lưng gian trá so đo tấc lòng.

(Kinh Sám Hối).

Nếu biết tánh so đo đắn phận,

Dầu nhiều cay đắng cũng thanh nhàn.

(Đạo Sử).

 

 

SO SÁNH

So: Sánh, đo cho biết hơn kém. Sánh: Đọ, so đo.

So sánh là đọ xem hơn thua, tức lấy sự vật nầy đem sánh với sự vật kia xem hơn thua thế nào.

Thánh giáo Nhàn Âm Đạo Trưởng có dạy: Bần Đạo khuyên khá hết dạ kỉnh thành mà vọng ngưỡng nơi Ðấng Chí Tôn, thì con đường được thung dung đầm ấm, chí ư đem hoạ cỏn con biến đổi trong gia đình mà so sánh trành tròn với đức háo sanh của Tạo hoá, thì đường đạo đức minh quang thế nào trông trờ bước tới nữa, mà vẹt ngút mây xanh, trông vào cảnh tự tại.

Đừng mong cậy chỗ sang giàu,

Khuyên đừng so sánh vàng thau phụ tình.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Nào dè phép quỷ toan cải chánh,

Mượn quyền yêu so sánh Chí Linh.

(Thất Nương Giáng Bút).

Đáo tuế mấy ai so sánh kịp,

Lục tuần nào kẻ dám phô trương.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

SO THIỆT TÍNH HƠN

So tính: So đo tính toán một cách chi ly. Thiệt hơn: Bị thiệt thòi hay có lợi.

So thiệt tính hơn là so sánh thiệt hơn, suy xét lợi hại, tức tính toán một cách kỹ lưỡng.

Theo Mạnh Tử, con người đừng nên so thiệt tính hơn, bởi vì: Nhất ẩm nhất trác sự giai tiền định, vạn sự phân dĩ định, phù sanh không tự mang, vạn sự bất do nhân kế giảo, nhất sanh đô thị mệnh an bài 一 飲 一 啄 事 皆 前 定, 萬 事 分 已 定, 浮 生 空 自 忙, 萬 事 不 由 人 計 較, 一 生 都 是 命 安 排, nghĩa là một hớp uống một miếng ăn đều do nơi tiền định. Muôn việc cũng thế, đều đã chia định hết thảy. Với kiếp phù sinh con người lo gì cho uổng công, muôn việc không phải bởi người so thiệt tính hơn mà nên, một đời người đều là có mạng số đã an bài rồi.

Lòng đừng so thiệt tính hơn,

Ngày đêm than thở dạ hờn ích chi.

(Kinh Sám Hối).

 

 

SÓC VỌNG

朔 望

Sóc: Ngày đầu tháng của Âm lịch, lúc mặt trời, mặt trăng tương hội nhau, gọi là hợp sóc, khiến đêm tối. Vọng: Ngày rằm của Âm lịch lúc mặt trời mặt trăng gióng thẳng nhau nên đêm sáng.

Sóc vọng là chỉ ngày mồng một và ngày rằm của mỗi tháng Âm lịch.

Theo điều thứ 19 trong Tân luật, mỗi tháng hai ngày sóc vọng, bổn đạo phải tựu tại Thánh Thất sở tại mà làm lễ và nghe dạy, tức là về chầu lễ Đức Chí Tôn hay Đức Phật Mẫu.

Mỗi tháng có đôi lần đàn lệ,

Sóc vọng bày nghi lễ nghiêm trang.

(Cội Đạo Bốn Mùa).

Cớ sao biền biệt bạn chi lan,

Sóc vọng buồn tênh lễ cúng đàn.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

SOI

1.- Soi là rọi ánh sáng vào làm cho thấy rõ. Như: Soi đèn, đốt đuốc soi đường đi, vấn đề đã được soi sáng.

Thánh giáo Thầy dạy: Từ khai Thiên lập Ðịa, Thầy cũng vì yêu mến các con mà trải bao nhiêu điều khổ hạnh, mấy lần lao lý, mấy lúc vang mày, nuôi nấng các con hầu lập nền Ðạo, cũng tưởng cho các con lấy đó làm đuốc soi mình đặng cải tà quy chánh.

Để tâm dưới ánh Chí linh,

Soi tường chơn lý chỉ rành chánh văn.

(Kinh Thế Đạo).

Gương sáng phước Trời soi hậu tấn,

Chờ xuân khải chiết đắc mai chi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Soi còn có nghĩa trông vào gương, hoặc vật như gương để thấy bóng mình.

Như: Soi gương chải tóc, cây soi bóng xuống mặt hồ, làm gương cho mọi người soi chung.

Chở che khỏi kiếp phong trần,

Gìn gương liệt nữ hồng quần để soi.

(Kinh Thế Đạo).

Chước lánh tìm Tiên đời để dấu,

Gương soi hậu thế rạng nam trung.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

SOI GƯƠNG

Soi: Trông vào gương mà ngắm hình bóng, xem mà bắt chước. Gương: Kiếng soi, việc làm kiểu mẫu cho người khác bắt chước.

Soi gương là nhìn vào trong gương để xem hình dung của mình. Nghĩa bóng: Theo hành vi tốt đẹp mà bắt chước.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Ðiều cần nhứt là mỗi đứa đều lưu tâm ráng lo việc Thánh Thất cho hoàn toàn, mỗi đứa để chút ít gan tấc vào đó. Ấy là nơi bia tạc tên tuổi của các con về sau, để soi gương dìu đàng hậu tấn.

Soi gương hạnh đức trau lòng tục,

Hứng giọt Từ Bi rửa bợn sầu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Màu thu cảnh ướm trở về đông,

Ðạo đức soi gương đã vẹn lòng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chiếu đuốc huệ quang ngừa kẻ dại,

Soi gương thức tánh dọn đường ngay.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

SOI XÉT

Soi: Chiếu ánh sáng vào, trông vào gương. Xét: Xem kỹ để hiểu biết rõ.

Soi xét là xem xét kỹ lưỡng để thấy rõ, hiểu rõ.

Thánh giáo Quan Thánh Đế Quân có câu: Than ôi! Trời cao minh soi xét mà người vẫn mê muội ám mờ, đem mảnh trí cỏn con kia chống kình với khuôn linh Tạo hoá.

Lòng thành một tấm Trời soi xét,

Gương rạng nghìn thu nguyệt chiếu minh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trên chứng có đèn Trời soi xét,

Ai chánh tà ai biết lấy ai.

(Thơ NĐS Hương Thanh).

 

 

SỌM

Sọm là gầy hom hem, trông teo tóp, tiều tuỵ hốc hác hơn lúc trước.

Như: Lo công việc đến sọm người, thức đêm nhiều người sọm đi trông thấy.

Dòm quanh buồn kiếm ông già sọm,

Ngó trái mừng nghe tiếng má đào.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

SON

1.- Son là một thứ đá đỏ, mài ra làm mực viết, vẽ bằng bút lông, chỉ sắc đỏ.

Như: Mài son, nét son đỏ thắm, dời gót son đến viếng, lầu son gác tía.

Phồn tục theo hoài quên trở gót,

Gót son biết đặng mất hay còn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Lời khen miệng thế quý chi đâu,

Bất quá như son lộn bã trầu.

(Đạo Sử).

2.- Son nghĩa rộng chỉ thứ bột màu đỏ, người ta dùng để trang điểm hay sơn các đồ gỗ.

Như: Điểm phấn tô son, sơn son thếp vàng.

Khách má phấn môi son đậm sắc,

Đặng đem mồi trêu mặt ác phong.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Người quân tử thẹn không dám ngó,

Thấy phấn son sợ lọ nhơ mình.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Son ví với lòng ngay thẳng thuỷ chung.

Như: Tấc son, bền chặt lòng son, cô ấy giữ một dạ sắt son, vàng son.

Dạy đừng dùng tiếng ngọt lời ngon,

Làm nhục kẻ lòng son gìn tiết hạnh.

(Phương Tu Đại Đạo).

Tấc son phong chặt niềm giao hảo,

Góp nhặt lời quê tạ mấy vần.

(Thơ Thuần Đức).

4.- Son là còn trẻ và chưa có con cái, tuy đã có vợ có chồng rồi. Hoặc chỉ người còn trẻ, chưa có vợ có chồng.

Như: Vợ chồng son, gái còn son, son trẻ.

Còn anh lại tìm nơi vắng vẻ,

Chôn cuộc đời son trẻ tài hoa.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

SON PHẤN

Son: Sáp thoa môi. Phấn: Phấn dồi mặt.

1.- Son phấn tức là son thoa môi và phấn dặm mặt, là hai thứ đồ trang điểm của phụ nữ.

Như: Người đẹp nhờ son phấn.

Để chuông mõ dựa kề son phấn,

Chất nhơn tình chồng cận kệ kinh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Coi lại phường bán dạng ăn chơi,

Nhờ son phấn rước mời trang khách quý.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Son phấn còn dùng để chỉ người đàn bà con gái.

Như: Bạn son phấn.

Son phấn đem thân đền nợ nước,

Đá vàng ra lẽ phụ lòng tơ.

(Thơ Thuần Đức).

Tuyết sương trước đã vùi son phấn,

Tên tuổi nay còn vẹn núi sông.

(Thơ Mỹ Ngọc).

 

 

SON SẮT

Son: Màu son đỏ. Sắt: Một thứ kim loại cứng.

Son sắt là đỏ như màu son, bền cứng như sắt. Ý chỉ lòng thuỷ chung chẳng phai lợt như màu son đỏ, và bền cứng như chất sắt.

Lòng son sắt là lòng trung thành không thay đổi, trước sau như một.

Thánh giáo Chí Tôn có dạy: Nhà nghèo, hạnh tốt, ấy là gương treo dạy đời, các con khá bền lòng son sắt, cái hạnh tốt là thang vạch ngút mây xanh, tâm thành là để dồi trau tánh tục.

Chung hiệp rán vun nền đạo đức,

Bền lòng son sắt đến cùng Ta.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nào khi ước giữ niềm son sắt,

Nào thề non nắm chặt dải đồng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Son sắt một lòng vẹn tiết trinh,

Dầu Trời xem xét tấm lòng mình.

(Đạo Sử).

 

 

SON TRẺ

Son: Một mình, chưa có vợ hoặc chưa chồng. Trẻ: Còn nhỏ tuổi, chưa phát triển mạnh.

Son trẻ là còn trẻ tuổi và không bận bịu về việc gia đình, con cái.

Như: Thời son trẻ của tuổi học trò, cặp vợ chồng son trẻ, cố ấy đã có hai con rồi mà còn son trẻ.

Còn anh lại tìm nơi vắng vẻ,

Chôn cuộc đời son trẻ tài hoa.

(Thơ Hộ Pháp).

Cho mầm son trẻ sương đằm thắm,

Cho cội già nua mốc đượm nhuần.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

SONG

1.- Song như chữ nhưng. Như: Tuổi nhỏ song trí lớn, chân anh ấy ngắn song chạy rất lẹ.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Chẳng phải Thầy còn buộc theo Cựu luật, song luật ấy rất nên quý báu, không giữ chẳng hề thành Tiên Phật đặng.

Thầy hay thương mến lũ con hoang,

Song chớ ỷ y phải ngỡ ngàng.

(Đạo Sử).

Song để lòng thương đến vợ nhà,

Ghen tương vốn đờn bà ai cũng thế.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Song là đôi, hai cái. Như: Xe song mã, song kiếm, song thân.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Nếu hai đầu cân chẳng song bằng thì tiếng cân chưa đúng lý. Tự nơi các con làm thế nào cho bên Thánh đức nặng hơn Tà mưu thì làm mới ra công quả.

Tác hiệp sẵn nhờ xây bĩ thới,

Thành song trước định gặp thư hùng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Song là cửa sổ.

Như: Gương nga chênh chếch vòm song, bạn đồng song, gió lùa qua song sắt.

Nhựt tại thiềm đầu, nguyệt tại song,

Hà thời liễu đạo đắc Tiên phong.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cung đàn chờ khách cận song thu,

Năng mến Ðạo mầu chí trượng phu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

SONG BẰNG

Hay “Song bình”.

Song: Đôi, hai bên. Bằng (bình): Bằng nhau.

Song bằng, như chữ “Song bình 雙 平”, là hai bên ngang bằng nhau, không có bên nào nặng bên nào nhẹ, tức chẳng có sự chênh lệch.

Thầy đã thường nói: Hai đầu cân không song bằng thì tiếng cân chưa đúng lý.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

SONG ĐƯỜNG

雙 堂

Song: Đôi, hai bên. Đường: Cái nhà.

Song đường là hai ngôi nhà lớn, tức xuân đường và huyên đường dùng để chỉ cha mẹ. Song đường đồng nghĩa với chữ “Song thân”, chỉ cha mẹ.

Như: Phụng dưỡng song đường.

Xem: Xuân đường và huyên đường.

Kỷ niệm song đường khuất bóng mây,

Huy Thanh đạm bạc cỗ mâm đầy.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

SONG HỶ

雙 喜

Theo phong tục Việt Nam hiện nay, khi làm lễ cưới người đời hay người trong đạo, dù họ nhà trai hay họ nhà gái thường có trang trí chữ “song hỷ 囍” tại nhà hoặc in trên thiệp hồng.

Chúng ta thử tìm hiểu tích của chữ “Song hỷ”.

Song: Hai, đôi. Hỷ: Vui mừng.

Song hỷ 雙 喜 là hai điều vui mừng cùng đến một lượt. Song hỷ thường được viết như sau: “囍”.

Song hỷ còn dùng để chỉ hai bên đều vui mừng, chữ thường dùng cho cuộc đám cưới, chỉ nhà trai vui mừng cưới được dâu hiền, nhà gái hoan lạc nhận được rể thảo.

Song hỷ do tích: Vương An Thạch người đời Tống, lúc 20 tuổi đi lên kinh ứng thí. Dọc đường xin tá túc tại trang viện của Mã Viên ngoại. Vương An Thạch thấy trước nhà có treo một cây lồng đèn, trong đó có hình kéo quân và một câu đối như sau: “Tẩu mã đăng, đăng tẩu mã, đăng tức tẩu mã đình bộ”, có nghĩa là đèn kéo quân, quân kéo đèn, đèn tắt quân ngừng đi.

Mã Viên ngoại nói: Câu đối nầy là con gái của lão làm ra, dán lên cây đèn kéo quân, chờ những trang tài đức đối lại, nếu đối hay nó ưng lấy làm chồng.

Vương học thuộc lòng câu đối rồi hẹn khi thi trở về sẽ đề câu đối lại.

Lên tới kinh vào trường thi, Vương An Thạch làm bài thi xong, nộp quyển trước hết. Quan chủ khảo xem bài, tấm tắc khen thầm, rồi bảo Vương chờ qua thi vấn đáp.

Vào thi vấn đáp, quan chủ khảo đưa ra hình một lá cờ đang bay phất phới trước gió trong đó có vẽ hình một con cọp và kèm theo một câu đối như sau:

飛 虎 旗 旗 飛 虎 旗 捲 虎 藏 身

Phi hổ kỳ, kỳ phi hổ, kỳ quyển hổ tàng thân.

Nghĩa là:

Cờ bay hổ, hổ bay cờ, cờ cuộn hổ ẩn mình.

Vương An Thạch thấy câu đối của con gái Mã Viên ngoại đề trên đèn kéo quân, nếu đem đối lại câu trên thì rất hay và rất chỉnh, bèn ứng khẩu đọc lớn lên cho quan chủ khảo nghe:

走 馬 燈 燈 走 馬 燈 熄 馬 停 步

Tẩu mã đăng, đăng tẩu mã, đăng tức mã đình bộ.

Nghĩa là:

Đèn kéo quân, quân kéo đèn, đèn tắt quân ngừng đi.

Quan chủ khảo thấy Vương An Thạch có tài ứng đối mau lẹ, nghĩa lý xuất sắc và đối rất chỉnh.

Như vậy, trong kỳ thi nầy Vương An Thạch được coi như đã đậu đầu, chỉ chờ chánh thức đăng tên lên bảng vàng và giấy báo trúng tuyển mà thôi.

Vương An Thạch trở về quê nhà, đi ngang qua nhà Mã Viên ngoại bèn ghé vào xin đối lại câu đối trên đèn kéo quân.

Mã Viên ngoại bảo người nhà đem giấy viết ra cho Vương viết câu đối. Vương An Thạch bèn lấy vế đối của quan chủ khảo viết ra: Phi hổ kỳ, kỳ phi hổ, kỳ quyện hổ tàng thân.

Xem xong câu đối, Mã Viên ngoại thấy vế đối rất chỉnh, rất hay, bèn mừng rỡ vô cùng. Đích thân Viên ngoại đem vào trao cho con gái xem và cho phép hai đàng giáp mặt nhau.

Thế là Vương An Thạch được làm rể Mã Viên ngoại và được người vợ tài giỏi lại đẹp đẽ. Trong ngày đám cưới của Vương An Thạch cũng là ngày đăng kết quả kỳ thi trạng nguyên, đó là “Song hỷ lai môn 雙 喜 來 門”.

Hai thi sĩ trong nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ đã dùng từ “Song hỷ” trong thơ như sau:

Vàng son tô điểm màu song hỷ,

Tài sắc vun bồi chữ bách niên.

(Thơ Hoài Tân).

Tương dòng “Song hỷ” đây vui sướng,

Đậm nét “Thiên thu” đó cảm hoài.

(Thơ Thành Toại).

 

 

SONG HỒ

Song: Cửa sổ. Hồ: Giấy hồ.

Song hồ là cửa sổ có dán giấy hồ, một loại giấy trang trí cho đẹp và sáng để đọc sách.

Do vậy, chữ “Song hồ” dùng để chỉ phòng học.

Song hồ chặt khép cầm trơ ngón,

Giọng dế ngâm nga niệm chuỗi sầu.

(Lục Nương Giáng Bút).

Nay tuyết đóng song hồ động lãnh,

Đành cửa không gởi mảnh tâm hồn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

SONG MÂU

雙 眸

Song: Đôi, hai bên. Mâu: Trồng con mắt.

Song mâu là hai trồng con mắt, chính là Thần, nơi yếu nhiệm để thành Tiên tác Phật.

Trong đạo Cao Đài Đức Chí Tôn dạy thờ Thiên Nhãn, nên Đức Chí Tôn có giải thích trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển như sau: “Nhãn thị chủ tâm, lưỡng quang chủ tể, quang thị thần, thần thị Thiên, Thiên giả ngã dã”.

Thần là khiếm khuyết của cơ mầu nhiệm từ ngày Ðạo bị bế. Lập Tam Kỳ Phổ Ðộ nầy, duy Thầy cho Thần hiệp Tinh, Khí đặng hiệp đủ Tam Bửu là cơ mầu nhiệm siêu phàm nhập Thánh.

Các con nhớ nói vì cớ nào thờ Con Mắt Thầy cho chư Ðạo hữu nghe.

Phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật, từ ngày Ðạo bị bế, thì luật lệ hỡi còn nguyên, luyện pháp chẳng đổi, song Thiên đình mỗi phen đánh tản Thần không cho hiệp cùng Tinh, Khí.

Thầy đến đặng huờn nguyên Chơn thần cho các con đắc đạo. Con hiểu “Thần cư tại Nhãn”.

Luyện thuốc kim đơn rõ Ðạo mầu,

Thành Tiên tác Phật tại song Mâu.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

SONG QUANG THẦN THÔNG

雙 光 神 通

Song quang: Hai lằn ánh sáng. Thần thông: Có phép Thần thông, huyền diệu.

Song quang Thần thông nghĩa đen là hai lằn ánh sáng thần thông, mầu nhiệm.

Trong đạo Cao Đài, “Song quang thần thông” là một đường lụa trắng, có hai vòng vô vi, tức hai vòng tròn kết hai bên hông, dành làm dây đai lưng cho Bảo Sanh Quân, Bảo Y Quân, Bảo Nông Quân và Bảo Học Quân thuộc Thập Nhị Bảo Quân.

Lưng đai Song Quang Thần Thông, nghĩa là một đường lụa trắng, kết hai bên hông hai vòng vô vi.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

SONG TU TÁNH MẠNG

Song tu: Hai lối tu thực hành song song với nhau. Tánh mệnh (tính mệnh): Cái tánh và cái mạng sống của con người.

Song tu tánh mạng, như chữ “Tính mệnh song tu 性 命 雙 修”, tức là vừa tu tánh vừa luyện mạng, hai lối tu cùng thực hiện song hành với nhau.

Tánh mệnh song tu là một pháp môn luyện đạo của Đạo Giáo, còn được gọi là tu tánh luyện mạng, tức là luyện tam bửu Tinh, Khí, Thần cho hiệp nhứt.

Thần thuộc về Tiên thiên, gọi là Tánh, còn xác thân là Tinh, Khí đều thuộc về Hậu thiên nên gọi là mạng.

Xem: Tánh mệnh song tu.

Song tu tánh mạng cho già,

Âm tiêu dương thới mới là siêu thăng.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

SONG THÂN

雙 親

Song: Số đôi, hai cái, hai người. Thân: Chỉ cha mẹ, họ hàng.

Song thân là hai thân, đồng nghĩa với chữ “Song đường 雙 堂” dùng để chỉ cha và mẹ.

Như: Chị ấy là người con hiếu thảo, cung phụng song thân hằng ngày.

Nam nhi có nợ của song thân,

Biết chút lúa ăn chịu Ðạo phần.

(Đạo Sử).

Nguyện lo cho hết nợ song thân,

Cái khó nhọc kia đã định phần.

(Đạo Sử).

Con đừng quen tánh luông tuồng,

Các em hư nết, gieo buồn song thân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

SONG THU

窗 秋

Song: Cửa sổ. Thu: Mùa thu, mùa cây lá đều vàng úa để bước sang đông lá rụng, vì vậy, người ta thường ví mùa thu cho người lớn tuổi.

1.- Song thu là mùa thu bên của sổ, hoặc ngồi bên cửa sổ ngắm cảnh mùa thu.

Cung đàn chờ khách cận song thu,

Năng mến Ðạo mầu chí trượng phu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Song thu còn dùng để chỉ cảnh người luống tuổi hoặc chỉ người goá bụa.

Ngồi quạnh quẽ đèn tàn một bóng,

Chịu goá thân tuyết đóng song thu.

(Kinh Thế Đạo).

Khoá kín song thu trau hạnh đức,

Chờ khi Đạo trọn đến non Thần.

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 

SONG THƯA

Song: Cái cửa sổ. Thưa: Có nhiều khoảng trống, khoảng hở.

Song thưa là cửa sổ có nhiều khoảng trống, gió dễ lọt vào, chỉ sự lạnh lẽo, buồn bã.

Con gậy tay cầm, râu tóc bạc,

Cái nhà lá lợp, cửa song thưa.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

SÓNG

Sóng là hiện tượng mặt nước ở sông, biển dao động, dâng lên hạ xuống, trông tựa như đang di chuyển, chủ yếu do gió gây nên.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Chới với biết bao người giữa lượn sóng trầm luân, mà con đường xô đẩy khách trần vào chốn đắm chìm, hằng vẽ cảnh cùng sầu cho nhơn loại.

Thoát tục ví ai tìm nẻo Thánh,

Bến mê lướt sóng đến ven Trời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chưa người nằm giữa nhà chờ của,

Biển nọ muốn qua mặc sóng nhào.

(Đạo Sử).

Nhiều cơn sóng dập gió thêm dồi,

Cái kiếp gì xem bạc quá vôi.

(Đạo Sử).

 

 

SÓNG GIÓ

Sóng: Nước sông biển do gió thổi cuộn lên thành lớp. Gió: Sự di chuyển của không khí.

Sóng gió, như chữ “Phong ba 風 波”, là gió và sóng, dùng để chỉ cảnh vất vả, gian nan, hay nói cảnh biến đổi dữ dội trong cuộc sống như chiếc thuyền khơi bị sóng gió vùi dập.

Như: Ngoài khơi sóng gió gào thét, gia đình nó gặp cơn sóng gió.

Giữa biển khơi lắt lẻo chiếc thuyền con,

Cơn sóng gió liệu cho còn hay để mất.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

Trước không lo đào bến với đấp bờ,

Cơn sóng gió thuyền dật dờ không nơi dựa.

(Giác Mê Khải Ngộ).

 

 

SÓNG SẮC

Sóng: Nước sông biển do gió thổi cuộn lên thành lớp. Sắc: Nhan sắc, sắc đẹp.

Sóng sắc ý nói sắc đẹp của phụ nữ được ví với những làn sóng có thể nhận chìm các đấng mày râu ham mê bóng sắc.

Sách có câu: Sắc bất ba đào dị nịch nhân 色 不 波 濤 易 溺 人, nghĩa là sắc đẹp không có sóng mà có thể nhận chìm người.

Vui Ðạo vui nhân ấy thiệt vui,

Vui còn sóng sắc hại mình thôi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

SÓNG TRẦN

Sóng: Nước sông biển do gió thổi cuộn lên thành lớp. Trần: Bụi, chỉ cõi trần.

Sóng trần là những lớp sóng ở chốn trần gian.

Đức Phật ví cõi trần gian như là một biển khổ mênh mông bát ngát. Con người sống ở cõi trần được coi như đang lặn hụp, vì bị sóng trần nhận chìm trong biển khổ ấy, không biết đâu mà bám víu.

Đạo tựa như con thuyền, chèo khắp mọi nơi trong biển khổ ấy mà cứu vớt những người đang bị những lượn sóng trần dồi dập, để đưa qua bên kia bờ giác ngộ.

Từ con cách Mẹ phương trời,

Trầm luân khổ hải chơi vơi sóng trần.

(Tán Tụng Công Đức).

Mênh mông biển khổ con thuyền,

Ðạo sơ đức kém ngửa nghiêng sóng trần.

(Bát Nương Giáng Bút).

Sóng trần bể khổ mây mờ mịt,

Nghĩ nỗi gần xa lệ ứa dầm.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

SÓNG TRIỀU

Sóng: Nước sông biển do gió thổi cuộn lên thành lớp. Triều: Hay “Trào”, là con nước biển khi dâng lên.

Sóng triều là những lớp sóng dồn dập khi thủy triều dâng lên.

Lòng con ấp ủ ngôn từ,

Nỗi thương nỗi nhớ dậy như sóng triều.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

SÓNG XAO

Sóng: Hiện tượng mặt nước dao động, dâng lên hạ xuống. Xao: Chao động, lay động.

Sóng xao là sóng lay động.

Trong Thiên Đạo, hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có viết: Sóng xao là sóng gió xao động, tức sóng gió nổi lên hạ xuống cuộn chảy không yên, ý chỉ sóng của biển khổ. Những cơn lặng lẽ êm đềm, Trời không có một chút gió lay, Đất không một tiếng trùng động, nước không một lượn sóng xao, tư bề phẳng lặng như tờ, ấy là lúc Thần của Trời Đất điều hoà cả võ trụ vạn vật và gây ra được sanh khí đó.

Ngó chi khổ hải sóng xao,

Đoạn tình yểm dục đặng vào cõi Thiên.

(Kinh Tận Độ).

Vẹo trăm nết hạnh kiếp thơ đào,

Ðừng để thường tình chịu sóng xao.

(Đạo Sử).

Giữ gìn tay lái tay chèo,

Giông to gió giật thân bèo sóng xao.

(Lục Nương Giáng Bút).

Bởi thuyền bá sóng xao biển ái,

Bởi non thề sương trải lạnh lùng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

SÓT

Sót là không hết tất cả, mà còn lại hoặc thiếu đi một số nào đó, do sơ ý hoặc quên. Như: Gom đồ còn sót.

Thánh giáo Đức Cao Thượng Phẩm trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Hồi Em còn ở thế, sức giận của Em đến đỗi, nếu Em được thiêng liêng vị tức cấp, thì có lẽ cây quạt của Em đã đưa họ trụm vào Phong đô không sót một ai.

Muôn Đức, ngàn lành không sót một,

Bao nhiêu công-quả bấy nhiêu phần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Khoanh năm món chung nhau rồi hỏi,

Cha truất hai con nói sót bao nhiêu.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SÔ DIỆN

皺 面

Sô: Còn âm “Trứu” là nhăn, nhăn nhó. Diện: Mặt.

Sô diện là nhăn mặt, nhăn mày.

Cổ Nho có câu: Thanh sơn nguyên bất lão, vị tuyết bạch đầu, Lục thuỷ bổn vô sầu, nhơn phong sô diện 青 山 原 不 老 為 雪 白 頭, 綠 水 本 無 愁, 因 風 皺 面, nghĩa là núi kia chẳng phải già mà bị tuyết đóng nên bạc đầu, nước kia chẳng phải sầu mà bị gió thổi nên nhăn mặt.

Cô phần ngảnh lại đà bao tuổi,

Sô diện xem qua khỏi mấy dòng.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

SÔ XIÊM

Hay “Thô xiêm”.

Sô: Hay thô là một loại vải thô, thưa và xấu. Xiêm: Xiêm y, chỉ quần áo.

Sô xiêm, như chữ “Thô xiêm 粗 襜”, là loại quần áo may bằng vải thô, vải xấu.

Nước non để bước ta bà,

Sô xiêm đem nhuộm màu dà gọi duyên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

SỐ

1.- Số là vận mệnh, tức những sự may rủi gặp phải trong cuộc đời của mỗi người, được định sẵn từ trước.

Như: Tốt số, xấu số, số đỏ, cái số long đong.

Thánh giáo Thầy có câu: Nếu kẻ nào biết hiểu Thánh Ngôn của Thầy nơi miệng các con mà tỉnh ngộ thì số hằng sống nó vốn còn, còn chẳng thì thôi, để cho chúng nó theo tà quái.

Xuống Địa ngục đoạ đày hành mãi,

Đúng số rồi còn phải luân hồi.

(Kinh Sám Hối).

Biết số biết căn tua biết phận,

Ðường xưa để bước lại Thiên đình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Số là tiếng dùng để đếm, sự tính được. Như: Số mười, số trăm, số người, số tiền, số trâu bò.

Thánh giáo Thầy có câu: Trong Ba phái có Tam thập lục Thánh, tuy nay chưa đủ số ấy nhưng đã đặng tám, chín người rồi.

Không lẽ nói đi qua Đông độ,

Không lẽ rằng vô số chinh phu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Thăm chừng hàng tính số ra vô,

Định giá trước món đồ thường dụng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SỐ CĂN

Số: Phần, vận mệnh. Căn: Gốc rễ.

Số căn, như chữ “Căn số 根 數”, là số phận đã được định từ trước, tức là số phận đã được định đoạt bởi những việc làm thiện hay ác trong kiếp sống trước.

Dầu nghiệt chướng số căn quả báo,

Đừng hãi kinh, cầu đảo Chí Tôn.

(Kinh Tận Độ).

Chừ mới rõ nguồn cơn kiếp sống,

Tấc thây phàm rất mỏng số căn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

SỐ HỆ

數 係

Số: Vận mạng, số mạng. Hệ: Trói buộc vào.

Số hệ là mạng số giàu nghèo hay sướng khổ đã được ràng buộc sẵn từ trước.

Như: Mỗi con người đều do số hệ định sẵn.

Đã biết kiếp sanh do số hệ,

Nay mừng cõi thọ hưởng ân hồng.

(Thơ Ngọc Triệu Thanh).

 

 

SỐ KIẾP

數 劫

Số: Mệnh số. Kiếp: Một đời người, thời vận.

Số kiếp, như chữ “Kiếp số 劫 數”, là cái số đã được định trong một đời người, hễ người gặp phải thì không thể tránh được. Vì vậy, người ta thường gọi kiếp số nan đào, nghĩa là cái số kiếp khó trốn tránh đặng.

Thánh giáo Bát Nương Diêu Trì Cung có lời dạy: Chị cũng biết các em lo lắng tương lai của Đạo, ngày mai của đời và số kiếp người Việt ở tha bang, nhưng sự lo lắng của các em chưa thấm vào đâu đối với sự lo lắng của Hộ Pháp, dầu về thiêng liêng cảnh nhưng người mãi hướng về Tổ Đình, về nơi chôn nhau cắt rún, về nơi quê nhà để đợi lấy cơ hội thuận tiện xoay chiều đổi hướng cho kịp với trào lưu.

Xem: Kiếp số.

Trách chi số kiếp thăng trầm nhỉ?

Vuốt bút, lên đàng hẹn cố nhân.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

SỐ MẠNG

Hay “Số mệnh”.

Số mạng, như chữ “Số mệnh 數 命”, là cái số phận của mỗi con người được định sẵn.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Đức Chí Tôn có câu: Người sống trên thế gian nầy, dầu thuộc giống dân nào, cũng chỉ có một Cha chung mà thôi, ấy là Trời đang chế ngự số mạng của các con.

Số mạng đào hoa sức gió dồi,

Tưởng thân đến thế nghĩ thì thôi.

(Đạo Sử).

Tư lự không qua số mạng Trời,

Phải tìm cảnh tịnh mới an nơi.

(Đạo Sử).

 

 

SỐ PHẦN

Hay “Số phận”.

Số: Vận mạng định từ trước. Phần (phận): Cái phần trời định cho mỗi người.

Số phần, như chữ “Số phận 數 分”, là “số kiếp 數 劫”, vận số và phận mệnh của người ta do trời định từ trước.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Các Tôn giáo khác không cần luận, ta thấy họ đã quyết định cái quả kiếp là gì, Phật đã nói: Cái kiếp sống đương nhiên của ta, định số phận của ta đương kiếp sống hiện thời là do căn quả của ta đã tạo kiếp trước...

Thà cam cửa Phật trau thân đọa,

Trỗi máy Thiên cơ cải số phần.

(Thơ Hộ Pháp).

Giác mê thức tỉnh hồn căn cước,

Cảnh tịnh dìu an kẻ số phần.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

SỔ

Sổ là tập hợp những tờ giấy đóng thành quyển, có bìa, dùng để ghi chép. Như: Sổ bộ, sổ điền, sổ công quả, sổ nhật ký.

Thánh giáo Thầy có câu: Nếu Thầy chẳng lấy đại từ đại bi mà lập nền Ðạo thì sổ của kẻ đặng vớt khỏi trầm luân và kẻ Chí Thánh đã bị Thầy bôi xoá hết.

Cượng lý tu hành cho thoát tục,

Tiền vay nợ hỏi, sổ ai bôi.

(Lý Giáo Tông Giáng).

 

 

SỔ BỘ

Sổ: Quyển vở để ghi chép. Bộ: Còn đọc là “Bạ 簿” là sổ sách.

Sổ bộ là sổ sách dùng để ghi chép và lưu trữ lại những việc của một cơ quan hay đoàn thể.

Thánh giáo Thầy có câu: Giáo Sư là người để dạy dỗ chư môn đệ trong đường Ðạo với đường Ðời. Buộc chúng nó lo lắng cho các con như anh ruột lo cho em. Chúng nó cầm sổ bộ của cả tín đồ. Chúng nó phải chăm nom về sự tang, hôn của mỗi đứa.

Còn sổ bộ của Tín Ðồ phải làm cho hoàn toàn. Các nơi phong thêm Trị Sự và Chức Việc chư Hương Ðạo đặng tiện lo cho chư Môn Ðệ của Thầy.

(Đạo Sử).

 

 

SỔ CẦU PHONG

Sổ: Quyển vở để ghi chép. Cầu phong 求 封: Những người đầy đủ công nghiệp cầu xin quyền vạn linh ban chức phẩm.

Sổ cầu phong là quyển sổ ghi tên tuổi, sơ yếu lý lịch của những người có đủ công nghiệp hành đạo, làm đơn xin được cầu phong nơi Hội Thánh.

Phải tái lập Sổ cầu phong và cầu thăng. Sau khi lập xong, gởi hết hồ sơ cho Hiệp Thiên Đài minh tra công nghiệp.

(Thánh Giáo Lý Giáo Tông).

 

 

SỔ GHI CÔNG

Hay “Sổ Công quả”.

Sổ: Cuốn sách để biên chép. Ghi công: Ghi công quả hằng ngày để lưu lại.

Sổ ghi công là cuốn sổ ghi chép công quả hằng ngày của những người hành Đạo, hay nói một cách khác là “Sổ Công quả”. Sau khi quy liễu, Ngọc Hư Cung cũng căn cứ vào sổ ghi công hay sổ Công quả ấy mà định vị cho.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có câu: Những đạo hữu nào không vì hạnh đức mà chung hiệp nhau lo hành Chánh giáo, thì đã có Thần, Thánh lãnh lịnh biên ghi vào Sổ Công quả, đợi ngày chung quy đặng đem vào cân Thiên điều mà phán đoán.

Sổ ghi công đã chất Thiên đình,

Con gắng chí cho toàn pháp diệu.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

 

 

SỔ LỒNG

Sổ: Thoát khỏi chỗ bị ràng buộc, bị nhốt. Lồng: Vật để nhốt thú cầm.

Sổ lồng là thoát khỏi nơi bị giam giữ, ý chỉ các loài chim thú vượt ra khỏi lồng, chuồng...

Sổ lồng còn dùng để chỉ người và vật được tự do bay nhảy, không bị tù hãm.

Khát nước cầm gáo mà trông,

Chàng như chim nọ sổ lồng bay xa.

(Đoàn Thị Điểm Giáng).

Thoát lưới, vẫy vùng an phận cá,

Sổ lồng, thong thả rảnh chân chim.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

SỖ SÀNG

Sỗ: Nói năng, cử chỉ quá tự nhiên đến mức không có ý tứ, thiếu nhã nhặn, thậm chí thô lỗ.

Sỗ sàng là tỏ ra thiếu lịch sự một cách trắng trợn đến mức thô lỗ.

Như: Ăn nói sỗ sàng, cái nhìn số sàng, đôi trai gái đùa nhau một cách sỗ sàng.

Người lớn ỷ ở ngôi tôn cứ sỗ sàng nói năng, sỗ sàng hành động, người lớn khinh thường kẻ nhỏ.

(Giáo Lý).

 

 

SÔI

1.- Sôi là nói về chất lỏng đun nóng sủi bọt và hơi bốc mạnh. Như: Ấm nước sôi, uống nước đun sôi.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng có câu: Gà lồng có lúa đầy bụng hằng ngày mà nồi nước sôi hằng cận bên, không biết phải bị giết ngày nào.

Ao nước nóng sôi thì sục sục,

Dầm cho người rã rục thịt xương.

(Kinh Sám Hối).

2.- Sôi là ở trạng thái mạnh mẽ, tựa như có điều gì đang bừng lên, đang nổi lên.

Như: Sôi gan, sôi động, giận sôi tim lên, không khí trong hội trường sôi hẳn lên.

Ðạo đức là nền làm phẩm cách,

Mượn nhành dương tịnh lửa sôi lòng.

(Đạo Sử).

Nấu sôi cái máu anh phong,

An bang tế thế một lòng lo âu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

SÔI MÁU

Sôi: Ở trạng thái mạnh mẽ, tựa như có điều gì đang bừng lên, đang nổi lên. Máu: Nước đỏ châu lưu trong thân thể.

Sôi máu, như chữ “Sôi gan”, là chỉ cơn giận nổi lên đến tột độ. Như: Giận sôi máu, nghĩ tới nó lại sôi máu lên.

Lòng lang độc thấy căm hờn sôi máu đỏ,

Nhìn thế sự bắt châu mày nhăn nhó.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

SÔI NỔI

Sôi: Nhộn nhịp, mạnh mẽ, cuốn hút mọi người. Nổi: Dậy lên.

Sôi nổi là ồn ào, náo động, hoặc tỏ ra hăng hái, có khí thế mạnh mẽ, đầy nhiệt tình trong hoạt động.

Như: Phát biểu sôi nổi, tuổi trẻ đầy sôi nổi.

Nhận xét về Đại Hội Nhơn Sanh, Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Trong một vài buổi Hội, cũng có khi nóng lòng ưu tư cho Ðại Nghiệp chung mà có sự gay cấn sôi nổi trong sự thảo luận, nhưng chừng được lời giải thích rành mạch của Ban Chủ Toạ, bầu không khí, trở lại êm dịu không còn điều chi thắc mắc nữa.

Lưu hồng bạch cốt phơi sương,

Hoàn cầu sôi nổi, chiến trường từ đây.

(Đoàn Thị Điểm Giáng).

Bước hành Đạo gay go quá đỗi,

Khiến nhơn sanh sôi nổi vì ai?

(Nữ NĐS Hương Thanh).

 

 

SÔNG

Sông là dòng nước lớn chảy từ nguồn ra tới bể.

Như: Sông cái, sông con, sông rạch, sông mê.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Hiếm chi bậc Thánh bị đày vào chốn trần ai khổ nhọc, chìm đắm nơi bến khổ sông mê, dan díu lấy sự say vui mùi thế tục, bước đến cảnh kim mã ngọc đàng mà phủi hết lòng đạo đức, khiến cho ngôi cựu vị phải chịu trôi phủi dòng sông, mà vì đó, thuyền Bát Nhã khó nương cứu vớt đặng.

Tà nguyệt vườn thu ướm trở đông,

Nhạn về đảnh Bắc tiếng qua sông.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nước vốn đầy sông tuỳ kẻ xách,

Lộc kia đầy đất tại người dời.

(Đạo Sử).

 

 

SÔNG DỊCH

Sông: Dòng sông. Dịch: Dịch Thuỷ, tên một con sông ở Trung Hoa.

Sông Dịch là con sông Dịch Thuỷ, nơi Cao Tiệm Ly làm lễ đưa tiễn Kinh Kha sang Tần và gảy đàn trúc, trong khi Kinh Kha theo nhịp mà hát rằng: Phong tiêu tiêu hề, Dịch Thuỷ hàn. Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn 風 蕭 蕭 兮, 易 水 寒. 壯 士 一 去 兮, 不 復 還, nghĩa là gió hiu hắt chừ, sông Dịch lạnh. Tráng sĩ một đi chừ, không trở về.

Đến Tần, Kinh Kha vào điện dâng địa đồ và thích khách vua Tần rồi bị giết chết.

Ngày xưa, tráng sĩ chuyến qua sông Dịch,

Lấp ngậm ngùi trong lớp rượu chia ly.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

SÔNG ĐẰNG

Sông: Dòng nước lớn, chảy từ nguồn ra tới bể. Đằng: Bạch Đằng (Bạch Đằng Giang 白 滕 江), một con sông ở Bắc Việt, chảy ngang tỉnh Quảng Yên.

Sông Đằng là sông Bạch Đằng, nơi quân ta thắng quân Trung Hoa hai lần.

Lần thứ nhất Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán, giết Thái tử Hoàng Tháo.

Lần thứ nhì, Trần Hưng Đạo đánh thắng Ô Mã Nhi, tướng giặc của nhà Nguyên.

Hồ Kiếm anh vương gầy nghiệp lớn,

Sông Đằng quốc sĩ trả thù thâm.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

SÔNG HỒ

Sông: Dòng sông. Hồ: Vũng nước rộng và sâu.

Sông hồ, như chữ “Giang hồ 江 湖”, chỉ sông và hồ, hoặc chỉ sự lưu lạc, rày đây mai đó, không có nơi định sở.

Những kẻ sông hồ quen bụi bám,

Bao lần khăn gói phủi tay trơn.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

SÔNG HƯƠNG

Sông: Dòng sông. Hương: Sự thơm tho, dùng để diệt mùi ô uế, chỉ nhũng sự tốt đẹp, đạo đức.

Sông hương là dòng sông thơm tho, có thể dùng để rửa những sự phiên não, ô trược, được ví với dòng sông đạo đức.

Mùi thế xưa còn lằn bụi trược,

Mạch sầu nay rửa bến sông hương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

SÔNG LỆ

Sông: Dòng sông. Lệ: Nước mắt.

Sông lệ là dòng sông nước mắt. Ý muốn nói những dòng nước mắt đau đớn, sầu khổ của con người sống nơi cõi thế gian này nhiều đến nỗi tạo thành dòng sông, gọi là sông lệ.

Sông lệ đồng nghĩa với bể khổ.

Buồm trương lái vững chờ sông lệ,

Đưa chiếc thuyền sen dựa đảnh Thần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thuyền từ sông lệ buồm trương cánh,

Cảnh trí rừng thung khách lướt đường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Đường mây vừa thoát tầm sông lệ,

Cánh hạc vui qua tận đảnh thần.

(Cao Quỳnh Diêu Giáng).

 

 

SÔNG MÁU NÚI XƯƠNG

Sông máu: Máu chảy thành sông. Núi xương: Xương chất thành núi.

Sông máu núi xương ý chỉ cảnh chiến tranh tang tóc, máu chảy thành sông, xương chất như núi.

Hận tràn sông máu núi xương,

Muôn thây ngã gục chiến trường hy sinh.

(Phù Kiều Hận Sử).

 

 

SÔNG MÊ

Sông: Dòng sông. Mê: Muội, không còn hay biết.

Sông mê, bởi chữ của nhà Phật: “Mê tân 迷 津” là bến mê, chỉ cõi trần là nơi tập trung những người không thấu đáo chân lý, hay không hiểu sự thật.

Theo Phật, bên kia sông (Bỉ ngạn) là bờ giác, như vậy, dòng sông thuộc sông mê, chỉ cảnh giới lầm lạc và mê muội của chúng sanh.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Chiều thu nguyệt xế, non nhạn ngày thâu, lẩn thẩn ngày tháng qua mau, buổi xuân ngoảnh lại đà xa lắc. Nếu chẳng bền lòng theo nẻo chánh mà thoát lối sông mê thì căn quả trả vay, chẳng biết ngày nào tiêu tận đặng.

Xem: Mê tân.

Tách bến sông mê sóng tạt thuyền,

Lọc lừa nghiệp quả kẻ may duyên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Khóc than thay! Kiếp đoạn tràng!

Huệ quang gắng rọi, soi đàng sông mê.

(Lục Nương Giáng Bút).

Duyên là đâu, nợ là đâu?

Chẳng qua biển khổ bắc cầu sông mê.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

SÔNG MÊ BỂ KHỔ

Hay “Sông mê bến khổ”.

Triết lý nhà Phật cho rằng chúng sinh ở cõi trần tục này là sống trong cõi mê muội, khổ sở, nên thường ví cõi trần là sông mê bể khổ.

Thánh giáo Chí Tôn dạy: Ấy là những đứa Thầy đã tin cậy đặng gia công dọn lối chông gai để mở trống nẻo thiêng liêng, dẫn lần dân sanh khỏi sông mê bến khổ, tất là cõi trần vô vị nầy.

Sông mê gót lánh lần xa bến,

Bể khổ thuyền đưa lướt kịp hồi.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

SÔNG NÚI

Sông: Dòng nước tự nhiên chảy trên mặt đất, tàu bè qua lại được. Núi: Non, đá nổi cao lên trên mặt đất.

1.- Sông núi, do chữ “Sơn xuyên 山 川”, là sông ngòi và núi non, chỉ đường đi cách trở núi sông, ý nói dặm đường vất vả. Sông núi còn dùng để chỉ đất nước, xứ sở.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Xương máu của đồng bào đã hao nhiều vì chiếc cuộc, hồn thiêng sông núi đang chờ đợi những đứa con thân yêu của quê hương đang xông pha ngoài chiến địa để cứu nguy cho dân tộc mà không biết ngày nào được trở về.

Sông núi dật dờ chờ tạo khách,

Hoá Công nên núi Ðạo nên thiền.

(Đạo Sử).

2.- Sông núi, như chữ “Sơn hải 山 海”, còn dùng để chỉ ơn nghĩa sinh thành của hai đấng cha mẹ to lớn như núi non và biển cả.

Như: Ơn cha mẹ cao rộng dường sông núi.

Dưỡng sinh cam lỗi tình sông núi,

Tơ tóc thôi rồi nghĩa trước mai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

SÔNG NGÂN

Sông: Dòng nước tự nhiên chảy trên mặt đất, tàu bè qua lại được. Ngân: Ngân hà.

Sông Ngân, như chữ “Ngân Hà 銀 河”, là dòng sông chia cắt hai vợ chồng Ngưu Lang và Chức Nữ.

Theo truyền thuyết, vợ chồng Ngưu Lang và Chức Nữ mắc tội với Trời, nên bị Trời phạt, mỗi người phải một bên sông Ngân Hà, mỗi năm chỉ được gặp nhau một lần vào đêm thất tịch (Mùng 7 tháng 7 âm lịch).

Biển mê cầu ngọc liên phàm tục,

Cõi thọ sông Ngân tiếp đảnh Tần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chừ sao phụ nghĩa sơ giao,

Phòng toan ném gánh tâm đầu sông Ngân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Sông Ngân hà sóng gió coi êm,

Cậy quạ bắc cầu thêm cho dễ gặp.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SÔNG NGÂU

Sông: Dòng nước tự nhiên chảy trên mặt đất, tàu bè qua lại được. Ngâu: Do chữ Ngưu đọc trại, là tên một vì sao trong Nhị thập bát tú.

Sông ngâu, như chữ “Sông Ngân”, là dòng sông chia cắt giữa sao Ngâu và sao Nữ, tức chàng ngâu ả chức.

Xem: Sông ngân.

Hỏi khách đường xưa ai lấp ngõ,

Nên thân bèo tạt vịnh sông Ngâu.

(Đạo Sử).

Hạc nội đã ra ngoài bến khổ,

Trâu vàng đứng vững ở sông Ngâu.

(Quyền Giáo Tông Giáng).

 

 

SÔNG TƯƠNG

Sông: Dòng nước tự nhiên chảy trên mặt đất, tàu bè qua lại được. Tương:Tương Giang 湘 江”, là dòng sông bắt nguồn từ núi Dương Hải, huyện Hưng an, tỉnh Quảng Tây, chảy qua Hồ Nam, Trường An, đổ vào Động Đình, dài hơn hai ngàn dặm.

Sông Tương, như chữ “Tương Giang”, là dòng sông chia biệt giữa vua Thuấn và hai nàng Nga Hoàng và Nữ Anh, dùng để chỉ sự thương nhớ giữa trai và gái, hay sự ly biệt giữa đôi lứa.

Sông Tương cũng do tích trong “Tình Sử” đời nhà Châu, Lương Ý yêu chàng Lý Sinh, sau phải xa nhau, nên có làm bài thơ “Tương Giang” (Sông Tương): Quân tại Tương giang đầu, Thiếp tại Tương Giang vĩ, Tương tư bất tương kiến, Đồng ẩm Tương Giang thuỷ 君 在 湘 江 頭, 妾 在 湘 江 尾. 相 思 不 相 見, 同 飲 湘 江 水. Nghĩa là: Chàng ở đầu sông Tương, Thiếp ở cuối sông Tương. Nhớ nhau mà chẳng thấy, Cùng uống nước sông Tương.

Xem: Tương giang.

Đừng đứng dựa sông Tương nhắn khách,

Đừng trông trăng hỏi ngạch cung thiềm.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Sông Tương đổ ngọc làm Cam lộ,

Ðảnh giáp trao châu cất Phụng lầu.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Ngoài cảm gió mưa mây đỉnh Giáp,

Trong thường khao khát nước sông Tương.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

SÔNG TRONG BIỂN LẶNG

Sông trong: Dòng nước sông trong trẻo. Biển lặng: Nước biển lặng lẽ.

Sông trong biển lặng, bởi chữ “Hải yến Hà thanh 海 晏 河 清” là biển lặng sông Hoàng Hà trong, dùng để chỉ đất nước thái bình, nhân dân an lạc.

Cổ ngữ có câu “Hoàng Hà thanh, Thánh nhân sanh 黃 河 清, 聖 人 生”, nghĩa là sông Hoàng Hà trong, có Thánh nhân ra đời.

Thật vậy, vào năm thứ ba đời vua Trang Tương Vương, sông Hoàng Hà tự nhiên trong, nên năm ấy vua Hán Cao Tổ sinh ra ở đất Bái.

Xem: Hải yến Hà thanh.

Sông trong biển lặng xuân năm mới,

Hết lúc phong ba đến thái bình.

(Thơ Hiến Đạo).

Sanh chúng quây quần dâng thiện nguyện,

Sông trong biển lặng tụng kinh vang.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

SÔNG VỊ

Sông: Dòng nước tự nhiên chảy trên mặt đất, tàu bè qua lại được. Vị: Vị Thuỷ, là con sông mà Khương Thượng ngồi câu nơi Bàn thạch.

Sông Vị là chỉ nơi thanh nhàn, ẩn dật của các bậc hiền nhân, cao sĩ.

Tranh khoe nguyệt rọi làu sông Vị,

Mây toả sương phơi bạc đảnh Tần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tử Nha ngồi chốn thạch bàn,

Thả câu sông Vị ẩn tàng Thiên cơ.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

SỐNG

1.- Sống là có sinh khí và hoạt động. Như: Sống lâu trăm tuổi, sống gởi thác về, người sống hơn đống vàng.

Thánh giáo Thầy có câu: Người sống trên thế gian nầy, dầu thuộc giống dân nào, cũng chỉ có một Cha chung mà thôi, ấy là Trời đang chế ngự số mạng của các con.

Tua khá tưởng thương lần nòi giống,

Hãy xét vì mạng sống khó cầu.

(Kinh Sám Hối).

Trung thành một dạ thờ Cao Sắc,

Sống có Ta, thác cũng có Ta.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Sống là nói về thức ăn, thức uống chưa nấu chín, trái với chín.

Như: Rau sống, cơm sống, thịt sống chưa luộc, ăn tươi nuốt sống.

Gặp thây nuốt sống ăn tươi,

Vì bày thưa kiện móc bươi xúi lời.

(Kinh Sám Hối).

 

 

SỐNG GỬI THÁC VỀ

Hay “Sống gởi thác về”.

Sống gửi (gởi): Sống thì gửi thân nơi cõi trần. Thác về: Chết thì trở về cõi Thiêng liêng.

Sống gửi thác về, bởi chữ “Sinh ký tử quy 生 寄 死 歸”, là sống gửi thân nơi cõi tạm, còn chết thì về với cõi thiêng liêng.

Người xưa quan niệm sống gởi thác về, tức là coi đời như một nơi gửi tạm tấm thân, còn chết mới thật sự là nơi trở về vĩnh viễn.

Xem: Sinh ký tử quy.

Sống gửi thác về tuy luật định,

Gia đình cam chịu vắng người thân.

(Thơ Vạn Năng).

 

 

SỐNG KHÔNG NÊN ĐẠO

Sống: Người có sinh khí và hoạt động. Không nên Đạo: Không nên người đạo đức, không ích cho xã hội.

Sống không nên đạo là sống mà không làm nên người hiền lương, tức là không giữ trọn được nhơn luân đạo đức, không lợi ích cho nhơn quần xã hội, hay không trọn người tu hành.

Dầu trọn kiếp sống không nên Đạo,

Dầu oan gia tội báo buộc ràng.

(Kinh Tận Độ).

 

 

SỐNG SÓT

Sống: Người có sinh khí và hoạt động. Sót: Không hết tất cả, mà còn lại một phần nào đó.

Sống sót là chỉ một mình còn sống trong khi người thân đã chết.

Sống sót là còn sống sau một biến cố, một tai nạn lớn trong những người cùng hoàn cảnh đã chết cả.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Nạn nhơn sống sót phải chịu vất vả điêu linh, màn trời chiếu đất, lại còn phải bâng khuâng lo sợ không biết số phận mình ngày mai sẽ ra thế nào?

Dầu sống sót cũng đành gọi thác,

Vui chi còn man mác tơ duyên.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

SỐNG THÁC

Sống: Tồn tại ở hình thái có sinh khí, có hoạt động. Thác: Chết, mất khả năng sống.

Sống thác là chỉ việc sống và chết. Sống thác còn hàm ý chỉ việc sống chết với bất cứ hoàn cảnh nào. Như: Sống thác có nhau.

Sống thác còn dùng để nói thái độ quyết liệt, một mất một còn. Như: Sống thác với kẻ thù.

Nói về Đức Quan Thánh, Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Ðức Ngài vốn người quận Hà Ðông, huyện Giải Lương, là một đấng anh hùng xuất chúng thời ấy cùng với Lưu Huyền Ðức và Trương Phi kết nghĩa tại Ðào viên thề đồng sống thác, quyết tâm khuông phò nhà Hớn.

Sống thác từ xưa đã có chừng,

Nơi trần mãn tính trọn nhơn luân.

(Đạo Sử).

Nếu trăm năm thề vẹn câu tùng,

Dầu sống thác chữ đồng hằng nắm chặt.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SỐNG THỪA

Sống: Người có sinh khí và hoạt động. Thừa: Không cần dùng, vì chẳng có ích chi.

Sống thừa, bởi chữ “Dư sinh 餘 生”, tức là cuộc sống không có ích lợi gì cho ai hết. Người tuổi già cũng thường tự nghĩ mình là kẻ sống thừa, không làm được gì, mà còn phải trông cậy con cháu nuôi dưỡng.

Ví dụ trong truyện Kiều có câu: Chút thân quằng quại vũng lầy, Sống thừa, còn tưởng đến rày nữa sao? Ý chỉ thân nàng Kiều bị vùi dập trong vũng lầy, tưởng rằng mình đã chết rồi, ai ngờ vẫn còn với cuộc sống thừa, không lợi ích cho ai hết.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có đoạn: Biết Ðạo, biết ta biết người, biết thế biết thời, biết dinh hư, biết tồn vong ưu liệt, rồi mới có biết hổ mặt thẹn lòng, biết sự thế là trò chơi, biết tuồng đời là bể khổ, biết thân nô lệ dẫn kiếp sống thừa, biết nhục vinh mà day trở trên con đường tấn thối.

Đai cân đã có vẽ chi chưa,

Hay phận tù lao kiếp sống thừa.

(Đạo Sử).

Một ngày sống là bày bước chết,

Sợ chết nên không tiếc sống thừa.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

SỐT SẮNG

Sốt: Nóng hổi, nghĩa bóng là nóng nảy trong lòng.

Sốt sắng là nhiệt thành trong công việc, tức tỏ ra có nhiệt tình với công việc nào đó, không tính thiệt hơn.

Như: Sốt sắng giúp đỡ bạn bè.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Như Chư quý vị đã rõ, năm vừa qua Hội Thánh đã trải qua nhiều cơ thử thách buồn phiền, tài chánh của Ðạo vì đó phải bị kiệt quệ, nhờ nơi lòng sốt sắng của Chức sắc, Chức việc và Ðạo hữu nơi Trung ương cũng như ở địa phương nên tình trạng thiếu kém được cứu vãn phần nào.

Sứ mạng độ nhân cần sốt sắng,

Tinh thần phục vụ gắng dồi mài.

(Thơ Phước Huệ).

 

 

1.- Sơ là ban đầu, mới, trước, xưa. Như: Ban sơ, sơ sinh, sơ cấp, sơ hiến lễ.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Nếu chức sắc lúc ban không có chí hy sinh và sụt sè vì những trở ngại, nếu Ðức Thượng Phẩm không có chí cương quyết điều khiển công quả, phần nhiều là người Tần Nhơn thì ngày nay đâu có vùng Nội ô Thánh Ðịa, đâu có một đô thị tôn giáo trang hoàng và xinh đẹp nhứt.

Chừ sao phụ nghĩa giao,

Phòng toan ném gánh tâm đầu sông Ngân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Sơ là thưa, qua loa, không thân. Như: Người thân kẻ sơ, tài sơ học thiển. Như: Nói sơ qua thôi, kẻ thân người sơ.

Thánh giáo Thầy có câu: Vậy nên nhớ mấy lời Thầy, chẳng phải đọc qua mà coi làm chơi, cần chiêm nghiệm kỹ lưỡng mà hiểu, nghe!

Thôi, nói sơ như thế cũng xong,

Kẻo họ xé sách không thèm đọc.

(Phương Tu Đại Đạo).

Luận “Mê Giác” đôi đàng,

Tâm hồn khôn dại biện tàng phân tri.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

SƠ GIAO

初 交

Sơ: Ban đầu, mới quen biết. Giao: Qua lại với nhau.

Sơ giao là mới quen nhau, tức lúc ban đầu bạn bè, trai gái hay vợ chồng mới giao du hay giao tình với nhau.

Như: Bạn bè sơ giao.

Niềm ân ái thân hoà làm một,

Nghĩa sơ giao khắc cốt ghi xương.

(Kinh Thế Đạo).

Lửa lòng rưới tắt mượn nhành dương,

Vì nghĩa sơ giao phải đến thường.

(Đạo Sử).

Chồng vợ ví keo sơn gắn chặt,

Càng thương nhau thường nhắc lúc sơ giao.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SƠ HIẾN LỄ

初 獻 禮

Sơ: Đầu, mới, trước, xưa. Hiến: Dâng. Lễ: Cách bày tỏ sự tôn kính.

Sơ hiến lễ là lễ dâng rượu cho người chết lần đầu.

Trong nghi thức tang lễ đạo Cao Đài, khi đăng điện, Lễ sĩ bước đi theo lời thài của đồng nhi để dâng ba tuần rượu tại bàn linh.

Lần dâng rượu đầu tiên gọi là Sơ hiến lễ.

Lần dâng rượu thứ hai gọi là Á hiến lễ.

Lần dâng rượu cuối cùng gọi là Chung hiến lễ.

Sơ hiến lễ.

(Nghi Tiết Cúng Lễ).

 

 

SƠ HỘI LONG HOA

初 會 龍 花

Sơ hội: Hội kỳ đầu tiên, tức lần thứ nhứt. Long Hoa: Một đại hội để tuyển chọn người hiền đức dưới cội cây Long Hoa do Phật Di Lạc làm Giáo Chủ.

Sơ hội Long Hoa là một Đại Hội ở Nhứt Kỳ Phổ Độ, gọi là Thanh Vương Đại Hội, do Đức Nhiên Đăng Cổ Phật làm Giáo Chủ.

Trong tôn giáo Cao Đài, bài Kệ Chuông U Minh, lời nguyện thứ 31 có câu: Nam Mô Sơ hội Long Hoa Thanh Vương Đại Hội, Nhiên Đăng Cổ Phật Chưởng Giáo Thiên Tôn 南 無 初 會 龍 花 青 王 大 會, 燃 燈 古 佛 掌 教 天 尊.

Nam Mô Sơ hội Long Hoa Thanh Vương Đại Hội, Nhiên Đăng Cổ Phật Chưởng Giáo Thiên Tôn.

(Kệ U Minh).

 

 

SƠ KHAI

初 開

Sơ: Ban đầu, mới. Khai: Mở ra.

Sơ khai là mới mở đầu, tức là vào buổi ban đầu mới hình thành, mới được lập ra.

Thánh Ngôn Thầy có câu: Các con ví biết Ðạo là quý thì phải ân cần thận trọng, đợi đến ngày thành tựu, các con mới thấy rõ Thiên cơ, thì chừng ấy các con muốn lập công bằng buổi nầy sao đặng, vì mỗi việc khó khăn trắc trở là lúc sơ khai.

Kể từ hỗn độn sơ khai,

Chí Tôn hạ chỉ trước đài Linh Tiêu.

(Tán Tụng Công Đức).

Sơ khai kiến tạo nhớ công Thầy,

Đồ Đệ tuân hành sự nghiệp đây.

(Thơ Hộ Pháp).

Hiến mình cho Đạo buổi sơ khai,

Thế cuộc càng xây dạ chẳng nài.

(Bài Thài Hiến Thế).

 

 

SƠ KHẤU

初 扣

Sơ: Ban đầu, mới. Khấu: Đánh hay dộng.

Sơ khấu nghĩa là bắt đầu đánh hay dộng vào hồng chung U minh.

Trong bài kệ chuông U minh, câu nguyện thứ nhứt như sau: Hồng chung sơ khấu, bảo kệ cao ngâm 洪 鐘 初 扣 寶 偈 高 吟, có nghĩa là bắt đầu dộng vào hồng chung và cao giọng ngâm bài kệ quý báu.

Hồng chung sơ khấu bảo kệ cao ngâm,

(Kệ U Minh).

 

 

SƠ LƯỢC

疏 略

Sơ: Thưa, qua loa, chút ít. Lược: Lọc ra nét chánh.

Sơ lược là qua loa, không kỹ càng, tức là lấy những ý chánh, loại bỏ chi tiết không quan trọng. Như: Giới thiệu sơ lược về nội dung tác phẩm.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Buổi nọ vì thời gian ngắn ngủi, nên công việc chưa rành rẽ, vì không đủ thì giờ để chuyên luyện, hoặc cho là chưa trọng hệ cho lắm, nên có điều sơ lược.

Con nên đọc sơ lược Thánh Ngôn mấy lần chót cho chúng sanh và phải biểu ăn năn, hỏi mình trước khi cầu Thầy.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

SƠ SẨY

Sơ: Không kỹ, không đầy đủ. Sẩy: Sơ ý làm do không cẩn thận mà không giữ lại được để xảy ra điều đáng tiếc.

Sơ sẩy là tỏ ra không cẩn thận, không có sự giữ gìn, để xảy ra nhiều việc đáng tiếc.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông trong Thánh Ngôn Sưu Tập có câu: Phải kiếm hiểu rõ Thánh ngôn của Đức Từ Bi đã dạy về hành động mà giữ cho khỏi sơ sẩy về sau.

Sợ cơn giông gió tơi bời,

Trà mi sơ sẩy hoa rời rã bông.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

SƠ SỊA

Sơ: Làm việc một cách không kỹ càng, đầy đủ, chỉ lướt qua một lượt mà thôi.

Sơ sịa là qua loa, sơ sài, tức làm không tỉ mỉ, không cẩn thận, hay không chu đáo.

Như: Nó làm sơ sịa rồi bỏ đi chơi, ăn sơ sịa vài ba hột cơm rồi đi làm.

Nghèo dầu lễ cưới nhau sơ sịa,

Miếng trầu thô chungrượu lạt cũng nên tình.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SƠ SÓT

Sơ: Thưa, qua loa, chút ít. Sót: Thiếu sót, bỏ quên.

Sơ sót là thiếu sót, không đầy đủ.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chơn Cực Lão Sư có dạy: Ðược, nhưng còn sơ sót, món nào liệu chẳng có ích thì nên chế giảm, trừ ra Nhạc phải giữ cho toàn, đi lễ cho có vẻ nghiêm nghị.

Chúng ta mang nặng xác phàm thì dầu cho ai cũng không tránh khỏi sơ sót.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

SƠ SUẤT

疏 率

Sơ: Thưa, qua loa, chút ít. Suất: Khinh suất, tức là không cẩn thận.

Sơ suất là cẩu thả, không cẩn thận, hay không chú ý đúng mức để có sự sai sót. Như: Do nó sơ suất mà làm hỏng cả việc.

Huấn từ Đức Thượng Sanh đọc trước ngày Khai giảng khoá huấn luyện Chức Việc Bàn Trị Sự có câu: Nhiều vị chưa am hiểu tường tận Luật pháp chơn truyền, nên lúc thi hành nhiệm vụ có lắm điều sơ suất đáng tiếc trong việc đối nội cũng như đối ngoại.

Nếu có điều khó khăn không giải quyết được phải thỉnh giáo bề trên, không nên phán định sơ suất.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

SƠ THẤT

疏 失

Sơ: Thưa, qua loa, chút ít. Thất: Mất.

Sơ thất là không chú ý cẩn thận để cho mất mát hay thất bại công việc.

Như: Làm cẩn thận đừng để cho sơ thất.

Thánh giáo Thầy có dạy: Thầy đã nói, giao hết chúng nó nơi đây cho con, thì mỗi mỗi đều ghé mắt đến mà cải sửa cho kịp giờ mới khỏi sơ thất lớn lao.

Thầy đã muốn cho hoàn toàn phải cần có luật, mà hễ có luật thì cần phải do theo đó mà hành đạo mới khỏi điều sơ thất đặng.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

SỚ

Sớ là tờ giấy chép lời tâu hoặc lời nguyện để dâng lên vua hay bậc Thần, Thánh.

Như: Quan Thừa tướng dâng sớ lên cho vua, đốt sớ lễ thần, cung phần sớ văn.

1.- Sớ dâng lên cho vua:

Đệ sớ thà liều ra ải nhạn,

Tử sanh quyết trọn với tình nồng.

(Thơ Cao Liên Tử).

2.- Sớ dâng lên cho Đức Chí Tôn:

Chư đệ tử đồng thành tâm khấu bái cẩn sớ thượng tấu. Dĩ văn.

(Sớ Văn).

 

 

SỚ VĂN

疏 文

Sớ: Tờ điều trần dâng lên vua. Văn: Bài văn.

Sớ Văn là một tờ điều trần của các quan dâng lên cho nhà vua.

Sớ Văn trong đạo Cao Đài là một bản văn do Hội Thánh soạn thảo theo mẫu để chúng sanh nơi Đền Thánh, Báo Ân Từ, các Thánh Thất, và Điện Thờ Phật Mẫu ở các địa phương tâu trình lên Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu và các Đấng Thiêng Liêng trong lễ cúng Đại đàn hay Tiểu đàn nơi thờ tự.

Trước kia, Sớ văn được viết bằng chữ Hán, sau này người học Nho ngày càng giảm, chữ Hán lần lần ít người biết đến. Từ đó, sớ văn mới được Hội Thánh phiên âm ra chữ Việt Hán cho đến ngày hôm nay.

Thành độc Sớ Văn.

(Nghi Tiết Cúng Lễ).

 

 

SỚ VĂN THƯỢNG TẤU

疏 文 上 奏

Sớ văn: Bản văn mẫu của Hội Thánh, dùng để tâu trình lên Đức Chí Tôn. Thượng tấu: Tâu trình lên.

Sớ văn thượng tấu là lá sớ được dâng lên Đức Chí Tôn để tâu trình mọi việc.

Trong nghi lễ cúng đàn tại Toà Thánh, Báo Ân Từ hay các Thánh Thất địa phương, khi xưng tụng các bài Thánh Kinh xong, vị chứng đàn còn phải thượng lá sớ dâng lên Đức Chí Tôn để tâu trình mọi việc và cầu xin được ban bố điều lành cho toàn chúng sanh.

Sớ văn thượng tấu.

(Nghi Tiết Cúng Lễ).

 

 

SỜ SỜ

Sờ sờ là quá rõ ràng như bày ra trước mắt.

Như: Sự thật sờ sờ trước mắt, mầy làm việc đó sờ sờ trước mọi người mà còn cãi.

Bình Dương lập trận sờ sờ,

Cả chư vạn quốc dựng cờ chiến tranh.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

SỞ

1.- Sở là nơi, chốn, thửa, nghĩa rộng chỉ nơi có đông người làm việc.

Như: Sở tại, sở thị, sở đất, sở ruộng, sở làm việc.

Chọn lựa cho nên một sở làm,

Ðạo thì cũng muốn bạc thì ham.

(Đạo Sử).

2.- Sở là tiếng đại danh từ để chỉ người làm chử sự gì hay vật gì. Như: Sở học, sở cầu, sở kiến, sở nguyện.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Lòng người quân tử vốn hậu mà cái sở kiến chỉ ở sự thiện cho nên thấy ai làm điều hay thì khuyến khích cho người ta cố gắng làm hay hơn nữa, hoặc thấy ai làm điều ác thì can ngăn không để cho làm điều ác được.

Lo liệu chưa qua điều sở vọng,

Nay toan để bước lối nâu sồng.

(Đạo Sử).

3.- Sở là tên một nước chư hầu vào thời Chiến Quốc bên Trung Hoa.

Như: Đầu Ngô mình Sở, mua Tần bán Sở.

Thánh giáo Thầy có câu: Các con, nền Ðạo bề ngoài coi diềm dà sung túc, mà chẳng thấy rõ cái mạch bịnh trong tâm, chẳng khác chi thế Sở chế bạo Tần, ham cái mạnh bề ngoài, biết sợ cái mặt chớ chẳng rõ lòng người ra sao, mà không độ cái mạnh cấp thời đó sẽ dần dần tan như giá mà đổi ra yếu hèn thấp nhược.

Mua Tần bán Sở đôi hồi nghiệp,

Ðể bước đường tu khá nhớ lời.

(Đạo Sử).

 

 

SỞ CẬY

Sở: Tiếng dùng để chỉ về mình hay về người khác. Cậy: Nhờ cậy, nhờ vả.

Sở cậy là điều mà mình phải nhờ cậy người khác.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có câu: Vì vậy, Lão phong thêm Chức sắc Hội Thánh cho phu phỉ việc làm. Lão sở cậy mỗi người chung lo với Lão, hết lòng hành sự.

Chí Tôn sở cậy Bần Đạo thố lộ chút ít điều mật yếu để dìu bước chư đạo hữu.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

SỞ CẦU

所 求

Sở: Tiếng dùng để chỉ về mình hay về người khác. Cầu: Cầu xin, tìm kiếm.

Sở cầu là cái mà mình cầu xin hay tìm kiếm. Như: Những ở cầu của anh đã được toại nguyện.

Thành tâm háo Ðạo thiên tai tán,

Chánh thị kỳ khoa đắc sở cầu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

SỞ DỤNG

所 用

Sở: Nơi, chỗ. Dụng: Công dụng, dùng.

Sở dụng là cái công dụng của một vật.

Thánh giáo Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn có dạy: Phàm Pháp luật lập thành đều tuỳ sở dụng, buộc kẻ chung công hiệp trí tác thành một cơ sở vĩ đại, đông tây tương thân tương ái.

Thầy đã nói sở dụng thiêng liêng, Thầy cũng nên nói sở dụng phàm trần của nó nữa.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

SỞ ĐỊNH

所 定

Sở: Tiếng dùng để chỉ về mình hay về người khác. Định: Quyết định, sắp đặt.

Sở định là những điều mà mình quyết định.

Thánh giáo Đức Cao Thượng Phẩm có câu: Chư hiền hữu khá nhớ: Đạo cần phải có đức mà lập nên, đức trọng thì ắt có quyền cao, đó là sở định của Chí Tôn, còn những người ham quyền quên đức thì không thể hưởng đặng hạnh phúc tương lai.

Ấy vậy lễ cúng tế chẳng phải trọn quyền của người (Giáo Sư) mà là của Hội Thánh sở định.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

SỞ HÀNH

所 行

Sở: Tiếng dùng để chỉ về mình hay về người khác. Hành: Làm.

Sở hành là điều mà mình đã làm, tức là việc do chính mình làm.

Đức Lý Giáo Tông có câu: Lão an tâm đặng là vì có Nguyệt Tâm thân mật cùng hiền hữu toan tính mọi điều. Lão đã đặng biết trước sở hành của hiền hữu.

Lập vị dạy dỗ điều lành,

Tự Tín, Tha Tín sở hành tu thân.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

Thiên tai địa ách do oan nghiệt,

Bệnh chướng đao binh tại sở hành.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

SỞ NĂNG

所 能

Sở: Tiếng dùng để chỉ về mình hay về người. Năng: Khả năng, năng lực.

Sở năng là cái năng lực hiểu biết của mình.

Về pháp giới Thể Thiên không thiếu,

Sở năng cần tìm hiểu tận cùng.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

SỞ NGUYỆN

所 願

Sở: Tiếng dùng để chỉ về mình hay về người khác. Nguyện: Mong mỏi, ao ước.

Sở nguyện là điều mà mình mong mỏi, ao ước. Như: Đạt được sở nguyện.

Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy: Thầy cũng có phép răn trị kẻ vạy tà, các con duy có trông cậy nơi Thầy, bước đường cứ thủng thẳng đi lần tới, đừng gấp quá, mà cũng chớ thối lui, thì một ngày kia sẽ đặng toại kỳ sở nguyện.

Xin Trời Phật chứng lòng sở nguyện,

Hộ thương sanh u hiển khương ninh.

(Kinh Tận Độ).

Dầu hoạn lộ chưa vừa sở nguyện,

Dầu cửa quyền trọng tiếng chăn dân.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

SỞ TẠI

所 在

Sở: Nơi, chỗ, xứ sở. Tại: Nơi đây.

Sở tại, như chữ địa điểm là ngay chỗ mình đang cư ngụ, tức chỗ hiện ở hay hiện có mặt.

Đạo Luật Mậu Dần có câu: Khi đặng truy phong rồi, con cháu hoặc anh em phải đem long vị về Toà Thánh với một vài vị Chức Sắc sở tại đưa lên.

Địa phương bổn đạo qua cân nhắc,

Sở tại Đầu Hương được cử bàn.

(Thơ Thành Đức).

 

 

SỞ TRUYỀN

所 傳

Sở: Tiếng dùng để chỉ về mình hay về người. Truyền: Để lại cái mình đang nắm giữ cho người khác, thường thuộc về thế hệ sau.

Sở truyền là điều mà mình cần truyền lại cho người khác hay thế hệ sau.

Một nhà sung túc hưởng ân Thiên,

Mối Đạo từ đây đắc sở truyền.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

 

 

SỞ VỌNG

所 望

Sở: Tiếng dùng để chỉ về mình hay về người khác. Vọng: Trông mong.

Sở vọng là những điều mà mình hằng mong muốn, trông đợi.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ngày nay là ngày giờ chót Thầy đến với mục đích và sở vọng của Thầy là hội hiệp các con lại làm một cùng Thầy.

Lòng sở vọng gắn ghi đảo cáo,

Nhờ Ơn Trên bổ báo phước lành.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

Lòng sở vọng lâm dâm tụng niệm,

Xin giải nàn Nam Thiệm Bộ Châu.

(Xưng Tụng Công Đức).

 

 

SỢ

Sợ là đem lòng e ngại, kiêng dè hay kinh hãi. Như: Sợ đòn, sợ bóng tối, sợ oai quyền.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Lý Giáo Tông có dạy: Lão chỉ sợ một điều là Lão không phương gần kẻ tà tâm toan dạy dỗ; còn như gần kẻ đạo đức chơn thành thì rất dễ, song chẳng cần ích.

Mũi kim chẳng lọt xưa nay hẳn,

Biết sợ xin khuyên cẩn thận mình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tâm địa của Trời đời ắt biết,

Phải toan sợ tội cải tà gian.

(Đạo Sử).

 

 

SỢ SỆT

Sợ: Đem lòng e dè, kinh hãi.

Sợt sệt là sợ đến mức trở nên mềm yếu, tỏ ra bất lực.

Trong Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có câu: Lão mới để dạ lo lường; nếu Lão nói rõ ra, e cho chư Hiền Hữu phải kinh khủng sợ sệt nên dặn rằng: Ðạo vốn nơi Cơ Bút mà phát thành. Vậy Lão khuyên cẩn thận cho lắm.

Rán sức đua chen trong thế sự,

Song thường sợ sệt phép Trời linh.

(Đạo Sử).

 

 

SỢI

Sợi là tiếng dùng để chỉ chung những vật có hình thể dài, nhỏ và mành.

Như: Sợi dây, sợi tóc, sợi lạt, sợi gai.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ðịnh luật pháp ấy cũng tỷ như sợi dây thiết toả liệng xuống âm quang cho kẻ tội nhơn nắm nó mà phăng về Thiêng Liêng cựu cảnh; chớ chưa phải là chơn luật và chơn pháp.

Ðời tỷ sợi dây đôi trẻ kéo,

Một đàng thâu đặng, một đàng buông.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Nhắp cần thao lược dò sâu cạn,

Nương sợi kinh luân sửa mối giềng.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

SỚM

1.- Sớm là khoảng thời gian lúc mặt trời mới mọc. Như: Ra đi từ sớm, Đi cày sáng sớm, sớm hôm.

Thánh giáo Thầy dạy Bà Đái Thị Huệ có đoạn: Đường Thị! Thầy giao phe Nữ cho con lập thành. Chẳng phải vì đàn bà mà sớm nồi cơm, chiều trả cháo hoài.

Ngày về thức tỉnh trời trưa sớm,

Non rạng an vui cảnh bá tùng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Khuya sớm tương dưa hết dục lòng,

Lòng dầu toan kế, kế sao xong.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Sớm không muộn, tức trước thời điểm quy định, trái với muộn. Như: Lúa sớm, ăn sớm, đi sớm về trưa.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Nơi trường thi công quả, nên cân lấy phước phần, chẳng sớm trau thân, rừng chiều ác xế.

Khổ hạnh dầu ai thìn một kiếp,

Rừng tòng thoát tục sớm đưa chân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Mượn nước Cam Lồ lau tục trái,

Ðường Tiên nẻo Phật sớm đưa chơn.

(Đạo Sử).

 

 

SỚM CHIỀU

Sớm: Lúc mặt trời mới mọc. Chiều: Khoảng thời gian từ sau trưa đến tối.

1.- Sớm chiều là chỉ khoảng thời gian buổi sáng và khoảng thời gian buổi chiều.

Như: Mỗi ngày cố gắng công phu đều đặn hai buổi sớm chiều.

Sớm chiều hai buổi công phu,

Lánh xa cuộc sống võng dù đua bơi.

(Thơ Hộ Pháp).

2.- Sớm chiều còn dùng để chỉ khoảng thời gian từ sáng sớm tới chiều tối, tức dùng chỉ cả ngày, lúc nào cũng như vậy.

Như: Sớm chiều vất vả, con đi học mẹ ở nhà sớm chiều thui thủi một mình.

Sớm chiều tựa cửa chờ tin nhạn,

Ngày tháng nương hiên đợi bóng hồng.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Chỉ nghe vượn hú chim kêu,

Buồn teo vắng vẻ sớm chiều thân côi.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

SỚM ĐÀO TỐI MẬN

Sớm tối: Chỉ ngày đêm. Đào mận: Hai loại trái cây, trong văn chương thường được ví với trai và gái tình tự.

Ca dao Việt Nam có câu: Gặp đây mận mới hỏi đào, Vườn hồng đã có ai vào hay chưa? Mận hỏi thì đào xin thưa, Vườn hồng có lối, nhưng chưa ai vào.

Sớm đào tối mận là chỉ tình trai gái gần gũi nhau.

Khách sớm đào tối mận chỉ người đàn ông lẳng lơ, không đứng đắn, sớm lấy cô nầy, tối cặp bồ cô khác.

Hỏi đến khách sớm đào tối mận,

Đon những trang ngọc cận hương thân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

SỚM NỞ CHIỀU TÀN

Hay “Sớm nở tối tàn”.

Sớm nở: Hoa nở buổi sáng. Chiều (tối) tàn: Chiều tối lại héo tàn.

Sớm nở tối tàn chỉ sự ngắn ngủi của đời sống con người, như đoá hoa phù dung kia sáng sớm nở, chiều tối lại tàn.

Trong lễ Tấn phong Nữ Đầu Sư cho Bà Hương Hiếu, Bài Tuyên dương công nghiệp của Đức Thượng Sanh có câu: Nhưng may thay, Bà đã thâm nhiễm mùi Đạo, tự biết muôn sự ở đời đều là giả cuộc, kiếp phù sinh như cảnh hoa sớm nở tối tàn, nhứt là nhớ lời khuyên nhủ của các vị Tiên Nữ Diêu Trì Cung, nên bà tự an ủi lấp thảm vùi sầu, khuây khoả với tiếng kệ kinh, lấy chữ vị tha làm mục đích, tận tâm phục vụ dắt dìu nữ phái, quyết lòng hiến cả tâm hồn lẫn xác thân cho nền Đại Đạo.

Ðời qua thấm thoát cõi nhơn gian,

Sớm nở hoa kia, chiều vội tàn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

SỚM KHUYA

Sớm: Lúc mặt trời mới mọc. Khuya: Đêm khuya.

Sớm khuya tức là sáng sớm và đêm khuya, dùng để chỉ thời gian suốt ngày, hoặc chỉ đêm ngày trôi qua đi.

Như: Vì miếng ăn nên sớm khuya phải vất vả.

Sớm khuya ẩn chốn thanh am,

Tu tâm luyện tánh chẳng ham mến trần.

(Xưng Tụng Thanh Sơn).

Sớm khuya chăm chỉ công đèn sách,

Đức hạnh vẹn gìn dạ sắt son.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

SỚM TỐI

Sớm: Khoảng thời gian khi mặt trời mới mọc. Tối: Khoảng thời gian kể từ khi không còn ánh sáng mặt trời.

Sớm tối là sáng sớm và chiều tối, chỉ suốt ngày.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Ngày nay nó đã tới giai đoạn phục quốc thì cũng nhờ cuộc đảo chánh quá cường liệt ấy cho nên phục quốc của các con mới liên tiếp mãi, vì cớ nên đoàn anh của các con họ mơ vọng ngày định vận mạng của Tổ Quốc chỉ ở sớm tối đặng thành tựu mà thôi, nhưng tội nghiệp thay! Các đoàn anh mơ vọng ấy họ phải ân hận trong giờ chót của họ.

Lánh xa trược chất bụi hồng,

Cung Tiên sớm tối vui vòng thung dung.

(Kinh Thế Đạo).

Người làm việc gian nan lắm nỗi,

Người thảo ngay sớm tối khổ đau.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Khi đầu ấp cùng khi tay gối,

Thân thiết nhau sớm tối quen hơi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

SƠN

1.- Sơn là nhựa một thứ cây dùng để gắn hay quét bề ngoài đồ gỗ cho bền, cho đẹp.

Như: Cây sơn, nước sơn, tốt gỗ hơn tốt nước sơn.

Thánh giáo Thầy Ngài Thái Bính Thanh có câu: Thầy giao cho con lo một Trái Càn Khôn, con hiểu nghĩa gì không? Cười... Một trái như trái đất tròn quay, hiểu không? Bề kính tâm 3 thước 3 tấc (3m30), nghe con, lớn quá, mà phải vậy mới đặng, vì là cơ mầu nhiệm Tạo hoá trong ấy, sơn màu xanh da trời, cung Bắc Ðẩu và Tinh tú vẽ lên Càn Khôn ấy.

Khi lịch sắc trao trâm đáng giá,

Cơn tàn hoa keo rã sơn rời.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Sơn là dùng cọ và nước sơn phết lên mặt ngoài của đồ vật.

Như: Sơn nhà của, quét một lớp sơn, sơn xe đạp màu xanh, sơn cửa sắt.

Mấy ngón tri âm thưa thớt bạn,

Mà trong ngựa bạc cửa sơn vàng.

(Đạo Sử).

3.- Sơn là Núi. Như: Sơn xuyên, sơn hà, du sơn.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Những khách đăng sơn khi phải leo lên một đường núi thì trước khi phải kiểm điểm hành lý, bỏ bớt cái gì nặng nề vô ích, cái gì trở ngại, nhờ vậy mới lên tột đỉnh theo ý định của mình.

Vân du thế giới vui mùi đạo,

Mơi viếng Kỳ Sơn tối Cẩm San.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Sắm nghiệp trần gian còn phải khó,

Lựa là nghi trưởng tại Bồng Sơn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

SƠN CƯỚC

山 腳

Sơn: Núi non. Cước: Chân.

Sơn cước là chân núi, chỉ quang cảnh ở chung quanh vùng chân núi.

Như: Dân cư sống quanh miền sơn cước.

Vui miền sơn cước gió hiu hiu,

Noi dấu Tăng, Sâm giải chí tiều.

(Thơ Thuần Đức).

Thú quê riêng chuộng miền sơn cước,

Bể hoạn buồn đua sức ngạc kình.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

SƠN HÀ

山 河

Sơn: Núi. Hà: Sông.

Sơn hà tức non sông, chỉ cảnh núi và sông.

Sơn hà còn có nghĩa là quốc gia.

Trong một nước không nơi nào lại chẳng có núi sông, nên hai chữ sơn hà hay núi sông dùng để chỉ đất đai trong một nước.

Cổ thi có câu: Nhất thốn sơn hà nhất thốn kim 一 寸 山 河 一 寸 金, nghĩa là một tấc non sông một tấc vàng.

Ứa mặt ướm nâng nền thổ võ,

Bền lòng chờ đợi bến sơn hà.

(Đạo Sử).

Chia đôi Việt Quốc là chia Đạo,

Xẻ nửa sơn hà tức xẻ thây.

(Thơ Đức Hộ Pháp).

Lấy son sắt điểm tô xã tắc,

Mượn trượng phu vẽ mặt sơn hà.

(Xuân Hương Giáng Bút).

 

 

SƠN HẢI

山 海

Sơn: Núi. Hải: Biển.

Sơn hải là núi cao biển cả, chỉ đường trường vất vả.

Sách có chữ “Sơn cao hải thâm 山 高 海 深” nghĩa là non cao biển sâu, chỉ công đức lớn lao của cha mẹ.

Sơn hải còn dùng để chỉ lời thề non hẹn biển, tức lời nguyền gắn bó giữa dôi trai gái hay vợ chồng.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thầy dạy Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc có câu: Con cầm một cây phướn Chiêu hồn đi đầu Thánh thể của Thầy thì con phải nhớ đường trường sơn hải, nguy hiểm khó khăn của bước thiêng liêng là dường nào, rồi chậm chậm dừng chơn đợi đoàn con dại của Thầy với nghe.

1.- Chỉ núi cao biển cả:

Nhớ câu hiếu thảo bền sơn hải,

Xét chữ cù lao cảm bổn nguyên.

(Thơ Thái Phong).

2.- Chỉ lời thề sắt son:

Đinh ninh chén nguyệt lời sơn hải,

Ấm áp phòng xuân gối phượng hoàng.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

SƠN HÀO HẢI VỊ

山 肴 海 味

Hay “Sơn trân hải vị”.

Sơn hào: Thức ăn ở núi. Sơn trân: Thức ăn ngon quý ở núi. Hải vị: Mùi vị ở biển.

Sơn hào hải vị, đồng nghĩa với chữ ”Sơn trân hải vị 山 珍 海 味”, là những món ăn, thức uống ở rừng và ở biển, chỉ các món ăn ngon quý.

1.- Sơn hào hải vị:

Tôi tặng sơn hào thơm đất mẹ,

Anh ban hải vị ngọt lòng dân.

(Thơ Hoàn Nguyên).

2.- Sơn trân hải vị:

Cuối Hạ nguơn nầy, nhơn loại phần nhiều dụng hết tinh thần xu hướng vào lối văn minh vật chất, món ăn sẵn đủ sơn trân hải vị...

(Lời Tựa Thánh Ngôn).

 

 

SƠN KHÊ

山 溪

Sơn: Núi non. Khê: Khe nước.

Sơn khê chỉ quang cảnh núi và khe núi. Sơn khê còn là tiếng dùng để chỉ sự xa xôi cách trở.

Bảo múa, nhảy cắn trọng thương,

Vật vì chủ cũ, tìm đường sơn khê.

(Báo Ân Từ).

 

 

SƠN LÂM

山 林

Sơn: Núi, non. Lâm: Rừng.

Sơn lâm là núi rừng.

Sơn lâm còn dùng để chỉ nơi ẩn dật, hoặc nơi thanh tịnh để tu hành.

Kìa những kẻ sơn lâm ẩn trú,

Một chữ nhàn vui thú thanh cao.

(Thơ Hộ Pháp).

Cùng nhau nương bóng sơn lâm,

Sớm chiều dưỡng tánh tu tâm tháng ngày.

(Thơ Hộ Pháp).

Sơm lâm cặm cụi noi đường trước,

Mao ốc thanh nhàn nhắc chuyện xưa.

(Thơ Thông Quang).

 

 

SƠN THUỶ

山 水

Sơn: Núi. Thuỷ: Nước.

Sơn thuỷ là núi sông, chỉ phong cảnh thiên nhiên, vừa có núi non, lại vừa có sông nước.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Bần Ðạo thấy thờ có một câu mà không có sơn thuỷ gì hết, lấy làm lạ thì ông nói: “Một câu đó đủ nghĩa để dạy con cái biết tuân theo, thành tâm tu chỉnh thì Cửu Huyền sẽ vinh diệu, biết giữ thân mình không bịnh nhược thì sanh con sáng láng mạnh khoẻ khôn ngoan”.

Đời Mạt Kiếp,

nhắm xem sơn thuỷ Trời càng chan chứa,

Nhìn cỏ cây đồng xào úa,

dường như lụy ứa cõi mộng trường.

(Giác Mê Khải Ngộ).

Thú thanh nhã chiều trưa toại chí,

Cuộc nhàn du sơn thuỷ thích tình.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

SƠN XUYÊN

山 川

Sơn: Núi. Xuyên: Sông.

1.- Sơn xuyên là chỉ về núi non và sông ngòi.

Như: Muốn tu hành chẳng cần nhốt mình vào chốn sơn xuyên cùng cốc.

Tu chẳng luận sơn xuyên am cốc,

Tu cũng đừng tịch cốc hành thân.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

2.- Sơn xuyên là sông núi, dùng để chỉ đường đi cách trở núi non, sông ngòi, tức dặm đường xa xôi, vất vả.

Như: Sơn xuyên cách trở.

Giữ tư trước thêm mùi du thuỷ,

Cách sơn xuyên hoà mỹ nương nhau.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

 

 

SỜN

1.- Sờn là khờn, mẻ, mòn khuyết, làm mất đi tình trạng của cái mới và sự tinh xảo.

Như: Chiếc cẩm thạch đã bị sờn, cuốn sách đã sờn giấy, áo đã sờn vai.

Nhưng chánh khí trung can của con cái Ðức Chí Tôn không bao giờ sờn mẻ.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

2.- Sờn còn có nghĩa là ở trạng thái tinh thần, ý chí bị lung lay trước khó khăn thử thách.

Như: Gian khổ không sờn, chẳng sờn trước bạo lực.

Làm người nhơn nghĩa xử xong,

Rủi cho gặp lúc long đong chẳng sờn.

(Kinh Sám Hối).

Trước chẳng giữ ngôi, ngôi mới mất,

Cân phân thế tục, phẩm chi sờn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

SỜN DẠ

Sờn: Mòn, nao núng. Dạ: Lòng dạ, biểu tượng cho tâm lý tình cảm.

Sờn dạ là lòng bị nao núng, lung lay trước những khó khăn, thử thách.

Xem: Sờn lòng.

Ðạo đời hai lẻ nào hơn?

Chí tâm quân tử chớ sờn dạ tu!

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

SỜN LÒNG

Sờn: Mòn, nao núng. Lòng: Lòng dạ, biểu tượng cho tính nết, tình cảm.

Sờn lòng, cũng như “Sờn dạ”, là lòng bị nao núng, lung lay trước những khó khăn, thử thách.

Trong Điếu văn của Ngài Đầu Sư Thượng Sáng Thanh, chưởng quản Cửu Trùng Đài Nam phái đọc trước Liên Đài Đức Thượng Sanh có câu: Ðức khiêm tốn của Ðức Ngài sáng ngời như nhựt nguyệt, khi thành công không tự mãn, lúc trở ngại chẳng sờn lòng, một mực trì chí kiên tâm trước sau như nhứt.

Nhưng chẳng phải vì đó mà chúng tôi sờn lòng nản chí, dựa theo câu “Giáo đa thành oán” mà không làm tròn sứ mạng thiêng liêng.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

SỞN SƠ

Sởn sơ là vui vẻ, tươi tốt. Hoa lá sởn sơ là hoa lá tươi tắn, xinh tốt.

Thánh giáo Đức Lý Đại Tiên có dạy: Ðấng Chí Tôn đã gieo giống quý hoá rồi, thì cần phải vun trồng cho cội sởn sơ. Cội sởn sơ mới có đâm chồi trổ tược, nhành lá sum sê, hoa đơm sắc sảo, rồi mới đến trái oằn sai mà thành kết quả xứng đáng.

Khổng giáo cho đạo nhân là gốc của việc chính trị cũng như đất tốt là gốc sanh sản ra cây cỏ sởn sơ.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

Mùa thạnh trị yên mưa, lặng gió,

Vững một thời hoa cỏ sởn sơ.

(Phù Kiều Hận Sử).

 

 

SỚT

Sớt là san sẻ, từ cái nầy qua cái khác. Như: Sớt đồ ăn, chia sớt tình cảm.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: Các con thương mến nhau, dìu dắt nhau, chia vui sớt nhọc nhau, ấy là các con hiến cho Thầy một sự vui vẻ đó.

Chia sướng sớt vui ai khác hưởng,

Trêu hờn nuốt thảm một mình ta.

(Đạo Sử).

Cơn nghèo khó chia lao sớt nhọc,

Cuộc tử sanh kết tóc chẳng rời.

(Phương Tu Đại Đạo).

Ba lượt Thiên Thai cầu mở lối,

Từ đây thảm sớt với buồn chia.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

SỚT CHIA

Sớt: San sẻ, từ cái này qua cái khác. Chia: Cùng nhận chịu nỗi buồn vui.

Sớt chia, do chữ “Chia sớt”, tức là cùng chia với nhau để cùng hưởng hoặc cùng chịu.

Như: Người chung một Đạo phải sớt chia khổ nhọc.

Cực thân ấy, trẻ đừng ái ngại,

Muôn việc con Thầy lại sớt chia.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

Ba lượt Thiên Thai cầu mở lối,

Từ đây thảm sớt với buồn chia.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

SÚC SANH

Hay “Súc sinh”.

Súc: Loài cầm thú. Sanh (sinh): Sinh ra.

Súc sanh, như chữ “Súc sinh 畜 生”, là chỉ loài cầm thú, tiếng dùng để mắng nhiếc.

Súc sanh là một cõi trong Lục đạo luân hồi.

Trong Đại Thừa Chơn Giáo có câu: Không ai còn để chí, lưu tâm đến chỗ thâm huyền cao viễn, chỉ ưa sự dễ dàng, tạng thấy, tạng nghe, rồi cứ dẫy lòng nhơn dục tham mê, mới gây tội ác nặng nề, phải mang lấy sừng lông mà bị thối hoá lại súc sanh và luân hồi lục đạo.

Ngoài ra không có cô hồn, chỉ có đám ngạ quỷ súc sanh mà thôi.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

SÚC VẬT

畜 物

Súc: Loài cầm thú. Vật: Thú vật, giống vật.

Súc vật là nói chung về những con vật hoang dã hay những con vật nuôi trong nhà.

Như: Con người ỷ không lanh dùng súc vật để làm mồi để nuôi sống.

Loài súc vật làm tôi cho chủ,

Rất trung cang vẹn đủ nghĩa tình.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

SỤC SỤC

Sục sục, như chữ “Sùng sục”, là tiếng gợi tả nước, hay chất lỏng đang sôi mạnh.

Sục sục còn dùng để gợi tả khí thế mạnh mẽ của một hoạt động như không có gì ngăn cản được.

Như: Nước đang sôi sục sục, làn sóng công phẫn sục sục dâng cao.

Ao nước nóng sôi thì sục sục,

Dầm cho người rã rục thịt xương.

(Kinh Sám Hối).

Dạ nhiệt huyết dầu sôi sục sục,

Niềm Từ bi lửa đốt rần rần.

(Thơ NĐS Hương Thanh).

 

 

SUI

Sui là thông gia với nhau, tức hai gia đình có con cưới, hoặc gả cho nhau.

Như: Làm sui, ông sui, bà sui, hai nhà sui gia nhau.

Dầu rể thương còn bụng chị sui,

Để dạ ghét nặng lời hiếp đáp.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SUI GIA

Sui: Thông gia, chỉ cha mẹ nhà trai và cha mẹ nhà gái. Gia: Nhà.

Sui gia, còn gọi là “Thông gia 通 家”, là chỉ cha mẹ chàng rể và cha mẹ cô dâu, ý nói hai gia đình kết thông gia với nhau.

Mừng lo hoàn tất việc dâu con,

Mừng chỗ sui gia xử vẹn tròn.

(Thơ Thuần Đức).

Rậm rạp vườn xuân lan quế trổ,

Sui gia ngày tháng đậm tình thân.

(Thơ Vạn Năng).

 

 

SUI NGHĨA

Sui: Thông gia, chỉ cha mẹ nhà trai và cha mẹ nhà gái. Nghĩa: Tình nghĩa.

Sui nghĩa là tình nghĩa sui gia với nhau.

Như: Bắt đầu đôi trẻ thành hôn với nhau, hai thông gia phải kết chặt tình sui nghĩa.

Mâm rượu kết thân thành sui nghĩa,

Khay trầu vầy cuộc hiệp hôn nhân.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

SUY

1.- Suy là xét, nghĩ. Như: Suy trước tính sau, suy xét, con người vụng suy.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Các con hãy suy đó mà gìn trọn phẩm hạnh, vẹn giữ bước đường, chậm rãi từ năm từ hồi thì tự nhiên được lương tâm yên tịnh.

Soi lòng khá mượn kiến minh tâm,

Biết xét biết suy phải hổ thầm.

(Đạo Sử).

Dầu cài trâm sửa trắp cũng nên xem,

Suy từ việc dạy thêm từ tiếng.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Suy là ở trạng thái đang ngày một sút kém đi, trái với thịnh. Như: Nhà suy, quốc gia suy yếu, thân thể suy nhược.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Thầy dạy các con một điều là biết tranh đấu cùng Thầy. Hễ nó tấn thì mình chống, cân sức cho bằng hay là trổi hơn mới đắc thắng. Các con chịu nổi thì Ðạo thành, còn các con ngã thì Ðạo suy. Liệu lấy!

Kinh Châu thất thủ nơi Thiên định,

Khiến Hớn vận suy mới đổi thay.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðương buổi thạnh thì suy lại đến,

Suy rồi có lúc thạnh dồi hơn.

(Đạo Sử).

Lừa lọc nên hư do phép tạo,

Hưng suy chỉ định bởi đôi câu.

(Quyền Giáo Tông Giáng).

 

 

SUY CỔ NGHIỆM KIM

推 古 驗 今

Suy cổ: Tìm hiểu việc đời xưa. Nghiệm kim: Xem xét việc đời nay.

Suy cổ nghiệm kim là tìm hiểu việc đời xưa, để xem xét việc thời nay.

Như: Người thông thái là người phải biết suy cổ nghiệm kim

Ba mươi lăm năm lẫn lộn cửa quyền, hay quang tiền dụ hậu.

Để tài tình ích nước lợi dân,

Trọn một đời người vinh diệu đai cân, thường suy cổ nghiệm kim,

Đủ trí thức an bang tế thế.

(Văn Tế Tiểu Tường).

 

 

SUY ĐOÁN

推 斷

Suy: Xét, nghĩ. Đoán: Phán đoán.

Suy đoán là suy tưởng mà đoán định, tức là đoán ra những điều chưa biết căn cứ vào những điều đã biết, hay những điều đã định.

Như: Nhờ từng trải mới có thể suy đoán những việc làm mới mẽ của mình.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ông Descartes đã nói: Tư tưởng tức nhiên thâu đến mối huyền vi dưới thế nầy, con người tạo thời cải thế trước nhứt phải suy đoán, có suy đoán mới hiểu phát hình.

Vậy chư môn đệ cần phải suy đoán trong đó mà làm phương pháp tiến triển bước hành đạo của mình.

(Thánh Giáo Thanh Sơn).

 

 

SUY ĐỒI

衰 頹

Suy: Ở trạng thái ngày càng sút kém, trái với thịnh. Đồi: Đổ nát.

Suy đồi, còn đọc là “Suy tồi”, là suy tàn và đồi bại, ý chỉ tình trạng hư hỏng đổ nát.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Bức tranh xã hội thường ngày vẽ cho chúng ta thấy nhiều chuyện trớ trêu khúc mắc và chỉ cho chúng ta biết rằng đời hiện tại là đời mạt kiếp, nên cang thường đảo ngược, luân lý suy đồi.

Chúng ta biết rằng đời hiện tại là đời mạt kiếp, nên cang thường đảo ngược, luân lý suy đồi.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

SUY GẪM

Suy: Xét nghĩ. Gẫm: Ngẫm, nghĩ nhiều.

Suy gẫm là nghiền ngẫm suy xét. Như: Càng suy gẫm càng thấy thấm thía.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Thật ra cái sanh sống của nhơn loại nó có thay đổi, nó có hướng về duy vật nhiều hơn là tinh thần khoa học, nếu để tâm suy gẫm thì ta ngó thấy, nó có thể tạo hạnh phúc cho xác thịt nhơn loại mà nó làm cho tiêu huỷ cả tinh thần loài người cũng có.

Các con coi kinh điển lại, rồi thử nghĩ lại sự công bình thiêng liêng mà suy gẫm cho hay lẽ phải.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

SUY NGHĨ

Suy: Vận dụng trí óc từ cái đã biết, đi đến cái chưa biết. Nghĩ: suy xét, tưởng đến nhiều lần.

Suy nghĩ là nghĩ ngợi, tức vận dụng sự hoạt động của trí óc để tìm hiểu và giải quyết các vấn đề.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy: Thầy hỏi như vậy đặng cho các con mỗi đứa về suy nghĩ mà trả lời cho mình. Hễ trả lời phù hạp thì dễ biết Ðạo, còn ngu xuẩn cũng huờn ngu xuẩn.

Muốn suy nghĩ ra cho cạn lý,

Hễ sanh chồng tức thị sanh mình.

(Phương Tu Đại Đạo).

Gà nghe nói chẳng cần suy nghĩ,

Mỉm môi cười ngỏ ý chê bai.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

SUY NGHIỆM

推 驗

Suy: Xét, nghĩ. Nghiệm: Xem xét.

Suy nghiệm là xét nghiệm xem sự việc đúng hay sai. Suy cổ nghiệm kim là suy xét việc đời xưa để xem xét việc đời nay.

Thánh giáo của Bát Nương Diêu Trì Cung có câu: Muốn sưu tầm nguyên căn của Đạo giáo Cao Đài thì cần phải có một sự suy nghiệm rất sâu sắc, chỉ có lấy thực nghiệm đức tin thì chẳng có chi là khó mấy.

Vậy chư hiền cũng hiểu ít nhiều trong đó, nên để lòng suy nghiệm.

(Thánh Ngôn Sưu Tập).

 

 

SUY SỤP

Suy: Ở trạng thái ngày càng sút kém, trái với thịnh. Sụp: Đổ sập xuống hoàn toàn.

Suy sụp là ở tình trạng suy yếu và đi đến sự sụp đổ.

Khi nói về Đức Cao Thượng Phẩm, Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Một người yêu nước là riêng, về con người của Ngài, có cái cảm kích đối với nòi giống Việt Nam là một việc khác, chẳng khác nào như ta đã ngó thấy, một kẻ tài nhân kia nhất thời mà mình yêu ái kính phục, chẳng khác nào như ta đã ngó thấy trước mắt những người đạt đặng hạnh phúc danh vị bị suy sụp, chúng ta thương vì tội nghiệp cái tình cảm của Ngài đối lụng lại với quốc dân Việt Nam, đối lại với nước nhà của Ngài buổi nọ vậy.

Trong lòng mưu chước rất sâu,

Mai sau suy sụp đáo đầu ra chi.

(Kinh Sám Hối).

 

 

SUY TÍNH

Suy: Xét, nghĩ. Tính: Trù liệu, tính toán.

Suy tính là suy nghĩ và tính toán.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Luật và Quyền ấy chúng ta thử để trí phàm tìm hiểu lấy trí não suy tính và suy ngợi coi Ông lấy hai món ấy giao cho ta và biểu ta thay thế cho Ổng (chỉ Đức Chí Tôn) mà thiệt hiện ra căn nguyên ấy là phải do nơi nào.

Hiệp với Hội Thánh mà trù nghĩ suy tính cách thức hành động về bước đường của chư Thiên phong và đạo hữu trong buổi nầy.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

SUY TỒI

Hay “Suy đồi”.

Suy: Ở trạng thái ngày càng sút kém, trái với thịnh. Tồi: Còn đọc là “Đồi”, là đổ nát.

Suy tồi, như chữ “Suy đồi 衰 頹”, là suy tàn và đồi bại, ý chỉ tình trạng hư hỏng đổ nát.

Thánh giáo Thầy có dạy: Than ôi! Chới với cả muôn triệu giữa dòng, mà thuyền Bát Nhã độ người không mấy kẻ. Ðức thừa ít có, mà tài vô dụng chẳng thiếu chi. Phong hoá khiến suy tồi, cang thường càng loạn phép.

Xem: Suy đồi.

Than ôi! Thế tục suy tồi,

Đường Tiên thì lánh, ưa mùi vinh hoa.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

 

 

SUY TƯ

推 思

Suy: Xét, nghĩ. Tư: Nghĩ, lo, nhớ.

Suy tư là suy nghĩ sâu lắng.

Như: Vẻ mặt đầy suy tư, ngồi trầm ngâm suy tư về cuộc sống.

Sầu quảy nặng từng giờ thổn thức,

Muộn ôm đầy sáu khắc suy tư.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

SUY THẠNH

Hay “Suy thịnh”.

Suy: Ở trạng thái ngày càng sút kém, trái với thịnh. Thạnh (thịnh): Thịnh vượng, trái với chữ suy.

Suy thạnh, như chữ “Suy thịnh 衰 盛”, là nói vận mạng lúc xuống lúc lên, hay thời cuộc khi suy khi thạnh.

Như: Sự suy thạnh của con người là tuỳ theo vận mạng xấu tốt trong giai đoạn đó.

Suy thạnh nước nhà do trị loạn,

Cũng như đông mãn tới hồi xuân.

(Thanh Sơn Chơn Nhơn).

 

 

SUY THỜI

衰 時

Suy: Ở trạng thái ngày càng sút kém, trái với thịnh. Thời: Lúc, chỉ một khoảng thời gian.

Suy thời là thời vận đã suy vi, tức vận mệnh con người đã đến lúc suy kém, sắp sa sút, đi xuống dần.

Như: Con người đến lúc suy thời thì hay bịnh hoạn.

Suy thời dầu quý cũng ra hèn,

Nghiệp cả khuyên con lửa nhúm nhen.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Hưng thời còn có lúc suy thời,

Cuộc thế xem ra một cuộc chơi.

(Đạo Sử).

 

 

SUY VI

衰 微

Suy: Ở trạng thái ngày càng sút kém, trái với thịnh. Vi: Hèn mọn.

Suy vi là sa sút một cách thấp hèn, suy sụp.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Cang thường điên đảo, phong hoá suy vi, những mảng ghét lẫn nhau, giành xé nhau, mối tôn giáo phân chia, đạo nước nhà chẳng đoái, chánh tà tà chánh nan phân, còn chút hơi thở ở cõi trần mà tính tình dọc ngang chưa chịu dứt, một mai hồn xuống Diêm Ðài, khổ A Tỳ bảo sao không buộc trói.

Khi vận thới lung lăng chẳng kể,

Lúc suy vi bày lễ khẩn cầu.

(Kinh Sám Hối).

Gái xướng kỵ, trai thì du đãng,

Phá tan hoang gia sản suy vi.

(Kinh Sám Hối).

Nhơn đạo rày đã suy vi,

Chay lạt dời đổi còn chi tu hành.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

SUY XÉT

Suy: Vận dụng trí để từ cái đã biết đi đến cái chưa biết, hoặc đoán việc chưa xảy ra. Xét: Tìm hiểu, cân nhắc kỹ để nhận biết, kết luận về việc gì.

Suy xét là suy nghĩ và xem xét một cách kỹ càng.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Kể từ ngày Ðức Khổng Phu Tử giáng thế đã hai ngàn năm trăm (2.500) năm, nếu ta suy xét cao xa hơn nữa thì ta thấy Ðạo Nho phát sanh từ vua Phục Hy là tối cổ hơn hết.

Khá nghe và suy xét. Thầy ban ơn cho các con.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

SUM SÊ

Sum sê là nói cây cối có nhiều cành lá rậm rạp, tươi tốt. Như: Vườn nhãn trái sum sê.

Thánh giáo Đức Lý Thái Bạch có dạy: Ðấng Chí Tôn đã gieo giống quý hoá rồi, thì cần phải vun trồng cho cội sởn sơ. Cội sởn sơ mới có đâm chồi trổ tược, nhành lá sum sê, hoa đơm sắc sảo, rồi mới đến trái oằn sai mà thành kết quả xứng đáng.

Sum sê trước cửa quế hòe đưa,

Tuổi ấy đi tu gẫm cũng vừa.

(Đạo Sử).

Hoà ái trăm năm xin kính chúc,

Đầy sân lan quế trỗ sum sê.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

SUM SUÊ

Sum suê, như chữ “Sum sê”, là có nhiều cành lá rậm rập, tươi tốt.

Như: Cây cổ thụ trước cửa cành lá sum suê, vườn tượt phát triển sum suê.

Xem: Sum sê.

Ðào quế sum suê xuân vẽ sắc,

Hết cơn phàm tục bước Thiên đình.

(Đạo Sử).

 

 

SUM VẦY

Sum: Họp lại. Vầy: Sum họp.

Sum vầy là sau một thời gian sống xa nhau, nay tụ họp một chỗ vui vẻ với nhau.

Thánh giáo Chí Tôn đã dạy: Các con mà có sức chống chỏi thì lũ ấy phải xa và Toà Thánh hôm nay đã thành một nơi đô hội, mà các con cũng đặng sum vầy một cửa, anh lớn em nhỏ một lòng một dạ, lấy Ðạo làm gốc mà lập nên một Tiểu Thiên Ðịa, há chẳng hơn giàu sang bốn biển sao?

Sum vầy các sắc, các con nhà,

Dầu phải sang hèn cũng một Cha.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chưa hiểu rõ cùng nền Ðạo cả,

Bến Tre có thuở đặng sum vầy.

(Đạo Sử).

Năm tháng chưa phai lời ước hẹn,

Tẻ vui còn nhớ buổi sum vầy.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

SUNG MÃN

充 滿

Sung: Đầy đủ, thế vào. Mãn: Đầy.

Sung mãn là đầy đủ, tức là sinh lý ở trạng thái phát triển đầy đủ nhứt.

Như: Sức lực ông ta còn sung mãn lắm.

Lòng nhân ái ví như cái hoa của đời sống, sự sinh tồn thiết thực là tình thương tràn trề và sung mãn.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

SUNG SƯỚNG

Sung: Ở trạng thái nhiều đến mức dư thừa. Sướng: Được đầy đủ, thoả mãn như ý muốn về đời sống, trái với khổ.

Sung sướng là ở trạng thái vui vẻ, thích thú, cảm thấy được thoả mãn về vật chất hay tinh thần.

Thánh giáo Bát Nương Diêu Trì Cung có câu: Quý anh quý chị đều ăn mặc sung sướng, ngày nay đổi lại chịu phận nâu sồng, cũng khá thương đó, nhưng chưa nghèo phải học nghèo, chưa khổ phải học khổ, kế chí quân tử, cư bất cầu an, thực bất cầu bảo, chỉ cặm cụi quanh năm lo cho xã hội được no ấm thôi, biết người quên mình, đó là phận sự kẻ tu hành, đến bực tối thượng thừa cũng phải như thế, mới tròn nghĩa vụ.

Gà tự nhủ vô cùng sung sướng,

Lợi danh tình ta hưởng quanh năm.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

SUNG TÚC

充 足

Sung: Đầy đủ, thế vào. Túc: Đủ.

Sung túc là dồi dào, đầy đủ. Nhà sung túc là nhà đầy đủ, có tiền bạc dư dật.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Các con, nền Ðạo bề ngoài coi diềm dà sung túc, mà chẳng thấy rõ cái mạch bịnh trong tâm, chẳng khác chi thế Sở chế bạo Tần, ham cái mạnh bề ngoài, biết sợ cái mặt chớ chẳng rõ lòng người ra sao, mà không độ cái mạnh cấp thời đó sẽ dần dần tan như giá mà đổi ra yếu hèn thấp nhược.

Một nhà sung túc hưởng ân Thiên,

Mối Đạo từ đây đắc sở truyền.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

Cháu con sum hội yên thân lão,

Sung túc dài dòng dõi họ Cao.

(Thiên Hậu Giáng Bút).

 

 

SÙNG

Sùng là chuộng, kính trọng, tin theo. Như: Tư tưởng ông ấy sùng cổ.

Thánh giáo Thầy có câu dạy: Chỉ có xứ Việt Nam còn duy trì được sự tôn sùng tổ phụ theo tục lệ cổ truyền, mặc dầu xứ ấy chỉ biết chịu ở dưới quyền lệ thuộc từ ngày tạo lập đến giờ.

Các con chỉ biết tôn sùng Người bằng Tinh thần chớ không bằng Thánh chất.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

SÙNG BÁI

崇 拜

Sùng: Kính trọng. Bái: Lạy.

Sùng bái là tôn sùng và kính lạy.

Trong Đạo Cao Đài, đôi liễn ngoài các cổng của Toà Thánh hay các Thánh Thất địa phương là: Cao thượng Chí Tôn Đại Đạo hoà bình dân chủ mục, Đài tiền sùng bái Tam Kỳ cộng hưởng tự do quyền 高 上 至 尊 大 道 和 平 民 主 目, 臺 前 崇 拜 三 期 共 享 自 由 權, nghĩa là Đấng Chí Tôn ở trên cao hơn hết, mở ra một nền Đại Đạo, nhắm tới hoà bình và dân chủ; Sùng bái trước Đấng Cao Đài thời Tam Kỳ Phổ Độ, nhơn sanh cùng chung hưởng quyền tự do.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Nếu chẳng nhờ lấy công ấy thì ngày nay đâu có tên tuổi của nhiều tôn giáo mà cả nhơn sanh chia ra sùng bái?

Cao thượng Chí Tôn quyền chủ toạ,

Đài tiền sùng bái giữ nâu sồng.

(Thơ Hộ Pháp).

Cao cả Mẫu nghi ban phúc trạch,

Đài tiền sùng bái quyện hương nồng.

(Thơ Minh Phát).

 

 

SÙNG KÍNH

崇 敬

Sùng: Kính trọng. Kính: Tôn trọng.

Sùng kính là tôn sùng kính trọng, tức hết sức tôn kính. Như: Sùng kính ông bà tổ tiên.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bởi vậy Bần Đạo dám quả quyết: Nếu không nhờ tấm lòng thương yêu vô bờ bến của toàn con cái của Đức Chí Tôn, thì cơ quan đại cuộc của nền Đạo ngày giờ nầy chưa chắc đã thành hình thiệt tướng, để cho toàn thể dân tộc Việt Nam cùng ngoại quốc để tâm sùng kính.

Lòng công bình trên dưới ngợi khen,

Tâm chánh trực tha nhân sùng kính.

(Điếu Văn Đầu Sư).

 

 

SÙNG TU

崇 修

Sùng: Tôn kính, ngưỡng mộ. Tu: Sửa chữa.

Sùng tu là tôn sùng việc tu hành.

Sùng tu còn có nghĩa là tôn kính việc sửa chữa Thánh thất, Chùa miễu, hay tượng Phật.

Thánh giáo Thầy dạy Thái Thơ Thanh có câu: Chẳng cần chi con lập Thánh Thất của Thầy và sùng tu Phật tượng chi hết. Con hiểu bổn nguyên “Bảo Sanh” là bổn nguyên Thánh chất Thầy.

Sùng tu nên nết ấy là danh,

Cái hạnh trau tria mới đặng thành.

(Đạo Sử).

 

 

SUỐI

Suối là dòng nước tự nhiên ở miền đồi núi, chảy thường xuyên hoặc theo mùa, do nước mưa hoặc nước ngầm chảy ra.

Như: Dòng nước suối, nước suối chảy róc rách suốt ngày, dòng suối trong trẻo.

Một ngày thong thả là Tiên,

Suối trong rửa sạch não phiền trần gian.

(Đại Đạo Truy Nguyên).

Đầu gành lăng líu chim ca hát,

Kẹt núi ro re suối học đờn.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

SUỐI LỆ

Suối: Dòng nước tự nhiên ở miền đồi núi, chảy thường xuyên hoặc theo mùa, do nước mưa hoặc nước ngầm chảy ra. Lệ: Nước mắt.

Suối lệ ý nói nước mắt như dòng suối tuôn rơi xuống.

Vũng trần suối lệ đầy vơi,

Khóc cha thương mẹ rã rời buồng tim.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

SUỐI VÀNG

Suối: Dòng nước tự nhiên ở vùng đồi núi, chảy thường xuyên hoặc theo mùa, do nước mưa hay nước ngầm chảy ra ngoài mặt đất. Vàng: Màu vàng.

Suối vàng, do chữ “Hoàng tuyền 黃 泉”, để chỉ cõi Âm phủ, vì người ta thường tin rằng ở dưới Địa phủ có chín ngọn suối vàng, cũng vì thế người ta còn gọi Âm phủ là “Cửu tuyền 九 泉”, nghĩa là chín suối.

Xem: Hoàng tuyền.

Bời lời lòng những luống lo toan,

Lo đến Tổ tông chốn suối vàng.

(Đạo Sử).

Mẹ dầu phải suối vàng nhắm mắt,

Vui thấy con đáng mặt làm trai.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

SỤP

Sụp là đổ xuống, sụt xuống.

Như: Nhà bị sụp mái, vách tường đổ sụp, giặc phá hoại làm sụp cầu không qua sông được.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Một người yêu nước là riêng, về con người của Ngài, có cái cảm kích đối với nòi giống Việt Nam là một việc khác, chẳng khác nào như ta đã ngó thấy, một kẻ tài nhân kia nhất thời mà mình yêu ái kính phục, chẳng khác nào như ta đã ngó thấy trước mắt những người đạt đặng hạnh phúc danh vị bị suy sụp, chúng ta thương vì tội nghiệp cái tình cảm của Ngài đối lụng lại với quốc dân Việt Nam, đối lại với nước nhà của Ngài buổi nọ vậy.

Tuy nền Đạo mấy lần nghiêng sụp,

Bát nhã còn ẩn núp bến trần.

(Xuân Hương Giáng Bút).

 

 

SỤP ĐỔ

Sụp: Đổ sập xuống. Đổ: Ngã xuống, ập xuống.

Sụp đổ, như chữ “Sập đổ”, là đổ ập cả một khối lớn, ập mạnh xuống một cách nhanh chóng, thình lình.

Thánh giáo Đức Chí Tôn bằng Pháp văn, dạy viên Đại Uý Paul Monet người Pháp, có đoạn: Thầy chỉ định con lãnh một vai trò bạc bẽo mà nhân đạo. Con vì tâm tình cao thượng mà cứu vãn sự sụp đổ của một dân tộc đã hấp thụ một nền văn minh tối cổ.

Bom đạn nổ đền chùa sụp đổ,

Xác thây người chật lộ đầy sông.

(Nguyễn Trung Trực Giáng).

 

 

SỤT

Sụt là sa xuống, sụp xuống chỗ sâu. Như: Sụt xuống hố, mái ngói sụt, sụt hầm chông.

Sụt còn có nghĩa là lùi lại, di chuyển ngược về phía sau, giảm đi, kém hơn so với trước.

Như: Đi sụt lùi, học lực tháng nầy bị sụt hạng.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Chừng ấy thì thế giới phải tạo lập lại, sụt các con cho đến Ðịa cầu 72, đặng chờ lúc thiên niên đày vào Nghiệt Cảnh.

Đạo Trời chẳng ngoại nhơn thân,

Đạo khi trồi sụt, xa gần lại qua.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

SỤT GIÁ

Sụt: Sút, giảm đi, kém hơn so với trước. Giá: Số tiền tương đương với vật gì.

Sụt giá là tình trạng giá cả trên thị trường bị sụt xuống với mức độ mạnh.

Như: Món hàng ế ẩm phải bán sụt giá mới có thể tiêu thụ hết được.

Trên chẳng đặng nương vin khúc giữa,

Ðừng cho sụt giá bán nài hàng.

(Đạo Sử).

 

 

SỤT SÈ

Sụt: Lùi phía sau, thụt ở sâu bên trong, sút, giảm đi, kém hơn trước.

Sụt sè là e dè, ái ngại, không mạnh dạn làm.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Lý Giáo Tông có câu: Vậy các đạo hữu khá hết lòng lo lắng nền đạo cho vững vàng, hiệp ý với Thiên cơ mà bước lần lên địa vị cao thượng, chớ sụt sè ôm thói mờ hồ thì đã uổng công trình cực nhọc từ bấy lâu nay, lại thêm chẳng đặng theo Thánh ý của Thầy, là bậc Chí Tôn đã hết sức nhọc nhằn cùng sanh chúng.

Trước mặt thì làm bộ sụt sè,

Sau lưng vốn cua ngoe đi ngược.

(Phương Tu Đại Đạo).

Đỉnh chung giả cuộc trò nhân sự,

Bước đạo dìu nhau chớ sụt sè.

(Thơ Nguyệt Quang).

 

 

SỤT SÙI

Sụt sùi là từ gợi tả tiếng khóc nhỏ kéo dài, vẻ ngậm ngùi như cố giấu, cố nén nỗi đau lòng.

Sụt sùi còn là từ gợi tả cảnh trời mưa nhỏ, rả rích, kéo dài không dứt.

Như: Đêm nào cô ấy cũng nằm khóc sụt sùi, mưa gió suốt sụt sùi canh thâu.

Mặt sông Cửu khúc bao nhiêu thảm,

Thì tấc lòng đây vẫn sụt sùi.

(Tiêu Diêu Đạo Sĩ).

Cất bước ra đi lệ sụt sùi,

Kẻ Tần người Việt dạ nào nguôi.

(Thơ Hộ Pháp).

Ủ dột rừng tòng xơ xác cảnh,

Rơi tan khối ngọc sụt sùi châu.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

SƯ ĐỆ

師 弟

Sư: Thầy. Đệ: Em, chỉ học trò.

Sư đệ là thầy và trò, chỉ tình nghĩa giữa thầy trò. Như: Tình sư đệ rất khắng khít.

Thánh giáo Đức Cao Thượng Phẩm có câu: Sư trưởng của chư hiền hữu quy vị, đó là một triệu chứng cho chư hiền hữu phải sớm tính bổn phận lo cho tròn gánh nặng hai bên đạo cùng đời cho hoàn thành. Một ngày sau nầy, sư đệ sẽ hội hiệp cùng nhau.

Cái nghĩa bút nghiên ghi sắt đá,

Mối tình sư đệ nặng non sông.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

SƯ HƯ VÔ

師 虛 無

Sư: Thầy. Hư vô: Cõi trống không.

Sư hư vô là Thầy ở cõi Hư vô, chỉ Đức Chí Tôn.

Trong thời mở Đạo kỳ ba này, Đức Chí Tôn không giáng Chơn linh như những lần trước, mà chính Ngài dùng huyền diệu Thiêng liêng để giáng cơ khai Đạo.

Ngài là Đấng Thiên Đế trong Càn khôn Vũ trụ, lại là Giáo chủ của nền Đại Đạo, mà hạ mình xưng là Thầy và gọi chư tín đồ là môn đệ.

Vì vậy, Thầy của tất cả chúng sanh trong Đạo Cao Đài là Đức Chí Tôn, không có xác thân trong cõi hữu hình, nên nói là Sư hư vô.

Đạo hư vô, Sư hư vô,

Reo chuông thoát tục, phất cờ tuyệt sinh.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

SƯ PHỤ

師 父

Sư: Thầy. Phụ: Cha.

1.- Ngày xưa học trò xem thầy như cha, nên thường gọi thầy bằng sư phụ.

Như: Tài năng của anh ta đáng tôn làm sư phụ, người học trò xưa rất tôn kính sư phụ.

Vái cùng Sư Phụ linh thiêng,

Chứng lòng đệ tử đáp đền ơn xưa.

(Kinh Thế Đạo).

Sư phụ đành cỡi hạc tầm Tiên,

Hễ Trời khiến sanh ly tử biệt.

(Văn Tế Đốc Học).

2.- Trong tôn giáo Cao Đài, các tín đồ đều gọi Đức Chí Tôn bằng thầy, nên tiếng “Sư phụ” còn dùng để chỉ Đức Chí Tôn.

Các con cúi đầu trình Sư Phụ,

Gìn từ tâm khuyến nhủ tăng đồ.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

SƯ SINH

師 生

Sư: Thầy dạy học, như sư phụ, sư đệ. Sinh: Học trò, như môn sinh, học sinh.

Sư sinh là thầy và học trò. Như: Sư sinh Khổng Tử lúc châu du lục quốc thường gặp cảnh hiểm nguy.

Non nước chia hai đường xuất xử,

Sắt son chung một nghĩa sư sinh.

(Thơ Thuần Đức).

Sư sinh tái hội lòng luôn nguyện,

Nào quản dư ngôn dệt méo tròn.

(Thơ Huệ Ngàn).

 

 

SỨ ĐIỂU

使 鳥

Sứ: Người nhận mệnh lệnh sai khiến. Điểu: Chim.

Sứ điểu là chim làm sứ giả.

Do điển đời nhà Hán, Đông Phương Sóc thấy chim thanh loan (chim xanh) bay đến đậu trên nóc Hoa Điện bèn cho rằng Sứ giả của Tây Vương Mẫu đến. Do vậy, chim thanh loan được gọi là sứ điểu.

Hiện nay trên nóc Báo Ân Từ nơi Toà Thánh Tây Ninh, hay các Điện Thờ Phật Mẫu địa phương (Mẫu hoàn chỉnh) đều có đắp hình con chim thanh loan.

Đắp hình sứ điểu nóc Đền,

Trước sân cột phướn trông lên rõ ràng.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

SỨ MẠNG

Hay “Sứ mệnh”.

Sứ: Người nhận mệnh lệnh. Mạng (mệnh): Sai khiến.

Sứ mạng, như chữ “Sứ mệnh 使 命”. là người nhận lãnh một nhiệm vụ do cấp trên giao phó, tức là một sứ giả chịu mệnh lệnh của thượng cấp đi công tác.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Đạo còn biết bao nhiêu điều cần phải thực hiện để hoàn thành sứ mạng đối với nhơn sanh...

Những mong huệ trạch trên nhuần gội,

Sứ mạng làm xong giữ trọn nguyền.

(Thơ Thượng Sanh).

Sứ mạng xong rồi trở lại Tiên,

Cao Quân Tiếp Đạo trọn ba giềng.

(Thơ Hiến Pháp).

 

 

SỬ

1.- Sử là lịch sử, tức quyển sách chép những chuyện đã qua của một nước hay của một người. Như: Sử Việt Nam, sử Trung Quốc, sử viết về Hưng Đạo Vương.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Chúng ta đặng ngó thấy trên mặt địa cầu nầy đã có một quyền hạn trị thế biết bao nhiêu danh giá cao trọng, nhơn loại đã lập vị nơi mặt thế này, chúng ta chỉ đọc lại mấy trang sử không có chi lạ, là sự giàu sang của họ tạo để nơi mặt địa cầu này, đời này qua đời kia biết bao nhiêu là giai đoạn.

Thanh sử từng nêu gương nữ kiệt,

Hồng ân chi kém bạn nam nhi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trí dũng ngàn năm gương tạc để,

Nghĩa nhân muôn thuở sử bia truyền.

(Thơ Huệ Giác).

2.- Sử 使 là sai khiến, dùng. Như: Sử lệnh, sử dụng.

Trong sách Minh Tâm Bửu Giám có câu: Năng sử anh hùng vi hạ tiện, Giải giao phú quý tác cơ bần, 能 使 英 雄 為 下 賤, 解 教 富 貴 作 饑 貧, nghĩa là có thể khiến cho anh hùng ra hèn hạ, làm cho giàu sang gặp khó khăn.

Xem: Sử dụng.

Nhược thiệt, nhược hư,

Bất ngôn nhi mặc tuyên đại hoá.

Thị không, thị sắc,

Vô vi nhi dịch sử quần linh.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

SỬ DỤNG

使 用

Sử: Sai khiến, dùng. Dụng: Dùng.

Sử dụng là đem dùng vào mục đích nào đó. Như: Sử dụng vật liệu để xây cất nhà cửa.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Cái phương hướng tương lai của Đạo, trọng, khinh, nên, hư, vinh, nhục, Bần Đạo gởi trọn trong tinh thần đạo đức rồi lại giao cho quyền Vạn Linh sử dụng.

Cái Tà vì Thiên thơ sử dụng, Tà vì cơ thử thách của Tam Giáo Toà, Tà vì những quỷ xác ma hồn lẫn lộn của Quỷ vương để làm cho công phu lỡ dở.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

SỬ ĐẠO

Sử: Lịch sử, tức là những việc đã qua của một nước hay của thế giới được ghi chép lại. Đạo: Tôn giáo.

Sử Đạo, bởi chữ “Đạo Sử 道 史”, tức là lịch sử của một nền tôn giáo.

Như: Chưa đầy một trăm năm mà những tài liệu về Sử Đạo mất đi rất nhiều.

Cao Đài phẩm vị Đầu Sư vắng,

Sử Đạo hằng nêu bậc dị thường.

(Thơ Vạn Năng).

 

 

SỬ KINH

史 經

Sử: Sách ghi chép những việc đã xảy ra từ một thời đại nào cho đến thời đại nào. Kinh: Sách do Thánh hiền viết ra.

Sử kinh tức nói chung về sử sách và kinh truyện.

Như: Mỗi tôn giáo đều phải có lập một cơ quan giữ gìn Sử kinh của đạo.

Dạy gắng học sử kinh lảu thuộc,

Thấy gương hay trau chuốt lấy thân mình.

(Phương Tu Đại Đạo).

Bàn luận sử kinh từng thoả thích,

Xướng hoà thơ phú mặc vui say.

(Thơ Võ Thành Lượng).

Sử kinh đã đáp công thầy mẹ,

Mai liễu thiếu gì bạn gối chăn.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

SỬ LIỆU

史 料

Sử: Những sự kiện đã qua của một nước hay của thế giới được ghi chép lại. Liệu: Tài liệu.

Sử liệu là những tài liệu để nghiên cứu về lịch sử.

Như: Muốn viết sử một cách trung thực phải căn cứ những sử liệu khách quan, khoa học.

...có sẵn trong tay một sử liệu, có thể một ngày kia ngòi bút quý báu của các Ngài lưu lại...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

SỬ XANH

Sử: Những sự kiện đã qua của một nước hay của thế giới được ghi chép lại. Xanh: Màu xanh.

Sử xanh, dịch từ chữ “Thanh sử 青 史”.

Đời thượng cổ, người ta chép sử vào từng mảnh tre, vì cái cật tre vốn màu xanh, cho nên gọi là “Sử xanh” (thanh sử).

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ước ao cả toàn sắc dân yêu ái chơn chánh nhứt tâm nhứt đức giữ hiếu cùng Ngài, giữ trung cùng Ðạo, may ra sau nầy sẽ có Ngài ngự thì hạnh phúc ấy sẽ ghi tạc sử xanh, để ngàn đời như Ðền Lama.

Kìa từ trước phế vua phản bạn,

Gẫm bởi đâu tên choán sử xanh.

(Bát Nương Giáng Bút).

Giáo dân quy thiện làm gương mẫu,

Phẩm giá sau này tạc sử xanh.

(Thơ Phạm Mộc Bổn).

Cho hay người mất danh không mất,

Đem giọt máu đào chép sử xanh.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

SỰ

1.- Sự là việc, chuyện. Như: Sự đời, sự lạ, sự thật, gây sự, sự nghiệp, phận sự.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: Các con coi đó mà hiểu rằng, các con có sự mà thiên hạ từ tạo thế đến chừ chưa hề có chăng?

Lo đạo đức dồi lo kiếp tới,

Còn chi mong mỏi sự chơi bời.

(Đạo Sử).

Mảng gượng vui cùng đàn cháu dại,

Chỉ lời hay sự phải khuyên răn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Sự là Thờ. Như: Phụng sự, Sự vong như sự tồn.

Thánh giáo Bát Nương Diêu Trì Cung có câu: Em cho biết, phàm mỗi năm, những vị nào trong lúc ngày Xuân, biết lo phụng sự Thần, Thánh, Tiên, Phật thì công đức đặng xấp bằng hai lần ngày thường.

Hoàng Đình Kiên làm quan Thái sử,

Rửa bình tiêu phụng sự mẹ cha.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

SỰ ĐỜI

Sự: Việc, chuyện. Đời: Chỉ cõi thế gian.

Sự đời là sự việc xảy ra ở đời. Như: Sự đời éo le, sự đời không trôi chảy như ý muốn.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Các con và cả dân tộc các con, vì nơi Ðạo mà đặng đoạt đến phẩm vị cao thượng. Cái phẩm vị ấy do nơi đâu mà có? Là bởi đạo đức của các con. Ðạo đức thắng hung bạo là thường tình. Các con hằng thấy sự đời thường vậy.

Ca diêu thường ví sự đời như,

Một giấc Nam Kha tỉnh sật sừ.

(Đạo Sử).

Ôi, xấu kiếp số, thảm cho kiếp số,

Gẫm sự đời đáng hổ kiếp hồng nhan.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SỰ NGHIỆP

事 業

Sự: Việc. Nghiệp: Chỉ công nghiệp.

Làm thành công một công việc gọi là Sự nghiệp. Ngoài ra, sự nghiệp còn có nghĩa việc làm của người có ích cho bản thân hay xã hội.

Thánh giáo Thầy có câu: Nhưng than ôi! máy Thiên cơ buổi nọ, nếu phải chiều chuộng một ít vị công thần bị khép vào vòng những kẻ đã chịu sở bức, thì phải thay đổi, bôi xoá sự nghiệp non sông của những chúa tể ngu muội ấy chăng?

Tạo nên sự nghiệp thế ai màng,

Chưa đến đài mây đã đặng sang.

(Đạo Sử).

Nỗi lo lắng cho rồi sự nghiệp,

Giúp chồng con theo kịp cùng người.

(Bát Nương Giáng Bút).

Giữ của bền của đẻ ra lời,

Trọn sự nghiệp truyền đời con tới cháu.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

SỰ THẾ

事 世

Sự: Việc. Thế: Đời.

1.- Sự thế là việc đời.

Thánh giáo Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế có dạy: Ai biết đạo tức là có duyên phần, ai vô đạo tức là số chịu hình khổ luân hồi. Phải mau chơn, bằng luyến ái sự thế thì sau ăn năn rất muộn.

Tham chi sự thế lắm đua tranh,

Cái miếng đỉnh chung xúm giựt giành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Sự thế là tình hình và xu thế của sự việc.

Như: Sự thế hôm nay đã khác trước rồi, sự thế tất phải như vậy.

Lén xem sự thế ngậm ngùi,

Nguyền trông chỉ đợi phép trời dạy khuyên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Nào hay đâu sự thế vô thường,

Thầy trò chịu âm dương phân lưỡng lộ.

(Văn Tế Đốc Học).

 

 

SỰ TỒN SỰ VONG

事 存 事 亡

Sự tồn: Thờ người sống. Sự vong: Thờ người chết.

Sự tồn sự vong, do câu nói của Đức Khổng Tử: Sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn 事 死 如 事 生, 事 亡 如 事 存, nghĩa là thờ người chết như khi còn sống, thờ người mất cũng như lúc người còn.

Như vậy, “Sự tồn sự vong” có nghĩa là thờ người lúc mất như thờ người khi còn sống.

Âm dung như tại nhân hà tại,

Trọng nghĩa sự tồn thể sự vong.

(Thơ Thông Quang).

 

 

SỬA

1.- Sửa là chữa lại cho ngay, đúng, cho hay, cho đẹp. Như: Sửa nhà, sửa bài, sửa áo, sửa mình.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Vậy các con ráng làm phận sự cho hoàn toàn, rồi có Thái Bạch giáng cơ sửa luật.

Cõi Tiên mở rộng cung Ðâu Suất,

Nước Phật sửa an cảnh Niết Bàn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Đừng tức mẹ vả xiên ngắt xéo,

Ấy phép linh mẹ sửa méo ra tròn.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Sửa là sắp đặt, sắm dọn. Như: Sửa tiệc trà, sửa mối giềng, sửa phong tục, sửa mối Thiên thơ.

Thánh giáo Thầy có dạy: Nơi Thiên thơ đã có dấu ràng ràng. Các con có đi tranh luận cũng nhọc công vô ích. Kẻ hữu phần, người vô phước, tin tin, không không, cũng chẳng sửa cơ Trời đặng.

Bắt ấn trừ yêu đã tới kỳ,

Ngọc Hư định sửa mối Thiên thi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tu tề thì sửa vẹn gia đình,

Cái đạo nhơn luân chớ dể khinh.

(Đạo Sử).

Ðường mây sẵn lối gặp may duyên,

Nâng gánh xa thơ sửa mối giềng.

(Thượng Phẩm Giáng Bút).

3.- Sửa là trị. Như: Sửa tội. sửa quấy, sửa phạt.

Thánh giáo có câu: Chư đạo hữu mựa luận bàn, để phải quấy Lão cũng ra tay sửa trị được vậy, miễn là làm xong phận sự là đủ, còn nét vạy tà của ai để mặc ai.

Phải phải cùng đời, đừng sửa quấy,

Quấy nhiều tức quỷ giục mình tham.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).