TỪ NGỮ ĐIỂN CỐ CAO ĐÀI

 

 

Danh mục vần T

TA

Ta bà

Ta bà ha

Ta đây Đấng Ngọc Hoàng

Ta hồ

Ta thán

 

Tá cơ

Tá danh

Tá điền

Tá Lý

Tá phàm

Tá thế

Tá trần

 

Tà chánh

Tà dâm

Tà dương

Tà đạo

Tà gian

Tà huy

Tà khí

Tà mị

Tà nguyệt

Tà pháp

Tà quái

Tà quyền

Tà tây

Tà tâm

Tà tinh

Tà thần

Tà thần tinh quái

Tà thuyết

Tà vạy

 

TẢ

Tả

Tả ban

Tả chi hữu dực

Tả đạo

Tả đạo bàng môn

Tả khuynh

Tả Hữu Phan Quân

Tả tơi

 

TẠ

Tạ ơn

Tạ thế

 

TÁC

Tác

Tác hiệp

Tác hợp

Tác phong

Tác tệ

Tác thành

 

TẠC

Tạc

Tạc dạ ghi xương

Tạc tượng lầu chuông

Tạc thù

 

TÁCH

Tách

Tách dời

 

TAI

Tai

Tai ách

Tai bay

Tai bay họa gởi

Tai biến

Tai hại

Tai hoạ

Tai mắt

Tai nàn

Tai nạn

Tai nguy

Tai qua

Tai trời

Tai ương

 

TÁI

Tái

Tái cầu

Tái diễn

Tái hiệp

Tái kiếp

Tái lập

Tái ngộ

Tái nhậm

Tái ông mất ngựa

Tái phạm

Tái sanh

Tái tạo

Tái tê

Tái thế

Tái thệ

Tái thiết

Tái thủ quyền hành

 

TÀI

Tài

Tài ba

Tài bồi

Tài cán

Tài chánh

Tài danh

Tài đức

Tài hoa

Tài liệu

Tài lực

Tài mạo

Tài mạng ghét nhau

Tài năng

Tài sản

Tài sắc

Tài sơ

Tài tai luôn vần

Tài tình

Tài tử giai nhân

Tài thần

Tài trí

Tài vật

 

TẠI

Tại

Tại gia

Tại vị

 

TAY

Tay

Tay co

Tay nhúng chàm

Tay sai

Tay trắng

Tay trơn

 

TÀY

Tày

Tày non tợ biển

 

TAM

Tam

Tam bành

Tam bảo

Tam bửu

Tam cang

Tam công

Tam Châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên Tôn

Tam dương

Tam đa

Tam đồ

Tam độc

Tam Giáo

Tam Giáo Đài

Tam Giáo một nhà

Tam Giáo quy nguyên

Tam Giáo Toà

Tam huê tụ đỉnh

Tam hoàng

Tam hội Long Hoa

Tam hồn

Tam Kỳ

Tam Kỳ khai hiệp Thiên thi

Tam Kỳ Phổ Độ

Tam lập

Tam muội

Tam niên nhũ bộ

Tam Nương Diêu Trì Cung

Tam nguyên

Tam nguơn

Tam nghiệp

Tam Phái

Tam phân

Tam Quan

Tam quang

Tam quy

Tam quy ngũ giới

Tam sanh

Tam sinh

Tam sơn

Tam tai

Tam tài

Tam tài Ngũ khí

Tam Tạng

Tam Tông Chơn Giáo

Tam tùng

Tam tùng tứ đức

Tam Thanh

Tam Thánh ký hoà ước

Tam thập lục Động

Tam thập lục Thánh

Tam thập lục thiên

Tam thế

Tam thế Phật

Tam thiên đồ đệ

Tam thiên thế giới

Tam thừa

Tam Trấn Oai Nghiêm

Tam xích thổ

 

TÁM

Tám đấu

Tám tiết

 

TÀM

Tàm

 

TẠM

Tạm

Tạm biệt

Tạm cách

 

TAN

Tan

Tan hiệp

Tan hoang

Tan nát

Tan như giá

Tan tác

Tan tành

 

TÁN

Tán

Tán dương

Tán đởm

Tán Tiên

Tán tụng

 

TÀN

Tàn

Tàn bạo

Tàn canh

Tàn hại

Tàn y

Tàn sát

Tàn tạ

 

TẢN

Tản

Tản Đà

Tản mạn

Tản mát

 

TẠN

Tạn

Tạn mặt

 

TANG

Tang

Tang biến thương dồn

Tang bồng

Tang bồng hồ thỉ

Tang chế

Tang chủ

Tang dâu

Tang du

Tang điền thương hải

Tang hôn

Tang y

Tang lễ

Tang phục

Tang quyến

Tang tóc

Tang thương

 

TÁNG

Táng an

Táng đởm

Táng tận lương tâm

 

TÀNG

Tàng

Tàng ẩn

 

TẠNG

Tạng phủ

 

TANH

Tanh

Tanh hôi

Tanh khét

 

TÁNH

Tánh

Tánh chất

Tánh danh

Tánh hạnh

Tánh hiệp vô vi

Tánh lành

Tánh linh

Tánh linh hơn vật

Tánh mạng

Tánh mệnh song tu

Tánh phàm

Tánh tình

Tánh tục

Tánh thành

Tánh thần

Tánh thiện

Tánh thiện lương

 

TAO

Tao

Tao đàn

Tao loạn

Tao ngộ

Tao nhã

Tao nhân

Tao phùng

 

TÁO

Táo

Táo Quân

 

TÀO

Tào

Tào khang

Tào khương

Tào Quốc Cựu

Tào Tháo

 

TẢO

Tảo

Tảo đắc

Tảo hôn

Tảo mộ

Tảo tần

Tảo thanh

 

TẠO

Tạo

Tạo công

Tạo dựng

Tạo định

Tạo đoan

Tạo hoá

Tạo Hoá Huyền Thiên

Tạo Hoá Huyền Thiên Cửu Vị Nữ Phật

Tạo Hoá Huyền Thiên Diêu Trì Kim Mẫu

Tạo lập

Tạo nhà cõi Thiên

Tạo tác

Tạo thế

Tạo thiên lập địa

Tạo thời cải thế

Tạo vật

 

TẠP

Tạp

Tạp niệm

Tạp nhạp

Tạp tụng

 

TÁT

Tát

Tát biển đông

 

TẠT

Tạt

 

TÀU

Tàu

 

TẮC

Tắc

Tắc Y

 

TĂM

Tăm

Tăm cá

Tăm hơi

Tăm tối

 

TẮM

Tắm

Tắm rửa

Tắm Thánh

 

TẰM

Tằm

Tằm tơ

 

TĂNG

Tăng

Tăng chúng

Tăng đồ

Tăng gia

Tăng long đắc thọ

Tăng Sâm

Tăng tiến

 

TẶNG

Tặng phong

 

TẮT

Tắt

Tắt lửa lòng

 

TẤC

Tấc

Tấc bóng

Tấc dạ

Tấc đất ngọn rau

Tấc hơi

Tấc lòng

Tấc son

Tấc thành

 

TÂY

Tây

Tây Âu

Tây Âu khai dân khí

Tây Bá Hầu

Tây Bích Đông Lao

Tây độ

Tây phang

Tây phương

Tây phương cõi Phật

Tây phương Cực Lạc

Tây Phương Giáo Chủ

Tây Phương Phật Tổ

Tây Sơn Đạo

Tây Tử

Tây Thi

Tây trúc

Tây vức

Tây Vương Mẫu

 

TẨY

Tẩy

Tẩy nhơ

Tẩy trược

 

TÂM

Tâm

Tâm ấy toà sen

Tâm ẩn ái

Tâm bịnh

Tâm can

Tâm cơ

Tâm chánh

Tâm chí

Tâm chơn chánh

Tâm đạo

Tâm đắc

Tâm đăng

Tâm đầu

Tâm đầu ý hiệp

Tâm địa

Tâm điền

Tâm đức

Tâm giao

Tâm hạnh

Tâm hoả

Tâm hồn

Tâm hồn gió tuyết

Tâm huyết

Tâm hương

Tâm kinh

Tâm khảm

Tâm không lìa đạo

Tâm lý

Tâm linh

Tâm mạng

Tâm niệm

Tâm nguyền

Tâm phàm

Tâm pháp

Tâm sự

Tâm tang

Tâm tánh

Tâm tình

Tâm tu

Tâm tư

Tâm thành

Tâm thành chánh trực

Tâm thần

Tâm trí

Tâm truyền

Tâm ưu

Tâm viên

 

TẤM

Tấm

Tấm lòng

Tấm mẳn

Tấm son

Tấm tình

Tấm thân

 

TẦM

Tầm

Tầm bậy

Tầm chân

Tầm chơn

Tầm chương trích cú

Tầm đạo

Tầm hiền

Tầm khào

Tầm phào

Tầm phương

Tầm sư học đạo

Tầm Tiên

Tầm thường

 

TẨM

Tẩm

 

TÂN

Tân dân

Tân học

Tân kinh

Tân khổ

Tân lang

Tân luật

Tân niên

Tân nương

Tân pháp

Tân phong

Tân sử

Tân toan

Tân trào

Tân xuân

Tân xuân nguyên đán

 

TẤN

Tấn

Tấn bộ

Tấn hoá

Tấn phát

Tấn phong

Tấn Tần

Tấn thối

 

TẦN

Tần

Tần Cối

Tần lãnh

Tần nhơn

Tần quốc

Tần Tấn

Tần Thuỷ Hoàng

 

TẨN

Tẩn liệm

 

TẬN

Tận

Tận chí

Tận diệt

Tận đoạ tam đồ

Tận độ

Tận độ chúng sanh

Tận độ nhơn sanh

Tận lực

Tận nhơn lực tri thiên mạng

Tận tâm

Tận tuỵ

Tận tuyệt

Tận thế

Tận thế Long Hoa

Tận thiện tận mỹ

Tận trung

Tận trung báo quốc

 

TẦNG

Tầng

 

TẤP

Tấp

Tấp nập

 

TẬP

Tập

Tập dượt

Tập kiết nghinh tường

Tập quán

Tập rèn

Tập tành

Tập thành

Tập thể

Tập trung

 

TẤT

Tất

Tất cả

Tất đắc

Tất giao

Tất yếu

Tất viên

 

TẬT

Tật

Tật bịnh

Tật đố

Tật nguyền

 

TẤU

Tấu văn

 

TẨU

Tẩu thú

 

Té ra

 

TẺ

Tẻ vui

 

TẼ

Tẽ

 

TEO

Teo

 

TÈM

Tèm hem

 

Tê tái

 

TẾ

Tế

Tế bạt

Tế chẩn

Tế chủ

Tế chúng

Tế điện

Tế độ

Tế hiểm

Tế lễ

Tế nguy

Tế phước

Tế tự

Tế thế

Tế trợ

 

TỀ

Tề

Tề gia

Tề gia nội trợ

Tề gia trị quốc

Tề my

Tề phụ hàm oan

Tề tựu

Tề Thiên Đại Thánh

 

TỂ

Tể Tướng

 

TỆ

Tệ

Tệ đoan

Tệ hại

 

TÊN

Tên

Tên đạn

Tên tuổi

 

TI

Ti tí

 

Tí tách

Tí ti

 

TỈ

Tỉ mỉ

 

TÍA

Tía lia

 

TÍCH

Tích

Tích ác phùng ác

Tích cực

Tích đức

Tích đức tu nhân

Tích phước

Tích thiểu thành đa

Tích trữ

Tích trượng

 

TỊCH

Tịch

Tịch cốc

Tịch dương

Tịch Đạo

Tịch liêu

Tịch mịch

 

TIẾC

Tiếc

Tiếc nuối

Tiếc thương

Tiếc xuân

 

TIỆC

Tiệc

Tiệc hoa

Tiệc ngọc

 

TIÊM

Tiêm tất

 

TIỀM

Tiềm lực

Tiềm thức

 

TIỆM

Tiệm

 

TIÊN

Tiên

Tiên bang

Tiên Bồng

Tiên cảnh

Tiên cốt Phật căn

Tiên Cô

Tiên cung

Tiên cung Phật xứ

Tiên đạo

Tiên gia

Tiên giáo

Tiên giáo tâm kinh

Tiên hoàn

Tiên y

Tiên liệt

Tiên liệu

Tiên linh

Tiên long

Tiên nữ

Tiên Nương

Tiên nghiêm

Tiên Nho

Tiên Nho Thích

Tiên phàm

Tiên phong Phật cốt

Tiên tằng tổ khảo

Tiên tịch

Tiên tiến

Tiên Tử

Tiên tửu

Tiên thiên hậu thiên

Tiên Thiên khí hoá

Tiên tri

Tiên triệu

Tiên vị

Tiên xa

 

TIẾN

Tiến

Tiến bộ

Tiến cử

Tiến dẫn

Tiến hành

Tiến hoá

Tiến triển

 

TIỀN

Tiền

Tiền bạc

Tiền bối

Tiền căn

Tiền căn hậu quả

Tiền căn hậu kiếp

Tiền công

Tiền của

Tiền duyên

Tiền duyên hậu vận

Tiền đạo

Tiền định

Tiền đồ

Tiền khiên

Tiền nhân

Tiền tài

Tiền tài danh vọng

Tiền trình

 

TIỄN

Tiễn

Tiễn hành

Tiễn phu

Tiễn thăng

 

TIỆN

Tiện

Tiện nghi

Tiện tặn

Tiện tỳ

 

TIẾNG

Tiếng

Tiếng khen

Tiếng khóc roi

Tiếng muông giọng lợn

Tiếng ngọt lời ngon

Tiếng rằng

Tiếng sấm bên tai

Tiếng tăm

Tiếng tiêu khải phụng

Tiếng trống giác mê

Tiếng U minh

 

TIẾP

Tiếp

Tiếp dẫn

Tiếp Dẫn Đạo Nhơn

Tiếp diễn

Tiếp dưỡng

Tiếp Đạo

Tiếp điển

Tiếp đón

Tiếp giá

Tiếp Lễ Nhạc Quân

Tiếp nghinh

Tiếp nhận

Tiếp Pháp

Tiếp rước

Tiếp tân

Tiếp tục

Tiếp Thế

Tiếp vật

Tiếp xúc

 

TIỆP

Tiệp

 

TIẾT

Tiết

Tiết chế

Tiết giá

Tiết hạnh

Tiết kiệm

Tiết lậu

Tiết liệt

Tiết lộ

Tiết ngọc

Tiết nghĩa

Tiết phụ

Tiết sạch

Tiết tháo

Tiết trinh

 

TIÊU

Tiêu

Tiêu biểu

Tiêu cực

Tiêu chàng Sử

Tiêu chuẩn

Tiêu dao

Tiêu Diện Sĩ

Tiêu diệt

Tiêu diêu

Tiêu điều

Tiêu hao

Tiêu huỷ

Tiêu mòn

Tiêu phí

Tiêu phòng

Tiêu quả tiền khiên

Tiêu tan

Tiêu tàn

Tiêu tận

Tiêu tứ

Tiêu tức

Tiêu Tương

Tiêu thiều

Tiêu trừ

 

TIỀU

Tiều

Tiều lão

Tiều phu

Tiều tuỵ

 

TIỂU

Tiểu

Tiểu đàn

Tiểu đồng

Tiểu đăng khoa

Tiểu long nuốt ngựa

Tiểu phục

Tiểu quốc

Tiểu tường

Tiểu Thiên địa

Tiểu thiếp

Tiểu thơ

Tiểu Thừa

 

TIM

Tim

 

TÌM

Tìm

Tìm hiếu truyền hiền

Tìm kiếm

Tìm lúa khoai

Tìm tỏi

Tìm thuyền Bát Nhã lánh mê tân

Tìm vợ dâng dưa

 

TIN

Tin

Tin cậy

Tin én

Tin hồng

Tin mai

Tin nhàn

Tin nhạn

Tin nhắn

Tin sương

Tin tưởng

Tin xuân

 

TÍN

Tín

Tín đồ

Tín hữu

Tín ngưỡng

Tín nghĩa

Tín thành

 

TINH

Tinh

Tinh anh

Tinh ba

Tinh Đẩu

Tinh đời

Tinh hoa

Tinh huyết

Tinh yêu

Tinh Khí Thần

Tinh khiết

Tinh ma

Tinh quái

Tinh ranh

Tinh sạch

Tinh sương

Tinh tấn

Tinh tiến

Tinh tú

Tinh thần

Tinh thông

Tinh trung

Tinh trung hai chữ

Tinh vệ

Tinh vi

 

TÍNH

Tính

Tính nết

Tính toán

Tính thiệt so hơn

 

TÌNH

Tình

Tình ái

Tình cảnh

Tình cốt nhục

Tình chung

Tình dục

Tình duyên

Tình hình

Tình ý

Tình lang

Tình lợt duyên phai

Tình nồng

Tình nghĩa

Tình nghĩa phu thê

Tình nhơn

Tình riêng nghĩa công

Tình si

Tình sử

Tình tệ

Tình tự

Tình thâm

Tình thế

Tình thương

Tình trọng của khinh

 

TỈNH

Tỉnh

Tỉnh giấc

Tỉnh hồn

Tỉnh mộng

Tỉnh ngộ

Tỉnh say

Tỉnh thân

Tỉnh thế

Tỉnh thức

Tỉnh trí

 

TỊNH

Tịnh dục

Tịnh dưỡng

Tịnh đàn

Tịnh đế

Tịnh độ

Tịnh đường

Tịnh luyện

Tịnh niệm

Tịnh tâm

Tịnh Tâm Đài

Tịnh Tâm Xá

Tịnh toạ

Tịnh thất

Tịnh thuỷ

 

TÍT

Tít

 

TY

Ty

 

Tý thời

 

TỲ

Tỳ

Tỳ bà

Tỳ Hớn

Tỳ Văn Tỳ Vũ

Tỳ vị

 

TỶ

Tỷ

Tỷ nương

Tỷ phù

 

TỴ

Tỵ ác

Tỵ hiềm

Tỵ trần

 

TO

To gan

 

Tò mò

 

TỎ

Tỏ

Tỏ bày

Tỏ rạng

Tỏ rõ

Tỏ tường

 

TOÀ

Toà

Toà án

Toà án lương tâm

Toà báo

Toà Đạo

Toà Nội Chánh

Toà Nghiệt Cảnh

Toà phán xét

Toà sen

Toà sen chín phẩm

Toà Tam Giáo

Toà Thánh

 

TOẢ

Toả

 

TỌA

Tọa

Tọa thiền

Tọa vị

 

TOẠI

Toại

Toại chí

Toại hưởng

Toại kỳ sở nguyện

Toại Nhân

 

TOAN

Toan

Toan lo

Toan tính

 

TOÁN

Toán

Toán số

 

TOÀN

Toàn

Toàn bích

Toàn cầu

Toàn dân

Toàn năng

Toàn quyền

Toàn tri

Toàn tri năng tận thiện mỹ

Toàn vẹn

 

TÓC

Tóc

Tóc điểm hoa

Tóc hoa râm

Tóc điểm sương

Tóc râu

Tóc tơ

Tóc xanh

 

TỌC

Tọc mạch

 

TOE

Toe toét

 

TOM

Tom góp

 

TÓM

Tóm

Tóm thâu

 

TÒNG

Tòng

Tòng bá

Tòng cúc

Tòng quân

 

Tô điểm

Tô Đỗ

Tô Huệ

Tô lão

Tô mày vẽ mặt

Tô Võ

Tô Võ chăn dê

 

TỐ

Tố bần hàn

Tố tụng

 

TỔ

Tổ

Tổ án

Tổ chức

Tổ Đình

Tổ đường

Tổ hiển

Tổ Hùng Vương

Tổ nghiệp

Tổ phụ

Tổ quán

Tổ quốc

Tổ sư

Tổ tiên

Tổ tông

 

TỐC

Tốc

Tốc ký

 

TỘC

Tộc

Tộc chủng

Tộc Đạo

 

TÔI

Tôi

Tôi con

Tôi đòi

Tôi hiền chúa thánh

Tôi loàn con giặc

Tôi mọi

Tôi tớ

Tôi thần

Tôi trung

 

TỐI

Tối

Tối cao

Tối cổ

Tối linh

Tối mắt

Tối tăm

Tối thượng

Tối trọng

 

TỒI

Tồi phong

Tồi phong bại tục

Tồi tệ

 

TỘI

Tội

Tội báo

Tội căn

Tội căn báo ứng

Tội chướng

Tội hình

Tội khiên

Tội lỗi

Tội nghiệp

Tội nhơn

Tội phước

Tội quá

Tội quy ư trưởng

Tội tình

Tội tù

Tội thần

 

TÔN

Tôn

Tôn chánh

Tôn chỉ

Tôn kính

Tôn kỉnh

Tôn nghiêm

Tôn phu nhân

Tôn sùng

Tôn sư

Tôn Tẫn

Tôn ty

Tôn ty phẩm trật

Tôn ty thượng hạ

Tôn thờ

Tôn trọng

Tôn Văn

Tôn Võ Tử

 

TỐN

Tốn

Tốn của

Tốn tiền

 

TỒN

Tồn

Tồn cổ

Tồn tại

Tồn tâm

Tồn tâm dưỡng tánh

Tồn thần

Tồn vong

 

TỔN

Tổn

Tổn đức

Tổn thương

 

TÔNG

Tông

Tông Đạo

Tông Đạo Bắc Phần

Tông Đạo Tần Nhơn

Tông đồ

Tông đường

Tông môn

Tông tổ

Tông tộc

 

TỐNG

Tống biệt

Tống cựu nghinh tân

Tống chung

Tống Hoằng

Tống Hoằng chí trượng phu

Tống thâu thiên hạ

 

TỔNG

Tổng

Tổng Giám

Tổng hợp

Tổng Khậu

Tổng Lái

Tổng luận

Tổng Mũi

Tổng pháp tông

Tổng quát

Tổng thị không

Tổng Thương

 

TỐP

Tốp

 

TỐT

Tốt

Tốt đẹp

Tốt nghiệp

Tốt tươi

Tốt thể đẹp hình

 

TỘT

Tột

Tột bực

Tột phẩm

Tột lý

 

Tơ duyên

Tơ đỏ

Tơ đồng

Tơ hồng

Tơ loan

Tơ lòng

Tơ mành

Tơ nguyệt

Tơ tằm

Tơ Tần chỉ Tấn

Tơ tình

Tơ tóc

Tơ thắm

 

TỚ

Tớ

 

TỜ

Tờ

Tờ Khai Đạo

Tờ mây

Tờ mờ

 

TỢ

Tợ

 

TƠI

Tơi

Tơi bời

 

TỚI

Tới

Tới lui

 

TỞI

Tởi làm chùa

 

TỞN

Tởn

 

TU

Tu

Tu cứu Cửu Huyền Thất Tổ

Tu chỉnh

Tu chơn

Tu chơn dưỡng tánh

Tu đức

Tu hành

Tu hít

Tu học

Tu kiều bồi lộ

Tu La

Tu luyện

Tu my

Tu niệm

Tu nhân tích đức

Tu nhứt kiếp ngộ nhứt thời

Tu sĩ

Tu tâm

Tu tạo

Tu tâm dưỡng tánh

Tu tâm luyện tánh

Tu tề

Tu tề trị bình

Tu tỉnh

Tu tịnh

Tu thân

Tu trì

Tu vi

 

Tú cẩm

Tú cẩm thiêm hoa

Tú cầu

 

Tù đày

Tù giam

Tù lao

 

TỦ

Tủ

 

TỤ

Tụ

Tụ họp

Tụ hội

 

TUA

Tua

Tua thìn

 

TÚA

Túa lua

 

TUÂN

Tuân

Tuân hành

Tuân y

Tuân lịnh

Tuân lời

Tuân mạng

Tuân mạng lịnh

 

TUẤN

Tuấn

Tuấn kiệt

Tuấn tú

 

TUẦN

Tuần

Tuần cửu

Tuần hoàn

Tuần huờn

Tuần khắp xét tra

Tuần lễ

Tuần tự

 

TUẪN

Tuẫn tiết

 

TUẤT

Tuất

 

TÚC

Túc

Túc đế

Túc y túc thực

Túc thực túc y

Túc trái

 

TỤC

Tục

Tục bản

Tục kiếp

Tục lệ

Tục lệ cổ truyền

Tục luỵ

Tục lự

Tục phàm

Tục tánh

Tục tĩu

Tục tử

Tục trái

Tục trần

 

TUẾ

Tuế nguyệt

 

TÚI

Túi

Túi bụi

Túi gió trăng

Túi tham

 

TỦI

Tủi

Tủi phận

Tủi thầm

 

TỤI

Tụi

Tụi hoa

 

TUY

Tuy

Tuy vân

 

TUÝ

Tuý mộng

Tuý Sơn Vân Mộng

 

TUỲ

Tuỳ

Tuỳ cơ

Tuỳ cơ ứng biến

Tuỳ duyên

Tuỳ duyên tuỳ phận

Tuỳ Dương Đế

Tuỳ hỷ

Tuỳ nghi

Tuỳ phận tuỳ duơn

Tuỳ tiện

Tuỳ tùng

Tuỳ thân

Tuỳ thời

 

TUYÊN

Tuyên

Tuyên bố

Tuyên dương

Tuyên dương công trạng

Tuyên ngôn

 

TUYỀN

Tuyền đài

 

TUYỂN

Tuyển

Tuyển cử

Tuyển đức lọc tài

Tuyển hiền

Tuyển Hiền chọn Thánh

Tuyển phong

Tuyển phong Phật vị

Tuyển thăng

 

TUYẾT

Tuyết

Tuyết giá

Tuyết ngọc

Tuyết sương

 

TUYỆT

Tuyệt

Tuyệt bút

Tuyệt cốc

Tuyệt diệu

Tuyệt đỉnh

Tuyệt đối

Tuyệt giống dứt nòi

Tuyệt loài

Tuyệt luân

Tuyệt mạng

Tuyệt sinh

Tuyệt tự

Tuyệt thực

Tuyệt vọng

 

TÙM

Tùm lum

 

TUNG

Tung

Tung hoành

Tung nổ

 

TÚNG

Túng

Túng cùng

Túng ngặt

Túng tíu

 

TÙNG

Tùng

Tùng bách

Tùng binh

Tùng chinh

Tùng đinh

Tùng khổ

Tùng lâm

Tùng lịnh

Tùng lương

Tùng phu

Tùng phụ

Tùng phục

Tùng quân

Tùng quyền

Tùng tử

Tùng thế

Tùng thiên

 

TỤNG

Tụng

Tụng đình

Tụng kinh

Tụng niệm

Tụng Nhơn Quả

 

TUỔI

Tuổi

Tuổi hạc

Tuổi tên

Tuổi thọ

Tuổi xanh

Tuổi xuân

 

TUÔN

Tuôn

Tuôn trào

 

TUÔNG

Tuông

Tuông bờ lướt bụi

 

TUỒNG

Tuồng

Tuồng đời

Tuồng thế

 

TUỐT

Tuốt

 

Tư bổn

Tư bề

Tư cách

Tư chất

Tư dục

Tư duy

Tư hoài

Tư kỷ

Tư lịnh

Tư lộc

Tư lợi

Tư lự

Tư lương

Tư Mã

Tư Mã Ý

Tư Mắt Nguyễn Phát Trước

Tư mật

Tư nghĩa

Tư pháp

Tư phong

Tư phương

Tư sản

Tư tâm

Tư tâm ngã kiến

Tư tình

Tư tờ

Tư tưởng

Tư thông

Tư thương

Tư trợ

Tư truyền

Tư trước

Tư văn

Tư vì

Tư vị

 

TỨ

Tứ

Tứ ân

Tứ dân

Tứ Diệu Đề

Tứ đại

Tứ Đại Bộ Châu

Tứ Đại Điều Quy

Tứ đổ tường

Tứ đức

Tứ hải

Tứ hải giai huynh đệ

Tứ hải ngũ hồ

Tứ hạo

Tứ hướng

Tứ khổ

Tứ linh

Tứ Nương Diêu Trì Cung

Tứ phương

Tứ quý

Tứ sanh

Tứ tán

Tứ tung

Tứ tường

Tứ tượng

Tứ thơ

Tứ thời

Tứ Thời Nhựt Tụng

Tứ xứ

 

TỪ

Từ

Từ ái

Từ ân

Từ bi

Từ biệt

Từ bỏ

Từ cổ chí kim

Từ chối

Từ đường

Từ giã

Từ Giáp

Từ Hàng Bồ Tát

Từ hoà

Từ huệ

Từ huyên

Từ khí

Từ Lâm Tự

Từ lịnh

Từ mẫu

Từ nghiêm

Từ phụ

Từ tâm

Từ thân

Từ thiện

Từ Thứ

Từ thử

Từ Thức

Từ vinh

 

TỬ

Tử

Tử biệt

Tử biệt sinh ly

Tử Cống

Tử khí đông lai

Tử khiên

Tử ly

Tử Lộ

Tử Nha

Tử Nha trừ tinh

Tử như quy

Tử như sanh

Tử Phòng

Tử Phòng dâng dép

Tử Phòng lui binh sở hạng

Tử phủ

Tử phược thê thằng

Tử quy sanh ký

Tử sĩ

Tử sanh

Tử sanh sanh tử

Tử sanh Thiên định

Tử tế

Tử tiết

Tử tôn

Tử tức

Tử thi

Tử vong

Tử xích

 

TỰ

Tự

Tự ái

Tự biến tự liệu

Tự cải

Tự cao

Tự cổ chí kim

Tự cường

Tự chiêu kỳ hoạ

Tự chủ

Tự chuyên

Tự diệt

Tự do

Tự đại

Tự độ

Tự giác

Tự giác nhi tha giác

Tự hối

Tự kế phụng thờ

Tự kiêu

Tự lập

Tự liệu

Tự lôi trữ bính

Tự lực

Tự minh

Tự nhiên

Tự phụ

Tự quyết

Tự sự

Tự tác

Tự tác nghiệt bất khả hoại

Tự tại

Tự tánh

Tự tín

Tự tỉnh

Tự toại

Tự tôn

Tự thuật

Tự thử

Tự trọng

Tự vận

Tự vệ

Tự xử

 

TỬA

Tửa

 

TỰA

Tựa

Tựa cửa

Tựa hồ

 

TỨC

Tức

Tức cấp

Tức khắc

Tức nước bể bờ

Tức nhiên

Tức tối

Tức thị

Tức thì

Tức thời

Tức thuyết

 

TƯNG

Tưng bừng

Tưng tiu

 

TỪNG

Từng

Từng Thiên

Từng trải

 

TƯỚC

Tước

Tước cả quyền cao

Tước hàm

Tước lộc

Tước quyền

Tước trọng

Tước vị

 

TƯỢC

Tược

 

TƯƠI

Tươi

Tươi cười

Tươi tắn

Tươi thắm

 

TƯỚI

Tưới

 

TƯƠNG

Tương

Tương ái

Tương công chiết tội

Tương dưa

Tương đắc

Tương đối

Tương đương

Tương giang

Tương hiệp

Tương hội

Tương lai

Tương lân

Tương liên

Tương ngộ

Tương Như

Tương phân

Tương phùng

Tương quan

Tương tàn

Tương tàn tương sát

Tương tợ

Tương tư

Tương tử

Tương thân

Tương thân tương ái

Tương thông

Tương thuỷ

Tương tri

Tương trợ

Tương xứng

 

TƯỚNG

Tướng

Tướng hạc hình mai

Tướng quân

Tướng quốc

Tướng sĩ

Tướng soái

Tướng tá

 

TƯỜNG

Tường

Tường đông

Tường quang

Tường tận

Tường thuật

Tường vân

 

TƯỞNG

Tưởng

Tưởng niệm

Tưởng tin

Tưởng tượng

Tưởng Trời tin Phật

 

TƯỢNG

Tượng

Tượng Ngũ Chi

Tượng Phật

Tượng tang

Tượng thờ

Tượng trưng

 

TỬU

Tửu

Tửu điếm

Tửu nhập tâm di

Tửu nhục

Tửu quán

Tửu quỳnh

Tửu sắc

Tửu trà

 

TỰU

Tựu

Tựu hội

Tựu thiểu thành đa

Tựu trào

Tựu trung

Tựu vị

 

 

 

 

 

 

 

 

T

 

TA BÀ

Hay “Ta Bà thế giới”.

Ta Bà, còn đọc “Sa Bà 娑 婆”, do chữ Phạn là “Saha”, là một đại thiên thế giới, gọi là Ta Bà thế giới 娑 婆 世 界.

Theo Phật, thế giới Ta Bà là một đại thiên thế giới và địa cầu nơi con người ở chỉ là một nơi rất nhỏ bé trong thế giới Ta Bà.

Ta Bà Hán dịch là kham nhẫn 堪 忍, tức chỉ chúng sanh ở thế giới này phải nhẫn chịu nhiều điều khổ sở, phiền muộn.

1.- Ta Bà:

Nước non để bước Ta Bà,

Sô xiêm đem nhuộm màu dà gọi duyên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Ta Bà thế giới:

Ta Bà thế giới khắp đâu đâu,

Ngảnh lại trần gian lắm khổ sầu.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

TA BÀ HA

Hay “Sa Bà Ha”.

Ta Bà Ha, còn đọc là “Sa Bà Ha 娑 婆 訶”, là một câu nguyện mật ngữ ở cuối những câu Thần chú, gốc từ tiếng Phạn: “Svâhâ”, có nghĩa là thành tựu, kiết tường, tiêu tai tăng phước, viên tịch, xin được như nguyện.

Văn chung khấu hướng huệ trưởng càn khôn,

Pháp giới chúng sanh đồng đăng bỉ ngạn.

Án Dà Ra Đế Dạ Ta Bà Ha.

(Kệ Chuông).

 

 

TA ĐÂY ĐẤNG NGỌC HOÀNG

Ta đây Đấng Ngọc Hoàng”, đây là lời xác nhận của Đức Chí Tôn trong một đàn cơ năm Ất Sửu (1925) do Yết Ma Luật, trụ trì Hội Phước Tự nghi ngờ có sự dối gạt, nên xin hầu đàn để thử thách.

Như chúng ta biết, Đạo Cao Đài được khai nguyên do Thượng Đế dùng cơ bút làm trung gian để thâu nhận đệ tử và truyền bá giáo lý, giáo luật và đạo pháp xuống thế gian. Qua cơ bút Thượng Đế đã thu phục được các Đấng khai sáng ra nền Đạo, trong đó Đức Ngài chọn các vị chức sắc đại Thiên phong Hiệp Thiên Đài là Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh và chư vị Thời Quân để làm đồng tử truyền giáo.

Cơ bút được loan truyền nhanh chóng trong giới quan lại, trí thức và tu sĩ khiến cho dư luận lúc bấy giờ khá xôn xao. Nhiều người không tin tưởng đã tìm đến xin thử thách cơ bút.

Trong đó có ông Nguyễn Văn Luật, thọ phẩm Yết Ma bên Phật giáo, chủ chùa Hội Phước Tự ở làng Long Trạch, Cần Đước tiếp giáp với làng Phước Hậu, tổng Phước Điền quận Cần Giuộc.

Ngôi chùa Hội Phước Tự nguyên là một ngôi chùa cổ của gia tộc nhà họ Đặng, do không có người kế tục quản lý, nên sau đó ông Yết Ma Luật xin vào chùa trùng tu và trụ trì.

Nguyên Văn Luật sinh năm 1869, người gốc Phước Hậu trước đây đã thọ giới vị Hoà Thượng Kim ở chùa Long Huê, Gò Vấp, được ban đạo hiệu là Thích Chơn Truyền thuộc tông Lâm Tế đời thứ 39 và thọ phẩm Yết Ma.

Ngày 1 tháng 11 năm Ất Sửu (Dl. 16/12/1925) các vị Tiền khai Đại Đạo như Đức Hộ Pháp, Đức Thượng Phẩm, Thượng Sanh... được lịnh Ơn Trên dạy phải làm lễ “Vọng Thiên Câu Đạo” và sau đó Đức Cao Đài Thượng Đế bèn ban cho một bài thi như sau:

Cứ níu theo phan Đức Thượng Hoàng,

Tự nhiên tu tánh đặng bình an.

Nguyệt hoa căn cội tua xa lánh,

Vịnh lấy nhành dương hưởng đạo nhàn.

Từ đó tin đồn Đức Ngọc Hoàng và chư Thần, Thánh, Tiên, Phật thường giáng cơ cho thi tại nhà Ngài Cao Quỳnh Cư số 134 Bourdais (nay là Calmette) vang khắp mọi nơi, ông Yết Ma Luật nghe được tin nầy, Ông nghĩ rằng đây là những người trí thức bày ra chứ cơ bút nào linh hiển như vậy. Tuy nhiên, ông vẫn muốn tìm tới để thử một phen. Nên vào ngày 2 tháng 11 năm Ất Sửu, ông liền lên Sài Gòn tìm đến nhà Ông Cao Quỳnh Cư ở Bourdais để hầu đàn. Trước khi đi ông có đặt một bài thi như sau:

Ấm ức tâm tư suốt mộng tràng,

Có đâu Tiên Phật giáng trần gian.

Văn hay chữ giỏi bày thi phú,

Hoạ đặng thơ đây mới Ngọc Hoàng.

Bài thơ nầy ông niêm kín và để trong túi áo, rồi đến trước đàn cơ quỳ vái lầm thầm với Đức Thượng Đế, xin linh hiển hoạ lại bài thơ của ông.

Đức Thượng Đế bèn giáng cơ hoạ vận:

Hãy tỉnh cho mau giấc mộng tràng,

Đời cùng, Tiên Phật giáng phàm gian.

Chẳng ai hay giỏi bày thi phú,

Chính thật Ta đây Đấng Ngọc Hoàng.

Lúc đó Ông Yết Ma Luật mới hoàn toàn tin tưởng, xin nhập môn và hiến chùa Hội Phước cho Đạo Cao Đài.

Ngày 22 tháng 7 năm Bính Dần, trong buổi hầu đàn tại Hội Phước Tự, có mặt quý Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt, Ngọc Lịch Nguyệt, Thái Thơ Thanh... Đức Chí Tôn chấp nhận Yết Ma Luật cầu đạo và ông được Thiên phong Giáo Sư phái Thái.

Từ đó Hội Phước Tự được Hội Thánh tiếp nhận làm Thánh Thất và tổ chức những đàn cơ nơi đó để phổ truyền giáo lý của Đức Chí Tôn.

Giáo Sư Thái Luật Thanh quy vị ngày 19 tháng 3 năm Mậu Tý (1948) được an táng cạnh bên Thánh Thất.

Người con út tên là Nguyễn Văn Ta và người cháu của ông kế thừa thờ Đức Chí Tôn, nhưng các tượng Phật vẫn để nguyên. Sau nầy, Thánh Tượng bị hư mục mà chùa lại không liên lạc với Hội Thánh, nên Hội Phước Tự trở lại thờ Phật.

Chẳng ai hay giỏi bày thi phú,

Chính thật Ta đây Đấng Ngọc Hoàng.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

 

 

TA HỒ

嗟 乎

Ta: Tiếng than. Hồ: Lời tán thán, vậy ôi!

Ta hồ có nghĩa là than ôi, tức là lời than thở.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Đức Lý Giáo Tông có câu: Đến chừng nào chư Đạo hữu không sức kềm chế vững với lũ tà tâm, chừng chúng nó tự quyết không sửa cải, tự đem mình hiến cho tà quái, thì đó là đường cùng của Đạo, đó là ngày những nguyên nhân hữu công bỏ xác Đạo lại trọn trong cả ba mươi sáu động Quỷ vương, lại cũng là ngày cửa Phong đô mở lớn đặng chờ rước kẻ vô đạo. Ta hồ tận chúng sanh!

Lộ vô nhơn hành,

Ðiền vô nhơn canh.

Ðạo vô nhơn thức,

Ta hồ tận chúng sanh!

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TA THÁN

嗟 嘆

Ta: Tiếng than. Thán: Than.

Ta thán là những lời than thở và oán trách, tức những lời kêu than. Như: Nhân dân ta thán về tội tham nhũng.

Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn có giáng cơ dạy: Bần Đạo thấy cơ khảo đảo rất đỗi đảo điên, chỉn sợ e rồi ngày kia trong chư hiền đệ có lời ta thán.

Nước Việt Nam là Thánh Ðịa của Chí Tôn mà tránh không khỏi cái nạn ta thán, hồi hộp, sợ sệt.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

TÁ CƠ

佐 乩

Tá: Giúp, phụ giúp. Cơ: Một dụng cụ dùng để thông công cùng các Đấng Thiêng Liêng.

Tá cơ là phụ giúp trong việc phò cơ chấp bút.

Trước ngày khai nền đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn chọn những bậc tiền khai là Đức Hộ Pháp, Đức Thượng Phẩm và Đức Thượng Sanh giúp đỡ về việc phò cơ, để Ngài dạy dỗ chúng sanh và mở Đạo. Vì vậy, những vị tiền khai đó được Chí Tôn phong là “Tá Cơ Đạo Sĩ”, tức là những vị Đạo Sĩ phụ giúp Ngài về cơ bút.

Cư, phong vi Tá Cơ Tiên Hạc Ðạo Sĩ.

Tắc, phong vi Hộ Giá Tiên Ðồng Tá Cơ Ðạo Sĩ.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TÁ DANH

借 名

Hay “Tá danh Cao Đài”.

Tá: Mượn. Danh: Danh hiệu, danh xưng, tên.

Tá danh là mượn một danh xưng khác.

Khi Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế giáng cơ mở Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Ngài mượn một danh xưng khác là “Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát”, danh xưng nầy gọi là “tá danh”.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn cũng có dạy: Thích Ca Như Lai thị Ngã, dục cứu chúng sanh, tá danh Cao Ðài Ðại Bồ Tát. Nhữ tri hồ? 釋 迦 如 來 是 我, 欲 救 眾 生, 借 名 高 台, nghĩa là Thích Ca Như Lai chính là Ta vậy, muốn cứu chúng sanh, mượn danh Cao Đài.

1.- Tá danh:

Tá danh là Đức Cao Đài,

Cầm quyền Quốc Đạo bền dai đời đời.

(Thơ Bảo Pháp).

2.- Tá danh Cao Đài:

thế cứu dân trong nước lửa,

Danh truyền độ chúng khỏi hang thâm.

Cao huyền diệu lý dìu con dại,

Đài thượng xét xem thế chẳng lầm.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

 

 

TÁ ĐIỀN

借 田

Tá: Vay, mượn. Điền: Ruộng.

Tá điền là người nông dân thuê ruộng của người có nhiều ruộng đất để cày cấy, sau khi thu hoạch, tá điền phải nộp tô cho chủ ruộng.

Người chủ ruộng thường có nhiều đất đai để cho mướn nên được gọi là “Điền chủ 田 主”, hay “Chủ điền”.

Ép tá điền lễ vịt lễ gà,

Đến khi chết làm ma tu hít.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TÁ LÝ

佐 理

Tá: Phụ giúp. Lý: Sắp đặt sửa sang công việc.

Tá lý là giúp đỡ, phụ việc.

Tá lý còn là một chức quan ở Lục bộ trong triều đình, làm việc ở dưới chức chính khanh.

Trong đạo Cao Đài, Tá Lý là một chức phẩm thuộc cơ quan Công thợ trong Toà Thánh Tây Ninh do Đức Hộ Pháp lập ra.

Tá Lý có nhiệm vụ cai quản một Sở, trong đó có nhiều công thợ, và chịu dưới quyền Phó Tổng Giám, và Tổng Giám.

Tá Lý đối phẩm với Chánh Trị Sự bên hành chánh Đạo, do vậy Tá Lý nếu đủ 5 năm công nghiệp thì được thăng lên Phó Tổng Giám.

Xem: Tổng Giám.

Tá Lý đắp thành khuôn sắc xảo,

Tổ đình nổi bậc nét huy hoàng.

(Cội Đạo Bốn Mùa).

 

 

TÁ PHÀM

借 凡

Tá: Mượn. Phàm: Tầm thường, cõi phàm.

Tá phàm là mượn cõi phàm, tức chỉ các Chơn linh cao trọng giáng sanh xuống cõi trần để thực hành sứ mạng cứu giúp người đời.

Theo Thánh giáo Đức Chí Tôn cho biết, những bậc có Chơn linh cao trọng giáng sinh xuống phàm là mượn cõi phàm (tá phàm) để cứu vớt sanh linh, còn kẻ tầm thường thì bị đoạ xuống phàm để trả quả.

Thầy biết có những chơn linh, vì lãnh mạng tá phàm, mà dìu dắt các con của Thầy...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TÁ THẾ

借 世

Tá: Mượn. Thế: Đời, cõi đời.

Tá thế là mượn đời hay mượn cõi đời, nói các Đấng Thiêng Liêng mượn cõi đời (thế) để giúp ích và cứu độ nhơn sanh.

Như: Những bậc thiêng liêng cao trọng thường tá thế để cứu giúp người đời.

Cao Đài tá thế xuống phàm gian,

Bạch ngọc Huỳnh kim cũng chẳng màng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thấy cuộc tang thương buồn trẻ dại,

Nên Thầy tá thế cứu nàn cho.

(Thánh Giáo Minh Thiện).

Mỗi nơi lố bóng Cao Đài,

Mượn danh tá thế là bài chánh chung.

(Ngũ Nương Giáng Bút).

 

 

TÁ TRẦN

借 塵

Tá: Mượn. Trần: Bụi, chỉ cõi Trần.

Tá trần, đồng nghĩa với Tá thế, là mượn cõi trần gian để cứu độ nhơn sanh.

Theo Thánh giáo Đức Chí Tôn, cõi trần gian là cõi đoạ của các bậc Thánh, Tiên, nhưng muốn thực thi lòng đại từ, đại bi, các Đấng phải mượn cõi trần (tá trần) để lập công lao lớn.

Thánh giáo Đức Phật Mẫu có câu: Dầu cho đến bực La Hán còn phải tá trần hầu lập thân để mong thành chánh quả.

Phạm Công Tắc tìm nơi giáng thế,

Ông tá trần vốn để an dân.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

1.- Tà là xế bóng, tức chỉ ánh mặt trời, mặt trăng chếch hẳn về một phía, khi ngày hoặc đêm đã quá muộn, đã sắp hết, chiều tà, trăng tà, rừng tà.

Như: Trăng đã xế tà, bóng tà dương, ánh chiều tà.

Cúc rải đường qua vang tiếng nhạn,

Rừng bóng khuất vẳng hơi thung.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

nguyệt vườn thu ướm trở đông,

Nhạn về đảnh Bắc tiếng qua sông.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Tà là cong queo, không ngay thẳng, không đúng đắn về mặt đạo đức, trái với chánh.

Như: Tà pháp, có chánh ắt có tà, bị dẫn dắt đi theo đường tà đạo, lòng tà.

Quấy rồi phải biết ăn năn,

Ở cho nhân hậu chế răn lòng .

(Kinh Sám Hối).

Lẽ Chánh tự nhiên có lẽ ,

Chánh Tà hai lẽ đoán sao ra.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Tà còn có nghĩa là ma quỷ hại người.

Như: Tà quái, tà tinh, tà mị.

Thánh giáo Thầy có câu dạy: Những sự phàm tục đều là mưu kế của mị yêu quái, cốt để ngăn trở bước đường Thánh đạo của các con. Những mưu quỷ quyệt ấy do lịnh Thầy dùng để thử các con.

Ai hữu phước đặng để chân vào, kẻ vô phần phải bị yêu cám dỗ.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TÀ CHÁNH

Hay “Tà chính”.

Tà: Cong queo, không ngay thẳng. Chánh (chính): Đúng đắn, không tà vạy.

Tà chánh, như chữ “Tà chính 邪 正”, là hai thế lực thường đối kháng nhau như nước lửa, Âm dương, luôn luôn hiện hữu trong các pháp, tạo thành hai lực để lôi cuốn theo hai chiều ngược nhau, hầu thúc đẩy sự tiến hoá của vạn vật.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: Cang thường điên đảo, phong hoá suy vi, những mảng ghét lẫn nhau, giành xé nhau, mối tôn giáo phân chia, đạo nước nhà chẳng đoái, chánh tà tà chánh nan phân, còn chút hơi thở ở cõi trần mà tính tình dọc ngang chưa chịu dứt, một mai hồn xuống Diêm Ðài, khổ A Tỳ bảo sao không buộc trói.

Xem: Chánh tà.

Tà chánh thế gian không biện biệt,

Chánh tà tâm nội có đâu xa.

(Thơ Hộ Pháp).

Nên biết căn sanh để biết mình,

Biết đâu tà chánh lựa mà tin.

(Thơ Thượng Sanh).

Lưu thanh khử trược mới thuần dương,

Tà chánh, giả chơn đã tỏ tường.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

TÀ DÂM

邪 婬

Tà: Cong vạy, gian trá. Dâm: Ham muốn khoái lạc xác thịt nam nữ.

Tà dâm là ham muốn khoái lạc xác thịt nam nữ một cách bất chính, bậy bạ.

Tà dâm cũng là một trong ngũ giới cấm.

Đức Chí Tôn giải về tà dâm như sau: Phàm xác thân con người, tuy mắt phàm coi thân hình như một, chớ kỳ trung nơi bổn thân vốn một khối chất chứa vàn vàn muôn muôn sanh vật. Những sanh vật ấy cấu kết nhau mà thành khối vật chất có tánh linh, vì vật chất nuôi nấng nó cũng đều là sanh vật, tỷ như: rau cỏ, cây trái, lúa gạo, mọi lương vật đều cũng có chất sanh. Nếu không có chất sanh thì thế nào tươi tắn đặng mà chứa sự sống. Như nó khô rũ thì là nó chết, mà các con nào ăn vật khô héo bao giờ; còn như nhờ lửa mà nấu thì là phương pháp tẩy trược đó thôi, chớ sanh vật bị nấu chưa hề phải chết.

Các vật thực vào tỳ vị, lại biến ra khí, khí mới biến ra huyết. Chẳng cần nói, các con cũng biết cái chơn linh khí huyết là thế nào? Nó có thể huờn ra nhơn hình, mới có sanh sanh tử tử của kiếp nhơn loại.

Vì vậy, một giọt máu là một khối chơn linh. Như các con dâm quá độ thì sát mạng chơn linh ấy. Khi các con thoát xác, thì nó đến tại Nghiệt Cảnh Ðài mà kiện các con. Các con chẳng hề chối tội đặng. Phải giữ gìn Giới Cấm ấy cho lắm!

Vào đường tu niệm tránh tà dâm,

Đàng điếm hư danh phải hổ thầm.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

TÀ DƯƠNG

斜 陽

Tà: Xiên, bóng xế. Dương: Mặt trời.

Tà dương là trời xế chiều, mặt trời đã ngả về tây, tức là trời sắp tối.

Như: Bóng tà dương đã khuất sau đồi núi.

Diềm dà rõ nét tà dương bóng,

Ấm áp uyên ương trỗi khúc thiều.

(Lục Nương Giáng Bút).

Nhành dâu khuất, bóng đưa mờ mệch,

Cội tà dương như hết reo chiều.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TÀ ĐẠO

邪 道

Tà: Trái với chánh, tà vạy. Đạo: Tôn giáo.

Tà Đạo, đồng nghĩa với “Tà giáo 邪 教”, là một tôn giáo dẫn dắt chúng sanh đến con đường mê tín, lầm lạc.

Kinh Phật dạy rằng: Dùng sắc tướng, mà tìm Như Lai là Tà đạo.

(Giáo Lý).

 

 

TÀ GIAN

邪 奸

Tà: Trái với chánh, tà vạy. Gian: Dối trá.

Tà gian là chỉ bọn gian nịnh, xảo quyệt, dối trá, có ý gạt gẫm người.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Đức Nhàn Âm Đạo Sĩ có câu: Cơ quyết thắng, Ngọc Hư đã sẵn định, có chiến đấu mới có mưu tận diệt tà gian, mặt anh hùng giữa chốn chiến tràng, hễ nhăn mặt mất gan hào kiệt.

Nguyện lời nói biến hình bác ái,

Nguyện chí thành sửa máy tà gian.

(Kinh Thế Đạo).

Chuyển luân thế sự đưa kinh Thánh,

Trừ diệt tà gian múa bút Thần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Vui nơi đổ bác là vui khổ,

Vui thói tà gian luỵ trọn đời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

TÀ HUY

斜 輝

Tà: Xế, xiên. Huy: Ánh mặt trời.

Tà huy là bóng chiều tà, chỉ ánh sáng mặt trời đã xế bóng, mặt trời lặn sắp tối.

Như:Trong Cung Oán Ngâm Khúc, Nguyễn Gia Thiều có câu: Cầu thệ thuỷ ngồi trơ cổ độ, Quán thu phong đứng rủ tà huy.

Bích ngọc phô trương màu lá biếc,

Tà huy trang điểm cánh môi son.

(Thơ Hoàng Nguyên).

Bảng lảng tà huy nắng nhạt dần,

Bỗng đâu trời đổ giọt hồng ân.

(Thơ Chơn Tâm).

Ngơ ngác lòng quỳ chưa bến đỗ,

Không gian sầm sập bóng tà huy.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

TÀ KHÍ

邪 氣

Tà: Lệch, cong vạy, không chánh, không ngay thẳng. Khí: Chất hơi, chất khí.

Tà khí là khí không chánh, thuộc về khí ma quỷ. Tà khí còn dùng để chỉ khí độc, khí ô trược, có thể làm cho sanh bịnh.

Thánh giáo Đức Thanh Tâm có câu: Ðường có người đi nhiều mà không ai là người phải, đường đi dập dìu thiên hạ mà toàn là ma hồn quỷ xác, tâm giả dối, hạnh hung bạo, mật chứa đầy tà khí, thế nào gọi là người!

Chiêu an tả đạo, trừ tà khí,

Độ tận quần sanh, chiếu cứu tinh.

(Lý Giáo Tông Giáng).

 

 

TÀ MỊ

Tà mị có hai nghĩa:

1. Tà: Ma quỷ. Mị: A dua, nịnh nọt.

Tà mị 邪 媚 là gian tà hay dua nịnh. Chỉ những người có lòng dạ không ngay thẳng hay a dua nịnh hót.

Tà mị phàm rung rinh chất Thánh,

Mùa màng sâu phá hoại hồn kinh.

(Đạo Sử).

2. Tà: Ma quỷ. Mị: Yêu quái.

Tà mị 邪 魅, như chữ “Tà quái 邪 怪”, là chỉ bọn yêu tinh ma quái, luôn luôn bày trò giả dối để lừa gạt và hãm hại kẻ tu hành.

Thánh Ngôn Đức Chí Tôn có dạy: Các con đã từng nghe lời Thầy khuyên nhủ về chuyện ngừa Cơ Bút, thế mà một phần chẳng chịu sửa cải đường ngay cho khỏi lâm vào nẻo tà mị, đã vi lịnh Thầy mà dìu dắt các con lạc bước.

Đòi phen Mẹ luống ưu sầu,

Cũng vì tà mị dẫn đường con thương.

(Tán Tụng Công Đức).

Xa phường trục lợi xu danh,

Kiếm phương tà mị dỗ dành đứa ngu.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

TÀ NGUYỆT

斜 月

Tà: Xế, xiên. Nguyệt: Mặt trăng.

Tà nguyệt là bóng trăng xế lặn. Như: Đêm hầu tàn ánh tà nguyệt xuyên qua cửa sổ.

Tà nguyệt vườn thu ướm trở đông,

Nhạn về đảnh Bắc tiếng qua sông.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

TÀ PHÁP

邪 法

Tà: Không chánh, thuộc về tà ma quỷ quái. Pháp: Luật pháp, giáo lý, luật lệ.

Tà pháp là những giáo pháp, đạo lý hay luật lệ không ngay thẳng, không chơn thật.

Kỳ khai tạo nhứt Linh Đài,

Diệt hình tà pháp cường khai Đại Đồng.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

Diệt trừ tà pháp ơn Trên định,

Biến chuyển càn khôn Đạo mới thành.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

TÀ QUÁI

邪 怪

Tà: Ma quỷ. Quái: Yêu quái.

Tà quái, cũng như “Tà mị 邪 魅”, hay “Tà tinh 邪 精”, chỉ bọn tinh ma quỷ quái, luôn luôn phá hoại người tu hành và gian dối, lừa gạt người lương thiện.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có dạy: Khắp trong nhân loại trên mặt địa cầu nầy, phần đông vì kính thờ Tà quái, mà Tà quái vốn chứa sự chết, thì tức nhiên chúng nó ở trong vòng sự chết là phải tiêu diệt, thì bao giờ biết đặng sự hằng sống là gì.

Tà quái sau lưng đeo mắt vẻ,

Ðánh thoi bổn Ðạo cũng làm thinh.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

TÀ QUYỀN

邪 權

Tà: Thuộc về tà ma quỷ quái. Quyền: Quyền lực, quyền hành.

Tà quyền là quyền hành của bọn tà quái, tức quyền lực của quỷ vương.

Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy: Thấy vậy chẳng đành, Thầy phải sửa cải Thiên thơ mà để cho mỗi đứa được có ngày giờ và thế lực mà dìu dắt nhau cho tròn phận sự, nhưng rốt lại, tà quyền cũng lấn lướt chất Thánh, bước tục dẫn chơn phàm, Thầy rất đau lòng mà dòm thấy con cái líu xíu bị lầm vào đường tà quái.

Quyết dẹp tà quyền xây đảnh Thánh,

Nên binh chánh nghĩa múa gươm Thần.

(Thơ Hộ Pháp).

Lướt khổ đã mong hồi cựu vị,

Gieo nhân há để vướng tà quyền.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

TÀ TÂY

Tà: Lệch, cong vạy, trái với chánh, thuộc về ma quái. Tây: Riêng tư.

Tà tây là gian dối và thiên vị, ý muốn nói lòng tà vạy chỉ lo riêng cho mình.

Hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có viết trong quyển Thiên Đạo như sau: Thành thật với mọi người, dầu trong đạo hay ngoài đời cũng vậy, trong tất cả hành vi động tác, nhứt nhứt đều ngay thẳng thật thà; không một lời giả dối, không một ý tà tây; xử sự chẳng mưu mô lừa đảo.

Gìn lòng chơn chánh chớ tà tây,

Thưởng phạt về sau cũng hội này.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ưa nghe đạo đức ghét tà tây,

Ngưỡng mộ thì nay đã gặp Thầy.

(Đạo Sử).

 

 

TÀ TÂM

邪 心

Tà: Lệch, cong vạy, trái với chánh, thuộc về ma quái. Tâm: Cái tâm.

Tà tâm chỉ cái tâm gian tà, tức là cái lòng gian xảo, ác độc.

Thánh giáo Thầy dạy: Kẻ vô phước dụng tà tâm làm một món lợi riêng, quên cả điều hành phạt đã kế bên mình, chới với cả muôn triệu giữa dòng, mà chẳng chịu sớm tự hối đặng gỡ lần mối hoạ sau.

Nên chiều mặt thế mới nên danh,

Ðừng để tà tâm đến dỗ dành.

(Đạo Sử).

Khai khiếu huyền linh diệt tánh phàm,

Pháp điều khử mị dẹp tà tâm.

(Khai Pháp Giáng Bút).

 

 

TÀ TINH

邪 精

Tà: Thuộc về ma quái. Tinh: Yêu tinh.

Tà tinh là tà ma và yêu tinh, chỉ đám ma quái luôn thử thách hay cám dỗ người tu hành.

Như: Người tu hành phải chịu thử thách của lũ tà tinh quỷ quái,

Xem: Tà quái.

Xê bóng Đạo hơn xê tâm tánh,

Lánh tà tinh dục cảnh nên thuyền.

(Ngũ Nương Giáng Bút).

Nương huệ kiếm đoạn vòng oan nghiệt,

Thủ thanh long đặng diệt tà tinh.

(Lục Nương Giáng Bút).

Chơn linh gẫm cũng thật linh thay!

Cái sắc tà tinh phép quá tài.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

TÀ THẦN

邪 神

Tà: Tà ma, không chánh. Thần: Đấng linh thiêng, hoặc những bậc công thần được vua phong, có sắc chỉ, có đền miếu và được phụng cúng.

Tà thần là không phải là chánh thần, thuộc quỷ thần, chuyên làm những điều bất chánh.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Ấy vậy, Ðạo là vật rất hữu ích, như giáp hữu ích cho thân các con. Nếu các con bỏ giáp thì thân các con ra trần lỗ, còn bỏ Ðạo thì các con ở dưới phép tà thần.

Khuyên em bước tận trường thi,

Khuyên em dùng phép sợ chi tà thần.

(Bát Nương Giáng Bút).

Diệt khối tà thần trừ ảo vọng,

Ban ân Thánh thể phục chơn truyền.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

TÀ THẦN TINH QUÁI

邪 神 精 怪

Tà thần: Không phải là chánh thần, thuộc tả phái của quỷ vương. Tinh quái: Yêu tinh quỷ quái.

Tà thần tinh quái là những vị thần thuộc tả phái, tức phái của tà ma quỷ quái.

Thánh giáo Thầy có dạy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển như sau: Ðạo cốt để cho kẻ hữu duyên. Những kẻ nào đã làm môn đệ của Tà thần tinh quái thì không thế gì làm môn đệ Thầy đặng.

Ma thịt quỷ hồn chôn xác chết,

Tà thần tinh quái nuốt xương tan.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

TÀ THUYẾT

邪 說

Tà: Bất chính, không ngay thẳng. Thuyết: Học thuyết, tức một chủ trương đem ra giải thích cho người khác rõ.

Tà thuyết là một học thuyết tà vạy, bất chính.

Đức Chí Tôn giáng cơ truyền chơn lý tại Việt Nam, bằng Pháp Văn có câu: Nơi xứ nầy, dân tình rất thuần hậu và ôn hoà, nên Thầy đến cũng như Chúa Cứu Thế đã đến với chúng con để bài trừ Tà thuyết và truyền bá Chơn đạo trên toàn cầu.

Chơn truyền hồi phục tiêu tà thuyết,

Tam Giáo Ngũ Chi giữ thực hành.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

TÀ VẠY

Tà: Bất chính, không ngay thẳng. Vạy: Cong vạy.

Tà vạy, như chữ “Tà nguỵ 邪 偽”, là gian xảo, dối trá không ngay thẳng.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Lý Giáo Tông dạy về “Tà vạy” như sau: Muốn lập thành tất phải có điều nghiêm chánh thưởng phạt. Có thưởng mới giục lòng kẻ có công, có phạt mới răn đặng lòng tà vạy.

Dữ đoạ hiền thăng ấy luật Trời,

Lánh đường tà vạy hưởng an vui.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

TẢ

1.- Tả là phía bên trái, đối với hữu là bên phải. Như: Tả hữu, tả phái, khuynh tả.

Thánh giáo Thầy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Chấp hai tay lạy là tại sao? Tả là nhựt, hữu là nguyệt, vị chi âm dương. Âm dương hiệp nhứt phát khởi Càn khôn, sanh sanh hoá hoá, tức là Ðạo.

Chỉ đãi thời lai quang minh tụ,

Tả ban thiểu đức, hữu ban mang.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Kìa tả hữu mắt trông hiển hiện,

Hai khán đài đối diện rất xinh.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

2.- Tả là viết, chép ra.

Tả còn có nghĩa là vẽ ra, tức diễn đạt bằng ngôn ngữ để người đọc có thể hình dung được một cách rõ nét.

Như: Tả cảnh, tả chân, tả tình.

Nhớ Mẹ già cung xanh đợi trẻ,

Tả tâm thơ thỏ thẻ bên con.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Bồng đảo còn mơ khi bút múa,

Tả lòng thế sự vẽ giang san.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tả nỗi thảm thêm đau mấy đoạn,

Mượn bút hoa đắp cạn thành sầu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TẢ BAN

左 班

Tả: Trái, đối với hữu là phải, không chính đáng. Ban: Hạng, bậc, bày ra có từng thứ.

Tả ban là hạng, bậc bên tả, hay cánh bên tả (trái).

Như: Nơi chánh điện của Đình Thần hai bên là tả ban và hữu ban.

Chỉ đãi thời lai quang minh tụ,

Tả ban thiểu đức, hữu ban mang.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

TẢ CHI HỮU DỰC

左 支 右 翼

Tả: Bên trái, đối với hữu là bên phải. Chi: Cành, nhánh, chân, tay. Hữu: Bên mặt (phải). Dực: Cánh chim.

Tả chi hữu dực ý nói hai bộ phận bên trái, bên phải dùng để trợ giúp cho con người.

Như: Hai đạo quân tả chi hữu dực dựa thế liên hoàn mà gìn giữ cho nhau.

Đã là “Tả Chi Hữu Dực” của Đạo Trời thì hai cơ thể “Bí truyền” và “Phổ hoá” phải liên hoà tương tiếp, tương trợ lấy nhau...

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

TẢ ĐẠO

左 道

Tả: Tay trái, ý chỉ sự bất chánh. Đạo: Con đường, hay tôn giáo.

Tả đạo là đường lối bất chính dẫn tới nẻo tà vạy, hoặc chỉ tôn giáo không ngay chính, bàng môn.

Trong lời thề trước Bàn Ngũ Lôi của hai vị Đầu Sư Thượng Trung Nhựt và Ngọc Lịch Nguyệt có câu: Thề Hoàng Thiên Hậu Thổ trước bửu pháp Ngũ Lôi rằng làm trọn Thiên đạo mà dìu dắt cả mấy em chúng tôi đều là môn đệ của Cao Ðài Ngọc Ðế, nhứt nhứt do lịnh Thầy phân định, chẳng dám chuyên quyền mà lập thành tả đạo, như ngày sau hữu tội thì thề có Ngũ Lôi tru diệt.

Xem: Tả đạo bàng môn.

Mượn Di Đà mà làm mối lợi danh,

Làm Chánh giáo đã đành thành Tả đạo.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

Chiêu an tả đạo, trừ tà khí,

Độ tận quần sanh, chiếu cứu tinh.

(Lý Giáo Tông Giáng).

 

 

TẢ ĐẠO BÀNG MÔN

左 道 傍 門

Tả Ðạo: Ðạo không đúng đắn. Bàng Môn: Cửa bên hông chớ không phải cửa chánh, ý nói không phải Ðạo Chánh.

Tả đạo Bàng môn là chỉ các tôn giáo không chơn chánh, đưa người tu đến chỗ lầm lạc, không đắc thành Chánh quả, không giải thoát khỏi luân hồi.

Tả đạo Bàng môn thuộc khoản thứ 3 Đệ nhứt hình trong Thập Hình của Lý Giáo Tông. Ai phạm phải sẽ bị tội trục xuất.

Pháp Chánh Truyền Chú Giải có câu: Kẻ ngoại giáo, tả đạo bàng môn, người vô đạo, riêng nắm quyền hành thế tục, nghịch cùng chơn lý chánh truyền; mượn thế lực phàm tục mà diệt lành dưỡng dữ, mê hoặc nhơn sanh, lưu luyến trần thế.

Phép hành đạo Phật giáo dường như ra sái hết, tương tợ như gần biến Tả Ðạo Bàng Môn.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TẢ KHUYNH

左 傾

Tả: Trái, đối với hữu (mặt), không chính đáng. Khuynh: Nghiêng về.

Tả khuynh là khuynh hướng về tả phái (phái không chính đáng).

Như: Những tôn giáo hướng về tả khuynh thường đưa con người đến chỗ lầm lạc.

Hữu lệch chừng ly sai chánh giáo,

Tả khuynh nửa thí biến bàng môn.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

TẢ HỮU PHAN QUÂN

左 右 幡 君

Tả: Bên trái. Hữu: Bên phải. Phan: Cây phướn. Quân: Người.

Tả Hữu Phan Quân là hai vị chức sắc đặc biệt trong đạo Cao Đài, có nhiệm vụ cầm phướn hướng dẫn các chức sắc vào Đền Thánh bái lễ Đức Chí Tôn.

Tả Phan Quân là vị chức sắc cầm phướn Thượng Sanh đứng bên tay trái của Đức Thượng Sanh khi chầu lễ Đức Chí Tôn.

Còn Hữu Phan Quân là vị chức sắc cầm phướn Thượng Phẩm, đứng bên tay mặt của Đức Thượng Phẩm.

Tả Hữu Phan Quân là hai vị chức sắc không thuộc Hiệp Thiên Đài và đối phẩm với Giáo Sư bên Cửu Trùng Đài.

Đạo phục của Tả Hữu Phan Quân giống hệt với Hộ Đàn Pháp Quân, nhưng hai vị Phan Quân không có buộc dây Sắc Lịnh ở lưng, nghĩa là mặc áo tràng trắng như Thời Quân, đội Nhựt Nguyệt Mạo, lưng không thắt dây Sắc lịnh như Hộ Đàn Pháp Quân.

Trong Đàn cơ tại Giáo Tông Đường, đêm 19 tháng 6 năm Bính Ngọ (Dl. 5/8/1966). Phò loan: Hiến Pháp - Khai Đạo. Tái cầu lúc 21 giờ 45, Đức Hộ Pháp giáng cơ dạy Hộ Đàn Pháp Quân và Tả Hữu Phan Quân không phải là chức sắc thuộc Hiệp Thiên Đài. Đoạn Thánh giáo được chép lại như sau:

Đức Thượng Sanh bạch: – Hội Thánh Hiệp Thiên Đài còn thắc mắc về trường hợp của ba vị: Hộ Đàn Pháp Quân, Hữu Phan Quân và Tả Phan Quân về việc sau đây, cầu xin Đức Ngài chỉ giáo.

a). Trong các phiên nhóm của Hội Thánh HTĐ để giải quyết về chánh trị đạo, ba vị trên đây có được mời dự nhóm và bàn cãi hay không?

– Mấy vị đó không phải là Chức sắc Hiệp Thiên Đài nên miễn mời hội.

b). Khi sắp hàng vào Nội Nghi đảnh lễ Đức Chí Tôn, ba vị nầy phải giữ trật tự như thế nào? Hiện giờ chỉ có từ phẩm Cải Trạng trở xuống Luật Sự, sau nầy có phẩm Chưởng Ấn và Tiếp Dẫn Đạo Nhơn thì thứ tự như thế nào?

– Dầu có hai phẩm ấy hay không, Hộ Đàn Pháp Quân và Tả Hữu Phan Quân cũng cứ ngoại vòng Chức sắc Hiệp Thiên Đài, nên khi đảnh lễ, xướng: Chức sắc Hiệp Thiên Đài nhập nội nghi, lễ bái rồi, phải xướng một lần nữa: Hộ Đàn Pháp Quân và Tả Hữu Phan Quân nhập nội nghi.

Như vậy đúng trật tự.

c). Khi thiết lễ bồi yến Hội Yến Diêu Trì Cung, ba vị nầy có quyền dự hay không?

– Tất cả bổn đạo đều nhớ Bần Đạo không bao giờ cho việc ấy.

Sau đây là sơ lượt về tiểu sử của Tả Phan Quân và Hữu Phan Quân.

TẢ PHAN QUÂN

Tả Phan Quân là vị chức sắc cầm cây phướn Thượng Sanh, đứng bên trái Thượng Sanh, được Đức Chí Tôn phong cho ông Trang Văn Giáo năm 1927.

Trang Văn Giáo, sanh ngày 27 tháng chạp Kỷ Hợi (1899) tại xã Long Thành, Tổng Hàm Ninh, tỉnh Tây Ninh. Thân phụ ông là Trang Văn Keo (Hương Cả) và thân mẫu là bà Bùi Thị Khuê.

Hiền nội của ông là Nguyễn Thị Thơm, hai ông bà có bảy người con gồm sáu người con trai và một người gái.

Thời niên thiếu ông theo học quốc ngữ tại các trường thuộc tỉnh Tây Ninh. Sau khi tốt nghiệp Tiểu học, ông ra đời tìm việc mưu sinh, ngoài ra, ông cũng có tham gia nhiều chức vụ trong ban Hội Tề từ 1921 đến 1927.

Theo quyển Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, trong một Đàn cơ ngày 21 tháng 10 năm Bính Dần (Dl. 26/11/1926), ông Trang Văn Giáo có đến hầu đàn. Đức Chí tôn thâu nhận ông làm Môn đệ và cho một bài thi như sau:

Làm song ngăn đón lũ gian hùng,

Mạnh yếu đánh thoi cũng gọi hùng.

Quyết lập thân danh tua sửa lưỡi,

Nói hiền kẻ dữ nịnh thành trung.

Thâu

Khi Hội Thánh Cao Đài tổ chức Lễ Khai Đạo tại chùa Gò Kén, với tinh thần hăng hái, đầy nhiệt huyết sẵn có, ông đã giúp ích một cách đắc lực trong buổi khai đàn mở Đạo năm 1926. Ông theo lịnh Đức Quyền Giáo Tông để giúp đỡ cho Đạo những nhu cầu và các thứ vật dụng cần thiết cho lễ và nhạc...

Do đó, ông được Đức Quyền Giáo Tông tín nhiệm, giao cho việc hầu bút, hoặc chép những Thánh giáo mà Đức Chí Tôn hay các Đấng giáng cho khi thâu nhận môn đồ trong các đàn cơ phổ độ lúc sơ khai.

Ngày 18 tháng chạp năm Đinh Mão (1927) ông thọ phẩm Tả Phan Quân tại chùa Gò Kén.

Từ đó ông lại càng tận tụy với công việc và hy sinh với Đạo hơn, ông theo Đức Thượng Phẩm, góp công vào việc khai phá rừng hoang, xây dựng Toà Thánh để tạo thành vùng Thánh địa ngày nay. Ông thường ở bên cạnh mấy vị tiền bối của Đạo như Đức Quyền Giáo Tông, Đức Cao Thượng Phẩm và Đức Hộ Pháp để phục vụ cho Đạo. Nền Đạo đã trải qua nhiều cuộc biến thiên, thăng trầm, nhưng trong lòng ông vẫn giữ một dạ sắc son, trung thành với Đạo. Hội Thánh đã gặp phải những nghịch cảnh, khó khăn nguy hiểm, ông đều có mặt để giúp đỡ hoặc chia đau sớt thảm.

Năm 1946, Đức Hộ Pháp hồi loan, sau hơn 5 năm đồ lưu nơi Hải ngoại, ông xin vào phục vụ nơi văn phòng Toà Đạo, tức Bộ Pháp Chánh bây giờ. Ông là người rất siêng năng cúng kính, mặc dù ban ngày phải làm việc mệt nhọc nhưng không bao giờ ông bỏ sót một thời cúng khuya nào cả. Ông là người làm việc rất tích cực, lúc nào cũng miệt mài với nhiệm vụ, cho đến lúc tuổi già sức yếu, ông mới vắng mặt ở văn phòng làm việc và trút hơi thở cuối cùng vào lúc 22 giờ đêm, mùng 2 tháng 5 năm Bính Thìn (Dl. 30/5/1976), hưởng thọ 78 tuổi.

HỮU PHAN QUÂN

Hữu Phan Quân là vị chức sắc cầm cây phướn Thượng Phẩm, đứng bên tay mặt Đức Thượng Phẩm. Chức Hữu Phan Quân được Lý Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ phong cho ông Lê Văn Thoại năm 1965.

Ông Lê Văn Thoại sinh năm Kỷ Mùi (1919) tại xã Hoà An, quận Cao Lãnh, tỉnh Sađéc, nay là Thị xã Kiến Phong, tỉnh Đồng Tháp.

Xuất thân từ một gia đình có đạo Cao Đài, được sự dạy dỗ của song thân nên ông đã giác ngộ đạo pháp rất sớm, từ năm 12 tuổi, ông được may duyên về Toà Thánh Tây Ninh làm công quả, tức vào khoảng năm 1931.

Tuy chưa đủ tuổi nhập môn, nhưng ông Thoại cầu xin Hội Thánh được nhập môn vào đạo. Vào ngày rằm tháng 7 năm Tân Mùi (Dl.28/08/1931), Đức Hộ-Pháp cho phép ông nhập môn, nghĩa là Ngài đã ban đặc ân cho ông thêm 9 tuổi, để ông được nhập môn theo luật Đạo đã quy định.

Lớn lên Lê Văn Thoại là một Thanh niên đầy nhiệt huyết, ông mong muốn phụng sự cho Đạo và giúp ích đất nước Việt Nam, nên ông đã gia nhập vào đội “Nội Ứng Nghĩa Binh”, do Trần Quang Vinh (tức Giáo-Sư Thượng Vinh Thanh) thành lập vào đầu năm 1943, hợp tác với quân đội Nhựt đảo chánh Thực dân Pháp.

Sau ngày đảo chánh Pháp thành công, Ngài Lê Văn Thoại trở về tiếp tục đời sống tu hành, lập công tại Toà Thánh Tây Ninh.

Khi tham gia vào quân đội Cao Đài với cấp bậc sau cùng là Thiếu Tá cho đến khi quân đội Cao Đài được quốc gia hóa dưới thời đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa, vào khoảng năm 1956.

Ông Lê Văn Thoại là người tình nguyện nhận lịnh của Đức Hộ Pháp, hướng dẫn ba ông nữa là Kỳ, Đại, Lợi đem lá cờ Nhan Uyên (Bạch kỳ Nhan Uyên) ra cắm giữa cầu Hiền Lương (Bến Hải), thuộc vĩ tuyến 17 để phân ranh hai miền Nam Bắc.

Vào đêm mùng 4 tháng Giêng năm Ất Mùi (Dl.15/02/1956), Đức Hộ Pháp quyết định tự lưu vong sang Miên quốc, ông Lê Văn Thoại cũng tình nguyện xin theo hầu, Đức Ngài cho phép nên ông cũng được rời khỏi Hộ Pháp Đường đi trên chuyến xe đó.

Trong Đàn cơ tái cầu vào ngày 17 tháng 10 năm Ất Tỵ (Dl. 09/11/1965), Đức Lý Giáo Tông, Nhứt Trấn Oai Nghiêm, đã phong cho Ngài Lê Văn Thoại phẩm Hữu Phan Quân.

Khi Cơ Quan Phát Thanh Phổ Thông Giáo Lý được thành lập, Hội Thánh bổ Ngài Khai Đạo Hiệp Thiên Đài làm Giám Đốc Cơ quan, còn ông Hữu Phan Quân Lê Văn Thoại làm Phó Giám Đốc để điều hành mọi việc như xây dựng cơ sở, quản lý máy móc, tuyển mộ chuyên viên, nhứt là kiểm tra những bài vở phát thanh hàng tuần của cơ quan.

Tuy rất bận rộn công việc hằng ngày, nhưng ông Lê Văn Thoại là người rất siêng năng cúng kính, hằng ngày ông thường xuyên đến Toà Thánh cúng Tứ Thời, cho đến khi tuổi già sức yếu, ông không còn đi dứng được nhiều nữa mới giảm dần các thời cúng. Vào cuối tháng 3, thình lình ông phát bệnh, qua đến ngày 25 tháng 6 năm Đinh Hợi (Dl. 07/08/2007), vào lúc 11 giờ 30 thì ông quy liễu, hưởng thọ 89 tuổi (tuổi trong giấy là 98 tuổi).

Buổi sinh thời ông Lê Văn Thoại có làm rất nhiều bài thơ, ký với bút hiệu là Tử Trước và Chánh Công. Sau đây xin chép lại vài bài thơ của ông.

 

 

AN PHẬN

Chẳng phải Hiệp Thiên, chẳng Cửu Trùng,

Tu hành lập chí đức trung dung.

Tứ thời lễ bái tâm minh định,

Ngũ giới Tam quy tánh huệ tùng.

Khổ hạnh đường dài khiêm niệm khiết,

Lìa xa sắc tướng Nhẫn hoà Cung

May duyên nay gặp kỳ Ân tứ,

Một kiếp bồi công kết quả chung.

Tử Trước

(15/04/Nhâm Tuất, 1982).

 

 

 

CÁI KHÔNG

Từ thuở chào đời vẫn cái không!

Lớn lên danh lợi lại đèo bồng.

Kinh doanh sự nghiệp chưa bao thỏa,

Vợ đẹp nhà cao thẩm mỹ thông.

Bọc rắn, ôm hùm chưa tỉnh ngộ,

Diệt thân hại trí gọi là khôn.

Cho hay thế sự ba canh mộng,

Của trục phù du cứ mãi chồng.

Tử Trước

 

Hộ Đàn Pháp Quân, Tả Hữu Phan Quân nhập nội nghi.

(Nghi Tiết Cúng Đàn).

 

 

TẢ TƠI

Tả: Ở trạng thái không còn kết thành khối nữa, mà rời ra thành những mảnh vụn nhỏ. Tơi: Bị rời ra thành những hạt hoặc sợi nhỏ, không còn dính vào với nhau nữa.

Tả tơi là rách rưới tan nát, tức ở tình trạng bị rách bị rời ra thành nhiều mảnh nhỏ, trông rất thảm hại.

Như: Bị đòn tả tơi, quần áo bị rách tả tơi.

Chanh ranh làm rộn đến người mời,

Chẳng biết phận mình chịu tả tơi.

(Đạo Sử).

Còn thân thiếp chịu khốn nàn,

Tả tơi nỗi mẹ, truồng trần nỗi con.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TẠ ƠN

Hay “Tạ ân”.

Tạ: Bái nhận cái người ta cho. Ơn (ân): Ơn nghĩa.

Tạ ơn, như chữ “Tạ ân 謝 恩”, là cảm cái ơn của kẻ khác làm cho mình, mà có lời bày tỏ ra.

Trong Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Chư Nhu cầu Ðạo thượng sớ. Chư Môn Ðệ bình thân. Kiệt lạy Thầy tạ ơn Thiên Phong Giáo Hữu.

Cảm tạ ơn trên đầu dìu đỡ,

Từ khi đi khi trở lộn về.

(Kinh Thế Đạo).

Muôn tạ ơn lòng bạn lão mai,

Mừng cho đôi trẻ đẹp duyên hài.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

TẠ THẾ

謝 世

Tạ: Từ tạ đi. Thế: Thế gian, chỉ cõi đời.

Tạ thế là từ tạ cõi thế gian mà ra đi, ý chỉ sự chết. Tạ thế, đồng nghĩa với “Tỵ thế 避 世” là lánh đời.

Như: Người mẹ tạ thế vào lúc anh ấy mới mười tuổi.

Đổng Vĩnh nghèo cơn cha tạ thế,

Vay tiền chôn nào nệ bán mình.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

TÁC

1.- Tác là vóc dáng, tướng tá, dáng vẻ bề ngoài của một người.

Như: Tác anh ta cao ráo và mập mạp, tác của nàng thon nhỏ, yểu điệu.

Tác nữ nhi chỉ đặng một tuần,

Cơn tốt đẹp hoa xuân đương nở nhụy.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Tác là tuổi. Như: Tuổi tác, bạn tác (bạn cùng tuổi, trang lứa).

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ngài nhờ thấy bạo tàn Thương Trụ và thương đạo nghĩa của nhà Châu vua Văn Vương và Võ Vương dục khai “bổn thiện” nên tuổi dầu cao, tác dầu lớn, mà dám chịu nhọc nhằn khổ cực giúp đạo đức, khử bạo tàn, thâu cơ nghiệp Thành Thang, cứu dân đen trong nước lửa.

Mình dầu đồng bạn tác cùng quan,

Đừng hổ phận bần hàn cha mẹ.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Tác là làm, gây ra, dựng lên. Như: Tác ác, tác thành, tác hiệp, tự tác.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có đoạn dạy: Thầy khai Bát Quái mà tác thành Càn khôn Thế giới, nên mới gọi là Pháp; Pháp có mới sanh ra Càn khôn Vạn vật rồi mới có người, nên gọi là Tăng. Thầy là Phật chủ cả Pháp và Tăng, lập thành các đạo mà phục hồi các con hiệp một cùng Thầy.

Tuân hành đúng mức đường tu vững,

Tự tác sai chiều bước Ðạo nghiêng.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

TÁC HIỆP

Hay “Tác hợp”.

Tác: Làm. Hiệp (hợp): Hiệp lại.

Tác hiệp, như chữ “Tác hợp”, làm cho trai và gái kết đôi với nhau thành vợ chồng.

Như: Chú của cô ta đứng ra tác hiệp cho hai đứa tôi.

Xem: Tác hợp.

Tác hiệp sẵn nhờ xây bĩ thới,

Thành song trước định gặp thư hùng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

TÁC HỢP

作 合

Hay “Tác hiệp”.

Tác: Làm. Hợp: Hiệp lại.

Tác hợp, còn đọc là “Tác hiệp”, là làm cho đôi trai gái hiệp lại với nhau thành vợ chồng.

Trong Kinh Thi có câu: Thiên tác chi hiệp 天 作 之 合, nghĩa là Trời làm cho hai bên trái gái hợp lại với nhau. Nghĩa bóng: Làm cho đôi trai gái thành vợ chồng.

Như: Duyên Trời tác hợp.

Vườn xuân đào lý buổi liên chi,

Tác hợp cho con lúc thiếu thì.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

TÁC PHONG

作 風

Tác: Làm ra, tạo nên. Phong: Cử chỉ, dáng dấp.

Tất cả những hành động, cử chỉ, cách ăn ở hay cư xử biểu lộ ra thói tục, phong cách của một người, gọi là tác phong.

Huấn từ của Đức Thượng Sanh có dạy: Được như vậy, tác phong của người chức sắc Cao Đài mới vượt lên đến mức siêu nhiên và mới hẳn thật là tác phong của bậc Thánh nhơn tại thế nầy.

Tuy xa nguồn Đạo tác phong còn,

Trăm giũa ngàn mài một tấm son.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

TÁC TỆ

作 弊

Tác: Làm. Tệ: Hư, xấu.

Tác tệ làm những điều xấu xa, tức là làm những việc có hoạ hại về sau.

Như: Càng ngày anh ấy càng làm những điều tác tệ.

Đoạ trầm luân chưa chịu thoát, mà điều tình tội lại chác thêm, buộc thảm đeo phiền, cũng tự mình tác tệ, chờ ăn năn rất muộn về sau.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TÁC THÀNH

作 成

Tác: làm, tạo nên. Thành: Nên việc.

Tác thành là làm nên, làm nên công việc, hoặc làm nên công việc cho người.

Thánh giáo Đức Nguyệt Tâm Tâm Chơn Nhơn có câu: Phàm Pháp luật lập thành đều tuỳ sở dụng, buộc kẻ chung công hiệp trí tác thành một cơ sở vĩ đại, đông tây tương thân tương ái.

Bồ liễu nhứt thân sanh biến hoá,

Tác thành kim thể đắc trường sanh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

TẠC

Tạc là xoi, đục, chạm vào gỗ hoặc trên vật rắn một hình tượng mỹ thuật định sẵn.

Như: Tạc tượng Phật, tạc bia thờ nơi miếu, con giống mẹ như tạc.

Tạc còn dùng với nghĩa bóng là ghi nhớ. Như ghi lòng tạc dạ.

Vun trồng cội phúc ơn chan thấm,

Dong ruổi đường Tiên nghĩa tạc gìn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chia gương căn dặn buổi trường đình,

Vàng đá trăm năm tạc tấm tình.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

TẠC DẠ GHI XƯƠNG

Tạc dạ: Khắc vào lòng dạ. Ghi xương: Ghi vào xương cốt.

Tạc dạ ghi xương có nghĩa là khắc vào xương cốt ghi vào lòng dạ, ý nói khắc ghi vào tâm khảm.

Chẳng nệ đường xa bước thẳng đến đây mà chia sự nhà. Ơn ấy tôi hằng tạc dạ ghi xương đó.

(Thánh Giáo Thượng Phẩm).

 

 

TẠC TƯỢNG LẦU CHUÔNG

Tạc tượng: Đúc hình khuôn tượng. Lầu chuông: Lầu để gác chuông U minh, tức Bạch Ngọc Chung Đài.

Tạc tượng lầu chuông ý chỉ bức Tượng bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh được tạc nơi lầu chuông.

Bà Lâm Ngọc Thanh, tục danh bà Huyện Xây, một nghiệp chủ giàu có ở Vũng Liêm, nhập môn vào đạo Cao Đài năm Bính Dần 1926. Bà có công lớn giúp đỡ trong việc xây dựng và truyền bá mối đạo Trời, nên sau lúc quy tiên, được Đức Chí Tôn ân tứ lần sau cùng Phẩm Đầu Sư Nữ phái, Hội Thánh cho xây Bửu tháp phía Tây Lang và tạc tượng bà trên Lầu chuông mặt tiền ngôi Đền Thánh.

Xem: Lâm Hương Thanh.

Tạc tượng lầu chuông gìn Thánh thể,

Chưởng quyền Nữ phái độ nhơn sanh.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

TẠC THÙ

酢 酬

Tạc: Khách rót rượu mời lại chủ. Thù: Chủ rót rượu mời khách.

Tạc thù, hay thù tạc là nói chủ khách mời rượu lẫn nhau. Nghĩa rộng: Vui vẻ quan hệ, mời mọc nhau.

Thánh giáo Đức Lý Đại Tiên có câu: Lão để lời cho hiền hữu biết rằng, trong môn đệ của Ðức Từ Bi phần nhiều đã chẳng giữ lời Thầy mà xử cho tròn phần Nhơn đạo, giao tiếp cùng nhau cho có nét yêu dấu, tạc thù trong niềm đạo hữu, lại có dạ ghét lẫn tương phân.

Chén rượu tạc thù vui buổi tết,

Câu thi ngâm vịnh hứng khi nhàn.

(Ngọc Triệu Thanh).

Anh về sưởi ấm tình thân thuộc,

Tôi đến nâng cao chén tạc thù.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

TÁCH

1.- Tách là chia, rời, chẽ, tức làm cho rời hẳn ra, không còn gắn liền với nhau nữa.

Chim về cội, nước tách nguồn, từ xưa kiếp con người giữa thế chẳng qua là khách đi đường. Phận sự muốn cho hoàn toàn cần phải có bền chí và khổ tâm. Có bền chí mới đạt phẩm vị thanh cao, có khổ tâm mới rõ tuồng đời ấm lạnh.

Bạch Y Quan mở đàng rước khách,

Cõi Kim Thiên nhẹ tách Tiên xa.

(Kinh Tận Độ).

Tôi từ lúc tách mình thoát tục,

Không ra tay tiếp xúc với đời.

(Thơ Hộ Pháp).

Đuốc huệ rạng soi đường tấn hoá,

Thuyền từ nhẹ tách bến luân hồi.

(Thơ Tiếp Đạo).

2.- Tách là vật dùng để uống nước, thường làm bằng sứ, miệng rộng, có quai cầm.

Như: Tách cà phê, bộ ly tách.

Nơi mỗi ghế xếp chung thật đủ,

Tách, chén, ly, muỗng, đũa trên bàn.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

TÁCH DỜI

Tách: Chia, rời, chẽ, tức làm cho rời hẳn ra, không còn gắn liền với nhau nữa. Dời: Thay đổi, làm thay đổi.

Tách dời, như chữ “Tách rời”, là tách rời hẳn ra, không còn chung với nhau nữa.

Ác lồng nhựt rạng tản sương mơi,

Gặp lối đường quanh khó tách dời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

TAI

1.- Tai là một bộ phận ở hai bên đầu người hay động vật dùng để nghe. Như: Tai nghe mắt thấy, tai vách mạch rừng, trái tai gai mắt.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Các con nghe cho rõ, thường ngày các con trông thấy những điều trái tai gai mắt, các con có biết vì tại sao chăng?

Bồng Lai vắng mặt Tiên buồn nhớ,

Dinh đảo nghiêng tai Thánh khảy đờn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Khổ hạnh chí mong quy nẻo chánh,

Ngoài tai chớ chác miếng hư vinh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Tai là cái rủi ro, hay cái hoạ nạn xảy đến bất thình lình. Như: Tai qua nạn khỏi, phải ai tai nấy.

Thánh giáo Thầy có dạy: Nếu cả thế gian nầy biết tu thì thế gian có lẽ cải lý Thiên đình mà làm cho tiêu tai tiêu nạn đặng, huống lựa mỗi cá nhân biết tu thì Thiên đình cầm bộ Nam Tào cũng chẳng ích chi.

Vì chưng tựu thiểu thành đa,

Hoạ tai báo ứng chẳng qua mảy hào.

(Kinh Sám Hối).

Thi ân, tế chúng thiên tai tận,

Nhược thiệt, nhược hư vạn đại an.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Tai là một tiếng trợ từ, có nghĩa là vậy thay.

Như: Ai tai! Khâm tai, hảo tai.

Hảo tai một gái nữ anh tài,

Mới biết mà tâm Ðạo quá hay.

(Đạo Sử).

 

 

TAI ÁCH

災 厄

Tai: Hoạ hại to lớn. Ách: Tai ương bao trùm cho nhiều người.

Tai ách là tai hoạ nặng nề phải chịu đựng. Như: Hôm ấy chị tôi thoát khổi một tai ách.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thầy dạy: Thương thương ghét ghét, các con đặng biết, trong khi các con lâm nàn tai ách, các con vì Đạo mà phải buộc ràng tay chân trong quan lại.

Thời cuộc tuần hoàn tai ách khởi,

Liệu mà xông lướt, liệu đua tranh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cõi tục can qua dầu phải rứa,

Xứ thần tai ách có vầy sao?

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

TAI BAY

Tai: Hoạ lớn. Bay: Bay đến, ý chỉ xảy đến thình lình.

Tai bay là tai nạn xảy đến một cách thình lình và bất ngờ cho mình.

Như: Tai bay hoạ gởi.

Gặp lúc tai bay hơ hẫng chịu,

Lần theo đường Ðạo nợ đời rồi.

(Đạo Sử).

 

 

TAI BAY HỌA GỞI

Tai bay: Tai nạn xảy đến bất ngờ cho mình. Hoạ gởi (gửi): Hoạ hại gửi vào thân.

Tai bay hoạ gởi ý nói tai hoạ đến một cách thình lình, vô can mà phải nhận lãnh.

Tai bay hoạ gởi có ai dè,

Xe đạp, xe đèo: Xe ủi xe.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

TAI BIẾN

災 變

Tai: Cái tai hoạ bất ngờ xảy tới. Biến: Thay đổi.

Đang yên ổn bỗng nhiên có sự thay đổi bất ngờ đem đến điều hoạ hoạn, gọi là tai biến. Như: Đề phòng tai biến trong mùa khô hạn.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn bằng Pháp văn, được Hội Thánh dịch ra Việt ngữ có câu: Nhơn loại hiện chịu đau khổ bởi nhiều cuộc tai biến.

Đời còn tai biến thảm than,

Người người ưa chuộng theo đàng hư danh.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Tham tàn chúng đã gây tai biến,

Oan khúc mình vương lấy thảm sầu.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

TAI HẠI

災 害

Tai: Cái tai hoạ bất ngờ xảy tới. Hại: Bị tổn thất, tổn thương.

Tai hại là tai vạ và tổn hại, tức nạn tai gây ra nhiều mất mát, thiệt hại. Như: Hậu quả tai hại khi nói dối.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Sự hiện diện đông đủ của toàn thể Chức Việc Nam Nữ trong buổi lễ nầy làm cho Hội Thánh thấy rõ cái thiện chí của quý vị là dốc lòng học hỏi cho thông hiểu luật pháp và các nghi lễ về Quan, Hôn, Tang, Tế của nền Ðại Ðạo hầu dìu dắt nhơn sanh cho khỏi sai đường lạc lối, tránh điều đổ vỡ tai hại vô phương cứu vãn tức là sự thất kỳ truyền nơi ngày mai hậu.

Lời ngọt ngon trí để đừng xiêu,

Lòng nhi nữ lắm điều tai hại đến.

(Phương Tu Đại Đạo).

Thần oai chẳng nể, mang tai hại,

Thánh giáo không kiêng gánh hoạ sâu.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

TAI HOẠ

災 禍

Tai: Cái tai hoạ bất ngờ xảy tới. Hoạ: Điều tổn hại.

Tai hoạ là những thứ rủi ro lớn lao đưa đến khiến người ta phải chịu tổn hại và khốn khổ. Như: Gieo tai hoạ.

Trong quyển Thiên Đạo, Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có câu: Tất cả nạn nhơn của một tai hoạ lớn như động đất, bảo lụt, chìm tàu, hoả hoạn, dịch khí, chiến tranh, vân vân... đều là những người chịu một quả báo chung vì họ đã đồng tạo một ác nghiệp.

Nếu vội trách người trên thì đọa,

Cũng có khi tai hoạ trả liền.

(Kinh Sám Hối).

 

 

TAI MẮT

Tai: Lỗ tai, chỉ sự nghe. Mắt: Con mắt, chỉ sự thấy.

1.- Tai mắt là lỗ tai, con mắt chỉ hai bộ phận nghe và thấy của con người.

Tai mắt còn dùng để ví với kẻ chuyên nghe ngóng, tìm hiểu, cung cấp tin tức giúp cho người khác nắm bắt tình hình.

Cầu danh chác lợi mờ tai mắt,

Mua chức bán quyền nám phổi gan.

(Thơ Hoàn Nguyên).

2.- Tai mắt còn dùng để chỉ người có danh vọng, có địa vị trong xã hội.

Như: Ông ấy là người tai mắt trong làng nầy.

Người tai mắt đạo nhà khá giữ,

Nghĩa anh em cư xử thuận hoà.

(Kinh Sám Hối).

 

 

TAI NÀN

Hay “Tai nạn”.

Tai: Cái hoạ hại to lớn bất ngờ xảy tới. Nàn (nạn): Những mối hại nguy hiểm.

Tai nàn, như chữ “Tai nạn 災 難”, là mối hoạ lớn đem lại sự khốn khổ, hiểm nguy.

Xem: Tai nạn.

Sống dương thế hành thì căn bịnh,

Xui tai nàn dấp dính theo mình.

(Kinh Sám Hối).

Cõi trần trung giái thinh thinh,

Phàm gian lao khổ đao binh tai nàn.

(Xưng Tụng Công Đức).

 

 

TAI NẠN

災 難

Tai: Cái hoạ hại to lớn bất ngờ xảy tới. Nạn: Những mối hại nguy hiểm.

Tai nạn là việc rủi ro bất ngờ xảy ra gây thiệt hại lớn cho con người.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Kỳ Hạ nguơn hầu mãn, nhơn vật vì tai nạn mà phải tiêu tận, mười phần còn đoái lại có một mà thôi.

Nếu muốn khử tiêu tai nạn đến,

Thì nên khẩn nguyện sợ oai quyền.

(Đạo Sử).

Khuyên anh sớm lánh lần hậu hoạn,

Tránh những điều tai nạn về sau.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

TAI NGUY

災 危

Tai: Cái tai hoạ bất ngờ xảy tới. Nguy: Những mối hại ngặt nghèo, nguy hiểm.

Tai nguy tức là tai nạn nguy hiểm.

Thánh giáo Đức Thanh Sơn Đạo Sĩ có câu: Thuyền gần bến để độ khách trần lúc tai nguy, còn cơ thoát khổ gần ngày để cho khách trần một bài kinh nghiệm. Đạo mầu huyền bí cao sâu là phương cứu khổ.

Thấy người gặp lúc tai nguy,

Ra tay tế độ ấy thì lòng nhơn.

(Kinh Sám Hối).

 

 

TAI QUA

Tai: Cái hoạ hại to lớn. Qua: đi qua. Nạn khỏi: Hoạn nạn đã qua khỏi.

Tai qua là tai nạn đã đi qua. Như: Tai qua nạn khỏi là tai nạn đã qua khỏi.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Phải giữ trọn nghĩa nhân Ðạo Ðức bền lòng thiện niệm để cầu nguyện Ðức Chí Tôn cho tai qua nạn khỏi.

Lâm nguy nguyện vái làm lành,

Tai qua rồi lại dạ đành phụ vong.

(Kinh Sám Hối).

 

 

TAI TRỜI

Tai: Cái tai hoạ bất ngờ xảy tới. Trời: Chỉ sự tự nhiên hoặc chỉ Đấng Tạo hoá.

Tai Trời, như chữ “Thiên tai 天 災”, là hiện tượng thiên nhiên gây tác hại lớn đến sản xuất và đời sống, như bão lụt, hạn hán, động đất, sóng thần...

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Phương chi nạn chiến tranh đang dầy xéo đất nước, suốt phần tư thế kỷ nay; tai Trời ách nước còn dồn dập gieo thêm tang tóc làm cho giống Việt Thường đã quá thống khổ, đoạ đày, đã phải chịu thêm nổi điêu linh tàn tạ.

Hoàn cảnh nguy nan lôi cuốn mãi,

Tai Trời chung chịu đổi dời thay.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

TAI ƯƠNG

災 殃

Tai: Cái hoạ hại to lớn. Ương: Hoạ hại.

Tai ương tức là tai nạn hoạ ương, như cháy nhà, đại hạn, bảo lụt...

Kinh thư có câu: Tác bất thiện thọ chi bá ương 作 不 善 受 之 百 殃, nghĩa là làm việc chẳng lành thọ lấy trăm điều tai hoạ.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bần Ðạo xin được giải chữ Từ bi ai ai cũng đều có sẵn trong tâm, trẻ con nên năm bảy tuổi thì nó đã biết sự thương yêu cha mẹ, thương yêu anh em là người thân tộc gần gũi của nó, khi nó đã trưởng thành có vợ con, bậu bạn thì nó lại thương yêu rộng ra hơn nữa, một khi đã thấy sự đau khổ hoạn nạn, tai ương của quần chúng thì nó cảm hoá xúc động đến tâm thương yêu lan tràn ra, không biết đâu là giới hạn, ấy là tánh từ bi đó.

Ơn Đông Nhạc Đế Quân quảng đại.

Độ kẻ lành chế cải tai ương.

(Kinh Tận Độ).

Sang cả mặc người đừng bợ đỡ,

Hoạnh tài trơ mắt khỏi tai ương.

(Giới Tâm Kinh).

Như nhiên lành phước dữ tai ương,

Một trả một vay cũng lẽ thường.

(Đạo Sử).

 

 

TÁI

Tái là lại lần nữa. Như: Tái bút, tái kiếp, tái sinh, xuân bất tái lai.

Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng có đoạn: Ðức Chí Tôn đã lấy từ bi mà châm chế, mong ngày Ðạo được hoà bình. Vậy khá chung trí hiệp tâm mà tái dìu mối Ðạo. Ấy là phương chuộc lỗi sửa mình mà trở về ngôi cũ đó.

Lão đợi chư Ðạo hữu đặng tái lãnh trách nhậm, nếu chẳng thi hành thì luôn Ðức Chí Tôn cũng phải theo Lão mà ra khỏi kỳ phổ độ nầy.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TÁI CẦU

再 求

Tái: Lại một lần nữa. Cầu: Yêu cầu, cầu cơ.

Tái cầu là yêu cầu lại, hoặc cầu cơ lại một lần nữa, tức là đã cầu một lần rồi, tiếp tục cầu thêm lần nữa.

Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu có câu: Trước ngực ngay trán phải để chữ cung Càn, chữ vàng, chữ Bát Quái. Còn cái áo con phải tái cầu Thầy trong lúc may đặng Thầy chỉ sắp mấy cung kia trên áo.

Khi Chí Tôn thăng, quý anh quý chị cả thảy phải lạy đưa, rồi tái cầu, có Ðức Mẹ giáng đàn.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

Bàn ngưng chuyển người ra giải khát,

Lúc tái cầu thao tác khoan thai.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

TÁI DIỄN

再 演

Tái: Lại một lần nữa. Diễn: Trình bày ra.

Tái diễn là diễn lại lần nữa, tức là trình bày lại thêm một lần nữa.

Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn dạy: Nền chơn giáo sắp trở thay, đó là một nhiệm mầu, chỉ còn sắp tái diễn nhiều màn càng thêm khó cho chúng ta, những kẻ Đạo tâm thì vững bước, còn tâm linh không vững thì trở ngang rồi thêm hận.

Trước mắt toàn thể con cái Đức Chí Tôn Nam cũng vậy, Nữ cũng vậy cái tấn tuồng chia đôi Hoàng Đồ của Tổ Quốc nó đã tái diễn.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

TÁI HIỆP

Hay “Tái hợp”.

Tái: Lại một lần nữa. Hiệp (hợp): hợp lại.

Tái hiệp, như chữ “Tái hợp 再 合”, là sum họp trở lại sau những ngày chia ly, cách biệt.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Đức Quan Âm Như Lai có đoạn: Thiếp xin để lời mừng ngày tái hiệp hôm nay. Xin nghe. Chư hiền hữu khá lưu ý, thoảng có điều gì chưa vừa ý, xin nói nghe.

Quan thành tái hiệp Hớn triều phong,

Thánh đức mạc vong hám thế trần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nầy là chỗ đôi ta tái hiệp,

Nầy là nơi vừa kịp hoà vui.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TÁI KIẾP

再 劫

Tái: Lại một lần nữa. Kiếp: Một đời người.

Tái kiếp là một kiếp sống ở cõi trần nữa, tức là đầu thai trở xuống cõi trần một lần nữa.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy: Bởi vậy cho nên, nhiều bậc Thần, Thánh, Tiên, Phật cam lòng thủ phận, chẳng dám vọng cầu đem thân vào cảnh đoạ, nhưng mà chẳng tái kiếp thì như nhu sĩ trốn thi, thế nào giữ vững địa vị cao thượng?

Tái kiếp lao đao Thầy cám cảnh,

Đến cho con một Đạo linh phù.

(Thanh Sơn Giáng Bút).

Khi răn dạy cũng là thừa dịp,

Dầu ông Tiên tái kiếp cũng không bì.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TÁI LẬP

再 立

Tái: Lại một lần nữa. Lập: Làm, dựng nên.

Tái lập là làm lại, hay dựng lại một lần nữa.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có dạy Hội Thánh Cửu Trùng Đài như sau: Phải tái lập Sổ cầu phong và cầu thăng. Sau khi lập xong, gởi hết hồ sơ cho Hiệp Thiên Đài minh tra công nghiệp.

Uổng thay! Nền Ðạo chẳng phải hư, ngày nay không phương tái lập.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TÁI NGỘ

再 遇

Tái: Lại một lần nữa. Ngộ: Gặp gỡ.

Tái ngộ là gặp gỡ trở lại.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Hẹn cùng nhau hội hiệp trong ngày tái ngộ, Hội Thánh chỉ ước mong quý vị vững bước trên đường tu tập, dồi trau đức tính hầu trở nên những Chức Sắc ưu tú trong cửa Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ.

Một bóng luống chờ ngày tái ngộ,

Chơn thần gìn đặng vẹn tinh anh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Mong ngày tái ngộ dưới trăng sao,

Dầu phải hy sinh đến thế nào.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

TÁI NHẬM

Hay “Tái nhiệm”.

Tái: Lại một lần nữa. Nhậm (nhiệm): Gánh vác.

Tái nhậm, như chữ “Tái nhiệm 再 任”, là nhậm chức trở lại, tức là một lần nữa gánh vác chức vụ đó.

Trong Bát Đạo Nghị Định, Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt có yêu cầu Đức Lý như sau: Ðệ tử cùng cả Chức Sắc đều hết lòng lo lắng, cúi xin Ðức Giáo Tông từ bi tái nhậm quyền hành hầu chỉnh đốn nền Ðạo.

Lão vì Chí Tôn nài nỉ cầm mối Thiên thơ sửa nền Chánh giáo, mà tái nhậm quyền hành Giáo Tông.

(Thánh Ngôn Sưu Tập).

 

 

TÁI ÔNG MẤT NGỰA

Tái ông: Ông lão ở gần quan ải. Mất ngựa: Ngựa đi khỏi nhà bị lạc mất.

Tái ông mất ngựa, bởi câu “Tái ông thất mã 塞 翁 失 馬”, là ông lão nhà gần nơi quan ải bị mất ngựa.

Do tích: Tái ông là một người ở gần nơi quan ải. Con ngựa ông vô cớ đi mất. Mọi người nghe tin, đến chia buồn. Ông lão nói: Không có chi, biết đâu chẳng phải là điều may. Mấy tháng sau, ngựa trở về mang theo một con ngựa tốt khác. Mọi người nghe tin đến chúc mừng, ông lão nói: Không có gì vui, biết đâu chẳng phải là điều hoạ. Ít lâu sau, con Tái ông bắt con ngựa hay cỡi, ngựa té gãy đùi. Mọi người nghe tin đến chia buồn. Tái ông nói: Không có gì, biết đâu chẳng phải là điều may? Năm sau, giặc Hồ tràn vào cửa ải, trai tráng phải ra chiến đấu. Người ở làng mười chết hết chín, con Tái ông vì cỡi ngựa bị què chân nên không bị ra chiến trận, vì thế vẫn còn sống sót. Cho nên người xưa nói: Trong phúc có hoạ, trong hoạ có phúc.

Tái ông mất ngựa điềm đưa đến,

Hoạ phước hay đâu tránh được nào.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

TÁI PHẠM

再 犯

Tái: Lại một lần nữa. Phạm: Phạm lỗi, tức mắc phải điều quấy với người.

Tái phạm là phạm tội một lần nữa.

Thánh giáo Hộ Pháp dạy: Mầm tạo loạn nơi pháp luật là điều đáng tiếc, các em không làm gương đạo hạnh lại dùng áp lực đối với bề trên. Bần Đạo cấm hẳn tự hậu không đặng làm như vậy. Nếu tái phạm sẽ có hình phạt. Đó là lời cảnh cáo của Bần Đạo, nghe à!

Thầy cũng lấy từ bi dung cho, bằng tái phạm sẽ bị Toà Tam Giáo trục xuất.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TÁI SANH

Hay “Tái sinh”.

Tái: Lại một lần nữa. Sanh (sinh): Sanh ra đời.

Tái sanh, như chữ “Tái sinh 再 生”, tức là sinh lại một lần nữa trong kiếp sau.

Tái sinh là chỉ về kiếp sau.

Thánh giáo Thầy có câu: Cái phẩm vị của các con phải buộc tái sanh nhiều kiếp mới đến địa vị tối thượng mình là nơi Niết Bàn.

Tái sanh sửa đổi Chơn truyền,

Khai cơ tận độ Cửu tuyền diệt vong.

(Kinh Tận Độ).

Dầu đoạt vị ở an Thiên cảnh,

Dầu tái sanh mở cảnh siêu phàm.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

TÁI TẠO

再 造

Tái: Lại một lần nữa. Tạo: Dựng lên, làm ra.

Tái tạo là gây dựng lần nữa, tức tạo dựng lại cơ đồ hay sự nghiệp lần thứ hai.

Tái tạo còn dùng để chỉ lời cám ơn người cứu sống mình được khỏi chết. Như: Ơn tái tạo.

Tam giáo một nhà xem chẳng lạ,

Khai nguơn tái tạo chuyển Tông Nho.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

TÁI TÊ

Tái: Nước da đã mất sắc, trở nên xám. Tê: Trạng thái mất hết cảm giác ở một bộ phận nào đó trong cơ thể.

Tái tê, như chữ “Tê tái”, là trong lòng đau xót mất cả hứng thú, tức cảm giác hay cảm xúc quá mạnh, quá sâu sắc, đến mức làm như không có khả năng cảm giác, cảm xúc gì khác nữa.

Bắt ốc hái rau phương đỡ dạ,

Dầm mưa dãi gió tái tê lòng.

(Thơ Thái Đến Thanh).

Chờ đợi tái tê lòng muối xát,

Tới lui e ngại bức tường xây.

(Thơ Võ Thành Lượng).

 

 

TÁI THẾ

再 世

Tái: Lại một lần nữa. Thế: Đời.

Tái thế là đến thế gian một lần nữa, tức ra đời lần thứ hai, sống lại lần thứ hai.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có đoạn dạy: Vậy Thầy cũng nói luôn để cho anh em nhìn nhau, thương yêu nhau. Nó là Văn Thù Bồ Tát tái thế, nghe à! Nó lập ngôi vị cho con, nó đi một đường với con mà hành đạo cho tới ngày hai con đến đắc quả đặng trở về cùng Thầy.

Luân hồi thưởng phạt rất mầu,

Chuyển thân tái thế ngựa trâu công đền.

(Kinh Sám Hối).

Lễ bái thường hành tâm đạo khởi,

Nhân từ tái thế tử vô ưu.

(Bài Thài Thất Nương).

Đòi phen tái thế dìu sanh chúng,

Lắm lúc siêu hồn rưới huệ ân.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

TÁI THỆ

再 誓

Tái: Lại một lần nữa. Thệ: Thề.

Tái thệ là thề lại lần nữa.

Theo tôn chỉ đạo Cao Đài, những tín đồ của Đạo đều đã được Minh thệ trước Chánh điện Đức Chí Tôn. Nếu người nào đã lỗi thệ, tức là bỏ Đạo, phản loạn chơn truyền, sau muốn trở về thì phải tái thệ, tức là thề lại một lần nữa.

Hội Thánh thể lòng đại từ đại bi của Đức Chí Tôn, mở kỳ ân xá cho họ đặng nhập môn tái thệ.

(Đạo Luật Mậu Dần).

 

 

TÁI THIẾT

再 設

Tái: Lại một lần nữa. Thiết: Đặt.

Tái thiết là sắp đặt gầy dựng trở lại. Như: Dự án công trình được tái thiết.

Thánh Điện kỳ quan chói Ngọc Đài,

Chầy năm tái thiết đạo hoằng khai.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

TÁI THỦ QUYỀN HÀNH

再 守 權 衡

Tái thủ: Nắm giữ lại một lần nữa. Quyền hành: Quyền có thể thi hành được nhiều việc.

Tái thủ quyền hành nghĩa là trở lại với chức vụ cầm quyền một lần nữa.

Trong Đạo Cao Đài, Đức Lý Thái Bạch kiêm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, muốn dùng quyền hành để trục xuất những vị Đại Thiên phong phân chi lập phái, nhưng Ðức Chí Tôn cản không cho. Do đó, Đức Ngài xin từ chức ngôi Giáo Tông.

Như chúng ta biết, trong ngày Ðại Lễ Khai Ðạo ngày 15 tháng 10 năm Bính Dần (1926) tại Thánh Thất Từ Lâm Tự Gò Kén, Ðức Chí Tôn dự định ban cho Ngài Ngô Văn Chiêu chức Giáo Tông, nhưng Ngài Chiêu không nhận, Ngài rút về lập ra phái Chiếu Minh tại Cần Thơ để lo việc tu đơn. Ðức Chí Tôn mới giao chức Giáo Tông lại cho Nhứt Trấn Oai Nghiêm Lý Thái Bạch kiêm nhiệm.

Rồi sau đó, cơ Đạo bị phân chia, một số Chức sắc tách khỏi Toà Thánh Tây Ninh như: Giáo Hữu Ngọc Chính Thanh lập phái Tiên Thiên ở Cai Lậy, Phối Sư Thái Ca Thanh lập phái Minh Chơn Lý ở Cầu Vỹ (Mỹ Tho), và Ngài Chưởng Pháp Trần Ðạo Quang, Giáo Sư Thượng Kỳ Thanh lập phái Cầu Kho ở Thánh Thất Cầu Kho Sài gòn.

Ðức Lý Giáo Tông muốn dùng quyền của mình để trục xuất những vị Chức sắc phân chi lập phái, nhưng Ðức Chí Tôn cản không cho, ý muốn để Ngài cố gắng kêu gọi quý Chức sắc ấy trở về Toà Thánh. Vì vậy, Đức Lý không điều hành được nền Ðạo nên xin từ chức Giáo Tông.

Sau đó, Ðức Chí Tôn đành triệu Ðức Lý trở lại cầm quyền Giáo Tông để xử trị các Chức sắc ấy.

Và trong một Đàn cơ vào ngày 04 tháng 11 năm Canh Ngọ (Dl. 24/12/1930) Đức Lý giáo Tông cho một bài thi tứ tuyệt và một bài Thánh giáo dạy như sau:

 

Cửu tử kiêm triêu đắc phục huờn,

 

久 死 今 朝 得 復 還

 

Hạnh phùng Thiên mạng đáo khai Nguơn.

 

幸 逢 天 命 到 開 元

 

Thế trung kỵ tử hà tri tử,

 

世 中 忌 死 何 知 死

 

Tử giả hà tồn, chủ Tịch Hương?

 

死 者 何 存 主 籍 香

Lão đã mang một cảm tình rất nặng cùng chư hiền hữu, hiền muội rồi đó.

Lão là người đã đứng ngoài vòng thế sự hèn lâu, nên đòi phen bợ ngợ, phải tìm tàng lượng tri lý mỗi người, ôi! nghĩ nên rất khó!

Vì khi nãy, Lão thấy con cái Chí Tôn đông đảo dường ấy, may là một nước Việt Nam chưa đủ trọn mà dường nầy, ngày nào Ðạo đã truyền bá toàn trong nhơn loại, trọn khắp ngũ châu, mới sao nữa!

Ngán thay cho cái trách nhậm nặng nề, vì trót đã hứa lời cùng Từ Bi ra tế độ, hễ trách phận đàn anh, tuy nhiên lấy oai quyền khuyến nhủ trừng trị lấy em mặc dầu, chớ cũng nên hiểu tâm của mỗi đứa.

Lão chỉ sợ một điều là Lão không phương gần kẻ tà tâm toan dạy dỗ; còn như gần kẻ đạo đức chơn thành thì rất dễ, song chẳng cần ích.

Tâm Thánh là ngôi vị của Ðấng thiêng liêng, không lo trau giồi thì cũng còn tự nhiên vì vẻ đẹp, còn vẻ đẹp thiên nhiên đã mang nặng thi hài nơi khổ cảnh nầy mà không mất thì đoạt vị đã đặng rồi, lại cần ai nâng đỡ.

Ấy vậy, Lão đến mà gieo hột Thánh cốc nơi lòng kẻ tà tâm, mong cho đơm bông kết quả, đặng liệu thế hồi tâm, chớ chẳng phải đến rước người hiền ngõ.

Chư hiền hữu, chư hiền muội xem trong năm Khai Ðạo, biết bao khổ não truân chuyên. Lão, vì đã thấy rõ, nên không nỡ ngồi an xem cơ thắng bại. Lão nhứt định đứng chung vai đâu cật cùng chư hiền hữu, chư hiền muội, mà chia bớt khổ tâm.

Lão chẳng phải sợ, vì chưa có quyền hành hữu vi nào mà phạm đến Lão đặng, chỉ sợ giùm cho chư hiền hữu, chư hiền muội mang nặng thi phàm, mà chịu cường quyền đè nén. Chư hiền hữu, chư hiền muội có đạt được phép tiên tri như vậy đâu mà mong tránh khỏi.

Lão nghĩ như thế nên nhứt định Tái thủ quyền hành, đem cặp nhãn thiêng liêng thay vì cặp nhãn của Thầy, đặng thấy giùm mọi điều cho chư hiền hữu, chư hiền muội, đặng quyết thắng chúng sanh trong kỳ Khai Ðạo nầy, thì Lão tưởng khi Lão chưa phải là người vô dụng vậy.

Khi Lý Giáo Tông đồng ý trở lại tái thủ quyền hành, Ðức Chí Tôn bèn giáng cơ dạy Hội Thánh phải làm lễ Ðăng điện cho Ðức Lý thật long trọng để chào mừng Ngài trở lại làm việc.

Bài thi trên được Ðức Phạm Hộ Pháp giải nghĩa trong bài Thuyết đạo nói về công nghiệp của Ðức Lý Giáo Tông, tại Ðền Thánh trong đêm 18 tháng 8 năm Kỷ Sửu (Dl. 9/10/1949) sau khi cúng Vía Ðức Lý, trong đó có đoạn:

Ðức Chí Tôn thường nhắc toàn Hội Thánh Hiệp Thiên và Cửu Trùng làm lễ Ðăng điện cho long trọng khi Ngài (Ðức Lý Giáo Tông) tái nhậm phận sự, rồi Ngài lên ngôi vị của Ngài, Ngài cầm cơ viết. Bần Đạo tưởng không có vị vua chúa nào viết được bài diễn văn như Ngài.

Cửu tử kiêm triêu đắc phục huờn: là cảnh trần ta chết đã lâu rồi, mà hôm nay ta được phục sanh lại trong Thánh Thể của Ðức Chí Tôn.

Hạnh phùng Thiên mạng đáo khai Nguơn: là còn hạnh phúc đặng Thiên mạng đến khai nguơn. Tại sao Ngài nói đến? Bần Đạo đã thuyết cuối Hạ Nguơn Tam Chuyển khởi Thượng Nguơn Tứ Chuyển, Ngài đến khai Nguơn là có duyên cớ. Bần Đạo dám chắc rằng, Ðấng nào khác hơn Ngài thì không thi hành được. Ngài đến đặng mở Thượng Nguơn Tứ Chuyển.

Thế trung kỵ tử hà tri tử: Thế gian sợ chết mà không biết cái chết là gì? Chính Ngài hỏi rồi nói:

Tử giả hà tồn, chủ Tịch Hương?: Hương là tịch đạo của Nữ phái. Nữ phái là nguồn sống của nhơn loại, nếu nói nó chết thì Ngài đến làm chủ của Nữ phái nghĩa gì? Cầm cái giống của thế gian nầy đặng chi?

Em nên cho chị hiểu rằng, Nữ phái lập thành, Nam phái chỉnh đốn lại hoàn toàn thì Lý Giáo Tông mới giảm nộ và tái thủ quyền hành.

(Thánh Giáo Bát Nương).

 

 

TÀI

1.- Tài là cái hay, cái giỏi của người ta. Như: Người có tài, tài ngoại giao, cậy tài.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Tâm cứng cỏi, Ðạo điều hoà thì cứ bước tới Thầy; tâm trí bất định, đạo hạnh không hoàn toàn thì con đường hám lợi xu danh tới hang sâu vực thẳm đó, vì sức các con đã rã rời thì tài nào níu kéo đỡ nâng khuyên nhủ nhau được.

Trau tài trau phận tua trau đức,

Biết thế biết nhân mới biết mình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðức cao thì mới đáng nên người,

Ðức thắng tài kia đã mấy mươi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Đừng hờn cha mạnh cú nặng đòn,

Ấy tài diệu cha trui con ra bén.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Tài là của cải, tiền bạc. Như: Tiền tài, gia tài, tài sản, tài nguyên.

Thánh giáo Thầy dạy Ngài Thái Thơ Thanh có đoạn: Lòng đạo đức con, Thầy thấy rõ, nhưng thời giả dối đã qua, thời kỳ chân thật đã đến. Thầy không muốn cho con hao tài tốn của mà gìn giữ sự giả dối.

Trượng tài khinh nghĩa đã bao phen,

Làm mất số sang chịu khó hèn.

(Đạo Sử).

Đừng tranh phát gia tài đặng thất,

Nếu cha ngu của mất hồi mô.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TÀI BA

才 葩

Tài: Chỉ người hay, giỏi. Ba: Như chữ hoa, rực rỡ.

Tài ba là người tỏ ra có rất nhiều tài năng lỗi lạc, phát lộ ra bên ngoài.

Thánh giáo Bát Nương Diêu Trì Cung có câu: Đạo thạnh đời suy, Đạo suy đời lấn áp, song chi chi cũng do sự sắp bày của Thiên cơ cả. Chưa ai tài ba lỗi lạc mà đủ năng lực sửa đổi bao giờ.

Xem: Tài hoa.

Huệ ngào ngạt đưa hơi vò dịu,

Đứng tài ba chẳng thiếu tư phong.

(Bài Thài Lục Nương).

Dồi trí thức tinh thần đẹp đẽ,

Trau tài ba vẹn vẽ anh thư.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Anh là kẻ bất tài vô dụng,

Tôi là người anh dũng tài ba.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

TÀI BỒI

栽 培

Tài: Trồng cây. Bồi: Vun đất.

Tài bồi là vun đắp, hoặc vun trồng, tức vun đất để trồng cây.

Trong Kinh Lễ có câu: Cố tài giả bồi chi 故 栽 者 培 之, nghĩa là cho nên người trồng trọt thì phải vun bồi.

Tài bồi có nghĩa bóng là đạo đức của mình ngày một trau dồi, lúc đó trời mới vun đắp thêm.

Như: Tài bồi cho nền văn hoá nước nhà.

Chung sứctài bồi nền cổ học,

Ra công nâng đỡ bạn tao đàn.

(Thơ Huệ Giác).

Xuân vẫn tài bồi nền vật chất,

Xuân chưa tô điểm nét tinh thần.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

TÀI CÁN

才 幹

Tài: Tài giỏi, tức cái khả năng làm được việc. Cán: Đảm đang.

Tài cán là có khả năng, tài giỏi để đảm đang được mọi công việc.

Như: Anh ta có tài cán gì đâu.

Hiền đệ nên nhớ rằng khi xưa Qua có tài cán gì đâu, bất quá là một học trò khó...

(Thánh Giáo Quyền Giáo Tông).

 

 

TÀI CHÁNH

Hay “Tài chính”.

Tài: Tiền bạc. Chánh (chính): Quản lý, sắp đặt.

Tài chánh, như chữ “Tài chính 財 政”, là việc quản lý chi thu về tiền bạc.

Khi nói về nền Đạo Cao Đài, trong Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có có câu: Bây giờ Bần Đạo thuyết về tài chánh của Đạo đương buổi loạn ly này.

Thiên cơ hà lộ khuynh tài chánh,

Nhứt nhựt dĩ nhàn nhứt nhựt thanh.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

 

 

TÀI DANH

才 名

Tài: Tài giỏi, hay. Danh: Tiếng tăm, được nhiều người biết tiếng.

Tài danh là người tài giỏi, danh tiếng vang dội khắp mọi nơi, mọi người đều biết.

Như: Ông ấy là bậc tài danh trong nền văn học.

Nam khí hưng suy dân khí phát,

Nên trang anh tuấn mặt tài danh.

(Đạo Sử).

Ngoài gia tộc, nước non vầy bạn,

Lựa tài danh giao cạn tâm tình.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Nước Việt Thường ghi tạc mặt tài danh,

Nòi Hồng Lạc roi truyền gương tiết nghĩa.

(Văn Tế Tiểu Tường).

 

 

TÀI ĐỨC

才 德

Tài: Tài giỏi, hay. Đức: Đạo đức, phước đức.

Tài đức là tài năng và đạo đức.

Bài Diễn Văn của Ðức Quyền Giáo Tông đọc tại Toà Thánh, ngày mùng 8 tháng 4 năm Giáp Tuất có câu: Một mảnh thân phàm nầy, cô thân bạc nhược nầy, yếu ớt hèn mọn nầy, có đủ tài đức chi mà Ðại Từ Phụ lại tin giao một cái giang san sự nghiệp của toàn nhơn loại hoàn cầu đặng cho gánh vác.

Hiệp tài đức dồi dào tánh thiện,

Noi Ðạo Trời tân tiến đường tu.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Ấy là Thất Thánh cộng đồng,

Đủ đầy tài đức khỏi trong phong thần.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

TÀI HOA

才 華

Tài: Hay, giỏi. Hoa: Rực rỡ.

Tài hoa là người tài giỏi, có tài năng rực rỡ phát lộ ra bên ngoài, nhất là về văn chương, nghệ thuật.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Tuy nhiên trong xã hội cũng còn rất nhiều phần tử tài hoa thoát khỏi mức thường tình, yêu chuộng công lý và nghĩa nhân, lánh xa vòng trụy lạc. Những phần tử đó, nếu gặp người dẫn bước theo về chánh đạo họ sẽ hấp thụ giáo lý cao siêu và sẽ trở nên những trang ưu tú cũa xã hội hữu dụng cho đời và cho Ðạo.

Sen Trắng vóc tinh vi đảnh Hớn,

Nêu tiết trong soi sáng tài hoa.

(Bát Nương Giáng Bút).

Còn anh lại tìm nơi vắng vẻ,

Chôn cuộc đời son trẻ tài hoa.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

TÀI LIỆU

材 料

Tài: Gỗ dùng làm đồ đạc. Liệu: Vật liệu, đồ vật.

Tài liệu là nguyên liệu để làm việc, tức là chỉ chung những thứ làm ra đồ vật, sách vở, như giấy tờ, văn bản...

Tài liệu còn là giấy tờ, vật liệu dùng để nghiên cứu hay chứng minh một vấn đề gì.

Như: Phim tài liệu, tài liệu nghiên cứu lịch sử.

Người hành Đạo có đủ tài liệu, phương chước sửa mình và trau dồi hầu treo gương sáng cho người đời noi bước.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

TÀI LỰC

才 力

Tài: Hay, có khả năng làm được việc. Lực: Sức lực.

Tài lực là tài năng và sức lực.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Đức Thượng Phẩm có câu: Vậy, đối về phần tài lực bạo tàn, chúng ta không thể sánh với kẻ vô thần, mà trái lại một điều là nhược thắng cường, ấy là ý định của Chí Tôn cho nhơn loại nhìn Đạo Trời mà tùng lương cải ác.

Chư Hiền Hữu, chư Hiền Muội đã đủ tài lực, đạo đức mà hành chánh rồi, thì Lão cũng nhứt định giữ nghiêm luật pháp.

(Bát Đạo Nghị Định).

 

 

TÀI MẠO

才 藐

Tài: Cái hay, giỏi của người ta. Mạo: Dáng dấp bề ngoài, mặt mày.

Tài mạo là nói người có tài hoa và dung mạo, tức có tài năng lẫn dáng vẻ trang nhã bên ngoài.

Như: Tài mạo kiêm toàn.

Khi gặp đặng phải trang tài mạo,

Hoặc trao trâm đắp áo làm tin.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TÀI MẠNG GHÉT NHAU

Hay “Tài mệnh ghét nhau”.

Tài mạng (mệnh): Tài năng và vận mạng. Ghét nhau: Đố kỵ, hay khắc nhau.

Tài mạng ghét nhau, như chữ “Tài mệnh tương đố 才 命 相 妒” nghĩa là tài năng và vận mệnh hay khắc với nhau, tức người tài giỏi thường gặp phải mạng xấu, hay vận bĩ.

Minh Thi có câu: Cổ lai tài mệnh lưỡng tương phương 古 來 才 命 兩 相 妨, nghĩa là xưa nay tài mệnh không ưa nhau.

Tài mạng thường hay ghét lẫn nhau,

Hễ là có nhọc mới danh cao.

(Đạo Sử).

 

 

TÀI NĂNG

才 能

Tài: Cái hay, giỏi của người ta. Năng: Tài giỏi, có thể được, sức làm việc.

Tài năng là tài giỏi, tức năng lực xuất sắc, hoặc khả năng làm giỏi và có sáng tạo một công việc gì.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Mở rộng trường thi công quả để tiếp đón nhơn tài, Hội Thánh chỉ mong ước quý vị thấm nhuần đạo đức, lập chí tu thân, trước thì lo tròn bổn phận làm người, sau nữa có thể thi thố tài năng giúp đời trợ Ðạo tuỳ theo địa vị hoàn cảnh của mỗi người.

Tóc xanh ai bảo tài năng kém,

Đầu bạc đừng khinh chí khí già.

(Thơ Thông Quang).

 

 

TÀI SẢN

財 產

Tài: Của cải. Sản: Của cải sinh ra.

Tài sản là của cải và sản nghiệp, tức chỉ tất cả của cải vật chất dùng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu dùng.

Thánh giáo Đức Chí Tôn giáng cơ bằng Pháp văn, do Hội Thánh dịch ra Việt ngữ có câu: Còn tài sản là tổng quát các vật quý giá của con người đã thu nhặt trên thế gian nầy.

Nên hay hư đừng kể quan dân,

Tài sản tính chia phần đều đủ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TÀI SẮC

才 色

Tài: Cái hay, giỏi của người ta. Sắc: Sắc đẹp, chỉ sắc diện bên ngoài.

Tài sắc là người có tài năng và sắc đẹp.

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du có câu: Nổi danh tài sắc một thì, Xôn xao ngoài cửa hiếm gì yến anh.

Riêng lo tài sắc hồng quần,

Không nhơ bợn tục nợ trần lánh chơn.

(Tam Nương Giáng Bút).

Hồng quần tài sắc đa truân,

Vào vòng bạc phận, chi mong trọn quyền.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TÀI SƠ

才 疏

Tài: Tài năng làm được việc. Sơ: Thưa, ít.

Tài sơ là kém tài năng.

Tài sơ trí thiển là tài năng thưa thớt, trí hiểu biết nông cạn. Đây là lời nói tự khiêm, không dám nhận mình là người tài trí.

Đức Quyền Giáo Tông dạy về Đức Chí Thành có câu: Dầu bậc Thiên Phong mà tài sơ tuổi nhỏ hơn mình đi nữa, hàng Tín Ðồ cũng chẳng nên hổ mình tùng sự, hoặc là vượt bực khinh khi ganh gổ tức là buộc vào mình một cái tội vi lịnh cùng Thượng Ðế vậy.

Tài sơ chưa toại lòng ưu thế,

Chuyện cũ thêm buồn cảnh xuất gia.

(Thơ Thuần Đức).

Đức bạc há bì trang nhả ngọc,

Tài sơ đâu sánh bực phun châu.

(Thơ Hiến Pháp).

 

 

TÀI TAI LUÔN VẦN

Tài tai: Tài năng và tai nạn. Luôn vần: Lúc nào cũng một vần với nhau.

Tài tai luôn vần là chữ tài với chữ tai cùng một vần, nghĩa bóng người tài giỏi thường gặp nạn tai xảy đến.

Nguyễn Du trong Truyện Kiều có viết: Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần.

Tài kia tai nọ luôn vần,

Đức tài trau luyện đồng cân mới mầu.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

TÀI TÌNH

才 情

Tài: Tài năng làm được việc. Tình: Tình cảm.

Tài tình là có tài lại đa tình. Nghĩa bóng: Chỉ người tài trí, tài giỏi.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có câu: Hiền hữu biết rằng trong trận trí binh nầy, nếu không đủ tài tình oai dõng thì chẳng hề thắng đặng.

Huyền diệu mũi kim qua chẳng lọt,

Đừng đừng xảo mị gọi tài tình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Lựa những mặt tài tình thọ giáo,

Học cho thông mối đạo quân thần.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Khi dắt trẻ đi chơi lựa chỗ,

Có văn nhơn thái độ tài tình.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TÀI TỬ GIAI NHÂN

才 子 佳 人

Tài tử: Người có tài năng xuất sắc. Giai nhân: Người con gái đẹp đẽ.

Tài tử giai nhân dùng để chỉ trai tài gái sắc.

Cổ ngữ có câu: Minh quân lương tể tao phùng dị, tài tử giai nhân tế ngộ nan 明 君 良 宰 遭 逢 易, 才 子 佳 人 際 遇 難, nghĩa là vua sáng tôi hiền gặp nhau dễ, tài tử giai nhân khó hội ngộ.

Dây oan tài tử tình lưu luyến,

Khuấy rối giai nhân tiếng khẽ khầm.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

Phải trang tài tử sánh giai nhân,

Trương, Phạm thành hôn xiết nỗi mừng!

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

TÀI THẦN

才 臣

Tài: Tài giỏi, tức có khả năng đặc biệt. Thần: Bề tôi, quan của một nước quân chủ.

Tài thần là những bề tôi giỏi, hay các quan trong triều đình tài ba, lỗi lạc.

Học cho đúng bậc tài thần,

Ưu quân ái quốc vua cần dân nghinh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TÀI TRÍ

才 智

Tài: Tài năng, có thể làm việc được. Trí: Hiểu rõ sự lý, thông minh.

Tài trí là tài năng và trí tuệ.

Giải về chữ “Nho”, Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Chữ Nho của Hán tự là bởi chữ “Nhân” đứng kế bên chữ “Nhu” mà thành ra. Nhân là người, Nhu là cần dùng, tức là một hạng người lúc nào cũng cần có để giúp cho nhân quần xã hội, biết cư xử và hành động cho hợp với lẽ Trời. Chữ “Nhu” lại có nghĩa là chờ đợi, tức là người học giỏi đợi người cần dùng đến, là đem tài trí mình ra hiến cho quốc gia để làm cho ích nước lợi dân.

Kính lượng bề trên ban đức tánh,

Tặng người tài trí hứng Ðài cao.

(Đạo Sử).

Nặng chở con thuyền tua rộng lớn,

Thiệt tài trí để khá cao sâu.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

TÀI VẬT

財 物

Tài: Tiền bạc của cải. Vật: Vật dụng, đồ vật.

Tài vật là tiền bạc của cải hay các thứ vật dụng.

Trong Đạo Luật Năm Mậu Dần có câu: Trước khi xướng lập cơ sở Lương điền, Công nghệ, thì chỉ nhờ nơi lòng từ thiện của toàn Đạo Hữu trợ giúp. Ngoài ra, những vị nào hảo tâm dâng thêm tài vật chi xứng đáng thì đặng nêu tên vào bảng danh dự để làm kỷ niệm nơi cơ sở.

Tài vật của người, dầu ít nhiều, dầu lớn nhỏ đều do người làm nhọc nhằn mới tạo ra được.

(Giáo Lý).

 

 

TẠI

1.- Tại là ở, nơi. Như: Sinh tại Nam Kỳ, quỳ tại Điện tiền, tại chức, tại ngoại.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Thầy đến đặng huờn nguyên Chơn thần cho các con đắc đạo. Con hiểu “Thần cư tại Nhãn”. Bố trí cho chư Ðạo hữu con hiểu rõ. Nguồn cội Tiên Phật do yếu nhiệm là tại đó.

Hành đến chết huờn hồn sống lại,

Cho đầu thai ở tại thanh lâu.

(Kinh Sám Hối).

Sắm nghiệp trần gian còn phải khó,

Lựa là nghi trưởng tại Bồng Sơn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thiên Thai nào phải tại trần nầy,

Chẳng phải giữa Trời, chẳng phải mây.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Tại là bởi. Như: Tại anh ấy làm, tại ta sơ ý, tại làm sao, tại lẽ gì?

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Chấp hai tay lạy là tại sao? Tả là nhựt, hữu là nguyệt, vị chi âm dương. Âm dương hiệp nhứt phát khởi Càn khôn, sanh sanh hoá hoá, tức là Ðạo.

Ðắc thất đều do tại máy Trời,

Làm sao qua đặng chốn non khơi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Hoạ phước vô môn, chỉ tại người,

Thỉnh mời rồi đổ bởi nơi Trời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nước vốn đầy sông tuỳ kẻ xách,

Lộc kia đầy đất tại người dời.

(Đạo Sử).

3.- Tại là đang, đương. Như: Hiện tại, tại chức.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Bức tranh xã hội thường ngày vẽ cho chúng ta thấy nhiều chuyện trớ trêu khúc mắc và chỉ cho chúng ta biết rằng đời hiện tại là đời mạt kiếp, nên cang thường đảo ngược, luân lý suy đồi.

Bần Đạo giảng về Luật Yêu Thương và Quyền Công Chánh đối với lẽ sống hiện tại của nhơn loại.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

TẠI GIA

在 家

Tại: Ở tại, đang ở. Gia: Nhà.

Tại gia là ở tại nhà.

Tu tại gia là người vào Đạo tu hành nhưng còn ở trong gia đình, còn lo sinh sống, bên Phật giáo gọi là Cư sĩ hay Cư sĩ tại gia. Trái lại, Xuất gia là người lìa hẳn gia đình vào nơi Phật tự để chuyên lo tu hành.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Gần đây ta thấy có Phật Giáo Hoà Hảo, phái đi tu tại gia ta thấy Minh Sư, Minh Đường v.v... đều có ảnh hưởng của Phật Giáo mà thành tượng ra.

Tu thiền thị, tu thành mới đúng,

Tu tại gia, chẳng dụng của ai,

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

TẠI VỊ

在 位

Tại: Ở, tại. Vị: Ngôi vị, chỗ ngồi.

Tại vị là đương giữ chức vị, tức là đương ở chức quan, hay đương ở ngôi vua.

Như: Hiện nay, ông ấy mới biết thương dân, chớ lúc còn tại vị ông ấy hà khắc với dân lắm.

Chúng ta thấy trước khi lên cầm quyền vì một sơn hà xã tắc, một nhà đương quyền tại vị, hay đã thoái vị cũng vậy...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

TAY

1.- Tay là bộ phận phía trên của cơ thể con người, từ vai đến các ngón, dùng để cầm, nắm.

Như: Tay chân, tay làm hàm nhai.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Ấy vậy, cái vấn đề tự lập là vấn đề các con phải lo đó. Thầy vì công lý mà khai đạo cho các con, cũng là một phúc hạnh lớn cho các con. Nếu Thầy còn đưa tay bồng ẵm thì các con chẳng còn để ý chịu nhọc vì Ðạo.

Giựt giành rốt cuộc cũng tay không,

Nhân quả đeo mang tội chất chồng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Hiệp một chủ quyền tay nắm giữ,

Thánh, Tiên, Phật đạo vốn như nhà.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Công dân đắp lũy bồi thành,

Tay mình lại cột lấy mình thảm thay.

(Ngụ Đời).

2.- Tay, nghĩa rộng là biểu tượng cho người. Như: Tay anh hùng, tay tướng cướp, tay phàm.

Thánh giáo Thầy có câu: Nếu các con phủi trần thế mà lo cho Ðạo thì sao Toà Thánh còn thiếu tay giúp Ðạo, để cho đến đỗi càng ngày càng tiều tuỵ mà ra một cảnh điêu tàn.

Ðạo cao phó có tay cao độ,

Gần gũi sau ra vạn dặm trường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nắng mưa kia vốn chưa vừa kẻ,

Phàm tục nhiều tay quá lỗi lời.

(Đạo Sử).

Dưới mắt thấy lắm tay đánh bóng,

Theo gái giàu như bóng theo chàng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TAY CO

Tay: Bộ phận ở thân thể con người, nối liền với đầu vai ra đến ngón. Nghĩa rộng chỉ người. Co: Rút lại, kéo lại.

Tay co là cây cọc buộc mái chèo, hình cong như cánh tay co lại, dùng để chỉ cánh tay hay bộ phận đắc lực cho một công việc hoặc một người nào đó.

Trong Truyện Kiều Nguyễn Du có câu: Như chàng có vững tay co, Mười phần cũng đắp điếm cho một vài.

Mình mỏng mảnh sức non nớt yếu,

Đỡ nâng chồng vốn thiếu tay co.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Nếu ông chồng đủ vững tay co,

Vợ đau bịnh giả đò cũng hốt thuốc.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TAY NHÚNG CHÀM

Tay: Bộ phận phía trên của cơ thể con người, từ vai đến các ngón, dùng để cầm, nắm. Nhúng: Cho vào một chất lỏng, rồi lấy ra ngay. Chàm: Loại cây nhỏ, lá cho chất màu xanh sẫm, dùng để nhuộm, in.

Tay nhúng chàm là tay đã lỡ nhúng vào màu chàm, ý nói đã lỡ phạm vào tội ác.

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du có câu: Trót vì tay đã nhúng chàm, Dại rồi còn biết khôn làm sao đây.

Lỡ tay nên chịu nhúng chàm,

Rủi ro mang lấy vóc phàm bấy lâu.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

TAY SAI

Tay: Cánh tay, biểu tượng cho người. Sai: Khiến, bảo làm việc gì đó.

Tay sai là người chịu cho kẻ khác sai khiến làm những việc trái đạo, phi nghĩa.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Thời nay, quý vị thử nhìn quanh sân khấu đời coi những nhân vật hoạt động chính trị có bao nhiêu người vì nước, vì dân, biết lo quốc kế dân sinh, mưu cầu hạnh phúc cho đồng bào. Hay là phần đông chỉ là những kẻ tay sai cho thế lực kim tiền?

Bên ngoài chúng mướn tay sai của Pháp buổi nọ bắt buộc, giam cầm, bị nhục một cách không thể tưởng tượng.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

TAY TRẮNG

Tay: Bộ phận nối liền với vai. Trắng: Không có gì.

Tay trắng là tay không. Nghĩa bóng: Chỉ không có tài sản, của cải.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy nhớ xưa, kẻ mộ Ðạo chịu ngàn cay muôn đắng, biết có người mà chẳng biết nhọc mình, giày gai áo bả, đội nguyệt mang sao, gió trước lọt chòi tranh, mưa sau hư giậu lá, bần hàn chẳng quản, tay trắng dìu người, một mảy không bợn nhơ, mới có thể lập ngôi cho mình đặng; có đâu lấy của lấn nhân, mượn quyền xua đức, kẻ chân thành lánh mặt, đứa tà mị áp vào, rồi cúm núm mang hơi tà, lại đua nói rằng thờ Chánh giáo.

Công trình tay trắng lập nên nhà,

Chẳng kể quyền quan vụ nết tà.

(Đạo Sử).

Mộng đời mở mắt hai tay trắng,

Nắm mối nhơn luân sạch não phiền.

(Nguyệt Tâm Chơn Nhơn).

Trăm năm rồi có gì đâu,

Chỉ hai tay trắng về chầu Diêm Vương.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

TAY TRƠN

Tay: Bộ phận nối liền với vai của con người. Trơn: Không có gì, hết sạch.

Tay trơn, đồng nghĩa với “Tay trắng”, là tay không, không tiền, không bạc. Nghĩa bóng: Chỉ không có tài sản, không của cải.

Như: Đi với hai bàn tay trơn.

Làm trai ví gìn lòng chí khí,

Dầu tay trơn mưu trí lập thân mình.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TÀY

Tày là bằng, đều, có thể sánh với.

Như: Tày đình, sánh tày, to tày đình, học thầy không tày học bạn.

Công lao sanh dưỡng nặng nề thay,

Ruộng biển, cao non chẳng sánh tày.

(Phương Tu Đại Đạo).

Ơn cha mẹ sánh tày Trời Đất,

Nỗi hiếu thân đừng thất đạo hằng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TÀY NON TỢ BIỂN

Tày non: Sánh bằng núi non. Tợ biển: Như biển cả.

Tày non tợ biển là bằng với núi tựa như biển, ý nói tình cảm, hay ơn nghĩa cao nặng như núi non, sâu rộng như biển cả.

Tình huynh đệ tày non tợ biển,

Nghĩa hữu bằng phải kiếng phải tin.

(Giới Tâm Kinh).

 

 

TAM

Tam là ba. Như: Tam bản, tam bảo, tam cấp, tam kỳ, tam khôi, tam cang, tam tùng.

Thánh giáo Thầy có câu: Các con có cả ba Chánh đạo là Tam giáo, các con biết tôn trọng, ngày nay lại thêm Chánh đạo nữa, các con biết ít nước nào đặng vậy?

Muốn cho đặng cao nhơn trọng ngãi,

Nhứt bộ dầu tam bái cũng cam đành.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TAM BÀNH

三 彭

Tam: Ba. Bành: Tên vị Thần.

Theo Thái Thượng Tam Thi Trung Kinh của Đạo gia, thì mỗi con người chúng ta đều có ba vị Thần là Bành Kiêu, Bành Cứ và Bành Chất ở trong người, chúng thường xúi giục ta nổi giận, làm điều xằng bậy.

Do đó, những sự hung ác, giận dữ của con người là do Thần Tam Bành gây ra. Tam bành dùng để chỉ cơn giận dữ của người đàn bà.

Truyện Kiều của Nguyễn Du có câu: “Mụ nghe nàng nói hay tình, Bấy giờ mới nổi tam bành mụ lên”.

Diệt trừ phiền não phục hồi,

Tam bành, lục tặc, khử rồi tâm minh.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Nổi tam bành xô hất khỏi mùng,

Chừng ấy khóc lo chung xuống ghế.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TAM BẢO

Tam: Ba. Bảo (bửu): Quý báu.

1.- Tam bảo, còn gọi là “Tam bửu 三 寶”, là ba món quý báu: Đó là Phật, Pháp, Tăng.

Theo Phật Giáo, chư vị Phật là Phật bảo, giáo pháp của Phật là Pháp bảo, những người theo giáo pháp đó mà tu là Tăng bảo.

Theo Cao Đài, Đức Chí Tôn là Phật bảo, Phật Mẫu là Pháp bảo, Chúng sanh là Tăng bảo.

Quy y Tam bảo lòng thanh tịnh,

Chứng ngộ nhiệm mầu cảnh giới phăng.

(Thơ Thanh Hương).

2.- Tam bảo, như chữ “Tam bửu”, là ba món báu của Trời, Đất và người.

Xem: Tam bửu.

Hình Toà Thánh tượng trưng Tam bảo,

Tinh, Khí, Thần Cơ Đạo hiển nhiên.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

TAM BỬU

三 寶

Tam: Ba. Bửu (bảo): Quý báu.

Tam Bửu (bảo) là ba món quý báu, của Trời là Nhật, Nguyệt, Tinh, của Đất là Thuỷ, Hoả, Phong, của người là Tinh, Khí, Thần.

- Tam bửu của Trời là Nhựt, Nguyệt, Tinh. Mặt trời, mặt trăng và các vì sao là ba báu phát ra ánh sáng mà dưỡng dục muôn loài, hoá sanh vạn vật, luân chuyển Càn khôn, chia ra ngày đêm sáng tối.

- Tam bửu của Đất là Thuỷ, Hoả, Phong. Thuỷ, Hoả, Phong là nước, lửa, gió là ba món báu của Đất. Nhờ ba báu ấy mà mưa hoà gió thuận, cây cối tươi nhuận và chia ra bốn mùa tám tiết.

- Tam bửu của người Tinh, Khí, Thần. Tinh là thân xác, Khí là chơn thần, Thần là chơn linh. Người tu hành muốn đắc Đạo phải luyện cho ba báu ấy hiệp nhứt, tức là luyện Tinh hoá Khí, luyện Khí hoá Thần, luyện Thần huờn hư.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Thần là khiếm khuyết của cơ mầu nhiệm từ ngày Ðạo bị bế. Lập Tam Kỳ Phổ Ðộ nầy, duy Thầy cho Thần hiệp Tinh, Khí đặng hiệp đủ Tam Bửu là cơ mầu nhiệm siêu phàm nhập Thánh.

Bông Tinh, Rượu Khí, Trà Thần,

Gọi là Tam Bửu kính dâng đủ rồi.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

TAM CANG

Hay “Tam cương”.

Tam: Ba. Cang (cương): Giềng lươi, tức sợi dây lớn của cái lưới.

Tam cang, như chữ “Tam cương 三 綱”, là ba giềng mối chính.

Người xưa quan niệm rằng cái giềng lưới rất quan trọng, chỉ cần nắm bốn cái giềng lưới thì tất cả các mắt lưới đều dương ra hết.

Nghĩa bóng: Ba giềng mối quan hệ trong đạo nhân luân, đó là quân thần (Vua tôi), Phụ tử (Cha con), Phu phụ (Vợ chồng).

Trong sách Lễ Vĩ có câu: Quân vi thần cương, phụ vi tử cương, phu vi phụ cương 君 為 臣 綱, 父 為 子 綱, 夫 為 婦 綱, nghĩa là vua là giềng cho bề tôi, cha là giềng cho con, chồng làm giềng cho vợ.

Trong Tân Luật, Điều thứ ba về phần Thế Luật có quy định: Phải giữ Tam cang Ngũ thường là nguồn cội của nhơn đạo; nam thì hiếu đễ, trung tín, lễ nghĩa liêm sỉ, nữ thì tùng phu, tùng phụ, tùng tử và công, dung, ngôn, hạnh.

Nguyện tam cang gìn tâm trọn đạo,

Nguyện ngũ thường hiếu thảo làm khuôn.

(Kinh Thế Đạo).

Tam cang ngũ lý nền nhân đạo,

Ngũ giới tam quy cội Thánh Tiên.

(Tăng Tử, Mạnh Tử).

 

 

TAM CÔNG

三 功

Tam: Ba. Công: Sự khó nhó nhọc, hiệu quả của một công việc gì.

Tam công là ba cách lập công, gồm: Công phu, công quả, công trình.

Lập công là một trong Tam lập, còn gọi là Tam bất hủ, đó là lập đức, lập công và lập ngôn.

Xem: Tam lập.

Tam công hằng bữa lo bòn mót,

Hạnh đức suốt đời gắng luyện trau.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

TAM CHÂU BÁT BỘ HỘ PHÁP THIÊN TÔN

三 洲 八 部 護 法 天 尊

Khi Cúng Đàn, chúng ta thường có thượng Sớ, trong Sớ Văn có câu: “Tam Châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên Tôn”. Đây cũng là câu chú dùng để niệm danh hiệu của Đức Hộ Pháp.

Tam Châu là ba Châu lớn nằm trong “Tứ Đại Bộ Châu”.

Trước hết chúng ta thử tìm hiểu về “Tứ Đại Bộ Châu”.

Xét về giáo lý Cao Đài, trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có dạy như sau: “Tam thập lục thiên, Tứ Đại Bộ Châu ở không không trên không khí, tức là không phải tinh tú, còn lại Thất thập nhị địa và Tam thiên thế giới thì đều là tinh tú, Tính lại ba ngàn bảy mươi hai ngôi sao”.

Và đoạn khác, Ngài dạy: “Đứng bực Đế vương nơi trái địa cầu này chưa đặng vào bực chót của Địa cầu 67. Trong Địa cầu 67, nhơn loại cũng phân ra đẳng cấp dường ấy. Cái quý trọng của mỗi Địa cầu càng tăng thêm hoài, cho tới đệ nhứt cầu, Tam thiên thế giới, qua khỏi Tam thiên thế giới thì mới đến Tứ Đại Bộ châu, qua Tứ Đại Bộ Châu mới vào đặng Tam thập lục thiên, vào Tam thập lục thiên rồi phải chuyển kiếp tu hành nữa mới đặng lên đến Bạch Ngọc Kinh”.

Như vậy, Tứ Đại Bộ Châu trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Chí Tôn dạy không phải tinh tú, nằm ở không không trên không khí, dưới Tam thập lục thiên và trên Tam thiên thế giới, tức là Tứ Đại Bộ Châu trong cõi thiêng liêng.

Khi nói về cái chết của Ngài Chưởng Pháp Thượng Tương Thanh, Ðức Chí Tôn giáng cơ dạy hai Ngài Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt và Ngọc Lịch Nguyệt vào ngày 7 tháng 11 năm Bính Dần (Dl. 11-12-1926) như sau: “Trung, Lịch, hai con phải dụng Ðại lễ mà an táng cho Tương, nghe! Thầy ngặt một lẽ chẳng thế nào đem Tương vào Tam thập lục Thiên, phải để nó đợi nơi Ðông Ðại Bộ Châu mà chờ Toà Tam Giáo phát lạc”.

Qua đoạn Thánh ngôn nầy, chúng ta suy ra được rằng: Đông Đại Bộ Châu là một cõi dưới Tam thập lục Thiên, nhưng trên Tam Thiên thế giới về phía Đông của Tứ Đại Bộ Châu nơi cõi Thiêng liêng nầy.

Còn theo Kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế thì hai câu: “Thượng chưởng Tam thập lục thiên, Tam thiên thế giới; Hạ ốc Thất thập nhị đia,Tứ Đại Bộ Châu”, có nghĩa là Thượng Đế, trên thì chưởng quản ba mươi sáu tầng Trời, ba ngàn Thế giới; dưới thì chưởng quản bảy mươi hai Địa cầu và bốn Đại Bộ Châu.

Như vậy theo ý nghĩa của Kinh, Tứ Đại Bộ Châu này, khác với Tứ Đại Bộ Châu trên, thuộc cõi trung giới, nằm bên Thất thập nhị địa, chia ra theo bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc của Thất thập nhị địa:

 

Phía đông là Đông Thắng Thần Châu

 

東 勝 神 洲.

 

Phía tây là Tây Ngưu Hoá Châu

 

西 牛 貨 洲.

 

Phía nam là Nam Thiệm Bộ Châu

 

南 贍 部 洲.

 

Phía bắc là Bắc Câu Lư Châu

 

北 俱 閭 洲.

Trong Tứ Đại Bộ Châu nầy, Địa cầu 68 của nhơn loại chúng ta thuộc Nam Thiệm Bộ Châu, cho nên trong “Bài Xưng Tụng Công Đức Phật Tiên Thánh Thần” có câu:

Lòng sở vọng lâm dâm tụng niệm,

Xin giải nàn Nam Thiệm Bộ Châu.

Trong Tứ Đại Bộ Châu nầy, Đức Hộ Pháp vâng lệnh Đức Chí Tôn cầm quyền giáo hoá ba châu và tám Bộ, nên người ta xưng tụng Ngài là “Tam Châu Bát Bộ Hô Pháp Thiên Tôn”.

Tam Châu:

Hộ Pháp cải quản ba châu là: Đông Thắng Thần Châu, Tây Ngưu Hoá Châu, Nam Thiệm Bộ Châu. Còn Bắc Câu Lư Châu không thuộc quyền giáo hoá của Ngài mà dành chỗ ở của hàng quỷ vị.

Bát Bộ:

Bát bộ là Tám bộ, mỗi bộ cai quản một phẩm chơn hồn, nên Bát bộ cai quản bát phẩm chơn hồn. Bát phẩm chơn hồn gồm: Kim thạch hồn, Thảo mộc hồn, Thú cầm hồn, Nhơn hồn, Thần hồn, Thánh hồn, Tiên hồn và Phật hồn.

Đức Hộ Pháp thay Đức Chí Tôn mở cơ tận độ chúng sanh nơi cõi trần, nên Ngài có nhiệm vụ cai quản Bát bộ nầy.

Thuyết về “Bí Pháp”, Đức Hộ Pháp có giải thích về Tam Châu Bát Bộ như sau: “Tam Châu là: Đông Thắng Thần Châu, Tây Ngưu Hoá Châu, Nam Thiệm Bộ Châu đều thuộc quyền hạn của Hộ Pháp, còn Bắc Câu Lư Châu để cho các phẩm chơn hồn quỷ vị nó định phận tại nơi đó, định nơi cư trú tại đó. Nó có một quyền năng vô định, chẳng cần chỉ giáo, để đặc biệt một châu cho quỷ vị, ăn năn tu học đặng đoạt vị.

Ba Bộ Châu kia thuộc về quyền hạn của Hộ Pháp giáo hoá. Duy có Bắc Châu, Ngài không thường ngó tới lắm, để cho nó tự do làm gì thì làm, khôn nhờ dại chịu.

Bát Bộ là gì? Là nơi Bát phẩm chơn hồn chớ có chi đâu. Tám hồn là gì? Là vật chất hồn, thảo mộc hồn, thú cầm hồn, Nhơn hồn, dĩ chí cho đến Thần, Thánh, Tiên, Phật hồn.

Tám Bộ ấy thuộc quyền hạn của Hộ Pháp Thiên vị, nơi Đức Chí Tôn gọi đến tạo cơ quan tận độ chúng sanh, không còn ai khác hơn Hộ Pháp, chính Hộ Pháp trách nhiệm ấy.

Đức Hộ Pháp đến cốt yếu đem Bát phẩm chơn hồn thăng vị, nhiều hoặc ít, có thể một đẳng cấp, từ vật chất Hộ Pháp đem lên thảo mộc, thảo mộc đem lên thú cầm, thú cầm đem lên Nhơn loại, dĩ chí Phật vị. Hộ Pháp có thể định cho họ đặng”.

Tóm lại “Tam châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên Tôn” có nghĩa là Hộ Pháp là vị Thiên Tôn nắm quyền Tam Châu, Bát Bộ.

Theo Đức Hộ Pháp, đáng lý câu Chú của Ngài phải đọc là “Tam Thiên Thế Giái Hộ Pháp Giáng Lâm”, nhưng vì người xưa thường dùng câu “Tam châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên Tôn” nên cho đến nay phải giữ như vậy.

Điều nầy, khi thuyết về “Hộ Pháp Hành Pháp Mỗi Khi Vô Cúng Đàn”, Ngài có dạy như sau: “Mỗi phen nhập đàn, hễ trống chuông rồi, thì tất cả đi vô, cả thảy đi vô thong thả, chỉ có Bần Ðạo thật bối rối, bước lên ngai rồi, trụ pháp lại, vẽ bùa niệm chú. Câu chú mà khi thượng sớ, chúng ta thường nghe đọc “Tam Châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên Tôn”. Thật sự thì như vầy “Tam Thiên Thế Giái Hộ Pháp Giáng Lâm”. Từ trước đến giờ, các bậc tiền bối của chúng ta đã để như nói trên nên không thể sửa cải được, phải để y như vậy”.

Đức Hộ Pháp coi về ba Châu, tám Bộ, nên được tôn xưng là Tam Châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên Tôn.

Trong bài Kệ Chuông U Minh, lời nguyện thứ 29 có câu: Nam Mô Tam Châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên Tôn 南 無 三 洲 八 部 護 法 天 尊.

Tam Châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên Tôn.

(Sớ Văn).

 

 

TAM DƯƠNG

三 陽

Tam: Ba. Dương: Khí dương.

Tam dương là ba khí dương, chỉ một cái tiết thuộc về mùa xuân.

Nhất dương chỉ tháng mười một, Nhị dương chỉ tháng chạp, Tam dương chỉ tháng giêng.

Ngũ phúc hoa khai mừng vận thới,

Tam dương liễn chúc đẹp hình lân.

(Thơ Huệ Phong).

Trừ tịch pháo ngời hoa Ngũ phúc,

Giao thừa lân hiện nét Tam dương.

(Thơ Vạn Năng).

 

 

TAM ĐA

三 多

Tam: Ba. Đa: Nhiều.

Tam đa là ý mong được ba cái nhiều: Đa tử 多 子 nhiều con, đa thọ 多 壽 nhiều tuổi thọ, đa phú quý 多 富 貴 nhiều sang giàu.

Có người lại cho tam đa là nhiều phúc, nhiều tuổi thọ và nhiều con trai.

Khánh hỷ chờ thêm trung, thượng thọ,

Lục tuần xin chúc chữ “Tam đa”.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

TAM ĐỒ

三 途

Tam: Ba. Đồ: Con đường.

Tam đồ là ba con đường.

Theo giáo lý Phật giáo, những người sống trên dương thế có hành vi hung bạo, ác đức, phải chịu đoạ Tam đồ là ba đường: Địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.

Trong kinh Phật nói rằng: Địa ngục tên là hoả đồ, ngạ quỷ tên là đạo đồ, súc sanh tên là huyết đồ.

Thoát thân cho khỏi đoạ tam đồ,

Cánh cửa nhà Tiên mặc sức xô.

(Thơ Bảo Pháp).

Cho mau lánh gót khỏi tam đồ,

Mặc khách hồng trần tự lấn xô.

(Thơ Thông Quang).

 

 

TAM ĐỘC

三 毒

Tam: Ba. Độc: Độc chất làm hại người.

Tam độc là ba loại độc hại trong tâm thức, Phật giáo gọi đó là tham, sân, si, là ba loại phiền não căn bản thúc đẩy chúng sanh tạo nghiệp ác, gây ra đau khổ trói buộc chúng sanh vào vòng sinh tử luân hồi cho chính mình và cho người khác.

Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta bị lôi cuốn vào những nghiệp xấu rất nhanh, vì thế nên chúng ta phải thường xuyên loại trừ những thứ phiền não độc hại, đồng thời chúng ta phải thực hành chánh niệm để tâm bớt dong ruổi vào đường xấu, ác.

Trong các thứ phiền não, Tam độc là ba loại độc hại nhứt về tâm thức, mà Phật giáo gọi: Tham, sân, si, ba loại phiền não căn bản thúc đẩy chúng sanh tạo nghiệp ác, gây ra đau khổ trói buộc chúng sanh vào vòng sinh tử luân hồi cho chính mình và cho người khác.

1 - Tham hay ái dục, tức là lòng ham muốn được nhiều tiền của, danh vọng, sắc dục, ăn uống. Lòng tham là cái túi không đáy, cho nên không biết đến đâu mà đủ.

Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy về lòng tham như sau: “Các con có hiểu vì sao nhơn sanh có lòng tham lam chăng? Thì cũng muốn có nhiều kẻ phục tùng dưới quyền lợi của mình. Vã lại, người đời cần nhứt là cơm với áo. Nay muốn có nhiều kẻ phục tùng không chi bằng nắm chặt quyền phân phát áo cơm, phải dùng đủ mưu chước quỷ quyệt thâu đoạt lợi lộc, quyền thế. Vì vậy, mà đời trở nên trường hỗn độn, tranh đấu, giựt giành; mạnh được, yếu thua, mất hẳn công bình, thiên nhiên Tạo hoá.

Ấy vậy, phải biết rằng: Tham lam vào tâm, tâm hết đạo đức; tham lam vào nhà, nhà hết chánh giáo; tham lam vào nước, nước mất chơn trị. Tham lam lộng khắp thế giới, thế giới hết Thần Tiên: Lòng tham lam có thể giục các con lỗi đạo cùng Thầy”.

2 - Sân là oán giận, thù ghét những cái gì không làm cho mình thích ý.

Trong các loại phiền não thì sân hận là thứ phiền não có tướng trạng rất thô bạo, và nó có thể phá hoại sự nghiệp hành trì của người tu một cách nặng nề nhất. Một khi sân hận khởi lên mà chúng ta không tự kềm chế, không tự khắc phục được, thì biết bao chuyện đau khổ, chướng ngại xảy đến cho ta. Do vậy mới có câu: “Nhất niệm Sân tâm khởi, bách vạn chướng môn khai 一 念 嗔 心 起, 百 萬 障 門 開”, có nghĩa là khi khởi một niệm giận hờn tức là đã mở ra muôn ngàn cửa chướng ngại.

Trong kinh Phật cũng có câu: Một niệm lửa sân đốt tan cả rừng công đức.

3 - Si, tức ngu si, mê muội, rồi đưa đến vô minh.

Theo Phật, từ sân hận con người bị đưa đến ngu si, mê muội. Một khi tức giận đã nhiễm vào tâm thì si mê sẽ nổi lên, lúc đó chúng ta sẽ sống trong cảnh giới vô minh, rất dễ lầm đường lạc nẻo, và rất dễ dàng gây nên tội ác, mà không lường được hậu quả đau khổ.

Những giây phút tức giận trở thành ngu si, lầm lẫn thường là nguyên nhân của những sự hối tiếc, đau khổ sau đó, cho mình và cho người khác, có khi kéo dài triền miên suốt cả cuộc đời. Bởi vậy phải diệt tận gốc cài sân hận thì cuộc sống mới an lạc và hạnh phúc.

Trên đây là ba căn ác có tính bẩm sinh và di truyền của nghiệp bất thiện làm mê mờ tâm thức khiến cho con người không thấy được chân tâm, Phật tánh vốn thường có nơi mình.

Trong Kinh Pháp Cú, bài kệ số 251 có nói:

Lửa nào bằng lửa tham!

Chấp nào bằng sân hận!

Lưới nào bằng lưới si!

Sông nào bằng sông ái.

Trong Thuyết Đạo, Đức Thượng Sanh cũng có đoạn dạy: Biết bao nhiêu người trong cảnh giới tu hành vì lòng trần còn nặng, dục vọng chưa tan nên lắm khi vướng vào lưới Tam Độc, tức là Tham, Sân, Si chạy theo bả lợi mồi danh tranh đua giành giựt. Rốt cuộc, tu hành bị lỡ dở mà danh lợi cũng mơ màng.

Chúng ta thấy nguyên nhân của mọi tệ nạn trong xã hội như bạo hành, ma túy, xung đột, trộm cướp, chiến tranh... đều có từ Tam độc. Ô nhiễm môi trường, hủy hoại sinh thái, rối loạn xã hội đều bắt nguồn từ nội tâm con người bị ô nhiễm. Vì vậy phải đối trị ba món độc là tham, sân, si, tức lòng tham lam, lòng hận thù, và vô minh tiềm ẩn trong thân tâm của mỗi chúng ta.

Phương pháp để đối trị với tam độc.

- Muốn trừ Tam độc, phải quán chiếu vô thường, tức là lấy trí tuệ suy xét thấy sự sống thân mạng nầy mong manh, thường biến đổi, nên lòng ham muốn, sân hận phải giảm bớt, dừng lại.

- Quán chiếu duyên khởi tức là thấy mọi sự vật đều là giả tưởng, đều do nhân duyên hiệp lại, không phải là thực thể, nên tâm không còn chấp chặt.

- Vun trồng, trau luyện hạnh từ bi hỷ xả để vượt qua lòng sân hận.

- Thực hành hạnh bố thí để diệt trừ lòng tham.

- Đừng để việc nhập vào tâm, bởi tâm chúng sinh thường y theo cảnh, nên khi cảnh đã vắng thì tâm mất chỗ nương tựa, lần lần sẽ phai nhạt.

- Dùng sám hối để đối trị, tức lấy việc trì tụng kinh sám hối thường để giới tâm, khiến lòng sợ sệt mà không nhiễm vào tham sân.

Mở mang trí huệ trừ tam độc,

Giải thoát thân tâm dứt não phiền.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

TAM GIÁO

三 教

Tam: Ba. Giáo: Tôn giáo.

Tam Giáo là ba nền Tôn giáo lớn ở Trung Hoa và Việt Nam, đó là Nho giáo hay Khổng giáo, Đạo giáo hay Lão giáo, Phật giáo hay Thích giáo.

Thánh giáo Thầy có dạy: Ðại Ðạo Tam Kỳ hoằng khai tại cõi Nam, đã chiếu theo Thiên thơ, hội Tam giáo, mà vớt chúng sanh thoát vòng ly khổ, thiệt thiệt, hư hư, một mảy chi, cũng chẳng qua là máy Thiên cơ mà thôi.

Nam Mô Tam Giáo diệu huyền,

Tuyệt luân Bát Nhã đưa thuyền độ vong.

(Kinh Tận Độ).

Hình nầy phạt kẻ dại ngây,

Khinh khi Tam Giáo đoạ đày thế ni.

(Kinh Sám Hối).

Trong Tam Giáo có lời khuyến dạy,

Gốc bởi lòng làm phải làm lành.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

TAM GIÁO ĐÀI

三 教 臺

Tam Giáo: Ba nền Tôn giáo lớn ở Trung Hoa và Việt Nam, đó là Nho giáo, Đạo giáo và Thích giáo. Đài: Đồng nghĩa với chữ “Toà”, là cái nhà làm cao có thể đứng trông xa được.

Tam Giáo Ðài còn gọi “Tam Giáo Toà 三 教 座”, là Toà Án nơi cõi Thiêng liêng, dành để xử đoán các Chức sắc ba phái (Thái, Thượng, Ngọc) trong tôn giáo Cao Đài phạm tội.

Chúng nó đã gieo ác cảm lừng đến Tam Giáo Ðài, thế thì bước đường sau nầy Thầy khó cứu rỗi được.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TAM GIÁO MỘT NHÀ

Tam giáo: Ba nền tôn giáo lớn. Một nhà: Ý chỉ một gốc, tức đồng nguyên.

Tam Giáo một nhà là một tư tưởng cho rằng Tam Giáo đồng nguyên hay Tam Giáo đồng tông, tức Phật Giáo, Lão Giáo và Nho Giáo cùng một gốc Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế mà sinh ra.

Vì vậy, trong bài Khai Kinh mới có câu: “Một cội sanh ba nhánh in nhau”. Ba nhánh tức là Tam Giáo, tuy khác nhau, nhưng cũng từ một gốc là Thượng Đế mà phát sinh ra.

Tam Giáo từ xưa vốn một nhà,

Người sau lầm tưởng vọng chia ba.

(Khổng Phu Tử Giáng).

 

 

TAM GIÁO QUY NGUYÊN

三 教 歸 元

Tam Giáo: Phật Giáo, Tiên Giáo, Thánh giáo, hoặc Thích Giáo, Đạo Giáo, Nho Giáo. Quy nguyên: Về nguồn, tức về nguồn cội Đức Thượng Đế.

Tam Giáo quy nguyên là Đức Thượng Đế quy hiệp ba nền Giáo lý và triết lý Phật, Tiên Thánh vào một mối chơn truyền duy nhứt, lập thành một hệ thống Giáo lý, triết lý phù hợp với mức tiến hoá của chúng sanh trong thời Tam Kỳ Phổ Độ.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Vậy Thánh Ý của Chí Tôn khai mở Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, Tam Giáo Quy Nguyên, Ngũ Chi Phục Nhứt là muốn dung hoà tâm lý toàn cả con cái của Người để cứu vãn trọn 92 ức nguyên nhân, vì thế mà phải bị sa đoạ nơi đây.

Tường quang nhứt khí chiếu minh đông,

Tam giáo quy nguyên dữ cộng đồng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tam Giáo quy nguyên đồng nhứt lý,

Dạy người cải dữ gắng làm lành.

(Thơ Thông Quang).

 

 

TAM GIÁO TOÀ

三 教 座

Tam Giáo: Ba nền tôn giáo lớn là Phật, Tiên, Nho. Toà: Toà án, dinh thự, ngôi.

Tam Giáo Toà, tức Toà Tam Giáo, là một Toà án đặc biệt của Đạo Cao Đài để xét xử các chức sắc, chức việc và đạo hữu vi phạm luật pháp nặng nề của Đạo.

Xem: Toà Tam Giáo.

Vậy Lão nhứt định lập Tam Giáo Toà kể từ đầu tháng chạp năm nay...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TAM HUÊ TỤ ĐỈNH

Hay “Tam hoa tụ đỉnh”.

Muốn Tam huê tụ đỉnh (Tam hoa tụ đỉnh 三 花 聚 頂), phải luyện Tinh hoá Khí, luyện Khí hoá Thần, luyện Thần hườn Hư.

Khi luyện được Thần huờn hư, thì lúc ấy Tam hoa là Tinh, Khí, Thần hội tụ nơi thượng điền, cũng như cây cỏ nở hoa sắp kết trái mà tinh hoa tụ nơi đỉnh.

Tổ Tam Phong nói: Nhị khí ngưng thai diên tự giảm, tam hoa tụ đỉnh hống lai tăng.

Ngũ khí triều nguơn linh giác hiện,

Tam huê tụ đỉnh huệ năng khai.

(Thơ Danh Nhân).

 

 

TAM HOÀNG

三 皇

Tam: Ba. Hoàng: Hoàng Đế, vua.

Tam hoàng là ba vị vua Thánh thời thượng cổ của Trung Quốc.

Về Tam Hoàng có nhiều thuyết khác nhau, theo sách Tam Hoàng Thiên Kinh thì Tam Hoàng là Thiên Hoàng, Địa Hoàng và Nhơn Hoàng.

Theo sách Thượng Thư Đại Truyện thì Tam Hoàng là Toại Nhân, Phục Hy, Thần Nông.

Dựng đời Ngũ Đế Tam Hoàng,

Trăm nhà muôn họ vững vàng thảnh thơi.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

TAM HỘI LONG HOA

三 會 龍 花

Tam hội: Hội lần thứ ba. Long Hoa: Một Đại Hội tuyển chọn người hiền lương đạo đức.

Tam Hội Long Hoa là Đại Hội lần thứ ba vào Tam Kỳ Phổ Độ, gọi là Bạch Vương Đại Hội do Đức Di Lạc Vương Phật làm Giáo Chủ.

Trong bài Kệ Chuông U Minh, lời nguyện thứ 33 có câu: Nam Mô Tam Hội Long Hoa Bạch Vương Đại Hội, Di Lạc Cổ Phật Chưởng Giáo Thiên Tôn 南 無 三 會 龍 花, 彌 勒 古 佛 掌 教 天 尊.

Nam Mô Tam Hội Long Hoa Bạch Vương Đại Hội, Di Lạc Cổ Phật Chưởng Giáo Thiên Tôn.

(Kệ U Minh).

 

 

TAM HỒN

三 魂

Tam: Ba. Hồn: Phần vô hình trong con người, theo đạo Cao Đài, là điểm thiêng liêng linh diệu trong con người. Ấy là điểm Linh quang của Đức Chí Tôn ban cho. Nó vốn bất tiêu bất diệt.

Tam hồn là ba bực hồn của con người: Sanh hồn, Giác hồn và Linh hồn.

Vạn vật và con người đều có bẩm thụ một điểm Chơn linh của Chí Tôn phân tánh, song mỗi vật đều có một hình thể hữu hình khác nhau, tuỳ theo trình độ tiến hoá của từng Chơn linh đó.

Loài vật chất thấp nhứt là kim thạch, vốn loài vô tri vô giác, không phân biệt được đầu ngọn; kim thạch tiến lên thảo mộc thì có một hồn là sanh hồn, có sự sống, song chưa có cảm giác, có gốc (đầu) quay xuống đất, ngọn (đuôi) hướng lên trời; thảo mộc tiến lên thú cầm thì có được hai hồn là sanh hồn, giác hồn, có sự sống và có cảm giác, có đầu và đuôi ngang nhau; thú cầm tiến lên con người thì có ba hồn: Sanh hồn, giác hồn, linh hồn, đầu hướng lên trời, chân quay xuống đất.

Nhờ có Linh hồn mà con người, so với muôn vật, có tánh linh hơn hết, và cũng nhờ Linh hồn mà con người biết phân biệt được phải quấy, tội phước nên có thể tu hành mà đạt Đạo được.

Luôn đó Ngài lấy triết lý cao siêu mà dạy Bần Ðạo trong một con người có ba xác thân gọi là tam hồn và bảy vía gọi là thất phách liên hệ mật thiết cùng nhau.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

TAM KỲ

三 期

Tam: Ba. Kỳ: Thời kỳ.

Tam Kỳ là trong thời kỳ thứ ba.

Kể từ Thái cổ đến nay trên quả Địa cầu này Đức Thượng Đế mở ra ba thời kỳ phổ độ, nhứt kỳ ứng với thời Thượng nguơn, Nhị kỳ ứng với thời Trung nguơn và Tam kỳ ứng với thời Hạ nguơn.

Do vậy, Tam Kỳ, Đại Đạo Tam Kỳ, hay Tam Kỳ Phổ Độ được dùng để chỉ đạo Cao Đài.

Xem: Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Phước gặp Tam Kỳ Trời phổ độ,

Gắng tu kịp buổi lướt đài vân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Đấng Thượng Đế cao thâm huyền diệu,

Khai Đạo Trời lấy hiệu Tam Kỳ.

(Nguyễn Trung Trực Giáng).

Tam Kỳ rộng mở ban huyền diệu,

Đại Đạo hoằng khai đủ nhiệm mầu.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

TAM KỲ KHAI HIỆP THIÊN THI

Tam kỳ: Thời kỳ thứ ba. Đây chỉ Đạo Cao Đài, một tôn giáo được khai mở trong thời kỳ thứ ba để phổ độ chúng sanh. Khai hiệp: Khai mở ra để hiệp lại. Thiên Thi: Hay Thiên thư (Thiên thơ), là quyển sách Trời. Trong đó ghi chép về luật pháp, thiên cơ, nguyên lý vận hành vũ trụ và sự tiến hoá của vạn vật.

Tam Kỳ khai hiệp Thiên thi, như câu “Tam Kỳ khai hợp Thiên thư 三 期 開 合 天 書”, nghĩa là việc khai nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ ở nước Việt Nam cũng do Thiên thơ tiền định.

Thánh giáo Thầy có nói: “Đại Đạo Tam Kỳ hoằng khai tại cõi Nam, đã chiếu theo Thiên thơ, Hội Tam Giáo, mà vớt chúng sanh thoát vòng ly khổ, thiệt thiệt, hư hư, một mảy chi, cũng chẳng qua là máy thiên cơ mà thôi”.

Tam Kỳ khai hiệp Thiên thi,

Khoa môn Tiên vị ngộ kỳ Phật duyên.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

 

 

TAM KỲ PHỔ ĐỘ

三 期 普 度

Tam kỳ: Thời kỳ thứ ba. Phổ độ: Cứu giúp nhơn sanh khắp mọi nơi.

Tam Kỳ Phổ Độ là trong thời kỳ thứ ba, bày ra để cứư giúp tất cả chúng sanh khắp mọi nơi, mọi chốn.

Thánh giáo Thầy có dạy: Chư môn đệ nghe dạy: Vốn từ trước trong Thiên thơ Tam Kỳ Phổ Độ nầy, nền Chánh giáo phải có: Nhứt Phật, Tam Tiên, Tam thập lục Thánh, Thất thập nhị Hiền, Tam thiên Đồ đệ, chưởng quản thâu Tam Giáo hiệp nhứt.

Xem: Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Vậy mới có Tam Kỳ Phổ Độ,

Đại Đạo khai cứu khổ khắp nơi.

(Thơ Bảo Pháp).

Tam Kỳ Phổ Độ tùng Thiên lịnh,

Nhị Trấn Oai Nghiêm ngự Bửu toà.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

TAM LẬP

三 立

Tam: Ba. Lập: Gầy dựng nên.

Tam lập là ba điều lập nên, gồm: Lập công, lập đức và lập ngôn.

Tam lập còn gọi là “Tam bất hủ 三 不 腐”, tức là ba điều không bao giờ hư hoại, mà cứ truyền mãi về sau.

Trong “Lời Tựa” quyển Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp, Ngài Hiến Pháp cho rằng: Ðức Hộ Pháp là một trong các vị tiền bối khai sáng nền Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, đã thực hiện trước hết chủ thuyết Tam Lập: “Lập đức, lập công, lập ngôn”.

Niệm hương tế độ hành tam lập,

Lần chuỗi từ bi tịnh lục trần.

(Thơ Thuần Đức).

Đạo khuyên tam lập nên lo trước,

Đạo dạy thất tình phải diệt sau.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

TAM MUỘI

三 昧

Tam: Ba. Muội: Tăm tối, mê tối.

Tam muội là ba điều mê tối là tham, sân, si. Nếu không diệt được ba điều này, nó sẽ trở thành thứ lửa mà Phật gọi là lửa tam mụội. Vì thế người tu phải vượt khỏi ba điều mê muội ấy.

Theo Phật, Tam muội do chữ Phạn “Samadhi”, tức là dứt hết mọi duyên nợ trần, chuyên nhứt một niềm hư vô tịch mịch.

Theo Cao Đài, Tam muội là lửa Tam Muội, một loại lửa được luyện bằng cách lấy chơn hoả của ngũ hành trong cơ thể con người mà luyện thành.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có nói: Ðạo tuy cao, song nên biết sức Quỷ cũng chẳng hèn. Nếu không ngăn ngừa, dằn lửa nóng trong tâm thì lửa Tam muội của Quỷ vương đốt cháy.

Cửa lầu Bát Quái chun ngang,

Hoả Tinh Tam muội thiêu tàn oan gia.

(Kinh Tận Độ).

Lửa Tam muội đốt tiêu dòng khổ,

Nước Tứ sanh lau sạch thiện đàng.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

TAM NIÊN NHŨ BỘ

三 年 乳 哺

Tam niên: Ba năm. Nhũ: Vú. Bộ: Bú.

Tam niên nhũ bộ là ba năm bú mớm, ý nói sự săm sóc khổ cực của bà mẹ hiền, nuôi nấng con thơ suốt ba năm trường.

Như: Cửu nguyệt hoài thai, tam niên nhũ bộ.

Cửu tự cù lao ân cao thẳm,

Tam niên nhũ bộ nghĩa sâu dày.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

TAM NƯƠNG DIÊU TRÌ CUNG

三 娘 瑤 池 宮

Hay “Tam Nương”.

Tam Nương, hay Tam Nương Diêu Trì Cung là vị Tiên Nương đứng hàng thứ ba trong Cửu Vị Tiên Nương, hay Cửu Vị Nữ Phật. Nơi Chánh Điện thờ tại Báo Ân Từ, Tam Nương mặc áo màu xanh, ngồi bên phải Đức Phật Mẫu, tay cầm bửu pháp là Quạt Long Tu.

Tam Nương có nhiệm vụ tiếp dẫn Chơn hồn lên tầng Trời Thanh Thiên, là tầng Trời thứ ba của Cửu Trùng Thiên, để được rưới nước Cam Lộ cho tiêu hết thất tình lục dục hầu vào Cung Như Ý bái kiến Thái Thượng Lão Quân. Sau đó, đưa Chơn hồn đến Hội Thánh Minh học sách Trường Xuân để Chơn hồn có thể tiếp tục lên cõi Huỳnh Thiên. Chính trong bài kinh Đệ Tam cửu có đoạn viết:

Cung Như Ý Lão Quân tiếp khách,

Hội Thánh minh giao sách Trường xuân.

Thanh quang rỡ rỡ đòi ngàn,

Chơn hồn khoái lạc lên đàng vọng Thiên.

Tam Nương còn có bổn phận chèo chiếc thuyền Bát Nhã đi trong biển khổ để đưa khách trần từ bến mê sang bờ giác.

Trong một kiếp giáng trần ở Việt Nam, Tam Nương có tên Tuyến, nhưng Bà không cho biết giáng sinh vào thời kỳ nào và ở đâu. Do đó bài thài hiến lễ Tam Nương trong lễ Hội Yến Diêu Trì Cung khởi đầu bằng chữ “Tuyến”.

Tuyến đức năng thành đạo,

Quảng trí đắc cao huyền.

Biển mê lắt lẻo con thuyền,

Chở che khách tục, cửu tuyền ngăn sông.

Tam Nương Diêu Trì Cung là vị Tiên Nương ít khi giáng cơ dạy đạo riêng, Bà chỉ cho thi chung với Đức Phật Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương. Đây là bài thi của Bà Tam Nương giáng tại Thảo Xá Hiền Cung, ngày 15 tháng 8 năm Nhâm Thân (Dl. 15/9/1932), cùng với Đức Diêu Trì Kim Mẫu và tám vị Tiên Nương khác.

Bài thi đó như sau:

Tuyến đẹp vẻ thêu bông nổi mặt,

Đoạt kinh luân nặng thắt túi thơ.

Kìa ai nhớ lúc khua tơ,

Tài ba có biết đã nhờ ở ai?

Đức Phật Mẫu giáng cơ dạy Đạo, và Cửu Vị Tiên Nương mỗi vị kính tặng một bài thi, trong Đàn cơ ngày Rằm tháng 8 năm Nhâm Ngọ ((Dl. 2/9/1942). Phò Loan: Khai Ðạo và Hiến Ðạo. Bài thi kính tặng của Tam Nương như sau:

Tam Kỳ khai mở Ðạo lần ba,

Nương náu ít lâu rõ báu hoà.

Kính lượng bề trên ban đức tánh,

Tặng người tài trí hứng Ðài cao.

Đàn cơ tại Toà Thánh, ngày 15 tháng 8 năm Bính Tuất (Dl. 10/9/1946), Tý thời. Phò loan: Hộ Pháp - Bảo Văn Pháp Quân, Đức Diêu Trì Kim Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương giáng cơ cho thi, sau đây là bài thi của Bà Tam Nương:

Nay đầm ấm con đường hạnh phúc,

Cõi phong trần gội chút hồng ân.

Tiêu diêu phai lợt mùi trần,

Tỉnh say với giọt nước ngần tẩy mê.

Tại Báo Ân Từ, đêm 15 tháng 8 năm Ất Tỵ (Dl. 10-9-1965), Phò loan: Thượng Sanh - Hiến Pháp. Đức Diêu Trì Kim Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương giáng đàn cho thi, trong đó bài thi của Tam Nương như sau:

Tuyến nghiệp phàm vô vị,

Đạo khai dĩ định kỳ.

Hồng ân chan rưới mấy khi,

Bến mê há để lỡ thì độ sanh.

Vào thời Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn khai mở đạo Cao Đài với mục đích tận độ các nguyên nhân và chúng sanh còn đang mê muội trong kỳ Hạ nguơn mạt pháp nầy, nên dưới quyền Đức Phật Mẫu có hằng hà sa số Phật trông nom về cơ phổ độ mà Quan Âm Bồ Tát là Đấng cầm đầu, ngoài ra Tam Nương cũng như tám vị Tiên Nương khác có nhiệm vụ trông nom về cơ giáo hoá cho vạn linh.

Bà Tam Nương cùng với các vị Tiên Nương khác đã lập được nhiều công quả trong thời kỳ khai đạo, lại dày công giáo hoá nữ phái nên các Bà đắc hàng Phật vị, gọi là Cửu Vị Nữ Phật.

Tam Nương thuyền từ nhẹ thả,

Cầm Long Tu độ cả khách trần.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

Lãnh lịnh chèo khuôn Bát Nhã thuyền,

Tam Nương cứu độ khách trần duyên.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

TAM NGUYÊN

Tam: Ba. Nguyên: Đầu.

Tam nguyên 三 元 (nguơn) là đỗ đầu luôn hết ba khoa: Thi hương, thi hội, và thi đình, nghĩa rộng chỉ nhà thơ Yên Đỗ.

Thi sĩ Nguyễn Khuyến là người ở đất Yên Đỗ, lúc đi thi ông đỗ đầu ba khoa: Thi hương, thi hội, và thi đình, nên người ta thường gọi ông là Tam nguyên Yên Đỗ.

Phẩm vào Thập nhị chen hàng Thánh,

Thơ sánh Tam nguyên múa bút Thần.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

TAM NGUƠN

Hay “Tam nguyên”.

Tam: Ba. Nguơn (nguyên): Một khoảng thời gian dài.

1.- Tam nguơn, như chữ “Tam nguyên 三 元”, dùng để chỉ một khoảng thời gian dài, chia ra thành Thượng nguơn, Trung nguơn và Hạ nguơn.

Theo Chú Giải Pháp Chánh Truyền của đạo Cao Đài thì Tam nguơn là:

Thượng nguơn là nguơn Tạo hoá hay nguơn Thánh đức, tức nguơn Vô tội.

Trung nguơn là nguơn Tấn hoá, hay nguơn Tranh đấu, tức nguơn Tự diệt.

Hạ nguơn là nguơn Bảo tồn, hay nguơn Tái tạo, tức nguơn Quy cổ.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Bần Đạo thuyết tiếp về tam nguơn, tại sao trong Càn Khôn Võ Trụ chia làm tam nguơn, là khi Càn Khôn Võ trụ chưa lập ra, ban đầu cả tinh khối sanh lực của Càn Khôn bao trùm hết, khi biến thiên mới tạo ra vạn vật, hồi lúc Đức Chí Tôn giáng linh gọi là Thượng Nguơn. Người giáng linh nắm cả nguyên khí ấy luyện trong Càn Khôn Võ Trụ biết hoạt động nương theo cái sanh lực là chữ khí đó (Hộ Pháp chỉ ra Liên Đài Hộ Pháp có chữ khí) tượng hình của mình.

Kế tiếp nữa là Trung Nguơn Đức Chí Tôn tạo vạn vật dầu cho loài người cũng ở trong vạn vật ấy. Giờ phút Đức Chí Tôn đến cho loài người được cái linh, tức nhiên cho họ cái khôn ngoan hiển hách khác hơn vạn loại kia, gọi là giáng khí vì cớ Đức Hộ Pháp bắt Ấn Trung Nguơn hai bàn tay phải hiệp lại với nhau là âm dương tương hiệp, theo cái thiên linh của Đức Chí Tôn đến cái nhơn linh của loài người.

Đến Hạ Nguơn Đức Chí Tôn giáng Thần, tức nhiên là cái thiên vị Đức Chí Tôn mở ngôi Thần, Thánh, Tiên, Phật cho Vạn Linh đặng cho các chơn hồn đạt vị của mình, chuyển luân trong quả kiếp sanh sanh tử tử mà đạt pháp lập thiên vị; Đức Chí Tôn giáng trần Hạ Nguơn là cốt yếu như vậy.

Cao Đài Đại Đạo chấn hưng,

Tam nguơn dựng lại phong thuần âu ca.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

2.- Tam nguơn, như chữ “Tam nguyên 三 元”, còn dùng để chỉ ba khoảng thời gian trong một năm: Thượng, Trung và Hạ nguơn.

Ngày 15 tháng 1 Âm lịch gọi là rằm Thượng nguơn.

Ngày 15 tháng 7 Âm lịch gọi là rằm Trung nguơn.

Ngày 15 tháng 10 Âm lịch gọi là rằm Hạ nguơn.

Theo luật pháp của Đạo Giáo, nhất là triết lý của nhà Phật, trước khi lập thành mối Đạo, mỗi năm phân ra Tam nguơn là: Thượng nguơn, Trung nguơn, Hạ nguơn.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

TAM NGHIỆP

三 業

Con người có tánh linh hơn loài vật, nên phải tự làm chủ hành động của mình và cũng chịu trách nhiệm về hậu quả hành động của mình, không ai chịu thay cho mình được, do đó nếu có làm lỗi thì mọi sự cầu nguyện van xin Trời Phật cũng vô ích thôi.

Vì vậy con người tạo ra nghiệp thiện hay ác, cũng chính con người phải chịu nhận lấy hậu quả của việc làm ấy.

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du cũng có viết:

Đã mang lấy nghiệp vào thân.

Cũng đừng trách lẫn Trời gần Trời xa.

Vậy Tam nghiệp là gì

Tam nghiệp là con đường đi từ nhân đến quả, tức là do việc làm thiện ác của kiếp sống mà nhận được nghiệp lành hay dữ.

Tam nghiệp là ba cái nghiệp được gây ra bởi thân thể, lời nói, ý nghĩ, có hậu quả tạo ra các nghiệp lành hay ác. Tam nghiệp gồm có: Thân nghiệp, khẩu nghiệp, và ý nghiệp.

Nếu Tam nghiệp thân, khẩu, ý hướng theo những điều xấu xa, hung dữ, gây tạo ra ác nghiệp, hay bất thiện nghiệp thì phải chịu ác báo.

Kinh Phật có câu: “Tam nghiệp hằng thanh tịnh, đồng Phật vãng Tây phương 三 業 恆 清 淨, 同 佛 往 西 方”, tức là ba nghiệp mà thanh tịnh thì cùng với Phật sanh về Tây phương. Như vậy để nuôi dưỡng thiện nghiệp, ta cần phải hướng ba nghiệp về các việc lành.

Nếu hành động, lời nói hay ý nghĩ của ta thể hiện trọn vẹn điều lành thì thân tâm ta sẽ nhẹ nhàng, không bị phiền não, khổ đau, và nhứt là tạo được nghiệp lành để thoát khỏi luân hồi sanh tử.

Để nuôi dưỡng ba thiện nghiệp, người tu tập cần phải hướng ba nghiệp về các việc lành. Trong Kinh Pháp Cú, bài kệ số 234, Phật có dạy:

Bậc trí bảo vệ thân,

Bảo vệ luôn lời nói,

Bảo vệ cả tâm tư

Ba nghiệp khéo bảo vệ.

Thuyết Đạo Thượng Sanh cũng có nói về tam nghiệp như sau: Ðời của người hành Ðạo là một đời học hỏi tu tập không ngừng. Bởi vậy, mặc dầu đạt tới chỗ hoàn thiện là một việc quá khó, nhưng nếu muốn tự giải thoát, chúng ta phải rán sức, bền chí kiên tâm, chịu hy sinh cuộc đời vật chất xa hoa, lánh bả lợi danh, sống hoàn toàn trong mặt Ðạo, thì một ngày kia cũng đi đến kết quả, dầu không nên được bậc Chí thánh, cũng đứng vào bậc Chơn tu, đáng mặt phi thường. Chí ư gọi là khó rồi bỏ qua, không gắng công phu kềm chế cái vọng tâm, không vững chí sửa mình, đạt tới chỗ hoàn thiện thì người tu dựa vào căn bản nào mà đi cho cùng bước Ðạo, công viên quả mãn?

Tự cổ chí kim, vì không giữ mình được trong sạch cho nên con người phải chịu làm nô lệ cho xác thịt để cho dục vọng lôi cuốn gây thành Tam nghiệp tức là thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp, phải bị chìm đắm trong vòng sanh tử luân hồi, chẳng khác chi tự mình trói buộc vào một cái bánh xe, cứ quay cuồng mãi mãi không biết bao giờ tháo mở được.

Tự cổ chí kim, vì không giữ mình được trong sạch cho nên con người phải chịu làm nô lệ cho xác thịt để cho dục vọng lôi cuốn gây thành tam nghiệp...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

TAM PHÁI

三 派

Tam: Ba. Phái: Nhánh hoặc dòng, như phái nam, phái nữ.

Tam phái là ba phái.

Trong đạo Cao Đài, Chức sắc Cửu Trùng Đài Nam phái được chia ra làm ba phái: Thái, Thượng và Ngọc.

Phái Thái chủ màu vàng, thuộc về Phật, coi về ba viện: Hộ viện, Lương viện và Công viện.

Phái Thượng chủ màu xanh, thuộc về Tiên, nắm giữ ba viện: Học viện, Y viện và Nông viện.

Phái Ngọc chủ màu đỏ, thuộc về Thánh, cầm quyền ba viện: Hoà viện, Lại viện, Lễ viện.

Rồng ba sắc tỏ ra Tam Phái,

Hiện sắc vàng là Phái Thái Phật Tôn.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

TAM PHÂN

三 分

Tam: Ba. Phân: Chia.

Tam phân là phân ba, ý chỉ cái nguyên vẹn mà bị chia xẻ ra. Như: Đất nước tam phân.

Tam phân, còn do chữ “Đỉnh túc tam phân 鼎 足 三 分”, là nói cái thế chia ba thiên hạ như hình chân vạc, ý chỉ ba nước có thế lực ngang nhau, đó là Thục của Lưu Bị, Nguỵ của Tào Tháo, Ngô của Tôn Quyền, nên lịch sử gọi là đời Tam Quốc.

Chước thế thiếu văn vùa giúp võ,

Phàm thân chịu nhọc lúc tam phân.

(Đạo Sử).

Ðộc lập gần ngày vui sắp đến,

Bỏ cơn đất Việt chịu tam phân.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

TAM QUAN

 

1. TAM QUAN 三 官

Tam: Thứ ba. Quan: Chức quan nơi triều đình.

Tam quan là chức quan thuộc Tam phẩm thời xưa, tức vị quan đứng hàng thứ ba trong triều đình.

Tam phẩm gồm có Chưởng Viên Học Sĩ, Thị Lang, Đại Lý Tự Khanh, Thái Thường Tự Khanh, Phủ Doản...

Lý Thái Bạch lúc sinh tiền được vua Đường phong làm Đại Học Sĩ thuộc hàng Tam phẩm.

Ðường trào hạ thế hưởng Tam quan,

Chẳng vị công danh chỉ hưởng nhàn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

2. TAM QUAN 三 關

Tam: Ba. Quan: Cửa cổng.

Tam Quan là tên một cái cửa lớn (cổng), phần nhiều là cửa chùa, cửa các phủ thờ, có ba lối đi: Cửa giữa rộng, hai bên là cửa tả hữu, trên thì có mái che.

Chung quanh Nội ô Toà Thánh có mười hai cổng ra vào, hiện nay xây dựng được một số cổng theo kiểu Tam quan, trong đó có một cổng chánh trước Toà Thánh lớn hơn hết, gọi là cổng Chánh Môn.

Dìu dắt qua cầu Cửu Cấp,

Lần hồi tới cửa Tam Quan.

(Tuý Sơn Vân Mộng).

Bát Cảnh Cung quỳ xinh áo trắng,

Tam Quan Cửa mở lộng mây xanh.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

TAM QUANG

三 光

Tam: Ba. Quang: Ánh sáng.

1.- Tam Quang hay “Tam Quang Mạo”, là một loại mão dành thêm cho chức sắc Thập nhị Thời Quân Hiệp Thiên Đài khi mặc tiểu phục.

Sở dĩ gọi là Tam Quang Mạo bởi vì trên cái mão có thêu: Nhựt, Nguyệt, Tinh.

Tiểu phục của chức sắc Hiệp Thiên Đài về sau, thêm một Tam Quang Mạo nữa.

(Giáo Lý).

2.- Tam Quang còn là ba nguồn ánh sáng của nhựt, nguyệt, tinh tức mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao. Đó chính là Tam bửu của Trời.

Trong quyển Ngọc Lịch Minh Kinh có viết: “Đổ đồ nhơ uế xuống sông, phơi áo quần dơ giọi bóng Tam quang là mặt nhựt, mặt nguyệt, ánh sao, hoặc nhơ uế mà để lên chỗ thờ phượng, vào bếp núc. Các tội trên đều bị xô xuống Tạp trì (hay huyết ô trì), là ao huyết dơ mà lặn hụp, tuỳ theo tội nhiều ít phạt ở lâu mau”.

Như vậy, theo Ngọc Lịch Minh Kinh thì chữ Tam Quang 三 光 (có chữ g) có nghĩa là nhựt, nguyệt, tinh, tức là không phơi áo quần dơ trực tiếp dưới ánh mặt trời, mặt trăng và ánh sao

Vào bếp núc chỗ nhơ không kể,

Phơi áo quần chẳng nể Tam quan.

(Kinh Sám Hối).

Chú thích: Đúng ra chữ “Tam quan 三 關” trong câu kinh Sám Hối trên phải viết là “Tam quang 三 光”, nhưng vì giữ theo nguyên bản kinh Thiên Đạo và Thế Đạo của Hội Thánh.

 

 

TAM QUY

三 皈

Tam: Ba. Quy: Theo về, nương theo.

Tam quy là trở về nương tựa với ba ngôi quý báu gọi là quy y Tam bảo: Phật, Pháp, Tăng.

Người mới vào đạo Phật, đến chùa làm lễ quy y, phát nguyện trước Phật, Pháp, Tăng xin quy y tam bảo.

Tự quy y Phật, xin nguyện chúng sanh, thể theo đạo cả, phát lòng vô thượng.

Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sanh, thấu rõ kinh tạng, trí tuệ như biển.

Tự quy y Tăng, xin nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, hết thảy không ngại.

Tam cang ngũ lý nền nhân đạo,

Ngũ giới Tam quy cội Thánh Tiên.

(Tăng Tử, Mạnh Tử).

Trọn gìn Ngũ giới trau lòng tục,

Vẹn giữ Tam quy tắt lửa phiền.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

TAM QUY NGŨ GIỚI

三 皈 五 戒

Tam: Ba. Quy: Theo về, nương theo. Ngũ: Năm. Giới: Điều răn.

Tam quy là trở về nương tựa với ba ngôi quý báu gọi là quy y Tam bảo: Quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng.

Ngũ giới là năm điều giới cấm mà người tu hành không được phạm vào: 1). Bất sát sinh: Không giết sinh vật, 2). Bất du đạo: Không trộm cắp, 3). Bất tà dâm: Không tà dâm, 4). Bất vọng ngữ: Không nói láo, 5). Bất tửu nhục: Không uống rượu.

Thọ sắc tam quy câu cứu khổ,

Trì tâm ngũ giới tiếng nam mô.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

TAM SANH

Hay “Tam sinh”.

Tam: Ba. Sanh (sinh): Kiếp sống.

Tam sanh, như chữ “Tam sinh 三 生”, là nhân duyên ba kiếp sống.

Tam sanh hữu hạnh là nhờ tu ba kiếp rồi nên nay mới có duyên may.

Do điển: Viên Trạch đời nhà Đường đi chơi với bạn là Lý Nguyên ở núi Tam Giáp, gặp một người đàn bà gánh nước giếng.Viên Trạch nói: Bà này có mang đã ba năm, đợi tôi vào làm con, tôi xin hẹn anh mười ba năm sau sẽ gặp nhau ở chùa Thiên Trúc, tỉnh Hàng Châu. Đêm đó Viên Trạch mất. Mười ba năm sau, Lý Nguyên tìm đến nơi đã hẹn, gặp một đứa bé chăn trâu, nghêu ngao hát rằng: Tam sinh thạch thượng cựu tinh hồn, Thưởng nguyệt ngâm phong bất yếu luân. Tàm quý tình nhân viễn tương phỏng, Thử thân tuy dị tính trường tồn 三 生 石 上 舊 精 魂, 賞 月 吟 風 不 要 論. 慚 愧 情 人 遠 相 訪. 此 身 雖 異 性 長 存, nghĩa là ba sinh đá ấy cựu tinh hồn, Ngâm gió thưởng trăng khó nỗi bàn. Thẹn gặp người xưa thăm hỏi tớ, Thân này tuy khác, tính linh còn. Hát xong, đứa bé bèn quày quả đi. Lý Nguyên biết đứa bé chăn trâu đó chính là hậu thân của Viên Trạch.

Xem: Ba sinh.

Làm người dễ có mấy lần,

Tam sanh hữu hạnh mới gần Phật Tiên.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

TAM SINH

三 牲

Tam: Ba. Sinh: còn đọc “Sanh”, là con vật còn sống đem làm để cúng tế. Như: Cúng tam sinh, hy sinh.

Tam sinh là chỉ ba con vật: Trâu, heo, dê.

Nguyên ngày xưa người ta thường dùng trâu, heo, dê để tế Thần và tế các vong linh ông bà, nên ba con vật nầy được gọi là “Tam sinh”.

Khi ta đã xem tế Nam Giao, từ Thượng Cổ nhà Vua dâng cho Đức Chí Tôn ba cái vật là: Trâu, heo, và dê gọi là Tam sinh.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

TAM SƠN

三 山

Tam: Ba. Sơn: Núi, non.

Tam sơn, một loại binh khí thời xưa, là cây chĩa gồm có ba ngạnh.

Trong đạo Cao Đài, khi Đức Hộ Pháp, một vị chức sắc Đại Thiên Phong Hiệp Thiên Đài, ngự trên ngai, hoặc chầu lễ Đức Chí Tôn thì Ngài mặc giáp ở trong, choàng áo mãng bào phía ngoài, tay phải cầm Giáng Ma Xử, tay trái nắm xâu Chuỗi Từ Bi, đầu đội Kim khôi vàng, trên Kim khôi có thể Tam sơn, giống như cái chĩa ba ngạnh, tượng trưng cho chưởng quản Tam Thiên bên cõi Tây Phương Cực Lạc.

Bộ Đại phục, người mặc giáp, đầu đội kim khôi toàn bằng vàng, trên Kim khôi có thể Tam sơn, giống như cái chĩa ba ngạnh...

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

TAM TAI

三 災

Tam: Ba. Tai: Nạn tai.

Tam tai là ba loại tai hoạ:

Nước gây ra lụt lội, gọi là thuỷ tai; Lửa gây ra cháy nổ gọi là hoả tai; Gió gây ra bão tố gọi là phong tai. Có hai thứ “Tam tai”:

- Đại Tam tai: Lụt, lửa, gió bão.

- Tiểu tam tai: Giặc giã, đói khát, bệnh dịch.

Trong Di Lạc Chơn Chơn Kinh có câu: Năng cứu khổ ách, năng cứu Tam tai, năng cứu tật bệnh 能 救 苦 厄 能 救 三 災 能 救 疾 病, nghĩa là có thể cứu giúp những tai ách khổ sở, có thể cứu giúp được tam tai, có thể cứu giúp được bịnh tật.

Lòng đạo dẫu rằng xa ngũ dục,

Thân phàm đâu dễ tránh tam tai!

(Thơ Thuần Đức).

 

 

TAM TÀI

三 才

Tam: Ba. Tài: Ngôi.

Tam tài là ba ngôi. Người xưa thường nói: Thiên địa dữ nhân vị chi Tam tài 天 地 與 人, 謂 之 三 才, tức là trời đất và người, gọi là ngôi Tam tài.

Trời có công năng che muôn vật, đất có công năng đỡ muôn vật, bậc Thánh nhân tự đặt thành người phụ tá, để giúp vào cái chỗ bất cập của trời đất mà thành tựu muôn vật.

Muôn vật quần trong trời đất, chỉ có con người là quý hơn hết, cho nên con người khôn thiêng hơn muôn vật, bẩm thụ đầy đủ âm dương, nắm giữ đạo đức, hoá dục, giúp muôn vật sinh sôi nảy nở không ngừng, sánh bằng trời đất, nên được liệt vào ngôi Tam tài.

Lập Tam tài là lập ra Thiên, Địa nhơn (Trời, đất, người), ý chỉ việc Đức Phật Mẫu tạo lập ra Càn khôn Vũ trụ và con người.

Cộng vật loại huyền linh đồ nghiệp,

Lập Tam tài định kiếp hoà căn.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

Dụng nhị khí chuyển cơ hoá trưởng,

Lập Tam tài định phẩm nguyên nhân.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

TAM TÀI NGŨ KHÍ

Tam tài: Ba ngôi: Thiên, Địa, Nhân. Ngũ khí: Ngũ hành chi khí.

Trong đạo Cao Đài, nơi Chánh điện thờ Đức Chí Tôn luôn luôn đốt năm cây hương xếp thành hai hàng: Hàng trong ba cây, gọi là án Tam tài, hàng ngoài hai cây, gọi là tượng Ngũ khí.

Ở đây, chúng ta thử tìm hiểu về ý nghĩa của Tam Tài và Ngũ Khí.

Tam tài:

Tam tài là ba ngôi. Người xưa thường nói: Thiên địa dữ nhân vị chi Tam tài 天 地 與 人, 謂 之 三 才, tức là trời đất và người, gọi là Tam tài, đó là ba yếu tố quan trọng nhứt, cao quý nhứt trong vũ trụ, Nếu trong ba yếu tố đó mà mất đi một thì cuộc đại hoà điệu trong vũ trụ không còn nữa.

Đổng Trọng Thư viết rằng: Người với trời tương đồng từng điểm cho nên vũ trụ mà không có người thì vũ trụ không còn hoàn toàn, không thành được vũ trụ nữa. Bởi vì vũ trụ là một đại hoà điệu Tam Tài Thiên, Địa Nhân, nếu mất một yếu tố thì hoà điệu cũng không còn.

Xem thế thì con người chiếm một địa vị vô cùng quan trọng trong Trời đất vậy. Nhưng tạo sao con người đạt được địa vị ấy? Đó là vì con người được Trời đất sinh ra và ban cho một đức tính rất cao quý, rất thiêng liêng. Ngoài ra con người còn được hấp thụ hoàn toàn cái tinh thần linh diệu và cái khí chất tinh túy của Trời đất, nên con người linh hơn, sáng suốt hơn muôn vật. Chính nhờ cái sáng suốt nầy mà con người phân biệt được điều hay điều dở, lẽ phải lẽ trái, nếu không thì con người cũng sẽ mờ mịt như tất cả sinh vật khác. Cái sáng suốt ấy có sẵn trong mỗi con người và được gọi là trực giác, lương tri, hay minh đức. Trực giác ấy chỉ được bén nhạy khi nào ta giữ cái tâm của mình cho trong sáng sáng, không bị vật dục cám dỗ, không bị ngoại vật chi phối, nghĩa là phải giữ cho tâm hư tĩnh.

Tóm lại, ba cây nhang tượng trưng cho Tam Tài là nhằm nhắc lại cái địa vị cao quý của Trời đất người trong vũ trụ, đồng thời cũng nhằm nhắc nhở cho người tín đồ phải luôn cố giữ cái tâm được hư tĩnh để trực giác được mẫn huệ, lương tri sáng suốt hầu cảm được, hầu cảm được, thấy được cái thiên lý lưu hành khắp vũ trụ. Nếu con người chỉ biết chạy theo vật dục, hưởng thụ cho riêng mình thì trực giác phải mờ tối đi. Vậy người tín đồ phải cố giữ lấy linh tâm, lương tri mà Trời đã phú cho con người thì mới hiệp nhứt được với Trời đất.

Ngũ khí:

Ngũ khí hay Ngũ hành chi khí là năm yếu tố: Kim, Mộc, Thủy, Hoả, Thổ. Nhờ năm yếu tố nầy mà vạn vật mới hình thành, sinh trưởng và tồn tại. Ngũ hành được tạo thành là do luân chuyển biến hoá của hai yếu tố Âm Dương.

Ông Chu Liêm Khê trong Thái Cực Đồ Thuyết có giảng: Thái Cực có hai thể: Động và tĩnh. Động thì sinh ra Dương, động cực rồi lại tĩnh. Tĩnh thì sinh ra Âm, tĩnh cực rồi lại động. Cứ một động một tĩnh thay đổi nhau, cái nọ lấy cái kia làm gốc chia làm Âm Dương, lập thành hai nghi vậy.

Dương động thì biến hoá ra, Âm tĩnh thì đông hợp lại. Bởi sự biến, sự hợp ấy mà sinh ra Ngũ hành là Thủy, Hoả, Mộc, Kim, Thổ. Năm khí ấy thi ra mà thuận là bốn mùa lưu hành vậy.

Đức Hộ Pháp Thuyết Đạo tại Ðền Thánh, đêm mồng 1 tháng 8 năm Ðinh Hợi (1947) giải thích như sau: Nói về 5 cây nhang, từ thử Bần Ðạo để cho các Nho gia tự do giảng nghĩa sao thì giảng, còn Bần Ðạo hiểu rõ là Ngũ khí. Chí Tôn dùng Ngũ khí mà biến thành Ngũ hành vận chuyển cả Càn khôn Thế giới, tức là Kim, Mộc, Thủy, Hoả, Thổ. Mỗi chất đều có mỗi sắc, mỗi sắc đều có mỗi khí. Mùi vị và sanh quang của nó chúng ta không thể hưởng được, nghe được.

Nên chi, khi làm lễ đốt đủ 5 cây hương là đúng theo phép tín ngưỡng là quy pháp lại, mọi vật trong Ngũ khí dâng lễ cho Chí Tôn chỉ có người vui hưởng quy pháp ấy mà thôi, cắt nghĩa rõ rệt ra là Ngũ khí đó vậy. Ðúng hơn nữa là trong Bát Hồn vận chuyển được phải nhờ đến Ngũ khí cùng một ý nghĩa với “Vạn vật đồng thinh niệm Chí Tôn”.

Khi cúng Thầy, phải đốt cho đủ năm cây hương, cắm hàng trong ba cây gọi là Án Tam tài, thêm hàng ngoài hai cây nữa gọi là Tượng Ngũ khí.

(Tiểu Dẫn Kinh Thiên, Thế Đạo).

 

 

TAM TẠNG

三 藏

Tam tạng, như chữ Tam Tạng kinh 三 藏 經”, là ba tạng kinh điển của đạo Phật, gồm: Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng.

Kinh tạng: Những bài thuyết pháp của Phật hoặc các đại đệ tử.

Luật tạng: Những giới luật làm khuôn phép cho sinh hoạt tu học của tăng chúng.

Luận tạng: Những bộ sách giải thích rõ ràng thêm nghĩa lý, triết học và trình bày giáo lý đạo Phật một cách có hệ thống.

Tam Tạng còn là hiệu của một vị Thánh tăng đời Đường (Trung Quốc), tên Trần Huyền Trang, có công qua Tây Trúc thỉnh kinh.

... kinh luật đem về xứ để truyền bá, thì mấy vị nầy chẳng khác như Ðức Tam Tạng ngày xưa đến Ấn Ðộ thỉnh kinh.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

TAM TÔNG CHƠN GIÁO

三 宗 真 教

Tam tông: Ba nền tôn giáo (tông giáo) lớn. Chơn giáo: Đạo chơn chánh.

Tam Tông Chơn Giáo, như chữ “Tam giáo”, là ba nền chơn Đạo lớn đã được truyền bá trong thời Nhứt và Nhị Kỳ Phổ Độ. Đó là Nho giáo, Đạo giáo và Thích giáo.

Trong các bài Sớ Văn đều có câu: Tam Tông Chơn Giáo, Tây Phương Giáo Chủ Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn.

Xem: Tam giáo.

Thể hình đủ Tam Tông Chơn Giáo,

Chiều đứng thì ba sáu thước cao.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

TAM TÙNG

三 從

Tam: Ba. Tùng: Theo.

Tam tùng, còn đọc Tam tòng, là ba điều mà người đàn bà, con gái theo lễ giáo xưa phải giữ, đó là:

- Tại gia tùng phụ 在 家 從 父, nghĩa là tại nhà tòng theo cha, tức phải nghe lời dạy dỗ, khuyên răn của cha dù đã trưởng thành.

- Xuất giá tùng phu 出 嫁 從 夫, nghĩa là có chồng thì theo chồng, tức để chồng giữ vai trò quyết định mọi việc trọng yếu trong gia đình. Vợ có nhiệm vụ giúp ý kiến cho chồng và giúp chồng nên sự nghiệp.

- Phu tử tùng tử 夫 死 從 子, nghĩa là chồng chết theo con, tức khi chồng đã quá vãng, bổn phận người vợ phải thủ tiết, ở vậy thờ chồng, nuôi dạy con cái và gầy dựng gia thất cho con.

Chuyên gìn Tứ đức với tam tùng,

Làm hiệu dạy lần bọn nữ trung.

(Đạo Sử).

Thôi đành gởi tâm hồn gió tuyết,

Theo nương con cho hết tam tùng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TAM TÙNG TỨ ĐỨC

三 從 四 德

Tam tùng: Ba điều cần phải theo của người phụ nữ. Tứ đức: Bốn đức tính tốt, rất cần thiết của người đàn bà.

Tam tùng tứ đức là ba điều mà người phụ nữ ngày xưa cần phải theo và bốn đức tính tốt cần phải trau luyện.

Tam tùng gồm: Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử 在 家 從 父, 出 嫁 從 夫, 夫 死 從 子, nghĩa là ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con.

Tứ đức gồm: Công, dung, ngôn, hạnh 工 容 言 行.

Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy: Thầy dạy Nữ phái biết trọng Tam Tùng, Tứ Ðức; Nam phái Tam Cang, Ngũ Thường. Hễ Nhơn đạo thành thì là phù hạp Thiên đạo, nghe à!

Phận gái tam tùng cùng tứ đức,

Tề gia nội trợ vẹn là ngoan.

(Giới Tâm Kinh).

Dạy rõ nghĩa tam tùng tứ đức,

Trăm việc nhà sau trước nhắm xem.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TAM THANH

三 清

Tam: Ba. Thanh: Cao quý, trong sạch.

Tam Thanh là ba ngôi phẩm trong đạo Cao Đài gồm Thái Thanh, Thượng Thanh, Ngọc Thanh. Thái Thanh màu vàng, thuộc Phật, Thượng Thanh màu xanh, thuộc Tiên, Ngọc Thanh màu đỏ thuộc Thánh.

Đạo Cao Đài thường dùng Tam Thanh để đối với Tam Giáo và tam sắc. Nên lá cờ của Đạo gọi là cờ Tam Thanh, gồm ba màu đỏ, xanh, vàng.

Chức sắc Cửu Trùng Đài của Hội Thánh Cao Đài được chia là ba phái: Phái Ngọc, mặc Đạo phục màu đỏ, thuộc Nho giáo, nguơn tinh; phái Thượng, mặc Đạo phục màu xanh, thuộc Tiên giáo, nguơn khí; phái Thái, mặc Đạo phục màu vàng, thuộc Phật giáo, nguơn thần.

Lão Quân ứng hoá Tam Thanh,

Khuyến răn nhơn vật lòng lành chớ xao.

(Xưng Tụng Công Đức).

Chuyển pháp kinh văn ban nhứt bộ,

Trừ yêu nộ khí ứng Tam Thanh.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

TAM THÁNH KÝ HOÀ ƯỚC

三 聖 記 和 約

Tam Thánh: Ba vị Thánh thuộc Bạch Vân Động, đó là Thanh Sơn Đạo Sĩ, tức Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, người Việt Nam, đứng đầu Bạch Vân Động, Nguyệt Tâm Chơn Nhơn, tức văn hào Victor Hugo, người nước Pháp, và Tôn Trung Sơn Chơn Nhơn, tức Tôn Văn hay Tôn Dật Tiên, nhà cách mạng Trung Hoa. Ký Hoà ước: Ghi chép bản Hoà ước.

Tam Thánh ký Hoà ước là ba vị Thánh ở Bạch Vân Động ghi chép bản Đệ tam Thiên nhơn Hoà ước để công bố cho toàn nhơn loại.

Đệ tam Thiên nhơn Hoà ước là bản Hoà ước lần thứ ba (tương ứng với ba thời kỳ phổ độ) giữa Trời và người, tức giữa Thượng Đế và nhân loại.

Nội dung bản Đệ tam Thiên nhơn Hoà ước là thực thi “Bác ái 博 愛 và Công Bình 公 平”.

1.- Tam Thánh Ký Hoà Ước:

Nên Tam Thánh ký tờ hoà ước,

Cầu Chí Tôn rưới phước ban ơn.

(Lược Thuật Toà Thánh).

2.- Tam Thánh:

Hình Tam Thánh tạc rành trên vách,

Tiền căn đều ở Bạch Vân Am.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

TAM THẬP LỤC ĐỘNG

三 十 六 洞

Tam thập lục: Ba mươi sáu. Động: Hang núi, nơi ở của chư vị Thần Tiên hay hang động của yêu quỷ.

Tam thập lục Động là ba mươi sáu Động do Quỷ vương lập ra để mạo danh cõi Thiên cung là Thập lục Thiên. Ngoài ra, nơi Tam thập lục Động, chúng còn lập thành phẩm trật quỷ vị để giả danh chư Thần Thánh Tiên Phật để lừa gạt người tu hành.

Vì thế kẻ hành giả phải có trí huệ và bền tâm mới tránh được cơ thử thách của bọn quỷ vương.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Còn phẩm trật Quỷ vị cũng như thế ấy. Nó cũng noi chước Thiên cung mà lập thành Quỷ vị, cũng đủ các ngôi, các phẩm, đặng đày đoạ các con, hành hài các con, xử trị các con. Cái quyền hành lớn lao ấy do Thầy ban cho nó, nên đặng quyền cám dỗ các con, xúi biểu các con, giành giựt các con mà làm tay chơn bộ hạ trong vòng tôi tớ nó.

Chúng nó hiệp Tam thập lục Ðộng toan hại các con, nên Thầy sai Quan Thánh và Quan Âm đến gìn giữ các con...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TAM THẬP LỤC THÁNH

三 十 六 聖

Tam thập lục: Ba mươi sáu. Thánh: Bậc Thánh.

Tam thập lục Thánh là ba mươi sáu vị Thánh.

Trong Đạo Cao Đài, Chức sắc Cửu Trùng Đài Nam phái có phẩm Phối Sư gồm ba mươi sáu vị, chia làm ba phái: Thái, Thượng, Ngọc, mỗi phái mười hai vị.

Phối Sư lại đối phẩm với hàng Thiên Thánh, nên được gọi là Tam thập lục Thánh.

Thánh giáo Thầy dạy về Chức sắc Cửu Trùng Đài Nam Phái có câu: Còn nay, Thầy giáng thế chọn đến: Nhứt Phật, Tam Tiên, Tam thập lục Thánh, Thất thập nhị Hiền, Tam thiên đồ đệ.

Trong Ba phái có Tam thập lục Thánh, tuy nay chưa đủ số ấy nhưng đã đặng tám, chín người rồi.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TAM THẬP LỤC THIÊN

三 十 六 天

Tam thập lục: Ba mươi sáu. Thiên: Trời, từng Trời.

Tam thập lục thiên là ba mươi sáu từng Trời. Trong bài “Kinh Khi Đã Chết Rồi” gọi là “Ba mươi sáu cõi Thiên tào”.

Tam thập lục thiên thuộc về cõi vô hình, phần cao nhất, tinh khiết nhất trong Càn khôn Vũ trụ. Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có dạy: “Tam thập lục thiên, Tứ Đại Bộ Châu ở không không trên không khí, tức là không phải tinh tú, còn lại Thất thập nhị địa và Tam thiên thế giới thì đều là tinh tú, tính lại 3072 ngôi sao”.

Theo lời thuyết đạo của Đức Hộ Pháp: Thái Cực sanh Lưỡng Nghi, tức là Tam Thiên Vị, dưới ba ngôi ấy có Tam thập tam thiên (Ba mươi ba tầng Trời), cộng với ba ngôi trên (tức Tam Thiên Vị) là ba mươi sáu tầng Trời, nên gọi là “Tam thập lục thiên”.

Thượng chưởng Tam thập lục thiên,

Tam thiên Thế giới.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

Huệ đăng bất diệt,

Chiếu Tam thập lục thiên chi quang minh.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

TAM THẾ

三 世

Tam: Ba. Thế: Đời.

Tam thế là ba kiếp sống, hoặc ba đời.

Ba kiếp sống là Tiền thế: Kiếp trước, Hiện thế: Kiếp hiện tại, Hậu thế: Kiếp sau.

Ba đời là đời ông, đời cha, đời con; hoặc đời quá khứ, đời hiện tại và đời vị lai.

Tam thế tứ sanh chi nội các miễn luân hồi.

(Kệ U Minh).

 

 

TAM THẾ PHẬT

三 世 佛

Tam thế: Ba đời. Phật: Đức Phật.

Tam thế Phật là các vị Phật trong ba đời.

Theo Phật giáo

Tam thế Phật gồm có:

1. Phật quá khứ như Nhiên Đăng Cổ Phật.

2. Phật hiện tại là Đức Thích Ca Mâu Ni Văn Phật.

3. Phật vị lai là Đức Di Lặc Vương Phật.

Trong các chùa bên Phật giáo phái Bắc tông cũng có lối thờ Tam thế Phật (Còn gọi là Tam thế Tôn) như sau: Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni là Phật hiện tại, ở giữa nên cũng còn gọi Ngài là Đức Trung Tôn; bên phải Ngài thờ tượng A Di Đà Phật là Phật quá khứ; bên trái Ngài thờ Di Lặc Vương Phật là Phật tương lai.

Theo Cao Đài

Tam thế Phật là ba vị Phật lãnh lịnh Đức Chí Tôn điều khiển ba nguơn của Trời đất là Thượng nguơn, Trung nguơn và Hạ nguơn. Ba vị Phật đó là:

Brahma Phật 梵 摩 佛

Brahma Phật, Hán dịch Phạm Ma Phật 梵 摩 佛, là vị Phật giáng trần trong thời kỳ Thượng nguơn hay nguơn Thánh đức tức là nguơn vô tội.

Brama Phật trên nóc Bát Quái Đài, Toà Thánh Tây Ninh, Ngài đứng trên mình con Huyền Nga, tay mặt bắt ấn khai nguơn, tay trái nắm bửu châu, mặt nhìn về phía Tây, tức hướng mặt trời lặn, biểu tượng cho sự lo lắng của Ngài khi cõi trần sắp chìm sâu trong nguơn tranh đấu điêu tàn.

Brahma Phật thuộc ngôi thứ nhứt, điều khiển Thượng nguơn Thánh đức, chủ về cơ sanh hoá.

Trong Lược thuật Toà Thánh, thi tập của Võ Thành Lượng, được sự Kiểm duyệt Kinh Sách của Hiến Pháp Hiệp Thiên Đài và Phê kiến của Đức Thượng Sanh có câu:

Phật Brama day mặt Tây Phang.

Phò nguy tế chúng cứu nàn,

Cỡi Thiên Nga đến trần-gian Nhứt Kỳ.

Civa Phật 濕 婆 佛

Civa Phật, Hán phiên âm Thấp Bà Phật 濕 婆 佛, là vị Phật điều khiển Trung Nguơn, tức nguơn Tranh Đấu. Vị Phật nầy được giáng trần trong nguơn tranh đấu của nhơn loại. Civa Phật trên nóc Bát Quái Đài mặt nhìn về phương Bắc, mình đứng trên lưng rắn bảy đầu, ấy là tượng trưng Phật diệt thất tình cho nhân loại khỏi bị mê muội ở trần gian tục lụy mà tranh đấu, huỷ diệt lẫn nhau, miệng Ngài thổi sáo để thức tỉnh nhơn sanh hồi tâm hướng thiện. Civa Phật có bộ tinh nhũ trước ngực, là ngôi thứ hai trong Tam thế Phật.

Nói về Đức Phật Mẫu, Đức Hộ Pháp có thuyết như sau: “Bần Đạo cũng nên chỉ rõ Đức Phật Mẫu đến tại mặt thế gian này, đã tượng trưng bên Ấn Độ. Phật giáo Ấn Độ gọi Ngài là Civa Phật, là cái hình ở trên Bát Quái Đài, chúng ta để trên nóc đó, thấy có tinh nhũ nơi ngực Ngài.

Hồi buổi Chí Tôn phân định, phân tánh của Ngài, lấy khí, tức nhiên là Ngài dùng cái linh pháp của Ngài biến tướng ra Phật Mẫu. Phật Mẫu thuộc về Âm, Chí Tôn thuộc về Dương, Âm Dương hiệp lại mới biến hoá ra Càn khôn Vũ trụ và sanh ra vạn vật.

Đức Civa Phật, Ấn Độ làm một cái hình phân nửa giống đàn bà, còn cái tướng thì đàn ông, bởi hồi đó con người chưa phân rõ chắc chắn nam nữ, Âm Dương. Đức Civa trong huyết khí, tức là huyết, còn chơn linh đào tạo là do Đức Chí Tôn.

Đức Chí Tôn là Phật, Đức Phật Mẫu là pháp, pháp mới sanh ra Càn khôn Vũ trụ và vạn vật, vạn vật ấy do nơi tinh mà ra, tức là Tăng. Thần tức nhiên là Đức Chí Tôn, Thần phân định Khí, Khí mới sanh ra Tinh. Phật là Chí Tôn, Pháp là Civa tức Phật Mẫu, Tăng là vật loại trên Càn khôn Vũ trụ này”.

Trong Lược Thuật Toà Thánh có câu:

Phật Civa day về hướng Bắc,

Thổi ống tiêu đạp Thất Đầu-Xà.

Trừ lục tặc, thập tam ma,

Giục lòng người biết khử tà tầm chơn.

Christna Phật (Vichnou Phật).

Christna Phật hay Vichnou Phật, Hán phiên âm Tỳ Nữu Phật 毘 紐 佛, là vị Phật điều khiển Hạ Nguơn tức là nguơn Bảo Tồn hay nguơn Tái Tạo. Vị Phật nầy được giáng sanh trong thời Hạ Nguơn, hay nguơn Tái Tạo. Trên Bát Quái Đài Toà Thánh, Phật Christna Vichnou mình trần, tay mặt chống gươm, tay trái chống nạnh, đứng trên mình con Giao Long, mặt hướng về phương Nam. Ngài là ngôi thứ ba của Tam thế Phật, tượng trưng cho ngôi bảo tồn.

Khi nói về Phật Christna Vichnou, Đức Hộ Pháp cho biết như sau: “Dầu cho những chơn linh nào chết nơi chân trời hay góc biển đi nữa, mà đầy đủ công nghiệp, tâm đức thì Phật Christna Vichnou cũng lãnh lịnh Chí Tôn tuần du trên mặt thế mà rước chơn linh ấy về ngay nơi Bạch Ngọc Kinh”.

Trong Lược Thuật Toà Thánh, thi phẩm của Võ Thành Lượng có câu:

Phật Chrisna mình trần chống nạnh,

Cỡi Giao Long nhìn chánh hướng Nam.

Cổi thân tế độ người phàm,

Chơn trời góc bể chưa nhàm dấu chân.

Tóm lại, Brahma Phật, Civa Phật, Christna hay Vichnou Phật là Tam Thế Phật của đạo Cao Đài, có nhiệm vụ lãnh lịnh Đức Chí Tôn điều khiển ba nguơn: Thượng nguơn, Trung nguơn và Hạ nguơn của Trời đất. Theo Di Lạc Chơn Kinh, Tam Thế Phật là ba vị Phật ở tầng Trời Thượng Thiên Hỗn Nguơn do Đức Di Lạc Vương Phật chưởng quản.

Nóc Bát Quái có Tam thế phật,

Phật Brama day mặt Tây Phang.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

TAM THIÊN ĐỒ ĐỆ

三 千 徒 弟

Tam thiên: Ba ngàn. Đồ đệ: Học trò.

Tam thiên đồ đệ là ba ngàn người học trò.

Đức Khổng Tử được đời xưng tụng là “Vạn thế sư biểu 萬 世 師 表”, tức là người thầy của muôn đời, bởi vì Ngài là người học rộng, lại có tâm chí lo cho đời, nên khi Ngài dạy học, học trò càng ngày càng nhiều.

Sử chép rằng Ngài có đến ba ngàn người học trò, tức tam thiên đồ đệ, trong đó có bảy mươi hai người tài giỏi hơn hết, đời gọi thất thập nhị hiền.

Khi mở Đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn lập Pháp Chánh Truyền và Thiên phong Chức sắc để lập thành Hội Thánh, tượng cho Thánh thể của Ngài nơi mặt thế, trong đó Chức sắc nhỏ nhất là bậc Địa Thánh, tức phẩm Giáo Hữu gồm ba ngàn người, chia làm ba phái, mỗi phái một ngàn người, mà Ngài gọi là tam thiên đồ đệ.

Còn nay, Thầy giáng thế chọn đến: Nhứt Phật, Tam Tiên, Tam thập lục Thánh, Thất thập nhị Hiền, Tam thiên đồ đệ.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TAM THIÊN THẾ GIỚI

三 千 世 界

Tam thiên: Ba ngàn. Thế giới: Theo Phật, một cõi trong Càn khôn vũ trụ.

Tam Thiên Thế giới là ba ngàn Thế giới ở bên trên Thất thập nhị địa, nên rất nhẹ nhàng. Tam Thiên Thế giới chính là ba ngàn tinh tú, hợp với Thất thập nhị địa thành 3072 ngôi sao mà Đức Chí Tôn bảo vẻ lên quả Càn Khôn thờ nơi Toà Thánh.

Đức Chí Tôn dạy về Tam thiên thế giới trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển như sau: “...còn lại Thất thập nhị địa và Tam thiên thế giới thì đều là tinh tú, tính lại 3072 ngôi sao. Con phải biểu vẽ lên đó cho đủ...”.

Thượng chưởng Tam thập lục thiên,

Tam thiên thế giới.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

TAM THỪA

三 乘

Tam: Ba. Thừa: Cỗ xe.

Thừa là chữ của nhà Phật, tam thừa là ba cỗ xe dùng để chuyên chở. Vì các tu sĩ năng lực khác nhau, nên mới chia làm ba thừa, gồm có Bồ tát thừa, Tích chi thừa, và Thanh văn thừa. Tích chi và Thanh văn chỉ đủ sức để tự độ mình, còn Bồ tát thừa thì giúp cả chúng sanh.

Ở đây, “Tam thừa” theo Đạo Cao Đài, là trong Cửu Phẩm Thần Tiên có chín bậc phẩm từ Thần đến Tiên, trong đó “Tam thừa” gồm ba bậc Thần, ba bậc Thánh, và ba bậc Tiên được kể như sau: Địa Thần, Nhơn Thần, Thiên Thần, Địa Thánh, Nhơn Thánh, Thiên Thánh, Địa Tiên, Nhơn Tiên, Thiên Tiên.

Do vậy, Cửu phẩm Thần Tiên còn được gọi là Tam thừa cửu phẩm.

Ngũ giới Tam Quy răn cõi tục,

Tam Thừa Cửu Phẩm đắcThần Tiên.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

TAM TRẤN OAI NGHIÊM

三 鎮 威 嚴

Tam: Ba. Trấn: Trấn giữ, tức gìn giữ cho an ổn. Oai nghiêm (uy nghiêm): Uy quyền đáng kính sợ.

1.- Tam Trấn Oai Nghiêm, hay “Tam Trấn”, là ba Đấng Thiêng liêng thay mặt cho Giáo Chủ Tam Giáo, cầm quyền Tam Trấn trong thời Tam Kỳ Phổ Độ.

Tam Trấn Oai Nghiêm cầm quyền Tam giáo là:

Nhất Trấn Oai Nghiêm: Lý Đại Tiên Trưởng (Lý Thái Bạch), kiêm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, cầm quyền Tiên giáo.

Nhị Trấn Oai Nghiêm: Quan Thế Âm Bồ Tát, cầm quyền Phật giáo.

Tam Trấn Oai Nghiêm: Quan Thánh Đế Quân, cầm quyền Nho giáo.

a.- Tam Trấn Oai Nghiêm:

Tam Kỳ Phổ Độ Tam Trấn Oai Nghiêm.

(Sớ Văn).

b.- Tam Trấn:

Nam Mô Tam Trấn Hư Vô,

Oai Nghiêm độ rỗi Cao Đồ quy nguyên.

(Kinh Tận Độ).

Tam Trấn Ngũ Chi cầu tế độ,

Cửu Huyền Thất Tổ nguyện siêu an.

(Thơ Huệ Phong).

2.- Tam Trấn Oai Nghiêm còn dùng để chỉ Đức Quan Thánh Đế Quân, thay mặt cho Đức Khổng Thánh, cầm quyền Nho giáo.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Hôm nay là ngày lễ vía Ðức Quan Thánh Ðế Quân, một đấng Thiêng liêng cầm quyền Tam Trấn oai nghiêm Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ.

Tam Trấn Oai Nghiêm nghi Phật vị,

Tứ thời ngưỡng vọng điểm thiên lương.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

TAM XÍCH THỔ

三 尺 土

Tam xích: Ba thước. Thổ: Đất.

Tam xích thổ là ba thước đất, ý nói đào sâu xuống đất ba thước để chôn xác người chết.

Người xưa chôn người chết, đặt quan tài sâu xuống đất ba thước (đơn vị ngày xưa), nên thường có câu: Táng an tam xích thổ 葬 安 三 尺 土, nghĩa là chôn vùi xuống ba thước sâu.

Cảnh Hành Lục có câu: Vị quy tam xích thổ, nan bảo nhất sinh thân, ký quy tam xích thổ, nan bảo bách niên phần 未 歸 三 尺 土, 難 保 一 生 身, 既 歸 三 尺 土, 難 保 百 年 墳, nghĩa là chưa về ba thước đất, khó giữ toàn thân thể, đã về ba thước đất, khó giữ nấm mồ trăm năm.

Hài cốt tuy mai tam xích thổ,

Tinh thần siêu thoát Cửu Trùng Thiên.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

TÁM ĐẤU

Tám: Số đếm, đứng trước số chín, sau số bảy. Đấu (đẩu 斗): Vật dùng để đong lường.

Tám đấu, do chữ “Bát đẩu 八 斗”, dùng để chỉ những người tài giỏi.

Do câu nói của Tạ Linh Vận khen Tào Thực: Tài năng trong thiên hạ cộng lại là một thạch tức mười đấu, riêng Tào Tử Kiến (tức Tào Thực) chiếm hết tám đấu, ý muốn nói Tào Thực là người đọc nhiều hiểu rộng.

Trong Ngư Tiều Vấn Đáp, Nguyễn Đình Chiểu có viết: Nhà nho đèn sách công dày, Tài kiêm tám đấu, sách đầy năm xe.

Mong tài tám đấu nưng thành lở,

Quyết chí năm xe lấp hải hà.

(Thơ Nguyễn Hượt Hải).

 

 

TÁM TIẾT

Tám: Số đếm, đứng trước số bảy dưới số chín. Tiết: Mùa tiết.

Tám tiết, như chữ “Bát tiết 八 節”, là tám mùa tiết trong một năm.

Tám tiết gồm có: Xuân phân, thu phân, hạ chí, đông chí, lập xuân, lập hạ, lập thu và lập đông.

Thành ngữ thường có câu: Bốn mùa tám tiết dùng để chỉ trọn một năm.

Tám tiết chống Trời lòng chẳng mỏi,

Bốn mùa cản gió chí không nao.

(Quyền Giáo Tông).

Bốn mùa no dạ nhờ dưa muối,

Tám tiết che mình với vải bô.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

TÀM

Tàm là con tằm, ấu trùng của loài bướm, ăn lá dâu, lá sắn, nuôi để lấy tơ.

Như: Tàm tang (dâu tằm). tàm thực (tằm ăn dâu).

Trong bài “Vô Đề” của Lý Thương Ẩn có câu: Xuân tàm đáo tử ty phương tận, Lạp cự thành hôi lệ thuỷ can 春 蠶 到 死 絲 方 盡, 蠟 炬 成 灰 淚 始 幹, nghĩa là Tằm xuân đến chết tơ vừa dứt, Nến sáp thành tro lệ mới tan.

Ngoài ra toàn vạn vật đều có tình hữu ái đối với ta “Khuyển thủ dạ, kê tư thần, tàm thổ tư, phong nhưỡng mật“.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

TẠM

Tạm là đỡ trong chốc lát, không lâu dài, tức khi có điều kiện sẽ có thay đổi.

Tạm là chưa đạt yêu cầu mong muốn, nhưng chấp nhận coi là được.

Thánh giáo Thầy có dạy: Thầy vì lấy từ bi mà dìu dắt các con, nên tạm sửa chút máy huyền vi, là để cho các con lấy chí thành của Thầy un đúc bấy lâu mà đối đãi với kẻ nghịch cho đến ngày mãn công quả.

Ðộng đình chạnh lúc tạm chia đường,

Bốn giọt nhìn nhau lối rẽ cương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ăn nhờ, ở tạm, mua thương,

Tiếc chi những thói hoa tường buôn ong.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TẠM BIỆT

暫 別

Tạm: Đỡ vậy trong chốc lát, không lâu dài. Biệt: Từ giã đi nơi khác.

Tạm biệt là từ giã để ra đi trong một thời gian ngắn, rồi sẽ gặp lại nhau.

Chia đường tạm biệt buổi hôm nay,

Đi ở dường khêu mối cảm hoài.

(Thơ Thượng Sanh).

Rẽ bước phương trời tạm biệt nay,

Nâng cao khí phách nhớ nhau hoài.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

TẠM CÁCH

暫 隔

Tạm: Đỡ vậy trong chốc lát, không lâu dài. Cách: Cách biệt, chia cách.

Tạm cách, đồng nghĩa với chữ “Tạm biệt 暫 別”, là từ biệt ra đi, xa cách nhau trong một thời gian ngắn rồi sẽ gặp lại nhau.

Tổ Đình hội ngộ đã lâu ngày,

Tộc Đạo đăng trình tạm cách nay.

(Thơ Thượng Cảnh Thanh).

 

 

TAN

Tan là rã rời, thành nước, thành bột, tức chỉ vật gì tụ lại thành khối, thành bọn, mà lại rã rời ra.

Như: Mây tan, muối tan, chén vỡ tan, sương tan.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có day: Vậy Thầy khuyên các con cứ thìn lòng thìn nết cho có trật tự trong Ðạo, thì tức nhiên muôn điều khó nhọc cũng tan như giá.

Sang giàu chẳng khác như mây,

Khi tan khi hiệp đổi xây không thường.

(Kinh Sám Hối).

Cần lo học Ðạo chí đừng lơi,

Phú quý sương tan lố bóng Trời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Niên cao chưa đủ trí phen đời,

Nương đỡ nhà tan ngó biển khơi.

(Đạo Sử).

 

 

TAN HIỆP

Hay “Tan hợp”.

Tan: Rời ra. Hiệp (hợp): Hợp lại, sum hợp.

Tan hiệp, như chữ “Tan hợp”, là chia ra và hợp lai, tức khi xa lìa khi hiệp lại.

Tan hiệp đồng nghĩa với “ly hiệp 離 合”.

Trong Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Ðây là một cuộc hội hiệp đầy thân ái, chân thành mà mỗi chức sắc đều có ý trông đợi, vì sau buổi hội, khi chia tay, kẻ ở lại vùng Thánh Ðịa, người tản mát nơi tứ phương, mỗi vị còn giữ lại một kỷ niệm tốt đẹp gọi là nỗi an ủi trong cuộc đời tan hiệp.

Nhiệm vụ lo tròn là quý nhứt,

Sá chi tan hiệp lẽ thường hoài.

(Thơ Thượng Sanh).

Xông pha biết mấy tuần mưa gió,

Tan hiệp thêm nhiều hội nước mây.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

TAN HOANG

Tan: Rã rời, thành nước, thành mảnh vụn. Hoang: Bỏ trống, bỏ không.

Tan hoang là hư hao, tan nát hoàn toàn, không còn một thứ gì nữa.

Như: Chiến tranh gây cho nhà cửa tan hoang.

Gái xướng kỵ, trai thì du đảng,

Phá tan hoang gia sản suy vi.

(Kinh Sám Hối).

Đốt nhà, tháo cống, phá mương,

Nước tràn lụt ngập ruộng vườn tan hoang.

(Kinh Sám Hối).

Bập bồng Tần quốc tan hoang,

Hoàng cung không chúa, ngai vàng không vua.

(Nguyễn Trung Trực Giáng).

 

 

TAN NÁT

Tan: Rã rời, sụp đổ. Nát: Tan vỡ thành mảnh vụn, hư hỏng, rời rạc.

Tan nát là tan, vỡ nát, tức ở trạng thái bị phá huỷ hoàn toàn đến mức như chỉ còn là những mảnh vụn.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Tam Bửu là ba khí chất tạo nên hình hài xác thịt, cái xác là con kỵ vật, thiên hạ lầm tưởng hễ xác chết là mất, vậy thì thử hỏi Trời Ðất vạn vật một khi đã hoại thì tan nát không còn sanh hoá nữa hay sao?

Hoặc tính nghe chi cơn lửa động,

Mà thiêu tan nát nghĩa phu thê.

(Bát Nương Giáng Bút).

Dụng quyền hơn đức quyền tan nát,

Tạo thế kém nhân thế đoạ đày.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

TAN NHƯ GIÁ

Tan: Rã rời, thành nước. Như giá: Như băng giá, như nước đá.

Tan như giá tức là tan ra thành nước như băng giá gặp nóng, chỉ sự dễ sụp đổ, dễ tan biến.

Nho có câu: “Thế dị tận giả nhược băng sơn 勢 易 盡 者 若 崩 山” nghĩa là thế lực dễ tiêu tan như núi giá.

Thánh giáo Thầy có câu: Các con, nền Ðạo bề ngoài coi diềm dà sung túc, mà chẳng thấy rõ cái mạch bịnh trong tâm, chẳng khác chi thế Sở chế bạo Tần, ham cái mạnh bề ngoài, biết sợ cái mặt chớ chẳng rõ lòng người ra sao, mà không độ cái mạnh cấp thời đó sẽ dần dần tan như giá mà đổi ra yếu hèn thấp nhược.

Xem: Băng sơn.

Vậy Thầy khuyên các con cứ thìn lòng thìn nết cho có trật tự trong Ðạo, thì tức nhiên muôn điều khó nhọc cũng tan như giá.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TAN TÁC

Tan: Rã rời, thành nước.

Tan tác là rời rã, tả tơi mỗi nơi mỗi mảnh.

Như: Bọn giặc bị đánh chạy tan tác, tấm gương bị vỡ tan tác mỗi nơi mỗi mảnh.

Tơ chùng phím lạc cung đờn,

Tình ta tan tác keo sơn rã rời.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

TAN TÀNH

Tan tành là tan nát, hư hỏng hết, không còn gì.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Thầy quyết lấy đức háo sanh mở Ðạo, cứu rỗi sanh linh cho kịp trước kỳ Hạ nguơn nầy, nhưng Ðạo chẳng hoàn toàn, con đường đi chưa cùng bước, là vì tại nơi lòng nhiều đứa chưa để hết tín ngưỡng mà nghe lời Thánh giáo, cho nên lần hồi, nền Ðạo phải ra tan tành manh mún.

Mộng ảo trò đời đâu mấy chốc,

Ngựa qua cửa sổ cuộc tan tành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thìn dạ chờ châu về hiệp phố,

Nơi mình sự nghiệp mới tan tành.

(Đạo Sử).

Trăm năm con cứ giữ tròn,

Nếu con bội tín, thân con tan tành.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

TÁN

Tán là tan ra, tức chuyển từ trạng thái rắn sang trạng thái lỏng.

Tán còn có nghĩa là tan, tức vỡ vụn thành từng mảnh nhỏ, không còn nguyên vẹn nữa.

Như: Giải tán, tiêu tán, kinh tâm tán đảm.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu dạy: Người đời chẳng khác con buôn trong buổi chợ, cả sức lực, trí não, tinh thần đều bị tiêu tán nơi ấy, vì vậy mới hoại chơn linh, thất ngôi diệt vị.

Trừ quái khí roi thần chớp nhoáng,

Bộ Lôi Công giải tán trược quang.

(Kinh Tận Độ).

 

 

TÁN DƯƠNG

贊 揚

Tán: Khen ngợi. Dương: Đưa lên cao.

Tán dương là khen ngợi để đề cao.

Như: Nghe xong bài thuyết đạo mọi người đều tán dương, làm xong công việc gì anh không cầu tán dương.

Có lẽ toàn thể Chức sắc lưỡng phái cũng đồng nhận thức điều nầy, vì vậy tán dương tài đức và công nghiệp của ông là một sự thừa.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

TÁN ĐỞM

Tán: Tan ra. Đởm: Hay “Đảm 膽” là mật.

Tán đởm, như chữ “Tán đảm 散 膽”, là tan mật, dùng để chỉ sự sợ hãi.

Người xưa cho rằng nếu sợ thái quá thì mật trong con người sẽ tan ra hết. Thành ngữ có câu: “Kinh tâm tán đởm 驚 心 散 膽” là lòng kinh sợ đến tan mật.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Bát Nương Diêu Trì Cung có đoạn: Khi Đức Chí Tôn mở Đạo trong thời kỳ Hạ nguơn nầy thì đã định trước. Mấy em nên hiểu rằng: Cây Giáng Ma Xử của Hộ Pháp không phải là một vật thường, đến buổi sử dụng thì chị e cho mấy em kinh tâm tán đởm, đừng tưởng không có nghe!

Nhiều gộp núi như đao chơm chởm,

Thấy dùn mình tán đởm rất ghê.

(Kinh Sám Hối).

 

 

TÁN TIÊN

Tán (tản): Thong thả, không bị bó buộc. Tiên: Một trong bốn phẩm ở cõi thiêng liêng là Thần, Thánh, Tiên, Phật.

Tán Tiên, như chữ “Tản tiên 散 仙”, là nói đến những vị Tiên nhàn nhã, không bị ràng buộc, tức những vị Tiên không có phận sự trong cõi Thiêng liêng.

Truyền thuyết cho rằng ở Đông Hải có vị Tán Tiên là Đông Phương Sóc.

Ngư ông nhàn nhã thú câu thuyền,

Hải đảo làm quen những Tán Tiên.

(Thơ Thái Phong).

 

 

TÁN TỤNG

讚 頌

Tán: Khen ngợi. Tụng: Ca ngợi.

Tán tụng, đồng nghĩa với “Tán dương 贊 揚”, là khen ngợi và ca tụng.

Trong Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo có bài Kinh: Tán Tụng Công Đức Diêu Trì Kim Mẫu là bài kinh ca tụng đạo đức và công nghiệp của Đức Phật Mẫu.

Tán tụng công đức hiền nhân,

Bao biếm thiện ác, cân phân rõ ràng.

(Báo Ân Từ).

 

 

TÀN

1.- Tàn là đồ nghi vệ dùng để che cho bậc vua chúa thời xưa, hoặc trong tôn giáo Cao Đài dành để lập nghi trượng trước Chánh điện thờ Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu. Ngoài ra tàn còn dùng để rước các nhà lãnh đạo hay Hội Thánh.

Như: Tàn lọng, tàn vàng lọng tía.

Lọng tàn vui rước người ba miệng,

Nghi trượng hoan nghinh Mắt một tròng.

(Thiên Thai Kiến Diện).

2.- Tàn là cành và lá của cây xòe ra trên cao như hình cây tàn.

Như: Tàn cây cổ thụ, học sinh cắm trại dưới tàn cây trong rừng.

Kìa đào lý tàn già đã cỗi,

Nhắc tượng chàng dựa cội trông hoa.

(Nữ Trung Tùng Phận).

3.- Tàn là ác. Như: Tàn khốc, tàn bạo, tàn hại, tàn nhẫn, hung tàn bạo ngược.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có đoạn dạy: Hoạ Âu tai Á sẽ vì Thiên điều mà phạt kẻ bạo tàn tội lỗi. Càn khôn tiều tuỵ mà bước tục hỡi chần chờ. Nếu chẳng sớm xét mình, để buổi ác xế trăng tà, nước dời cạn bực, thuyền Bát Nhã đã lướt qua, nhành dương liễu hết rơi giọt từ bi thì ăn năn rất muộn.

Sang thì giữ vững ngai vàng,

Hèn thì trừ đảng bạo tàn hại dân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Hạnh hiền đức mỗi ngày mỗi nhắc,

Thói bạo tàn làm gắt chẳng nghe.

(Phương Tu Đại Đạo).

4.- Tàn là suy mòn, còn thừa lại, còn sót lại một chút. Như: Hoa tàn, tro tàn, canh tàn, hơi tàn.

Thánh giáo Thầy có câu: Ôi! Xuân tàn xuân đến, cái xuân của người đã sắp lụn hao, mà rồi cái xuân của Trời Ðất nước non cũng chưa chắc là vô cùng vô tận.

Sen tàn cúc nở qua ngày tháng,

Nhặt bước đường hoa đến cội tùng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðông tàn cảnh ướm trở nên xuân,

Xuân nở vườn mai há mấy lần?

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nhạn chiu chít phận một phương Trời,

Kêu bạn canh tàn chẳng mỏi hơi.

(Đạo Sử).

 

 

TÀN BẠO

殘 暴

Tàn: Hung ác. Bạo: Dữ dội.

Tàn bạo là độc ác và hung bạo. Như: Hành động của ông ta rất tàn bạo.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Dân tàn bạo ấy tưởng là khôn ngoan hơn hết, dùng chánh sách cường quyền áp bức đồng bào. Bần Ðạo thử hỏi đặng hay chăng? Xin trả lời: Không hề khi nào đặng.

Đời tàn bạo chẳng thương nhân loại,

Tìm kế mưu sát hại lẫn nhau.

(Thơ Thái Đến Thanh).

Tạo đời mỹ tục phong thuần,

Diệt loài tàn bạo lẫy lừng hại dân.

(Thơ Thông Quang).

 

 

TÀN CANH

殘 更

Tàn: Gần hết, còn sót lại. Canh: Một phần năm của đêm, vì đêm năm canh.

Tàn canh là gần hết đêm, chỉ canh đã gần hết, tức là trời sắp sáng.

Như: Đêm thất tịch ngồi đến tàn canh mà không thấy mưa ngâu xảy đến.

Đêm chầy nghe đã tàn canh,

Vừng đông tin nhắn đất lành tự do.

(Xuân Hương Giáng Bút).

Thà cầm đèn thủ tiết tàn canh,

Hơn thụt ló như mèo rình ăn vụng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TÀN HẠI

殘 害

Tàn: Làm hại, hung ác. Hại: Hao tổn.

Tàn hại là làm cho hư hại, hay làm hại nhau một cách dữ dội, tàn ác.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Nay các con lập một Ðạo, cũng chẳng khác chi lập một nước, phận sự lại càng khó khăn hơn, liệu mà sửa cải, liệu mà điều đình, mới có thể chống ngăn sự tàn hại mà làm cho nền Ðạo được vững.

Vì có ghét nhau, vạn loại mới khi nhau, khi lẫn nhau mới tàn hại hại nhau, mà tàn hại lẫn nhau là cơ diệt thế.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TÀN Y

殘 衣

Tàn: Còn thừa lại. Y: Quần áo.

Tàn y là áo người chết còn để sót lại, tức là những kỷ vật của người đã chết.

Khi người vợ đã chết, người chồng thường thấy lại những kỷ vật của vợ mà khiến lòng thêm đau buồn, nhứt là nhìn lại tấm gương soi hay mảnh tàn y.

Khi để bước phòng đào lạnh ngắt,

Mảnh tàn y dường nhắc nghi dung.

(Kinh Thế Đạo).

Quả phụ dầu xa manh áo chế,

Tàn y còn giữ mảnh hương nồng.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

TÀN SÁT

殘 殺

Tàn: Làm hại, hung ác. Sát: Giết chết.

Tàn sát là giết hại hàng loạt người không có khả năng tự vệ, một cách dã man, ác độc. Như: Tàn sát dân lành.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Vì vậy nên ta phải có đủ đức tin nơi Chí Tôn, phải trọng mạng sống của con người, bởi Ðức Chí Tôn hoá sanh một người là một vật báu của Ngài. Nếu ai tàn sát cho tiêu loài vật báu ấy thì phạm Thiên điều tức là đại tội.

Nhân loại tàn sát lẫn nhau bởi không biết dùng khoa học vào việc phải, nên nó mới biến thành chia rẽ và chiến tranh.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TÀN TẠ

殘 謝

Tàn: Suy mòn, hư, héo, Tạ: Hoa lá héo rụng.

Tàn tạ là tàn, héo úa, rơi rụng. Như sắc đẹp tàn tạ.

Tàn tạ còn chỉ cảnh long đong, khổ sở.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Phương chi nạn chiến tranh đang giày xéo đất nước suốt phần tư thế kỷ nay, tai trời ách nước còn dồn dập gieo thêm tang tóc cho giống Việt Thường đã quá thống khổ, đoạ đày, đã phải chịu thêm điêu linh tàn tạ.

Cho hương sắc diễm kiều tàn tạ,

Cho tay phàm vọc đoá mẫu đơn...

(Phù Kiều Hận Sử).

 

 

TẢN

Tản là rời nhau ra, di chuyển nhiều phía làm cho thưa ra và ở trên diện tích rộng.

Như: Đám đông tản ra hai bên đường, ánh sáng tản ra nhiều hướng.

Ác lồng nhựt rạng tản sương mơi,

Gặp lối đường quanh khó tách dời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

TẢN ĐÀ

傘 沱

Tản Đà tức Nguyễn Khắc Hiếu, một nhà thơ sinh tại làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây, một làng trù phú bên dòng Đà Giang và cánh đồng bát ngát chạy dài đến chân núi Tản Viên.

Vì nơi quê hương của ông có núi Tản sông Đà, nên nhà thơ mới lấy bút hiệu là Tản Đà.

Tản Đà sống nổi nhờ thơ, rượu,

Tớ chỉ thơ thôi đủ dựa kề.

(Thơ Hoàng Nguyên).

Nổi chìm bể hoạn thương Công Trứ,

Cao vút hồn thơ nhắc Tản Đà.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

TẢN MẠN

Tản: Di chuyển ra nhiều phía, làm cho sự phân bố thưa đi và ở trên diện tích rộng hơn.

Tản mạn là tình trạng rời rạc, không có sự liên hệ với nhau, không tập trung.

Như: Sách vở không tập trung, bỏ tản mạn khắp nơi.

Mây lủng lẳng ven trời bảng lảng,

Nước lênh đênh tản mạn mênh mông.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

TẢN MÁT

Tản: Di chuyển ra nhiều phía, làm cho sự phân bố thưa đi và ở trên diện tích rộng hơn.

Tản mát, như chữ “Tản mác”, là rải rác ra nhiều nơi, mỗi chỗ một ít, không có tập trung lại một chỗ.

Huấn dụ Thượng Sanh nhơn bữa tiệc thường niên tại Giảng đường ngày 22 tháng giêng năm Nhâm Dần (1962) có dạy: Cuộc hội hiệp vui vẻ này đã biến thành cái lệ bất di bất dịch, in sâu vào trí não của mọi người trong chúng ta, vì đó là một cuộc hội hiệp đầy thiện cảm chân thành, nồng đượm bao nhiêu vẻ thân mật khắng khít và sẽ ghi lại một kỷ niệm êm dịu trong tâm hồn của những người đến dự khi mà mỗi vị đều ý thức trong một vài ngày nữa đây sẽ có cuộc chia tay, kẻ ở lại nơi đại gia đình, người tản mát nơi tứ phương, để làm phận sự của người con thảo đối với Ðức Chí Tôn Ðại Từ Phụ.

Một số Chức sắc Hội Thánh tản mát nơi bốn phương vì nhiệm vụ, dù là nơi cách trở xa xôi cũng tề tựu đông đủ về Tổ Ðình để trình diện với Ðức Chí Tôn và Ðức Phật Mẫu.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

TẠN

Tạn là tận, đối diện, trực tiếp, ngay tại chỗ.

Như: Tôi đến nhà thấy tạn mặt mày nó, quan lớn vào chầu gặp tạn mặt rồng.

Ðặng sống ngày nay xem tạn mắt,

Công phu dành để dạ làm lành.

(Đạo Sử).

 

 

TẠN MẶT

Tạn: Tận, đối diện, trực tiếp, ngay tại chỗ. Mặt: Phần phía trước đầu, gồm có mày, mắt, mũi.

Tạn mặt là giáp mặt, tức là gặp mặt nhau, tiếp xúc trực tiếp với nhau. Như: Sao không nói tạn mặt nó.

Thánh giáo Thầy dạy Ngài Thái Thơ Thanh có câu: Thầy đã khiến con đi Ðế Thiên Ðế Thích đặng xem cho tạn mặt hữu hình.

Công quả ấy Thầy đà chép trước,

Nay xem tạn mặt thấy tu đành.

(Đạo Sử).

Tuy biết phàm duyên là tục trái,

Nay nhìn tạn mặt nghĩ càng đau.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Sầu chàng cô thế vơi lưng ngựa,

Ngẩn thiếp khôn phương tạn mặt rồng.

(Thơ Cao Liên Tử).

 

 

TANG

1.- Tang là sự đau buồn khi có người thân mới chết. Như: Nhà có tang, cư tang, điếu tang, tâm tang.

Thánh giáo Thầy dạy về quyền hành của Giáo Sư có đoạn: Buộc chúng nó lo lắng cho các con như anh ruột lo cho em. Chúng nó cầm sổ bộ của cả tín đồ. Chúng nó phải chăm nom về sự tang, hôn của mỗi đứa.

Cha ở đâu, mẹ nơi đâu?

Tâm tang kính gởi một bầu lệ châu.

(Kinh Thế Đạo).

Cặp liễn tang còn câu long ám,

Hạc quy hồi lãnh đạm trần ai.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Tang là cây dâu, không dùng một mình.

Như: Tang bộc, tang du, tang thương, nghề nông tang, tang bồng hồ thỉ.

Chồng giàu có ruộng sâu trâu cả,

Sự nông tang lúa mạ phải rành nghề.

(Phương Tu Đại Đạo).

Viếng lại Linh Sơn buổi ác vàng,

Bồi hồi đứng ngắm cảnh thương tang.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

TANG BIẾN THƯƠNG DỒN

Tang biến: Ruộng dâu thay đổi. Thương dồn: Biển xanh dồn dập.

Tang biến thương dồn, do câu thành ngữ “Tang điền thương hải 桑 田 蒼 海” là ruộng dâu biến thành biển xanh, dùng để chỉ việc đời luôn luôn biến đổi dồn dập một cách bất thường.

Xưa đã lắm phen nhơn sanh phải khổ tâm hy sinh vì nền Ðạo, nhưng mà tàn lối ngưỡng trông rồi thì phân vân dời đổi, tang biến thương dồn...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TANG BỒNG

桑 蓬

Tang: Cây dâu. Bồng: Cỏ bồng.

Tang bồng, do thành ngữ “Tang bồng hồ thỉ 桑 蓬 弧 矢” là cung bằng gỗ dâu, tên bằng cỏ bồng.

Tang bồng dùng để chỉ người con trai có chí khí tung hoành, ngang dọc.

Xem: Tang bồng hồ thỉ.

Đại quân tử tang bồng gánh nợ,

Nhờ vợ hiền mới đỡ đôi vai.

(Phương Tu Đại Đạo).

Cho duyên cầm sắt hoà muôn điệu,

Cho chí tang bồng toại bốn phương.

(Thơ Thuần Đức).

Hè chí thu sang tiết trở Đông,

Ướm Xuân thoạt nhớ đến tang bồng.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

TANG BỒNG HỒ THỈ

桑 蓬 弧 矢

Tang bồng: Gỗ dâu, cỏ bồng. Hồ thỉ: Cung tên.

Tang bồng hồ thỉ là cung làm bằng gỗ dâu, tên làm bằng cỏ bồng.

Do tục Trung Hoa ngày xưa hễ đẻ con trai thì dùng cung bằng cành dâu, tên bằng cỏ bồng bắn sáu phát trên trời dưới đất và ra bốn phương. Vì thế người ta dùng thành ngữ “Tang bồng hồ thỉ” để nói về sự vẫy vùng của người con trai có chí khí.

Xem: Cung dâu tên cỏ.

Tang bồng hồ thỉ trĩu đôi vai,

Trang trải cho xong giấc mộng dài.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

TANG CHẾ

喪 制

Tang: Đám ma. Chế: Định ra lễ tang.

Tang chế là phép tắc quy định việc để tang cho người chết và việc hành đám, nói chung về việc tang. Như: Tang chế nhiều nơi sinh ra rất phiền phức.

Trong quyển Giáo Lý của Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có câu: Cha mẹ mất thì phải tận tâm đoái hiếu. Cổ nhơn bảo: “Tang tắc trí kỳ ai”: Việc tang chế phải hết lòng thương xót.

Não nùng thay toàn đạo thở than,

Thống thiết bấy tín đồ tang chế.

(Điếu Văn Đầu Sư).

 

 

TANG CHỦ

喪 主

Tang: Đám ma. Chủ: Người làm chủ.

Tang chủ là người chủ gia đình có tang, tức người đứng ra tổ chức đám tang cho người chết.

Trong Tân Luật, phần Thế đạo, điều thứ mười lăm có câu: Người làm đầu trong Họ, khi tang chủ mời, phải đến hiệp với chư tín đồ trong Họ, làm lễ cầu siêu cho vong linh theo Tân Luật và đưa xác đến mộ phần.

Tang chủ dĩ hạ giai xuất.

(Nghi Tiết Tang Lễ).

 

 

TANG DÂU

Tang: Cây dâu. Dâu: Như chữ “Tang 桑”. một loại cây trồng để lấy lá nuôi tằm.

Tang dâu, do nghĩa câu “Tang điền thương hải 桑 田 蒼 海”, nghĩa là ruộng dâu biến thành biển xanh, chỉ cảnh đời thay đổi.

Xem: Tang điền thương hải.

Nhặt thúc quang âm xuân đã lụn,

Liệu qua cho khỏi cuộc tang dâu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Biết bao mấy nỗi tang dâu,

Bóng trăng kia đã đứng đầu tuổi xanh.

(Thanh Tâm Tài Nữ).

 

 

TANG DU

桑 榆

Tang du là tên một loại cây giống như cây dâu, mọc ở góc trời tây, dùng để nói về mặt trời xế chiều, trời lặn.

Trong Sử Ký chép: Niên tuế hữu ngật, tang du hành tận 年 歲 有 汔 桑 榆 行 盡, nghĩa là năm tháng đã hết, cảnh trời chiều tắt.

Tang du còn dùng để ví với tuổi già.

Có sách lại chép: Ở góc biển phương tây, có cây tang du, hễ mặt trời đến đó thì lặn, nên người ta nói cảnh tượng người già gần chết thì nói: “Tang du vãn cảnh 桑 榆 晚 境”.

Nối Tông Tổ biết bao nghĩa trọng,

Cơ nghiệp còn lưu mộng tang du.

(Kinh Thế Đạo).

Thương những kẻ vì hiền khổ phận,

Cửa tang du khó lấn đầu hiên.

(Thất Nương Giang Bút).

 

 

TANG ĐIỀN THƯƠNG HẢI

桑 田 蒼 海

Tang điền: Ruộng dâu. Thương hải: Biển xanh.

Tang điền thương hải, do câu Hán văn: “Tang điền biến vi thương hải” nghĩa là ruộng dâu biến thành biển xanh. Ý nói cuộc đời có sự thay đổi lớn lao.

Theo Thần tiên truyện: Tam thập niên vi nhất biến, thương hải vi tang điền 三 十 年 為 一 變, 蒼 海 為 桑 田, nghĩa là cứ ba chục năm lại có một lần thay đổi, biển xanh hoá thành ruộng dâu.

Xem: Thương hải tang điền.

Tang điền thương hải chẳng bao xa,

Khuyên thế lo tu kịp tuổi già.

(Tiếp Dẫn Đạo Nhơn).

 

 

TANG HÔN

喪 婚

Tang: Việc đám ma. Hôn: Việc cưới vợ gả chồng.

Tang hôn là việc tang và việc cưới vợ gả chồng, là hai lễ trong “Quan, hôn, tang, tế”, hai việc quan trọng của đời sống một con người.

Trong đạo Cao Đài, mỗi chức sắc hay chức việc đều có bổn phận chăm lo về việc tang hôn của tín đồ nơi địa phương mình để thể hiện sự quan tâm, đoàn kết với tín đồ hầu thực hiện cơ phổ độ.

Pháp Chánh Truyền Chú Giải có đoạn: Quan, hôn, tang, tế là điều cần nhứt của kiếp sống người đời, mà Thầy chỉ định giao cho Giáo Sư có sự tang hôn mà thôi.

Giáo Sư cầm sổ bộ của cả tín đồ, phải chăm nom về sự tang hôn của mỗi người.

(Tân Luật).

 

 

TANG Y

喪 衣

Tang: Đám tang, cử hành lễ người chết. Y: Áo quần.

Tang y là loại quần áo mặc trong lúc nhà có người thân chết.

Tang y đồng nghĩa với “Tang phục 喪 服”.

Xem: Tang phục.

Một thân goá tang y lại mặc,

Chống gậy lê nhúc nhắc đưa linh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TANG LỄ

喪 禮

Tang: Đám tang, cử hành lễ người chết. Lễ: Nghi lễ.

Tang lễ là nghi thức làm lễ đám tang.

Trong Đạo Cao Đài, Nghi thức tang lễ được Hội Thánh nói trong “Lời nói đầu” của tài liệu Hạnh Đường như sau: “Nghi lễ là cái hình thức phô diễn bên ngoài, tính cách quy củ chuẩn thằng của tổ chức Tôn giáo.

Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là một Tôn giáo có tôn chỉ quy Tam Giáo hiệp Ngũ Chi, tức là một sự phối hợp của tất cả các triết lý Đạo Giáo, tất cả các hình thức tổ chức Tôn giáo từ xưa đến nay. Vì vậy, nghi lễ của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ rất phù hợp với phong hoá nhà Nam và vừa trình độ tấn hoá của quần chúng, không quá xưa mà cũng không quá tân thời.

Vậy Thánh ý của Đức Chí Tôn và các Đấng Thiêng Liêng, những bậc Tiền Bối trong nền Đạo đã dầy công nghiên cứu, châm chước và biên soạn ra các nghi lễ dùng việc Quan, Hôn, Tang, Tế. Ấy vậy, nghi lễ trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ chẳng phải do ai tự ý bày vẻ ra mà là một công trình chung, trong một lề lối tổ chức đồng nhứt áp dụng cho tất cả các Châu, Tộc trên toàn quốc. Những sự sửa đổi về nghi lễ do ý riêng của mình rất tai hại vì nó làm cho tổ chức một Tôn giáo tại mỗi địa phương có hình thức một nhóm riêng, chẳng khác nào mỗi nơi đạo hữu tự ý bày ra thêm những kiểu vở, màu sắc đạo phục khác để mặc vậy, dần dần theo thời gian những sự khác biệt ban đầu nhỏ bé sau sẽ lớn dần ăn sâu vào tâm trí của nhơn sanh, thì sự thất kỳ truyền cũng do nơi đó mà ra”.

Tang lễ trong nền Đại Đạo gồm các phần chánh yếu sau đây: 1- Tẩn liệm; 2- Thành phục phát tang; 3- Cáo Từ tổ; 4- Chánh tế, phụ tế và cầu siêu; 5- Di quan và an táng.

Tang lễ không nên xa xí, không nên quàn Linh cữu lâu ngày, không nên dùng đồ màu sắc, không nên yến ẩm.

(Giáo Lý).

 

 

TANG PHỤC

喪 服

Tang: Đám ma. Phục: Quần áo.

Tang phục, cũng như “Tang y 喪 衣” là loại quần áo dành cho người có tang mặc.

Chúng ta nên biết, ân nghĩa và tình cảm đối với người đã khuất được Nho giáo thể hiện những nỗi niềm bi thống bằng cách chế định các hạng tang phục. Song chế độ tang phục chỉ định cho những người vốn có quan hệ thân thuộc như Ông bà, cha mẹ, anh em, vợ chồng...

Tùy theo thân sơ mà Nho giáo định năm loại tang phục gọi là Ngũ phục (五 服), chia ra thời gian để tang lâu mau khác nhau, có năm bậc, gọi là Ngũ phục:

Trảm thôi 斬 衰: Áo chế cho hạng đại tang, thường dùng vải trắng thô, bên dưới gấu áo bỏ xủ xuống, không viền, mặc quần xổ lai. Thời gian để tang là 3 năm. Thọ Mai Gia Lễ chế lại còn 27 tháng.

Tư thôi 齊 衰: Áo tang có lên trôn, khâu bằng phẳng, mặc quần không xổ lai. thời gian để tang 3 năm hay 1 năm (Cơ niên).

Đại công 大功: Tang phục bớt thô hơn dành cho để tang 9 tháng.

Tiểu công 小功: Tang phục dùng vải được chế tinh vi hơn vải Đại công dành cho tang 5 tháng.

Tư ma 緦 麻: Áo tang dùng vải tơ tinh vi hơn áo Tiểu công dành cho tang 3 tháng.

Ý nghĩa để tang do theo sách Lễ Ký nói rằng: “Phàm lễ chi đại thể, thể Thiên địa, pháp tứ thời tắc âm dương, thuận nhân tình cố vị chi lễ 凡 禮 之 大 體, 體 天 地, 法 四 時 則 陰 陽, 順 人 情, 故 之 謂 禮”, Người xưa chế định lễ dựa theo lý nhứt định của Trời đất mà phân biệt cấp bậc theo tôn ty thượng hạ; nhân theo sự biến thiên của thời tiết bốn mùa mà đo lường ân tình, đối đãi, lý âm dương để phân đoán kiết hung; thuận theo nhơn tình hậu bạc mà chế ra trọng hay khinh.

Chẳng những lễ nghi mà thôi, tang phục cũng phải căn cứ theo phẩm trật tôn ty thượng hạ và ân tình trọng khinh, hậu bạc mà chế định ra.

Như ta biết quần áo tang lễ là loại trang phục để mặc khi có người thân chết, thời hạn để tang chính là thời hạn mặc quần áo tang. Quần áo tang và thời hạn để tang phải phối hợp với nhau, để khi mặc loại quần áo gì thì để tang bao lâu, song cũng có trường hợp vì điều kiện ân nghĩa khác nhau thì quần áo vẫn vậy, mà thời hạn lại thay đổi.

Ví dụ như thọ tang Tư thôi, cùng mặc tang phục giống nhau nhưng thời hạn chịu tang là 3 năm hay 1 năm.

Chúng ta biết, tùy theo hình thức và loại vải thô dày thưa mà người xưa chế định năm loại tang phục, gọi Ngũ phục để biểu thị sự cách biệt về quan hệ họ hàng thân thiết xa gần và tình cảm nông sâu.

Như vậy, có thể nói người sống dùng tang phục để biểu lộ tình cảm với người quá cố. Tình cảm có thân, có sơ, cho nên mới có người thân và người không thân, lễ sẽ định sự khác biệt ít nhiều. Đương nhiên người thân thiết thì tình cảm sẽ sâu nặng hơn, thì thọ tang phục sẽ tương đối phức tạp hơn; trái lại người thân xa, tình cảm cũng xa, tang phục do đó cũng đơn giản hơn. Tóm lại, Thánh hiền nghị chế ra tang phục là để đo lường cái nhơn tình trọng khinh, hậu bạc mà định phân thể thức bề ngoài để thể hiện tấm lòng con người đối xử lẫn nhau.

Chính vì thế mà người ta cho rằng chế độ tang phục của người xưa chế định là thước đo tình cảm sâu nặng, hay thân sơ, nó cũng biểu thị sự thân thiết xa gần của họ hàng gia tộc.

Một đại gia tộc, gồm bà con họ hàng là một tổ hợp có sự quan hệ vô cùng phức tạp, thế mà chế độ tang phục của người xưa có thể phân hoạch một cách rõ ràng, tỉ mỉ, từ đó hình thành một đạo lý để duy trì được sinh hoạt quần thể với nhau mà vẫn giữ được sự chung sống hoà bình, đoàn kết nhất trí trong dòng họ. Đó là thể hiện nền luân lý đạo đức trong gia tộc của người xưa.

Việc thọ tang lâu mau cũng được người dựa theo nguyên do mà đặt để. Ví dụ như tại sao người xưa nghị chế thọ tang cho cha mẹ phải là ba năm? Ấy là do lời nói của Đức Khổng Tử: “Tử sinh tam niên, nhiên hậu miễn vu phụ mẫu chi hoài, phù tam niên chi táng, thiên hạ chi đạt táng dã 子 生 三 年, 然 後 免 于 父 母 之 懷, 夫 三 年 之 喪, 天 下 之 達 喪 也”, tức là trẻ con sau ba năm mới được rời khỏi vòng tay bế ẵm của cha mẹ, cho nên khi cha mẹ mất đi, con cái phải báo đáp cái ân huệ vất vã nhứt của cha mẹ trong ba năm, để tang cha mẹ ba năm là lễ tang thông thường của mọi người trong thiên hạ. Vì vậy, Thánh hiền chỉ căn cứ vào chỗ trọng yếu đó mà chế ra tang phục ba năm dành cho người con hiếu để tang cha mẹ.

Hễ nói rằng công sanh thành dưỡng dục của cha mẹ ví tợ biển rộng trời cao thì cha là ân trọng, thì mẹ cũng phải là ân trọng, lại nữa con phần nhiều nghiêng về tình cảm với mẹ hơn. Thế mà tại sao lễ xưa chế thọ tang cho bà mẹ có chỗ kém hơn ông cha? Chúng ta biết theo Nho giáo, ngày xưa mỗi gia đình đều phải có thứ bậc tôn ty thượng hạ, ông cha nắm quyền duy nhứt để sửa trị trong gia đình, nếu chẳng may bà mẹ chết trước ông cha thì con vì hiếu mà để tang cho mẹ chỉ thọ Tư thôi, chớ không đặng thọ Trảm thôi. Đó là thể hiện trong gia đình chẳng có hai người làm chủ vậy.

Cảm thấy linh sàng, đây thiết nhỉ,

Ngẩn nhìn tang phục, đó tha nha.

(Thơ Thông Quang).

 

 

TANG QUYẾN

喪 眷

Tang: Đám xác, đám ma. Quyến: Bà con, thân tộc.

Tang quyến là thân nhân của người chết, hoặc bà con thân thuộc trong đám xác.

Tang quyến còn gọi là tang gia hiếu quyến. Như: Tang quyến đứng ra đáp từ.

Tang quyến sầu thương lần vĩnh biệt,

Đàn văn cảm kích mối tương thông.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

TANG TÓC

Tang tóc nói chung việc tang ma.

Nghĩa bóng: Tang tóc dùng để chỉ cảnh buồn thảm như có việc tang. Ví dụ: Màu tang tóc.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Phương chi nạn chiến tranh đang giày xéo đất nước suốt phần tư thế kỷ nay, tai trời ách nước còn dồn dập gieo thêm tang tóc cho giống Việt Thường đã quá thống khổ, đoạ đày, đã phải chịu thêm điêu linh tàn tạ.

Hai năm khởi sự màu tang tóc,

Một đoạn đường gai đã mãn rồi.

(Bát Nương Giáng Bút).

Võ lực gây bao tang tóc lại,

Nhuộm màu hoà giải nghiệt oan tiêu.

(Thơ Hộ Pháp).

Chiến tranh đất nước còn đau khổ,

Tang tóc nhơn sanh vẫn hãi hùng.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

TANG THƯƠNG

桑 蒼

Tang: Cây dâu. Thương: Màu xanh, chỉ màu xanh của biển.

Tang thương là dâu bể.

Tang thương do chữ: “Tang điền thương hải 蒼 海 桑 田”, tức ruộng dâu biển xanh.

Theo Thần tiên truyện: Tam thập niên vi nhất biến, thương hải vi tang điền 三 十 年 為 一 變, 蒼 海 為 桑 田, nghĩa là cứ ba chục năm lại có một lần thay đổi, biển xanh hoá thành ruộng dâu. Nghĩa bóng: Một cuộc biến đổi lớn lao.

Xem: Thương hải tang điền.

Lục Nương phất phướn truy hồn,

Tang thương nay lúc bảo tồn chúng sanh.

(Tán Tụng Công Đức).

Đau khổ rán gìn nhơn nghĩa vẹn,

Tang thương chờ hưởng huệ ân riêng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Đạo chồng vợ duyên Trời đã buộc,

Giữa trần hoàn gây cuộc tang thương.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TÁNG AN

葬 安

Táng: Chôn cất xác người chết. An: Yên ổn.

Táng an, bởi chữ “An táng 安 葬”, là chôn cất xong một cách yên ổn.

Như: Nhờ Hội Thánh và quý chức sắc, chức việc giúp đỡ, thi hài của cha mới được táng an nơi phần mộ.

Xem: An táng.

Thể xác táng an nơi phước địa,

Chơn hồn siêu thoát cõi Bồng lai.

(Thơ Mai Ngọc Nhiểu).

 

 

TÁNG ĐỞM

Hay “Táng đảm”.

Táng: Mất. Đởm (đảm): Mật.

Táng đởm, như chữ “Táng đảm 喪 膽”, là mất mật. Vì mật là một bộ phận chủ chốt giúp cho con người trở nên gan dạ. Nghĩa bóng: Hết sức sợ hãi, hoảng sợ.

Người ta thường dùng thành ngữ “Kinh tâm táng đởm 驚 心 喪 膽” để chỉ sự sợ hãi.

Nhiều gộp núi như đao chơm chởm,

Thấy dùn mình táng đởm rất ghê.

(Kinh Sám Hối).

Mơ một giấc eo ôi dậy xóm,

Cả Tha La táng đởm kinh hồn.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

TÁNG TẬN LƯƠNG TÂM

喪 盡 良 心

Táng tận: Mất hết. Lương tâm: Tâm lành, còn gọi là Thiên tánh, do Trời ban cho con người. Nhờ lương tâm, con người mới phân biệt lẽ phải trái, lẽ thiện ác.

Táng tận lương tâm là mất hết lương tâm, ý chỉ người hung ác như loài cầm thú, không có lương tâm của con người do Trời ban cho.

Hằng trau tánh thiện chờ siêu thoát,

Táng tận lương tâm khó phục hoàn.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

TÀNG

1.- Tàng, do chữ “Tường” đọc trại ra, có nghĩa là rõ.

Như: Hiểu được tàng tận, nói ra cho mọi người nghe để hiểu tàng sự việc.

Phong cảnh hỏi qua xin khá tỏ,

Căn do hiểu thấu nói cho tàng.

(Thiên Thai Kiến Diện).

2.- Tàng là giấu, chứa. Như: Tàng kinh, tàng hình, ẩn tàng, hành tàng.

Thánh giáo Thầy có dạy: Thầy đã lấy lòng từ bi và đức háo sanh mà dìu dắt các con của Thầy, chẳng dụng sự khinh trọng mà làm cho chinh lòng các con, chẳng lấy hành tàng bất chánh mà làm cho mất điều hoà nhã.

Khi dương thế không phân phải quấy,

Nay Hư linh đã thấy hành tàng.

(Kinh Thế Đạo).

Cõi thọ là đâu khó độ chừng,

Ẩn tàng lội lạc bậc kinh luân.

(Đạo Sử).

 

 

TÀNG ẨN

藏 隱

Tàng: Ẩn náu, chứa trữ. Ẩn: Giấu kín.

Tàng ẩn là ẩn náu một cách kín đáo, hay giấu kín bên trong khó trông thấy được.

Trong quyển Thiên Đạo, hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có viết: Đạo hoá sanh trời đất, lưu hành trong võ trụ, tàng ẩn trong muôn vật, cho nên vật nào cũng có phần linh diệu bên trong để điều hoà trưởng dưỡng cho nó.

Hại nữa là các con lại bị nó tàng ẩn, xô cho dang nhau, bứt nghiến tình đoàn thể, chặt lìa dây liên lạc, giành xé cắn rứt nhau...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TẠNG PHỦ

臟 腑

Tạng: Ngũ tạng, là năm cơ quan trong con người. Đó là Tâm, can, tỳ, phế, thận. Phủ: Lục phủ, tức là sáu cơ quan trong bụng của người. Đó là: Vị, đởm, tam tiêu, bàng quang, đại trường, tiểu trường.

Tạng phủ là ngũ tạng và lục phủ, chỉ chung các cơ quan trọng yếu của con người.

Trong Giáo Lý cúa Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có câu: Chí như chúng ta từ nhỏ đã quen dùng vật thực để nuôi sống. Nay, thoạt nhiên đổi món ăn cấp kỳ thì tạng phủ không quen mà sanh loạn. Lẽ như vậy, cho nên Tân luật buộc mỗi người phải tập ăn chay, mỗi tháng 6 ngày, hoặc 10 ngày. Mãi đến khi tạng phủ quen dần rồi sẽ tiến tới nữa.

Đến đỗi như thân của người có tạngphủ, tạng phủ ấy nếu chẳng hoà thì con người chẳng hề sống bao giờ.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TANH

1.- Tanh là có mùi và vị khó chịu, dễ gây lợm giọng, như mùi tôm, cá sống. Ví dụ: Hôi tanh, hôi cơm tanh cá.

Ca dao Ta có câu: Nhuỵ vàng bông trắng lá xanh, Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

Sô sa chi xác cũng hôi tanh,

Gớm mặt mà chê dạ chẳng đành.

(Đạo Sử).

2.- Tanh là chỉ quang cảnh vắng vẻ, lạnh lẽo, buồn bã không còn tí gì cả.

Như: Nhà cửa vắng tanh, đêm tối nhà cửa lạnh tanh, lòng buồn tanh.

Bao thuở đầu non chim vắng dạng,

Thị thiềng càng thấy bắt buồn tanh.

(Đạo Sử).

Còn ta luống những đoạn trường,

Gối chăn tê tái, chiếu giường lạnh tanh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TANH HÔI

Tanh: Có mùi và vị khó chịu, dễ gây lợm giọng, như mùi tôm cá sống. Hôi: Có mùi khó ngửi.

Tanh hôi, cũng như chữ “Hôi tanh”, là tanh và hôi, thường dùng để nói đến cái xấu xa, nhơ nhuốc, đáng ghê tởm. Ca dao Việt Nam có câu: Nhuỵ vàng bông trắng lá xanh, Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

Trong quyển Thiên Đạo, hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có câu: Người tu hành mà ăn thịt là thiếu đức từ bi đã đành, mà chư Thần Thánh cũng không thể thân cận đặng quyến niệm hộ trì, vì cái hơi tanh hôi xông lên xúc phạm.

Xem: Hôi tanh.

Tanh hôi mình mẩy vấy đầy,

Trồi lên hụp xuống gậy cây đánh đầu.

(Kinh Sám Hối).

Ao rộng sâu chứa đầy giòi tửa,

Hơi tanh hôi thường bữa lẫy lừng.

(Kinh Sám Hối).

 

 

TANH KHÉT

Tanh: Có mùi và vị khó chịu, dễ gây lợm giọng, như mùi tôm cá sống. Khét: Mùi bốc ra do vật bị cháy khô, khét.

Tanh khét là mùi tanh và mùi khét do thi hài bị đốt cháy bốc ra. Như: Lại gần lò thiêu nghe mùi tanh khét xông lên khó chịu.

Trong núi lửa bay hơi tanh khét,

Linh hồn người đầy nghẹt trong ngoài!

(Kinh Sám Hối).

 

 

TÁNH

1.- Tánh, như chữ “Tính 性”, là cái bản nhiên của Trời phú cho con người. Ví dụ: Tánh thiện, tánh ác.

Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy Ông Latapie, một người Pháp có câu: Nhưng đối với con, Thầy được hiểu lòng nhân đức, tánh từ thiện của con, nên Thầy cho con được thoả nguyện.

Xem: Tính.

Tánh tự thông minh hỏi của ai?

Ban cho nên mới rạng cân đai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Sửa tánh cũng như toan vá áo,

Gìn tâm như tối cửa then gài.

(Đạo Sử).

2.- Tánh, còn đọc “Tính 性”, là thói, nết. Như: Tánh hay ăn vặt, tánh hay lười biếng, tánh ham chơi.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Hỡi nầy dân tộc có diễm phước, Thầy sẽ làm thoả mãn tánh hiếu kỳ của con. Là loài người, các con có biết tự đâu các con đến chăng?

Nén hương đưa đủ nguyện lòng đưa,

Thầy khá khen cho tánh dối lừa.

(Đạo Sử).

Đừng ghét tánh già hay lòn lỏi,

Ấy nhớ cơn nghèo đói phải chiều người.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Tánh, như chữ “Tính 姓”, là họ, nối liền với tên. Như: Danh tánh, bách tánh, quốc tánh, mẫu tánh.

Như: Làm đơn nộp cơ quan công quyền phải ghi danh tánh rõ ràng, bá tánh xôn xao vì tiếng nổ lớn.

Xem: Tính.

Nắng hạ héo khô vườn bá tánh,

Dắt nhau tìm núp bóng Cao Ðài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

TÁNH CHẤT

Hay “Tính chất”.

Tánh (tính): Đặc điểm tâm lý riêng của mỗi người, biểu hiện trong hành vi, cử chỉ. Chất: Tính cơ bản của sự vật, làm cho sự vật nầy phân biệt với sự vật kia.

Tánh chất, như chữ “Tính chất 性 質”, là bản chất của mỗi người, mỗi vật.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Nếu quyền ấy không chỉnh đốn lại phong hoá của con người đem vào khuôn khổ thuần phong mỹ tục thì cả nhơn loại trên mặt địa cầu nầy sẽ chạy theo hưởng ứng với sự tự do mà đi đến địa vị con vật, là mất hết tánh chất làm người đó.

Thông minh tánh chất đặng ôn hoà,

Nhớ hiểu Phật Trời chẳng ở xa.

(Đạo Sử).

Ấy là nhờ tánh chất mẹ cha,

Gặp phải phép hiệp hoà sanh đặng vậy.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TÁNH DANH

Hay “Tính danh”.

Tánh (tính): Họ. Danh: Tên.

Tánh danh, như chữ “Tính danh 姓 名”, là họ và tên của một người. Như: Đừng làm nhơ nhuốc tánh danh.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Có một Ðấng Chơn linh Tam Thế Chí Tôn, nhơn loại đều biết tánh danh đó. Nhứt Thế Brahma Phật, tức nhiên là Tạo Hoá, Nhị Thế Civa Phật tức nhiên Tấn Hoá, Tam Thế Christna Phật tức nhiên Bảo Tồn, Ðấng trọn quyền bảo tồn ấy là lòng ái tuất thương sanh vậy.

Biết mặt tánh danh chưa nhớ chắc,

Tưởng mình quen thuộc cũng e khi.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Trai bảy thiếp cũng cho chẳng hại,

Gái lộn chồng đã hoại tánh danh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TÁNH HẠNH

Hay “Tính hạnh”.

Tánh (tính): Cái nguyên lý sở dĩ sinh ra người, bản chất, nết. Hạnh: Hạnh kiểm.

Tánh hạnh, như chữ “Tính hạnh 性 行”, là tánh nết và cách cư xử ở đời của mỗi con người.

Trong quyển Đạo Sử của bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Thầy có dạy Ngài Thái Thơ Thanh như sau: Con là một chơn linh cùng Quan Âm Bồ Tát; con đã hiểu rồi vậy từ đây phải biết mình trân trọng mà trau dồi tánh hạnh nghe.

Trên đầu có bủa giăng Thần, Thánh,

Xét xem người tánh hạnh dữ hiền.

(Kinh Sám Hối).

Tánh hạnh khá trau thuần hậu lại,

Nên danh có thuở đặng nên thời.

(Đạo Sử).

Đờn bà hay quen tánh nhúng trề,

Ở chiều dạ đừng chê tánh hạnh.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TÁNH HIỆP VÔ VI

Hay “Tính hiệp vô vi”.

Tánh (tính): Tánh thực của chúng sanh, tức là phần Thiêng liêng Trời ban cho con người, nên còn gọi là Thiên tánh, Phật tánh.

Phật và chúng sanh không khác gì nhau, cùng một tánh, tức là Phật tánh. Nhưng Phật là bậc đã giác ngộ bản thể sáng suốt, trong lặng, còn chúng sanh vì bị vọng tưởng, phiền não che lấp nên chưa thấy được bản thể đó.

Hiệp vô vi: Hiệp với hư không.

Tánh hiệp vô vi, như chữ “Tính hiệp vô vi 性 合 無 為”, là tánh hiệp với hư không.

Bản thể của Tánh vốn là không, khi tịnh, nó không là gì hết, nhưng khi động thì nó ứng hoá muôn vật. Thể Tánh hư tịch, vô vi ứng dụng ra cái biết khi đối tiếp với cơ duyên, tánh tức là biết, một cái biết tức thì, thuần tuý. Cho nên Đạt Ma Tổ Sư dạy: “Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật 教 外 別 傳, 不 立 文 字, 直 指 人 心, 見 性 成 佛. (Truyền ngoài giáo lý, chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật), và Phật cũng có dạy: “Minh tâm kiến tánh” tức là làm sáng tâm thấy tánh. Nhưng ta phải hiểu sáng là sáng cái “tâm không”, thấy là thấy cái tánh tịch.

Mạnh Tử cũng nói: “Tồn kỳ tâm, dưỡng kỳ tánh, sở dĩ sự Thiên dã 存 其 心, 養 其 性, 所 以 事 天 也”: Giữ gìn cái tâm, bồi dưỡng cái tính, tức là thờ Trời vậy.

Tánh hiệp vô vi,

thống tam tài chi bí chỉ.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

TÁNH LÀNH

Hay “Tính lành”.

Tánh (tính): Cái nguyên lý sở dĩ sinh ra người, bản chất, tánh hạnh. Lành: Hiền, tốt.

Tánh lành, như chữ “Thiện tính 善 性” là tánh hiền lành, tánh tốt.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Ðiều cần nhứt là phải trọn hiếu với Ðức Chí Tôn Ðại Từ Phụ, giữ trọn trung thành với Hội Thánh, ngoài ra gắng công học hỏi, noi gương Thánh trước Hiền xưa mà rèn luyện đức tốt tánh lành.

Xem: Tính thiện.

Suối lành đổ nước hoá sông thanh,

Ðức hạnh muốn trau vẹn tánh lành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chuyển xây thế sự đang ly loạn,

Xoay trở thời gian với tánh lành.

(Thơ Hộ Pháp).

Đau lòng nhìn thấy khổ nhơn sanh,

Toà Thánh về trau vẹn tánh lành.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

TÁNH LINH

Hay “Tính linh”.

Tánh (tính): Cái nguyên lý sở dĩ sinh ra người, bản chất, tánh hạnh. Linh: Thiêng liêng.

Tánh linh, như chữ “Tính linh 性 靈”, là các bản tánh thiêng liêng của con người sẵn có.

Con người là một yếu tố trong Tam tài: Thiên, địa, nhơn (Trời, đất, người). Sở dĩ con người đạt được địa vị ấy là vì con người được Trời đất sinh ra và ban cho một đức tính rất cao quý, rất thiêng liêng, hay nói khác đi người chịu cái đức của Trời đất. Ngoài ra, con người còn được hấp thụ hoàn toàn cái tinh thần linh diệu và cái khí chất tinh tuý của Trời đất, nên con người linh hơn, sáng suốt hơn vạn vật. Chính nhờ cái sáng suốt này mà con người phân biệt được điều hay dở, lẽ phải trái. Cái sáng suốt ấy có sẵn trong mỗi người được gọi là trực giác, hay lương tri, hay minh đức.

Theo triết lý Cao Đài, con người có tam hồn: Sanh hồn, Giác hồn và Linh hồn. Con người nhờ Sanh hồn mới có được sự sống, Giác hồn mới có cảm giác, biết đau đớn khổ sở và Linh hồn mới khôn ngoan, biết đạo lý, suy xét đủ điều, cho nên con người tánh linh hơn loài vật.

Dạy về Bất tà dâm, Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Những sanh vật ấy cấu kết nhau mà thành khối vật chất có tánh linh, vì vật chất nuôi nấng nó cũng đều là sanh vật, tỷ như: rau cỏ, cây trái, lúa gạo, mọi lương vật đều cũng có chất sanh.

Loài người phúc có tánh linh,

Ấm no sao chẳng đoái tình đồng hương.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

TÁNH LINH HƠN VẬT

Con người là một sinh vật trong vũ trụ, cũng như sinh vật khác, nó có sự sinh ra, có sự trưởng thành và có sự hủy diệt. Nhưng con người có ý thức, có trực giác, biết suy tư và nhứt là biết đường nhơn nghĩa, đạo lý. Như vậy, con người là một sinh vật cao hơn với những sinh vật khác về phần hiểu biết.

Vì vậy, Tuân Tử có nói: Thủy hoả hữu khí nhi vô sinh, thảo mộc hữu sinh nhi vô tri, cầm thú hữu tri nhi vô nghĩa, duy nhơn giả hữu khí, hữu sinh, hữu tri diệc hữu nghĩa, cố vi thiên hạ quý 水 火 有 氣 而 無 生, 草 木 有 生 而 無 知, 禽 獸 有 知 而 無 義, 惟 人 者 有 氣, 有 生, 有 知 亦 有 義, 故 為 天 下 貴 nghĩa là nước lửa có khí mà không sinh, cây cỏ có sinh mà không hiểu biết, cầm thú có hiểu biết mà vô nghĩa, duy chỉ có con người có khí, có sinh, có hiểu biết và cũng có nghĩa, cho nên người là quý nhứt trong thiên hạ.

Sự cao quý của con người là nhờ cái linh năng sáng suốt, linh năng nầy Phật giáo gọi là Phật tánh, Nho giáo gọi là Thiên tánh và Lão giáo gọi là Linh quang. Cái Linh năng nầy, theo triết lý Cao Đài, là một Tiểu Linh quang tách ra từ khối Đại Linh quang của Đấng Tạo Hoá hay Đức Chí Tôn.

Con người là một Tiểu Thiên địa hay Tiểu Vũ trụ, nên thân người cũng gồm đủ âm dương, tam bửu, ngũ hành. Sở dĩ con người là một Vũ trụ nhỏ, là vì thân người cũng gồm đủ Thái cực, Âm dương, Tam bửu, Ngũ hành và các lẽ mầu nhiệm của Trời Đất, vì vậy mà sách Lễ Ký nói rằng: Nhơn giả kỳ vi Thiên địa chi đức, Âm dương chi giao, Quỷ thần chi hội, Ngũ hành chi tú khí dã 人 者 其 為 天 地 之 德, 陰 陽 之 交, 鬼 神 之 會, 五 行 之 秀 氣 也, nghĩa là người ta là đức Trời Đất, chỗ giao cảm khí Âm dương, chỗ hội tụ Quỷ thần, và những tú khí Ngũ hành.

Trời đất (Càn khôn) do Âm Dương sinh hoá thì con người cũng do Âm Dương phối hợp mà thành.

Hễ Trời có tam bửu là Nhựt Nguyệt Tinh, đất có tam bửu là Thủy hoả Phong, thì con người cũng có tam bửu là Tinh Khí Thần.

Hễ Trời có Ngũ hành là Kim, Mộc, Thủy, hoả, Thổ, Đất có Ngũ phương là Đông, Tây, Nam, Bắc, Trung ương, thì người cũng có Ngũ tạng là Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận. Nếu không có ngũ hành và ngũ phương thì không có Càn khôn Thế giới, còn nếu không có ngũ tạng thì cũng không có con người.

Tóm lại, con người cũng giống như trời đất, cho nên mới được gọi là một “Tiểu Thiên Địa”.

Con người còn là một yếu tố trong Tam tài là thiên, địa, nhơn (Trời, đất, người). Sở dĩ con người đạt được địa vị ấy là vì con người được Trời đất sinh ra và ban cho một đức tính rất cao quí, rất thiêng liêng, hay nói khác đi người chịu cái đức của Trời đất. Ngoài ra, con người còn được hấp thụ hoàn toàn cái tinh thần linh diệu và cái khí chất tinh túy của Trời đất, nên con người linh hơn, sáng suốt hơn vạn vật. Chính nhờ cái sáng suốt này mà con người phân biệt được điều hay dở, lẽ phải trái. Cái sáng suốt ấy có sẵn trong mỗi người được gọi là trực giác, lương tri, hay lương tâm.

Nói theo triết lý đạo Cao Đài, con người có tánh linh hơn vật, có trí khôn ngoan, biết điều nhơn nghĩa là vì:

Thứ nhứt là bởi vì con người phải qua muôn nghìn kiếp tiến hoá, từ vật chất, thảo mộc, thú cầm, rồi mới chuyển hoá đến nhơn loại.

Đức Chí Tôn giảng về sự tiến hoá của muôn vật như sau: “Cả kiếp luân hồi thay đổi từ trong nơi vật chất mà ra thảo mộc, từ thảo mộc đến thú cầm, loài người phải chịu chuyển kiếp ngàn năm, muôn năm lần mới đến địa vị nhơn phẩm”.

Thứ nhì là vì con người có ba phần hồn: Sanh hồn, giác hồn, linh hồn, mà loài vật chất thấp nhứt là kim thạch, loài vô tri vô giác, không phân biệt được đầu và ngọn; kim thạch tiến lên thảo mộc thì có một hồn là sanh hồn, có sự sống, nhưng còn thấp, gốc quay xuống đất, ngọn hướng lên trời; thảo mộc tiến lên thú cầm thì được hai hồn là sanh hồn, giác hồn, tức có sự sống và biết cảm giác, đầu và đuôi ngang nhau; thú cầm tiến lên con người thì có ba hồn: Sanh hồn, giác hồn, linh hồn, tức có sự sống, có cảm giác, có tánh linh, đầu hướng lên trời, chân quay xuống đất.

Con người nhờ Sanh hồn mới có được sự sống, Giác hồn mới có cảm giác, biết sung sướng, đau đớn khổ sở và Linh hồn mới khôn ngoan, biết đạo lý, suy xét đủ điều, tức là nhờ Lương tâm cho nên con người có tánh linh hơn muôn vật.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn dạy như sau: Tâm là một nguồn sáng Thiêng Liêng, một điểm linh quang của Ðức Chí Tôn ban bố cho con người để khuyên lơn dìu dắt và soi sáng bước đường đời cũng như bước đường Ðạo của mỗi cá nhân trong kiếp sanh, hầu lúc rời bỏ xác phàm, mỗi nguyên nhân hay hoá nhơn được hoặc quy hồi cựu vị, hoặc thăng đẳng cấp, hoặc bị trừng trị theo Luật Thiên Ðiều.

Dầu cho Thần Thánh Tiên Phật khi xuống thế mang xác phàm thì buổi chung quy được hay phạt, thăng hay đọa đều do nơi Tâm cả, và nếu người được Tánh linh hơn muôn vật là nhờ có Lương tâm vậy.

Con người có trí khôn ngoan,

Tánh linh hơn vật biết đàng lễ nghi.

(Kinh Sám Hối).

 

 

TÁNH MẠNG

Hay “Tính mệnh”.

Mạng (mệnh): Số mệnh.

1.- Tánh mạng, như chữ “Tính mệnh 性 命”, tức là mạng sống của con người.

Như: Hy sinh tánh mạng, nguy hiểm đến tánh mạng.

Thánh giáo Thầy có dạy: Nếu thế gian dữ thì thế nào đặng bảo toàn, còn mong mỏi gì đặng bền vững. Cá nhân dữ thì thế nào bảo toàn tánh mạng.

Hay lo những chuyện gọi bao đồng,

Một tánh mạng mình tính chẳng xong.

(Đạo Sử).

2.- Nho có câu: Tánh tự tâm sanh 性 自 心 生 nghĩa là Tánh do cái Tâm sinh ra.

Tánh biểu thị của tâm: Tâm bên trong, biểu thị ra ngoài là Tánh. Tâm là chơn linh thì tánh là chơn thần.

Mạng con người gắn liền cái thân, cái thân chết, nhưng cái Tánh không mất (vì tánh là chơn thần), chơn thần cùng chơn linh sẽ xuất ra khỏi cái thân về cõi vô vi.

Thân con người có tinh và khí, nên Mạng ấy cũng là tinh khí. Người xưa chưa biết về chơn thần con người nên gọi cái chơn thần ấy là Tánh. Như vậy Tánh và Mạng con người chính là Tinh, Khí, Thần, tức là Tam bửu vậy.

Cho nên nói Tánh Mạng song tu là nói về phép luyện Đạo mà trong Cao Đài gọi là luyện tinh khí thần hiệp nhứt, tạo chơn thần huyền diệu để được đắc đạo.

Thuận Thiên thì tánh mạng còn,

Nghịch Thiên hồn xác tiêu mòn chẳng chơi!

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

TÁNH MỆNH SONG TU

Tánh mệnh (tính mệnh): Cái tánh và cái mạng sống của con người. Song tu: Hai lối tu thực hành song song với nhau.

Tánh mệnh song tu, như chữ “Tính mệnh song tu 性 命 雙 修”, tức là vừa tu tánh vừa luyện mạng, hai lối tu cùng thực hiện song hành với nhau.

Tánh mệnh song tu là một pháp môn luyện đạo của Đạo Giáo, còn được gọi là tu tánh luyện mạng, tức là luyện tam bửu Tinh, Khí, Thần cho hiệp nhứt.

Thần thuộc về Tiên thiên, gọi là Tánh, còn xác thân là Tinh, Khí đều thuộc về Hậu thiên nên gọi là mạng.

Tánh mệnh Trời ban vốn ở ta,

Song tu đạo đức lý tương hoà.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

TÁNH PHÀM

Hay “Tính phàm”.

Tánh (tính): Cái nguyên lý sở dĩ sinh ra người, bản chất, tánh hạnh. Phàm: Tầm thường thấp kém.

Tánh phàm, như chữ “Phàm tánh 凡 性”, là cái tánh tầm thường, thấp kém của kẻ phàm phu, tục tử.

Tánh này thường xu hướng theo vật dục, nên có tính hẹp hòi ích kỷ, đầu mối của vô minh.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Thầy có dạy: Thầy đã giao cho mỗi đứa một quyền hành, thì Thầy cũng tưởng rằng các con biết trọng phẩm giá thiêng liêng mà bớt tánh phàm chút ít, nào dè nhiều đứa lại coi thế trọng hơn Thầy, coi Thầy dường như kẻ vô hình vô ảnh.

Trường phổ tế khó khăn lắm nỗi,

Cậy Thánh tâm sửa đổi tánh phàm.

(Kinh Thế Đạo).

Nghiêng vai gánh vác đạo nhà Nam,

Gắng khổ chiều tâm độ tánh phàm.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

TÁNH TÌNH

Hay “Tính tình”.

Tánh (tính): Bản nhiên của con người khi sinh ra và sẽ tuỳ theo hoàn cảnh mà thay đổi. Tình: Tính tự nhiên của mỗi người do sự cảm xúc mà phát lộ.

Tánh tình, như chữ “Tính tình 性 情”, là tính chất, và tình cảm riêng của mỗi người đã có sẵn.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Phần nhiều đạo hữu vì tánh tình tục phàm mà làm cho gay trở bước Ðạo, lại e chẳng khỏi sanh ra một trường náo nhiệt trong Ðạo về buổi sau nầy.

Nâng đời khá gắng trau nhơn đức,

Học Ðạo tua năng luyện tánh tình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trời Ðất trăm ngôi đà chín chín,

Tánh tình dường ấy vốn là Tiên.

(Đạo Sử).

 

 

TÁNH TỤC

Hay “Tính tục”.

Tánh (tính): Cái nguyên lý sở dĩ sinh ra người, bản chất, tánh hạnh. Tục: Thấp kém.

Tánh tục, như chữ “Tính tục 性 俗”, là cái tánh thấp kém của kẻ phàm phu tục tử.

Thánh giáo Thầy có dạy Đức Quyền Giáo Tông như sau: Trung con ôi! Thầy đã chẳng có xác phàm mà dìu dắt các con, chỉ nhờ ngọn cơ bút hèn hạ nầy mà dạy dỗ các con, hầu làm cho tâm phàm tánh tục các con giảm bớt đặng chen nhét vào đó mảy mún Thánh đức của Thầy trông cậy cho nên phẩm hạnh, dạy lại cả chúng sanh mà các con xét mình thử coi, Thầy đã đặng thoả nguyện cùng chăng?

Cái hạnh tốt là thang vạch ngút mây xanh, tâm thành là để dồi trau tánh tục.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TÁNH THÀNH

性 誠

Hay “Tính thành”.

Tánh (tính): Cái nguyên lý sở dĩ sinh ra người, bản chất, tánh hạnh. Thành: Thành thực.

Tánh thành, như chữ chữ “Tính thành 性 誠”, là tính tình thành thật, ngay thẳng.

Tuân Tử cũng cho rằng đức tánh thành thật cảm hoá được con người và vạn vật, là một cái Đạo của Trời đất, của Thánh nhân.

Ông nói: Thiên địa vi đại hỹ, bất thành tắc bất năng hoá vạn vật; Thánh nhân vi tri hỹ, bất thành tắc bất năng hoá vạn dân; phụ tử vi thân hỹ, bất thành tắc sơ; quân thượng vi tôn hỹ, bất thành tắc ti. Phù thành giả, quân tử chi sở thủ dã 天 地 為 大 矣, 不 誠 則 不 能 化 萬 物, 聖 人 為 知 矣, 不 誠 則 不 能 化 萬 民, 父 子 為 親 矣, 不 誠 則 疏, 君 上 為 尊 矣, 不 誠 則 卑. 夫 誠 者, 君 子 之 所 守 也, nghĩa là trời đất lớn thật, nhưng nếu không thành thực thì không cảm hoá được vạn vật; Thánh nhân sáng suốt thật, nhưng nếu không thành thực thì không cảm hoá được vạn dân; tình cha con thân thật, nhưng nếu không thành thực thì hoá sơ; bậc vua và bề trên đáng tôn kính thật, nhưng nếu không thành thực thì hoá thấp.

Thành là cái người quân tử phải giữ.

Ngày ngày tập sửa tánh thành,

Đêm đêm tự tỉnh tu hành ăn năn.

(Kinh Sám Hối Ngắn).

 

 

TÁNH THẦN

Hay “Tính thần”.

Tánh (tính): Cái nguyên lý sở dĩ sinh ra người, bản chất, tánh hạnh. Thần: Thiêng liêng.

Tánh thần, như chữ “Tính thần 性 神”, là cái tánh thiêng liêng, gọi Thiên tánh hay Linh tánh, do Trời ban cho con người.

Trau gương hạnh đức pha lòng tục,

Dồi trí thanh cao giữ tánh Thần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ân điển đày hưởng tròn câu phúc,

Trí huệ vui trau vẹn tánh Thần.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

TÁNH THIỆN

性 善

Hay “Tánh thiện”.

Tánh (tính): Cái nguyên lý sở dĩ sinh ra người, bản chất, tánh hạnh. Thiện: Lành.

Tánh thiện, như chữ “Tính thiện”, là bản tánh lành của con người.

Theo Nho giáo, Mạnh Tử có nói “Nhân chi sơ tính bản thiện 人 之 初, 性 本 善”, nghĩa là con người mới sinh ra tánh vốn lành.

Theo triết lý Cao Đài, con người sinh ra đước Chí Tôn ban cho một Thiên tánh.

Như vậy, tính thiện có sẵn trong mỗi con người, nhưng vì tham dục, vô minh khiến con người mê mờ mà sinh ra hung dữ.

Tâm thành Phật độ đầy linh ứng,

Tánh thiện Trời ban đủ diệu huyền.

(Thơ Thông Quang).

 

 

TÁNH THIỆN LƯƠNG

Tánh (tính): Cái nguyên lý sở dĩ sinh ra người, bản chất, tánh hạnh. Thiện lương 善 良: Hiền lương, hiền lành.

Tánh thiện lương, đồng nghĩa với chữ “Tính thiện 性 善”, là cái bản tánh hiền lương của con người.

Xem: Tánh thiện.

Sửa sang cho vẹn đạo cang thường,

Phải giữ cho toàn tánh thiện lương.

(Đạo Sử).

 

 

TAO

1.- Tao là tiếng tự xưng mình đối với người dưới hoặc với người có ý không trọng. Như: Tao bảo mầy.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Chí Tôn đến đặng kêu gào lòng yêu ái của toàn nhơn loại biết nhìn nhau là anh em, biết thương yêu nhau, binh vực nuôi nấng và tôn trọng nhau, đem hoà ái gieo truyền vào tâm lý loài người mà nói rằng: “Tao là Cha bây, đến đây làm cho bây biết tao, đặng bây biết bây, bao giờ anh em bây biết thương yêu nhau, tức là ông Cha bây giải khổ cho bây về phần hồn và phần xác đó vậy”.

Lập thân phải chịu cố lỳ,

Ðể cho mầy kéo tao trì mới nhanh.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

2.- Tao có nghĩa là vòng, lần, lượt. Như: Chu tao (khắp vòng), kỷ tao (mấy lượt, mấy lần), buộc mấy tao lạt, cân mấy tao hàng.

Tao còn là sợi dây, tức sợi dây thắt thành quang, võng hay buộc nối, thường bện bằng dây đay hay dây mây. Như: Tao võng, quang có bốn tao.

Mặc áo tràng trắng, đầu đội Nhứt Nguyệt Mạo, lưng buộc đường lụa trắng đánh ba tao, dưới có hai trắng, chơn mang giày trắng.

(Hiến Pháp Hiệp Thiên Đài).

3.- Tao là gặp, tình cờ mà gặp, không dùng một mình. Như: Tao phùng, tao nạn, tao ngộ.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Vì cớ cho nên Kinh Phật có nói: “Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ” chúng ta mới ngộ Đạo mà gặp Đức Chí Tôn đem hồng ân Thiêng Liêng của Ngài đại ân xá cho toàn con cái của Ngài.

Một năm một hội tao phùng,

Càng nhiều xa cách, càng nồng tấm yêu.

(Thơ Thuần Đức).

4.- Tao , thường đọc “Tào”, là hèm, bã rượu, không đứng một mình.

Như: Tao khương (thường đọc tào khang).

Truyện Kiều của Nguyễn Du có câu: Tin nhà ngày một vắng tin, Mặn tình cát lũy lạt tình tào khang.

Thà cháo rau trọn đạo tàokhương,

Hơn sang cả người thương đành phụ rãy.

(Phương Tu Đại Đạo).

5.- Tao là lo buồn, không dùng một mình. Như: Tiêu tao.

Tao, nghĩa rộng nói về thi thơ có giọng ưu sầu như bài ly tao (Khuất Nguyên) đời Đông Châu, để chỉ người có tài văn chương, phong lưu, thanh lịch.

Như: Tao nhã, tao nhân, tao khách, thanh tao.

Gỡ xong thế cuộc rối nùi,

Trăng thanh gió mát là mùi thanh tao.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

TAO ĐÀN

騷 壇

Tao: Thi ca có giọng ưu sầu do Khuất Nguyên nước Sở, nhân khi buồn viết nên khúc Ly Tao. Đàn: Nơi xây cất bằng gỗ hay đất, dùng để tế lễ, hội họp hay diễn giảng.

Tao đàn là chỉ nơi hội họp của các thi nhân, hoặc chỉ nhóm nhà thơ, nhà văn.

Như: Các nhà thơ tham dự hội tao đàn.

Trong, bực bao nhiêu ngày thảm cảnh,

Ngoài, mười sáu hội tao đàn.

(Thơ Thuần Đức).

Rạng rỡ màu trời cảnh lạc hoan,

Đêm thu mừng hợp bạn Tao đàn.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

TAO LOẠN

騷 亂

Tao: Quấy rối, rối loạn. Loạn: Lộn xộn, không có trật tự, nề nếp bình thường.

Tao loạn, như chữ “Loạn lạc” là rối loạn, tức tình trạng xã hội không còn có trật tự, an ninh, do có nổi loạn.

Như: Gặp thời tao loạn.

Tuồng đời ai chớp phim tao loạn,

Cửa Đạo người mong cảnh trị bình.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

TAO NGỘ

遭 遇

Tao: Gặp gỡ, gặp lại thình lình. Ngộ: Gặp.

Tao ngộ gặp gỡ thình lình.

Người xưa có quan niệm rằng gặp gỡ nhau cũng có duyên phần: Hữu duyên thiên lý năng tao ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng 有 緣 千 里 能 騷 遇, 無 緣 對 面 不 相 逢, nghĩa là có duyên ngàn dặm cũng hội ngộ, không duyên đối mặt cũng chẳng gặp nhau.

Như: Mười năm rồi đôi bạn mới được tao ngộ.

Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp,

Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ.

(Di Lạc Chơn Kinh).

 

 

TAO NHÃ

騷 雅

Tao: Do chữ Ly Tao của Khuất Nguyên, dùng để chỉ thi ca. Nhã: Thanh cao.

Tao nhã chỉ người có tất cả mọi hành động, cử chỉ tỏ ra tế nhị, lịch sự. Như: Phong độ tao nhã.

Huấn từ của Đức Thượng Sanh Nhân lễ khánh thành Học Ðường Bộ Nhạc Trung Ương: Thưởng thức một bài đờn hay như nghe một bài thi sắc sảo, một câu đờn tao nhã có điêu luyện như một câu thi tuyệt bút có mãnh lực gợi cảm làm cho xúc động tâm hồn.

Đàm luận ôn hoà đầy khí phách,

Ngôn từ tao nhã, đủ tinh thần.

(Thơ Thông Quang).

 

 

TAO NHÂN

騷 人

Tao: Có nghĩa thi ca. Nhân: Người.

Tao nhân là người văn hay, phong cách tao nhã.

Thành ngữ Việt Hán có câu: Tao nhân mặc khách 騷 人 墨 客, dùng để chỉ chung những người sành về sáng tác hoặc thưởng thức văn chương.

Rượu sớm, mượn mùi khuây thế sự,

Thi chiều, lựa vận ngóng tao nhân.

(Thơ Thuần Đức).

Mặc khách dùng khoan mà đãi khách,

Tao nhân lấy lễ để hoà nhân.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

TAO PHÙNG

遭 逢

Tao: Gặp gỡ. Phùng: Gặp nhau.

Hai người xa cách nhau lâu, tình cờ gặp gỡ nhau gọi là tao phùng.

Cổ ngữ có câu: Minh quân lương tể tao phùng dị, tài tử giai nhân tế ngộ nan 明 君 良 宰 遭 逢 易, 才 子 佳 人 際 遇 難, nghĩa là vua sáng tôi hiền gặp nhau dễ, tài tử giai nhân khó hội ngộ.

Tao phùng vận hội gắng tầm phương,

Thành bại xưa nay ấy lẽ thường.

(Thơ Tiếp Đạo).

Nhắc nhở đường tu em cố gắng,

Hư linh chờ dự hội tao phùng.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

TÁO

Táo là bếp. Như: Ông Táo, Táo quân.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Luôn dịp Bần Ðạo giải nghĩa tại sao phong tục nhà Nam gọi theo Ðạo Phật là đưa Ông Táo về Trời, chớ thật sự là đưa chư Thần, Thánh, Tiên, Phật về triều thiên, tinh thần từ trước vẫn vậy.

Chị vắng mặt vô rờ ông Táo,

Bốc tay dơ trã cháo trách canh.

(Phương Tu Đại Đạo).

Cậy nấu cơm đổ nước đầy vung,

Sôi tắt lửa gây cùng ông Táo.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TÁO QUÂN

灶 君

Táo: Bếp nấu ăn. Quân: Vua.

Táo Quân tức là vua bếp, vua Táo.

Theo phong tục dân gian, hằng năm cứ ngày 23 tháng chạp Âm lịch mọi nhà có lệ cúng đưa Ông Táo về Trời để tấu trình với Thượng Đế tình hình một năm qua ở cõi thế gian. Táo Quân tức là vua bếp, vua Táo. Theo sách xưa có nhiều thuyết nói về Táo Quân:

Sách Châu Lễ cho Táo Quân là Thần Chúc Dung, thường tế vào mùa hạ.

Sách Hoài Nam Tử thì cho rằng vua Hoàng Đế đặt ra việc nấu nướng, nên khi chết hoá thành Táo Quân.

Nhưng ở Việt Nam, truyền thuyết trong dân gian nói rằng thần Táo quân có ba người: Hai ông một bà, nên ca dao mới có câu:

Thế gian một vợ một chồng,

Nào như vua bếp hai ông một bà.

Tích viết rằng: Ngày xưa có hai vợ chồng nọ, chồng tên là Trọng Cao, vợ là Thị Nhi bị thất lạc nhau khá lâu, mỗi người ở một nơi.

Sau nàng Thị Nhi mới có một ông chồng khác tên là Phạm Lang, hai vợ chồng thương yêu nhau, sống rất hạnh phúc.

Một hôm, có người hành khất đến nhà vợ chồng Thị Nhi xin ăn, nàng mới nhận ra người ăn xin là chồng cũ của mình, liền đem cơm ra cho ăn. Sợ chồng sau biết được, Thị Nhi bèn cho chồng cũ tạm ẩn vào một cây rơm ngoài vườn.

Không ngờ người chồng sau về, vô tình làm cháy cây rơm, thiêu chết Trọng Cao. Nàng Thị Nhi nghĩ đến tình nghĩa xưa, đau đớn mà nhảy vào đống lửa để chết theo chồng cũ. Và người chồng sau thấy cảnh thương tâm, cũng nhảy vào lửa để chết theo. Thế là ba người đều bị chết cháy nơi đống rơm.

Ngọc Hoàng Thượng Đế thấy ba người đều có nghĩa, nên sắc phong cho linh hồn ba người làm Thần Táo quân, có nhiệm vụ cai quản bếp núc và cứ hằng năm vào ngày 23 tháng chạp về chầu Thượng Đế.

Riêng trong tôn giáo Cao Đài, ngày mà dân gian đưa Ông Táo về Trời, đó chính là ngày toàn Đạo thiết lễ Đưa Chư Thánh triều Thiên, tức là đưa chư Thần, Thánh, Tiên, Phật có nhiệm vụ điều độ nhơn sanh nơi thế gian, sau một năm trở về Ngọc Hư Cung để trình tấu với Đức Chí Tôn tất cả mọi việc.

Trong quyển Thuyết Đạo, Đức Hộ Pháp có giải thích việc nầy như sau: “Luôn dịp Bần Ðạo giải nghĩa tại sao phong tục nhà Nam gọi theo Ðạo Phật là đưa Ông Táo về Trời, chớ thật sự là đưa chư Thần, Thánh, Tiên, Phật về triều thiên, tinh thần từ trước vẫn vậy.

Chơn truyền buổi Ðức Chí Tôn tạo Càn Khôn Thế Giái, Ngài nắm Thập Thiên Can, Thập Nhị Ðịa Chi trong tay, để định Pháp Chánh Càn khôn Vũ trụ. Trong thời buổi định Pháp Chánh ấn định vào khoảng từ ngày 23 đến 30 sáng mồng 1, họp tại Ngọc Hư Cung đặng định luật giới hạn vi diệu cho trái địa cầu, chạy theo khuôn khổ hữu định trong năm cho chí Tân niên là 12 giờ đêm 30, khởi điểm 1 giờ sáng ngày 1 tháng Giêng năm sau.

Luật Thiên Ðiều trị thế, trị nơi địa cầu nầy là hình luật thiêng liêng là ngày giờ nầy nơi Ngọc Hư Cung kiểm soát định tội phước đó vậy”.

Trót năm sanh chúng gội ơn nhuần,

Ba lạy tiễn hành kỉnh Táo Quân.

(Thơ Cao Mỹ Ngọc).

Chúc nhau muôn việc đều như ý,

Lọ phải dài dòng sớ Táo Quân.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

TÀO

1.- Tào là các bộ phận làm việc quan. Như: Tào binh, tào hình, Thiên tào, Nam tào Bắc Đẩu.

Thánh giáo Thầy có dạy: Nếu cả thế gian nầy biết tu thì thế gian có lẽ cải lý Thiên đình mà làm cho tiêu tai tiêu nạn đặng, huống lựa mỗi cá nhân biết tu thì Thiên đình cầm bộ Nam tào cũng chẳng ích chi.

Xem: Nam tào.

Ba mươi sáu cõi Thiên tào,

Nhập trong Bát Quái mới vào Ngọc Hư.

(Kinh Tận Độ).

Rủi Thiên số Nam tào đã định,

Giải căn sinh xa lánh trần ai.

(Kinh Thế Đạo).

2.- Tào, còn đọc “Tao 糟”, là hèm, bã rượu, không đứng một mình.

Như: Tào khương chi thê bất khả hạ đường (thường đọc tào khang).

Xem: Tao.

Tống Hoằng vẫn đạo tào khang giữ,

Quyết từ duyên phụng sự vợ mù.

(Báo Ân Từ).

 

 

TÀO KHANG

Hay “Tao khương”.

Tào (tao): Hèm rượu. Khang (khương): Cám.

Tào khang, đọc cho đúng “Tao khương 糟 糠”, là tấm cám hoặc hèm rượu và cám, thức ăn của những người nghèo khổ.

Vợ tấm cám (Tao khương chi thê 糟 糠 之 妻) là vợ lấy nhau từ lúc còn nghèo khổ, từng chịu ăn tấm cám với nhau, tức đồng cam cộng khổ.

Lời của Tống Hoằng trả lời với vua nhà Hán: Tao khương chi thê bất khả hạ đường 糟 糠 之 妻 不 可 下 堂, nghĩa là vợ chồng hồi lúc tấm mẳn đã sống chung, chẳng khá bỏ nhau.

Xem: Tào khương.

Nhặt khoan tiếng ngọc thoảng bên tai,

mới biết tào khang nghĩa cũ.

(Tuý Sơn Vân Mộng).

Chung thuỷ sắt son gìn trọn đạo,

Trăm năm bền chặt chữ tào khang.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

TÀO KHƯƠNG

糟 糠

Tào (tao): Hèm rượu. Khương: Cám gạo.

Tào khương, còn đọc “Tao khương 糟 糠”, là tấm cám hoặc hèm rượu và cám, dùng để chỉ thức ăn hèn mọn của những người nghèo khổ.

Tào khương chỉ người vợ lấy từ buổi đầu nghèo túng, tình nghĩa chồng đối với vợ.

Đạo vợ chồng là đạo tào khương,

Mình đi nỡ cậy nương ai lập sẵn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TÀO QUỐC CỰU

曹 國 舅

Tào: Họ Tào. Quốc cựu (cữu): Em vợ vua, nên được tôn xưng cậu của bá tánh (Quốc cữu).

Vốn là em ruột của Tào Thái Hậu đời nhà Tống, tên thật là Tào Hữu, nên người đời thường gọi là Tào Quốc Cựu. Tào Hữu thường hay làm phước, ngày kia, bán hết tài sản, đem tất cả tiền thâu được bố thí cho dân nghèo, rồi bỏ vào núi tu hành.

Sau gặp được Hớn Chung Ly và Lữ Đồng Tân truyền đạo nên thành Tiên ở núi Bồng Lai, là một trong Bát Tiên. Người đời thường gọi Tào Hữu là Tào Quốc Cựu.

Tào Quốc Cựu thường cỡi một con thú, tên là Mai Hoa Lộc.

Hớn Chung Ly, Thể Hoà, Tương Tử,

Tào Quốc Cựu, với Lữ Đồng Tân.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

TÀO THÁO

曹 操

Tào Tháo, tự Mạnh Đức, tiểu tự là A Man, vốn họ Hạ Hầu, vì làm con nuôi Tào Đằng, nên đổi thành họ Tào. Tháo là người giỏi quyền biến, nhiều cơ mưu, nhưng có tánh đa nghi, nổi tiếng là gian hùng.

Khi Đổng Trác âm mưu làm loạn triều đình, Tháo bán hết gia tài, mộ binh đánh Trác. Sau Tháo về Lạc Dương, Hiến Đế ban cho Tháo coi toà Thượng Thư. Bấy giờ Lạc Dương bị bắn phá, Tháo bức Hiến Đế dời Kinh về Hứa Đô. Tháo khuynh loát triều đình nhà Hán từ đó. Khi đánh thắng Viên Thiệu, Viên Thuật, Tháo được phong làm đại tướng quân, rồi dần giữ chức Thừa tướng.

Tào Tháo cùng với Lưu Bị và Tôn Quyền chia ba thiên hạ, nên sử gọi là thời Tam Quốc.

Trong bài Thuyết Đạo về Quan Thánh Đế Quân, Đức Thượng Sanh có nói về Tào Tháo như sau: Khi tạm nghỉ nơi quán dịch, Tào Tháo cố ý làm cho loạn lễ quân thần, để cho Ðức Ngài ở chung với nhị tẩu. Ðêm ấy Ðức Ngài cầm đuốc đứng ngoài cửa từ đầu hôm cho tới sáng, làm cho Tào Tháo càng thêm kính phục hơn nữa.

Khi Ðức Ngài (Quan Thánh) thất thủ thành Hạ Bì vì binh cô tướng quả, bị Tào Tháo vây tại hòn Thổ Sơn thì có tướng Tào là Trương Liêu đến dụ hàng.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

TẢO

1.- Tảo là sớm, buổi sớm, không dùng một mình.

Như: Tảo khai, chế độ tảo hôn vẫn còn, tảo đắc siêu sanh tịnh độ.

Hảo Nam bang! Hảo Nam bang!

Tiểu quốc tảo khai Hội Niết Bàn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Tảo là một loại rau mọc ở dưới nước. Như: Rau tảo rau tần, tảo tần nuôi con ăn học.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Qua cũng hiểu cái khổ não của mấy em lo tảo lo tần mà nuôi con cái của mấy em, có ngày Hội Thánh cũng biết.

Xem: Tảo tần.

Có thân thiệt khổ cho thân,

Sớm khuya buôn tảo bán tần đủ đâu.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

TẢO ĐẮC

早 得

Tảo: Sớm. Đắc: Được.

Tảo đắc là sớm được.

Trong Sớ Văn có câu: “Nguyện cầu các đẳng vong hồn tảo đắc siêu thăng Tịnh độ” hoặc “Xây cuộc thế giới chiến tranh tảo đắc hoà bình”.

Tảo đắc siêu thăng là vong hồn sớm được siêu thăng nơi cõi Tịnh độ.

Tảo đắc hoà bình là đất nước dứt được cảnh chiến tranh để sớm được hoà bình.

Hoàn tu thử nhựt cơ quy thống,

Tảo đắc lai niên nghiệp hợp châu.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

TẢO HÔN

早 婚

Tảo: Sớm. Hôn: Việc cưới vợ hay gả chồng.

Tảo hôn là việc kết hôn sớm, ý chỉ kết hôn trong độ tuổi vị thành niên.

Như: Thời buổi hiện nay còn nhiều gia đình theo tục lệ tảo hôn.

Người Tàu, người Việt hay có lệ dựng vợ gả chồng cho con sớm, gọi là tảo hôn.

(Quan Hôn Tang Lễ).

 

 

TẢO MỘ

掃 墓

Tảo: Quét. Mộ: Mồ mả.

Tảo mộ là quét dọn mồ mả cho sạch sẽ, hoặc sơn phết mộ lại cho mới.

Thường thường vào tiết thanh minh (tháng ba), hay trước tết âm lịch, người xưa có tục đi tảo mộ.

Như: Người miền nam thường có tục tảo mộ.

Kìa xóm rẫy nấm mồ lố xố,

Nơi đôi ta tảo mộ đạp thanh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TẢO TẦN

藻 蘋

Tảo: Một loại rau. Tần: Rau tần.

Tảo tần là rau tảo rau tần, chỉ đức tính đảm đang việc nhà của người đàn bà. Như: Mẹ tảo tần nuôi con.

Bài “Thái Tần” trong Kinh Thi có câu: Vu dĩ thái tần, nam giản chi tân, vu dĩ thái tảo, vu bỉ hàng lạo, 于 以 釆 蘋, 南 澗 之 濱. 于 以 釆 藻, 于 彼 行 潦, nghĩa là Đi hái rau tần, bên bờ khe phía nam. Đi hái rau tảo, bên lạch nước kia.

Bài Kinh Thi trên ca ngợi người vợ hiền, dâu thảo, chăm hái rau tảo rau tần về nhà lo làm lễ cúng tổ tiên.

Ngoài ra, chữ tảo tần còn dùng để chỉ sự vất vả, cực khổ của những người vợ hiền.

Tảo tần con khá gắng chung lo,

Ðẹp thiếp mới ra nở mặt trò.

(Đạo Sử).

Càng bạc phước càng than con dại,

Lo tảo tần mảy mạy dưỡng nuôi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Thà tảo tần mơi cháo, chiều rau,

Biết thủ nghĩa hơn nhà cao cửa rộng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TẢO THANH

掃 清

Tảo: Quét. Thanh: Trong sạch.

Tảo thanh là quét sạch hết không còn gì. Tiếng dùng để chỉ việc thanh lọc những tệ nạn xã hội.

Như: Những tệ nạn xã hội hôm nay được tảo thanh.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo của Lý Giáo Tông có dạy: Lão lấy làm vui hứng thấy chí hướng của hiền hữu đương tìm chước tảo thanh, nhưng trong số tội nhơn của Đạo có một phần ít xu thời mưu cầu danh vọng mà phạm Thiên điều.

Nơi Tây phương Cực Lạc cũng vậy, tảo thanh không còn ma hồn quỷ xác đến đây nữa.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

TẠO

Tạo là dựng lên, làm ra. Như: Tạo lập cơ nghiệp, tạo thiên lập địa, tạo đời Thánh đức. Như: Tạo điều kiện.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Thánh giáo Thầy có câu: Các con coi đó mà hiểu rằng, các con có sự mà thiên hạ từ tạo thế đến chừ chưa hề có chăng?

Tạo đời cải dữ ra hiền,

Bảo sanh nắm giữ diệu huyền Chí Tôn.

(Kinh Tận Độ).

 

 

TẠO CÔNG

造 工

Tạo: Làm ra. Công: Thợ, khéo léo.

Tạo công là thợ Tạo, tức chỉ cha mẹ tạo ra hình hài xác thịt hay Đấng Tạo Hoá (Trời) ban cho chơn linh.

Tạo công đồng nghĩa với Tạo hoá.

Ai là người đã mang mảnh xác thịt ở trong vòng võ trụ nầy, cũng nhìn rằng đã thọ ân của hai Đấng Tạo Công.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

TẠO DỰNG

Tạo: Gầy dựng nên. Dựng: Gây, lập nên.

Tạo dựng, như chữ “Gây dựng”, là tạo ra cái cơ sở để từ đó phát triển thêm lên.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có đoạn: Muốn đi con đường thứ ba phải tập mình đừng ham muốn chi cho mình nữa, hành tàng của Chí Tôn là phận sự của mình, phải yêu ái hiếu hạnh cùng Chí Tôn và Phật Mẫu. Cái yêu ái và hiếu hạnh ấy phải là phi thường do tâm linh điều khiển, phải thương yêu nhơn sanh và vật loại hơn mình và coi đồng thể, đồng sanh với mình. Phải tạo dựng cố thủ Thánh tâm cho nên Chí Thánh, và đạt cho đủ ba ngàn công quả thì sẽ đi đến, lướt đặng và vững vàng thắng muôn điều trở ngại.

Tạo dựng cơ đồ cho chánh nghĩa,

Rưới chan hạnh phúc bởi lòng tin.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

TẠO ĐỊNH

造 定

Tạo: Làm ra, dựng nên. Định: Sắp đặt, quyết định.

Tạo định là sắp đặt mà làm thành.

Hiệp chúng đẳng chư Phật tạo định Thiên Thi tận độ Chúng Sanh đắc quy Phật Vị.

(Di Lạc Chơn Kinh).

 

 

TẠO ĐOAN

造 端

Tạo: Mở đầu. Đoan: Mối.

1.- Tạo đoan là mở đầu mối, tức tạo ra cái mối đầu của sự vật. Chỉ dùng để nói về vợ chồng, vì vợ chồng dựng mối đầu nhân loại.

Sách có câu: Thiên địa chi đạo, tạo đoan hồ phu phụ 天 地 之 道 造 端 乎 夫 婦, nghĩa là đạo trời đất gây ra cái mối đầu từ đạo vợ chồng.

Dâu Nam giản, rể Đông Sàng,

Tơ nguyệt săn bền mối tạo đoan.

(Thơ Hương Phụng).

2.- Tạo Đoan cùng nghĩa với Tạo Hoá, chỉ ông Trời hay Đức Chí Tôn.

Diễn văn chúc tết năm Mậu Tuất của Đức Thượng Sanh có câu: Cầu xin hai Đấng Tạo Đoan tối cao hỷ xả tất cả những cái gì còn thô sơ thiếu kém và trợ giúp chúng ta đi đến chỗ thành công mỹ mãn.

Nhứt khí tạo đoan cả Ðịa Cầu,

Nương theo Mẹ cả giảng vài câu.

(Đạo Sử).

Cồn dâu hoá biển nghĩ kinh hoàng,

Phàm thể dụng quyền chủ tạo đoan.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

TẠO HOÁ

造 化

Tạo: Làm ra. Hoá: Thay đổi.

Tạo hoá là tiếng dùng để chỉ ông Trời tạo ra càn khôn vũ trụ và biến hoá ra con người và muôn vật.

Phú Giả Nghị có câu: Thiên địa vi lô hề, tạo hoá vi công, âm dương vi thán hề, vạn vật vi đồng 天 地 為 爐 兮, 造 化 為 工, 陰 陽 為 炭 兮, 萬 物 為 銅, nghĩa là trời đất làm lò hề, tạo hoá làm thợ, âm dương làm than hề, vạn vật làm đồng.

Ơn Tạo hoá tha tiền khiên trước,

Đưa linh phan tiếp rước nguyên nhân.

(Kinh Thế Đạo).

Đại Từ Phụ từ bi Tạo hoá,

Tượng mảnh thân giống cả Càn Khôn.

(Kinh Tận Độ).

À Ðất Trời kia ai Tạo hoá,

Hoá sanh chung hưởng há quên già.

(Đạo Sử).

Hiệp Tạo hoá cầm quyền chuyển thế,

Dạy vạn linh dụng thế từ bi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TẠO HOÁ HUYỀN THIÊN

造 化 天

Hay “Tạo Hoá Thiên”.

Tạo hoá: Tạo và hoá sanh ra Vũ trụ, vạn vật. Thiên: Trời, từng trời.

Tạo Hoá Thiên là Từng trời Tạo hoá, một tầng Trời do Đức Diêu Trì Kim Mẫu chưởng quản.

Theo lời thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp, ngày rằm tháng 8 năm Đinh Hợi (1947), khi Ngài giải thích bài “Phật Mẫu Chơn Kinh”, Ngài có nói: “Từng Trời thứ chín gọi là cung Tạo Hoá Thiên, có vị cầm quyền năng tạo đoan gọi là Thiên Hậu...”

Như vậy, tầng Tạo Hoá Thiên thuộc tầng thứ chín của Cửu Trùng Thiên, nên Bà Cửu Nương Diêu Trì Cung có nhiệm vụ tiếp dẫn Chơn hồn đến tầng Tạo Hoá Thiên để vào Diêu Trì Cung bái kiếng Đức Phật Mẫu.

Theo Di Lạc Chơn Kinh, tầng Tạo Hoá Thiên còn gọi là Tầng Tạo Hoá Huyền Thiên có các vị Phật: Quảng Sanh Phật, Dưỡng Dục Phật, Chưởng Hậu Phật, Thủ Luân Phật, Cửu Vị Nữ Phật...

1.- Tạo Hoá Huyền Thiên:

Tạo Hoá Huyền Thiên hữu: Quảng Sanh Phật, Dưỡng Dục Phật, Chưởng Hậu Phật, Thủ Luân Phật, Cửu Vị Nữ Phật...

(Di Lạc Chơn Kinh).

2.- Tạo Hoá Thiên:

Tạo Hoá Thiên huyền vi Thiên Hậu,

Chưởng Kim Bàn Phật Mẫu Diêu Trì.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

Vùng thoại khí bát hồn vận chuyển,

Tạo Hoá Thiên sanh biến vô cùng,

(Kinh Tận Độ).

 

 

TẠO HOÁ HUYỀN THIÊN CỬU VỊ NỮ PHẬT

造 化 玄 天 九 位 女 佛

Tạo Hoá Huyền Thiên: Tầng Trời Tạo Hoá Thiên huyền diệu, nơi có Cung Diêu Trì là chỗ ngự của Diêu Trì Kim Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương. Cửu Vị Nữ Phật: Tức là Cửu Vị Tiên Nương. Chín vị Tiên Nương này có nhiều công nghiệp trong thời khai Đạo và có công giáo hoá chúng sanh nên được đắc hàng Phật vị.

Tạo Hoá Huyền Thiên Cửu Vị Nữ Phật là câu xưng tụng Thánh hiệu của Cửu Vị Tiên Nương ở Tầng Trời Tạo Hoá Thiên.

Nam Mô Tạo Hoá Huyền Thiên Cửu Vị Nữ Phật.

(Tán Tụng Công Đức).

 

 

TẠO HOÁ HUYỀN THIÊN DIÊU TRÌ KIM MẪU

造 化 玄 天 瑤 池 金 母

Tạo Hoá Huyền Thiên: Tầng Trời Tạo Hoá Thiên huyền diệu, nơi có Cung Diêu Trì là chỗ ngự của Diêu Trì Kim Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương. Diêu Trì Kim Mẫu: Chỉ Đức Phật Mẫu ngự nơi Diêu Trì Cung, ở tầng Tạo Hoá Thiên.

Tạo Hoá Huyền Thiên Diêu Trì Kim Mẫu là câu xưng tụng Thánh hiệu của Đức Phật Mẫu.

Nam Mô Tạo Hoá Huyền Thiên Diêu Trì Kim Mẫu.

(Tán Tụng Công Đức).

 

 

TẠO LẬP

造 立

Tạo: Làm ra. Lập: Dựng nên.

Tạo lập là làm thành, tạo dựng nên.

Thánh giáo Thầy có dạy: Vốn Thầy tạo lập nền Chánh giáo cho dân Nam Việt chẳng phải là việc nhỏ đâu. Các con ví biết Ðạo là quý thì phải ân cần thận trọng, đợi đến ngày thành tựu, các con mới thấy rõ Thiên cơ, thì chừng ấy các con muốn lập công bằng buổi nầy sao đặng, vì mỗi việc khó khăn trắc trở là lúc sơ khai.

Ðời cũng có giàu nghèo cao thấp,

Tại nơi người tạo lập nó ra,

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

TẠO NHÀ CÕI THIÊN

Tạo: Xây dựng. Nhà cõi Thiên: Mái nhà nơi cõi Thiêng Liêng Hằng Sống, ý chỉ ngôi vị.

Tạo nhà cõi Thiên là xây dựng ngôi nhà nơi Thiên cảnh, ý chỉ tạo lập ngôi vị ở cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Càn khôn để bước ta bà,

Đoạt cơ thoát tục tạo nhà cõi Thiên.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

TẠO TÁC

造 作

Tạo: Làm ra, dựng nên. Tác: Làm.

Tạo tác là tạo dựng nên.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Về việc xây dựng Chánh môn, mặc dù sự phỏng định tạo tác hơi lớn lao, nhưng đối với thanh danh của Ðạo, cuộc kiến thiết cũng phải có một giá trị xứng đáng để tượng trưng cái thể thống của một nền tôn giáo do Ðức Thượng Ðế sáng lập.

Trí Huệ Cung bên Phạm Môn tạo tác đây là nhà tu của nữ phái...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

TẠO THẾ

造 世

Tạo: Làm ra. Thế: Thế gian, đời.

1.- Tạo thế là tạo lập cõi thế gian, chỉ thời kỳ mới tạo lập Càn khôn vũ trụ và vạn vật.

Như: Từ khi tạo thế cho đến nay đã trải qua ba thời kỳ mở đạo.

Các con coi đó mà hiểu rằng, các con có sự mà thiên hạ từ tạo thế đến chừ chưa hề có chăng?

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

2.- Tạo thế còn có nghĩa là tạo ra cuộc đời.

Đức Lý Giáo Tông trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Lão đây cũng vậy, mà chư hiền hữu cũng vậy, chúng ta đã đến tạo thế sửa đời, vẫn là phận sự của chúng ta đã hẳn, hãy biết phận mình mới an tâm liệu thế chuyển xây, đã có khó ắt có hay, đã có gay thì có thuận, bền chí xem mảy mún cơ đời.

Tạo thế phải toan phương lấy đức,

Dìu đời nắm chặt lấy tình thương.

(Bát Nương Giáng Bút).

Dụng quyền hơn đức quyền tan nát,

Tạo thế kém nhân thế đoạ đày.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

TẠO THIÊN LẬP ĐỊA

造 天 立 地

Tạo Thiên: Tạo thành Trời. Lập địa: Dựng nên đất.

Tạo Thiên lập Địa là tạo dựng thành Trời đất, tức là tạo lập nên Càn Khôn Vũ Trụ và vạn vật.

Thánh giáo Thầy có câu: Từ tạo Thiên lập Ðịa, chưa nước nào dưới quả Ðịa cầu 68 nầy đặng vậy. Cốt để ban thưởng các con, thì các con hưởng phần hơn đã đáng, lẽ nào Thầy đã để phần nhiều cho các nước khác sao!

Nguyên hồi Vô thỉ, nghĩa là khi chưa Tạo Thiên lập Địa, cõi Thái Hư mờ mờ mịt mịt...

(Thiên Đạo).

 

 

TẠO THỜI CẢI THẾ

造 時 改 世

Hay “Tạo thời hoá thế”.

Tạo thời: Tạo ra một thời kỳ tốt đẹp. Cải thế (đồng nghĩa hoá thế): Sửa đổi hay biến đổi cuộc đời cho được hiền lương đạo đức.

Tạo thời cải thế đồng nghĩa với câu “Tạo thời hoá thế 造 時 化 世” là nói người tài ba đứng ra cải tạo thời thế cho được tốt đẹp.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Nếu là một đạo Thiên binh mà đã đứng ra bãi chiến trường chém tướng đoạt cờ bảo tồn quốc vận, ấy là tướng quân tạo thời cải thế đã đành còn những kẻ tàn hại dân lành với phương tàn ác tức là quân cường đồ cướp đảng.

1.- Tạo thời cải thế:

Sức quyền tương đắc mới mong tạo thời cải thế.

(Pháp Chánh Truyền CG).

2.- Tạo thời hoá thế:

Hễ là người phải biết làm người,

Dạy em rán tạo thời hoá thế.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TẠO VẬT

造 物

Tạo: Làm ra, dựng nên. Vật: Muôn vật, gồm con người và loài vật.

Tạo vật, như chữ “Tạo hoá”, chỉ Đức Thượng Đế tạo ra vũ trụ và muôn vật.

Như: Muôn loại dưới thế gian nầy đểu do Đấng tạo vật gầy dựng nên.

Một khi chúng ta khám phá những lẽ bí mật của Tạo vật rồi, ắt chúng ta sẽ giải quyết được đời sống của chúng ta với một cách ứng đáng.

(Giáo Lý).

 

 

TẠP

Tạp là lẫn lộn nhiều thứ và chất lượng không tốt.

Như: Nguyên một đống gỗ toàn là cây tạp, cửa hàng tạp hoá, nó không có nghề nghiệp chỉ đi tạp dịch.

Đến đây Bần Đạo nói đến việc chỉnh đốn nội dung nền Chánh Trị Đạo trong buổi hỗn tạp này...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

TẠP NIỆM

雜 念

Tạp: Nhiều thứ lẫn lộn. Niệm: Tưởng nghĩ.

Tạp niệm là tư tưởng tạp nhạp, không thuần nhất, tức là điều tưởng nghĩ lung tung, qua lại bất nhất.

Như: Khi vào đàn cúng không để tạp niệm xen vào trong tâm.

Kẻ giữ Đạo không muốn đầy, tức không cố chấp tư tưởng tạp niệm.

(Giáo Lý).

 

 

TẠP NHẠP

Tạp: Nhiều thứ lẫn lộn. Nhạp: Không gọn.

Tạp nhạp là có nhiều thứ lẫn lộn, nhưng lặt vặt, linh tinh, ít có giá trị, hoặc không đáng kể.

Như: Tủ chứa toàn đồ tạp nhạp không có gì đáng giá.

Khi ấy Bần Ðạo chưa tín ngưỡng, bởi lẽ nòi giống nước Nam còn tín ngưỡng tạp nhạp lắm.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

TẠP TỤNG

雜 訟

Tạp: Nhiều thứ lẫn lộn. Tụng: Thưa kiện.

Tạp tụng là các vụ kiện tụng linh tinh, tạp nhạp.

Trong Đạo Sử, ghi lại Châu Tri Số I của Đức Quyền Giáo Tông có câu: Mỗi việc chi thuộc quyền chánh trị đều giao cho Chánh Phối Sư như là quyền thay mặt cho toàn Ðạo mà giao thông cùng Chánh Phủ và cả Tín đồ, quyền giáo dục nhơn sanh, quyền xem xét các nơi, chăm nom Ðạo Hữu, quyền trị Chức Sắc phần Ðạo và phần Ðời, buộc Chức Sắc làm y phận sự, quyền tạp tụng, quyền điều đình sự phổ độ, tài liệu của Ðạo, quyền chủ trương Hội Thánh và Hội Nhơn Sanh...

Ngọc Chánh Phối Sư, cầm quyền sửa trị cả Chức Sắc, Tín Ðồ, thì quyền tạp tụng cũng nơi người nắm chặt.

(Bát Đạo Nghị Định).

 

 

TÁT

Tát là đưa nước nơi chỗ thấp lên chỗ cao, hoặc bớt mực nước ở ruộng hay mương.

Như: Tát nước vào ruộng, tát mương bắt cá, tát cạn biển Đông.

Nguyên tình chớ khá để riêng lòng,

Muốn tát cho cùng nước biển Ðông.

(Đạo Sử).

 

 

TÁT BIỂN ĐÔNG

Tát: Đưa nước từ chỗ thấp vào chỗ cao hoặc tát bớt nước. Biển Đông: Một trong bốn biển.

Tát biển Đông, bởi câu tục ngữ “Đồng vợ đồng chồng, tát biển Đông cũng cạn”, dùng để nói vợ chồng hoà hợp, yêu thương, đồng lòng cùng nhau làm việc thì có thể làm nên việc lớn.

Hiệp sức làm đôi tát biển Ðông,

Tuy không phải vợ cũng ông chồng.

(Đạo Sử).

Dầu nghèo hèn chồng của vợ công,

Hiệp sức tát biển đông cũng cạn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TẠT

Tạt là ghé vào, rẽ ngang, tức trên đường di chuyển nghỉ lại chơi một cách tình cờ tại một điểm nào đó, hoặc đang đi bên nầy, rẽ sang bên bên kia.

Tạt còn có nghĩa là hắt vào, tức chuyển động mạnh lệch theo một hướng nào đó, mưa tạt vào nhà.

Như: Mưa tạt vào hiên nhà, thuyền tạt vào bờ.

Tách bến sông mê sóng tạt thuyền,

Lọc lừa nghiệp quả kẻ may duyên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Hỏi khách đường xưa ai lấp ngõ,

Nên thân bèo tạt vịnh sông Ngâu.

(Đạo Sử).

Ái hà gió tạt trì tâm lướt,

Khổ hải sóng xao gắng chí dò.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

TÀU

1.- Tàu là từ chỉ chung người Hoa, hoặc theo kiểu Trung Quốc. Như: Người Tàu tại Sài Gòn, bút lông và mực Tàu, buổi sáng uống trà Tàu.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ðến da vàng là nước Tàu, đừng tưởng nước Tàu do một sắc dân mà ra, họ gồm nhiều sắc dân hiệp lại thành nước Tàu, thành thử tiếng nói thì khác chỉ có chữ giống nhau mà thôi.

Nhựt Đức lại với Tàu Tây,

Gây trường huyết chiến tại đây bây giờ.

(Thất Nương Giáng Bút).

Rộn rực tới lui xem lố xố,

Da vàng sắc nước giống người Tàu.

(Thiên Thai Kiến Diện).

2.- Tàu tên gọi chung các phương tiện vận tải lớn và hoạt động bằng máy móc trên sông, biển.

Như: Tàu bè qua lại trên sông, bến tàu đông đúc.

Bần Đạo còn nhớ, khi Bần Đạo bị lưu đày đi trên chiếc tàu Combattant đi đến Đảo Ile de la Réunion.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

TẮC

1.- Tắc là phép, phép tắc, quy tắc. Như: Nguyên tắc, vô phép vô tắc.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Tu thân cũng không phải chỉ có một quan niệm hoàn toàn về cá nhân, vì phép tắc đối với mình tức là “Xử kỷ” phải luôn luôn đi kèm với phép tắc đối với người và việc tức là “Tiếp vật”.

Gương hiếu hạnh giữ mình dè dặt,

Với mẹ cha phép tắc để nên gương.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Tắc là thì, thời, ắt là. Như: Cẩn tắc vô ưu, phi dâm tắc đạo, hữu cầu tắc ứng.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Áo thật là áo đạo mà tâm tánh của người thì xảo trá, gian dối đủ điều, thử hỏi người như vậy cầu nguyện có cảm động Trời Phật được chăng? Như thế câu: “Hữu cầu tắc ứng” là vô nghĩa đối với trường hợp nầy.

Hoá đức thiên tâm tắc Ðạo khai,

Hà do ngạ loại quỷ đương tài.

(Đạo Sử).

Quảng trí minh tâm tắc thức thì,

Hành tàng huyền diệu thế nan tri.

(Đạo Sử).

3.- Tắc là hạt kê, một thứ hạt trong ngũ cốc. Nghĩa rộng: Nền tế Thần Nông, tức vị thần chủ về cày cấy.

Như: Nền tắc, xã tắc.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Xưa biết bao vua chúa dùng lầm hạng tiểu nhơn mà phải chịu xã tắc khuynh nguy, muôn dân đồ thán.

Nắm mối xa thơ ra sức gánh,

Thâu giềng xã tắc sửa đầu cân.

(Đạo Sử).

 

 

TẮC Y

稷 伊

Tắc, Y là hai vị hiền thần đời vua Ngu Thuấn và đời nhà Thương.

Tắc là Hậu Tắc tên Khí, thuỷ tổ của nhà Châu, làm quan nông sư, tức coi về việc nông đời vua Thuấn.

Y là Y Doãn, một vị khai quốc công thần của nhà Thương, tên là Chí, cày ruộng ở đất Hữu Sằn. Vua Thành Thang đem lễ vật ba lần đến rước, mới chịu theo về. Ông có công giúp vua Thang đánh đuổi vua Kiệt, diệt nhà Hạ mà lập nên nhà Thương.

Xem: Hậu Tắc và Y Doãn.

Nghe danh ông Tắc, Y lìa ruộng,

Mến đức vua Nghiêu, Thuấn bỏ cày.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

TĂM

Tăm là dấu vết, nhìn thấy, nghe thấy được, nhờ đó có thể biết về sự có mặt của một người