TỪ NGỮ ĐIỂN CỐ CAO ĐÀI

 

 

Danh mục vần TH

 

THA

Tha

Tha bang

Tha chủng

Tha giác

Tha hương

Tha nhân

Tha phương

Tha quả vong căn

Tha tín

Tha thứ

Tha thướt

 

THÀ

Thà

Thà cam

Thà xuống Âm Cung chia khổ tội

 

THẢ

Thả

Thả lá

Thả lá hồng

 

THÁC

Thác

Thác sống

 

THÁCH

Thách

 

THẠCH

Thạch bàn

Thạch động

Thạch Sùng Vương Khải

 

THAI

Thai

Thai bào

 

THÁI

Thái Ất Thiên Tôn

Thái Bạch

Thái Bạch Kim Tinh

Thái bình

Thái Bình Dương

Thái căn tánh định

Thái Công Tướng Phụ

Thái Cực

Thái Cực Thánh Hoàng

Thái dương

Thái độ

Thái hoà

Thái Hộ Lương Công

Thái lai

Thái quá bất cập

Thái Sơn

Thái Tây

Thái thậm

Thái Thú

Thái Thuận

Thái Thượng

Thái Thượng Đạo Tổ

Thái Thượng Lão Quân

 

THÀI

Thài

 

THẢI

Thải

 

THÃI

Thãi

 

THAY

Thay

Thay duyên đổi nợ

Thay đen đổi trắng

Thay đổi

Thay lòng

Thay mặt

Thay thân Tạo hoá

Thay thế

Thay Trời tạo thế

Thay xiêm đổi áo

 

THÀY

Thày lay

 

THẢY

Thảy

 

THAM

Tham

Tham danh lợi

Tham danh chác lợi

Tham danh trục lợi

Tham dục

Tham dự

Tham gian bạo ngược

Tham giàu phụ khó

Tham lam

Tham lạm

Tham lê bỏ lựu

Tham lựu bỏ đào

Tham nhũng

Tham phú

Tham phú phụ bần

Tham tàn

Tham tâm

Tham thì phải thâm

Tham thiền

Tham thiền nhập định

Tham vọng

 

THÁM

Thám

 

THẢM

Thảm

Thảm bại

Thảm đạm

Thảm hoạ

Thảm kinh

Thảm khổ

Thảm khốc

Thảm não

Thảm sầu

Thảm tín

Thảm thiết

Thảm thương

Thảm trạng

 

THAN

Than

Than khóc

Than ôi

Than thở

Than van

Than vãn

 

THÁN

Thán

Thán oán

 

THẢN

Thản

Thản nhiên

 

THANG

Thang

Thang mây

Thang thuốc

Thang Trời

Thang Võ

Thang vô ngằn

 

THÁNG

Tháng

Tháng lụn năm chầy

Tháng lụn ngày qua

Tháng Thuấn ngày Nghiêu

 

THẢNG

Thảng

Thảng mảng

Thảng như

 

THANH

Thanh

Thanh âm

Thanh bạch

Thanh bai

Thanh bần

Thanh bần thường lạc

Thanh bình

Thanh bường

Thanh cao

Thanh Cân

Thanh cung

Thanh chước

Thanh danh

Thanh đạm

Thanh Đạo

Thanh giá

Thanh khí

Thanh khí ứng cầu

Thanh lặng

Thanh lâu

Thanh liêm

Thanh liêm chánh trực

Thanh loan

Thanh long

Thanh my

Thanh minh

Thanh niên

Thanh nhã

Thanh nhàn

Thanh phong

Thanh quang

Thanh sắc

Thanh sơn

Thanh Sơn Đạo Sĩ

Thanh sử

Thanh tao

Thanh tâm

Thanh tâm quả dục

Thanh Tâm Tài Nữ

Thanh tân

Thanh tịnh

Thanh Tịnh Đại Hải Chúng

Thanh thản

Thanh thao

Thanh thế

Thanh Thiên

Thanh thoát

Thanh trừng

Thanh trược

Thanh u

Thanh vắng

Thanh vân

Thanh Vương Đại Hội

Thanh xuân

Thanh xuân bất tái

 

THÁNH

Thánh

Thánh ân

Thánh bất khả tri

Thánh cốc

Thánh cốt

Thánh chất

Thánh chỉ

Thánh chúa

Thánh danh

Thánh đản

Thánh đạo

Thánh địa

Thánh điện

Thánh đức

Thánh giáo

Thánh Giáo Tâm Kinh

Thánh hiền

Thánh hình

Thánh huấn

Thánh Huấn Giác Mê

Thánh ý

Thánh Kinh

Thánh lịnh

Thánh luật

Thánh miếu

Thánh Ngôn

Thánh nhân

Thánh Nho

Thánh nhơn

Thánh phàm

Thánh quân

Thánh tâm

Thánh Toà trấn tịnh

Thánh Toà lợp tranh

Thánh Tông Đồ

Thánh Tử Đạo

Thánh Tượng

Thánh thai

Thánh thân

Thánh Thần Tiên Phật chi chủ

Thánh Thất

Thánh Thất Cầu Kho

Thánh Thể

Thánh thót

Thánh trị

Thánh triết

Thánh truyền

Thánh trước hiền xưa

Thánh vệ

Thánh vị

Thánh vức

 

THÀNH

Thành

Thành bại

Thành công

Thành dạ

Thành danh

Thành đạo

Thành đạt

Thành đô

Thành độc Sớ văn

Thành ý

Thành kiên luỹ cố

Thành kiến

Thành kỉnh

Thành khẩn

Thành lập

Thành luỹ

Thành ngữ

Thành phục

Thành quả

Thành sầu

Thành song

Thành sự do Thiên

Thành tâm

Thành tích

Thành tín

Thành tựu

Thành Thang

Thành thật

Thành thị

Thành thị thôn quê

Thành trì

Thành Uổng Tử

Thành vàng

 

THẢNH

Thảnh thoát

Thảnh thơi

 

THẠNH

Thạnh

Thạnh hành

Thạnh nộ

Thạnh suy

Thạnh tình

Thạnh thế

Thạnh trị

 

THAO

Thao

Thao lược

Thao tác

Thao thức

 

THÁO

Tháo

 

THẢO

Thảo

Thảo căn mộc bổn

Thảo Đường

Thảo hài

Thảo luận

Thảo mộc

Thảo ngay

Thảo xá

Thảo Xá Hiền Cung

 

THÁP

Tháp

Tháp Đầu Sư

Tháp Giáo Tông

Tháp Hộ Pháp

Tháp tùng

 

THAU

Thau

 

THẮC

Thắc mắc

Thắc thẻo

 

THĂM

Thăm

Thăm lom

Thăm thẳm

Thăm ván bán thuyền

Thăm viếng

 

THẮM

Thắm

Thắm nghĩa nặng tình

Thắm đậm

Thắm thiết

 

THẲM

Thẳm

 

THĂNG

Thăng

Thăng bằng

Thăng cấp

Thăng chức

Thăng hà

Thăng Long

Thăng phẩm vị

Thăng quan tiến chức

Thăng Thiên

Thăng thưởng

Thăng trầm

 

THẮNG

Thắng

Thắng cảnh

Thắng khổ

Thắng lợi

 

THẰNG

Thằng

 

THẲNG

Thẳng

Thẳng băng

Thẳng dùn

Thẳng rẳng

 

THẮP

Thắp

Thắp nhang

 

THẮT

Thắt

Thắt chặt

Thắt dạ

Thắt ngặt

 

THÂY

Thây

Thây đi thịt chạy

Thây phàm

Thây thi

 

THẤY

Thấy

Thấy lân

 

THẦY

Thầy

Thầy giáo

Thầy pháp

 

THÂM

Thâm

Thâm ân

Thâm cảm

Thâm giao

Thâm hiểm

Thâm ý

Thâm niên

Thâm nhiễm

Thâm nhập

Thâm sơn cùng cốc

Thâm tạ

Thâm tâm

Thâm tình

Thâm thuý

Thâm trầm

Thâm trọng

Thâm u

Thâm uyên

Thâm viễn

 

THẤM

Thấm

Thấm nghĩa nặng tình

Thấm nhuần

Thấm thía

Thấm thoát

 

THẦM

Thầm

Thầm lặng

Thầm vái

 

THẨM

Thẩm mỹ

Thẩm phán

Thẩm quyền

 

THẬM

Thậm

Thậm chí

Thậm thâm

Thậm trọng

 

THÂN

Thân

Thân ái

Thân bằng

Thân bằng cố hữu tế lễ

Thân bèo

Thân cận

Thân côi

Thân cuội

Thân danh

Thân goá

Thân giống Càn khôn

Thân hầu phận thiếp

Thân hình

Thân hoà làm một

Thân Hồ tâm Hớn

Thân hữu

Thân mật

Thân mòn gối mỏi

Thân mòn gối run

Thân nghiệp

Thân phàm

Thân phận

Thân phụ

Thân quyến

Thân sanh

Thân sinh

Thân sơ

Thân tằm

Thân tâm

Thân tín

Thân tộc

Thân thể

Thân thích

Thân thiện

Thân thiết

Thân trăm tuổi

 

THẦN

Thần

Thần an

Thần bí

Thần biến

Thần bút

Thần cơ

Thần cư tại Nhãn

Thần chú

Thần chung

Thần dân

Thần đồng

Thần đồng vấn Khổng Tử

Thần giao

Thần hao

Thần Hoàng

Thần Hoàng Bổn Cảnh

Thần hôn

Thần linh

Thần Linh Học

Thần lực

Thần minh

Thần Nông

Thần Nữ

Thần nhường quỷ sợ

Thần phẩm

Thần Phù

Thần sắc

Thần sầu quỷ khốc

Thần Siêu Thánh Quát

Thần Tiên chẳng xa

Thần tỉnh

Thần tỉnh mộ khang

Thần Tú

Thần tướng

Thần Thánh

Thần thoại

Thần thông

Thần thông biến hoá

Thần Thông Nhơn

Thần thức

Thần trí

Thần oai

Thần vị

Thần xỉ

 

THẪN

Thẫn thờ

 

THẬN

Thận

Thận chung

Thận độc

Thận trọng

 

THẤP

Thấp

Thấp chủm

Thấp hèn

Thấp kém

Thấp thoáng

Thấp thỏi

Thấp thỏm

 

THẬP

Thập ác

Thập Can

Thập Điện Diêm Cung

Thập Điện Từ Vương

Thập hình

Thập loại

Thập niên đăng hỏa

Thập Nhị Bảo Quân

Thập Nhị Chi

Thập Nhị Đẳng Cấp

Thập Nhị Khai Thiên

Thập Nhị Thời Quân

Thập Nhị Thời Thần

Thập phương

Thập phương chư Phật

Thập tam ma

Thập Tự Giá

Thập Thiên Can

Thập thò

Thập trai

 

THẤT

Thất

Thất bại

Thất bát

Thất bửu

Thất Công

Thất chánh

Thất chí

Thất chơn truyền

Thất đạo

Thất đạo tâm

Thất đầu xà

Thất đức

Thất gia

Thất giáo

Thất hiếu

Thất học

Thất kinh

Thất kỳ truyền

Thất khiêm cung

Thất lễ

Thất mùa

Thất Nương Diêu Trì Cung

Thất Nương khêu đuốc đạo đầu

Thất ngôi diệt vị

Thất nghĩa

Thất nghiệp

Thất phách

Thất phu

Thất quốc

Thất Sơn

Thất tịch

Thất tiết

Thất tín

Thất tinh

Thất tình

Thất Tổ

Thất tuần

Thất Thánh

Thất thập cổ lai hy

Thất thập nhị địa

Thất thập nhị hiền

Thất thế

Thất thể đạo

Thất thệ

Thất thố

Thất thủ

Thất thường

Thất truyền

Thất ức

Thất ức niên

Thất vị

Thất vọng

 

THẬT

Thật

Thật hành

Thật lòng

Thật tình

Thật thà

 

THÂU

Thâu

Thâu các Đạo hữu hình

Thâu đa

Thâu đa nạp thiểu

Thâu đêm

Thâu đoạt

Thâu hoạch

Thâu hồi

Thâu nhập

Thâu phục

Thâu thập

 

THẤU

Thấu

Thấu đáo

Thấu hiểu

Thấu triệt

 

THE

The

 

THÈM

Thèm

Thèm khát

Thèm muốn

 

THEN

Then

Then chốt

 

THẸN

Thẹn

Thẹn bóng

Thẹn thuồng

 

THEO

Theo

Theo dõi

Theo chơn dõi bước

 

THÈO

Thèo lẻo

 

THÉP

Thép

 

THÊ

Thê

Thê lương

Thê lương thảm đạm

Thê noa

Thê nhi

Thê tử

Thê thảm

Thê thằng tử phược

Thê thiếp

Thê vinh tử ấm

 

THẾ

Thế

Thế cuộc

Thế chiến

Thế đạo

Thế giái

Thế gian

Thế giới

Thế giái ba ngàn

Thế giới như nhà

Thế hệ

Thế kỷ

Thế luật

Thế lực

Thế lực phàm phu

Thế phiệt

Thế sự

Thế tình

Thế Tôn

Thế tục

Thế thái nhân tình

Thế Thiên hành hoá

Thế thời

Thế thượng

Thế thượng vô nan sự

Thế trần

Thế trọng

Thế vị

 

THỀ

Thề

Thề non

Thề non hẹn biển

Thề nguyền

 

THỂ

Thể

Thể cách

Thể chất

Thể diện

Thể hài

Thể hoà

Thể lệ

Thể phách

Thể pháp

Thể Thiên hành chánh

Thể Thiên hành đạo

Thể Thiên hành hoá

Thể thống

 

THỆ

Thệ

Thệ hải sơn minh

Thệ nhứt tâm

 

THÊM

Thêm

 

THỀM

Thềm

Thềm quế

 

THÊNH

Thênh thang

Thênh thênh

 

THẾ

Thế phát

 

THẾT

Thết đãi

 

THÊU

Thêu

Thêu dệt

 

THI

Thi

Thi ân

Thi ân bố đức

Thi ân tế chúng

Thi cử

Thi đàn

Thi điếu

Thi đua

Thi gia

Thi hài

Thi hành

Thi hào

Thi hữu

Thi lá

Thi nhân

Thi nhân tế chúng

Thi phàm

Thi pháp

Thi phú

Thi rượu đờn cờ

Thi thố

Thi thơ

Thi thơ chi phố

Thi thư

Thi xã

 

THÍ

Thí

Thí mạng

Thí nghiệm

Thí pháp

Thí phát

Thí tài

Thí tiền thí bạc

Thí thân

 

THÌ

Thì

Thì giờ

 

THỈ

Thỉ

Thỉ chung

 

THỊ

Thị

Thị chi chứng quả

Thị dục

Thị khi

Thị không thị sắc

Thị nữ

Thị nhận

Thị nhục

Thị phi

Thị thành

Thị thiềng

 

THÍCH

Thích

Thích Ca

Thích chí

Thích Đạo

Thích giáo

Thích lưng con

Thích Tiên Nho

Thích thú

Thích trung

Thích ứng

 

THIÊM

Thiêm thiếp

 

THIỀM

Thiềm

Thiềm cung

 

THIÊN

Thiên

Thiên ân

Thiên Bàn

Thiên binh

Thiên các

Thiên can

Thiên cảnh

Thiên cổ

Thiên Công

Thiên cơ

Thiên cung

Thiên chiếu

Thiên chức

Thiên đàng

Thiên đạo

Thiên địa

Thiên địa giao thới

Thiên địa giao thừa

Thiên địa hữu âm dương

Thiên địa tất giai tri

Thiên địa vô tư

Thiên điều

Thiên điều tại thế

Thiên đình

Thiên định

Thiên đồ

Thiên đường

Thiên hạ

Thiên hạ đại đồng

Thiên Hậu

Thiên hình vạn trạng

Thiên Hỷ Động

Thiên hương

Thiên hương quốc sắc

Thiên ý

Thiên kiều

Thiên kim

Thiên khai Huỳnh Đạo

Thiên la đia võng

Thiên lao

Thiên lịch

Thiên lý

Thiên lôi

Thiên luật

Thiên lực

Thiên lương

Thiên ma bách chiết

Thiên mạng

Thiên môn

Thiên niên

Thiên ngoại

Thiên Nguơn Bát Quái Mạo

Thiên nhai hải giác

Thiên nhan

Thiên Nhãn

Thiên nhiên

Thiên phẩm

Thiên phong

Thiên phong dĩ hạ

Thiên phục

Thiên Quân

Thiên sai

Thiên sắc

Thiên sầu địa thảm

Thiên số

Thiên số nan đào

Thiên sứ

Thiên tác nghiệt du khả di

Thiên tai

Thiên tai địa ách

Thiên tài

Thiên tải

Thiên tánh

Thiên tào

Thiên tâm

Thiên Tiên

Thiên Tôn

Thiên tùng nhân nguyện

Thiên tư

Thiên tứ

Thiên tử

Thiên tước

Thiên Thai

Thiên Thai bảy lão

Thiên Thai Kiến Diện

Thiên Thần

Thiên thi

Thiên thiều

Thiên thơ

Thiên thời

Thiên thời địa lợi

Thiên thu

Thiên thư

Thiên trị

Thiên tru địa lục

Thiên văn

Thiên vận

Thiên vị

Thiên võng

 

THIỀN

Thiền

Thiền định

Thiền lâm

Thiền môn

 

THIỂN

Thiển cận

 

THIỆN

Thiện

Thiện ác

Thiện ác đáo đầu

Thiện cảm

Thiện căn

Thiện chí

Thiện duyên

Thiện lương

Thiện mỹ

Thiện nam chơn nữ

Thiện nam tín nữ

Thiện nam tử thiện nữ nhân

Thiện niệm

Thiện nguyện

Thiện quả

Thiện tâm

Thiện tín

 

THIÊNG

Thiêng

Thiêng liêng

Thiêng liêng chi vị

Thiêng Liêng Hằng Sống

 

THIẾP

Thiếp

Thiếp thê

 

THIỆP

Thiệp

Thiệp hồng

 

THIẾT

Thiết

Thiết đãi

Thiết đàn

Thiết giáp

Thiết yếu

Thiết lập

Thiết lễ

Thiết nghĩ

Thiết Quả

Thiết tưởng

Thiết tha

Thiết thạch

Thiết thực

 

THIỆT

Thiệt

Thiệt bỏ giả vay

Thiệt chiến

Thiệt dạ

Thiệt giả

Thiệt hại

Thiệt hành

Thiệt hơn

Thiệt hư

Thiệt tướng

Thiệt thà

Thiệt thòi

 

THIÊU

Thiêu

Thiêu huỷ

Thiêu tàn

Thiêu thân

 

THIẾU

Thiếu

Thiếu hụt

Thiếu niên

Thiếu sót

Thiếu thốn

 

THIỀU

Thiều

Thiều quang

Thiều quang nhị bá

 

THIỂU

Thiểu

Thiểu đức

Thiểu khí

Thiểu số

 

THÌN

Thìn

Thìn dạ

Thìn lòng

 

THINH

Thinh

Thinh âm

Thinh danh

Thinh giá

Thinh không

Thinh sắc

Thinh thế

Thinh thinh

 

THÍNH

Thính

Thính đắc ngã ngôn

Thính giả

Thính Thiện

 

THÌNH

Thình lình

 

THỈNH

Thỉnh

Thỉnh an

Thỉnh giáo

Thỉnh nguyện

Thỉnh nhập

Thỉnh Thoảng

 

THỊNH

Thịnh

Thịnh nộ

Thịnh soạn

Thịnh vượng

 

THỊT

Thịt

Thịt nát xương tan

Thịt xáo nồi da

Thịt xương

 

THIU

Thiu thiu

 

THỎ

Thỏ bạc

Thỏ chết chồn rầu

Thỏ lặn ác tà

Thỏ ngọc

Thỏ thẻ

 

THỌ

Thọ

Thọ ân

Thọ đắc kỳ truyền

Thọ giáo

Thọ giới

Thọ hình thập tự

Thọ khảo

Thọ khổ

Thọ lãnh

Thọ lịnh

Thọ mạng

Thọ ơn

Thọ pháp

Thọ phong

Thọ phục

Thọ quốc mạch tất tiên ư trí chúa chi trung

Thọ sanh

Thọ sắc

Thọ tang

Thọ tỷ Nam san

Thọ tội

Thọ tước

Thọ trì

Thọ truyền bửu pháp

 

THOA

Thoa

 

THOẢ

Thoả

Thoả chí

Thoả lòng

Thoả mãn

Thoả nguyền

Thoả nguyện

Thoả tình

Thoả thích

Thoả thuận

 

THOÁI

Thoái bộ

Thoái vị

 

THOẠI

Thoại khí

Thoại vũ

 

THOÀN

Thoàn

Thoàn mây

 

THOÁNG

Thoáng

Thoáng qua

 

THOẢNG

Thoảng

 

THOÁT

Thoát

Thoát ách tiêu tai

Thoát đọa luân hồi

Thoát khổ

Thoát ly

Thoát lưới

Thoát mê

Thoát mê tân

Thoát nạn

Thoát phàm

Thoát tai

Thoát tội

Thoát tục

Thoát tục siêu phàm

Thoát thân

Thoát trần

Thoát trần đăng Tiên

Thoát xác

 

THOẠT

Thoạt

Thoạt còn thoạt mất

 

THÓC

Thóc

 

THỌC

Thọc

Thọc thò

 

THOI

Thoi

Thoi đưa

 

THÓI

Thói

Thói bộc dâu

Thói bướm ong

Thói đời

Thói yến anh

Thói mạt

Thói tệ

Thói tục

Thói thường

 

THON

Thon von

 

THỎN

Thỏn mỏn

 

THONG

Thong dong

Thong dung

Thong thả

 

THÕNG

Thõng

 

THÔ

Thô

Thô bỉ

Thô kệch

Thô kịch

Thô sơ

Thô tục

 

THỐ

Thố lộ

Thố tử hồ bi

 

THỔ

Thổ

Thổ địa Long Thần

Thổ võ

 

THÔI

Thôi

Thôi nôi

Thôi thúc

 

THỐI

Thối

Thối bộ

Thối bước

Thối bước lui chơn

Thối chí

Thối chí ngã lòng

Thối lui

Thối nhập

Thối tâm

Thối trầm

 

THỔI

Thổi

 

THÔN

Thôn

Thôn dã

Thôn lân

Thôn lý

Thôn quê

 

THỐN

Thốn thiếu

 

THỔN

Thổn thức

 

THÔNG

Thông

Thông cảm

Thông công

Thông đồng

Thông gia

Thông hiểu

Thông minh

Thông ngôn

Thống ngự vạn vật

Thông suốt

Thông Sự

Thông thái

Thông Thiên định Địa

Thông Thiên Giáo Chủ

Thông thuộc

Thông thương

Thông tri

Thông truyền

 

THỐNG

Thống Đốc

Thống hiệp

Thống khổ

Thống ngự vạn vật

Thống nhứt

Thống quản

Thống thiết

Thống trị

Thống truyền

 

THỐT

Thốt

 

THƠ

Thơ

Thơ bé

Thơ cảo

Thơ cưu

Thơ chim

Thơ đàn

Thơ đào

Thơ hương

Thơ ngây

Thơ phú

Thơ sanh

Thơ song

Thơ tín

Thơ thẩn

Thơ thới

Thơ trang

Thơ truyện

Thơ viện

 

THỜ

Thờ

Thờ cha kính mẹ

Thờ chồng

Thờ mất như còn

Thờ phượng

Thờ phụng

Thờ thân

 

THỞ

Thở

Thở than

 

THỢ

Thợ mộc

Thợ rèn

Thợ tạo

 

THỚI

Thới

 

THỜI

Thời

Thời cơ

Thời cuộc

Thời duy Thiên vận

Thời đại

Thời gian

Thời giờ

Thời kỳ

Thời lai

Thời Quân

Thời tiết

Thời tự điều hoà

Thời thế

Thời thừa lục long

 

THƠM

Thơm

Thơm phức

Thơm tho

 

THỚT

Thớt dao

 

THU

Thu

Thu ba

Thu cúc

Thu không

Thu nhặt

Thu phân

Thu thập

 

THÚ

Thú

Thú cầm

Thú hình

Thú tiên

Thú tính

Thú trùng

Thú vị

 

THÙ

Thù

Thù hận

Thù hiềm

Thù nghịch

Thù oán

Thù tạc

 

THỦ

Thủ

Thủ bộ

Thủ cơ

Thủ giới

Thủ hiếu

Thủ lễ

Thủ lợi

Thủ nghĩa

Thủ phận

Thủ tiết

Thủ túc

Thủ thân

Thủ thường

 

THỤ

Thụ

Thụ huấn

 

THUA

Thua

Thua sút

 

THÙA

Thùa

 

THUẤN

Thuấn

Thuấn Đế

Thuấn Nghiêu

 

THUẦN

Thuần dương

Thuần hậu

Thuần khiết

Thuần lương

Thuần phong

Thuần phong mỹ tục

Thuần tâm mỹ tánh

Thuần tuý

 

THUẬN

Thuận

Thuận buồm xuôi gió

Thuận căn

Thuận dưới hoà trên

Thuận hoà

Thuận mạng

Thuận nghịch hành

Thuận nhơn tâm

Thuận tiện

Thuận tùng

Thuận Thiên

 

THUẬT

Thuật

 

THÚC

Thúc

Thúc đẩy

Thúc giục

Thúc hối

Thúc phược

Thúc Tề

Thúc thách

Thúc thủ

 

THỤC

Thục

Thục Đế

Thục nữ

 

THUÊ

Thuê

 

THUẾ

Thuế

Thuế sưu

 

THUI

Thui thủi

 

THÚI

Thúi

Thúi hôi

Thúi òm

Thúi ruồng

Thúi tha

 

THUỲ

Thuỳ dương

Thuỳ từ mẫn khổ

 

THUỶ

Thuỷ

Thuỷ chung

Thuỷ chung như nhứt

Thuỷ quái

Thuỷ tai

Thuỷ tổ

Thuỷ thổ

Thuỷ triều

 

THỤY

Thụy vũ

 

THUYÊN

Thuyên bổ

Thuyên dũ

Thuyên giảm

 

THUYỀN

Thuyền

Thuyền bá

Thuyền Bát Nhã

Thuyền Đạo

Thuyền huệ

Thuyền lan

Thuyền linh

Thuyền nan

Thuyền quày lại bến

Thuyền quyên

Thuyền rồng

Thuyền sen

Thuyền tình

Thuyền từ

Thuyền trưởng

 

THUYẾT

Thuyết đàn

Thuyết đạo

Thuyết giáo

Thuyết pháp

Thuyết phục

 

THUNG

Thung dung

Thung cỗi huyên già

Thung đường

Thung huyên

 

THÚNG

Thúng

 

THỦNG

Thủng

Thủng thẳng

 

THUỐC

Thuốc

Thuốc cá

Thuốc độc

Thuốc men

 

THUỘC

Thuộc

Thuộc địa

Thuộc hạ

 

THUỞ

Thuở

Thuở xưa

 

THỤT

Thụt

Thụt lùi

 

THƯ

Thư

Thư hùng

Thư Hùng Kiếm

Thư hương

Thư nhạn

Thư sinh

Thư song

Thư tịch

Thư tín

Thư thả

Thư thái

Thư thới

 

THỨ

Thứ

Thứ dân

Thứ dung

Thứ lỗi

Thứ thê

 

THỬ

Thử

Thử thách

 

THƯA

Thưa

Thưa kiện

Thưa nhặt

Thưa thớt

 

THỪA

Thừa

Thừa cơ

Thừa dịp

Thừa hành

Thừa lịnh

Thừa long

Thừa nhàn

Thừa thế

Thừa ưa

 

THỬA

Thửa

Thửa nguyền

 

THỨC

Thức

Thức giấc

Thức lệ

Thức tỉnh

Thức thời

 

THỰC

Thực

Thực bẩt cầu bão

Thực chứng

Thực hành

Thực hiện

Thực nhơn tài

Thực tế

Thực thi

 

THỪNG

Thừng

 

THƯỚC

Thước

Thước cưu

Thước kiều

Thước ngọc khuôn vàng

 

THƯƠNG

Thương

Thương cẩu

Thương dương múa

Thương đau

Thương ghét

Thương hải tang điền

Thương hại

Thương hoa tiếc nguyệt

Thương khách

Thương yêu

Thương Lang

Thương mãi

Thương mến

Thương nghị

Thương nhớ

Thương phong bại tục

Thương sanh

Thương tâm

Thương tưởng

Thương thuyết

Thương xót

Thương vong

 

THƯỜNG

Thường

Thường dân

Thường lệ

Thường niên

Thường ngũ

Thường Sơn

Thường tình

 

THƯỞNG

Thưởng

Thưởng ban

Thưởng ngoạn

Thưởng phạt

Thưởng phong

Thưởng răn

 

THƯỢNG

Thượng

Thượng cầm hạ Thú

Thượng cổ

Thượng chưởng Tam thập lục Thiên

Thượng đẳng

Thượng Đế

Thượng giới

Thượng hạ

Thượng hạ khắc nhau

Thượng Hoàng

Thượng Học Y Nông

Thượng Hội

Thượng hương

Thượng lộ

Thượng lưu

Thượng nguơn

Thượng nguơn Thánh đức

Thượng Phẩm

Thượng Phẩm cung nghinh

Thượng phụ

Thượng Sanh

Thượng sĩ

Thượng sớ

Thượng tấn

Thượng tấu

Thượng Tiên hoa

Thượng Tiên tửu

Thượng Tiên trà

Thượng Tượng

Thượng Thiên

Thượng Thiên Hỗn Nguơn

Thượng Thọ

Thượng thông Thiên đàng

Thượng thừa

Thượng trí

Thượng trình

Thượng Trung Nhựt

Thượng uyển

 

THƯỚT

Thướt tha

 

THỨU

Thứu lãnh

 

 

 

 

 

 

 

 

TH

 

THA

1.- Tha là miễn chấp, tức bỏ qua, không trách cứ hoặc trừng phạt.

Như: Tha tội chết, tội ác trời đất không dung tha, nó xúc phạm đến mà vẫn được tha lỗi cho.

Thánh giáo Thầy dạy Giáo Sư Ngọc Kinh Thanh có câu: Thầy đã hiểu lòng con ăn năn sám hối, nên Thầy đã tha tội trước cho con rồi.

Xin tha hoạ gởi tai rơi,

Hồn linh nhờ có ơn Trời chứng minh.

(Kinh Thế Đạo).

Ai sau gót giây lâu như nói,

Xin người thương tha lỗi khi xưa.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Tha là giữ chặt bằng miệng, bằng mỏ mà mang đi.

Như: Cọp tha xác con nai, chim quạ bay tha mồi, kiến tha lâu đầy tổ.

Kìa ong kiến tha mồi dành để,

Cơn khốn cùng có thể nuôi thân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

3.- Tha là kẻ khác, cái khác. Như: Tha nhân, tha hương, tha bang, lòng vị tha.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Nhớ công ơn Ðức Ngài, chúng ta phải noi theo gương vị tha và đức chí thành của Ðức Ngài, tức là phải quên mình để phục vụ, cố gắng làm nên để cho nhơn sanh hưởng nhờ và cương quyết theo hoài bão xây dựng cho đến mức thành công.

Với tánh vị tha người vẫn sẵn,

Và lòng tri túc tớ hằng yên.

(Thơ Huệ Ngàn).

 

 

THA BANG

他 邦

Tha: Khác. Bang: Nước.

Tha bang, đồng nghĩa với chữ “Ngoại bang”, là chỉ một nước khác, nước ngoài.

Như: Nền chính trị đất nước đang rối loạn, trong thì nịnh thần làm loạn ngoài thì giặc tha bang.

Nợ cung kiếm chiến chinh là nghiệp,

Giúp quốc dân sánh kịp tha bang.

(Kinh Cúng Chiến Sĩ).

Giang san bốn ngàn năm tổ nghiệp,

Văn hoá so cũng kịp tha bang.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

THA CHỦNG

他 種

Tha: Khác. Chủng: Dòng, giống.

Tha chủng là khác giống, tức người nước khác. Ý chỉ dân tộc khác.

Như: Nước mình không ở, lại đi sống với tha chủng.

Tương lai gởi lại tay tha chủng,

Mai một thương cho đám việt kiều.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

THA GIÁC

他 覺

Tha: Người khác. Giác: Tỉnh ngộ.

Tha giác là giác ngộ người khác. Mình biết sám hối tu hành là tự giác, rồi đi thức tỉnh người khác gọi là tha giác, hay giác tha.

Tồn tâm tự giác nhi tha giác,

Dưỡng tánh canh tân hựu nhựt tân.

(Thơ Thân Dân).

 

 

THA HƯƠNG

他 鄉

Tha: Khác. Hương: Làng.

Tha hương tức là nơi đất khách quê người, chẳng phải làng sinh sống của mình.

Thành ngữ “Viễn xứ tha hương 遠 處 他 鄉” là xứ lạ quê người.

Trong Pháp Chánh Truyền Chú Giải có câu: Người (Thông Sự) phải chăm nom, binh vực những kẻ cô thế, bất câu người có Đạo hay là ngoại Đạo, hoặc là bị tai nạn thình lình, hoặc bị nghèo nàn, đói khó, hoặc bị bịnh hoạn, cô thân, hoặc bị tha hương lữ thứ, hoặc bị yếu tha già thải, người đặng trọn quyền buộc Phó Trị Sự phải liệu phương giúp đỡ.

Viễn xứ tha hương sầu quạnh quẽ,

Mây vầng Tần lãnh buổi chiều hôm.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

THA NHÂN

他 人

Hay “Tha nhơn”.

Tha: Khác. Nhân (Nhơn): Người.

Tha nhân, còn đọc “Tha nhơn”, là người khác.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Sợ e gia đình nào mực thước, thảng có điều vô phúc ấy sẽ xử đứa làm nhục đó, hình phạt nặng nề hơn kẻ tha nhơn.

Lòng công bình trên dưới ngợi khen,

Tâm chánh trực tha nhân sùng kính.

(Điếu Văn Đầu Sư).

 

 

THA PHƯƠNG

他 方

Tha: Khác. Phương: Phương hướng.

Tha phương là phương khác, phương lạ. Như: Tha phương cầu thực.

Đức Chí Tôn dạy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển như sau: Thầy đã có lời dặn con về việc phổ độ tha phương thì con cứ đó mà làm. Nhưng trước hết phải hiệp nhau mà bàn tính.

Mẹ già bận nỗi khôn ai đỡ,

Con trẻ tha phương chẳng kẻ dìu.

(Đầu Sư Hương Hiếu).

Lạnh nào hơn cái lạnh tha phương,

Giá buốt chiều đông thắm hận trường.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

THA QUẢ VONG CĂN

Tha quả: Tha thứ quả nghiệp xấu đã gây ra từ kiếp trước. Vong căn 亡 根: Bỏ đi cái căn quả dữ đã tạo ra.

Tha quả vong căn là tha thứ căn quả.

Căn là cái gốc rễ của việc làm ác từ kiếp trước, gây ra tai hoạ cho kiếp này phải đền trả.

Do gốc rễ đó mà kiếp sống của con người phải thọ lãnh cái nghiệp quả: Nếu kiếp trước làm điều lành thì kiếp này nhận được thiện quả; nếu kiếp trước làm những điều hung ác thì kiếp này phải lãnh ác căn. Như vậy, căn tạo thành cái quả cho con người phải thọ nhận, nên người ta thường gọi căn quả hay căn nghiệp.

Chốn Tây phương đường đi thong thả,

Cõi Diêm Cung tha quả vong căn.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

THA TÍN

他 信

Tha: Người khác, chỉ ngôi thứ ba. Tín: Tin tưởng.

Tha tín là tin tưởng nơi người khác.

Trong Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp, Tha tín có nghĩa: Là ta biết quang tiền dụ hậu, ta tin nơi ông Thầy dạy ta học các bài vở để lập thân cho nên người cao quý, lại có nhiều người trong xã hội chẳng phải họ cố ý dạy ta học, nhưng cái sở hành của họ, mọi điều phải trái lành dữ tội phước, thì nó thường hiện ra trước mặt ta, đó là một bài học, nên chú ý, rồi ta mới gồm tất cả mọi sự hành vi của người đời, ta sẽ lập lại làm quyển sách thứ nhì nữa, ta mới cân phân, lừa lọc, tuyển chọn điều hay lẽ phải, ta đem để lên Linh Ðài (tức là khối óc của ta) đặng làm phương pháp bảo vệ trường tồn tánh mạng của ta ấy là Tha tín.

Lập vị dạy dỗ điều lành,

Tự Tín, Tha Tín sở hành tu thân.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

THA THỨ

Tha: Thả ra, xá, không chấp. Thứ: Tha, bỏ cho qua, thứ lỗi.

Tha thứ là bỏ qua không trách cứ hoặc trừng phạt. Như: Tha thức lỗi lầm cho chị ấy.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: không chuyện chi cần, Thầy không muốn làm nhọc chư Tiên và chư Thần, mỗi vị đều có trách nhiệm riêng, con hiểu à! Xem đó thì các con khá dè dặt, kỉnh Thần, Thánh cho lắm, vì Thầy là bực Chí Tôn, lòng hay quảng đại mà tha thứ, chớ Thần, Thánh, hễ các con có lỗi thì cứ Thiên điều mà quở phạt các con, nghe à!

Nhờ Hậu thổ xương tàn gìn giữ,

Nghĩa Chí Tôn tha thứ tiền khiên.

(Kinh Tận Độ).

Chở che khách tục hay tha thứ,

Yêu mến tăng đồ biết vực binh.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Tập trẻ đặng rộng lòng tha thứ,

Thì trẻ đà lánh dữ gần hiền.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

THA THƯỚT

Tha thướt, như chữ “Thướt tha”, là có dáng cao rủ dài xuống, chuyển động một cách mềm mại, uyển chuyển.

Tha thướt là mềm mại có vẻ dong dỏng cao, nói hình dáng của người phụ nữ đẹp.

Như: Chị ấy có dáng đi yểu điệu, tha thướt.

Bầy én dập dìu mừng ríu rít,

Khóm tòng tha thướt vẻ đoan trang.

(Thơ Hiến Pháp).

Tha thướt cành mai khoe trước ngõ,

Lẳng lơ chiếc bướm lượn ngoài sân.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

THÀ

Thà có nghĩa là đành thế còn hơn. Như: Thà chết không chịu nhục, thà chịu đau chứ không bôi thuốc.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy hằng nói với các con rằng: Thà là các con lỗi với Thầy thì Thầy vì lòng từ bi mà tha thứ, chớ chẳng nên động đến oai linh chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, vì họ chẳng tha thứ bao giờ.

Sợ đàn em dại u ơ,

Khổ thà cam khổ cũng thờ dưỡng nghi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

THÀ CAM

Thà: Đành thế còn hơn. Cam: Chịu, đành.

Thà cam là đành phải cam chịu, thà rằng cam chịu.

Nói về đức tính của Ngài Quan Thánh, Thuyết Đạo Thượng Sanh có đoạn: Tánh Ðức Ngài trọng nghĩa như Thái Sơn, nay thấy kẻ yếu thế đã hạ mình, phần Tào Tháo thiết tha khẩn cầu, phần binh tướng Tào Tháo khép nép rơi lụy nên Ðức Ngài động lòng cảm niệm quay ngựa ra lịnh cho binh mã của mình dang ra để cho Tào Tháo và binh tướng đều chạy qua khỏi, không giết người dưới ngựa, mặc dù có lập sanh tử trạng, thà cam chịu chết để trả xong ơn nghĩa, từ cổ chí kim không có người thứ hai như vậy.

Thà cam vui chốn động Đào,

Đừng vì nhớ trẻ trở vào phàm gian.

(Kinh Thế Đạo).

Thà cam chết sống với tình,

Chia tay chẳng chịu sớm đành phụ nhau.

(Thất Nương Giáng Bút).

Sợ đàn em dại u ơ,

Khổ thà cam khổ cũng thờ dưỡng nghi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

THÀ XUỐNG ÂM CUNG CHIA KHỔ TỘI

Thà xuống Âm Cung chia khổ tội”, đây là một câu thơ của Thất Nương Diêu Trì Cung tỏ bày niềm hiếu đạo trong một một đàn cơ với Đức Hộ Pháp.

Do sự tích như sau: Cô Thất Nương Diêu Trì Cung có tái kiếp xuống trần vào một gia đình họ Vương ở Chợ Lớn. Cô sanh năm Canh Tý (1900), có tên là Vương Thị Lễ, thân phụ là Vương Quan Trân làm Đốc Phủ, thân mẫu là Đỗ Thị Sang, con gái của Tổng Đốc Nguyễn Hữu Phương.

Cô Vương Thị Lễ, sau một cơn bịnh nặng, trút hơi thở cuối cùng vào 25 tháng 10 năm Mậu Ngọ (Dl. 28-11-1918), hưởng dương được 19 tuổi.

Cô Vương Thị Lễ chết đi, cảm thấy mình chưa làm tròn chữ hiếu của người con, nên trong một đàn cơ vào năm Ất Sửu (1925), có mặt ông Vương Quan Trân, cô giáng cho cha bài thi như sau:

Cúi lạy thân sinh thứ lỗi con,

Âm dương tuy cách, hiếu tâm còn.

Hồn quê níu nắm tình non nước,

Phách quế náu nương dạ sắt son.

Ác lặn hiên Đoài già nhắc nhỏm,

Nguyệt trầm non Thái trẻ thon von.

Thấy nhau thêm tủi đường ly biệt,

Đá nát xương tan nghĩa vẫn còn.

Theo lời Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa, thuyết đạo tại Đền Thánh vào ngày 22 tháng 11 năm Đinh Hợi (1947) nói Ngọc Hư Cung có cho biết:

Vào năm 1929, cô Thất Nương (Vương Thị Lễ) hay tin thân phụ là Vương Quang Trân quy liễu, bị tội đoạ nơi Diêm Cung. Cô Thất Nương lén bỏ Diêu Trì Cung đặng đi xuống Diêm Cung để thức tỉnh cha của cô.

Vì phế phận nên Ngọc Hư Cung bắt tội Thất Nương, làm cho Diêu Trì Cung náo nhiệt, nhứt là Bát Nương, sợ cho Thất Nương bị tội ấy mà thất vị. Bát Nương mới giáng cơ báo tin cho Đức Phạm Hộ Pháp hay và yêu cầu Đức Hộ Pháp xin với Ngọc Hư Cung ân xá cho Thất Nương.

Đức Hộ Pháp liền lập đàn cơ, Thất Nương giáng tỏ bày nỗi niềm hiếu đạo:

Hỏi ai có biết hiếu ra sao?

Chín chữ cù lao giá thế nào?

Hình vóc cảnh Tiên còn dính máu,

Chơn Thần nước Phật giữ thai bào.

Nỗi riêng chưa vẹn thân từ phụ,

Nghĩa nặng đeo đai phận má đào.

Thà xuống Âm Cung chia khổ tội,

Cha vầy, ai nỡ ngự đài cao!

Đức Hộ Pháp đọc bài thi rồi thì xúc động từ tâm, nghĩ vì luật pháp quá nghiêm khắc, e rằng mặt thế nầy không ai tránh khỏi tội. Cô Thất Nương vì chữ hiếu mà phải bị phạt, thế thì luật công bình có lẽ còn chỗ khuyết điểm chăng?

Đức Hộ Pháp quyết định dâng sớ lên Đức Chí Tôn xin tội cho Thất Nương.

Đức Chí Tôn nhận được tờ sớ, liền giao cho Đức Lý Thái Bạch và nói rằng: Con coi, Tắc nó trách Thầy, ắt nó chưa hiểu rõ Luật công bình Thiên Điều thế nào, con cũng nên đến giải cho nó đặng hiểu.

Vâng lịnh Đức Chí Tôn, Đức Lý Giáo Tông giáng cơ nói cho Đức Hộ Pháp hiểu rõ và cho bài thi về Luật Công Bình Thiêng Liêng:

Phải giữ chơn linh đặng trọn lành,

Ngọc Hư toàn ngự đấng tinh anh.

Luật điều Cổ Phật không chừa tội,

Hình phạt Chí Tôn chẳng vị tình.

Chánh trực kinh oai loài giả dối,

Công bình vùa sức kẻ chơn thành.

Mũi kim chẳng lọt xưa nay hẳn,

Biết sợ xin khuyên cẩn thận mình.

Sau đó, Ngài Tiếp Đạo Cao Đức Trọng có thuyết đạo vào thời tý tại Đền Thánh ngày 15 tháng 12 năm Đinh Hợi (1947) nói về chữ hiếu của Thất Nương Diêu Trì Cung như sau:

“Thất Nương vì hiếu, khi hay tin cha mẹ mắc tội nơi Phong đô, liền bỏ cung Diêu Trì, xuống đó độ rỗi nên bị Thiên Đình bắt tội.

Đã hai kiếp sanh khổ vì tình, vì hiếu, nên sau khi Thất Nương được đặc ân của Ngọc Hư Cung xá tội, liền tình nguyện đến cõi Âm Quang độ rỗi các chơn hồn thất thệ, đặng trả nghĩa cho Thầy.

Trước khi đi trong một kỳ đàn, Thất Nương có đến từ giã, để lời than với Đức Hộ Pháp và một vài chức sắc Hiệp Thiên Đài. Bài thơ ấy như sau:

Hai kiếp đeo đai lắm nợ trần,

Cái thân vì khổ bận cho thân.

Niềm duyên đổ ngọc lan phòng nguyệt,

Nỗi hiếu rơi châu tưới mộ phần.

Giữ đạo mong chờ ngày độc tịch,

Bán mình quyết cứu độ song thân.

Nước non càng ngắm càng thêm chạnh,

Chạnh thảm khi mang mảnh xác trần.

Thất Nương là một một vị Nữ Phật thứ bảy trong hàng Cửu Vị Nữ Phật mà còn không tránh khỏi khổ. Đó là bài học của tâm hồn trí não, nếu tránh được khổ thì trên con đường lập vị, chúng ta rất may duyên sẽ gặp đặng Đức Chí Tôn mà hằng ngày Người hằng trông ngóng”.

Thà xuống Âm Cung chia khổ tội,

Cha vầy, ai nỡ ngự đài cao!

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

THẢ

1.- Thả là buông ra, không cầm giữ, để tự do hoạt động. Như: Thả chó, thả tù binh, thả thuyền xuống nước.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: Chung quanh các con, dầu xa dầu gần, Thầy đã thả một lũ hổ lang ở lộn với các con.

Rước voi phá mã đào lăng miếu,

Thả rắn xua ong nhiễu điện tà.

(Đạo Sử).

Trai đừng thấy đỗ hoa vội vã,

Thả con ong nút phá nhụy hồng.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Thả là bỏ xuống dòng nước nhằm một một mục đích nào đó.

Như: Thả cá nuôi, thả rau muống dưới ao, thả rong, thả theo dòng trôi.

Lời hẹn xưa còn vầng nguyệt chứng,

Hương thề nay thả giữa dòng trôi.

(Thất Nương Giáng Bút).

Trông tin nhạn về đông mòn mỏi,

Thả lá hồng biết hỏi nơi ai?

(Nữ Trung Tùng Phận).

3.- Thả là buông cho rũ thẳng xuống.

Như: Thả mành cửa che gió, máy bay thả dù, thuyền câu thả lưới, đầu thả tóc.

Nhưng choàng ngang trên đầu một đoạn vải mỏng, cột ra sau ót, thả một mí dài một mí vắn, ngay đầu tóc có giắt một bông sen.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

THẢ LÁ

Thả: Bỏ xuống dòng nước nhằm một một mục đích nào đó. Lá: Bộ phận của cây, mọc ở cành, nhánh.

Thả lá viết bài thơ vào chiếc lá, rồi đem thả trôi theo dòng nước.

Do tích: Vu Hựu đời Đường nhặt được chiếc lá đỏ trong dòng ngự câu trôi ra, có đề bài thơ rằng: Lưu thuỷ hà thái cấp, thâm cung tận nhật nhàn, ân cần tạ hồng diệp, hảo khứ đáo nhân gian 流 水 何 太 急, 深 宮 盡 日 閒. 慇 勤 謝 紅 葉, 好 去 到 人 間, nghĩa là nước chảy sao vội quá, trong cung sâu trôi suốt ngày, ân cần từ giã chiếc lá đỏ, hãy đi tới nhân gian cho tốt.

Vu Hựu cũng đề một bài thơ vào chiếc lá khác thả trên giòng nước cho trôi vào cung. Cung nữ là Hàn Thúy Tần nhặt được cất đi.

 Mười năm sau nhà vua có dịp thải cung nữ, tình cờ Vu Hựu cùng Hàn Thúy Tần kết duyên với nhau, cùng đem chiếc lá đỏ có đề thơ khi trước ra coi, té ra chiếc lá đề thơ là người mối Thuý Tần có thơ rằng: Nhất liên thi cú tuỳ lưu thuỷ, thập tải ưu tư mãn tố hoài, kim nhật đô thành loạn phượng hữu, phương tri hồng diệp thị lương môi 一 聯 詩 句 隨 流 水, 十 載 幽 思 滿 素 懷. 今 日 都 成 鸞 鳳 友, 方 知 紅 葉 是 良 媒, nghĩa là một tập câu thơ theo nước chảy, nỗi nhớ thầm chứa chất trong lòng mười năm, ngày nay đều thành bạn loan phượng, mới biết lá đỏ là người mối tốt.

Xem: Lá Hồng.

Khó toan thả lá trao lời ngọc,

Không thể biên thư gửi gió ngàn.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

THẢ LÁ HỒNG

Thả: Bỏ xuống dòng nước nhằm một một mục đích nào đó. Lá hồng: Hay lá vàng, là lá cây bị úa vàng sắp rụng.

Thả lá hồng tức đề thơ trên chiếc lá hồng rồi thả xuống dòng ngự câu.

Do tích cung nữ Hàn Thúy Tần và Vu Hựu đề thơ trên lá hồng, thả xuống dòng nước, trao đổi cho nhau.

Sau Hai người tình cờ kết duyên nhau, cho chiếc lá hồng là vật đã làm mai mối.

Xem: Lá hồng.

Trông tin nhạn về đông mòn mỏi,

Thả lá hồng biết hỏi nơi ai?

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

THÁC

Thác là chết. Như: Sống thác, sống gởi thác về.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Sự thác cũng có khi vui mà cũng có lúc buồn. Người thế nếu biết sống, nghĩa là biết dụng mình cho có ích vào xã hội, biết dưỡng tánh tu thân, thì sự thác chẳng qua là sự mong mỏi của kẻ hành trình đã xong trách nhậm, trở về phục sự đặng lãnh phần thưởng xứng đáng mà thôi.

Âm đài gông tróng sẵn sàng,

Chờ khi thác xuống cổ mang hành hình.

(Kinh Sám Hối).

Không đành nói thác ra ma.

Không đành nói ngụ nơi nhà lầu xanh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

THÁC SỐNG

Thác: Chết. Sống: Có sinh khí và hoạt động.

Thác sống, như chữ “Sống thác”, là chỉ việc chết và sống của con người.

Thác sống còn dùng để chỉ thái độ quyết liệt, một mất một còn.

Xem: Sống thác.

Niềm chồng vợ vui buồn chung cộng,

Chữ ái ân thác sống gởi thịt xương.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

THÁCH

Thách là nói khích nhằm làm cho người khác dám đương đầu một việc gì đó, hoặc thi tài với mình.

Như: Thách dám làm việc ấy, thách đấu gươm, thách nhau cùng chạy về nhà, thử thách.

Thánh giáo Thầy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, có đoạn: Quỷ Vương đến trước Bạch Ngọc Kinh xin hành xác và thử thách các con. Thầy chẳng chịu cho hành xác.

Dụng văn hoá trau tria nữ phách,

Lấy kinh luân thúc thách quần hồng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

THẠCH BÀN

石 盤

Thạch: Đá. Bàn: Cái mâm.

Thạch bàn là phiến đá lớn như cái mâm, ở Bàn Khê trên dòng sông Vị, nơi Lữ Vọng sống ẩn dật, ngồi câu cá khi chưa gặp thời.

Nghĩa bóng: Chỉ nơi ẩn dật.

Xem: Lữ Vọng.

Tử Nha ngồi chốn thạch bàn,

Thả câu sông Vị ẩn tàng Thiên cơ.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

THẠCH ĐỘNG

石 峒

Thạch: Đá. Động: Cái hang núi, hang động.

Thạch động là cái hang núi, động bằng đá, chỉ nơi tu hành hoặc nơi các vị Tiên ở.

Như: Các vị Tiên thường vào thạch động để tu hành.

Chẳng ham danh lợi chẳng mê trần,

Thạch động tu hành thân độ thân.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

THẠCH SÙNG VƯƠNG KHẢI

石 崇 王 愷

Thạch Sùng 石 崇 người đời Tây Tấn, tên chữ là Quý Luân, hiệu là Tề Nô, ông có tư chất thông minh, nhiều mưu trí ngay từ thuở nhỏ. Cha ông là Thạch Bào, lúc gần chết, chia gia tài cho các con thì Thạch Sùng được phần ít nhất. Bà vợ thấy vậy hỏi chồng: Tại sao không chia đều cho các con?

Thạch Bào đáp: Tuy bây giờ chia cho nó ít, nhưng ngày sau nó sẽ giàu hơn mấy đứa kia gấp bội.

Năm 20 tuổi, Thạch Sùng nhờ tài năng nên được bổ làm quan lệnh Tu Vũ, rồi sau đổi ra làm Thái thú Thành Dương. Đến đời Tấn Vũ Đế, Thạch Sùng làm Thứ sử Kinh Châu, kiêm chức Hiệu úy Nam man. Nhờ tư thông với giặc cướp, cướp của những người đi buôn, nên chẳng bao lâu, Thạch Sùng trở nên đại phú.

Thạch Sùng cất một biệt thự rất tráng lệ ở Lũng Kim Cốc dành cho người thiếp yêu, xinh đẹp là Lục Châu ở và cùng với các bạn là Vương Khải, Dương Tú thường hội họp tại đây để ăn uống, chơi bời xa xỉ, nổi tiếng là nhân vật giàu có nhứt đương thời.

Trong triều thời bấy giớ có vị Tướng quốc là Tư Mã Luân tin dùng một gia thần là Tôn Tú.

Tôn Tú nghe nói Thạch Sùng có nàng ái cơ tên là Lục Châu nhan sắc xinh đẹp, lại thêm cầm kỳ thi hoạ, giỏi múa hát, được Thạch Sùng yêu mến, để ở riêng trên lầu Kim Cốc. Tôn Tú bèn sai sứ đến gặp Thạch Sùng nói: Quan Thị Trung xin ngài đưa Lục Châu tôi rước về dâng cho Tướng quốc.

Thạch Sùng bảo: Không được, Lục Châu là ái cơ của ta, dẫu thế nào cũng không cho bắt.

Sứ phải trở về báo lại với Tôn Tú. Tôn Tú nghe qua cả giận, bèn vào bẩm với Tư Mã Luân: Thạch Sùng, Phan Nhạc có ý phản, ỷ thế giàu có âm mưu làm loạn, nếu bây giờ không trừ, sau hối không kịp.

Tư Mã Luân nói: Nếu thế thì cứ bắt nó giết đi.

Tôn Tú được lệnh, đem 200 quân đến vây nhà Thạch Sùng vào bắt nàng Lục Châu. Lục Châu nhảy từ lầu cao xuống đất tự tử, không chịu về với Tôn Tú. Rồi quân lính bắt Thạch Sùng giải đến pháp trường xử tử. Thạch Sùng bị chém chết, gia sản bị tịch thu. Năm đó ông 52 tuổi.

Tương truyền, Thạch Sùng sau khi bị giết chết hoá ra con thằn lằn (thạch sùng), vì tiếc của, nên suốt ngày cứ chắc lưỡi.

Thời bấy giờ ở đất Đông Hải có Vương Khải 王 愷, làm quan đến chức Hậu Tướng quân, có người chị làm Hoàng Hậu, nổi tiếng là giàu có, xa xỉ cũng vào bậc nhứt, thường cùng Thạch Sùng trang sức nhà cửa rất sang trọng và ăn mặc cực kỳ xài phí.

Thạch Sùng và Vương Khải thường bày trò thi của. Thạch Sùng nghe nói Vương Khải lấy mật rửa chảo, Thạch Sùng bèn ra lịnh cho đầy tớ dùng nến đốt lửa thay củi. Việc nầy truyền đi, ai cũng nói Thạch Sùng và Vương Khải vô cùng xa xỉ.

Vương Khải muốn khoe sự giàu có của mình, trên con đường dẫn tới tư dinh, suốt bốn mươi dặm, cho người lấy trướng lụa đem ra trải suốt con đường. Thạch Sùng muốn hơn Vương Khải, cũng đem trướng lụa ra trải, dài được 50 dặm. Vương Khải dùng phấn đá đỏ quét vôi nhà thì Thạch Sùng lại dùng hồ tiêu quét lên vách.

Theo Kho Tàng Truyện Cổ Việt Nam, Vương Khải thường đem vật quý ra đấu phú, đều thua Thạch Sùng, nên mới dùng kế đem nồi bể ra thi đấu. Thạch Sùng không có, Vương Khải nhờ đó mà được thắng.

Kìa Bá Di, Thúc Tề,

mượn cảnh không dứt rồi mối tệ,

Nọ Thạch Sùng, Vương Khải,

cũng danh tiếng ai có kể ra gì?

(Giác Mê Khải Ngộ).

 

 

THAI

1.- Thai là thể sống đang hình thành và lớn lên trong bụng mẹ. Như: Đàn bà có thai, đầu thai.

Nói về tiểu sử Đức Jésus Christ, Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Khi đó bà đã có thai gần ngày sanh, nghĩ mình đã có căn tu, đến ngày Ðại Lễ không thể ở nhà được, bụng mang dạ chửa, cũng rán đi đến chầu lễ thường lệ.

Phạt răn quến gái, dụ trai,

Bày ra thuốc độc, phá thai tuyệt loài.

(Kinh Sám Hối).

2.- Thai là ngọn núi, tiếng kết hợp với từ “Thiên”, thành “Thiên thai”, dùng để chỉ cõi Tiên.

Như: Tam thai, động Thiên thai.

Cõi Thanh Thiên lên miền Bồng Đảo,

Động Thiên Thai bảy Lão đón đường,

(Kinh Tận Độ).

Thiên Thai nào phải tại trần nầy,

Chẳng phải giữa Trời, chẳng phải mây.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Dò đon cho rõ nẻo Thiên thai,

Cái tiếng tài khen chẳng phải tài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

THAI BÀO

胎 胞

Thai: Thể sống hình thành và lớn lên trong bụng mẹ. Bào: Cái thai.

Thai bào, bởi chữ “Bào thai 胞 胎”, là chỉ cái thai nằm trong bụng người mẹ.

Như: Thai bào tượng trong bụng bà mẹ phải đủ chín tháng mười ngày.

Hình vóc cảnh Tiên còn dính máu,

Chơn Thần nước Phật giữ thai bào.

(Thất Nương Giáng Bút).

Dầu lớn khôn tước cả quyền cao,

Cũng nhớ thuở thai bào công chín tháng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

THÁI ẤT THIÊN TÔN

太 乙 天 尊

Thái Ất Thiên Tôn là một vị đại Tiên, học trò của Nguơn Thỉ Thiên Tôn, thầy của Tam Thái Bảo Na Tra, đời nhà Châu.

Thái Ất Thiên Tôn có nhiệm vụ chưởng quản bộ sổ ở cõi Phong Đô.

Cứu khổ nàn Thái Ất Thiên Tôn,

Miền Âm cảnh ngục môn khai giải.

(Kinh Tận Độ).

 

 

THÁI BẠCH

太 白

Thái Bạch, còn gọi là “Lý Bạch 李 白”, quê ở đất Thục, làng Thanh Liên, huyện Xương Minh, tỉnh Tứ Xuyên, hiệu là Thanh Liên Cư Sĩ, là một thi hào bậc nhứt đời Đường, tính tình hào hiệp, thích uống rượu ngâm thơ.

Khi sinh Ngài, Bà Mẹ nằm mộng thấy sao Kim, tức sao Trường Canh hay sao Thái Bạch Kim Tinh sa xuống mình của Bà, nên đặt tên cho Ngài là Lý Thái Bạch, gọi tắt là Lý Bạch.

Hồi được bảy tuổi, Lý Thái Bạch chưa biết nói, nhưng khi bà mẹ bồng lên lầu, bổng nhiên Ngài ngâm được bốn câu thơ mà ý thực quái dị: Nguy lâu cao bách xích, Thủ khả trích tinh thần. Bất cảm cao thanh ngữ, Khủng kinh thiên thượng nhân 不 敢 高 聲 語 手 可 摘 星 晨. 危 樓 高 百 尺, 恐 驚 天 上 人, nghĩa là: Vòi vọi lầu trăm thước, Vói tay hái được sao. Chỉ e nói lớn tiếng, Kinh động Tiên trên cao.

Lớn lên, Thái Bạch tướng mạo khôi ngô, cốt cách thanh kỳ, thông minh dĩnh ngộ. Lúc thiếu thời Ngài có tài văn chương, nổi tiếng là một thi gia, được người đương thời tặng danh hiệu là “Ông Tiên bị đày” (Thiên thượng trích Tiên nhân 天 上 謫 仙 人).

Bản tính của Ngài không ham danh lợi, thích đi chơi khắp các danh thắng ở bờ sông Trường giang, giao du với những ẩn sĩ mà đời gọi là Trúc Khê lục dật.

Năm 30 tuổi danh tiếng của Lý Thái Bạch chói lọi khắp mọi nơi, không ai mà chẳng biết đến Ngài. Một hôm, Ngài vào một quán rượu ở đất Hồ Châu, ngồi trên lầu uống rượu ngâm thơ.

Lúc đó vị quan Tư Mã đất Hồ Châu là Giả Diệp đi ngang qua, nghe tiếng Thái Bạch ngâm thơ, bèn sai người hỏi xem ai?

Lý Thái Bạch liền đáp bằng bốn câu thơ:

Thanh Liên Cư sĩ, Tiên trần giới,

Quán rượu ba mươi tuổi chẳng cầu.

Tư Mã Hồ Châu sao khéo hỏi,

Như Lai kim túc ấy thân sau.

Giả Diệp nghe qua giật mình hỏi: Ông có phải là Lý Trích Tiên ở đất Thục đó chăng?

Rồi Giả Diệp ân cần mời Lý Bạch về tư dinh đàm đạo, thơ rượu suốt mười ngày và thành thật khuyên Ngài đi Trường An ứng thí.

Sau Ngài được vua phong đến chức Hàn lâm học sĩ, nhưng vì không ham danh lợi, quyền tước, nên Ngài không chăm lo việc nước, mà chỉ uống ruợu ngâm thi mà thôi.

Vua Đường Huyền Tôn rất trọng Ngài, nhưng Ngài không như bọn phàm phu khác, chịu đem cái tài hoa của mình nịnh nọt bọn vương hầu, trái lại, Ngài xin trở về hưởng nhàn. Có lần say ruợu Ngài ngâm nga chí của mình, coi đời như giấc mộng, bon chen làm chi cho cực lòng.

 

處 世 若 大 夢

 

Xử thế nhược đại mộng

 

胡 為 勞 其 生

 

Hồ vi lao kỳ sinh?

 

所 以 終 日 醉

 

Sở dĩ chung nhật tuý,

 

頹 然 臥 前 楹

 

Đồi nhiên ngọa tiền doanh.

 

覺 來 眄 庭 前

 

Giác lai miện đình tiền,

 

一 鳥 花 間 鳴

 

Nhất điểu hoa gian minh.

 

借 問 此 何 日

 

Tá vấn thử hà nhật?

 

春 風 語 流 鶯

 

Xuân phong ngữ lưu oanh.

 

感 之 欲 嘆 息

 

Cảm chi dục thán tức,

 

對 之 還 自 傾

 

Đối chi hoàn tự khuynh.

 

浩 歌 待 明 月

 

Hạo ca đãi minh nguyệt,

 

曲 盡 已 忘 情

 

Khúc tận dĩ vong tình.

Nghĩa là:

Ở đời tựa giấc chiêm bao,

Làm chi mà phải lao đao nhọc mình.

Suốt ngày mượn chén khuây tình,

Say rồi nghiêng ngửa bên mành hàng ba.

Tỉnh ra trông mé trước nhà,

Một con chim hót trong hoa ngọt ngào.

Hỏi xem ngày ấy ngày nào,

Chim oanh ríu rít đón chào gió đông.

Thở than cảm xúc nỗi lòng,

Chuốc thêm ít chén say cùng cảnh vui.

Hát ngao chờ bóng trăng soi,

Ca vừa dứt khúc, đã nguôi mối tình.

(Trần Trọng Kim dịch).

Bạn của Thái Bạch là Hạ Tri Chương xem ông như trích tiên xuống trần, mới tiến cử đến Đường Huyền Tông, được vua phong chức Hàn lâm, và rất được yêu kính. Sau bị Cao Lực Sĩ gièm pha với Dương Quý Phi, nên vua không tin dùng nữa và đuổi về.

Nhân loạn An Lộc Sơn, Lý Thái Bạch bị liên can với Lân Đương nên bị bắt giam, rồi bị đày, sau được đại xá. Đời vua Túc Tông 762, Lý Bạch mất, thọ 61 tuổi.

Trong Đạo Cao Đài, Lý Thái Bạch được Đức Chí Tôn phong làm Nhứt Trấn Oai Nghiêm, kiêm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: Thầy vì lòng từ bi thương môn đệ phong tịch lần nầy là lần chót, vì Tân Luật đã hoàn toàn, nếu chẳng do theo đó thì Lý Bạch hằng kêu nài, Quan Thánh và Quan Âm cũng hiệp sức mà dâng sớ kêu về sự ấy.

Linh Tiêu Thái Bạch Trường Canh,

Truyền tâu Đế Khuyết dữ lành nhơn gian.

(Xưng Tụng Công Đức).

Ánh Thái Cực biến sanh Thái Bạch,

Hiện Kim Tinh trọng trách Linh Tiêu.

(Đạo Sử).

 

 

THÁI BẠCH KIM TINH

太 白 金 星

Hay “Thái Bạch Trường Canh”.

Thái Bạch là một vì sao Kim (hay Kim Tinh), còn được gọi là sao Trường Canh.

Thái Bạch Kim Tinh, hay “Thái Bạch Trường Canh 太 白 長 庚”, nói tắt “Thái Bạch”, là một vị Tinh Quân cai quản ngôi sao Thái Bạch.

Vị Tinh Quân nầy giáng trần vào thời nhà Đường bên Trung Hoa. Bà mẹ nằm chiêm bao thấy sao Thái Bạch (sao Trường Canh) rơi vào lòng bà, sau đó bà sinh ra người con trai đặt tên là Lý Thái Bạch. Lớn lên Lý Thái Bạch là một đại thi gia đời nhà Đường.

Trong đạo Cao Đài, Lý Thái Bạch là một vị Đại Tiên Trưởng, thọ lịnh Đức Chí Tôn làm Nhứt Trấn Oai Nghiêm cầm quyền Tiên Giáo và kiêm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Xem: Lý Bạch.

1.- Thái Bạch Kim Tinh:

Thái Bạch Kim Tinh đương trị thế,

Trường Canh Trích Tử đến thăm trần.

(Đức Lý Giáo Tông).

2.- Thái Bạch Trường Canh:

Linh Tiêu Thái Bạch Trường Canh,

Truyền tâu Đế Khuyết dữ lành nhơn gian.

(Xưng Tụng Công Đức).

 

 

THÁI BÌNH

太 平

Thái: Rất. Bình: Yên ổn.

Thái bình đồng nghĩa với chữ thanh bình, chỉ cảnh đất nước yên ổn.

Đức Chơn Cực Lão Sư trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, có đoạn day: Chư đạo hữu phải biết rằng, Ðạo trước khi gieo truyền cho ngoại quốc, phải dìu dắt kết chặt dân sanh nơi vùng Nam nầy, đặng cùng nhau chung hợp trên con đường hoà bình, chậm rãi lần ra khỏi lối khốn khổ lao lung nơi cõi trần nầy, rồi tự tại ngâm câu thái bình. Chừng ấy, chim về cội, cá về sông, hớn hở trau lòng thiện niệm mà bước lên nấc thang thiêng liêng mới đặng.

Giúp dân hưởng chữ thái bình,

Văn ban võ bá triều đình đặc an.

(Kinh Thế Đạo).

Thái bình trăm họ nhìn chơn Chúa,

Thạnh trị ba châu trổ trí Thần.

(Đạo Sử).

Còn chi hai chữ thái bình.

Ngửa nghiêng chín bệ, gập ghình ba châu.

(Ngụ Đời).

 

 

THÁI BÌNH DƯƠNG

太 平 洋

Thái Bình: Tên một cái biển lớn. Dương: Biển.

Thái Bình Dương là một cái biển lớn trong ngũ đại dương. Thái Bình Dương ở khoảng giữa Mỹ Châu, Á Châu và Úc Châu.

Náo nhiệt Trung Huê chịu chiến trường,

Rồi đây lửa dậy Thái Bình Dương.

(Tôn Sơn Giáng Bút).

Thái Bình Dương hải chừng mô thấy,

Các nước xua bình ấy Thánh điều.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

THÁI CĂN TÁNH ĐỊNH

Thái (thể): Cải, một loại rau thường dùng để nấu canh. Căn: Rễ của các loại cây. Tánh (tính): Bản nhiên của Trời phú cho. Định: Yên ổn.

Thái căn tánh định, “Thể căn tính định 菜 根 性 定”, tức là dầu ăn rễ rau cải cũng thơm ngon.

Sách Ích Trí có câu: Tâm an mao ốc ổn, tánh định thể căn hương 心 安 茅 屋 穩, 性 定 菜 根 香, nghĩa là cái tâm yên thì ở nhà tranh cũng yên, tánh mình định, dầu ăn rễ rau cũng thơm.

Tuy là mao ốc tâm an,

Thể căn tánh định, hân hoan tinh thần.

(Thơ Thông Quang).

 

 

THÁI CÔNG TƯỚNG PHỤ

太 公 相 父

Thái Công Tướng Phụ hay: “Thái Công Tướng Phụ Quản Pháp Thiên Tôn 太 公 相 父 管 法 天 尊” là Thánh danh của Đức Khương Thái Công.

Tại Toà Thánh Tây Ninh, nơi chánh điện, ngoài quả Càn Khôn để biểu tượng cho Đức Chí Tôn, phía dưới còn có các Long vị thờ Tam vị Giáo Chủ, Tam Trấn Oai Nghiêm và Ngũ Chi Đại Đạo. Trong Ngũ Chi Đại Đạo, có một Long vị viết “Khương Thượng Tử Nha” là Đấng chủ về Thần đạo.

Khi dâng Sớ lên để tâu trình với Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu và các Đấng Thiêng liêng, trong đó, vị chủ về Thần đạo là Khương Thái Công, với Thánh danh Ngài là “Thái Công Tướng Phụ Quản Pháp Thiên Tôn 南 無 太 公 相 父 管 法 天 尊”.

Ngoài ra trong bài Kệ Chuông U Minh, lời nguyện thứ 28 cũng có câu: Nam Mô Thái Công Tướng Phụ Quản Pháp Thiên Tôn.

Thái Công

Thái Công tức “Thái Công Vọng”, tự Tử Nha, tên chữ là Lữ Vọng. Tử Nha là một vị hiền thần của vua Văn Vương, họ Khương tên Thượng, câu ở bờ sông Vị.

Khi Tây Bá Hầu Cơ Xương (sau là vua Châu Văn Vương) đi săn, gặp Khương Thượng đang câu cá ở phía bắc sông Vị. Cơ Xương bèn đến đàm luận rất tâm đầu ý hợp, nên ngưỡng mộ tài năng của Ngài.

Cơ Xương nhớ lời trước đây tổ tiên nhà Châu là “Thái Công 太 公” dặn rằng sẽ có vị Thánh đến giúp cho đất nước nhà Châu được hưng thịnh. Do đó, Cơ Xương quả quyết rằng Khương Thượng chính là người mà Thái Công mong đợi trước đây, nên ông mới tôn Tử Nha là “Thái Công Vọng 太 公 望” (có nghĩa là người mà ông Thái Công mong đợi), rồi đón Ngài lên xe chở về cung và tôn Ngài làm thầy.

Như vậy Thái Công do chữ “Thái Công Vọng” viết tắt, để gọi Tử Nha, như “Khương Thái Công”.

Tướng Phụ

Lúc thiếu thời Khương Thượng rất mộ đạo Tiên, nên tầm sư học đạo và thọ giáo Đức Nguơn Thỉ Thiên Tôn tại núi Côn Lôn. Ngài quyết chí tu hành, không màng đến việc thế tục nữa, theo thầy lo tu hơn 40 năm trên núi.

Vào thời ấy, Trụ Vương vì đắm say nữ sắc của Đắc Kỷ, không lo việc triều chính, công thần nhiều vị khuyên can đều bị giết hại, nhân dân đồ thán, giặc cướp nổi lên bốn phía, vận nước suy vi.

Nguơn Thỉ Thiên Tôn khuyên Khương Tử Nha hạ trần để phò Châu, phạt Trụ. Đức Ngài phải nghe lời Thầy xuống núi, ngồi câu ở sông Vị mới gặp được Tây Bá Hầu Cơ Xương.

Khí số nhà Thương sắp mãn, vận nước Tây Châu hưng thịnh, nên Cơ Phát lên nối nghiệp cha, xưng hiệu Võ Vương, rồi tôn Khương Thượng là “Tướng Phụ 相 父” hay “Thượng Phụ”.

Sau đó vua Châu Võ Vương lập đàn bái tướng, phong Tử Nha làm Đại Nguyên Soái, cử binh phạt Trụ. Trên mười năm mới bình định xong tứ phương, vua lên ngôi thiên tử, phong Khương Tử Nha đứng đầu các bậc khai quốc công thần, và cho làm vua nước Tề, đời đời con cháu được phụ truyền tử kế mà hưởng lộc triều đình.

Như vậy, “Tướng Phụ” cũng như chữ “Thượng Phụ” là lời tôn của vua Võ Vương để gọi Ngài Khương Thượng.

Quản Pháp

Quản: Nắm, cai quản. Pháp: Pháp thuật, huyền phép.

Quản pháp là nắm giữ về pháp thuật huyền diệu.

Sau khi diệt được nhà Ân, vua Võ Vương lên ngôi, mở ra đời thạnh trị, thiên hạ thái bình, Khương Tử Nha còn nhận được sắc chỉ của Đức Nguơn Thủy Thiên Tôn để lãnh nhiệm vụ phong thần và Ngài cầm quyền về Thần đạo, tức nắm về những huyền pháp thiêng liêng.

Thiên Tôn

Thiên tôn là một phẩm do Đức Thượng Đế phong thưởng cho các Đấng Thiêng liêng, trái với Thế Tôn là những bậc có các Đức tánh để người đời khâm phục kính ngưỡng, như: Đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn.

Trong đạo Cao Đài, Ngài Khương Thái Công cũng phong là một vì Thiên Tôn, chủ về Thần Đạo, là một trong Ngũ Chi Đại Đạo.

Như vậy “Thái Công Tướng Phụ Quản Pháp Thiên Tôn” là Thánh danh Đức “Khương Thượng Tử Nha” có nghĩa là vị Thiên Tôn chưởng quản về hàng Thần, có nhiều Pháp thuật huyền diệu và thiêng liêng.

Thái Công Tướng Phụ Quản Pháp Thiên Tôn.

(Sớ Văn).

 

 

THÁI CỰC

太 極

Thái: Lớn, rất, cả. Cực: Đầu cùng.

Thái cực là lớn nhứt đến cùng tột.

Theo Dịch học, lúc trời đất chưa phân định, còn trong thời kỳ hỗn độn thì ngôi Thái cực xuất hiện, Thái cực mới sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bát quái.

Trong hệ từ của Dịch có nói: Dịch hữu Thái cực, thị sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bát quái 易 有 太 極, 是 生 兩 儀, 兩 儀 生 四 象, 四 象 生 八 卦, nghĩa là Dịch có Thái cực, Thái cực sinh Hai nghi. Hai nghi sinh Bốn tượng, Bốn tượng sinh Bát Quái.

Theo triết lý đạo Cao Đài, Thái Cực là nguyên lý cùng của Vũ trụ, là khối Đại Linh Quang, là Đại Hồn của Thượng Đế, nên cũng được gọi là ngôi của Đức Chí Tôn.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Thầy đã nói với các con rằng: Khi chưa có chi trong Càn khôn Thế giới thì Khí Hư Vô sanh ra có một Thầy và ngôi của Thầy là Thái Cực.

Xem: Thái Cực Thánh Hoàng.

Ánh Thái Cực biến sanh Thái Bạch,

Hiện Kim Tinh trọng trách Linh Tiêu.

(Đạo Sử).

Có sen, Bông, ngó, lá, gương,

Tượng hình Thái Cực Âm Dương vận hành.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

THÁI CỰC THÁNH HOÀNG

太 極 聖 皇

Thái Cực: Ngôi Thái Cực. Theo thuyết Dịch học, nguyên thuỷ vũ trụ là khoảng không gian vô hình, thường được biểu tượng bằng một vòng tròn trống không, đó là Thái Cực.

Theo Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thái Cực là ngôi của Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế. Thầy giải thích như sau: “Khi chưa có chi trong Càn Khôn Thế Giái thì khí hư vô sanh có một mình Thầy và ngôi của Thầy là ngôi Thái Cực. Thầy phân Thái Cực ra Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi phân ra Tứ Tượng, Tứ tượng biến Bát Quái, Bát Quái biến hoá vô cùng, mới lập ra Càn Khôn Thế Giái”. Như vậy, ngôi Thái Cực có trước Trời đất và hoá sanh ra Càn Khôn vạn vật.

Thánh Hoàng: Vua Thánh, vị vua sinh hoá ra và cai quản chư Thần, Thánh, Tiên, Phật.

Chí Tôn có trước Trời đất và sinh Thần, Thánh, Tiên, Phật. Thánh giáo cho biết như sau: “Một Chơn thần Thầy mà hoá sanh thêm chư Phật, chư Tiên, chư Thánh...”

Thái Cực Thánh Hoàng là Vị vua Thánh ngự tại ngôi Thái Cực cầm quyền sinh hoá vạn vật. Đây cũng là Hồng danh của Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Đại La Thiên Đế,

Thái Cực Thánh Hoàng.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

THÁI DƯƠNG

太 陽

Âm dương là hai cực trong Dịch lý, có tính trái ngược nhau: Âm là đàn bà, mặt trăng, tối, lạnh, còn dương là đàn ông, mặt trời, sáng, nóng... Hoặc nơi người chết gọi là âm, chỗ người sống gọi là dương.

Như vậy “Thái dương” dùng để chỉ mặt trời, “Thái âm” chỉ mặt trăng.

Thái dương là mặt Trời thường được ví với Đạo, vua hay Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Thánh giáo Thầy có câu: Ai là khách hữu phần, ai là người vô quả, tánh thiêng liêng đã vì công lý mà ra tay tế độ, vớt kẻ giữa bến trần, khá biết thời thế lần vào nương dựa bóng thái dương, để bước vào con đường minh huệ, tìm suối lặng non Thần, rửa chút bợn nhơ đã vì phong trào mê muội mà cam chịu lấp kín gót trần.

Biển trần khổ vơi vơi trời nước,

Ánh thái dương giọi trước phương đông.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

Màn trời biển vén móc thuyền câu,

Lố bóng thái dương nước đổi màu.

(Thất Nương Giang Bút).

Chờ bóng thái dương lên chính giữa,

Soi vào địa nghiệt mới tiêu tàn.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

THÁI ĐỘ

態 度

Thái: Tình trạng bề ngoài. Độ: Mức độ.

Thái độ là trạng mạo và cử chỉ của người, tức xem xét cử chỉ, cách thức tỏ ra của người đó đối với một công việc gì.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Đức Lão Tử thì coi thường mọi việc thế tình, cho công danh phú quý là phù vân, nên chủ trương cái thái độ hờ hững lãnh đạm với ngoại giới.

Khi dắt trẻ đi chơi lựa chỗ,

Có văn nhơn thái độ tài tình.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

THÁI HOÀ

太 和

Thái: Lớn, rất, cả. Hoà: hoà bình, êm thuận.

Thái hoà là nói khí âm dương giao hoà ngưng tụ lại, toả ra khắp nơi.

Thái hoà cũng là nói thời kỳ yên ổn thịnh trị, đồng nghĩa với chữ thái bình.

Thái hoà dương thạnh Ðạo nam khai,

Bạch tú Thiên đăng đắc cảm hoài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

THÁI HỘ LƯƠNG CÔNG

太 護 糧 工

Thái: Phái Thái của chức sắc Cửu Trùng Đài. Hộ: Chỉ về Hộ viện. Lương: Chỉ về Lương viện. Công: Chỉ về Công viện.

Do bài thi của Đức Lý Giáo Tông, phân chia Cửu viện thuộc quyền hành Chánh Phối Sư ba phái Thái, Thượng, Ngọc của Cửu Trùng Đài.

Chánh Phối Sư phái Thái Chưởng quản ba viện trong Cửu viện, mỗi viện lại đặt dưới quyền của một vị Thượng Thống và hai vị Phụ Thống.

Ba viện thuộc phái Thái trông coi là:

- Hộ viện, quản lý về tài chánh, sản nghiệp, thâu xuất tiền bạc của Hội Thánh.

- Lương viện, lo tiếp thu và phân phối về lương thực, chăm lo việc phòng trù, nuôi nấng những chức sắc và tín đồ đã hiến thân công quả trong các cơ quan trung ương của Đạo.

- Công viện, lo về tạo tác, tu bổ Toà Thánh, Báo Ân Từ, các dinh thự của Đạo, và phát triển ngành công nghiệp đem lợi tức cho Hội Thánh.

Xem: Cửu viện.

Thái Hộ, Lương, Công, nội chủ trương,

Thượng Nông, Y, Học, chấp phương cương.

(Lý Giáo Tông Giáng).

Chánh Phối Sư có ba đủ số,

Phái Thái thì giữ Hộ, Lương, Công.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

THÁI LAI

Thới (thái): Thuận lợi, may mắn, An vui. Lai: Đến.

Thới lai, như chữ “Thái lai 泰 來”, là điều thuận lợi hay điều may mắn đưa đến.

Thành ngữ Việt Hán thường có câu: “Bĩ cực thái lai 否 極 泰 來”, tức là hết lúc vận xấu đến hồi vận tốt.

Thới lai bỏ lúc khổ khi xưa,

Những đức tài đông phải tính vừa.

(Đạo Sử).

 

 

THÁI QUÁ BẤT CẬP

太 過 不 及

Thái quá: Vượt quá mức độ. Bất cập: Chẳng kịp, thua sút.

Thái quá và bất cất cập là hai thái độ mà các Nho gia thời xưa thường khuyên người ta nên tránh, mà phải giữ mức trung dung.

Đạo Trung dung theo Khổng Mạnh là một quy tắc hành động của bậc hiền minh, hợp với lẽ đương nhiên, không thái quá, không bất cập, song phải biết quyền biến, biết tuỳ thời, tuỳ cảnh ngộ, tuỳ địa vị mà xử sự, lúc nên làm thì làm, lúc không nên làm thì không làm. Nghĩa là phải cho hợp tình hợp lý chứ không chấp nhứt.

Đây là thái độ của người Quân tử theo đạo Trung dung: Quân tử tố kỳ vị nhi hành, bất nguyện hồ kỳ ngoại; tố phú quý hành hồ phú quý; tố bần tiện hành hồ bần tiện; tố di địch hành hồ di địch; tố hoạn nạn hành hồ hoạn nạn, quân tử vô nhập nhi bất đắc yên 君 子 其 位 而 行, 不 願 乎 其 外, 素 富 貴 行 乎 富 貴, 素 貧 賤 行 乎 貧 賤, 素 夷 狄 行 乎 夷 狄, 素 患 難 行 乎 患 難, 君 子 無 入 而 不 自 得 焉, nghĩa là người quân tử cứ theo địa vị mình mà ăn ở, không cần ở ngoài; địa vị giàu sang thì ăn ở theo cách giàu sang; địa vị nghèo hèn thì ăn ở cách nghèo hèn; ở nơi mọi rợ thì ăn ở theo cách mọi rợ; ở vào lúc hoạn nạn thì ăn ở theo cảnh hoạn nạn. Người quân tử ở vào cảnh nào cũng tự đắc (tức là vui vẻ, thản nhiên).

Chớ thái quá đừng lòng bất cập,

Phép tu hành luyện tập nhiều ngày.

(Kinh Sám Hối).

Đời thái quá chuyển xây rồi bất cập,

Ham leo trèo nạn té sấp nó kề bên,

(Giác Mê Khải Ngộ).

 

 

THÁI SƠN

泰 山

Thái Sơn là ngọn núi tại châu Thái An, phủ Tế Nam, tỉnh Sơn Đông. Lại có tên là núi Thiên Tôn, hay núi Đại Tông, là hòn núi lớn nhứt trong Ngũ nhạc.

Nghĩa bóng: Thái Sơn dùng để chỉ sự to lớn.

Các vị vua chúa ngày xưa lúc thọ mệnh lên ngôi thường phong tặng hòn núi ấy.

Núi cao hơn 40 dặm, gộp đá phía đông nam trên chót núi, người đời kêu là hòn “Nhật quang”, là vì gà vừa mới gáy đợt nhứt, nếu người nào đứng trên hòn “Nhật quang”, thì xem thấy mặt trời bắt đầu mọc.

Sau Thầy hứa chắc đỡ nâng con,

Thiên Ấn Thái Sơn cũng chẳng mòn.

(Đạo Sử).

Thái Sơn ngã mất tầm cao đỉnh,

Lương mộc còn đâu bóng rợp hàng.

(Thơ Huệ Ngàn).

 

 

THÁI TÂY

泰 西

Thái: Thịnh vượng. Tây: Phương Tây.

Thái Tây là chỉ chung các nước cường thịnh ở phương Tây, tức là các nước ở Châu Âu gồm Anh, Pháp, Ý, Ðức, Hoà Lan, Bồ Ðào Nha...

Thánh giáo Thầy có dạy: Ðêm nay, 24 Décembre, phải vui mầng vì là ngày của Ta xuống trần dạy Ðạo bên Thái Tây (Europe). Ta rất vui lòng mà đặng thấy đệ tử kính mến Ta như vậy. Nhà nầy sẽ đầy ơn Ta.

Phổ Độ kỳ hai Chúa giáng sanh,

Thái Tây tháng chạp sử ghi rành.

(Thơ Ngọc Nhượn Thanh).

Tinh thần thống nhứt truyền chơn giáo,

Đông Á xong rồi đến Thái Tây.

(Thơ Thượng Cảnh Thanh).

 

 

THÁI THẬM

太 甚

Thái: Rất. Thậm: Quá chừng.

Thái thậm, đồng nghĩa với chữ “Thái quá”, là quá chừng, quá lắm. Như: Tàn ác thái thậm.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Thái Thượng Đạo Tổ có câu: Võ Tắc Thiên hoang dâm thái thậm, Tuỳ Dương Ðế lỗi đạo muôn phần, khi Sở Hạng bạo ngược vô biên, Tần Thuỷ Hoàng hôn quân cực điểm, nhưng than ôi! máy Thiên cơ buổi nọ, nếu phải chiều chuộng một ít vị công thần bị khép vào vòng những kẻ đã chịu sở bức, thì phải thay đổi, bôi xoá sự nghiệp non sông của những chúa tể ngu muội ấy chăng?

Kiêu hãnh thái thậm, vào muốn có người trình, ra muốn có kẻ cúi, khoát nạt, đè ép, biết mình mà chẳng màng biết đến người...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

THÁI THÚ

太 守

Thái Thú là tên một chức quan có nhiệm vụ trông coi một quận. Chức quan này được đặt ra từ thời nhà Tần.

Như: Quan Thái thú đi xem xét dân tình.

Nhớ cha mẹ khóc thôi thảm thiết,

Thái Thú nghe chi xiết xót thương.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

THÁI THUẬN

蔡 順

Thái Thuận là một người con thảo trong nhị thập tứ hiếu, sinh vào đời nhà Hán, nhà nghèo, mồ côi cha từ bé, thờ mẹ rất có hiếu. Gặp năm loạn lạc thiếu đói, phải đi vào rừng tìm kíếm những quả dâu chín đem về cho đỡ đói. Khi tìm được quả nào chín, còn quả đỏ để ra một bên.

Một ngày kia, gặp vị tướng giặp Xích My đi qua, trông thấy hỏi: Vì cớ gì để làm hai nơi như thế? Thái Thuận trả lời: Quả nào chín thì ngọt, để riêng biếu mẹ tôi, còn quả nào đỏ thì chua, để dành tôi ăn. Vị tướng giặc khen là có hiếu, bèn truyền quân lấy một thùng gạo và một cái đùi trâu để tặng ông.

Thái Thuận đói vào rừng lượm trái,

Thứ dở ngon ngồi lại chia ra.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

Thái Thuận hiếu, nghèo bèn lượm trái,

Giặc thương tình trẻ lại không cha.

(Báo Ân Từ).

 

 

THÁI THƯỢNG

太 上

Thái Thượng tức là Thái Thượng Lão Quân, là một vị tổ sư của Đạo Giáo.

Tương truyền Ngài họ Lý tên Nhĩ, thuỵ là Đam, tự là Bá Dương, mới sinh ra đã đầu bạc, nên người đương thời mới gọi là Lão Tử.

Xem: Thái Thượng Lão Quân.

Tổ Sư Thái Thượng Đức Ông,

Ra tay dẫn độ, dày công giúp đời.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

THÁI THƯỢNG ĐẠO TỔ

太 上 道 祖

Thánh danh đầy đủ của Đức Thái Thượng Đạo Tổ là “Thái Thượng Đạo Tổ Tam Thanh Ứng Hoá Thiên Tôn 太 上 道 祖 三 清 應 化 天 尊”. Chúng ta thử tìm hiểu Thánh danh nầy.

Thái Thượng

Thái Thượng 太 上 hay Thái Thượng Lão Quân là tôn hiệu của một vị giáo chủ trong Tiên giáo (hay Đạo giáo).

Theo bài Kinh Tiên giáo (Thái Thượng chí tâm quy mạng lễ) của đạo Cao Đài, thì Thái Thượng Lão Quân có trước cả Trời đất, do khí tiên thiên hoá sinh ra:

Tiên Thiên khí hoá.

Thái Thượng Đạo Quân,

Như ta biết, Tiên Thiên khí còn gọi là nguyên khí, Hư vô chi khí, Hỗn nguơn khí. Khí nầy có trước khi Càn khôn Vũ trụ được thành hình.

Khi Trời đất chưa phân định thì khắp cả vòm trời chỉ có một khối khí duy nhất, gọi là tiên thiên hư vô khí. Khí hư vô này là một khối nguyên khí mới luân chuyển hoá sanh thành Đức Thái Thượng Đạo Quân.

Thông thường Đức Thái Thượng Lão Quân được đồng nhứt với Lão Tử, nhưng theo đạo Cao Đài, Lão Tử chỉ là một hoá thân giáng trần của Thái Thượng vào rằm tháng 2 đời nhà Châu bên Trung Hoa, như lời kinh Tiên giáo đã dạy:

Nhị ngoạt thập ngũ,

Phân tánh giáng sanh.

Như vậy Thái Thượng do khí Tiên thiên sinh ra, và sau đó Ngài có một kiếp giáng trần nhằm ngày rằm tháng hai vào năm 604 trước Công nguyên. (Đời nhà Châu bên Trung Hoa), được gọi là Lão Tử.

Đạo Tổ

Đạo Tổ là vị Tổ sư của Đạo giáo (hay Tiên giáo).

Nguyên Đức Lão Tử là chơn linh của Thái Thượng Lão Quân phân tánh giáng trần vào đời nhà Châu. Khi Lão Tử cỡi độc giác thanh ngưu về phía Tây để độ chúng sanh, đến ải Hàm Cốc Ngài ở lại dạy Đạo cho Doãn Hỷ và soạn ra bộ sách nói về Đạo Đức, sách phân làm hai thiên, gồm có trên 5000 chữ. Sau này quyển sách đó được gọi là “Đạo Đức Kinh” lưu truyền cho hậu thế, nên Ngài được Đạo giáo tôn xưng là “Giáo Chủ” hay “Đạo Tổ 道 祖” của tôn giáo nầy.

Tam Thanh Ứng Hoá

Tam Thanh.

Tam Thanh là ba ngôi của ba vị Tiên tối cao trong Đạo giáo tại Trung Hoa, gồm có: Ngọc Thanh là Nguyên Thủy Thiên Tôn, ngự tại cõi Thánh Cảnh.

Thượng Thanh là Linh Bảo Thiên Tôn, ngự tại cõi Chân Cảnh.

Thái Thanh là Đạo Đức Thiên Tôn, cũng chính là Thái Thượng Lão Quân, là Giáo Chủ Đạo giáo, ngự tại cõi Thanh Cảnh.

Trong các tranh vẻ hay tượng thờ Tam Thanh, cả ba được tạo hình thành ba ông già: Nguyên Thủy Thiên Tôn ngồi giữa, cầm viên ngọc, Đạo Đức Thiên Tôn ngồi bên trái, cầm cây quạt, Linh Bảo Thiên Tôn ngồi bên phải, cầm cây như ý.

Trong Đàn cơ ngày 1 tháng 4 năm Tân Mùi (Dl. 18/5/1931) tại Minh Thiện Đàn, Phú Mỹ, Đức Thái Thái Thượng Lão Quân có giáng cho một bài thi như sau:

Tam Thanh chưởng quản cả Ba Ngôi,

Độ thế kỳ ba cựu vị hồi.

Hỡi hỡi trần gian tua nhớ cảnh,

Căn xưa trở lại chớ buông trôi.

Theo đạo Cao Đài, Tam Thanh là ba ngôi phẩm, gồm Thái Thanh, Thượng Thanh, Ngọc Thanh. Thái Thanh màu vàng, thuộc Phật, Thượng Thanh màu xanh, thuộc Tiên, Ngọc Thanh màu đỏ thuộc Thánh.

Tam Thanh thường dùng để đối với Tam Giáo và tam sắc. Nên lá cờ của Đạo Cao Đài gọi là cờ Tam Thanh, gồm ba màu đỏ, xanh, vàng.

Chức sắc Cửu Trùng Đài của Hội Thánh Cao Đài được chia là ba phái: Phái Ngọc, mặc Đạo phục màu đỏ, thuộc Nho giáo, nguơn tinh; phái Thượng, mặc Đạo phục màu xanh, thuộc Tiên giáo, nguơn khí; phái Thái, mặc Đạo phục màu vàng, thuộc Phật giáo, nguơn thần.

Tam Thanh ứng Hoá:

Theo Đạo giáo, Nguyên Thỉ Thiên Tôn là Đức Thượng đế, Đấng thứ nhất trong Tam Thanh với ngôi vị Ngọc Thanh. Hai vị kia là Thượng Thanh Linh Bảo Thiên Tôn và Thái Thanh Đạo Đức Thiên Tôn (tức Thái Thượng Lão Quân).

Chính vì vậy, Đạo giáo mới cho rằng Tam Thanh ứng hoá thành các đấng Thần, Thánh, Tiên, và sau đó các Thần, Thánh, Tiên đều quay về cõi Tam Thanh. Như vậy, Thái Thượng Lão Quân từ Tam Thanh mà ứng hoá ra.

Bài Kinh Tiên Giao của đạo Cao Đài cũng có dạy: “Đạo cao nhất khí, Diệu hoá Tam Thanh”, nghĩa là Đạo Vô vi của Đức Thái Thượng Đạo Quân có trước Trời đất, rất cao siêu, huyền diệu là do Hỗn nguơn nhứt khí, hay nguyên khí mà sinh ra Tam Thanh tức Ngọc Thanh. Thượng Thanh và Thái Thanh.

Theo truyện Phong Thần, khi phá trận Tru Tiên, Lão Tử dùng huyền diệu nguơn khí biến hoá ra Tam Thanh, tức ba người là Ngọc Thanh, Thượng Thanh, Thái Thanh để xông vào ba cửa trận, cùng giúp Lão Tử phá trận Tru Tiên, đánh Thông Thiên Giáo Chủ. Tam Thanh đây cũng là ba sắc hào quang hay nguơn tinh, nguơn khí, và nguơn thần của Thái Thượng Lão Quân: Ngọc Thanh màu hồng, Thượng Thanh màu xanh, Thái Thanh màu vàng.

Trong truyện có bài thơ xưng tụng Đức Thái Thượng như sau:

Hồng Quân truyền phép Đạo đã thành,

Làm chủ Thần Tiên độ chúng sanh.

Biến thử ba hình ai dễ biết,

Cho hay Nguơn khí Hoá Tam Thanh.

Thiên Tôn

Thiên Tôn là một phẩm do Đức Thượng Đế phong thưởng hoặc do vạn linh tôn thờ cho các Đấng Thiêng liêng, trái với Thế Tôn là những bậc có các Đức tánh tốt đẹp để người đời khâm phục kính ngưỡng, như: Đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn.

Trong đạo Cao Đài, Ngài Thái Thượng Đạo Tổ cũng được phong là một vì Thiên Tôn, là một vị Giáo Chủ trong Tam Giáo, cầm quyền về Tiên Giáo.

Như vậy “Thái Thượng Đạo Tổ Tam Thanh Ứng Hoá Thiên Tôn 太 上 道 祖 三 清 應 化 天 尊” là Thánh danh của Đức “Thái Thượng Lão Quân”, có nghĩa Đức Thái Thượng Lão Quân là Đạo Tổ của Tiên Giáo, một vị Thiên Tôn trong cõi Tam Thanh Ứng Hoá ra.

Nam Mô Thái Thượng Đạo Tổ Tam Thanh Ứng Hoá Thiên Tôn.

(Kệ Chuông U Minh).

 

 

THÁI THƯỢNG LÃO QUÂN

太 上 老 君

Thái Thương Lão Quân hay Thái Thượng Đạo Quân còn gọi là Thái Thượng Đạo Tổ, là vị Tổ Sư của Tiên giáo. Theo bài kinh Tiên giáo, thì Ngài do khí Tiên Thiên hoá sinh ra: Tiên thiên khí hoá Thái Thượng Đạo Quân 先 天 氣 化 太 上 道 君, nghĩa là Tiên Thiên khí hoá sinh ra Đức Thái Thượng Đạo Quân.

Thái Thượng Lão Quân có một kiếp giáng trần nhằm ngày rằm tháng hai vào đời nhà Thương bên Trung Hoa được gọi là Lão Tử.

Trong bài Kệ Chuông U Minh, lời nguyện thứ 22 có câu: Nam Mô Thái Thượng Đạo Tổ Tam Thanh Ứng Hoá Thiên Tôn 南 無 太 上 道 祖 三 清 應 化 天 尊.

Xem: Lão Tử.

1. Thái Thượng Lão Quân:

Thái Thượng Lão Quân cây Phất chủ,

Văn Tuyên Khổng Thánh bộ Xuân thu.

(Thơ Huệ Phong).

2. Thái Thượng Đạo Quân:

Tiên Thiên khí hoá.

Thái Thượng Đạo Quân,

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

THÀI

Thài là ngâm từng chữ của bài kinh hay bài thài với giọng ngân dài theo điệu nhạc Đảo Ngũ Cung.

Trong nghi lễ cúng tiểu, đại đàn tại Toà Thánh, đồng nhi thài ba bài Dâng Tam bửu, tức là Bài Dâng hoa, Dâng Rượu và Dâng Trà để Lễ Sĩ theo giọng thài và tiếng nhạc mà điện hương và tam bửu từ ngoại nghi vào nội nghi.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn dạy về nghi lễ cúng đàn tại Toà Thánh có câu: Tới khi thài, thì đờn Ðảo Ngũ Cung, rồi con lại bắt đầu đờn lại, cho môn đệ tụng kinh.

Diêu Trì Hội Yến nghiêm thay,

Tiêu thiều cung thỉnh giọng thài ngâm nga.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

THẢI

Thải là bỏ ra, loại ra những cái không có tác dụng, không cần thiết, không dùng nữa.

Như: Xử lý nước thải, nhà máy thải bớt công nhân, cơ thể thải ra ngoài qua tuyến mồ hôi.

Vạn sự chung quy đều biến dịch,

Thiên nhiên đào thải luật do Trời.

(Thơ Huệ Ngàn).

 

 

THÃI

Thãi nói tắt của từ “Thừa thãi”, tức là có dồi dào nên thừa ra, không dùng hết được. Như: Ăn thãi uống thừa.

Truyện Kiều, Nguyễn Du có câu: Tuồng chi hoa thãi hương thừa, Mượn màu son phấn đánh lừa con đen.

Quốc dân ăn thãi uống thừa,

Khôn ngăn bán lận, khó ngừa buôn gian.

(Ngụ Đời).

 

 

THAY

1.- Thay là thế vào, lấy cái khác mà đổi cho cái nầy. Như: Thay áo, thay cột nhà, thay mặt.

Thánh giáo Thầy có câu: Trước khi thủ cơ hay là chấp bút, thì phải thay y phục cho sạch sẽ, trang hoàng, tắm gội cho tinh khiết, rồi mới đặng đến trước bửu điện mà hành sự, chớ nên thiếu sót mà thất lễ.

Chừng nào đất dậy Trời thay xác,

Chư Phật, Thánh, Tiên xuống ở trần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trời Âu biển Á chờ thay sắc,

Sắc trắng mây lành phủ khắp nơi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Thay là từ biểu thị sự tác động mạnh mẽ đến tình cảm người nói của một điều đạt đến mức độ rất cao.

Như: May thay, đẹp thay, đau đớn thay, mừng thay, thật là mỉa mai thay.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Rất đỗi Thầy là bực Chí Tôn đây mà còn bị chúng nó mưu lén cho qua Thánh ý Thầy thay! Một đàng trì, một đàng kéo, thảm thay các con chịu ở giữa.

Miền Âm cảnh nhiều thay hình lạ,

Cõi dương trần tội quá dẫy đầy.

(Kinh Sám Hối).

Mừng thay gặp gỡ Ðạo Cao Ðài,

Bởi đức ngày xưa có buổi nay.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thương thay trung tín một lòng thành,

Chẳng kể quan mà chẳng kể danh.

(Đạo Sử).

 

 

THAY DUYÊN ĐỔI NỢ

Thay đổi: Thay cái nầy bằng cái khác. Duyên nợ: Quan hệ tình duyên ràng buộc tựa như nợ nần được định sẵn từ kiếp trước.

Thay duyên đổi nợ là thay đổi nợ duyên, ý chỉ người không giữ được lòng chung thuỷ, ăn ở phụ bạc.

Như: Người đàn bà ham vật chất thì chắc chắn thường thay duyên đổi nợ.

Dưới bóng trăng ai đã thề nguyền,

Rằng đặng phép thay duyên đổi nợ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

THAY ĐEN ĐỔI TRẮNG

Thay đen: Thay thế cái đen. Đổi trắng: Đổi thành cái trắng, hàm ý không chung thuỷ.

Thay đen đổi trắng, đồng nghĩa với câu thành ngữ “Thay lòng đổi dạ”, ý nói không giữ được lòng son sắt với nhau, chỉ việc ăn ở phụ bạc.

Như: Lòng dạ con người hiện nay không chung thủy, thường thay đen đổi trắng.

Dầu chồng sanh thói lăng loàn,

Thay đen đổi trắng làm đàng mây mưa.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

THAY ĐỔI

Thay: Bỏ ra, dùng thế vào một cái khác, hay người khác. Đổi: Đưa cái của mình để lấy cái của người khác, theo thoả thuận giữa hai bên.

Thay đổi là thay cái nầy bằng một cái khác. Thay đổi còn có nghĩa đổi khác đi, trở nên khác hơn trước.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Cả kiếp luân hồi thay đổi từ trong nơi vật chất mà ra thảo mộc, từ thảo mộc đến thú cầm, loài người phải chịu chuyển kiếp ngàn năm, muôn muôn lần mới đến địa vị nhơn phẩm.

Cơ Trời đến buổi đời thay đổi,

Ðạo Thánh nhằm khi khách gội nhuần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Hư nên cũng có một đời,

Hay chi thay đổi nhành mai sái mùa.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

THAY LÒNG

Thay: Thế vào một cái khác. Lòng: Lòng dạ, biểu tượng cho tâm lý tình cảm.

Thay lòng là lòng dạ thay đổi, ý chỉ không giữ được lòng chung thuỷ, ăn ở phụ bạc.

Như: Thay lòng đổi dạ.

Chừ sao đổi dạ thay lòng,

Hẹn xưa bỏ chảy theo dòng Tương giang.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

THAY MẶT

Thay: Thế vào, lấy cái khác mà đổi cho cái nầy. Mặt: biểu tượng cho con người.

Thay mặt là lấy tư cách của người khác hoặc của một tổ chức nào đó. Như: Tôi thay mặt nó đi dự lễ.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Thầy để rộng quyền cho các con thay mặt Thầy mà dìu dắt lấy nguyên nhơn, đã chịu nạn luân hồi nơi khổ cảnh.

Cơ chuyển thế nơi tay đả quả,

Thay mặt cho Tạo Hoá dựng đời.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

THAY THÂN TẠO HOÁ

Thay thân: Thay thế thân hình. Tạo hoá: Chỉ Trời, hay Đức Chí Tôn.

Thay thân Tạo hoá là nói con người thay thế hình ảnh của Đấng Tạo Hoá tại thế gian, tức con người giống như Tạo hoá.

Như ta biết, Trời Đất là Càn khôn do Âm Dương sinh hoá thì con người cũng do Âm Dương phối hợp mà thành.

Trời có tam bửu là Nhựt Nguyệt Tinh, Đất có tam bửu là Thuỷ hoả Phong, thì con người cũng có tam bửu là Tinh Khí Thần.

Hễ Trời có Ngũ hành là Kim Mộc Thuỷ hoả Thổ, Đất có Ngũ phương là Đông Tây Nam Bắc Trung ương, thì người cũng có Ngũ tạng là Tâm Can Tỳ Phế Thận. Nếu không có ngũ hành và ngũ phương thì không có Càn khôn Thế giới, còn nếu không có ngũ tạng thì cũng không có nhơn loại.

Tóm lại, con người cũng giống như trời đất, mà Trời đất là Đại Thiên địa thì con người là Tiểu Thiên địa.

Trong Kinh Tắm Thánh cũng có câu: “Đại Từ Phụ từ bi tạo hoá, Tượng mảnh thân giống cả Càn Khôn”, tức Đức Chí Tôn là Đấng cha lành to lớn mở lòng từ bi sinh hoá ra vạn vật, tạo nên hình thể con người giống như Ngài.

Thay thân Tạo Hoá là mình,

Nâng niu sanh chúng mới đành chữ nhơn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

THAY THẾ

Thay: Bỏ ra, dùng thế vào một cái khác, người khác thường tốt hơn thích hợp hơn. Thế: Đưa cái khác vào chỗ của cái hiện đang thiếu.

Thay thế là thay vào chỗ cái, người không có, không còn hoặc không thích hợp nữa. Như: Đào tạo lớp người để sau nầy thay thế.

Thánh giáo Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn có dạy: Phàm Pháp luật lập thành đều tuỳ sở dụng, buộc kẻ chung công hiệp trí tác thành một cơ sở vĩ đại, đông tây tương thân tương ái. Bởi cớ mà Luật pháp vẫn nhiều mặt đặc biệt cùng nhau, tuỳ theo phương dụng, chẳng thế dùng một mặt Luật pháp nào mà thay thế vào một cơ sở khác hành vi cho đặng. Cần thì mới lập, còn vô ích thì bỏ.

Nhớ thiệt thòi nghĩ phận mà thương,

Nếu chồng nghĩa liệu lường thay thế.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

THAY TRỜI TẠO THẾ

Thay Trời: Do chữ thế thiên 替 天, là thay mặt cho Trời, thay mặt cho Tạo hoá. Tạo thế: Tạo đời.

Thay Trời tạo thế tức là thay mặt cho Trời tạo lập nên cõi thế gian.

Vạn vật ở thế gian này sở dĩ có là nhờ có sự sinh của Trời đất. Con người là một phần trong vạn vật, cho nên cũng phải theo lẽ Trời mà biến hoá. Trời ban cho một Thiên tánh, và Đất tạo ra hình hài, cho nên con người cũng phải thay mặt cho Trời đất thực hiện sự sinh hoá ở cõi thế gian để tạo lập một xã hội loài người.

Con người nắm vững chủ quyền,

Thay Trời tạo thế giữ giềng nhơn luân.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

THAY XIÊM ĐỔI ÁO

Thay: Lấy cái khác mà đổi cho cái nầy. Xiêm: Đồ mặc che nửa thân trước trong y phục của người quyền quý thời xưa. Đổi: Thế vào. Áo: Đồ mặc nửa thân trên.

Thay xiêm đổi áo là thay đổi xiêm áo, ý chỉ thay xiêm áo sạch sẽ để tiếp rước chư Thần thánh Tiên Phật.

Giờ tý đến thay xiêm đổi áo,

Các ông quỳ cầu đảo Thần linh.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

THÀY LAY

Thày lay là xen vào việc của người khác, không dính dấp với mình.

Thày lay còn là có tính chất xiêu vẹo, không ngay hàng thẳng lối.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Bát Nương Diêu Trì Cung có câu: Vậy thì các em phải giữ lấy phận mình. Chị nghĩ cũng chưa kham, đừng thày lay cầu tội giùm cho kẻ khác. Chị rất cám cảnh, nhưng Thiên điều định vậy, biết liệu làm sao?

Cái tánh thày lay hay kiếm ngợi,

Nhiều phen đành chịu tới cùng phương.

(Đạo Sử).

Nghe qua đừng đến trên đem dưới,

Tọc mạch thày lay kiếm nói xằng.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

THẢY

Thảy là tất cả, không trừ một ai, hay một cái gì.

Như: Hết thảy người ở đây đều muốn về, cả thảy đều đói bụng, bàn ghế đồ đạc thảy đều gọn gàng.

Thánh giáo Thầy có câu: Nếu Thầy không vì Tam Kỳ Phổ Ðộ nầy thì Thầy đã y tấu lời xin của Giáo Tông mà huỷ trường công quả của các con hết thảy.

Còn hoi hóp tranh đua bay nhảy,

Nhắm mắt rồi phủi thảy lợi danh.

(Kinh Sám Hối).

 

 

THAM

Tham là ham muốn không chính đáng và quá mức. Như: Tham tiền, tham ăn, tham danh, tham lợi, máu tham.

Thánh giáo Đức Chơn Cực Lão Sư có câu: Ngày nào Ðạo nơi đây chưa hoà, người nơi đây chưa đủ sức kềm chế lấy nhau, và chưa đủ tinh thần ngay chánh, chỉ nẻo dẫn đàng, người Ðạo chưa phế được tham danh chác lợi, thì ngày ấy Ðạo nơi đây chưa gọi là trọn thành, thì cũng chưa một ai mong khởi công mà tầm địa vị thiêng liêng được.

E ra nhiều thiếp nhiều hầu,

Rồi tham bẻ lựu, bỏ đào bơ vơ.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

THAM DANH LỢI

貪 名

Tham: Ham muốn quá mức. Danh lợi: Tiếng tăm và lợi lộc.

Tham danh lợi là ham muốn về tiếng tăm và lợi lộc.

Như: Người tu hành nếu còn tham danh lợi thì sẽ bị ràng buộc, khó thoát ra được.

Tham màu, tham sắc, tham hương,

Tham danh lợi cả, tham đường vinh hoa.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

THAM DANH CHÁC LỢI

Tham danh 貪 名: Ham muốn, chạy theo tiếng tăm. Chác lợi: Mua, cầu điều lợi.

Tham danh chác lợi là nói kẻ ham mê và tranh giành, tìm cầu về danh lợi.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy đã vì chúng sanh mà lập Ðạo, nhưng kẻ phàm tục còn ám muội, tham danh chác lợi, lấn tước cầu quyền, thì ấy là tự chúng nó gieo mình nơi vực thẳm.

Người Ðạo chưa phế được tham danh chác lợi, thì ngày ấy Ðạo nơi đây chưa gọi là trọn thành.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

THAM DANH TRỤC LỢI

貪 名 逐 利

Tham danh: Ham muốn, chạy theo tiếng tăm. Trục lợi: Đuổi theo, hay tranh giành lợi lộc.

Tham danh trục lợi, cũng như “Tham danh chác lợi”, là chỉ kẻ ham mê và tranh giành, theo đuổi về danh lợi.

Xem: Tham danh chác lợi.

Bội nghĩa vong ân khinh đạo đức,

Tham danh trục lợi loạn luân thường.

(Võ Thành Lượng).

 

 

THAM DỤC

貪 欲

Tham: Lòng ham muốn thái quá. Dục: Muốn.

Tham dục là lòng ham muốn quá mạnh.

Tham dục là tai hoạ, là sự chướng ngại cho sự tu tập. Kinh Pháp Cú bài kệ số 13 viết:

Như mái nhà vụn lợp,

Mưa liền xâm nhập vào.

Cũng vậy tâm không tu,

Tham dục liền xâm nhập.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có dạy: Vả lại tham dục, thị dục đều có trong mỗi con người dù Thánh hay phàm, dù mê hay ngộ, nhưng giữa người mê và người ngộ, kết quả tác động của thị dục không giống nhau...

Thoát khỏi tường tham dục, tránh nạn eo,

Người chí liệt ráng dòm theo đèn Ngọc Đế.

(Giác Mê Khải Ngộ).

Não phiền nếu dứt tâm yên ổn,

Tham dục mà ngưng trí nhẹ nhàng.

(Thơ Thiên Vân).

Nghiệp dày mắc phải tội tù,

Bởi chưng tham dục không tu chịu hèn.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

THAM DỰ

参 預

Tham: Dự vào, xen vào. Dự: Gia nhập, góp phần vào một hoạt động đã được tổ chức.

Tham dự là dự vào một hoạt động cụ thể nào đó. Như: Tham dự Đại Hội Nhơn Sanh.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn dạy: Như thế sự cứu rỗi của mỗi người hoàn toàn tuỳ thuộc nơi người đó.Ðức Phật không tham dự vào công cuộc cứu rỗi của ai khác hết.

Nơi đàn nào mà khác hơn Thánh giáo và bày biện nhiều trái cách thì đạo hữu không phép tham dự.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

THAM GIAN BẠO NGƯỢC

貪 奸 暴 虐

Tham gian: Tham lam gian trá. Bạo ngược: Hung bạo ngang ngược.

Tham gian bạo ngược chỉ người ngang tàng bạo ngược, có tính tham lam, gian trá.

Trừ đảng dữ tham gian bạo ngược,

Diệt những phường mưu chước cầu vinh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

THAM GIÀU PHỤ KHÓ

Tham giàu: Tham lam sự giàu sang. Phụ khó: Phụ rãy kẻ nghèo khó.

Tham giàu phụ khó là ham chạy theo sự giàu sang rồi quên đi hay phụ rãy kẻ nghèo khó.

Như: Người tu hành phải giữ lòng chung thủy, chớ tham phụ khó.

Đừng để dạ tham giàu phụ khó,

Mà ra lòng ham đó bỏ đăng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

THAM LAM

貪 婪

Tham: Ham của. Lam: Ham ăn.

Tham lam là lòng ham ăn, tham của cải vật chất. Nghĩa bóng Ham muốn một cái gì thái quá.

Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy về tham lam như sau: “Các con có hiểu vì sao nhơn sanh có lòng tham lam chăng? Thì cũng muốn có nhiều kẻ phục tùng dưới quyền lợi của mình. Vã lại, người đời cần nhứt là cơm với áo. Nay muốn có nhiều kẻ phục tùng không chi bằng nắm chặt quyền phân phát áo cơm, phải dùng đủ mưu chước quỷ quyệt thâu đoạt lợi lộc, quyền thế. Vì vậy, mà đời trở nên trường hỗn độn, tranh đấu, giựt giành; mạnh được, yếu thua, mất hẳn công bình, thiên nhiên Tạo hoá.

Ấy vậy, phải biết rằng: Tham lam vào tâm, tâm hết đạo đức; tham lam vào nhà, nhà hết chánh giáo; tham lam vào nước, nước mất chơn trị. Tham lam lộng khắp thế giới, thế giới hết Thần Tiên: Lòng tham lam có thể giục các con lỗi đạo cùng Thầy”.

Chớ oán chạ tham lam ngược ngạo,

Bội nghĩa ân trở tráo chước sâu.

(Kinh Sám Hối).

 

 

THAM LẠM

貪 濫

Tham: Ham của. Lạm: Lấn vào, quá giới hạn.

Tham lạm là có lòng tham lấy vào của công để sử dụng việc riêng của mình.

Theo Thập Hình của Đức Lý Giáo Tông, người chức sắc tham lạm vào tài chánh sẽ bị khép vào tội Đệ tam hình thì phạt giáng cấp từ phẩm đương quyền xuống tới 2 hay 1 cấp.

Đệ tam hình:

1. Tham lạm tài chánh.

2. Giả mạo văn từ.

(Thập Hình Lý Giáo Tông).

 

 

THAM LÊ BỎ LỰU

lựu là những loại trái cây mà trong văn chương người ta thường ví với người đàn bà, con gái.

Tham lê bỏ lựu có ý nói ham mê cái mới, bỏ bê cái cũ, tức là có mới nới cũ.

Nghĩa bóng: Chỉ người thay lòng đổi dạ, vợ chồng không chung thuỷ nhau.

Chừ sao bỏ nghĩa én anh,

Tham lê bỏ lựu, phụ tình trước mai.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

THAM LỰU BỎ ĐÀO

Lựu, đào trong văn chương cũng được ví với những người đàn bà, con gái.

Tham lựu bỏ đào, cùng nghĩa với câu thành ngữ “Tham lê bỏ lựu”, dùng để chỉ người có lòng dạ không chung thuỷ, mới chuộng cũ vong.

Xem: Tham lê bỏ lựu.

E ra nhiều thiếp nhiều hầu,

Rồi tham bẻ lựu, bỏ đào bơ vơ.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

THAM NHŨNG

貪 冗

Tham: Ham muốn một cách thái quá, không biết dừng. Nhũng: Gian dối, rầy rà, làm phiền hà.

Tham nhũng là lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu và lấy của nhân dân.

Như: Quan tham nhũng là phải hối mại quyền thế.

Vợ không tham nhũng kim tiền,

Chồng lo trọn đạo nắm quyền chăn dân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

THAM PHÚ

貪 富

Tham: Ham muốn một cách thái quá, không biết dừng. Phú: Giàu, nhiều tiền của.

Tham phú là ham muốn giàu sang.

Thành ngữ Việt Hán thường có câu: “Tham phú phụ bần 貪 富 負 貧” là ham giàu phụ nghèo.

Biểu đừng tham phú lại khi bần,

Cái phận nếu hiền dựa các lân.

(Đạo Sử).

 

 

THAM PHÚ PHỤ BẦN

貪 富 負 貧

Tham phú: Ham làm giàu. Phụ bần: Phụ rãy nghèo.

Tham phú phụ bần là ham chạy theo người giàu có, mà phụ rãy và khinh khi kẻ nghèo hèn.

Chớ nên quyến luyến hồng trần,

Chớ nên tham phú phụ bần rẽ hai.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

THAM TÀN

貪 殘

Tham: Tham lam. Tàn: Tàn bạo.

Tham tàn là tham lam tàn bạo. Như: Những kẻ buôn người là bọn tham tàn bạo ngược.

Thánh giáo Bát Nương có câu: Lập quốc trị dân mà hành hạ áp bức dân, hoặc mở Đạo dìu đời độ chúng mà tham tàn bất chánh, đè chúng sắp làm nấc thang cho mình được đứng cao, thì cứu cánh thế nào, mấy anh tự biết.

Tham tàn chúng đã gây tai biến,

Oan khúc mình vương lấy thảm sầu.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

THAM TÂM

貪 心

Tham: Ham muốn một cách thái quá. Tâm: Lòng.

Tham tâm là lòng tham, tức lòng ham muốn thái quá.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Lẽ tất nhiên Ngài phải tầm phương giải kiết, chúng sanh đã thất đạo nhơn nghĩa, nhơn luân, sự tranh sống trước mặt của nhơn loại đã hết tánh chất loài người, cái tham tâm dục lợi càng buông lung thêm mãi, nên nạn tự diệt hầu gần, cũng do tại đó; ấy vậy muốn có món thuốc giải kiết cứu sống nó lại, thời tức phải phục hưng cái đạo nhơn nghĩa, đã có từ mới tạo Thiên lập Địa, đặng quy tựu thiên lương.

Nếu tính tham tâm giành giựt mãi,

Dầu giàu như núi cũng tiêu mòn.

(Đạo Sử).

 

 

THAM THÌ PHẢI THÂM

Tham thì phải thâm là một thành ngữ dùng để chê những người có tính tham lam, không suy xét chỉ vì tham số lợi nhỏ mà mất đi số vốn lớn.

Phàm làm người cần nên suy xét, hễ muốn có ăn thì phải tự thân lao động để kiếm tiền hay tạo ra của cải vật chất, đó là ta hưởng những thành quả do sức làm việc của bản thân mình. Còn tiền bạc, hay của phi nghĩa, của hoạnh tài, tức là của không phải do sức mình kiếm được mà do lường gạt, chiếm đoạt của người, hay của rơi hoặc tự dưng có được thì không nên tham lam.

Câu chuyện sau đây cho thấy điều đó.Khi Đức Phật còn tại thế, một hôm Ngài cùng vị đại đệ tử A Nan Đà từ non Thứu Lãnh đi xuống Kinh thành khất thực. Đi giữa đường, ngang qua một bờ đất, Ngài thấy một ghè vàng.

Đức Phật bảo A Nan Đà rằng: “Nầy A Nan! Ngươi có thấy đây là một loài rắn độc không?”.

Ngài A Nan cung kính bạch rằng: “Bạch Thế Tôn! Thật là một loài rắn độc, rất đáng sợ hãi!”.

Rồi hai người ra đi. Đương lúc ấy, có một tiều phu đứng gần nghe được, vội đến xem, thấy một ghè đậy kín. Anh mở ra, thấy toàn là vàng. Anh cười thầm Đức Phật và đệ tử Ngài không biết dùng thứ ấy, còn cho là rắn độc.

Trước khi đem về, anh sung sướng la lên rằng: “Tôi xin nguyện rắn độc này luôn luôn cắn tôi, cha mẹ tôi, vợ con tôi, và quyến thuộc tôi. Tôi không cảm thấy đau đớn gì hết!”.

Sau khi được ghè vàng, anh tiều phu kia trở thành người trưởng giả giàu có kiêu sa. Làng xóm nghi kỵ, không biết vì sao anh giàu sang đột ngột như vậy. Tiếng đồn vang đến tai vua A Xà Thế, nên vua đòi đến hỏi. Anh ấp úng, không muốn nói lượm được ghè vàng. Vua cho là người gian, ra lệnh tịch thu gia tài và bắt anh ta cùng tất cả bà con quyến thuộc đem đi hành hình.

Đi giữa đường anh ta khóc lóc: “Ngài A Nan ơi! Thật là một thứ rắn độc! Rắn độc nó cắn tôi và cắn hết bà con của tôi đây!”.

Bọn lính nghe anh ta luôn gọi Ngài A Nan Đà, bèn trở lại tâu cho vua hay.

Vua ra lệnh đem anh ta về, hỏi lại. Lần này anh ta mới chịu thưa thiệt nguyên do được ghè vàng.

Nghe xong, vua bảo anh tiều phu rằng: “Tội ngươi đáng chết, nhưng may duyên gặp Đức Thế Tôn, nên ta tha tội cho ngươi và bà con ngươi. Ngươi được đem vàng bạc về và từ nay phải sửa đổi tự tâm, tu hành theo thiện nghiệp”.

Trong quyển Giáo Lý, Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có đoạn: “Thậm ái tất thậm phí, Đa tàng tất đa vong. Tri túc bất nhục. Tri chỉ bất đãi, Khả dĩ trường cửu”. Tham thì thâm, chứa nhiều ắt mất nhiều. Biết đủ không nhục, biết dừng chân ở ngoài vòng tranh đấu lợi danh thì không hại và có thể lâu dài.

Làm người phải khá xét suy,

Của rơi chớ lượm, tham thì phải thâm.

(Kinh Sám Hối).

 

 

THAM THIỀN

Tham: Dự vào, suy nghiệm. Thiền: Yên lặng để chiêm nghiệm đạo lý.

Tham thiền là ngồi yên lặng nhằm lắng đọng tất cả vọng tưởng, tập trung tư tưởng để suy nghiệm về đạo lý cao siêu, làm cho trí huệ hoát khai, chơn tâm tỏ ngộ.

Đại Thừa Chơn Giáo có dạy: Người tu hành cần nhứt là phép tham thiền đặng tầm cái lý Ðạo cao siêu của Tạo Công đặt bày trên mấy cõi hư linh ngõ cho thấu triệt đến cả cội nguồn nguyên thỉ.

Không tham thiền định trí thì làm sao đoạt nổi Thiên cơ, hiểu điều mắc mỏ cho được. Thế nên người tu hay người không tu mà muốn hoát thông sự vật, tham cứu uyên nguyên thì làm sao cũng phải tham thiền.

Vã lại đã sanh ra đứng làm người mà nếu không hiểu biết cội nguồn nhơn loại, ví như loài người bắt đầu bởi đâu mà có? Có làm chi? Sao lại sanh rồi tử? Tử rồi sanh? Mà cứ mãi mãi, hoài hoài, vương vấn với bánh xe luân hồi của Tạo Hoá? Vào chi chỗ trần ai cay nghiệt biển khổ, sông mê, để chịu mang lấy kiếp nặng nề mà luống khổ tâm lao lực, sớm thảm, chiều phiền, rày than, mai khóc. Nếu tự hỏi mình bao nhiêu vấn đề ấy mà chẳng gia công nghiên cứu, tham khảo suy tầm cho tận cùng đáo để, hầu trực giác được cái nguyên lý của Ðạo thì há còn phương pháp nào khác nữa đâu? Vậy phương pháp ấy chính gọi là “Tham-Thiền” đó.

Không tham thiền thì làm sao mở mang trí hoá để đạt cho thấu cái lẻ hư vô huyền diệu. Nhưng phương pháp tham thiền rất là khó lắm. Trước hết cần phải chủ cái tâm vào một tư tưởng nào cho cao thượng, rồi mới lấy cái tư tưởng thanh quang ấy mà nghĩ ngợi cho cùng, xét cho tột thì huệ tâm tự phát, trực giác tự khai, chừng ấy chơn lý nó mới hiện bày ra một cách rõ ràng, minh bạch.

Tham thiền tầm lý huệ tâm khai,

Luyện Ðạo vận hành tạo Thánh-thai.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Ngày đêm luyện Đạo, tham thiền,

Là Cơ Xuất Thế Tiên Thiên phục hồi.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

THAM THIỀN NHẬP ĐỊNH

参 禪 入 定

Tham: Suy xét. Thiền: Yên lặng để quán tưởng đạo lý. Nhập: Vào. Định: Giữ tâm cho tịnh, không vọng động.

Tham thiền nhập định nói tắt là “Thiền định”, là tập trung tâm ý vào một đối tượng duy nhứt, không để cho tâm tán loạn, mà để cho tâm được vắng lặng hầu quán chiếu và suy nghiệm chân lý.

Pháp môn Thiền định (tham thiền nhập định) là một phương pháp tập trung tâm ý về một đối tượng duy nhứt để điều phục thân tâm và khơi dậy trí huệ giác ngộ.

Thiền định dứt bặt các duyên, giữ tâm ý thanh tịnh, ngoài không theo các tướng, trong tâm chẳng bị loạn, trong sạch mọi vọng tưởng. Khi tâm an định trí tuệ sẽ phát sinh và phiền não được gạn lọc ra khỏi nội tâm.

Trong Kinh Pháp Cú, bài Kệ số 110 có câu:

Dầu sống một trăm năm.

Ác giới, không thiền định,

Tốt hơn sống một ngày,

Trì giới tu thiền định.

Đại Thừa Chơn Giáo cũng có câu: Hễ nhập định đặng như vậy thì tham thiền mới thấy kết quả tốt đẹp phi thường, vì mỗi khi tham thiền mà trầm tư mặc tưởng vào một vấn đề gì thì các bộ phận, máy móc trong châu thân nó lần lần ngưng nghỉ bớt, mà để cho chơn thần các con xuất ra khỏi xác theo lằn tư tưởng lóng nghe cái lý thiên nhiên.

Một buổi trưa Ngài đang tham thiền nhập định tại chơn núi, chính Vadatha lăn đá xuống để cho Ngài chết...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

THAM VỌNG

貪 望

Tham: Lòng ham muốn không chính đáng. Vọng: Mong ước, mong cầu.

Tham vọng là lòng ham muốn, mong ước quá lớn lao, vượt xa khả năng thực tế, khó có thể đạt được.

Như: Tham vọng làm bá chủ toàn cầu, nó có tham vọng giải quyết mọi việc ngoài khả năng của nó.

Vì một tham vọng hoặc vì tranh giành quyền lợi, người chức sắc hay tín hữu có manh tâm làm cho nền Ðạo phải mang tai tiếng...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

THÁM

Thám là dò xét, thăm dò.

Như: Dọ thám, thám hiểm dưới biển Thái Bình Dương, nó đi dò la thám thính khắp mọi nơi.

Sự thật cũng có chứa bọn ấy mà vụ nầy phát giác là do nhơn viên dọ thám biết rõ mà điềm chỉ.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

THẢM

Thảm là xót xa, đau đớn đến mức làm ai cũng phải động lòng. Như: Chết thảm, khóc nghe rất thảm.

Thánh giáo Thầy có câu: hoạ Âu tai Á sẽ vì nơi Thiên thơ mà sát phạt, gieo sầu để thảm cho những giống dân nào đã vì hung bạo mà gây nên điều thán oán khắp cả Càn khôn nầy.

Một miếng đỉnh chung trăm giọt thảm,

Phải toan lui gót tránh vòng tham.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Phép nước đòi cơn mây gió thảm,

Nghiệp nhà lắm lúc nước non sầu.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

THẢM BẠI

慘 敗

Thảm: Xót xa, đau đớn đến mức làm ai cũng phải động lòng. Bại: Thua thiệt, thất bại.

Thảm bại là thất bại một cách đau đớn. Như: Mông Cổ đến Việt nam bị đánh thảm bại phải rút quân về.

Hốt Tất Liệt thâu cả Hoàng đồ bên Âu Châu, đặt gót tới Việt Nam bị thảm bại.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

THẢM ĐẠM

慘 淡

Thảm: Thương xót, đau đớn. Đạm: Nhạt, lạt lẽo.

Thảm đạm là gầy gò khô héo.

Thảm đạm còn có nghĩa buồn thảm, lanh lẽo. Như: Nét mặt nó xem có vẻ thảm đạm.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Bần Ðạo chỉ nhắc lại cho con cái của Ðức Chí Tôn thấy rõ, nhơn loại hiện nay đã xu hướng theo hạng trí thức tinh thần khoa học thì có kể đâu là thương chủng tộc, nên ngày nay đã gây ra biết bao tấn tuồng thê lương thảm đạm, nhơn loại hết yêu ái nhau, mà trái lại người với người họ đối nhau còn quá hơn thú dữ, người với người mà họ chưa biết tôn trọng mạng sống với nhau, họ lại đoạt mạng sống của nhau đặng tìm hạnh phúc.

Xem cây cỏ như màu thảm đạm,

Ngó thú cầm dường cảm đau thương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

U ám mịt mờ màu thảm đạm,

Thúi hôi nhơ nhớp cảnh đìu hiu.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

THẢM HOẠ

慘 禍

Thảm: Xót xa, đau đớn đến mức làm ai cũng phải động lòng. Hoạ: Tai vạ, việc rủi.

Thảm hoạ là tai hoạ lớn, gây nhiều cảnh đau thương, thảm thiết. Như: Thảm hoạ chiến tranh.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có đoạn: Ðức Chí Tôn có dạy là dân tộc Việt Thường đang ở trong vòng vay trả oan nghiệp, nhưng hơn 20 năm qua đã hứng chịu nạn binh đao thảm khốc, sự đau khổ đã chập chồng trên đất nước, dù là nơi an tịnh tu hành cũng không tránh khỏi thảm hoạ chết chóc, sự nghiệp tiêu tàn, cửa nhà đổ vỡ. Chúng ta trong cửa Ðạo, vì lòng bác ái đối với nhơn sanh, vì tình thương tổ quốc, phải luôn luôn để tâm cầu khẩn Ðấng Chí Tôn chan rưới hồng ân, xoá bớt tội tình cho Việt Chủng.

Bần Đạo thấy Ngài (Khai Pháp) buồn kiếm chước cho vui đở, và lần lượt kiến tạo Trí Giác Cung được khuyên Ngài vào ở cho an tịnh cho bớt cảnh thảm hoạ trên diễn mãi trước mắt hằng ngày.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

THẢM KINH

慘 驚

Thảm: Đau thương đến mức làm ai cũng phải động lòng. Kinh: Sợ sệt.

Thảm kinh là đau đớn và kinh sợ. Như: Năm 1945 người dân miền Bắc bị nạn đói chết thấy thảm kinh.

Kìa những gái lẫy lừng hạnh xấu,

Bỏ vạc đồng đốt nấu thảm kinh.

(Kinh Sám Hối).

 

 

THẢM KHỔ

慘 苦

Thảm: Thương xót, đau đớn. Khổ: Đau đớn, vất vả.

Thảm khổ là khổ sở thảm thiết.

Thánh giáo Thầy dạy: Dùng hết mưu chước quỷ quyệt thâu đoạt cho đặng lợi lộc quyền thế cho nhiều, vì vậy mà đời trở nên trường hỗn độn, tranh tranh đấu đấu, giựt giựt giành giành, gây nên mối loạn, nhơn loại nghịch lẫn nhau, giúp cho phép Tà quyền, mạnh hơn, yếu thiệt, mất phép công bình thiêng liêng Tạo hoá. Cái trường thảm khổ của thế gian cũng do nơi đó mà ra.

Cõi thảm khổ đã vừa qua khỏi,

Quên trần ai mong mỏi Động Đào.

(Kinh Tận Độ).

Nước Nam thảm khổ ê chề,

Đem thân mày liễu tô về giang san.

(Bát Nương Giáng Bút).

Lấy đau thương làm thuốc cầm duyên,

Pha thảm khổ hương nguyền kia mới đượm.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

THẢM KHỐC

慘 酷

Thảm: Thương xót, đau đớn. Khốc: Rất, ngược bạo.

Thảm khốc là hết sức tàn khốc, tức gây ra những cảnh rất thảm thương. Như: Chiến tranh là gây sự tàn sát thảm khốc.

Thánh giáo của Đức Diêu Trì Nương Nương: Mấy con! Mẹ lấy làm đau đớn thấy nhơn sanh trong cửa Đạo, đã vì Đạo vì nhà chịu bao điều thảm khốc, bao nhiêu người đã bỏ mạng vùi xương, bao nhiêu điều còn ấp ôm thống khổ.

Bần Ðạo tưởng chắc từ chưa có loài người đến giờ, chưa có trận chiến tranh nào sát hại nhơn loại thảm khốc dường ấy.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

THẢM NÃO

慘 惱

Thảm: Thương xót, đau đớn. Não: Khổ trong lòng.

Thảm não là buồn thảm não nề. Như: Bộ mặt chị ấy xem rất thảm não.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Vì xã hội lấy cường lực, lấy tàn ác sát hại sanh vật làm căn bản, nhìn thấy cảnh mạnh đặng, yếu thua, khôn còn, dại mất, đã lưu lại tấn tuồng thảm não nơi mặt địa cầu này cái quả nghiệp vô tận vô biên của họ hôm nay họ phải trả.

Nhìn thấy cảnh mạnh đặng, yếu thua, khôn còn, dại mất, đã lưu lại tấn tuồng thảm não nơi mặt địa cầu.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

THẢM SẦU

慘 愁

Thảm: Thương xót, đau đớn. Sầu: Buồn rầu.

Thảm sầu là thương xót buồn rầu, hay buồn thảm âu sầu. Như: Nhiều nỗi thảm sầu.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có viết: Về tổ quốc sau khi đã chịu đủ vị thảm sầu, tưởng đã đủ cớ phô bày cho cả chúng sanh thấy đặng rõ ràng chơn tướng của Ðạo, đã nung chuốt với sự thảm khổ vô hạn của mình đặng vẽ vời giọt huyết lệ, hai chữ nhơn nghĩa cho đời; nào dè trái lại thấy chan chán trước mặt một tấn tuồng bi thảm, nước mất nhà tan, xương chồng máu đổ.

Thương ai chẳng chịu lộc nhà Châu,

Ăn thể ăn di chịu thảm sầu.

(Đạo Sử).

Thầy còn đang chịu cơn lao lý,

Tớ lại màng chi phận thảm sầu.

(Thơ Hộ Pháp).

Tham tàn chúng đã gây tai biến,

Oan khúc mình vương lấy thảm sầu.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

THẢM TÍN

慘 信

Thảm: Thương xót, đau đớn. Tín: Thư từ, tin tức.

Thảm tín là tin buồn thảm, tức những tin tức đưa đến gây mối thảm sầu trong lòng.

Như: Vừa mới nhận được thảm tín từ quê nhà.

Các chỗ ấy dẫy tràn thảm tín,

Càng ở gần khó nhín sầu than.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

THẢM THIẾT

慘 切

Thảm: Đau thương đến mức làm ai cũng phải động lòng. Thiết: Cắt.

Thảm thiết là thê thảm thống thiết, tức đau xót trong lòng như cắt ruột.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có câu: Chư đạo hữu đâu rõ thấu, ngơ ngơ ngáo ngáo như kẻ không hồn, thấy càng thảm thiết!

Chốn Dạ đài Thập Điện Từ Vương,

Thấy hình khổ lòng thương thảm thiết.

(Kinh Tận Độ).

Dồn dập mối sầu thân thảm thiết,

Thầy khuyên hành đạo sẽ vui lòng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

THẢM THƯƠNG

慘 傷

Thảm: Thương xót, đau đớn. Thương: đau đớn xót xa, như thương thân, thương tâm.

Thảm thương là đau đớn thương xót. Như: Chết một cách thảm thương, tai nạn thảm thương.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Hằng ngày diễn ra nhiều tấn tuồng thảm thương, bi kịch, xem thôi mỏi mắt, nghe đã nhàm tai, khiến cho giọt lụy thương tâm của khách ưu thời mẫn thế không thể nào ngưng được.

Ðui mù hiếm kẻ cẳng dò đường,

Mò cát kiếm vàng thấy thảm thương.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

THẢM TRẠNG

慘 狀

Thảm: Thương xót, đau đớn. Trạng: Cảnh tượng bề ngoài, như trạng thái, trạng huống.

Thảm trạng là tình trạng bi thảm, trông thấy bắt xót xa, đau lòng. Như: Thản trạng của xã hội hiện nay.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Sưu Tập có đoạn dạy: Tiếc thay! Hơn năm năm chầy, Thầy để hết gan tấc đem Thánh đức mà nhồi nắn các con, nay cũng còn thấy dưới mắt Thầy một cái thảm trạng phàm tình gây cuộc nầy.

Nói về cái thảm trạng của quốc dân Việt Nam hồi thuở lập quốc, một tình trạng thống khổ đã làm cho Bần Đạo phải nghẹn ngào.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

THAN

1.- Than là một loại nhiên liệu rắn, màu đen, do gỗ cháy dở, hoặc do cây cối chôn vùi dưới đất phân huỷ dần qua nhiều thế kỷ biến thành mỏ than.

Trong bài Diễn văn của Đức Quyền Giáo Tông đọc tại Toà Thánh ngày mùng 8 tháng 4 năm Giáp Tuất có câu: Ðã chín năm xông lướt trên con đường đi than lửa, bước chông gai mà cũng có thể bảo thủ chơn truyền của Thầy vững vàng toàn hảo, thì không phải là một tay giả mạo hay là một đứa tội nhơn, mà làm cho Thánh chất đặng thắng hơn phàm tánh.

Than chưa ngún lửa cuộc đời qua,

Nhưng bởi mến con hứa đặng nhà.

(Đạo Sử).

2.- Than là kể lể những nỗi buồn bực, khổ sở trong lòng. Như: Than thầm, than thân trách phận.

Thánh giáo Đức Thích Ca Mâu Ni Phật viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát chuyển Đạo Nam Phương có dạy: Thầy thường than rằng: Ðạo phát trễ một ngày là một ngày hại nhơn sanh, nên Thầy nôn nóng nhưng Thiên cơ chẳng nghịch đặng. Ma quỷ hằng phá Chánh mà giữ Tà, chư Tiên Phật trước chưa hề tránh khỏi.

Mau bước lui lần qua cõi tục,

Cười than vui khóc, thấy hay chưa?

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Công khó hay than cho nỗi khó,

Ðiều sang tánh lại hám mùi sang.

(Đạo Sử).

 

 

THAN KHÓC

Than: Nói lên lời cảm thương cho nỗi đau bất hạnh của mình. Khóc: Chảy nước mắt do đau đớn, buồn rầu hay xúc động mạnh.

Than khóc, như chữ “Khóc than”, là vừa buông ra những lời than thở, buồn rầu, vừa khóc lóc.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Trên bước đường lập vị, có khi quá khiếm khuyết về vật chất, quá khổ đau vì đời sống vất vả thất thường, người tu hành có thể than khóc và rối loạn tinh thần. Nhưng tin tưởng nơi lòng yêu thương của Ðức Chí Tôn Ðại Từ Phụ và nơi tấm thạnh tình chia vui sớt nhọc của các bạn đồng thuyền, người đau khổ cũng tự an ủi được vì ở trong cảnh ngộ đó cũng chưa phải là quá thất vọng chán nãn đưa đến chỗ bán đồ nhi phế bỏ dở hành trình.

Thây người máu chảy dầm dề,

Tiếng la than khóc tư bề rùm tai.

(Kinh Sám Hối).

 

 

THAN ÔI

Than: Nói lên lời cảm thương cho nỗi đau bất hạnh của mình. Ôi: Tiếng than, tiếng kêu.

Than ôi là từ biểu lộ sự đau buồn, thương tiếc.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Than ôi! Ðã bước chân vào đường đạo hạnh mà chẳng để công tìm kiếm, học hỏi cho rõ ngọn nguồn, thì làm phận sự môn đệ như thế có ích chi cho nền Thánh giáo đâu?

Sau đặng nên nhà công chớ nại,

Khiến điều oan trái chớ than ôi.

(Đạo Sử).

Lời lỗ không người binh vực đỡ,

Than ôi! cô quạnh phận hồng nhan.

(Đạo Sử).

 

 

THAN THỞ

Than: Nói lên lời cảm thương cho nỗi đau bất hạnh của mình. Thở: Nói ra những lời không hay.

Than thở là kêu than, và thổ lộ những nỗi buồn rầu đau khổ của mình.

Thánh giáo Thất Nương Diêu Trì Cung có câu: Em xin nhắc nhở điều nầy: Ngày hội Ngọc Hư đặng lo phương tiếp pháp của Tây Phương Cực Lạc qua, Em đã đặng nghe thấy những lời của Ðịa Tạng Vương Bồ Tát than thở rằng: Ngài là Phật nên khó gần gũi các hồn Nữ phái mà khuyến giáo cơ giải thoát mê đồ.

Lòng đừng so thiệt tính hơn,

Ngày đêm than thở dạ hờn ích chi.

(Kinh Sám Hối).

Nhiều phen than thở phận côi cùng,

Chẳng biết cùng ai tỏ dạ trong.

(Đạo Sử).

Buồn than thở khi trưa lúc tối,

Quặn chín chiều ruột rối vò tơ.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

THAN VAN

Than: Kể lể nỗi buồn khổ trong lòng. Van: Kêu xin, thường than khóc.

Than van, cũng như chữ “Than vãn”, là than thở, kể lể nhiều nỗi ẩn khúc trong lòng.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Lý Giáo Tông nhắc lại lời của Đức Chí Tôn đã dạy: Bởi các con phải chịu luật luân hồi, vì cớ mà các con phải chịu điều khổ sở như vậy, các con chớ than phiền, chính theo lời thề của các con thì Thầy hành các con cho đúng lẽ. Vậy mới xứng đáng là môn đệ của Thầy. Có nhiều đứa vì không rõ luật Thiên điều, cứ than van mãi.”

Mái tóc điểm sương chưa học Ðạo,

Hoạ kề dầu hối khó than van.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Một tiếng than van thân cực nhọc,

Một oan chẳng chịu muốn gầy hai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

THAN VÃN

Than: Kể lể nỗi buồn khổ trong lòng. Vãn: Điệu hát giọng buồn, thường than khóc.

Than vãn là than thở và kể lể, mong có sự đồng cảm, xót thương.

Như: Chị ấy ôm ấp sự tủi nhục trong lòng, không có một lời than vãn.

Bởi rẽ bạn với ai than vãn,

Ngó trăng thu thêm ngán ngày qua.

(Tứ Nương Giáng Bút).

 

 

THÁN

1.- Thán là than thở, không dùng một mình.

Như: Thán oán, dân chúng hiện nay ta thán về việc môi trường bị ô nhiễm.

Thiên căn chánh kiếp chỉ tâm hành,

Thán thế bất hoà chỉ cạnh tranh.

(Đạo Sử).

2.- Thán là than đốt. Như: Đồ thán, bùn than, ý nói trong cảnh bùn lầy và than nóng. Chỉ sự hết sức vất vả, khổ cực.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Nếu trong nước mà cầu lợi như thế, thì bá tánh phải chịu lao lung, muôn dân đồ thán, trong nước thế nào bình trị được?

Nhơn sanh đồ thán cơn binh lửa,

Thế giới thương đau nỗi lực quyền.

(Nguyệt Tâm Chơn Nhơn).

 

 

THÁN OÁN

歎 怨

Thán: Than thở. Oán: Giận hờn.

Thán oán là than và oán trách. Mọi người thán oán về việc cầu kinh đã xuống cấp trầm trọng.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu dạy: Hoạ Âu tai Á sẽ vì nơi Thiên thơ mà sát phạt, gieo sầu để thảm cho những giống dân nào đã vì hung bạo mà gây nên điều thán oán khắp cả Càn khôn nầy.

Nhưng cũng có nhiều đứa dụng tà tâm mà làm cho có sự thán oán trong nền Ðạo của Thầy.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

THẢN

Thản là rộng rãi, bằng phẳng, vui vẻ.

Như: Đầu óc anh ấy lúc nầy rất thanh thản, khi hành Đạo phải thản nhiên trước lời chỉ trích.

Bẽ bàng thân phận chưa thanh thản,

Ngán ngẩm công danh quá muộn màng.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

THẢN NHIÊN

坦 然

Thản: Rộng rãi, bằng phẳng, vui vẻ. Nhiên: Như thế.

Thản nhiên là có dáng vẻ tự nhiên như thường, coi như không có gì xảy ra.

Như: Hắn rất sợ chết nhưng giả vờ thản nhiên trước việc nguy hiểm.

Ví như lời chỉ trích chỉ do sự ganh tỵ mà ra thì ta nên thản nhiên tiếp tục làm việc phải.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

THANG

1.- Thang là vật làm bằng tre, gỗ, gồm hai thanh song song dựng đứng, nối liền với nhau bằng nhiều thanh ngang ngắn, cách đều nhau thành bậc.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Công quả tuy nhọc nhằn, nhưng địa vị cao thượng cũng chẳng phải dễ đoạt được. Có vì chúng sanh mà khổ tâm hành đạo, có khó nhọc, có dãi dầu sương mơi nắng xế, mà quên bậc phẩm vô vị ở cõi trần nầy, có vày vã nẻo gai chông lần theo bước đường hạnh đức, mới có ngày vui vẻ bất tận, mới có buổi an hưởng địa vị thiêng liêng, tránh điều phiền não, thoát đoạ luân hồi, mới có lúc rảnh nợ phong trần, nhàn xem sự thế, non cao suối lặng, động mát rừng thanh, là chỗ con lấy đạo đức làm thang để bước lên cho cùng tột.

Tầng Trời gắng bước lên thang,

Trông mây nhìn lại cảnh nhàn buổi xưa.

(Kinh Tận Độ).

Thuyền Ðạo đẩy đưa lằn sóng biển,

Bước đời dùn thẳng bước thang Trời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Thang là nước đun nóng, sôi, hoặc chỉ chén nước thuốc.

Như: Thang oa cận (nồi nước sôi gần một bên), bệnh nầy phải uống ba thang thuốc.

Lung kê hữu mễ thang oa cận,

Dã hạc vô lương Thiên Ðịa khoan.

(Lý Bạch Giáng Bút).

Gái nồi cơm bát nước đói no,

Trai thang thuốc ngày lo an vấn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

THANG MÂY

Thang mây, bởi chữ Hán là “Vân thê 雲 梯”, là cái thang để bước lên mây.

Thang mây dùng chỉ lúc được thoả chí lên tận mây, để diễn tả thành đạt của công danh sự nghiệp.

Chuông Thánh tri hồn reo đảnh Việt,

Thang mây đưa bước đến non Thần.

(Bảo Văn Pháp Quân).

Căn sanh nếu được rồi vay trả,

Mượn nấc thang mây bước tận trời.

(Thơ Hương Ánh).

 

 

THANG THUỐC

Thang: Tập hợp những vị thuốc đông y dùng để sắc chung với nhau trong một lần. Thuốc: Chất được chế biến dùng để chữa bệnh.

Thang thuốc, như chữ “Thuốc thang”, là thuốc dùng để phòng hoặc chữa bệnh, thường dùng cho đông y.

Khi già yếu cần lo thang thuốc,

Trong gia đình thông thuộc liệu giùm phương.

(Phương Tu Đại Đạo).

Cơn bịnh hoạn ân cần thang thuốc,

Khi rầu buồn dịu ngọt khuyên lơn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

THANG TRỜI

Thang: Vật để leo làm bằng tre, gỗ, gồm có nhiều bậc. Trời: Chỉ cõi Thiên.

Thang Trời là cái thang bắc lên tận Trời cao.

Thánh giáo Thầy có dạy: Ðạo mở chủ ý dìu dắt những kẻ hữu phần, đặng ráng cùng nhau dắt lên khỏi con đường trắc trở, vẹt nẻo chông gai, bước tận đến thang Trời hội hiệp cùng Thầy trong buổi chung qui.

Thuyền Ðạo đẩy đưa lằn sóng biển,

Bước đời dùn thẳng bước thang Trời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

THANG VÕ

湯 武

Hay “Thang Vũ”.

Thang Võ là hai ông vua thời nhà Thương và nhà Châu, đó là vua Thành Thang và vua Võ Vương.

Thành Thang là vị vua đứng lên diệt nhà Hạ, sáng nghiệp nhà Thương.

Võ Vương là con của vua Châu Văn Vương, tên Phát, cuối đời nhà Ân Trụ, kế vị cha giữ chức Tây Bá. Sau thống lãnh quân chư hầu đông chinh, đánh bại vua Trụ ở Mục Dã, diệt nhà Ân, dựng nên nghiệp nhà Châu.

Cày mây cuốc nguyệt chờ Thang Võ,

Rằng biết cho dân chịu buộc ràng.

(Đạo Sử).

 

 

THANG VÔ NGẰN

Thang: Vật để leo làm bằng tre, gỗ, gồm có nhiều bậc. Vô: Nói tắt của vô số, nhiều. Ngằn: Bậc thang.

Thang vô ngằn là cái thang có vô số nấc, có thể bắc lên cao tận trời.

Thầy đã nói đạo đức cũng như một cái thang vô ngằn, bắc cho các con leo đến phẩm vị tối cao tối trọng...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

THÁNG

Tháng là chỉ khoảng thời gian một phần mười hai trong một năm, tức khoảng hai mươi chín hay ba mươi ngày, tuỳ theo tháng thiếu đủ. Như: Tháng ngày, một năm gồm mười hai tháng.

Thánh giáo Thầy có câu: Lần lựa cúc xủ sương tan, mai gầy sen nở, ngày tháng qua chẳng là bao mà thế thái nhơn tình biết bao thay đổi!

Lần lừa ngày tháng cảnh đưa xuân,

Ướm chổi huỳnh lương tỉnh dậy lần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cải hạnh đố ngươi về tập thử,

Tháng sau sẽ đến trước trình Ta.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

THÁNG LỤN NĂM CHẦY

Tháng lụn: Tháng lần lần qua đi sắp hết. Năm chầy: Năm muộn.

Tháng lụn năm chầy là nói ngày tháng trôi đi, năm tuy chậm, nhưng rồi cũng sẽ qua.

Phải cố tâm mài giũa, gắng công tháng lụn năm chầy thì một ngày kia mới thấy lố hình ngọc quý.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

THÁNG LỤN NGÀY QUA

Tháng lụn: Tháng lần đi sắp hết. Ngày qua: Ngày đã dần trôi qua.

Tháng lụn ngày qua là nói ngày qua đi sắp hết tháng, ý chỉ thời gian trôi qua dần. Như: Tháng lụn ngày qua nuôi con đã khôn lớn.

Nho phong một cửa để khuyên người,

Tháng lụn ngày qua đã bỏ trôi.

(Đạo Sử).

Tháng lụn ngày qua dồi đạo hạnh,

Đêm chầy canh vắng dưỡng tinh thần.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

THÁNG THUẤN NGÀY NGHIÊU

Tháng Thuấn ngày Nghiêu, bởi câu “Nghiêu thiên Thuấn Nhật 堯 天 舜 日”, là nói ngày tháng của hai đời vua Nghiêu và vua Thuấn.

Tháng Thuấn ngày Nghiêu dùng để chỉ thời thái bình thịnh trị như hai đời vua Nghiêu Thuấn.

Xem: Nghiêu thiên Thuấn nhật.

Lập pháp Đạo Trời vui tháng Thuấn,

Xây nền đời mới hứng ngày Nghiêu.

(Thơ Thanh Hương).

 

 

THẢNG

Thảng là nếu như, giá phỏng như, hoạ hoằn lắm.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có câu: Lão chẳng nói rõ, hiền hữu cũng thấy hiển nhiên rằng từ thử, thảng Lão có muốn nên cho Ðạo đi nữa thì cũng không thi thố chi đặng với một Hội Thánh hữu hư vô thiệt, như vậy có phải?

Như thảng có kinh luật chi làm hại phong hoá thì chúng nó phải trừ bỏ, chẳng cho xuất bản.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

THẢNG MẢNG

Thảng mảng, đồng nghĩa với chữ “Thỏn mỏn”, có nghĩa là dần qua, ngày qua ngày, chỉ thời gian lần lần trôi qua đi. Như: Thảng mảng mà đã hai mươi năm, nỗi đau rồi cũng nguôi dần.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Thảng mảng ngày qua tháng lại, hạ sanh con đầu lòng là Jésus.

Những thảng mảng tháng thâu năm lụn,

Sớm công phu, tối tụng Vãng sanh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

THẢNG NHƯ

倘 如

Thảng: Nếu, giá phỏng, hoạ hoằn. Như: Giống, bằng.

Thảng như là ví như. Ví dụ: Đường vào xóm rất thấp, thảng như mưa nhiều thì sẽ ngập láng.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Thảng như rủi năm nào thất bác, dân đói khó, thì lập tức mở kho ấy phát cho dân gọi là chẩn bần, mà đầu tiên đứng ra tế chẩn là ông Hương Chủ, khởi phát ở kho lúa của làng trước, khi nào thiếu mới lấy thêm ở kho quốc gia.

Thảng như có điều chẳng vừa ý thì nên ôn tồn, nhỏ nhẹ, bày tỏ chỗ thiệt hơn, chẳng khá cãi cọ mà sanh ngỗ nghịch.

(Giáo Lý).

 

 

THANH

1.- Thanh là tiếng dùng để chỉ từng đơn vị những vật có hình dài, mỏng, nhỏ bản.

Như: Thanh gươm, thanh tre, thanh sắt.

Vậy Quân Ðội Cao Ðài phải giữ gìn thanh gươm nghĩa hiệp, lá cờ nhơn nghĩa cho vững vàng.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

2.- Thanh là trong, không đục, không bợn. Như: Thanh bạch, thanh bần, thanh cao, thanh khiết.

Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy về cơ bút có câu: Nếu chấp cơ thì phải để ý thanh bạch, không đặng tưởng đến việc phàm.

Người hứng trăng thanh kẻ bụi vùi,

Âm dương cách trở chẳng cùng vui.

(Đạo Sử).

Tâm chánh nương nhau dìu lối chánh,

Lòng thanh nhờ lẫn lóng hơi thanh.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

3.- Thanh là màu xanh da trời.

Như: Thanh thiên bạch nhựt, Kiều ở chốn thanh lâu, thanh y, thanh sử.

Lục chu may trộn giống màu thanh,

Bô vải mà che một tấc thành.

(Đạo Sử).

Ðế thất nhứt tâm trung khí dõng,

Thanh y xích diện hảo vinh phong.

(Quan Thánh Đế Quân).

Nhục thanh lâu kìa trước con người,

Hổ thay chúng miệng cười chẳng nhiếp.

(Phương Tu Đại Đạo).

4.- Thanh , còn đọc “Thinh”, là tiếng phát ra từ vật gì, là âm thanh.

Như: Âm thanh, thanh thế, thanh danh, thanh giá, thanh khí, thanh sắc.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Thanh danh của Ðạo là trọng hơn hết, chúng ta phải nâng cao cái thinh danh tôn quý ấy bằng việc làm thực tế chớ chẳng phải bằng lời nói suông và cái khổ của nhơn sanh càng được vơi bớt phần nào, chủ nghĩa Phước Thiện càng thêm bành trướng thì cái thinh danh của Ðạo càng được cao siêu và càng thêm chói rạng.

Khơi nguồn thanh khí thơ tràn mộng,

Kết nghĩa quỳnh dao bút trổ hoa.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

THANH ÂM

聲 音

Hay “Thinh âm”.

Thanh (thinh): Tiếng. âm thanh. Âm: Cái phát ra mà tai có thể nghe được.

Thanh âm, như chữ “Thinh âm”, là tiếng do một vật gì phát ra.

Trong tôn giáo, thanh âm là tiếng dùng để chỉ chung những gì có âm thanh, như âm nhạc, chuông, trống, mõ, tiếng kinh kệ...

Theo Đại Thừa Chơn Giáo, Đức Chí tôn lập Đạo kỳ ba này trái hẳn với Tam giáo, là lấy hữu hình để truyền đạo trước, tức lấy sắc tướng thanh âm độ đời một cách mau chóng, rồi sau đó mới lần lần dẹp hết chỗ hữu hình mà đi đến chỗ vô vi, là cơ siêu phàm nhập Thánh.

Cửa Phật lòng không ham sắc tướng,

Trường văn trống giục dội thanh âm.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

THANH BẠCH

清 白

Thanh: Trong sạch. Bạch: Trắng.

Thanh bạch là trong trắng, chỉ cái hành vi trong sạch, không có điều gì tỳ vết.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Các con nếu biết đời khổ tâm, biết vày vò tình thế, biết chịu kém sút trong nẻo lợi đường danh, biết thiệt mình mà đặng cho kẻ khác, biết đổ lụy cho kẻ vui cười, biết nhọc nhằn trong kế sinh nhai, biết giữ tâm chí cho thanh bạch, đừng nhơ bợn của chẳng nên dùng, biết động mối thương tâm, thương người hơn kể mình, thì là các con được tắm gội hồn trong mà về cùng Thầy đó.

Xin gìn giữ thánh hình thanh bạch,

Xin xá ân rửa sạch tiền khiên.

(Kinh Tận Độ).

Thanh bạch một lòng vì đạo hạnh,

Có khi lóng đục bởi nhờ phèn.

(Đạo Sử).

Thanh bạch quyết gìn ra sức lái,

Sắt son bao quản nhọc công dò.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

THANH BAI

Thanh bai là trong sạch, đẹp đẽ. Như: Giữ gìn tư cách cho thanh bai, trong sạch.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Trái lại cái tâm được nuôi nấng, được nâng cao, cái tâm của các bậc phi thường như Ðịch Nhơn Kiệt đời Ðường, Quan Công Hầu đời Hớn là tâm làm cho những đấng ấy danh vọng xa bay, tiếng tăm lừng lẫy. Họ xem sắc đẹp như cây khô, thị tiền tài như dép rách, đời trong sạch thanh bai từng làm cho kẻ thù nghịch phải khép nép cúi đầu.

Tranh thế bớt pha lằn bợn trược,

Cuộc đời thêm rạng vẻ thanh bai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

THANH BẦN

清 貧

Thanh: Trong sạch. Bần: Nghèo khó.

Thanh bần là nghèo mà trong sạch.

Sách Chu lễ có câu: Thanh bần thường lạc, trọc phú đa ưu 清 貧 常 樂, 濁 富 多 憂, nghĩa là nghèo mà trong sạch thì luôn vui vẻ, còn giàu mà nhơ bợn thì nhiều phiền não.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Hiện giờ cùng chung chịu cảnh thanh bần của Đạo, chúng tôi phải tiết kiệm đồng tiền của Đạo hết sức cân phân lợi hại trước khi tiêu phí, vì đó là huyết mạch của nhơn sanh, chúng ta không có quyền phung phí vô lối.

Lụy châu đổ thương người lữ thứ,

Chốn phồn hoa vẫn giữ thanh bần.

(Bát Nương Giáng Bút).

Núi rừng thủ phận thanh bần,

Tịnh thanh một cõi phong trần mặc ai.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

THANH BẦN THƯỜNG LẠC

清 貧 常 樂

Thanh bần: Nghèo mà giữ lòng trong sạch. Thường lạc: Luôn luôn vui vẻ.

Thanh bần thường lạc là người nghèo khó giữ lòng trong sạch thì luôn luôn lúc nào cũng được sự an vui.

Thực vậy, người giàu có tạo ra sự nghiệp với những mưu đồ bất chánh nên cứ mãi lo sợ không biết ngày nào phải đền trả hành vi xấu xa của mình, còn kẻ nghèo khó giữ lòng trong sạch với những hành động chơn chánh thì trong tâm họ lúc nào cũng an vui.

Ðó thiệt là “Thanh bần thường lạc, trược phú đa ưu”.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

THANH BÌNH

清 平

Thanh: Trong sạch. Bình: Yên ổn.

Thanh bình là nói cuộc đời yên ổn, không có điều gì xáo trộn ý chỉ đất nước thái bình thịnh trị.

Như: Đất nước thanh bình, cuộc sống thanh bình.

Ấy là bước thanh bình chủng loại,

Cả nhơn sanh nhờ đoái Đài Cao.

(Lục Nương Giáng Bút).

Nén hương cầu sớm tan binh lửa,

Đời đạo thanh bình chóng phục hưng.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

THANH BƯỜNG

Thanh: Trong sạch. Bường (bình): Yên ổn.

Thanh bường, như chữ “Thanh bình 清 平”, là yên vui trong cảnh hoà bình. Như: Đất nước thanh bường.

Xem: Thanh bình.

Ngưỡng vọng Từ Bi gia tế phước,

Khai minh Đại Đạo hộ thanh bường.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

THANH CAO

清 高

Thanh: Trong sạch. Cao: Cao thượng, cao quý.

Thanh cao là thanh nhã và cao khiết.

Thanh cao còn dùng để chỉ khí tiết của người không chịu uốn mình để làm một điều gì trái với lương tâm, có một nhân cách trong sạch, cao quý.

Như: Người tu phải trau giồi tâm hồn cho thanh cao.

Thánh giáo Thầy có câu: Ấy vậy, Ðại Ðạo Tam Kỳ chẳng khác chi một trường thi công quả. Nếu biết ăn năn trở bước lại con đường sáng sủa, giồi tâm trau đức, đặng đến hội diện cùng Thầy, thì mới đạt đặng địa vị thanh cao trong buổi chung quy cho.

Thanh cao là biết ngon dưa muối,

Hơn ngự lầu yên ngó đảnh Tần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Dầu rủi phận nợ thân chẳng vẹn,

Đạo cần vương nêu tiếng thanh cao.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Tuy phải chịu đầu trần mưa nắng,

Mà tinh thần trong trắng thanh cao.

(Thơ Đức Hộ Pháp).

 

 

THANH CÂN

青 巾

Thanh: Màu xanh. Cân: Cái khăn đội đầu.

Thanh cân là cái bao đảnh xanh, tức một cái khăn màu xanh quấn lại dùng để đội đầu.

Trong đạo Cao Đài, Đức Thượng Sanh, một phẩm Chức sắc của Hiệp Thiên Đài chi Thế, khi mặc Đại phục, đầu bịt Thanh cân.

Pháp Chánh Truyền Chú Giải có câu: Bộ Đại Phục (Của Đức Thượng Sanh) cũng y như của Thượng Phẩm, đầu bịt “Thanh Cân” nghĩa là: một bao đảnh xanh, lưng mang Dây Thần thồng nịt Dây Lịnh sắc, y như của Hộ Pháp và Thượng Phẩm, song mối phải thả ngay về bên tả.

Đầu bịt Thanh cân cầm phất chủ,

Lưng đeo hùng kiếm giữ cung Thiên.

(Thơ Phạm Mộc Bổn).

 

 

THANH CUNG

青 宮

Thanh: Màu xanh. Cung: Cung điện.

Thanh cung là cung điện sơn màu xanh.

Sách Thần Dị Kinh chép: Ở ngoài biển Đông Hải, núi Đông Minh có một cung điện vách tường bằng đá xanh, ngoài cửa có tấm bảng bằng bạc đề: Thiên địa trưởng nam chi cung 天 地 長 男 之 宮, tức là cung con trai trưởng của trời đất.

Nhân đó người ta gọi Thái tử là Đông cung (Cung ở Đông Hải), hoặc “Thanh cung 青 宮”.

Thanh cung còn dùng để chỉ mặt trăng (cung nguyệt, cung trăng).

Nơi Thanh cung hỏi Hằng Nga,

Vì ai ngọc đổ châu sa bấy chừ.

(Tứ Nương Giáng Bút).

 

 

THANH CHƯỚC

清 酌

Thanh: Trong sạch. Chước: Rót rượu.

Theo Hán Việt Từ Nguyên, Giáo sư Bửu Kế có giải thích: “Thanh chước” là rượu tinh khiết, ý nói thứ rượu trong sạch có thể rót để cúng tế được.

Chư Thiên phong nghiêm thiết Đàn tràng: Hương, đăng, hoa, trà, quả, thanh chước chi nghi thành tâm hiến lễ.

(Sớ Văn).

 

 

THANH DANH

聲 名

Thanh (thinh): Tiếng tăm. Danh: Tên họ.

Thanh danh, còn đọc là “Thinh danh”, là nói người có tiếng tăm, hay nổi tên tuổi.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Sự nhớ công ơn đó chẳng phải là bằng lời nói không, mà phải bằng những cử chỉ và hành động xây dựng, thế nào cho thanh danh Ðạo ngày càng thêm cao, thế nào cho Ðại nghiệp nầy được bành trướng và trường tồn mãi mãi.

Phất chủ quét tan lằn trược khí,

Thư hùng định vững bậc thanh danh.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

THANH ĐẠM

清 淡

Thanh: Trong. Đạm: Lạt.

Thanh đạm là nói những thức ăn bình thường, giản tiện, không cần đến thức cao lương mỹ vị. Như: Bữa ăn rất thanh đạm.

Trong Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Ðời chuộng vinh sang, Ðạo chuộng khổ hạnh, đời ham trược phú, Ðạo giữ thanh bần, lên xe xuống ngựa chốn phồn hoa đổi lại cảnh lê hoắc nâu sồng, nơi cửa Ðạo tương dưa thanh đạm tháng ngày, để mặc miếng mỹ vị cao lương ngoài quán tục.

Con đường hành Đạo thênh thang,

Muối dưa thanh đạm an nhàn từ đây...

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

Thanh đạm quen mùi sống hẩm hiu,

Hai ta xướng hoạ cảm tình nhiều.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

THANH ĐẠO

清 道

Thanh: Trong sạch, còn là tên Tịch đạo Nam phái của đời Giáo Tông đầu tiên. Đạo: Tôn giáo, cũng là tên Tịch đạo Nam phái của đời Giáo Tông kế tiếp.

Thanh Đạo là nền tôn giáo trong sạch, chỉ nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Thanh Đạo còn dùng để chỉ tên hai Tịch đạo của đời hai vị Giáo Tông trong đạo Cao Đài.

Đời Giáo Tông đầu tiên (Đức Lý Giáo Tông), Thánh danh của chức sắc Cửu Trùng Đài Nam phái lấy chử “Thanh 清” làm Tịch đạo.

Đời Giáo Tông kế tiếp, Thánh danh của chức sắc Cửu Trùng Đài Nam phái lấy chữ “Đạo 道” làm Tịch đạo.

Thanh Đạo tam khai thất ức niên,

Thọ như địa quyển thạnh hoà Thiên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

THANH GIÁ

聲 價

Thanh (thinh): Tiếng tăm. Giá: Giá trị, phẩm giá.

Thanh giá, còn đọc “Thinh giá”, là chỉ người có tiếng tăm và có phẩm giá.

Như: Người quân tử phải giữ gìn thanh giá của mình.

Lòng son một thuở nêu thanh giá,

Bến mộng đòi phen biệt cố nhân.

(Thơ Nguyễn Nga).

 

 

THANH KHÍ

聲 氣

Thanh (thinh): Tiếng. Khí: Hơi.

Thanh khí, do câu trong Kinh Dịch: Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu 同 聲 相 應, 同 氣 相 求, có nghĩa là cùng một thanh thì ứng với nhau, cùng một khí thì tìm lấy nhau.

Thanh khí nói sự cảm ứng tự nhiên của các vật cùng loại trong trời đất.

Vạn vật trong trời đất cùng một loài với nhau thì cảm ứng với nhau. Bạn bè chơi với nhau cùng ý cùng lòng mới thân nhau được.

Ngâm câu thanh khí trao lời ngọc,

Chuốc chén hoàng hoa hứng gió vàng.

(Thơ Chơn Tâm).

Sài, Triệu, Trịnh thể đồng chung trí,

Tình hữu giao thinh khí tương cầu.

(Báo Ân Từ).

 

 

THANH KHÍ ỨNG CẦU

聲 氣 應 求

Thanh: Tiếng. Khí: Hơi. Ứng: Đáp lại, đối lại. Cầu: Tìm kiếm, xin mong.

Thanh khí ứng cầu, bởi câu: Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu 同 聲 相 應, 同 氣 相 求, có nghĩa là cùng một thanh thì ứng với nhau, cùng một khí thì tìm lấy nhau.

Thanh khí ứng cầu ý nói sự cảm ứng tự nhiên của các vật cùng loại trong trời đất.

Nghĩa bóng: Người đồng tư tưởng thì hợp nhau.

Thận chung truy viễn hầu tông tổ,

Thanh khí ứng cầu thỉnh bạn thân.

(Thơ Quốc Tuấn).

 

 

THANH LẶNG

Thanh: Trong sạch, sạch sẽ. Lặng: Im, yên lặng.

Thanh lặng là trong sạch và yên lặng.

Như: Buổi tối ở làng quê khung cảnh thanh lặng, trời vừa dứt mưa bầu trời trở nên thanh lặng.

Con nên biết, cứ ai lo phần nấy, đừng lỗi phận sự thì được thanh lặng yên vui.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

THANH LÂU

青 樓

Thanh: Màu xanh. Lâu: Nhà lầu.

Thanh lâu là lầu xanh.

Ngày xưa dùng để chỉ nhà quyền quý. Theo Nam Sử, Đời Tề vua Võ Đế cho xây dựng lầu cao, trên sơn màu xanh, người đời gọi là thanh lâu. Sách Tào Thực chép: Thanh lâu lâm đại lộ, cao môn kết trùng quan 青 樓 臨 大 路, 高 門 結 重 關, nghĩa là lầu xanh chạy dài đến đường cái lớn, cửa cao có mấy tầng khoá chặt. Ý chỉ lầu của nhà phú quý.

Nhưng từ khi Lưu Mạo Lương có làm câu thơ: Xướng nữ bất thăng sầu, kết thúc hạ thanh lâu 唱 女 不 勝 愁, 結 束 下 青 樓, tức là người ca nhi không xiết buồn, thu vén xuống lầu xanh thì từ ngày đó chữ “Thanh lâu” mới dùng để chỉ nơi kỹ nữ ở (nhà điếm).

Hành đến chết huờn hồn sống lại,

Cho đầu thai ở tại thanh lâu.

(Kinh Sám Hối).

Đừng quen kết lũ vầy đoàn,

Cửa thanh lâu những rộn ràng gió trăng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Nghĩ dấu sắc màu chiền khó vẽ,

Chốn thanh lâu khó vẽ màu dà.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

THANH LIÊM

清 廉

Thanh: Trong sạch. Liêm: Không tham lam.

Thanh liêm là người có đời sống trong sạch, không tham lam. Như: Cha làm quan được tiếng là thanh liêm.

Dạy về Liêm khiết, Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Liêm tức là thanh liêm, liêm khiết, hay khiết kỷ, là bản tánh trong sạch, không nhơ bợn một mảy gì, một vật gì, một món tiền của nào bất chánh, không phải do nơi công lao của mình làm ra.

Khiết tính nết thanh liêm là trọng,

Phép tu thân nhớ bóng là hơn.

(Cửu Nương Giáng Bút).

Trọng câu phước đức dạ lo nhân,

Phải mặt thanh liêm giữ kiệm cần.

(Đạo Sử).

Nhượng đức khiêm tài người khó sánh,

Thanh liêm treo giá tấm gương lành.

(Thơ Hiến Pháp).

 

 

THANH LIÊM CHÁNH TRỰC

清 廉 正 直

Thanh liêm: Liêm khiết, có phẩm chất trong sạch. Chánh trực: Có tính ngay thẳng.

Thanh liêm chánh trực, như chữ “Liêm chính 廉 正”, ý chỉ người trong sạch, ngay thẳng.

Xem: Liêm chính.

May duyên gặp đặng vợ hiền,

Thanh liêm chánh trực giữ bền lòng son.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

THANH LOAN

青 鸞

Thanh: Màu xanh. Loan: Một thứ chim cùng loài với chim phượng, phượng chim trống, loan chim mái.

Trong văn học, “Chim xanh” chỉ về tin tức, mai mối, do từ chữ “Thanh điểu 青 鳥” là chim loan màu xanh, một sứ giả của bà Tây Vương Mẫu đến báo tin cho Hán Võ Đế biết để nhà vua cùng vị Tiên là Đông Phương Sóc ra tiếp rước Bà.

Theo tôn giáo Cao Đài, Thanh loan là chim loan màu xanh, là chim lịnh của Đức Phật Mẫu. Ngoài ra, Đức Phật Mẫu cũng dùng chim thanh loan để ngự giá du hành.

Vì vây, trên nóc Báo Ân Từ hay các Điện thờ Phật Mẫu đều có đắp hình con chim thanh loan.

Xem: Chim xanh.

Dường đợi Thanh loan đến Hớn Đài,

Tửu Tiên chưa phỉ tỉnh cùng say.

(Bát Nương Giáng Bút).

Diêu Trì Kim Mẫu kỵ Thanh loan,

Cung thỉnh Trung thu ngự chứng Đàn.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

THANH LONG

青 龍

Hay “Yểm Nguyệt Thanh Long Đao 掩 月 青 龍 刀”.

Thanh: Màu xanh. Long: Rồng.

Thanh long là rồng xanh.

Ở đây, Thanh long là tên một cây đao, còn gọi là Yểm Nguyệt Thanh Long Đao, một ngọn đao sắt bén của Quan Vân Trường.

Cây Thanh Long Đao nầy đã giúp cho Ngài lập được nhiều công to lớn cho nước Thục, đời Tam Quốc.

Thuyết Đạo về Quan Thánh Đế Quân, Đức Thượng Sanh có câu: Ðức Ngài chỉ cởi ngựa xích thố, cầm Thanh Long đao, đốc xuất quân tuỳ tùng cũ ngày trước đẩy xe ra khỏi thành.

1. Thanh long:

Nương huệ kiếm đoạn vòng oan nghiệt,

Thủ Thanh long đặng diệt tà tinh.

(Lục Nương Giáng Bút).

Lên yên Xích thố về triều Hớn,

Hươi ngọn Thanh long giả tướng Tào.

(Cội Đạo Bốn Mùa).

2. Yểm Nguyệt Thanh Long Đao:

Mỗi phen Ngài trở cây Yểm Nguyệt Thanh Long Ðao định vớt nhà nớ, thì nhà nớ nhảy xuống ngựa, chí khí đó thế gian hy hữu.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

THANH MY

青 眉

Thanh: Xanh. My: Lông mày.

Thanh my là mày xanh, chỉ tuổi trẻ, thanh niên.

Huấn từ Thượng Sanh có dạy: Trên cõi tạm nầy, những nỗi buồn, vui, đau khổ, nhục vinh, là những đoạn trường mà khách trần, ai cũng phải trải qua từ thanh my chí bạch phát để nung đúc tâm hồn cho tới mức siêu nhiên.

Bước thế chịu đày khơi bạch phát,

Nguồn Tiên ráng lướt rạng thanh my.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tiệc ngọc vui vầy trang bạch phát,

Xe hoa mừng đón lứa thanh my.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

THANH MINH

清 明

Thanh: Trong, không đục, không bợn. Minh: Sáng.

Thanh minh là một cái tiết vào tháng ba, khí trời mát mẻ trong trẻo.

Trong tiết này, người ta thường đi tảo mộ, tức là bày lễ cúng nơi phần mộ và dọn dẹp sạch sẽ chung quanh mộ.

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du có viết: Thanh minh trong tiết tháng ba, Lễ là tảo mộ, hội là đạp Thanh.

Thanh Minh trong tiết vườn xuân,

Phụng chầu, hạc múa, gà rừng gáy reo.

(Đạo Sử).

 

 

THANH NIÊN

青 年

Thanh: Màu xanh da trời. Niên: Năm, tuổi.

Thanh niên là tuổi còn xuân xanh, chỉ người còn trẻ, đang còn ở độ tuổi trưởng thành.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Trước nửa giờ lâm chung, Ngài còn rán ngồi dậy nhắn cùng tất cả Thanh niên Việt Nam hãy cương quyết phục cường cứu quốc, rồi Ngài nằm thiêm thiếp.

Lo chọn lấy thanh niên dũng chí,

Gởi sang trường võ bị Nhật hoàng.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

THANH NHÃ

清 雅

Thanh: Trong sạch. Nhã: Tao nhã, trái với thô tục.

Thanh nhã là thanh tú và văn nhã, tức có vẻ đẹp nhã nhặn, lịch sự, ưa nhìn.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy: Trời Nam may đặng một yếng sáng của Ðấng Ðại Từ Ðại Bi dẫn khách trần bước lần ra con đường hắc ám, để tránh khỏi bến mê, dụng nâu sồng thế cân đai, mượn khổ tâm thay chung đỉnh, lấy hạnh đức làm nấc thang bước lên tột lừng Trời, vẹt ngút mây xanh, trông vào cảnh thiên nhiên, biết rõ cơ mầu nhiệm mà làm khách u nhàn thanh nhã, núi thẳm rừng xanh.

Hiệp ban lành nơi Tiên Cảnh quay về,

Chốn thanh nhã dựa kề câu thi phú.

(Giác Mê Khải Ngộ).

Rừng tòng thanh nhã say mùi Đạo,

Bể khổ mênh mang vớt khách trần.

(Thượng Phẩm Giáng Bút).

 

 

THANH NHÀN

清 閒

Thanh: Xong xuôi. Nhàn: Không bận rộn.

Thanh nhàn là thảnh thơi, nhàn nhã, không có việc gì ràng buộc, bận bịu.

Thánh giáo Thầy có câu: Ðạo nên Ðời rạng, giũ áo phồn hoa nương bóng khổ trăm năm mãn cuộc tự thanh cao, nếm mùi tự toại, dưỡng chí thanh nhàn, thì có chi hơn. Vậy là mầu, vậy là trí.

Cầu xin trăm họ bình an,

Nước giàu dân mạnh thanh nhàn muôn năm.

(Kinh Sám Hối Ngắn).

Nghiệp nước nỗi nhà còn bận bịu,

Thanh nhàn chưa phải buổi xem mai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Phù thế kiếp đời dường mộng ảo.

Thanh nhàn cửa đạo mới Thiêng liêng.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

THANH PHONG

清 風

Thanh: Trong, không bợn. Phong: Gió.

Thanh phong là gió mát.

Thành ngữ Việt Hán có câu: “Thanh phong minh nguyệt 清 風 明 月” là gió mát trăng thanh.

Thơ của La Hồng Tiên có câu: Thanh phong minh nguyệt nhất thi nang 清 風 明 月 一 詩 囊, nghĩa là gió mát trăng thanh thơ một túi.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Vầng trăng đương soi sáng vũ trụ, bỗng nhiên một thoáng mây đen thoáng qua, tuy là làm cho lu mờ cảnh vật, nhưng đó chỉ là trong chốc lát. Một luồng thanh phong thổi tới, áng mây bị đẩy đi xa, ánh trăng cũng trở lại tỏ rạng khắp bốn phương trời.

Thưởng ngọn thanh phong đồng tiến bước,

Tu hành kịp buổi hội Long Hoa.

(Thơ Võ Thành Lượng).

 

 

THANH QUANG

青 光

Thanh: Màu xanh. Quang: Ánh sáng.

Thanh quang là ánh sáng màu xanh.

Theo ý nghĩa bài Kinh Đệ Tam Cửu trong Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo của Đạo Cao Đài, thì từng trời Thanh Thiên là một cõi giới có ánh sáng màu xanh rực rỡ soi khắp núi rừng trùng điệp.

Các chơn hồn về đến từng trời nầy, màu thanh quang có cảm giác sung sướng, vui vẻ để lên đường mà trông ngóng về cõi Thiêng Liêng.

Thanh quang rỡ rỡ đòi ngàn,

Chơn thần khoái lạc lên đàng vọng Thiên.

(Kinh Tận Độ).

 

 

THANH SẮC

聲 色

Thanh: Tiếng, âm thanh. Sắc: Chỉ vẻ đẹp phụ nữ.

Thanh sắc là dùng để chỉ âm thanh và sắc đẹp, tức chỉ giọng nói và gương mặt của người phụ nữ đẹp.

Như: Thời son trẻ thanh sắc của cô ta vừa thanh tao vừa đẹp đẽ.

May gặp hoàng mai hai độ nở,

Ưa nhìn thanh sắc một trời thơ.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

THANH SƠN

Thanh: Màu xanh. Sơn: Núi non.

Thanh sơn 青 山 là non xanh, núi màu xanh. Như: Thanh sơn lục thuỷ (nước biếc non xanh).

Thanh sơn nguyên bất lão, vị tuyết bạch đầu,

Lục thuỷ bổn vô sầu, nhơn phong sô diện.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

THANH SƠN ĐẠO SĨ

青 山 道 士

Hay “Thanh Sơn”.

Thanh Sơn, còn gọi là Thanh Sơn Đạo Sĩ, là Thánh hiệu của Đức Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Theo Thánh giáo, Đức Thanh Sơn Đạo Sĩ là Sư Phó Bạch Vân Động, cùng với Nguyệt Tâm Chơn Nhơn, tức Victor Hugo và Tôn Sơn Chơn Nhơn, tức Tôn Văn, là ba vị Thánh được linh Đức Chí Tôn ký Đệ Tam Thiên Nhơn hoà Ước để công bố cho toàn thể nhơn loại hầu thực thi bốn chữ “Bác Ái – Công Bình”.

Ba vị Thánh ở Bạch Vân Động còn có nhiệm vụ hộ giá Đức Mẹ, nên tại các Điện thờ Phật Mẫu ở địa phương đều có lập vị thờ Tam Thánh và khi cúng Phật Mẫu có niệm câu: Nam Mô Bạch Vân Động chư Thánh”.

1.- Thanh Sơn Đạo Sĩ:

Rồi mới đầu kiếp ở bên xứ Việt Nam, ta kêu là Thanh Sơn Đạo Sĩ tức nhiên là Trạng Trình đó vậy,

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

2.- Thanh Sơn:

Hay Thanh Sơn! Giỏi Thanh Sơn!

Trung nghĩa về Tiên cũng ngậm hờn.

(Lục Nương Giáng Bút).

Tài Thanh Sơn! Trí Thanh Sơn!

Câu văn tuyệt bút vẽ nên hờn.

(Thất Nương Giáng Bút).

Trung Thanh Sơn! Nghĩa Thanh Sơn!

Bởi tại đâu ăn oán nuốt hờn?

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

THANH SỬ

青 史

Thanh: Màu xanh. Sử: Lịch sử.

Thanh sử là sử xanh.

Ngày xưa người ta dùng tre để chép sử. Cái sắc của cật tre vốn màu xanh, cho nên gọi là thanh sử.

Lý Bạch có câu: Thanh sử cựu danh truyền 青 史 舊 名 傳, tức là tên ngày xưa là thanh sử, cho đến nay còn truyền lại.

Thánh giáo Đức Thái Thượng Đạo Tổ có câu: Những kẻ chí sĩ lãnh trách nhậm nghiêng vai gánh vác cả non sông đều làm phận sự. Công nghiệp nhiều ít ấy, tính lời vốn với Toà thiêng liêng, hoặc ghi tên tuổi vào thanh sử thiên niên, chớ chẳng phải để kể công trình với chúa tể ấy.

Thanh sử từng nêu gương nữ kiệt,

Hồng ân chi kém bạn nam nhi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Noi tiết phụ đời xưa thanh sử,

Sách có câu: Hiền nữ kỉnh phu.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

THANH TAO

清 騷

Thanh: Trong Kinh Thi có thơ Thanh miêu, âm điệu rất cao nên gọi Thanh. Tao: Sở Từ có phú Ly Tao, lời lẽ rất hay, nên nói tắt là Tao.

Thanh tao ý chỉ lời văn, thơ, phú hay và chảy chuốt.

Hiện nay chữ “Thanh tao” thường dùng để chỉ thanh lịch và tao nhã.

Đại Thừa Chơn Giáo có đoạn: Tai nghe giọng phù trầm, lảnh lót thanh tao mà lòng không vọng động. Mắt thấy việc lạ lùng, xinh đẹp, tốt tươi mà ý chẳng say mê.

Xuân hoa rực rỡ muôn màu đẹp,

Xuân cảnh thanh tao một tiếng kình.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

Thanh tao nhạc phụng trên dương liễu,

Chát chúa kèn nai dưới bá tòng.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

THANH TÂM

清 心

Thanh: Trong sạch. Tâm: Lòng.

Thanh tâm là cõi lòng trong sạch.

Như: Thanh tâm quả dục (lòng trong sạch và ít dục vọng), thanh tâm thường lạc.

An phận đường tu bền thiện niệm,

Thanh tâm thường lạc phép trau mình.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

THANH TÂM QUẢ DỤC

清 心 寡 慾

Thanh tâm: Cái tâm trong sạch. Quả dục: Lòng ít ham muốn.

Thanh tâm quả dục là cái tâm trong sạch và giảm bớt điều ham muốn, tức bỏ những cái ham muốn xấu (ác dục) đưa đến khổ đau và thực hành những cái muốn tốt (thiện dục) đem lại an lạc hạnh phúc.

Sinh ký tử quy lời thế tục,

Thanh tâm quả dục gắng tu thiền.

(Thơ Tử Quy).

 

 

THANH TÂM TÀI NỮ

清 心 才 女

Thanh Tâm Tài Nữ là vị Nữ Tiên thuộc Diêu Trì Cung, có đầu kiếp tại Việt Nam, nhưng mất sớm lúc 18 tuổi do chết đuối nơi bãi biển Vũng Tàu.

Trước ngày khai nền Đại đạo, các chơn linh cao trọng có nhiệm vụ xuống thế độ đời thường tìm cách giáng cơ dạy đạo cho chúng sanh, trong đó có Bà Thanh Tâm Tài Nữ, một vị Tiên Nương nơi Diêu Trì Cung cũng giáng dạy nhiều về giáo lý từ năm Mậu Thìn 1928 đến năm Quý Dậu (1933).

Theo Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp với đề tài “Kiếp Duyên và Kiếp Quả về Thanh Tâm Tài Nữ”, Ngài cho biết: Cô đầu kiếp tại Việt Nam, mất lúc 18 tuổi tại bãi biển Vũng Tàu. Khi được cứu rỗi về Cung Diêu Trì, Cô được lịnh Phật Mẫu dạy hiệp cùng Cửu Vị Tiên Nương giáng cơ dạy Đạo trong Trường Quy Thiện của Diêu Trì Cung lập tại Thảo Đường.

Qua lời kể lại của các vị tiền bối đạo Cao Đài, Bà Thanh Tâm Tài Nữ, tiền kiếp là một vị Nữ Tiên ở Cung Diêu Trì, có một kiếp giáng trần tại Việt Nam bị chết chìm nơi bãi biển Vũng Tàu ngày 5 tháng 4 năm Đinh Mão (Dl. 17/5/1927), được các vị chức sắc đương thời hành lễ tang và dâng sớ cầu xin Đức Phật Mẫu cứu rỗi cho chơn linh Bà.

Sau đó Đức Phật Mẫu có giáng cơ cho biết Bà Thanh Tâm đã được cứu rỗi trong một bài Thánh giáo năm Đinh Mão, có đoạn dạy như sau: Thiếp chứng lòng thành kỉnh và đạo đức của chư đạo hữu. Vả lại, Thanh Tâm có căn trước, nên thiếp vì chư đạo hữu mà cứu rỗi cho chơn linh của nó trước ngày mãn hạn. Vậy Thiếp đem chơn linhThanh Tâm về Diêu Trì Cung nghe kinh và học đạo đủ một trăm ngày cho chơn thần hườn nguyên, hườn nguyên rồi sẽ cho xuống hầu chuyện cùng chư đạo hữu.

Thế là sau đó Bà Thanh Tâm Tài Nữ có giáng cơ vào Ngày 4 tháng 3 năm Mậu Thìn (Dl. 23/4/1928). Bài Thánh giáo đó được trích trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển như sau:

Mừng mấy anh.

Ðạo mở rộng, giống Ðạo gieo đã trót hai thu, mà người thiệt vì Ðạo chẳng có bao nhiêu. Thế nên hồi chưa mở rộng nền Ðạo, Ðức Thích Ca dòm vào thế cuộc mà than rằng:

Lộ vô nhơn hành,

Ðiền vô nhơn canh,

Ðạo vô nhơn thức,

Ta hồ tận chúng sanh!

Ba anh có hiểu chăng?

Sao gọi là: Lộ vô nhơn hành?

Ðường có người đi nhiều mà không ai là người phải, đường đi dập dìu thiên hạ mà toàn là ma hồn quỷ xác, tâm giả dối, hạnh hung bạo, mật chứa đầy tà khí, thế nào gọi là người!

Còn Ðiền vô nhơn canh là sao?

Ruộng đây là tỷ với Tâm, Tâm không ai giồi trau. Ðạo nơi Tâm, thì Tâm ví như Ðiền, có Ðiền mà chẳng cày bừa đặng đem hột lúa gieo vào cho đặng trổ bông đơm hột thì ruộng tất phải bỏ hoang, bỏ hoang thì sâu bọ rắn rít xen vào ẩn trú.

Người mà có Tâm như vậy ra thế nào? Ruộng sẵn, giống sẵn, cày bừa sẵn, duy có ra công làm cho đất phì nhiêu đặng cho buổi gặt hưởng nhờ mà không chịu làm, thế thì phải diệt tận chơn linh.

Cho đến năm 1933, vì nhơn duyên của Bà còn phải nặng nợ với chúng sanh, nên Bà lại đầu kiếp qua Anh Quốc.

Trước khi đi Bà có đến từ biệt Đức Hộ Pháp trong một Đàn cơ ngày 12 tháng 1 năm Quý Dậu (Dl. 8/2/1933). Bài Thánh giáo đó như sau:

Mừng mấy anh, mấy chị,

Em sẽ tái kiếp Hồng mao, nên đến từ tạ.

Ðức Phạm Hộ Pháp hỏi: Sao em đầu kiếp xa vậy?

- Vì em có nhơn duyên nơi nước Anh. Em đầu kiếp xuống đây để đứng ngả ba đường đón Ðức Chí Tôn. Nếu có quên, nhờ quý anh nhắc, thức tỉnh em nhớ.

Em đã nói trước với quý anh rồi, có lạ chi dòng luân luân chuyển chuyển mà da díu bận lòng. Em đến giúp nên cơ Ðạo đặng báo nghĩa cho Chí Tôn.

Em nghe Chí Tôn nơi nầy, chạy theo nơi nầy không gặp. Em nghe nói nơi khác, chạy nơi khác, cũng không gặp.

Hỏi ra thì em khiếm khổ hạnh nên khó phép thấy Người, nên quyết luân hồi chịu khổ hạnh hầu gặp cho đặng, kẻo ức. Thương quá đỗi thương mà chưa từng thấy mặt.

Thưa mấy chị,

Ðã may duyên gần gũi hình bóng của Người, ráng đặng gặp Người, kẻo sau ăn năn uổng lắm!

Cái oan nghiệt kiếp sanh đáng ghê sợ chưa bằng không gặp mặt Chí Tôn, vì lẽ ấy mà biết bao nhiêu Tiên, Phật hạ trần chịu khổ.

Xin mấy chị nghe:

Phải đủ căn sanh mới thấy Trời,

Ai ai đừng tưởng dễ như chơi.

Nghe danh như chất chồng bên gối,

Cổ Phật không duyên khó gặp Người.

Nói về “Kiếp Duyên Kiếp Quả Của Chúng Ta”, Thuyết Đạo Hộ Pháp có đoạn: Vị Thanh Tâm Tài Nữ trước kia vì tình mà chết, nên phải đầu kiếp, trước khi người đến tại nước Anh, người có đến đặng từ biệt chúng tôi, buổi ấy chúng tôi hỏi: Sao lại đến nước Anh, chớ không đến nước khác? Thanh Tâm Tài Nữ nói: Nhơn duyên của em nơi đó. Em cốt yếu đến nước Anh đặng đón đường Đức Chí Tôn đi ngang qua đấy.

Thiếp dặn Cửu Nương và Thanh Tâm Tài Nữ thay phiên nhau đem trí thức tinh thần thiêng liêng mà chế vào lòng các con, hoạ may giảm đặng lần lần tục tánh.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

THANH TÂN

清 新

Thanh: Trong trẻo. Tân: Mới mẻ.

Thanh tân là trong sạch và mới mẻ, hoặc để chỉ người con gái non trẻ.

Truyện Kiều, Nguyễn Du có câu: Thoắt đâu thấy một tiểu kiều, Có chiều phong vận có chiều thanh tân.

Phận liễu trao về trang mặc khách,

Nhà lan cười đón nét thanh tân.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

THANH TỊNH

清 淨

Thanh: Trong trẻo. Tịnh: Trong sạch.

Thanh tịnh, nghĩa đen là trong trẻo, sạch sẽ. còn nghĩa bóng theo Tôn giáo xa lìa mọi phiền não, gian ác và mê muội. Trong trường hợp nầy, Thanh tịnh đồng nghĩa với “Thanh tĩnh 清 靖” là không ai quấy nhiễu, hay xa lánh những hành vi độc ác và những điều phiền não ở đời.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy các vị Chức sắc Thiên phong: Các con phải thanh tịnh, kể từ ngày nay diệt tận phàm tâm, chớ nhơ một điểm thì ngày ấy thề mới đặng.

Thanh tịnh ít người toan định tỉnh,

Công danh ràng rịt cột chôn chơn.

(Đạo Sử).

Thảnh thơi biển rộng ngư mừng nước,

Thanh tịnh rừng sâu thú lập làng.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

THANH TỊNH ĐẠI HẢI CHÚNG

清 淨 大 海 眾

Thanh tịnh: Trong sạch, nghĩa rộng xa điều phiền não, mê muội. Đại Hải Chúng: Đông như biển người.

Thanh Tịnh Đại Hải Chúng là một cõi nơi thiêng liêng mà tất cả các chơn hồn người chết về tạm ở đó chờ đợi Toà Tam Giáo Ngọc Hư Cung phán xét tội phước.

Như vậy, cõi nầy là nơi tập trung rất đông đảo chơn hồn vừa lìa khỏi thể xác, tựa như một biển người mênh mông, nên mới được gọi là Thanh Tịnh Đại Hải Chúng.

Thanh Tịnh Đại Hải Chúng được đặt dưới quyền cai quản và giáo hoá của Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát và Thất Nương Diêu Trì Cung.

Nếu nó (Võ văn Đợi) đặng ở Thanh Tịnh Đại Hải Chúng mà tu hành nơi cõi Hư Linh cũng là may phước cho nó, còn quyền Thiêng liêng thưởng phạt là do quyền Ngọc Hư Cung...

(Lời Phê Hộ Pháp).

 

 

THANH THẢN

清 坦

Thanh: Thanh cao, trong sạch. Thản: Rộng rãi, bằng phẳng, vui vẻ.

Thanh thản là ở trạng thái nhẹ nhàng, thoải mái, vì trong lòng không có điều gì áy náy, lo nghĩ.

Như: Mấy ngày nay đầu óc anh ta rất thanh thản.

Bẽ bàng thân phận chưa thanh thản,

Ngán ngẩm công danh quá muộn màng.

(Thơ Hàn Sinh).

Thà nghèo trong sạch tâm thanh thản,

Quả nghiệp không vương, trí nhẹ nhàng.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

THANH THAO

Thanh thao, như chữ “Thanh tao 清 騷”, là tao nhã, thanh thoát và trong sáng.

Như: Phong độ thanh thao, giọng nhạc trỗi lên nghe rất thanh thao.

Thanh thao nhạc phụng trên dương liễu,

Chát chúa kèn nai dưới bá tòng.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

THANH THẾ

聲 勢

Thanh (thinh): Danh tiếng. Thế: Thế lực.

Thanh thế là thanh danh và thế lực, tức kẻ có nhiều tiếng tăm và có quyền lực được nhiều người biết đến.

Như: Nó cư xử rất khôn khéo với mọi người, nhằm gây thanh thế.

Thanh thế con người toan cải ác,

Tùng theo nhơn cách đặng phong Thần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Bao nhiêu thanh thế bốn ngàn năm,

Lịch sử từng ghi tiếng chẳng lầm!

(Thơ Chánh Đức).

 

 

THANH THIÊN

青 天

Thanh: Màu xanh. Thiên: Tầng Trời.

Thanh Thiên là một tầng Trời có ánh sáng màu xanh. Tầng Trời này thuộc tầng Trời thứ ba trong Cửu Trùng Thiên, do Tam Nương Diêu Trì Cung cai quản, và có nhiệm vụ tiếp dẫn các chơn hồn lên tầng Trời này.

Cõi Thanh Thiên lên miền Bồng Đảo,

Động Thiên Thai bảy Lão đón đường,

(Kinh Tận Độ).

Biển mê bát nhã dò lần,

Thanh Thiên mở lối Chơn thần quy nguyên.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

THANH THOÁT

Thanh: Trong sạch. Thoát: Tự nhiên, nhẹ nhàng, không gò bó, gượng ép.

Thanh thoát là thanh thản, trong sạch, nhẹ nhàng, không có gì vướng mắc.

Thanh thoát là (dáng điệu, đường nét) mềm mại, gây cảm giác nhẹ nhàng, dễ ưa.

Thánh thoát (lời văn) lưu loát, nhẹ nhàng, không gò bó, không khúc mắc.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Ðời càng tỏ ra đê hèn, hạ tiện, chúng ta càng tỏ ra chơn chánh, siêu phàm, thiên hạ cúi mình bò lết trong chỗ nhơ bẩn vì chút ít lợi quyền, chúng ta phải vươn mình lên cao để đón hứng mùi hương thanh thoát, làm cho trí óc trở nên phi thường và tâm hồn thơ thới.

Phim đời phiền luỵ chi thêm bận,

Thanh thoát chày kình nện cửa không.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

THANH TRỪNG

清 懲

Thanh: Trong sạch. Trừng: Phạt, răn.

Thanh trừng là gạt bỏ ra khỏi hẳn hàng ngủ.

Thanh trừng còn có nghĩa là răn phạt, làm cho không còn những phần tử xấu xa nữa.

Như: các phe phái trong Đảng thanh trừng lẫn nhau.

Thanh trừng nội bộ bày,

Mưu phản ngoại lai khiến rối nồi.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

THANH TRƯỢC

Hay “Thanh trọc”.

Thanh: Trong sạch. Trược (trọc): Dơ, bẩn.

Thanh trược, như chữ “Thanh trọc 清 濁”, là trong sạch và nhơ bợn, ý chỉ sự nhẹ nhàng hay nặng nề.

Trong quyển Thiên Đạo, Hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có viết: Vạn vật sở dỉ khác nhau ở hình thể cùng ở chỗ thanh trược, tinh thô, song kỳ thiệt vốn đồng một thể, vì một gốc mà ra.

Có nhiều hồn chưa qua khỏi đặng, phải chịu ít nữa đôi trăm năm, tuỳ Chơn thần thanh trược.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

THANH U

清 幽

Thanh: Trong sạch. U: Vắng vẻ yêu lặng.

Thanh u là thanh tịnh và u nhã.

Như: Những kẻ không ham danh lợi thường tìm chốn thanh u để lành đời.

An nhàn tâm trí thanh u,

Chán đời giả dối hèn ngu bạo tàn!

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

THANH VẮNG

Thanh: Rất trong, không lẫn một chút gì làm cho đục, mờ, gây cảm giác dễ chịu. Vắng: Vắng vẻ, yên lặng.

Thanh vắng là thanh tĩnh và vắng vẻ.

Bài Diễn Văn của Đức Quyền Giáo Tông đọc trong ngày vía Phật Thích Ca có câu: Ôi! Biết bao phen, đêm khuya thanh vắng, Tệ Huynh nằm gác tay lên trán thầm hỏi lấy mình: Một mảnh thân phàm nầy, cô thân bạc nhược nầy, yếu ớt hèn mọn nầy, có đủ tài đức chi mà Ðại Từ Phụ lại tin giao một cái giang san sự nghiệp của toàn nhơn loại hoàn cầu đặng cho gánh vác.

Đêm thanh vắng lên dây trỗi nhịp,

Khảy năm âm cho hiệp cùng nhau.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

Đêm thanh vắng chớ toan mưu dối,

Xúi trẻ thơ lầm lỗi ngỗ ngang.

(Kinh Sám Hối).

 

 

THANH VÂN

青 雲

Thanh: Xanh, màu xanh. Vân: Mây.

Thanh vân là mây xanh, dùng để chỉ người có địa vị cao (tận mây xanh). Sau đó người ta dùng thanh vân để chỉ việc đi thi, lập công danh.

Chí thanh vân chỉ người mang chí lập công danh.

Cổ thi có câu: Nhất đán công đạo khai, thanh vân tại bình địa 一 旦 功 道 開, 青 雲 在 平 地, nghĩa là Một mai đường công danh mở, đường mây ở tại đất bằng.

Gặp phải nước nhà cơn loạn lạc,

Làm trai tua vẹn chí thanh vân.

(Thơ Thượng Sanh).

Đau khổ ném xong cái gánh trần,

Nhẹ nhàng mới toại chí thanh vân.

(Cao Quỳnh Diêu Giáng).

 

 

THANH VƯƠNG ĐẠI HỘI

青 王 大 會

Thanh Vương Đại Hội là một Đại Hội trong ba thời kỳ khai Hội Long Hoa để phổ độ chúng sanh. Đó là Thanh Vương Đại Hội, Hồng Vương Đại Hội và Bạch Vương Đại Hội.

Thanh Vương Đại Hội được mở ra trong thời kỳ phổ độ lần thứ nhứt, do Đức Nhiên Đăng Cổ Phật làm Chưởng Giáo, chủ khảo trong thời kỳ này.

Sở dĩ gọi “Thanh Vương Đại Hội” là vì Hội Long Hoa kỳ thứ nhứt, ví như mùa xuân, chủ về mộc, thuộc màu xanh, nên gọi là Thanh Vương.

Nam Mô Sơ Hội Long Hoa Thanh Vương Đại Hội Nhiên Đăng Cổ Phật Chưởng Giáo Thiên Tôn.

(Kệ U Minh).

 

 

THANH XUÂN

青 春

Thanh: Xanh. Xuân: Mùa xuân.

Thanh xuân là màu xanh của cây cỏ trong mùa xuân, chỉ tuổi thanh niên (tuổi trẻ).

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Bát Nương Diêu Trì Cung có câu: Các em nên nhớ, các em là một phần Thiên mạng đi rước các nguyên nhân đang vội đến cùng Đức Chí Tôn, vậy phải ráng lập công buổi nầy. Đời thanh xuân chẳng là bao, chần chờ sẻ uổng cơ hội đó.

Con buồm thẳng cánh Đài vân,

Nước non hứng đặng một lần thanh xuân.

(Xuân Hương Giáng Bút).

Thể cách đoan trang tiết rạng ngần,

Muôn đời giữ trọn vóc thanh xuân.

(Quỳnh Hoa Tiên Nữ).

 

 

THANH XUÂN BẤT TÁI

青 春 不 再

Thanh xuân: Mùa xuân xanh tươi, chỉ tuổi trẻ. Bất tái: Không lập lại, không trở lại.

Thanh xuân bất tái tức là tuổi trẻ qua rồi, không bao giờ trở lại lần nữa.

Chữ hằng dạy: Thanh xuân bất tái,

Vợ người rồi danh gái hết kêu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

THÁNH

1.- Thánh là danh hiệu người đời tặng cho bậc có vốn hiểu biết rộng, có phẩm chất đạo đức cao, vượt hẳn người cùng thời.

Như: Khổng Tử là bậc Thánh, đạo Thánh.

Nam Hải trổ nhiều tay Thánh đức,

Giao Châu sanh lắm mặt Anh hùng.

(Đạo Sử).

Thánh xưa dạy từ câu nói hiếu,

Đạo thờ thân chằm khíu nên kinh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Theo triết lý đạo Cao Đài, bậc Thánh là bậc đạt được quả vị thứ hai trong hàng |Thần, Thánh, Tiên, Phật.

Nói về cách lạy bậc Thần, Thánh của đạo Cao Đài, Thánh giáo Thầy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Lạy Thần, lạy Thánh ba lạy là tại sao? Là lạy Ðấng vào hàng thứ ba của Trời và cũng chỉ rằng lạy Tinh, Khí, Thần hiệp nhứt. Ấy là Ðạo.

Chừng nào đất dậy Trời thay xác,

Chư Phật, Thánh, Tiên xuống ở trần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Dầu mình có giỏi hơn Tiên Thánh,

Cũng nhớ cha có tánh thật thà.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Thánh còn là tiếng để tôn xưng vua hoặc những bậc Thiêng liêng. Như: Thánh ân, Thánh cốt, Thánh chỉ, Thánh thể, Thánh thượng.

Thánh giáo Thầy có câu: Thánh tâm dầu phải chịu khổn trần đi nữa thì chất nó cũng vẫn còn. Các con khác hơn kẻ phàm là duy tại bấy nhiêu đó mà thôi.

Rốn để bước đến gần điện Thánh,

Nhìn tượng thờ lại ngảnh thân mình.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

THÁNH ÂN

聖 恩

Thánh: Tiếng tôn xưng vị vua, hay các Đấng Thiêng liêng. Ân: Ơn.

Thánh ân là ơn của vua ban xuống.

Trong tôn giáo, Thánh ân là từ dùng để chỉ Ơn của Trời, hay ơ của Đức Chí Tôn ban xuống cho chúng sanh.

Cơ chuyển thế khó khăn lắm nỗi,

Mượn Thánh ân xây đổi cơ Đời.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

THÁNH BẤT KHẢ TRI

聖 不 可 知

Thánh: Thánh đức, thiêng liêng mầu nhiệm. Bất khả: Chẳng có thể. Tri: Biết.

Thánh bất khả tri là không thể biết được hết sự Thiêng Liêng mầu nhiệm.

Theo bài kinh Tiên Giáo, Đức Thái Thượng Đạo Quân do Tiên Thiên khí sinh ra, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy rằng: Thái Thượng, Nguơn Thỉ thị Ngã...太 上, 元 始 是 我... tức là Thái Thượng, Nguơn Thỉ là Ta, thì ta có thể nói rằng Thái Thượng Lão Quân có Pháp thân là Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, hay nói cách khác, Ngài là Hoá thân của Đức Chí Tôn trong Nhị Kỳ Phổ Độ. Vì Thế, đức Thánh của Ngài rất cao siêu, huyền diệu mà không ai có thể hiểu thấu hết được.

Thánh bất khả tri,

Công bất khả nghị.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

THÁNH CỐC

聖 穀

Thánh: Thiêng liêng, mầu nhiệm, tốt đẹp hoàn toàn. Cốc: hạt lúa.

Thánh cốc là hạt giống đức tin, hay hạt giống đạo đức được đem gieo truyền trong thiên hạ. Thánh cốc được ví như hạt lúa giống.

Trong Kinh Phật có chép câu chuyện “Phật gieo mạ” như sau: Ðức Phật ôm bình bát khoan thai đi vào xóm để khất thực, lúc Ngài đi ngang qua nhà của ông Bà La Môn là Ba Ra Va Da (Bharavadja), Ngài bèn dừng chân lại trong lúc lão Bà La Môn cùng một số người chuẩn bị gieo mạ.

Lão Bà La Môn thấy Phật ôm bình bát bèn nói: Nầy Sa Môn kia, tại sao còn khỏe mạnh không chịu làm lụng như bao nhiêu người khác. Ta phải chịu cực khổ cày cấy mới có cơm ăn.

Ðức Phật bèn từ tốn trả lời rằng: Ta đây cũng cầy cấy gieo mạ, ta cũng có lúa ăn như ngươi vậy.

Ba Ra Va Da cất tiếng cười ngạo nghễ hỏi tiếp: Vậy chớ trâu, bò, cầy, bừa và lúa giống của Sa môn ở đâu?

Ðức Phật bình thản giảng giải: Hột giống của ta gieo là Ðức tin, Trí tuệ là cái ách và cây cày, những việc lành là mưa thuận gió hoà thấm nhuần cho lúa càng ngày càng tốt tươi, sự tinh tấn là con bò. Ta cày cấy đặng trừ tuyệt cỏ xấu đang đâm chồi nẩy lộc trong tâm của chúng sanh.

Nghe xong, Ba Ra Va Da vội lấy dĩa bằng vàng, đựng cơm đề hồ (cơm nấu bằng sữa) đến thành kính sớt vào bát của Ðức Phật và nói rằng: Kính bạch Ðức Thế Tôn, xin Ngài hoan hỷ nhận lấy lễ vật mọn này để con được gieo duyên lành cho kiếp vị lai.

Từ câu truyện trên, trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, hay các kinh sách Cao Đài thường dùng từ “Thánh Cốc 聖 穀” để ví như hạt lúa giống.

Thánh cốc là hạt lúa giống thiêng liêng, ý chỉ hạt đức tin, hay hạt giống đạo đức được đem gieo truyền trong thiên hạ.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Lý Giáo Tông có nói: Lão đến mà gieo hột Thánh cốc nơi lòng kẻ tà tâm, mong cho đơm bông kết quả, đặng liệu thế hồi tâm, chớ chẳng phải đến rước người hiền ngõ.

Đem gieo Thánh cốc nơi trần thế,

Toàn thể chúng sanh hưởng huệ ân.

(Thơ Thân Dân).

Gieo truyền Thánh cốc mau đơm trái,

Vun quén tâm điền sớm trổ hoa.

(Thơ Thông Quang).

 

 

THÁNH CỐT

聖 骨

Thánh: Tiếng tôn xưng. Cốt: Xương, chỉ hài cốt.

Thánh cốt, đồng nghĩa với chữ “Thánh hài 聖 骸”, là hài cốt của Đấng rất tôn kính.

Trong tôn giáo Cao Đài, Thánh cốt Đức Hộ Pháp ngày xưa được nhập Bửu Tháp tạm sau Thánh Thất Kim Biên, Nam Vang. Nay Hội Thánh đem Thánh cốt Ngài liệm vào Liên Đài và rước về Việt Nam để nhập Bửu Tháp tại Toà Thánh.

Hồi loan Thánh cốt còn nguyên vẹn,

Tái kiến Liên Đài sắc dẫu phai.

(Thơ Thượng Hoà Thanh).

 

 

THÁNH CHẤT

聖 質

Thánh: Thiêng liêng, tốt đẹp hoàn toàn. Chất: Tính cách, phẩm chất.

Thánh chất là phẩm chất hoàn toàn tốt đẹp. Người chưa trau luyện trở nên Thánh chất thì còn phàm chất.

Thánh chất nầy chính là cái tánh bổn thiện, cái lương tri lương năng của con người, Phật giáo gọi là Phật tánh. Cái Thánh chất nầy không bao giờ mất đi, chỉ có điều là hiển lộ ra hay bị che khuất bởi vật dục mà thôi.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Chính con của Thầy cũng bị các con giết mất. Các con chỉ biết tôn sùng Người bằng Tinh thần chớ không bằng Thánh chất.

Dặm dài bước lạ nẻo chưa quen,

Thánh chất dầu trau gẫm chẳng hèn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Dưới gối nam kha hương Phật thắp,

Ven mây thánh chất đuốc Trời chong.

(Bát Nương Giáng Bút).

Thánh chất ví không trên đỡ vững,

Bên mình đeo đuổi mấy hồn oan.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

THÁNH CHỈ

聖 旨

Thánh: Tiếng tôn xưng vua chúa, hay chỉ Đấng Chí Tôn. Chỉ: Mệnh lệnh.

1.- Thánh chỉ là mệnh lệnh của nhà vua.

Như: Tuân Thánh chỉ ra trấn nhậm ngoài biên cương.

Khi xong việc về chầu Thánh chỉ,

Thấy ngai vàng kế vị Tỳ Văn.

(Lược Thuật Toà Thánh).

2.- Trong Đạo Cao Đài, chữ Thánh Chỉ dùng để nói về mệnh lệnh Đức Chí Tôn.

Bài Ai điếu Đức Cao Thượng Phẩm, Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt có câu: Nghe qua dường như sấm nổ, người dầu gan sắt dạ đồng, nghe tin cũng bắt động lòng thương xót, huống chi tôi cùng Ðức Cao Thượng Phẩm trong mấy năm dư cùng nhau keo sơn gắn chặt, thọ Thánh chỉ của Ðức Chí Tôn phổ thông Ðại Ðạo Tam Kỳ.

Khi hôm qua, nhờ có Thánh chỉ Chí Tôn nên mới rộng đường xuất Thánh.

(Thánh Giáo Nguyệt Tâm).

Phút đâu Ngọc sắc ban truyền,

Phụng thừa Thánh chỉ đàn tiền giáng lai.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

THÁNH CHÚA

聖 主

1.- Thánh: Tiếng tôn xưng vua chúa. Chúa: Vua.

Thánh chúa là tiếng tôn xưng các vị vua chúa.

Như: Chiếu chỉ của Thánh chúa ban ra khắp nơi.

Thánh chúa hiền thần phò tổ nghiệp,

Khải ca định phận tại thu phân.

(Lý Giáo Tông Giáng).

2.- Thánh: Bậc Thánh. Chúa: Đấng cầm quyền bên Công giáo.

Thánh Chúa bên Công giáo có nghĩa là Chúa của đạo Thánh, tức chỉ Chúa Jesus Christ của Do Thái Giáo.

Chuộc tội nhơn sanh phải chịu đày,

Xem như Thánh Chúa với Ta nay.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

THÁNH DANH

聖 名

Thánh: Chỉ sự tốt đẹp hoàn toàn. Danh: Tên.

Thánh danh là tên Thánh của một người Đạo.

Trong Đạo Cao Đài, chỉ có Cửu Trùng Đài mới có Thánh danh theo Tịch đạo của một vị chức sắc. Kỳ dư lấy phẩm đạo và tên họ làm Thánh danh.

Thánh danh nam phái Cửu Trùng Đài, thường đặt tên ở giữa phái đạo và tịch đạo. Ví dụ: Tên Trí, thuộc phái Thượng, tịch đạo Thanh, thì Thánh danh là Thượng Trí Thanh.

Thánh danh nữ phái lấy tên của vị chức sắc đặt sau Tịch đạo Hương. Ví dụ: Tên Thố, Tịch đạo Hương thì Thánh danh là Hương Thố.

Đạo truyền vạn đại Thánh danh còn,

Khảo đảo chi sờn dạ sắt son.

(Thơ Thông Quang).

Công đức phi thường nêu Đạo sử,

Thánh danh muôn thuở vẫn lưu truyền.

(Thơ Võ Thành Lượng).

 

 

THÁNH ĐẢN

聖 誕

Thánh: Bậc Thánh, tiếng để tôn xưng. Đản: Sinh. Như: Đản nhựt là ngày sinh, Thánh đản.

Trong các bản Sớ Văn bằng chữ Quốc ngữ đều viết là “Thánh đán”. Thật ra, viết cho đúng phải là “Thánh đản”.

Thánh đản là ngày sinh của các bậc Thánh (tiếng tôn xưng). Còn được gọi là Đản sinh.

Kim vì Vọng nhựt lương thần, chánh thị Đức Thái Thượng Lão Quân Thánh Đán (đản).

(Sớ Văn).

 

 

THÁNH ĐẠO

聖 道

1.- Thánh: Tiếng tôn xưng. Đạo: Tôn giáo.

Thánh Đạo là một tôn giáo thiêng liêng, chỉ mối Đạo của Đức Chí Tôn, hoặc Đạo Phật.

Thầy lại nói, buổi lập Thánh đạo, Thầy đến độ rỗi kẻ có tội lỗi. Nếu đời không tội lỗi, đâu nhọc đến công Thầy.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

2,- Thánh: Bậc Thánh. Đạo: Tôn giáo.

Thánh Đạo còn có nghĩa là Đạo Thánh, tức một tôn giáo dạy người tu hành đắc quả vị vào bậc Thánh. Ví dụ: Nho giáo hay Thiên Chúa Giáo được coi là Thánh Đạo.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có câu: Thánh đạo của Ðức Chúa Cứu Thế (vì sự hiểu lầm) làm tăng gia dục vọng của kẻ mạnh đối người yếu và giúp giáo cho bọn trên hiếp dưới.

Lấy mắt thiêng liêng xem Thánh Ðạo,

Ðừng ngờ ngoài ngõ đón yêu tinh.

(Đạo Sử).

 

 

THÁNH ĐỊA

聖 地

Thánh: Thiêng liêng, mầu nhiệm. Địa: Đất.

Thánh địa là vùng đất Thánh, là nơi có Đền thờ trung ương để thờ Đức Thượng Đế và cũng là nơi đặt các cơ quan điều hành của Hội Thánh Cao Đài.

Thánh giáo ngày 20 tháng giêng năm Đinh Mão, 1927, Đức Chí Tôn có dạy: Nơi nào Thầy ngự thì nơi ấy là Thánh Ðịa.

Như vậy Thánh ý của Đức Chí Tôn muốn đặt làng Long Thành tỉnh Tây Ninh là vùng Thánh Địa.

Chúng ta thử tìm hiểu về miếng đất mà Hội Thánh mua để xây dựng Toà Thánh và hiện nay trở thành vùng Thánh Địa.

Nhắc lại sau khi Đức Chí Tôn chọn lựa các vị tiền khai nền Đại Đạo xong, các vị ấy họp lại thành Hội Thánh đứng ra tổ chức lễ Khai Đạo tại Từ Lâm Tự (chùa Gò Kén) ngày 15 tháng 10 năm Bính Dần (Dl. 19/11/1926). Trụ trì Từ Lâm Tự là Hoà Thượng Như Nhãn (Giác Hải) lúc đầu hiến chùa để làm lễ Khai Đạo, sau đổi ý đòi chùa lại, và hẹn Hội Thánh trong vòng ba tháng phải dời đi.

Đức Lý Giáo Tông giáng cơ vào ngày 19 tháng 1 năm Đinh Mão (1927) tại chùa Gò Kén quyết định trả chùa lại cho Hoà Thượng Như Nhãn và dạy Hội Thánh phải tìm mua một miếng đất tại Tây Ninh để xây dựng ngôi thờ Đức Chí Tôm và các cơ quan trong Đạo.

Sang ngày 20 tháng 1 năm Đinh Mão, Đức Chí Tôn giáng cơ tại Từ Lâm Tự khẳng định việc mua đất cất Toà Thánh như sau: Nơi nào Thầy ngự thì nơi ấy là Thánh Ðịa.

Thầy đã ban sắc cho Thần Hoàng Long Thành thăng lên chức Văn Xương, vào trấn nhậm làng Hiệp Ninh, dạy dỗ dân về Ðạo, Thầy ban trọn quyền thưởng phạt đặng răn làng ấy cho đến ngày biết ăn năn cải quá.

Vậy thì làng Long Thành, các con khá an lòng.

Còn Toà Thánh thì Thầy muốn cho có nhơn lực hiệp cùng Thiên ý, ấy là hạnh của Thầy, các con nên xem gương mà bắt chước.

Từ Thầy đến lập Ðạo cho các con đến giờ, Thầy chưa hề một mình chuyên quyền bao giờ. Các con lựa chọn nơi nào mà Hội Thánh vừa lòng thì đẹp lòng Thầy.

Các con phải chung hiệp nhau mà lo cho hoàn toàn Toà Thánh. Chi Chi cũng tại Tây Ninh đây mà thôi.

Theo quyển Đạo Sử, Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu có nhắc lại việc đòi chùa cho Hoà Thượng Giác Hải như sau: Kể từ Rằm tháng 10 Bính Dần (1926) tới Rằm tháng Giêng Ðinh Mão (1927) là đúng kỳ hứa trả chùa Từ Lâm Tự (Gò Kén) là ba tháng, nhưng tới tháng hai năm Ðinh Mão, đã quá hạn kỳ một tháng mà Hội Thánh chưa trả chùa lại được, vì chưa kiếm được đất để mua, còn ông Huề Thượng Giác Hải thì cứ đòi chùa lại hoài.

Vì sự đòi chùa ấy nên Ðức Lý Giáo Tông giáng dạy quý ông Hiệp Thiên Ðài, Cửu Trùng đi kiếm đất mua đặng dời chùa.

Hội Thánh tìm mua không được đất, Ðức Lý mới dạy: “Mai này chư Hiền Hữu lên đường trên gọi là đường dây thép (là đường từ Mít Một chạy tới cửa Hoà Viện bây giờ) nhắm địa thế dài theo cho tới ngã ba Ao Hồ, coi Hiền Hữu có thấy đặng chăng cho biết. Lão đã nói rằng: Mỗi sự chi chi đều bày trước mắt nhơn sanh hết”.

Qua hôm sau, ngày 22 tháng 1 năm Đinh Mão, Ngài Thái Thơ Thanh cho mượn một chiếc xe, Bà Nữ Đầu Sư Hương Thanh cho mượn một chiếc nữa. Hai chiếc xe chở các vị chức sắc Hiệp Thiên Đài và Cửu Trùng Đài gồm quý Ngài Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt, Thái Thơ Thanh, Thượng Tương Thanh, Ngọc Trang Thanh chạy theo lời chỉ dạy của Đức Lý thì tìm mua được một miếng đất rừng của ông Kiểm lâm người Pháp tên là Aspar. Nguyên Miếng đất nầy nằm cạnh khu đất rừng của ông Cao Văn Điện, bạn học của Đức Cao Thượng Phẩm, chính nhờ ông Điện làm mai mới mua được miếng đất ấy.

Khi mua được đất rồi, tối lại quý vị chức sắc lập Đàn cầu hỏi Đức Lý xem Hội Thánh mua đất như vậy có đúng theo Thánh ý của Đức Ngài không. Đức Lý giáng dạy như sau: “Lão khen Thái Thơ Thanh, phải đó đa tưởng chư Hiền Hữu không thấy nữa. Lão cắt nghĩa vì sao cuộc đất ấy là Thánh Địa. Sâu hơn ba trăm thước như con sông, giữa trung tim đất giáp lại trúng giữa sáu nguồn làm như sáu con Rồng đoanh nhau. Nguồn nước ấy trúng ngay đỉnh núi gọi là Lục Long Phò Ấn. Ngay miếng đất đó đặng ba đầu; một đầu ra Giếng Mạch Ao Hồ; hai đầu nữa bên cụm rừng bên kia. Người Lang Sa chỉ đòi có hai mươi lăm ngàn đồng”.

Tóm lại, vùng Thánh Địa là nơi xây cất Toà Thánh Cao Đài Tây Ninh do Hội Thánh đi tìm mua đất, nhưng chúng ta thấy việc định lập khu Thánh Địa nầy hoàn toàn do Đức Chí Tôn và Đức Lý giáng cơ chỉ dạy.

Ngoài ra, việc lập thành khu Thánh Địa ngày nay cũng phải nhờ công sức của bao nhiêu người chịu hy sinh vì Thầy, vì Đạo khai phá đám rừng đầy thú dữ là đầy lam sơn chướng khí. Chính Đức Thương Sanh trong một bài thuyết đạo có nhắc lại như sau: Hồi tưởng lại cách đây 41 năm, vùng nội ô và ngoại ô Thánh Địa toàn là những khu rừng rậm chứa đầy thú dữ. Biết bao điều nguy hiểm trong sự phá rừng và sự khai thác: Nào lam sơn chướng khí, nào nước độc muỗi mòng, nào thú dữ chực hờ...lại thêm thiếu người công quả. Nếu chức sắc lúc ban sơ không có chí hy sinh và sụt sè vì những trở ngại, nếu Ðức Thượng Phẩm không có chí cương quyết điều khiển công quả, phần nhiều là người Tần Nhơn thì ngày nay đâu có vùng Nội ô Thánh Ðịa, đâu có một đô thị tôn giáo trang hoàng và xinh đẹp nhứt trong nước Việt Nam.

Và trong bài Thuyết đạo khác Đức Ngài cũng có dạy toàn Đạo phải làm sao cho xứng danh với người của Thánh Địa. Ngài nói:

Vùng Thánh Ðịa nầy dù là Nội Ô hay Ngoại Ô cũng đều sản xuất nơi lòng thương yêu vô biên của Ðức Chí Tôn và sự hy sinh tuyệt đối của các Ðấng tiền bối trong Ðạo. Thánh Ðịa phải xứng với danh từ của nó.

Người ở trong vùng Thánh Ðịa dù là Chức Sắc hay Tín hữu cũng đồng con cái của Ðức Chí Tôn, nên không thể thiếu lòng thương yêu được, mỗi cá nhân không nên chìu theo thị dục mà gây sự tranh chấp hơn thua với nhau, gây nên kiện tụng liên miên, tạo ra cảnh rối loạn như ở bến chợ đời. Người của Thánh Ðịa phải hiền từ, mực thước, thành thật, công bằng thì hai chữ Thánh Ðịa mới khỏi bị mỉa mai, chê biếm.

Dời qua Thánh Địa Long Thành,

Ra tiền mua đất Tây Ninh cụm rừng.

(Thơ NĐS Hương Thanh).

Nhẫng mong Thánh Địa ngày tương hội,

Hoa lá vườn thơ lại thắm màu.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

THÁNH ĐIỆN

聖 殿

Thánh: Tiếng dùng để tôn xưng. Điện: Cung điện, chỉ nơi thờ phượng.

Thánh Điện là nơi thờ Đức Chí Tôn và các Đấng Thiêng Liêng của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Thánh Ngôn Thầy có câu: Ðường Tiên cũng lấp lửng, nguồn Thánh cũng toan vào, mà thấy bạc rơi cũng chẳng bỏ, lợi mún chẳng từ, mượn danh Ðạo mà tạo danh mình, vô Thánh điện mà hơi tà còn phưởng phất.

Lôi Âm Cổ vang rền nơi Thánh điện,

Giục người về kịp buổi triều Thiên.

(Hiền Nhơn Lê Văn Trung).

 

 

THÁNH ĐỨC

聖 德

Thánh: Người hiểu thấu mọi việc, học thức và đạo đức cao siêu. Đức: Người làm điều lành, thi ân bố đức cho kẻ khác.

Thánh đức là cái đức của bậc Thánh, tức là những bậc hiền nhân có tâm hồn hy sinh để phụng sự cho nhơn loại và dẫn dắt nhơn loại vào con đường đạo đức.

Đường Thánh đức là đường để đạt được bậc Thánh, tức con đường đạo đức.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: “Nhơn luân giữ trọn, ấy là mối đạo nhân, lo Thánh đức trau lòng là phương thoát tục”. Trong Chú giải Pháp Chánh Truyền cũng có viết: “Dầu phải bị đoạ trần đi nữa cũng giữ vẹn Thánh đức mà tu hành đặng đạt đến địa vị trọn lành”.

Luật Nhơn quả để răn Thánh đức,

Cửa Luân hồi nhắc bực cao siêu.

(Kinh Tận Độ).

Trên đường Thánh đức lần dò,

Trường sanh mầu nhiệm nơi lò Hoá công.

(Kinh Thế Đạo).

Hiền ngõ rủi sanh đời bạo ngược,

Dầu trong Thánh đức cũng ra thường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

THÁNH GIÁO

聖 教

Thánh: Tiếng tôn xưng, dùng để chỉ Đức Chí Tôn và các Đấng Thiêng liêng. Giáo: Lời dạy.

1.- Thánh giáo là lời dạy của các Đấng Thiêng liêng.

Như: Thánh giáo Phật Mẫu, Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Thỉnh thoảng còn nghe lời Thánh giáo,

Thường năm kỷ niệm vẫn lưu truyền.

(Thơ Thái Đến Thanh).

Châu ngọc làu làu lời Thánh giáo,

Vàng son rỡ rỡ nét Thiên Tài.

(Thơ Chơn Tâm).

2.- Thánh giáo là lời dạy của Đức Chí Tôn.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Thầy nói: Các con xa Thánh giáo của Thầy đã lâu, tưởng lòng hằng ước mơ hoài vọng, mà Thầy lâu đến để lời tâm huyết chỉ giáo cho các con, Thầy cũng buồn lòng mà thấy bầy con lao nhao lố nhố lặn hụp chìm đắm giữa cõi hư sanh nầy.

Thánh giáo Chí Tôn dạy thuận hoà,

Thành tâm cầu nguyện gió giông qua.

(Thơ Thái Đến Thanh).

3.- Thánh giáo còn có nghĩa là Đạo Thánh, tức tôn giáo dạy cho các tín đồ tu hành đắc đạo thành bậc Thánh.

Như vậy, đạo Nho, hay đạo Thiên Chúa đều gọi là Thánh giáo.

Thành kỉnh tụng Thánh giáo Tâm Kinh.

(Nghi Tiết Cúng Lễ).

4.- Thánh giáo dùng để chỉ nền Đạo của Đức Chí Tôn. Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy: Ðạo phát trễ một ngày thì nhơn sanh tội lỗi cả muôn ngàn. Vì vậy mà Thầy muốn cho mỗi đứa đều để lòng lo liệu chấn hưng nền Thánh giáo.

Phá cho Thánh giáo nát tan,

Dẫn người lương thiện vào đàng Bàng môn.

(Nguyễn Trung Trực Giáng).

 

 

THÁNH GIÁO TÂM KINH

聖 教 心 經

Thánh giáo Tâm Kinh là một bài kinh xưng tụng công đức của Khổng Thánh Tiên Sư, Giáo chủ Nho giáo.

Vì vậy, bài kinh nầy còn được gọi là “Khổng Thánh chí tâm quy mạng lễ 孔 聖 志 心 皈 命 禮” nghĩa là hết lòng kính lạy quy y Đức Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn.

Khổng Thánh Tiên Sư tức là Khổng Tử, người làng Xương Bình, huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông bên Tàu. Thân phụ Ngài là Thúc Lương Ngột làm quan võ, mẹ Ngài là Bà Nhan Thị. Ngài sinh vào năm Canh Tuất và mất tháng 4, ngày Kỷ Sửu thọ được 73 tuổi. (Xem: Khổng Tử).

Bài Thánh giáo Tâm Kinh có nội dung như sau:

- Quế Hương nội điện, Văn Thỉ thượng cung.

Đức Khổng Phu Tử ở nơi điện Quế Hương, trên cung Văn Thỉ, một cõi Thiêng liêng.

- Cửu thập ngũ hồi, chưởng thiện quả ư thi thơ chi phố.

Ngài vô là vì sao Văn Xương ở Thượng giới đã chín mươi lăm lần đầu thai xuống cõi trần mà lần nào Ngài cũng gieo trái lành nơi vườn thi thơ để lưu truyền giống tốt cho muôn đời sau hưởng dùng.

- Bá thiên vạn hoá, bồi quế thọ, ư âm chất chi điền.

Ngài đã hoá thân hàng trăm ngàn lần mà lần nào Ngài cũng vun bồi gốc quế, gieo trồng âm chất nơi ruộng tâm điền để cháu con đời đời được hưởng phúc đức.

- Tự lôi trữ bính, linh ư phụng lãnh,

Chẳng hạn như sáng chế ra văn tự là việc vĩ đại, đánh dấu một giai đoạn quan trọng của loài người, vì từ đó con người được mở mang, hết còn ngu tối dốt nát, chẳng khác nào trời mưa mà sấm nổ vang lên làm cho con người được thức tỉnh, đương ngu hoá ra khôn và từ đó biết luân thường đạo lý.

Như vậy việc làm của Ngài quả nhiên linh hơn chim phụng ở núi Kỳ Sơn. Mặc dù chim phụng gáy ở non Kỳ để báo hiệu chúa Thánh ra đời, nhưng không thể so sánh với việc phát minh ra chữ viết để khai hoá nhân tâm được.

- Chí như ý từ, tường ư ngao trụ.

Đến như cái ý nhơn từ, những tư tưởng lành, tốt đẹp của Đức Khổng Thánh đem ban cho thiên hạ để giáo hoá thế nhân cho họ biết bổn phận làm con, làm tôi, làm vua cứ một lòng ngay thẳng vững vàng như cây cột ngao chống trời.

- Khai nhơn tâm tất bổn, ư đốc thân chi hiếu.

Ngài hằng dạy người đời: Khai hoá nhơn tâm là cái gốc của con người, dốc một lòng hiếu kính với cha mẹ để gia đình an vui hạnh phúc.

- Thọ quốc mạch tất tiên, ư trí chúa chi trung.

Còn đối với quốc gia, muốn cội nước được vững bền phải biết bổn phận làm dân trong nước, nghĩa là phải biết trung với vua và nước.

- Ứng mộng bảo sanh, Thùy từ mẫn khổ,

Còn phận làm vua thì phải có lòng nhân từ, thương yêu dân chúng, có như thế thì sẽ được các Đấng Thiêng liêng thường ứng vào mộng để chỉ dạy cách bảo sự sống cho nhơn sanh, cũng như Đức Khổng Tử chiêm bao thấy Chu Công khuyên Ngài dạy đạo lý cứu khổ nhơn sanh vậy.

- Đại Nhơn, Đại Hiếu, Đại Thánh, Đại Từ

Ôi! Lòng nhân hậu và lòng hiếu thảo của Đức Khổng Thánh rất to lớn, Thánh đức và lòng thương yêu của Ngài thật là bao la, không cùng tận.

- Thần văn, Thánh võ, Hiếu Đức Trung Nhơn.

Đức văn của Ngài như Thần, đức võ của Ngài như Thánh. Ngài gồm đủ bốn đức: Hiếu thảo, đức hạnh, trung tín, và nhơn từ.

- Vương Tân sách phụ, Nho Tông khai hoá,

Đức Khổng Tử là một vị thượng khách của vua (Vương tân), thường bày kế sách trị nước, an dân.

Ngài lại có công truyền bá Đạo Nho để mở mang giáo hoá quần chúng.

- Văn Tuyên Tư Lộc, hoằng nhơn Đế Quân. Trừng chơn chánh quang, Bửu Quang từ tế Thiên Tôn.

Ngài chính là Đức Văn Tuyên, một Đấng trông coi về phước lộc và vị Đế Quân có đức nhơn rộng lớn, chơn thật, ngay thẳng thường đem báu sáng ban lộc cho chúng sanh. Ngài thật là một vị Thiên Tôn

 

Thành kỉnh tụng Thánh giáo Tâm Kinh.

(Nghi Tiết Cúng Lễ).

 

 

THÁNH HIỀN

聖 賢

Thánh: Người hiểu thấu mọi việc, học thức đạo đức cao siêu. Hiền: Người có đức hạnh và tài năng.

Thánh hiền là bậc Thánh và bậc Hiền, tức người có đức hạnh cao siêu, và tài năng uyên bác.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Hễ tôn sùng, tức nhiên phải nhìn Ðấng Tạo Ðoan đã ban cho chúng ta mạng sống, cho ta nhứt điểm linh quang, mới biết phân biệt hiền với ác, chánh với tà, để làm biểu hiệu cho con người thức giấc mê, tìm hiểu chơn lý của sự sống như thế nào, đặng trở lộn lại sống theo tinh thần của Thánh Hiền hay sống theo tánh hung bạo tàn ác của con vật.

Thánh hiền kinh sách dạy bày,

Lòng người ám muội lỗi gây ra hoài.

(Kinh Sám Hối).

Trường đời đem thử gan anh tuấn,

Cửa Đạo mới ra bậc Thánh Hiền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Coi gương trước Thánh Hiền ghi lại,

Kết bạn nhau đạo ngãi làm sao.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

THÁNH HÌNH

聖 形

Thánh: Thiêng liêng. Hình: Hình thể.

Thánh hình là hình thể Thiêng Liêng. Đây có thể hiểu là hình thể của một bậc nguyên nhân.

Như ta đã biết, Chơn linh là một Tiểu Linh Quang được chiết ra từ Đức Chí Tôn, Phật Mẫu mới đem phối hợp với Chơn thần do Ngài tạo ra nơi Kim Bàn để làm thành một Thánh hình, hay một hình thể Thiêng Liêng. Đó là bậc nguyên nhân vậy.

Sau đó, Nguyên nhân mới đầu kiếp xuống phàm trần, kết hợp với nhục thể do cha mẹ nơi thế gian này tạo ra để thành một con người phàm trần.

Sanh quang dưỡng dục quần nhi,

Chơn linh phối nhứt thân vi Thánh hình.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

Xin gìn giữ Thánh hình thanh bạch,

Xin xá ân rửa sạch tiền khiên.

(Kinh Tận Độ).

 

 

THÁNH HUẤN

聖 訓

Thánh: Tiếng tôn xưng, hoặc chỉ về vua. Riêng trong Cao Đài chỉ Hội Thánh. Huấn: Dạy bảo.

Thánh huấn là lời chỉ dạy của nhà vua, hoặc các bậc Thánh nhân, các Đấng Thiêng liêng.

Trong tôn giáo Cao Đài, Thánh huấn là lời dạy của Đức Chí Tôn và các Đấng Thiêng Liêng, hoặc của Hội Thánh Cao Đài, do ba vị Chánh Phối Sư ký tên ban hành cho toàn Đạo.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Con cái của Ngài nếu đủ khôn ngoan chịu khó ôn lại Thánh giáo của Ngài từ trước xem lại từ trương, từ lời Thánh huấn thì hiểu ngay rằng không hề sai suyển một mảy may nào cả.

Người luyện Ðạo đừng sai Thánh huấn,

Mà để làm triệu chứng đơn kinh.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Chơn truyền Thánh huấn không ai giữ,

Văn hoá thực thi chẳng mấy người.

(Thơ Thông Quang).

 

 

THÁNH HUẤN GIÁC MÊ

聖 訓 覺 迷

Thánh huấn: Lời dạy của Đức Chí Tôn hoặc các Đấng Thiêng Liêng. Giác mê: Thức tỉnh cơn mê.

Thánh Huấn Giác Mê là một tác phẩm bằng thể thơ thất ngôn bát cú của Đức Lý Đại Tiên giáng cơ năm Bính Dần, 1926, nhằm mục đích khuyên dạy chúng sanh biết tỉnh ngộ, không còn mê lầm để lần theo đường chánh giác.

Thánh Huấn Giác Mê đã dạy rành,

Kim ngôn khải ngộ cả nhân sanh.

(Lý Đại Tiên Giáng).

 

 

THÁNH Ý

聖 意

Thánh: Tiếng tôn xưng, dùng để chỉ Vua hay Đức Chí Tôn. Ý: Điều suy nghĩ.

Thánh ý là ý kiến của nhà vua hay của Đức Chí Tôn. Chữ “Thánh” mà Ðức Chí Tôn dùng để chỉ về mình là biểu lộ sự khiêm nhường của Ngài.

Thánh giáo Thầy có dạy: Thầy vì đức háo sanh nên thâu thập nhiều đứa lương tâm chưa chánh đáng, là Thánh ý để cho chúng nó quy chánh cải tà, nhưng thói phàm tục lung lăng chẳng dứt.

Các con đã hiểu Thánh ý Thầy, phải cần kiệm, mỗi sự chi vì phương tiện mà thôi.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

THÁNH KINH

聖 經

Thánh: Bậc Thánh, hoặc tiếng tôn xưng. Kinh: Sách chép lời Thánh hiền hay chư Tiên Phật.

Nếu chữ Thánh là bậc Thánh, thì Thánh kinh như chữ “Kinh Thánh”, là kinh của đạo Thánh, tức Kinh của Thiên Chúa Giáo, hay kinh của đạo Tin Lành, ý chỉ Kinh Cựu Ước và kinh Tân Ước.

Nếu chữ Thánh là tiếng tôn xưng thì Thánh Kinh dùng để chỉ các bài kinh do các Đấng Thiêng liêng giáng cơ ban cho.

Trong đạo Cao Đài, Thánh Kinh dùng để chỉ Kinh “Thiên Đạo và Thế Đạo”, còn được gọi là Tân Kinh.

Làm người rõ thấu lý sâu,

Sửa lòng trong sạch tụng cầu Thánh Kinh.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

THÁNH LỊNH

Hay “Thánh lệnh”.

Thánh: Bực Thánh, tiếng tôn xưng vua, hay Hội Thánh trong đạo Cao Đài. Lịnh (lệnh): Mệnh lệnh.

Thánh lịnh, như chữ “Thánh lệnh 聖 令”, là mệnh lệnh của vua hay của Hội Thánh ban xuống để thi hành.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Tiêu Sơn Đạo Sĩ có dạy: Tân Luật lập còn thiếu sót nhiều, bởi Chức sắc Hiệp Thiên Ðài chẳng để mắt đến, quyền hành thưởng phạt lộn xộn, nên phải chịu dưới quyền Toà Tam Giáo Cửu Trùng Ðài. Sau sẽ có Thánh Lịnh dạy lại, còn chưa phân minh nhiều chỗ.

Bao Chức sắc phục tùng Thánh lịnh,

Bổ địa phương thức tỉnh nhơn sanh.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

Nguyện tuân Thánh lịnh dìu đời khổ,

Mừng thấy phàm gian hưởng phước lành.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

THÁNH LUẬT

聖 律

Thánh: Tiếng tôn xưng. Luật: Luật pháp.

Thánh luật là tiếng tôn xưng luật pháp của nền Đạo Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, tức đạo Cao Đài.

Các đạo hữu phải để lòng thành khẩn, hiệp sức làm một với Lão mà nài xin Thánh luật.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

THÁNH MIẾU

聖 廟

Thánh: Bậc có đạo đức cao siêu và hiểu thấu mọi việc. Miếu: Ngôi nhà dùng để thờ tự.

Thánh miếu là miếu thờ Đức Khổng Tử và các vị á thánh, như Mạnh Tử...

Thánh miếu còn dùng để chỉ các bậc thuộc Nho học.

Cửa Thánh miếu hỡi còn thiếu gái,

Chốn quyền môn nữ lại vẫn không.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

THÁNH NGÔN

聖 言

Thánh: Tiếng tôn xưng, dùng để chỉ Đức Chí Tôn hay các Đấng Thiêng Liêng. Ngôn: Lời nói. Hiệp: Hợp lại. Tuyển: Chọn lựa.

1.- Thánh Ngôn là những lời răn dạy, hoặc những lời giáo huấn của Đức Chí Tôn hay các Đấng Thiêng Liêng giáng cơ ban cho chúng sanh thời Tam Kỳ Phổ Độ.

Thánh giáo Chí Tôn có đoạn dạy: Thầy nói một lần từ đây nhớ lấy: Dầu cho sắt đá cỏ cây, mà nghe đến Thánh Ngôn nơi Thầy do con nói ra cũng hoan nghinh, huống lựa là người. Con nhớ và an lòng.

Đạo đức thi văn là của báu,

Thánh Ngôn Từ Phụ một nguồn trong.

(Thơ Huệ Phong).

2.- Thánh Ngôn Hiệp Tuyển 聖 言 合 選 là do Hội Thánh Cao Đài Tây Ninh lựa chọn trong những bài Thánh giáo của Đức Chí Tôn và các Đấng Thiêng Liêng hiệp lại in thành hai quyển, gọi là “Thánh Ngôn Hiệp Tuyển” quyển nhứt và nhì.

Tiếng kệ lời kinh hằng tụng niệm,

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển mãi rèn trau.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

THÁNH NHÂN

聖 人

Thánh: Bậc Thánh, bậc có tài trí và đạo đức phi thường. Nhân: Người.

Thánh nhân, còn đọc là “Thánh nhơn”, là người lý tưởng đạt đến chỗ tận thiện tận mỹ trong đạo làm người, hoặc người hoàn thiện nhứt một học thuyết hay triết thuyết trong lý thuyết hay thực hành.

Đối với các Nho gia, Đức Khổng Tử được coi như là một bậc Thánh Nhân vì Ngài chu du thiên hạ, truyền đạo hoá dân, trăm bề khổ sở.

Lễ văn đủ định phân khách trí,

Hạnh đức toàn xưng vị Thánh nhân.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

THÁNH NHO

聖 儒

Thánh: Bậc Thánh, bậc đạo đức và tài trí phi thường. Nho: Đạo Nho, Nho giáo.

Thánh Nho là các vị Thánh trong Nho giáo, tức được các nhà Nho xưng tụng là bậc Thánh.

Bởi vậy chư Hiền, chư Thánh Nho nói rằng: “Khi nhơn tức khi tâm”.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

THÁNH NHƠN

Thánh: Bậc Thánh, bậc có tài trí và đạo đức phi thường. Nhơn (nhân): Người.

1.- Thánh nhơn, như chữ “Thánh nhân 聖 人”, theo Nho giáo là người đạt đến chỗ tận thiện tận mỹ trong đạo làm người, và luôn mang lý tưởng giúp người giúp đời cho tốt đẹp.

Khi luận về Quan Thánh, Đức Thượng Sanh có nói: Chỉ vì khi còn tại thế Ðức ngài gồm cả bốn Ðức: Trung, Can, Nghĩa, Khí. Một lời giao kết dù cho nát thân cũng không dời đổi. Trung thì bền lòng như sắt đá. Cang dũng thì coi sự chết như mảnh lông hồng, trọng nghĩa như Thái sơn, khí tiết thì chói loà Nhựt Nguyệt. Ngài là một nhơn vật phi thường một vị Thánh nhơn tại thế vậy.

Trời cao, Đất thấp, muôn vật ở giữa có Thiên hình vạn trạng khác nhau. Thánh Nhơn theo cái thứ bậc đó mà chế ra Lễ.

(Giáo Lý).

2.- Thánh nhơn theo Lão giáo, Đức Thượng Sanh cho là người sống trong cảnh tịch mịch, cách biệt với người đời, đóng cửa, rấp ngõ không giao thiệp với ai, để rèn luyện tâm tánh, trụ vững tinh thần như thế mới gần gũi được với thiên nhiên, quan năng trực giác mới được sáng suốt, tuy không ra khỏi ngõ cũng hiểu được thiên hạ, không ngó qua cửa sổ cũng biết được thiên đạo. Người ấy Lão Tử gọi là Thánh nhơn.

Thánh nhơn vô công, vô kỷ, vô danh: Thánh nhơn không cầu công ơn, không tư kỷ, không ham danh.

(Giáo Lý).

3.- Thánh Nhơn trong đạo Cao Đài là một phẩm chức sắc cao cấp trong Thập Nhị Đẳng Cấp Thiêng Liêng thuộc Cơ Quan Phước Thiện, đứng dưới phẩm Tiên Tử và trên phẩm Hiền Nhơn. Thánh Nhơn đối phẩm Phối Sư bên Cửu Trùng Đài.

Đạo phục của Thánh Nhơn: Áo tràng trắng, mang dây sắc lịnh màu vàng, bỏ mối qua hông mặt (Đạo), trên có gắn khuê bài ghi chữ Thánh Nhơn, đầu đội khăn đóng màu vàng 9 lớp chữ nhứt, chơn đi giầy bố trắng.

Kỷ luật Thập nhị đẳng cấp Thiêng liêng của Chức Sắc Phước Thiện định y như dưới đây: 1.Minh Đức, 2.Tân Dân,... 10.Thánh Nhơn, 11.Tiên Tử, 12.Phật Tử.

(Đạo Luật Mậu Dần).

 

 

THÁNH PHÀM

聖 凡

Thánh: Bậc Thánh, bậc tài trí phi thường. Phàm: Người phàm, người tầm thường ở cõi trần.

Thánh phàm là chỉ bậc Thánh và người phàm tục.

Theo Phật, “Phàm Thánh bất nhị 凡 聖 不 二”, tức là phàm phu và bậc Thánh không hai.

Thật vậy, như ta biết tất cả chúng sanh đều có Thiên tánh, nên đều có khả năng thành Tiên, Phật trong tương lai. Nhưng có điểm khác nhau, Thánh là bậc đã xa lìa được ô nhiễm và tà dục, có lòng lo giúp cho chúng sanh, nên được hạnh phúc an lạc. Còn kẻ phàm thì tâm bị điên đảo, vọng động, lìa bỏ cái Thánh tâm vốn có sẵn nơi mình, nên vẫn tiếp tục sự khổ đau và phiền não.

Thế thì tâm là nguồn gốc sanh điều lành việc dữ, cái máy tạo thành hoạ phước, Thánh phàm.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

THÁNH QUÂN

聖 君

Thánh: Người có tài năng, đức hạnh. Quân: Vua.

Thánh quân là vua Thánh, tức một đấng minh quân có tài đức, yêu thương dân chúng.

Thánh quân là tiếng dùng để ca tụng ông vua có tài đức. (Xem: Thánh Đế).

Lân ra ắt có Thánh quân ra,

Nhiều gốm vòng Nam hiệp một nhà.

(Đạo Sử).

Giang san tô điểm tay hào kiệt,

Đất nước trị bình đức Thánh quân.

(Thơ Hiến Đạo).

 

 

THÁNH TÂM

聖 心

Thánh: Thiêng liêng. Tâm: Cái tâm của con người.

Thánh tâm là tâm chí thánh, cái tâm rất Thiêng liêng, tức là cái tâm thiện lương, chơn chánh.

Tâm của kẻ phàm phu cũng do Trời phú cho, nhưng vì con người phàm phu thường xu hướng theo vật chất, nên tâm bị lôi cuốn theo, khiến cho tâm bị động.

Khi tâm động thì phát xuất ra ý, ý mới hiệp với thức của thân ngũ uẩn mà có khuynh hướng dục vọng, đó là đầu mối của vô minh.

Người có Thánh tâm là người biết giữ cho tâm được thanh tịnh, chiêu minh, tức là giữ được bản thể của nó là tánh, do Trời phú cho, trở về với nguồn cội là Đại Linh quang Thượng Đế. Vì thế tâm sẽ trở nên thần minh, làm chủ nhục thân, hành động theo Đạo tự nhiên của Trời đất.

Do vậy, những bậc Thánh tâm là những người có đức háo sanh như Thượng Đế, đầy lòng thương yêu, nên mong muốn sửa đổi cho tất cả chúng sanh những tâm phàm tánh tục trở lại với Thiên tánh.

Thánh giáo Thầy có dạy: Thánh tâm dầu phải chịu khổn trần đi nữa thì chất nó cũng vẫn còn. Các con khác hơn kẻ phàm là duy tại bấy nhiêu đó mà thôi.

Trường phổ tế khó khăn lắm nỗi,

Cậy Thánh tâm sửa đổi tánh phàm.

(Kinh Thế Đạo).

Lần lựa cho đò xa bến Thánh,

Thánh tâm mấy kẻ vẹn trau thân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Diệt mê tín mở đường chơn thật,

Lấy Thánh tâm đặng cất Cao Đài.

(Xuân Hương Giáng Bút).

 

 

THÁNH TOÀ TRẤN TỊNH

Thánh toà (toạ): Hay Thánh Toạ, tức ngôi Toà Thánh. Trấn tịnh: Gìn giữ yên tịnh.

Thánh toà trấn tịnh, như chữ “Thánh toạ trấn tịnh 聖 座 鎮 淨”, là ngôi Toà Thánh được giữ gìn yên tịnh.

Trong Đạo Cao Đài, bài Kệ Chuông U Minh, lời nguyện thứ 16 có câu: Thánh Toà trấn tịnh, đạo pháp hưng thịnh 聖 座 鎮 淨, 道 法 興 盛, nghĩa là Toà Thánh được giữ gìn yên tịnh, đạo pháp được hưng thịnh lâu dài.

Thánh Toà trấn tịnh, đạo pháp hưng thịnh.

(Kệ U Minh).

 

 

THÁNH TOÀ LỢP TRANH

Thánh Toà: Chỉ ngôi Toà Thánh, là Tổ Đình của Đạo Cao Đài. Lợp tranh: Mái Toà Thánh lợp bằng tranh.

Thánh Toà lợp tranh là mái Toà Thánh ngày xưa khi mới dời về làng Long Thành còn tạm lợp bằng tranh.

Nguyên trước kia, Hoà Thượng Như Nhãn cho Hội Thánh Cao Đài mượn ngôi chùa Gò Kén để làm lễ khai nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Sau vì xảy ra cuộc biến, Như Nhãn đòi ngôi chùa lại. Hội Thánh vâng theo lời Đức Lý, tìm mua một miếng đất tại làng Long Thành, trả chùa lại cho Hoà Thượng Như Nhãn, rồi thỉnh cốt Ðức Phật Thích Ca cỡi ngựa dời về đất mới mua, cất tạm ngôi chùa bằng cây ván, lợp tranh mà thiên hạ ngoài đời thời buổi ấy gọi là Chùa Mới.

Thánh Toà xưa khởi lợp tranh xanh,

Kiến thiết tròn đêm chóng lập thành.

(Thơ Bảo Văn Pháp Quân).

 

 

THÁNH TÔNG ĐỒ

聖 宗 徒

Thánh: Bậc Thánh. Tông đồ: Một trong mười hai người môn đồ của Đức Chúa Jésus.

Thánh Tông đồ tức một trong mười hai vị Thánh, là môn đồ của Đức Chúa Jésus Christ.

Mười hai vị Thánh Tông đồ của Ðức Chúa Jésus Christ là:

 

1) Thánh Pierre.

 

2) Thánh Anrê.

 

3) Thánh Yacôbê.

 

4) Thánh Yoan.

 

5) Thánh Philip.

 

6) Thánh Barthôlômêô.

 

7) Thánh Thôma.

 

8) Thánh Mathêô.

 

9) Thánh Yacôbê.

 

10) Thánh Thađê.

 

11) Thánh Simôn.

 

12) Thánh Yuđa Iscariôt.

Yuđa sau phản Chúa nên bị chết thảm. Mười một Tông đồ còn lại cử Ông Matthya vào thay Yuđa cho đủ số mười hai vị Thánh như buổi đầu.

Nhân loại phải chịu đau khổ vì sự biến thể của các Thánh Tông đồ.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

THÁNH TỬ ĐẠO

聖 死 道

Thánh: Bậc Thánh. Tử Đạo: Người chết vì Đạo.

Theo quan niệm của Tôn Giáo Cao Đài, những người chết vì bảo vệ Đạo pháp hay vì trung thành với Đạo đều được phong vào hàng Thánh, gọi là Thánh Tử Đạo và được biên tên đem thờ nơi Bát Quái Đài.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bần Đạo xin cả toàn thể đứng yên lặng trong năm phút đồng hồ để tưởng niệm đến các Thánh Tử Đạo, vì vận mạng của nước nhà, vì chánh thể của nền chơn giáo đã hy sinh đặng làm sứ mạng Thiêng Liêng của mình bằng xương máu.

Thánh Tử Đạo,cũng thờ đây,

Hy Sinh vì Đạo thương Thầy mến dân.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

THÁNH TƯỢNG

聖 像

Thánh: Tiếng tôn xưng. Tượng: Hình người hay hình các Đấng Thiêng liêng vẽ hoặc nắn đúc để thờ phụng.

Thánh Tượng là tượng thờ bằng hình hay cốt tượng của các Đấng Thiêng liêng.

Trong Đạo Cao Đài tại các Thánh Thất ở địa phương, nơi chánh điện vẽ hình Thiên Nhãn mà thờ, gọi là “Thánh Tượng Thiên Nhãn”, còn tại tư gia của các tín đồ thì thờ “Thánh Tượng Ngũ Chi”.

Thánh giáo Thầy có câu: Chưa phải hồi các con biết đặng tại sao vẽ Thánh Tượng Con Mắt mà thờ Thầy, song Thầy nói sơ lược cho hiểu chút đỉnh.

Ðã có Thánh Tượng Thầy thì là cốt Ngọc Hoàng con để lại chẳng nghĩa chi hết.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

THÁNH THAI

聖 胎

Thánh: Thiêng liêng, mầu nhiệm. Thai: Thể sống đang hình thành và lớn lên trong bụng mẹ.

Thánh thai, theo đạo Cao Đài là cái chơn thần huyền diệu của người đắc đạo.

Trong phép luyện đạo, người luyện tam bửu Tinh, Khí, Thần hiệp nhứt thì tạo được Thánh thai, tức “chơn thần huyền diệu”, đắc đạo tại thế.

Cái chơn thần nầy theo các Đạo gia gọi Kim đơn, Thánh thai hay Xá lợi tử.

Đại Thừa Chơn Giáo có câu: Dầu cho vị Phật, Tiên nào cũng phải chịu đầu thai vào thế giới vật chất luyện cho đắc thành Thánh thai Phật tử mới về ở thế giới hư linh, chớ đừng nói trong hàng Phật, Tiên đắc Ðạo mà không tu luyện theo pháp này thì làm sao thành chánh quả!

Luyện cho đắc Thánh thai Phật tử,

Lập chí cao quân tử tu hành.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

THÁNH THÂN

聖 身

Thánh: Bậc Thánh, các Đấng thiêng liêng. Thân: Thân thể, hình thể.

Thánh thân là thân thể của các bậc Thánh.

Ở đây, chữ “Thánh thân”, đồng nghĩa với chữ “Thánh thể 聖 體”, là hình thể của Đức Chí Tôn tại thế, tức chỉ Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Vẹn toàn phàm thể Thánh thân,

Tùng theo Chơn pháp độ lần chúng sanh.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

THÁNH THẦN TIÊN PHẬT CHI CHỦ

聖 神 仙 佛 之 主

Thánh, Thần, Tiên, Phật chi chủ là nói Đức Chí Tôn làm chủ Thần, Thánh, Tiên, Phật.

Theo Thánh giáo Đức Chí Tôn đã dạy: “Khai Thiên địa vốn Thầy, sanh Tiên, Phật cũng Thầy. Thầy nói một chơn thần mà biến Càn Khôn Thế Giới và cả nhơn loại”. Nên Ngài là cha của chư Thần, Thánh, Tiên, Phật và chư chúng sanh.

Lại nữa, Ngài là vị Thiên Đế, làm chúa tể chư Thần, Thánh, Tiên, Phật.

Như vậy, Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế là chủ chư Thánh, Thần, Tiên, Phật.

Nãi Nhựt Nguyệt Tinh Thần chi quân,

Vi Thánh, Thần, Tiên, Phật chi chủ.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

THÁNH THẤT

聖 室

Thánh: Chỉ tất cả những gì thuộc về Đức Chí Tôn. Thất: Nhà, ngôi thờ.

Thánh Thất là một danh từ đặc biệt của Đạo Cao Đài, dùng để chỉ ngôi nhà thờ Đức Chí Tôn và chư Thần Thánh Tiên Phật.

Hiện nay, người ta thường phân biệt ngôi thờ Đức Chí Tôn ở Trung Ương gọi là Đền Thánh hay Toà Thánh, còn Thánh Thất là ngôi thờ Đức Chí Tôn ở các địa phương.

Nhưng Ngài ở cửa Hiệp Thiên,

Thánh Thất, Tịnh Thất trọn quyền xét soi.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

THÁNH THẤT CẦU KHO

Thánh Thất: Ngôi thờ Đức Chí Tôn của đạo Cao Đài. Cầu Kho: Tên một vùng ở Sài Gòn, nay là một phường thuốc quận nhứt.

Thánh Thất Cầu Kho, nguyên trước đây là ngôi trường Tiểu Học Cầu Kho, hiện nay là trường Tiểu học Trần Hưng Ðạo, do Ông Ðoàn Văn Bản làm Ðốc học (Hiệu trưởng).

Nhà của ông Đoàn Văn Bản ở số 42 Général Leman, nay là đường Cao Bá Nhạ, nằm bên cạnh trường, khá rộng, được Ðạo dùng làm Thánh Thất thờ Ðức Chí Tôn, gọi là Thánh Thất Cầu Kho để lập đàn cầu cơ, thâu nhận môn đệ. Phò loan tại đây là hai Ngài: Nguyễn Trung Hậu và Trương Hữu Ðức.

Vì vậy mà Lý Thái Bạch định cho làm đại lễ nơi Thánh Thất Cầu Kho cho các môn đệ đó có thế hầu đàn đủ mặt.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

THÁNH THỂ

聖 體

1.- Thánh: Tiếng tôn xưng các vị Đại Thiên phong. Thể: Hình thể, xác thân.

Thánh thể chỉ xác thể của các vị chức sắc Đại Thiên phong của đạo Cao Đài.

Thánh thể gửi an nơi phước địa,

Chơn linh nhẹ lướt cụm tường vân.

(Thơ Võ Thành Lượng).

2.- Thánh thể, như chữ “Thánh thân”, là hình thể Đức Chí Tôn tại thế, tức Hội Thánh.

Đạo Cao Đài do cơ bút lập thành, thay mặt Đức Chí Tôn tại thế gồm ba đài: Bát Quái Đài tượng linh hồn của Đạo, Hiệp Thiên Đài là chơn thần của Đạo và Cửu Trùng Đài là thể xác của Đạo.

Các chức sắc Cửu Trùng Đài từ phẩm Giáo Hữu trở lên họp lại gọi Hội Thánh, ấy là Thánh thể Đức Chí Tôn tại thế.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Đức Chí Tôn đến tạo Đạo để giải khổ tâm hồn cả con cái của Ngài, Ðức Chí Tôn lại tạo ra hình ảnh Thánh Thể của Ngài, mượn tay các em và các bạn làm hình thể của Ngài, giải khổ cho đời về phần xác.

Các con vốn trong vòng Thánh thể,

Phép tu vi là kế tu hành.

(Kinh Thế Đạo).

Hình hài Thánh thể chừ nên tướng,

Đài trọng hồng ân gắng cậy nhờ.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

3.- Thánh thể cũng như Thánh hình là hình thể thiêng liêng. (Xem: Thánh hình).

Đức Chí Tôn tạo ra con người lấy theo hình ảnh thiêng liêng tốt đẹp của Đức Chí Tôn.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có nói về Thánh thể như sau: “Ôi Thầy sanh các con, Thầy yêu các con; Thầy cho các con đến thế nầy với một Thánh thể Thiêng liêng, y như hình ảnh của Thầy, không ăn mà sống; không mặc mà lành. Các con không chịu, lại nghe lời cám dỗ, luyến ái hồng trần, ăn cho bị đày; dâm cho phải bị đọa, rồi các con phải chịu dưới nạn áo cơm.

Nhập Thánh thể dò đường cựu vị,

Noi Chơn truyền khử quỷ trừ ma.

(Kinh Tận Độ).

 

 

THÁNH THÓT

Thánh thót, còn có thể viết “Thánh thoát”, chỉ tiếng nước nhỏ xuống từng giọt.

Thơ Bà Huyện Thanh Quan có câu: Thánh thót tàu tiêu mấy hạt mưa, Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ.

Thánh thót (Thánh thoát) còn dùng để chỉ âm thanh có giọng cao, trong, lúc to lúc nhỏ, ngân vang một cách êm ái. Như: Chim hót thánh thót.

Giọt rơi thánh thót: lời bay bướm,

Đèn lụn tờ mờ, gió vuốt ve.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

THÁNH TRỊ

聖 治

Thánh: Bậc Thánh, còn là tiếng tôn xưng Trời Phật các Đấng thiêng liêng. Trị: Trừng trị, trừng phạt.

Thánh trị là sự trừng trị của Hội Thánh.

Thánh trị còn dùng để chỉ sự trừng trị của Trời Phật hay các Đấng thiêng liêng.

Bởi Đạo quyền gọi là Thánh trị chớ không phải phàm trị.

(Thánh Giáo Quyền Giáo Tông).

 

 

THÁNH TRIẾT

聖 哲

Thánh: Người có tài năng và đầy đủ đức hạnh. Triết: Bậc hiền triết.

Thánh triết là tiếng dùng để tôn xưng những bậc hiền triết như Đức Khổng Tử vào hàng Thánh.

Như: Xưa các bậc Thánh triết xa lìa danh lợi, có lối sống u nhàn, cao thượng.

Nết Khổng nảy sanh bao Thánh triết,

Nhà nho sản xuất bực hiền lương.

(Tôn Sơn Chơn Nhơn).

Noi gương Thánh triết đàn em tiến,

Nối chí hiền nhân rạng đức tài.

(Thơ Hương Cường).

 

 

THÁNH TRUYỀN

Thánh: Bậc Thánh, còn là tiếng tôn xưng Trời Phật các Đấng thiêng liêng. Truyền: Trao lại.

Thánh truyền là Thánh giáo chơn truyền, tức những lời dạy bảo của Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu và các Đấng Thiêng liêng truyền lại.

Thế thì sau nầy có ngày phải khuất hết dấu Thánh truyền, thì cách giao tiếp của chư đạo hữu phải ra sao nữa?

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

THÁNH TRƯỚC HIỀN XƯA

Thánh hiền: Bậc Thánh và bậc Hiền, tức là chỉ chung các bậc tài giỏi, có đạo đức hơn người.

Thánh trước hiền xưa là chỉ chung các bậc Thánh hiền thời xưa. Ví như Đức Khổng Tử cùng 72 đồ đệ người đời sau gọi là Thánh hiền.

Thánh trước hiền xưa thường chỉ giáo,

Dạy người khử trược đặng lưu thanh.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

THÁNH VỆ

聖 衛

Thánh: Bực Thánh, tiếng tôn xưng vào hàng Thánh. Vệ: Giữ gìn, che chở, bảo vệ.

Thánh vệ, còn gọi là Cơ Thánh Vệ, là cơ quan lập ra để gìn giữ Toà Thánh, che chở cho các chức sắc của Hội Thánh, tức là những người giữ trật tự, an ninh trong nội ô và ngoại ô Toà thánh.

Cơ Thánh Vệ được đặt dưới quyền Thánh Vệ Trưởng. Nhân viên trong Cơ Thánh Vệ được gọi là Thánh Vệ viên.

Cơ Thánh Vệ và Cơ Bảo Thể được đặt dưới quyền Thống quản của Hộ Đàn Pháp Quân.

Hộ Đàn kiêm luôn Thánh Vệ và Bảo Thể vì hai cơ quan nầy chịu dưới quyền thống quản của Hộ Đàn.

(Thánh Giáo Hộ Pháp).

 

 

THÁNH VỊ

聖 位

Thánh: Bực Thánh, là một trong bốn bậc: Thần, Thánh, Tiên, Phật. Vị: Ngôi.

Thánh vị là phẩm vị vào hàng Thánh.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Đặng Thần vị rồi, lại xem gương của các Thánh mà tu luyện Thần hồn mình cho đặng Thánh đức, tức nhiên cũng đoạt đặng Thánh vị vậy.

Ước hiệp Quan Trường nên Thánh vị,

Vì xa Nghĩa Đế chịu lìa ngôi.

(Thất Nương Giáng Bút).

Nắm pháp thiêng liêng dìu Thánh vị,

Cầm cân công lý giữ ngôi Trời.

(Bài Thài Khai Pháp).

 

 

THÁNH VỨC

Hay “Thánh vực”.

Thánh: Bậc Thánh, tiếng dùng để tôn xưng. Vức (Vực): Vùng đất, cõi.

Thánh vức, như chữ “Thánh vực 聖 域”, là cõi Thánh hay vùng đất Thánh. Ví dụ như: Toà Thánh Tây Ninh là một Thánh vực.

Việc chi chi tại nơi Thánh vức,

Chớ tưởng lầm tổn đức bình sanh.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

Thiên Quân diêu động linh phan,

Cả miền Thánh vức nhộn nhàng tiếp nghinh.

(Kinh Tận Độ).

 

 

THÀNH

1.- Thành là bức tường cao xây bao bọc để phòng thủ một đô thị.

Như: Thành trì, thành thị, thành cao hào sâu.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có dạy: Lão tưởng chẳng cần phải nói chi một nước nhỏ nhoi đã đặng danh Thánh Ðịa là nước Nam nầy, mà Lão xin không đặng tội cho thành Sài gòn, Chợ Lớn, Gia Ðịnh, Huế, Hải Phòng, Hà Nội thay!

Thành Uổng tử cheo leo gớm ghiếc,

Cầm hồn oan rên xiết khóc than.

(Kinh Sám Hối).

Lý diệp chờ xuân nhánh trổ bông,

Thị thành chen lấn lại rừng tòng.

(Đạo Sử).

Anh em bạn tác vầy đông,

thành cũng ngã, lấp sông cũng bằng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Thành là chân thực. Như: Thành tâm. Thành thực, lòng thành, ý thành.

Huấn từ Đức Thượng Sanh đọc trong buổi Lễ Cứu Trợ Việt Kiều Hồi Hương tại trại tạm cư ấp Ninh Lợi, ngày 15/5/Canh Tuất có câu: Hôm nay Hội Thánh đến đây để thăm viếng quý vị trong tình huynh đệ đồng bào, có ý đem lại cho quý vị một niềm an ủi chân thành, sau để hiến cho quý vị vài món quà cần thiết tuy có tánh cách tượng trưng, nhưng sự tương trợ có quý, chẳng phải ở nơi cho nhiều, mà ở nơi lòng thành ưu ái và cách thức tương trợ.

Kẻ ở phương trời người góc biển,

Lòng thành nhắn gởi chữ khương ninh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trung thành một dạ thờ Cao Sắc,

Sống có Ta, thác cũng có Ta.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tâm thành thì ắt đặng đời thành,

Danh chẳng cầu mà lại có danh.

(Đạo Sử).

3.- Thành là nên. Như: Thành công, thành danh, thành Phật, thành vợ thành chồng.

Thánh giáo Thầy có câu: Chẳng phải Thầy còn buộc theo Cựu luật, song luật ấy rất nên quý báu, không giữ chẳng hề thành Tiên Phật đặng.

Cầm mối Thiên Thơ lo cứu chúng,

Ðạo người vẹn vẻ mới thành Tiên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðời rạng lưu tồn gương nhựt nguyệt,

Ðạo thành vạn đại chiếu sơn hà.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

THÀNH BẠI

成 敗

Thành: Được, có kết quả. Bại: Thua.

Thành bại là được thua, hay nên hư, tức là những hoàn cảnh tốt xấu.

Lý Giáo Tông có lời dạy: Đức Chí Tôn cũng hằng dạy chư Đạo hữu Hiệp Thiên Đài về khoảng ấy, nhưng vì Hiệp Thiên Đài chưa đủ kẻ đứng chung lo và giúp sức, thế nên phải chịu cô quả mà coi sự thành bại của việc Đạo.

Thành bại lẽ thường lo cũng uổng,

Ðể công dạy kẻ biết nguồn lành.

(Đạo Sử).

Dậm chân chắt lưỡi, câu thành bại,

Bít mắt bưng tai, chuyện oán thù.

(Thơ Thuần Đức).

Tao phùng vận hội gắng tìm phương,

Thành bại xưa nay ấy lẽ thường.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

THÀNH CÔNG

成 功

Thành: Nên việc. Công: Sự khó nhọc, hiệu quả của một việc gì.

Thành công là nên việc, tức hoạt động có hiệu quả, sự nghiệp thành tựu.

Thánh giáo Đức Cao Thượng Phẩm có câu: Phải cương quyết nắm pháp luật chặt chẽ mới đáng là tướng soái của Đức Chí Tôn. Nếu hết sức mình, tận tâm dắt dìu họ mà không thành công thì đó là số kiếp của họ.

Hai chữ thành công cầu chúc bạn,

Thanh danh vẹn giữ nực mùi hương.

(Thơ Thượng Sanh).

Xuất thế để tìm phương giác thế,

Bảng son chờ đợi cuộc thành công.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

THÀNH DẠ

Thành: Thành thật, chơn thật. Dạ: Lòng dạ, biểu tượng cho tâm lý tình cảm.

Thành dạ, đồng nghĩa với chữ “Thành tâm 誠 心”, là lòng thành thật.

Thành dạ trau gương sanh chúng độ,

Thuyền kề gió lướt thoát mê tân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ngu vì đạo đức ấy ngu hiền,

Thành dạ thì toan đến cảnh Tiên.

 

 

THÀNH DANH

成 名

Thành: Nên việc, trở nên. Danh: Tên, tiếng tăm.

Thành danh là nên danh, tức chỉ người đã được hiển đạt, có tiếng tăm.

Trong bài Bia Kỷ niệm Đức Cao Thượng Phẩm có câu: Cao Quân người Nam Kỳ, xuất thân tại tỉnh Tây Ninh, nối dòng trâm anh, vốn nhà thi lễ, phẩm hạnh mực thước, tánh chất siêng năng, học hỏi thông minh, thành danh khi tuổi trẻ.

Thành danh đạt nghiệp ngời tên tuổi,

Nối lửa truyền hương phỉ mẹ cha.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

THÀNH ĐẠO

成 道

Thành: Nên việc, kết quả, trở nên. Đạo: Tôn giáo.

1.- Thành đạo, như chữ “Đắc đạo 得 道”, là đạt đến chỗ cao sâu của đạo, tức tới mức cuối cùng của con đường tu tập là quả vị nơi cõi thiêng liêng.

Nói về Bất ẩm tửu, Thánh giáo Thầy có dạy: Nơi trung tim của nó (chơn thần) là óc; nơi cửa xuất nhập của nó là mỏ ác, gọi tiếng chữ là vi hộ, nơi ấy Hộ Pháp hằng đứng mà gìn giữ chơn linh các con, khi luyện thành đạo, đặng hiệp một với Khí, rồi mới đưa thấu đến chơn thần hiệp một mà siêu phàm nhập Thánh.

Thiếp xin hỏi chư hiền hữu: Các bậc tu hành muốn đặng thành đạo thì phải thế nào?

(Thánh Giáo Quan Âm).

2.- Thành đạo, như chữ “Đạo thành”, là chỉ một nền tôn giáo đã được xây dựng hoàn thành.

Thánh giáo Lý giáo Tông dạy Ngài Thượng Trung Nhựt có câu: Lão đã nói, mà Thầy cũng đã nói trước rằng: Khi thành đạo, nghĩa là khi Tân Luật phát hành thì trong hàng môn đệ, may lắm còn lại nửa phần trong đám Thiên phong, nhiều kẻ e còn bị trục xuất thay!

Chúng tôi nhứt tâm nhứt trí quyết làm cho thành Đạo, cho vừa lòng Đức Chí Tôn...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

THÀNH ĐẠT

成 達

Thành: Nên việc, kết quả, trở nên. Đạt: Thông suốt, gặp vận tốt.

Thành đạt là đạt kết quả tốt đẹp, đạt mục đích viề sự nghiệp làm nên.

Như: Con cái trong gia đình đều thành đạt cả, nhờ tay nghề giỏi mà anh ấy thành đạt.

Quyết tâm gắng chí gan bền,

Đến ngày thành đạt chẳng quên ơn nhà.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

THÀNH ĐÔ

城 都

Thành: Thành thị, nơi có phố xá đông đúc, nhiều dân cư. Đô: Chỗ vua đóng Kinh đô.

Thành đô, do chữ “Đô thành 都 城”, chỉ những thành phố chính trong nước.

Như: Các chợ trong thành đô người đông đúc.

Một chiều gió lạnh tự quan san,

Về nẻo thành đô, ý ngỡ ngàng.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

THÀNH ĐỘC SỚ VĂN

誠 讀 疏 文

Thành: Thành thật, chơn thật. Độc: Đọc, phát thành lời những điều đã được viết. Sớ văn: Bài văn viết để tâu lên Đức Chí Tôn.

Thành độc sớ văn là thành kỉnh đọc bài Sớ văn tâu lên Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu, các Đấng Thiêng liêng.

Thành độc Sớ văn.

(Nghi Tiết Cúng Lễ).

 

 

THÀNH Ý

誠 意

Thành: Chân thật. Ý: Điều suy nghĩ trong bụng.

Thành ý là những ý nghĩ thành thật, chân thật.

Theo sách Đại học, Thành ý là một trong tám điều: Cách vật, Trí tri, Thành ý, Chính tâm, Tu thân, Tề gia, Trị quốc, và Bình thiên hạ.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Xưa các bậc Thánh nhân đã dạy từ vua cho đến dân ai cũng lấy sự sửa mình làm gốc. Muốn cho thành người đức hạnh hoàn toàn phải giữ cái ý cho thành, cái tâm cho chánh, Tâm đặng chánh, ý đặng thành là nhờ lấy trí khôn ngoan xét đoán cùng tột của mọi loài suốt tới chỗ uyên thâm của sự vật. Cách vật trí tri rồi mới định tỉnh mà thành ý, chánh tâm, vì vật có gốc ngọn, sự có đuôi đầu.

Nho giáo trọng ở phần cách trí,

Với cái nhìn thành ý chánh tâm.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

THÀNH KIÊN LUỸ CỐ

城 堅 壘 固

Thành luỹ: Thành và luỹ được đắp cao để chống giặc. Kiên cố: Bền vững.

Thành kiên luỹ cố là nói thành luỹ kiên cố, tức nơi đóng quân bền vững, chắc chắn, giặc khó công phá nổi.

Nguy hiểm tạo thành trang tuấn kiệt,

Thành kiên lũy cố định biên cương.

(Tôn Sơn Chơn Nhơn).

 

 

THÀNH KIẾN

Thành: Trở nên, kết quả, nên việc. Kiến: Ý kiến.

Thành kiến là ý kiến cố chấp đã thành cố định, không thay đổi được.

Như: Không nên có thành kiến với người phạm khuyết điểm.

Quên tất cả cao thấp, quên tất cả cái hơn kém, quên cho đến cái thực tại của mình, quên tất cả những thành kiến, mê lầm.

(Giáo Lý).

 

 

THÀNH KỈNH

Hay “Thành kính”.

Thành: Thành thật, chân thật. Kỉnh (kính): Kính trọng, có thái độ coi trọng người trên.

Thành kỉnh, như chữ “Thành kính 誠 敬”, là chỉ lòng chân thật kính trọng người trên.

Lòng thành kỉnh khẩn cầu vọng bái,

Biết các con phận gái chưa an.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Ngậm ngùi tưởng niệm ân tiền bối,

Thành kỉnh đàn em lễ hiện chầu.

(Thơ Ngọc Nhượn Thanh).

 

 

THÀNH KHẨN

誠 懇

Thành: Thành thật, chân thật. Khẩn: Khấn, cầu xin.

Thành khẩn là hết sức thành thật mà cầu xin.

Như: Thái độ anh ấy rất thành khẩn trước mọi người.

Bà Bát Nương thong dong chỉ dẫn,

Đức Hộ Pháp thành khẩn ghi lời.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

THÀNH LẬP

成 立

Thành: Nên. Lập: Làm, dựng, gây dựng.

Thành lập là chính thức lập nên, hay bắt đầu xây dựng thành. Như: Thành lập công ty doanh nghiệp.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Thầy đến độ rỗi các con là thành lập một trường công đức cho các con nên đạo. Vậy đắc đạo cùng chăng, tại nơi các con muốn cùng chẳng muốn.

Quý cụ duyên may ngộ Đạo Thầy,

Bắc Tông thành lập hiện nơi đây.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

THÀNH LUỸ

城 壘

Thành: Bức tường bao quanh, thành thị. Lũy: Đất đấp cao quanh tường thành.

Thành lũy là bức tường thành và những mô đất đắp cao để chống giặc.

Như: Thành lũy được xây dựng kiên cố.

Đất vò nên lọn xây thành luỹ,

Nước dập tuôn bờ lở giậu dâu.

(Lục Nương Giáng Bút).

Mà kinh vì thấy cửa nhà tan,

Thành lũy trở ra đống bụi tàn.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

THÀNH NGỮ

成 語

Thành: Nhất định, không thay đổi. Ngữ: Lời nói.

Thành ngữ là những câu nói cố định, được quen dùng và lưu hành trong xã hội.

Như: Những câu thành ngữ rất khó giải thích.

Ba chìm bảy nổi, câu thành ngữ,

Chín được mười thua, chuyện tối thường.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

THÀNH PHỤC

成 服

Thành: Nên việc, kết quả. Phục: Chỉ quần áo tang.

Thành phục, một nghi thức trong tang lễ, là lễ thọ phục, tức để tang gia hiếu quyến mặc quần áo chịu tang.

Trước khi Thành phục, phải hành lễ Đức Chí Tôn, thượng Sớ Tân Cố, kế tẩn liệm thi hài người chết, rồi đến lễ Thành phục.

Như: Đến 4 giờ chiều nay mới thành phục phát tang.

Thành phục: Nếu để nơi tư gia thì hành lễ Đức Chí tôn, Cáo Từ Tổ phát tang.

(Quan Hôn Tang Lễ).

 

 

THÀNH QUẢ

成 果

Thành: Nên, được kết quả. Quả: Trái, kết quả.

Thành quả là kết quả quý giá đạt được của một quá trình lao động, hay đấu tranh. Như: Thành quả lao động.

Huấn từ của thượng Sanh đọc trong buổi lễ Khánh thành Cơ Quan Phát Thanh Phổ Thông Giáo Lý ngày 16 tháng 1 năm Kỷ Dậu, (Dl. 4/3/1969) có đoạn: Mặt khác, tôi nhận thấy nhiệm vụ phát thanh giáo lý là một nhiệm vụ rất quan trọng mà riêng Ban Giám Ðốc Cơ Quan Phát Thanh không thể thực hành cho đến mức tận thiện, tận mỹ. Phải cần có sự cộng tác của Chức Sắc Cửu Trùng Ðài và Phước Thiện mới chắc có thành quả tốt đẹp hơn, Giáo lý là căn bản của một Tôn Giáo, nền tảng của một mối Chánh truyền, phải cùng nhau chung tâm hiệp trí chúng ta mới tránh được điều sơ suất và công việc truyền bá Ðạo trong đại chúng mới được thuận lợi.

Người Chức sắc phải chịu côi thế khi thi hành nhiệm vụ và như vậy không trông gì thu thập được thành quả tốt đẹp.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

THÀNH SẦU

Thành: Bức tường thành. Sầu: Buồn phiền rầu rĩ.

Thành sầu, do chữ “Sầu thành 愁 城”, là nỗi sầu muộn lớn lao bị vây bọc như những bức tường thành.

Xem: Sầu thành.

Biển hoạn dập dồn thương bấy trẻ,

Thành sầu chất chứa cám cho gia.

(Đạo Sử).

Tả nỗi thảm thêm đau mấy đoạn,

Mượn bút hoa đắp cạn thành sầu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

THÀNH SONG

成 雙

Thành: Nên việc, kết quả, trở nên. Song: Hai, đôi.

Thành song là thành một cặp, một đôi vợ chồng.

Như: Ông tơ Bà nguyệt đã phối hợp thành song cho đôi trẻ nên duyên vợ chồng.

Tác hiệp sẵn nhờ xây bĩ thới,

Thành song trước định gặp thư hùng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

THÀNH SỰ DO THIÊN

成 事 在 天

Thành sự: Việc hoàn thành, việc nên. Do thiên: Bởi nơi trời, do nơi trời.

Thành sự do thiên nên việc ở nơi Trời.

Câu này là lời than của Gia Cát Khổng Minh, lúc dụ Tư Mã Ý vào Hồ Lô cốc để dùng lửa đốt hang. Khi lửa vừa phựt cháy thì có cơn mưa đổ xuống dập tắt đám lửa.

Ông mới than rằng: Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên 謀 事 在 人, 成 事 在 天, nghĩa là mưu kế thì ở người, nên việc là ở trời.

Ở đời “Mưu sự tại nhân”,

Nhưng mà thành sự lại cần do Thiên.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

THÀNH TÂM

誠 心

Thành: Thành thật, chơn thật. Tâm: Cái tâm, cái lòng của con người.

Thành tâm là lòng thành thật hay thật tâm.

Tâm của con người có tâm thật còn gọi là chân tâm hay Phật tánh và tâm giả là tâm chúng ta đem ứng xử hằng ngày trong cuộc sống.

Sống trên thế gian, trong vô số kiếp chúng ta không dùng chơn tâm ra để sống ở đời, mà chỉ dùng tâm giả. Vì vậy, chúng ta mới bị luân hồi trong sinh tử.

Sách Trung Dung rất coi trọng “Thành tâm” hơn các đức tính khác, và cho rằng: “Duy Thiên địa chí thành vi năng tận kỳ tính; năng tận kỳ tính tắc năng tận nhân chi tính; năng tận nhân chi tính tắc năng tận vật chi tính; năng tận vật chi tínhtắc khả dĩ tán Thiên địa chi hoá dục, khả dĩ tán Thiên địa chi hoá dục tắc khả dĩ dữ Thiên địa tham hỹ 唯 天 地, 至 誠 為 能 盡 其 性; 能 盡 其 性, 則 能 盡 人 之 性; 能 盡 人 之 性, 則 能 盡 物 之 性; 能 盡 物 之 性, 則 可 以 贊 天 地 之 化 育; 可 以 贊 天 地 之 化 育, 則 可 以 與 天 地 參 矣” nghĩa là “chí thành” có thể giúp vào việc hoá dục của Trời đất nên có thể sánh cùng Trời đất: Người có thành tâm mới có thể phát huy đến cùng cực cái bản tính của mình; mà hễ phát huy đến cùng cực cái bản tính của mình thì có thể phát huy đến cùng cực cái bản tính của người; có thể khiến người phát huy đến cùng cực cái bản tính của người thì có thể khiến vật thực hành đến cùng cực bản tính của vật, có thể khiến vật thực hành đến cùng cực bản tính của vật, thì có thể giúp vào việc hoá dục của Trời đất; có thể giúp vào việc hoá dục của Trời đất thì có thể sánh cùng Trời đất.

Mai xuân nguyệt cúc vị trà hương,

Kỉnh lễ thành tâm hiến bửu tương.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

THÀNH TÍCH

成 績

Thành: Xong, nên việc. Tích: Công lao.

Thành tích là kết quả được đánh giá tốt do nỗ lực mà đạt được. Đông nghĩa với chữ Kết quả. Như: Anh đã lập được thành tích xuất sắc.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Trong mấy ngày tết, ngoài ra phận sự đối với gia đình, thờ cúng tổ tiên, chúng ta nên dùng dịp nghỉ ngơi để ôn lại những việc đã làm, cùng những thành tích đã thâu thập trong một năm qua trên đường hành Đạo.

...sách xưa truyện cũ ta thấy còn lưu lại nhiều thành tích rất quý hoá.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

THÀNH TÍN

誠 信

Thành: Lòng thành thật. Tín: Hay tín tâm, tức là lòng tin tưởng, đức tin.

Thành tín là lòng thành thật và tin tưởng.

Bất cứ một Tôn giáo nào cũng lấy lòng tin tưởng làm gốc. Lòng tin rất cần thiết cho người theo Đạo và giữ Đạo. Có được lòng tin con người mới vững vàng tu học, không có lòng tin sớm muộn gì cũng ngã.

Song lòng tin phải có trí phán xét, chỉ nên hướng về nẻo chánh, điều lành. Chớ không nên bạ đâu tin đó, tin một cách cực đoan, không phân biệt chánh tà thì rất hại cho đức tin ta lắm vậy.

Có lòng tin vào Trời, Phật và các Đấng Thiêng Liêng, tin tưởng có linh hồn bất tiêu bất diệt thì chúng ta mới sùng bái, học theo đức háo sinh của các Đấng, không dám tạo ác nghiệp mà phải gieo nghiệp lành để được thoát ra luân hồi sinh tử.

Vọng Thượng Đế chứng lòng thành tín,

Chúng sanh đồng bái kỉnh khẩn nguyền.

(Giới Tâm Kinh).

Thành tín nhứt tâm cũng đáng khen,

Không sang tột bực cũng không hèn.

(Đạo Sử).

Thành tín khen lòng trung nghĩa đủ,

Thánh tâm âu cũng lúc nên dường.

(Đạo Sử).

 

 

THÀNH TỰU

成 就

Thành: Nên. Tựu: Đi đến kết quả.

Thành tựu là việc có kết quả, tức việc làm đưa đến thành công. Như: Phải mười năm làm việc mới thành tựu.

Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy: Các con ví biết Ðạo là quý thì phải ân cần thận trọng, đợi đến ngày thành tựu, các con mới thấy rõ Thiên cơ, thì chừng ấy các con muốn lập công bằng buổi nầy sao đặng, vì mỗi việc khó khăn trắc trở là lúc sơ khai.

Đảm đương gánh nặng ơn Sư phụ,

Thành tựu công nhờ gốc Phạm Môn.

(Thơ Huệ Phong).

Mở cửa chờ trông năm mới đến,

Đến xem thành tựu được bao nhiêu.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

THÀNH THANG

成 湯

Thành Thang là vị vua sáng nghiệp nhà Thương, họ Tử tên Lý, lại có tên là Thiên Ất.

Vua Kiệt nhà Hạ vô đạo, thiên hạ loạn lạc, Thành Thang đem binh đi đánh, bắt đày vua Kiệt ở Nam Sào, phế nhà Hạ dựng quốc hiệu nhà Thương, tại vị được ba mươi năm. Thành Thang nổi tiếng là một vị vua nhân đức nhất trong lịch sử cổ đại Trung Quốc.

Thành Thang là vị vua nhân đức thấy người giăng lưới bắt chim, ông thương cho loài chim nên nguyện cho thoát khỏi lưới bẫy.

Xem: Lưới Thang.

Thành Thang muôn mặt lưới trường,

Biết khôn cầm thú kiếm đường cao sâu.

(Ngụ Đời).

Ái vật Thành Thang quên dở ná,

Yêu dân Hạ Võ mặc hài gai.

(Bát Nương Giáng Bút).

Thành Thang gắm ghé giăng tay lưới,

Lữ Vọng sẵn sàng móc lưỡi câu.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

THÀNH THẬT

Hay “Thành thực”.

Thành: Thực, thực thà. Thật (thực): Thiệt, đúng với cái đã có, với việc đã xảy ra.

Thành thật, như chữ “Thành thực 誠 實”, là chân thành, không gian trá, không giả mạo, tức là thành tâm, ngay thật. Như: Tin vào lòng thành thật của chị ấy.

Thánh giáo Thầy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển bằng pháp văn được Hội Thánh dịch ra Việt ngữ có câu: Con đến đây với tấm lòng thành thật để làm việc phải cho giống dân biết phục thiện hiện đang giao phó cho con.

Thành thật thôi thì mình xử lấy,

Ðèo bồng chi rộn trí không sâu.

(Đạo Sử).

Thờ Thầy nếu đặng lòng thành thật,

Thầy giúp tuổi già đặng thảnh thơi.

(Đạo Sử).

 

 

THÀNH THỊ

城 市

Thành: Chỗ địa phương có nhiều người ở. Thị: Chợ, nơi nhiều người họp để mua bán.

Thành thị là chỗ địa phương ở trong thành.

Thành thị còn có nghĩa chỗ đô hội, tức là nơi có dân cư đông đúc, nhiều ngựa xe.

Như: Cuộc sống ở thành thị đầy đủ hơn nông thôn.

Dâu bể trải qua đã mấy lần,

Hỡi người thành thị với thôn lân.

(Thơ Thông Quang).

 

 

THÀNH THỊ THÔN QUÊ

Thành thị 城 市: Một vùng dân chung quanh có xây thành bao bọc và có chợ búa. Thôn quê: Xóm làng ở nơi ruộng đồng.

Thành thị là chỉ nơi chợ búa, có dân cư đông đúc, còn thôn quê là xóm làng nơi đồng ruộng.

Như: Từ thành thị tới thôn quê, mọi người đều phải đi bầu cử Quốc hội.

Đã nhiều cơn tân khổ, chẳng quản đến tình nhà, dìu sanh linh từ thành thị chí thôn quê,

Dư mấy lúc gian truân, lần lừa theo mạch Đạo, dẫn bậu bạn vạch ngọn nguồn về cội cũ.

(Văn Tế Thượng Phẩm).

 

 

THÀNH TRÌ

城 池

Thành: Bức tường xây cao lên để che chở một đồn trại. Trì: Ao đào xung quanh.

Ngày xưa chung quanh thành, người ta đều có đào ao để quân địch không có thể tấn công hay xâm chiếm dễ dàng được, nên gọi là thành trì.

Như: Thành trì được bảo vệ kiên cố.

Ấy phương bảo thủ thành trì,

Đường khai đã sẵn gắng đi cho cùng.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

THÀNH UỔNG TỬ

Thành Uổng Tử, hay Uổng Tử thành 枉 死 城, một cái thành nơi Âm phủ, dùng để giam giữ các vong hồn của người khi còn ở dương thế liều mình tự tử.

Ngọc Lịch Minh Kinh có viết: “Thế tục nói sái rằng, ai bị thác oan thì hồn bị cầm nơi thành Uổng Tử. Đời nghe lưu truyền lâu, cũng tin là thiệt! Sao không xét cho đủ lý, người đã thác oan còn cầm ngục là nghĩa gì? Cho đi thong thả chớ không cấm cố, song nán đợi kẻ giết mình xuống Âm phủ, hành tội trước mặt hồn oan cho hết tức, rồi mới cho đi đầu thai.

Còn thành này để giam những kẻ vô cớ giận lẫy mà tự giết mình, trầm mình, thắt họng, uống thuốc độc... giam đỡ đợi hành tội, chưa đặng đầu thai”.

Thành Uổng Tử cheo leo gớm ghiếc,

Cầm hồn oan rên xiết khóc than.

(Kinh Sám Hối).

 

 

THÀNH VÀNG

Thành: Bức tường xây cao lên để che chở một đồn trại. Vàng: Dịch từ chữ “Kim 金”, chỉ kim loại.

Thành vàng, bởi chữ “Kim thành 金 城”, tức là thành xây dựng bằng đồng hay kim loại.

Thành vàng được dùng để chỉ thành luỹ kiên cố, chắc chắn, hay phòng thủ vững chắc.

Đạp đất thành vàng làm của báu,

Thổi tro cất luỹ sửa nhà an.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

THẢNH THOÁT

Thảnh thoát, như chữ “Thảnh thót”, hay “Thánh thót”, có âm thanh cao, trong, ngân vang một cách êm ái.

Như: Giọng ca thảnh thoát, tiếng đàn bầu vang lên thảnh thoát.

Xem: Thánh thót.

Thảnh thoát rừng thung tiếng gió ngàn,

Muôn hồng ngàn tía báo Xuân sang.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

THẢNH THƠI

Thảnh thơi là ở trạng thái nhàn nhã, không lo nghĩ, không bận rộn. Như: Đầu óc thảnh thơi.

Trong Đạo Sử, Vĩnh Sơn Đạo Sĩ có câu: Bần Ðạo vui chung cùng Chư vị trong nền đạo đức. Nếu Chư vị biết rõ đường ngay nẻo chánh, thì khá mau day trở kịp thì. Chư vị hằng ngày ao ước ra khỏi lối trầm luân được vào cõi thảnh thơi, song hỏi lại Chư vị có xứng đáng công trình chưa mà đem lòng ham mộ.

Chàng dầu đặng thảnh thơi cảnh trí,

Hộ dâu con giữ kỹ nhơn luân.

(Kinh Thế Đạo).

Gai góc lần đường công trước gắng,

Thảnh thơi có lúc buổi sau dành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Hậu nhựt công khanh để nối đời,

Thảnh thơi non hứng gió thanh chơi.

(Đạo Sử).

 

 

THẠNH

Hay “Thịnh”.

Thạnh, như chữ “Thịnh 盛”, là phát đạt, hưng vượng, tức ở trạng thái đang càng ngày càng phát triển giàu mạnh, tốt đẹp thêm lên, trái với “suy”.

Như: Dân giàu nước thạnh, âm thạnh dương suy.

Dương thạnh thì hay đời mạt kiếp,

Nêu thân ở giữa cuộc tang thương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

THẠNH HÀNH

Hay “Thịnh hành”.

Thạnh (thịnh): Thịnh vượng, trái với suy, đầy đủ. Hành: Làm, đi, trải qua.

Thạnh hành, như chữ “Thịnh hành 盛 行”, là thông dụng, phổ biến.

Như: Đạo Phật thời nhà Lý rất thịnh hành.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thầy có dạy: Thầy để lời cho các môn đệ ở đây biết rằng: Nguồn Đạo nơi đây còn chưa phổ thông thạnh hành như mấy chỗ khác là vì phần nhiều môn đệ chưa để hết tấc thành vào nền Đạo và độ rỗi sanh linh.

Chớ tưởng lầm rằng dầu hạnh chất của các con dường bao, Ðạo cũng thạnh hành mà dìu dắt các con đến tận chốn được.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

THẠNH NỘ

Hay “Thịnh nộ”.

Thạnh (thịnh): Lớn, rất, tức ở trạng thái ngày càng phát triển lớn mạnh. Nộ: Giận dữ.

Thạnh nộ, như chữ “Thịnh nộ 盛 怒”, là nổi giận một cách dữ dội. Như: Nó làm cho cha mẹ thạnh nộ.

Thánh giáo Đức Diêu Trì Kim Mẫu có dạy: Mẹ cũng để lời khuyên những con cái của Mẹ nên thắt chặt tình đoàn kết thương yêu nâng đỡ nhau, tha thứ cho nhau, để làm vui lòng Chí Tôn và cho Lý Bạch giảm cơn thạnh nộ, thì Người mới châm chước mà lập vị cho các con.

Thầy đã lập Ðạo nơi cõi Nam nầy là cốt để ban thưởng một nước từ thuở đến giờ hằng bị lắm cơn thạnh nộ của Thầy.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

THẠNH SUY

盛 衰

Hay “Thịnh suy”.

Thạnh (thịnh): Đầy đủ. Suy: Yếu tàn.

Thạnh suy. Như chữ “Thịnh suy 盛 衰”, dùng để nói cảnh đời lúc thạnh vượng đầy đủ, khi suy yếu, lụn tàn.

Thánh giáo Đức Thái Thượng Đạo Tổ có câu: Hiền hữu chỉ biết hành động của người mà chưa biết đến Thiên thơ của Ðức Chí Tôn. Có biết thạnh suy mà chưa chịu biết để công linh đào tạo thời thế, đặng dìu dắt chúng sanh cho kịp buổi.

Tôi không nhiễm bợn trần lao,

Thạnh suy vinh nhục nghèo giàu khỏi lo.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

THẠNH TÌNH

Hay “Thịnh tình”.

Thạnh (thịnh): Nhiều, tốt. Tình: Sự yêu mến, gắn bó giữa người với người.

Thạnh tình, như chữ “Thịnh tình 盛 情”, là chỉ có sự nhiệt tình trong đối xử hay trong sự tiếp đón.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Nhưng tin tưởng nơi lòng yêu thương của Ðức Chí Tôn Ðại Từ Phụ và nơi tấm thạnh tình chia vui sớt nhọc của các bạn đồng thuyền, người đau khổ cũng tự an ủi được vì ở trong cảnh ngộ đó cũng chưa phải là quá thất vọng chán nãn đưa đến chỗ bán đồ nhi phế bỏ dở hành trình.

Qua hồi đen tối lại hoàn minh,

Năm vận chia vui cảm thạnh tình.

(Thơ Thuần Đức).

Đạm bạc chung vui tỏ thạnh tình,

Ông bà thượng lộ đặng an ninh.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

THẠNH THẾ

Thạnh (thịnh): Dồi dào. Thế: Đời, cõi đời.

Thạnh thế, như chữ “Thịnh thế 盛 世”, là đời hưng thịnh, hay thời đại hưng thạnh.

Nam Mô Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn.

(Kệ U Minh).

 

 

THẠNH TRỊ

Hay “Thịnh trị”.

Thạnh (thịnh): Dồi dào. Trị: Công việc nhà nước sửa sang, dân chúng sống trong cảnh yên ổn.

Thạnh trị, như chữ “Thịnh trị 盛 治”, là chỉ đất nước giàu mạnh, dân chúng yên ổn.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Trong nước trên thương dưới, dưới kính trên, vắng trộm cướp, khỏi luật hình, vì quốc dân đặng bảo bọc giúp đỡ cho có nghề sanh nhai. Ðường không lượm của rơi, nhà không đóng cửa, ấy là đời thạnh trị của Nghiêu Thuấn vậy.

Thái bình trăm họ nhìn chơn Chúa,

Thạnh trị ba châu trổ trí Thần.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

Thạnh trị Bá vương toan ngảnh mặt,

Khuynh nguy dân chúng thảy oằn vai.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

THAO

Thao là binh pháp, tức mưu kế dùng binh.

Thao, do chữ “Lục thao 六 韜”, là tên cuốn binh thư của Lữ Vọng viết, gồm văn thao, võ thao, long thao, hổ thao, báo thao, khuyển thao.

Như: Tam lược lục thao, sáu thao ba lược.

Dạy gắng học sáu thao ba lược,

Hầu có ngày rộng bước phong vân.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

THAO LƯỢC

韜 略

Thao: Binh pháp, tức mưu kế dùng binh. Lược: Phương pháp.

Thao lược, như chữ “Lược thao”, tức “Tam lược lục thao”, là tên hai bộ binh pháp thời xưa, chỉ chung về phép dùng binh, hoặc người giỏi mưu kế.

Lục thao là tên cuốn sách của Lữ Vọng gồm: Văn thao, võ thao, long thao, hổ thao, báo thao, khuyển thao.

Tam lược là quyển sách tương truyền của Hoàng Thạch Công soạn.

Thao lược từ xưa đã mấy nhà,

Ðời qua tên tuổi cũng đều qua.

(Đạo Sử).

Hồng ân đã sẵn làm thao lược,

Ích quốc an dân dụng chữ hoà.

(Thơ Hộ Pháp).

Nhắp cần thao lược dò sâu cạn,

Nương sợi kinh luân sửa mối giềng.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

THAO TÁC

操 作

Thao: Cầm nắm, diễn. Tác: Làm.

Thao tác là thực hiện những động tác nhứt định để làm một việc gì đó trong sản xuất.

Như: Thao tác của anh ấy rất nhanh và chính xác, Làm việc lâu nên thao tác rất nhịp nhàng.

Bàn ngưng chuyển người ra giải khát,

Lúc tái cầu thao tác khoan thai.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

THAO THỨC

Thức: Ở trạng thái không ngủ, chưa ngủ được.

Thao thức là trạng thái không ngủ được vì có điều phải suy nghĩ, không yên.

Như: Thao thức suốt năm canh không ngủ được.

Nhưng Ngài thao thức đêm thâu,

Biếng ăn mất ngủ tâm nhầu nát tâm.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

Thao thức canh trường khó ngủ yên,

Cô đơn đè nặng giấc sầu miên.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

THÁO

Tháo là làm cho thoát khỏi tình trạng bị ngăn giữ.

Như: Tháo nước kinh vào ruộng, tháo cống cho nước chảy qua mương, tháo dây giày.

Đốt nhà, tháo cống, phá mương,

Nước tràn lụt ngập ruộng vườn tan hoang.

(Kinh Sám Hối).

Quốc Trung hổ mặt khom mài mực,

Lực Sĩ cam tâm cúi tháo hài.

(Cội Đạo Bốn Mùa).

 

 

THẢO

1.- Thảo là có lòng tốt, hay làm ơn, chia sẻ, nhường nhịn cho người khác.

Như: Lòng thảo, thảo lảo (rộng rãi hay làm ơn), tuy nghèo nhưng ở với mọi người rất thảo.

Thảo chi sang lượm với danh mua,

Chẳng hiểu chánh tâm cứ nói đùa.

(Đạo Sử).

2.- Thảo là có lòng biết ơn cha mẹ. Như: Hiếu thảo, thảo ngay, cha hiền con thảo.

Trong Thuyết Đạo Thượng Sanh có đoạn dạy: Hội Thánh đã từng nhắc cho bổn đạo ghi nhớ mấy lời nghiêm huấn này và mặc dầu ở trong hoàn cảnh bất túc, Hội Thánh chỉ nhờ nơi lòng trung hậu và sự hảo tâm của bổn đạo gần xa ra tay vùa giúp đỡ nâng. Cho hay một miếng khi đói bằng một gói khi no, nhà nghiêng nghèo thì lòng con thảo thêm sáng tỏ.

Làm con phải trau dồi hiếu đạo,

Trước là lo trả thảo mẹ cha.

(Kinh Sám Hối).

Trên lo thảo, giữa hoà, dưới thuận,

Ngoài nên danh, trong vững mối giềng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Lời tục ví dâu hiền là gái,

Lại gọi rằng rể thảo ấy là trai.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Thảo là cỏ cây. Như: Thảo dã, thảo mộc, thảo hài, thảo lư, thảo quả.

Thánh giáo Thầy có câu: Cả kiếp luân hồi thay đổi từ trong nơi vật chất mà ra thảo mộc, từ thảo mộc đến thú cầm, loài người phải chịu chuyển kiếp ngàn năm, muôn muôn lần mới đến địa vị nhơn phẩm.

Muốn đi cho tận trường sanh địa,

Phải đổi giày sen lấy thảo hài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

THẢO CĂN MỘC BỔN

Hay “Thảo căn một bản”.

Thảo căn: Rễ của loài cỏ. Mộc bổn (bản): Gốc của loài cây.

Thảo căn mộc bổn, như chữ “Thảo căn mộc bản 草 根 木 本”, là gốc rễ của loài cây cỏ, ý muốn chỉ về nguồn gốc.

Thảo căn mộc bổn thạnh tương cầu,

Ngự hám công khanh nhứt thế ưu.

(Đạo Sử).

 

 

THẢO ĐƯỜNG

草 堂

Thảo: Cỏ, chỉ chung các loại cỏ. Đường: Nhà.

Thảo Đường là ngôi nhà lợp bằng tranh.

Năm 1928, Đức Diêu Trì Kim Mẫu giáng cơ tại làng Phú Mỹ, tỉnh Mỹ Tho dạy phải lập Đền thờ Phật Mẫu và cất một ngôi Thảo Đường trong vuông đất đó.

Sau đó, Đức Lý Giáo Tông giáng cơ ban cho đôi liễn tại Thảo Đường như sau:

Thảo thượng sương phi tiện thị thiên ba chi thắng cảnh.

草 上 霜 飛 便 是 天 波 之 勝 景

Đường tiền nguyệt chiếu thậm quang địa thới thị đăng tiên.

堂 前 月 照 甚 光 地 泰 是 登 仙

Nghĩa là:

Trên cỏ sương bay tựa là sóng trời, ấy cảnh đẹp,

Trước nhà trăng chiếu rất sáng đất thới, nơi lên Tiên.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bởi muốn giữ cho trọn vẹn đường tu trong lúc loạn động mà không căn bản, cơ Thảo Ðường lập không xong, nên khiến cho Trứ về đây đặng tiếp tục lập cho thành.

Thảo Đường phước địa ngộ tùng hoa,

Lục ức dư niên vũ trụ hoà.

Cộng hưởng phàm gian an lạc nghiệp,

Thế dăng Bồng đảo định âu ca.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

THẢO HÀI

草 鞋

Thảo: Cỏ, chỉ chung các loại cỏ. Hài: Giày.

Thảo hài là giày cỏ hay dép cỏ, tức là lấy cỏ kết thành đôi giày, hay dép. Thảo hài là giày, dép giản tiện, dành cho người tu, nên dùng để chỉ người tu hành.

Trong Đạo Sử, Thầy dạy Đức Quyền Giáo Tông: Trung, nội Rằm tháng tới đây, con phải nhóm Ðại Hội đòi luôn phái Ngọc đến đặng thọ Thiên tước nghe. Còn thiếu thảo hài, sắm cho đủ nghe.

Muốn đi cho tận trường sanh địa,

Phải đổi giày sen lấy thảo hài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

THẢO LUẬN

討 論

Thảo: Tìm xét. Luận: Bàn, lời bàn.

Thảo luận là bàn bạc, trao đổi ý kiến về một vấn đề, có phân tích lý lẽ. Như: Thảo luận kế hoạch.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Trong một vài buổi Hội, cũng có khi nóng lòng ưu tư cho Ðại Nghiệp chung mà có sự gay cấn sôi nổi trong sự thảo luận, nhưng chừng được lời giải thích rành mạch của Ban Chủ Toạ, bầu không khí, trở lại êm dịu không còn điều chi thắc mắc nữa.

Trường thiên thảo luận một bài,

Ðể làm kỷ niệm nhơn ngày ân phong.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

THẢO MỘC

草 木

Thảo: Cỏ, chỉ chung các loại cỏ. Mộc: Các loài cây.

Thảo mộc là danh từ gọi chung các loài cây cỏ. Theo sự tiến hoá của “Bát hồn” trong triết lý của đạo Cao Đài, thảo mộc là loài được tiến hoá từ vật chất lên một bậc, tức là vật chất, thảo mộc, thú cầm, nhân loại, Thần, Thánh, Tiên và Phật.

Thánh giáo có dạy: Cả kiếp luân hồi thay đổi, từ trong nơi vật chất mà ra thảo mộc, thảo mộc đến thú cầm, loài người phải chịu chuyển kiếp ngàn ngàn muôn muôn lần mới đến địa vị nhơn phẩm.

Thượng cầm hạ thú lao xao,

Côn trùng thảo mộc loài nào chẳng linh.

(Kinh Sám Hối).

Thiên Ðịa Càn Khôn kiêm vạn loại,

Nhơn quần thảo mộc cập chư hoa.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

THẢO NGAY

Thảo: Có lòng biết ơn, kính trọng cha mẹ. Ngay: Ngay thẳng, thật thà không gian dối.

Thảo ngay là có lòng hiếu thảo và ngay thẳng.

Trong quyển Giáo Lý, Ngài Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có câu: Vậy đủ biết nuôi cha mẹ quý tại lòng thành kính. Chẳng nên bắt chước câu: “Giàu thì đặng thảo ngay, nghèo thì mất trung hiếu”. Lời nói ấy chẳng qua là nói để chữa lỗi mà thôi.

Nguyện cùng Thất Tổ xin thương,

Cho bền gan tấc noi đường thảo ngay.

(Kinh Thế Đạo).

Dương gian ngỗ nghịch lăng loàn,

Liều mình tự vận không màng thảo ngay.

(Kinh Sám Hối).

Thảo ngay con vẹn giữ cho bền,

Phải phận là phần đáng bậc trên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

THẢO XÁ

草 舍

Thảo: Cỏ, chỉ chung các loại cỏ. Xá: Nhà.

Thảo xá, cũng như “Thảo lư 草 盧”, là nhà lợp bằng tranh hay lợp bằng cỏ lát.

Thảo xá còn dùng với ý khiêm nhường.

Thảo xá nôn nao chờ khách quý,

Hàn lư vò võ ngóng thư tiên.

(Thơ Hoàng Hồ).

 

 

THẢO XÁ HIỀN CUNG

草 舍 賢 宮

Thảo xá: Chỉ ngôi nhà tranh. Hiền cung: Nơi dành cho người hiền ở.

Thảo xá hiền cung là ngôi nhà của Đức Cao Thượng Phẩm cất trên phần đất nhà, ở Thị Xã Tây Ninh dùng để an dưỡng.

Sau khi Đức Cao Thượng Phẩm bị nhóm Tư Mắt hành hung, ép buộc phải ra đi khỏi Toà Thánh. Ngài bèn lui về phần đất nhà ở gần Thị Xã, cất một thảo xá, lợp bằng tranh để lui về an dưỡng. Trước cảnh đau lòng, Ngày 12 tháng 6 năm Mậu Thìn, Bà Thất Nương giáng cơ an ủi Đức Cao Thượng Phẩm và ban cho ngôi nhà đó là “Thảo xá Hiền cung”.

Ngoài ra, Bà còn ban cho đôi liễn như sau: Thảo xá tuỳ nhân, ngu muội bần cùng nghinh nhập thất, Hiền cung trạch khách thông minh phú quý cấm lai môn 草 舍 隨 人, 愚 昧 貧 窮 迎 入 室, 賢 宮 擇 客, 聰 明 富 貴 禁 來 門, nghĩa là thảo xá tuỳ theo người, kẻ ngu muội và nghèo khổ thì tiếp vào nhà, Hiền cung lựa khách, người thông minh và phú quý thì cấm đến cửa.

Nói về Thảo Xá Hiền Cung, Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Đức Cao Thượng Phẩm về Thảo Xá Hiền Cung, chỉ còn Đức Quyền Giáo Tông, tình trạng nguy ngập không thể tưởng tượng, chúng tuyệt lương, chúng bắt buộc bất cứ ai trong Đền Thánh buổi nọ đi ra hành Đạo đều bị chúng bắt và đem giam cầm.

Thảo Xá Hiền Cung các Đấng đề,

Thương Cao Thượng Phẩm lúc lui về.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

THÁP

Tháp là công trình xây dựng có nhiều từng, đầu nhọn, hình chóp, thường dùng để chuông chùa, hay nơi an vị hài cốt các cao tăng.

Trong tôn giáo Cao Đài, tháp là công trình xây dựng theo hình bát giác, nóc nhọn, có nhiều tầng, dùng để đặt liên đài chức sắc Đại Thiên phong Cửu Trùng Đài, từ hàng Tiên vị đỗ lên, hoặc Hiệp Thiên Đài từ Thập Nhị Thời Quân trở lên.

Thánh giáo Thầy dạy Ngài Thái Thơ Thanh có câu: Con phải xây cái tháp của Thượng Phẩm phía trước cây ba nhánh, phải day về hướng đông, giống như ngó vào điện mà hầu Thầy vậy, song ba từng phải lợp ngói như nóc chùa của các Ðường nhơn vậy, nghe!

Linh Tiêu nhứt tháp thị Cao Đài,

Đại hội quần Tiên thử ngọc giai.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

Ngọn tháp chín rồng hư sát rạt,

Ngoài bờ muôn quái dậy lao xao.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

THÁP ĐẦU SƯ

頭 師 塔

Tháp: Hình bát giác, nóc nhọn, xây nhiều từng, dùng để đặt liên đài của chức sắc đại Thiên phong hàng Tiên vị. Đầu Sư: Một phẩm chức sắc Cửu Trùng Đài.

Tháp Đầu Sư là một cái tháp dành để đặt liên đài cho phẩm Đầu Sư Cửu Trùng Đài Nam nữ.

Phía Đông lang sau Toà Thánh có xây ba cái tháp Đầu Sư Nam phái Cửu Trùng Đài, thuộc Thái, Thượng, Ngọc và phía Tây lang có xây một cái tháp Đầu Sư nữ phái. Bốn cái tháp nầy đặc biệt dành riêng cho bốn vị Đầu Sư nam nữ đã được cơ bút Chí Tôn ân phong trong buổi khai Đạo mà thôi.

Hai tháp Đầu Sư thấy rõ ràng,

Nêu gương ái chủng đẹp Nam bang.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

THÁP GIÁO TÔNG

Tháp: Công trình hình bát giác, nóc nhọn, xây nhiều từng, dùng để đặt liên đài của chức sắc Đại Thiên phong hàng Tiên vị đổ lên. Giáo Tông: Một phẩm chức sắc cao cấp nhứt, làm chưởng quản Cửu Trùng Đài.

Vị Giáo Tông đầu tiên của đạo Cao Đài là Đức Lý Thái Bạch, sau đó Ngài chia làm hai quyền: Quyền vô vi thiêng liêng do Ngài nắm giữ, còn quyền hữu hình tại thế thì Ngài ban cho vị Đầu Sư Thượng Trung Nhựt nắm. Cho nên Ngài Lê Văn Trung được gọi là Quyền Giáo Tông.

Như vậy tháp Giáo Tông là ngôi tháp dành để đặt liên đài cho phẩm Giáo Tông hữu hình tại thế là Ngài Lê Văn Trung.

Ngôi tháp của Quyền Giáo Tông hữu hình được xây phía giữa sân sau Đền Thánh.

Hãy đưa mắt ra sau Bát Quái,

Tháp Giáo Tông kìa tại giữa sân.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

THÁP HỘ PHÁP

塔 護 法

Tháp Hộ Pháp là cái tháp dành để an vị Liên đài của Đức Hộ Pháp.

Từ phía trước Toà Thánh Tây Ninh nhìn ra, bên kia Đại lộ Cao Thượng Phẩm có xây ba ngôi tháp cao, đó là bửu tháp của ba vị chức sắc Tiền bối của nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ: Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, Đức Thượng Phẩm Cao Quỳnh Cư, Đức Thượng Sanh Cao Hoài Sang.

Tháp Đức Hộ Pháp được xây nóc bầu tròn, nằm ở giữa hai tháp Thượng Phẩm và Thượng Sanh.

Đức Hộ Pháp đăng Tiên vào lúc 13 giờ 30 ngày 10 tháng 4 năm Kỷ Hợi (Dl. 17-5-1959), Thánh hài được liệm vào Liên đài, nhập bửu tháp tạm, xây tại phía sau Thánh Thất Kim Biên, Nam Vang. Mãi đến 47 năm sau, vào ngày 10 tháng 10 năm Bính Tuất (Dl. 30-11-2006), Hội Thánh mới rước Liên Đài Đức Ngài về Việt Nam và 5 ngày sau làm lễ nhập Liên Đài vào bửu tháp Hộ Pháp tại trước Toà Thánh Tây Ninh.

Tháp Hộ Pháp kìa nhìn ngay lộ,

Chờ Liên đài mấy độ tinh sương.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

THÁP TÙNG

插 從

Tháp: Cắm vào. Tùng: Theo.

Tháp tùng nghĩa là đi chung vào một đoàn, để làm theo tập thể.

Tháp tùng còn có nghĩa là cùng đi để giúp việc cho một nhân vật lãnh đạo nào đó.

Như: Tháp tùng phái đoàn Đạo đi phát quà.

Nay con chưa đủ thông đường Ðạo,

Cứ ngóng theo chơn Lão tháp tùng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tháp tùng Hộ Pháp mười người,

Đại huynh Khai Pháp xe hơi cùng ngồi.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

THAU

Thau là hợp kim đồng pha với kẽm, màu vàng nhợt, thường dùng làm mâm, chậu rửa mặt. Thau và vàng thường được dùng để so sánh vật hèn và quý.

Thau còn dùng để chỉ cái chậu, như thau rửa mặt.

Thánh giáo Lý Giáo Tông có câu: Hiền hữu đã lãnh trách nhiệm nặng nề giáo hoá thì khá dạy sanh chúng biết lẽ Chánh Tà mà toan độ rỗi, còn mưu chước của Quỷ quái tinh ma là mưu của Lão để phân biệt chơn giả, vàng thau, cho phẩm giá trọng khinh.

Ðặng vàng mà bỏ kiếm đồng thau,

Sự nghiệp vì đây cũng để vào.

(Đạo Sử).

Chí lâm gánh vác nổi giang san,

Buồn nỗi thép thau chẳng hoá vàng.

(Đạo Sử).

 

 

THẮC MẮC

Thắc mắc là có điều cảm thấy chưa thông, cần được hỏi thêm và giải đáp. Như: Nêu thắc mắc để thảo luận.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có đoạn dạy: Chín mươi hai ức nguyên nhân, giờ phút này có một điều thắc mắc hơn hết, chúng ta thấy trong Vạn linh, con người tối linh hơn vạn vật, mà ta ngó thấy có thứ người không phải người, họ đã mang xác thịt làm như người mình, họ tàn ác dối trá gian ngược, làm cho các Đấng Thiêng Liêng hay là người đạt Đạo ở thế gian này cũng vậy để dấu hỏi, đến phẩm người mà vậy, hỏi họ có đáng làm người không?

Nhưng chừng được lời giải thích rành mạch của Ban Chủ Toạ, bầu không khí, trở lại êm dịu không còn điều chi thắc mắc nữa.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

THẮC THẺO

Thắc thẻo là bồi hồi, khắc khoải, có tâm trạng buồn nhớ, trông đợi, bứt rứt không yên.

Như: Mấy ngày nay anh ấy có tâm trạng thắc thẻo trong lòng như thế.

Trong ca dao Việt Nam có câu: “Gió mùa đông trăng lồng lạnh lẽo, Năm canh chầy thắc thẻo ruột gan”.

Xa xuôi chiều ngóng mấy vầng mây,

Thắc thẻo dường như nhạn lạc bầy.

(Thơ Huệ Giác).

Vẫn thiếp trông chàng lòng thắc thẻo,

Mộng trung hoạ gặp nhủ đôi điều.

(Thơ Hương Hiếu).

 

 

THĂM

1.- Thăm là dò xem cho biết rõ tình hình. Như: Thăm nhà, thăm bệnh, thăm ruộng, đi hỏi thăm bà con.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Bần Ðạo không thể đi cùng mỗi nhà của toàn cả Chức Sắc Thiên Phong và mấy em Nam Nữ đặng viếng thăm trong ba ngày xuân nhựt.

Cha chả hèn lâu chẳng viếng thăm,

E chư huynh trưởng trách em thầm.

(Lục Nương Giáng Bút).

Chầy ngày tuy chẳng thăm nhau đặng,

Mà tấm lòng kia vẫn luống gần.

(Thất Nương Giáng Bút).

2.- Thăm là xem xét để biết qua tình hình.

Như: Thăm dò, thăm chừng, thăm đồng, thăm lớp học của một giáo viên dạy giỏi.

Phải nhớ thử khí trời nóng lạnh,

Muốn nuôi con khoẻ mạnh khá thăm chừng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

THĂM LOM

Thăm: Viếng thăm, hỏi han cho biết tình hình. Lom: Như chữ “Nom”, để ý nhìn ngó đến.

Thăm lom, như chữ “Thăm nom”, có nghĩa là thăm và trông nom, săn sóc.

Như: Tôi đi công việc, nhờ anh thăm lom nhà ít bữa.

Đừng để dơ cứt đái thúi òm,

Quần áo trẻ thăm lom coi giặt.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

THĂM THẲM

Thẳm: Sâu, như vực thẳm, rất xa như xa thẳm.

1.- Thăm thẳm là xa lắm, hay sâu lắm, không dò tới nơi. Như: Đây tới đó mà đi bộ thì còn xa thăm thẳm.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có đoạn: Ôi! Thầy cực nhọc bao phen, mà nay con đường ngó lại còn dài thăm thẳm. Thầy chỉ mong mỗi con tỉnh hồn thức trí, ngó lại bước đường sái trước kia mà lập tâm làm việc chánh đáng, theo lần Thầy, thì sự may mắn ấy không còn chi cho Thầy vui hơn nữa.

Ngàn dâu ngó ngày chầy thăm thẳm,

Bận lòng con lại vấn nô y.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Thăm thẳm còn dùng để chỉ ơn đức to lớn như núi non, sâu dầy như biển cả.

Như: Công ơn dưỡng dục của cha mẹ cao thăm thẳm.

Ơn cúc dục vô cùng thăm thẳm,

Nghĩa cù lao thắm đậm mặn mà.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

THĂM VÁN BÁN THUYỀN

Thăm: Dò xem cho biết rõ. Ván: Tấm gỗ. Bán: Đổi vật lấy tiền. Thuyền: Phương tiện để chở trên mặt nước.

Thăm ván bán thuyền là mới đi thăm hỏi ván định mua về để đóng thuyền, mà đã lo bán thuyền cũ rồi.

Thành ngữ này có ý chê những người quá vội vàng, chưa có cái mới mà đã coi rẻ cái cũ.

Còn theo thăm ván bán thuyền,

Trông chi giữ mảnh hương nguyền cùng nhau.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

THĂM VIẾNG

Thăm: Viếng thăm, hỏi han cho biết tình hình. Viếng: Đi đến thăm hỏi.

Thăm viếng là đến viếng và hỏi thăm sức khoẻ. Như: Thăm viếng bàn bè cũ.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Hôm nay Hội Thánh đến đây để thăm viếng quý vị trong tình huynh đệ đồng bào, có ý đem lại cho quý vị một niềm an ủi chân thành, sau để hiến cho quý vị vài món quà cần thiết tuy có tánh cách tượng trưng, nhưng sự tương trợ có quý, chẳng phải ở nơi cho nhiều, mà ở nơi lòng thành ưu ái và cách thức tương trợ.

Mai chiều chúng ta đến thăm viếng Ðức Mẹ như Từ thân chúng ta vậy, mộ khang là: đến thăm mai chiều gọi là vấn an Ðức Mẹ đó vậy.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

THẮM

Thắm là có màu đậm và tươi, hoặc màu đỏ sẫm. Như: Chỉ thắm, má hồng môi thắm.

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du có câu: Thâm nghiêm kín cổng cao tường, Cạn dòng lá thắm dứt đường chim xanh.

Nấu kinh sử ra mùi son phấn,

Cầm bút nghiên đặng thắm má đào.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

THẮM NGHĨA NẶNG TÌNH

Thắm nghĩa: Tình nghĩa đậm đà, thắm thiết. Nặng tình: Mối tình sâu nặng.

Thắm nghĩa nặng tình là tình nghĩa thương yêu nhau một cách sâu nặng và thắm thiết.

Mảng trong thắm nghĩa nặng tình,

Để công bẻ liễu, bắn bình trượng phu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

THẮM ĐẬM

Thắm: Có màu đậm và tươi, hoặc màu đỏ sẫm. Đậm: Có tình cảm nồng nàn, sâu sắc.

Thắm đậm là thằm thiết đậm đà, ý chỉ có tình cảm thắm thiết đậm đà.

Như: Thắm đậm tình quê hương.

Ơn cúc dục vô cùng thăm thẳm,

Nghĩa cù lao thắm đậm mặn mà.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

THẮM THIẾT

Thắm: Có tình cảm rất đậm đà. Thiết: Rất gần gũi, rất thân thiết.

Thắm thiết là nói tình cảm rất sâu sắc, đậm đà. Như: Mối tình đôi trẻ rất thắm thiết.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Giờ phút này Bần Đạo đứng tại Toà giảng đây tưởng tượng nhớ đến tâm tình ấy thắm thiết biết bao nhiêu, nồng nàn mà nói, không có một điều gì sơ sót, chỉ đủ mọi hành tàng, rành rẽ chi tiết hết.

Nhớ xe Châu thầy Mạnh Tử vẫn não nùng,

Xem níếp tử, ông Sâm càng thắm thiết.

(Văn Tế Đốc Học).

 

 

THẲM

Thẳm là nói về độ sâu hay khoảng xa lắm, đến mức hút tầm mắt, nhìn không thấy đâu là cùng, là tận.

Như: Sâu thẳm, xa thẳm, non thẳm, núi cao vực thẳm, đường xa dặm thẳm.

Thánh giáo Thầy có câu: Sanh nhằm đời có một Ðạo chánh chẳng phải dễ, mà bước lên con đường chông gai, lần vào non thẳm kiếm ngọc lại càng khó. Khó dễ nơi lòng, chớ đem thói ám muội mờ hồ vào đường đạo đức, sau ăn năn rất muộn.

Chẳng khác chồi non xô đại mộc,

Như sa vực thẳm khó toan trèo.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Sẩy chơn lọt tuốt hang sâu thẳm,

Níu chéo vượt qua kẻo lạc Thầy.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

THĂNG

1.- Thăng là lên, được đưa lên một chức vụ, cấp bậc cao hơn. Như: Được thăng chức, thăng vượt cấp.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có câu: Các con có đủ bằng chứng để tự biết mình do sự thăng phẩm vị thiêng liêng.

Cầm cân thăng thưởng răn người thế,

Người thế sao cho hạnh chói ngần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Thăng là bay lên, nói các chơn linh vượt lên cõi giới cao và nhẹ nhàng, như cõi Thiên, cõi Cực Lạc.

Thánh giáo Thầy có câu: Còn chư môn đệ đã lập Minh Thệ rồi, ngày sau tuỳ âm chất mỗi đứa mà thăng hay là tội lỗi mà giáng, song buộc mỗi đứa phải độ cho đặng ít nữa là mười hai người.

Dữ đoạ hiền thăng ấy luật Trời,

Lánh đường tà vạy hưởng an vui.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trái oan chưa dứt thuở nào thôi,

Muốn đặng phi thăng, ráng trả rồi.

(Lý Giáo Tông Giáng).

3.- Thăng là thoát ra, chỉ Thần của Đức Chí Tôn hay các Đấng thiêng liêng xuất ra khỏi đồng tử phò cơ.

Thất lễ là đại tội trước mắt các Ðấng Chơn linh ấy. Thầy phải thăng cho các con khỏi bị hành phạt.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

THĂNG BẰNG

Thăng: Lên cao. Bằng: Ngang nhau.

Thăng bằng là ngang đều nhau, không lệch về bên nào, ý chỉ thế của một vị trí tự giữ được không bị ngã. Như: Loạng choạng mất thế thăng bằng.

Thăng bằng còn dùng để chỉ trạng thái tâm lý tự giữ được không có sự nghiêng ngã.

Mục đích của chính trị là làm cho quốc gia hưng vượng, công lý thăng bằng, nhân dân no ấm...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

THĂNG CẤP

升 級

Thăng: Đưa lên một chức vụ, hoặc cấp bực cao hơn. Cấp: Thứ bực, phẩm cấp.

Thăng cấp là đưa lên nắm giữ chức vụ, hoặc bậc quan cao hơn. Như: Tổ chức tiệc mừng được thăng cấp.

Thánh giáo Hộ Pháp dạy về sự thăng cấp của Cơ Quan Phước Thiện có câu: Cơ quan nầy để cho hạng dám quên mình lo cho chúng sanh lập vị thiêng liêng, do Thập nhị đẳng cấp nơi bộ Đạo Luật đã ban hành, nhưng tiếc vì thời gian gần đây Chức sắc Cơ quan nầy thăng cấp bất chấp luật lệ, thành thử chúng lập vị rất lẹ.

Phải hiệp đồng cùng cả Chức sắc Ðại Thiên phong mà khử loạn, bằng chẳng vậy, thì Lão nhứt định không cho một ai thăng cấp một người.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

THĂNG CHỨC

升 職

Thăng: Đưa lên một chức vụ, hoặc cấp bực cao hơn. Chức: Chước tước, cấp bậc chức sắc.

Thăng chức, đồng nghĩa với chữ “Thăng cấp 升 級”, là đưa lên chức tước cao hơn. Như: Người có công nghiệp to dễ được thăng chức.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có đoạn dạy: Bính, Thầy thưởng công con, cho lên chức Phối Sư. Thầy cám cảnh lòng yêu mến của con, Thầy cám ơn lòng đạo đức của con. Sanh linh còn nhờ công con mà thoát qua khổ hải. Bản, Thầy thăng chức Giáo Sư.

Chức Sắc Thiên Phong Nam Nữ toàn Đạo phải chịu dưới quyền công nhận của Vạn Linh mới đặng thăng chức hay là Vạn Linh buộc tội mà bị sa thải.

(Đạo Luật Mậu Dần).

 

 

THĂNG HÀ

升 遐

Thăng: Bay lên trời, tiến lên cao. Hà: Xa xôi, lâu dài.

Thăng hà là tiếng tôn xưng một vị vua chết.

Trong Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo có bài kinh dùng cho thần dân tế lễ cho nhà vua, có tựa đề là “Kinh Tụng Khi Vua Thăng hà”.

Vua ấy trọng hậu người lắm, chừng Vua Norodom thăng hà Bà Trần Thị Hương cũng vẫn còn sống...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

THĂNG LONG

升 龍

Thăng: Vượt lên, bay lên. Long: Rồng.

Thăng Long là thành Hà Nội bây giờ, được xây dựng vào đời nhà Lý.

Khi Lý Thái Tổ lên ngôi, thấy đất Hoa Lư chật hẹp không có thể mở mang ra làm chỗ đô hội được, bèn định dời đô về La Thành. Tháng 7 năm Thuận Thiên nguyên niên 1010, thì khởi sự dời đô. Lúc ra đến La Thành, Thái Tổ lấy cớ có điềm trông thấy rồng vàng hiện ra, bèn đổi Đại La thành là Thăng Long thành, tức thành Hà Nội bây giờ. Cải Hoa Lư làm Trường An phủ, và Cổ Pháp làm Thiên Đức phủ.

Thăng Long bao thuở nâng hùng khí,

Gia Ðịnh tự nhiên chấp ấn quyền.

(Đạo Sử).

 

 

THĂNG PHẨM VỊ

升 品 位

Thăng: Đưa lên một chức vụ, hoặc cấp bực cao hơn. Phẩm vị: Phẩm hàm và ngôi vị.

Thăng phẩm vị, như chư “Thăng cấp”, là đưa lên chức vị và ngôi phẩm cao hơn.

Các con có đủ bằng chứng để tự biết mình do sự thăng phẩm vị thiêng liêng.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

THĂNG QUAN TIẾN CHỨC

升 官 進 職

Thăng quan: Quan được thăng phẩm hàm. Tiến chức: Chức tước nâng lên.

Thăng quan tiến chức là thăng tiến về quan chức, tức được cho lên chức quan.

Như: Làm việc tại triều đình dễ thăng quan tiến chức.

Thì y như vậy, từ đó về sau, cậu con trai thăng quan tiến chức, kế được chí cha làm đến đầu triều.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

THĂNG THIÊN

升 天

Thăng: Bay lên. Thiên: Trời.

Thăng thiên là đi lên Trời.

Thăng Thiên còn dùng để nói chơn hồn của người tu đắc đạo sẽ được siêu thăng lên cõi Thiên.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Chúng ta đã ngó thấy biết bao nhiêu vị Đại Tiên còn lẫn lộn dưới hồng trần, biết bao nhiêu vị Phật còn mang thân phàm xác tục của họ trước khi đoạt đặng huyền bí vô biên trong chốn tịnh luyện của họ, rồi bây giờ họ dùng khiếu thông minh ấy họ tìm nào nguyên tử lực, nào phép thăng thiên, rốt cuộc họ qua đời mà họ không đoạt được cơ siêu thoát của Chí Tôn đem đến cho họ, tội nghiệp thay!

Đẹp xinh cảnh vật đòi ngàn,

Hào quang chiếu diệu khai đàng thăng Thiên.

(Kinh Tận Độ).

 

 

THĂNG THƯỞNG

升 賞

Thăng: Lên, tiến lên. Thưởng: Ban tiền bạc, chức tước cho người có công.

Thăng thưởng là thăng chức và thưởng công.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Quan Âm Như Lai có câu: Ðiều thăng thưởng chẳng mất phần, ngày giờ nhặt thúc, nếu diên trì thì bước đường sau khó theo dấu.

Cầm cân thăng thưởng răn người thế,

Người thế sao cho hạnh chói ngần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

THĂNG TRẦM

升 沉

Thăng: Bay lên cao. Trầm: Chìm xuống.

Thăng trầm là chìm nổi, ý nói cuộc đời khi lên khi xuống, lúc xấu lúc tốt.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Ðạo trải qua bao nhiêu nỗi thăng trầm, lướt qua bao phen bão bùng, giông tố gây nên bởi lòng tham hiểm của thế tình, nhưng chánh khí trung can của con cái Ðức Chí Tôn không bao giờ sờn mẻ.

Mặc cho thế cuộc thăng trầm,

Ta vui con vợ ta tầm mồi ngon.

(Thơ Hộ Pháp).

Xem thư ái ngại tiếng tôn Ngài,

Trong cảnh thăng trầm tự bấy nay.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

THẮNG

1.- Thắng là đóng đồ yên, cương cho ngựa, hay là buộc ngựa vào xe.

Như: Thắng yên ngựa cho sẵn sàng, đem ngựa thắng vào xe chờ lịnh lên đường.

...khiến kẻ tuỳ tùng dắt đến một con ngựa sắc đỏ như than lửa, vóc cao sức lực mạnh mẽ, rồi sai thắng đủ yên lạc mà ban cho Ðức Ngài...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

2.- Thắng là hơn, giành được phần trong cuộc đọ sức giữa hai bên đối địch, trái với bại, thua.

Như: Thắng lợi, thắng thế, thắng trận, thắng đối thủ, chuyển bại thành thắng.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có đoạn dạy: Tà đã thắng Chánh thì con làm thế nào đương cự cho kham. Con là đứa Thầy đã tin cậy hồi mới ban sơ, tuy bước đường cũng lắm lúc sai lầm, nhưng nhờ các Ðấng Thiêng liêng thương mà chỉ dẫn, nên bước vừa trờ tới, kịp lúc trở ra.

Ðức cao thì mới đáng nên người,

Ðức thắng tài kia đã mấy mươi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nào tranh đấu thắng rồi lại thất,

Của phù du chứa chất gọi giàu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

THẮNG CẢNH

勝 境

Thắng: Hơn, được. Cảnh: Vùng, bờ cõi, phong cảnh.

Thắng cảnh, như chữ “Thắng địa 勝 地”, là nơi có đất đai, phong cảnh đẹp nổi tiếng.

Thành ngữ thường có câu: “Danh lam thắng cảnh”.

Cao sơn thắng cảnh khách tầm hiền,

Thượng tứ ngày nay hữu huệ duyên.

(Thượng Phẩm Giáng Bút).

Thoát khỏi mê đồ vui thắng cảnh,

Đạo mầu chấn chỉnh hội Long Hoa.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

THẮNG KHỔ

勝 苦

Thắng: Hơn. Khổ: Đau khổ, khổ sở.

Thắng khổ là vượt qua khỏi cảnh khổ.

Trong Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Trong gia đình có hỗn loạn, có thống khổ thì tới xã hội nhơn quần cũng vậy, cớ sao xã hội có như thế? Phương pháp ấy cốt để cho toàn cả nhơn quần xã hội thấy đặng khó khăn thống khổ tức phải thọ khổ rồi mới thắng khổ.

Thắng khổ người tu vẫn để lòng,

Ta thua Thủ Đức phải đành dông.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

THẮNG LỢI

勝 利

Thắng: Lấy sức mà khuất người, hơn. Lợi: Có ích, trái với hại.

Thắng lợi là được phần lợi, hay giành được phần thắng hoặc đạt được kết quả tốt đẹp.

Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp có câu: Bần Ðạo muốn cho nòi giống Việt Nam thấy lực lượng tinh thần nhơn nghĩa, đạo đức, đã thâu đoạt thắng lợi một cách vinh diệu.

Ðiều đáng vui mừng là Hội Thánh đã thu thập một thắng lợi vẻ vang cho nền Ðạo.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

THẰNG

1.- Thằng là từ dùng để chỉ từng cá nhân người đàn ông, con trai thuộc hàng dưới hoặc ngang hàng với ý thân mật hoặc với ý không tôn trọng.

Như:Thằng bé, thằng bạn thân, thằng lưu manh.

Ngao ngán không phân lẽ thiệt không,

Thấy thằng áp út quá buồn lòng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðứa cầm dùi đục, thằng nghiên mực,

Cậu bận áo nâu, chú khố hồng.

(Thiên Thai Kiến Diện).

2.- Thằng là sợi dây, hoặc chỉ sự trói, không dùng một mình. Như: Chuẩn thằng, thằng phược (trói buộc).

Thằng phược 繩 縛 là ràng buộc, tức là tự mình trói buộc lấy mình, ý nói bỏ mất tự do.

Thành ngữ Việt Hán có câu: “Thê thằng tử phược 妻 繩 子 縛” có nghĩa là vợ trói con buộc.

Ai lại còn mang đeo thằng phược vào mình mà để cho loạn tâm mệt trí về nơi đó, chẳng uổng kiếp sanh lắm ru?

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

THẲNG

1.- Thẳng là không cong, không chệch về một bên, không gẫy gập. Như: Đường thẳng, cứ thẳng một đường mà đi, thanh sắt cong uốn lại cho thẳng.

Thánh giáo Thầy có câu: Thìn lòng để bước vào nẻo thẳng đường ngay mà kiếm cho thấu đáo mối huyền vi Tạo hoá đã sắp bày độ dẫn, nhuần gội ơn huệ cho sanh linh đương buổi Hạ nguơn nầy.

Thổi thẳng cánh buồm thì Lão thủ,

Nâng an lòng bản cậy Thần, Tiên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ngày chầy dặm thẳng gắng đưa qua,

Chịu khổ trau tâm chí mới già.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Thẳng là không chùng, không dùn lại. Như: Dây căng thẳng, lên dây đàn thẳng.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có đoạn: Trong khi ta đang ngẩn ngơ trước một sắc đẹp mỹ nhơn hoặc ta đương dùn thẳng trước một món lợi lớn của người đem hiến cho ta đặng giục ta làm chuyện phi pháp, thì một tiếng nói văng vẳng bên tai ta, nghe dịu dàng, chơn chánh và siêu kỳ.

Đạo vợ chồng như thể sợi dây,

Kéo thẳng quá có ngày phải đứt.

(Phương Tu Đại Đạo).

Muốn ngón hay đừng thẳng dây đờn,

Ngọt với vợ còn hơn quờn thịnh nộ.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Thẳng là ngay, không kiêng nể, che giấu, dám nói lên sự thật, hoặc nói đúng những điều mình nghĩ. Như: Người rất thẳng, lời nói thẳng.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Nầy là mấy lời đinh ninh sau rốt, khá lưu tâm. Ai vạy tà nấy có phần riêng, cứ giữ nẻo thẳng đường ngay bước đến thang thiêng liêng, chờ ngày hội hiệp cùng Thầy. Ấy là điều quý báu đó.

Bề trong ngay thẳng tỏ bề ngoài,

Miệng chánh thì đời vốn trái tai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trời soi dạ thẳng trăm oan thoát,

Có lúc vinh huê bỏ nhọc nhằn.

(Đạo Sử).

 

 

THẲNG BĂNG

Thẳng: Theo một hướng nhứt định, không cong, không gẫy gập chút nào.

Thẳng băng là thẳng một đường, một mạch, không bị cong vẹo hay bị cản trở.

Thẳng băng còn có nghĩa là thẳng thắn, ngay thật, nghĩ sao nói vậy.

Như: Công việc tiến hành một cách thẳng băng, tính tình nó thẳng băng.

Công bình thưởng phạt không tư vị,

Chánh trị thiêng liêng luật thẳng băng.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

THẲNG DÙN

Thẳng: Không chùng, không dùn lại. Dùn: Chùng, không căng, không thẳng.

Thẳng dùn, như chữ “dùn thẳng”, là lúc căng thẳng, lúc chùng lại ý chỉ sự phân vân, không dứt khoát.

Ngày thâu bóng xế oanh thưa nhặt,

Mắt nhắm đường xa khách thẳng dùn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

THẲNG RẲNG

Thẳng: Theo một hướng nhứt định, không cong, không gẫy gập chút nào.

Thẳng rẳng là thẳng một đường đi một cách dễ dàng.

Thẳng rẳng còn dùng để chỉ thẳng thắn, thẳng thừng, không một chút vị nể, e ngại gì.

Nước có trị loạn, đời có hưng vong, thì Ðạo tất phải có dùn thẳng quanh co, rồi mới đến thẳng rẳng đường ngay mà lập nên thể thống.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

THẮP

Thắp là châm lửa làm cho cháy lên.

Như: Thắp đèn cho sáng, thắp mấy nén hương trước mộ phần, thắp sáng niềm tin.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Tôi dặn mấy Ngài nghe các cái chuông chung quanh Đền Thờ reo một lượt và ở ngoài nghe tiếng ngựa chạy rần rần đó là Ngài đến, là Đức Chí Tôn đến, vô đó rồi ông Dalai Lama ổng dắt vô trong một cái phòng thắp đèn lờ mờ vậy thôi.

Dỗ con chỉ bóng giải sầu,

Rằng khuya đèn thắp cha hầu về thăm.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Hương thắp, trà châm xin đạm bạc,

Thuỷ chung vẹn giữ một lòng thôi.

(Thơ Thượng Phẩm).

 

 

THẮP NHANG

Thắp: Châm lửa làm cho cháy lên. Nhang: Một loại cúng phẩm, dùng để đốt khi cúng bái.

Thắp nhang là đốt hương, tức dùng lửa để đốt những nén nhang để cúng Trời Phật.

Như: Thắp nhang lên để cúng Đức Chí Tôn.

Cho thanh tâm mạng mới vững vàng,

Ðến ngó Phật Trời khỏi thắp nhang.

(Đạo Sử).

 

 

THẮT

Thắt là rút các đầu mối dây đã thắt cho chặt hoặc cho vòng buộc hẹp lại.

Như: Thắt miệng túi, thắt chặt vòng dây, ruột đau như thắt, thắt chặt tình hữu nghị.

Hương huê đã nực bóng thiều qua,

Tưởng chút nghĩa xưa thắt ruột rà.

(Đạo Sử).

Tuyến đẹp vẻ thêu bông nổi mặt,

Đoạt kinh luân nặng thắt túi thơ.

(Tam Nương Giáng Bút).

 

 

THẮT CHẶT

Thắt: Buộc chặt, ràng chặt. Chặt: Vững chắc, không lung lay được.

Thắt chặt nghĩa là siết chặt lại, tức ràng buộc lại cho chắc. Như: Lấy dây thắt chặt bao đựng gạo.

Thắt chặt còn chỉ tình nghĩa anh em bạn bè hoà hợp, thân thiết nhau hơn. Như: Thắt chặt tình thân ái.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Tôi ước mong sự đoàn kết và tình tương thân, tương ái được thắt chặt mãi giữa chức sắc Phước Thiện để cùng nhau chung tâm hiệp sức thực hành chủ nghĩa từ thiện, cứu khổ nâng nguy...

Cùng nhau thắt chặt tình thân thiện,

Đưa chiếc thuyền sen lánh bến trần.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

THẮT DẠ

Thắt: Buộc chặt, thu nhỏ, thu hẹp. Dạ: Lòng dạ, biểu tượng cho tâm lý, tình cảm con người.

Thắt dạ, như chữ “Thắt lòng”, là đau đớn trong lòng. Thắt dạ còn có nghĩa là ép lòng, tức nén lòng mà chịu.

Như: Mặc dầu mang nỗi đau trong lòng, nhưng phải thắt dạ chịu đựng.

Ai đời thắt dạ mà lường,

Bưởi bòng bụng gái vẫn thường giống nhau.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Thắt dạ thuyền xưa không đậu bến,

Đau lòng hạc cũ chẳng về tùng.

(Đạo Sử).

 

 

THẮT NGẶT

Thắt: Buộc chặt, tức rút các đầu mối dây đã thắt cho chặt hoặc cho vòng hẹp lại. Ngặt: Túng ngặt, rất khó khăn, đến mức như không có lối thoát.

Thắt ngặt là bắt buộc gắt gao, ngặt nghèo.

Như: Hoàn cảnh gia đình đang hồi thắt ngặt.

Cho vay lúa miễn đừng tính mắc,

Đừng thấy người thắt ngặt bắt đong nhiều.

(Phương Tu Đại Đạo).

Tưởng bà mẹ có lòng khổ khắc,

Chưa hành con thắt ngặt dường này.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

THÂY

Thây là xác người. Như: Thây đi thịt chạy, chết không toàn thây, phơi thây trên bãi chiến trường.

Thánh giáo Đức Chơn Cực Lão Sư có câu: Ðạo chẳng phải là một hội chôn thây, cũng chẳng phải mối hàng để nhóng giá, mà chư đạo hữu hiện thời đã thấy Ðạo có ích về hai sự ấy mà thôi.

Bầy chó dữ mang xiềng chạy đại,

Thấy tội nhơn xúm lại phân thây.

(Kinh Sám Hối).

Buồn thấy giống Hồng thây chúng xẻ,

Thảm xem giòng Lạc thịt người bầm.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

THÂY ĐI THỊT CHẠY

Thây đi: Thi thể của người đi. Thịt chạy: Khối thịt con người chạy.

Thây đi thịt chạy</