TỪ NGỮ ĐIỂN CỐ CAO ĐÀI

 

 

Danh mục vần TR

 

TRA

Tra

Tra cứu

Tra tấn

Tra vấn

Tra xét

 

TRÁ

Trá ngôn

 

TRÀ

Trà

Trà đình

Trà mi

Trà ngâu

 

TRẢ

Trả

Trả nghiệt đền oan

Trả oán bằng ân

Trả quả

Trả thù

Trả vay

 

TRÃ

Trã

Trã Trách

 

TRÁC

Trác Thị

Trác Văn Quân

 

TRÁCH

Trách

Trách cứ

Trách dân

Trách đất hờn Trời

Trách nhậm

Trách nhiệm

Trách phạt

Trách phận

Trách vụ

 

TRẠCH

Trạch

 

TRAI

Trai

Trai bảy thiếp

Trai Đường

Trai giới

Trai kỳ

Trai tài gái sắc

 

TRÁI

Trái

Trái căn

Trái chủ

Trái duyên

Trái ngang

Trái oan

Trái tai

Trái tai gai mắt

 

TRẢI

Trải

 

TRẢM

Trảm

Trảm thôi

 

TRAN

Tran

Tran Thầy

Tran thờ

 

TRÀN

Tràn

Tràn ngập

Tràn trề

 

TRANG

Trang

Trang đài

Trang điểm

Trang hoàng

Trang nghiêm

Trang sức

Trang Tử

Trang trải

Trang trí

Trang trọng

 

TRÁNG

Tráng

Tráng cường

Tráng đinh

Tráng kiện

Tráng sĩ

 

TRÀNG

Tràng

Tràng mộng xuân

Tràng phan

 

TRẠNG

Trạng

Trạng cáo

Trạng huống

Trạng nguyên

Trạng sư

Trạng tỏ

Trạng Trình

 

TRANH

Tranh

Tranh bá

Tranh cạnh

Tranh cử

Tranh chấp

Tranh danh đoạt lợi

Tranh đấu

Tranh đoạt

Tranh đua

Tranh giành

Tranh luận

Tranh ngôi

Tranh phuông

Tranh tài

Tranh tụng

Tranh thủ

 

TRÁNH

Tránh

Tránh dạng

 

TRAO

Trao

Trao duyên

Trao đổi

Trao múc

Trao tơ

Trao trâm

 

TRÁO

Tráo

Tráo chác

Tráo trở

 

TRÀO

Trào

Trào lưu

 

TRẢO

Trảo

 

TRAU

Trau

Trau chuốt

Trau giồi

Trau lòng

Trau lòng tục

Trau luyện

Trau mình

Trau tâm

Trau tâm trau đức

Trau thân

Trau tria

 

TRẮC

Trắc

Trắc ẩn

Trắc trở

 

TRĂM

Trăm

Trăm cay nghìn đắng

Trăm đắng nghìn cay

Trăm giũa nghìn mài

Trăm họ

Trăm năm

Trăm phiền đeo đẳng

Trăm tuổi

Trăm trứng

 

TRẰN

Trằn trọc

 

TRĂNG

Trăng

Trăng cùm

Trăng già

Trăng gió

Trăng hoa

Trăng huê

Trăng khuyết

Trăng mật

Trăng tà

Trăng thanh

Trăng thinh

 

TRẮNG

Trắng

Trắng án

Trắng đen

Trắng ngần

Trắng trợn

 

TRẮP

Trắp

 

TRÂM

Trâm

Trâm anh

Trâm hốt

 

TRẤM

Trấm trơ

 

TRẦM

Trầm

Trầm đoàn

Trầm hương

Trầm kha

Trầm lặng

Trầm luân

Trầm luân khổ hải

Trầm mặc

Trầm nịch

Trầm ngâm

Trầm tĩnh

Trầm tư mặc tưởng

Trầm trọng

Trầm trồ

 

TRÂN

Trân

Trân cam

Trân trọng

 

TRẤN

Trấn

Trấn an

Trấn áp

Trấn Đạo

Trấn nhậm

Trấn pháp

Trấn tâm chi bửu

Trấn thần

Trấn thủ

 

TRẦN

Trần

Trần ai

Trần cấu

Trần duyên

Trần đoàn

Trần gian

Trần hoàn

Trần huờn

Trần lổ

Trần luỵ

Trần phồn

Trần tình

Trần tục

Trần thế

 

TRẬN

Trận

Trận cười ngàn vàng

Trận chiến gom nhỏ lại

 

TRẬT

Trật

Trật tự

 

TRÂU

Trâu

 

TRẦU

Trầu

 

TRE

Tre

Tre tàn măng mọc

 

TRẺ

Trẻ

Trẻ bé

Trẻ con

Trẻ em

Trẻ thơ

Trẻ trung

 

TREO

Treo

Treo tham

 

TRÈO

Trèo

Trèo non lội suối

 

TRỀ

Trề

Trề nhún

 

TRỄ

Trễ

Trễ bước

Trễ nải

Trễ tràng

 

TRÊN

Trên

Trên dâu dưới bộc

Trên bộc trong dâu

Trên thuận dưới hoà

 

TRÊU

Trêu

Trêu cay ngậm đắng

Trêu cợt

Trêu hờn nuốt thảm

Trêu ngươi

 

TRI

Tri

Tri âm

Tri ân

Tri cơ

Tri giác

Tri hành

Tri hành hiệp nhứt

Tri kiến Phật

Tri kỷ

Tri khổ nghiệp chướng

Tri ngộ

Tri túc

Tri thiên mạng

Tri thức

 

TRÍ

Trí

Trí binh

Trí chúa

Trí đặc tài

Trí độ phi phàm

Trí giả

Trí Giác Cung

Trí huệ

Trí Huệ Cung

Trí khôn

Trí lự

Trí lực

Trí mưu

Trí não

Trí nhàn

Trí óc

Trí phàm

Trí quân

Trí sĩ

Trí thức

Trí tri

Trí tri cách vật

Trí xảo

 

TRÌ

Trì

Trì chí

Trì giới

Trì huỡn

Trì kéo

Trì niệm

Trì tâm

Trì trai

Trì trệ

 

TRĨ

Trĩ mẫu đơn

 

TRỊ

Trị

Trị an

Trị bình

Trị gia

Trị gia bất nghiêm

Trị loạn

Trị thế

Trị thế thái bình

Trị thuỷ

Trị vì

Trị xảo Trừ tà

 

TRÍCH

Trích

Trích điểm

Trích lục

Trích tử

 

TRIÊM

Triêm

Triêm ân

Triêm ngưỡng mẫu ân

 

TRIỀN

Triền

Triền bưng

Triền cao vực thẳm

Triền miên

 

TRIỂN

Triển

Triển khai

Triển vọng

 

TRIẾT

Triết lý

Triết nhân

 

TRIỆT

Triệt

Triệt để

Triệt giáo

 

TRIÊU

Triêu mộ

Triêu tịch

 

TRIỀU

Triều

Triều đại

Triều đình

Triều kiến

Triều nghi

Triều phục

Triều Thiên

 

TRIỆU

Triệu

Triệu biện

Triệu hồi

Triệu Vân

 

TRINH

Trinh

Trinh liệt

Trinh tiết

Trinh trung

 

TRÌNH

Trình

Trình độ

Trình môn

Trình Quốc Công

Trình tấu

Trình tử

 

TRÌU

Trìu mến

 

TRĨU

Trĩu

 

TRO

Tro

Tro bụi

 

TRÒ

Trò

Trò cười

Trò chơi

 

TRỌC

Trọc

 

TRÓI

Trói

Trói buộc

Trói lôi

Trói trăng

 

TRÒI

Tròi trọi

 

TRÒN

Tròn

Tròn méo

 

TRỌN

Trọn

Trọn đạo

Trọn đời

Trọn kiếp

Trọn lành

Trọn lòng

Trọn nghì

Trọn nghĩa

Trọn thuỷ trọn chung

Trọn trinh

Trọn vẹn

 

TRONG

Trong

Trong đục bến nước

Trong giá trắng ngần

Trong hang vắng tiếng

Trong ngần

Trong sạch

Trong trắng

Trong trẻo

Trong veo

 

TRÓNG

Tróng gông

 

TRÒNG

Tròng

Tròng xanh

 

TRỌNG

Trọng

Trọng bịnh

Trọng dụng

Trọng đãi

Trọng đại

Trọng hậu

Trọng hệ

Trọng hình

Trọng yếu

Trọng khinh

Trọng Ni

Trọng Ni nhận vi sư

Trọng ngãi

Trọng nghì

Trọng nghĩa

Trọng quyền trọng phạt

Trọng Sơn

Trọng tài

Trọng tước cao quyền

Trọng tước cao quờn

Trọng tương

Trọng Thuỷ Mỵ Châu

Trọng trách

 

TRÓT

Trót

 

TRỔ

Trổ

Trổ tài

 

TRỐC

Trốc

 

TRÔI

Trôi

Trôi giạt

Trôi nổi

 

TRỐI

Trối

Trối chết

Trối kệ

Trối mặc

 

TRỒI

Trồi

 

TRỔI

Trổi

 

TRỖI

Trỗi

Trỗi bánh

Trỗi gót

Trỗi nhịp

 

TRỘM

Trộm

Trộm cắp

Trộm cướp

Trộm hương

 

TRÔN

Trôn

Trôn kim

 

TRỐN

Trốn

Trốn nắng

 

TRỘN

Trộn

 

TRÔNG

Trông

Trông cậy

Trông chờ

Trông đợi

Trông mong

Trông nom

Trông ngóng

 

TRỐNG

Trống

Trống Lôi Âm

Trống lổng

 

TRỒNG

Trồng

Trồng đậu được đậu

 

TRƠ

Trơ

Trơ mắt

Trơ trơ

 

TRỚ

Trớ trêu

 

TRỞ

Trở

Trở bước

Trở day

Trở gay

Trở gót

Trở lại

Trở lực

Trở ngại

Trở ngăn

Trở pháp

Trở quày

Trở tâm tánh

Trở tráo

Trở về vị xưa

 

TRỢ

Trợ

Trợ giúp

Trợ giúp nên công

Trợ hoang

Trợ yếu

Trợ khó

Trợ lịnh

Trợ lực

Trợ nguy

Trợ nghèo

 

TRỜI

Trời

Trời ban

Trời cao biển rộng

Trời đất

Trời động đất nghiêng

Trời long đất lở

Trời Nghiêu đất Thuấn

Trời Phật

Trời tru đất diệt

Trời xanh

 

TRƠN

Trơn

Trơn trợt

 

TRỚN

Trớn

 

TRỢN

Trợn

Trợn tráo

Trợn trạo

 

TRỢT

Trợt

 

TRU

Tru

Tru diệt

Tru lục

 

TRÚ

Trú

Trú dạ

Trú ngụ

 

TRÙ

Trù

Trù ếm

Trù hoạch

Trù nghĩ

Trù phòng

Trù tính

 

TRỤ

Trụ

Trụ cột

Trụ nguyên tánh

Trụ nghĩa

Trụ tâm

Trụ thần

Trụ trì

Trụ vững

 

TRUÂN

Truân

Truân chuyên

 

TRUẤT

Truất

Truất bỏ

Truất quyền

 

TRÚC

Trúc

Trúc mai

 

TRỤC

Trục

Trục lợi

Trục lợi xu danh

Trục ngoại

Trục tinh

Trục xuất

 

TRUI

Trui

 

TRUY

Truy

Truy điệu

Truy hoan

Truy hồn

Truy nguyên

Truy phong

Truy tầm

Truy tìm

Truy tố

Truy viễn

 

TRUỴ

Truỵ lạc

 

TRUYỀN

Truyền

Truyền bá

Truyền dạy

Truyền đạo

Truyền giáo

Truyền hiền

Truyền hương

Truyền kế lửa hương

Truyền kế tông môn

Truyền kiếp kiếp

Truyền lịnh

Truyền nghiệp

Truyền nhiễm

Truyền nhủ

Truyền pháp

Truyền pháp mầu

Truyền tâm pháp

Truyền tin

Truyền tử

Truyền thần

Truyền Thích giáo tá Như Lai

Truyền thống

Truyền Trạng

 

TRUYỆN

Truyện

 

TRUNG

Trung

Trung can

Trung can nghĩa khí

Trung cổ

Trung Dung

Trung gian

Trung giái

Trung hậu

Trung hiếu

Trung kiên

Trung kỳ

Trung lương

Trung nịnh

Trung nguơn

Trung nghĩa

Trung tín

Trung tông

Trung thành

Trung thần

Trung thu

Trung thứ

Trung trinh

Trung trực

Trung ương

 

TRÚNG

Trúng

 

TRÙNG

Trùng

Trùng ba

Trùng dương

Trùng huờn

Trùng hưng

Trùng Nhĩ

Trùng phùng

Trùng trùng

 

TRŨNG

Trũng

 

TRUÔNG

Truông

 

TRUỒNG

Truồng trần

 

TRÚT

Trút

 

TRỨ

Trứ danh

 

TRỪ

Trừ

Trừ bạo

Trừ căn

Trừ diệt

Trừ gian diệt nịnh

Trừ hại

Trừ yêu

Trừ khiên

Trừ khử

Trừ nghiệt

Trừ oan

Trừ mị

Trừ phi

Trừ tà diệt mị

Trừ tịch

Trừ tuyệt

 

TRỮ

Trữ

Trữ đức

Trữ vàng

 

TRỰC

Trực

Trực chỉ

Trực giác

Trực tiếp

Trực vãng

 

TRƯNG

Trưng bày

Trưng Nữ Vương

 

TRỨNG

Trứng

Trứng mỏng

 

TRỪNG

Trừng

Trừng phạt

Trừng răn

Trừng trị

 

TRỬNG

Trửng giỡn

 

TRƯỚC

Trước

Trước giặc xua binh

Trước lâm

Trước lâm thất hiền

Trước mai

Trước tử

 

TRƯỢC

Trược

Trược chất

Trược khí

Trược phú

Trược quang

Trược thanh

 

TRƯƠNG

Trương

Trương Liêu

Trương Lương

Trương Lương dâng dép

Trương Phi

Trương Quân

Trương Tòng

Trương Tử Phòng

Trương vi rồng

Trương Xưởng

 

TRƯỚNG

Trướng

Trướng gấm

Trướng hùm

Trướng loan

 

TRƯỜNG

Trường

Trường canh

Trường công quả

Trường công danh

Trường công đức

Trường cửu

Trường đình

Trường đổ bác

Trường đời

Trường học

Trường hỗn độn

Trường khảo

Trường náo nhiệt

Trường ngôn luận

Trường ốc

Trường phong nguyệt

Trường phổ tế

Trường Quy Thiện

Trường sanh

Trường sanh bất tử

Trường sanh địa

Trường Tiên

Trường Tiên khoa Phật

Trường tồn

Trường thế

Trường thi

Trường thi công quả

Trường thi Tiên Phật

Trường trai

Trường xuân

 

TRƯỞNG

Trưởng

Trưởng giả

Trưởng lão

Trưởng nam

Trưởng thành

Trưởng thượng

 

TRƯỢNG

Trượng

Trượng khinh

Trượng nghĩa

Trượng phu

Trượng phu tùng

Trượng tài khinh nghĩa

Trượng tiết

 

TRƯU

Trưu cay ngậm đắng

 

 

 

 

 

 

 

 

TR

 

TRA

1.- Tra là cho vào, nhét vào, lấp vào. Như: Tra tay vào mồm, tra chân vào cùm, tra dao vào cán.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Họ đem các lý thuyết tra vào là đả đảo giai cấp đủ thứ hết, tranh nhau đồng sống.

Chừng ấy muốn biết ai khôn dại,

Tra cho chồng cục ngải cứng mồm.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Tra là xét hỏi, khảo, tấn. Như: Tra án, tra xét, tra bắt phải cung khai.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp cũng có câu: Hỏi vậy mấy em có nghĩa hay không? Nếu Qua cho Toà Ðạo minh tra thì không có một người nào có thể đứng trước mặt Qua mà xưng là đại công được, cái đói khó cùng khổ của các em nó tố cáo mấy em không còn chối cải được.

Bàn chông nhọn liền liền đánh khảo,

Tra tội nhơn, gian giảo ngược ngang.

(Kinh Sám Hối).

 

 

TRA CỨU

查 究

Tra: Xét hỏi, tìm biết rõ. Cứu: Nghiên cứu, xét hỏi.

Tra cứu là tra xét, nghiên cứu, tra ở chỗ nầy chỗ khác để tìm hiểu đích xác một điều nào đó.

Như: Tập trung các tài liệu để tra cứu hầu xác minh sự việc, đem hồ sơ ra tra cứu.

Chơn linh có một quyền năng vô đoán, chưa có khoa học nào tra cứu rõ thấu được.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

TRA TẤN

查 訊

Tra: Xét hỏi, khảo, tấn. Tấn: Hỏi, tra khảo.

Tra tấn là bắt chịu cực hình nhằm buộc phải cung khai những tội lỗi.

Như: Nó bị tra tấn dã man chết đi sống lại.

Vô khám cậu bị đánh khảo tra tấn chịu không thấu, thông tin về nhà cho Thừa Tướng hay.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

TRA VẤN

查 問

Tra: Xét hỏi, khảo, tấn. Vấn: Hỏi.

Tra vấn, như chữ “Tra hỏi”, là xét hỏi để tìm biết cho cặn kẽ, hoặc truy hỏi gắt gao nhằm buộc nói ra sự thật.

Trong Đạo Sử, Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu có viết về Đức Thượng Phẩm như sau: Còn Ðức Thượng Phẩm, lớp thì hoà tâm với Chức Sắc lo tạo tác Toà Thánh, lớp thì bị nhà cầm quyền Pháp để ý nghi ngờ, vì nhơn sanh càng ngày càng tựu hội về tấp nập (đông đảo quá), nên ông Chánh Tham Biện (người Pháp) nay đòi Ðức Cao Thượng Phẩm ra hỏi, mai đòi tra vấn điều nầy lẽ nọ đủ điều, nhưng Ðức Cao Thượng Phẩm trả lời xuôi hết, thành thử họ phải để êm.

Hiến pháp khi tiếp đặng luật lệ, đơn trạng thì phải mở đường tra vấn cho minh lẽ nên hư, phải trái...

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

TRA XÉT

Tra: Truy hỏi gắt gạo hoặc doạ dẫm, đánh đập nhằm buộc phải khai sự thật. Xét: Tìm xem kỹ để hiểu rõ.

Tra xét là kiểm tra, xét hỏi.

Tra xét, như chữ “Khám xét”, là kiểm tra để tìm tang chứng của hành động phạm pháp.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Đức Chí Tôn có đoạn dạy: Tắc! Con cứ dùng quyền Hộ Pháp truyền lịnh định ngày tra xét. Trong sự tra xét ấy, Thầy có phương giải cứu nhiều đứa anh con, phải gắng làm cho gắp, nghe con.

Hiến Thế khi tiếp đặng nội vụ của Khai Thế dâng qua thì tức cấp phải đi tra xét cho đủ chứng cớ rõ ràng rồi dâng lên cho Bảo Thế.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

TRÁ NGÔN

詐 言

Trá: Giả, giả dối, lừa dối. Ngôn: Lời nói.

Trá ngôn là lời giả dối, lời xảo trá, tức những lời lừa đảo, lường gạt kẻ khác.

Như: Người đạo đức không dụng trá ngôn.

Sự đời thấu rõ dạng hình,

Trá ngôn lánh chước gia đình pháp nghiêm.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TRÀ

Trà là lá cây chè đã sao, đã chế biến, dùng để pha nước sôi uống giải khát.

Như: Ấm trà ngon, hết tuần trà, pha trà, trà tàu.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển dạy về cúng lễ, Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Như ngoại xướng: “Ðiện Trà”, “Quỳ”, Chức sắc đồng quỳ dưng Trà lên khỏi đầu.

Mai xuân nguyệt cúc vị trà hương,

Kỉnh lễ thành tâm hiến bửu tương.

(Bài Dâng Trà).

Dạy đừng ham quán rượu tiệm trà,

Đừng hút xách làm ma nha phiến.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TRÀ ĐÌNH

茶 亭

Trà: Lá cây chè đã sao và chế biến, dùng để pha nước uống. Đình: Ngôi nhà.

Trà đình là quán bán nước trà.

Thành ngữ Việt Hán thường có câu “Trà đình tửu điếm 茶 亭 酒 店” là tiệm trà và quán rượu, dùng để chỉ sự ăn chơi.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ðến khi trưởng thành 17, 18 tuổi, ôi thôi thanh lâu, tửu quán, trà đình, cờ bạc, không món nào mà cậu không có, ngoài ra còn du côn, du đảng, ai thấy gia đình ấy mà không nói rằng do căn trước tạo nhiều quả nên nay phải thống khổ tinh thần như vậy.

Trà đình ai để nợ cho con,

Vì nghĩa mà thân phải mỏi mòn.

(Đạo Sử).

 

 

TRÀ MI

茶 蘼

Trà mi là tên một loại hoa leo giàn, cành lá có gai, đầu mùa hè nở hoa, sắc trắng pha vàng nhạt, hoa nở chậm sau các thứ hoa khác.

Trà mi. nguyên trước kia đọc là “Đồ mi”, đến đời nhà Đường, Lục Vũ viết quyển Trà Kinh mới đổi chữ “Đồ” thành chữ “Trà”. Như vậy, đọc “Đồ mi” hay “Trà mi” đều viết như nhau.

Đường Thi có câu: Khai đáo trà mi hoa sự liễu 開 到 茶 蘼 花 事, nghĩa là nở đến hoa trà mi thì sự chơi hoa đã hết rồi.

Trà mi khi đã dựa cung đài,

Căn cứ chi nên phải lạc loài.

(Đạo Sử).

Sợ cơn giông gió tơi bời,

Trà mi sơ sẩy hoa rời rã bông.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TRÀ NGÂU

Trà: Lá cây chè đã sao, đã chế biến, dùng để pha nước uống giải khát. Ngâu: Một loài hoa rất thơm, cũng như hoa lài, người ta thường lấy để ướp trà.

Trà ngâu là loại trà ướp hoa ngâu.

Chừ toan bứt mảnh tơ tình,

Trà ngâu chê nhớ, rượu quỳnh chối thương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TRẢ

1.- Trả là hoàn lại, đền lại, tức đưa lại cho người cái đã vay, mượn của người ấy. Như: Trả nợ, trả sách cho nhà trường, có vay có trả.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Căn xưa quả cũ đã trả vẹn thì con đường đạo đức tất là nấc thang dìu đến phẩm cũ ngôi xưa.

Võ đài chờ trả rồi oan trái,

Xủ áo phồn hoa lại cảnh Thiên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trái oan chưa dứt thuở nào thôi,

Muốn đặng phi thăng ráng trả rồi.

(Lý Giáo Tông Giáng).

Biển khổ mang bầu chờ tế độ,

Giựt giành chi khỏi trả rồi vay.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

2.- Trả, nói tắt của chữ “trả giá”, có nghĩa là mà cả giá hàng hoá.

Như: Trả đắt, trả rẻ, trả quá thấp cửa hàng không bán.

Trả thấp cao phải chẳng đừng buồn,

Với ai cũng ra tuồng dịu ngọt.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TRẢ NGHIỆT ĐỀN OAN

Trả nghiệt: Phải đền trả cái mầm ác do mình đã gây ra từ kiếp trước. Đền oan: Đền bồi oan trái.

Oan nghiệt trong kiếp này là do sở hành thiện ác của ta trong kiếp trước.

Vì vậy, ta sống kiếp nầy là phải chấp nhận đền trả nợ vay của kiếp trước, gọi là “Trả nghiệt đền oan”.

Trả nghiệt đền oan ngăn Địa ngục,

Bồi công lập đức mở Thiên môn.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

TRẢ OÁN BẰNG ÂN

Chúng ta biết những oan nghiệt và mầm ác mà con người sống ở thế gian đã gây ra, tạo thành những sợi dây vô hình ràng buộc lẫn nhau, trở thành oan gia trái chủ. Vì thế, người ta thường ví trái oan trong nhiều kiếp như cuộn dây tơ chằn chịt, nên gỡ mối chớ không nên kết, vì càng kết lại càng thêm rối, càng sinh oan trái, càng tạo ra khổ đau, phiền não. Rồi cứ oan oan tương báo, không bao giờ dứt được. Sách có nói “Oan gia nghi giải bất nghi kết 冤 家 宜 解, 不 宜 結”.

Ông Thái Công cũng dạy rằng: Khuyến quân mạc kết oan, oan thâm nan giải kết. Nhứt nhựt kết thành oan, thiên nhựt giải bất triệt 勸 君 莫 結 冤, 冤 深 難 解 結. 一 日 結 成 冤, 千 日 解 不 徹, nghĩa là Khuyên người chớ nên gieo thù kết oán, thù thâm thì khó giải cho ra lắm. Thù kết một ngày mà thành, thì dù ngàn năm mở cũng không dứt.

Lời Lục trong sách Cảnh Hành cũng viết: Ân nghĩa quảng thi, nhân sinh hà xứ bất tương phùng? Thù oan mạc kết, lộ phùng hiểm xứ nan hồi tỵ 恩 義 廣 施, 人 生 何 處 不 相 逢? 讎 冤 莫 結, 路 逢 險 處 難 迴 避, nghĩa là Sống ở nơi thế gian này, nếu mình đem nhơn nghĩa ra mà cư xử rộng khắp với mọi người thì có lúc mình bị cảnh long đong thì còn có chỗ gặp nhau lại, có thể vì ân nghĩa mà người ta đền đáp lại chăng. Còn thù oán thì không nên kết, dọc đường đi có khi gặp lúc nguy hiểm cũng khó có đường tránh khỏi.

Muốn giải oan nghiệt, các tôn giáo đều dạy chúng ta dùng cái nhơn nghĩa ra cư xử với kẻ thù của mình, tức là chúng ta “Lấy ơn báo oán”.

Trong Thuyết Đạo, Đức Hộ Pháp có dạy rằng: “Lấy nhơn nghĩa đối với bạo tàn, lấy tâm ưu ái trả thù hận, ấy là tâm Phật, phải tâm chí Thánh mới làm đặng. Bần Ðạo làm đặng, đặng chi? Ðặng nêu cao tinh thần Ðạo Cao Ðài nầy lên như Chí Tôn muốn.

Lẽ thì đem hung bạo trừ hung bạo, theo thường tình thì mới vui lòng, thoả mãn tâm phàm của Phạm Công Tắc thì ắt vui mầng lắm chớ. Nhưng Hộ Pháp vì biết hại cho tương lai nước nhà, nên cầm cây huệ kiếm đưa ra, lấy tâm lý yêu ái đối lại với oán ghét, cốt yếu làm cho nhơn loại, làm chứng rằng chơn truyền của Ðạo Cao Ðài là huờn thuốc “Phục sinh hoà bình” cho nhơn loại.

Trả oán bằng ân là một câu chuyện trong truyện cổ tích Phật giáo có tựa đề là “Lấy ân báo oán”.

Truyện kể rằng: Hoàng đế nước Cô Sa La là Diệc Cô Ty bị vua nước Ca Si là Ba Ra Ma Đạt Ta chiếm ngôi, vua Diêc Cô Ty phải giả dạng làm thầy tu, trốn tránh ở thành Bê Na Rết. Ít lâu sau hai ông bà mới sanh được một trai là Diệc Ga Du.

Diệc Cô Ty sợ lộ tông tích khiến con bị hại, bèn bảo Diệc Ga Du lẩn tránh đi nước khác. Vợ chồng vua Diệc Cô Ty ở lại ít lâu sau bị vua Ba Ra Ma Đạt Ta phát hiện, bắt về triều. Trong lúc đó Thái Tử Diệc Ga Du ở nước ngoài, lén về thăm cha mẹ, nghe tin chẳng lành, bèn ra cửa ngọ môn thấy cha mẹ bị xiềng chờ xử trảm, vua Diệc Cô Ty cũng nhìn thấy con bèn giả vờ quay hướng khác la lớn: Lấy oán trả oán, oán kia không dứt, lấy ơn trả oán oán nọ mới tiêu. Thái tử Diệc Ga Du biết cha dạy mình, khi vua và hoàng hậu bị hành quyết rồi, chàng mới trốn vào rừng nương náu.

Sau đó, Diệc Ga Du thay hình đổi dạng thời may được làm hầu cận bên vua Ba Ra Ma Đạt Ta. Một hôm vua và Diệc Ga Du đi săn bắn, quá mệt mỏi, nhà vua nằm trên bắp đùi Diệc Ga Du ngủ. Gặp cơ hội tốt, Thái tử Diệc Ga Du định chém đầu vua để báo thù cho cha mẹ. Nhưng vì lời dặn của cha trước khi chết, nên chàng đành thôi, mấy lần như vậy. Đến chừng vua Ba Ra Ma Đạt Ta giựt mình tỉnh dậy, Diệc Ga Du liền đứng phắt dạy rút gươm ra nói rằng: Ta là Thái tử Diệc Ga Du con của vua Diệc Cô Ty nước Cô Sa La nầy. Ngươi chiếm đoạt đất nước của cha ta, lại còn giết cha mẹ ta. Ngày nay ta phải chém đầu ngươi để báo oán.

Vua Ba Ra Ma Đạt Ta van xin: Nhờ lượng Thái tử dung tha mạng vì mọi việc đã lở rồi. Diệc Ga Du nhớ lời cha dạy, từ từ tra kiếm vào vỏ. Vua Ba Ra Ma Đạt Ta hỏi tại sao lúc ta ngủ mê, Thái tử không giết? Diệc Ga Du nói: Lúc thác cha tôi bảo lấy ơn báo oán thì oán mới tiêu, ngày nay tôi không giết bệ hạ, Bệ hạ lại tha chết cho tôi, thế thì oán thù ngày xưa đã chấm dứt.

Vua Ba Ra Ma Đạt Ma ngẫm nghĩ rồi gật đầu. Sau đó truyền đem Thái tử về triều, gả công chúa cho và tuyên bố sẽ truyền ngôi lại cho Phò Mã (Tức là đem nước Cô Sa La trả cho Diệc Ga Du).

Bên ngoài hành lang Báo Ân Từ về phía nữ phái có khuôn hình mang ý nghĩa “Lấy ân báo oán”.

Diệc Cô Ty thần hồn đã phán,

Ga Du con trả oán bằng ân.

Ba Ra cảm xúc bội phần,

Mối thù đổi lại tình thân ngai vàng.

(Báo Ân Từ).

 

 

TRẢ QUẢ

Trả: Đền đáp cái mà mình đã vay mượn trước đây. Quả: Cái kết quả của cái nhân đã gây ra từ lúc trước.

Trả quả là cam nhận chịu cái kết quả đau khổ mất mát để đền trả cái nhân xấu mà mình đã gây ra lúc trước hay trong kiếp trước, tức là nhận chịu cái nợ tiền khiên đã kết nạp từ nhiều kiếp, chí quyết trả cho xong mà không vay thêm nữa.

Đức Lý Giáo Tông giáng cơ dạy về Trả quả như sau:

Trái oan chưa dứt thuở nào thôi,

Muốn đặng phi thăng, ráng trả rồi.

Cượng lý tu hành cho thoát tục,

Tiền vay nợ hỏi, sổ ai bôi?

Đây Lão nhắc về lời của Đức Chí Tôn dạy về cách Trả quả như vầy:

“Các con ôi! Phải ráng vui lòng mà chịu điều cực khổ. Hễ Thầy thương các con chừng nào thì hành hạ các con chừng nấy. Bởi vậy khi các con hiến thân hành đạo với Thầy, đã lịnh cho Thần Thánh bắt các con trả quả cho đủ kiếp đặng trừ cho kịp kỳ nầy. Bởi các con phải chịu luật luân hồi, vì cớ mà phải chịu điều khổ sở như vậy, các con chớ than phiền, chính theo lời thề của các con thì Thầy hành các con cho đúng lẽ, vậy mới xứng đáng là môn đệ của Thầy. Có nhiều đứa vì không rõ luật Thiên điều, cứ than van mãi.”

Vậy, chư hiền hữu hiền muội nghe Ơn Trên dạy đành rành, nợ thì phải trả, chớ không chạy đâu được. Dầu cho một vị Đại La mà phạm luật Thiên điều thì cũng phải tái kiếp mà đền bù cuộc trả vay.

Ta đã biết sự trả quả nầy nằm trong Luật Nhân quả, là Luật Công bình thiêng liêng, gieo nhân nào thì gặt quả nấy.

Theo luật nhân quả, hễ vay (nhân) thì phải trả (Quả). Do vậy, con người đầu kiếp xuống thế gian là đền bù cuộc vay trả.

Có nợ nghiệp đều phải hoàn trả, đây là quy luật bất biến của vũ trụ, ngay cả bậc chơn tu cũng không tránh khỏi.

Người học Phật không ai mà không biết câu chuyện trong Pháp Từ Bi Thủy Sám kể lại hai người là Viên Áng và Triều Thác vì kết mối oan thù để rồi nhiều kiếp sau Viên Áng trở thành Ngộ Đạt Quốc sư phải chịu mụt ghẻ ở đầu gối hành đau đớn, khổ sở. May mà nhờ công đức tu hành, gặp Bồ Tát Nhã Ca cứu giúp, nếu không thì nghiệp kia khó mà tránh. Tuy là tạo nhân đã từ nhiều kiếp trước, nhưng luật nhân quả buộc phải trả dứt.

Câu chuyện được kể như sau: Triều Thác và Viên Áng là hai vị Đại Thần nhà Hán. Triều Thác là người có tài, được vua Hán Cảnh Đế rất sủng ái. Trong hoàng thân quốc thích của vua Cảnh Đế có Ngô Vương Lưu Thất vì thấy vua tin dùng Triều Thác, nên âm mưu định làm phản.

Cảnh Đế hay tin lấy làm lo sợ, bèn triệu tập bá quan hỏi kế. Triều nội ai cũng biết Ngô Vương làm phản là vì bất mãn với Triều Thác, song chẳng ai dám nói cả.

Viên Áng là người có tính thẳng thắng, bèn vào tâu mật với vua Cảnh Đế rằng: Ngô Vương phản chúa công là vì Triều Thác đó. Chuyện nầy trong triều ai cũng biết cả, nhưng vì sợ uy quyền của Triều Thác nên không dám hé miệng. Nếu chúa công giết Triều Thác đi thì mọi sự đều yên.

Vua Cảnh Đế cân phân, suy nghĩ nhiều ngày. Sau cùng vì sợ mất giang sơn của Tiên đế, bèn sai người bắt Triều Thác đem ra chợ Đông xử trảm.

Trong lúc bị hành hình, Triều Thác la lên rằng: Viên Áng hại ta! Viên Áng hại... Chữ “ta” vừa dứt thì đầu đã rơi xuống đất, trúng ngay viên đá, miệng Triều Thác cắn vào cục đá đó. Khi đao phủ đến nhặt đầu của Triều Thác, thấy cục đá bị cắn vỡ ra từng mảnh. Chứng tỏ Triều Thác hận Viên Áng đến dường nào!

Tính từ đời Hán Cảnh Đế là năm 156 trước công nguyên đến đời Đường Ý Tông là năm 860, cả thảy là 1026 năm. Khoảng thời gian nầy, Viên Áng đã đầu thai 10 kiếp và kiếp nào cũng làm Hoà Thượng, đạo hạnh tinh tấn, giới luật nghiêm cẩn, nên oan hồn của Triều Thác không làm gì được. Mãi đến Viên Áng đầu thai làm Thiền Sư Ngộ Đạt và được phong làm Quốc sư, vì chữ “Danh”, trong lòng hơi tự mãn, vì chỗ đó nên mới bị oan hồn của Triều Thác nhập vào gây thành mụt ghẻ ở đầu gối có hình đầu người, mà người xưa gọi là “nhân diện sang 人 面 瘡” làm cho đau đớn trăm bề. Ta thấy sức mạnh của nghiệp lực quả thật là gớm thay!

Sách Phật có câu:

 

Giả sử thiên bách kiếp

 

假 使 千 百 刼

 

Sở tạo nhân bất vong

 

所 造 業 不 亡

 

Nhân duyên hội hợp thời

 

因 緣 會 合 時

 

Quả báo hoàn tự thọ

 

果 報 還 自 受

Nghĩa là nếu nghiệp đã tạo mà chưa dứt, dù có trải qua trăm ngàn kiếp, một khi đến lúc nhân duyên hoà hợp thì vẫn phải chịu lấy nghiệp quả.

Nhãn tiền trả quả tức thì,

Tội dư con cháu một khi đền bồi.

(Kinh Sám Hối).

 

 

TRẢ THÙ

Trả: Làm trở lại cho người khác điều tương xứng với những gì người ấy đã làm cho mình. Thù: Ý muốn trị kẻ đã gây hại cho mình.

Trả thù là làm cho kẻ gây hại, gây tai hoạ cho bản thân mình phải chịu điều tương xứng với những gì người ấy đã gây ra.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Bần Đạo dám quả quyết và đại ngôn nói rằng: Bần Đạo sẽ trả thù vì hôm nay ngó thấy Bần Đạo không phải yếu ớt, bạc nhược, cô quả, hèn tiện như buổi nọ đâu.

Nếu anh dạy chau mày bẳng hẳng,

Tiếng thấp cao cẳn nhẳn mắng trả thù.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TRẢ VAY

Theo luật nhân quả, hễ vay (nhân) thì phải trả (quả). Do vậy, con người đầu kiếp xuống thế gian là đền bù cuộc vay trả.

Nếu trả xong nợ cũ rồi, lại vay nợ mới thì kiếp sau tiếp tục trả cho xong món nợ vừa vay, cứ thế hết trả đến vay, hết vay đến trả, thì con người cứ mãi trôi lăn trong vòng luân hồi sinh tử.

Nếu trả dứt những món nợ cũ của kiếp trước, mà kiếp này không có vay thêm nợ nữa thì mới thoát được sự luân hồi vay trả.

Biến chuyển Trời Nam cuộc đảo huyền,

Trả vay cho sạch vết oan khiên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thua được, được thua phiền luỵ mãi,

Trả vay, vay trả nghiệp nhân còn.

(Thuần Đức).

 

 

TRÃ

Trã là một thứ nồi bằng đất nung, miệng rộng, đáy nông, dùng để kho nấu, như trã cá kho.

Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy Bà bạn đời của Ngài Lê Văn Trung có câu: Ðường thị! Thầy giao phe Nữ cho con lập thành. Chẳng phải vì đàn bà mà sớm nồi cơm, chiều trã cháo hoài.

Nấu trách canh đổ nước nổi thuyền,

Kho trã mắm nát nghiền xương cá.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TRÃ TRÁCH

Trã là một loại nồi bằng đất, miệng rộng, đáy cạn, thường dùng để kho hay nấu. Như: Trã cá kho.

Trách là trã nhỏ, một loại nồi bằng đất nung, được dùng để kho nấu.

Chị vắng mặt vô rờ ông táo,

Bốc tay dơ trã cháo trách canh.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TRÁC THỊ

卓 氏

Trác: Họ Trác. Thị: Họ, chữ thường dùng để đệm trên tên đàn bà.

Trác thị tức Trác Văn Quân, là một người đàn bà chồng đã chết, vì nghe tiếng đàn của Tư Mã Tương Như liền bỏ nhà trốn theo ở với Tương Như.

Xem: Trác Văn Quân.

Thương Trác Thị tai ham lóng tiếng,

Tư Mã kia nhấn phím tri âm.

(Thất Nương Giang Bút).

Khúc trỗi hết bùi tai Trác Thị,

Câu rao càng lộ ngón Tương Như.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

TRÁC VĂN QUÂN

卓 文 君

Trác Văn Quân là con gái của Trác Vương, người ở đất Lâm Ngang. Văn Quân là một quả phụ, hiểu về âm nhạc, nên sau khi nghe được bản “Phụng Cầu Hoàng” của Tư Mã Tương Như gãy lên để trêu ghẹo, nàng liền bỏ nhà theo Tương Như.

Về với Tương Như, vợ chồng sống hoà hợp, nhưng sau Tương Như đòi cưới vợ bé, Văn Quân buồn, làm bài Bạch Đầu Ngâm tự huỷ đời mình, Tương Như hối hận liền thôi.

Đờn Tư Mã lên dây cao thấp,

Trác Văn Quân đường lấp cũng leo tường.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TRÁCH

1.- Trách là trã nhỏ, một loại vật dụng nhỏ bằng đất nung được dùng để kho nấu.

Như: Trách cá kho, trách canh chua cá lóc.

Nấu trách canh đổ nước nổi thuyền,

Kho trã mắm nát nghiền xương cá.

(Phương Tu Đại Đạo).

Nhà vẻn van giữ sạch nơi nơi,

Trong bếp núc trách nồi đậy điệm.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Trách có nghĩa là bắt lỗi, tức tỏ lời không bằng lòng cùng người có hành vi, thái độ không đúng, không tốt đối với mình hoặc liên quan đến mình. Như: Trách bè bạn.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Thầy cho các con biết trước đặng sau đừng trách rằng quyền hành Thầy không đủ mà kềm thúc trọn cả môn đệ.

Nếu vội trách người trên thì đọa,

Cũng có khi tai hoạ trả liền.

(Kinh Sám Hối).

Giận đem đổi nhớ vẫn vừa,

Trách mình nào có đổ thừa phụ duyên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

3.- Trách là bổn phận, phần việc mình phải lo, phải làm. Như: Trách nhiệm, chức trách, trọng trách.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Thầy đã lấy ân huệ ban cho con, rất xứng đáng. Cái ân huệ ấy là tấm sắt hộ tâm, sao chẳng giữ gìn trọng trách, làm cho chinh lòng nhau?

Hễ biết mình trọng trách thần dân,

Thì phải biết ân cần bề giáo dục.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TRÁCH CỨ

責 據

Trách: Bắt lỗi, tức tỏ lời không bằng lòng cùng người có hành vi, thái độ không đúng, không tốt đối với mình hoặc liên quan đến mình. Cứ: Dựa vào.

Trách cứ là nhằm vào người nào mà bắt lỗi, tức tỏ lời không bằng lòng người nào, cho là phải chịu trách nhiệm về điều không hay, tốt đã xảy ra.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật còn phàn nàn trách cứ Thầy thay! Các con ôi! Ðã gọi là Ðấng cầm cân, lẽ công bình thiêng liêng đâu mà Thầy đặng phép tư vị.

Thế thì mỗi đứa đều mang nặng nơi mình một phần trách cứ chẳng nhỏ.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TRÁCH DÂN

責 民

Trách: Bắt lỗi, hỏi lỗi của người có tội. Dân: Người dân, dân chúng.

Trách dân là hỏi tội người dân để định hình phạt.

Ngày xưa, các quan ở địa phương bắt những người dân có lỗi thuộc địa phận mình đang cai trị, đến công đường hỏi tội, gọi trách dân.

Xem: Hớn Lưu Khoan.

Hớn Lưu Khoan trách dân bồ tiên thị nhục,

Hạng Trọng Sơn khiết kỷ ẩm mã đầu tiền.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TRÁCH ĐẤT HỜN TRỜI

Trách đất: Trách cứ đổ thừa cho đất. Hờn Trời: Hờn oán đổ lỗi cho Trời.

Trách đất hờn trời là hờn trách trời đất, ý nói chuyện do mình làm mà lại đổ lỗi cho trời đất.

Chính mình đã dời tai hoạ đến cho mình mà chừng tai hoạ đến lại than van số phận, trách đất hờn Trời.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

TRÁCH NHẬM

Trách: Bổn phận của chức vụ đòi hỏi. Nhậm (nhiệm): Gánh vác.

Trách nhậm, như chữ “Trách nhiệm 責 任”, là nhiệm vụ phải gánh vác. Như: Làm hết trách nhậm.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: Ngày nay đã mất hết một người môn đệ của Thầy, lại là một đạo hữu của các con, đã cùng các con nghiêng vai gánh vác một trách nhậm trong Ðại Ðạo Tam Kỳ.

Xem: Trách nhiệm.

Khổ ấy về sau danh phận xứng,

Chăm lo trách nhậm mới gìn kham.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

TRÁCH NHIỆM

責 任

Trách: Bổn phận của chức vụ đòi hỏi. Nhiệm (nhậm): Gánh vác.

Trách nhiệm là nhiệm vụ phải gánh vác. Như: Có trách nhiệm phổ độ miền Trung.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Lúc Ngài lãnh trách nhiệm trọng yếu ấy, Ngài đã lắm phen trổ tài hùng biện và binh vực quyền lợi cho dân Pháp với những lẽ công chánh nhứt là sự tự do.

Thượng phẩm ơi hởi anh ơi,

Chưa xong trách nhiệm đã về trời..

(Thơ Hộ Pháp).

Một kiếp đem thân ra phục vụ,

Hy sinh trách nhiệm mới vuông tròn.

(Thơ Thông Quang).

 

 

TRÁCH PHẠT

責 罰

Trách: Bắt lỗi, hỏi lỗi của người có tội. Phạt: Bị hình phạt vì đã phạm lỗi.

Trách phạt là trách cứ và trừng phạt.

Như: Học sinh không làm tròn trách nhiệm nên bị thầy giáo trách phạt.

Thầy đã chẳng trách phạt Kim Quang Sứ, lẽ nào lại trách phạt các con.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TRÁCH PHẬN

責 分

1.- Trách: Phần việc của mình. Phận: Bổn phận.

Trách phận là trách nhiệm và bổn phận.

Như: Trách phận của người hướng đạo thì phải đưa mọi người về một cách an toàn.

Hễ trách phận đàn anh, tuy nhiên lấy oai quyền khuyến nhủ trừng trị lấy em mặc dầu, chớ cũng nên hiểu tâm của mỗi đứa.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

2.- Trách: Quở, bắt lỗi. Phận: Số phận.

Trách phận là than trách về số phận.

Như: Anh ấy gặp hoàn cảnh buồn chỉ ngồi than thân trách phận mà thôi.

Thường hay buồn than thân trách phận biết mình hữu tài vô mạng nên viết một bài thi có ý than...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

TRÁCH VỤ

責 務

Trách: Phần việc mình phải làm. Vụ: Công việc.

Trách vụ là phần công việc do mình đảm trách, tức là những việc mà mình phải gánh lấy. Như: Phải ý thức trách vụ của một thầy thuốc.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh dạy: Trong việc Đạo, mỗi người đều có trách vụ riêng, và mỗi trách vụ đều có sự cần ích riêng biệt.

Hành Đạo nhiều năm tròn trách vụ,

Vẹn đời muôn thuở hưởng ân Thiên.

(Thơ Thông Quang).

 

 

TRẠCH

1.- Trạch là lựa chọn, khác, phân biệt. Như: Trạch lân xử, trạch cử.

Tại Thảo Xá Hiền Cung, Bà Thất Nương giáng cơ ban cho đôi liễn như sau: Thảo xá tuỳ nhân, ngu muội bần cùng nghinh nhập thất, Hiền cung trạch khách thông minh phú quý cấm lai môn 草 舍 隨 人, 愚 昧 貧 窮 迎 入 室, 賢 宮 擇 客, 聰 明 富 貴 禁 來 門, nghĩa là thảo xá tuỳ theo người, kẻ ngu muội và nghèo khổ thì tiếp vào nhà, Hiền cung lựa khách, người thông minh và phú quý thì cấm đến cửa.

Hữu công trì chí Thiên cơ toán,

Mạc nại lao lung trạch hảo nhân.

(Đạo Sử).

2.- Trạch là cái đầm, thắm ướt, ơn nghĩa, làm sự lợi ích cho người.

Như: Ân trạch, huệ trạch.

Đa thi huệ trạch,

Vô lượng độ nhơn.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

Nhờ Đức Chí Tôn ban huệ trạch,

Cho tình đồng loại ngưỡng Ân sinh.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

TRAI

1.- Trai là người thuộc phái nam còn nhỏ tuổi. Như: Làm trai cho đáng nên trai, trai năm thê bảy thiếp.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy đã chán mắt thấy phái Nữ hành đạo thế nào, biết bao phen Thầy buồn, mà buồn rồi lại giận, muốn chẳng lập Nữ phái mà làm gì, nhưng trai gái cũng đồng con, Thầy không nỡ đành lòng từ bỏ.

Còn em út trong nhà thơ bé,

Trai dạy khuyên, gái để khép khuôn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Gái lớn lên giữ chữ phụ tùng,

Trai chớ khá buông lung theo chúng bạn.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Trai là chay. Như: Thọ trai, trai giới, trai phòng, trường trai.

Thánh giáo Bát Nương Diêu Trì Cung có câu: Có nhiều hồn chưa qua khỏi đặng, phải chịu ít nữa đôi trăm năm, tuỳ Chơn thần thanh trược. Chí Tôn buộc trường trai cũng vì cái quan ải ấy.

Trường trai ốm nhách còn làm lối,

Lại muốn đòi xin uống rượu say.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

TRAI BẢY THIẾP

Trai bảy thiếp, do câu tục ngữ: Trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng, ý chỉ đàn ông có thể cưới nhiều vợ.

Ngày xưa luật hôn nhân cho phép người đàn ông có nhiều vợ (theo chế độ đa thê), nhưng người đàn bà chỉ được có một chồng.

Vì vậy, mới nói “Trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng”.

Xem: Năm thê bảy thiếp.

Trai bảy thiếp cũng cho chẳng hại,

Gái lộn chồng đã hoại tánh danh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TRAI ĐƯỜNG

齋 堂

Trai: Ăn chay. Đường: Cái nhà.

Trai Đường là dãy nhà rộng dành để mọi người đến ăn chay tập thể.

Trai Đường nơi Toà Thánh Tây Ninh được Hội Thánh cất làm hai dãy nhà lớn, có bàn ghế ngồi ăn dành để chức sắc, nhơn viện công quả trong các cơ quan Đạo đến ăn cơm chay.

Ngoài ra, vào những ngày lễ, vía lớn Trai Đường cũng hoạt động miễn phí để phục vụ cho khách thập phương về dự lễ nơi Toà Thánh.

Chợt xem bên trái kế trong,

Trai Đường liền với trù phòng kho lương.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

TRAI GIỚI

齋 戒

Trai: Ăn chay. Giới: Răn, giới luật.

Trai giới, còn đọc là “Trai giái”, là giới luật về ăn chay, có hai cách ăn chay: Trai kỳ và trường trai.

Trai kỳ là ăn chay có kỳ hạn, như mỗi tháng ăn chay 6 ngày, gọi là Lục trai, hoặc 10 ngày gọi là Thập trai.

Trường trai là ăn chay trường, tức là ngày nào cũng giữ chay lạt.

Trong Tân Luật, về Tịnh Thất, điều thứ nhứt có quy định: Trong hàng tín đồ, ai đã xử tròn nhơn đạo và giữ trai giái từ sáu tháng sắp lên thì được xin vào Tịnh Thất mà nhập định.

Kẻ nào trai giới đặng mười ngày đổ lên, thọ bửu pháp đặng.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TRAI KỲ

齋 期

Trai: Ăn chay. Kỳ: Thời hạn.

Trai kỳ là ăn chay có thời hạn, tức ăn chay một số ngày trong một tháng.

Bên Phật giáo ấn định trai kỳ của mỗi tháng như sau:

- Lục trai là ăn chay 6 ngày trong một tháng

- Thập trai là ăn chay 10 ngày trong một tháng.

Hai ngày 24, 25 chẳng xuất môn mà gắng thiện niệm, dùng trai kỳ hai bữa ấy thì nạn qua khỏi.

(Đạo Sử).

 

 

TRAI TÀI GÁI SẮC

Trai tài: Người đàn ông có tài năng. Gái sắc: Người phụ nữ có sắc đẹp.

Thành ngữ trai tài gái sắc là trai có tài năng, gái có sắc đẹp, dùng để nói trai gái phối hiệp xứng đôi vừa lứa.

Như: Hai ông bà ấy xưa là đoi trai tài gái sắc.

Lời tục ví trai tài gái sắc,

Gái thoả nguyền trai đẹp mắt ấy thường tình.

(Phương Tu Đại Đạo).

Vậy trúng nghĩa trai tài gái sắc,

Trai ưa tài, gái ưa sắc cho xinh.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TRÁI

1.- Trái là nghịch, không thuận, không nhằm, không đúng, đối với phải. Như: Làm trái, trái lời, trái ý, trái mắt.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: Chẳng luật lệ thì trái phép, mà trái phép thì thế nào vào Bạch Ngọc Kinh cho đặng...

Bề trong ngay thẳng tỏ bề ngoài,

Miệng chánh thì đời vốn trái tai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Âm dương tuy cách cũng Trời chung,

Thấy trái nên đây mới tỏ cùng.

(Đạo Sử).

2.- Trái là bên tay tả. Như: Tay trái, bên phía trái.

Dạy về Điện lễ, Thánh giáo Thầy có câu: Khi xướng “Quỳ” thì cũng phết chơn trái, đá chơn mặt, quỳ xuống cho đều với ba cặp lễ sanh kia, chừng trống nhạc đổ thì lần lần đứng dậy cho đều, day mặt vào Bửu điện.

Khi bái lễ, hai tay con chấp lại, song phải để tay trái ấn Tý, tay mặt ngửa ra nằm dưới, tay trái chụp lên trên.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

3.- Trái là quả cây, hoặc hình giống quả cây. Như: Trái bưởi, trái cam, cây trái, trái địa cầu, trái Càn Khôn.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Tà mị cũng như một hột lúa bị hẩm mà thúi thì thế nào mọc đặng mà sanh bông trổ trái.

Ðào Nguyên lại trổ trái hai lần,

Ai ngỡ Việt Thường đã thấy lân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trên không biết dưới đâu nên phía,

Trái địa cầu xây cứ vậy hoài.

(Đạo Sử).

4.- Trái là nợ. Như: Oan trái. quốc trái, trái chủ.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Sanh đứng làm người tức phải hứng bao nỗi tang thương khốn đốn, phải chịu lắm phen nghịch cảnh đau lòng, dày vò lăn lóc hầu trả cho xong túc trái tiền oan cho đến ngày chung cuộc.

Võ đài chờ trả rồi oan trái,

Xủ áo phồn hoa lại cảnh Thiên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nước mắt chưa lau cơn kiếp trái,

Có công phổ độ giải tiền khiên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Mượn nước Cam Lồ lau tục trái,

Ðường Tiên nẻo Phật sớm đưa chơn.

(Đạo Sử).

 

 

TRÁI CĂN

債 根

Trái: Nợ. Căn: Gốc rễ.

Trái căn là những món nợ có gốc rễ từ kiếp trước, gây ra tai hoạ cho kiếp này phải đền trả.

Do gốc rễ đó, mà kiếp sống của con người phải thọ lãnh cái nghiệp báo: Nếu kiếp trước làm những điều thiện thì tạo căn lành cho khiếp sống hiện tại, nếu bây giờ ta gieo những việc ác, thì tạo ác căn cho kiếp lai sinh. Như vậy căn hay gốc rễ tạo thành cái nghiệp cho con người. Vì thế người ta thường gọi căn quả hay căn nghiệp.

Thiện căn hay ác căn có khả năng ăn sâu và lớn mạnh lên vào gốc rễ mà tạo thành nghiệp báo.

Bước đường sanh tử đã chồn,

Oan oan nghiệt nghiệt dập đồn trái căn.

(Kinh Tận Độ).

Nên kiếp Thánh hằng trau tâm tánh,

Dẹp trái căn đặng lánh bụi hồng.

(Ngũ Nương Giáng Bút).

Đến phồn hoa thân gần tục lự,

Chơi lầu hồng hỏi thử trái căn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TRÁI CHỦ

債 主

Trái: Nợ. Chủ: Người làm chủ.

Trái chủ tức là người chủ nợ. Nợ này là nợ gây ra bởi oan gia nghiệt chướng.

Sự vay trả trong một kiếp hay nhiều kiếp của chúng sanh, khiến cho nợ nần chất chồng mà phải luân hồi sanh tử triền miên để đền trả lẫn nhau mãi.

Khối trái chủ nhẫng lo vay trả,

Mới gầy nên nhân quả nợ đời.

(Kinh Tận Độ).

Dây oan nghiệt dứt rời trái chủ,

Nương huyền linh sạch giũ thất tình.

(Kinh Tận Độ).

Dâng gươm huệ kiếm xin cầm,

Chặt lìa trái chủ đặng tầm ngôi Thiên.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

TRÁI DUYÊN

Trái: Không thuận theo, mà có ý ngược lại. Duyên: Tình duyên.

Trái duyên là tình duyên ngang trái, ý chỉ vợ chồng hay đôi tình nhân không xuôi thuận nhau.

Trăm năm kim cải cũng chồng,

Trái duyên cũng vẹn đạo tòng mà thôi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TRÁI NGANG

Trái: Có ý ngược lại. Ngang: Nghịch, không thuận theo lẽ bình thường.

Trái ngang, bởi chữ “Ngang trái” là trái nghịch.

Trái ngang là điều trái nghịch, không thuận, như mối tình trái ngang, hay gặp điều trái ngang.

Qua đây nghe kể thiên tình sử,

Khắc khoải thương buồn chuyện trái ngang!

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

TRÁI OAN

債 冤

Trái: Nợ. Oan: Bị oan ức.

Trái oan, như chữ “Oan trái 冤 債”, tức là nợ mình mắc phải do việc làm hại người từ kiếp trước.

Theo thuyết luân hồi của Phật, kiếp trước làm những điều oan ức cho người thì kiếp sau phải chịu đền trả lại món nợ mà mình đã gây ra, gọi là trái oan (hay oan trái).

Nam Mô Bạch Ngọc công đồng,

Thần, Tiên, Thánh, Phật mở vòng trái oan.

(Kinh Tận Độ).

Trái oan nào khác mối tơ,

Rối rồi không gỡ, bao giờ cho ra.

(Kinh Sám Hối).

Lưng vơi lấy chí anh hùng,

Mượn gươm thần huệ dứt lần trái oan.

(Ngụ Đời).

 

 

TRÁI TAI

Trái: Nghịch, có ý ngược lại, không thuận theo. Tai: Lỗ tai.

Trái tai là trái với lẽ phải, thường nói ra khó nghe, khó chấp nhận. Như: Câu chuyện trái tai, ra đường luôn gặp chuyện trái tai gai mắt.

Bề trong ngay thẳng tỏ bề ngoài,

Miệng chánh thì đời vốn trái tai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

TRÁI TAI GAI MẮT

Trái tai: Lời nói nghịch với lỗ tai. Gai mắt: Hình ảnh làm khó chịu con mắt.

Trái tai gai mắt, như câu “Chướng tai gai mắt”, ý nói khó nghe, khó coi vì rất trái với lẽ thường.

Các con nghe cho rõ, thường ngày các con trông thấy những điều trái tai gai mắt, các con có biết vì tại sao chăng?

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TRẢI

1.- Trải là từng qua, từng biết, từng chịu đựng. Như: Trải qua nhiều thử thách.

Thánh giáo Lý Giáo Tông có dạy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển như sau: Chư đạo hữu, lúc nầy đã đến buổi người hành khách phải trải qua một lối chông gai. Muốn bước khỏi cần phải có bền chí tận tâm, và phải gắng xem đạo đức là trọng hơn muôn việc vui thích ở cõi trần nầy.

Tuồng Ðời đã trải nhiều đau khổ,

Nợ Ðạo toan đền rạng nước non.

(Thơ Huệ Giác).

2.- Trải là mở rộng trên mặt phẳng.

Như: Trải chiếu nằm, trải rộng tấm tranh ra bàn, đám cỏ mọc trải rộng trên sân.

Xanh vàng ngọn cỏ trải mồ hoang,

Oan trái trả vay khách nhộn nhàng.

(Thanh Tâm Tài Nữ).

Bởi thuyền bá sóng xao biển ái,

Bởi non thề sương trải lạnh lùng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TRẢM

Trảm là chém, chặt, dứt tuyệt. Như: Xử trảm, tiền trảm hậu tấu.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Nếu biết trọng linh hồn thì không ngần ngại gì, đến mấy vị Ðại Thiên Phong cầm quyền Pháp Chánh kia cung khai đi, rồi họ lên án quẹt lọ cho mình, không lẽ đem ra pháp trường xử trảm.

Trảm quỷ Phật còn phải xuống đao,

Lẽ nào người nhượng nịnh hay sao?

(Nhàn Âm Đạo Sĩ).

Trảm quỷ khí, sát tà oai,

Huơi đao Quan Võ, tế bài Vương Quân.

(Xuân Hương Giáng Bút).

 

 

TRẢM THÔI

斬 衰

Trảm: Áo xẻ trôn, không lên lai. Thôi: Áo chế.

Trảm thôi là một loại áo chế thuộc đại tang trong ngũ phục. Theo Nho giáo, tang trảm thôi là hạng tang nặng vào bực nhứt, dành để thọ tang cha.

Áo trảm thôi thường dùng loại vải to may, bên dưới gấu áo xẻ trôn chứ không viền lại.

Áo trảm thôi còn gọi là áo đại tang.

Mãn hạn trảm thôi mừng cát nhựt,

Đúng kỳ hiếu quyến xả hung tang.

(Thơ Hoàn Nguyên).

 

 

TRAN

Tran là cái bệ bằng cây được đóng trên cao để sách vở hoặc để thờ phượng.

Như: Tran để sách vở, tran thờ Đức Chí Tôn, lễ thượng tran Thầy.

Dẫn nhơn sanh đến Thiên Đàng,

Niềm tin vững chắc thượng tran thờ Trời.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

TRAN THẦY

Tran: Bệ đóng trên cao để sách vở hoặc để thờ. Như tran sách, tran thờ. Thầy: Chỉ Đức Chí Tôn.

Tran Thầy là một cái bệ hay cái khánh để đặt Thánh Tượng thờ Trời, tức là thờ Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Người tín đồ Cao Đài, khi nhập môn cầu Đạo rồi, nếu nhà rộng rãi thì lập Thiên Bàn nơi giữa nhà để thờ Đức Chí Tôn, còn nếu nhà có khoảng không gian hẹp thì lập Tran Thầy một nơi cao ráo và tinh khiết để thờ.

Xem: Thiên Bàn.

Việc làm về Đạo sai chơn lý,

Đứng trước Tran Thầy niệm chú vang.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

TRAN THỜ

Tran: Bệ đóng trên cao để sách vở hoặc để thờ. Như tran sách, tran thờ. Thờ: Thờ phượng.

Tran thờ là một cái bệ hay cái khánh đặt giữa nhà, nơi tôn nghiêm để làm bàn thờ, thờ Đức Chí Tôn.

Lập tran thờ cho cao và treo màn cho khuất chỗ thờ phượng.

(Tiểu Dẫn Kinh).

 

 

TRÀN

1.- Tràn là nước trong vật chứa chảy qua miệng hoặc qua bờ vì quá nhiều, quá đầy.

Như: Chén nước đầy tràn, mưa tràn xuống ruộng, nước lũ tràn qua đê.

Đốt nhà, tháo cống, phá mương,

Nước tràn lụt ngập ruộng vườn tan hoang.

(Kinh Sám Hối).

Người cách mặt đượm tràn nước mắt,

Vắng chị em khá nhắc khá thương.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

2.- Tràn là di chuyển với số lượng lớn, trên một diện tích rộng, bất chấp mọi chướng ngại.

Như: Giặc tràn qua biên giới, gió lạnh tràn về, hoạ lây vạ tràn, thảm tràn.

Thánh giáo Thầy có câu: Cái hoạ lây vạ tràn kia, nhiều khi phải bôi xoá đến công trình xứng đáng của mỗi con và nhận chìm luôn đến con thuyền Bát Nhã.

Sầu đã cháy mặt hoa ủ dột,

Thảm đã tràn hình cốt héo don.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Máu ghen chăn gối dẫy tràn,

Hình mai ủ dột sắc càng héo don.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Hận nước lan tràn nợ máu xương,

Đem thân đày đoạ luống can trường.

(Quyền Giáo Tông Giáng).

 

 

TRÀN NGẬP

Tràn: Di chuyển từ nơi khác đến với số lượng lớn. Ngập: Có nhiều và khắp cả trên một diện tích, đến mức như bao phủ, che lấp tất cả.

Tràn ngập là có rất nhiều trên khắp bề mặt, đến mức như không thể còn thêm được nữa.

Thánh giáo Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có đoạn dạy: Từ nay thế giới phải chịu trong vòng hắc ám. Tinh thần đạo đức đã tiêu mất, sự thù hận tràn ngập khắp hoàn cầu. Chiến tranh thế giới không thể tránh khỏi.

Tràn ngập muôn sao nguồn cảm hứng,

Cửa lòng rộng mở đón hương xuân.

(Thơ Thuần Đức).

Sóng người tràn ngập vui làm lễ,

Vầy khối tâm linh đạo thuận hành.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

TRÀN TRỀ

Tràn: Trào qua miệng, qua bờ. Trề: Từ láy.

Tràn trề là có nhiều đến mức thấy như không sao chứa hết được mà phải để tràn bớt ra ngoài.

Thuyết Đạo Đức Thượng có câu: Thầy Mạnh Tử có quan niệm là lòng nhân ái ví như cái hoa của đời sống, sự sinh tồn thiết thực là tình thương tràn trề và sung mãn. Nếu lòng nhân ái không được nở nang đầy đủ thì nó như cái hoa héo trước khi nở.

Giáo gươm bén nhọn tư bề,

Chém đâm máu chảy tràn trề ngục môn.

(Kinh Sám Hối).

Khối thảm chất tràn trề bể hẹn,

Giọt đau thương quá chén hiệp phu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TRANG

1.- Trang là tiếng dùng để chỉ những người thuộc hàng có tài đức, đáng được nêu gương.

Như: Trang quân tử, trang tuấn kiệt, trang anh thư.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Tuy nhiên trong xã hội cũng còn rất nhiều phần tử tài hoa thoát khỏi mức thường tình, yêu chuộng công lý và nghĩa nhân, lánh xa vòng trụy lạc. Những phần tử đó, nếu gặp người dẫn bước theo về chánh đạo họ sẽ hấp thụ giáo lý cao siêu và sẽ trở nên những trang ưu tú cũa xã hội hữu dụng cho đời và cho Ðạo.

Tỵ ác thân hiền mới phải trang,

Cũng trong xã hội một quan làng.

(Đạo Sử).

Khi gặp đặng phải trang tài mạo,

Hoặc trao trâm đắp áo làm tin.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Ngọc thốt dám bì trang tuấn kiệt,

Vàng rơi riêng chạnh khách chương đài.

(Thơ Thượng Sanh).

2.- Trang là dàn xếp cho xong, tức chỉ việc thu xếp trả các khoản cho hết, cho xong.

Như: Lo trang các khoản nợ, tiền thuê nhà chồng chất trang bấy lâu nay mà chưa xong.

Văn chương chi nữa thẹn râu mày,

Nợ cũ trang rồi nợ mới vay.

(Thơ Hoàn Nguyên).

3.- Trang, do chữ “Trương 張” đọc trại ra, có nghĩa là trương, tức một mặt của tờ giấy.

Như: Trang sách, sách dầy ba trăm trang.

Trời Nam thử điểm trang tân sử,

Ðổ lệ cùng nhau gượng để lời.

(Thơ Huệ Giác).

4.- Trang là tô điểm cho đẹp. Như: Trang điểm, trang sức, trang hoàng.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy: Mỗi đại đàn phải đủ mặt, chúng nó phải ăn mặc trang hoàng hai đứa trước, hai đứa sau, xem sắp đặt sự thanh tịnh.

Lo điểm trang phấn sắc áo màu,

Coi tương tợ như đào hát bội.

(Phương Tu Đại Đạo).

5.- Trang là trại, khu dân cư mới lập ra, hoặc khu nhà xây cất riêng, có tính chất biệt lập.

Như: Gia trang, trang trại nuôi bò sữa, nhiều thôn trang ở miền núi chưa có điện.

Lui chân kiếm con đường nhà nội,

Lửa đốm nhen dẫn lối thảm trang.

(Nữ Trung Tùng Phận).

6.- Trang là chỉ về cái dáng kính cẩn, nghiêm chỉnh. Như: Đoan trang, trang trọng, nghiêm trang.

Thánh giáo Thầy có câu: Mấy đứa lễ sanh cốt để sắp đặt sự nghiêm trang trong đàn cầu Thầy, chớ chẳng phải duy để đi lễ mà thôi.

Dạy đi đứng nghiêm trang bộ tịch,

Dạy nói năng cho lịch cho ngoan.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TRANG ĐÀI

妝 臺

Trang: Tô điểm cho đẹp. Đài: Cái nhà cao.

Trang đài là nơi đàn bà con gái ở hoặc trang điểm.

Trang đài còn dùng để chỉ người con gái đẹp, lịch sự. Như: Phẩm giá trang đài.

Ơ hỡi! Nầy cô thợ may,

Thiên kim giá ngọc dáng trang đài.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

TRANG ĐIỂM

妝 點

Trang: Tô điểm cho đẹp. Điểm: Tô vẽ.

Trang điểm là đánh phấn, thoa son, hay kẻ lông mày để tăng thêm vẻ đẹp.

Như Nàng ngồi trang điểm trước gương.

Trăng của riêng mình hay của ai?

Gót son trang điểm đẹp vân hài.

(Thơ Hoàng Nguyên).

Bích ngọc phô trương màu lá biếc,

Tà huy trang điểm cánh môi son.

(Thơ Hoàng Nguyên).

 

 

TRANG HOÀNG

妝 煌

Trang: Tô điểm cho đẹp. Hoàng: Rực rỡ.

Trang hoàng là làm cho đẹp đẽ, rực rỡ hơn lên. Như: Trang hoàng nhà cửa để chuẩn bị lễ cưới.

Thánh giáo Thầy dạy về cơ bút như sau: Trước khi thủ cơ hay là chấp bút, thì phải thay y phục cho sạch sẽ, trang hoàng, tắm gội cho tinh khiết, rồi mới đặng đến trước bửu điện mà hành sự, chớ nên thiếu sót mà thất lễ.

Đừng chùng lén mà ra sanh sự,

Hạnh đoan nghiêm giữ tánh trang hoàng.

(Phương Tu Đại Đạo).

Đổi xác Thần Tiên nơi cõi thế,

Dựng nền xã tắc lại trang hoàng.

(Thượng Phẩm Giáng Bút).

 

 

TRANG NGHIÊM

莊 嚴

Trang: Nói về cái dáng kính cẩn nghiêm chỉnh. Nghiêm: Uy nghi làm cho người ta phải kính sợ.

Trang nghiêm nghĩa là trang trọng và uy nghiêm. Như: Không khí phòng họp trang nghiêm.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Đức Lý Giáo Tông có dạy: Thầy sai Bần Đạo đến sắp đặt trang nghiêm trong Thánh Thất. Bần Đạo phân phép từ ngày nay, hễ nhập Thánh Thất thì phải giữ phép.

Nét trang nghiêm giữ tánh công bình,

Mỗi đều xử phân minh quấy phải.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TRANG SỨC

粧 飾

Trang: Tô điểm, trau dồi cho đẹp. Sức: Vật trang điểm bề ngoài.

Trang sức là trang điểm, trau dồi, tức làm tôn vẻ đẹp bên ngoài của con người bằng cách đeo, gắn thêm những vật quý đẹp. Như: Trang sức lộng lẫy.

Trong Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu, Quyền Giáo Tông giải về Đức Chí Thành có câu: Ðức chí thành tỷ như một khối vàng, dùng nó mà chế tạo ra lắm đồ trang sức tốt xinh cao giá.

Đòi quần hàng áo lụa cho xinh,

Đồ trang sức đeo mình cho đáng giá.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TRANG TỬ

莊 子

Trang Tử tên là Chu hay Châu, tự là Tử Hưu, người nước Tống, sanh khoảng 369 trước Tây lịch, đời vua Châu Liệt Vương, Ông mất khoảng 286 trước Tây lịch, thường giao du với Huệ Tử. Ông là người chịu ảnh hưởng tư tưởng của Lão Tử và Dương Tử, nên có đời sống thanh bạch, ghét danh lợi, chủ trương trở về với tự nhiên.

Trang Tử có một tư tưởng rất lãng mạn, lại là người không màng thế tục, không ham sống cũng chẳng sợ chết, coi cuộc đời như một giấc mộng lớn, chết đi là tỉnh giấc mộng. Ông có soạn ra bộ “Nam Hoa Kinh 南 華 經”. Xem: Tất Viên.

Xưa Trang Chu chiêm bao thấy mình hoá bướm. Tỉnh dậy, thấy mình là Chu. Không biết Chu chiêm bao làm bướm, hay bướm chiêm bao làm Chu?

Một đức đủ nên Trang Tử trước,

Nên hiền đâu dụng cũng nhơn tài.

(Đạo Sử).

 

 

TRANG TRẢI

Trang: Dàn xếp cho xong. Trải: Giăng, tức mở rộng ra trên mặt phải.

Trang trải là thu xếp trả các khoản cho hết, cho xong.

Như: Lo trang trải các khoản nợ, tiền thuê nhà chồng chất trang trải bấy lâu nay mà chưa xong.

Tang bồng hồ thỉ trĩu đôi vai,

Trang trải cho xong giấc mộng dài.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

TRANG TRÍ

莊 置

Trang: Nói về cái dáng kính cẩn nghiêm chỉnh. Trí: Đặt, để.

Trang trí là bố trí các loại vật thể có màu sắc khác nhau sao cho tạo ra nét hài hoà, đẹp mắt.

Như: Trang trí nhà cửa để đón xuân, trang trí máy lạnh trong phòng ngủ.

Hôm nay, Văn phòng Cơ quan Phát thanh đã hoàn thành mỹ mãn, với sự trang trí các máy móc...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

TRANG TRỌNG

莊 重

Trang: Nói về cái dáng kính cẩn nghiêm chỉnh. Trọng: Tôn quý.

Trang trọng là kính trọng, có những yếu tố biểu hiện sự hết mực coi trọng.

Như: Sự đón tiếp hết sức trang trọng, bàn thờ Thầy phải đặt nơi trang trọng.

Ba ông mặc áo dài khăn đóng,

Sáu mắt nhìn trang trọng uy nghiêm.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

TRÁNG

Tráng là khoẻ mạnh.

Như: Thân thể cường tráng, tuổi già nhưng vẫn còn tráng kiện, Anh hùng tráng sĩ.

Một ngày thêm một chút, hết cường tráng, cốt tuỷ lần lần phải chết thì thân thể các con bị chết theo.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TRÁNG CƯỜNG

壯 彊

Tráng: To lớn, khoẻ mạnh. Cường: Khoẻ mạnh.

Tráng cường, như chữ “Cường tráng 彊 壯”, là khoẻ mạnh và dồi dào sức lực.

Như: Anh ấy có một tinh thần mạnh mẽ trong một cơ thể tráng cường.

Xem: Cường tráng.

Cữ hoa nguyệt bớt đi thì tốt,

Tinh khí đầy hài cốt trẻ tráng cường.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TRÁNG ĐINH

壯 丁

Tráng: Khoẻ mạnh, mạnh mẽ. Đinh: Người đã lớn, phải đóng sưu thế.

Tráng đinh như chữ “Đinh tráng 丁 壯”, là người con trai đến tuổi thành niên, khoẻ mạnh, có thể tham gia phục dịch các công việc của nhà nước thời xưa.

Như: Làng có việc phải nhờ tráng đinh trong vùng đến phụ giúp.

Tráng đinh cương quyết lên đường,

Sẵn sàng cứu nước tình thương dâng đầy.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

TRÁNG KIỆN

壯 健

Tráng: Mạnh mẽ. Kiện: Sức mạnh.

Tráng kiện là mạnh khoẻ. Như: Tinh thần tráng kiện.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chơn Cực Lão Sư có câu: Ấy là không làm mà no, không đắp mà ấm cúng đó. Phương chi ràng buộc hình hài, thần hao trí mệt cả ngày, rốt lại còn chi tráng kiện mà xa lo rộng nghĩ?

Con cầu xin mảnh hình tráng kiện,

Giúp nên công xây chuyển cơ Đời.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

TRÁNG SĨ

壯 士

Tráng: Mạnh mẽ, chỉ độ ba mươi tuổi. Sĩ: Chỉ người con trai, học trò.

Tráng sĩ là tiếng dùng chỉ người có ý chí mạnh mẽ hay người làm được việc lớn.

Như: Những tráng sĩ ẩn danh chờ thời cơ cứu nước.

Ngày xưa, tráng sĩ chuyến qua sông Dịch,

Lấp ngậm ngùi trong lớp rượu chia ly.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

TRÀNG

1.- Tràng là vạt trước của áo dài.

Như: Em bé níu lấy tràng áo của mẹ, áo tràng ni cô.

Ca dao có câu: Áo rách thì giữ lấy tràng, Đủ đóng đủ góp với làng thì thôi.

Thánh giáo Đức Hộ Pháp có câu: Đại phục: Áo tràng rộng như Thời Quân, đội Nhựt Nguyệt Mạo, lưng thắt dây Sắc lịnh bỏ mối ngay giữa.

Khác nào giữa chợ nài hàng,

Buôn may nhờ mặc áo tràng ni cô.

(Bát Nương Giáng Bút).

2.- Tràng, như chữ “Trường 長”, là dài, lâu dài, xa.

Như: Nhà trang trí ghế tràng kỷ, đây là quyển tràng thiên tiểu thuyết, nhứt tràng mộng xuân.

Đầy vơi vui hưởng kiếp nhàn,

Ngảnh trần có khác chi tràng mộng xuân.

(Nhị Nương Giáng Bút).

3.- Tràng, như chữ “Trường 場”, là cái sân, khoảng đất rộng dùng là nơi tụ họp đông người.

Như: Đàn tràng, đạo tràng, hý tràng.

Đàn tràng viên mãn, Chức sắc quy nguyên.

Vĩnh mộc từ ân, phong điều võ thuận,

(Kệ Chuông).

Kìa là vua, nọ là quan,

Cũng như bọn hát hý tràng bán vui.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TRÀNG MỘNG XUÂN

Tràng (trường): Nơi tụ họp đông đảo nhiều người. Mộng: Giấc chiêm bao. Xuân: Mùa xuân.

Tràng mộng xuân, như chữ “Trường mộng xuân”, là giấc mộng đêm xuân, chỉ giấc mộng êm đềm, ngắn ngủi.

Xem: Mộng xuân.

Đầy vơi vui hưởng kiếp nhàn,

Ngảnh trần có khác chi tràng mộng xuân.

(Nhị Nương Giáng Bút).

 

 

TRÀNG PHAN

Hay “Trường phan”.

Tràng (trường): Dài. Phan: Cây phướn.

Tràng phan, như chữ “Trường phan 長 幡”, là cây phướn dài.

Trong tôn giáo, cây phướn là vật linh thiêng dùng để dẫn dắt các chơn hồn về cõi hằng sống.

Theo đạo Cao Đài, người chức sắc hay tín đồ quy liễu, về mặt hữu hình được phướn Thượng Phẩm và phướn Thượng Sanh dìu dẫn, về mặt vô vi thì phướn Tiếp Dẫn hoặc phướn Truy Hồn (phướn Tiêu Diêu) tiếp rước chơn hồn về cõi Thiêng liêng hằng sống.

Sao chẳng tránh lần qua bến tục,

Nương tìm Thánh giáo dựa tràng phan.

(Thánh Giáo Minh Thiện).

 

 

TRẠNG

Trạng là tỏ bày ý mình, hoặc lá đơn trình lên quan hay pháp đình, để bày tỏ sự thực, hoặc làm giấy kêu oan cho người đã chết rồi. Như: Cáo trạng.

Điếu văn của Bà Nư Đầu Sư Hương Hiếu đọc trước Liên Đài Đức Thượng Sanh có đoạn: Ðứng trước Liên Ðài Ðức Thượng Sanh Chưởng Quản Hiệp Thiên Ðài, trước một đại tang của toàn thể môn sinh Ðức Cao Ðài Ngọc Ðế, Bần Nữ nhân danh đại diện cho Nữ phái Cửu Trùng Ðài, xin có đôi lời trạng tỏ lòng luyến tiếc xót thương một Chức Sắc Ðại Thiên phong, từ lúc nền Ðạo mới phôi thai, đã vì Thầy vì Ðạo, vì thương xót chúng sanh, nên từ năm Ất Sửu (1925) đã khổ công hiệp sức cùng Ðức Hộ Pháp và Ðức Thượng Phẩm, tạo dựng nền Chánh giáo làm tướng soái cho Ðức Thượng Ðế giáng cơ dạy Ðạo, hầu cứu vớt sanh linh đang đắm chìm nơi sông mê bể khổ.

Tiếp Pháp là người tiếp luật lệ, đơn trạng kiện thưa, có quyền xét đoán, coi có nên phân định hay chăng.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

TRẠNG CÁO

Trạng: Giấy tờ trình lên quan hay pháp đình. Cáo: Kiện, buộc tội.

Trạng cáo, như chữ “Cáo trạng 告 狀”, là bản nêu tội trạng, hoặc tờ buộc tội.

Tiếp Thế khi đặng Thế luật hay trạng cáo chi của người ngoại đạo cùng là tín đồ...

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

TRẠNG HUỐNG

狀 况

Trạng: Dáng bộ, cảnh tượng bề ngoài. Huống: trạng thái, tình cảnh.

Trạng huống là tình hình cảnh ngộ, tức tình trạng có tính đặc biệt trong một lúc nào đó gặp phải trong cuộc sống thực tế, hay trải qua trong nội tâm.

Như: Sau cơn bão lũ, vườn tượt trong trạng huống héo rủ, tiêu điều.

Cái trạng huống đời bao giờ cũng vậy, mảnh xác thịt này của chúng ta chung sống với nhau...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

TRẠNG NGUYÊN

狀 元

Trạng: Bài viết, tỏ bày ý mình. Nguyên: Đứng đầu.

Trạng nguyên là người đỗ đầu khoa thi Đình, một kỳ thi lớn nhứt trong chế độ khoa cử ngày xưa.

Trạng nguyên có từ đời nhà Đường bên Trung Hoa. Đời Tống, những người đỗ hạng nhứt, nhì và ba đều được gọi là Trạng nguyên. Đến đời Minh, ba người đỗ đầu là Trạng nguyên, Bảng nhãn và Thám hoa.

Lệ Dung lén giúp sách tiền,

Kinh kỳ mở hội Trạng nguyên đỗ đầu.

(Báo Ân Từ).

 

 

TRẠNG SƯ

狀 師

Trạng: Giấy tờ trình lên quan. Sư: Thầy.

Trạng Sư, còn gọi Luật Sư, là những người học luật thông thạo, chuyên thay mặt mà biện hộ cho những người có việc kiện tụng ở Toà Án. Ngày xưa người ta còn gọi là Thầy Cãi, Thầy Kiện.

Trong đạo Cao Đài, Theo Pháp Chánh Truyền Chú giải, thì Thượng Phẩm là chủ phòng cãi luật, làm Trạng Sư của tín đồ.

Điều thứ ba mươi trong Tân Luật quy định như sau: Toà Tam Giáo có đức Giáo Tông làm đầu. Ba vị Chưởng Pháp nghị án. Vị Đầu Sư phái mình về phần dâng biểu buộc tội. Một chức sắc Hiệp Thiên Đài làm trạng sư.

Ngài lại là Trạng Sư cãi Luật,

Cả Tông Đồ binh vực đỡ nâng.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

TRẠNG TỎ

Trạng: Bày tỏ tình ý của mình hay kêu xin việc gì. Tỏ: Bày giãi, tỏ bày.

Trạng tỏ, như chữ “Bày tỏ”, là nói ra cho người khác rõ tình cảm, ý kiến của mình. Như: Trạng tỏ nỗi lòng.

Đức Nguyệt Tâm chân tình trạng tỏ,

Cho Hộ Pháp dịch rõ từng câu.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

TRẠNG TRÌNH

Trạng: Trạng nguyên, người đổ đầu khoa thời xưa. Trình: Viết tắt chữ Trình Quốc Công, một phẩm tước của vua nhà Mạc phong cho Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Trạng Trình là tên ghép hai chữ Trạng nguyên và Trình Quốc Công để chỉ Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Trong đạo Cao Đài, Ngài Nguyễn Bỉnh Khiêm xưng là Thanh Sơn Đạo Sĩ, vị Thánh đứng đầu Bạch Vân Động Chư Thánh.

Xem: Thanh Sơn Đạo Sĩ.

Có câu chuyện tức cười, bằng cớ hiển nhiên như Ðức Trạng Trình là Nguyễn Bỉnh Khiêm buổi nọ hồi còn bé đi học...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

TRANH

1.- Tranh là một loài cỏ mọc ở đồng hoang, người ta thường dùng để lợp nhà. Như: Nhà tranh vách đất.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy nhớ xưa, kẻ mộ Ðạo chịu ngàn cay muôn đắng, biết có người mà chẳng biết nhọc mình, giày gai áo bả, đội nguyệt mang sao, gió trước lọt chòi tranh, mưa sau hư giậu lá, bần hàn chẳng quản, tay trắng dìu người, một mảy không bợn nhơ, mới có thể lập ngôi cho mình đặng; có đâu lấy của lấn nhân, mượn quyền xua đức, kẻ chân thành lánh mặt, đứa tà mị áp vào, rồi cúm núm mang hơi tà, lại đua nói rằng thờ Chánh giáo. Thầy hỏi: Ai chứng cho?

Ấm lạnh chờ người đưa mảnh áo,

Chùa tranh giữ sẵn Phật bằng vàng.

(Đạo Sử).

Ðã nên người trước đời trông cậy,

Gắng sửa nhà tranh hoá động đào.

(Đạo Sử).

2.- Tranh còn là bức vẻ trên giấy hay trên lụa. Như: Tranh ảnh, tranh sơn thuỷ.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Bức tranh xã hội thường ngày vẽ cho chúng ta thấy nhiều chuyện trớ trêu khúc mắc và chỉ cho chúng ta biết rằng đời hiện tại là đời mạt kiếp, nên cang thường đảo ngược, luân lý suy đồi.

Xuân mệt mờ bao nhiêu cảnh ủ,

Cụm rừng tòng lá xủ tranh sầu.

(Thanh Tâm Tài Nữ).

Đạo sử phô bày tranh cẩm tú,

Tổ Đình diễn tả nét uy linh.

(Thơ Thượng Sanh).

Xuân về nhìn tựa bức tranh phơi,

Trí Huệ Cung quang cảnh tuyệt vời.

(Thơ Huệ Phong).

3.- Tranh là giành giựt. Như: Tranh quyền, tranh công, tranh tụng.

Thánh giáo Đức Quan Âm Bồ Tát có câu: Kịp đến tâm hồn bất hoà thì thất tình lục dục đều phát khởi tranh ngôi với thần lương tâm, nếu kém lực thì con người ấy duy có sanh hoạt trong vòng vật dục, chớ chẳng hề biết Thiên lý là gì?

Thôi chẳng tranh chi mồi phú quý,

Quý là đạo đức đó ai ôi!

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tranh lắm bà con đều ghét nết,

Nết na tề chỉnh ấy khôn lanh.

(Đạo Sử).

4.- Tranh còn dùng để chỉ loại nhạc khí có mười sáu dây, đó là đàn tranh.

Đàn tranh còn gọi là “Ngân tranh 銀 箏”, lấy ý trong câu Cổ Thi: Sầu lai dục tấu Tương tư khúc, Bảo đắc ngân tranh bất nhẫn đàn 愁 來 欲 奏 相 思 曲, 抱 得 銀 箏 不 忍 彈, nghĩa là khi buồn muốn đàn khúc Tương tư, nhưng ôm cây đàn tranh bạc không nỡ gảy.

Tranh Tần ghẹo khóc người cung lãnh,

Tỳ Hớn khêu đau khách ải đồng.

(Thơ Hộ Pháp).

Hễ muốn cho hoà tiếng tranh kìm,

Kìm sửa phím tranh lên cho đúng bực.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TRANH BÁ

爭 霸

Tranh: Giành nhau, giựt lấy về phần mình. Bá: Bá chủ, đứng đầu các nước chư hầu.

Tranh bá là tranh giành với nhau để gây dựng nghiệp bá, tức là đánh dẹp và thần phục các nước chư hầu để làm bá chủ.

Nghiệp bá thì dùng bá đạo để trị nước. Bá đạo trọng về hình pháp, binh quyền, tín thuật.

Trong thời Xuân Thu đã có năm vị vua dùng bá đạo mà hùng cường một thời, làm minh chủ các nước chư hầu khác, gọi là ngũ bá: Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, Tần Mục Công, Tống Tương Công,và Sở Trang Vương.

Những vị vua này không phải là bậc tài đức cao, mà chỉ nhờ biết tin dùng người hiền, có chính sách khéo léo làm cho dân giàu, binh mạnh và làm chủ được những chư hầu khác.

Xem: Định bá đồ vương.

Các chư hầu thì đua nhau tranh bá xưng hùng, không ai thiết gì đến nhơn nghĩa.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

TRANH CẠNH

爭 競

Tranh: Giành giựt. Cạnh: Tranh nhau.

Tranh cạnh, bởi chữ “Cạnh tranh 競 爭”, là đua nhau, giành giựt.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy: Rồi đây, các con cũng chưa chắc hết tranh cạnh giành xé nhau mà làm cho nền Ðạo phải chia tan tành.

Xem: Cạnh tranh.

Tranh cạnh mượn người lo tính trước,

Ðẹp lòng nhân sự đặng lòng đây.

(Đạo Sử).

Tuồng đời nhìn thấy những đau lòng,

Tranh cạnh rồi ra một chữ không.

(Thơ Thượng Sanh).

Mặc tình thế sự ai tranh cạnh,

Vui hứng mình ta khóm bá tòng.

(Thơ Cao Liên Tử).

 

 

TRANH CỬ

爭 舉

Tranh: Tìm cách giành lấy cho mình. Cử: Lựa chọn ra để chính thức giao cho giữ một trách nhiệm hay làm một việc gì.

Tranh cử là nhiều người ra ứng cử trong một cuộc vận động bầu cử để tranh với nhau giành được đắc cử.

Như: Trong kỳ bầu cử Quốc Hội lần nầy, anh tôi làm đơn xin ra tranh cử.

Thầy đã định ngôi Giáo Tông thì Đầu Sư và Chưởng Pháp tranh cử đặng, nếu không giảm quyền Đầu Sư thì Chưởng Pháp mong chi đắc cử.

(Pháp Chánh Truyền CG).

 

 

TRANH CHẤP

爭 執

Tranh: Giành nhau. Chấp: Nắm giữ.

Tranh chấp là giành nhau để nắm giữ. Như: Tranh chấp quyền hành.

Thánh giáo Đức Hộ Pháp có dạy: Phải vậy, vì từ ngày Bần Đạo nâng đỡ Phước Thiện lên hàng Hội Thánh, không thấy làm được việc gì hữu ích cho Đạo, trái lại còn tranh chấp quyền hành với Cửu Trùng Đài làm cho Đạo phải ghe phen nghiêng ngửa và phải mang tiếng chịu lời.

Thống nhứt ngoại xâm đào hố thẳm,

Bắc Nam tranh chấp khó hùng cường.

(Thơ Nguyệt Quang).

 

 

TRANH DANH ĐOẠT LỢI

爭 名 奪 利

Tranh danh: Giành giựt lấy tiếng tăm. Đoạt lợi: Chiếm đoạt về lợi lộc.

Tranh danh đoạt lợi là tranh đấu, giành giựt với nhau về danh và lợi.

Như: Ông ấy là chức sắc mà còn tranh danh đoạt lợi còn hơn người đời.

Tranh danh đoạt lợi cho rằng trí,

Lạc đạo an bần cũng chẳng ngu.

(Thơ Thành Toại).

 

 

TRANH ĐẤU

爭 鬥

Tranh: Giành. Đấu: Giựt giành để lấy phần hơn.

Tranh đấu hay đấu tranh là giành giựt quyền lợi. Như: Tranh đấu giành quyền lợi.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Hiện nay nhơn loại thiếu sự từ bi bác ái cho nên tạo ra trường tranh đấu, quyết chiến với nhau, sát hại đồng bào tương tàn cốt nhục,

Tranh đấu cuộc đời là huyết chiến,

Nhứt nhân chịu khổ, chịu người cười.

(Đạo Sử).

Lánh nơi tranh đấu giựt giành,

Nghiệt oan khỏi vướng thân danh vẹn phần.

(Lục Nương Giáng Bút).

Nào tranh đấu thắng rồi lại thất,

Của phù du chứa chất gọi giàu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TRANH ĐOẠT

爭 奪

Tranh: Giành. Đoạt: Cướp lấy.

Tranh đoạt là tranh để cướp lấy. Như: Trong mấy anh em, nó là thằng có ý tranh đoạt tài sản.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Nối chí của Ngài là Đức Duy Tân, con ruột của Ngài, thật đúng như lời tục Việt Nam ta nói, cha nào con nấy, thật đáng làm chúa của nòi giống Việt Nam lắm, vì cớ cho nên dầu cho đương nhiên giờ phút này, nếu Pháp không trả độc lập thì dân tộc Việt Nam cũng đồng tâm tranh đoạt cho được độc lập của nước nhà, họ tranh đấu bằng mọi phương pháp để thâu hoạch cho đặng nền độc lập ấy.

Kệ người tranh đoạt danh tài tuấn,

Mặc kẻ chê người hạng ngóc si.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

TRANH ĐUA

Tranh: Giành giựt. Đua: Tranh nhau.

Tranh đua, như chữ “Đua tranh”, là ra sức trổ tài để dành phần hơn, phần thắng.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Có nhiễm trần, có lăn lóc mơi sương chiều gió, có kim mã ngọc đàng, có đai cân rực rỡ, có lấn lướt tranh đua, có ích kỷ hại nhân, có vui vẻ với mùi đỉnh chung lao lực, mới thấy đặng tỏ rõ bước đời gai chông khốn đốn, mới thấy cuộc nhục vinh, buồn vui không mấy chốc, chẳng qua là trả vay vay trả đồng cân, chung cuộc lại thì mối trái oan còn nắm, mà cũng vì đó mới thấy đặng đường hạnh đức trau mình, trò đời chẳng qua một giấc huỳnh lương.

Còn hoi hóp tranh đua bay nhảy,

Nhắm mắt rồi phủi thảy lợi danh.

(Kinh Sám Hối).

Lần gội tâm phàm vui cảnh trí,

Đường trần lưu luyến nhọc tranh đua.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

TRANH GIÀNH

Tranh: Tìm cách giành lấy làm thành của mình. Giành: Cố dùng sức lực để lấy về được cho mình, không để người khác chiếm lấy.

Tranh giành là tranh nhau để giành lấy. Như: Tranh giành thị trường đầu tư.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Chung đỉnh mảng tranh giành, lợi danh thường chác buộc, kiếp phù sanh không mấy lát, đời giả dối chẳng là bao.

Tuỳ duyên tuỳ phận đãi cùng đời,

Ðừng rán tranh giành phải mỏn hơi.

(Đạo Sử).

Ngặt đời lại ưa điều hung bạo,

Mảng tranh giành kiện cáo phải hư nhà.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TRANH LUẬN

爭 論

Tranh: Giành nhau. Luận: Biện luận, bàn cãi.

Tranh luận, đồng nghĩa với chữ “Tranh biện 爭 辯”, là cãi nhau lẽ phải trái, tức dùng ngôn ngữ bàn cãi với nhau để giành hơn thua.

Như: Tranh biện về một lý thuyết.

Thánh giáo Thầy có dạy: Nơi Thiên thơ đã có dấu ràng ràng. Các con có đi tranh luận cũng nhọc công vô ích. Kẻ hữu phần, người vô phước, tin tin, không không, cũng chẳng sửa cơ Trời đặng.

Nhiều Chơn Linh cả kiếp sanh,

Tu không đạt vị họ tranh luận nhiều.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

TRANH NGÔI

Tranh: Giành lấy. Ngôi: Chỗ đứng, hay ngôi vị.

Tranh ngôi là chiếm chỗ đứng, hoặc chiếm ngôi vị.

Thánh giáo Đức Quan Âm Như Lai có dạy: Kịp đến tâm hồn bất hoà thì thất tình lục dục đều phát khởi tranh ngôi với thần lương tâm, nếu kém lực thì con người ấy duy có sanh hoạt trong vòng vật dục, chớ chẳng hề biết Thiên lý là gì?

Khuyên em phải thuận vâng chiều lụy,

Khuyên em lo đoạt vị tranh ngôi.

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 

TRANH PHUÔNG

Tranh: Giành lấy. Phuông: Phong, tiên phong, ở vị trí dẫn dầu, khởi đầu, trước hết.

Tranh phuông là tranh lấy đi đầu, giành làm trước.

Như: Tranh phuông để được đoạt giải.

Nhẫn nại học đòi gương Phạm Lãi,

Tranh phuông để ý kế Trương Lương.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

TRANH TÀI

爭 才

Tranh: Giành nhau. Tài: Hay, giỏi.

Lấy cái giỏi, cái hay của mình ra tranh với những người khác, gọi là tranh tài.

Gắng sức tranh tài trong Thánh đức,

Ngàn năm danh giá mới còn ghi.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

TRANH TỤNG

爭 訟

Tranh: Giành nhau. Tụng: Kiện tụng.

Tranh tụng là tranh giành kiện cáo nhau. Như: Anh em ruột thịt đừng để xảy ra tranh tụng.

Lời Thầy dạy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Con nên biểu C. (Chỉ Cao Thượng Phẩm) nó lấy lời Thầy dạy làm trọng, những sự tranh tụng là những nét của phàm tâm, chẳng đủ chi lay động chí của các đấng chân thành vì Ðạo.

Cầm cân, cân đúng điều tranh tụng,

Giữ luật, luật làm phép trị an.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

TRANH THỦ

爭 取

Tranh: Tìm cách giành lấy làm thành của mình. Thủ: Lấy, đạt được.

Tranh thủ là giành lấy về cho mình. Như: Tranh thủ sự đồng tình của bạn bè.

Khi Đức Hộ Pháp dự Khánh Thành Báo Quốc Từ Ngài có nói: Biết đâu gương mẫu ấy, nếu ta thực hiện ra được, nó sẽ không thành một phương pháp duy nhất cho các Quốc gia nhược tiểu một phương châm duy nhứt đặng tranh thủ tự do độc lập cho họ.

Dân tộc đang mong đợi nơi anh em để đưa họ tới mục đích tối cao là tranh thủ độc lập và thống nhất thật sự.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

TRÁNH

Tránh là lánh, tức tự dời sang chỗ khác để khỏi vướng bận, hoặc tiếp xúc những cái không hay, tốt.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo có đoạn dạy: Những kẻ đã hưởng hết phúc hậu từ mấy đời trước, nay lại còn phạm Thiên điều, thì tội tình ấy thế chi giải nổi. Mấy con biết luật hình thế gian còn chưa tư vị thay, huống là Thiên điều thì tránh sao cho lọt?

Ất niên con giữ nỗi tai ương,

Muốn tránh cho qua phải liệu đường.

(Đạo Sử).

Cuộc nên hư nào tránh đặng vận thời,

Nếu không mẹ ai hơi đâu lo cứu vớt.

(Phương Tu Đại Đạo).

Dầu anh quyền lực thế nào,

Cũng không tránh khỏi đường vào Diêm Vương.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

TRÁNH DẠNG

Tránh: Lánh, tức tự dời sang chỗ khác để khỏi vướng bận, hoặc tiếp xúc những cái không hay, tốt. Dạng: Hình dạng.

Tránh dạng là lánh khỏi nơi nào đó, không để hình dạng có mặt, ý nói không dự vào.

Như: Là học sinh, phải tránh dạng nơi cờ bạc.

Gặp cơn xúi ác giục loàn,

Người ngay tránh dạng, đứa gian khoe mình.

(Ngụ Đời).

 

 

TRAO

1.- Trao là đưa tận tay một vật gì cho ai. Như: Trao thư nhà, trao quà kỷ niệm.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có đoạn: Tìm đựơc mối Ðạo mầu tức là chúng ta đã nắm vào tay một báu vật vô giá. Cái báu vật đó không hề mất được vì nó vô hình vô ảnh và chúng ta có thể chia nó ra làm muôn ngàn phần mà không hề sứt mẻ. Ta lại có bổn phận đem nó trao lại cho tất cả mọi người để cho họ có món báu cũng như ta vậy.

Dầu chẳng kẻ tay trao cơm vắt,

Trông có người biết mặt hỏi han mình.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Trao, nghĩa rộng là giao phó cho. Như: Trao quyền, trao nhiệm vụ, trao lời, trao duyên.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Thầy có dạy Ngài Thượng Trung Nhựt: Thầy lại thấy con đôi phen giận lẫy, phòng toan trao gánh Đạo cho người. Thầy hỏi vậy chớ con còn nhớ lời Thầy dặn con buổi trước chăng?

Bước rẽ ngùi trông cơn ác xế,

Lời trao buồn nhớ lối trăng thinh.

(Bát Nương Giáng Bút).

Thà cam cửa Phật trao thân đọa,

Trỗi máy Thiên thơ cải số phần.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

TRAO DUYÊN

Trao: Nghĩa rộng là giao phó cho. Như: Trao quyền, trao lời, trao duyên. Duyên: Mối dây ràng buộc vô hình từ kiếp trước.

Trao duyên là trao gởi mối duyên, ý chỉ việc đính hôn, kết duyên vợ chồng với nhau.

Như: Phải biết chọn người hiền đức để trao duyên.

Những ngỡ trao duyên vào Ngọc các,

Nào dè phủi nợ xuống Tuyền đài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

TRAO ĐỔI

Trao: Đưa tận tay cho ai vật gì. Đổi: Đưa cái của mình để lấy cái người, theo thoả thuận hai bên.

Trao đổi là chuyển qua lại cho nhau những vật tương đương nào đó.

Trao đổi còn dùng để chỉ sự trao đổi ý kiến với nhau. Như: Trao đổi thư từ, trao đổi ý kiến.

Thánh giáo Thầy trong Thánh Ngôn Sưu Tập có dạy: Thầy cậy kẻ trau giồi tánh đức của các con, đến đỗi phải đem ra trao đổi tội tình làm phước hạnh, cho kẻ hung bạo hiếp đáp các con.

Lời vàng trao đổi từ đây dứt,

Giấc mộng hoạ chờ gặp gỡ nhau.

(Thơ Huệ Giác).

Giao lưu thế giới vô hình,

Thi văn trao đổi cao minh khôn lường.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

TRAO MÚC

Trao: Đưa tận tay cho ai vật gì. Múc: Dùng môi, thìa, hay gáo để lấy chất lỏng ra.

Trao múc, do câu “Tiền trao cháo múc”; là chỉ quan hệ mua bán, trao đổi sòng phẳng, dứt khoát, không để dây dưa, chậm trễ.

Công của đôi bên trao múc đủ,

Ðừng như kẻ yếu đợi người binh.

(Đạo Sử).

 

 

TRAO TƠ

Trao: Đưa vật tận tay người đáng trân trọng, hay tin cậy. Tơ: Sợi dây tơ.

Trao tơ trao sợi dây tơ hồng, ý chỉ việc đính hôn, kết duyên vợ chồng.

Do tích đời Đường, Quách Nguyên Chấn lúc trẻ là người tài mạo. Tể tướng là Trương Gia Trinh muốn kén làm rể, bèn cho năm người con gái đứng sau màn, mỗi người cầm một sợi dây tơ một màu, rồi bảo Quách Nguyên Chấn rút được sợi nào thì lấy người con gái cầm sợi tơ đó. Quách Nguyên Chấn rút sợi tơ màu hồng, lấy được cô thứ ba đẹp nhất.

Cớ sao như ủ như vày,

Hay là nhắc thiếp những ngày trao tơ.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TRAO TRÂM

Trao: Đưa vật tận tay người đáng trân trọng, hay tin cậy. Trâm: Vật cài tóc của phụ nữ.

Trao trâm là người con gái lấy trâm trao cho người tình để làm vật hẹn ước.

Nghĩa bóng chỉ sự đính hôn.

Khi lịch sắc trao trâm đáng giá,

Cơn tàn hoa, keo rã sơn rời.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Khi gặp đặng phải trang tài mạo,

Hoặc trao trâm đắp áo làm tin.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Lại sợ ai ăn trộm ở thầm,

Coi phải phận trao trâm đừng ái ngại.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TRÁO

Tráo là đưa cái nọ vào mà thay thế cái kia để đánh lừa. Như: Tráo tiền giả lấy tiền thật.

Thánh giáo Lý Giáo Tông trong quyển Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu có câu: Mỗi Tín Ðồ phải cầm giấy chứng của Hội Thánh ban cho chúng nó, phải khai tịch họ hàng con cái cho Hội Thánh cầm; nhiều đứa cả gan tròng tên tráo tuổi chư Hiền Hữu đâu rõ thấu.

Trong đời rất hiếm võ phu,

Lường cân, tráo đấu, dối tu cúng chùa.

(Kinh Sám Hối).

Lòng quấy quá tráo chì thay bạc,

Mỏi mong lo cố gạt của đời.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

TRÁO CHÁC

Tráo: Lừa dối. Chác: Mua, đổi.

Tráo chác, như chữ “Tráo trở”, là đưa cái nọ vào thay thế cái kia để đánh lừa, gạt gẫm người.

Nghĩa bóng: Chỉ sự lừa đảo.

Danh lợi đem đường xuống hố sâu,

Lợi danh tráo chác lắm cơ cầu.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

Hay là giận nhơn tình tráo chác,

Bến Ngân Hà tắm mát tâm hồn.

(Văn Tế Tiểu Tường).

 

 

TRÁO TRỞ

Tráo: Đổi vật nọ vào vật kia để lừa dối ngưởi. Trở: Quay lại, lật lên, lộn lại.

Tráo trở là dễ dàng thay đổi, làm trái lại điều đã nói, đã hứa, đã cam kết.

Như: Chị ấy lòng dạ tráo trở khó lường, người Đạo đừng ăn nói tráo trở.

Rồi những kẻ lòng Tần dạ Sở,

Mới thừa cơ tráo trở thị phi.

(Thơ NĐS Hương Thanh).

 

 

TRÀO

1.- Trào là tràn ra, do dâng lên quá miệng của vật chứa, hoặc cuộn dâng lên một cách mạnh mẽ.

Như: Máu trào, nước sôi trào ra ngoài, khóc trào nước mắt, uất ức trào lên tận cổ.

Nhớ khi dao khứa máu trào,

Nhớ khi bằm xắt nấu xào hầm kho.

(Thơ Hộ Pháp).

Dầu cho sóng bủa nước trào,

Đài Cao có sẵn không sao đến mình.

(Nguyễn Trung Trực Giáng).

2.- Trào, do chữ “Triều 朝” đọc trại ra, có nghĩa là chỗ vua ngồi ngự để các quan vào chầu.

Như: Bãi trào, vua tôi bàn việc trong trào.

Ðường trào hạ thế hưởng Tam quan,

Chẳng vị công danh chỉ hưởng nhàn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

TRÀO LƯU

Hay “Triều lưu”.

Trào (triều): Nước sông, nước biển khi lên khi xuống. Lưu: Chảy.

Trào lưu, như chữ “Triều lưu 潮 流”, là dòng nước triều ở biển khi dâng lên lúc hạ xuống.

Trào lưu còn là xu hướng đang được nhiều người hưởng ứng về phương diện văn hoá hay tư tưởng, tức chỉ khuynh hướng của người đời.Như: Trào lưu văn hoá.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Một bên là hình ảnh Thánh Thể Đức Chí Tôn đi trên đường mực thước từ từ nhi tiến, còn một đàn thì chạy theo cho kịp trào lưu biến chuyển, nên chí quyết tiến cho hơn, một đàn thì mỗi khi đi để chơn đi thì sợ đạp nhầm đến con kiến. Còn một đàn thì nếu thân mình không nhanh chóng lẹ làng thì một mũi đạn đủ đưa họ làm người thiên cổ.

Dòng đời xuôi ngược cứ thay đổi theo thế hệ trào lưu, chỉ có chơn lý là bất di bất dịch.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

TRẢO

Trảo là móng, vuốt.

Trảo là móng, vuốt, do chữ “Nha trảo 牙 爪”, là nanh và vuốt, dùng để chỉ những bộ phận của loài mãnh thú để tự bảo vệ.

Nha trảo nghĩa bóng dùng để chỉ những người thuộc tay chân bộ hạ.

Một điều đáng mừng cho Đạo. Người ấy đáng mặt làm nha trảo sẽ giúp hay nhiều việc.

(Thánh Giáo Hộ Pháp).

 

 

TRAU

Trau là giồi chuốt cho đẹp, cho óng ả, bóng bẩy. Như: Trau dồi, trau chuốt, trau mặc, trau lời.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: Ấy vậy, Ðại Ðạo Tam Kỳ chẳng khác chi một trường thi công quả. Nếu biết ăn năn trở bước lại con đường sáng sủa, giồi tâm trau đức, đặng đến hội diện cùng Thầy, thì mới đạt đặng địa vị thanh cao trong buổi chung quy cho.

Dặm dài bước lạ nẻo chưa quen,

Thánh chất dầu trau gẫm chẳng hèn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tánh hạnh khá trau thuần hậu lại,

Nên danh có thuở đặng nên thời.

(Đạo Sử).

 

 

TRAU CHUỐT

Trau: Làm cho đẹp. Chuốt: Sửa, gọt lại cho bóng, cho trơn, làm cho đẹp.

Trau chuốt là sửa sang, tô điểm làm cho hình thức bên ngoài được đẹp đẽ hơn. Như: Ăn mặc trau chuốt.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh dạy về phép lâp ngôn như sau: Là trau chuốt lời nói được thanh nhã, chơn thật, hiền lành, tỏ ra mình là người có học hay có thấm nhuần đạo đức. Muốn thực hành phép lập ngôn, chúng ta phải làm chủ khẩu khí, phải suy nghĩ kỹ trước khi thốt lời thì lời nói mới đoan trang, có mực thước.

Ngọc không trau chuốt khó nên hình,

Người chẳng kiên tâm trọng hoá khinh.

(Đạo Sử).

Muốn trau chuốt mặt ngần thân dịu,

Vẽ cho hay mày liễu má đào.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Gánh đời đã tự cất lên vai,

Trau chuốt cho sao đủ trí tài.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

TRAU GIỒI

Trau: Chuốt, làm cho tốt. Giồi (dồi): Mài dũa.

Trau giồi, như chữ “Trau dồi”, là làm cho càng ngày càng trở nên tốt đẹp hơn, đạo đức hơn.

Thánh giáo Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng có dạy: Ðã lâu, Bần Đạo không được giáp mặt chư đạo hữu để luận một vài câu chuyện về đạo đức. Hôm nay, Bần Đạo cũng để dạ khen một ít hiền hữu đã để hết tâm chí trau giồi Thánh chất, mà cũng buồn nhiều đạo hữu còn chăm nom bước thế hơn đường tu.

Làm con phải trau giồi hiếu đạo,

Trước là lo trả thảo mẹ cha.

(Kinh Sám Hối).

Gắng sức trau giồi một chữ Tâm,

Đạo đời muôn việc khỏi sai lầm.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tân toan khổ hạnh phải trau giồi,

Bước tới đường dài chớ trở lui.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

TRAU LÒNG

Trau: Chuốt, làm cho tốt. Lòng: Lòng, dạ.

Trau lòng, đồng nghĩa với “Trau tâm”, là trau dồi tâm tánh cho nên hiền lành, tốt đẹp.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Chí Tôn có dạy: Nhơn luân giữ trọn, ấy là mối đạo nhân, lo Thánh đức trau lòng là phương thoát tục.

Xem: Trau tâm.

Thông biết thế thời mới gọi thông,

Thông minh học Ðạo vẹn trau lòng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

TRAU LÒNG TỤC

Trau: Chuốt, làm cho tốt. Lòng tục: Lòng dạ của người trần tục.

Trau lòng tục tức là rèn luyện lòng phàm tục trở nên tâm Thánh đức.

Soi gương hạnh đức trau lòng tục,

Hứng giọt Từ Bi rửa bợn sầu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trọn gìn Ngũ giới trau lòng tục,

Vẹn giữ Tam quy tắt lửa phiền.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

TRAU LUYỆN

Trau: Sửa chữa. Luyện: Dồi mài cho tốt đẹp.

Trau luyện là sửa chữa, dồi mài làm cho ngày càng trở thành tốt đẹp hơn.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Chí Tôn đã đại từ đại bi chỉ rõ căn nguyên và ban ơn cho ta, dạy dỗ cho ta để đạt ngôi vị là phải trau luyện cho Tinh hiệp với Khí, Tinh Khí huờn Thần là cơ huyền bí để mà đắc Ðạo vậy.

Tài kia tai nọ luôn vần,

Đức tài trau luyện đồng cân mới mầu.

(Bát Nương Giáng Bút).

Thiên lương của quý buổi ban đầu,

Trau luyện đắc thành vật bửu châu.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

TRAU MÌNH

Trau: Sửa chữa, dồi mài, trau chuốt cho tốt đẹp. Mình: Chỉ bản thân mình.

Trau mình, đồng nghĩa với chữ “Trau thân”, là trau dồi bản thân mình cho càng ngày càng trở nên tốt đẹp hơn.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Ðạo Trời dìu bước nhơn sanh, đường Thánh dẫn người phàm tục. Sanh nhằm lối may mắn đặng gặp một Ðạo Chánh, nếu chẳng lo dưỡng tánh trau mình, để bước vào con đường Cực Lạc, thoát đoạ Tam đồ, một mai cảnh ủ bông tàn, rốt cuộc lại ăn năn vô ích.

Yểu điệu trau mình nên giá ngọc,

Thuyền quyên vẹn phận đẹp thân ngà.

(Bát Nương Giáng Bút).

Mình thiệt dở thì chị anh chê dở,

Có khôn ngoan mắc cỡ rán trau mình.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TRAU TÂM

Hay “Trau tâm trau đức”.

Trau: Trau dồi, tức sửa sang cho tốt đẹp. Tâm: Lòng dạ, biểu tượng cho luân lý đạo đức.

Trau tâm là trau dồi tâm tánh cho nên người đạo đức. Như: Trau tâm sửa tánh.

Trau tâm hiệp sức vun nền Thánh,

Dưỡng tánh chờ khi sạch bợn trần.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ngày chầy dặm thẳng gắng đưa qua,

Chịu khổ trau tâm chí mới già.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

TRAU TÂM TRAU ĐỨC

Trau tâm: Sử lòng cho tốt đẹp. Trau đức: Trau giồi hạnh đức.

Trau tâm trau đức là trau giồi tâm tánh và hạnh đức cho càng ngày càng tốt đẹp hơn.

Xem: Giồi tâm trau đức:

Xử thế phải cho vẹn thế tình,

Trau tâm trau đức sạch chơn linh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

TRAU THÂN

Trau: Sửa chữa, dồi mài cho tốt đẹp. Thân: Thân.

Trau thân, như chữ “Tu thân 修 身”, nghĩa là sửa mình, tức dồi mài tâm tính bản thân để ngày càng thêm đạo đức và tốt đẹp hơn.

Thánh giáo Chí Tôn dạy: Ðạo Trời soi gương rạng, khá biết tỉnh mộng hồn, kiếp sanh chẳng bao lâu, đừng đợi đến ngày cùng tận. Nơi trường thi công quả, nên cân lấy phước phần, chẳng sớm trau thân, rừng chiều ác xế.

Lần lựa cho đò xa bến Thánh,

Thánh tâm mấy kẻ vẹn trau thân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thà cam cửa Phật trau thân đọa,

Trỗi máy Thiên cơ cải số phần.

(Thơ Hộ Pháp).

Vừng hồng ẩn bóng vẹn trau thân,

Trí huệ soi gương tịnh dưỡng thần.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

TRAU TRIA

Trau: Làm cho bóng, đẹp lên bằng cách mài giũa.

Trau tria là trau chuốt, sửa sang, tô điểm, làm cho hình thức bên ngoài được đẹp hơn.

Ngoài ra trau tria còn có nghĩa trau dồi, tức là làm cho ngày càng tốt đẹp hơn.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Tuy nhiên, cũng nên nhắc cho quý vị nhớ rằng: Ðã gắng công xây dựng về hình thức tức là ngôi thờ thì cũng phải gia tâm trau tria về mặt tinh thần tức là phần đạo đức. Hình thức và tinh thần phải tương xứng, phải cùng tốt đẹp cùng nhau, đồng nhau thì trong và ngoài mới không có điều chênh lệch, đường tu hành mới được vững chắc.

Xạo xự tuồng đời lừng bợn tục,

Trau tria nét đạo nực mùi hương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Còn nhiều lúc thảm với hồi vui,

Miễn Ðạo trau tria nếm biết mùi.

(Đạo Sử).

Khuyên nữ phái khá mau sửa tánh,

Trau tria sao như ánh trăng trong.

(Bát Nương Giáng Bút).

Phàm phận gái đứng hàng khuê các,

Phải trau tria tướng hạc mình mai.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TRẮC

Trắc là lường, liệu, đo sâu cạn.

Như: Bất trắc, nhân tâm nan trắc, người ấy thường bất trắc không thể tin được.

Huấn từ Đức Thượng Sanh có câu: Để khi gặp cơn bất trắc, quý vị có đủ cơn sáng suốt mà đối phó với mọi trường hợp, nhứt là gìn giữ thân danh được toàn vẹn.

Vận rủi đành mang cơn bất trắc,

Năm xui phải gặp nạn thình lình.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

TRẮC ẨN

惻 隱

Trắc: Thương xót. Ẩn: Đau đớn.

Trắc ẩn là thương xót. Như: Động lòng trắc ẩn.

Con người, ai cũng đều có lòng trắc ẩn, nên thấy người gặp cảnh hoạn nạn thì trong lòng bất nhẫn.

Mạnh Tử nói: Thấy đứa bé sắp rơi xuống giếng, mỗi người đều có lòng run sợ và trắc ẩn.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Sự quả quyết hy sinh do nơi lòng trắc ẩn trước mọi đau khổ trên thế gian, tình thương phải được lan tràn vây kín đám nhân sanh là đám bần hàn khốn khổ để thực hiện câu đem Đạo cứu Đời.

Hạc thấy thế động lòng trắc ẩn,

Muốn tìm phương dẫn dắt bạn gà.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

TRẮC TRỞ

側 阻

Trắc: Nghiêng lệch. Trở: Trở ngại.

Trắc trở là gặp khó khăn trở ngại, làm cho không tiến hành được dễ dàng. Như: Công việc gặp nhiều trắc trở.

Thánh giáo Thầy có dạy: Các con chớ phiền hà chuyện Thánh Thất xảy ra, ấy cũng một bước trắc trở trong đường Ðạo của Thầy. Thầy còn phải đau lòng thay, nhưng cũng là nơi Thiên cơ vậy.

Đạo đã chịu lắm lần trắc trở,

Lẽ thiêng liêng hai lẽ định phân.

(Tứ Nương Giáng Bút).

Éo le thân phận thương mà trách,

Trắc trở tình duyên nói chẳng cùng.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

TRĂM

1.- Trăm là một số đếm, gồm mười chục. Như: Trăm tuổi, trăm đồng, trăm năm.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có lời dạy: Còn Nữ phái, chưa có vẻ gì gọi là Ðạo, một hai đứa hành đạo, cả trăm đứa cầu vui, thế nào Ðạo thành, con?

Ly rượu trăm thi đời vẫn nhắc,

Tánh Tiên muôn kiếp vốn chưa tàn.

(Lý Giáo Tông Giáng).

Dầu mình có thiếp hầu trăm ả,

Cũng nhớ nơi chòi lá mẹ ru con.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Trăm còn dùng để chỉ số nhiều. Như: Trăm việc, trăm họ, trăm quan, trăm cay nghìn đắng.

Thánh giáo Thầy có câu: Dầu cho sang vinh trăm mối, tiền của muôn chung, mấy kẻ đặng tìm đến địa vị an nhàn, xủ áo phồn hoa, để gương soi hậu thế.

Một miếng đỉnh chung trăm giọt thảm,

Phải toan lui gót tránh vòng tham.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

TRĂM CAY NGHÌN ĐẮNG

Trăm nghìn (ngàn): Chỉ số nhiều. Cay đắng: Do chữ “Tân khổ 莘 苦” là hai trong ngũ vị, dùng để chỉ sự đau xót, gian nan, và vất vả.

Trăm cay ngàn đắng, đồng nghĩa với câu “ngàn cay muôn đắng”, ý chỉ gặp nhiều nỗi gian nan và khổ sở.

Trăm cay ngàn đắng cũng chiều,

Quý thân quân tử, dám liều với thân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TRĂM ĐẮNG NGHÌN CAY

Hay “Trăm đắng ngàn cay”.

Trăm nghìn (ngàn): Chỉ số nhiều. Đắng cay: Nói sự khổ sở vất vả.

Trăm đắng nghìn cay, như câu “Trăm cay nghìn đắng”, chỉ nhiều nỗi cay đắng vất vả, ý nói gặp nỗi khổ sở trong cuộc đời.

Như: Trên đường đi tìm thuốc nam trị bịnh gặp trăm cay nghìn đắng.

Trăm đắng ngàn cay đành một kiếp,

Công Hầu Vương Bá dám đâu hơn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Mười lăm năm lận đận lao đao,

Chịu trăm đắng ngàn cay không đổi.

(Điếu Văn Đầu Sư).

 

 

TRĂM GIŨA NGHÌN MÀI

Trăm ngàn (nghìn): Chỉ số nhiều. Giũa mài: Rèn luyện thử thách cho sắt bén, cho tốt đẹp.

Trăm giũa ngàn mài là nhiều lần mài giũa, tức rèn luyện cho sắc bén, trau giồi cho tốt đẹp hơn.

Tuy xa nguồn Đạo tác phong còn,

Trăm giũa ngàn mài một tấm son.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

TRĂM HỌ

Trăm: Số đếm, bằng mười chục, chỉ số nhiều. Họ: Tiếng đặt trước tên để chỉ cùng tổ tiên.

Trăm họ, bởi chữ “Bách tính 百 姓”, hoặc “Bá tánh”, dùng để chỉ tất cả người dân trong nước.

Người xưa cho rằng nhà vua chỉ có một họ mà dân trong nước thì có hàng trăm họ, nên từ “Trăm họ” dùng để chỉ dân chúng.

Xem: Bá tánh.

Cầu xin trăm họ bình an,

Nước giàu dân mạnh thanh nhàn muôn năm.

(Kinh Sám Hối Ngắn).

Dân như cá chậu gà chuồng,

Tiếng oan trăm họ trêu buồn ngậm than.

(Ngụ Đời).

Ngùi trông trăm họ vùi chung đỉnh,

Cương toả chừng bao thoát khỏi vòng.

(Thơ Cao Mỹ Ngọc).

 

 

TRĂM NĂM

Trăm: Số đếm, bằng mười chục. Năm: Chỉ khoảng thời gianTrái đất xoay một vòng quanh Mặt trời, bằng 12 tháng, 365 ngày, 5 giờ, 48 phút, 40 giây.

Trăm năm chỉ khoảng thời gian trọn vẹn của một đời người đã sống (tức một kiếp người).

Do câu trong Kinh Lễ: “Nhân thọ dĩ bách niên vi kỳ 人 壽 以 百 年 為 期” nghĩa là Đời sống của con người lấy trăm tuổi làm kỳ hạn.

Như: Trăm năm hạnh phúc.

Trăm năm khá nhớ hương nguyền,

Chồng hay trọn nghĩa, vợ hiền trọn trinh.

(Kinh Thế Đạo).

Bỏ hết trong cơn mê một giấc,

Trăm năm ngắn ngủi nhớ làm lành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trăm năm kim cải cũng chồng,

Trái duyên cũng vẹn đạo tòng mà thôi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TRĂM PHIỀN ĐEO ĐẲNG

Trăm phiền: Trăm thứ bực bội, phiền não. Đeo đẳng: Đeo đuổi mãi.

Trăm phiền đeo đẳng là nói trăm thứ phiền phức, bực bội theo hoài, không dứt bỏ được.

Phần nội trợ trăm phiền đeo đẳng,

Đạo phụ cơ đã nặng cho mình.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TRĂM TUỔI

Trăm: Số đếm, bằng mười chục. Tuổi: Đơn vị dùng để tính thời gian sống của một người.

Trăm tuổi. bởi chữ “Bách tuế vi kỳ 百 歲 為 期”, nghĩa là trăm tuổi làm kỳ hạn, ý chỉ một đời người.

Trong Kinh Lễ có câu: Nhân thọ dĩ bách tuế vi kỳ 人 壽 以 百 歲 為 期, nghĩa là đời sống của con người lấy trăm tuổi làm kỳ hạn.

Nâu sồng tánh gội dành trăm tuổi,

Chung đỉnh đường qua trót một thì.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trăm tuổi sống chẳng lầm tuổi sống,

Một kiếp sanh chưa trọng kiếp sanh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Nỗi thương trăm tuổi thương chưa đủ,

Xin hỏi, ai ơi nỡ phụ phàng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TRĂM TRỨNG

Trăm: Số đếm, bằng mười chục. Trứng: Tế bào sinh dục cái, có thể nở ra con.

Trăm trứng, bởi chữ “Bách noãn 百 卵”, tức là một trăm trứng.

Do tích Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ đẻ ra một bọc gồm trăm cái trứng, nở ra một trăm người con trai.

Lạc Long Quân dẫn năm mươi con lên non, Âu Cơ dẫn năm mươi con xuống biển. Tục truyền dòng dõi ta phát sinh từ một trăm người ấy.

Một trăm trứng nở gây nòi giống,

Mười tám đời truyền mở thổ cương.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

TRẰN TRỌC

Trằn trọc, đồng nghĩa với chữ “Trăn trở”, là ngủ không yên, nằm lăn qua lộn lại suốt đêm thâu, vì lo lắng hoặc bịnh hoạn.

Như: Nằm trằn trọc suốt đêm không ngủ được.

Người buồn cảnh khó gượng làm vui,

Trằn trọc vào ra quặn rối nùi.

(Thơ Thượng Phẩm).

Ánh nguyệt lờ mờ nửa phiến lu,

Ra vào trằn trọc suốt đêm thâu.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

TRĂNG

1.- Trăng là vệ tinh quay quanh trái đất. Như: Mặt trăng, trăng tròn, trăng khuyết, trăng tà.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Nếu chẳng sớm xét mình, để buổi ác xế trăng tà, nước dời cạn bực, thuyền Bát Nhã đã lướt qua, nhành dương liễu hết rơi giọt từ bi thì ăn năn rất muộn.

Chiều xuân sương toả lồng sân hoạn,

Dặm liễu trăng soi rạng bước đường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Vừng trăng xẻ nửa lưng tròng ngó,

Một mảnh gương treo biếng mắt nhìn.

(Bát Nương Giáng Bút).

2.- Trăng, nghĩa rộng là chỉ tháng âm lịch.

Như: Gạo ba trăng, ngày về hẹn cuối trăng, mười trăng chửa nghén.

Mười trăng có lẽ phận không yên,

Năm tới hoạ may hết lúc phiền.

(Đạo Sử).

Nghén ba trăng phải gắng gia công,

Dạy con trẻ còn trong bụng mẹ.

(Phương Tu Đại Đạo).

3.- Trăng là một thứ gông làm bằng hai tấm gỗ ghép lại với nhau, khoét lỗ để đút cổ tội nhơn vào đó.

Như: Trăng trói, trăng cùm, đóng trăng kẻ tội phạm.

Làm sao mọc cánh đại hùng,

Bay ra khỏi chốn gông cùm trói trăng.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

TRĂNG CÙM

Trăng: Một dụng cụ giam giữ, dùng để khoá chơn tội phạm vào một chỗ. Như: Đóng trăng tù phạm. Cùm: Đồ dùng để khoá chân người tù tội, gồm hai tấm gỗ khi ghép lại thì chừa lỗ to bằng cổ chân.

Trăng cùm là những dụng cụ của quan lại, dùng để bắt giữ tội phạm giam cầm, để chờ ngày xử tội.

Hành rồi giam lại Âm cung,

Ngày đêm đánh khảo trăng cùm xiềng gông.

(Kinh Sám Hối).

 

 

TRĂNG GIÀ

Trăng: Vệ tinh quay quanh trái đất phát sáng ban đêm. Già: Đã trải qua rất nhiều tuổi.

Trăng già, bởi chữ “Nguyệt lão 月 老”, hay “Nguyệt hạ lão nhân 月 下 老 人”, tức là ông già dưới trăng.

Do điển: Vi Cố thấy một ông già ngồi dưới trăng, xem sách, và bên cạnh ông có một cái đãy đựng chỉ đỏ.

Những người có duyên nợ với nhau, được ghi tên họ trong quyển sách, Nguyệt lão mới dùng chỉ hồng buộc chân kết làm vợ chồng.

Xem: Xích thằng.

Trăng già khen cũng chua cay lắm!

Thôi vậy thà cam trọn tử sanh.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

TRĂNG GIÓ

Trăng: Vệ tinh quay quanh trái đất. Gió: Luồng không khí chuyển động.

Trăng gió, như chữ “Phong nguyệt 風 月”, là gió trăng. Có hai nghĩa:

1.- Trăng gió chỉ những người thích cảnh trăng thanh gió mát. Do câu “Bán nang phong nguyệt 半 囊 風 月”, tức là nửa túi gió trăng, dùng tả người phong lưu tài tử.

Bạn cùng trăng gió vơi phiền luỵ,

Tình với non sông nặng ái ân.

(Thơ Thuần Đức).

2- Trăng gió còn dùng để chỉ sự lả lơi, tình tự ngoài vòng lễ giáo mà luân lý xưa ngăn cấm.

Như: Phường trăng gió chỉ hạng ăn chơi.

Hắt hiu cứ tưởng trăng cùng gió,

Mà để cho ai đến lỡ thì.

(Đạo Sử).

 

 

TRĂNG HOA

Trăng: Mặt trăng. Hoa (huê): Bông.

Trăng hoa, do chữ Hán “Nguyệt hoa 月 花”, dùng để chỉ việc trai gái ngắm trăng, xem hoa đặng đùa giỡn nhau bất chính.

Trăng hoa thường dùng trong văn chương để nói việc trêu hoa ghẹo nguyệt, về phong tình, về cuộc hội họp trai gái bất chính.

Trường đổ bác cũng đừng léo tới,

Phường trăng hoa hát bội khá từ.

(Giới Tâm Kinh).

Niềm âu yếm ai đâu rõ giá,

Vui trăng hoa dối trá là thường.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Dạy cho biết những điều đau đớn,

Của phụ nhân đặng tởn trăng hoa.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TRĂNG HUÊ

Hay “Trăng hoa”.

Trăng: Mặt trăng. Huê (hoa): Bông.

Trăng huê, như chữ “Trăng hoa”, là chỉ cảnh đẹp trước đám hoa, dưới ánh trăng thanh.

Trăng huê còn dùng để chỉ tình yêu nam nữ lãng mạn, ngoài vòng lễ giáo, mà luân lý hồi xưa ngăn cấm.

Xem: Trăng hoa.

Chừa mấy chốn lầu Tần quán Sở,

Thói trăng huê dầu lỡ đắm sa.

(Thơ Bảo Pháp).

 

 

TRĂNG KHUYẾT

Trăng: Mặt trăng nhìn thấy về ban đêm. Khuyết: hao mòn, không đầy đủ vì thiếu mất một phần.

Trăng khuyết là trăng vào những đêm hạ tuần tháng Âm lịch, mỗi đêm một khuyết dần.

Như: Vầng trăng khuyết treo lơ lửng giữa trời.

Những ngờ nước thấm đầu non,

Nào hay trăng khuyết hao mòn nhơn duyên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TRĂNG MẬT

Trăng: Mặt trăng. Mật: Chất nước có vị do các tuyến ở đáy một số hoa tiết ra.

Trăng mật, như chữ “Mật nguyệt 蜜 月”, dùng để chỉ những ngày đầu tiên vợ chồng mới cưới hưởng hạnh phúc.

Theo phong tục các nước Âu Mỹ, sau khi vợ chồng thành hôn trong khoảng một tháng, có thói quen hay uống mật ong hay mật đường cho nên gọi là mật nguyệt.

Trong thời kỳ mật nguyệt này vợ chồng thường hay đi chơi xa mà ta gọi là “Tuần trăng mật”.

Trăng mật vui tuần đầy hạnh phúc,

Xuân tươi, vợ trẻ đẹp đôi bề.

(Thơ Chơn Tâm).

Đuốc hoa rọi sáng tuần trăng mật,

Vàng đá ghi sâu nghĩa bạn đường.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

TRĂNG TÀ

Trăng: Mặt trăng, là một vệ tinh xoay quanh quả đất. Tà: Xế, nghiêng bóng.

Trăng tà là trăng đã nghiêng bóng, ý chỉ trời gần sáng. Nghĩa bóng chỉ tuổi đời đã già, sắp xế bóng.

Thánh giáo Thầy có câu: Nếu chẳng sớm xét mình, để buổi ác xế trăng tà, nước dời cạn bực, thuyền Bát Nhã đã lướt qua, nhành dương liễu hết rơi giọt từ bi thì ăn năn rất muộn.

Vườn trước ngơ trông cây liễu rũ,

Non xưa chạnh nhớ bóng trăng tà.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

TRĂNG THANH

Trăng: Mặt trăng, là một vệ tinh xoay quanh quả đất. Thanh 清 (thinh): Trong, không đục, không bợn.

Trăng thanh là trăng trong, tức vầng trăng chiếu sáng trong bầu trời không gợn mây đen.

Thành ngữ thường có câu: Trăng thanh gió mát.

Người hứng trăng thanh kẻ bụi vùi,

Âm dương cách trở chẳng cùng vui.

(Đạo Sử).

Gió mát trăng thanh lộc bốn mùa,

Ðổi cơm ra sức khỏi tiền mua.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

TRĂNG THINH

Hay “Trăng thanh”.

Trăng: Mặt trăng, là một vệ tinh xoay quanh quả đất. Thinh (thanh): Trong, không đục, không bợn.

Trăng thinh, như chữ “Trăng thanh”, là chỉ trăng soi sáng dưới bầu trời trong trẽo.

Xem: Trăng thanh.

Bước rẽ ngùi trông cơn ác xế,

Lời trao buồn nhớ lối trăng thinh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

TRẮNG

1.- Trắng là có màu như màu của bông, của tuyết, chưa nhuộm màu gì.

Thánh giáo Lý Giáo Tông có dạy: Ðầu Sư Nữ phái mặc một Ðạo phục y như Ðạo phục Ðầu Sư Nam phái, phải đội một Ni Kim Cô như các vãi chùa, toàn hàng trắng, chín dải, áo có thêu bông sen.

Trời Âu biển Á chờ thay sắc,

Sắc trắng mây lành phủ khắp nơi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Lọc lừa chớ để đen pha trắng,

Lui tới đừng cho bạc lộn chì.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Trắng là hoàn toàn không có hoặc không còn gì cả. Như: Tay trắng gầy nên sự nghiệp, của cải mất trắng.

Điếu văn Đức Thượng Sanh đọc trước Liên đài Tiếp Pháp Trương Văn Tràng có câu: Suốt 30 năm lăn lóc trong quan trường, vì bản tánh thanh cao mà đến ngày hồi hưu Ngài chỉ còn lại hai bàn tay trắng với một chồng sách triết học và Ðạo lý mà Ngài vẫn thường dùng làm món ăn tinh thần trên bước đường hành Ðạo.

Ðò đưa phút chịu vùi ba tấc,

Tay trắng phủi rồi một tuổi xuân.

(Đạo Sử).

 

 

TRẮNG ÁN

Trắng: Hoàn toàn không có gì cả. Án: Quyết định của Toà xử một vụ phạm tội.

Trắng án là bản án được Toà án đời hoặc trong tôn giáo xử là vô tội.

Như: Toà Tam giáo xử trắng án.

Chừng nào Toà Tam Giáo Hiệp Thiên cho trắng án, thì đặng thăng đẳng cấp như Chức Sắc Thiên Phong hữu công cùng Ðạo.

(Bát Đạo Nghị Định).

 

 

TRẮNG ĐEN

Trắng: Có màu như màu của bông, của tuyết, chưa nhuộm màu gì. Đen: Có màu như màu của than, của mực Tàu.

Trắng đen là màu trắng và màu đen, dùng để chỉ phải hay trái, đúng hay sai, cần phân biệt, tìm biết cho rạch ròi.

Như: Làm cho rõ trắng đen.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Mối chơn truyền của Ðức Chí Tôn đem Ðạo đến tại thế là mối dây liên lạc tương quan cùng các Tôn giáo trên Thế giới, đương nhiên cầm quyền nhơn loại bởi không có giềng mối kết liên với nhau thành ra chia rẽ, phân biệt trắng đen, hơn thiệt.

Ẩn nhẫn cho qua hồi khảo đảo,

Trắng đen hai lẽ tỏ làu làu.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

TRẮNG NGẦN

Trắng: Có màu như màu của bông, của tuyết, chưa nhuộm màu gì. Ngần: Màu trong trắng như bạc.

Trắng ngần là trắng và bóng, có vẻ tinh khiết và sạch sẽ. Như: Hạt gạo trắng ngần, nước da trắng ngần.

Xanh biếc điểm màu tòng lộn đảnh,

Trắng ngần lộng sắc nước soi gương.

(Thơ Hộ Pháp).

Thung dung đường đạo nhẹ đưa chân,

Phẩm giá nữ lưu tuyết trắng ngần.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

TRẮNG TRỢN

Trắng trợn là sỗ sàng trong cách ăn nói và hành vi.

Trắng trợn là ngang ngược đến mức bất chấp phép tắc, lẽ phải hay luật pháp.

Như: Ăn nói trắng trợn, luận điệu vu cáo trắng trợn, vi phạm trắng trợn những điều cam kết.

Vì có làm gì đâu mà có nên, có hư, trắng trợn như vậy thôi thì có gì mà trích điểm...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

TRẮP

Trắp, tức là cái tráp, hộp lớn vuông hình chữ nhật, có ngăn, có nắp, dùng để đựng giấy tờ hay các đồ vật khác.

Như: Trắp đựng bạc, Trắp trầu cau, người đàn bà xưa có bổn phận nâng khăn sửa trắp.

Nâng khăn trắp giải buồn quân tử,

Hầu tửu trà giấc ngủ không an.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TRÂM

Trâm là đồ trang sức của đàn bà dùng để cài lên mái tóc cho chặt. Như: Tuổi cài trâm, trâm cài lược giắt.

Trong Tuyện Kiều, Nguyễn Du có câu: Rút trâm sẵn giắt mái đầu, Vạch da cây vịnh bốn câu ba vần.

Khi lịch sắc trao trâm đáng giá,

Cơn tàn hoa, keo rã sơn rời.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Dầu cài trâm sửa trắp cũng nên xem,

Suy từ việc dạy thêm từ tiếng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TRÂM ANH

簪 纓

Trâm: Vật dùng để cài lên tóc, dành cho đàn bà lẫn đàn ông (ngày xưa đàn ông cũng để tóc dài). Anh: Cái dải mũ.

Trâm anh là biểu hiệu cho hạng nguời có quan tước áo mũ, dùng để chỉ con nhà quyền quý, hay người thế gia.

Như: Cậu ấy là con nhà trâm anh.

Hoàng ngọc điệp của trâm anh,

Tập tánh ôn phu đã tánh thành.

(Đạo Sử).

Thiếp hổ thân bồ liễu,

Ngày dựa cửa trâm anh.

(Tuý Sơn Vân Mộng).

 

 

TRÂM HỐT

簪 笏

Trâm: Vật để cài tóc. Hốt: Cái thẻ ngà của quan cầm để trước ngực. Hốt có đính một gương nhỏ dùng cho các quan soi mặt và ghi chép những điều tâu vua, những lệnh vua truyền.

Trâm hốt là vật của các quan trong triều đình, dùng để chỉ những hạng quan lại, quyền quý.

Ném xa trâm hốt đường muôn dặm,

Đổi rẻ công danh rượu một bầu.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

TRẤM TRƠ

Trấm trơ là trấm trất, ý nhấn mạnh đến tính trơ lỳ, chẳng hề có những biểu hiện thay đổi.

Như: Nói mãi mà anh ấy cứ trấm trơ hà, khác nào như nước đổ lá môn vậy.

Thuốc nào cũng thấy trấm trơ,

Vì là tâm bịnh bao giờ trị xong.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

TRẦM

1.- Trầm là do chữ “Trầm hương 沉 香” nói tắt, là một thứ gỗ có mùi thơm, dùng để xông khử trược.

Như: Gỗ trầm, đốt trầm hương, quạt trầm, xông trầm khử trược trước chánh điện.

Xem: Trầm hương.

Một kẻ Tiểu đồng phò Phất chủ,

Ðôi nàng Tiên nữ quạt hương trầm.

(Thiên Thai Kiến Diện).

2.- Trầm là chìm xuống. Như: Mạch trầm, lên bổng xuống trầm, thăng trầm.

Thánh giáo Bát Nương Diêu Trì Cung có câu: Khi Chí Tôn đem Dương quang ấm áp mà làm cho hoá sanh, thì cái khoảnh Âm quang phải thối trầm làm tinh đẩu, là cơ quan sanh hoá vạn linh.

Nhạn trầm có thuở nhạn cao bay,

Tài đức vinh huê cũng có ngày.

(Đạo Sử).

Ta than lỗi bậc cung cầm,

Nàng sầu lạc nhạn ngư trầm biển mê.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TRẦM ĐOÀN

沉 團

Trầm: Trầm hương, một loại gỗ có mùi thơm, dùng để đốt, xông khử trược. Đoàn: Vật có hình tròn.

Trầm đoàn là cái lư đốt trầm, tức là vật đựng gỗ trầm để xông hương khử trược.

Trầm đoàn khói toả năm mây,

Mùi hương phưởng phất thơm bay ngút trời.

(Thài Hiến Lễ).

 

 

TRẦM HƯƠNG

沉 香

Trầm: Trầm hương, một loại gỗ có mùi thơm, dùng để đốt, xông khử trược. Hương: Mùi thơm.

Trầm hương là cây trầm, một thứ gỗ có mùi rất thơm, khi bỏ xuống nước thì chìm. Người ta thường đốt gỗ trầm hương vào những dịp cúng tế.

Như: Nơi Chánh điện Đức Chí Tôn mùi trầm hương thơm phưng phức.

Ngào ngạt trầm hương bay phưởng phất,

Lạnh lùng gió tuyết thổi hiu hiu.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Trước thềm nguơn đán trầm hương ngát,

Ngưỡng cửa tân niên phúc lộc tràn.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

TRẦM KHA

沉 痾

Trầm: Chìm, lâu ngày. Kha: Bệnh.

Trầm kha là bịnh đã lâu ngày khó chữa trị, ý chỉ bịnh tình dây dưa rất nặng.

Trong Sớ Văn, bài cầu giải bệnh có câu: Thọ bệnh trầm kha, diệu dược bất năng thuyên dũ.

Bịnh trầm kha lâu ngày đã lậm,

Thuốc tiên hoàn gội tẩm cũng trơ trơ.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

TRẦM LẶNG

Trầm: Chìm, sâu, ngầm. Lặng: yên, tĩnh, không có tiếng động.

Trầm lặng là lặng lẽ, ít hoạt động, không có biểu hiện sôi nối bên ngoài. Như: Tính trầm lặng, ít nói.

Ngài Tiếp Pháp Trương Văn Tràng trong Giáo Lý có viết: Người có “Nhân” lúc nào cũng an vui, ung dung, tự tại, bình tỉnh, trầm lặng, mà luôn luôn trong lòng sẵn có một cái khiếu “Trực giác” mẫn huệ.

Tại sao Toà Thánh Tây Ninh vẫn trầm lặng, không nói lên ý kiến chi đối với thời cuộc, trong lúc các Tôn giáo khác đã có tiếng vang dội kêu gọi hoà bình cho đất nước.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

TRẦM LUÂN

沉 淪

Trầm: Chìm, chìm xuống nước. Luân: Chìm đắm.

Trầm luân là chìm đắm, ý nói con người sống ở thế gian tức là bị chìm đắm trong vòng sanh tử luân hồi, đau khổ từ đời này qua đời khác, không thể nào thoát ra được.

Như: Kiếp trầm luân, giải thoát khỏi nợ trầm luân.

Khối tình ái hương hồn dầu nhớ,

Tránh oan gia giải nợ trầm luân.

(Kinh Thế Đạo).

Hay nàng đặng nhập miền Cực Lạc,

Đoái tưởng người chưa thoát trầm luân.

(Kinh Thế Đạo).

Một câu thất đức thiên niên đọa,

Nhiều nỗi trầm luân bởi ngọn ngành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

TRẦM LUÂN KHỔ HẢI

沉 淪 苦 海

Trầm luân: Chìm đắm trong vòng sinh tử luân hồi. Khổ hải: Biển khổ, theo Phật, khổ đau của cong người trong cõi trần, nhiều như nước bốn biển, nên ví cõi trần là biển khổ.

Trầm luân khổ hải là chìm đắm trong biển khổ, ý nói con người mãi chịu cảnh khổ trong vòng luân hồi.

Từ con cách Mẹ phương trời,

Trầm luân khổ hải chơi vơi sóng trần.

(Tán Tụng Công Đức).

 

 

TRẦM MẶC

沉 默

Trầm: Chìm, kín đáo. Mặc: Lặng lẽ.

Trầm mặc là kín đáo lặng lẽ, tức có dáng vẻ im lìm, gợi cảm giác sâu lắng.

Như: Ngồi lặng với vẻ trầm mặc, cảnh rừng chiều trầm mặc quạnh hiu.

Cây ngô rụng cánh lá vàng,

Đâu đây trầm mặc đôi hàng quỳnh hoa.

(Phù Kiều Hận Sử).

 

 

TRẦM NỊCH

沉 溺

Trầm: Chìm. Nịch: Đắm đuối.

Trầm nịch là chìm đắm.

Phật cho rằng cõi trần là một biển khổ, người sống nơi cõi trần bị chìm đắm trong biển khổ.

Trầm nịch nghĩa bóng dùng để chỉ người mê muội, không giác ngộ.

Chí lâm thoát khỏi vòng trầm nịch,

Bể khổ lần qua một chiếc thuyền.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

TRẦM NGÂM

沉 吟

Trầm: Chìm xuống nước, sâu kính. Ngâm: Đọc với giọng ngân dài.

Trầm ngâm là có dáng vẻ đang suy nghĩ, nghiền ngẫm điều gì. Như: Ngồi trầm ngâm một mình.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ngồi trầm ngâm suy tưởng tôi xin thú thật, phần nhiều mấy anh mấy chị nơi quê hương của tôi, hẳn đã biết tôi từ thuở bé, anh chị thấy tôi truyền giáo tưởng tôi mê hoặc chúng sanh.

Đưa bông sen chứng minh cái thể,

Thích Ca thiền, môn đệ trầm ngâm.

(Báo Ân Từ).

 

 

TRẦM TĨNH

沉 靜

Trầm: Sâu, ngầm, không lộ ra. Tĩnh: Im lặng.

Trầm tĩnh là tỏ ra làm chủ được tình cảm và hành động của mình, không để cho có sự biến đổi đột ngột, không bối rối, nóng nảy.

Như: Gặp cảnh nguy nan mà anh ấy vẫn trầm tĩnh giải quyết êm xuôi.

Con thuyền Ðạo đương hồi sóng gió của bạo quyền, nhơn tâm xao động, Ðức Ngài là con người trầm tĩnh, liêm khiết.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

TRẦM TƯ MẶC TƯỞNG

沉 思 默 想

Trầm tư: Dáng vẻ đang hết sức tập trung suy nghĩ. Mặc tưởng: Ngồi im lặng mà tưởng đến.

Trầm tư mặc tưởng là ở trạng thái đang yên lặng, tập trung suy nghĩ một mình.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Cuộc hội đàm giữa hai bậc Thỉ tổ Nho Giáo và Ðạo Giáo không được tương đắc, vì lẽ Ðức Lão Tử thiên về mặt vô vi, dùng sự thanh tịnh an nhiên, trầm tư mặc tưởng để sưu tầm một chơn lý cao siêu thoát tục, còn Ðức Khổng Tử thì đương chen lộn trong xã hội, đem thuyết “Hình Nhi Hạ” tức là Nhân Nghĩa và luân thường mà phổ cập trong thiên hạ, chớ Ngài chưa chiêm nghiệm về võ trụ, định mạng, sinh tử tức là về “Hình Nhi Thượng Học”, một vấn đề mà 20 năm sau Ngài mới đề cập đến.

Trầm tư mặc tưởng huyền cơ,

Thoát thai thần hoá một giờ đắc minh.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

TRẦM TRỌNG

沉 重

Trầm: Chìm. Trọng: Nặng nề.

Trầm trọng là nặng nề nghiêm trọng. Như: Tình thế trầm trọng.

Thánh giáo Đức Hộ Pháp có câu: Nghiệp Đạo buổi nầy bị khủng hoảng trầm trọng từ Hiệp Thiên Đài lẫn Cửu Trùng Đài, vẫn thiếu Đại Thiên phong cầm quyền, quan trọng nhứt là bên hành pháp, quá thiếu thốn mà cũng quá bơ thờ. Chẳng lẽ sự tiến triển của Đạo tới đây phải đình trệ sao?

Bề ngoài coi chẳng vẻ chi trầm trọng, nhưng một ngày kia nếu chẳng rõ mà chế cải thì xuất tại trong mà loán ra ngoài.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TRẦM TRỒ

Trầm trồ là thốt ra lời khen ngợi với vẻ ngạc nhiên thán phục.

Như: Chị ấy vào phòng khách thấy bức tranh thêu cứ đứng nhìn và trầm trồ mãi.

Tông Đạo Tần Nhơn khéo điểm tô,

Văn phòng ai thấy cũng trầm trồ.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

TRÂN

1.- Trân, như chữ “Trưng”, là từ thường được dùng kết hợp với một số yếu tố tính chất, trạng thái để chỉ mức độ cao của tính chất, trạng thái ấy.

Như: Trời sáng trân, trồng đều trân, mặt sượng trân, đứng ngay trân, vẽ y trân.

Khai rồi Ngài múa cặp roi thần,

Chớp nhoáng hào quang chiếu sáng trân.

(Thiên Thai Kiến Diện).

2.- Trân là quý báu. Như: Trân bảo, trân châu, trân cam, trân trọng.

Thánh giáo Thầy có câu: Một điểm quang minh là một hồn người, là vật tối linh của Thầy trân trọng. Nếu con muốn làm lành thì gắng dạy mấy hồn ấy đặng hiền.

Châu trân ngọc báu quý trên đời,

Người thế trọng ưa khắp mọi nơi.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

Mình khoe tú cẩm kề mai biệu,

Sắc chói kỳ trân dựa liễu ve.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

TRÂN CAM

珍 甘

Trân: Quý giá. Cam: Ngon ngọt.

Trân cam là các loại thức ăn ngon ngọt, quý báu. Trân cam còn dùng để chỉ sự phụng dưỡng cha mẹ.

Người xưa cho rằng tình cốt nhục tương tàn như răng cắn lưỡi, nên có câu: Lý ưng cộng hưởng trân cam vị, Hà nhẫn tương tranh cốt nhục tình 理 應 共 享 珍 甘 味, 何 忍 相 爭 骨 肉 情. Nghĩa là: Lẽ nên cùng hưởng mùi ngon ngọt, Cốt nhục tranh nhau nỡ đoạn đành?

Cũng bởi Ðạo lầm nên mất nước,

Chịu nhiều khổ não lắm trân cam.

(Đạo Sử).

Cẩm phong nhụy đào thơ nở bóng,

Vẻ trân cam lồng lộng mùi thơm.

(Nhị Nương Giáng Bút).

Mặc người cha mẹ dể duôi,

Ngoại tông nương phận nếm mùi trân cam.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TRÂN TRỌNG

珍 重

Trân: Quý báu, đồ quý báu. Trọng: Nặng, xem trọng.

Trân trọng là tỏ ý quý, coi trọng.

Trân trọng còn có nghĩa là giữ gìn cẩn thận. Như: Vật kỷ niệm được giữ gìn trân trọng.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy vui vì các con thuận hoà cùng nhau; Thầy muốn cho các con như vậy hoài, ấy là một lễ hiến cho Thầy rất trân trọng.

Có phẩm phải lo trân trọng phẩm,

Quyền xô thành ngã dễ bao lần.

(Đạo Sử).

Trân trọng lấy hình hài dơ ố,

Còn thiêng liêng vô số tiếc thương.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Chẳng phải nhủ gái trai theo Khổng,

Cuộc giao hôn trân trọng sửa đôi điều.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TRẤN

1.- Trấn là một đơn vị hành chánh thời xưa, tức một khu vực cai trị ở địa phương, tương đương với một tỉnh bây giờ.

Như: Trấn Nghệ An, trấn Sơn Nam.

Chư hầu bốn trấn đều quy thuận,

Thiên ý nhân tâm hiệp cộng hoà.

(Thơ Thái Đến Thanh).

2.- Trong nền hành chánh của đạo Cao Đài, Trấn là khu vực hành chánh gồm nhiều Châu Đạo (tỉnh).

Người cẩm đầu một Trấn là vị Khâm Trấn, hay Khâm Trấn Đạo (thường là Giáo Sư), do Hội Thánh bổ nhiệm đến địa phương đó cai quản.

Xem: Trấn Đạo.

Hành Ðạo đâu cần dụng ngựa voi,

Miền Ðông Khâm Trấn đã nên mòi.

(Thơ Thượng Sanh).

3.- Trấn còn là một trong Tam Trấn.

Theo triết lý tôn giáo Cao Đài, ngoài các Đấng Giáo chủ Tam Giáo ra, còn có Tam Trấn Oai Nghiệm, đại diện cho Tam Giáo trong thời Tam Kỳ Phổ Phổ, đó là Nhứt Trấn Oai Nghiêm cầm quyền Phật Đạo Quan Âm Như Lai, Nhị Trấn Oai Nghiêm, cầm quyền Tiên Đạo, Lý Đại Tiên Trưởng (Thái Bạch Kim Tinh) và Tam Trấn Oai Nghiêm, cầm quyền Thánh Đạo Quan Thánh Đế Quân.

Nam Mô Tam Trấn Hư Vô,

Oai Nghiêm độ rỗi Cao Đồ quy nguyên.

(Kinh Tận Độ).

4.- Trấn còn có nghĩa áp, giữ, làm cho yên.

Như: Trấn nhiệm, trấn áp yêu quái, trấn thần Thánh tượng Thiên Nhãn.

Ấy là Bí Pháp trấn tại Thiên Hỷ Động Trí Huệ Cung.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

TRẤN AN

鎮 安

Trấn: Đè nén, giữ cho yên. An: Yên ổn.

Trấn an là giữ gìn cho yên ổn.

Trấn an còn có nghĩa là làm cho yên lòng, hết hoang mang lo sợ.

Như: Trấn an nhơn tâm, sau trận chết chóc người dân quanh vùng được chánh quyền trấn an tinh thần.

Nhờ đức trầm tĩnh tuỳ thời của Ngài trấn an được nhân tâm và uyển chuyển tuỳ cơ bảo thủ nghiệp Ðạo.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

TRẤN ÁP

鎮 壓

Trấn: Đè nén, giữ cho yên. Áp: Đè, nén, ngăn giữ.

Trấn áp là dẹp các sự chống đối bằng cách dùng bạo lực hoặc uy quyền.

Như: Trấn áp cuộc nổi dậy của tù nhân.

Không trấn áp là vì nguyên tắc,

Bởi lòng nhân luật sắc Pháp triều.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

 

 

TRẤN ĐẠO

鎮 道

Trấn: Một khu vực hành chánh. Đạo: Tôn giáo.

Trấn Đạo là tên một khu vực hành chánh của đạo Cao Đài, gồm nhiều Châu Đạo (Tỉnh Đạo).

Vị Khâm Trấn Đạo thường được Hội Thánh bổ nhiệm một vị chức sắc vào phẩm Giáo Sư để trông coi một Trấn Đạo.

Trấn Đạo vẻ vang nhờ tín hữu,

Thuần phong tô điểm sẵn Nho gia.

(Thơ Thượng Cảnh Thanh).

 

 

TRẤN NHẬM

Hay “Trấn nhiệm”.

Trấn: Đè nén, giữ cho yên. Nhậm (nhiệm): Gánh vác, đảm nhận một công việc.

Trấn nhậm, như chữ “Trấn nhiệm 鎮 任”, là nói vị quan hay vị chức sắc của tôn giáo được bổ đến một địa phương nào đó giữ một nhiệm vụ làm cho nhân dân nơi ấy được yên ổn.

Thánh giáo của Thần Hoàng Bổn Cảnh có câu: Từ thuở ta vâng chiếu chỉ đến trấn nhậm nơi đây, ta một tấm lòng lo cho lê thứ đặng an cư lạc nghiệp, thạnh vượng mùa màng, mỗi mỗi đều hằng lo lắng cho chúng sanh nơi phần trách nhậm.

Vâng lịnh nên ông phải thượng hành,

Biên Hoà trấn nhậm độ nhơn sanh.

(Thơ Thái Đến Thanh).

 

 

TRẤN PHÁP

鎮 法

Trấn: Đè nén, giữ cho yên. Pháp: Bửu pháp, tức những vật thiêng liêng mầu nhiệm của các Đấng Tiên Phật.

Trấn pháp là đem những bửu pháp thiêng liêng huyền diệu ra để trấn giữ.

Vào ngày 15 tháng chạp năm Canh Dần, Đức Hộ Pháp trấn pháp tại Thiên Hỷ Động, Ngài lấy hai món bửu pháp là Long Tu Phiến của Thượng Phấm và Kim Tiên của Ngài hiệp với ba vòng Vô Vi, gọi là Diệu Quang Tam giáo để trấn tại Trí Huệ cung.

Ngày mai nầy Trấn Pháp Thiên Hỷ Động Trí Huệ Cung. Bần Đạo lấy làm mừng đã làm tròn phận sự đặc biệt của Bần Đạo.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

TRẤN TÂM CHI BỬU

鎮 心 之 寶

Trấn tâm: Làm cho tâm được yên ổn không sợ sệt, không lo lắng. Chi bửu: Ấy là quý báu.

Trấn tâm chi bửu là của báu để trấn tâm, tức vật quý báu để làm cho tâm được yên ổn, không bị vọng động làm điều sái quấy.

Đề bốn chữ “Trấn tâm chi bửu” nghĩa là của báu để trấn tâm...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

TRẤN THẦN

鎮 神

Trấn: Đè nén, giữ gìn cho yên. Thần: Phần thông sáng linh diệu trong người, là sự mầu nhiệm bí yếu của Trời đất.

Trấn Thần là một bí pháp đặc biệt của đạo Cao Đài, dùng phép huyền diệu của Đức Chí Tôn để tẩy trừ trược điển và dùng thần án giữ để tà quái không xâm nhập khuấy phá.

Đức Hộ Pháp, các vị Thời Quân, hoặc các vị Chức sắc Hiệp Thiên Đài thường đứng ra hành pháp để Trấn Thần các vật sau đây:

- Trấn Thần các Thánh Tượng Thiên Nhãn, chữ Khí, hay các Long Vị của Tam Giáo, Tam Trấn, Ngũ Chi Đại Đạo.

- Trấn Thần chữ thờ nơi Điện Thờ Phật Mẫu, chư Chơn Linh nam phái và nữ phái.

- Trấn Thần áo mão chức sắc.

- Trấn Thần Tam bửu khi cúng Đàn tại Toà Thánh, trước lúc lễ sĩ điện dâng lên Đức Chí Tôn.

Đền Thánh khi xưa vừa được xây dựng xong, Đức Hộ Pháp có đến Trấn Thần các bửu tượng như: Tượng Đức Phật Di Lạc, tượng Đức Quyền Giao Tông Lê Văn Trung, tượng Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh, hai pho tượng Ông Thiện, Ông ác, hoặc Hình Tam Thánh tại Tịnh Tâm Điện Toà Thánh.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có dạy Ngài Thái Bính Thanh như sau: Hình Phật Thích Ca trước Hiệp Thiên Ðài đó phải làm thế nào cho đừng hư gãy, vì Chí Tôn đã trấn Thần chính nơi tay Người, nghe!

Lễ Trấn Thần đâu còn khối đá,

Nghi thờ Trời chính đó khuôn linh.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

TRẤN THỦ

鎮 守

Trấn: Đè nén, giữ cho yên. Thủ: Gìn giữ.

Trấn thủ, như chữ “Trấn giữ”, là gìn giữ, bảo vệ nơi xung yếu chống mọi sự xâm nhập.

Như: Đóng quân trấn thủ ở nơi của ngõ biên thùy, xây hàng rào xung quanh để trấn thủ nhà cửa.

Chào chư vị Thiên Phong Hiệp Thiên Ðài và Hương Lự Hiền Muội. Chư vị cứ thiết đàn có ta trấn thủ.

(Bát Đạo Nghị Định).

 

 

TRẦN

1.- Trần là bày đặt, bày tỏ. Như: Trần tình mọi việc, phân trần trước đám đông.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Họ phân trần với Bần Ðạo như vầy: “Tình trạng của chúng tôi như vầy mà lên án chúng tôi là thực dân chúng tôi không biết làm thế nào” mà nói họ thực dân hỏi vậy mình chưởi ai?

Sở Vương nghe sứ phân trần,

Báu xưa vui trả, xưng thần bãi đi.

(Báo Ân Từ).

2.- Trần là bụi bặm. Như: Phong trần, tẩy trần, trần ai, trần cấu.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Ngày nầy năm trước, các con vẫn còn mơ màng trong giấc mộng trần, đường co duỗi vẫn đã lấp kín chút bợn trần, mà màn thế tục cũng chưa trông khoả vén.

Bảy dây oan nghiệt hết ràng,

Bợn trần rửa sạch muôn ngàn đau thương.

(Kinh Tận Độ).

3.- Trần còn dùng để chỉ cõi đời, cõi phàm, tức cõi con người đang sống.

Như: Phàm trần, trần tục, con người là khách trần, trần gian là cõi khổ.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Kẻ phàm dầu ly hương thuở ấu xuân đi nữa, lòng hằng hoài vọng. Chí Thánh dầu bị đoạ trần, lòng hỡi còn nhớ hoài nơi Tiên cảnh. Nếu chẳng vậy, ai còn dám ưng thuận hạ thế cứu đời?

Trần khổ dầu ai chơn muốn lánh,

Ngày thành Chánh quả có bao lâu?

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

TRẦN AI

塵 埃

Trần: Hạt bụi đất. Ai: Loại bụi nhỏ.

1.- Trần ai là chỉ bụi bặm, dùng để nói về sự đau đớn, khổ sở, chỉ về nơi hiểm nghèo.

Như: Phải làm trần ai lắm mới kiếm được miếng cơm manh áo hằng ngày.

Nước dương rưới sạch trần ai cũ,

Bờ giác nương theo nguyệt rọi làu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Ngoài ra, chữ “Trần ai 塵 埃”, còn dùng để chỉ thế gian, tức cõi con người đang sống.

Như: Sống trên trần ai, mọi người đều phải khổ.

Cõi thảm khổ đã vừa qua khỏi,

Quên trần ai mong mỏi Động Đào.

(Kinh Tận Độ).

Thường xem khí số biết Thiên Cơ,

Hết kiếp trần ai cõi ở nhờ.

(Đạo Sử).

 

 

TRẦN CẤU

塵 垢

Trần: Bụi bặm. Cấu: Cáu bẩn, nhớp nhúa.

Trần cấu là đất bụi, nhơ bẩn, tức chỉ những cái xấu xa, dơ bẩn của thế gian.

Như: Người tu hành phải làm sạch lần thân trần cấu.

Nhẩng lo trọng tước cao quyền,

Đem thân trần cấu gieo miền trầm luân.

(Ngụ Đời).

Trừ trần cấu, xủ phất trần,

Quen bờ biển trí, dựa gần non nhân.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Mảng lo sánh của so tài,

Vùi thân trần cấu đua bơi giựt giành.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

TRẦN DUYÊN

塵 緣

Trần: Bụi bặm, chỉ cõi đời. Duyên: Dây ràng buộc.

Trần duyên là có căn duyên nơi cõi trần, tức là có mối dây ràng buộc một con người với cõi thế gian.

Do có mối duyên với cõi trần này, nên con người phải chịu sự luân hồi sinh tử.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có dạy: Thầy để lời cho các con biết rằng: Nhiều Thánh, Tiên, Phật, xuống phàm, nếu căn quả tiền khiên không mấy trọng hệ, nghĩa là kiếp trần duyên không chi phải nhơ bợn nhiều thì dầu không Thiên phong, hễ gắng tâm thiện niệm thì địa vị cũng đạt hồi đặng.

Diệt tục kiếp trần duyên oan trái,

Chưởng Đào tiên thủ giải trường tồn.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

Nhẹ bề gia đạo dồi tâm đạo,

Dứt mối trần duyên kết thiện duyên.

(Thơ Thuần Đức).

Đoạn xong oan trái về non Tuý,

Dứt hẳn trần duyên đến đảnh Bồng.

(Thơ Cao Tiếp Đạo).

 

 

TRẦN ĐOÀN

陳 摶

Trần Đoàn biệt hiệu là Hi Di, người đời Tống, tu thành một vị Đại Tiên, có nhiều thần thông biến hoá, ở ẩn trong Hoạ Sơn.

Tương truyền rằng Trần Đoàn có khi ngủ luôn một giấc đến một trăm ngày mới dậy.

Có lần Triệu Khuông Dẫn biết được Trần Đoàn là một cao thủ về cờ, bèn tìm đến lấy núi Hoạ Sơn để thách đấu, cuối cùng Trần Đoàn đã đánh bại Khuông Dẫn. Sau này khi Triệu Khuông Dẫn lên ngôi hoàng đế, Trần Đoàn nghe tin bèn đến đòi nợ cũ. Không ngờ Triệu Khuông Dẫn vẫn giữ lời, không những giao cho Trần Đoàn núi Hoa Sơn mà còn miễn thuế cả năm.

Cuộc chơi nhớ lại xưa Khuông Dẫn,

Thua nhượng Trần Đoàn ngọn Hoạ San.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

TRẦN GIAN

塵 間

Trần: Bụi bặm. Gian: Khoảng, cõi.

Trần gian có nghĩa giữa khoảng đời đầy cát bụi, tức cõi đời, cõi thế gian, ý muốn nói khác với cõi tịnh là cõi Tiên, Phật. Như: Còn nặng nợ trần gian.

Bài Điếu văn của Ngài Hiến Đạo Đại diện Hiệp Thiên Đài đọc trước Liên đài Đức Thượng Sanh có câu: Những tưởng người dường ấy, đức dường ấy, Ơn Trên còn lưu lại trần gian để gần gũi chúng ta, khuyến khích và chỉ bảo chúng ta trên bước đường tu học.

Xem: Trần thế.

Chuyển thân trở lại trần gian,

Sanh làm trâu chó đội mang lông sừng.

(Kinh Sám Hối).

Sắm nghiệp trần gian còn phải khó,

Lựa là nghi trưởng tại Bồng Sơn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Lời vàng nhắn hỏi khách trần gian,

Một nẻo đường Tiên đáng mấy ngàn.

(Đạo Sử).

 

 

TRẦN HOÀN

Trần: Bụi bặm, chỉ thế giới chúng ta đang ở. Hoàn: Khu vực rộng lớn.

Trần hoàn là chỉ cõi đời đầy bụi bặm mà con người chúng ta đang sống.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Chúng ta đã thấy trường đời tranh đấu nhau, sang hiếp hèn, giàu hiếp nghèo, mạnh hiếp yếu, trí hiếp ngu, đã quên hết tình bạn đồng sanh, tức nhiên chúng ta đứng giữa trần hoàn nầy đồng chịu thảm khổ như nhau.

Xủ áo trần hoàn đã rảnh tay,

Thung dung nhờ núp bóng Cao Ðài.

(Đạo Sử).

Đạo chồng vợ duyên Trời đã buộc,

Giữa trần hoàn gây cuộc tang thương.

(Phương Tu Đại Đạo).

Nhắn bạn trần hoàn tua vẹn bước,

Khuôn linh một dạ chẳng hai lòng.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

TRẦN HUỜN

Hay “Trần hoàn”.

Trần: Bụi bặm, chỉ thế giới chúng ta đang ở. Huờn (hoàn): Khu vực rộng lớn.

Trần huờn, như chữ “Trần hoàn 塵 寰”, là chỉ cõi thế gian mà con người chúng ta đang ở.

Xem: Trần hoàn.

Quy Thế giới ư nhứt khí chi trung,

Ốc trần huờn ư song thủ chi nội.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

 

 

TRẦN LỔ

Trần: Để lộ mình, không mặc áo quần. Lổ: Trần truồng, như ăn lông ở lổ.

Trần lổ là thân trần truồng, không có quần áo để che thân cho kính đáo.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy: Ấy vậy, Ðạo là vật rất hữu ích, như giáp hữu ích cho thân các con. Nếu các con bỏ giáp thì thân các con ra trần lổ, còn bỏ Ðạo thì các con ở dưới phép tà thần.

Như người trần lổ đi đầu chợ,

Như kẻ mang gông muốn nhảy rào.

(Đạo Sử).

Thuyền trôi lố xố người trần lổ,

Tuyết bủa giăng giăng thú lạnh lùng.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

TRẦN LUỴ

塵 累

Trần: Bụi, chỉ cõi trần. Lụy: Ràng buộc.

Trần luỵ là cái lụy ở đời, tức những điều ràng buộc ở cõi thế gian, cũng dùng để chỉ cõi thế gian.

Như: Còn trong trần lụy, biết ai vương bá, ai công hầu.

Tử sanh âu cũng vòng trần luỵ,

U hiển cam đành cuộc sống riêng.

(Thơ Hoài Tân).

 

 

TRẦN PHỒN

陳 蕃

Trần Phồn là vị quan Thái thú đời nhà Hán, thường treo tại quận lỵ một cái chõng không để cho ai nằm. Tuy nhiên đối với Từ Trĩ là một người bạn chí thân và đáng kính của Phồn, ông lấy lễ tiếp đãi Từ Trĩ, bằng cách hạ chiếc chõng xuống cho bạn nằm.

Từ Trĩ, tự là Nhũ Tử, người Nam Xương, đời Đông Hán, nhà rất nghèo, thường tự cày cấy để sinh sống. Ông được tiến cử nhiều lần, nhưng không chịu ra làm quan, ở ẩn trong một ngôi nhà nhỏ. Người đương thời gọi ông là Nam Châu Cư Sĩ.

Thảo nào Bá Tử ôm đàn đập,

Chớ trách Trần Phồn xếp chõng treo.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

TRẦN TÌNH

塵 情

Trần: Bụi bặm, chỉ cõi trần. Tình: Tình cảm.

Trần tình là tình cảm của con người ở cõi thế gian.

Theo Phật, trần là cõi uế trược, nên những thứ tình cảm của con người đối xử với nhau nơi cõi ấy cũng xấu xa ô trược. Trong Giáo lý Phật chia tình cảm con người ra làm bảy thứ, gọi là Thất tình: Đó là: Hỷ (mừng), Nộ (giận), Ái (yêu), Ố (ghét), Ai (buồn), Lạc (vui) và Dục (muốn). Xem: Thất tình.

Cửa Tây Phương khá bay đến chốn,

Diệt trần tình vui hưởng tiêu diêu.

(Kinh Tận Độ).

Khá từ bỏ xa dòng bể khổ,

Diệt trần tình Cam Lộ tẩy nhơ.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

TRẦN TỤC

塵 俗

Trần: Bụi bặm, chỉ cõi Thế gian. Tục: Thấp kém.

Trần tục là cõi đầy bụi bặm, cõi thấp kém, chỉ cõi thế gian mà con người đang sống. Như: Thoát vòng trần tục.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Ngày giờ thôi thúc mà các con còn dụ dự giữa chừng. Nền Ðạo cao thâm là mấy, chí phàm không thấu lý sâu, nếu các con chẳng ra khỏi vòng trần tục thì các con chẳng là luống công theo Thầy kể đã đầy năm.

Lánh đường trần tục đến non Tiên,

Lấy nước nhành dương tưới lửa phiền.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Trần tục là nơi chỗ biển buồn,

Nghe nơi Ðại Ðạo rán nghe luôn.

(Đạo Sử).

Muôn lằn sóng thảm nơi trần tục,

Ngàn dặm bước nhàn tách gió mây.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

TRẦN THẾ

塵 世

Trần: Bụi bặm, chỉ thế gian, nơi chúng ta đang sống. Thế: Đời, cõi đời.

Trần thế là cõi đời nhơ bụi, tức cõi thế gian.

Như: Người trần thế mấy ai không lỗi, Phật cho rằng cõi trần thế là một bể khổ.

Trần thế hầu gây náo nhiệt trường,

Lánh nguy nguồn Ðạo vẹn tìm phương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðạo mầu rưới khắp nơi trần thế,

Ngàn tuổi muôn tên giữ trọn biên.

(Đạo Sử).

trần thế phẩm người nhiều hạng,

Phải trí mưu tính toán liệu vừa đôi.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TRẬN

1.- Trận là cơn, đợt diễn ra mạnh mẽ, dữ dội của một hiện tượng tự nhiên, xã hội hoặc sinh, tâm lý nào đó. Như: Trận bão, trận đói, trận lôi đình.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Một trận giông thoáng qua làm cho mặt nước trường giang phải xao động, nhưng tàn cơn gió lốc mặt sông vẫn trở về với sự phẳng lặng, yên tịnh của nó như bình thường.

Thảnh thơi đâu buổi nước non nhà,

Nam đảnh hầu xem trận gió qua.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

Muốn mua vui trong một trận cười,

Nào dè vợ một nơi chồng một ngả.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Trận là cuộc đánh giặc. Như: Ra trận, trận giặc, trận đánh, lập trận.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Hiền hữu biết rằng trong trận trí binh nầy, nếu không đủ tài tình oai dõng thì chẳng hề thắng đặng.

Bình Dương lập trận sờ sờ,

Cả chư vạn quốc dựng cờ chiến tranh.

(Thất Nương Giáng Bút).

 

 

TRẬN CƯỜI NGÀN VÀNG

Trận: Một cơn. Cười: Nhếch môi, miệng lộ sự vui vẻ. Ngàn vàng: Nghìn lượng vàng.

Trận cười ngàn vàng, do câu “Nhất tiếu thiên kim 一 笑 千 金” tức một tiếng cười đáng giá ngàn vàng.

Điển tích: Bao Tự là người vợ sủng ái của Châu U Vương, nàng rất đẹp, nhưng luôn luôn ủ dột. Muốn làm vui người đẹp, U vương truyền xuất kho lấy lụa xé cho Bao Tự nghe, mặt nàng hơi tươi chứ không cười. Theo kế Quách Thạch Phủ, U Vương cho đốt Phong Hoả đài, chư hầu khắp nơi thấy hiệu lịnh, tưởng có giặc đánh vào Kinh Đô, liền kéo quân về cứu viện. Đến nơi mới biết mắc lừa, tiu nghĩu kéo quân về. Bao Tự ngồi trên lầu uống rượu cùng với U Vương, thấy vậy cả cười. Về sau, có giặc đánh Kinh Thành thật, U Vương sai người đốt lửa báo hiệu, các chư hầu không đem quân về tiếp cứu.

Xem: Bao Tự.

Liếc mắt ngó vào trường phong nguyệt,

Mua trận cười nào tiếc ngàn vàng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TRẬN CHIẾN GOM NHỎ LẠI

Đây là trận chiến giữa Đức Quyền Giáo Tông trong pháp thân Lý Ngưng Dương với Kim Quang Sứ.

Trong “Con đường Thiêng Liêng Hằng Sống”, Đức Hộ Pháp có kể lại khi Ngài kỵ vân xa đi ngang qua Ngọc Hư Cung đến Cực Lạc Thế Giới thì bị Kim Quang Sứ chận lại, liền có Đức Quyền Giáo Tông với pháp thân của Lý Thiết Quả cầm gậy nhảy vào chiến đấu.

Hai bên đánh nhau rất lâu, càng ngày càng dữ dội, mặt trận lan rộng Càn khôn Thế giới, Đức Hộ Pháp mới cầm cây Kim Tiên vẽ vòng gom nhỏ lại, làm cho Kim Quang Sứ bị Lý Ngưng Dương một gậy hoá hào quang bay mất.

Trận chiến nhờ Thầy gom nhỏ lại,

Giáp công bọn chúng chịu tan tành.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

TRẬT

1.- Trật là không đúng, không trúng, sai khớp, sai đường, chệch ra ngoài.

Như: Làm trật bài toán, bị ngã trật xương, xe lửa chạy trật bánh.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Như chấp cơ mà mê thì Chơn thần ra trọn vẹn khỏi xác. Thầy mới dạy nó viết chữ chi đó, nó đồ theo, Thầy nói tên chữ, xác nó cầm cơ viết ra, người đọc trật chữ, nó nghe đặng, không chịu, Thầy buộc viết lại và rầy kẻ đọc trật ấy.

Nói trúng cha mầng vội nâng niu,

Còn trật lại ra chiều buồn bực.

(Phương Tu Đại Đạo).

Sợ Bần Đạo dịch ra có trật,

Cứ nguyên văn viết tất ra đây:

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Trật là tầng, bậc. Như: Phẩm trật, ngạch trật, thăng trật, trật tự.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có câu: Các con coi đó thì đủ hiểu, các phẩm trật của các con nó nhiều là dường nào, song ấy là phẩm trật Thiên vị.

Thầy cậy mượn ai không lòng vụ tất,

Mà làm công đoạt phẩm trật mình.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

 

 

TRẬT TỰ

秩 序

Trật: Thứ tự. Tự: Vị thứ.

Trật tự là có thứ tự trên dưới, trước sau. Như: Sắp xếp bàn ghế có trật tự.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Thế nào gọi là tu thân? Tu thân là đem trật tự lại trong con người, sửa ngay ngắn lại những gì chênh lệch, chấn chỉnh lại những gì gian tà, đổi ra thành thật những gì giả dối.

Ðiều hoà trật tự càn khôn,

Chuyển luân định vị bát hồn tuyển thăng.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

TRÂU

Trâu là loài động vật nhai lại, sừng rỗng và cong, lông thưa và thường đen, ưa dầm nước, nuôi để lấy sức kéo, ăn thịt hay lấy sữa.

Như: Trâu cày ngựa cỡi, sức khoẻ như trâu, làm thân trâu ngựa.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Có khó gì đâu mà không hiểu: Ðứa học trò ngồi trong lớp thấy ông quan vô, có kỉnh sợ chi đâu, mà tự nói thầm rằng: Ông làm quan được trước, tôi cũng sẽ làm quan được, trừ ra khi nào ném sách vở ra chăn trâu, thì mới hết phương làm được.

Heo trâu thân thể mạt hèn thay,

Mãn kiếp lại còn bị xẻ thây.

(Giới Tâm Kinh).

Vạc ngã người đày trâu ngựa kéo,

Gia tàn yến rủ gió mưa tuông.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

TRẦU

1.- Trầu là một loại cây leo, thường trồng thành giàn, lá hình tim, có mùi hăng, dùng để nhai cho thơm miệng.

Theo phong tục từ xưa, người ta lấy lá trầu đã têm vôi, dùng để nhai cùng với cau cho thơm miệng, đỏ môi.

Như: Miếng trầu là đầu câu truyện.

Lời khen miệng thế quý chi đâu,

Bất quá như son lộn bã trầu.

(Đạo Sử).

2.- Trầu và rượu hoặc khay trầu rượu thường để dùng để chỉ việc lễ nghĩa.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Lâu lâu nữa tháng hoặc một tháng, hễ nghe đứa nào thất Đạo, thì mời nó đến để lấy lời giáo hoá, nếu nó không nghe, mấy anh mấy chị dầu có trầu rượu lạy nó, đặng đền cái hiếu cái nghĩa cho Tổ Phụ, chúng ta tưởng cũng không phải hổ mà.

Nghèo dầu lễ cưới nhau sơ sịa,

Miếng trầu thô chung rượu lạt cũng nên tình.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TRE

Tre là loài cây có thân cứng rỗng ở lóng, đặc ở mấu, mọc thành bụi, thường dùng để làm nhà và đan lát.

Như: Luỹ tre làng, nhà cột tre, chẻ lạt tre, thuyền san sát như lá tre.

Trong quyển Thiên Đạo, hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có viết: Cơ là vật dùng để thỉnh Tiên, làm bằng tre đan như cái giỏ dài; ngoài phất giấy vàng, có cán; trước cán thường khắc đầu chim loan; một cây cọ bằng mây hoặc bằng tre cắm trước cán để viết trên ván hay trên cát.

Miệng chào lại nhủ mặc Tiên y,

Mời đến Rừng tre hội cuộc kỳ.

(Thiên Thai Kiến Diện).

Ôm tre khóc Mạnh Tông hiếu mẹ,

Động lòng Trời đất nẻ giò măng.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

TRE TÀN MĂNG MỌC

Tre tàn: Cây tre già, rồi tàn lụi. Măng mọc: Măng tre từ gốc lại mọc lên.

Thành ngữ “Tre tàn măng mọc” có nghĩa cây tre trải qua một thời gian lâu, già đi, rồi tàn, măng lại mọc lên thành cây tre khác, ý nói luật đào thải và sự tiến hoá, tức người già chết đi người trẻ tấn lên.

Như: Luật tiến hoá của con người là tre tàn măng mọc.

Tre tàn măng mọc cuộc đời in,

Ðánh lận mưu sâu khá giữ mình.

(Đạo Sử).

 

 

TRẺ

1.- Trẻ là chỉ những đứa bé còn nhỏ tuổi. Như: Trẻ con, đứa trẻ, nuôi dạy trẻ.

Thánh giáo Thầy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Ôi! Lốt Ðạo, lốt Ðạo! Thầy buồn cho trẻ ngây, chẳng còn biết làm sao đem Thánh giáo vào tai chúng nó được.

Dạy trẻ con toan trước dạy mình,

Cái công giáo hoá cũng đồng sinh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Vú mẹ chưa lìa đám trẻ con,

Ðộ sanh chưa rõ phận vuông tròn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Trẻ là non, còn ít tuổi, trái với già. Như: Tuổi trẻ, trai trẻ, thời trẻ, thế hệ trẻ.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Nơi bến chợ đời, người ta không còn trông thấy sự cấu xé giết hại nhau vì một miếng ăn hay mảnh áo. Lễ nghĩa ngập tràn trong xã hội, trẻ biết kính già, lớn biết thương nhỏ, đi đường nhường bước, của rơi không mất. Kẻ nghèo khó được đỡ nâng, thì đạo tặc phải vắng bóng.

Ví bằng ai hỏi sao bao nả?

Rằng trẻ noi sau biến hoá già.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Cam La trước trẻ đã công hầu,

Bảy chục Khương Công nhẫn nhắp câu.

(Đạo Sử).

 

 

TRẺ BÉ

Trẻ: Chỉ những đứa bé còn nhỏ tuổi. Bé: Nhỏ, rất ít tuổi, non trẻ.

Trẻ bé, như chữ “Trẻ con”, là chỉ đứa trẻ còn ít tuổi. Như: Nó tuy lớn tuổi rồi nhưng tính tình y như trẻ bé.

Thầy lấy đức háo sanh mà dìu dắt các con chẳng khác nào như kẻ làm cha nưng niu dạy dỗ một trẻ bé...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TRẺ CON

Trẻ: Đứa nhỏ còn ít tuổi. Con: Đứa bé nhỏ.

Trẻ con là chỉ đứa trẻ còn ít tuổi. Trẻ con còn có nghĩa là dại, khờ như đứa trẻ. Như: Đùa giỡn với trẻ con bên hàng xóm.

Thánh giáo Thầy có dạy: “Chiêu kỳ trung độ dẫn hoài sanh” nghĩa là gì? Dầu cho trẻ con trong bụng cũng phải độ, sao các con lại đuổi thiện nam tín nữ?

Vú mẹ chưa lìa đám trẻ con,

Ðộ sanh chưa rõ phận vuông tròn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Dạy trẻ con toan trước dạy mình,

Cái công giáo hoá cũng đồng sinh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nầy là hình ảnh của chàng,

Nầy là tiếng khóc của đàn trẻ con.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TRẺ EM

Trẻ: Đứa nhỏ còn ít tuổi. Em: Từ dùng để chỉ người còn nhỏ tuổi.

Trẻ em, như chữ “Trẻ con”, chỉ đứa trẻ còn ít tuổi. Như: Chăm sóc bà mẹ và trẻ em.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Cái công khó dạy dỗ trẻ em không phải đợi đổi một món thù lao tương đối như ở mặt đời, mà chỉ do nơi chí nhiệt thành phục vụ để góp phần công quả vào cuộc xây dựng về tinh thần đối với Ðại nghiệp của Ðạo.

Xem: Trẻ con.

Lại nữa, chẳng phải lo việc chết thôi, còn phải lập nhà thương, nhà nuôi trẻ em, trường học...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

TRẺ THƠ

Trẻ: Đứa bé, đứa nhỏ. Thơ: Ngây thơ, khờ dại.

Trẻ thơ là trẻ con, hàm ý chỉ đứa trẻ còn thơ ngây và khờ dại. Như: Tâm hồn của nó còn trẻ thơ lắm.

Huấn từ Đức Thượng Sanh trong lễ Bãi trường và Phát thưởng tại Đạo Đức Học Đường có câu: Tôi tin rằng Ban Giám Ðốc và Giáo viên có thể nung đúc trí não của trẻ thơ theo đường lối đạo đức, thế nào cho chúng được hấp thụ một nề nếp lễ giáo thuần tuý xứng đáng là những học sinh khuôn mẫu được đào tạo nơi một học đường của Hội Thánh.

Ngọc Hư định phép cũng nhiều,

Phái Vàng Mẹ lãnh dắt dìu trẻ thơ.

(Tán Tụng Công Đức).

Đêm thanh vắng chớ toan mưu dối,

Xúi trẻ thơ lầm lỗi ngỗ ngang.

(Kinh Sám Hối).

Đại Từ Phụ xin thương khai khiếu,

Giúp trẻ thơ học hiểu văn từ.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

TRẺ TRUNG

Trẻ: Đứa nhỏ còn ít tuổi. Trung: Giữa.

Trẻ trung là con trẻ, tỏ ra trẻ hay có những biểu hiện của tuổi trẻ.

Như: Nó đã năm mươi tuổi rồi chứ còn trẻ trung gì, tâm hồn trẻ trung của cô ấy.

Hại thay! Có nhiều kẻ trẻ trung, còn ông Joseph buổi nọ đã quá 50 tuổi cũng phải chịu theo luật cưới ấy.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

TREO

1.- Treo là buộc lủng lẳng, vắt vào cái gì ở lưng chừng. Như: Treo cờ, treo áo, chó treo mèo đậy.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Ðời người qua thấm thoát như cửa sổ thoát vó câu, như ngọn đèn treo trước gió, người tu hành chẳng nên bỏ mất thì giờ, phải mau chơn tiến bước trên đường nghĩa vụ.

Móc nhọn vắt treo mình nhỏng nhảnh,

Cối đạp đồng rất mạnh giã dần.

(Kinh Sám Hối).

Màn Trời mây khoả muôn sao lố,

Thuyền Ðạo buồm treo một sắc phơi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Treo là nêu lên. Như: Treo mắt bướm ong, treo gương cho con cháu, treo giải thưởng cao.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Thầy mong rằng, mỗi đứa đều lưu ý đến sự sửa mình ấy thì lấy làm may mắn cho nền Ðạo, rồi các con sẽ đặng thong dong mà treo gương cho kẻ khác.

Chinh phụ trước treo nên giá quý,

Áng văn làm nhuệ khí cầu vinh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Còn gặp thuở xanh mày lịch sắc,

Dâng hình hoa treo mắt bướm ong.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TREO THAM

Treo: Nêu lên. Tham: Ham muốn một cách thái quá.

Treo tham ý nói vật treo lên để khêu gợi lòng tham của con người muốn đoạt lấy cho đặng.

Phẩm vị Tiên, Phật để thưởng cho kẻ lành mới đáng phẩm vị, chớ chẳng phải của để treo tham cho thế gian phòng toan đạt đặng.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TRÈO

Trèo là leo lên, bước lên cao. Như: Leo trèo, trèo thang, trèo cao té nặng.

Trong Giảng Đạo Chơn Ngôn, Ngài Thái Đến Thanh có viết: Ðức-hạnh đủ đầy ví như hai cái chơn mạnh mẽ, có thể trèo lên tới đảnh thượng, vẹt ngút mây xanh, biết rõ cơ mầu nhiệm, thanh nhàn vui vẻ hơn mọi sự.

Chẳng khác chồi non xô đại mộc,

Như sa vực thẳm khó toan trèo.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðường đi trên núi dưới đèo,

Lặng tìm cao thấp phải trèo chông gai.

(Trời Còn).

 

 

TRÈO NON LỘI SUỐI

Trèo non: Leo lên non, lên núi. Lội suối: Băng qua suối, qua nguồn.

Trèo non lội suối là leo trèo qua non, lặn lội qua suối, ý nói việc khó khăn, gian khổ trên chặng đường đi.

Chí quyết tìm chàng cho thấy mặt,

Trèo non lội suối dạ bao nài.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

TRỀ

Trề là chìa môi dưới ra.

Như: Trề môi bĩu má, Nó không đồng ý thường trề môi trợn mắt, miệng trề ra dài thượt.

Sang hèn trối mặc nhún cùng trề,

Phải biết giá mình mới biết chê.

(Đạo Sử).

 

 

TRỀ NHÚN

Trề: Chìa môi dưới ra, để tỏ ý khinh. Nhún: Rụt xuống, hạ thấp vai xuống.

Trề nhún là có cử chỉ bĩu môi và nhún vai, để tỏ ý chê bai, khinh thường.

Thuyết về Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống, Đức Hộ Pháp có viết: Trong một cái nhà cũng có chỗ cho mấy người ở, không lẽ không có một nơi nào cho mấy người đến, người ta đem nhiều món ăn mà không biết lựa chọn mà ăn, không phải không món nào bổ ích đặng định phần sống, tại dở không biết lựa, hay là tại làm màu, chê rẻ, trề nhún thà chết đói không thèm ăn. Lời tục nói: “Làm cách sạch ruột, ắt phải đói”.

Hòn ngọc đẹp đẽ quý báu dường nầy, Thầy đến cho các con, các con lại học kiêu căng trề nhún.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TRỄ

Trễ là chậm muộn. Như: Đi trễ, cấy trễ thời vụ.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có dạy: Ðạo phát trễ một ngày thì nhơn sanh tội lỗi cả muôn ngàn. Vì vậy mà Thầy muốn cho mỗi đứa đều để lòng lo liệu chấn hưng nền Thánh giáo.

Hễ đã trễ thời đành chịu trễ,

Ngưng viết chờ có thế in ra.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TRỄ BƯỚC

Trễ: Chậm, muộn, không kịp kỳ hẹn. Bước: Dời chân, bước đi.

Trễ bước là vì chậm mà trễ bước đường, tức không kịp kỳ hẹn.

Như: Cố hành tình kịp lúc, kẻo trễ bước chuyến tàu.

Trong thi văn Cao Đài, chữ “Trễ bước” thường dùng để chỉ bước chân không đến kịp chiếc thuyền Bát nhã đưa qua biển khổ để đến bờ giác ngộ.

Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy: Các đường nẻo mà các con sẽ đi đến, Thầy đã liệu biện. Có mau lắm cũng chẳng tới trước, mà chậm lắm cũng không trễ bước đường. Hành tàng do nơi Thầy mà thôi.

Bền lòng thiện niệm bồi căn trước,

Trễ bước thuyền e bị ngược dòng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chờ cho trễ bước thuyền xa bến,

Bến tục thoát vòng hết ước mơ.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Các con thì cũng đua bơi,

Kẻo khi trễ bước ắt thời tối tăm.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

TRỄ NẢI

Trễ: Chậm, muộn, không kịp kỳ hẹn.

Trễ nải là không đúng giờ, chậm chạp.

Trễ nải còn có nghĩa thiếu cố gắng, ít để tâm tới, khiến công việc chậm trễ, ít kết quả.

Thánh giáo Bát Nương Diêu Trì Cung có câu: Còn việc các Ðấng phú thác cho mình, hoặc yêu cầu mình thi hành một vấn đề nào, nếu mình trọn tin mạng pháp thì các Ðấng cũng ghi công cho. Nhược bằng mình không tuân hoặc lười biếng trễ nải, thì các Ðấng lại ghi tội cho.

Trễ nải của bước Ðạo thế nầy thì Thầy có khổ tâm khai Ðạo cho chúng ta độ rỗi sanh linh đâu.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TRỄ TRÀNG

Trễ: Chậm, muộn.

Trễ tràng, như chữ “Trễ nải”, là tỏ ra thiếu cố gắng, ít để tâm tới, khiến công việc trễ nải, ít kết quả.

Như: Việc nầy rất quan trọng và khẩn cấp không thể để trễ tràng được.

Tiếc nuối khi đây chưa kiến diện,

Trễ tràng thì đó mệnh an bài.

(Thơ Ngọc Cội Thanh).

 

 

TRÊN

Trên là phía cao hơn, trái với dưới. Như: Trên trời, trên bàn, trên cao, cấp trên, người trên.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Khắp trong nhân loại trên mặt địa cầu nầy, phần đông vì kính thờ Tà quái, mà Tà quái vốn chứa sự chết, thì tức nhiên chúng nó ở trong vòng sự chết là phải tiêu diệt, thì bao giờ biết đặng sự hằng sống là gì.

Của nhiều ít đức sương trên cỏ,

Giành giựt mà chi phải lụy mình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thảo ngay con vẹn giữ cho bền,

Phải phận là phần đáng bậc trên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

TRÊN DÂU DƯỚI BỘC

Trên dâu: Trên bãi nương dâu. Dưới Bộc: Dưới bờ sông Bộc.

Trên dâu dưới Bộc, do chữ “Tang gian Bộc thượng 桑 間 濮 上” có nghĩa trong đám dâu trên bờ sông Bộc, là những nơi kín đáo, theo Kinh thi nói trai gái nước Trịnh và nước Vệ thường hay hẹn hò, tư tình nhau ở nơi đó.

Trên dâu đươi Bộc dùng để chỉ sự dâm bôn.

Xem: Trên Bộc trong dâu.

Đừng ham thói trên dâu dưới bộc,

Muốn yêu nhau đừng học chước khi nhau.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TRÊN BỘC TRONG DÂU

Trên Bộc: Trên bờ sông Bộc. Trong dâu: Trong nương dâu.

Trên Bộc trong dâu là trong nương dâu trên bờ sông Bộc, dùng để chỉ thói tà dâm.

Trong Kinh Lễ có câu: Tang Gian bộc thượng chi âm, vong quốc chi âm dã 桑 間 濮 上 之 音, 亡 國 之 音 也, nghĩa là tiếng nhạc trong bãi dâu trên sông Bộc là tiếng nhạc mất nước.

Ngày xưa, Sư Diên đặt ra một khúc hát, lời lẽ uỷ mị, thường đàn cho vua Trụ nghe. Sau đó, Sư Diên trầm mình trên sông Bộc. Một người khác tên là Sư Quyên, có dịp đi ngang qua nơi đó, ban đêm nghe văng vẳng tiếng hát, trở về phổ lại thành bản nhạc.

Nói gì trên bộc trong dâu, một đời nếu không có xảy ra điều gì thì thôi, còn nếu có xảy ra điều chi sanh phiền sanh giận...

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

TRÊN THUẬN DƯỚI HOÀ

Trên thuận: Đối với trên thì thuận thảo. Dưới hoà: Xử với dưới thì hoà bình.

Trên thuận dưới hoà là ăn ở với kẻ trên người dưới đều hoà thuận nhau.

Thánh giáo Thầy trong Thánh Ngôn Sưu Tập có dạy: Quyền lực của mỗi đứa phải cho phân minh thì là trên thuận dưới hoà, lập nên trật tự. Thầy dặn: Từ đây, thượng hạ phải phân minh, ai phạm trật tự thì các con trục xuất.

Khép mình vào khuôn viên kỷ luật để cho trên thuận dưới hoà, cùng nhau góp công chung trí hầu đem lại một thắng lợi vẻ vang cho nền chánh giáo.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

TRÊU

1.- Trêu là bỡn cợt, nghĩa là dùng lời nói, cử chỉ làm cho bực tức, xấu hổ nhằm đùa vui. Như: Trêu tức, bị trêu nên thẹn đỏ mặt.

Trong Đại Thừa Chơn Giáo có câu: Người Quân tử theo đời mà chẳng nhiễm đời, chiều người mà chẳng bợ người, tuỳ tục mà không đắm tục, cứ giữ tánh tình thanh bạch, tâm chí cao siêu, dầu ai dầm cũng chẳng phai, ai dũa cũng chẳng mòn, nên bả lợi danh, mồi chung đỉnh có bao giờ trêu nhử được đâu.

Dân như cá chậu gà chuồng,

Tiếng oan trăm họ trêu buồn ngậm than.

(Ngụ Đời).

Khổ bệnh thấy trêu người đã quá,

Buổi vãng sanh giục giã kêu hồn.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Trêu là khơi, gợi lên.

Như: Trêu sầu gợi thảm, trêu hồn phách, thấy những kỷ vật dường như trêu thảm.

Trêu thảm ngậm sầu khi thức ngủ,

Mưa chiều nắng sớm lệ đầy vơi.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

TRÊU CAY NGẬM ĐẮNG

Trêu: Đồng nghĩa với chữ “Trươu”, là ngậm trong miệng. Ngậm: Mím môi lại. Cay đắng: Vị cay và vị đắng, chỉ những nỗi xót xa đau khổ.

Trêu cay ngậm đắng là phải chịu đựng nhiều nỗi xót xa đau khổ.

Xem: Trưu cay ngậm đắng,

Con đã để dạ ưu tư về mối Ðạo, đã lắm lần trêu cay ngậm đắng mà nhuộm nét nâu sòng...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TRÊU CỢT

Trêu: Dùng lời nói, cử chỉ làm cho bực tức, xấu hổ nhằm để đùa vui.

Trêu cợt là trêu ghẹo và bỡn cợt, tức chọc phá để đùa vui. Như: Anh ấy nhút nhát nên thường bị trêu cợt.

Giây phút vui đùa câu hứa hão,

Bướm hoa trêu cợt tấm tình si.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

TRÊU HỜN NUỐT THẢM

Trêu: Đồng nghĩa với chữ “Trươu”, là ngậm trong miệng. Nuốt: Đưa đồ ăn vô thực quản xuống dạ dày. Hờn thảm: Xót xa trong lòng.

Trêu hờn nuốt thảm là phải chịu đựng nhiều nỗi bực tức, xót xa trong lòng.

Trêu hờn nuốt thảm đồng nghĩa với thành ngữ “trêu cay ngậm đắng”.

Chia sướng sớt vui ai khác hưởng,

Trêu hờn nuốt thảm một mình ta.

(Đạo Sử).

 

 

TRÊU NGƯƠI

Trêu: Dùng lời nói, cử chỉ làm cho bực tức, xấu hổ nhằm để đùa vui. Ngươi: Tròng con mắt.

Trêu ngươi là chọc mắt, làm cho người ta khó chịu, tức ghẹo chọc một cách cố ý, tỏ ra không kiêng nể.

Như: Chận lời hắn lại, hắn càng nói già thêm như muốn trêu ngươi.

Muốn nhắm mắt một bề cho khoẻ,

Những tình hình mọi vẻ trêu ngươi.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TRI

Tri là biết. Như: Tri âm, tri giác, tri giao, tri ngộ.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Lão là người đã đứng ngoài vòng thế sự hèn lâu, nên đòi phen bợ ngợ, phải tìm tàng lượng tri lý mỗi người, ôi! nghĩ nên rất khó!

Thi hài như gỗ biết gì,

Linh hồn là chủ thông tri việc đời.

(Kinh Sám Hối).

Thông tri thời thế xét soi mình,

Biết tội mà chừa phải trọng khinh.

(Đạo Sử).

 

 

TRI ÂM

知 音

Tri: Biết. Âm: Tiếng, âm nhạc.

Tri âm là hiểu được tiếng đàn, ý chỉ người bạn thấu hiểu được lòng mình. Như: Người bạn tri âm.

Do sách Liệt Tử chép: Bá Nha là người giỏi đàn, Chung Tử Kỳ là người sành nghe đàn, biết thưởng thức tiếng đàn của Bá Nha.

Khi Tử Kỳ chết, Bá Nha đập vở đàn, vì cho rằng không ai còn hiểu nổi tiếng đàn của mình nữa.

Nghĩa bóng: Tri âm chỉ tình bạn thân thiết.

Xem: Bá Nha Tử Kỳ.

Ðờn hay vì có kẻ tri âm,

Dựa bệ không ai cũng tủi thầm.

(Đạo Sử).

Nhìn văn độ phẩm hàng khuê các,

Xót bạn tri âm cõi dạ đài.

(Đạo Sử).

Tri âm ví đáng dây cầm nguyệt,

Đừng đem tình chí thiết giao hoan.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TRI ÂN

知 恩

Tri: Biết, những điều mình biết. Ân: Ơn.

Tri ân là biết ơn.

Trong lễ kỷ niệm đăng Tiên của Đức Hộ Pháp, Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Những lời cảm khái của chức sắc trong các cơ quan Ðạo vừa mới bày tỏ, chứa đầy sự thương tiếc, bộc lộ xiết bao nỗi tri ân nồng hậu đối với một Ðấng vĩ nhân mà cuộc đời phải trải qua biết bao sóng gió nguy nan, đòi phen thất thổ ly hương, lắm lúc ôm sầu nuốt hận cũng vì chủ nghĩa thương đời.

Sự thương tiếc và sự tri ân đó thật chánh đáng.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

TRI CƠ

知 機

Tri: Biết, những điều mình biết. Cơ: Sự vận động, biến hoá theo lẽ mầu nhiệm.

Tri cơ là biết được Thiên cơ, tức biết trước được những lẽ mầu nhiệm của Máy trời.

Tìm vào nẻo Ðạo mới tri cơ,

Cơ Tạo huyền vi chớ hững hờ.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thanh bạch hai lẽ chẳng đủ thờ,

Quán thế phải tri cơ Tạo hoá.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

 

 

TRI GIÁC

知 覺

Tri: Biết, hiểu biết, quen biết. Giác: Do giác quan mà biết được.

Tri giác vì có lương tri ở người mà tiếp xúc với bề ngoài phát sinh ra cảm giác, tỷ như: Gần lửa mà biết nóng, gần nước mà biết lạnh, lại như ngửi hoa mà biết thơm, thấy sắc mà biết đẹp.

Như vậy tri giác là sự hiểu biết do năm giác quan cảm nhận được, như: Thị giác, thính giác, xúc giác, vị giác, khứu giác...

Hay là hờn thế sự dại khôn,

Vào Bát Quái bảo tồn tri giác.

(Văn Tế Tiểu Tường).

 

 

TRI HÀNH

知 行

Tri: Hiểu, biết. Hành: Làm.

Tri hành là sự hiểu biết và sự hành động.

Muốn hành động thì phải có sự hiểu biết, nhờ sự hiểu biết chúng ta mới hành động đúng.

Nhưng đến đời nhà Minh, ông Vương Thủ Nhân mới đưa thuyết “Tri hành hợp nhất”.

Xem: Tri hành hiệp nhứt.

Nhờ sách quý chiều mơi ráng đọc,

Gặp thầy hay gắng học tri hành.

(Tìm Hiểu Sự Nghiệp).

Tri hành đến lúc thi nhồi óc,

Chất vấn là khi học trả bài.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

TRI HÀNH HIỆP NHỨT

Tri hành: Sự hiểu biết và sự hành động. Hiệp nhất: Hợp lại thành một.

Tri hành hiệp nhứt, hay “Tri hành hợp nhất 知 行 合 一”, là một thuyết của Vương Thủ Nhân hay Vương Dương Minh bên Trung Hoa.

Ngài Hiến Đạo giải thích thuyết “Tri hành hợp nhất” như sau: Xưa nay các học giả đều chia phần Tri và phần Hành làm hai việc. Đến đời ông Dương Minh mới xướng lên cái thuyết Tri hành hợp nhất. Ông nói: Hễ Tri lúc nào là Hành lúc ấy. Có Hành mới chứng nghiệm được Tri. Nếu không Tri lấy gì mà Hành? Không Hành lấy gì gọi rằng Tri? Tri Hành không thể chia làm hai việc được, nên ông chủ trương Tri Hành hợp làm một.

Theo Ngài Hiến Đạo, nếu đem Tri Hành phân ra làm hai việc thì khi có một niệm phát động, tuy là bất thiện nhưng bởi chưa thi hành, thì không tìm cách ngăn cản, cái niệm ấy có thể sanh mộng nẩy chồi càng ngày càng lớn, sau khó diệt trừ. Như vậy là nguy thay!

Vương Dương Minh phát huy cái thuyết “Tri hành hợp nhất” chính là để người hiểu được nhứt niệm phát động, tức là hành rồi. Hễ chỗ phát động có điều bất thiện thì đem điều bất thiện ấy trừ ngay đi, cốt bỏ đến chỗ căn gốc để khiến cái niệm bất thiện không tiềm phục ở trong lòng được nữa.

Minh Minh Đức là học. Thân dân là hành. Tri hành hiệp nhứt sẽ hoàn thành nghĩa vụ làm người.

(Giáo Lý).

 

 

TRI KIẾN PHẬT

知 見 佛

Tri: Biết, hiêu biết. Kiến: Thấy. Phật: Đức Phật.

Tri kiến Phật 知 見 佛 là cái thấy biết vô thượng của Phật, cảnh giới thấy biết của Phật chỉ sự cảm ngộ thể nghiệm có được do trí tuệ, pháp nhãn quán chiếu chân tướng của sự vật.

Tri kiến Phật là cái thấy biết không thuộc về kiến chấp ngã nơi thân và tâm. Đó là thể tánh của thân tâm, thường trụ, không sanh diệt trên tất cả pháp đối đãi.

Chánh kiến nghĩa là trông thấy ngay thẳng tức Tri kiến Phật. Mà muốn được tri kiến Phật phải thực hành Chánh định cho đến viên mãn.

(Giáo Lý).

 

 

TRI KỶ

知 己

Tri: Biết. Kỷ: Mình.

Tri kỷ tức là người biết rõ về mình. Như: Hai người trở thành bạn tri kỷ.

Người xưa cho rằng Quản Trọng và Bảo Thúc Nha là hai người bạn tri kỷ. Bởi vì Bảo Thúc Nha rất hiểu về Quản Trọng: Khi chia của, Quản Trọng lấy phần hơn, Thúc Nha không cho là tham, mà biết là vì Quản Trọng nghèo. Mưu tính công việc, gặp lúc khôn cùng, Thúc Nha không cho Quản Trọng là ngu mà biết đó là thời chưa có lợi. Ba lần ra làm quan, ba lần bỏ chức mà về, Thúc Nha không cho Quản Trọng là bất tài, mà cho rằng Quản Trọng chưa gặp thời. Ba lần ra trận ba lần lui lại đằng sau, Thúc Nha không cho là hèn nhát mà biết Quản Trọng còn có mẹ già phải phụng dưỡng.

Vì vậy, người đời cho Quản Trọng và Bảo Thúc Nha là đôi tri kỷ.

Tìm người tri kỷ chưa bao mặt,

Mưu cuộc vinh thân biết mấy phường.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

TRI KHỔ NGHIỆP CHƯỚNG

知 苦 業 障

Tri: Biết, hiểu biết. Khổ: Cực khổ vất vả. Nghiệp chướng: Sự chướng ngại làm ngăn trở của nghiệp.

Tri khổ nghiệp chướng là biết được những vất vả khổ sở là do nghiệp chướng của mình gây ra.

Như ta biết, kiếp trước gây ra những tội lỗi, tạo thành cái nghiệp xấu, làm trở ngại trong hiện kiếp khiến phải chịu khổ sở hoạn nạn.

Tri khổ nghiệp chướng luân chuyển hoá sanh, năng du Ta Bà Thế giái độ tận Vạn linh đắc quy Phật vị.

(Di Lạc Chơn Kinh).

 

 

TRI NGỘ

知 遇

Tri: Biết. Ngộ: Gặp gỡ, đối đãi.

Tri ngộ là biết giá trị của người nào đó và coi trọng giúp đỡ, đối đãi xứng đáng.

Như: Ơn tri ngộ, tấm lòng tri ngộ.

Trong bài Văn Tế Thượng Phẩm có đoạn: Miền Cực Lạc, xin hương hồn Cao Thượng Phẩm, chứng đơn tâm cho các bạn tại tiền. Trước Linh Toà, cả chức sắc Hiệp Thiên, dâng Tam bửu ngõ đền ơn tri ngộ.

Nàng thơ còn nặng tình tri ngộ,

Bạn đạo thêm nồng nghĩa tất giao.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

TRI TÚC

知 足

Tri: Biết, hiểu biết. Túc: Đủ.

Tri túc là biết đủ, ý muốn nói biết đủ, biết dừng đúng lúc thì không bị hổ nhục.

Tri túc, bởi câu trong sách Cảnh Hành: Tri túc thường túc, chung thân bất nhục, tri chỉ thường chỉ, chung thân bất sỉ; tỷ thượng bất túc, tỷ hạ hữu dư 知 足 常 足, 終 身 不 辱, 知 止 常 止, 終 身 不 恥; 比 上 不 足, 比 下 有 餘, nghĩa là biết đủ là đủ, suốt cuộc đời không bị nhục; biết dừng là dừng, rốt đời không thẹn; so với trên thì không đủ, sánh với dưới thì có dư.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Người tri túc thì dầu nằm trên đất cũng cho là sung sướng, người không biết tri túc dầu nằm trên đống vàng vẫn thấy chưa đầy đủ.

Sắn ngô mát ruột câu tri túc,

Hoè quế rầy tai tiếng lộng chương.

(Thơ Hi Đạm).

Đường đời ẩn nhẫn câu tri túc,

Cửa Đạo vuông tròn bước chuyển luân.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

TRI THIÊN MẠNG

Hay “Tri Thiên”.

Tri: Biết, hiểu biết. Thiên: Trời. Mạng (mệnh): Số mệnh, vận mệnh.

1.- Tri Thiên mạng, như chữ “Tri Thiên mệnh 知 天 命”, là biết được mệnh trời.

Con khá giữ mực thẳng mà đi cho cùng bước Ðạo. Ấy là tri Thiên mạng đó.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

2.- Tri Thiên hay “Tri Thiên mạng”, do câu nói của Đức Khổng Tử: Tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập tri thiên mạng 三 十 而 立, 四 十 而 不 惑, 五 十 知 天 命, nghĩa là con người, ba mươi tuổi thì lập, bốn mươi tuổi thì không còn nghi ngờ, lầm lẫn nữa, năm mươi tuổi thì biết mệnh trời.

Vì vậy, Tri Thiên hay “Tri Tiên mạng”, còn dùng để chỉ người bảy mươi tuổi.

Thôi gần hết kiếp còn gì,

Co tay đếm tuổi quá kỳ tri thiên.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Tri Thiên rắp đến vô công nghiệp,

Hữu hậu gần xem đậm vẻ màu.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

TRI THỨC

知 識

Tri: Biết, những điều mình biết. Thức: Kiến thức, điều thấy và biết được.

Tri thức là những điều người ta vì kinh nghiệm hoặc học tập mà hiểu biết được.

Như: Tri thức về triết lý tôn giáo, nắm vững tri thức nghề nghiệp.

Duyên còn gặp lại người tri thức,

Lòng vẫn chưa quên bạn nhã hào.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

TRÍ

1.- Trí là phần khôn, phần thông hiểu ở trong đầu óc của con người. Như: Trí khôn, mất trí, trí nhớ.

Thánh giáo Đức Lý Giáo có đoạn dạy: Lão nên nói rằng, cơ thưởng phạt của Thiên thơ thì lắm điều trái hẳn với trí người tưởng tượng. Có nhiều khi thưởng hữu hình mà làm hình phạt vô vi, mà cũng có khi lấy hình phạt hữu vi mà thưởng thiêng liêng công nghiệp.

Huỳnh lương một giấc cuộc đời in,

trí có mưu phải xét mình.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Kẻ trí phải lo phương giải khổ,

Tìm thuyền Bát Nhã lánh mê tân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Trí là đặt để. Như: Bài trí, bố trí, vị trí.

Trong Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Hội nghị sơ khởi “Đại Đoàn Kết” Bần Đạo đã định quyết theo đuổi hai năm nay mới thiệt hiện đặng, dầu cho những trở lực nào mạnh mẽ bao nhiêu bất quá là làm cái vị trí mà thôi, chớ không khi nào ngăn cản được cái năng lực tranh đấu của chúng ta được.

Con hiểu “Thần cư tại Nhãn”. Bố trí cho chư Ðạo hữu con hiểu rõ.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

3.- Trí là tới cùng, hết sức. Như: Trí tri, trí ý, trí chúa, trí quân (hết sức giúp cho vua).

Xem: Trí quân.

Thọ quốc mạch tất tiên,

Ư trí chúa chi trung.

(Kinh Cúng Tứ Thời).

4.- Trí là thôi, nghỉ. Như: Hưu trí, trí sĩ.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy cũng đau lòng mà nắm cơ huyền vi Tạo hoá. Thầy hằng rõ chí hành tàng chơn đạo của các con, nhưng nhơn lực khó lướt qua Thiên cơ, các con cứ đường ngay bước tới, đợi ngày sẽ lập chút công trình để lướt khỏi lối gai chông, vẹt ngút mây xanh, tìm vào cảnh thiêng liêng mà rửa sạch bụi hồng. Khách trí nhàn đời ấy là buổi chung quy của bậc Chí Thánh vậy.

Xem: Trí sĩ.

Bà những hay có tánh lo xa,

Lo hưu trí về nhà toại hưởng.

(Phương Tu Đại Đạo).

Phải buổi nhàn cư vui kịp buổi,

Ngâm câu trí sĩ kết thành câu.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

TRÍ BINH

置 兵

Trí: Đặt, để. Binh: Quân lính, quân đội.

Trí binh là bố trí binh lính, tức phân bổ binh sĩ nơi mặt trận theo đúng chiến lược.

Thánh giáo Đức Thượng Phẩm có câu: Qua đã cạn tỏ cùng Em những kẻ thù nghịch cùng Chánh truyền là những kẻ lo phương làm rối loạn, mà làm rối loạn mới có thế nâng đỡ trí thức tinh thần mình, rồi mới quyết thắng trong trận trí binh nầy, đặng trị bình thiên hạ.

Hiền hữu biết rằng trong trận trí binh nầy, nếu không đủ tài tình oai dõng thì chẳng hề thắng đặng.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TRÍ CHÚA

致 主

Trí: Hết sức giúp. Chúa: Nhà vua.

Trí chúa là hết sức giúp cho nhà vua.

Thơ Đặng Dung có câu: Trí chúa hữu hoài phù địa trục, Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà 致 主 有 懷 扶 地 軸, 洗 兵 無 路 挽 天 河, Trần Trọng Kim dịch ra vần: Vai khiêng trái đất mong phò chúa, Giáp gột sông trời khó vạch mây.

Trong Kinh Nho giáo có câu: “Khai nhơn tâm tất bổn ư đốc thân chi hiếu, Thọ quốc mạch tất tiên ư trí chúa chi trung”, nghĩa là làm cho mạch sống của đất nước được bền lâu, vững chắc, trước nhứt làm người dân phải biết trung với vua và nước.

Trí chúa tôi hiền không gặp chúa,

Nào người gánh nổi mối xa thơ.

(Đạo Sử).

Khương Thượng đi câu ra trí chúa,

Văn Vương ngồi ngục mới đồ vương.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

TRÍ ĐẶC TÀI

智 特 才

Trí: Khôn ngoan hiểu biết, khả năng nhận thức. Đặc: Đặc biệt. Tài: Tài năng, tài giỏi.

Trí đặc tài là chỉ người có trí khôn ngoan hiểu biết và có tài năng đặc biệt.

Trường Tiên mở rộng chơn du khách,

Nẻo hoạn buông khơi trí đặc tài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

TRÍ ĐỘ PHI PHÀM

智 度 非 凡

Trí độ: Trình độ hiểu biết, trình độ nhận thức. Phi phàm: Chẳng phải là tầm thường.

Trí độ phi phàm là trình độ nhận thức hiểu biết không phải là tâm thường.

Nên các con phải có trí độ phi phàm, thì mới có đủ tư cách làm người.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TRÍ GIẢ

智 者

Trí: Sáng suốt, khôn ngoan hiểu biết, khả năng nhận thức. Giả: Người.

Trí giả, như chữ “Trí nhân”, là người trí thức, người hiểu biết. Như: Trí giả tự xử, ngu giả quan phân.

Trí giả còn dùng để chỉ bậc trí huệ, nhà đạo đức.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Biết người biết ta tức là bậc trí giả, không khi nào thất bại trên đường đời cũng như đường đạo.

Trí giả năng tri tu thối bộ,

Trì nghi hậu hối tán kim đơn.

(Quan Thánh Giáng Bút).

 

 

TRÍ GIÁC CUNG

智 覺 宮

Trí giác: Bậc sáng suốt hiểu biết rõ, không còn lầm lạc, ngộ được chân lý. Cung: Toà nhà lớn.

Trí Giác Cung là một trong ba cung nằm ở Địa Linh Động, lập tại ấp Trường Thiện, xã Trường Hoà, thuộc Châu Thành Thánh Địa Tây Ninh, cách Toà Thánh Tây Ninh bốn cây số về hướng Đông Nam.

Nguyên cơ sở Trí Giác Cung trước đây là Trường Quy Thiện, do ông Lễ Sanh Giáo Thiện Đinh Công Trứ quy tụ các bạn đạo trong Minh Thiện Đàn ở Phú Mỹ về Toà Thánh lập nên.

Đinh Công Trứ sanh năm Quý Mão, 1903 tại làng Phú Mỹ, quận Châu Thành tỉnh Mỹ Tho, nhập môn vào đạo Cao Đài năm 1927.

Vào ngày 14 tháng 10 năm năm Đinh Mão, ông Đinh Công Trứ chấp cơ tại tư gia của ông ở làng Phú Mỹ, được Đức Lý Giáo Tông giáng cơ dạy phải lập Minh Thiện Đàn do ông làm Chủ Trường. Sau đó ông Đinh Công Trứ và ông Lê Văn Trung (người cùng làng) được Đức Lý Giáo Tông sử dụng làm cặp phò loan để tiếp nhận các Thánh giáo của các Đấng thiêng liêng giáng tại Minh Thiện Đàn.

Đến năm 1929, Đức Lý Giáo Tông giáng cơ dạy phải giao Minh Thiện Đàn lại cho Đức Hộ Pháp. Ông Lê Văn Trung tìm đến Thủ Đức mời Đức Hộ Pháp xuống Thánh Thất Phú Mỹ nhằm ngày 25 tháng 2 năm 1929. Đức Hộ Pháp cho mời những người nhập môn vào Minh Thiện Đàn đến để Ngài hành pháp cân thần và cho thọ Đào Viên pháp.

Sau ông Đinh Công Trứ được Đức Hộ Pháp và Đức Quyền Giáo Tông chứng giấy thông hành đi hành đạo các tỉnh Mỹ Tho, Bạc Liêu, Rạch Giá, Long Xuyên và Sóc Trăng. Đến năm 1936, ông Trứ đắc phong Lễ Sanh Giáo Thiện, được Đức Hộ Pháp bổ đi làm Đầu Họ Phước Thiện tỉnh Long Xuyên.

Đến năm 1943, ông Đinh Công Trứ bị quân đội Nhựt bắt giam hết 5 tháng 10 ngày mới thả. Sau khi được thả, ông Trứ quy tụ một số thệ hữu trong Minh Thiện Đàn về Trường Hoà, Tây Ninh mua đất lập Trường Quy Thiện để làm cơ sở phước thiện và tu hành.

Đến ngày 26 tháng 9 năm Quý Dậu (Dl. 24/10/1943) là ngày khởi lập Trường Quy Thiện và cũng là ngày khởi công xây cất Quy Thiện Đường.

Sau đó, ông Đinh Công Trứ còn cất thêm một số cơ sở làm phước thiện trong Trường Quy Thiện như sau:

 

1.- Nhà Minh Thiện.

 

2.- Khách Thiện đường,

 

3.- Học đường,

 

4.- Y tế,

 

5.- Bảo sanh,

 

6.- Dưỡng đường,

 

7.- Trai đường,

 

8.- Cơ sở Nông tang,

 

9.- Công nghệ,

 

10- Thương mại,

 

11.- Khai mở Thuật nghiệp của Tứ dân.

Trường Quy Thiện do Đinh Công Trứ làm Đốc Trường, dưới có lập Bàn Cai Quản nam, nữ, mỗi bên có Chủ Trường và 4 vị Nghị Viên Sĩ, Nông, Công, Thương, Từ hàn, Thủ bổn, và Kiểm soát.

Trong cuộc lễ Khánh thành Đền thờ Phật Mẫu tại Trường Quy Thiện, Đức Hộ Pháp có dạy: Trường Quy Thiện nầy phải đặt dưới quyền Hội Thánh Phước Thiện, ông Đinh Công Trứ chỉ lãnh chức Đốc Trường.

Nhiệm vụ của Trường Quy Thiện duy để lo làm ra của cải mà thôi, chẳng đặng thâu của cải một ai, làm ra đặng bao nhiêu thì dùng bấy nhiêu, kỳ dư có ai thật hảo tâm hỷ cúng mới thâu vào sổ của Trường, rồi phải phúc sự cho Hội Thánh Phước Thiện biết liền. Từ đây về sau, sở phí huê lợi gì của Trường Quy Thiện cũng phải chạy tờ phúc cho Hội Thánh Phước Thiện biết rõ. Sổ bộ của Trường tuy riêng biệt nhưng phải do Hội Thánh cầm.

Và đứng trước lưỡng Đài Cửu Trùng và Hiệp Thiên, Đức Ngài nói: Ngày nay, Bần Đạo trình nó (Trường Quy Thiện) ra mặt công khai của Đạo, thuộc quyền Phước Thiện, tức là thuộc Hiệp Thiên Đài Chưởng quản. Thoảng ngày kia nó phạm pháp luật, hoặc chẳng noi theo chơn truyền của Đại Đạo, tự lập tôn chỉ khác, chúng ta có quyền giải tán.

Trong Trường Quy Thiện ông Đinh Công Trứ còn được lịnh Đức Hộ Pháp cho cất Đền thờ Phật Mẫu để thờ Đức Phật Mẫu, Cửu Vị Tiên Nương và Bạch Vân Động Chư Thánh và đặc biệt nhứt, nơi đây được Đức Hộ Pháp cho thờ Nam Bình Phật Tổ. Đây là ngôi thờ Phật Mẫu đầu tiên của đạo Cao Đài. Ngôi Đền thờ Phật Mẫu nầy được Đức Hộ Pháp cho phép Khánh thành ngày 16 tháng 7 năm Mậu Tý (1948) và sau đó Ngài lại cho phép Đền thờ nầy tổ chức cúng lễ Hội Yến Diêu Trì Cung vào đêm 14 tháng 8 năm Mậu Tý.

Đức Hộ Pháp cho sửa sang Báo Ân Từ trong Nội ô Toà Thánh để thờ Đức Phật Mẫu. Đức Ngài ra lịnh cho Hội Thánh Phước Thiện trình qua cho chức sắc lưỡng đài biết, và lập nghi lễ tiếp rước long trọng Long vị Đức Phật Mẫu nơi Trường Quy Thiện về thờ tại Báo Ân Từ.

Ông Đốc Trường Quy Thiện Đinh Công Trứ bị ám sát chết vào lúc 10 giờ 35 tối ngày 25 tháng 5 năm Kỷ Sửu (Dl. 21/6/1949), hưởng 47 tuổi.

Ngày 14 tháng 10 năm Nhâm Thìn (Dl. 30/11/1952), Đức Hộ Pháp ra khẩu lịnh cho ông Đạo Nhân Dương Văn Khuê xuống cai quản Trường Quy Thiện và sau đó triệu tập Đại hội toàn thể tín đồ Trường Quy Thiện tại Hậu điện Báo Ân Đường ngày 11 tháng 11 năm Giáp Ngọ (Dl. 5/12/1954). Bảng Phúc trình, vi bằng Hội nhóm dâng lên Đức Hộ Pháp và được Đức Ngài điều chỉnh danh từ và thành phần Ban Trị Sự và các cơ sở.

Đến ngày 5 tháng 12 năm Giáp Ngọ (Dl. 29/12/1954) Đức Hộ Pháp ban Huấn lịnh số 285/VP-HP vào ngày 5 tháng 12 năm Giáp Ngọ (Dl. 29-12-1954) chuyển đổi Trường Quy Thiện thành Địa Linh Động, Trí Giác Cung là một cơ sở Tịnh Thất của nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Vị Tổng Quản đầu tiên của Địa Linh Động - Trí Giác Cung là Đạo Nhơn Dương Văn Khuê.

Nơi cổng Địa Linh Động – Trí Giác Cung có đôi liễn như sau:

智 靈 貫 世 天 機 達

TRÍ linh quán thế Thiên cơ đạt

覺 慧 超 凡 道 法 通

GIÁC huệ siêu phàm Đạo pháp thông.

Nghĩa là:

Cái hiểu biết thiêng liêng thông suốt việc đời, đạt thấu máy trời.

Trí huệ giác ngộ siêu phàm rõ thông đạo pháp.

 

Đạo Pháp Vô Biên Trí Giác Cung,

Hạ thờ Phật Mẫu thượng Huyền Khung.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

TRÍ HUỆ

智 慧

Hay “Trí tuệ”.

Trí: Khôn ngoan hiểu biết. Huệ: Sự sáng suốt hiểu biết rốt ráo.

Trí tuệ là trí sáng suốt nhận biết được chân tướng của mọi sự vật, cái thấy chính xác về sự vật, sự hiểu biết rốt ráo đúng như thật.

Trí tuệ do sự chứng ngộ chân lý của vạn hữu, là sự nhận thức sáng tỏ về thực tại sau khi mọi vô minh, phiền não được diệt trừ.

Trí tuệ đồng nghĩa với giác ngộ.

Cay đắng lần soi gương trí huệ,

Chia phui chờ trải lối tang thương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðạo đức thìn soi gương trí huệ,

Nguồn đào đoạt vị mới hầu nên.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nhuộm áo nâu sồng về Cực Lạc,

Trau gươm trí huệ phủi đai cân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

TRÍ HUỆ CUNG

智 慧 宮

Hay “Trí Huệ 智 慧”.

Trí huệ: Trí sáng suốt nhận biết được chân tướng của mọi sự vật, cái thấy chính xác về sự vật, sự hiểu biết rốt ráo đúng như thật. Cung: Toà nhà lớn.

Trí Huệ Cung là một trong ba cung của đạo Cao Đài, nằm ở Thiên Hỷ Động, lập tại ấp Trường Xuân, xã Trường Hoà, Châu Thành Thánh Địa Tây Ninh, cách Toà Thánh Tây Ninh khoảng 7 cây số về hướng Đông Nam.

Đức Hộ Pháp khởi tạo Trí Huệ Cung vào cuối năm Đinh Hợi 1947 và hoàn thành vào ngày Đức Hộ Pháp trấn pháp tại Trí Huệ Cung ngày 15 tháng 12 năm Canh Dần (Dl. 22/1/1951).

Trí Huệ Cung là một toà nhà hình khối lập phương, được xây dựng theo mô hình rất đặc biệt, bề cao 12 thước, phân ra làm ba từng, mỗi từng 4 thước, bốn bên toà nhà, mỗi bên là 12 thước, vuông như cái hộp. Ngay giữa trung tâm có một cây cột đỡ luôn ba từng đến nóc, gọi là “Nhứt trụ xang thiên”. Ba từng của Trí Huệ Cung, chỉ có hai từng nổi trên mặt đất, còn từng trệt được xây dưới mặt đất.

Trí Huệ Cung được xây bao quanh một hàng rào chung quanh có bốn cái cổng ra vào, trên cổng có đề ba chữ “Thiên Hỷ Động” và hai câu liễn như sau:

Trí định thiên lương quy nhứt bổn,

智 定 天 良 歸 一 本

Huệ thông đạo pháp độ quần sanh.

慧 通 道 法 度 群 生

Nghĩa là:

Sự hiểu biết của con người đem cái thiên lương trở về hiệp một mối.

Cái trí huệ thông hiểu đạo pháp dùng để cứu độ toàn chúng sanh.

Trí Huệ Cung là một cửa ngõ được mở ra để các bậc nguyên nhân và con cái của Đức Chí Tôn đi vào con đường Thiêng liêng Hằng sống, tức là đạt Pháp thoát khỏi cõi phong đô, như lời Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp ngày 16 tháng 12 năm Canh Dần:

Ngày nay Đức Chí Tôn đã mở cho chúng ta một con đường Thiêng Liêng Hằng Sống và Bần Đạo đã vâng mạng lịnh Đức Ngài tạo dựng một bến giải thoát cho toàn thể nhơn loại trên mặt địa cầu nầy.

Bần Đạo nói: từ đây, kể từ ngày nay cửa Thiêng Liêng của Đạo đã mở rộng, Bần Đạo kêu toàn thể con cái Đức Chí Tôn, ai hiểu biết mình đứng trong hàng phẩm Cửu nhị ức Nguyên Nhân (92 Ức Nguyên Nhân) hãy tỉnh mộng lại đặng về cùng Đức Chí Tôn.

Cửa nầy là cửa của các người đến đoạt Pháp, đặng giải thoát lấy mình đến trong lòng Đức Chí Tôn, vì Đức Chí Tôn đã đưa tay ra nâng đỡ, mà chúng ta không đến, không tưởng nghĩ đến, thì sau nầy ắt sẽ bị đoạ lạc nơi cõi Phong Đô. Giờ phút ấy không còn trách Đức Chí Tôn rằng: không thương yêu con cái của Người, không đem cơ quan tận độ chúng sanh để nơi mặt địa cầu nầy cứu vớt nữa.

Ngoài ra, theo Bài Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp ngày 26 tháng 12 năm Canh Dần thì Trí Huệ Cung còn là một cơ quan tận độ của đạo Cao Đài, để toàn thể chúng sanh và chín mươi hai ức nguyên nhân nhập vào cửa ấy đoạt cơ giati thoát.

Trí Huệ Cung là một cơ quan tận độ chúng sanh đã xuất hiện nơi cửa Đạo Cao Đài nầy. Bần Đạo nói rằng: nó không phải của ta, của đặc biệt của chúng ta, mà nó là của toàn thể nhơn loại nơi mặt địa cầu nầy; bởi nó tượng trưng hình ảnh Chí Linh Đức Chí Tôn nơi thế nầy, mà hễ tượng trưng hình ảnh Chí Linh tức nhiên không có quyền nào nắm nó được, vì nó là của đặc biệt của toàn thể nhơn loại, tức nhiên toàn thể con cái Đức Chí Tôn. Nó không có phép phân biệt đảng phái, Tôn giáo hay nòi giống nơi mặt địa cầu nầy.

Cửa Thiên Hỷ Động là cửa Thiêng Liêng Hằng Sống của toàn thể các đẳng chơn linh, nên nó không chịu thúc phược hay là nô lệ cho một tư tưởng nào, hơn là tượng trưng cái quyền vô tận, vô đối của Đấng Chí Linh, hằng tạo dựng đại nghiệp cho con cái của Ngài nơi mặt địa cầu nầy, tức nhiên toàn thể nhơn loại đó vậy.

Bần Đạo cả tiếng kêu con cái Đức Chí Tôn nhứt là Cửu nhị ức Nguyên Nhân tỉnh mộng lại, ngó nơi Trí Huệ Cung phải vào cửa ấy mới đoạt đặng mà thôi, đoạt cơ giải thoát đặng, mới nhập vào cửa Thiêng Liêng Hằng Sống mà Đức Chí Tôn đã tạo dựng riêng biệt dành để cho mọi người.

Sương mơi còn đọng khắp ngàn cây,

Trí Huệ về thăm vắng bóng thầy!

(Thơ Chơn Tâm).

Xuân về nhìn tựa bức tranh phơi,

Trí Huệ Cung quang cảnh tuyệt vời.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

TRÍ KHÔN

Hay “Trí khôn ngoan”.

Trí: Khả năng nhận thức, suy nghĩ, phán đoán của con người. Khôn: Hay khôn ngoan là hiểu biết thấu đáo.

Trí khôn, tức là “Trí khôn ngoan” là cái khả năng suy nghĩ và hiểu biết.

Thánh giáo Thầy có câu: Còn có một hạng người cũng có tánh thiêng liêng ấy, nhưng lại không để trí khôn vào lối cao thượng, mà cứ quen thói hung hăng, nghĩ những việc bạo tàn, làm điều tội lỗi, ấy là những kẻ nghịch Thiên, không biết luân hồi là chi cả.

1.- Trí khôn:

Kệ kinh gọi món ru hồn,

Tánh hay ngạo báng trí khôn ám mờ.

(Lược Thuật Toà Thánh).

2.- Trí khôn ngoan:

Con người có trí khôn ngoan,

Tánh linh hơn vật biết đàng lễ nghi.

(Kinh Sám Hối).

Dạy cho hiểu nữ nam đồng bực,

Trí khôn ngoan cân sức vốn như nhau.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TRÍ LỰ

智 慮

Trí: Khả năng nhận thức, suy nghĩ, phán đoán của con người. Lự: Lo lắng.

Trí lự là những điều lo lắng, suy nghĩ trong trí óc.

Nói về Thiên tài và Nhơn tài, Đức Hộ Pháp có câu: Muốn thắng nó đặng thì trí lự tìm phương quyết thắng, tạo ra súng ống đặng tự vệ lấy mình, nên làm chủ nó được.

Chúng ta nhờ tìm mà hay, nhờ học mà hiểu, đào luyện trí lự đặng nối chí tiền nhơn.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

TRÍ LỰC

智 力

Trí: Phần khôn, phần thông hiểu ở trong đầu óc con người. Lực: Sức, sức mạnh.

Trí lực là năng lực trí tuệ.

Trí lực còn có nghĩa là Sự hiểu biết và sức lực.

Trong Thiên Đạo, hai Ngài Nguyễn Trung Hậu và Phan Trường Mạnh có viết: Đức tin đã mạnh mẽ, thì không một việc gì ở thế gian nầy long lay nó được. Là vì, đã tin chắc ở đạo, chúng ta đem trí lực hăng hái, cả tinh thần cứng rắn mà làm đạo, thế nào chúng ta lại không đủ nghị lực chống chõi bất kỳ một biến cố nào “Đức tin, theo phương ngôn Âu tây, dời cả núi non”.

Đứa nào có trí lực bao nhiêu, khá đem ra mà thi thố, chớ đừng sụt sè theo thói nữ nhi, vậy cũng uổng cái điểm linh quang của Thầy ban cho các con lắm.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TRÍ MƯU

智 謀

Trí: Hiểu rõ sự lý. Mưu: Chước, kế.

Trí mưu, như chữ “Mưu trí 謀 智”, là tài trí và mưu kế, chỉ sự khôn khéo mưu mẹo.

Như: Anh ấy có nhiều trí mưu hay.

Không đáng phận xôn xao làm quá phận,

Không tài ba lại trổ mặt trí mưu.

(Bát Nương Giáng Bút).

Nếu khéo giữ trí mưu sắp đặt,

Dạy muôn điều nhắm nhắc vâng theo.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TRÍ NÃO

智 腦

Trí: Hiểu rõ sự lý, thông minh. Não: Bộ phận nằm trong óc, chỉ sự hiểu biết thông minh.

Trí não là trí và não, chỗ hiểu biết. Như: Đọc sách làm mở mang trí não.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có câu: Người đời chẳng khác con buôn trong buổi chợ, cả sức lực, trí não, tinh thần đều bị tiêu tán nơi ấy, vì vậy mới hoại chơn linh, thất ngôi diệt vị.

Nguyện Ơn Trên cho yên trí não,

Nguyện Phật, Tiên dạy bảo Chơn linh.

(Kinh Thế Đạo).

Trí não không cơn vui đạo đức,

Ðức không đủ đặng có nên giàu.

(Đạo Sử).

 

 

TRÍ NHÀN

致 閒

Trí: Thôi, nghỉ, ý chỉ thôi việc làm quan hay nghỉ việc đời. Nhàn: Rảnh rang, thong thả.

Trí nhàn là người từ bỏ việc đời, lui về sống cảnh an nhàn với thiên nhiên, tu tâm dưỡng tánh.

Khách trí nhàn đời ấy là buổi chung quy của bậc Chí Thánh vậy.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TRÍ ÓC

Trí: Khả năng nhận thức, suy nghĩ, phán đoán của con người. Óc: Chất trắng, mềm chứa trong sọ con người.

Trí óc là óc của con người, coi là biểu tượng của khả năng nhận thức.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Ðứa bé thơ kia học ai trước hết? Học cha mẹ nó. Trí óc non nớt của nó chưa có hình trạng gì, bởi lúc sơ sanh không có điều gì ô trược dính vào chung quanh nó, hỏi nó trông vào ai, dòm ai. Dòm cha bắt chước cha, dòm mẹ bắt chước mẹ, dòm anh em bắt chước anh em.

Văn minh tấn bước đua tài,

Mở mang trí óc hoát khai tinh thần.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

TRÍ PHÀM

智 凡

Trí: Khả năng nhận thức, suy nghĩ, phán đoán của con người. Phàm: Tầm thường, phàm tục.

Trí phàm hay “Phàm trí 凡 智” là trí của người phàm phu, tức là trí tầm thường của kẻ chưa dứt phiền não, còn thất tình, luyến ái tham dục, chìm đắm trong đường danh nẻo lợi, chưa giác ngộ.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Thầy có dạy: Nền Ðạo cao thâm là mấy, trí phàm không thấu lý sâu, nếu các con chẳng ra khỏi vòng trần tục thì các con chẳng là luống công theo Thầy kể đã đầy năm.

Đại Từ Phụ ra ơn dìu dẫn,

Diệt trí phàm: Hờn, giận, ghét, ganh.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

TRÍ QUÂN

1.- Trí : Tới cùng, hết sức. Quân: Vua.

Trí quân 致 君 là giúp vua nên hiền đức:

Theo truyền thuyết Nghiêu, Thuấn là hai vị vua hiền đức, trị dân được thái bình thịnh trị.

Trí quân” là do bởi câu “Trí quân Nghiêu Thuấn 致 君 堯 舜” nghĩa là giúp vua trở nên hiền đức như đời vua Nghiêu, Thuấn.

Nên thiền khi trước lập công danh,

Chín bệ xem qua chẳng trí quân.

(Đạo Sử).

2.- Trí : Khả năng nhận thức, suy nghĩ, phán đoán của con người. Quân: Người.

Trí quân 智 君 là chỉ người trí thức. Người trí thức là người không theo phò hôn quân hại dân hại nước.

Quốc gia nghèo nàn, dân khó mở mang,

Lăng điện phá hoại, Văn miếu bỏ hoang,

Trí quân lánh mặt, hồn nước điêu tàn.

Gặp cơn xúi ác giục loàn,

Người ngay tránh dạng, đứa gian khoe mình.

(Ngụ Đời).

 

 

TRÍ SĨ

致 士

Trí: Đến, thôi, nghỉ, chỉ đến lúc nghỉ ngơi. Sĩ: Kẻ có học, người làm quan.

Trí sĩ là người thôi làm quan, trở về với gia đình.

Đời nhà Châu bên Trung Hoa, quan Đại phu nào đến tuổi bảy mươi thì làm lễ trí sĩ.

Thường danh từ trí sĩ dành cho các vị quan lớn, còn các ông quan nhỏ thì gọi là hưu trí.

Như: Nguyễn Trãi vè trí sĩ tại Côn Sơn.

Nêu danh trí sĩ nhà quan nghiệp,

Có thuở ơn ban nghiệp sách đèn.

(Đạo Sử).

Đảnh Hớn đã vào tay trí sĩ,

Hươu Tần nay chịu ngọn gươm điều.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

TRÍ THỨC

智 識

Trí: Hiểu biết sự vật. Thức: Biết.

Trí thức sự hiểu biết rộng rãi. Trí thức này khác với trí tuệ. Trí thức là trí thông minh bình thường dùng trong các sự học hỏi, suy luận hiểu biết trong đời sống hàng ngày. Còn trí tuệ là sự chứng ngộ chân lý vạn hữu, là sự nhận thức sáng tỏ về thực tại sau khi mọi phiền não, vô minh được diệt trừ. Trí tuệ đồng nghĩa với giác ngộ.

Thánh giáo Chí Tôn có câu: Làm sao cho dứt mối hiềm thù riêng của mỗi đứa, hiệp đồng trí thức mà làm cho người ngoài dòm vào, nhìn nhận mối Ðạo quý hoá và thảy đều sùng bái cử chỉ cao thượng của các con.

Không sâu trí thức hiếu hơn người,

Nếu chẳng mắt Thầy hỏi có ngươi.

(Đạo Sử).

Dồi trí thức tinh thần đẹp đẽ,

Trau tài ba vẹn vẽ anh thư.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Hễ có thân âu biết thương thân,

Lấy trí thức định phân cho cạn.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TRÍ TRI

致 知

Trí: Tới cùng, hết, nghỉ. Tri: Sự hiểu biết.

Trí tri là đạt được cái hiểu biết đến tận cùng.

Sách Đại Học có câu: “Trí tri tại cách vật 致 知 在 格 物”, nghĩa là muốn có cái trí thức hiểu biết đến cùng tột, ắt phải nghiên cứu sự vật.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Chủ nghĩa duy vật đã lan tràn khắp trong đất nước và đầu độc hết chín phần mười dân tộc Việt Nam, nền luân lý cổ truyền đã đổ vỡ, người ta đã vứt bỏ hết mọi căn bản đạo đức và họ đã chơi vơi lưu lạc trong đêm dài mờ mịt, chỉ vì đời sống của họ thiếu hẳn quân bình giữa vật chất và tinh thần, tức là thiếu luồng điện hoà hợp, thiếu cái biết trí tri của tâm linh hay là ánh sáng dẫn đến trực giác.

Gẫm coi tổn bấy nhiêu công,

Làm cho thiên hạ đại đồng trí tri.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TRÍ TRI CÁCH VẬT

致 知 格 物

Trí tri: Đến sự biết. Cách vật: Tìm hiểu sự vật.

Trí tri cách vật nghĩa là lấy cái lẽ sâu xa của sự vật mà suy ra cái trí thức cùng cực thì thấu đáo được tất cả.

Theo sách Đại Học, có cách vật mới trí tri, có trí tri mới thành ý, có thành ý mới chánh tâm...

Xem: Cách vật trí tri.

Tánh tâm tập lấy gương lành,

Trí tri cách vật cho rành phận ta.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

TRÍ XẢO

智 巧

Trí: Hiểu biết sự vật, khả năng nhận thức. Xảo: Khéo léo, giỏi dắn.

Trí xảo là sự hiểu biết khéo léo. Như: Cơ khí là những vật trí xảo của thời đại văn minh.

Học cho thấu máy linh cơ tạo,

Học cho toàn trí xảo văn minh.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TRÌ

1.- Trì là ghì, níu, níu giữ, dùng lực để kéo lại hoặc kéo xuống. Như: Kẻ trì người kéo, nặng như có ai trì.

Thánh giáo Thầy có dạy: Các con nếu biết chánh tà thì nên vì Thầy, vì chúng sanh mà dìu dắt cho nhau, chớ phế hết mà trễ ngày giờ, chẳng thế chi trì lại với sự lầm lạc cám dỗ. Các con hiểu à!

Nương chơn chưa biết chơn nào vững,

Níu thử cân đai thấy nặng trì.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nầy là chỗ thiếp còn niên thiếu,

Nầy là nơi chàng níu thiếp trì.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Trì là cầm, giữ. Như: Trì thủ, trì tâm, trì chí, trụ trì, duy trì, thọ trì.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Nhưng nếu không có Ðức Hộ Pháp là người có sứ mạng đặc biệt về mặt bí pháp và có sẳn kiên tâm trì chí thì Ðạo Cao Ðài cũng không thể lập thành.

Khuyên em trọng Đạo thương Thầy,

Khuyên em trì chí có ngày rảnh rang.

(Bát Nương Giáng Bút).

3.- Trì là hộ, đỡ. Như: Phù trì, hộ trì.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Nơi chốn xa xôi, trên đường nhiệm vụ, nếu quý vị có đủ chí thành, quý vị nên tin tưởng là tiếng nói của Ðức Chí Tôn và Ðức Phật Mẫu sẽ ở bên tai quý vị luôn luôn và các Ðấng Thiêng Liêng sẽ hộ trì quý vị theo lời cầu nguyện.

Xưa chẳng đặng phước may gặp Đạo,

Nay phò trì con cháu tu tâm.

(Kinh Thế Đạo).

4.- Trì là ao. Như: Thành trì, Diêu Trì Cung, Diêu Trì Kim Mẫu, liên trì (ao sen).

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Mấy em như là “Kiến trúc viên” vẽ từ nét coi từ điều, quan sát tất cả mọi hay dở mà sửa đổi cho tận thiện tận mỹ, cái thành trì Chí Tôn giao cho mấy em kiến trúc đó sẽ tạo lập thành quách tương lai mà chớ.

Liên trì mai nở sắc sen sưa,

Cải ác ngày nay nghĩ cũng vừa.

(Đạo Sử).

 

 

TRÌ CHÍ

持 志

Trì: Nắm lấy, giữ lại. Chí: Ý chí.

Trì chí là giữ ý chí cho bền vững, tức bền chí. Như: Anh ấy rất trì chí học tập.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Ðường đạo vững bền, chớ nên bạo tính mà cũng chẳng nên giải đãi bần dùng, gắng công trì chí, liệu chừng với nhau mà vẹt cho sạch mấy lối chông gai để cho dễ bước đường sau tấn bộ.

Hữu công trì chí Thiên cơ toán,

Mạc nại lao lung trạch hảo nhân.

(Đạo Sử).

Diêu đường chỉ ngõ đâu nên nỗi,

Trì chí trì tâm vẫn một nhà.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

TRÌ GIỚI

持 戒

Trì: Cầm, kiềm chế, giữ gìn chặt chẽ. Giới: Những điều răn cấm.

Trì giới là giữ gìn giới cấm.

Giữ gìn giới cấm có khả năng ngăn ngừa sự sai trái, không làm các việc ác.

Nghiêm trì giới luật không có tính cách tù túng trói buộc, bởi vì người giữ giới nhận thấy hành trì giới luật đem lại cho mình sự ổn định, an lạc và hạnh phúc.

Mục đích của giới luật là giúp người tu thành đạt quả vị giải thoát.

Tu không trì giới tỷ ngựa hoang,

Chạy nhảy không cương dẫn nẻo đàng.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

TRÌ HUỠN

Hay “Trì hoãn”.

Trì: Chậm chạp. Huỡn (hoãn): Cho chầm chậm, không gấp gáp.

Trì huỡn, như chữ “Trì hoãn 遲 緩”, là không vội vàng, nghĩa là có ý dùng dằng để cho chậm trễ.

Thánh giáo Thầy có dạy: Thầy biểu xuống đây có việc cần mà các con trì huỡn thì không biết có phải nghịch với Thánh ý Thầy không há?

Nét nào chưa vẹn, khá biết sửa lần, chớ nên trì huỡn.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TRÌ KÉO

Trì: Níu giữ. Kéo: Rì lại hoặc lôi đi.

Trì kéo là níu kéo, hoặc lôi mạnh đi.

Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Thánh giáo Lý Giáo Tông có dạy: Chư Hiền hữu từ đây nên hiệp trí chung lo mà mở một con đường mới dìu dắt chúng sanh, cái cơ quan ấy chưa chắc chư Đạo hữu sẽ làm đặng trọn, nhưng lần mở bước đầu đi, rồi sẽ có phương hay cho chư Đạo hữu vững bước mà trì kéo những đứa đã quá sa lầm nơi tay tà quái.

Để con đường thẳng bước sang,

Khỏi ai trì kéo đặng an tinh thần.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

TRÌ NIỆM

持 念

Trì: Nắm lấy, giữ lại. Niệm: Tưởng, đọc thầm trong miệng hoặc tưởng đến điều mình cầu nguyện.

Trì niệm, bởi câu “Trì danh niệm Phật”, tức là cách niệm Phật tuỳ theo năng lực của mình, niệm thầm trong tâm hoặc niệm lớn tiếng.

Dù niệm cách nào, cũng phải chuyên tâm, giữ một lòng trì niệm, không để cho vọng niệm xen vào.

Nguyên tắc trì niệm là duy trì một niệm (Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát) bằng cách lập đi lập lại để chận đứng những vọng niệm xâm nhập.

Mục đích trì niệm là để chuyển đổi tà niệm thành chánh niệm, dứt sạch các vọng niệm.

Sáng chiều tĩnh lặng lo trì niệm,

Thế sự bon chen mặc chuyển vần.

(Thơ Vân Đằng).

 

 

TRÌ TÂM

持 心

Trì: Gìn giữ, kiềm chế. Tâm: Tâm, lòng dạ.

Trì tâm là giữ cái tâm, hay kiềm chế cái tâm, tức là giữ cái tâm thiện lương cho còn mãi mà Nho giáo gọi là “Tồn tâm 存 心”.

Như: Người biết trì tâm thì không bao giờ làm bậy.

Trì tâm tu hướng đáo Tây Phương,

Bất viễn kim môn hữu mã đường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Diêu đường chỉ ngõ đâu nên nỗi,

Trì chí trì tâm vẫn một nhà.

(Bát Nương Giáng Bút).

Thọ sắc tam quy câu cứu khổ,

Trì tâm ngũ giới tiếng nam mô.

(Thơ Thượng Sanh).

 

 

TRÌ TRAI

持 齋

Trì: Cầm, kiềm chế, giữ gìn chặt chẽ. Trai: Có nghĩa là thanh tịnh, hoặc chỉ chay lạt, tức ăn đồ thực vật, không ăn thịt cá.

Trì trai ý nói con người khi bước vào đường tu hành thì phải giữ gìn chay lạt.

Một tín đồ Cao Đài khi mới nhập môn thì phải giữ tròn luật Đào, mỗi tháng tập sự ăn chay sáu ngày, rồi sau phải trọn giữ mười ngày, thì theo Pháp Chánh Truyền, vị Đạo hữu ấy được đối phẩm với hàng Địa thần và được thọ truyền bửu pháp.

Diêu đức trâm anh gương nữ kiệt,

Trì trai giữ giới độ non sông.

(Ngũ Nương Giáng Bút).

Thủ giới trì trai niệm chuỗi lần,

Quên mùi chả phụng với nem lân.

(Thơ Phạm Mộc Bổn).

 

 

TRÌ TRỆ

遲 滯

Trì: Chậm chạp. Trệ: Ứ đọng, không thông.

Trì trệ là chậm chạp, không mau chóng, tức lâm vào tình trạng phát triển chậm chạp đến mức như ngừng lại, không tiến lên được.

Như: Công việc bị trì trệ, việc quan để trì trệ phải bị cấp trên khiển trách.

Người mà trì trệ tinh thần,

Biếng làm Ðạo đức, không cần nghĩa nhơn.

(Đại Thừa Chơn Giáo}.

 

 

TRĨ MẪU ĐƠN

雉 牡 丹

Trĩ là một loại chim thường kết đôi lứa trống mái, không tham chạ như loài gà vịt, vì vậy trên áo bà Hoàng Hậu thường thêu hình chim trĩ có lông ngũ sắc, tỏ ý là người trinh chính.

Do điển đời vua Hùng, nước ta có cống sang Tàu một con chim Bạch trĩ. Chim nầy khi qua xứ Bắc, thường tìm những cây day ngọn về phía Nam đậu, nên người ta cho rằng nó nhớ tổ ở phương nam. Chim trĩ tượng trưng cho sự nhớ nhà.

Mẫu đơn là một loại hoa có sắc đỏ, trắng, vàng, tía, bông rất đẹp, dáng đài các, nên người đời thường cho mẫu đơn là vua trong các loài hoa.

Do tích đời nhà Đường, khi Cao Tông băng, Võ Hậu chuyên quyền phế lập các ngôi Thái Tử và sau cùng tự lập mình làm vua, xưng là Võ Tắc Thiên Hoàng Đế, đổi quốc hiệu là nhà Châu (Chu).

Gần đến ngày tết nguyên đán, một tôi thần là Trương Tôn Xương tâu với Tắc Thiên: Bệ hạ lên ngôi, uy đức bao trùm các cõi, trên thần thánh, dưới con người và cỏ cây, mọi loài đều phục, xin Bệ hạ ban một sắc chỉ cho các loài hoa trong vườn thượng uyển đua nhau nở để làm đẹp lòng Bệ hạ.

Võ Tắc Thiên liền ban sắc chỉ, các loài hoa trong vườn đều nở rộ, chỉ có hoa mẫu đơn là không chịu nở. Võ Tắc Thiên nổi giận, bèn ra lịnh đày hoa mẫu đơn xuống đất Giang Nam. Từ đó, người ta coi mẫu đơn là loài hoa vương giả, có nghĩa khí, không phục kẻ gian tà.

Trên hành lang Báo Ân Từ, bên phía Nữ phái có bức tranh vẽ “Mẫu đơn, trĩ” để nói lên lòng chính đính, chánh trực, biết thương nước yêu nhà.

Vật đồng tánh thương vua, mến nước,

Trĩ, mẫu đơn đời được mến danh.

Chọn hướng chim Việt lộn quanh,

Loại hoa vi chủ giữ cành thiên hương.

(Báo Ân Từ).

 

 

TRỊ

1.- Trị là sửa, chữa. Như: Trị loạn, trị bệnh.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có câu: Chư đạo hữu mựa luận bàn, để phải quấy Lão cũng ra tay sửa trị được vậy, miễn là làm xong phận sự là đủ, còn nét vạy tà của ai để mặc ai.

Buộc ràng túng tíu cõi Nam Châu,

Trị loạn vần xây cuộc bể dâu.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

Tâm ái nhơn sanh an bốn biển,

Tâm hoà thiên hạ trị muôn năm.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

2.- Trị là coi sóc, cai quản. Như: Trị gia, trị quốc.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Chẳng một ai dưới thế nầy còn đặng phép nói rằng thế quyền cho Thầy mà trị phần hồn của nhơn loại.

Âm chất lo trau mình vẹn trước,

Trị đời đáng thế đến hoà bình.

(Đạo Sử).

Muôn một ít đời lòng khá nhớ,

Trị nhà phải nhớ nước non dài.

(Đạo Sử).

3.- Trị là răn, làm cho chừa. Như: Trị tội, răn trị, trừng trị, có tội thì phải trị.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy cũng có phép răn trị kẻ vạy tà, các con duy có trông cậy nơi Thầy, bước đường cứ thủng thẳng đi lần tới, đừng gấp quá, mà cũng chớ thối lui, thì một ngày kia sẽ đặng toại kỳ sở nguyện.

Thương không nghiêm trị là thương dối,

Dối dạ vì chưng yếu dạ thương.

(Đạo Sử).

4.- Trị là đáng, vừa. Như giá trị, cái nhà nầy trị giá cao, hàng hoá nầy có giá trị.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Mình vì chữ thiện mà dạy người thì giá trị mình đã cao thượng rồi, mà còn thẹn nỗi gì?

Trọng thân con khá biết trọng người,

Cái giá trị mình phải có nơi.

(Đạo Sử).

 

 

TRỊ AN

治 安

Trị: Làm cho không còn bị loạn nữa. An: Yên ổn.

Trị an là việc cai trị để nhân dân được an ổn và không rối loạn, đó là hai việc cần thiết cho nền hành chánh trong nước.

Như: Khi bổ nhiệm ông đến cai quản thì dân chúng vùng nầy được trị an.

Cầm cân, cân đúng điều tranh tụng,

Giữ luật, luật làm phép trị an.

(Quang Cảnh Toà Thánh).

 

 

TRỊ BÌNH

治 平

Trị: Sửa sang không cho rối loạn. Bình: Yên ổn.

Trị bình là làm cho nhà nước được yên ổn.

Sách Đại Học có câu: Quốc trị nhi hậu thiên hạ bình 國 治 而 後 天 下 平, nghĩa là nước có trị, sau đó mới có an ổn được.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: ...Ta thấy những nhà hành Đạo truyền giáo họ thúc giục tương tranh, tương đấu nhau vào đường chiến trận mà thôi, ta thấy lịch sử lưu lại triết lý Tiên Gia chỉ giục loạn chớ không trị bình đặng.

Giang san tô điểm tay hào kiệt,

Đất nước trị bình đức Thánh quân.

(Thơ Hiến Đạo).

Tự do sản xuât vui ân ích,

Giúp thuyết Đường Ngu để trị bình.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

TRỊ GIA

治 家

Trị: Sửa sang công việc, trừng phạt. Gia: Nhà.

Trị gia là sửa sang việc nhà.

Trong Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ta thấy từ khi các quốc gia nầy chẳng chịu ảnh hưởng của Nho Tông mà lập quốc, đã trở nên suy đồi bởi nguyên căn nào, do trị gia bất nghiêm!

Đừng phiền cách trị gia cao thấp,

Nhớ thơ ngây cha tập đến trường.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TRỊ GIA BẤT NGHIÊM

治 家 不 嚴

Trị gia: Sửa sang việc nhà. Bất nghiêm: Không nghiêm khắc, không chặt chẽ.

Trị gia bất nghiêm là nói người người chủ trong gia đình (cha) sửa trị con cái không nghiêm khắc, để con cái hư hỏng, làm nhiều việc sái quấy.

Trong bài Đệ Nhứt Chủ Quyền Của Xã Hội Việt Nam, đức Hộ Pháp có câu: Các vì Vua trị gia bất nghiêm, biểu không bại hoại sao được, mà Ðệ Nhứt gia đình thất đạo có liên quan mật thiết đến cả toàn bá tánh thất đạo.

Ta thấy từ khi các quốc gia nầy chẳng chịu ảnh hưởng của Nho Tông mà lập quốc, đã trở nên suy đồi bởi nguyên căn nào, do trị gia bất nghiêm!

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

TRỊ LOẠN

治 亂

Trị: Làm cho nhà nước được yên ổn, không rối loạn. Loạn: Rối trật tự.

Trị loạn ý nói nước nhà được an ổn hay loạn lạc.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Nền Ðạo chinh nghiêng, ấy cũng nơi Thiên định. Nước có trị loạn, đời có hưng vong, thì Ðạo tất phải có dùn thẳng quanh co, rồi mới đến thẳng rẳng đường ngay mà lập nên thể thống.

Trị loạn những nhờ người dị chủng,

An dân lại cậy kẻ tay ngoài.

(Thơ Hộ Pháp).

Hưng vong lối cũ tua ghi dạ,

Trị loạn nền xưa gắng tạc lòng.

(Thơ Tiếp Đạo).

 

 

TRỊ THẾ

治 世

Trị: Yên ổn, thái bình. Thế: Cõi đời, cõi thế gian.

Trị thế là trị đời, tức làm cho cõi thế gian được yên ổn, nhân dân được ấm no hạnh phúc.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có dạy: May thay! Thiên thơ do một mặt chẳng chi dời đổi trở ngăn, nên may ra nữa, từ đây Lão có phương cầm quyền trị thế.

Nay gần đặng Ngọc Hoàng Thượng Đế,

Tìm Chí Linh trị thế cứu đời.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

TRỊ THẾ THÁI BÌNH

治 世 太 平

Trị thế: Trị đời, tức sắp đặt mọi việc trong cõi đời. Thái bình: Rất yên ổn.

Trị thế thái bình là sửa trị mọi việc cho cõi đời được hoàn toàn yên ổn.

Ba lo trị thế thái bình,

Cộng chung Pháp luật Thiên Đình chí công.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

TRỊ THUỶ

治 水

Trị: Làm cho yên. Thuỷ: Nước.

Trị thuỷ là làm cho các sông ngòi, các con nước được lưu thông, không còn ứ đọng lại nữa.

Vua Hạ Võ chăn dân trị thuỷ,

Đào sông Lương sông Vị lưu thông.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

TRỊ VÌ

Trị: Làm cho yên, cai trị, cai quản. Vì: Do chữ vị là ngôi, chỗ ngồi.

Trị vì là ở trên ngôi mà sửa trị đất nước. Như: Vua trị vì hơn ba mươi năm.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Đức Cao Thượng Phẩm buổi ấy Ngài cũng nghĩ đến điều đó, làm cho Ngài phải thắc mắc là trong buổi nọ nước Trung Hoa thống trị một đại cường quốc chỉ lấy tinh thần làm căn bản vĩ đại trị vì thiên hạ thái bình, giờ phút này đeo đuổi theo nền văn minh tối tân mà chúng ta gọi là văn minh hoá học, chỉ biết tương tranh mà sống, lấy mạnh làm căn bản, tức nhiên lấy gươm đao làm phương trị thế, hai cái phương pháp, hai cái hành tàng ấy để trước mắt nhơn loại đều thấy rõ phương nào hay, phương nào dở, nên hay hư, một nền văn minh vĩ đại vi trị tức nhiên thiên hạ và thiên thượng đồng trị.

Cửu Trùng không kế an thiên hạ,

Phải để Hiệp Thiên đứng trị vì.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tịnh Phạn Vương ngai vàng truyền tử,

Sĩ Đạt Ta phải giữ trị vì.

(Báo Ân Từ).

 

 

TRỊ XẢO TRỪ TÀ

治 巧 除 邪

Trị xảo: Trừng trị kẻ xảo trá. Trừ tà: Diệt trừ tà mị.

Trị xảo trừ tà là trừng trị những kẻ xảo quyệt, diệt trừ bọn gian tà. Như: Đức Hộ Pháp dùng cây Giáng Ma Xử để trị xảo trừ tà.

Cứ nương dưới máy linh cơ Tạo,

Gươm huệ đưa trị xảo trừ tà.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

TRÍCH

Trích là rút ra, chọn lấy, nhặt ra. Như: Trích mấy bài thơ, trích quỷ ra giúp đỡ người nghèo.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Trong Ðạo Giáo của Ðức Chí Tôn trích ra một hạng Tiên, không còn chịu quyền của Ngọc Hư Cung định luật họ tự làm chủ họ, tự dùng quyền năng đặng đào tạo xác thân của họ, tạo y khuôn khổ họ đã muốn.

Phải trích ra một bài Thánh Ngôn dạy về đạo đức và đọc cho chúng sanh nghe.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TRÍCH ĐIỂM

謫 點

Trích: Trách điều lỗi. Điểm: Xem xét, kiểm điểm.

Trích điểm là vạch những cái sai, cái lỗi của người khác để chê trách.

Như: Mình nên xét lỗi mình trước, đừng trích điểm người khác.

Mà nội cái mưa nắng cũng chưa vừa lòng thiên hạ, cho nên mình cũng không nên trích điểm ai.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

TRÍCH LỤC

摘 錄

Trích: Lựa chọn mà rút ra. Lục: Viết lại, biên chép, hay ghi vào sổ.

Trích lục là chọn rút ra rồi chép lại, hay bản biên chép lại từ bản chính.

Như: Trích lục Thánh Ngộn Hiệp Tuyển.

Thánh giáo Đức Quan Âm có dạy: Thiếp tưởng bí pháp của Cựu luật vẫn yêm ẩn lắm điều khó minh đoán cho đặng, song sự chơn thật quả có hẳn trong ấy. Vậy cũng nên trích lục đặng phổ thông cho người, đặng phòng ngày sau minh lý đặng dễ dàng. Thiếp tưởng là điều rất hữu ích đó vậy.

Thánh Ngôn và Văn Thi đều phải trích lục cho kỹ càng, phải có Hội Thánh phê nhận rồi sẽ in thì khỏi điều sơ sót quan hệ.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TRÍCH TỬ

謫 子

Trích: Bị đày. Tử: Người.

Trích tử là người bị đày.

Đời nhà Đường thi sĩ Hạ Tri Chương mới gặp Lý Bạch đã tặng ngay cái mỹ hiệu “Thiên thượng trích tiên nhân 天 上 謫 仙 人” nghĩa là ông tiên bị đày xuống trần.

Từ đó người ta thường gọi Lý Bạch là “Trích Tiên 謫 仙” hay “Trích tử”, tức là vị tiên ở trên Thượng giới bị đày xuống nhân gian.

Vì vậy, tiếng “Trích Tử”, dùng để chỉ thi sĩ Lý Bạch đời nhà Đường bên Trung Hoa.

Thái Bạch Kim Tinh đương trị thế,

Trường Canh Trích Tử đến thăm trần.

(Đạo Sử).

 

 

TRIÊM

Triêm , như chữ “Triêm ”, là thấm vào, thấm ướt, không dùng một mình.

Như: Triêm ân mộc đức (thấm ơn gội đức), triêm nhuận (thấm nhuần), triêm nhu.

Thất ức niên gương lành chói rạng,

Môn đồ triêm mộ Đấng anh linh.

(Thơ Võ Thành Lượng).

 

 

TRIÊM ÂN

霑 恩

Triêm: Thấm vào, thấm ướt. Ân: Ơn.

Triêm ân ý muốn nói thấm nhiều ơn huệ của người trên hoặc các Đấng thiêng liêng.

Triêm ân, nghĩa bóng dùng để chỉ cái ơn ở trên ban khắp xuống.

Khai Pháp Chơn Quân rảnh nợ trần,

Tâm thành kỷ niệm hưởng triêm ân.

(Thơ Phạm Mộc Bổn).

Triêm ân tiền bối Hiệp Thiên Đài,

Tổ chức xây bàn Đạo khởi khai.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

TRIÊM NGƯỠNG MẪU ÂN

霑 仰 母 恩

Triêm ngưỡng: Ngửa lên nhờ ân đức nhuần gội. Mẫu ân: Ơn của Đức Mẹ, chỉ ơn Phật Mẫu.

Triêm ngưỡng Mẫu ân là ngẫng lên nhờ ơn Đức Mẹ nhuần gội ban xuống.

Hiệp trí hoà tâm, tinh thần quy nhứt, vĩnh sùng Chánh Giáo, giải thoát tiền khiên, triêm ngưỡng Mẫu Ân tứ phước.

(Sớ Văn).

 

 

TRIỀN

Triền là dải đất thoai thoải ở hai bên bờ sông, hoặc hai bên sườn núi. Như: Triền núi, ruộng triền.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có dạy: Bần Đạo chỉn để lời cho các đạo hữu rõ đặng lưu tâm mà hành sự, chớ con đường tuy chớn chở, triền núi vẫn khó qua, song ngọn đèn Trời đã chiếu tỏ mà dìu dắt các đạo hữu, thì nhiều ít gì rồi sau cũng đến chốn được.

Ðầy sông ngui ngút khói thuyền,

Ðầu non súng giữ, cuối triền gươm đoanh.

(Ngụ Đạo).

Lựa đèo tầm ngọc ẩn non Côn,

Triền đá cheo leo gắng bước dồn.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

TRIỀN BƯNG

Triền: Đất có bờ dốc thoai thoải xuống. Bưng: Vùng đồng lầy ngập nước có nhiều cỏ lác.

Triền bưng là chỉ những đám ruộng đất cao mà người nông dân gọi là ruộng triền, và những đám ruộng đầm lầy ngập nước, gọi là ruộng bưng.

Kìa nhịp cầu bên đầu khe nhỏ,

Đông chòm cây, Tây có triền bưng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TRIỀN CAO VỰC THẲM

Triền cao: Triền núi cao chất ngất. Vực thẳm: Hang vực sâu thâm thẳm.

Triền cao vực thẳm là chỉ triền núi cao và vực sâu thẳm, ý nói đường đi cheo leo hiểm trở.

Triền cao vực thẳm, rừng trước non xưa, cảnh vẫn đợi kẻ tìm về, nhưng giọng ai oán của khách lạc đường chẳng thế vạch Trời xanh soi thấu.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TRIỀN MIÊN

纒 綿

Triền: Quấn chung quanh. Miên: sợi tơ, sợi bông.

Triền miên là quấn quít nhau chặt chẽ, không gỡ ra được, tức ở một trạng thái nào đó kéo dài, dai dẳng, khó chấm dứt.

Như: Bịnh tật triền miên, khủng hoảng triền miên.

Ngủ uẩn thạnh khổ, tức là 5 yếu tố làm cho người không thấy chân thực, đâm ra triền miên trong ngũ trược và tạo nên khổ.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

TRIỂN

Triển là mở rộng ra, kéo dài thêm ra (không dùng một mình).

Như: Đạo càng ngày càng phát triển, làm càng lâu nghề nghiệp càng tiến triển, nợ khất được triển hạn thêm.

Đạo đức nơi lòng hằng chạm để,

Tinh thần phát triển chiếu quang minh.

(Lý Đại Tiên Giáng).

 

 

TRIỂN KHAI

展 開

Triển: Mở rộng ra, bày. Khai: Mở mang.

Triển khai là mở rộng ra thêm phạm vi quy mô lớn.

Như: Đề tài thảo luận được triển khai ra thêm, Triển khai công việc hằng ngày.

Đường đời chưa nếm mùi tân khổ,

Kiếp sống thêm mừng đạo triển khai.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

TRIỂN VỌNG

展 望

Triển: Mở mang, kéo dài thêm ra, như phát triển. Vọng: Trông mong, ước vọng.

Triển vọng nghĩa là có hy vọng mở mang phát triển mạnh về sau nầy.

Như: Tình hình rất có triển vọng.

Tân Sửu quay về đầy triển vọng,

Chúc Ngài mạnh khoẻ bước sang năm.

(Thơ Thái Phong).

 

 

TRIẾT LÝ

哲 理

Triết: Khôn ngoan, sáng suốt, hiểu rõ sự lý. Lý: Cái lẽ của sự vật.

Triết lý là lý lẽ tinh vi, huyền diệu trong triết học.

Triết lý nghĩa là quan niệm của con người về những vấn đề nhân sinh và xã hội.

Triết lý còn dùng để chỉ tỏ ý niệm riêng của mình về nhân sinh, xã hội.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Đức Khổng Phu Tử tự là Trọng Ni, cũng vì nhơn thấy đặng hung bạo của Đời nên lo trù hoạch phương châm giảm ác, mới đạt đặng triết lý chí thiện là cơ quan bảo thế, Ngài đắc thông nên tự nhiên biết rằng cơ tạo nghĩa là Trời Đất và vạn vật hữu hình, phải tấn hoá lần lần cho tận con đường chí thiện.

Tác phẩm cao siêu gồm triết lý,

Tiên Thiên Tiểu Học khuyến tu thân.

(Thơ Thượng Trí Thanh).

Giấc mơ trên bảo thành tâm hứa,

Ân điển nay nhuần triết lý hay.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

TRIẾT NHÂN

哲 人

Triết: Người hiền và có trí thức, hiểu biết hết sự vật. Nhân: Người.

Triết nhân là người hiền triết, chỉ người thông thái và có đức độ.

Khi Thuyết về Khổng Phu Tử, Đức Thượng Sanh có câu: Hai năm sau, đến tháng tư năm Nhâm Tuất đời vua Kinh Vương tức là năm 478 trước Tây lịch kỷ nguyên, một hôm Ðức Khổng Tử dậy sớm, đi vẩn vơ trước cửa, tay kéo lê cây gậy mà hát rằng: “Núi Thái Sơn có lẽ đổ chăng? Người triết nhân có lẽ nguy chăng? Cây lương mộc có lẽ nát chăng?

Văn chương mến tiếc người phong nhã,

Đức độ ai hoài bậc triết nhân.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

TRIỆT

Triệt là suốt. Như: Quán triệt, triệt để, thấu triệt.

Đại Thừa Chơn Giáo có câu: Người tu hành cần nhứt là phép tham thiền đặng tầm cái lý Ðạo cao siêu của Tạo Công đặt bày trên mấy cõi hư linh ngõ cho thấu triệt đến cả cội nguồn nguyên thỉ.

Lôi Âm Thánh cổ triệt hư không,

Truyền tấu Càn khôn thế giới thông.

(Kệ Trống).

 

 

TRIỆT ĐỂ

徹 底

Triệt: Suốt, hoàn toàn. Để: Đáy.

Triệt để là suốt thấu, thấu tận đáy, tức là làm đến cùng tột hoàn toàn. Như: Tin tưởng triệt để.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có dạy: Hại thay! Chớ phải chi, hai lẽ thiện và ác ấy cả Thánh Thể của Ngài đi một lối mà thôi, nói đơn giản, thà là làm Thầy Chùa thì Thầy Chùa, Thầy Pháp là Thầy Pháp, Đạo thời Đạo đi cho triệt để hay Đời cho triệt để đi.

Đức Khổng Tử khuyên phải triệt để thực hiện tuần tự những điều mục: Thành ý, Chánh tâm, Tu thân, Tề gia, Trị quốc, Bình thiên hạ.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

TRIỆT GIÁO

徹 教

Triệt Giáo là một phái đạo tu Tiên, trong thời Phong Thần, do Thông Thiên Giáo Chủ ở động Bích Du làm chưởng giáo, dạy các đệ tử tu hành thường đắc phẩm địa Tiên hay hàng Thần.

Phái Triệt Giáo có chủ trương phá bỏ những luật lệ tu hành khe khắc của Xiển Giáo, để mở rộng việc truyền giáo. Vì thế, các đệ tử của phái Triệt Giáo thường là những người thiếu hạnh đức, hoặc là bậc hoá nhân, nên kết quả việc tu hành không đạt được ngôi cao phẩm lớn.

Triệt Giáo được xem như “Tả đạo”.

Đứng giữ trung ương xem bảng Thánh,

Lao xao triệt giáo sống chen đầu.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

TRIÊU MỘ

朝 暮

Triêu: Buổi mai. Mộ: Buổi tối.

Triêu mộ là buổi mai và buổi tối.

Trong các ngôi chùa, khi công phu thường đánh chuông, trống vào buổi sáng và buổi tối mỗi ngày nên có câu “Triêu chung mộ cổ”.

Triêu mộ, cũng như chữ “Thần hôn”, còn dùng để nói việc thăm viếng cha mẹ sớm chiều của người con hiếu.

Triêu mộ quây quần bên gối Mẹ,

Thần hôn hội họp dưới chân Thầy.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

TRIÊU TỊCH

朝 夕

Triêu: Buổi sáng. Tịch: Buổi chiều.

1.- Triêu tịch, đồng nghĩa với chữ “Triêu mộ 朝 暮”, là chỉ buổi sáng và buổi chiều.

Càn Khôn Tạo hoá sánh tài,

Nhứt triêu nhứt tịch kỉnh bài mộ khang.

(Phật Mẫu Chơn Kinh).

2.- Triêu tịch còn có nghĩa là “Hành lễ triêu tịch”, tức là cúng cơm sáng và chiều cho người chết.

Trong nghi thức tang lễ của Đạo Cao Đài có lễ tế triêu tịch, tức là cúng cơm buổi sáng và buổi chiều cho người đã quy vị.

Bát cơm triêu tịch con đồng hiến,

Tuần Cửu siêu sinh bạn xúm quỳ.

(Thơ Vạn Năng).

 

 

TRIỀU

1.- Triều là chầu, tức vào chỗ vua ngự để gặp và nhận lịnh vua.

Như: Triều kiến nhà vua, triều cống ngọc ngà châu báu, triều bái Chí Tôn.

Đẩu tinh chiếu thấu Nguyên Tiêu,

Kim quang kiệu đỡ đến triều Ngọc Hư.

(Kinh Tận Độ).

Chơn linh đẹp đẽ mỹ miều,

Xuất dương sớm đã đến triều Ngọc Hư.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Triều , cũng đọc là “Trào”, là con nước dưới sông, biển dâng lên.

Như: Nước triều dưới sông dâng lên cao, xuồng nằm chờ ngọn thuỷ triều lên.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Công chỉ dẫn của Thầy phải lững đững theo giọt thuỷ triều, mà rồi rốt cuộc lại, bến khổ cũng chưa xa, ngôi xưa còn lánh mãi. Thảm thay! Tiếc thay!

Thuỷ triều vận tải biển đông,

Lòng hằng dường ấy phước đồng ăn chay.

(Kinh Sám Hối).

 

 

TRIỀU ĐẠI

朝 代

Triều: Nơi vua bàn việc nước. Đại: Thời đại, đời.

Triều đại là thời đại của một triều vua, tức là chỉ đời của một vị vua. Như: Triều đại nhà Lý.

Thuyết Đạo Thượng Sanh có câu: Xưa dưới triều đại của những đấng minh quân thì dân được giáo hoá trong tinh thần Nho giáo, nên phần nhiều là người có đức hạnh và nhơn phẩm cao quý, trừ ra một phần ít là hạng người thất học, mới có những tánh xấu, tham lam hèn hạ mà thôi.

Hào quang trước mắt chói loà,

Thiêng Liêng triều đại đây Toà Ngọc Hư.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

TRIỀU ĐÌNH

朝 廷

Triều: Nơi vua bàn việc nước. Đình: Nơi phát ra chánh lịnh cho cả nước theo.

Triều đình là nơi vua và bề tôi họp bàn về việc nước. Mạnh Tử có câu: Triều đình mạc ư tước 朝 廷 莫 於 爵, nghĩa là chốn triều đình không gì bằng chức tước.

Giúp dân hưởng chữ thái bình,

Văn ban võ bá triều đình đặc an.

(Kinh Thế Đạo).

Nhờ phép truy hồn chuyển phướn linh,

Tỉnh tâm dân chúng hướng triều đình.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

TRIỀU KIẾN

朝 見

Triều: Chầu lạy vua hay Thiên Đế. Kiến: Gặp.

Triều kiến là kẻ tôi thần vào chầu vua.

Trong đạo Cao Đài chữ “Triều kiến” dùng để chỉ các Đấng Thiêng Liêng vào chầu lễ Đức Chí Tôn.

Về triều kiến phập phòng chưa quyết,

Ngôi của mình nào biết mất còn.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

TRIỀU NGHI

朝 儀

Triều: Nơi hội họp của vua tôi. Nghi: Lễ nghi.

Triều nghi là những phép tắc và những lễ nghi của triều đình.

Trong tôn giáo Cao Đài, chữ “Triều nghi” là chỉ lễ nghi nơi Bạch Ngọc Kinh, tức cõi Thiên Đình.

Cung Bắc Đẩu xem căn quả số,

Học triều nghi vào ở Linh Tiêu.

(Kinh Tận Độ).

Thần Tiên cửu phẩm quy đàn nội,

Thể hiện triều nghi Bạch Ngọc Kinh.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

TRIỀU PHỤC

朝 服

Triều: Chầu lạy vua hay Thiên Đế. Phục: Quần áo.

Triều phục là quần áo của các quan mặc khi vào triều để chầu vua.

Như: Vào chầu vua phải chỉnh sửa triều phục.

Áo mão bày hàng nơi thị trấn,

Chính đồ triều phục hoá đồ chơi.

(Thơ Huệ Phong).

 

 

TRIỀU THIÊN

朝 天

Triều: Chầu lạy vua hay Thiên Đế. Thiên: Trời.

1.- Triều Thiên là chầu Thiên Đế, tức chầu lễ Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Theo nghi lễ đạo Cao Đài, vào thời tý ngày 24 tháng 12 hằng năm tại Toà Thánh Tây Ninh hay các Thánh Thất địa phương, có thiết đàn cúng Đức Chí Tôn gọi là lễ “Đưa chư Thánh triều thiên”.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Luôn dịp Bần Ðạo giải nghĩa tại sao phong tục nhà Nam gọi theo Ðạo Phật là đưa Ông Táo về Trời, chớ thật sự là đưa chư Thần, Thánh, Tiên, Phật về triều thiên, tinh thần từ trước vẫn vậy.

Thiết đàn đưa Thánh lễ Triều Thiên,

Tâm khấn Hư Cung sự nhãn tiền.

(Thơ Huệ Phong).

2.- Triều Thiên còn dùng để chỉ các Chức sắc Đại Thiên Phong quy Thiên.

Giáo Chủ triều Thiên ứa lệ hàng,

Nhơn sanh mấy triệu thọ tâm tang.

(Thơ Chơn Tâm).

Ngài Thượng Phối Sư trách nhiệm xong,

Triều Thiên nhớ lại quá đau lòng.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

TRIỆU

1.- Triệu là gọi lại, vời, đòi. Như: Triệu hồi, triệu tập, chiếu vua triệu về kinh thọ chức.

Trong Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ôi thôi! Buổi ấy rất biến đổi, đến chừng Ngài triệu hồi Đức Lý trở lại, rồi Đức Chí Tôn không thể gì phản kháng với Ngài nữa Ngài thường nhắc cả toàn Hội Thánh Hiệp Thiên và Cửu Trùng làm lễ đăng điện cho long trọng khi Ngài tái nhậm phận sự.

Bửu kinh đệ chiếu triệu quy hồi,

Khả tác từ duyên bất cử bôi.

(Đạo Sử).

Hễ trừ yêu thì triệu bà chằng,

Trị chồng dữ băng hăng mét mẹ.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Triệu là số đếm, bằng một trăm vạn (trăm muôn). Như: Muôn triệu sanh linh.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy lập nền Ðạo nầy ra, do nơi Thiên thơ, lại cũng có lòng từ bi, để vớt cả mấy chục triệu nguyên nhân lớn lao trở hồi cựu vị.

Triệu triệu nam nhi một gánh đời,

Chưa rồi công nghiệp đã mòn hơi.

(Đạo Sử).

Hồng Lạc giống nòi dầu thoát ách,

Là hai mươi triệu kẻ đồng gan.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

3.- Triệu là tên của một họ, hoặc tên của một nước vào thời Chiến Quốc.

Như: Triệu Khuôn Dẫn, Triệu Ẩu, Triệu Đà.

Xem: Sài Triệu Trịnh.

Sài, Triệu, Trịnh cũng nguyền như thế,

Mà nên mưu đủ kế đồ vương.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TRIỆU BIỆN

趙 卞

Triệu Biện, họ Triệu, tự là Duyệt Đạo, là người Tây An, đời nhà Tống, đỗ Tiến sĩ, làm đến chức quan Ngự sử. Tánh cương trực, mỗi khi đàn hặc không sợ kẻ quyền thế, nên người đương thời gọi ông là Thiết diện Ngự sử (Ngự sử mặt sắt).

Lúc làm quan đất Ích Châu, đất Thành Đô, ở đâu, ông cũng chỉ đem theo một cây đàn và một con chim hạc, chính sự dễ dãi đó, ông rất được dân chúng yêu mến.

Đó là lấy tích ông Triệu Biện đời Tống làm quan thanh liêm đến nỗi khi đi phó nhậm chỗ nầy sang chỗ khác, chỉ đem theo một con hạc và cây đàn cầm.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

TRIỆU HỒI

召 囘

Triệu: Gọi lại, vời đến. Hồi: Trở về.

Triệu hồi là nói về các quan hay các chức sắc được lệnh cấp trên đòi về. Như: Triệu hồi đại sứ về nước.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Buổi ấy rất biến đổi, đến chừng Ngài triệu hồi Đức Lý trở lại, rồi Đức Chí Tôn không thể gì phản kháng với Ngài nữa.

Công viên quả mãn đoạt cờ,

Nương theo xá lợi đơn thơ triệu hồi.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

TRIỆU VÂN

趙 雲

Triệu Tử hay Triệu Tử Long tên là Vân, người đất Thường Sơn nhà Thục, đời Tam Quốc, theo phò Lưu Bị.

Ông là một trong năm tướng tài của nhà Thục, lập được nhiều công lớn. Nổi tiếng nhất là đánh phá vòng vây tại trận Đương Dương Trường Bản phò ấu chúa A Đẩu, phá tan quân Tào Tháo.

Ðạt đầu công có gã Triệu Vân,

Tá Thục trong khi lớn sức Thần.

(Đạo Sử).

 

 

TRINH

1.- Trinh là chính đính, lòng ngay thẳng, chính trực, không tà vạy.

Như: Trung trinh 忠 貞 là ngay thật, trinh thần 貞 臣 là bề tôi trung chính.

Đường đạo dìu nhau chuộng chữ hoà,

Tiết trinh trong sạch giống dòng ta.

(Bát Nương Giáng Bút).

Đời hằng nói nam trinh nữ tiết,

Cuộc ái ân khí huyết cũng hoà nhau.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Trinh là nói về người con gái còn tân, chưa xuất giá. Như: Gái trinh, trinh nữ.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có đoạn: Nào là họ nói Đức Chúa Jésus do một người đồng trinh tự nhiên đẻ ra, chính mình trong Đạo sử của Đức Chúa Jésus, cha của Ngài là Ông Thánh Joseph, mẹ của Ngài là Bà Marie, họ lại nói Đức Phật Thích Ca khi xuất thế ở trong nách của Bà Maya mà ra, Đức Lão Tử cũng thế, họ làm cho giờ phút nầy cả tín đồ các Tôn Giáo khó giải quyết, họ đem cái lý do thần thoại nêu ra làm một sự chơn thật.

Tình nhi nữ tiết trinh là trọng,

Chớ học theo cái bóng của đời.

(Cửu Nương Giáng Bút).

Đóng chặt cửa giữ nguyên trinh tiết,

Trọng thân danh bền nét đào yêu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

3.- Trinh nói về người đàn bà không thất tiết, giữ vẹn lòng trong sạch với chồng.

Như: Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu.

Đã đành bẻ gãy chữ đồng,

Hiển linh chứng chiếu tấm lòng tiết trinh.

(Kinh Thế Đạo).

Út eo nhưng hiểu giữ bền lòng,

Trinh liệt thờ chồng đã gắng công.

(Đạo Sử).

 

 

TRINH LIỆT

貞 烈

Trinh: Trung trinh, lòng ngay thẳng. Liệt: Cứng cỏi, không khuất phục.

Trinh liệt là một lòng ngay thẳng, trung thành với vua với nước, hoặc đàn bà giữ lòng trong trắng, ngay thẳng với chồng.

Như: Làm tôi phải giữ tròn trinh liệt với vua.

Giá trong sạch nữ nhi trượng tiết,

Giữ cho tròn trinh liệt mới mầu.

(Kinh Sám Hối).

 

 

TRINH TIẾT

貞 節

Trinh: Con gái còn trong trắng, hoặc người đàn bà chỉ theo một người chồng cho đến trọn đời. Tiết: Giữ vững lòng ngay thẳng.

Trinh tiết là sự giữ gìn trong trắng của người đàn bà và con gái. Như: Người đàn bà phải giữ tròn trinh tiết.

Vì chưng trinh tiết chẳng gìn,

Có chồng còn lại ngoại tình với trai.

(Kinh Sám Hối).

Mây gió đành thân đem chứa giọt,

Ngàn năm trinh tiết phận yêu đào.

(Đạo Sử).

Đóng chặt cửa giữ nguyên trinh tiết,

Trọng thân danh bền nét đào yêu.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TRINH TRUNG

貞 忠

Trinh: Ngay thẳng. Trung: Hết lòng với vua.

Trinh trung, như chữ “Trung trinh 忠 貞”, là nói những kẻ bề tôi hết lòng ngay thẳng thờ vua, thờ nước.

Trinh trung phục quốc đương tranh đấu,

Chánh nghĩa hưng ban khó giảng hoà.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

TRÌNH

1.- Trình là bày tỏ, phô bày, đưa lên kẻ trên, tức người dưới báo lên cấp trên biết để xem xét. Như: Bị uất ức đi trình quan, lễ trình quốc thư.

Thánh giáo Thầy có câu: Kiêu hãnh thái thậm, vào muốn có người trình, ra muốn có kẻ cúi, khoát nạt, đè ép, biết mình mà chẳng màng biết đến người, hay ỷ sức mà chẳng dòm xem thời thế chẳng thâu phục nhân tâm, chẳng biết dùng khiêm từ mà đãi khách, là những nét của các bậc Vương Bá xưa dùng mà phải tan tành vũ trụ đó.

Các con cúi đầu trình Sư Phụ,

Gìn từ tâm khuyến nhủ tăng đồ.

(Kinh Thế Đạo).

Cải hạnh đố ngươi về tập thử,

Tháng sau sẽ đến trước trình Ta.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Trình là đường đi. Như: Hành trình, đăng trình, lộ trình, công trình.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Vậy các đạo hữu khá hết lòng lo lắng vun đắp nền đạo cho vững vàng, hiệp ý với Thiên cơ mà bước lần lên địa vị cao thượng, chớ sụt sè ôm thói mờ hồ thì đã uổng công trình cực nhọc từ bấy lâu nay, lại thêm chẳng đặng theo Thánh ý của Thầy, là bậc Chí Tôn đã hết sức nhọc nhằn cùng sanh chúng.

Ðường còn dài, bước càng nhọc, thì nền Ðạo càng cao, công trình càng rỡ.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TRÌNH ĐỘ

程 度

Trình: Đồ để đo lường. Độ: Vật để đo đạc, đo lường.

Trình độ là mức độ lớn nhỏ, cao thấp về sự hiểu biết, về kỹ năng được xác định, hoặc đánh giá theo tiêu chuẩn nhất định nào đó. Như: Trình độ kiến thức tổng quát.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Chỉ tranh quyền lợi mà nhơn loại đã tương tàn tương sát với nhau, chúng ta lấy theo tâm lý của loài người mà luận thì chưa có buổi nào mà trình độ tâm hồn của nhơn loại đã nghiêng đổ thái quá như buổi hôm nay.

Vả lại người ta thường do lời nói để tìm biết tâm chí và trình độ tấn hoá của mình.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

TRÌNH MÔN

程 門

Trình: Họ Trình, chỉ hai anh em Trình Di, Trình Hạo đời nhà Tống. Môn: Cửa.

Trình môn là cửa Trình, đồng nghĩa với “Sân Trình”, chỉ trường học Nho thời xưa.

Xem: Sân Trình.

Trình môn đã muốn ít câu văn,

Chải chuốt mép môi cũng gọi rằng.

(Đạo Sử).

 

 

TRÌNH QUỐC CÔNG

Trình Quốc Công là tước phẩm của vua nhà Mạc phong cho Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Như ta biết, khi Nguyễn Bỉnh Khiêm vừa được 52 tuổi, nhằm năm Quảng Hoà thứ 2 (1542), ông xin trí sĩ, treo mão về làng, dựng am Bạch Vân để ẩn dật.

Nhưng trong thời gian dưỡng lão, tuy không dự quốc chính, thế mà vua nhà Mạc vẫn kính ông như bậc Thầy, việc trọng đại thường sai sứ về hỏi, ông đều chỉ dẫn, nhờ vậy, ông được nhà Mạc liệt vào hạng đệ nhất công thần, phong tước là Trình Tuyền Hầu, dần dần thăng đến Lại Bộ Thượng Thư, Thái Phó Trình Quốc Công.

Xem: Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Nguyễn Bỉnh Khiêm tầm Tiên ẩn dạng,

Trình Quốc Công là trạng nhà Nam.

(Xưng Tụng Thanh Sơn).

 

 

TRÌNH TẤU

呈 奏

Trình: Thưa, cho biết. Tấu: Tâu báo lên vua hoặc Đức Thượng Đế.

Trình tấu là tâu trình. Người dưới trình bày với các vua chúa hoặc chúng sanh dâng sớ lên để tâu bày với Đức Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Quỳ tại Điện tiền thành tâm trình tấu.

(Sớ Văn).

 

 

TRÌNH TỬ

程 子

Trình: Họ Trình, nói hai anh em Trình Di, Trình hạo đời nhà Tống. Tử: Thầy.

Trình tử là hai anh em nhà họ Trình, tức là Trình Di, Trình Hạo cùng học một thầy là Chu Đôn Di.

Trình Di, em Trình Hạo, người Lạc Dương đời Tống, có tính chân thành, chú thích kinh Dịch và kinh Xuân thu, mở thành một phái.

Trình Hạo tự Bá Thuần, đỗ tiến sĩ, làm quan Giám sát Ngự sử, nghiên cứu tinh thông về bách gia chư tử

Noi gương Trình Tử lòng son rạng,

Học chí Quan Công đuốc ngọc làu.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

TRÌU MẾN

Trìu (tríu): Quấn quít, không rời ra. Mến: Yêu, ưa, tức có cảm tình, thích gần gũi vì thấy hợp ý.

Trìu mến, như chữ “Tríu mến”, là yêu mến quấn quít nhau, tức biểu lộ tình yêu thương tha thiết.

Như: Vuốt ve một cách trìu mến, đem lòng trìu mến.

Trong Đại Thừa Chơn Giáo có dạy: Luyện kỷ là lập cái tâm cho dứt sự thương yêu, trìu mến thê thiếp, tử tôn cùng ham muốn mọi sự ở thế gian.

Biết điều trìu mến thương yêu,

Giữ gìn quyền lợi làm điều ích chung.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

TRĨU

Trĩu là ở trạng thái bị sa thấp hoặc cong oằn hẳn xuống do sức nặng gây ra.

Như: Ngoài ruộng lúa trĩu bông, cành cây bưởi trĩu quả, lòng trĩu nặng ưu phiền.

Tang bồng hồ thỉ trĩu đôi vai,

Trang trải cho xong giấc mộng dài.

(Thơ Hàn Sinh).

 

 

TRO

Tro: Chất còn lại của một số vật, sau khi cháy hết nát vụn như bột và thường có màu xám.

Như: Hốt tro bếp, un tro trấu, nước sơn màu xám tro, nhà cháy thành tro.

Thấy giấy chữ rớt rơi lượm lấy,

Đốt ra tro bỏ chảy dòng sông.

(Kinh Sám Hối).

Chen mình đứng giữa bụi tro bay,

Xét kiếp phù sinh ngán ngẩm ngày.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

TRO BỤI

Tro: Chất còn lại của vật đã cháy tan, mịn như bột, màu xám. Bụi: Chất mịn bay lẫn trong không khí.

Tro bụi là hai loại chất nhỏ li ti, do các vật khác cháy hoặc tan biến thành, dùng để chỉ sự tan nát, tiêu thành.

Thánh giáo Đức Nhàn Âm Đạo trưởng có câu: Nền Ðạo thung dung được đứng sững trên cõi Việt mà đùm bọc che chở những kẻ hữu phước hữu phần, nếu dần dà chẳng tỉnh ngộ mà un đúc cho cứng khối tinh thần, để nay trở bước, mai đổi đường, thì mảnh xác phàm tục kia tránh sao khỏi lối tan tành ra tro bụi.

Vẫy vùng lắm lúc vùi tro bụi,

Nghiệp cả roi truyền mới đến ta.

(Mỹ Ngọc Thi Phổ).

 

 

TRÒ

1.- Trò là người đi học. Như: Học trò, thầy trò.

Thánh giáo Đức Thích Ca Mâu Ni Phật kim viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát có câu: Khi giáng lập đạo Tiên, Thầy có một trò là Nguơn Thỉ.

Nói ít biết nhiều là trò giỏi,

Hay làm chẳng nạnh ấy là lo.

(Đạo Sử).

Nên mặt trò kia Thầy có giá,

Chưa khoe dạn nắng chiếu không phơi.

(Đáo Sử).

2.- Trò là hoạt động diễn ra trước mặt mọi người để mua vui. Như: Diễn trò, trò chơi, trò ảo thuật, phường trò, bày đủ trò.

Thánh giáo Đức Thái Thượng Đạo Tổ có câu: Muốn an tâm tỉnh trí và đè nén lửa lòng, cần phải có một nghị lực vô biên, một tâm trung quảng đại, thì mới khỏi bực tức với những trò đã vì mạng lịnh thiêng liêng phô diễn ở nơi thâm hiểm nặng nề nầy.

Mộng ảo trò đời đâu mấy chốc,

Ngựa qua cửa sổ cuộc tan tành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nên trò đạo đức dễ gì đâu,

Vui chẳng vui, sầu chẳng dám sầu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

TRÒ CƯỜI

Trò: Hoạt động diễn ra trước mặt mọi người để mua vui.

Trò cười là trò bày ra để cười cho vui, thường dùng để chỉ việc làm lố lăng, đáng chê cười.

Thánh Ngôn Thầy có dạy: Thầy vì thương chúng sanh, tưởng công lao của mỗi đứa nên chẳng nỡ để cho mối Ðạo điêu tàn, nhưng nếu trong các con chẳng có đứa nào lãnh phần chế biến làm cho hoà thuận chung vui, để cho đến đỗi hiềm thù oán ghét nhau, mà để trò cười muôn thuở, uổng công dìu dắt của Thầy bấy lâu, thì biển khổ sông mê là nơi các con chịu đời đời kiếp kiếp đó.

Làm chi để tiếng trò cười,

Thấy đời hổ thẹn thói đời hủ thay.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

TRÒ CHƠI

Trò: Cuộc diễn ra trước đám đông để mua vui. Chơi: Cầu vui, giải trí, tiêu khiển.

Trò chơi là hoạt động bày ra để vui chơi, giải trí.

Như: Ngày Hội có nhiều trò chơi, việc thi cử mà nó coi như là trò chơi.

Biến lợi danh ra cuộc trò chơi,

Làm phú quý thành mồi hại thế.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

TRỌC

Trọc là không có tóc, không có cỏ.

Như: Sao không hớt cua cho thằng bé, mà lại hớt trọc như trái dừa khô vậy? Đầu cạo trọc, núi trọc, đồi trọc.

Vãi trọc hơn trang Hoàng Hậu thế,

Cửa chùa yên tịnh chẳng như đô.

(Đạo Sử).

 

 

TRÓI

Trói là buộc chặt lại để không thể cử động tự do được nữa. Như: Trói chặt vào cọc, bị trói tay, anh ta trói gà không chặt.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Cang thường điên đảo, phong hoá suy vi, những mảng ghét lẫn nhau, giành xé nhau, mối tôn giáo phân chia, đạo nước nhà chẳng đoái, chánh tà tà chánh nan phân, còn chút hơi thở ở cõi trần mà tính tình dọc ngang chưa chịu dứt, một mai hồn xuống Diêm Ðài, khổ A Tỳ bảo sao không buộc trói.

Thần thông trói chặt Ma vương quái,

Dìu bước vạn linh đến cảnh nhàn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nửa mái tóc tơ còn buộc trói,

Ðem mình toan gởi cửa anh linh.

(Đạo Sử).

 

 

TRÓI BUỘC

Trói: Buộc chặt để không cử động, hoạt động tự do được nữa. Buộc: Lấy dây quấn lại và thắt cho chặt.

Trói buộc, như chữ “Thằng phược 繩 縛”, là bị kìm giữ chặt chẽ, làm cho hoạt động bị gò bó, mất tự do.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Vì vậy, trăm ban vạn sự trên thế gian nầy đều có nguyên nhân chớ chẳng phải tình cờ mà chẳng phải do một định mạng nào cả. Tự ta làm cho đời ta phải khổ, ta tự trói buộc vào vòng luân hồi thì ta phải tự tháo mở, tự giải phóng cho ta vậy.

Nay anh phú quý vinh hoa,

Lợi danh trói buộc khó mà thoát thân.

(Thơ Hộ Pháp).

Vui thích chi mà thân trói buộc,

Để cho nòi giống chịu nguy vong.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

TRÓI LÔI

Trói: Buộc chặt để không cử động, hoạt động tự do được nữa. Lôi: Kéo níu.

Trói lôi là vừa bị ràng buộc lại vừa bị lôi kéo vào đường tội lỗi.

Như: Đi chơi bời riết bị trói lôi vào đường ma túy.

Ái dục trói lôi gây tội báo,

Não phiền quanh quẩn suốt trăm năm.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

TRÓI TRĂNG

Trói: Buộc chặt để cho không vận động tự do được. Trăng: Gông làm bằng hai tấm gỗ ghép với nhau, có khoét lỗ để đút cổ tội nhân vào.

Trói trăng là trói ké hai tay và đóng trăng vào cổ của kẻ phạm nhân, ý chỉ sự mất tự do.

Làm sao mọc cánh đại hùng,

Bay ra khỏi chốn gông cùm trói trăng.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

TRÒI TRỌI

Trọi (trụi): Mất hết sạch, không có gì.

Tròi trọi là trơ trọi, lẻ loi một mình, không có ai hoặc không có gì ở bên cạnh, chỉ sự cô đơn, thiếu thốn.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Thưa cùng Hội Thánh nam nữ, các cơ quan, hồi tưởng lại hai mươi mấy năm trước khi Đức Chí Tôn đến cùng chúng ta, cầm cây linh bút của Ngài tạo nền Chơn giáo. Ông đến với một thân già nghèo của Ông, chính mình Ông khai rằng: Ông là một Ông già nghèo Ổng nói: “Tròi trọi mình không mới thiệt bần”.

Tròi trọi mình không mới thiệt bần,

Một nhành sen trắng náu nương chân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chí dốc Đạo trời giữ trọn thân,

Mình không tròi trọi cái thanh bần.

(Thơ Huệ Ngàn).

 

 

TRÒN

1.- Tròn là có hình dáng, đường nét giống như hình tròn. Như: Hình tròn, đầu tròn, khuôn mặt tròn, tròn méo.

Dạy Ngài Thái Bính Thanh thực hiện quả Càn Khôn, Thánh giáo Thầy có câu: Thầy giao cho con lo một Trái Càn Khôn, con hiểu nghĩa gì không? Một trái như trái đất tròn quay, hiểu không? Bề kính tâm 3 thước 3 tấc (3m30), nghe con, lớn quá, mà phải vậy mới đặng, vì là cơ mầu nhiệm Tạo hoá trong ấy, sơn màu xanh da trời, cung Bắc Ðẩu và Tinh tú vẽ lên Càn Khôn ấy.

Đừng tức mẹ vả xiên ngắt xéo,

Ấy phép linh mẹ sửa méo ra tròn.

(Phương Tu Đại Đạo).

Không bạc túi, dầu tròn cũng méo,

Sẳn tiền lưng, thật dở ra hay.

(Thơ Huệ Giác).

2.- Tròn là trọn vẹn. Như: Tròn vẹn, một năm tròn, làm tròn bổn phận, tròn một ngày.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Hai con đã có lòng vun nền đạo đức, phải khổ tâm thêm nữa mà giữ cho tròn phận sự.

Tài tuy ít, đức nên nhiều,

Nhiều đức mới tròn bước Ðạo theo.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Tròn năm luống phận cần cù,

Không nuôi thê tử không bù thân sanh.

(Ngụ Đời).

Bác ái ví chưa tròn bước Ðạo,

Từ bi đâu vẹn chí thương Ðời.

(Thơ Huệ Giác).

 

 

TRÒN MÉO

Tròn: Hình tròn, không cạnh góc, vào đâu cũng lọt. Méo: Vật bị sai hình nhất định.

Tròn méo là hình tròn hay hình méo.

Tròn méo, như chữ “Méo tròn”, ý chỉ lời thêu dệt sai sự thật, từ méo vo thành tròn.

Đại Thừa Chơn Giáo có đoạn: Cái đức người Quân tử thường như nước vậy. Nghĩa là châu lưu khắp chảy tứ phương, gặp tròn, gặp méo, gặp dài, gặp vuông, nước cũng chiều theo được hết. Lại nước cứ từ cao chảy xuôi xuống thấp nên người quân tử luống chịu hạ mình cho vừa lòng tất cả nhơn sanh.

Tròn méo chi chi cũng nợ đời,

Muốn lừa muốn chọn liệu nên nơi.

(Đạo Sử).

Tâm rán đúc muốn tròn hay méo,

Tâm nhờ người thợ khéo đó con.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

TRỌN

Trọn là toàn, đầy đủ, đến tận cùng một giới hạn, phạm vi nào đó.

Trọn là đầy đủ tất cả, không có gì khiếm khuyết.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Ôi! Thầy đã lắm nhọc nhằn vì bầy con dại, muốn ra tay tế độ, vớt trọn cả chúng sanh thoát vòng khổ hải, nhưng chúng nó nhiễm luyến đã đầy mùi trần thế, tâm chí chẳng vững bền, thấy khó đã ngã lòng, mới đạp chông toan trở bước.

Làm lành cho trọn Phật Trời thương,

Hai chữ hơn thua chớ liệu lường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Vong xu trọn cả một Càn Khôn,

Hết kiếp thịt xương tới kiếp hồn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

TRỌN ĐẠO

Trọn: Vẹn cả, tròn. Đạo: Đạo đức hay tôn giáo.

Trọn đạo là vẹn cả đạo đức hay làm tròn với tôn giáo.

Như: Trọn đạo tào khang, trọn đạo với lời minh thệ.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Thầy có câu: Các con nghĩ sự tu hành khổ hạnh dường nào. Ðời mạt kiếp nầy dữ nhiều lành ít. Nếu Thầy không chuyển pháp lại thì chưa ai tu đặng trọn đạo.

Xử sao trên thuận dưới hoà,

Xướng tuỳ trọn đạo gần xa tỏ tường.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

Tưởng tơ tóc cùng nhau trọn đạo,

Theo tùng phu sửa áo nâng khăn.

(Kinh Thế Đạo).

Phải nợ tiền khiên dầu khó nhọc,

Cũng lo trọn đạo vợ chồng hiền.

(Đạo Sử).

 

 

TRỌN ĐỜI

Trọn: Vẹn cả, tròn. Đời: cuộc đời, chỉ khoảng thời gian từ lúc sống đến lúc chết.

Trọn đời là suốt cuộc đời. Như: Yêu nhau trọn đời.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Hỏi Ngài lập chí với bộ sách Xuân Thu mà thôi. Người sau có tặng cho Ngài đôi liễn: “Chí tại Xuân Thu, công tại Hớn; Trung đồng nhựt nguyệt nghĩa đồng thiên”. Trọn đời Ngài không lúc nào rời bộ sách ấy, lúc nào cũng đọc lấy tinh thần của sách suy luận làm tinh thần của mình.

Vui nơi đổ bác là vui khổ,

Vui thói tà gian lụy trọn đời.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Chính chuyên buồn chẳng trọn đời,

Thương người noi Đạo, Phật Trời cũng thương.

(Bài Thài Cửu Nương).

 

 

TRỌN KIẾP

Trọn: Vẹn cả, tròn. Kiếp: Đời người.

Trọn kiếp là tròn một kiếp, tức suốt một kiếp sanh. Như: Trọn kiếp làm thân trâu ngựa.

Thánh giáo Thất Nương Diêu Trì Cung trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có dạy: Nói cho cùng, nếu trọn kiếp, dầu gây lắm tội tình, mà phút chót biết ăn năn tự hối, cầu khẩn Chí Tôn độ rỗi thì cũng lánh xa cửa Âm quang, lại còn hưởng đặng nhiều ân huệ của Chí Tôn, là các chơn hồn đặng tự hối hay là đặng giáo hoá mà hiểu trọn chơn truyền lập phương tự độ, hay là con cái của các chơn hồn cầu rỗi.

Dầu trọn kiếp sống không nên Đạo,

Dầu oan gia tội báo buộc ràng.

(Kinh Tận Độ).

May sanh trọn kiếp vốn hiền lương,

Nẻo Thánh từ xưa giữ một đường.

(Thài Phối Thánh Màng).

 

 

TRỌN LÀNH

Trọn: Toàn, vẹn cả. Lành: Tốt lành.

Trọn lành, do chữ “Toàn thiện 全 善” tức là hoàn toàn tốt lành. Đấng Trọn lành chỉ Đức Chí Tôn hay các Đấng Thiêng Liêng.

Người xưa thường nói “Nhân vô thập toàn 人 無 十 全” nghĩa là làm người ở thế gian không bao giờ được vẹn toàn, chỉ có nơi cõi Thiêng Liêng các Đấng mới thật hoàn toàn, tức toàn thiện hay “Trọn lành”.

Dạy về Bất vọng ngữ, Thầy có câu: Thầy tưởng chẳng cần nói, các con cũng hiểu rõ rằng, đấng chơn linh ấy vốn vô tư, mà lại đặng phép giao thông cùng cả chư Thần, Thánh, Tiên, Phật và các Ðấng Trọn lành nơi Ngọc Hư Cung, nhứt nhứt điều lành và việc dữ đều ghi chép không sai, đặng dâng vào Toà Phán Xét.

Xem: Đấng Trọn lành.

Phải giữ chơn linh đặng trọn lành,

Ngọc Hư toàn ngự đấng tinh anh.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Phật Tiên đoạt phẩm trọn lành,

Trước cam thọ khổ, sau thành ngôi cao.

(Thượng Phẩm Giáng Bút).

 

 

TRỌN LÒNG

Trọn: Toàn, vẹn cả. Lòng: Lòng dạ, biểu tượng cho tâm lý tình cảm.

Trọn lòng là trọn vẹn tấm lòng, hay hết lòng. Như: Chị là người trọn lòng lo lắng cho con.

Thánh giáo Đức Quan Âm Như Lai có đoạn: Nhiều đạo muội chẳng để trọn lòng về nền Ðạo. Phải rán công thêm nữa đặng làm cho đáng nét yêu dấu của Ðấng Chí Tôn cho nở mày khách quần thoa cõi Việt.

Xét vì nhơn vật lẽ đồng,

Chắt chiu hằng để trọn lòng chung thương.

(Tán Tụng Công Đức).

Chỉ một tâm trung nên đặng hưởng,

Xuân Thu nghĩa khí trọn lòng ngay.

(Quan Thánh Đế Quân).

 

 

TRỌN NGHÌ

Trọn: Toàn, vẹn cả. Nghì (nghĩa): Cách cư xử đúng theo đạo lý.

Trọn nghì, như chữ “Trọn nghĩa”, là làm tròn vẹn đạo nghĩa, hay hoàn toàn vì nghĩa.

Như: Đạo vợ chồng sống chết phải giữ trọn nghì.

Xem: Trọn nghĩa.

Nối hương lửa nhơn luân đạo trọng,

Con gìn câu chết sống trọn nghì.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

TRỌN NGHĨA

Trọn: Toàn, vẹn cả. Nghĩa (nghì): Cách cư xử đúng theo đạo lý.

Trọn nghĩa là làm tròn vẹn đạo nghĩa, hay hoàn toàn vì nghĩa. Như: Trọng nghĩa anh em.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Nếu cả thảy không nhớ lời nầy của Bần Ðạo, đến khi linh hồn xuất ngoại rồi, sẽ ân hận biết bao nhiêu mà chừng ấy đừng trách Bần Ðạo không chỉ trước. Không thương yêu nhau cho trọn nghĩa là lỗi tại mấy người đa, chớ không phải tại Bần Ðạo không nói.

Trăm năm khá nhớ hương nguyền,

Chồng hay trọn nghĩa, vợ hiền trọn trinh.

(Kinh Thế Đạo).

Trai nào khi trước muốn thoả lòng,

Thì sau ắt đừng mong gìn trọn nghĩa.

(Phương Tu Đại Đạo).

Dầu chưa trọn nghĩa Thiên thơ định,

Giác ngộ vui theo cũng kịp thời.

(Khai Pháp Giáng Bút).

 

 

TRỌN THUỶ TRỌN CHUNG

Trọn: Tròn vẹn. Thuỷ chung: Trước sau vẫn một lòng, vãn giữ tình cảm gắn bó.

Trọn thuỷ trọn chung là tròn vẹn trước sau, tức giữ tròn vẹn tình cảm gắn bó với nhau, không thay đổi.

Đồng nghĩa với thành ngữ Hán Việt: “Thuỷ chung như nhất 始 終 如 一”.

Một lòng trọn thuỷ trọn chung,

Mực đen giấy trắng thệ lòng đừng sai.

(Diêu Trì Kim Mẫu).

 

 

TRỌN TRINH

Trọn: Toàn, vẹn cả. Trinh: Lòng trong sạch, ngay thẳng của phụ nữ.

Trọn trinh là nói người phụ nữ giữ được trọn vẹn tiết trinh với chồng.

Trăm năm khá nhớ hương nguyền,

Chồng hay trọn nghĩa, vợ hiền trọn trinh.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

TRỌN VẸN

Trọn: Toàn, vẹn cả. Vẹn: Tròn, toàn.

Trọn vẹn, như chữ “Toàn vẹn”, là có đầy đủ các thành phần, không thiếu hụt, không mất mát. Như: Thực hiện trọn vẹn nhiệm vụ.

Thánh giáo Đức Chí Tôn đã dạy Ngài Thái Thơ Thanh như sau: Thầy trông mong nơi con, khá cải sửa chút ít phàm tâm, thì đức tánh mới đặng trọn vẹn.

Hễ thương cha nhớ mẹ ân cần,

Gìn trọn vẹn gia phần người để lại.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TRONG

1.- Trong là phía, bề kín ở đằng sau, không bày ra ngoài. Như: Trong nhà, trong phòng, trong tết.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Nếu không có Thầy thì không có chi trong Càn khôn Thế giới nầy, mà nếu không có Hư Vô chi Khí thì không có Thầy.

Bề trong ngay thẳng tỏ bề ngoài,

Miệng chánh thì đời vốn trái tai.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Dặn mình tua chặt trong gan tấc,

Sau trước lòng son giữ đặng thường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Hiền ngõ rủi sanh đời bạo ngược,

Dầu trong Thánh đức cũng ra thường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Trong là vào vòng, vào khuôn. Như: Ở trong tay người, trong vòng danh lợi, trong khuôn khổ.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Quyền, Thầy cũng ban cho các con in như Thầy đã ban cho chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, hầu cho đủ thế kềm thúc lấy nhau đặng giữ vẹn Thánh chất yêu sanh của Thầy, mà quyền ấy trở nên một cơ thể buộc trói nhơn sanh trong vòng tôi mọi.

Lánh thân khóm bá rừng tòng,

Tiều chưa thoát khỏi trong vòng tôi con.

(Ngụ Đời).

3.- Trong là sạch, suốt, không bợn, không đục. Như: Nước trong, trăng trong, thác trong hơn sống đục.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu dạy: Các bậc Thần, Thánh, nếu chẳng biết mối đạo là phương châm tìm nguồn trong rửa bợn tục, thì biển trần khổ nầy cũng khó mong thoát đặng.

Nhập thể lòng trong gìn tịnh mẫn,

Nguồn Tiên ngọn Phật mới nhằm phương.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nhiễu điều ví đặng phủ gương trong,

Thì mới làm cho cái nghĩa đồng.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thuyền chờ bến tục buồm trương sẵn,

Ðưa đến nguồn trong rửa bợn sầu.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

TRONG ĐỤC BẾN NƯỚC

Trong: Suốt, không có bợn, mắt có thể nhìn thấu qua. Đục: Có nhiều gợn nhỏ vẩn lên làm cho mờ, không trong suốt. Bến nước: Bờ nước.

Trong đục bến nước, bởi câu tục ngữ: Thân gái mười hai bến nước, trong nhờ đục chịu”.

Trong đục bến nước dùng để chỉ thân phận may rủi của người phụ nữ ngày xưa.

Nếu gặp bến nước trong, ám chỉ người chồng tốt, thì người con gái có duyên may, nếu nhằm bến nước đục ám chỉ người chồng xấu, thì thân bồ liễu cam đành phận rủi.

Trong đục mơ màng đôi bến nước,

Sớm hôm thui thủi một thân già.

(Thơ Chơn Tâm).

 

 

TRONG GIÁ TRẮNG NGẦN

Trong giá: Trong như băng giá. Trắng ngần: Trắng như màu bạc. Trắng gương: Trắng sáng như gương.

Trong giá trắng ngần, dịch từ câu: Thanh như băng tuyết, bạch như ngân 清 如 冰 雪, 白 如 銀, là trong như băng giá, trắng sáng như màu bạc.

Trong giá trắng gương, đồng nghĩa với “Trong giá trắng ngần” là giá trắng gương trong, ý chỉ phẩm chất tốt đẹp và trong sạch.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Ðức Từ Bi đã lấy lòng quảng đại mà gieo giọt nhành dương để rửa lỗi phàm gian, hầu đem mình trong giá trắng gương vào nơi Cực Lạc.

Trong giá trắng ngần, khá chuốt trau,

Bền công chặt giữ mới anh hào.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

TRONG HANG VẮNG TIẾNG

Trong hang: Ở trong hang hốc. Vắng tiếng: Không có âm thanh.

Trong hang vắng tiếng tức là trong hang vắng vẻ không có âm thanh. Ý muốn nói đừng nghĩ rằng hang vắng là nơi kín đáo không ai hay biết mà làm những điều mờ ám, không tốt.

Thật vậy, có nhiều người khi làm việc gì sái quấy thường hay lén lút, hay làm nơi vắng vẻ, kín đáo, vì họ nghĩ như vậy sẽ không ai thấy, biết. Nhưng họ quên rằng giấu được người, chứ không sao giấu được lương tâm mình, hoặc các bậc Thần Thánh.

Chính vì vậy mà sách Cảnh Hành dạy làm bất cứ việc gì cũng cần giữ quang minh, chính đại vì “Toạ mật thất như thông cù 坐 密 室 如 通 衢”, nghĩa là ngồi trong nhà kín tưởng không ai hay nhưng thật như ngoài đường cái, ai cũng rõ biết.

Những việc làm mờ ám, nghĩ rằng không ai hay biết, nhưng “chẳng có gì tỏ hơn những chỗ mờ tối, chẳng có gì rõ hơn những điều nhỏ bé, cho nên người quân tử giữ gìn cẩn thận trong khi chỉ có một mình mình” (Mạc kiến hồ ẩn, mạc hiển hồ vi, cố quân tử thận kỳ độc dã 莫 見 乎 隱, 莫 顯 乎 微, 故 君 子 慎 其 獨 也).

Chuyện thầm lén tưởng rằng không người biết, không người rõ, song có sự soi xét của các Đấng Thần minh như Tử Hư Nguyên Quân nói: Minh hữu vương pháp tương kế, ám hữu quỷ thần tương tùy 明 有 王 法 相 繼, 暗 有 鬼 神 相 隨, tức là việc rõ ràng thì đâu cũng có phép vua luật nước, việc mờ ám, kín đáo thì có các đấng Thần minh soi xét cho.

Câu chuyện sau đây cho ta thấy không nên thầm lén:

Dương Chấn người đất Quan Tây, đời nhà Hán, làm quan thái úy, tánh thanh liêm.

Hồi làm thứ sử có tiến dẫn Vương Mật làm lệnh doãn huyện Xương Ấp. Nên khi ông đi ngang qua Xương Ấp, vì trời tối, có nghỉ tạm ở đó một đêm. Vương Mật mới lén đem mười lượng vàng đền ơn. Ông Dương Chấn mới trách: Ta biết tài ngươi mà ngươi không biết lòng ta.

Dương Mật nói: Đêm hôm khuya khoắc có ai hay mà ngài sợ.

Dương Chấn đáp: Sáng thì có trời biết, tối thì có thần soi biết; trong có ta biết, ngoài có ông biết. Chỗ biết có nhiều sao gọi rằng không ai biết.

Chớ lầm tưởng trong hang vắng tiếng,

Mà dể duôi sanh biến lăng loàn.

(Kinh Sám Hối).

 

 

TRONG NGẦN

Trong: Tinh khiết, không có bợn, mắt có thể nhìn thấu suốt qua. Ngần: Trắng trong, sáng.

Trong ngần là trong sáng, trong suốt, tức trong đến mức không chút vẩn đục, không một vết mờ, có thể nhìn xuyên suốt qua.

Như: Nước giếng trong ngần.

Liễu yểu điệu còn ghen nét đẹp,

Tuyết trong ngần khó phép so thân.

(Ngũ Nương Giáng Bút).

Tầng nghe giá tuyết trong ngần,

Cớ sao bị nhiễm phong trần bởi đâu?

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TRONG SẠCH

Trong: Không bợn. Sạch: Chẳng có bẩn.

Trong sạch là không nhơ bợn. Nghĩa bóng: Chỉ sự trong trắng, chưa vấy tội.

Như: Thức ăn trong sạch, con bé lòng còn trong sạch.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Ðã vào trọn một thân mình nơi ô trược thì Thầy đây cũng khó mà rửa với một gáo nước cho đặng trong sạch. Nhơn loại đã thâm nhiễm vào tình luyến ái tà mị trên mười ngàn năm, thì thế nào cổi Thánh đức trong một lúc chẳng tới một năm cho trọn lành đặng.

Giữ cho trong sạch linh hồn,

Rèn lòng sửa nết đức tồn hậu lai.

(Kinh Sám Hối).

Một nét vạy tà Thần Thánh chép,

Rèn lòng trong sạch thoát mê tân.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Nghèo mà trong sạch danh thơm rạng,

Phúc hậu Trời ban để cháu con.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

 

 

TRONG TRẮNG

Trong: Tinh khiết, không có gợn, mắt có thể nhìn thấu suốt. Trắng: Màu như vôi, sạch.

Trong trắng là còn giữ nguyên bản chất tốt đẹp ban đầu, chưa hề bị nhơ bợn.

Như: Tuổi thanh xuân còn trong trắng.

Tuy phải chịu đầu trần mưa nắng,

Mà tinh thần trong trắng thanh cao.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

TRONG TRẺO

Trong: Tinh khiết, không có gợn, mắt có thể nhìn thấu suốt qua được.

Trong trẻo là trong suốt, trong ngần, không bợn.

Trong trẻo còn có nghĩa rất trong, trong đến mức có cảm giác dễ chịu.

Như: Bầu trời trong trẻo, tiếng cười trong trẻo.

Khí trong trẻo dường như băng tuyết,

Thần im đìm dường nét thiều quang.

(Kinh Tận Độ).

 

 

TRONG VEO

Trong: Tinh khiết, không có gợn, mắt có thể nhìn thấu suốt qua.

Trong veo là rất trong, không một chút vẩn đục.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Đạo của mấy em như: cây cao mát mẻ, như nước suối trong veo tinh khiết, họ cũng muốn trú ngụ cho mát mẻ tâm hồn.

Dòng là ánh nguyệt chiếu trong veo,

Lặng lẽ thuyền côi lỡ nhịp chèo.

(Bát Nương Giáng Bút).

Thú cầm mập mạp bầy thong thả,

Non nước trong veo trái dẫy đầy.

(Thiên Thai Kiến Diện).

 

 

TRÓNG GÔNG

Tróng: Cái cùm để khoá chơn người có tội. Gông: Một tấm gỗ nặng có khoét lỗ dùng để tròng vào cổ và tay người có tội.

Tróng gông là những thứ hình cụ dùng để xiềng xích, trăn trói tội nhân.

Như: Tội đồ xưa thường bị tróng gông xiềng xích.

Xem: Gông tróng.

Tróng gông nô lệ sao ham muốn?

Hình bóng quan viên xúm giựt giành.

(Đạo Sử).

 

 

TRÒNG

1.- Tròng là quàng bằng sợi dây đánh thòng lọng vào cổ con người hoặc con vật mà bắt.

Như: Tròng ách nô lệ, một cổ hai tròng.

Tròng, nghĩa rộng là lồng vào. Như: Tròng áo, tròng tên (mang tên, đội tên người khác).

Nhiều đứa cả gan tròng tên tráo tuổi chư Hiền Hữu đâu rõ thấu.

(Đạo Sử).

2.- Tròng là chỉ phần bên trong con mắt hoặc bên trong cái trứng.

Như: Tròng mắt, tròng đen, tròng đỏ trứng gà.

Trong Phương Tu Đại Đạo, Đức Hộ Pháp có câu: Nâng niu con từ bé, mắt ngó chẳng mỏi tròng; dầu con đã nên mụ nên ông, cũng còn nhớ bế bồng khi bé tíu.

Vừng trăng xẻ nửa lưng tròng ngó,

Một mảnh gương treo biếng mắt nhìn.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Oai linh cửa Ðạo sấm rền Trời,

Thương kẻ có tròng lại chẳng ngươi.

(Đạo Sử).

 

 

TRÒNG XANH

Tròng: Phần bên trong con mắt hoặc bên trong cái trứng. Xanh: Màu xanh.

Tròng xanh, như chữ “Mắt xanh”, là nói con mắt nhìn ai mà tỏ ý bằng lòng, kính trọng, biết phân biệt khinh trọng khác nhau.

Do tích Nguyễn Tịch đời Tấn vừa lòng ai thì nhìn với đôi mắt xanh, không vừa lòng thì nhìn với đôi mắt trắng.

Xem: Mắt xanh.

Đào luyện môn đồ nơi trướng đỏ,

Kết liên thi hữu bậc tròng xanh.

(Thơ Thuần Đức).

 

 

TRỌNG

1.- Trọng là ở mức độ rất cao, rất nặng, đáng lưu ý. Như: Trọng lực, mang ơn trọng, thận trọng.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Năm rồi, các Ngài hảo tâm giúp sức cũng chèo, cũng đẩy năm nay cũng vậy, xin cũng giúp đẩy, giúp chèo cho đến nơi, đến chốn. Ấy là ơn trọng lắm vậy.

Chữ hiếu phải lo vẹn phận người,

Sanh thành đạo trọng há đâu chơi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

2.- Trọng là đánh giá cao, đáng tôn kính, tránh làm trái ý, tránh xúc phạm đến.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có dạy: Hễ Ðạo trọng thì tức nhiên chư hiền hữu trọng. Vậy thì chư hiền hữu biết mình trọng mà lo sửa vẹn người đời.

Ví biết trọng mình nhà nước trọng,

Ðừng quên tham nhục giống nòi Nam.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

TRỌNG BỊNH

Trọng: Ở mức độ rất cao, rất nặng, đáng lưu ý. Bịnh (bệnh): Đau ốm, các thức chứng tật.

Trọng bịnh, như chữ “Trọng bệnh 重 病”, là bịnh rất nặng, khó chữa trị.

Như: Lâm trọng bịnh hơn hai mươi ngày rồi mất.

Năng cứu ngục tù, năng cứu trọng bịnh, năng cứu tam tai bá nạn khổ.

(Di Lạc Chơn Kinh).

 

 

TRỌNG DỤNG

重 用

Trọng: Quan trọng, chuộng. Dụng: Dùng.

Trọng dụng là dùng làm việc quan trọng.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có câu: Chúng ta thấy rõ Thánh nhơn trọng dụng Âm nhạc như vậy vì Âm Nhạc là một bộ môn văn hoá cao đến tuyệt độ và Nhạc Thiều có cái mãnh lực huyền bí, cao siêu giúp dân trị nước, cải hoán xã hội.

Phải ăn năn sám hối, sau Ta sẽ trọng dụng, độ rỗi nhơn sanh, lấy công chuộc tội.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TRỌNG ĐÃI

重 待

Trọng: Quan trọng, chuộng. Đãi: Xử với người.

Trọng đãi là thết tiệc một cách long trọng.

Trọng đãi còn có nghĩa là cư xử với người một cách tôn trọng. Như: Trọng đãi anh như hàng khách quý.

Con người khi gặp nơi đắc dụng được kẻ biết trọng đãi kính nể mình, ban cho vàng bạc đủ đầy...

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

TRỌNG ĐẠI

重 大

Trọng: Quan trọng. Đại: To, lớn.

Trọng đại là có tầm quan trọng lớn lao. Như: Đạo ban cho ông một nhiệm vụ trọng đại.

Trong một đàn cơ cho ông Marcel Martin, một người Pháp ở Saigon, Đức Chí Tôn có dạy: Con cần phải về Pháp trong năm 1928 để binh vực Giáo lý của Thầy tại Hội Nghị Ðại Ðồng Tôn giáo. Con sẽ trọng đại và đủ quyền năng do Thiên ý.

Phẩm mệnh phụ phu nhân trọng đại,

Vợ Châu Công sửa dải mũ chồng.

Trong khi triều kiến bệ rồng,

Ở nhà canh cữi tỏ lòng an vui.

(Báo Ân Từ).

 

 

TRỌNG HẬU

重 厚

Trọng: Nặng, quan trọng. Hậu: Dày dặn.

Trọng hậu là lớn lao, dày dặn, tức quan trọng và không khinh bạc. Như: Khen thưởng trọng hậu.

Thánh giáo Chí Tôn có câu: Thầy tưởng để cho các con lo liệu, giành giựt, đương cự với chúng nó, nhưng dòm Thiên thơ, thì tám phần mười đã sa ngay vào chơn của Quỷ vương vày đạp, mà lại phần đông các con là bậc phẩm cao, chức trách trọng hậu.

Các con khá để ý đến, ấy là các con hiến cho Thầy một sự thành kính trọng hậu đó.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TRỌNG HỆ

重 係

Trọng: Nặng, rất lớn. Hệ: Liên hệ, dính dấp.

Trọng hệ, do chữ “Hệ trọng 繫 重”, là quan trọng.

Trọng hệ còn có nghĩa liên hệ quan trọng, tức có phạm vi ảnh hưởng lớn. Như: Việc hôn nhân rất trọng hệ, không nên xem thường.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Nếu Thầy chẳng vì thương tâm thì các Tiên Phật đã ghi lỗi rất trọng hệ của các con mà chẳng khứng cho lập công chiết tội.

Xem: Hệ trọng.

Cứu chúng tuy hay duyên trọng hệ,

Nhưng thương thân khổ giữa trần gian.

(Thanh Sơn Đạo Sĩ).

 

 

TRỌNG HÌNH

重 刑

Trọng: Nặng, rất lớn. Hình: Hình phạt.

Trọng hình là hình phạt nặng. Như: Giết người đối với pháp luật sẽ xử theo trọng hình.

Thà là các con làm tội mà chịu tội cho đành, hơn là các con nói tội mà phải mang trọng hình đồng thể.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TRỌNG YẾU

重 要

Trọng: Nặng, tôn kính, không khinh suất. Yếu: Trọng đại, thiết đáng.

Trọng yếu là quan trọng và thiết yếu. Như: Được nắm giữ một nhiệm vụ trọng yếu.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ngày hôm kia, Bần Ðạo gặp Ðức Lý Giáo Tông vấn đáp cùng Ngài về một lý thuyết tối trọng yếu trong nền Chánh giáo của Ðức Chí Tôn.

Muốn hiển tổ vinh tông báo hiếu,

Học cho hay trọng yếu miếu đường.

(Nữ Trung Tùng Phận).

Ðức Ngài giảng đề tài trọng yếu,

Nhờ Chí Tôn ban khiếu huệ quang.

(Thiêng Liêng Hằng Sống).

 

 

TRỌNG KHINH

重 輕

Trọng: Nặng, tôn kính, không khinh suất. Khinh: Nhẹ, khinh suất.

Trọng khinh là nặng nhẹ, tức coi sự việc hệ trọng hay khinh suất. Như: Phải giữ công bình, không đối xử trọng khinh với bất kỳ ai.

Thánh giáo Thầy có dạy: Nên cân nặng nhẹ, trọng khinh mà chiều theo thời thế và tin tưởng trông cậy nơi Thầy, thì kiếp phù sanh của mỗi con và duyên tiền định của mỗi đứa đều nắm trong tay Thầy hết.

Nhượng cho kẻ trí dắt dìu mình,

Phải biết lóng đời nỗi trọng khinh.

(Đạo Sử).

Thông tri thời thế xét soi mình,

Biết tội mà chừa phải trọng khinh.

(Đạo Sử).

 

 

TRỌNG NI

仲 尼

Trọng: Bậc con thứ nhì (Mạnh, trọng, quý). Ni: Tức núi Ni Sơn ở nước Lỗ, tỉnh Sơn Đông, mà mẹ Khổng Tử đã lên cầu tự trên núi ấy.

Khổng Tử tên là Khưu, tự là Trọng Ni, người nước Lỗ, đời nhà Châu. Ngài là tổ của Nho giáo, soạn ngũ kinh: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu và Kinh Dịch, học trò có hơn ba ngàn người.

Ngài là người có đức độ, nên được người đời gọi là Tố Vương.

Học cho suốt lý đủ đầy,

Thí như Hạng Thác làm thầy Trọng Ni.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

TRỌNG NI NHẬN VI SƯ

Trọng Ni: Tên tự của Khổng Tử. Nhận vi sư: Nhìn nhận làm thầy.

Trọng Ni nhận vi sư là Đức Khổng Tử nhận Hạng Thác làm thầy.

Quốc Sách cho rằng Hạng Thác 項 橐 là một thần đồng trong thời Xuân Thu, mới bảy tuổi đã làm thầy Đức Khổng Tử.

Khi Khổng Tử qua nước Trần, gặp Hạng Thác đang ngồi đắp một cái thành bằng đất ở giữa đường. Xe Khổng Tử đến vẫn không tránh, Khổng Tử bảo: Sao cậu không tránh xe? Cậu bé thản nhiên đáp: Xưa nay xe tránh thành chứ thành nào có tránh xe.

Nghe xong, Khổng Tử phục đứa bé, bèn xuống xe, cùng cậu bé đàm luận. Hạng Thác đặt nhiều điều hỏi Đức Khổng Tử, khiến Ngài phải chịu thua, nhận Hạng Thác làm thầy.

Trọng Ni nhận vi sư Hạng Thác,

Học tinh thần khai phát Nho tông.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TRỌNG NGÃI

Hay “Trọng nghĩa”.

Trọng: Nặng, coi trọng. Ngãi (nghĩa): Việc theo đường lối phải, việc nên làm.

Trọng ngãi, như chữ “Trọng nghĩa 重 義”, là quý trọng đường nghĩa, tức quan tâm đến việc nên làm, hay việc theo đường lối phải.

Như: Trọng ngãi khinh tài.

Xem: Trọng nghĩa.

Con thương mẹ dầu vâng lịnh dạy,

Thương quê hương trọng ngãi quân thần.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TRỌNG NGHÌ

Hay “Trọng nghĩa”.

Trọng: Nặng, coi trọng. Nghì (nghĩa): Việc theo đường lối phải, việc nên làm.

Trọng nghì, như chữ “Trọng nghĩa 重 義”, là quý trọng đường nghĩa, tức quan tâm đến việc nên làm, hay việc theo đường lối phải.

Xem: Trọng nghĩa.

Con ví biết trọng nghì phụ tử,

Hiển tông môn khá giữ nơi lòng.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TRỌNG NGHĨA

重 義

Trọng: Nặng, coi trọng. Nghĩa: Việc theo đường lối phải, việc nên làm.

Trọng nghĩa là quý trọng đường nghĩa, tức quan tâm đến việc nên làm, hay việc theo đường lối phải.

Sách Ngự Loại có câu: Quân tử sở trọng giả đạo nghĩa, cố thị kim ngọc như hồng mao 君 子 所 重 者 道 義, 故 視 金 玉 如 紅 毛, nghĩa là người quân tử trọng điều đạo nghĩa, nên xem vàng ngọc nhẹ như lông hồng.

Cang dũng thì coi sự chết như mảnh lông hồng, trọng nghĩa như Thái sơn, khí tiết thì chói loà Nhựt Nguyệt.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

TRỌNG QUYỀN TRỌNG PHẠT

重 權 重 罰

Trọng quyền: Quyền hành lớn. Trọng phạt: Bị hình phạt nặng.

Trọng quyền trọng phạt ý nói người có quyền hành lớn, nếu lợi dụng quyền ây mà làm sái phép, hại người thì bị phạt nặng nề.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông có đoạn dạy: Lão cho hay cuộc phong phẩm vị kỳ nầy là chiều theo Thánh ý của Đức Chí Tôn. Nên biết trọng quyền tức chịu trọng phạt. Những Chức sắc mới được thăng cấp nên nghe à!

Thầy cho các con biết trước rằng: Hễ trọng quyền ắt trọng phạt.

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TRỌNG SƠN

仲 山

Trọng Sơn là người nước Hạng.

Sách Thế Thuyết chép: Trọng Sơn (có sách ghi Trung sơn), người ở huyện An Lăng nước Hạng, là người rất thanh liêm, trong sạch, đến nỗi dầu là của thiên nhiên, cũng không nhơ bợn hay lợi dụng. Sách chép rằng ong dẫn ngựa uống nước dưới dòng sông Vị Thuỷ, ông đều ném ba đồng tiền để trả nước.

Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Nước Hạng, ngươi Trọng Sơn sạch mình đến đỗi cho ngựa uống nước rồi vãi tiền xuống sông mà trả, trong sạch đến đỗi của Trời Ðất cũng không nhơ bợn, con hiểu à?

Hớn Lưu Khoan trách dân bồ tiên thị nhục,

Hạng Trọng Sơn khiết kỷ ẩm mã đầu tiền.

(Thanh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TRỌNG TÀI

仲 裁

Trọng: Ở giữa. Tài: Quyết đoán.

Trọng tài là người điều khiển và xác định thành tích của cuộc thi đấu trong một số môn thể thao.

Trọng tài còn chỉ người được cử ra để phân xử, giải quyết những sự tranh chấp, không chịu nhượng bộ nhau.

Hai bên Chánh phủ đối phương có chịu nhận mình làm trọng tài để phán quyết hay không?

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

 

 

TRỌNG TƯỚC CAO QUYỀN

重 爵 高 權

Trọng tước: Chức tước trọng yếu. Cao quyền: Quyền hành to lớn.

Trọng tước cao quyền, đồng nghĩa với chữ “Chức trọng quyền cao”, tức là chức tước quan trọng và quyền hành to lớn.

Nhẫng lo trọng tước cao quyền,

Ðem thân trần cấu gieo miền trầm luân.

(Ngụ Đời).

Những mong trọng tước cao quyền,

Ngựa xe chật cửa bạc tiền đầy rương.

(Lược Thuật Toà Thánh).

 

 

TRỌNG TƯỚC CAO QUỜN

Hay “Trọng tước cao quyền”.

Trọng tước: Chức tước trọng yếu. Cao quờn (quyền): Quyền hành to lớn.

Trọng tước cao quờn, như chữ “Trọng tước cao quyền 重 爵 高 權”, ý nói người có chức tước quan trọng và quyền hành to lớn.

Xem: Tước trọng quyền cao.

Chồng dầu sang trọng tước cao quờn,

Vợ thủ hiếu cho hơn mới phải.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TRỌNG TƯƠNG

仲 襄

Trọng Tương là tên một nhân vật trong tác phẩm “Trọng Tương Vấn Hớn 仲 襄 問 漢”, một quyển sách khuyết danh, nói về tiền căn báo hậu kiếp kể từ thời Tây Hớn cho đến đời Tam Quốc.

Sách kể rằng: Trọng Tương, họ là Tư Mã, ở tại quận Ích Châu, đời vua Hớn Linh Đế, nhà tuy nghèo nhưng là người thông minh, học giỏi, có lên kinh ứng thí chẳng may bị đánh rớt, khi trở về quê nhà cha mẹ lại mất. Ông là người con có hiếu, nên rất xót thương cha mẹ, bèn cất một cái lều bên phần mộ để cư tang.

Thường ngày vì nỗi thương nhớ cha mẹ, uất ức vì học tài thi mạng, cùng chứng kiến những cảnh khổ sở, oan ức mà bọn gian thần trong triều đình gây ra khiến người dân phải gánh chịu, làm cho Trọng Tương u uất, bèn làm một bài thơ có ý trách trời đất không công bình. Vì vậy, mắc tội phạm thượng với Thiên đình, bị bắt hồn về cõi Diêm cung vấn tội. Khi xuống Phong Đô, Diêm Vương cho biết ông bị phạm tội Thiên Đình, nếu thông minh thì ngồi ghế Diêm Vương để xử những án còn nằm dưới Phong Đô mấy đời không xử đặng. Trọng Tương liền xin ngồi ghế Diêm Vương xử tội. Vua Thập Điên bằng lòng.

Trọng Tương bèn xử: Tiền căn báo hậu kiếp, như Bành Việt cho đầu thai làm Lưu Bị, Hạng Võ làm Quan Công, Phàn Khoái làm Trương Phi, Anh Bố làm Ngô Tôn Quyền, Hàn Tín làm Tào Tháo, Lưu Bang làm Hán Đế, Hạng Sư làm Nhan Lương, Hạng Bá làm Văn Xủ...

Ta thấy Hàn Tín có công lớn với nhà Thục, đã không được hưởng, thế mà Lưu Bang còn buộc tội tru di tam tộc, nên kiếp sau, vào đời Tam Quốc, Hàn Tín đầu kiếp làm Tào Tháo, Lưu Bang làm Hán Đế để Tào Tháo bức hiếp, rồi soán ngôi nhà Hán, báo thù cho kiếp trước.

Tác phẩm “Trọng Tương vấn Hớn” tuy do trí tưởng tượng đặt ra, nhưng khéo liên kết để thành một câu chuyện giống như thật, nói về luân hồi quả báo để khuyên người làm lành, Phạt kẻ hung ác.

Buổi ấy có thầy Trọng Tương là học trò khó, nhà nghèo, nhưng rất hiếu hạnh.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

TRỌNG THUỶ MỴ CHÂU

Trọng Thủy: Con trai của Triệu Đà. Mỵ Châu: Con gái của An Dương Vương.

Do điển “Trọng Thuỷ Mỵ Châu” như sau.

Thục Phán chiếm được Văn Lang rồi lên ngôi, đổi tên là Âu Lạc, xưng hiệu An Dương Vương, chọn đất Phong Khê, nay là Phúc Yên để xây thành Cổ Loa. Khi xây Cổ Loa thành, An Dương Vương nhờ thần Kim Quy hiện lên giúp đỡ và cho một cái móng chân để làm chiếc nỏ thần, lúc nào có giặc đem ra bắn, một phát có thể giết hàng vạn quân.

Tướng nhà Tần là Triệu Đà sang đánh Âu Lạc, nhờ chiếc nỏ thần nên không thắng được, phải giao hoà và xin cầu hôn Mỵ Châu, con gái An Dương Vương cho con là Trọng Thuỷ.

Trọng Thuỷ tuy yêu thương vợ, nhưng theo lệnh cha, dỗ dành Mỵ Châu để lén tráo lấy nỏ thần. Sau đó chàng xin phép An Dương Vương về thăm nhà và đem nỏ thần về nước, chàng đến từ giả vợ nói: Tôi về thăm nhà, nếu chẳng may có chiến tranh thì làm thế nào để tìm nhau. Mỵ Châu đáp: Nếu có giặc, khi ra khỏi Loa Thành thiếp sẽ mặc theo chiếc áo lông ngỗng, hễ chạy về đâu, sẽ lấy lông ngỗng ấy mà rắc dọc đường, chàng sẽ theo dấu lông ngỗng mà tìm nhau.

Lấy được nỏ thần, Triệu Đà bèn phát binh đánh thắng được Âu Lạc. An Dương Vương cùng với Mỵ Châu ngồi trên lưng ngựa chạy về phương nam, đến núi Mộ Dạ, bây giờ thuộc tỉnh Nghệ An, sát bờ biển, thấy sau lưng quân giặc đuổi theo rất gấp. Đang lúc lo lắng thì thần Kim Quy hiện lên khỏi mặt nước và nói: Giặc ngồi sau lưng đấy. Bấy giờ An Dương Vương mới hiểu sự tình, tức là biết Mỵ Châu rải lông ngỗng dọc đường để quân Trọng Thuỷ đuổi theo, ông tức giận rút gươm ra chém chết Mỵ Châu, rồi nhảy xuống biển mà tự tận.

Trọng Thuỷ chiến trường, kiếm Mỵ Châu,

Mối duyên gặp gỡ quá âu sầu.

(Thơ Thiên Vân).

 

 

TRỌNG TRÁCH

重 責

Trọng: Nặng, coi trọng. Trách: Trách nhiệm.

Trọng trách là trách nhiệm nặng nề. Như: Giữ một trọng trách nơi cửa Đạo.

Thánh giáo Thầy có câu: Thầy đã lấy ân huệ ban cho con, rất xứng đáng. Cái ân huệ ấy là tấm sắt hộ tâm, sao chẳng giữ gìn trọng trách, làm cho chinh lòng nhau?

Ánh Thái Cực biến sanh Thái Bạch,

Hiện Kim Tinh trọng trách Linh Tiêu.

(Đạo Sử).

Hễ biết mình trọng trách thần dân,

Thì phải biết ân cần bề giáo dục.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TRÓT

1.- Trót là trọn vẹn, tức làm việc suốt cả quá trình, suốt thời gian.

Như: Đã thương thì thương cho trót, giữ vẹn tình nghĩa cho đến trót đời.

Hoành sơn phân nước trót đôi lần,

Khí số bấy chừ dứt Nguyễn Quân.

(Thanh Sơn Chơn Nhơn).

Quân lịnh nghiêm trang hàng ngũ chỉnh,

Ngựa voi rần rộ trót giờ lâu.

(Thiên Thai Kiến Diện).

2.- Trót còn có nghĩa là đã lỡ, tức làm điều không hay, không thích hợp, sau đó lấy làm tiếc nhưng đành phải chịu vậy. Như: Trót lỗi lầm giờ phải ân hận.

Thánh giáo Đức Lý Giáo Tông trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: Ngán thay cho cái trách nhậm nặng nề, vì trót đã hứa lời cùng Từ Bi ra tế độ, hễ trách phận đàn anh, tuy nhiên lấy oai quyền khuyến nhủ trừng trị lấy em mặc dầu, chớ cũng nên hiểu tâm của mỗi đứa.

Trót đã đa mang cái nợ đời,

Gánh đời nặng lắm khách đời ơi!

(Lục Nương Giáng Bút).

Trót đã ba năm ở xứ người,

Đem thân đổi lấy phút vui tươi.

(Thài Hộ Pháp).

 

 

TRỔ

1.- Trổ là đâm ra, mọc ra, nảy ra, hay nhú lên từ thân cây, cành cây, hoặc đổi ra.

Như: Cây trổ hoa, lúa trổ đòng đòng, bầu trổ nụ, ngoài đồng lúa đã trổ vàng.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Ta khởi làm cái trứng thương mãi trong Ðạo, nếu nó sống được, biết đâu hột giống của Ðạo tạo ra sẽ sanh bông trổ trái, chẳng những cho quốc dân hưởng, mà cho đến toàn cầu nữa.

Ðộng cũ vườn tòng sầu biếng trổ,

Non xưa rừng bá thảm buông mành.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ðài sen vui nhánh trổ thêm hoa,

Một Ðạo như con ở một nhà.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Băng thanh thề trọn với tình lang,

Thấm thoát rừng phong lá trổ vàng.

(Thơ Thuần Đức).

2.- Trổ là sinh ra, đưa ra, phát ra. Như: Trổ hết tài năng, trổ nghề, trổ mọi ngón bịp, trổ quạu.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có câu: Lúc Ngài lãnh trách nhiệm trọng yếu ấy, Ngài đã lắm phen trổ tài hùng biện và binh vực quyền lợi cho dân Pháp với những lẽ công chánh nhứt là sự tự do.

Gặp mấy cô nghiêm chỉnh ít cười,

E lỡ tiếng chọc cười trổ quạu.

(Phương Tu Đại Đạo).

Chồng dầu thiệt là anh ngỗng đực,

Hiếp quá chừng phát tức trổ hành hung.

(Phương Tu Đại Đạo).

Đừng thấy chồng có dạ nhân từ,

trổ dữ làm nư lấn lướt.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TRỔ TÀI

Trổ: Đưa ra thi thố cho thấy rõ. Tài: Khả năng đặc biệt làm một việc gì đó.

Trổ tài là tỏ ra cho mọi người thấy cái tài của mình. Như: Trổ tài hùng biện.

Nói về Đức Chưởng Đạo Nguyệt Tâm Chơn Nhơn, tức văn hào Victor Hugo, Thuyết Đạo Hộ Pháp có đoạn: Đến sau cuộc cách mạng 1848 tại nước Pháp, Ngài đắc cử vào Hạ Nghị Viện lớn lao để bảo tồn nền chánh trị và luật pháp trong nước. Lúc Ngài lãnh trách nhiệm trọng yếu ấy, Ngài đã lắm phen trổ tài hùng biện và binh vực quyền lợi cho dân Pháp với những lẽ công chánh nhứt là sự tự do.

Ngóng mưa đã đợi ba thu mãn,

Cứu chúng hờn ai chẳng trổ tài.

(Bát Nương Giáng Bút).

Cơ đồ nếu muốn ngày vinh hiển,

Cứu nước toàn dân phải trổ tài.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

TRỐC

Trốc là đầu, phần trên. Như: Ăn trên ngồi trốc.

Trốc còn có nghĩa là làm cho bật rời đi cả mảng, cả khối, cả miếng.

Như: Bão trốc mái nhà, gió thổi trốc gốc cây, nó té trốc một miếng da.

Trốc lá như ai chơi khuấy rối,

Lủng chuồng kẻ trộm đến quơ gà.

(Đạo Sử).

 

 

TRÔI

1.- Trôi là di chuyển một cách tự nhiên theo dòng nước chảy. Như: Thuyền trôi theo chiều gió, hoa trôi, khúc gỗ trôi theo dòng nước.

Thánh giáo Thầy có câu: Hiếm chi bậc Thánh bị đày vào chốn trần ai khổ nhọc, chìm đắm nơi bến khổ sông mê, dan díu lấy sự say vui mùi thế tục, bước đến cảnh kim mã ngọc đàng mà phủi hết lòng đạo đức, khiến cho ngôi cựu vị phải chịu trôi phủi dòng sông, mà vì đó, thuyền Bát Nhã khó nương cứu vớt đặng.

Thiệt thòi cam phận thuyền quyên,

Chứa chan giọt lệ cửu tuyền cuộn trôi.

(Kinh Thế Đạo).

Lúc giăng lưới khi đóng nò,

Mảng lo tàu chặn, nhẫng dò bè trôi.

(Ngụ Đời).

Thuyền trôi lố xố người trần lổ,

Tuyết bủa giăng giăng thú lạnh lùng.

(Thiên Thai Kiến Diện).

2.- Trôi là chỉ thời gian đi qua một cách tự nhiên, ngoài sự để ý của con người.

Như: Ngày tháng trôi qua nhanh, thời gian trôi qua thấm thoát mà đã hai năm rồi.

Năm cũ sắp tàn, thời gian trôi qua thấm thoát, tuổi chẳng chờ người mà phận sự còn bộn bề chưa biết đâu là cứu cánh.

(Thuyết Đạo Thượng Sanh).

3.- Trôi còn có nghĩa bóng là xong xuôi, lưu loát, hoặc chảy sạch hết. Như: Buông trôi, làm trôi công việc, ăn nói trôi chảy, bỏ trôi việc học hành.

Thánh giáo Tiêu Sơn Đạo Sĩ có câu: Nền Ðạo vừa khỏi lối chông gai, lại phải còn gặp nỗi u hiểm, ráng cẩn thận và biết dìu bước theo thế thời thì công trình khỏi phải trôi theo dòng bích.

Mấy kẻ xét mình tâm tự cải,

Thân danh bể khổ mặc buông trôi.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Một phen thử thách đều trôi hết,

Thầy buộc lập công khá hết tình.

(Đạo Sử).

Nhỏ nên việc đặng chờ nên lớn,

Ðừng bỏ trôi qua tiếng dặn dò.

(Đạo Sử).

 

 

TRÔI GIẠT

Hay “Trôi dạt”.

Trôi: Di chuyển một cách tự nhiên theo dòng nước. Giạt (dạt): Bị xô đẩy đi nơi khác.

Trôi giạt (dạt) là bị cuốn đi theo sóng hay gió, hoặc theo dòng nước đến một nơi nào đó trên mặt nước.

Trôi giạt (dạt) còn có nghĩa là bị hoàn cảnh sinh sống xô đẩy làm cho phải lưu lạc đến nơi xa lạ.

Trong sách Giảng Đạo Chơn Ngôn, Phối Sư Thái Đến Thanh có câu: “Ðại đức đôn hoá, tiểu đức xuyên lưu” Ðức lớn thì ngưng tụ vững bền, còn đức nhỏ hay là khiếm đức, phải chịu trôi giạt không bờ bến dựa nương... Ðức là căn bản nguồn cội trường tồn, còn tài-sản như sương đeo ngọn cỏ.

Giọng kiêu hảnh hỏi sao anh hạc,

Bấy lâu nay trôi giạt nơi nào.

(Thơ Hộ Pháp).

 

 

TRÔI NỔI

Trôi: Di chuyển một cách tự nhiên theo dòng nước. Nổi: Ở trên bề mặt của nước hay chất lỏng nào đó.

1.- Trôi nổi là nổi trên mặt nước và trôi lênh đênh, không có hướng nhứt định.

Như: Bèo trôi nổi trong ao, thuyền trôi nổi lênh đênh trên sông nước.

Dòng Tương chảy thân bèo trôi nổi,

Chẳng ai thương chữa lỗi binh lời.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Trôi nổi còn dùng để chỉ sống vất vưởng nay đây mai đó, không ổn định.

Như: Cuộc sống trôi nổi ở xứ lạ quê người.

Biển trần đắm khách nhiều trôi nổi,

Đường Đạo thương ai bước lạ lùng.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

TRỐI

1.- Trối là dặn dò lại trước khi sắp chết.

Như: Chết không kịp trối, những điều trối lại cho con cháu, lời trối khi sắp chết.

Muốn gặp mặt thâm tình gởi trối,

Nhưng lỡ bề vì buổi đoạn từ.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Trối là hết sức, không thể nuốt, không thể kham được nữa.

Như: Trối ai, trối sức, làm trối chết mà vẫn không kịp, trối mặc, trối thây, trối kệ.

Trối ai danh lợi giựt giành,

Giựt giành rốt cuộc tan tành đỉnh chung.

(Nhàn Âm Đạo Trưởng).

 

 

TRỐI CHẾT

Trối: Hết sức, không thể kham được nữa. Chết: Không sống, trái với sống.

Trối chết là hết sức, quá sức chịu đựng. Như: Làm trối chết mà vẫn không kịp, chạy trối chết.

Bần Đạo đây có nhiều khi ngồi nơi nào nhớ, moi óc nhớ coi cha nói gì, mẹ nói gì, tìm gần trối chết, tìm đặng nhớ.

(Thuyết Đạo Hộ Pháp).

 

 

TRỐI KỆ

Trối: Mặc tình. Kệ: Bỏ qua, không để ý đến.

Trối kệ, như chữ “Mặc kệ”, là thây kệ, tuỳ ý thích mà làm, không bị ngăn trở, hạn chế.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có đoạn: Còn có một hạng người cũng có tánh thiêng liêng ấy, nhưng lại không để trí khôn vào lối cao thượng, mà cứ quen thói hung hăng, nghĩ những việc bạo tàn, làm điều tội lỗi, ấy là những kẻ nghịch Thiên, không biết luân hồi là chi cả. Chúng nó lại tưởng rằng, kiếp người là kiếp sống chỉ có giây giờ rồi tiêu mất, nên tìm những chước sâu kế độc cho đặng của nhiều, no lòng sướng dạ, trối kệ luân hồi.

Thường mưu trối kệ đời toan tính,

Cái nghiệp thương đời phải chịu đau.

(Tôn Sơn Chơn Nhơn).

Trối kệ trẻ vẽ quàu viết quấy,

Trong một năm thì thấy vừa thông.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TRỐI MẶC

Trối: Mặc tình. Mặc: Để tuỳ tiện.

Trối mặc, như chữ “Trối kệ”, là không để ý đến, tức cho tuỳ ý và tự chịu trách nhiệm lấy, coi như chẳng có ảnh hưởng gì đến việc mình làm.

Như: Trối mặc nó, nó muốn đi thì để cho nó đi.

Xem: Trối kệ.

Nên hư trối mặc đời phi thị,

Lam lụ buồn cười bấy lũ trâu.

(Đạo Sử).

Bần sang trối mặc tâm là quý,

Tâm ấy toà sen của Lão ngồi.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

 

 

TRỒI

Trồi là nhô lên, ngoi ra, tức từ bên trong hoặc từ dưới nhô ra và nổi hẳn lên trên bề mặt.

Như: Người thợ lặn trồi đầu lên khỏi mặt nước, mầm cây trồi lên mặt đất, xương trồi ra ngoài.

Tanh hôi mình mẩy vấy đầy,

Trồi lên hụp xuống gậy cây đánh đầu.

(Kinh Sám Hối).

Đạo Trời chẳng ngoại nhơn thân,

Đạo khi trồi sụt, xa gần lại qua.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

TRỔI

Trổi, đồng nghĩa với chữ “Trội”, là vượt lên, lấn lên, hơn đối tượng khác ở một phẩm chất nào đó.

Trổi còn có tính chất là nổi bật giữa một tập thể. Như: Thằng bé trổi hơn đám trẻ.

Thánh giáo Thầy có đoạn: Thầy dạy các con một điều là biết tranh đấu cùng Thầy. Hễ nó tấn thì mình chống, cân sức cho bằng hay là trổi hơn mới đắc thắng. Các con chịu nổi thì Ðạo thành, còn các con ngã thì Ðạo suy. Liệu lấy!

Vào vòng huynh đệ khá thương nhau,

Một đức trổi hơn một phẩm cao.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Lòng Trời đâu có phụ riêng ai?

Ai Đạo đức hơn trổi một vài.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Thuyết đàn đã trổi thinh danh,

Thổi loa giục thức chúng sanh giấc nồng.

(Lục Nương Giáng Bút).

 

 

TRỖI

1.- Trỗi: Cất lên, vang lên, phát sinh ra những thanh âm, hoặc tiếng động. Như: Trỗi nhạc, trỗi giọng.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có dạy: Khi nhạc trỗi, cả thảy phải im lặng, hiến cả âm thinh sự bí mật ấy gọi là Phi tướng lễ chủ ý là trình tấu với Ðức Chí Tôn rằng: Các con biết được sự mầu nhiệm căn nguyên của Cha lành muốn cho các con nối nghiệp theo một khuôn phép trường tồn. Lễ đó trọng hệ như dâng Tam Bửu vậy.

Thiên thiều trỗi tiếng nhặt khoan,

Đưa linh thẳng đến Niết Bàn mới thôi.

(Kinh Tận Độ).

Giữa cơn náo loạn trỗi cầm,

Lấy hơi hoà nhã dẹp lần bỉ thô.

(Nữ Trung Tùng Phận).

2.- Trỗi là nhổm dạy, ngóc dậy, không nằm nữa, dấy lên, vượt lên, nổi lên mạnh mẽ.

Như: Đang nằm nó thình lình trỗi dậy chạy đi, trỗi bước theo nhạc trống kèn, trỗi gót.

Dẫy xe trâu Côn Lôn trỗi bánh,

Lý Lão Quân mong lánh phong trần.

(Kinh Thế Đạo).

Cảnh thăng trỗi gót cho mau,

Xa vòng tục lự đặng chầu Chí Linh.

(Kinh Tận Độ).

Làm cho sấn chí anh hùng,

Non sông trỗi bước ngàn trùng gươm đao.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

TRỖI BÁNH

Trỗi: nhổm dậy, vượt lên, dấy lên mạnh mẽ. Bánh: Vật hình tròn và dẹp như bánh xe.

Trỗi bánh là bánh xe khởi lên để bắt đầu chạy.

Như: Xe đi nhận hàng đầy rồi mới trỗi bánh.

Dẫy xe trâu Côn Lôn trỗi bánh,

Lý Lão Quân mong lánh phong trần.

(Kinh Thế Đạo).

 

 

TRỖI GÓT

Trỗi: nhổm dậy, vượt lên, dấy lên mạnh mẽ. Gót: Phần sau cùng của bàn chân.

Trỗi gót là nhổm gót dậy để đi, tức cất bước ra đi. Như: Bắt đầu trỗi gót lên đường.

Cảnh thăng trỗi gót cho mau,

Xa vòng tục lự đặng chầu Chí Linh.

(Kinh Tận Độ).

 

 

TRỖI NHỊP

Trỗi: Cất lên, vang lên, phát sinh ra những thanh âm, hoặc tiếng động. Nhịp: Bậc, tiết trong bản đàn, đánh hoà theo cho đúng nhịp.

Trỗi nhịp là những âm thanh của nhịp đàn cất lên, vang lên. Như: Âm nhạc trỗi nhịp từ đâu đưa đến.

Đêm thanh vắng lên dây trỗi nhịp,

Khảy năm âm cho hiệp cùng nhau.

(Ngọc Hoàng Thượng Đế).

Trí hoà huỡn như đờn trỗi nhịp,

Chẳng một ai bì kịp trí tài.

(Văn Tế Quyền Giáo Tông).

 

 

TRỘM

1.- Trộm là lấy của người một cách lén lút, nhân lút đêm hôm hay lúc vắng người.

Như: Bắt trộm bò, đêm hôm kẻ gian vào lấy trộm quần áo và đồ đạc.

Trốc lá như ai chơi khuấy rối,

Lủng chuồng kẻ trộm đến quơ gà.

(Đạo Sử).

Lấp ló như người mang tội trộm,

Ta không nỡ để đến nhiều phen.

(Đạo Sử).

2.- Trộm là làm việc gì đó lén lút, thầm vụng.

Như: Đọc trộm thư, trộm nghĩ, đứng nhìn trộm, thầm yêu trộm nhớ.

Hỏi ai trộm đứng lén ngồi,

Những cay những đắng cái mùi ra sao?

(Nữ Trung Tùng Phận).

Tơ đỏ nhờ tay Nguyệt Lão,

Cửa vàng trộm sánh Lang quân.

(Tuý Sơn Vân Mộng).

 

 

TRỘM CẮP

Trộm: Lấy của người một cách lén lút, nhân lút đêm hôm hay lúc vắng người. Cắp: Lấy vụng, lén lấy của người.

Trộm cắp là lấy lén, lấy cắp của cải, đồ đạc của người khác.

Như: Nó bị bắt vì phạm tội trộm cắp.

Hội Thánh có quyền buộc bồi thường những của cải của Đạo bị hao hớt và trộm cắp...

(Đạo Luật Mậu Dần).

 

 

TRỘM CƯỚP

Trộm: Kẻ lấy lén tiền bạc hay đồ vật của người khác. Cướp: Lấy của người khác bằng vũ lực.

Trộm cướp là nói chung về sự trộm cắp, cướp bóc.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Ðời có Ðạo, tức là có kỷ cương trật tự, người quân tử đều ra ứng dụng, đem cái hay cái biết của mình mà thật hành cho đời nhờ. Vì đó mà được chúa Thánh tôi Hiền, muôn dân cảm mến, nên cần mẫn chơn chánh, biết lo nghĩa vụ giữ liêm sỉ. Trong nước trên thương dưới, dưới kính trên, vắng trộm cướp, khỏi luật hình, vì quốc dân đặng bảo bọc giúp đỡ cho có nghề sanh nhai.

Hễ đồ vương thiên hạ mến ưa,

Còn trộm cướp cũng chưa chi lạ.

(Bát Nương Giáng Bút).

 

 

TRỘM HƯƠNG

Trộm: Lấy của người bằng cách lén lút. Hương: Mùi thơm, như: Hương phấn.

Trộm hương, dịch từ câu “Thâu hương 偷 香”, tức là ăn cắp hương phấn cho người. Ý muốn nói hành động bất chính, vụng trộm của trai gái, tư tình với người ngoài.

Theo Thế Thuyết Tân Ngữ, dưới triều nhà Tần, quan đại thần Giả Sung có một viên thư lại là Hàn Thọ rất đẹp trai, nên con gái của Giả Sung phải lòng và tư thông với Hàn Thọ. Vua Tần có ban cho Giả Sung một loại hương liệu rất thơm và quý, bị nàng con gái đánh cắp đem cho Hàn Thọ. Khi lộ chuyện ra, Giả Sung buộc phải gả con gái cho Hàn Thọ.

Không lẽ nói mến anh quên én,

Không lẽ rằng trộm nén hương thừa.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TRÔN

Trôn là đít, đáy, chỗ cuối cùng của người và vật. Như: Quần thủng trôn, trôn ốc, trôn kim.

Ca dao có câu: Chị dại đã có em khôn, Lẽ nào mang giỏ thủng trôn đi mò.

Mình dầu nên đáng mặt vương tôn,

Cũng nhớ mẹ mủng trôn vai gánh.

(Phương Tu Đại Đạo).

Nàng dâu nào nếu thiệt là khôn,

Thì cứ dính theo trôn bà mẹ.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TRÔN KIM

Trôn: Đít, đáy, chỗ cuối cùng của người và vật. Kim: Đồ dùng để khâu, may, làm bằng đoạn thép nhỏ, một đầu có mũi nhọn, một đầu có lỗ để xâu chỉ.

Trôn kim tức là chỉ cái đầu kim có lỗ để xỏ chỉ may.

Áo rủi rách cổi đi mà bỏ,

Muốn cho lành chỉ xỏ trôn kim.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TRỐN

Trốn là lánh đi, tránh đi không cho ai biết, không để cho người ta bắt được. Như: Có tội nên phải trốn,

Thánh giáo Đức Chí Tôn có câu: Bởi vậy cho nên, nhiều bậc Thần, Thánh, Tiên, Phật cam lòng thủ phận, chẳng dám vọng cầu đem thân vào cảnh đọa, nhưng mà chẳng tái kiếp thì như nhu sĩ trốn thi, thế nào giữ vững địa vị cao thượng?

Lánh bợn tục tình thâm cũng tránh,

Trốn đau thương xa cảnh trần gian.

(Nữ Trung Tùng Phận).

 

 

TRỐN NẮNG

Trốn: Lánh đi, tránh đi một chỗ khác. Nắng: Ánh sáng trực tiếp từ mặt trời chiếu xuống.

Trốn nắng là tránh vào một chỗ có bóng mát để khỏi phải chịu nắng.

Như: Đứng dưới tàn cây để trốn nắng.

Chạy Trời trốn nắng ít ai lo,

Còn mảnh phàm tâm khổ nỗi trò.

(Đạo Sử).

 

 

TRỘN

Trộn là đảo lộn lên, xuống cho thật đều. Như: Trộn gạo với nếp, phơi lúa phải trộn lên cho chóng khô.

Quyền Giáo Tông giải nghĩa về Chí thành có câu: Ðức chí thành tỉ như một khối vàng, dùng nó mà chế tạo ra lắm đồ trang sức tốt xinh cao giá. Chí khối vàng ấy phải pha phải trộn thì mất nguyên chất tự nhiên, rồi bảo sao những đồ trang sức làm ra không phải xấu hèn thấp giá.

Lục chu may trộn giống màu thanh,

Bô vải mà che một tấc thành.

(Đạo Sử).

Phân mắc rẻ lòng đừng sợ tốn,

Bỏ cho nhiều ruộng trộn cho đều.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TRÔNG

1.- Trông là dùng con mắt xem tới vật gì để nhận biết. Như: Trông trời, nhìn xa trông rộng.

Thánh giáo Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu dạy: Thầy lấy làm vui mà trông thấy các con hội hiệp nhau đêm nay mà tỏ lòng thành kính.

Bước rẽ ngùi trông cơn ác xế,

Lời trao buồn nhớ lối trăng thinh.

(Bát Nương Giáng Bút).

Trông dạng hình lòng nhớ không nguôi,

Hình dường rọi vào nơi tử phủ.

(Phương Tu Đại Đạo).

2.- Trông là mong, ước. Như: Trông tin nhà, trông cậy, trông cho mau đến ngày con khôn lớn.

Thánh giáo Thầy có câu: Nếu cứ than khó, dừng bước thì dầu sự dễ cũng không trông thành tựu. Mạng Trời đã định, nhưng có sức của các con mới đặng cuộc kết quả hoàn toàn.

Trông ơn Thượng Ðế tuông rời rộng,

Sum hiệp ngày sau cũng một trường.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ngọ chưa thấy bóng kế Mùi sang,

Trông đặng vinh huê hưởng chữ nhàn.

(Đạo Sử).

Trông gặp rể đông sàng biết phải,

Bên nhạc gia cũng lạy mà dâng.

(Phương Tu Đại Đạo).

 

 

TRÔNG CẬY

Trông: Hướng đến với lòng hy vọng, mong đợi được giúp đỡ. Cậy: Nhờ, dựa vào.

Trông cậy là trông mong nhờ cậy, tức là hy vọng được sự giúp đỡ. Như: Trông cậy vào bạn giúp.

Thánh giáo Thầy có dạy: Các con coi lời Thầy trọng hệ là dường nào. Như biết coi Ðạo trọng thì cả tinh thần các con cũng nên tom góp vào mỗi điều đó mà trông cậy nơi Thầy lập pháp.

Ðã nên người trước đời trông cậy,

Gắng sửa nhà tranh hoá động đào.

(Đạo Sử).

 

 

TRÔNG CHỜ

Trông: Mong, ước. Chờ: Đợi.

Trông chờ là chờ đợi với nhiều hy vọng. Như: Làm cha mẹ, ai cũng có ý trông chờ con nên nghiệp.

Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp có đoạn: Mấy em Nam, Nữ; đây rồi mấy em sẽ lãnh sứ mạng Thiêng Liêng đem giọt nước Cam Lồ rưới vào tâm hồn đau khổ của nhơn loại. Họ đang trông chờ ở mấy em.

Cứu đời mở đạo kinh luân sẵn,

Nước Việt trông chờ sách cứu tinh.

(Thài Bảo Thế).

 

 

TRÔNG ĐỢI

Trông: Mong, ước. Đợi: Chờ, chực để cho gặp.

Trông đợi, như chữ “Trông chờ”, là chờ đợi với nhiều hy vọng. Như: Cha mẹ trông đợi con thành công.

Thuyết Đạo Đức Thượng Sanh có đoạn: Trải qua 35 mùa Xuân, mặc dầu Ðạo đã tiến bước ít nhiều nhưng chưa được theo ý trông đợi của Ðức Chí Tôn. Là vì đối với Ðại nghiệp của Ðạo, dầu cho Chức sắc của Hội Thánh có thiện chí xây dựng thế nào mà bao nhiêu người khác không phụ lực tô điểm, không đi đúng nhịp nhàng thì cũng không dễ đoạt mức thành công được.

Lừa dịp đình chơn viếng cố nhân,

Cảm tình trông đợi dạ ân cần.

(Thất Nương Giáng Bút).

Nhanh lẹ kịp đò kẻo trễ con!

Trễ chơn trông đợi trí tâm mòn.

(Đại Thừa Chơn Giáo).

 

 

TRÔNG MONG

Trông: Đưa mắt nhìn, mong đợi. Mong: Chờ đợi.

Trông mong là mong đợi và hy vọng. Như: Trông mong vào con cái sau nầy.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: Vậy rán dồi Thánh đức, lấy đạo hạnh mà giáo hoá đám dân sanh, phần nhiều đã mơ màng trong giấc mộng. Thầy trông mong nơi con, khá cải sửa chút ít phàm tâm, thì đức tánh mới đặng trọn vẹn.

Non xế nhành thung oanh nhặt thúc,

Rừng tà đảnh hạc khách trông mong.

(Thánh Thi Hiệp Tuyển).

Ái ngại lòng trông mong đến thử,

Coi nền Ðạo mới thiệt linh thiêng.

(Đạo Sử).

Lập thế chưa ai toàn hưởng thế,

Trông mong chi đặng chữ hoà bình.

(Đạo Sử).

 

 

TRÔNG NOM

Trông: Coi sóc. Nom: Để mắt trông.

Trông nom là để ý nhìn ngó đến, chăm sóc, giữ gìn cho mọi việc được tốt đẹp. Như: Tôi nhờ anh ta trông nom giùm nhà cửa một thời gian.

Thuyết Đạo Hộ Pháp có câu: Lấy gia pháp làm chủ đích, gia pháp ấy biến ra gia nghiêm, mà gia nghiêm chặt chịa kềm thúc con cái chẳng có ý chi khác hơn là dụng oai quyền đó mà tạo một vị Chúa tương lai cho gia đình, nên tổ phụ chúng ta trông nom điều trọng hệ ấy mà huỷ bỏ cả hành tàng phụ thuộc ở ngoài là cả sự sanh hoạt của gia đình, chỉ lo bảo thủ lấy tinh thần làm Cha tương lai cho đúng giá trị của nó.

Thầy lấy đức háo sanh mà dìu dắt các con chẳng khác nào như kẻ làm cha nưng niu dạy dỗ một trẻ bé, trông nom cho nó mau trưởng thành,...

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).

 

 

TRÔNG NGÓNG

Trông: Đưa mắt nhìn, mong đợi. Ngóng: Trông chờ, mong đợi một cách bồn chồn không yên.

Trông ngóng là mong đợi được thấy, được gặp một cách th